Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
saulong
Posts: 114
Joined: Thu Aug 06, 2009 6:02 pm

Post by saulong »

Văn Hóa Nói Nhảm…

Trần Văn Giang
“Nếu một vật có bốn chân mà không phải là cái ghế; có hai cánh mà không phải là máy bay; bơi được mà không phải là tầu ngầm thì anh Tầu xực ráo.”
(Hoàng tử Philip – Chồng của Nữ Hoàng Anh Elizabeth Đệ Nhị)
“If it has four legs and it isn’t a chair; if it has two wings and it isn’t a plane; and if it swims and it isn’t a submarine, the Chinese will eat it!”
(Prince Philip – The husband of Queen Elizabeth II)


Lời ráo đầu:

Lịch sử nói chung ít khi ghi lại những lời nói nhảm… Trong thực tế, việc nói nhảm đã có từ lúc con người biết dùng lời nói để liên lạc với nhau, trước cả khi chữ viết được phát minh. Già hay trẻ; nổi tiếng hay vô danh tiểu tốt đều có cơ hội nói nhảm. Nói nhảm mới đúng là một “cơ hội bình đẳng” (one equal opportunity) cho mọi người!
TVG
*
Nguyên nhân nào làm con người nói nhảm (making dumb / stupid statements)?
Thật oái oăm! Tôi nhận thấy cái nguyên nhân chính làm con ngưới nói nhảm (và được ghi lại) là vì họ là người có sẵn nhiều quyền lực, nổi tiếng… Ậy! Người thấp cổ bé họng cũng nói nhảm; nhưng lời nhảm của dân bé họng chẳng có ai quởn để ghi chép lại làm quái gì! Ai mà biết được? Hu ke?) Qua những giòng kế tiếp dưới đây, quí vị đọc giả sẽ có dịp đọc lại (và ôn lại) lời nói rất nhảm của các nhân vật “trí tuệ” lãnh đạo đảng cs và Nhà nước csvn để rồi tự mình đặt câu hỏi cho mình:
“Tại sao lại có thể như thế được? Rồi đất nước mình sẽ đi về đâu?”
Riêng phần tôi (người viết bài này) sẽ lần lượt viết kèm theo các lời nói nhảm cao cấp một vài lời bàn (cũng nhảm) gọi là “trước mua vui sau làm nghĩa.” Người viết e rằng bài này cũng lại bị liệt vào loại “nói nhảm.” E ngại là chuyện cá nhân, “equal opportunity,” còn phản ứng của đọc giả lại là chuyện khác. Tất cả còn tùy.
Đứng đầu danh sách nói nhảm phải kể chủ tịch nhà nước kiêm danh hài Nguyễn Minh Triết lùn. Câu nói bất hủ của Triết kùn trước quan viên thông tín quốc tế ở Havana, Cuba là:
“Cu ba ngủ thì Cu ta thức!”
Trời đất! Nghe nói bi giờ trong nước Cu ta có nhiều tự do hơn lúc trước thành ra tôi cũng thắc mắc là nếu Cu ta thức và không chịu nằm yên thì Cu ta đi theo lề bên phải hay lề bên trái? Tuy là đã có dậy dỗ, học tập tốt; và nhất là có cho thêm tự do nhưng Cu ta cũng chưa hẳn đã phân biệt được lề nào là lề bên phải? lề nào là lề bên trái? Cứ quờ quạng đi chàng hãng ở “làn” giữa thì có ngày toi mạng như đồng chí (đ/c) Thượng tướng công an Nguyễn văn Hưởng đã “cảnh báo” ngày 26/07/2010 trong bài “Hãy hiểu đúng về nhân quyền Việt Nam” đăng trên ấn bản số 1 của “Tạp chí nhân quyền Việt Nam” như sau:
“Nước ta Đảng lãnh đạo, không có phản biện gì cả, phản biện là phản động... Các anh muốn phản biện hả? Nhà tù còn nhiều chỗ lắm! Mà cũng chẳng cần bắt bớ tù đày làm gì; Thời buổi này, tai nạn giao thông là chuyện cơm bữa; Mà cũng chẳng cần tông xe làm gì, buổi sáng các vị đi uống cà phê, về tới nhà cứng đơ, không làm gì được nữa. Các nước người ta đều biết kĩ thuật này, chúng tôi cũng chẳng thua đâu.”
Ối giời đất ơi! Cường độ sự căng thẳng của từng câu một mỗi lúc gia tăng thêm! Hãi thật! Ông tướng (?) CA này mới thực sự là người đã thấm nhuần “tư tưởng và đạo đức HCM…” Không biết nhà nước và đảng ta còn có cái “chức” hay cái “hàm” nào cao hơn chức Thượng tướng để vinh thăng cho ông tướng này… Mà hình như đảng ta đã có sẵn một cái danh hiệu “xịn” hơn cái “hàm” Thượng tướng nhiều. Đó là danh hiệu “Nhân dân:” Thượng tướng nhà ta xứng đáng được tặng tước hiệu “Thượng tướng nhân dân;” Tương tự như các danh hiệu “cực” vinh dự “nhân dân” (do Hội đồng Thi đua và Khen thưởng Quốc gia xét và Chủ tịch nước Việt Nam ký quyết định trao tặng cho những những người đã có cống hiến xuất sắc trong sự nghiệp – theo như wikipedia vi-xi mô tả) khác như là Nhà giáo nhân dân, Nhà văn nhân dân, Nhà thơ nhân dân, Nhà thổ nhân dân, Kiến trúc sư nhân dân, Thầy thuốc nhân dân, Thầy chạy nhân dân, Kiểm sát viên nhân dân, Nghệ sĩ nhân dân, Bịt miệng nhân dân… Dân ngu khu đen khố rách áo ôm nếu cố gắng công tác “tốt” (?) chẳng hạn như bớt đái rong, bớt ỉa bậy… sẽ được phong “Nhân dân nhân dân.” (vì đã có sẵn cái hai chữ “nhân dân” cao quý dính chặt ở khu từ hồi nào tới giờ rồi còn gì?)
Ngày 3 tháng 8 năm 2007, đ/c Lê Doãn Hợp Bộ trưởng Bộ 4T (Thông Tin - Truyền Thông) đã nhắn nhủ một lúc hơn 700 tờ báo… hại toàn quốc về vấn đề “lề phải lề trái” là:
“Quy chế quản lý báo chí chính là để cho chúng ta tự do hơn; lâu nay chúng ta quản lý theo mệnh lệnh. Chúng ta hoàn toàn có tự do nếu đi đúng lề bên phải, và chúng tôi cố gắng làm cho các đồng chí lề đường đó.”
Thật quý hóa cho làng báo… lố! Đ/c Bộ trưởng sợ là báo lố ta còn “mông muội” chẳng hiểu “quản lý” là cái củ cải gì (cơ sự là một số lớn các đồng chí Tổng biên tập / Phó tổng biên tập / biên tập viên… cho đến bi giờ vẫn còn chưa phân biệt được ‘quản lý’ với ‘quản ní’ mới chết chứ!) cho nên đ/c chí Bộ trưởng ra công làm phước giải nghĩa thêm cho thông thoáng chữ “quản lý” như thế này:
“Quản lý là ‘quản’ có ’lý.’ Bao gồm cả ‘đạo lý và ‘nguyên lý!’ ”
Lời giải nghĩa thật tài tình tương tự như “một sợi chỉ đỏ xuyên suốt chiều dầy” của cuốn tự điển Việt Nam. Thật đáng đồng tiền bát gạo của chức vụ / vai trò bộ trưởng chính phủ nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Kể ra, các đ/c của bộ chính trị người nào cũng sáng dạ và không ngại nhiệt liệt bồi dưỡng cho kho tàng chữ nghĩa trong sáng của Kách mệnh.
Thực ra, theo tôi, đ/c Lê Dõan Hợp muốn nói thế này này (tiếng Mỹ nó nói nôm na là “You know what I mean?”):
“Phải bịt mồm những ‘thằng’ chống đối cái ‘tự do ngôn luận’ mà đảng và nhà nước đã vạch ra cho báo chí.”
Đã hiểu chưa nào?
“Tự do ngôn luận” là món ăn xa xỉ của xứ sở loại “ra đầu ngõ là gặp công an (?)” như Việt Nam độc lập tự do hạnh phúc. Đ/c Nguyễn Viết Thịnh, Đại biểu quốc hội (?) thành phố Hà Nội đã lên tiếng dùm cho đám “dân chúng nghèo” rồi mà:
“Nhân quyền là những giá trị chung. Nhưng sự áp dụng nhân quyền là tùy thuộc mức độ kinh tế của quần chúng: Đối với dân chúng nghèo họ không quan tâm đến tự do ngôn luận mà quan tâm về sự ăn uống, đói no.”
Cán bộ lãnh đạo đảng ta thật “nhất trí.” Lời “giải lý” này hoàn toàn hợp lẽ với câu trả lời trước đây của đ/c Nguyễn Cơ Thạch, cựu ngoại trưởng vi-xi.
Chuyện là một thời gian sau khi “giải phóng,” tình trạng kinh tế nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Viêt nam thấy chẳng giống con giáp nào? Trong một buổi họp báo, báo chí và quan sát viên quốc tế có đặt câu hỏi với Nguyễn Cơ Thạch, về vấn đề quá chán ngán cho kinh tế “phát triển từng bước lên xã hội chủ nghĩa” của Việt Nam sau chiến tranh, thì ngoại trưởng nước ta đã giải thích là:
“Không phải là chúng tôi (csvn) không làm được gì. Chúng tôi đã ‘phân phát’ sự nghèo đói đồng đều cho quần chúng.”
(Sau dây là nguyên văn lời của Nguyễn Cơ Thạch nói bằng Anh ngữ :
“We are not without accomplishment. We have managed to distribute the poverty equally.”)
Nhảm? Hay là sự thật? Câu trả lời của tôi có thể là: “Cả hai.” Lâu lắm mới nghe thấy cán bộ cao cấp TƯ đảng csvn nói được một câu nhảm mà nghe được, cần phải được “đánh giá cao!”…
Thời gian gần đây, cứ vài tháng là lại có vài trang mạng, “blogs” cá nhân đạp nhằm “lề bên trái” bị đánh cắp tên miền (hack domain name), mất bài (erase database), bị cài đặt virus độc địa v..v.. Ai là thủ phạm? Không cần phải chờ các kỹ thuật gia của các trang mạng tìm ra thủ phạm, Trung tướng công an Vũ hải Triều, Tổng cục phó tổng cục an ninh, trong một Hội nghị báo chí toàn quốc, đã công khai khoe thành tích là:
“Trong mấy tháng qua, bộ phận kĩ thuật của ta (tức tổng cục an ninh) đã phá sập trên 300 báo mạng và ‘blog’ cá nhân xấu.”
Các báo mạng và “blog” cá nhân đã nói gì? viết gì? mà bị đánh sập? Họ đã không theo chỉ thị của “quan chức” nhà nước là: không được chạm đến các đề tài “nhậy cảm” như “Trung quốc là đối tác,” “Tình hữu nghị với 16 chữ vàng,” “vấn đề biển đông,” “kinh tế bên bờ vực thẳm,” “các đại gia và quan chức nhà nước liên quan đến các dự án có nhiều nghi vấn tiền bạc…” Riêng các báo, đài, điện báo trong nước “không thông hiểu nhiệm vụ chính trị” phi phạm thì sẽ bị trừng phạt khắt khe (Tổng biên tập, phó tổng biên tập, biên tập viên… bị giáng chức, thuyên chuyển, viết bài phản tỉnh, kiểm thảo…)
Bác Hồ đã dạy dỗ và mô tả rõ ràng (?) cái “lề bên phải” là:
“… khi viết phải đặt vấn đề: Viết cái gì? Viết cho ai? Viết như thế nào?”
Nếu báo, đài, báo điện tử, “blog” cá nhân mà lỡ dại “nghe không rõ” thì mau đọc đi đọc lại nhiều lần lời lẽ thật “súc tích hùng hồn” của Trung tá công an Hoàng Trọng Dũng “trao đổi” với blogger “Điếu Cày” Nguyễn Văn Hải trong tù như sau:
“Ở đây chỉ có tao và mày. Mày không khai ra thì tao đánh cho bác sĩ nhìn mày không ra; luật sư mày tìm mày không thấy… Mày không khai ra thì tao sẽ nhốt mày với tù nhân có bịnh Sida để cho mày nhiễm bệnh. Tao sẽ pha thuốc vào nước cho mày uống để mày tiêu chẩy cho đến mức suy kiệt mà chết.”
Hãi thật! “Nhảm” đâu không biết nhưng tôi thấy chẳng riêng gì Điếu cày (mà bất cứ ai!) chỉ nghe thoáng qua lời “răn đe đầy ấn tượng” này là “đảm bảo” rét ngay. Cương điệu của đ/c CA Hoàng Trọng Dũng cũng y chang lời của Thượng tướng CA Nguyễn Văn Hưởng nêu ra ở trên. Bố bảo cũng không dám hó hé theo bước chân của Điếu Cày! Vào thời đồ đồng, đồ đá người ta cũng dàn xếp các chuyện phải quấy, các khác biệt cá nhân bằng cách đẹp mắt như vậy: Cứ lấy thịt đè người là xong chuyện cả; đâu cần đến luật lệ làm chi cho mất ngày giờ. Cũng nên biết thêm Điếu cày bị bắt và bị đánh thê thảm chỉ vì viết “blog” và phát áo thun liên quan đến vấn đề đang tranh cãi: “Hòang sa, Trường sa là của Việt Nam;” chứ Điếu cày không (chưa dám) biểu tình, chống đối chính phủ cs đâu! Bố bảo!…
Phải thẳng thắn công minh mà nói, lời nói nhảm có “đẳng cấp” cao cấp bậc nhất của chế độ ta phải là của đ/c Trần Quý Tường, Phó Cục trưởng Cục Quản lý KCB/Bộ Y tế. Đ/c Trần Quý Tường có lẽ học cùng trường làng với đ/c Triết lùn. Tuy nhiên lời của đ/c Trần Quý Tường nổi bật hơn lời của Triết lùn bởi vì nó quàng theo cái “lô gíc” thâm thúy, cái “tư duy” khoa học phân tách theo biện chứng Mác-Lê của con người cộng sản. Đó là câu:
“Người có vòng đo ngực trung bình dưới 72 cm không được cấp bằng lái hạng A1, tức cũng không được đi xe trên 50 cc.”
Cứ “tuân thủ” theo cách tính toán tỉ mỉ cặn kẽ như thế này thì em Hồ Lệ Thu (người đẹp “quả bưởi” đứng tắm vòi sen sau 5 phút mà bàn chân chưa kịp ướt! Mà không biết em Thu có nhìn thấy bàn chân của em không?) phải được “vô tư” cấp một bằng lái “đặc biệt” hạng A30 (hạng A1 là đồ bỏ!), tức là dư sức lái xe cỡ 1500 cc. Thiệt là chuyện bó tay, hết biết. Cũng may cho các em xấu số đã bị trời phạt phải mang bộ “ngực lép” (mà lại không có đủ kinh tế để bơm ví nâng cấp!) là đ/c Trần Quý Tường sau khi tỉnh táo hơn một tí (có lẽ nhờ nốc vài viên Viagra mua chợ đen? Theo lời đồn nhảm!) đã ra lệnh cho rút lại cái luật độc nhất vô nhị trên mặt đất này… Nếu gọi là chuyện chỉ có ở CHXHCN Việt Nam thì cũng không có gì quá đáng!
Chưa hết đâu… Ngày 2 tháng 11 năm 2008, Bí thư thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị cũng tuyên bố thật hay khi trả lời “VietNamNet,” một trang mạng dưới sự kiểm soát của chính quyền cs, về trận mưa lụt ngày 31 tháng 10 gây thiệt hại nặng nề về sinh mạng và tài sản tại Hà Nội là:
“Nhân dân ta bây giờ so với ngày xưa (?) ỷ lại Nhà nước lắm. Cứ chờ trên về, chờ cung cấp cái này, hổ trợ cái kia chứ không đem hết sức mình ra tự làm… trận mưa lụt là cuộc tổng diễn tập cho tương lai.”
Ơ hay nhể! Các loa phường vẫn quảng bá liên khúc bất tận là Nhà nước ta (đồng thời cũng có ghi hẳn hoi trên giấy trắng mực đen của Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam) là “Nhà nước của dân, vì dân và do dân” thì kể ra Nhà nước chỉ có một việc tối hậu là phải làm cho dân những gì họ không thể làm được; mà Nhà nước lo cho dân mình chứ phải lo cho dân Tầu vị yểu củ cải muối ở tỉnh Cam Túc đâu (?) mà phải vội “chém vè,” tuyên bố nhảm. Thôi nhé em Hà Nội phố! Từ nay em đã biết thân phận thấp cổ bé họng thì hãy cố gắng tập tạ, dưỡng sức trước; lần sau có lũ lụt thì còn có sức mà tát nước (sang dất nhà hàng xóm?) lấy một mình. Nhà nước đang bận tiếp đối tác thương mại đấy không có thời giờ rảnh đâu!
Lời kết
Tôi xin mượn một đoạn trích từ bản “Báo cáo Chính trị của Đảng csvn” để kết thúc bài “văn hóa nói nhảm:”
“Đây là môt vấn đề nghiêm túc (có lẽ là v/đ nói nhảm) và chúng ta phải nói với một thái độ nghiêm túc của một công dân ‘đi đúng lề bên phải’. Chúng ta có quyền yêu cầu người khác cũng ‘phải đi đúng lề bên phải’ như chúng ta, bất kỳ họ là ai! Như thế mới gọi là là “xây dựng xã hội công bằng dân chủ văn minh.”
Thiệt tình!
Hết ý kiến!

Trần Văn Giang

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Một chút về Từ Công Phụng qua ngòi bút của Du Tử Lê

" ... Tôi không biết Từ Công Phụng tìm đến với âm nhạc hay, âm nhạc đưa tay gõ những tiếng gõ rụt rè đầu tiên, nơi cánh cửa tâm hồn, khi ông mới 13 tuổi, lúc còn theo học bậc tiểu học ở quê hương Phanrang, Ninh Thuận.

Ông kể, thời điểm đó, một lần, khi tình cờ nghe người anh cả đàn và hát bài “Con thuyền không bến” của Đặng Thế Phong, và “Trương Chi” của Văn Cao, ông bồi hồi, xúc động. Chạm mặt đầu tiên với âm nhạc, nơi Từ Công Phụng khiến ông ngây ngất, như sự chạm mặt với tình yêu thứ nhất. Ông bắt đầu học nhạc với người anh, qua những câu hỏi đơn giản về các nốt nhạc, cách đánh đàn.

Ông nói:
“Nhưng mãi tới năm 16 tuổi, tôi mới thực sự hiểu biết về âm nhạc một cách sâu sắc qua cuốn sách nhạc nhan đề ‘Harmonie et Orchestration’ của Robert de Kers, bản tiếng Pháp, xuất bản tại Paris, năm 1944; mà tôi vẫn còn giữ, như một kỷ niệm quý báu.”

Cũng thuộc về kỷ niệm thời niên thiếu, Từ Công Phụng kể, lần đầu tiên ông bước lên sân khấu là khi đang học năm lớp nhất, trường Nam Phanrang, (lớp 5 bây giờ.) Sau đó, ông được đề cử đi hát ở các buổi lễ lớn, thi đua cùng các trường tiểu học khác. Con đường “nghệ sĩ trình diễn” này, tiếp tục đon đả mời ông bước tới khi lên trung học. Ông luôn được chọn lên sân khấu đơn ca trong các buổi sinh hoạt văn nghệ toàn trường. Hai năm cuối cùng của bậc trung học ở các trường Duy Tân, Phanrang và Trần Hưng Đạo, Đà Lạt, ông được chọn làm trưởng ban văn nghệ toàn trường.

Năm 1961, ông sáng tác ca khúc “Bây giờ tháng mấy”.

“Nhưng tôi không dám trình bày trước công chúng. Phần vì nhát, phần chưa tin tưởng lắm vào tài sáng tác của mình,” họ Từ tâm sự.

Thời gian ở Đà Lạt, Từ Công Phụng cùng một số bạn học mới, thành lập ban nhạc Ngàn Thông, chơi hàng tuần cho đài phát thanh Đà Lạt. Ca khúc “Bây giờ tháng mấy” của họ Từ được trình bày lần đầu tiên, qua làn sóng điện này.

Ngay sau đó, ông nhận được rất nhiều thư khen ngợi. Những bức thư khen ngợi kia, đã khuyến khích Từ Công Phụng mạnh dạn hơn trong lãnh vực sáng tác. Và, lần lượt, những ca khúc như “Mùa thu mây ngàn,” “Bài cho em”…ra đời.

Tác giả “Bây giờ tháng mấy” kể, một thành viên cùng trong ban Ngàn Thông với ông, sau này cũng trở thành nhạc sĩ nổi tiếng. Đó là nhạc sĩ Lê Uyên Phương.

Tuy nhiên, vẫn theo Từ Công Phụng, kể từ khi di chuyển về Sài Gòn, học đại học Quốc Gia Hành Chánh, thì:

“Con đường âm nhạc của tôi mở ra thênh thang hơn. Sách vở về âm nhạc nhiều hơn, đã cho tôi một cái nhìn khác về âm nhạc. Tôi bắt đầu mê nhạc hoà tấu giao hưởng và thích nghe nhạc cổ điển Tây phương nhiều hơn ..."


"Niềm đau đớn hiểu theo một cách khác cũng là một thứ hạnh phúc còn đọng lại trong cuộc đời chúng ta như là một hành trang cho những suy nghĩ về cuộc đời." – Từ Công Phụng

Sinh ngày 27.7.1942 tại Văn Lâm, Ninh Thuận. Cử nhân Luật, cựu Biên tập viên Đài phát thanh VOF. Rời Việt Nam vào tháng 10.1980 hiện cư ngụ tại Portland, Oregon Hoa Kỳ. Viết nhạc từ năm 1960

Tình ca của Từ Công Phụng với những nét đặc biệt mang tính chất lãng đãng, bàng bạc nhẹ nhàng đã trở nên thật gần gũi với những người yêu nhạc từ 40 năm qua, kể từ khi anh cho ra đời nhạc phẩm đầu tiên Bây Giờ Tháng Mấy vào năm 60. Không những thế anh còn có một giọng hát thật trầm ấm như những lời tâm sự chân tình, dễ gây cảm xúc bằng lối diễn tả bằng tất cả chiều sâu của tâm hồn. Với Bây Giờ Tháng Mấy Từ Công Phụng đã thành công ngay từ bước đầu khi người nhạc sĩ sinh quán ở Ninh Thuận này đang theo học lớp đệ nhị nhưng đã mon men đến với âm nhạc bằng cách tự học.

Trước đó Từ Công Phụng thường nghe những loại nhạc hòa tấu qua những chương trình phát thanh với những nhạc phẩm cổ điển hay nhẹ nhàng như của Mantovani, Paul Mauriat. Do sở thích nghe nhạc, anh đã từ từ tìm hiểu về điểm đặc biệt của từng nét nhạc, song song với việc nghên cứu cách viết của những nhà soạn nhạc quốc tế. Về các ca sĩ, anh cho biết thường nghe Andy Williams, Perry Como và Pat Boone. Còn về nhạc khí, anh biết sử dụng guitar và piano, riêng nhạc khí sau anh cho đó là nhạc khí có sức lôi cuốn mãnh liệt nhất đến từ những âm thanh thánh thót.

Về nhạc Việt Nam, Từ Công Phụng thích nghe những bài của Đoàn Chuẩn-Từ Linh. Sau đó anh để ý đến nhạc tình của Phạm Duy. Riêng với nhạc phẩm Bây Giờ Tháng Mấy khi được hỏi có chịu ảnh hưởng gì nơi những nét nhạc anh đã nghe từ trước, người nhạc sĩ họ Từ cho nếu có cũng chỉ là một sự vô tình đến từ sự thẩm thấu của trí nhớ gom góp từ những làn gió của bốn phương tới. Nó thẩm thấu cho mình, mình đâu có biết được. Nhưng mà theo tôi thấy nó vẫn có những nét bẩm sinh riêng.?

Bây Giờ Tháng Mấy sau đó được nhà xuất bản Minh Phát mua và tung ra thị trường. Chỉ trong một thời gian ngắn nhạc phẩm này đã trở nên rất quen thuộc. Sự phổ thông mạnh mẽ của nó đã khiến tựa đề của nhạc phẩm này được truyền khẩu thành Bây Giờ…Mấy Tháng? Từ Công Phụng cho biết đã không hài lòng lắm khi tên đứa con đầu đời của anh bị đổi tên một cách châm biếm như vậy. Nhưng dù sao anh cũng thừa nhận nhờ đó mà tác phẩm đầu tay của anh được nhắc nhở tới nhiều hơn. Một điểm đặc biệt là trước đó, Từ Công Phụng không bao giờ nghĩ đến việc sinh sống với việc sáng tác mà chỉ muốn coi âm nhạc là một thú tiêu khiển thanh tao. Anh đến với âm nhạc hoàn toàn bằng năng khiếu, cộng với sự chịu khó tìm tòi, học hỏi, hoàn toàn không được ai nâng đỡ trong bước đầu. Sự kiện này lại được anh coi là một sự may mắn để tạo riêng cho mình một nét nhạc đặc thù…

Sau thành công ở bước đầu, trong thập niên 60, Từ Công Phụng đã sáng tác thêm được nhiều nhạc phẩm khác, trong số này có nhiều bài trở thành quen thuộc như Bài Cho Em, Lời Cuối, Mùa Thu Mây Ngàn, v.v. Tổng cộng trong thời gian này, anh sáng tác dược trên 20 bài. Tổng cộng cho đến nay số lượng sáng tác phẩm của Từ Công Phụng đã lên đến khoảng 100 bài, tuy nhiên anh chỉ xuất bản những bài nào anh còn nhớ được lời, sau đó chép lại nhạc.

Những nhạc phẩm được nhiều người ưa thích của anh đã được đưa vào bốn tuyển tập, tuyển tập gần đây nhất mang tựa đề Một Góc Đời Phôi Pha, ra đời cùng một lúc với CD mang cùng tên do chính Từ Công Phụng trình bầy. Trong CD mới nhất này, có một số nhạc phẩm viết từ lâu nhưng chưa được phổ biến như Xứ Thâm Trầm, Một Thoáng Nhìn Nhau, Hóa Kiếp, v.v.

Xứ Thâm Trầm, được hoàn thành vào năm 1968, phổ nhạc từ một bài thơ của Đông Duy, một người bạn thời sinh viên. Về trường hợp ra đời của bài Một Thoáng Nhìn Nhau, Từ Công Phụng viết vào năm 77, từ một bài thơ của Phong Sơn, trong lần gặp gỡ tại buổi sinh hoạt ở Hội Văn Nghệ Thành Phố, khi các anh em nhạc sĩ đang bàn thảo để tìm một chiều hướng mới thích hợp với chế độ mới. Sau khi phổ bài thơ này của Phong Sơn, Từ Công Phụng đã hát cho tác giả bài thơ nghe. Phong Sơn đã tỏ ra rất xúc động và bật khóc vì đã từ lâu không được nghe những dòng nhạc tình như vậy.


(Ảnh in sau sách nhạc "Trên Ngọn Tình Sầu" do nhà xuất bản Gió ấn hành năm 1970)

Từ Công Phụng cho biết anh phổ thơ là do kỷ niệm với bạn bè, thật sự anh không chủ trương phổ thơ. Anh cũng không hề đặt ra một tiêu chuẩn nào để phổ nhạc từ thơ, ngoài sự cảm xúc.

Vào năm 79, Từ Công Phụng phổ nhạc một bài thơ của một người bạn là nhà văn Nguyễn Đông Ngạc sau khi được nhà văn này tâm sự về một biến chuyển trong đời sống tình cảm của mình. Đó là bài Hóa Kiếp.

Riêng về phương diện phổ nhạc từ thơ của bạn bè, Từ Công Phụng đã hoàn tất được khoảng 10 bài, trong số đó nhạc phẩm mang tựa đề Giữ Đời Cho Nhau đã trở thành một trong những nhạc phẩm rất được ưa chuộng. Tuy nhiên tựa đề của nhạc phẩm đã gây nên một số thắc mắc vì có nhiều người cho tựa đề đó phải là Ơn Em. Đây chính là dịp để Từ Công Phụng giải thích về sự thắc mắc đó: Thực sự tựa bài thơ là Ơn Em. Sau khi làm xong, tôi thấy có mấy câu ở trong đó ngồ ngộ như kiếp sau xin giữ lại đời cho nhau thì tôi đề nghị lấy tựa là Giữ Đời Cho Nhau với tác giả bài thơ là Du Tử Lê. Du Tử Lê đồng ý là có một ý tưởng mới lạ trong cái tựa…nhưng khi bài đó hát lên, người ta nghĩ là Ơn Em cũng đúng.?

Từ Công Phụng nói rõ thêm về trường hợp anh đã phổ nhạc từ bài thơ chỉ gồm có 10 câu này nhưng đã gây nơi anh nhiều xúc động khi thấy có những âm hưởng gợi lại lời ru của thân mẫu anh khi anh còn thơ ấu. Vì bài thơ ngắn nên thiếu trường canh cần thiết cho một bản nhạc nên Từ Công Phụng đã thêm hai câu cho đủ, đó là: Ơn em tình những mù lòa, như con sâu nhỏ bò qua rất mùi. Khi phổ xong anh mang lại tặng Du Tử Lê như một kỷ niệm sau khi anh đã từng phổ nhạc từ bài thơ Trên Ngọn Tình Sầu. Cũng với tựa đề Giữ Đời Cho Nhau, Du Tử Lê đã dùng để đặt cho bộ video do trung tâm Diễm Xưa thực hiện riêng cho anh, phát hành trong tháng Tư năm 2000.

Một trong vài thi phẩm của Du Tử Lê được Từ Công Phụng phổ nhạc và trở thành một ca khúc nổi tiếng phải nhắc tới là Trên Ngọn Tình Sầu vào khoảng năm 69, 70. Tựa đề nguyên thủy của bài thơ thật ra là Khúc Thêm Cho Huyền Châu, trong tập thơ của thi sĩ họ Lê ấn hành trong thời gian này. Cũng đề cập đến nhạc phẩm Trên Ngọn Tình Sầu, Từ Công Phụng cho biết thêm một chi tiết về sự anh gọi là bạo dạn trong việc phổ bài thơ của Du Tử Lê: là đã dùng âm vực rất cao. Lên cao và xuống thấp để diễn tả hết những cái nỗi buồn ở trong đó. Ngay vào đầu tôi đã dùng note rất cao. Từ Sol lên tới Fa. Tôi dùng Sol, Fa liền thay vì Mi lên Fa, tức là quá lên một ton nên tạo được một âm hưởng lạ.?

Trong bài thơ đó, Từ Công Phụng cho biết anh đã sửa lại một số câu để đúng với chiều hướng âm thanh: như là hạnh phúc tôi, hạnh phúc tôi từ những ngày con nước về. Ngoài trời mưa mau.., tôi lập lại ngoài trời mưa mau tay vuốt mặt khôn cùng. Trong bài thơ tôi còn nhớ là bầy sẻ cũ hom hem, bầy sẻ cũ hom hem chiều mái xám. Tôi mới thêm hai chữ nữa là bầy sẻ cũ hom hem chiều mái xám rêu xanh. Mái xám mà còn rêu xanh nưa để nó phủ thêm một lớp thời gian. Bởi vì rêu đóng vào cái mái, qua thời gian mưa nắng các thứ, nó thành rêu, nó làm đậm thêm cái nét của hình ảnh.?

Cố nhạc sĩ Phạm Đình Chương có lần đề cập đến nhạc phẩm này và đưa ra nhận xét là dưới mắt ông, bài thơ Khúc Thêm Cho Huyền Châu không có hơi nhạc mà Từ Công Phụng làm được như vậy thật là rất xuất sắc. Về sự liên hệ gắn bó giữa thơ Du Tử Lê và nhạc Từ Công Phụng, người phổ nhạc bài thơ của Du Tử Lê thành ca khúc Trên Ngọn Tình Sầu cho biết không có vấn đề Du Tử Lê làm thơ để anh phổ nhạc. Anh không chấp nhận điều đó vì chỉ phổ nhạc khi tìm thấy được một sự xúc cảm nơi bài thơ. Anh còn cho biết là đã nhận được rất nhiều thơ của các thi sĩ gửi tới nhờ anh phổ nhạc, nhưng vì nhận thấy không có xúc cảm nên không phổ được.

Qua những lời tâm sự, được biết cuộc sống của Từ Công Phụng nếu không có âm nhạc se rất ư tẻ nhạt. Với âm nhạc, anh đã tìm thấy một thứ hạnh phúc nhỏ nhoi trong đời sống của mình. Hàng đêm trước khi đi ngủ, anh không thể bỏ được thói quen nghe một vài nhạc phẩm cổ điển hoặc hòa tấu nhẹ nhàng. Đối với anh đó là một nhu cầu rất cần thiết. Cái nhu cầu cần thiết đó, với thời gian đã ẩn tàng trong tâm hồn đầy cảm xúc của anh, để từ đó phát xuất ra một dòng nhạc đặc biệt mang tên Từ Công Phụng.

Vì không chủ trương sinh sống bằng âm nhạc nên Từ Công Phụng không hề bị gò bó để bắt buộc làm những điều anh không thích trong phạm vi nghệ thuật. Từ đó anh cảm thấy thoáng hơn để đi theo cách riêng của mình, kể cả trong kỹ thuật viết nhạc. Tất cả đều thoát thai từ nét bẩm sinh của anh… Cái nét bẩm sinh Từ Công Phụng đó, tự anh không thể phân tích được mà phải đến những người thưởng thức. Bây giờ hễ nhạc của anh tấu lên, mọi người đều dễ dàng nhận ra dòng nhạc của Từ Công Phụng, không thể lẫn lộn với một ai khác như những Mùa Thu Mây Ngàn, Mùa Xuân Trên Đỉnh Bình Yên, Giọt Lệ Cho Ngàn Sau, Lời Cuối, v.v. Riêng với nhạc phẩm Lời Cuối, Từ Công Phụng đã hoàn tất chỉ trong hai tiếng đồng hồ, thúc đẩy bởi một sự xúc cảm mạnh mẽ về một cuộc tình tan vỡ của anh.

Tuy đầu óc âm nhạc của anh đã ghi nhận được rất nhiều điều học hỏi nơi những người khác, nhưng khi một nhạc phẩm nào đó được Từ Công Phụng hoàn thành, những ảnh hưởng đó phối hợp với sự bẩm sinh của anh đã tạo thành một nét nhạc riêng biệt.

Đối với Từ Công Phụng, biến cố tháng Tư năm 75 đã gây cho anh rất nhiếu mất mát, do đó dùng anh đã dùng nhiều chữ cũng đành trong bài Như Chiếc Que Diêm để diễn tả một sự buông xuôi theo số phận vì không làm gì khác được: Thôi cũng đành một kiếp trăm năm đời người sẽ qua. Cũng đành một thoáng chiêm bao tình người cũng xa… Thôi cũng đành một kiếp phong ba lệ tình cũng sa… Thôi cũng đành như chiếc que diêm một lần lòa lên… Thôi cũng đành như kiếp rong rêu một lần hóa thân…

Tâm trạng chán chường của Từ Công Phụng trong những ngày còn ở lại Việt Nam hơn năm năm sau ngày 30 tháng Tư được anh diễn tả một cách cụ thể: Mỗi buổi sáng thức dậy kiếm được một ít cà phê pha cho mình uống và suy nghĩ về cuộc đời… Vấn đề nghĩ đầu tiên là trong ngày hôm nay tôi có thể làm thế nào kiếm được một ít tiền để cơm nước cho con cái thôi, không có mơ ước gì hơn.

Trong thời gian lưu lại Việt Nam trước khi vượt biển vào tháng Mười năm 80, Từ Công Phụng đã sáng tác được một tình ca, sau này được phổ biến tại hải ngoại và trở thành rất nổi tiếng như Mắt Lệ Cho Người, Trên Tháng Ngày Đã Qua, v.v. Nhạc phẩm sau là một trong những nhạc phẩm anh thích thú nhất. Khi nói về nhạc phẩm mang tựa đề Tình Tự Mùa Xuân của mình, Từ Công Phụng cho biết anh muốn dùng nội dung của nhạc phẩm đó để nói nên niềm mơ ước của những người yêu nhau trong cuộc đời này: Tình Tự Mùa Xuân là tôi viết theo một cái hư cấu về một mối tình giữa đôi tình nhân khi mùa xuân tới thì có những nỗi vui mừng khi họ ngồi gần bên nhau nương tựa nhau ở trong cái cuộc đời. Có những lúc xa mà gặp lại, họ khóc mừng cho một ngày hạnh phúc. Đó là cái mơ ước dành cho những người yêu nhau trong cuộc đời này.

Trước kia, trong thời kỳ chiến tranh, Từ Công Phụng cũng đã từng mang một niềm mơ ước mà anh nhận thấy có tiềm ẩn một tư tưởng phản chiến trong nhạc phẩm Mùa Xuân Trên Đỉnh Bình Yên: Lúc thời gian chiến tranh khốc liệt, tôi dường như không muốn nghe tới tiếng súng nổ nên nhạc của tôi vẫn là nhạc tình. Trong thế giới này chúng ta cứ chiến tranh mãi thì con người sẽ bị tận diệt nên tôi mơ ước chỉ có tình yêu mới tạo nên sức sống thôi. Tôi vẽ ra một sự mơ ước của tôi là, có một ngày nào đó sẽ đưa người tình lên một chỗ thật là thanh bình, không còn nghe tiếng súng, không còn nghe tiếng đạn, không còn nghe tiếng thở dài, than vắn, mà chỉ sống trong thế giới của tình yêu. Điều đó hơi ích kỷ. Nhưng cái điều mơ ước đó thật ra không ích kỷ. Hồi đó tôi có ý phản đối chiến tranh, nhưng phản đối một cách nhẹ nhàng…

Đúng 40 năm trước, chúng ta đã được nghe nhạc phẩm bất hủ Bây Giờ Tháng Mấy. Nhưng không ngờ 40 năm sau tại hải ngoại chúng ta lại được thưởng thức một nhạc phẩm mang cùng một đề tựa, được viết thành ca khúc thứ hai của anh. Về trường hợp lý thú này, Từ Công Phụng kể lại: Đó là kỷ niệm của thời sinh viên khi tôi còn sống trên Đà Lạt. Lúc bấy giờ bài Bây Giờ Tháng Mấy 1 mà thính giả thường hay nghe được…trên đài phát thanh Đà Lạt, tôi có nhận được nhiều bức thư khen ngợi trong số có một bức thư đặc biệt không ký tên tác giả. Trong đó ngoài những lời khen tặng còn tặng cho tôi một bài thơ cảm hứng theo cái bài Bây Giờ Tháng Mấy 2. Đó là một bài thơ 5 chữ mà anh thấy mang một nội dung lạ nên đã sửa lại bài thơ và làm thành ca khúc 2 của Bây Giờ Tháng Mấy vào năm 65. Cho đến nay anh vẫn không biết tác giả bài thơ đó là ai. Trước khi chính thức được phổ biến trên CD mấy chục năm sau. Từ Công Phụng nói đùa, với lời nhạc mỗi câu 7 chữ của Bây Giờ Tháng Mấy Ca Khúc 1 người ta có thể đổi từ Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em? thành Bây giờ mấy tháng rồi hỡi em? Với bài thơ 5 chữ, mở đầu bằng Bây giờ là tháng mấy của Ca Khúc 2 có vẻ khó . . . xuyên tạc hơn.?

Với Từ Công Phụng nơi xứ thâm trầm nhiều khi anh quên đi cả bây giờ tháng mấy để vùi đầu vào việc sáng tác ở một góc trời phôi pha này. Bên cạnh anh đã có chị Kim Ái, thành hôn với anh sau khi cuộc hôn nhân giữa Từ Công Phụng và Từ Dung tan vỡ, quán xuyến mọi việc. Một người hướng nội với những suy tư triền miên về cuộc đời, về tình người. Một người hướng ngoại với những suy tính thích hợp với cuộc sống chạy theo kim đồng hồ. Phải chăng đó là một sự kết hợp chặt chẽ để giữ đời cho nhau?

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

NHỮNG MẨU CHUYỆN THẬT NGẮN
1- Nồi cá bống kho tiêu


Ba mươi tuổi đầu, lận đận chiến chinh, chưa kịp lấy vợ thì trời sập. Đi tù. Mẹ thăm nuôi 6 tháng một lần. Quà chỉ có nồi cá bống kho tiêu và nước mắt thương con. Được 3 năm thấy mẹ già đi, tóc bạc phơ. Thương mẹ, hắn bảo mẹ đừng lên thăm nữa. Nhưng đến kỳ thăm lại đi ra đi vào, trông ngóng mẹ. Suốt hai năm không thấy mẹ lên thăm.

Được tha, về nhà mới hay khi mẹ về gặp mưa bị cảm nặng trong lần thăm nuôi sau cùng và đã qua đời hai năm rồi. Giỗ mẹ, hắn đi chợ mua cá bống về kho tiêu. Giỗ xong bưng chén cơm và đĩa cá bống kho tiêu cúng mẹ xuống ăn, hình như có vị mặn của nước mắt.


2- Tình đầu

Mười tám tuổi, yêu tha thiết, tỏ tình. Nàng chu mỏ: học trò ,nhỏ xíu, bày đặt. Hai mươi hai, Thiếu úy Sư Đoàn 18, về phép đến thăm, nàng lạnh lùng. Sợ làm góa phụ lắm. Hai mươi sáu Đại úy Trưởng khối CTCT Trung Đoàn. Khó chết rồi, xin bỏ trầu cau. Nàng ậm ừ để suy nghĩ lại đã. Tháng 4/75 chạy giặc, lạc mất nhau.

Ở tù ra, gặp lại. Nàng đã có chồng, hai con. Buồn và mặc cảm, thôi cứ ở vậy không lấy ai. Ba mươi năm sau, lận đận quê người ,gặp lại. Nàng chồng chết, các con trưởng thành ra ở riêng. Mừng rơn ,mời nàng đi ăn cơm tối nhà hàng. Tỏ tình. Nàng thẳng thừng: già rồi bận bịu nhau làm gì, ở một mình cho khỏe.


3- Hai chị em


Chị quen anh Hân, trung úy phi công. Anh đến nhà chơi, thấy em gái quấn quít Hân, chị nhường. Hai người tổ chức đám cưới, chị gom hết tiền để dành tặng đôi vợ chồng mới.

Em có thai đứa con đầu lòng được 6 tháng thì Hân đi tù cải tạo. Chị thương em đang có con dại, thay em đi ra Bắc thăm nuôi Hân. Con được hai tuổi, em đi buôn hàng chuyến, lỡ có thai với người tài xế. Chị tiếp tục đi thăm, dối Hân em dẫn con đi vượt biên rồi. Thấy Hân mừng cho tương lai vợ con mình, chị xấu hỗ, tủi thân, âm thầm khóc lặng lẽ trên chuyến tàu lửa từ Hà Nội về lại Sài Gòn.

Hân về, biết sự thật. Buồn, dẫn con gái đi vượt biên. Nghe tin hai cha con chết trên biển, chị lập bàn thờ. Lấy tấm hình Hân đứng bên cạnh chiếc máy bay phản lực F5 Hân tặng chị hồi mới quen rọi lớn ra, bỏ vào khung đặt lên bàn thờ, chị khóc gọi Hân ơi…


4- Trả hiếu


Thằng Út đói bụng, tìm Lan. Chị ơi nấu cho em gói mì. Từ sáng đến giờ hai chị em chưa ăn gì cả. Nhà hết mì gói ăn liền lại hết cả gạo.

Lan dỗ dành , ba đi thồ về thế nào cũng mua bánh mì cho em. Trời tối dần vẫn không thấy ba về, Lan dẫn em ra đầu hẽm nơi anh Tư sửa xe gắn máy, ngồi đợi. Tư và Lan thương nhau đã hơn hai năm. Tư đang cố dành dụm ít tiền để sang năm làm đám cưới. Trời tối hơn, chú Bảy xe thồ chạy về báo tin ba bị xe đụng gãy chân rồi. Bệnh viện đòi 5 triệu mới chịu bó bột.

Lan về nhà thay áo, chạy vội ra nhà dì Năm đầu phố. Dì ơi con bằng lòng. Đêm bán trinh cho ông Đài Loan, Lan khóc lặng lẽ. Anh Tư ơi, cho em xin lỗi…


5- Khói thuốc


Năm thứ hai ở Đại học CTCT Đà Lạt, Duy quen Trinh, học năm thứ nhất ở Đại học Chính Trị Kinh Doanh. Hai đứa yêu nhau tha thiết, thề hẹn sống chết với nhau . Tốt nghiệp, Duy về Sư Đoàn 5 bộ binh, hành quân liên miên Bình Dương, Bình Long, Phước Long. Đêm hành quân giăng võng nằm trong rừng cao su Đồng Xoài, Duy mơ có dịp về phép Đà Lạt, cùng Trinh tay trong tay dạo khắp Thành Phố Sương Mù, rồi vào Cà phê Tùng gọi một gói thuốc Capstan, một tách cà phê sữa, một ly sữa đậu nành nóng, cho ấm.

Trinh ra trường về nhà ba mẹ ở Sài Gòn. Duy xin phép thường niên được 7 ngày, ghé thăm. Trinh báo tin ba mẹ gả em cho anh giám đốc Trung Á ngân hàng. Cưới xong chắc em cũng vào làm ở đó luôn cho tiện. Mẹ bảo em hãy quên ông Trung úy đó đi.

Hai tháng sau Duy bị thương về nằm Tổng Y Viện Cộng Hòa. Anh lính đơn vị cử đi theo chăm sóc chạy về báo tin hôm nay đám cưới cô Trinh, thấy nhà trai tới với nhiều xe hơi sang trọng lắm.
Duy chống nạng ra ngồi trước hiên, châm điếu thuốc. Thẩm quyền! bộ ông đang khóc đó hay sao? Không phải đâu, chỉ là khói thuốc lá cay cay làm chảy ra nước mắt…


6- Chồng xa


Tin vào chủ trương của lãnh đạo ủy ban nhân dân huyện, cha Hạnh bỏ lúa đổi sang nuôi tôm xuất khẩu. Vay của ngân hàng nhà nước 3 tỷ bạc. Tôm chết trắng ruộng, lỗ nặng. Đến hạn trả nợ, không trả được bị ngân hàng hăm tịch thu nhà. Vịnh, em trai đang học lớp 10 muốn bỏ học đi làm thuê. Hạnh khuyên em cứ tiếp tục học lên đại học, mong sau nầy đổi đời. Nợ nần của gia đình để chị lo.

Nuốt nước mắt vào lòng, Hạnh lên Sài Gòn tìm mối lấy chồng Đại Hàn. Được ba tháng chị gọi phôn về thăm Vịnh, dặn dò em cố gắng học và chăm sóc cho cha. Tiếng chị nghèn nghẹn như đang khóc. Thương chị,Vịnh nghẹn ngào hứa vâng theo lời chị dặn dò. Hai tuần sau, tòa lãnh sự Đại Hàn mời gia đình đến nhận bình đựng tro cốt của Hạnh. Họ giải thích tại chị nhảy lầu tự tử…

Trên chuyến xe đò từ Sài Gòn về Long Xuyên, xe chạy qua những cánh đồng lúa bạt ngàn tận chân trời, Vịnh thút thít khóc gọi chị Hai ơi…

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Kỷ niệm nhạc Rock Việt Nam và Phượng Hoàng
Thế hệ chúng tôi lớn lên trong các thập niên 60s và 70s khi mà ảnh hưởng người Pháp bắt đầu nhường chỗ cho người Mỹ bước vào Nam Việt Nam .

Trong sự chuyển tiếp như vậy nhạc Pháp và nhạc Anh Mỹ đã góp mặt vào sở thích nghe nhạc của người dân trong xứ là lẽ đương nhiên. Âm nhạc là ngôn ngữ quốc tế, bỏ ra phần lời vì ngôn ngữ thì nếu thính giả cảm nhận được cái hay của nó, nên có sự thông cảm.
Image Tôi có anh bạn mê nhạc pop rock, anh thích nghe nhạc của Beatles, Rolling Stones, Elvis Presley, Birds, Yardbirds, Monkees, Santana, Neil Diamond, CCR,... ngặt một nỗi ông ngoạt của anh Giang là mẫu người mô phạm nho giáo. Cụ mang quan điểm siêu thủ cựu, super-conservative, cụ đả phá quan niệm tóc dài, âm nhạc lắc lư cơ thể, nhúng nhẩy như con "múa rối", tiếng đàn trống in ỏi,... khiến cụ rất khó chịu, cụ chê trách là nhạc vong bản, chả ra thể thống gì cả. Ở chung nhà với ông cụ vốn bảo thủ, nên bạn tôi phải vác đàn ghi-ta điện sang nhà bạn bè dợt nhạc. Chúng ta có thể hiểu ở buổi giao thời giữa các nền văn hóa va chạm nhau, khi mà văn hóa Việt, văn hóa nho giáo gặp gỡ văn hóa Gaulois, văn hóa Anglo-Saxon, khó lóng lắm khi mà quý ngài Khổng Mạnh cho ngồi cùng chiếu với quý ngài yé yé như Jonny Halliday, Elvis Presley, George Harrison, John Lennon, Paul McCartney, Mick Jagger,...sẽ hỏng bét.

Với tuổi trẻ chúng tôi nó như là một làn gió mát, những dòng nhạc xao xuyến tâm hồn khi tôi nghe thanh âm của Never my love, Rhythm of the rain, The sound of silence, Deborah, Oh Carol, It's now or never,... Tôi học Anh văn tại Hội Việt Mỹ, bà giáo dạy tôi gốc từ Louisville, Kentucky, rất yêu âm nhạc, bà đàn ghi-ta rất giỏi, bà đàn những bài như Ghé bến Sài Gòn, Nắng chiều, Diễm xưa, Lệ đá, Tôi muốn,... đưa midi music sheets bà đàn nhuyễn nhừ như cháo, bà bảo bà cảm nhận và rung động với dòng nhạc Việt, nhạc hay lắm. Giờ đây cụ ngoại của anh Giang chắc không còn nữa, tôi nhớ những lời cụ xưa gắt gỏng mả cụ nói, nhưng nếu có sự ái mộ bà giáo Judy cảm nhạc nhạc mình, đàn nhạc mình tuyệt vời có lẽ cụ ngoại sẽ vui thích và dễ dãi hơn với con cháu. Cháu cụ đàn nhạc xứ người, bà Judy đàn lại nhạc mình, thế là một đều, huề tiền rồi.

Bây giờ thì xét xem phong trào nhạc pop/rock du nhập vào Việt Nam ra sao, như thế nào nhé. Khi quân đội đồng minh Hoa Kỳ viễn chinh tham chiến tại Việt Nam, các club nhạc mở ra để cho họ có nguồn giải trí, Thời bấy giờ ở Sài Gòn, tầng lớp học sinh sinh viên ảnh hưởng văn hóa Pháp tiếp tục nghe nhạc Pháp như là sự thể hiện để chống trả lại sự thâm nhập văn hóa Mỹ đang ngày càng bành trướng. Nhưng dần dần những người chơi nhạc nhận ra nét độc đáo của nhạc pop/rock của Anh và Mỹ. Và rồi từ thủ dô Sài Gòn đến các thành phố lớn Đà Nẵng, Qui Nhơn, Biên Hòa, Vũng Tàu, Cần Thơ cùng nhiều nơi khác chấp nhận loại nhạc rock dù nguyên gốc hay được Việt hóa trong đời sống văn hóa của lớp người trẻ thời bấy giờ.

Những ban nhạc góp mặt như Fanatiques, Blue Stars, Spotlights, Pénitents, Vampires/Rocking Stars, Uptight, Hammers, Enterprise, Hard Stones, CBC, Crazy Dogs, Magic Stones, Dreamers, Peanut Company, Apple Three, Cat Trio, Strawberry Four,... Thời kỳ này các ban nhạc thường cộng tác ở các câu lạc bộ dành cho quân nhân Hoa Kỳ.
Image
Band Nhạc Phượng Hoàng
(Những người trụ cột (đã mất):Lê Hựu Hà (đầu hàng,
trái qua) và Nguyễn Trung Cang (thứ hai, phải qua)


Bài viết này chú trọng vào sự góp mặt đặc biệt của ban nhạc Phượng Hoàng, mà sự xuất hiện cúa nó tạo nên sắc thái nhạc rock Việt thật độc đáo, air nhạc mang làn hơi hướm rock Tây phương, nhưng do những nhạc sĩ người Việt viết nhạc. Tiền thân của Phượng Hoàng là ban nhạc Hải Âu. Phượng Hoàng được thành lập năm 1963 với 2 thành viên chủ yếu là hai nhạc sĩ Nguyễn Trung Cang và Lê Hựu Hà. Ngày Nguyễn Trầm Tuấn Phương, trưởng ban văn nghệ trường đại học Kinh Thương Minh Đức mời nhạc sĩ Lê Hựu Hà vào giúp vui cho buôi liên hoan văn nghệ Giáng sinh của trường, tôi chứng kiến anh Lê Hựu Hà trình bày hai nhạc phẩm Yêu em, Tôi muốn,... Tôi vốn mê 2 bài này. Bài Yêu em trong phần điệp khúc anh Hà thổi đệm harmonica thật réo rắt, lả lướt. Tác phẩm gợi cảm qua nhịp điệu slow rock, tiết tấu quyện vào lời tì tê, ý lãng mạn vô song khi yêu là yêu thôi. Tuổi vừa biết yêu tí ti, khi tôi nghe nhạc yêu em bất cần đời, yêu em cũng bất cần trời thì hồn phải phê rồi chứ còn gì nữa. Tôi có kỷ niệm nhiều với bài hát khi cô bạn tôi ngồi bên cạnh hỏi tôi nghĩ sao về "Yêu em". Giời ơi bài ca có chủ âm D major yêu em tình tứ, yêu em chậm buồn thướt tha như vậy mà còn hỏi. Ông nhạc sĩ đã nói rõ ràng cho ta, mà người ta vẫn chưa hiểu nữa, khổ đời, khổ chưa trời ơi có thấu?


"Yêu em vì ta ghét buồn, yêu em vì ta ghét hờn
Yêu em vì ta khinh khi dối gian.
Yêu em vì ta chán người, yêu em vì ta chán đờị
Yêu em vì ta không tin ở trờị

Ta không thèm mái tóc huyền, ta không thèm đôi mắt đẹp
Ta không màng lời khen chê thế gian.
Ta không cần ai hiểu mình, khi ta ngợi ca ái tình
Khi ta dìu em đi trong ý thợ

Ta không thèm mái tóc huyền, ta không thèm đôi mắt đẹp
Ta không màng lời khen chê thế gian.
Ta không cần ai hiểu mình, khi ta ngợi ca ái tình
Khi ta dìu em đi trong ý thợ

Em ơi, anh muốn nói rằng, sao em còn mãi hững hờ.
Khi anh trọn lòng yêu em thiết thạ
Xin em đừng luôn dối lòng, khi tim làm đôi má hồng.
Cho ta được gần nhau trong giấc mộng."
Image

Người nhạc sĩ sáng tác có thể tạo sắc thái riêng biệt cho dòng nhạc mình, và do sự rung động từ tâm thức nói lên ý nghĩ sâu kín nhất của mình ra với thế gian,dù là những ý tưởng chuyên chở nội dung hiện sinh, tác giả kêu gọi thế giới hãy yêu thương nhau khi "Tôi muốn" hay nói với người thương khi "Yêu em" bằng những ý tưởng chán chường, yếm thế. Những nhạc phẩm khác của anh như: Hãy ngước mặt nhìn đời, Hãy nhìn xuống chân, Hãy vui lên bạn ơi, Huyền thoại người con gái, Lời người điên, Hãy Yêu Như Chưa Yêu Lần Nào, Yêu người và yêu đời,... Anh sáng tác khoảng 50 bài. Điểm quý báu là anh chủ trương Việt Nam mình có nhạc rock riêng. Thật vậy, âm thanh của Phượng Hoàng đã vang dội, đã bay bỗng tuyệt diệu với những: Tôi muốn, Yêu em, Yêu người và yêu đời, Thương nhau ngày mưa, Phiên khúc mùa đông, Còn yêu em mãi,...


Sau đây tôi xin chôm "nguyên con" bài viết chi tiết hơn về nhạc sĩ Lê Hựu Hà (1946-2003):

Nhạc sĩ Lê Hựu Hà - tác giả của một loạt ca khúc: Vào hạ, Hãy yêu như chưa yêu lần nào, Yêu em, Hãy vui lên bạn ơi... đột ngột ra đi vào lúc 8 giờ ngày 11/5/2003 tại căn nhà của mình nằm trong hẻm 98 Hồ Hảo Hớn, Q.1, Sài Gòn.

Nhạc sĩ Lê Hựu Hà sinh tại Sài Gòn ngày 5 tháng 6 năm 1946, được nhiều nhạc sĩ đi trước đánh giá là một trong những người Việt hoá nhạc trẻ Âu Mỹ đầu tiên. Anh bắt đầu hoạt động âm nhạc có thể tính từ năm 1965 với ban nhạc Hải Âu tại Đại hội nhạc trẻ Taberd. Đến đầu thập niên 1970 anh nổi lên cùng với ban nhạc Phượng Hoàng. Các ca khúc do anh sáng tác được phổ biến lúc này là: Tôi muốn, Lời người điên, Hãy nhìn xuống chân...

Sau khi Phượng Hoàng tan rã, anh thành lập ban Mây Trắng và tung ra ca khúc mới như: Hãy ngước mặt nhìn đời, Đôi khi ta muốn khóc. Sau năm 1975, ban Hy Vọng (gồm Mạnh Tuấn, Huỳnh Hiệp, Bảo Chân, Lý Được, Minh Hải, Quốc Dũng và các ca sĩ Sĩ Thanh, Tuyết Loan, Trang Kim Yến) của Lê Hựu Hà là lực lượng hùng hậu nhất so với các ban nhạc đương thời. Phiêu Bồng là địa chỉ cuối cùng của Lê Hựu Hà hoạt động dưới hình thức ban nhạc.

Không chỉ sáng tác các ca khúc có giai điệu, tiết tấu hiện đại của nhạc trẻ Phương Tây, nhạc sĩ Lê Hựu Hà còn là một trong những nhạc sĩ khá chuyên tâm trong việc dịch chuyển, biên soạn lời Việt cho các ca khúc quốc tế, anh đã viết lời Việt khoảng gần 100 ca khúc, nổi tiếng có bản: Đồng xanh, Những lời dối gian, Ngày hôm qua, Không có em...

Một Chốn Riêng Của Lê Hựu Hà Ở Sài Gòn, vào văm 1958, những cuộc trò chuyện về âm nhạc say mê đến hàng giờ của ba gã học sinh Trường Kỳ, Nam Lộc và Lê Hựu Hà có thể coi là trang mở đầu của cuốn lịch sử pop – rock Việt Nam về sau này.

Tại sao có một loại nhạc mà tiết điệu của nó lại trẻ trung đến thế? Tại sao nó có những lối trình bày ca khúc lại phóng khoáng và tự do đến thế? Tại sao âm nhạc Việt Nam cứ mãi bám với lối hát, với ca khúc chậm rãi và đều đều như vậy? Tạo sao…? Những câu hỏi như thế cứ vây quanh cậu học sinh Lê Hựu Hà nhưng dường như không có ai có thể trả lời vào lúc ấy. Hơn bao giờ hết, những câu chuyện về Paul Anka với alum Diana hay Brenda Lee với Sweet nothing, I'm in mood for love… đã bán được một triệu đĩa ở tuổi 15 đã theo vào giấc mộng của Lê Hựu Hà hằng đêm. Am thầm từ đó, những ca khúc nhạc trẻ đầu tay của Hựu Hà đã ra đời vào năm 17 tuổi. Nhưng dĩ nhiên, anh chỉ dám hát riêng cho mình cho đến khi lập ban nhạc sinh viên mang tên Hải Au, thì một vài ca khúc ấy mới được thể nghiệm với dàn nhạc điện tử. Đây cũng là một ban nhạc trẻ có khuynh hướng Việt hóa pop – rock (lúc đó còn đang học lớp 11), sau này cũng đã trở thành một trong những ca sĩ rất nổi tiếng của Việt Nam – đó là Thanh Lan.

Mãi cho đến năm 1966, ban Hải Âu của Lê Hựu Hà mới có dịp trình làng với công chúng trẻ qua đại nhạc hội học sinh – sinh viên ở Trường Tabard. Tuy không gây tiếng vang như các ban Les Fanatiques của Công Thành, Spotlights của Tuấn Ngọc, Les Vampires của Đức Huy… nhưng Lê Hựu Hà đã làm giới trẻ Sài Gòn lúc đó bất ngờ về một khái niệm còn rất mới: người Việt vẫn có thể tạo ra cho một lối chơi pop – rock của riêng mình. Năm 1970, Hựu Hà lập ban Phượng Hoàng cũng với phong cách đó, mà lúc bắt đầu được mọi người hào hứng đón nhận. Phong cách này như được chắp cánh với sự tham gia của Nguyễn Trung Cang và Elvis Phương.

Sau năm 1975, nhạc sĩ Lê Hựu Hà tiếp tục niềm say mê của mình, tuy có chựng lại ít nhiều. Các tác phẩm của anh vẫn thầm lặng ra đời. Và dù thời gian đã đi qua suốt các chặng đường nhiều đổi thay của nhạc trẻ với rock'n 'roll rồi swingin pop… cho đến heavy rock, grunge…, nhạc sĩ Lê Hựu Hà vẫn trung thành với phong cách mà anh đã chọn. Vì vậy, trong thế giới âm nhạc riêng của người Việt, vẫn có đâu đó một góc nhỏ rất riêng của nhạc sĩ Lê Hựu Hà.


(Chú thích: Một chốn riêng của Lê Hựu Hà, đây là một trong những bài hát hiếm hoi viết nhạc sĩ Lê Hựu Hà trên báo chí VN sau 1975. Bài viết này do ns.Tuấn Khanh viết trên báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật, số 2-96, ra ngày 14-1-1996, trong thời gian ns. Tuấn Khanh được giao quyền hạn biên tập trang âm nhạc. Sau đó, ns. Tuấn Khanh trở thành thành viên nhóm Du ca Phiêu Bồng của ns. Lê Hựu Hà. Nhóm nhạc unplugged cuối cùng này trong sự nghiệp của nhạc sĩ Lê Hựu Hà đã biểu diễn thành công ở nhiều nơi với hình thức Lê Hựu Hà (guitar, harmonica, hát), Hoàng Triều (guitar, hát) và Tuấn Khanh (flute, guitar, hát). Giai đoạn này cũng đánh dấu khoảng thời gian vô cùng thân thiết giữa nhạc sĩ Lê Hựu Hà và ns Tuấn Khanh.

Trong suốt giai đoạn nhạc sĩ Lê Hựu Hà còn sống, anh im lặng và chấp nhận sự quên lãng của hệ thống thông tin đại chúng. Bản thân ns Tuấn Khanh khi đi nhiều nơi để xin làm album của ns Lê Hựu Hà lúc đó, đều gặp những khó khăn về "nhân thân", "tư tưởng thể hiện ca khúc"... của nhạc sĩ Lê Hựu Hà nên cho đến lúc anh mất đi, vẫn không có một album trọn vẹn nào của anh do các công ty sản xuất tại VN thực hiện, ngoài bản cassette duy nhất mang tên Đồng Xanh do chính anh hợp tác với nhạc sĩ Bảo Thu thực hiện và phát hành bán chính thức tại Saigon (tương tự như trường hợp phát hành bản cassette Chiều Hạ Vàng của ca sĩ Bảo Yến và nhạc sĩ Quốc Dũng)

Nói về Phượng Hoàng nếu không thể thiếu nhạc sĩ Lê Hựu Hà thì tương tự không thể thiếu nhạc sĩ Nguyễn Trung Cang. Anh Cang đánh tây ban cầm điện chính (lead guitar), và soạn các nhạc phẩm trình diễn cho ban nhạc, vào thời cuối thập niên 60, đầu 70, nhha5c anh làm ảnh hưởng tích cực đến phong trào nhạc trẻ pop/rock.

Bài Còn yêu em mãi là tác phẩm cuối cùng của anh, vì vài tháng sau khi anh soạn bài hát gửi về tặng vợ từ trong rừng sâu ngục tù CS, anh đã chết vì kiệt lực.

Xét về phần lời ca của Phượng Hoàng, hai con chim đầu đàn Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Cang nghiêng nhiều về những đề tài có tính cách bi quan, yếm thế, nét hiện sinh ẩn chứa. Chi tiết về năm tháng và nguyên nhân đưa đến cái chết của anh cho đến nay vẫn còn mù mờ nên không có tài liệu nào xác định rõ ràng. Trong khoảng 26 tác phẩm của nhạc sĩ Nguyễn Trung Cang, tôi xin đan cử một số bài tiêu biểu như: Phiên khúc mùa đông, Bâng khuâng chiều nội trú, Bước tình hồng, Còn yêu em mãi, Cúi xuống, Tình nhân loại, Tình như sương khói, Về với yêu thương, Đời bỗng giăng mưa, Mặt trời đen, Một giấc mơ, Nắng hạ, Như giọt cà phê, Thương nhau ngày mưa,... Như nhạc sĩ Lê Hựu Hà, nhạc mang khuynh hướng hiện sinh của Nguyễn Trung Cang như tiêu biểu qua các bài Mặt trời đen, Tình nhân loại,...


Để kết thúc bài viết, khi nhìn lại dĩ vãng với hai thập niên 60s và 70s mà âm nhạc Pháp Anh Mỹ ảnh hưởng đến nhiều anh chị em thế hệ chúng tôi, chúng tôi học sinh ngữ, nghe nhạc xứ người, nhìn nhận cái hay của tiết tấu, âm điệu của âm nhạc, dù rock hay blue hay jazz, thì âm nhạc chỉ là sự cảm nhận nội tâm, hãy chấp nhận ý tưởng âm nhạc là ngôn ngữ quốc tế, bởi vì ít ra những nhận xét khắt nghiệt như vong bản hay vọng ngoại đã làm tâm tư anh em chúng tôi ray rứt.

Phải chăng từ đó có phong trào Việt hóa âm nhạc bùng dậy, công của quý anh khai phong như Trường Kỳ, Nam Lộc, Kỳ Phát, Vũ Xuân Hùng,..., và Lê Hựu Hà. Để rồi từ đó, Phượng Hoàng cất cánh với những

Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Cang đã tung ra nhiều nhạc phẩm đại diện cho rock Việt Nam , pop Việt Nam chính hiệu bà lang trọc, để giơi trẻ nghe trong sự thích thú, không mặc cảm vì âm nhạc vong bản, hay âm nhạc chôm chỉa. Chỉ tiếc là hai anh Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Cang đã vắn số, không có may mắn hay hoàn cảnh thuận lợi để tung hết nội công sáng tác âm nhạc, dốc toàn bộ trí tuệ cho thêm nhiều tác phẩm âm nhạc cho niềm hãnh diện rock Việt Nam, hay pop Việt Nam.


Viết cho các bạn KTMĐ xưa Phó Đức Trường, Nguyễn Ngọc Bảo, Hoàng Trí Dũng, Hồ Trầm Tuấn Phương,... cho các anh Trần Quang Hải, Jo Marcel, Nguyễn Nam Lộc, Huỳnh Kỳ Phát,... và cho các em trong CLBTNS như Cao Minh Hưng, Bùi Minh Tuấn, Phạm Khải Tuấn, Fatima Ysa Moug, Trang Hoa Sơn, Eric Phúc Lê, Đỗ Quang Màu,... với niềm tin và sự thủy chung với âm nhạc vì âm nhạc.

In the memory of Lê Hựu Hà and Nguyễn Trung Cang:
http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=Y7-7kz5hvG

http://www2.nhaccuatui.com/nghe?M=q634JkLkN3

Việt Hải Los Angeles

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Image

Hà Nội Về Đêm

Trần Mộng Tú
Từ chập choạng hoàng hôn, Hà Nội đã khoác lên đầu một chiếc khăn voan mỏng màu xám, Hà Nội hình như chậm lại ở một chút này, nhưng lại hối hả ở một chút khác. Từ tấm khăn voan nhìn ra hay đứng ở ngoài nhìn vào, Hà Nội về đêm giống như một bài thơ dài, cắt ra từng đoạn. Có đoạn sắt se lòng, có đoạn mơ hồ như tranh thủy mạc, có đoạn như sông Lô lờ lững chảy, có đoạn như sông Hồng lúc cạn đáy.

Khi xe của những người đi làm theo giờ giấc cố định đã đậu ở giữa phòng khách của mỗi gia đình, sau cánh cửa đóng, là thời điểm của những người có tiền đi ăn ngoài, đi chơi buổi tối. Xe ít đi và người đi bộ nhiều hơn.

Hà Nội đang sửa soạn cho một năm đi qua, một năm sắp đến, nên đèn mở sáng choang trên phố đêm Hà Nội. Ðặc biệt khu phố cổ là nơi du khách tụ họp rất đông. Ðối với tôi, không phố nào đẹp bằng phố Hàng Mã dù ban ngày hay về đêm. Cái màu đỏ rực đến căng mạch máu ấy, nhuộm hồng lên tất cả làn da của ai khi bước vào khu phố đó. Ðỏ nhang, đỏ đèn lồng, đỏ chân nến, đỏ phong bao, đỏ câu đối. Chỗ nào cũng toàn màu đỏ. Ðỏ rực rỡ, đỏ nồng nàn, đỏ như bài thơ tình, đỏ như ly rượu cưới, đỏ như áo trạng nguyên, đỏ như áo cô dâu đứng trước bàn thờ gia tiên. Chao ôi, màu đỏ! Ðến Hàng Mã rồi, đêm về giấc ngủ của tôi, giấc mơ của tôi cũng toàn màu đỏ. Người Hà Nội đến Hàng Mã để mua nhang đèn, vàng hương đi trả lễ. Ðầu năm xin lễ, vay vốn ở chùa nào, thì cuối năm phải mang vàng hương đến tạ lễ ở chùa đó. Ôi, cái phong tục tập quán đó, mới đáng yêu, đáng quý làm sao!

Hà Nội cuối tuần, phố cổ có “chợ đêm.” Một cái chợ chẳng bán một thứ gì ra hồn, và hàng nào cũng “Made in China”; từ cái quần jeans cho đến khăn quàng cổ, cái bút chì kẻ lông mày cho đến đôi giầy cao gót kiểu mới nhất; tất cả đều đi qua cửa khẩu Ðồng Ðăng-Lạng Sơn (cửa khẩu hữu nghị Việt-Trung) vào bày ở đây. Thỉnh thoảng cũng có những cái áo len đan vội của một bà mẹ nào đó mang ra bán, hay mấy đồ sứ Bát Tràng của người bán lẻ, chiếm một cái quầy nhỏ khiêm nhường. Hàng chè, hàng bánh cũng bày chen chúc trên lề đường. Cuối năm lại là dịp sắm Tết, nên hàng Tết về nhiều hơn, có thể đẹp hơn và may ra rẻ hơn. Chợ đêm vì thế kẹt cứng người, phần đông là thanh niên thiếu nữ đang ở tuổi hẹn hò và du khách cũng chen chân trong đó. Người đi ngắm nhiều hơn người mua.

Tôi là một người lang thang trong cái chợ đêm đó; tôi ngắm người du khách ngoại quốc đang mua một cái khẩu trang của Việt Nam bày bán chung với những chiếc khăn quàng cổ của Trung Quốc. Bà đưa khăn lên ngang miệng, thử tới thử lui, rồi tìm cách trả giá, cuối cùng tôi thấy bà đưa 2 Mỹ kim, người bán và người mua cùng hài lòng; ngắm cô bán hàng đang đứng giữa đống quần jeans dưới đất, cô cầm hai ba cái tung lên cho khách nhìn rõ, dưới chân cô có miếng bìa cạc tông xé vội ra ở một cái thùng nào đó, viết nguệch ngoạc bằng mực đen, “Ðồng giá 50,000/1 quần.” (Khoảng 3 Mỹ kim), các cô cậu chen nhau cúi xuống đống quần, cầm lên, bỏ xuống. Lựa mãi vẫn không ưng ý. Một bà mẹ tóc trắng phau ngồi bán chè đậu xanh, cái gánh của bà chỏng chơ vài cái chén nhỏ một bên, nồi chè một bên; lâu lắm mới thấy một người kéo ghế ngồi xuống với bà. Hai người mù dắt nhau (chắc người đi trước sáng hơn một chút) chen vào giữa đám đông, xin tiền. Thỉnh thoảng ở cuối dãy quầy hàng là một ngã ba, vẫn có một vài anh xe gắn máy không giữ luật cấm, xé lẻ lách vào, chạy vọt một cái không coi ai ra gì. Có người kêu lên: Chắc lại con “đại gia” đấy, có tông phải ai cũng không sao đâu.

Chúng tôi rủ nhau, tối nay đi ăn lục-tào-xá, chí-mà-phù của một nghệ sĩ ưu tú ở phố Hàng Giày. Từ khách sạn ở phố Hàng Mành, đi bộ khoảng năm ngã tư thôi, nên chúng tôi tản bộ. Em tôi, người Hà Nội giới thiệu. Chỗ này, lần trước chị về, ăn rồi, nhớ không? Có phải cái lối đi vào ngõ, đen thui, tường bám đầy khói và dầu vừng (mè) không? Ðúng rồi đó chị, vừa được giới thiệu lên truyền hình đấy nhé.

Tháng Chạp, Hà Nội lạnh, người Hà Nội co ro trong áo len, áo dạ, người ở xa đến từ xứ lạnh, thêm cái áo khoác ngoài dày hơn một chút, coi như đủ ấm rồi. Chúng tôi thong dong đi bộ.

Tôi nhận ra chỗ ăn chè lần trước, cũng vẫn những cái bàn thấp, những cái ghế thấp, ngồi chen chúc nhau, giấy ăn nho nhỏ trăng trắng, vứt đầy mặt đất đen ngòm. Khách ăn toàn người trẻ, thỉnh thoảng mới có du khách già như chúng tôi ghé vào. Ở ngay lối vào, vẫn hai người, một nam, một nữ cũng rất trẻ, người nam vừa kiểm soát, vừa phục vụ, người nữ thu tiền.

Hai cái nồi sôi sùng sục; nồi chí-mà-phù, đang bắn những mảng vừng đen tung dán lên tường thành những lớp keo dầy, đen, bóng lưỡng; nồi lục-tào-xá cũng không kém, từng tảng màu vàng nhớp nhúa bắn tung tóe trên miệng nồi, rơi xuống đất, giẫm lê ra lối đi.

Cái quán chè nóng hổi ban đêm này được người Hà Nội đặt tên cho là: “Nhem nhuốc, nhếch nhác, bẩn thỉu,” nghe ra rất xứng đáng. Chúng tôi ngồi vào gọi mấy chén chè, tôi bị người phục vụ, làm đổ nguyên một chén chí-mà-phù vào áo, may áo cũng mầu đen. Chẳng nghe thấy tiếng xin lỗi nào cả, chỉ được cô bé ngồi sau lưng lấy mấy miếng giấy lau hộ. Cám ơn cô, ít ra cũng có một người Hà Nội lịch sự. Có lẽ bị chè đổ vào áo, tôi ăn không thấy ngon như lần trước, và nhìn cả cái quán, thấy nhếch nhác, bẩn hơn lần trước nhiều. Chúng tôi ăn vội, để nhường chỗ cho một đám người trẻ khác đang kéo vào, rồi đi ra lang thang thả bộ.

Hà Nội ban đêm hình như có một cái gì khang khác. Hai năm trước tôi chưa thấy, hay có rồi mà tôi không nhìn thấy. Trên vỉa hè của phố hàng Bồ (góc Lương văn Can), thay vì chỗ xếp xe gắn máy, tôi thấy có nhiều chiếc chiếu cũ được trải ra. Trên một vài chiếc thấy đã có người ngồi; đó là những người rất trẻ, quần jeans, áo da, hay áo nỉ. Họ ngồi chung quanh một cái đĩa nhỏ có mấy con mực nướng, vài chai bia. Ở một cái chiếu khác, một tốp người lớn tuổi hơn một chút, có đĩa cánh gà, rượu trắng, và có một cỗ bài Tây (bài cào). Ở cái chiếu sát cạnh chỉ có đôi trai gái trẻ, đang ngồi ôm nhau rủ rỉ, trước mặt họ thấy có mỗi cái ấm trà với hai cái tách; trà chưa rót ra. Họ chưa thưởng thức trà vội, họ còn đang chụm đầu, thưởng thức nhau. Sau lưng mấy cái chiếu này, là những ngôi nhà: có nhà tư nhân, cánh cửa đóng kín; có nhà hàng, nhấp nhánh đèn mầu, lấp ló quầy rượu, văng vẳng điệu nhạc Jazz, bài hát “When I First Saw You” của: Eyen, Tom Lee, Krieger, Henry D; lời hát vừa đủ bay ra, thả rơi vào những chiếc chiếu bên ngoài vỉa hè: When I first saw you, I said oh my, that's my dream, that's my dream? I need a dream to make me strong, you are the only reason I had to go on. Tôi dừng lại, nghiêng tai nghe tiếng hát. Những người đang ngồi trên những chiếc chiếu trải trên vỉa hè, trong bóng tối kia, chắc mỗi người đều có một lý do để mơ giấc mơ của mình.

Có người bạn chở tôi trên xe gắn máy ra tận khu Cầu Giấy để xem chợ đêm của rau và trái cây. Chợ đêm ở đây họp đến gần sáng, ở một góc không có đèn đường, mặt người nhờ nhờ như ở cõi âm, không nhìn tỏ mặt nhau. Người đi mua phải dùng đèn pin để lựa hàng. Phần đông là những người ở quê lên, mua sỉ ở chợ đêm Dịch Vọng (Cầu Giấy) rồi gánh vào trong thành phố bán lẻ lại ngay sáng hôm sau. Tôi đã có lần thức dậy từ 5 giờ sáng, đứng trên căn gác nhà em tôi ở đường Hòa Mã, gần chợ Hôm, nhìn xuống con phố vắng, chờ trong sương sớm; những cái bóng bé nhỏ của những phụ nữ từ các cửa ngõ thành phố gánh những gánh rau xanh, những gánh hoa đủ màu, kĩu kịt vào trong nội thành, rẽ ra nhiều hướng khác nhau.Và tôi được chờ, người đi về phía chợ Hôm để bán. Cái nhọc nhằn của những người phụ nữ lẻ loi gánh cả trách nhiệm gia đình trên đôi vai gầy guộc, vừa đẹp, vừa cảm động, làm tôi liên tưởng đến câu thơ:

Cô gái Việt Nam ơi
Nếu chữ hy sinh có ở đời
Tôi sẽ nạm vàng muôn khổ cực
Cho lòng cô gái Việt Nam tươi.
(Hồ Dzếnh)

Chưa hết đâu, Hà Nội càng khuya càng nhìn rõ cái nhọc nhằn của phụ nữ. Phần đông phu quét đường, phu hốt rác ban đêm là phụ nữ. Họ làm việc trong thầm lặng. Khẩu trang che ngang miệng, chổi cầm tay, vừa đi vừa đẩy cái xe cút-kít, họ cúi xuống lề đường nhặt từng gói rác trong những căn nhà hai bên phố vứt ra, họ đi vòng những gốc cây quét đống rác ai đó vừa đổ vội cuối ngày. Ðôi khi họ nhặt lên một bó hoa tàn, đứng tiếc rẻ, ngắm nghía một chút, lưỡng lự một chút, rồi mới bỏ vào thùng xe. Có bao giờ họ nhận được một bó hoa tươi không nhỉ?

Trong đêm khuya khoắt đó thỉnh thoảng có một đoàn xe gắn máy rú lên như những con thú, phóng điên cuồng qua mặt những người phu rác, rồi mất hút, để lại một đám khói khét lẹt và những tiếng động dội trong lồng ngực họ, nghe như tiếng dội của thời đạn bom ngày cũ. Họ nhìn lên ngơ ngác, đất nước thanh bình, thịnh vượng lâu lắm rồi mà!

Họ cúi xuống, làm cho nốt đêm nay.

Và cuối cùng, bỗng dưng tôi thấy, ở trong những con hẻm mơ hồ nào đó, ở sau một gốc cây lấp khuất nào đó hay từ một công viên tối om; bước ra những cô gái trẻ lắm, họ trang phục khác mọi người, bước đi của họ cũng xiêu xiêu, thỉnh thoảng có một đốm lửa đỏ trên môi họ. Họ đi đâu, về đâu, mất hút ở một góc rẽ nào, tôi không đoán được, Nhưng chắc họ cũng phải đi bán, đi mua một cái gì đó để kiếm sống cho nguyên ngày mai. Họ là những cô gái chỉ biết kiếm sống khi bóng đêm đổ xuống. Ðốm lửa trên môi có giữ họ ấm được suốt đêm nay?

Tôi đi trong Hà Nội về đêm, ngước mặt nhìn những vì sao nho nhỏ lấp lánh trên bầu trời, cúi mặt nhìn xuống những vỉa hè chỗ lành, chỗ vỡ toang hoang trên mặt đất. Biết là mình đang đi giữa quê hương; một chút vui, một chút buồn, một chút bâng khuâng. Hơn ba mươi năm rồi đấy nhỉ! bỗng thấy thèm đọc một câu thơ:

Em về đi giữa đêm Hà Nội
phố cổ mơ hồ bước chân ai
tiếng chổi người phu đang quét lá
sao em nghe như tiếng thở dài.
(Thơ-tmt)

Về thăm quê tháng 1, 2010

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Vì Sao Chúng Ta Lại Chóng Già (?)

Hầu hết chúng ta ai cũng biết là thói quen sinh sống tiêu cực như hút thuốc và uống rượu quá độ có thể làm con người chóng già. Nhưng còn sự căng thẳng tâm thẩn và sự ăn uống kém lành mạnh gây ra bởi cuộc sống đầy áp lực ngày nay thì sao? Bạn hãy cùng tôi duyệt xem những nguyên nhân nào có thể làm chúng ta chóng già.

1- Ăn uống không lành mạnh

Ăn uống ảnh hưỏng lên sức khoẻ nhiểu nhất hơn cả những thứ khác. Khi chế độ ăn uống của bạn không lành mạnh--nhiều chất béo, nhiều đố ăn biến chế hoặc chiên, và nhiều đồ ngọt---thì chắc chắn bạn sẽ chóng già vì cơ thể bạn chẳng nhận đươc đủ chất dinh dưỡng cẩn thiết mà chỉ toàn những hoá chất phụ gia thêm vào đồ ăn và các chất béo hydrogen hoá (trans-fat). Trái lại nếu các thực phẩm bạn dùng mà tốt cho sự sống thì bạn sẽ tránh đươc nhiều bệnh tật và các bộ phận trong cơ thể sẽ hoạt động tốt hơn.

Nói chung, thực chế của bạn phải bao gồm nhiểu loại mẩu sắc và có quân bình vể các nguồn hữu cơ như protein không mỡ, carbohydrate phức hợp, ngũ cốc nguyên hạt, rau đậu và trái cây .Nhiều nghiên cứu chứng tỏ là các sắc tố khác nhau của rau và trái cây là những chất chống oxi hoá mạnh thiết yếu cho sự duy trì sức khoẻ, ngăn ngừa ung thư và bảo vệ chống các độc tố.

Bạn hãy tránh đừng ăn những đồ ăn nhiều mỡ, biến chế hoặc chiên. Bạn chỉ nên dùng tối thiểu những sản phẩm bơ sữa vì có nhiều chất béo bão hòa. Bạn hãy loại bỏ khỏi thực chế kẹo. đường, soda và tất cả các đồ ngọt vì đường dư trong cơ thể sẽ đươc trữ dưới dạng mỡ và do đó làm bạn lên cân, và chắc chắn điều này sẽ làm nẩy sinh ra các bệnh tim mạch, cao huyết áp và tiểu đường.

2- Không cảm thấy hạnh phúc

Khi bạn cảm thấy không hạnh phúc thì không những tâm trạng bạn không ổn mà sức khoẻ bạn cũng bị ảnh hưởng không tốt. Thật vậy , những người bị trầm cảm buồn chán có rủi ro bị bệnh tim tăng gấp đôi. Ngoài ra những người thuờng hay sầu muộn lo âu dễ bị mắc bệnh ung thư. Bạn hãy vận dụng sức mạnh trí óc của bạn để có một thái độ tích cực trước những khó khăn của cuộc đời.

Nghiên cứu đã chứng tỏ là trí óc có ảnh hưởng mạnh mẽ lên nhiểu chức năng sinh lý kể cả hệ miễn dịch. Trong một thí nghiệm bệnh nhân ung thư đươc để cho cười tới “bể bụng” trong 30 phút mỗi ngày trong vòng12 tuần lễ và người ta đã nhận thấy là số tế bào miễn dịch giúp tiêu diệt ung thư gia tăng. Ngoài ra cười còn làm cơ thể tiết ra thêm các chất endorphin ( những chất cho chúng ta cảm giác hạnh phúc). Điều tất nhiên là những người vui vẻ bao giờ cũng sống thọ hơn và có một đời sống lành mạnh hơn.

3- Thiếu rèn luyện thể dục

Tôi chưa thấy ai có một đời sống thiếu hoạt động mà lại khoẻ mạnh hay sống tới trăm tuổi. Rèn luyện thể dục rất cẩn thiết cho sự chuyển hóa lành mạnh (metabolism), sư lưu chuyển năng lựơng điều hòa và sự bài tiết các chất thải của tế bào. Nếu bạn béo quá hoặc thiếu vận đông thì chắc chắn sẽ chóng già và mắc nhiểu bệnh tật. Thể dục tim mach là then chốt cho việc tăng tốc sự chuyển hoá, đốt các calori dư thừa và chống lại chất béo trong cơ thể. Đi bộ nhanh, đi bộ đường dài, chạy nước kiệu, bơi lội, đạp xe đạp , leo thang đểu tốt cho tim. Bạn nên tập thể dục 30 phút mỗi ngày ở mức 60-80% MHR ( Maximum Heart Rate). Tập thể dục đểu đặn còn giúp phòng ngừa bệnh tiểu đường không lệ thuộc vào insulin, một căn bệnh đang lan tràn nhanh chóng tại các nước công nghệ trên toàn cầu.

Bạn có thể ngăn chặn sự suy yếu vì tuổi già của cơ bắp, khớp xương và gân cốt bằng cách tập tai chi, gigong và yoga... Tập tạ nặng vừa cũng cần thiết cho mật độ xương và sức mạnh cơ bắp. Bạn đừng quên khi tập thể dục phải luôn luôn làm ấm người trước khi tập và “làm dịu bớt người” (cool down) lúc ngưng tâp cho đúng cách

4- Bị căng thẳng tâm thần

Căng thặng tâm thẩn là sản phẩm tai hại nhất của đời sống bận rộn của chúng ta và có tác hại lớn lao đến sức khoẻ. Cơ thể chúng ta luôn luôn ở tư thế tự bảo vệ để sinh tồn nên tiêu hao nhiều năng lương và vì vậy tuyến thương thận phải tiết ra chất adrenaline để thúc đẩy cơ thể biển đổi đường trữ trong gan thành glucoz. Glucoz-huyết còn dư không dùng tới sẽ tụ thành mỡ và làm bạn lên cân. Điều tệ hại hơn nữa là tình trạng căng thẳng không ngừng làm tiêu hao các nguồn năng lương của cơ thể cho tới khi cơ thể bạn bị suy sụp kiệt quệ, chẳng còn adrenaline, thẩn kinh suy nhươc và hệ miển dịch tê liệt.

Muốn tránh bị căng thẳng, bạn hãy thở thật sâu mỗi ngày. Và bạn cũng phải tự cho mình nghỉ ngơi… bởi vì bạn là con người chứ đâu phài là cái máy. Bạn hãy cố chợp mắt chừng 15 phút vào lúc nghỉ ăn trưa để lấy lại sức..Mỗi khi có chừng 5 phút rảnh, bạn hãy nhắm mắt lại để cho tâm thẩn đươc thư dãn. Tốt hơn nữa là bạn nên tập ngồi thiền.

5- Thiếu ngủ

Muốn giữ gìn sức khoẻ, một người lớn bình thường cần có một giấc ngủ yên tĩnh từ bảy tới tám tiếng mỗi đêm. Bạn nên biết là sức miễn dịch của cơ thể giảm trung bình 60 phẩn trăm nếu bạn chỉ kém ngủ trong ba đêm liền. Nếu cơ thể bạn không có đủ “thời gian hồi phục” mỗi đêm thì sức sống của bạn sẽ hao mòn dần và điều này sẽ dẫn tới sự mất hài hòa trong đời sống và gây nhiều bệnh tật.

Ghi chú

1- Số lẩn tim đập tối đa ( Maximum heart rate-MHR)
Cường độ hoạt động thể dục có thể đươc đo theo phần trăm của số lẩn tim đập tối đa ( %-MHR). Cường độ tập càng cao thì tim đập càng nhanh
Tùy theo số đo %-MHR , cường độ tập thể dục chia làm ba cấp:
Nhẹ (40-54 %-MHR) Người tập không toát mồ hôi trừ khi trời nóng ẩm. Nhịp thở không mấy thay đổi
Vừa phải ( 55-69 %-MHR) Người tập đổ mồ hôi khi tập đươc chừng 10 phút. Thở mạnh hơn và gấp hơn. Có thễ nói chuyện nhưng không hát đươc
Mạnh ( bằng hay trên 70 %-MHR) Người tập đổ mồ hôi sau khi tập khoảng 3- 5 phút. Thở mạnh hơn và gấp hơn. Chỉ nói đươc những câu ngắn
Số lần tim đập tối đa (MHR) của một người có thể đươc ước tính theo công thức sau đây: MHR = 220 -- số tuổi (tính theo năm)

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

THẾ LỮ
BUỒN ƠI ! XA VẮNG...
Trong một sát-na nào đó, tôi tưởng chừng như đã Ngộ cái ý nghĩa “Tứ Đại Giai Không” của nhà Phật. Và tôi cảm thấy thấm thía những câu thơ biểu hiện về sự thức tỉnh triết lý của kiếp nhân sinh mà nhà thơ Cao Tiêu đã đề cập tới:

...Nhìn xem trong cõi ta bà
Dẫu rằng sắc, tướng cũng là hư không
Đời người bóng ngựa bên song
Lẽ sinh tử chẳng qua trong luân hồi...

Tất cả chúng sinh đều trở về cõi an nghỉ đời đời nơi Cực Lạc hoặc Thiên Đường? Hay lại tiếp tục vướng mắc vòng quay của kiếp luân hồi vì cái nghiệp còn đeo đuổi? Những ngôi sao tỏa sáng trên thi văn đàn Việt Nam một thời cũng đã lần lượt tắt lịm và lặng lẽ ra đi. Ở cõi hư vô miên viễn nào đó, những thiên tài đã gặp nhau chắc hẳn đã hài hòa từ ái với nhau hơn khi còn ở nhân thế? Những Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Phan Du, Hoàng Trúc Ly, Quách Thoại, Y Uyên, Nguyễn Bính...và mới đây Thế Hoài, Quách Tấn, Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Quang Dũng, Tú Mỡ, Lưu Trọng Lư, Hồ Dzếnh, Thanh Tịnh, Vũ Khắc Khoan, Thanh Nam, Chế Lan Viên, Trần Huyền Trân, Yến Lan, Thế Lữ...Trong sự hủy diệt của thể xác đó, những tinh anh phát tiết bằng thi văn hy vọng vẫn còn mãi ở thế gian và trong yêu thương của mọi người. Ông Võ Phiến đã nhận định: nhà thơ chỉ tồn tại với thơ. Nhưng cũng có những hiện tượng người vẫn sống mà linh hồn họ tưởng chừng như đã chết từ lâu. Điều nhận xét này, ông Nguyễn Hưng Quốc cũng đã viện dẫn đến hàng loạt những nhà thơ tiền chiến đi theo Cộng sản: ”...Những thành phần văn nghệ sĩ này đều là những người chết muộn. Họ thực sự đã chết sớm, rất lâu, với tư cách là một nhà thơ, trước cái chết của thể xác họ, và với tư cách một sinh vật đảng viên hay cán bộ tuyên truyền của nhà nước. Có người chết tức khắc, chóng vánh, ngay khi người ta đòi biến thơ thành “THÉP”.

Những người yêu thơ của một thời trào lưu bừng nở trăm hoa, mỗi sáng tác là một viên ngọc quý trên thi đàn Việt Nam ”...Phần lớn giá trị của những ngọn đỉnh cao nhất của những nhà thơ tiền chiến đều nằm ngoài, bên kia, xa lắc trước cửa nền thơ gọi là “hiện thực xã hội chủ nghĩa...” (Nghĩ Về Thơ của Nguyễn Hưng Quốc).

Chúng ta nên giữ thái độ công bằng để nhìn trên góc cạnh không gian, thời gian, vận chuyển đa hiệu của cao trào thơ cận đại, mới cảm thấy sự ra đi của những tài danh như Vũ Hoàng Chương, Quách Thoại, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, Trần Huyền Trân, Đinh Hùng, Nguyễn Bính, Phùng Quán, Thâm Tâm, Quách Tấn, Lưu Trọng Lư, Yến Lan và Thế Lữ...là sự mất mát lớn đối với nền thi ca Việt Nam. Theo quan niệm của chúng tôi, thi ca phải trân quý ở cái thế giới vượt thoát lên cao, ra ngoài mọi chủ nghĩa phi dân tộc, mọi chủ thuyết triệt hủy sự sống và giá trị con người, mọi hố thẳm của thù hận, và mọi đau đớn của ngục tù. Ở cái thế giới thơ mộng an bình thực sự đó, chúng ta sẽ rong chơi trong không khí đẫm mật, đầy yêu thương của mùa xuân vi diệu tuyệt vời mà Thế Lữ vẽ nên:

...Ánh xuân lướt cỏ, xuân tươi
Bên rừng thổi sáo một hai Kim Đồng
Tiếng đưa hiu hắt bên lòng
Buồn ơi! Xa vắng, mênh mông là buồn
Tiên Nga xõa tóc bên nguồn
Hàng tùng rủ rỉ trên cồn đìu hiu
Mây hồng ngừng lại sau đèo
Mình cây nắng nhuộm, bóng chiều không đi
Trời cao, xanh ngắt ô kìa
Hai con hạc trắng bay về Bồng Lai
Theo chim, tiếng sáo lên khơi
Lại theo dòng suối bên người Tiên Nga
Khi cao, vút tận mây mờ
Khi gần, vắt vẻo bên bờ cây xanh
Êm như lọt tiếng tơ tình
Đẹp như Ngọc Nữ uốn mình trong không
Thiên Thai thoảng gió mơ màng
Ngọc Chân buồn tưởng tiếng lòng xa mây...

(Tiếng Sáo Thiên Thai)

Cho đến bây giờ, không ai có thể chối bỏ một trong những thành viên có công lao khai mở phong trào thơ mới ở thời tiền chiến của Thế Lữ, giai đoạn 1930-1945. Ông được xem như là một chiến sĩ biệt kích tiên phong nhưng rất khiêm nhượng thi triển tài năng để phá vỡ thành trì thơ cổ và những tư tưởng phong kiến lạc hậu, nhằm cải cách xã hội theo quan niệm mới mẻ:

...Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu
Ghét những cảnh không đời nào thay đổi
Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối
Hoa chăm, cỏ sén, lối phẳng cây trồng
Giải nước đen giả suối, chẳng thông giòng
Len dưới nách những mô gò thấp kém
Dăm vừng lá hiền lành không bí hiểm
Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu
Của chốn ngàn năm cao cả, âm u...

(Nhớ Rừng)

Trong mỗi đời sống đầy nhiệt huyết của thanh niên, dọc ngang cung kiếm oai hùng ”...Xuống Đông đông tĩnh, lên Đoài đoài tan...” như những tráng sĩ trên mình ngựa rong ruổi khắp cùng non cao hải tận, oanh liệt ngang tàng...Thời cuộc đổi thay, cho đến một hôm nào đó khi gió rừng phong chớm lạnh. Tráng sĩ cảm thấy se lòng vì nhớ nhung, dừng ngựa lưng đèo, soi mình trong giòng suối vắng, mới khám phá tóc mình đã tuyết pha, tấm áo giang hồ đã tơi tả trong thời gian xông pha nơi gió bụi: “Thì ra tuổi đã ngất ngưỡng ở cửa tri thiên mệnh...” người chiến sĩ già quạnh quẽ đi vào cõi thầm lặng của thế gian, diện bích mà tiếc nuối tuổi đời qua mau, nhưng mộng vẫn chưa thành, hai bàn tay trắng bắt những bóng mây trời ảo vọng:

...Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
Tay say mồi đứng uống ánh trăng tan?
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới
Đâu những bình minh cây xanh nắng gội
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt
Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?
- Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?...

(Nhớ Rừng)

Người về trong cõi quạnh hiu, hồn xác rã rời chuyện nhân thế, đã nghe chừng quên lãng những cảnh náo nhiệt, ngựa xe cờ xí một thuở vàng son:

...Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương...

(Huyện Thanh Quan)
...Chiết kích trầm sa thiết vị tiêu,
Tự tương ma tẩy nhận tiền triều
Đông phong bất dữ Chu lang tiện,
Đồng Tước xuân thâm tỏa nhị Kiều.

(Xích Bích Hoài Cổ - Đỗ Mục)
Kích gãy bờ sông vùi dưới cát
Biết đến triều xưa khi rửa xong
Gió đông tan mộng Chu Công Cẩn
Hai Kiều Đồng Tước khóa thanh xuân

Cát bờ sâu - kích giáo chìm

Rửa ra mới hiểu căn nguyên tiền triều
Chu Lang, gió chẳng thuận chiều
Nên Đồng Tước khóa hai Kiều tuổi xuân

(Nhớ Xưa Trận Xích Bích - Ái Cầm)

...Ngàn năm sực tỉnh lê thê
Trên thành son nhạt - chiều tê cúi đầu...

(Huy Cận)
Không là tráng sĩ phiêu hốt, trận tiền lưu danh trong sử sách, chỉ là một người bình thường vương vấn chút mơ thôi, và một tâm hồn bé nhỏ của người nghệ sĩ mang “Cây Đàn Muôn Điệu” xuôi ngược trần gian để cho nhân thế bớt ưu sầu.


...Tôi chỉ là một khách tình si
Ham vẻ đẹp có muôn hình, muôn thể
Mượn lấy bút nàng Ly Tao tôi vẽ
Và mượn cây đàn ngàn phím tôi ca...

Người nghệ sĩ đi đến đâu đều được mọi người đón tiếp nồng nhiệt đến đó, vì ông không mang đến chủ nghĩa vô thần này, lý thuyết vong bản khác, ông chỉ đôn hậu mang đến vẻ đẹp cao siêu, hùng tráng của non nước, của thi văn, tư tưởng, dáng yêu kiều tha thướt khách giai nhân...ông mang đến tình yêu cho mọi người, có thể vì đồng điệu trong cõi thơ trần thế, nên chúng tôi nghĩ về Thế Lữ bằng tâm lượng hồn nhiên sông biển:


...Cơn gió nhẹ lướt qua làn sóng
Nắng chiều xuân rung động trên cành
Mấy hàng lau yếu nghiêng mình
Cô em bỗng ngẩn ngơ tình vì đâu?

(Hồ Xuân Và Thiếu Nữ)
...Hôm qua đi hái mấy vần thơ
Ở mãi vườn tiên gần Lạc Hồ
Cảnh tĩnh, trong hoa chim mách lẻo
Gió đào mơn trớn liễu buông tơ...

...Anh đi đường anh, tôi đường tôi
Tình nghĩa đôi ta có thế thôi
Đã quyết không mong sum họp mãi,
Bận lòng chi nữa lúc chia phôi?
Non nước đương chờ gót lãng du,
Đâu đây vẳng tiếng hát chinh phu,
Lòng tôi phơi phới quên thương tiếc
Đưa tiễn anh ra chốn hải hồ
Anh đi vui cảnh lạ, đường xa,
Đem chí bình sinh dãi nắng mưa
Thân đã hiến cho đời gió bụi,
Đâu còn lưu luyến chút duyên tơ?
Rồi có khi nào ngắm bóng mây
Chiều thu đưa lạnh gió heo may
Dừng chân trên bến sông thu vắng
Chạnh nhớ tình tôi trong phút giây...

(Giây Phút Chạnh Lòng)
Ngoài cái mơ ước cải hóa xã hội, Thế Lữ còn đưa hồn thơ vào cõi mê cung thoát khỏi trần thế. Ông đi tìm thế giới không có thực. Cái thế giới hư vô đã có lần ông Phạm Công Thiện thường nhắc nhở tới. Có thể người đời cho ông là viễn mơ, không thực tế, nhất là những người yêu thơ lác đác như “Lá vàng rơi trên giấy. Ngoài giời mưa bụi bay” (Vũ Đình Liên) ở hải ngoại, bây giờ, trong khi mọi người Việt lưu vong phải chạy đuổi theo đời sống như những toa tàu không biết mệt, thì thơ ông rất ư càng xa lạ. Tuy nhiên vẫn được xem như viên đá quý trong tâm thức những người yêu thơ của những thế hệ đang bước vào tuổi già:

...Tiếng hát trong như nước ngọc tuyền
Êm như hơi gió thoảng cung tiên
Cao như thông vút, buồn như liễu
Nước lặng, mây ngừng, ta đứng yên...

...Lời oanh trên liễu, yến bên hồng
Hạc ở trong không, phụng dưới tùng
Bỗng chốc cùng nhau cao tiếng họa
Đờn tiên rộn rã khắp tiên cung...

(Vẻ Đẹp Thoáng Qua)

Thế Lữ, một nhà thơ đầy nhân tính và khai phóng lẫm liệt đến như thế, nhưng đến khi bị cuốn hút vào cơn bão lửa của thời đại sau 1945-1954 thì chính ông đã dứt khoát lên tiếng “vô thừa nhận” những đứa con tinh thần lừng lẫy nhất trong giòng Văn Học Dân Tộc Việt Nam.

Ông đã mất tại Saigon cuối năm 1988. Thành phố mà trước 1975 đã có rất nhiều người yêu thơ ông và mang đến khắp tận chân trời viễn xứ.

Tất cả như chiếc lá vàng úa, bay vèo trên thảm cỏ xanh, hay tan rữa trong mặt hồ tĩnh lặng. Có còn chăng trong lòng nhau là những giây phút giao động khi nhắc đến những bài thơ của ông một thời vang bóng:

...Tiếng đưa hiu hắt bên lòng
Buồn ơi! Xa vắng mênh mông là buồn...
Tiên Nga tóc xõa bên nguồn
Hàng tùng rủ rỉ trên cồn đìu hiu
Mây hồng ngừng lại sau đèo
Mình cây nắng nhuộm, bóng chiều không đi...

Thái Tú Hạp

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image


Vũ Thành với Giấc Mơ Hồi Hương
Những bài tình ca của Vũ Thành chỉ thấy một điều rõ nhất: ông là một người nặng lòng với tình yêu quê hương đất nước.


Nghe nhạc Vũ Thành, dù ông có nói tới bất cứ điều gì nhưng nỗi tư hương vẫn cứ bàng bạc trong mỗi bài hát.

Để theo lời yêu cầu của một số quý thính giả yêu nhạc Vũ Thành, trong câu chuyện Thơ Nhạc của Đài VOA hôm nay, Bích Huyền mời quý vị nghe lại nhạc Vũ Thành…

Vũ Thành là một nhạc sĩ nổi tiếng của miền Nam trước năm 1975.
Ông từng giữ chức vụ chỉ huy trưởng của Quân nhạc Việt Nam Cộng Hòa.
Cũng có một thời ông giữ chức Chủ sự Phòng Văn Nghệ đài Phát Thanh Quốc Gia Sài Gòn.
Sau biến cố 1975, ông rời Việt Nam sang định cư tại Hoa Kỳ và ông cũng là nhạc sĩ đầu tiên đã mất tại hải ngoại kể từ 1975.
Trong nền Tân nhạc Việt Nam người ta có thể xếp nhạc Vũ Thành và Dương Thiệu Tước vào dòng nhạc quý phái.
Với bản chất lãng mạn, Vũ Thành không viết gì khác ngoài tình ca.
Nhưng nghe nhạc ông, người ta còn nhận ra một điều khác nữa: Ông là một người rất nặng lòng với quê hương. Dù ông có nói tới bất cứ điều gì trong nhạc của mình, cái nỗi tư hương ấy vẫn bàng bạc ở khắp nơi.
Quả thật là một điều đáng tiếc đối với Vũ Thành là Hà Nội sau 54 và Sài Gòn sau 75, những nơi phải bỏ ra đi, ông đã không một lần được nhìn thấy lại.
Hiện nay, nếu muốn, mọi người đều có thể trở về những nơi ấy, dù chỉ với tư cách du khách.
Cái chết của ông đã biến những chuyến tạm biệt các thành phố thân yêu của mình trở thành những lần vĩnh biệt. Bởi vì khi Vũ Thành còn, chuyện trở về Việt Nam còn là chuyện trong tưởng tượng. Song, có thể cũng vì thế, cái nỗi đau, nỗi tư hương không rời trong nhạc của ông, đã trở thành linh hồn, trở thành sự thật trong nhạc của ông, không bao giờ rời đổi nữa…

Bao năm qua tôi vẫn cứ mong chờ
Ngày trở lại nẻo đường thành phố cũ
Ở miền Nam có nhiều đêm không ngủ
Nhớ vô cùng Hà Nội của ngày xưa
Đường Cổ Ngư còn những cảnh nên thơ
Hồ Tháp bút nước xanh hay ngả đục
Những nẻo phố xưa có còn tấp nập
Trường Trưng Vương còn vạt áo lam bay…
(Những vần thơ nhớ nhung Hà Nội của Nhất Tuấn )

Nhiều người cho rằng nhạc Vũ Thành chịu ảnh hưởng nhạc bán cổ điển Tây phương. Nhưng nếu nghe kỹ nhạc ông, người ta sẽ nhận ra, đó chỉ là sự liên tưởng nhiều hơn là điều có thật. Người ta sẽ khám phá ra rằng, đó là tâm sự của một người có cách diễn tả như thế, không liên quan gì tới nhạc Tây hay nhạc Tàu cả. Ông có lối kiến trúc âm thanh riêng, thuần nhất, người ta có thể nghe và nhận ra đó là nhạc của ông. Và khi được phổ biến, nó đã đóng góp vào vào sự giàu có chung của kho tàng âm nhạc Việt Nam.

Trong những tình khúc đầu tiên của mình, Cung Tiến dùng tiếng “người”, Vũ Thành dùng tiếng “bạn” để gọi người tình.

Người ta không biết những tiếng ấy có bền vững hơn tiếng “em” hay tiếng “người yêu” không? Nhưng rõ ràng là có một khoảng cách giữa cái tên gọi đó. Thế nhưng khi nhạc được hát lên, cái khoảng cách ấy không còn nữa.

Ôi, giá mà chúng ta ai cũng có được một người yêu suốt đời, lại còn là một người bạn nữa nhỉ… Có lẽ vì thế, khi đạt đến đỉnh cao này, người ta gọi nhau là “bạn đời” chăng?

Có nhạc Vũ Thành tình bạn như đẹp hơn, tình yêu trở nên đẹp hơn và Hà Nội cũng thêm phần đẹp hơn. Ước muốn của ông gần gụi với mọi người. Cái buồn trong nhạc của ông nếu có, cũng là cái buồn thơ mộng, khỏe khoắn, dù khi ông nói lời từ biệt.

Vũ Thành là người đầu tiên gọi Hà Nội bằng tiếng “em” ngọt ngào, êm dịu.

Những gì ông viết ra, đều có ý nghĩa một tác phẩm nghệ thuật, một người có thể tạo ra dâng hiến cho đời, không mang một hậu ý nào khác.

Quà tặng của Vũ Thành chúng ta đã nhận được.

Các thế hệ sau tiếp nhận nhạc của ông như thế nào, chúng ta không thể biết trước. Nhưng nếu nhạc của ông còn được nghe, còn được hát, thì dù ông có mất, cũng chỉ là sự vắng mặt mà thôi.

Và trong đời sống còn tình yêu, và quê hương đối với mỗi người chúng ta vẫn còn là một phần thịt xương, thì Vũ Thành vẫn còn là niềm hãnh diện của chúng ta. Vì tựu trung, ông là một trong những nhạc sĩ viết lời ca hay nhất của chúng ta vậy.

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

Image

Phở ....TRĂM NĂM NHÌN LẠI!

1. Phở là niềm vinh dự của người Việt và đất Việt, nhưng nhắc đến phở là người ta đột nhiên gắn nó với Hà Nội. Người Hà Nội được tiếng thế lấy làm tự hào lắm. Tự hào là một chuyện còn có hiểu biết về phở thì dám chắc trừ mấy ông bên ngành xã hội “nhăn răng” (nhân văn) thì cũng chẳng mấy ai biết rõ. Nguồn gốc của phở đang còn nhiều tồn nghi vì nhiều người cho rằng quê hương của phở là ở Nam Định; nhưng có điều chắc chắn những bước thăng trầm của phở đều diễn ra ở Hà Nội. Người ta có thể viết lịch sử Hà Nội thế kỷ XX thông qua các cuộc chiến nhưng cũng có thể viết song hành lịch sử Hà Nội cùng với phở. Phở không chỉ là món ăn, phở là một kí ức.

Image

2. Năm 1909, nhà tư sản dân tộc Bạch Thái Bưởi bắt đầu kinh doanh vận tải đường sông. Với tinh thần dân tộc, ông chỉ tuyển dụng nhân công người Việt. Bến sông Hồng trở nên đông đúc, hệ quả là tạo ra nhu cầu ẩm thực cho người bình dân. Các hàng quán ăn dựng ở bến sông, trong đó có món “xáo trâu”. Hình ảnh gánh “xáo trâu” đầu thế kỷ có thể hình dung được qua gánh đánh đa riêu cua bây giờ. Một bên quang gánh là chiếc thúng ủ kỹ chiếc nồi đất lớn đựng canh xáo trâu giữ nóng bằng ổ bện rơm. Bên kia một chiếc thúng to khác, dưới đựng bún, trên đậy cái mẹt úp chồng bát chiết yêu, đũa, hũ nước mắm, đĩa chanh ớt, gia vị. Nhiều người sẽ thắc mắc: Sao lại là trâu mà không phải là bò từ đầu? Vì hồi đầu thế kỷ, người Việt không khoái ăn thịt bò. Bữa cơm người Việt có cơ cấu gồm: cơm, rau, cá (nhà sang thì thịt lợn) kèm nước mắm hoặc tương. Một thời gian sau, cũng không rõ vì sao người ta lại chuyển sang “xáo bò”? Phải chăng trâu thời đó để kéo cày, đắt đỏ hơn chăng? Thịt bò sẵn hơn, xương bò vốn cho không trước đây, nay lại hữu dụng, ninh lên làm nước dùng.

Thấy món quà người Việt đắt hàng, các chú khách (cách gọi người Hoa) cũng quảy gánh bán “xáo bò”. Từ Ô Quan Chưởng lan khắp Hà Nội. Các chú khách gọi món này là “Ngưu nhục phấn” (bánh thịt trâu) nhưng khi rao lên lai Hán Việt thành ra: “Ngầu nhục phắn a!”. Dần dần nó được dân gian hoá, rút gọn thành: “phắn a”! “phớ ơ”! cuối cùng định ra cái tên “Phở”. Điều này có thể đúng, vì người Việt là chuyên nói tắt như Vũng Tàu được người Pháp gọi Cap Saint Jacques nhưng người Việt gọi tắt là Cấp cho nó tiện. Danh từ “Phở” được chính thức hoá ấn hành lần đầu trong cuốn Việt Nam tự điển (xuất bản năm 1931) do hội Khai trí Tiến Đức soạn có ghi rõ tên phở bắt nguồn từ chữ “phấn” và giải thích đó là món ăn bằng bánh thái nhỏ nấu với thịt bò.


Trên kia là cái thuyết ra đời của phở được nhiều người chấp nhận nhất. Việc tìm chính xác năm ra đời của phở gần như không thể. Chỉ có mấy tư liệu vắn tắt đáng tin cậy:

Nguyễn Công Hoan (sinh năm 1904) người được xem là có trí nhớ tốt nhất trong số các nhà văn đã viết: “1913…trọ số 8 Hàng Hài…thỉnh thoảng, tối được ăn phở (hàng phở rong). Mỗi bát 2 xu (có bát 3xu, 5 xu)”. Phở rong đã khá thịnh hành nên bị chính quyền đánh thuế: “…người bán phở phải mua hai hào tem thuế mỗi ngày. Tính ra mỗi năm là 73 đồng”.

Đặc biệt, Henri Oger chỉ ở Việt Nam có hai năm 1908 - 1909 đã cho vẽ lại hình ảnh phở gánh trong cuốn sách tranh: “Kỹ thuật của người An Nam” (bản tiếng Việt xuất bản năm 2009).

Vậy phở ra đời chỉ trong khoảng 1900 đến 1910, tính ra vào dịp kỷ niệm Hà Nội nghìn năm cũng có thể kỷ niệm một trăm năm phở.
Image
3. Nói kỷ niệm phở cho có không khí long trọng, thêm hoạt động cho đất rồng bay nghìn tuổi chứ phở đã quá nổi tiếng, kỷ niệm chỉ tốn tiền thuế. Và nhất là vui vẻ gì khi phở đang khiến người ta “ăn phở khó thấy ngon”.

Lúc sắp qua đời, Nguyễn Tuân có đồng ý với ý kiến của một bạn văn rằng: phở phản ánh trung thực cho bộ mặt xã hội. Nói thế e quá chăng? Hay lại cái bệnh “cường điệu”, “ngoa dụ” từ các ông nhà văn? Thực tế ý nghĩ đó lại hoàn toàn chính xác.

Phở ra đời từ nhu cầu cuộc sống của nhân dân đầu thế kỷ. Thời điểm này, Hà Nội là mảnh đất mà các nền văn minh va chạm với nhau. Sau phở nước, có thêm phở xào. Phở xào được xác định ra đời sau thời kỳ kinh tế khủng khoảng (1929 - 1933). Bánh phở cháy cạnh, thịt bò xào cần tây, hành tây với nước sốt xệt thêm rau xà lách búp, cà rốt xu hào ngâm dấm ăn kèm. Rõ ràng ẩm thực Pháp đã ảnh hưởng mạnh như thế nào. Dấu ấn ẩm thực Tàu cũng hiện diện trong phở. Đầu năm 1928, ở con phố Jean De Puis (nay là phố Hàng Chiếu) có món phở có vị hung lìu, dầu vừng, đậu phụ. Thạch Lam đại diện cho khẩu vị người Việt đầu thế kỷ chê thẳng thừng những “phát minh” với cách “nói mát” là “phở cải lương”.

Những năm sau, chiến tranh liên miên. Cuộc sống thời chiến là cuộc sống đặc biệt, bất bình thường. Phở cũng thích ứng thời chiến trở nên có nhiều điều kì quái. “Phở không người lái” 3 hào lõng bõng nước và bánh phở, 5 hào có thịt nhưng thời chiến đào đâu ra thịt ngon. Đến cả gia vị là chanh ớt, hạt tiêu bói cũng không có. Tất cả đều phân phối, tem phiếu. Không khí ăn càng tệ hại. Tô Hoài hay ăn phở đêm ở chỗ hàng ông Thìn Hàng Dầu, đang ăn mà máy bay rú ầm lên, lại bưng cả bát phở xuống hầm tránh bom. Phở vẫn sống nhưng dưới mác “phở mậu dịch”. Thực phẩm khan hiếm, dân gian nghĩ ra phở cơm nguội, phở quẩy. Người ta ăn phở để no. Từ cái thời ăn dễ dãi đó di họa không ít cho “gu” phở ngày nay.

Phở mang đặc tính linh hoạt mềm dẻo của người Việt. Thời thực dân có lệnh cấm thứ sáu không được bán thịt bò. Trong cái khó ló cái khôn, người ta nghĩ ra phở gà. Bát phở gà với húng láng, gà ta, thêm ít lá chanh… khiến từ sản phẩm “chính thống” phở bò lao đao. Phở gần giống một thứ đạo, đi đâu nó cũng tự biến đổi thành các tùy thể để phù hợp cái “gu” của dân bản xứ. Năm 1954, gần một triệu người miền Bắc di cư miền Nam, phở Bắc chiếm lĩnh dần mặt tiền các khu phố trung tâm Sài gòn đẩy các xe, quán hủ tiếu, mì vằn thắn vào đường hẻm hoặc cứ địa người Hoa trong Chợ lớn. Phở Nam bộ mang một phong cách riêng. Cái phong cách dễ dãi, dễ thích nghi thêm giá sống, rau thơm, thêm sắc ngọt của đường. Tô phở trong Nam đầy nước và cái đến nỗi người Bắc vào chơi ít khi ăn hết một tô.
Image 4. Hà Nội – thánh địa của phở, giờ đây luôn đầy rẫy cửa hàng chuyên về phở. Loạn đến độ không biết thế nào là phở ngon. Hồi trước 1954, giới sành ăn đánh giá một bát phở ngon là: Nước dùng ninh từ xương bò đúng 6 tiếng, thịt bò thứ thiệt không lẫn các thứ thịt “giời ơi” khác. Bánh phở không nát. Thịt bò chín thái mỏng. Thường người ta chỉ dùng hạt tiêu không dùng chanh, ớt, đường để được hưởng vị ngọt của nước dùng xương. Nay, có vẻ như sự ngon của phở gắn với sở thích của từng cái nhân. Có vị chỉ chuyên ăn phở gà, độc hơn chỉ ăn phở… phao câu. Có vị ăn phở cho mấy thìa nước tương cay như ăn bún bò Huế… Đến đây, thiết nghĩ, có thể gắn cho phở hiện nay thêm một ý nghĩa nữa theo một câu cách ngôn nổi tiếng: hãy nói cho tôi biết anh ăn phở gì tôi sẽ nói anh là người thế nào!
Image Cũng có những người ở thời hiện đại ăn phở như đặc sản. Họ không ăn hàng ngày mà chỉ thỉnh thoảng thưởng thức. Họ quan niệm: phở ngon là phở do mình nấu. Các hàng phở ngày nay chạy theo lợi nhuận. Nước dùng có thể ninh 6 tiếng nhưng không hẳn chỉ mỗi xương bò. Đã thế lại còn pha chế để bán được nhiều thành thử khiến nước dùng chẳng còn vị ngọt nguyên chất nữa. Họ cứu chữa bằng cách cho mì chính. Chẳng thế mà, lắm khi đến hàng phở cứ phải dặn nhà bếp: “Một bát phở không mì chính”. Không trách các nhà hàng được vì họ kinh doanh thì phải lời, với lại phở xuống cấp mà có ai kêu đâu người ta vẫn cứ ăn phở rào rào, thành thử cần gì phải nghiêm túc học tập các “cụ âm lịch”.

Những kẻ ngoan cố cuối cùng có tôn chỉ riêng: Muốn ăn phở ngon hãy tự nấu lấy. Nguyên liệu sẵn và thực ra nấu phở cũng không mất thời gian như người ta hay nghĩ. Về cách nấu phở ngon đã có sách. Nhiệm vụ của bài báo này không phải để dạy cách nấu phở! Mà là thứ “văn chơi” loanh quanh về phở như cách “ăn chơi” phở từ trăm năm nay.

Hàm Đan

TuanAnh
Posts: 329
Joined: Sat Jan 30, 2010 3:44 am

Post by TuanAnh »

Image

CHỮ "BA" TRONG VĂN MINH MIỆT VƯỜN
Thiệt tình mà nói, cái chữ văn minh nó bao quát lắm. Cô nào mà bị ba cái bà má chồng, hay má ruột khen là” lóng rầy mầy văn minh quá rồi nha” thì đừng có tưởng là được khen. Mà nếu nói là bị trách thì cũng chưa hẳn đúng vì có nhiều khi cô này văn minh thiệt thì sao. Ba cái bà má quê đâu có học hành đỗ đạt gì cao nên có thiếu văn minh như mấy cô cậu trên thành trên tỉnh về thì có khen ai văn minh quá, nhiều khi lại là khen thiệt. Khen hay chê nó còn tùy thuộc vào cái giọng điệu lên xuống nữa. Bả mà nhấn mạnh rồi kéo dài ở chữ "Quá" là chết rồi.

Mà văn minh là gì ? Thôi để ý làm chi ba cái chữ rắc rối đó, nó ngoài tầm để tâm của người dân thường rồi. Nói ba lơn chơi thì được chứ bầy đặt nói văn hoa chậu kiểng thì bị người ta phê bình rồi nếu có cãi cọ qua lại thì biết đâu lại bị đá cho lọi giò hay gẫy ba sườn. Gẫy ba sườn là gẫy ba cái sườn hay là ba sườn bị gẫy, mà tại sao sườn người ta lại bị gọi là ba sườn. Khó hiểu quá.

Nói vậy chứ ăn nói ba lơn, ba chớp ba nhoáng còn đỡ hại hơn là ăn nói ba xạo. Đi tìm hiểu chữ ba trong nền văn minh miệt vườn mà cứ ba hoa, xạo tới xạo lui thì thiên hạ ai mà tin rồi đọc tiếp nữa. Xạo riết nhưng cứ tiếp tục thì đúng là đồ ba gai , ba trợn rồi, hay vì xỉn xỉn ba xị rượu đế nên coi trời bằng vung, nói tới nói lui người ta cũng không biết mình nói gì, lúc thì nói này lúc thì nói nọ, đúng là cái thứ ba phải.

Đúng ổ rồi! Bây giờ người ta biết chữ ba từ đâu ra rồi! Thứ nhứt là Đúng, thứ hai là Sai, còn không sai không đúng, làng nhàng thì chắc chắn phải là thứ Ba cho nên người ta mới nói người không có lập trường đàng hoàng là đồ ba phải.

Có lẽ vậy chăng vì người mình hay gọi mấy chú chệt trong khu xóm là mấy anh ba tầu. Mà mấy anh này thì dễ tính lắm, buôn bán dễ chịu số một, ai có than vãn gì cũng “ngộ biêt, ngộ biết”, ai có phê bình đúng sai, ngon dở gì cũng “nị nói đúng rồi”. Nếu sai cũng là đúng và đúng cũng là đúng mặc dù sai không phải là đúng mà chú chệt này đều dạ dạ thì không phải ba phải thì là gì cho nên gọi chú chệt là ba tầu thì có gì là phản lại ba cái nhận định này đâu. Không đồng ý hả ? không đồng ý thì ra ba tòa quan lớn mà kiện. Ba búa, ba đá thiệt.

Nhưng không được rồi! Vậy chữ ba trong ba chớp ba nhoáng từ đâu mà ra, nó là những con số chứ không có liên quan gì dến đúng sai. Cũng kỳ, thịt ba rọi, ba chỉ thì người ta đếm được ba cái lằn thịt mỡ hay thịt nạc rõ ràng, còn chớp và nhoáng thì đâu có dừng lại ở ba cái đâu mà người ta lại nói là ba này ba nọ, sao không nói là năm chớp sáu nhoáng cho nó nhiều nhiều.

Nói đến số nhiều,người mình cũng tiếu lâm thiệt! Cái gì mà sợ đến nỗi phải dùng tới ba chân bốn cẳng để chạy. Chạy như vậy nhanh hơn hay sao, rồi đào đâu ra cái chân thứ ba, thứ tư để ráp vô mà chạy. Ba xạo vừa vừa thôi chứ. Chạy ba chân chắc chỉ nhanh bằng xe ba gác hay con ba ba là cùng. Lỡ sạo rồi, dân mình còn gồng mình nói rằng con người ta có ba hồn chín vía nữa mới là khó chứng minh cho rõ chín cái vía để khoe ông bà.

Nói cho cùng, có một chữ ba mà khó giải thích mặc dù nói đến hàng ngày đó là chiếc áo bà ba. Chắc không phải là ba tà đâu, trước hai sau một, nhưng có lẽ vì nhiều anh ba có tới ba bà nên tới bà thứ ba thì hết khả năng may áo dài cho bả rồi nên để mặc đại áo cánh để làm việc cho gọn.

Người ta nghiệm ra một điều tình cờ nhưng đắc ý, đó là chữ anh ba. Chữ anh ba khi dùng nó có điềm chỉ cái gì tình cảm, khác hẳn chữ anh hai có vẻ quyền uy lý trí và anh tám thì lại là người nói dai nói nhiều. Bởi vậy người ta mới có bài ca có câu cậu ba (không phải cậu tư, cậu năm đâu nha) và chị hai, hai chị em ở nhà quê có mái tóc bạc trắng như nhau. Rồi chị hai ngồi nhổ ba cái sợi tóc sâu cho em, nghe mủi lòng người bôn ba hải ngoại. Nghe tình cảm quá, nước mắt dầm dề. Nữa! cái chữ ba ở chữ bôn ba mới độc. Có phải "ba" là sóng, là ra khơi như những con thuyền vượt sóng gọi là ba đào để rời xứ mà lang thang đất khách quê người không, rồi lê cái thân ba chìm bẩy nổi cho đến ngày tàn, chôn thân dưới ba tấc đất không. Chôn mà sâu có ba tấc đất thì là chôn nông rồi, tội cho anh ba quá. Mà đợi chi đến ngày tàn, lúc bệnh hoạn đau yếu rồi mới bôn ba. Nên đi chữa ngay thầy Ba cầu Bông hay ghé chị Ba Hàng Sanh nghe chỉ dậy chửi lúc đau bịnh thì kéo dài thêm cuộc sống. Nói đến ba đào, người ta lại nghĩ đến thơ tầu có chữ yên ba, rồi phong ba (bão táp). Mà thôi, đang nói về văn minh người mình, nên quên mấy cái chữ nửa nạc nửa mỡ đó đi.

Trở về chữ ba chìm bẩy nổi, người mình chắc không giỏi về khoa học, nên nói lộn, chắc phải là ba nổi bẩy chìm mới đúng sách vở chớ. Tưởng tượng người ta có ba khúc, xuống nước mà nổi tới hai khúc từ đầu gối trở lên thì giống Tề Thiên Đại Thánh đang đi trên nước quá vì nếu không phải là ổng mà là người thường thì hai phần nổi nặng hơn một phần chìm, té liền.

Nói về người mà còn lộn như vậy, nói về thức ăn còn lạ hơn nữa. Hình như người mình dùng chữ ba cho nó dễ đọc, chứ không có chủ ý tả hình tả cảnh gì hết. Thí dụ như cái con giống con còng mà ta hay làm mắm mặn ăn với cơm nguội hay cơm nóng là con Ba Khía. Đố ai mà tìm được ba cái khía ở con còng giống con cua này.

Nói cho ngay, chắc người mình dùng chữ cho vần hay theo thói quen nói dễ dãi thôi, chứ cái gì cũng chắc đúng, ba bó một giạ thì hết cái bóng bẩy của ngôn ngữ rồi. Còn tình cảm cũng vậy, nếu hết thẩy các câu chuyện tình mà lúc nào người nào cũng ba mặt một lòng thì đâu có người phải buồn rầu ba cái chuyện yêu đương rồi ghen bóng ghen gió, buồn tới buồn lui, rồi làm thơ đăng trên ba cái báo lá cải như ..cho bà con đọc.

Cái câu ba mặt một lòng này, đọc qua thì không thấy có gì nhưng nếu nghĩ kỹ thì nó mang nhiều cái ý nghĩa của văn minh miệt vườn thiệt.

Qua mấy đoạn trên ai dám nói người miền Nam giản dị hơn hay không sâu sắc như người … ngoại quốc (!!!, ai vậy). Nói thế là chưa được dịp biết đến cái cửa ngõ của văn minh miệt vườn qua cái chữ Ba đáng yêu. Người nào mà giải thích được tại sao chữ Ba lại được dùng một cách nhiều dạng nhiều nghĩa thay vì chữ hai, tư, năm hay sáu..., hay tại sao được dùng, hay đôi khi chỉ là chữ đệm -trong ngôn ngữ miệt vườn, thì người đó đúng là dân văn minh thứ thiệt, tóc chắc chắn phải là để dài búi tó rồi. Tui xin ngả nón chào.

Ký tên
TSL/SBL

Post Reply