Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Bấm vào đây để nghe :

Arnold Schwarzenegger Pizza Shop

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Lễ Tưởng niệm Nhị Vị Tướng Lãnh

Tin Sydney , chiều tối hôm qua chủ nhật 4 tháng 2 , tại Trung tâm Văn Hoá và Sinh họat Cộng đồng NSW đã có buổi lễ Tưởng niệm Nhị Vị Tướng lãnh VNCH - cựu Trung tướng Ngô quang Trưởng cựu Tư lệnh Quân đoàn I và Quân khu I từ trần ngày 22 /1 và cựu phó đề đốc Chung tấn Cang cựu Tư lệnh Hải quân QLVNCH từ trần ngày 24 /1 tại Hoa kỳ .

Sau phần lễ Rước Quốc Kỳ VNCH và Quân kỳ của QLVNCH là lễ Chào Cờ và một phút mặc niệm - Đại diện hội cựu Quân nhân NSW đã đọc phần Tiểu sử của nhị vị tướng lãnh . Tiếp theo chiến sĩ Võ đại Tôn đã diện cho các gia đình Quân đội NSW đọc Điếu văn khóc Nhị vị Tướng lãnh .Luật sư Võ trí Dũng chủ tịch ban chấp hành Cộng đồng Người Việt Tự Do NSW -chiến sĩ Mai đức Hoà chủ tịch Tổng hội Cựu Quân nhân QLVNCH /Úc châu đã phát biểu cảm tưởng Tri ân 2 Vì Sao sáng .
Phần nghi lễ Tôn giáo . Hoà thượng Thích Bảo Lạc cùng một số chư tăng và ban hộ niệm đã tụng một kinh cầu siêu .Đại diện cho Cộng đồng Công giáo và Giáo đoàn Cabramatta đã đọc kinh cầu nguyện theo nghi thức Công giáo. Buổi lễ được chấm dứt sau khi toàn thể những người tham dự đã tuần tự lên thắp nhang trước Di ảnh của Nhị Vị tướng lãnh Trung tước Ngô quang Trưởng và Phó đề đốc Chung tấn Cang .



Image

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Những đôi tình nhân Nam Hàn tổ chức hôn lễ theo Ấn giáo Hôm qua, một nhóm tình nhân từ Nam Hàn, vốn bị quyến rũ bởi văn hóa và truyền thống huyền bí của Ấn độ, đã thề ước sống chung trọn đời với nhau trong trong nghi thức hôn lễ của người Ấn giáo tại quận Agra ở miền bắc Ấn độ.

4 đôi uyên ương Nam Hàn đã mặc những bộ đồ truyền thống Ấn độ, qua đó những cô dâu thì quấn sà rông đỏ có thêu kim tuyến, còn chú rể thì đội mũ turban. Họ đã cũng với bạn bè, thân nhân và dân làng đã tụ tập tại ngôi làng yên tĩnh Naglapema trong quận Agra để trao đổi lời hẹn ước sống chung với nhau. Một thầy tế lễ Ấn giáo đã cử hành hôn lễ cho họ theo truyền thống hoàn toàn Ấn độ, gồm cả việc thắp 7 ngọn lửa tại bàn thờ, và là biến cố quan trọng nhất của hôn lễ. Các chú rễ cũng đã dùng loại sơn mầu đỏ mà họ gọi là sindoor, để vẽ vào giữa trán của những cô dâu, là biểu tượng của những phụ nữ đã có chồng. Anh Vesing là một trong những chú rể Nam Hàn nói rằng anh nghĩ đám cưới là biến cố quan trọng trọng nhất trong đời của anh, vì thế anh đã quyết định tổ chức theo nghi lẫ Ấn giáo, vì đây là một tục lệ rất hay và có ý nghĩa.

Cô Kukchi, một trong những cô dâu nói rằng ban đầu cô có một chú lo lắng, nhưng sau đó cô cảm thấy vui mừng là đã có dịp được cử hành hôn lễ thao nghi thức của người Ấn giáo. Cô nói rằng cô may mắn đã được trải qua một kinh nghiệm đáng nhớ. Vào hồi đầu tuần này cũng đã có 8 cặp tình nhân Nam Hàn tổ chức hôn lễ theo nghi thức Ấn giáo tại một ngôi làng cách ngôi đền tình yêu Taj Mahal nổi tiếng tại Ấn Độ khoảng 1 cây số. Tương truyền rằng hoàng đế Shah Jahan đã ra lệnh xây ngôi đền này để tưởng nhớ đến người vợ qua đời trong lúc lâm bồn, làm cho đầu tóc của ông bị bạc trắng vì thương nhớ người vợ quá cố.

Hôn lễ tại Ấn độ thường đầy mầu sắc và có rất nhiều nghi thức để thực hiện những tục lệ, trong đó có cả việc chú rể đội chiếc mũ mầu sáng lóng lánh để đuổi tà ma; và thường được những người em gái đeo những xâu tiền để cầu may mắn và thịnh vượng. Cô dâu thường được gắn một vết đỏ gọi là dindi đỏ trước trán, làm biểu tượng của một phụ nữ đã có chồng. Các cô dây cũng đeo những vòng nữ trang ở cổ tay để bảo vệ cho chồng khỏi bị nguy hiểm và khỏi bị cô gái khác quyến rũ.

(Theo SBTN)

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Chuyện Bắc Chuyện Nam

Bắc than Gầy thì Nam bảo Ốm

Bắc cáo Ốm, Nam khai Bịnh hay Đau

Bắc Cuốc nhanh, Nam Đi bộ mau mau

Bắc bảo Muộn thì Nam cho là Trễ

Nam Mần sơ sơ Bắc Nàm nấy nệ

Bắc Lệ trào Nam Chảy nước mắt ra

Bắc nói Úi Chà , Nam kêu Ui Da

Bắc Bước vào kia, Nam Đi vô trỏng

Nam kêu Vạc Tre, Bắc là Cái Chõng

Nam Trả Treo, Bắc Lý Luận ngược xuôi

Nam biểu Vui Ghê, Bắc nói Buồn Cười

Bắc chỉ Thế Thôi , Nam là Vậy Đó

Nam làm Giỏ Tre, Bắc đan cái Rọ

Nam Muỗng cà phê, Bắc gọi cái Thìa

Nam Muỗng canh, Bắc gọi cái Cùi dìa

Nam Đi tuốt, thì Bắc Lìa xa mãi

Nam Nói Dai, Bắc cho là Lải Nhải

Nam kêu Xe Hơi, Bắc gọi Ô Tô

Nam xài Dù, thì Bắc lại dùng Ô

Nam Đi trốn, Bắc cho là Lánh mặt

Nam la Hơi Mắc, Bắc là Khá Đắt

Nam Mần Ăn, thì Bắc cũng Kinh Doanh

Nam Chối Lòng Vòng, Bắc bảo Dối Quanh

Nam biểu Từ Từ, Bắc khuyên Gượm lại

Nam Ngu Ghê, còn Bắc là Quá Dại

Nam Sợ Ghê, Bắc thì Hãi Quá đi

Nam Nói Gì ? Bắc hỏi Dạ bảo chi

Nam kêu Trúng Lắm, Bắc bàn Chí Phải

Bắc gọi Thích ghê, Nam kêu là Khoái

Bắp Nam kêu hái, Bắc bảo Vặt Ngô

Bắc thích cứ Vồ, Nam ưng là Chụp

Nam rờ Bông Bụp, Bắc vuốt Tường Vi

Nam nói: mày đi ! Bắc rên: cút xéọ

Bắc bảo: cứ véo ! Nam: ngắt nó đị

Bắc gửi phong bì, bao thơ Nam gói

Nam kêu: muốn ói, Bắc bảo: buồn nôn !

Bắc nói tiền đồn, Nam kêu chòi gác

Bắc nói khoác lác, Nam bảo xạo ke

Mưa đến Nam che, gió ngang Bắc chắn

Bắc khen giỏi mắng, Nam nói chửi haỵ

Bắc nấu thịt cầy, Nam chê thịt chó

Bắc vén búi tó, Nam bới tóc lên

Anh Cả Bắc quên, anh Hai Nam lú

Nam: ăn đi chú, Bắc: mời anh xơi !

Bắc mới tập bơi, Nam thời đi lội

Bắc đi phó hội, Nam tới chia vui

Bắc kéo xe lôi, xích lô Nam đạp

Bắc bảo cao to Nam cho là lớn

Đùa mà không thật, Bắc bảo là điêu

Giỡn hớt đã nhiều, Nam kêu là xạo

Nam thời mập bạo, Bắc bảo béo ghê

Bắc bảo sướng phê, Nam rên đã quá !

Bắc hay đi phá Bắc đả bằng gươm

Nam chọc bị lườm, kiếm Nam , Nam thọt

Bắc ngồi bia bọt, Nam nhậu lade

Bắc bùi bùi lạc rang, Nam thơm thơm đậu phụng

Nam tròm trèm ăn vụng, Bắc len lén ăn vèn

Nam toe toét "hổng chịu đèn", Bắc vặn mình "em chả"

Bắc giấm chua "cái ả", Nam bặm trợn "con kia"

Nam chửi "tên cà chua", Bắc rủa "đồ phải gió"

Nam nhậu nhẹt thịt chó, Bắc đánh chén cầy tơ

Bắc vờ vịt lá mơ, Nam thẳng thừng lá thúi địt !

Khuyết Danh

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

VÀI CẢM NGHĨ KHI ĐỌC “ĐỖ LỆNH DŨNG”



Đào Trường Phúc
HNC 58-64

Giữa năm 2004, một truyện dài ký sự của Lê Thiệp, với tựa đề “Chuyện Người Đỗ Lệnh Dũng”, được khởi đăng hàng tuần trên Hoa Thịnh Đốn Việt Báo. Mãi đến cuối năm 2006, truyện ký này mới được xuất bản thành một cuốn sách hơn 400 trang, và tựa đề được cắt gọn lại, chỉ còn cái tên “Đỗ Lệnh Dũng”, tên của nhân vật chính, một người có thật và đang còn sống.

Nhưng Đỗ Lệnh Dũng không phải là nhân vật nổi tiếng ở ngoài đời vì có một quá khứ lừng lẫy trên chính trường hoặc vì từng giữ một vai trò đặc biệt nào đó trên chiến trường, như những vị chính khách hoặc tướng lãnh đã xuất bản hồi ký hoặc viết lại các dữ liệu về cuộc chiến tranh Việt Nam. Ông chỉ là một sĩ quan cấp trung úy của quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Đầu thập niên 90, ông cùng gia đình qua Mỹ theo chương trình H.O. dành cho các cựu tù nhân Cộng sản, và định cư tại tiểu bang Virginia .

Lần đầu tiên kẻ viết bài này nghe biết tên Đỗ Lệnh Dũng là lúc ông cùng một nhóm thân hữu thành lập Hội Nhiếp Ảnh Việt Nam vùng Hoa Thịnh Đốn, mở lớp dạy miễn phí cho những người yêu nghệ thuật nhiếp ảnh. Và tôi còn nhớ lần đầu tiên gặp ông, nhân một buổi ông đến lớp nhiếp ảnh, tại Trung tâm Sinh hoạt Đa văn hóa Willston ở Falls Church . Hôm ấy chúng tôi đứng tán gẫu một lúc ở cổng ngoài. Dĩ nhiên ông già hơn nhiều so với tấm ảnh mang lon trung úy in trong tựa đề “Chuyện Người Đỗ Lệnh Dũng” đang đăng trên báo, nhưng những nét chính trên khuôn mặt thì không khác. Ông nói chuyện hiền lành, nhỏ nhẹ, đôi lúc chỉ góp chuyện bằng một nụ cười hóm hỉnh nhẹ nhàng. Tuy không phải là một học viên của ông, tôi có thể hiểu tại sao các học viên lớp nhiếp ảnh quý mến ông và thích nói chuyện với ông. Tôi vẫn còn giữ nguyên những ấn tượng và thiện cảm ấy, về con người Đỗ Lệnh Dũng, khi đọc chương dẫn nhập cuốn truyện ký của Lê Thiệp và lời giới thiệu nơi bìa sách (của nhà xuất bản Tiếng Quê Hương):

“Đúng nửa đêm 24/11/1974, trái đạn 82 ly đầu tiên rót vào trong vòng đai chi khu Đôn Luân (tên chữ của quận lỵ Đồng Xoài).

“Hai trung đoàn của Sư Đoàn 7 CSBV với đại pháo và chiến xa T-54 yểm trợ áp dụng chiến thuật tiền pháo tập trung, hậu xung tứ diện, quyết nuốt chửng căn cứ nhỏ bé này càng nhanh càng tốt. Đồng Xoài chống trả suốt 10 ngày không hề được tiếp viện và đã bị tràn ngập vào rạng sáng 7/12/1974.

“Trận Đồng Xoài đã mở đầu cho một chuỗi biến cố quân sự khiến Việt Nam Cộng Hòa bị xóa tên. Trận đánh này cũng đẩy trung úy Đỗ Lệnh Dũng vào một quãng đời khác hẳn với những gì anh đang ước mơ...”

“...Đỗ Lệnh Dũng không chỉ là câu chuyện về chiến tranh, dù nhân vật chính là một chiến binh mất tích giữa chiến khu D sau một trận đánh dữ dội.

“Đây là câu chuyện về những oan khiên khắc nghiệt mà người dân Việt Nam phải trải gần trọn thế kỷ qua cho đến ngày nay. Nhân vật chính giã từ cha mẹ khi tròn 18 tuổi và lúc được gặp lại cha mẹ thì đã gần tới tuổi ngũ tuần. Thời gian xa cách là lửa đạn, là những ngày lê gót trên con đường mòn vượt rừng núi Trường Sơn từ Nam ra Bắc, là những năm tháng đọa đày tại các trại tù…”.

Cần mở một dấu ngoặc để ghi chú: Vì chi khu Đồng Xoài thất thủ ngày 7 tháng 12 năm 1974 và Đỗ Lệnh Dũng bị bắt làm tù binh khoảng một tuần sau đó, nên đoạn đời tù của ông bắt đầu trước ngày định mệnh 30/4/1975 của toàn miền Nam mấy tháng trời. Sau khi bị giam cầm, bị đấu tố trước “tòa án nhân dân”, ông bị đưa ra Bắc bằng đường bộ, và vào trại “tù cải tạo” Yên Báy cho đến năm 1984 mới được phóng thích.

Hơn 400 trang sách – trong đó từ chương 1 đến chương 6 là ký ức về đời lính, từ chương 7 đến chương 12 là ký ức về đời tù – tuy dùng hình thức tự truyện nhưng lại được tác giả Lê Thiệp khẳng định không phải là cuốn “tiểu sử” của nhân vật chính, được viết ra chỉ để diễn tả “thảm trạng một con người bị tước đoạt trọn vẹn tuổi trẻ, tình yêu, gia đình và mọi điều kiện an bình của cuộc sống”. Cuộc chiến tranh kéo dài một phần tư thế kỷ đã tạo ra biết bao nhiêu con người cùng trải qua thảm trạng như thế. Vậy thì tại sao lại là “Chuyện Người Đỗ Lệnh Dũng”? Đọc xong cuốn sách, người đọc có thể cảm thấy rằng, với lối viết bình tĩnh, chừng mực, sáng sủa của một nhà báo từng dấn thân đến vùng lửa đạn để viết phóng sự chiến trường, Lê Thiệp đã “chọn” Đỗ Lệnh Dũng như một nhân vật đặc biệt – nhưng không phải là nhân vật điển hình – để ghi lại một số hình ảnh sống thực của những ngày tháng đầy máu và nước mắt trên quê hương Việt Nam, những ngày tháng mà cả nhân vật chính lẫn tác giả cuốn truyện đều có mặt, dù trong hoàn cảnh và khung cảnh khác nhau, và đều giữ lại những ký ức khó xóa nhòa.

Ghi lại những ngày tháng ấy để làm gì nhỉ? Để trút ra hết trên mặt giấy những ký ức mà nhân vật chính cũng như tác giả cuốn truyện dù có muốn “cố quên để còn nhìn được về phía trước” vẫn không thể nào quên cho nổi? Hay để gửi đi một thông điệp như trên bìa trong của cuốn sách đã viết: “Nhân vật chính nhắc lại quá vãng bi đát của bản thân như một thoáng đời bình thường để chia sẻ các dữ liệu thực tế với mọi người — mà theo người viết, đã cho thấy trong mọi nghịch cảnh luôn tồn tại một nét đẹp truyền thống từng giúp người dân Việt Nam vượt qua mọi thử thách gian nan”?

Nét đẹp truyền thống ấy phải chăng là chất nhân bản của dân tộc Việt Nam, thể hiện trong những con người như Đỗ Lệnh Dũng, hiền lành, bình thản trong mọi hoàn cảnh, và khi hồi tưởng về quãng đời đã sống, dù có những giai đoạn cay đắng nghiệt ngã đến mấy đi nữa, cũng vẫn là “cách hồi tưởng hồn nhiên, chân thực không vướng chút oán hờn”. Nếu hơn 400 trang sách được viết ra để nói lên bản chất của những con người Việt Nam như thế, thì có thể kể là tác giả đã thành công. Từ chiến trường lửa đạn mịt mùng cho đến những năm tháng tù đày khốn khổ đều chỉ được nhắc lại như từng trang ký ức ngậm ngùi, chứ không phải như một nỗi ám ảnh day dứt. Và ngay cả đến một thành tích đầy vinh dự mà nhân vật chính có được sau bao nhiêu bão táp của cuộc đời, cũng chỉ được diễn tả như một chuyện tình cờ. Đầu thập niên 70, sau khi cứu mạng đại úy cố vấn Sam Graves trong một trận chiến, trung úy Đỗ Lệnh Dũng đã nói với nhân viên tòa đại sứ Mỹ rằng chuyện ấy “không có gì ghê gớm, vì đó là bổn phận của tôi, và hơn nữa vì chính mạng sống của tôi và binh sĩ dưới quyền”. Nhưng người sĩ quan Mỹ vẫn nhớ mãi đến ân nhân, và hơn hai mươi năm sau, trong buổi lễ giải ngũ của đại tá Sam Graves tại Liên Đoàn Yểm Trợ 88 ở Indiana, trung úy Đỗ Lệnh Dũng được mời lên nhận bằng tuyên dương “Anh Hùng Mỹ Quốc” (American Hero Award) vì “hành vi vô vị lợi, sẵn sàng đem mạng sống của mình ra bảo vệ đất nước Việt Nam, nêu cao truyền thống bất khuất của quân lực Việt Nam Cộng Hòa và cũng là của quân đội Hoa Kỳ”. Sau buổi lễ, người được tuyên dương nhỏ nhẹ tâm sự với vợ: “Anh đâu có muốn làm anh hùng... Anh chỉ muốn một đời sống giản dị, bình thường, không bắn giết, không súng đạn. Ước ao đó từ hồi nhỏ nhưng rồi cả đời anh là chiến trận, là tù đày, là khổ nhục. Làm anh hùng để làm gì?”

Niềm ước ao của nhân vật Đỗ Lệnh Dũng xem chừng cũng chẳng mấy khác biệt với niềm ước mong của tác giả Lê Thiệp, khi viết trong lời bạt cuốn truyện ký: “Tác phẩm này trước hết nhắm ghi lại một số hình tượng sống trong một giai đoạn tràn ngập thảm cảnh của người dân Việt Nam, và kế tiếp để dành tặng Mai và các con với ước mong một ngày nào đó cả nhà sẽ có thể về lại quê hương sống như một gia đình Việt Nam bình thường”.

Những mơ ước như thế không khỏi khiến người đọc nhớ đến một bài thơ của Cao Tần.

Giữa thập niên 80, trong lúc làn sóng vượt biên vẫn tiếp tục đổ ra biển Đông và những đoàn “tù cải tạo” vẫn tiếp tục bị chuyển từ trại giam này qua trại giam khác trên ba miền đất nước, thì ở Hoa Kỳ, nhà thơ Cao Tần đã viết những bài thơ diễn tả tâm trạng người tỵ nạn tha hương, mỗi câu thơ như vừa thấp thoáng một nụ cười vừa ẩn chứa một giọt lệ, nhưng bài nào cũng chứa chan tinh thần nhân bản:

“...Ngày ngày phóng xe như thằng phải gió
“Đêm về nằm vùi nước mắt chứa chan...
“...Nếu mai mốt bỗng đổi đời phen nữa
“Ông anh hùng ông cứu được quê hương
“Ông sẽ mở ra nghìn lò cải tạo
“Lùa cả nước vào học tập yêu thương.
“Cuộc chiến cũ sẽ coi là tiền kiếp
“Phản động gì cũng chỉ sống trăm năm
“Bồ bịch hết không đứa nào là Ngụy
“Thắng vinh quang mà bại cũng anh hùng”.

Khi Đỗ Lệnh Dũng kể lại với Lê Thiệp về cuộc đời thăng trầm của ông và nhắc đến những chi tiết riêng tư thầm kín mà ông nói là “cố quên để còn nhìn được về phía trước”, có thể tâm sự của cả người kể truyện lẫn người viết truyện đã gặp nhau ở điểm là chỉ muốn coi “cuộc chiến cũ” như “tiền kiếp”, cho nhẹ lòng. Thế nhưng khi cuốn truyện viết xong, in ra và đến tay người đọc, chắc chắn sẽ có nhiều người vẫn cảm thấy nặng lòng mỗi lúc bắt gặp trên chương sách này hay chương sách nọ hình ảnh của chính mình ở một đoạn đời xa cũ, hay hình ảnh của một người bạn đồng ngũ đã ngã xuống, một người bạn tù đã vĩnh viễn ra đi... Và sẽ có rất nhiều người chạnh lòng nhớ đến những hình ảnh của quê hương – trong đó có biết bao nhiêu hình ảnh mà dù cho có cơ hội trở về thăm đất nước cũng chẳng bao giờ còn thấy lại được nữa. Từ những hình ảnh cũ ấy, có thể người ta sẽ liên tưởng đến hình ảnh ngày hôm nay trên quê hương. Ở đó bây giờ – năm 2007 – tuy không còn những người “tù cải tạo” nhưng vẫn đầy dẫy trại tù để giam giữ những người không chịu nói cùng cách nói của chế độ cầm quyền, những tín đồ thà chấp nhận tù tội chứ không chịu từ bỏ đức tin, những đám dân nghèo oan ức bị đẩy đến đường cùng phải vùng lên đòi công lý, những người trẻ tuổi bị bắt giam và buộc tội “cấu kết với bọn phản động nước ngoài” chỉ vì trao đổi ý kiến trên một diễn đàn Internet... Ở đó bây giờ cũng đang có những người trong tay không vũ khí nhưng kiên trì và dũng cảm đối đầu với cả một guồng máy bạo lực, không phải để giành dân chiếm đất mà là để đòi lại những quyền tối thiểu của con người. Và điều ấy có nghĩa là ở đó, một cuộc chiến mới đang diễn ra, từng ngày, từng phút.

Còn những hồi tưởng như thế và còn những liên tưởng như thế, thì “cuộc chiến cũ” chưa thể coi là tiền kiếp được. Và chúng ta vẫn nên đọc, vẫn cần đọc những truyện ký như “Đỗ Lệnh Dũng”.





Đào Trường Phúc
HNC 58-64
(1-2007)

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Vì sao năm nay Việt Nam ăn Tết trước Trung Quốc một ngày?

Giao Hưởng
Để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu về một số ngày Tết Đinh Hợi không trùng nhau giữa Việt Nam và Trung Quốc, cũng như một số tháng đủ và thiếu khác nhau của hai nước, mới đây NXB Thuận Hóa (Huế) kết hợp với Công ty Văn hóa Hương Trang (TP.HCM) ấn hành cuốn 556 năm đối chiếu âm lịch - dương lịch Việt Nam và Trung Quốc (Giáp Thìn 1544 - Canh Thân 2100) do Lê Quý Ngưu biên soạn, dày hơn 1.500 trang.


Lời mở đầu nêu rõ nước ta tính lịch của mình theo múi giờ 7 (kinh tuyến 1050 Đông, đi qua gần thủ đô Hà Nội), khác với Trung Quốc dựa trên múi giờ 8 (giờ Bắc Kinh). Cụ thể, vào ngày 8.8.1967, Nhà nước đã ra quyết định 121/CP "khẳng định giờ chính thức là múi giờ 7 kể từ 00 giờ ngày 1.1.1968 để áp dụng thống nhất cho cả nước". Ở miền Nam, trước năm 1975, chính quyền Sài Gòn vẫn áp dụng theo múi giờ thứ 8 nên đã ăn Tết Nguyên đán hoàn toàn theo đúng với lịch Trung Quốc và "đến sau ngày miền Nam giải phóng, Chính phủ cách mạng lâm thời đã ra quyết định miền Nam chính thức trở lại múi giờ 7 và giờ Sài Gòn được vặn chậm lui 1 giờ". Do vậy, một số ngày Tết Nguyên đán của Việt Nam và Trung Quốc có khác nhau. Như sắp tới, Việt Nam sẽ ăn Tết Đinh Hợi 2007 vào ngày thứ bảy 17.2.2007 dương lịch, còn Trung Quốc ăn tết vào ngày chủ nhật 18.2.2007 dương lịch.



Sách biên soạn và bổ sung đối chiếu âm lịch, dương lịch Việt Nam-Trung Quốc từ năm 1544 đến 2100, chú trọng đến ngày tháng năm khác nhau của hai nước, làm công cụ tra cứu các ngày tháng trong lịch sử. Ví dụ cuốn Đại Nam thực lục ghi ngày Ngô Thời Nhậm, Phan Huy Ích và Nguyễn Gia Phan bị đóng gông giải đến phủ Phụng Thiên ở Bắc Thành để kết tội và đánh gậy là nhằm ngày Canh Thìn tháng 2 năm Quý Hợi, tương ứng với ngày 6.4.1803 dương lịch: "Ở năm này (Quý Hợi), có sự khác biệt giữa lịch Trung Quốc (nhà Thanh) với lịch Việt Nam (nhà Nguyễn)". Lịch Việt Nam năm ấy nhuận vào tháng giêng, còn Trung Quốc thì không nhuận. Vì thế tháng giêng nhuận nói trên của lịch nhà Nguyễn lại ứng với tháng hai của lịch nhà Thanh. Nếu người nghiên cứu sử học chỉ dựa vào lịch Trung Quốc để tìm ngày dương lịch của sự kiện trên sẽ không chính xác.

Nhân dịp sách phát hành, để tìm hiểu thêm về nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt giữa ngày ăn Tết Nguyên đán của Việt Nam với Trung Quốc, chúng tôi đã lắng nghe ý kiến cũng như tham khảo một số tư liệu đặc biệt của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu và được biết năm Đinh Hợi không phải là lần đầu tiên Việt Nam ăn Tết khác Trung Quốc. Chẳng hạn như cách đây 22 năm, nước ta ăn Tết Ất Sửu 1985 trước Trung Quốc một tháng (chứ không chỉ một ngày như Tết Đinh Hợi này). Nghĩa là Việt Nam ăn Tết Ất Sửu vào ngày 21.1.1985 dương lịch, còn Trung Quốc ăn tết năm đó vào ngày 20.2.1985, sai biệt này gây nên sự bàn tán trong dân chúng. Vì thế lúc bấy giờ, Phân viện Khoa học Việt Nam tại TP.HCM phát hành ấn bản đặc biệt để giải thích về âm lịch nước ta và các ngày Tết, theo đó nguyên nhân dẫn đến sự khác nhau nói trên là do việc áp dụng múi giờ Hà Nội (múi giờ 7) khác với múi giờ Bắc Kinh (múi giờ . Tuy khác nhau có 1 giờ nhưng có khi dẫn đến sai biệt đến... 1 ngày.

Theo ý kiến của các nhà am tường lịch pháp thì việc cải biên âm lịch cho phù hợp với múi giờ của Việt Nam là rất khoa học và cần thiết. Đặc biệt, một số bà con người Hoa mà chúng tôi tiếp xúc tại TP.HCM cho biết Tết Nguyên đán năm nay - Đinh Hợi 2007 - họ sẽ hòa nhập cùng bà con người Việt để ăn Tết theo âm lịch của Việt Nam và đồng thời theo tập quán, họ cũng có thể có thêm một “ngày mồng một Tết” nữa theo lịch Trung Quốc nếu muốn. Một nghệ sĩ người Hoa ở Chợ Lớn nói: “Riêng tôi và một số thân hữu vào Tết Nguyên đán Đinh Hợi tới sẽ ăn Tết theo cả hai lịch Việt Nam và Trung Quốc cho vui vẻ. Nghĩa là chúng tôi sẽ uống rượu mừng được thêm một tuổi vào hai đêm giao thừa, tại sao không? Là vì chúng tôi nghĩ rằng buồn thì không nên buồn hai lần, chứ vui cứ vui hai lần, hoặc nhiều lần trong dịp đầu năm cũng là điều hay chứ có sao đâu”.

Thật vậy, nhà nghiên cứu Trần Thượng Thủ đưa ra các ví dụ cụ thể qua một tài liệu đặc biệt về lịch Việt Nam - Trung Quốc như sau: "Có khi sự khác biệt 1 giờ đó lại khiến cho biến thành sự khác biệt 1 ngày và có khi ngày này thuộc vào hai tháng khác nhau (!) chẳng hạn như một trận động đất mạnh 4,5 độ Richter xảy ra tại một nơi có tọa độ địa lý là 1020 kinh Đông và 240 vĩ Bắc, cách xa tâm chấn này một khoảng suýt soát bằng nhau theo đường chim bay là thành phố Côn Minh (của Trung Quốc) và thị trấn Hà Giang (của Việt Nam). Thời điểm xảy ra trận động đất trên được ghi nhận là 00 giờ 25 phút ngày thứ tư 1 tháng 3 ở Côn Minh, nhưng lại (ghi nhận) là 23 giờ 25 phút ngày thứ ba 28 tháng 2 ở Hà Giang!". Tuy vậy, cũng theo ông Trần Thượng Thủ trong tình trạng bình thường giờ của Việt Nam và Trung Quốc cũng chỉ khác nhau có 1 giờ đồng thời nêu ví dụ có một cơn lốc thổi qua vùng cầu Cốc Lếu nằm trên biên giới Việt Nam - Trung Quốc thì các ghi nhận vào sổ trực của hai bên biên giới sẽ khác nhau: "bên này cầu (Việt Nam) ghi rằng: hồi 9 giờ 18 phút sáng hôm nay, một cơn lốc làm ngã cây cối khiến đứt dây điện và dây điện thoại - còn bên kia cầu (Trung Quốc) ghi rằng: hồi 10 giờ 18 phút sáng hôm nay, một cơn lốc mạnh làm tốc nóc và sụp đổ nhiều nhà". Như thế việc ghi nhận một sự kiện xảy ra tại một nơi, cùng một lúc, nhưng lại thể hiện trên văn bản khác tới 1 giờ.

Tóm lại, do múi giờ khác nhau trong việc biên soạn lịch, nên thỉnh thoảng đã có một số khác biệt từ 1 giờ, 1 ngày, thậm chí có khi đến 1 tháng giữa lịch Việt Nam và lịch Trung Quốc. Theo các nhà nghiên cứu lịch pháp, việc nước ta sửa giờ giấc lại cho phù hợp với thiên văn là rất đúng và khoa học vì "quê hương đất tổ nằm gọn trong múi giờ thứ 7". Do vậy, sắp tới dân ta ăn Tết Đinh Hợi vào ngày 17.2.2007 (trước Trung Quốc 1 ngày) không phải là "sớm", mà là đúng ngày giờ với âm lịch Việt Nam.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Cựu nữ sinh Lê Văn Duyệt mở tiệc mừng năm mới Đinh Hợi

Nguyên Khanh, Feb 05, 2007

Image
Cali Today News - Mùa tiệc tất niên và tân niên đang nở rộ trong các sinh họat hội đòan để tiễn năm cũ Bính Tuất và đón năm mới Đinh Hợi. Nhà hàng Dynasty tối thứ sáu ngày 2-2-07 đã tiếp đón khỏang 500 khách trong buổi tiệc đón Xuân do Hội Aùi Hữu Nữ Sinh Lê Văn Duyệt tổ chức. Trường nữ sinh Lê Văn Duyệt Gia Định thành lập cuối thập niên 50, không xa trung tâm thành phố Sài Gòn, gần Lăng Oâng Lê Văn Duyệt, gần chợ Bà Chiểu là một trong những trường nổi tiếng của vùng đất này.

Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt công đức đối với dân chúng miền Nam rất lớn cho nên khi ông mất, dù bị vua Minh Mạng vì thù riêng tước bỏ mọi sắc phong nhưng người ta vẫn lập miếu thờ ông và cái tên Lăng Oâng Bà Chiểu trở thành địa danh lịch sử văn hóa và linh thiêng cho những người đến thờ cúng cầu nguyện xin xâm.
Sau năm 1975, Sài Gòn mất tên và tên trường Lê Văn Duyệt cũng bị đổi tên và những người nữ sinh trường này đã lưu lạc khắp hải ngọai. Năm 1991 Hội Aùi Hữu Nữ Sinh Lê Văn Duyệt được thành lập và từ đó cho đến nay, Hội đã tham gia nhiều sinh họat của cộng đồng Bắc Cali trong đó có tiệc gây quỹ cứu trợ nạn nhân bão Katrina năm ngóai.

MC Hà Bích Hợp đã chào đón quan khách và giới thiệu chương trình văn nghệ với màn trình diễn áo dài rất đặc biệt do các cựu nữ sinh Lê Văn Duyệt nay đã lớn tuổi và các thiếu nữ trẻ trung là con cháu của họ đảm trách.

Một vài tiếng hát điêu luyện của nữ sinh Lê Văn Duyệt là Hà Thu Trang và Ngọc Lan hòa cùng giọng bè của Bích Hợp và Hòang Nga. Ngôi trường này cũng có một khuôn mặt ca nhạc nổi tiếng là ca sĩ Sơn Ca. Đặc san Lê Văn Duyệt 2007 bìa màu in đẹp phổ biến cho mọi người.

Hội Nữ sinh Lê Văn Duyệt có Hội Trưởng Nguyễn Thị Bạch Yến và hai ban chấp hành của Bắc Cali và Nam Cali với hội phó, tổng thư ký, thủ quỹ và các trưởng ban thuộc hai miền khác nhau.

Như vậy cùng với các trường Gia Long, Trưng Vương, Nguyễn Bá Tòng, trường Lê Văn Duyệt thuộc vùng đất Sài Gòn cũ,nay ở hải ngọai thành lập hội và sinh họat cùng với đồng hương, gợi nhớ một thời học trò trung học dễ thương.

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Nhớ chợ Tết làng xưa
Trước cách mạng tháng 8/1945, làng Trung Phước cắt rốn chôn nhau của tôi có sáu phái (thôn) là: Gà Tan thượng, Gà Tan hạ, phái Thị, phái Trung, Trà Viên và Giáp Nam. Chợ làng lập ngay tại phái Thị, lấy tên làng làm tên chợ: chợ Trung Phước (Quảng Nam). Dầu đi đâu về đâu, ngày nay mỗi lần Tết đến tôi lại mang mang nhớ nhung cái "hồn" của chợ quê xưa. Tấm "hồn" đó là do sự lắng đọng của quang cảnh chợ Tết của làng tôi, đã sống lâu bền trong tâm thức tôi.

Chợ Tết khởi sự từ 25 tháng Chạp âm lịch, mỗi ngày sau đó càng đông thêm và cao điểm là buổi sáng 30 Tết (năm nào tháng Chạp thiếu là sáng 29), ghe, đò đậu chật cả hai bến, chiếc nào đến trễ tìm một chỗ đậu thật gay go. Người họp chợ đông đến mức tràn ra cả đường cái, ngõ kiệt và hai lối xuống bến sông.

Các tiệm cố định tại chợ đã lo đủ những mặt hàng Tết từ trước tháng Chạp. Họ mua sỉ hàng từ Đà Nẵng, Hội An và tải về bằng những chiếc ghe lớn có mui, chạy buồm, chủ yếu là vải vóc, bánh kẹo, rượu chai, pháo và gạo tốt của Sài Gòn mà bà con địa phương quen gọi là gạo lương. Có lẽ loại gạo chà bằng máy này được nơi nào đó dùng để phát lương nên bà con gọi như thế để phân biệt với gạo ruộng thông thường còn xay, giã bằng tay. Cụm hàng Tết kể trên quy thành nhóm "hàng khô" đầy màu sắc hấp dẫn.

Nhóm "hàng tươi" phải kể trước nhất là những sạp thịt heo. Tết ở đây chỉ chú trọng thịt heo chứ không thêm thịt bò, trâu, dê, cừu như nhiều nơi khác. Kế đến là những dãy bán rau quả. Loại hàng này không bày lên sạp mà sắp những gánh hàng thành hàng dài trên nền chợ. Rau quả các loại hái từ những vườn của làng Đại Bình bên kia sông nổi tiếng là ngon nhất tỉnh và luôn chiếm lĩnh ưu thế tuyệt đối tại chợ Trung Phước trong ngày thường cũng như mấy phiên chợ Tết.

Cụm "hàng sống" gồm gà, vịt và cá đồng. Ngày Tết, bà con ở đây không chuộng cá biển, cá sông mà lại ưa cá đồng. Có lẽ vì cá đồng khi chế biến thành món, nhất là các kiểu kho độc đáo của Quảng Nam như kho nghệ, kho lót mía, kho lá gừng, kho "ba mươi lửa"... Mấy ngày giáp Tết, bà con địa phương tháo hồ, tát đìa, tát khe bắt cá dành bán chợ Tết. Vào thời điểm này, các loại tràu, trê, rô, thác lác... đều lớn và mập trông rất hấp dẫn.

Quãng đường cái trước chợ là những gánh nếp, đậu, đường, lá dong, lá chuối, lạt dang của số bà con buôn bán "nghiệp dư" cần có thêm ít tiền tiêu Tết.

Mặt hàng văn hóa chỉ dồn trong một tiệm ở đầu dốc chợ xuống bến đò. Tiệm bày bán những loại tranh in như "Nhị thập tứ hiếu", "Tây du", "Bát tiên quá hải", đối liễn xuân... Ông chủ tiệm là một cụ đồ, miệng luôn ngâm thơ. Ông có một cuốn Kiều được trịnh trọng bọc trong vải hồng điều để khách bói quẻ đầu năm và nghe ông giảng. Tại tiệm, vào mấy ngày cận Tết, ông sẵn lòng “cho” một câu đối xuân và viết luôn trên giấy hồng đơn nếu có khách "thỉnh". Gọi là "cho" và "thỉnh" để trọng đạo thánh hiền chứ khách phải trả công viết và "nhuận bút" xứng đáng. Khách nhờ ông bói Kiều cũng thế. Tuy nhiên, trong niềm hưng phấn tống cựu nghinh tân, khách nào nhờ được ông giúp xong hai việc trên cũng đều tỏ ra thập phần hoan hỉ.

Chẳng biết từ đâu tới, năm nào cũng vậy, hễ đến mấy phiên chợ Tết lại xuất hiện nhóm người bán loại hàng được gọi là "hàng Nha Trang". Đây là những vật thờ, vật dụng và đồ chơi cho trẻ con được làm bằng đất nung, có màu lòe loẹt. Những bộ tam sự, ngũ sự cho bàn thờ, những ống đựng bút có con nai hay ông tiên, bộ ba Phúc Lộc Thọ, những dĩa ngũ quả, ông địa bụng bự ngồi cười toe toét... Bọn trẻ chúng tôi khoái nhất trong nhóm "hàng Nha Trang" này là những con gà kéo, con vịt, con chim, con ốc màu mè, thổi lên kêu te te, muốn chọn con giọng cao, giọng trầm tùy thích. Người ta bày "gian hàng" này lộ thiên tại góc chợ xế cổng đình làng và bán rất chạy. Theo mẹ hay chị đi chợ Tết, bọn trẻ chúng tôi thế nào cũng thủ sẵn tiền để khi đến chợ thì tách lẹ để mua vài "con Nha Trang". Phiên chợ Tết thêm phần om sòm bởi những tiếng gáy, tiếng hót, tiếng kêu của các con vật bằng đất nung ấy.

Chợ Tết quê tôi, ngoài màu sắc, tiếng động, phẩm vật... còn có một mùi thơm chung rất Tết. Đó là mùi tổng hợp của các loại rau thơm, củ, quả thơm; mùi hồ vải, áo mới; mùi hương, trầm đốt "quảng cáo" tại các cửa tiệm, mùi thơm của các loại bánh Tết. Tất cả đã làm nên chất "hồn" của chợ Tết làng xưa. Dân gian bảo: "Đói cũng ngày Tết, hết cũng ngày mùa". Vào phiên chợ Tết làng xưa, ai cũng thấy vẻ trù phú, no ấm, "chịu chơi" của bà con ta khi Tết đến Xuân về, nét cơ cực tạm thời được cất đi vào thời điểm vui đón tân niên. Đã rất lâu rồi tôi chưa được một lần về thăm lại phiên chợ Tết của làng xưa. Chắc rằng "chợ Tết ngày nay" ở quê tôi cũng như bao nơi khác đã có nhiều đổi thay, có thêm nhiều thứ và mất đi nhiều thứ... nhưng cái "hồn" của chợ quê thì vẫn được giữ như xưa. Mong là như thế.

Tường Linh@TH.N

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Mùa Xuân nói chuyện Trà
Trà, dân gian, Văn Hóa, Người Việt

Qua tài liệu dẫn chứng hơn 6000 năm, Hoàng đế Shin Nung người Trung Hoa đầu tiên phát hiện ra trà uống bổ khỏe, mãi cho đến Hippocrates (460-370 BC) cũng công nhận trà có dược tính tốt. Như vậy nguồn gốc trà có thể tìm thấy đầu tiên tại Trung Hoa.

Thời nữ hoàng Âu Châu Hildegard von Bingen (1098-1179) đã công nhận các loại trà giúp chữa bệnh và được nghiên cứu rộng rãi trong giới y khoa.

Ngoài ra có thêm huyền thoại về trà được nhắc lại, thuở xa xưa hoàng tử con vua Bodhidharma Ấn Độ lúc ngồi thiền hay buồn ngủ, Hoàng tử giận cắt mí mắt ném xuống đất và từ chỗ đó mọc lên cây trà? (tồn ghi)



Trà tại Á Châu

Trà thường trồng các vùng đồi núi quanh Hangzhou Trung Hoa, các vùng trà nổi tiếng là Ling Ching và Lung Ding, ngoài ra còn có vùng bảy núi ở Xishuangbanna trồng trà từ triều đại Đường (Tang 618-907) nhưng mãi đến triều đại Thanh (Qing - 1644) trà được đưa vào việc sản xuất. Hiện nay còn loại trà cây cổ thụ từ năm 1700 qua các đời (Shengzu-Kangxi), vùng nầy trồng loại trà Pu - Erth lá dày. Nước trà màu hơi đỏ, được xem như một vũ khí tuyệt vời uống để chống lại bệnh có mỡ trong máu (wunderwaffe gegen fett).

Ở Ấn Độ vùng núi Darjeeling cách xa Kalutta 600 km trồng các giống trà “Thea Chinensia” được công ty Đông Ấn “East India Company hoạt động từ năm 1600-1857” lai giống các loại trà năm 1823 tại Assam thành công, thêm loại “Thea assimica”

Ấn Độ trồng hơn 400 loại trà khác nhau, trà nổi tiếng thơm ngon quanh vùng Himalaya trên cao độ 2200 m, các vườn trà trong vùng thung lũng “Steintal” và “Happy Vallytea Estate”

Assam là vùng cao nguyên trên thượng lưu Brahmaputra, có 2000 vườn trà được lai giống khác nhau. Hiện nay xuất cảng trà đứng đầu thế giới là Ấn Độ sau là Tích Lan (Sri Lanka) .Giống trà Thea assmica, được người Anh, ông Schotte James Taylor mang vào Tích Lan năm 1849, sau 11 năm phát triển trồng trên cao nguyên Ceylon và Tamilen.

Tại Việt Nam theo sách An Nam Chí Lược ghi “vào tháng 5, năm thứ tám niên hiệu Khai Bảo. Đinh Liễn có tiến cống nhà Tống vàng, lụa, sừng tê, ngà voi và trà thơm”. Theo các tài liệu trên chứng tỏ người Việt đã biết uống và biến chế trà từ lâu. Ngành khảo cổ đã khai quật tại vùng Nông Giang Thanh Hóa tìm thấy được nhiều chén trà, dĩa trà thời gian nầy ngang với đời Tống (Song 960-1279)

Theo Nguyễn Trãi ở Dư Địa Chi, đã kể đến trà Tước Thiệt (trà lưỡi chim sẻ) người ta gọi là trà móc câu thuộc giống trà mi ở vùng Sa Bôi nay là tỉnh Quảng Trị (ngày xưa thuộc Châu Ô, Châu Lý). Người Việt Nam có nghệ thuật ướp trà và uống trà.

Có rất nhiều giống trà trồng hợp với khí hậu địa phương, các nơi trồng trà nổi tiếng như: Phú Thọ, Hòa Bình, Nghệ An, Thái Nguyên, Lai Châu. Cao nguyên Bảo Lộc Lâm Đồng có loại trà mi, hải đường. Có hoa nhỏ thơm dịu, nụ nhỏ, trà ngày nay theo nhu cầu kỹ nghệ sản xuất lai nhiều giống, có 3000 loại trà mi khác nhau trên thế giới.

Theo nghiên cứu các nhà khoa học, trà phát sinh từ 3 loại chính của Đài Loan và Nhật Bản đó là Camellia Japonica, Camellia sasanqua, và Camellia reticulata. Có thể đất nước Việt Nam trải qua chiến tranh, bế môn tỏa cảng.. Không được các chuyên gia ngoại quốc đến nghiên cứu, hay trước đó trong thời bị nô lệ các giống trà từ Việt Nam bị lấy đi?

Trà mi có tên khoa học Camellia chrysantha trong thời gian gần đây người Pháp tìm ra trà mi giống Việt Nam và được nhắc đến trà mi hoa vàng tên Camellia vietnamensis ở Cúc Phương, đẹp hơn trà mi hoa vàng gốc Nhật, hoa ít hơn. loại Camellia baviensis ở núi Ba Vì hương thơm nồng nàn. Trà mi Camellia baviensis đem về trồng thí nghiệm ở đại học Lâm nghiệp Xuân Mai Hà Tây. Hoa lưỡng tính cánh trắng nhụy vàng to nở lâu tàn.

Trà vào Nhật Bản thế kỷ thứ 6 Hòa Thượng Huimeng (638-713) truyền Phật Giáo từ Trung Hoa sang Đại Hàn vào Nhật Bản và phát triển mạnh trong thời Nara Zeit (710-94). Trà du nhập vào cùng giai đoạn trên, nhưng đến thời hoàng đế Shômu thế kỷ thứ 8 trà dùng phổ thông hơn. Kế tiếp qua nhiều triều đại văn hóa phát triển. Thượng phụ Murato Shuko (1422-1502) biến chế trà xanh (Matcha) thường dùng trong các Chùa và các Hiệp sĩ đạo/Samurai. Đến đời sư phụ Sen-No Rikyu (1522-1591) được nâng lên một nghệ thuật, trở thành nghi thức uống trà (Tea ceremony/ Chanoyu) khởi đầu tại Daitoku-Ji-Tempel

Các nước Thái Lan, Lào, Java ở Indonesia, Malaysia... cũng trồng trà, nhưng mỗi quốc gia đều có phương pháp trồng trà riêng.

Trà nhập Âu Châu

Năm 1610 người Hòa Lan mang trà từ Trung Hoa về Âu Châu. Vua Ludwig XIV, Marquise de pompadour, và Goethe là những người uống trà xanh. Nữ hoàng Kathrina von Bragaza (1638-1705) con vua Johanns IV Bồ Đồ Nha (Portugal) cùng đoàn tùy tùng đến Anh Quốc làm lễ thành hôn năm 1665, dâng lễ vật quà cưới đến vua Charle II (1660-1685) trong đó có nửa kilô trà. Chứng tỏ trà lúc đó rất quý đối với giới quý tộc Âu Châu.

Các quốc gia Ấn Độ, Tích Lan bị Anh quốc chiếm làm thuộc địa, cách đây 150 năm các thương gia Anh nhập trà về các bờ biển Cornwall, Dorset, Kent chở về cho 2000 đại lý ở London độc quyền bán trà đen tại Âu Châu .

Nhưng đến cuối thế kỷ 19 trà xanh tràng ngập thị trường Âu Châu, nhờ phương tiện lưu thông tiến bộ, thời gian chuyên chở làm cho trà xanh không mất phẩm chất .

Trà nhập Âu Châu bằng đường thủy, trong thời gian nầy những đoàn lữ hành, vượt sa mạc dùng lạc đà chuyên chở trà từ Trung Hoa , Ấn Độ đến bán cho Nga sô.
Trà đến Mỹ Châu

Năm 1650 thương thuyền người Hòa Lan nhập trà vào New York, thời ấy gọi là Amsterdam mới (new Amsterdam) và trên đường Chatham có nguồn nước ngọt, vào buổi sáng người đàn ông rung chiếc chuông nhỏ rao bán nước “come and get your tea-water!”. Các Tổng thống Hoa kỳ: Lincoln, Roosevelt, Hoover, Kennedy đều uống trà.

Nhà nhập cảng trà, ông Sullivan tại New York, có sáng kiến bỏ trà vào một túi nhỏ bằng lụa cho mỗi tách trà, quảng cáo gởi cho khách hàng uống thử. Từ sáng kiến đó ngày nay người ta biến chế trà trong những túi nhỏ. Người Mỹ có thói quen uống trà xanh nhập cảng từ Trung Hoa. Năm 1904 người Anh Richard Blechynden đến St. Louis trong hội chợ triển lãm về trà. Ông ta quảng cáo trà đen Ấn Độ vì thời tiết nóng, uống trà nóng ra mồ hôi khó chịu, ông bỏ nước đá vào ly trà, uống mùi vị thơm ngon và mát, từ đó mở đầu cho giai đoạn mới, uống trà với nước đá “ice tea”.

Sản xuất trà đi qua các giai đoạn căn bản, hái để lá héo, hấp nước hay sấy qua, đập hay chà phơi khô sàng lọc.. Trà đen hay trà xanh cũng đều biến chế từ các loại trà cây có tên khoa học : Camillia Sinensis và Camillia Assamica

Trà xanh (green tea) người Trung Hoa bỏ lá trà xanh (luchà) vào chảo gang nóng, rang sơ qua sau đó trộn bằng tay. Ngược lại người Nhật bỏ lá trà vào hấp nhanh khoảng một vài phút, hai phương pháp trên đều có mục đích khử các kháng độc tố, giữ cho trà có màu xanh, mùi thơm ngon

Trà đen (black tea) Người Trung Hoa biến chế trà đen (hongchà) ủ lá trà lên men. Sấy ướp các hương vị như hoa lài.. có mùi thơm. Người Nhật hấp nước, ủ lá trà lên men, ướp... trước khi phơi khô, lá được cán hay chà nhỏ. Đóng hộp, hay gói loại giấy có thể giữ mùi thơm. Trong tiến trình ủ trà lên men tạo phản ứng hóa học khử được độc tố không mất lượng Coffein trong lá, giữ được mùi hương nhưng trà có màu đen

Trà Ô Long (Oolong) được sao chế dung hòa giữa trà đen và trà xanh lá ủ lên men màu đen, nhưng nước trà màu hơi ngà ngà

Các nước Âu Châu không thể trồng các giống trà từ Á Châu, nhưng họ nghiên cứu, phát triển chế biến từ: hoa quả, lá thảo mộc có dược tính sao chế thành trà uống để trị bệnh. Tại Việt Nam cũng biến chế các loại trà: khổ qua, trà sâm, hà thủ ô...

Trà có mùi vị thơm ngon, do bí quyết của người biến chế, có thêm các mùi hương như các loại trà ướp : hoa lài, sen, cam, bưởi, quế v.v..

Hái trà vào buổi sáng, không khí ban mai tinh khiết cái hương của sương còn đọng trên cành lá, thì hương vị của trà thêm ngào ngạt bởi vì khí âm và khí dương hòa nhau thành sương là tinh anh của trời đất . Hái trà qua từng mùa, theo khí hậu thay đổi có mùi vị phẩm chất khác nhau.

Mùa xuân (first flush) loại trà 1. Mùa hạ (second flush) loại trà thứ 2. Trà có phẩm chất cao thường thu hoạch vào mùa thu (autumnals first and second flush).

Tuy nhiên tùy theo phong thổ, vùng nhiệt đới ở Himalaya hay các vùng đồi núi ở Trung Hoa độ cao có sương mù, không khí ẩm, trời mưa nhưng đất khô ráo không làm ướt gốc trà là yếu tố đặc biệt để trồng các giống trà.

Sự tích được nhắc đến tại Trung Hoa vùng núi cao, người ta nuôi đàn khỉ được huấn luyện mỗi sáng sớm, đàn khỉ trèo lên các cây trà trên núi cao, còn sương mai hái ngọn trà non, đem về cho chủ biến chế thành trà thơn ngon và đắc tiền bán tại các tiệm trà có tên “trà khỉ/ monkey tea”. Thời xưa người ta chọn các trinh nữ, trong những ngày sạch sẽ hái trà.. nên gọi các trà ấy là “trà Hoa nữ” (tồn ghi).

Nghệ thuật uống trà

Trên khắp năm châu bốn bể trà được uống hàng ngày, sáng trưa chiều tối lúc nào cũng có thể uống được. Người Anh có câu tục ngữ “any time is tea time” . Năm 1840 nữ công tước Bedford tổ chức uống trà buổi chiều “Afternoon tea”, lúc16 giờ uống trà của Ceylon hay Lap-Souchong ngày nay còn lại phong tục đó. Người Anh và các quốc gia thuộc địa của Anh quốc thường có thói quen uống trà với sửa hay đường. Ông Cecil Rhodes viết tại cung điện Semore Place. Buổi sáng người phục vụ thường hỏi “Ông muốn uống trà Tàu, Ấn Độ hay Ceylon”. Nếu trả lời dùng trà Ấn thì có câu hỏi kế tiếp “với chanh, sữa hay bơ”, ở Anh Quốc cũng thường nói “you enjoy tea and take it easy”.

Người Nhật đã uống trà như một truyền thống thưởng ngoạn, một nghệ thuật cao quý gọi là “trà đạo”. Uống trà với chén, bình trà bằng sứ, gáo múc nước phải bằng tre (Chashaku) phong cảnh uống trà phải thiên nhiên trầm mặc.

Trà xanh “O-cha” loại Bancha cần nước nóng đun sôi khoảng 80 độ C, trà Secha/Gyohuro dùng nước sôi khoảng 60 độ. Ngoài ra còn biến chế các loại trà xanh thành trà bột (Matcha) và các loại trà uống để chữa bệnh

Hiện nay tại Kyoto có nhiều vườn trà vang bóng của thời đại Momayama(1568-1600) và các nơi trà đạo hấp dẫn, nhưng khó chịu khi quỳ gối (seiza) ngồi trên hai bắp chân! Trà được nhập cảng vào Nhật biến chế trà đen “Kô-cha”. Tùy theo mỗi nhà sản xuất, chất lượng khác nhau nên giá tiền chênh lệch.

Du khách đến Tích Lan, thường mỗi sáng theo phong tục, nữ phục vụ xuất thân người từ miền Nam đảo Tích Lan, mặc y phục trắng mang trà đến mời “your morning tea Sahib!”.

Người Nga không những uống rượu Wodka, họ cũng biết thưởng lãm nghệ thuật uống trà. Năm 1638 hoàng gia Mông Cổ tặng Nga 200 gói trà thơm ngon, Họ dùng nồi nấu trà (Samowar) đốt bằng than (hay điện ngày nay). Phần thân bình chứa nước, trên nắp để bình trà nhỏ, bỏ trà chế nước sôi, độ sôi của nồi nước bốc hơi làm nóng bình trà. Khi uống pha trà ở bình trên với một phần nước sôi. Loại bình Samowar người Thổ Nhĩ Kỳ cũng dùng để nấu trà đen.

Các loại bình trà bằng sứ được làm qua nhiều thời kỳ khác nhau. Hơn 2000 năm trước Thiên Chúa, tại Trung Hoa có loại sứ Yih-Sing làm bằng đất sét vàng. Mãi cho đến triều đại nhà Tống/Song (960-1279) nghệ thuật thủ công nghệ làm những bình sứ màu trắng, chén, dĩa trà tinh xảo hơn.

Các nước Nhật và Đại Hàn, cũng làm các loại chén bình bằng sứ trong thời gian trên với người Trung Hoa (các loại bình, chén, dĩa sứ nầy còn lại trong các bảo tàng viện).

Tại Đức năm (1730-1750) các vùng Bayreuth và Ansbach có các lò biến chế chén, tách trà bằng thủy tinh, bạc hoặc sứ. (Munich có lò đồ sứ nhưng chỉ làm ly uống Beer lớn có tay cầm)

Trà với thi nhân mặc khách.

Ông De Quincey bảo “trà luôn luôn là ẩm phẩm của hạng trí thức” Người Trung Hoa quan niệm “trà là bạn của ẩn sĩ thanh cao” . Người Việt Nam cũng có nghệ thuật uống trà như người Trung Hoa. Giới trưởng giả dùng bộ trà trên khay hình chữ nhật hay hình vuông có chân quì, khắc khảm ốc xa cừ . Chén Quân, chén Tống, bình pha trà cổ các loại độc ẩm, song ẩm và ẩm quần, của các nhà sản xuất: Thế Đức, Lưu Bội, Mạnh Thần.

Pha trà phải chọn nước, để trà tăng thêm hương vị, nước suối thì tuyệt vời, nước giếng lấy từ mạch nước thiên nhiên, bếp lửa phải bằng than nhẹ lửa, nước sôi sủi mắt cua, (khoảng 80 độ). tráng bình trà qua một lần nước nóng, đổ ra trước khi bỏ trà vào châm nước, (người Trung Hoa đổ ngay lần nước đầu tiên gọi là rửa trà. Muốn có độ thơm lâu dài, người biến chế trà thường ướp thêm một số lượng nhỏ lưu huỳnh ?). Nước máy có nhiều vôi cần phải lọc qua, nấu trà bớt mất mùi vị thơm ngon. Cách pha trà của người Việt và người Trung Hoa, không biến thành qui tắc nghiêm túc như ở Nhật.

Uống rượu cần nhiều người cho náo nhiệt. Uống trà là nghệ thuật trong trầm lặng, trà có tính cách đưa người uống vào thế giới mặc tưởng, bởi thế nên uống trà lúc tinh thần sảng khoái, cảnh vật yên tĩnh, cần người văn nhã biết cái thú uống trà, bỏ mọi bận rộn đời sống bon chen, uống từng chén nhỏ, gọi là “ẩm sĩ”. Nếu một vài người uống chén to, uống một hơi làm sao biết hương vị của trà nên bị gọi là “ngưu sĩ” . Uống trà cũng như pha trà đều cần một nghệ thuật cao. Người Tây phương họ sành điệu về rượu, beer, cafe.

Thời vua chúa mỗi buổi sáng các cung nữ thường lấy nước sương còn đọng lại trên lá sen về cung pha trà. Hoặc bơi xuồng trên các hồ sen (ở Huế nhiều hồ sen) lấy trà bỏ vào các búp sen sắp nở, một lượng trà hảo hạng, trà hấp thụ mùi thơm của sen dưới sương đêm. Sáng hôm sau trở lại vạch cánh hoa lấy trà bỏ vào hủ đậy kín không mất mùi hương, và đó là loại trà sen tuyệt hảo nhất.

Tô Đông Pha ví trà với mỹ nhân, nhưng Điền Nghệ Hằng lại quan niệm “uống trà để quên cái huyên náo phồn hoa, trà không phải để cho hạng ăn cao lương bận lượt là thưởng thức”.

Lê Quý Đôn (1726-1784) quan niệm về nghệ thuật uống trà “ Một chén lòng sạch bong, hai chén lòng phơi phới, đến chén thứ bảy thì dưới hai cánh tay như có cánh thổi lên làn gió mơ màng..”

Bán dạ tam bôi tửu
Bình minh sở trảm trà
Mỗi nhật cứ như thế
Lương y bất đáo gia

dịch là

Nửa đêm uống ba chén rượu
Sáng sớm uống vài chén trà
Ngày nào cũng như thế
Thầy thuốc không bao giờ tới nhà

Các cụ với kinh nghiệm sống, dùng trà để trị bị bệnh, và ngày nay khoa học đã chứng minh rõ ràng.

Trung tâm nghiên cứu về bệnh ung thư “DeutscheKrebsforshungszentrum in Heilberg cũng như Đại Học Kansas “University of Kansas city” phân tích trà xanh có các chất “Epigallocatechin -3- Gallat viết tắt là EGCG chứa nhiều Vitamin E và C, ngăn được sự viêm cứng mạch máu, giảm lượng mở trong máu vv..

Trà uống để tiêu khiển, hưởng nhàn thường nhật, và dùng trong việc ngoại giao, tế lễ, cúng tổ tiên, cúng Phật. Tập tục uống trà đã ăn sâu vào sinh hoạt, các văn nhân mặc khách thời xưa đã ca tụng thú uống trà. Viên Chiếu thiền sư đời Lý Nhân Tông


Tặng quân thiên lý viễn
Tiên bả nhất bình trà

dịch

Tiễn chân ai bước đường xa
Miệng cười đưa một bình trà tặng nhau


Các làng quê miền Trung người ta cũng trồng trà, hái trà non hai lá, và nụ trà để biến chế dành cho ngày tết. Các khu vườn ngoài diện tích sử dụng sinh hoạt, còn lại trồng cau, trái cây cam quít, và những cây trà cao ngang tầm người. Người miền Trung thường gọi cây trà là cây chè, lá dày lớn màu xanh đậm và láng, trổ bông màu trắng 5 cánh, đường kính khoảng 10 cm, nhụy vàng thơm nhẹ.

Dọc theo các đường làng, thị trấn miền Trung, thường có quán bán nước chè xanh, trong căn lều tranh nhỏ, cái nồi đất nấu trà tươi bốc mùi thơm ngon, trưa hè hay chiều thu, ghé quán uống bát chè xanh múc bằng chiếc gáo dừa, trà xanh sóng sánh như nắng vàng với thoáng hương thơm. Nâng chiếc bát bằng sứ uống từng hớp nhỏ, trà sẽ làm dịu cơn khát và có cảm giác thú vị ngọt ngào. Trà là hình ảnh quen thuộc như cây đa đầu làng, con đò bến sông, trà không thể thiếu trong sinh hoạt, dù đời sống văn minh có những quán giải khát bán cola, nước ngọt với nước đá. Nhưng không thể quên được quán chè xanh bên đường. Trà trở thành nếp sống văn hóa, đã đi vào lòng dân tộc. Các cụ ngoài Bắc uống trà và ngâm mấy câu thơ :

Làm trai biết đánh tổ tôm
Uống trà liên tử ngâm nôm Thúy Kiều


Bài thơ gọi trà của nhà cách mạng Phan Bội Châu (1867-1940) chủ tịch danh dự của Việt Nam Quốc Dân Đảng, buồn cho vận nước, để thức tỉnh hồn thiêng sông núi, trong thời kỳ chống thực dân Pháp dày xéo quê hương :

Trà ơi! Còn nước là vinh hạnh
Cháy lưỡi khô môi thảm những ai!

Đại văn hào Nguyễn Du (1765-1820) thưởng thức trà với tâm sự:


Khi hương sớm lúc trà trưa
Bàn lan điểm nước đường tơ họa đàn

Thi nhân uống trà để cảm thương cho số phận người kỷ nữ:

Khách trọng lợi, kinh đường ly cách
Mải buôn trà sớm tếch ngàn khơi
Thuyền không đậu bến mặc ai
Quanh thuyền trăng dãi, nước trôi lạnh lùng

Phan Huy Thực

Dừng chân bên quán nước, người lính trẻ Quang Dũng uống bát trà xanh nóng làm vơi cơn khát, dịu bớt nhọc nhằn. Tiếp tục hành trang lên đường, nhưng lại vướng đọng bóng giai nhân


Tiền nước trả em rồi nắng gắt
Đường xa choáng váng núi và mây
Hồn lính vấn vương vài sợi tóc
Tôi thương mà em đâu có hay

Quang Dũng

Trà đã đưa nhà thơ Tùy Anh trong những ngày viễn xứ, trở về với nếp sống Cố đô Huế bên bóng dáng mẹ hiền, bát nước chè xanh đầy hương vị quê hương, với tình mẫu tử thiêng liêng cao như trời, rộng như biển, không thể phai mờ trong khung trời kỷ niệm!

Bát nước chè xanh
Mẹ dành cho mỗi sáng
Con thường uống cạn
Trước khi đến trường.

***

Con đã xa khung trời kỷ niệm
mỗi lần nhớ bát nước chè xanh
nhớ về mẹ có đôi mắt trìu mến
vẫn còn in trong bát nước long lanh...

Tùy Anh

Nguyên Sa nói về định mệnh, những oan nghiệt cuộc đời tục lụy. Chiều chiều bên bình trà nhỏ, uống để nhớ lại cố hương! nhưng thời gian đi mãi có đợi ai bao giờ!

Chất xám trong não bộ lên men
Trán nhăn dăm bảy, nếp kinh thiên
Thượng đế trên cao, chiều độc ẩm
Mạt lộ, ta ngồi chỗ hạ phiên

Nguyễn Khuyến (1835-1909) cuộc đời nhàn hạ vui với gió trăng:

Khi vườn sau khi sân trước
Khi điếu thuốc, khi miếng trầu
Khi trà chuyên năm ba chén
Khi Kiều lẩy một đôi câu

Nguyễn Khuyến

Xuân về trong ba ngày tết, nâng tách trà nhớ lại xuân xưa, bên quê nhà với muôn vàn kỷ niệm, chắp cánh dư âm từ tiềm thức trở về chốn cũ xa khơi, dĩ vãng mãi mãi còn ngân vang trong lòng người viễn xứ, uống trà đàm đạo để sống lại với hồn quê hương sông núi.

Nguyễn Quý Đại

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Món quà cho ngày Tình Yêu:
Nụ Hôn trên 5,000 năm cuối cùng đã được giữ nguyên

Feb 12, 2007
Photo courtesy: AP

Cali Today News - Món quà Valentine’s Day cho nước Ý năm nay là giới khoa học Ý quyết định cho lấy ra và giữ nguyên xác của hai người đang ôm hôn nhau cách đây từ 5,000 đến 6,000 năm. Lúc khai quật, hai tay của họ vẫn ôm nhau tha thiết trong nụ hôn vĩnh cữu.

Thay vì làm như cách cũ là gỡ ra từng cái xương rồi ráp lại, các nhà khảo cổ học có kế hoạch xúc cả khúc đất nơi cặp tình nhân được chôn cất.

Sau đó khúc đất to lớn được mang về nghiên cứu, rồi được mang ra trưng bày cho công chúng xem trong một nhà Bảo Tàng. Nụ hôn… dài nhất của nhân loại như thế vẫn còn lưu truyền hậu thế.

Nhà khảo cổ học Elena Menotti, vốn tuyên bố vụ này cách đây 1 tuần, nói với Reuters: “Chúng tôi muốn lưu giữ họ lại như lúc đầu họ đã là như thế, đó là mãi mãi bên nhau.”

Vụ này khiến nhiều nhà khảo cổ thở dài nhẹ nhõm vì họ cứ phải thuê lực lượng an ninh để giữ gìn cho địa điểm khai quật, vốn nằm về phia bắc thành phố Mantova của Ý.

Quan trọng hơn là việc lưu giữ cặp nhân tình này để giới khảo cổ tìm hiểu bí mật lớn nhất, đó là tại sao một cặp nhâ tình thời Neolithic lại được chôn chung và trong tư thế hôn nhau như thế.

Các nhà khoa học đã xác định giới tính của họ: Đó là một người đàn ông và một phụ nữ. Một chi tiết: cặp Romeo và Juliet mà Shakespeare đã bất tử hóa qua một vở kịch được chôn ở gần Verona, cách đó không xa!

Lê Lộc theo Reuters

Post Reply