Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image
Happy Valentines !!!


Trắc Nghiệm Tình Yêu Kiểu Italy
Người Italy có cách trắc nghịêm riêng để phán đoán về kiểu tình yêu của mỗi người. Trước hết, bạn hãy tìm "nhóm tuổi" của mình tuỳ theo ngày mà bạn sinh (không kể tháng). Hãy cho tôi biết bạn sinh ngày mấy


☆ ☆ Nếu bạn sinh vào ngày

♥ 01, 06, 11, 16, 21, 26, 31, bạn thuộc nhóm A1
♥ 02, 07, 12, 17, 22, 27, bạn thuộc nhóm B2
♥ 03, 08, 13, 18, 23, 28, bạn thuộc nhóm C3.
♥ 04, 09, 14, 19, 24, 29, bạn thuộc nhóm D4.
♥ 05, 10, 15, 20, 25, 30, bạn thuộc nhóm E5
.

☆ ☆ Giải đáp:

☼ NHÓM A1: Bạn là người lãng mạn và cũng thích đối xử lãng mạn, vì bạn coi tình yêu là điều đẹp nhất trên đời. Bạn cảm thấy tình yêu thật dễ chịu, nhưng cũng chính vì coi tình yêu quan trọng như vậy nên bạn hơi đa nghi và hơi ghen. Bạn luôn sợ người yêu không chân thành, dù anh ấy/cô ấy không mảy may có bằng chứng nào để bị buộc tội như vậy.
Bạn thích đi chơi với nhiều bạn bè và luôn được coi là người bạn có trách nhiệm. Tuy nhiên, điểm yếu lớn nhất của bạn xuất phát từ bản chất tò mò và hiếu kỳ (rất tốt cho công việc nhưng không tốt lắm cho tình yêu) là thiếu kiên nhẫn. Bạn thường muốn "đánh nhanh thắng nhanh" và đôi khi nó là trở ngại vật lớn nhất trong tính cách của bạn.
Khi bạn yêu một người, người đó có thể chế ngự không chỉ trái tim mà còn cả tâm trí bạn nên bạn rất dễ bị ảnh hưởng đến các mối quan hệ xã hội khác. Cẩn thận và bình tĩnh bạn yêu quý nhé .

☼ NHÓM B2: Bạn là mẫu người của sự nghiệp và những giấc mơ nhiều hơn là mẫu người của tình yêu, thật đấy. Bạn rất nhiều hoài bão và chúng quan trọng đến mức bạn làm bất kỳ điều gì. Tuy nhiên, không phải vì thế mà bạn coi nhẹ tình yêu. Đối với bạn, tình yêu rất quý giá, nhưng bạn hơi khó tìm được một người mà bạn coi là "hoàn hảo". Đó là vì với những mối quan hệ và công việc rộng rãi, bạn ít khi hoàn toàn tin tưởng một người, và đây có thể coi là một nhược điểm nhỏ của bạn. Kể cả bạn bè cũng vậy, bạn bè rất quan trọng với bạn, nhưng bạn không kể "tất tần tật" chuyện gì cho mọi người nghe bao giờ.
Điểm mà mọi người khâm phục nhất ở bạn là bạn suy nghĩ tốt, nhìn được cả ưu điểm và khuyết điểm của vấn đề. Quan tâm chính của bạn về tình yêu là hai người thật sự quan tâm nhau, thế là đủ, đúng không?

☼ NHÓM C3: Những người có ngày sinh thuộc nhóm C3 rất giỏi trong việc đưa ra những quyết định "nóng", tức là rất quyết đoán, nhanh nhạy và ít khi để tình cảm chi phối những quyết định của mình. Chính vì vậy, số bạn bè công việc của bạn rất nhiều, và số khâm phục và cần ý kiến của bạn cũng không ít.
Bạn coi cuộc sống là món quà giá trị và mỗi người nên biết tận hưởng màu sắc của nó. Về tình yêu, bạn yêu quý khá nhiều người, vì bạn cho rằng tình cảm là không có giới hạn. Thậm chí, bạn còn chia sẻ cuộc sống và thời gian của mình với họ. Tuy nhiên, với người mà bạn yêu thì bạn rất chân thành. Bạn có khả năng điều khiển cảm xúc có thể gọi là hoàn hảo, tuy nhiên đôi khi những quyết định lý trí của bạn lại ảnh hưởng đến những người mà bạn yêu thương, vì không phải ai cũng lý trí được như bạn đâu. Sự cứng rắn là điểm mạnh trong sự nghiệp nhưng lại là điểm yếu trong sự lãng mạn của bạn đó.
Một người đầu óc nhanh nhạy như bạn, hẳn khi đọc đến đây là trong đầu của bạn xuất hiện ngay hình ảnh của “ người đặc biệt nhất” rồi, phải không ?

☼ NHÓM D4: Bạn là mẫu người thích sống tự lập và bận rộn. Không lúc nào mà bạn không có một danh sách những việc cần làm và danh sách những mục tiêu phải đạt, dù danh sách đó được viết trên trang giấy hay chỉ nắm an toàn trong bộ não điện tử của bạn. Tư duy tốt và tính khoa học cao, bạn đã có một bản “phác hoạ” mẫu người lý tưởng và bạn luôn tìm các cá tính đó. Bạn là mẫu người thích tới sự hoàn thiện nhất trong số 5 nhóm này.
Bạn bè rất có ý nghĩa với bạn và bạn có cực kỳ nhiều bạn thân vì bạn có thể làm bất kỳ điều gì vì tình bạn. Trong tình yêu, bạn thường được coi là đa cảm và dễ xúc động vì đôi khi bạn khó kiểm soát cảm xúc cũng như sự kiên nhẫn của mình, và phản ứng quá mức. Bạn có thể khóc ấm ức chỉ vì người yêu bạn đến trễ 5 phút và bạn có thể đập vỡ cái cốc khi nghe nói kể rằng bạn trai (bạn gái) của bạn đi mua sắm… cùng bạn gái (bạn trai) (để rồi sau đó biết rằng đó là anh em trai /chị em gái của người ấy).

☼ NHÓM E5: Nhóm E5 được người Italy coi là “những người của tình yêu”. Nếu bạn thuộc nhóm này, dường như bạn thích những quyết định mang tính tình cảm hơn là lý trí. Cũng may là tình cảm của bạn khá nhạy bén nên khi cảm xúc xen vào, bạn vẫn “linh tính” được để mà quyết định đúng.
Bạn coi cuộc sống là tận hưởng từng ngày, và người Italy coi bạn là mẫu người Italy "điển hình" - rất lãng mạn, vui tươi , hoà đồng. Bạn có nhiều bạn bè và vẫn luôn cố gắng kéo dài cái danh sách đó trong sổ điện thoại, máy di động, hay trong sổ email… Bạn mơ mộng và cũng có nhiiều ước vọng, tuy nhiên, điều có thể coi là nhược điểm của bạn với bản chất “đừng nghiêm trọng hoá vấn đề”, bạn hơi thiếu kiên định nên nhiều khi không thực hiện được những việc quan trọng đến nơi, đến chốn.

Siu Tầm

User avatar
tieuvuvi
Posts: 2912
Joined: Sun Nov 26, 2006 1:29 pm
Been thanked: 3 times
Contact:

Post by tieuvuvi »

Lễ Tình Yêu “Valentine” và ngôn ngữ của hoa

Lê hoàng Thanh



Image

Tương tự như người Việt tị nạn cộng sản lâu nay lấy ngày 30.4.75 làm ngày quốc hận để nhắc nhở nhau đừng quên ngày VNCH bị CSVN cưỡng chiếm, hay như ở Mỹ có ngày “Lễ Tạ Ơn” thì người La Mã từ mấy thế kỷ nay đã chọn ngày 14.2 làm ngày “Lễ Tình Yêu” và từ đó người ta cổ xúy, duy trì ngày Lễ Valentin cho đến ngày nay.



Có vài giả thuyết đã được đưa ra để giải thích nguyên nhân tại sao có ngày lễ Valentine. Có giả thuyết cho rằng ngày Lễ Valentin là ngày kỷ niệm và tưởng nhớ đến bà hoàng Juno là người đã bảo vệ cho hôn nhân và gia đình. Họ đã tặng cho “người đàn bà” những bó hoa, được xem như là biểu tượng cho sự biết ơn của người đàn ông. Một giả thuyết khác thì bảo rằng ngày lễ Valentin là ngày kỷ niệm Thánh Valentin vì cũng vào ngày 14.2, hai thế kỷ sau Thiên Chúa là ngày mà Đức Hồng Y (ĐHY) Valentin của Terni, một thành phố thuộc miền trung nước Ý, xưa gọi là Interamna bị vua La Mã thời đó là Claudius Goticus xử tử hình lí do Hồng Y Valentin vẫn một lòng giữ vững niềm tin đối với Thiên Chúa Giáo. Và sau đó vì có truyền thuyết cho rằng ĐHY Valentin đã từng tặng hoa cho những đôi nhân tình khi Ngài còn sống nên để nhớ ơn, dân chúng đã chọn ngày 14.2 làm ngày Lễ Tình Yêu để tưởng niệm đến ĐHY Valentin!



Chúng ta tạm thời không bàn đến nguyên nhân tại sao có ngày Lễ Valentin và hãy chấp nhận ngày 14 tháng 2 là ngày Lễ Valentine, được gọi là Lễ Tình Yêu và Hoa, vì ngày 14.2 đã trở thành thông lệ từ hàng trăm năm qua cho người phái nam và họ không thể quên được “tục lệ” là đến ngày lễ này đi mua hoa tặng vợ, tặng người yêu hay bạn gái.



Một điều mà tôi nói riêng ghi nhận được kể từ lúc bắt đầu sống kiếp sống lưu vong đến nay là sau Tết Dương Lịch, kể từ trung tuần tháng giêng trở đi thì người ngoại quốc từ Âu Châu đến Mỹ và Úc Châu nói chung quảng cáo rất rầm rộ ngày lễ Valentine, Lễ Tình Yêu. Theo giòng thời gian, những người đàn ông không phải chỉ mua hoa thôi mà họ còn mua nhiều tặng vật khác làm quà tặng cho “vợ, cho người yêu lí tưởng” hay bạn gái của mình. Qua hệ thống Internet hiện đang thông dụng thiên hạ quảng cáo rùm beng nhiều loại quà khác nhau, tương xứng tùy theo túi tiền của mỗi người, nhưng quan trọng hơn hết vẫn đề cập đến những bông hoa, những bó hoa đủ loại. Tôi tò mò tìm hiểu và hôm nay xin được phép giới thiệu với quí đồng hương vài nét đặc biệt về “ngôn ngữ của hoa” liên quan đến ngày lễ này, để nếu ai đã “sang ngang”, đang yêu hay có bạn gái muốn mua hoa tặng có thể tùy theo đó mà chọn loại hoa thích hợp.



Nếu bạn mua loại hoa (sau đây) thì hoa này biểu hiệu cho một (sự) ….

Hay có nghĩa ..



- Acacia Tình yêu thanh khiết

- Alpine rose Khi nào chúng ta gặp lại

- Anemonne Vui mừng hay Tin tưởng

- Aster Không tin vào sự trung thành
(của người yêu)
- Belladonna Em đẹp nhưng không kém nguy hiểm

- Nettle (Anh đã nhìn thấy) em hay ghen tuông

- Chrysanthemum Tim anh còn trống vắng

- Dahlia Tôi đã có người yêu
- Edelweiss Em quá đẹp

- Erica Tôi thích sự cô đơn

- Feathered pink Em rất nhẹ dạ

- Lilac Em cũng trung thành

- Geranium Anh chờ em ở chỗ hẹn cũ

- Bell flower Tim chúng ta cùng một nhịp đập

- Wallflower Anh sầu nhớ đến em

- Immortelle Tình yêu vĩnh cửu

- Jasmin Em đẹp quyến rũ, mê hồn

- Comflower Anh (tôi) chưa mất hy vọng

- Crocus Tôi cần thời giờ để suy nghĩ

- Lime-tree blossom Hãy mơ đẹp và nghĩ đến anh (tôi)

- Lily Tin tưởng, trong sạch

- Mayflower Ngây thơ, vô tội

- Mallow Em lạnh nhạt

- Marguerite Hãy để anh (tôi) yên

- Myrtle Chúng ta sẽ làm đám cưới nay mai

- Black nightshade Em ghen vô lí

- Daffodil / narcissus Em làm điệu

- Orchid Em còn ham chơi đối với anh

- Parsley Anh thích tính ở nhà (hay nội trơ)

- Red rose Anh yêu em hơn tất cả

- Yellow rose Không trung thành

- Rhododentron Khi nào chúng mình gặp lại?

- Rosemary Từ biệt em, anh bỏ cuộc

- Yarrow Anh kiên nhẫn

- Cattail Em phải quyết định

- Iris Anh sẽ tranh đấu vì … em

- Sunflower Em quá đòi hỏi, đối với anh

- Tulip Em không có 1 sự cảm xúc chân thật

- Blue viola Kiên trì chịu đựng

- Forget-me-not Hãy nghĩ đến anh (tôi)

- Morning glory Em sẽ thuộc về anh

- Feverfew Hãy để tôi yên

- Cypress Anh đau khổ chết đi thôi!



Khi vướng vào đường tình, người ta thường hay mơ mộng, nghi ngờ…. Biết bao nhiêu văn nghệ sĩ đã viết văn, ra nhạc hay làm thơ để vinh danh tình yêu cũng có và chua chát vì tình cũng chẳng thiếu. Riêng thi sĩ Xuân Diệu đã thố lộ:



Yêu là chết trong lòng một ít,

Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu?

Cho rất nhiều nhưng nhận chẳng bao nhiêu

Người ta phụ hay thờ ơ giả dối!



Vâng, khó mà phân biệt đâu thật đâu giả. Dầu vậy, thiên hạ vẫn ngập lặn trong tình yêu, không ngừng nghỉ. Hãy nhìn sang Holywood thì thấy ngay, nghệ sĩ yêu nhau vội vã và chia tay nhau cũng rất nhanh, nhưng sau đó họ lại lao đầu vào những cuộc tình khác. Cứ thế mà tiếp nối…. Một trong những món quà thường được mua tặng cho người yêu vẫn là những bông hoa hay bó hoa.



Quí vị nào chưa quyết định mua gì để tặng trong dịp Lễ Tình Yêu, tôi nghĩ có thể mua bó hoa toàn Red Rose, vừa sang trọng vừa ngấm ngầm bày tỏ “anh yêu em hơn tất cả”. Ai còn độc thân, tim còn trống vắng và muốn kín đáo hẹn hò với người yêu hay bạn gái thì có thể chọn mua bó hoa gồm Chrysanthemum và Rhododentron. Người nào biết bạn gái mình có nhiều người theo đuổi nhưng không sờn lòng có thể tặng bó hoa Iris kèm theo Blue Viola và vài cành Cattail kín đáo muốn nói anh kiên trì chịu đựng, sẽ tranh đấu vì em. nhưng em phải có một quyết định hoặc để nhắc nhở đối tượng đừng quên mình thì hãy mua tặng một bó hoa Forget-me-not ! …



Người viết không phải là người có thú “trồng hoa”, “biết hoa” sành điệu hay “thông thạo về hoa” nhưng muốn góp phần nhỏ vào ngày Lễ Tình Yêu nên sưu tầm, mạo muội phóng dịch “ngôn ngữ loài hoa” để giới thiệu đến bạn đọc bốn phương như là một gợi ý để quí vị tùy theo đó mà chọn loại hoa thích hợp để “riêng tặng ai đó” mà bạn muốn tặng, thay cho lời tỏ tình (nếu bạn rụt rè), cho tâm trạng hay ý nghĩ thầm kín của bạn. Vì thế chắc chắn không làm sao tránh khỏi thiếu sót nên kính mong các bậc thức giả và quí vị am hiểu về hoa rộng lòng thông cảm và chỉ giáo cho. Trân trọng cám ơn.



Lê hoàng Thanh
(Nhân dịp Lễ Valentine 2006)
Image

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

"Con Heo" Trong Ca Dao Việt
Trong khuôn khổ bài này người viết chỉ muốn giới thiệu đến quí độc giả một vài nét đặc thù của dân tộc Việt Nam chúng ta, đó là Ca Dao, đặc biệt những câu ca dao liên quan đến con giáp "Hợi" hay "Heo" nhân dịp Xuân Đinh Hợi.

Nhưng Ca Dao là gì? Theo định nghĩa trong Tập "Tục Ngữ, Thành Ngữ Ca Dao và Dân Ca Việt Nam" của cụ Trần Ngọc Ngải, Chicago, Illinois, USA 1997 thì Ca Dao là những câu hát ngắn ghép thành khúc điệu được phổ thông trong dân gian. Có thể nói Ca dao là văn chương dân gian, rất bình dân và trải qua nhiều thế hệ lịch sử, đã được sinh ra trong những giai đoạn xã hội từ ngàn xưa và lưu truyền cho đến ngày nay. Rất ít người biết rõ được ai là tác giả của ca dao, tuy nhiên ca dao ít nhiều cũng đã là vũ khí chống lại những xâm nhập văn hóa trải qua sự đô hộ của nhiều thời đại. Vì vậy cũng có thể nói rằng Ca Dao Việt Nam đã góp phần không ít trên phương diện bảo tồn nền văn hóa dân tộc Việt. Những câu ca dao tục ngữ, các lời hò, hát dặm hay những bài vè thường đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau như xã hội, gia đình, tín ngưỡng, tình yêu, thiên nhiên v.v... Do đó, ca dao Việt Nam là một kho tàng vô giá, là nền văn hóa căn bản của dân tộc, làm giàu thêm tiếng Việt, vì thế chúng ta nên cố gắng và trang trọng gìn giữ nó. Cho nên khi nói đến ca dao là chúng ta muốn nói đến niềm tự hào của dân tộc Việt Nam mình.

Như đã nói ở trên, ca dao tục ngữ thường đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau trong cuộc sống, đặc biệt là xã hội, gia đình và tình yêu. Và xã hội nào cũng vậy, có kẻ giàu người nghèo. Đáng buồn là dân nghèo thì chiếm đa số. Để diễn tả sự chênh lệch của hai giai cấp này, trong đó người ta lấy con "Heo" hay "Lợn" làm biểu tượng cho sự giàu có sung túc qua các lễ hội, đám đình vì thế dân gian Việt đã đặt ra bài ca dao sau đây:

"Anh là con trai nhà nghèo
Nàng mà thách thế anh liều anh lo
Cưới em anh nghĩ cũng lo
Con lợn chẳng có, con bò thì không
Tiền gạo chẳng có một đồng
Thiên hạ hàng xứ cũng không đỡ đần
Sớm mai sang hiệu cầm khăn
Cầm được đồng bạc để dành cưới em..."


Cũng có những câu ca dao khen tặng sự khéo léo, chăn nuôi quanh năm hay làm ăn thành công của những gia đình nông dân:

"Chăn nuôi vừa khéo vừa khôn
Quanh năm gà lợn xuất chuồng quanh năm."

Hay: "Giàu lợn nái, lãi gà con"


Nuôi lợn để đem bán là một sinh kế của giới nông dân Việt. Lắm khi chẳng được gì nên từ đó cũng nẩy sinh ra những câu ca dao đùa cợt cảnh mấy bà gánh heo đi rồi lại gánh về:

"Ba bà đi bán lợn con
Bán đi chẳng được lon ton chạy về
Ba bà đi bán lợn sề
Bán đi chẳng được chạy về lon ton"


Người đàn bà Á Châu bản tánh vốn đảm đương. Đàn bà Việt Nam xưa nay giỏi trên nhiều phương diện, nhất là lo cho gia đình chồng con. Để diễn tả sự khó nhọc, bổn phận làm vợ và khả năng đa diện của người đàn bà Việt, ca dao có câu:

"Đang khi lửa tắt cơm sôi
Lợn đói, con khóc, chồng đòi tòm tem
Bây giờ lửa đã cháy rồi
Lợn no, con nín, tòm tem thì tòm"


Hoặc để ám chỉ sự giàu có của ai đó:

"Cồng cộc bắt cá dưới bàu
Cha mẹ mày giàu, đám giỗ đầu heo"


Cảnh mẹ chồng khắc nghiệt với nàng dâu thời phong kiến và cho đến bây giờ đã làm cho nhiều cuộc tình tan vỡ hay vợ chồng lục đục. Dân Việt chúng ta đã lồng hình ảnh này vào ca dao, tuy nhẹ nhàng nhưng rất phong phú qua lối diễn đạt:

"Bố chồng là lông con lợn
Mẹ chồng như tượng mới tô,
Nàng dâu mới về là bồ chịu chửi"


Dân quê Việt Nam hầu hết nhà nào cũng nuôi gia súc, trâu, bò, gà, vịt, heo... Heo, người ta cố nuôi cho mập, hy vọng chúng đẻ nhiều heo con đem bán lấy tiền nuôi dưỡng gia đình con cái. Con heo thường ăn xong nằm trong chuồng nên ca dao đã tả hình ảnh chú lợn như sau:

"Con gà cục tác lá chanh
Con lợn ụt ịt (ủn ỉn) mua hành cho tôi
Con chó khóc đứng khóc ngồi
Bà (Mẹ) ơi đi chợ mua tôi đồng riềng"


Ai có gia đình con cái đều biết rõ sự khó khăn khi nuôi dưỡng con cái. Cách dạy con trai hay gái thường khác nhau. Đề cập đến phương diện này, ca dao Việt cũng đã diễn tả cảnh nuôi đứa con trai mà không dạy thì cũng giống như nuôi một con lừa. Còn nuôi đứa con gái mà không dạy, thì cũng giống như nuôi một con lợn:

"Dưỡng nam bất giáo như dưỡng lư
Dưỡng nữ bất giáo như dưỡng trư"


Nói lên sự thiếu thật thà của con buôn, dân gian cũng có câu:

"Treo đầu heo, bán thịt chó."

Lắm khi cha mẹ phải vắng nhà, giao cho con trẻ trông coi. Khi về nhà thì hỡi ơi, nhiều chuyện bất ngờ xảy ra và ca dao Việt đã ví von kể lại chuyện này, nhẹ nhàng nhưng phản ảnh rõ nét sự ngây thơ của trẻ con:

"Để cho con trẻ ăn chơi giữ nhà.
Bao nhiêu củ rím củ hà
Để cho con lợn con gà nó ăn."


Nhằm trách khéo những người mẹ nghèo muốn con gái mình lấy chồng giàu nên (ngày xưa) đã ép duyên con và đưa đến những chuyện không may như sau:

"Mẹ em tham thúng xôi dền
Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng.
Em đã bảo mẹ rằng đừng
Mẹ lườm mẹ nguýt mẹ bưng ngay vào
Bây giờ chồng thấp vợ cao
Như đôi đũa lệch so sao cho bằng."


Cảnh ép duyên đôi khi mang lại một cuộc sống buồn, không mấy hạnh phúc đối với người đàn bà Việt tại thôn quê nói riêng. Nhiều người đã mượn ca dao để than trách số phận hẩm hiu của mình:

"Thân em mười sáu tuổi đầu
Cha mẹ ép gả làm dâu nhà người
Nói ra sợ chị em cười
Năm ba chuyện thảm, chín mười chuyện cay
Tối về đã mấy năm nay
Buồn riêng thì có, vui rày thì không.
Ngày thời vất vả ngoài đồng
Tối về thời lại nằm không một mình.
Có đêm thức suốt năm canh
Rau heo, cháo chó, loanh quanh đủ trò."


Thay vì nói rõ ra mình muốn gì, ca dao Việt thâm thúy hơn mượn hình ảnh con lợn để diễn tả ý nghĩ thầm kín đó, nên có câu:

"Trông mặt mà bắt hình dong
Con lợn có béo thì lòng mới ngon"


Cũng có câu ca dao trách khéo sự thiên vị như:

"Mèo theo thịt mỡ ồn ào
Cọp tha con lợn thì nào thấy chi!"


Tỏ tình là cả một nghệ thuật, thông thường mấy chàng văn hoa bóng bẩy nhưng cũng có người mượn con lợn làm phương tiện hầu đạt được cứu cánh. Hãy nghe anh chàng ngố tìm cách làm quen, bày tỏ:

"Cô kia đi chợ Hà Đông
Để anh kết nghĩa vợ chồng cùng đi
Anh đi chưa biết mua gì
Hay mua con lợn phòng khi cheo làng"


Đặc biệt ca dao cũng là phương tiện để những chàng trai tìm cách tán tỉnh đàn bà, thiếu nữ. Nhiều anh chàng tỏ tình kín đáo, khéo nói:

"Tình cờ bắt gặp nàng đây
Mượn cắt cái áo, mượn may cái quần
May xong anh trả tiền công
Bao giờ lấy chồng anh đỡ vốn cho
Anh giúp một thúng xôi vò
Một con lợn béo một vò rượu tăm...
Anh giúp đôi chiếu em nằm
Đôi chăn em đáp đôi tằm em đeo
Anh giúp quan tám tiền cheo..."

Hoặc than thân trách phận vì không cưới được người yêu giống như cảnh con heo bị chủ bỏ đói để rồi mừng rỡ khi ước mơ thành sự thật:

"Yêu nhau chả lấy được nhau
Con lợn bỏ đói buồng cau bỏ già
Bao giờ sum họp một nhà
Con lợn lại béo cau già lại non."


Không những chỉ nhẫn nại thôi mà người đàn bà Việt hy sinh cho chồng con. Lắm khi vì thương chồng phải gánh chịu nhiều cay đắng cho nên ca dao đã để lại những câu:

"Bởi vì con heo nên phải đèo khúc chuối,
Bởi vì con muỗi nên phải thả màn loan,
Bởi vì chàng nên thiếp phải chịu đòn oan
Phụ mẫu nhà đay nghiến, thế gian chê cười."


Người Việt mình, nhất là nữ giới thường mê tín dị đoan. Tết về hay đi xem bói xin quẻ. Để mỉa mai mấy ông thầy bói dỏm, ca dao Việt không nhân nhượng:

"Bói cho một quẻ trong nhà
Chuồng heo ở dưới, chuồng gà ở trên"

Và để kết thúc bài này, người viết xin nhắc lại vài dữ kiện lịch sử liên quan đến năm Hợi, biểu tượng cho con heo ủn ỉn.

Vào Năm Tân Hợi 1611, Chúa Tiên Nguyễn Hoàng đã lấy phần đất của Chiêm Thành lập ra phủ Phú Yên, rồi chia ra làm hai huyện Đồng Xuân và Tuyên Hòa.

Năm Tân Hợi 1851, nhà Nguyễn mở khoa thi hương ở An Nhơn thuộc tỉnh Bình Định, nên về sau mới có câu:

"An Nhơn có tháp Mò O
Có chùa Thập Tháp có đò Trường Thi"


Riêng năm Đinh Hợi (1645) quân nhà Trịnh Tráng đem đại binh sang đánh Quảng Đông thu hồi đất cũ, mấy vùng quân ta từng làm chủ.

Tết năm 2007 cũng là Tết Đinh Hợi, không biết việc gì xảy ra cho quê hương Việt Nam. Mặc dầu đồng hương chúng ta (đôi khi vì hoàn cảnh) tuy vẫn hằng mang tâm trạng:

"Dù ai buôn bán nơi đâu
Nhớ đến ngày Tết rủ nhau mà về "


nhưng khi họ biết rằng tại quê nhà hiện nay người dân vẫn còn sống dưới ách độc tài kềm kẹp của chế độ CSVN nên có rất nhiều người Việt tị nạn cộng sản tuy luôn trăn trở về hiện tình đất nước nhưng cũng đã dằn lòng, vượt qua tình cảm riêng tư chấp nhận kiếp sống lưu vong, ăn Tết tha hương:

"Dân ta khổ sở trăm bề
Cộng sản còn đó có về được chăng!"


Ca dao hay tục ngữ truyền khẩu về con "Heo" thì còn rất nhiều nhưng người viết chỉ trích một số ít ca dao trên đây, rất tiếc bài viết có giới hạn nên tôi không thể trích dẫn hết để trình bày cùng quí vị, xin thông cảm. Nhưng qua đó cũng đủ gói ghém ý nghĩa sâu sắc của ca dao, có thể nói là căn bản của nền văn hóa của dân tộc Việt Nam.

* Lê Hoàng Thanh
(Xuân Đinh Hợi 2007)

Tài liệu tham khảo: Phỏng theo tài liệu của Hà Phương Hoài

User avatar
tieuvuvi
Posts: 2912
Joined: Sun Nov 26, 2006 1:29 pm
Been thanked: 3 times
Contact:

Post by tieuvuvi »

Giới thiệu phim "Vượt Sóng" - Official Journey from the Fall Trailer

journeyfromthefall


Vượt Sóng
Journey from the Fall Trailer


Đoạn phim chính thức giới thiệu phim "Vượt Sóng" (Journey From The Fall) của đạo diễn Hàm Trần.

http://journeyfromthefall.com/
Image

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Những cảnh đời Sài Gòn cuối năm 2006

[video width=400 height=350][/video]

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

San Jose - Tưng bừng diễn hành đầu năm Đinh Hợi, và Tết Chiến Sĩ làm rung động mọi người và hoài tưởng lại những ngày tháng cũ…

Nguyên Khanh, Feb 19, 2007


Cali Today News - Trong ánh nắng lung linh ngày mùng một Tết đầu năm Đinh Hợi nhằm ngày chủ nhật 18 tháng 2 năm 2007, một tí gió Xuân lay nhẹ những tà áo dài các cô thiếu nữ Việt đủ màu sắc, hàng chục ngàn người từ các nơi đổ về trung tâm thành phố San Jose góc đường Market và Park để xem diễn hành đầu Xuân của cộng đồng Việt Nam tổ chức. Những viên chức chính quyền của San Jose và các thành phố lân cận đều có mặt để chia vui cùng sắc dân Việt Nam trong một ngày hội truyền thống của một cộng đồng với hơn một trăm ngàn người, với một đóng góp đáng kể vào sự phát triển của thung lũng điện tử nổi tiếng này về các mặt kinh tế, văn hóa, chính trị.


Trong cuộc diễn hành năm Đinh Hợi có một tiết mục đặc biệt đó là một số quân nhân Hoa Kỳ gốc Việt đã tham gia chiến trận ở Iraq được mời về tham dự. Những người trai trẻ khoác bộ áo lính trông oai hùng và khi họ nói những câu tiếng Việt đã làm cho mọi người vỗ tay tán thưởng. Cảm giác gợi nhớ về một truyền thống đánh giặc hiên ngang của tổ tiên trở về trong tâm thức mọi người.


Những lá cờ vàng ba sọc đỏ được đồng hương cầm trên tay đứng dọc hai bên đường Market là nét đặc biệt của một bản sắc cộng đồng người Việt tị nạn yêu chuộng tự do dân chủ, và khác hẳn với nhà cầm quyền cộng sản trong nước.


Một lá đại kỳ nền vàng ba sọc đỏ do các sinh viên trường đại học San Jose State giăng rộng đi qua khán đài càng tô đậm nét đặc biệt đó.

Sau diễn hành , bà con ghé thăm những gian hàng ăn uống, triễn lãm và xem ca nhạc. Ngày mùng một Tết, không khí tưng bừng, trời nắng đẹp xua cái lạnh còn vướng vất của mùa đông năm cũ, bà con quần áo tươm tất, hi vọng tràn đầy về một năm mới đang trước mặt. San Jose, California và Hoa Kỳ vẫn là cái nôi sinh họat được đồng hương hải ngọai và trong nước theo dõi. Năm mới Đinh Hợi , ước mơ về một tiến trình dân chủ thênh thang ở quê nhà.

Ca nhạc sĩ Nam Lộc, người MC của Diễn Hành Tết - đã nhận xét là “San Jose ăn Tết lớn quá, hai cuối tuần liên tiếp, và không khí quá tưng bừng.”

Có thể nói rằng năm nay cộng đồng người Việt San Jose ăn Tết lớn, từ Hội Tết của Cộng Đồng, Hội Tết của Fairground, Hội Xuân và Diễn Hành, Tết Chiến Sĩ,… Tuy có ít tiếng pháo giao thừa hơn mọi năm, nhưng có thể nói rằng năm nay là một trong những năm mà cộng đồng người Việt ăn Tết lớn.

Nhạc sĩ Nam Lộc nói thêm: “San Jose bây giờ là một thành phố lớn nhất của người Việt, cho nên nhìn mọi thứ đều thấy quy mô hơn, tính chất mega (lớn) hiện rõ trong mọi sinh hoạt”


Và kết thúc ngày Tết là Tết Chiến Sĩ do nhật báo Cali Today phối hợp với các Hội đoàn quân đội tổ chức tại nhà hàng Kobe. Tết Chiến Sĩ lần đầu tiên được tổ chức, và đã thành công vượt mọi dự tính của mọi người, kể cả của Ban Tổ Chức.

Qúy vị sẽ đọc chi tiết và xem video trong một bản tin khác.

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Cái Váy và Cái Quần của Các Bà


Thuở còn mài đũng quần trên ghế nhà trường, được học bài Hai bà Trưng:

Bà Trưng quê ở Châu Phong
Giận người tham bạo, thù chồng chẳng quên

...

Hồng quần nhẹ bước chinh yên
Đuổi ngay Tô Định dẹp tan biên thành ...

Nghe thầy giảng lúc ra trận hai bà mặc hồng quần, nghĩa là quần đỏ. Cả lớp khoái chí, cười khúc khích. Sau này đọc sách thấy nhiều học giả đồng ý với thầy.

Hồng quần: quần chính nghĩa là cái váy, cái xiêm, phụ nữ xưa mặc quần đỏ. (Đinh Xuân Lâm và Chu Thiên , Đại Nam quốc sử diễn ca, Văn Học, 1966, tr. 87 ).

Hồng quần: đàn bà (xưa mặc quần đỏ). (Hoàng Xuân Hãn, tập 2, Giáo Dục, 1998, tr. 77).

Hồng quần: quần đỏ (tức con gái). (Đào Duy Anh, Hán Việt từ điển).

Hình ảnh hai bà Trưng mặc quần đỏ dẹp giặc đẹp quá! Đẹp quá hoá ra ... đáng ngờ!

Theo truyền thuyết thì thời Hùng Vương, đàn ông Việt Nam đóng khố, đàn bà mặc váy kín (váy chui) hoặc váy mở (váy quấn). (Thời đại Hùng Vương, Khoa Học Xã Hội, 1976, tr.177).

Sử nước ta lại cho biết thêm:
Năm 1414, nhà Minh cấm con trai con gái không được cắt tóc; đàn bà con gái thì mặc áo ngắn quần dài, hoá theo phong tục phương Bắc. (Đại Việt sử kí toàn thư).

Nhà Minh muốn đồng hóa dân ta, cấm đàn bà con gái nước ta mặc váy, bắt phải mặc quần như người Tàu.

Năm 1428 Lê Lợi đánh đuổi được quân Minh, giành lại độc lập cho đất nước.

Sử không cho biết cách ăn mặc của dân ta dưới thời Lê Thái Tổ và mấy triều vua kế tiếp.

Thời tự chủ, với ý quyết xoá bỏ hết tàn tích nô lệ về y phục, vua Lê Thần Tông niên hiệu Thịnh Đức năm đầu (1653) định phép ăn mặc cho quan dân. Vua Lê Huyền Tông niên hiệu Cảnh Trị thứ ba (1665) cấm đàn bà con gái không được mặc áo có thắt lưng và mặc quần có ống chân (nghĩa là bắt buộc phải mặc váy). (Nhất Thanh, Đất lề quê thói, Đại Nam, tr. 206).

Vào khoảng năm 1744 chúa Võ Vương ở phương nam bắt dân gian cải cách y phục. Theo giáo sĩ Koffler thì chúa bắt bỏ lối quần áo thô bỉ của người đường ngoài, mà châm chước theo lối quần áo của người Tàu. (Đào Duy Anh, Việt Nam văn hoá sử cương, Bốn Phương, 1961, tr. 173).

Chúa Võ Vương muốn "Triều đình riêng một góc trời, gồm hai văn võ, rạch đôi sơn hà" (Kiều), độc lập đối với vua Lê chúa Trịnh đàng ngoài nên ra lệnh bắt đàn bà đàng trong phải ăn mặc như Tàu. Vì chúa muốn "Thà làm tôi thằng hủi hơn chịu tủi anh em", mà các bà đàng trong phải mặc quần.

Vua Minh Mạng đi xa thêm một bước nữa:

Tháng tám (có chỗ hát tháng chín) có chiếu vua ra
Cấm quần không đáy người ta hãi hùng
Không đi thì chợ không đông
Đi thì bóc lột quần chồng sao đang.

Thật ra thì chưa chắc đã là tháng tám hay tháng chín vì sử nhà Nguyễn chép: tháng 10 năm 1828, truyền đổi cách ăn mặc từ sông Gianh trở ra Bắc. (Quốc triều chính biên toát yếu, Thuận Hoá, 1998, tr. 188).

Quần không đáy, "vừa bằng cái thúng mà thủng hai đầu, bên ta thì có bên Tàu thì không", tức là cái váy. Minh Mạng bắt cả đàn bà đàng ngoài mặc quần, cấm mặc váy.

Trên lí thuyết thì từ năm 1828 đàn bà cả nước ta đều phải mặc quần theo ý muốn của nhà vua.

Nhưng thực tế thì ra sao?

Thực tế thì "phép vua thua lệ làng". Đằng sau luỹ tre xanh, mọi chuyện trong nhà ngoài xóm đều được dàn xếp theo bộ luật bất thành văn "lệnh ông không bằng cồng bà". Vua nói vua nghe, váy bà bà mặc. Minh Mạng làm sao mà đụng được vào cái váy của các bà nhà quê đàng ngoài! Trong lúc tỉnh thành xôn xao kháo nhau cởi váy mặc quần thì thôn quê miền Bắc vẫn khư khư giữ cái váy. Cho mãi đến những năm 1940 vẫn còn cảnh:

Quanh bếp ấm nồi bánh chưng sùng sục
Thằng cu con dụi mắt cố chờ ăn
Đĩ nhớn mơ chiếc váy sồi đen rức
Bà lão nằm tính tuổi sắp thêm năm
(Anh Thơ, Đêm ba mươi tết, 1941)

Cái váy của ta cứ âm thầm "Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi"(Phạm Duy). Nhiều phen được vua yêu, lắm lúc bị chúa ghét! Cái váy cứ nhẫn nhục bám lấy các bà mà tồn tại.

Thế mà hai bà Trưng đã tung ra mốt mặc quần từ những năm 40-43, nghĩa là gần 14 thế kỉ trước khi nhà Minh ra lệnh bắt đàn bà nước ta mặc quần, gần 18 thế kỉ trước khi vua Minh Mạng cấm mặc váy!

Đầu thế kỉ 20, đàn bà nước ta "quần phần nhiều mặc quần sồi, lĩnh thâm, đôi khi cũng có người mặc quần nhiễu đỏ; ở Nam kỳ và Trung kỳ thì người phong lưu mặc quần nhiễu trắng, chốn quê mặc quần vải xanh". (Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, Tổng hợp Đồng Tháp,1990, tr. 330).

Đến khoảng 1938, dân ta "quần thì chỉ dùng sắc trắng và nâu. Những người già cả mà giàu sang thì ngày hội hè tết nhất mới dùng quần đỏ". (Đào Duy Anh, Việt Nam văn hoá sử cương, sđd, tr. 173).

Hai bà Trưng nhìn xa, đi trước thiên hạ hay cái quần của hai bà ... có vấn đề? Bàn về quần, trước hết phải đặt câu hỏi quần là cái gì? Chết thật! Ngần này tuổi đầu mà không biết quần là cái gì à?

Quần (chữ hán, bộ y) được Huỳnh Tịnh Của và Đào Duy Anh định nghĩa là đồ để che phần dưới thân thể. Tự điển Génibrel dịch chữ quần là pantalon (quần dài), culotte (quần đùi), jupe (váy đàn bà), vêtement descendant depuis les reins jusqu''aux pieds (đồ mặc che từ eo xuống đến chân).

Quần được Thiều Chửu dịch là cái quần, cái xiêm. Đang tìm hiểu cái quần lại bị vướng vào cái xiêm. Vậy xiêm là cái gì?

Xiêm là áo choàng che trước ngực (Thiều Chửu), áo che đàng trước (Đào Duy Anh, Hán Việt từ điển), cái váy (Đào Duy Anh, Từ điển truyện Kiều), đồ bận dưới, cái củn (củn là đồ bận trên), cái váy (Huỳnh Tịnh Của), jupe (váy dài), jupon (váy ngắn), vêtement inférieur (đồ mặc che phần dưới) (Génibrel), manteau (áo choàng) (Gustave Hue).

Đúc kết các định nghĩa trên, chúng ta hiểu rằng xiêm là cái áo choàng, áo mặc ngoài. Xiêm ngắn, chỉ che phần trên thân thể, thì chỉ có một tên gọi là xiêm. Xiêm dài (che cả phần dưới thân thể) thì ngoài tên xiêm, còn được gọi là quần, hay váy.

Quần là chữ dùng để chỉ đồ mặc che phần dưới thân thể. Quần được dùng cho cả đàn ông và đàn bà. Quần có thể là cái sa rông của người Miên, cái kilt của người Ecosse ... Đàn ông và đàn bà Tàu đều mặc quần hai ống, cho nên quần đàn ông hay quần đàn bà Tàu đều là ... quần (như cách hiểu ngày nay).

Chỉ có cái quần đàn bà Việt Nam mới lận đận, rắc rối. Ngày xưa (tạm cho là trước thời thuộc Minh) đàn bà nước ta không mặc quần. Các bà không mặc quần hai ống như ngày nay mà chỉ mặc váy thôi.

Chữ quần (hán), chỉ đồ mặc để che phần dưới thân thể của đàn bà Việt Nam ngày xưa, phải được hiểu và phải được dịch nôm là cái váy để khỏi nhầm lẫn với cái quần đàn ông.

Điều này đã được tranh dân gian Oger (1909) chứng minh rõ ràng hơn qua một tấm vẽ đàn bà mặc váy. Tranh được ghi chú bằng chữ hán nôm "dã phụ y thử quần, tục danh quần đùm" (váy của đàn bà nhà quê, tục gọi là váy đùm). Người đàn bà trong tranh mặc váy, do đó chữ quần (hán) phải được dịch (nôm) là váy. Váy đùm là váy buộc túm cạp lại.

Dường như chỉ có văn học mới dùng hồng quần hay quần hồng để chỉ cái váy.

Bốn cột lang, nha cắm để chồng
Ả thì đánh cái, ả còn ngong
Tế hậu thổ khom khom cật,
Vái hoàng thiên ngửa ngửa lòng
Tám bức quần hồng bay phới phới,
Hai hàng chân ngọc đứng song song.
Chơi xuân hết tấc xuân dường ấy,
Cột nhổ đem về để lỗ không.
(Cây đánh đu, Hồng Đức quốc âm thi tập)

Hai cô gái đánh đu, khoe "tám bức quần hồng". Vậy là mỗi cô có "bốn bức quần hồng". Hồ Xuân Hương cũng đưa ra "bốn mảnh quần hồng" trong bài Đánh đu:

( ...)
Trai du gối hạc khom khom cật
Gái uốn lưng cong ngửa ngửa lòng
Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới
Hai hàng chân ngọc duỗi song song ...

Bốn bức hay bốn mảnh quần hồng ở đây là cái gì? Nếu chỉ là cái quần hai ống thì mỗi ống phải xẻ hai. Ta không có kiểu quần tân kì như thế. Cũng không phải là một mình cái váy vì không có váy nào lại xẻ tư như vậy. Chỉ còn cái áo tứ thân (áo tứ thân có 2 vạt đằng trước, 1 vạt đằng sau) cộng với cái váy mới hợp thành bốn mảnh quần hồng. Cái áo tứ thân (cái xiêm của ta) đã được các tác giả gọi là cái quần. Chúng ta hiểu vì sao Thiều Chửu đã định nghĩa quần là cái xiêm, và Huỳnh Tịnh Của lại định nghĩa cái xiêm là đồ bận dưới, tức là cái quần.

Trong bài Chỗ lội làng Ngang Nguyễn Khuyến có nói đến cái quần đàn bà:

Đầu làng Ngang có một chỗ lội
Có đền ông Cuội cao vòi vọi
Đàn bà đến đấy vén quần lên
Chỗ thì đến háng chỗ đến gối
Ông Cuội ngồi trên mỉm mép cười
Cái gì trăng trắng như con cúi
Đàn bà khép nép đứng liền thưa
Con trót hớ hênh ông xá tội ...

Đàn bà vén quần, hớ hênh, để lộ cả cái gì trăng trắng như con cúi. Các nhà quan sát có thẩm quyền kết luận rằng người đàn bà trong câu chuyện mặc váy. Quần hai ống vén đến gối hay đến háng thì vẫn còn kín đáo, chưa để lộ bí mật.

Nguyễn Khuyến đã dùng chữ quần theo nghĩa chữ hán, để chỉ cái váy của các bà.

Hình ảnh vén váy để hở cả cơ đồ còn được thấy qua tấm tranh dân gian Hứng dừa dí dỏm.

Qua vài thí dụ kể trên thì thấy rằng từ thế kỉ 15 (Hồng Đức quốc âm thi tập) đến đầu thế kỉ 20 (Nguyễn Khuyến) chữ quần đã được văn học Việt Nam dùng theo nghĩa của chữ hán, để chỉ đồ che nửa dưới thân thể. Quần của đàn bà (miền Bắc) Việt Nam ngày xưa là cái váy, cái áo dài (xiêm), chứ chưa phải là cái quần hai ống ngày nay.

Hồng quần của hai bà Trưng phải được hiểu là cái váy màu đỏ.

Từ ngày người Pháp cai trị nước ta thì các bà nhà quê miền Bắc mới dần dần mặc quần hai ống như các ông. Một số bà tân thời ở tỉnh thành mặc màu trắng. Dân quê chỉ dùng màu đen hay màu nâu. Ngày nay, cả hai phái nước ta, phái mạnh và phái đè đầu phái mạnh, đều mặc quần hai ống, nhiều màu sắc, kể cả màu hồng, màu đỏ.

Cái váy, cái quần không những đã ám ảnh vua chúa mà còn đè nặng lên đời sống của đám dân đen.

Người xưa có phương thuật "chữa mắt hột bằng gấu quần đàn bà". Quần nào chả là quần, tại sao không dùng quần đàn ông mà phải dùng quần đàn bà? Chẳng nam nữ bình quyền tí nào cả! Nam nhi thua thiệt quá!

Thật ra thì phương thuật dùng gấu váy, sau này váy hiếm, khó kiếm người ta mới thay váy bằng quần, dĩ nhiên phải là quần đàn bà.

Chữ váy, ngoài nghĩa thông dụng là cái váy đàn bà, còn có nghĩa khác là nạo vét, lau chùi (curer, nettoyer, tự điển Génibrel). Váy là dùng vật gì mà vặn xáy (xoáy) hoặc móc ra. Váy tai nghĩa là móc cứt ráy trong lỗ tai ( Huỳnh Tịnh Của).

Váy (đồ mặc) đồng âm với váy (lau chùi, xoáy móc). Do đó, giới bình dân đã dùng cái váy để tượng trưng cho động tác lau chùi. Ai bị đau mắt hột thì lật mí mắt lên, lấy gấu váy dí nhẹ vào mí là tất cả các hột sẽ được đánh sạch.

Từ ngày các bà không mặc váy nữa thì người ta dùng gấu quần. Đứng về mặt chữ nghĩa thì cái quần không giải thích được ý nghĩa của phương thuật. Phải thông qua cái váy mới rõ nghĩa.

Quần đàn ông không dính dáng gì đến váy cho nên không chữa được mắt hột! Quần của các ông thua quần các bà chứ không phải các bà kì thị các ông!

Xưa kia, "thợ may và thợ giặt không nhận may váy, giặt váy cho các bà". Pierre Huard và Maurice Durand (Connaissance du Vietnam, EFEO, Paris, 1954, tr. 178) cho rằng ta bắt chước tục Tàu. Người Tàu kiêng để lẫn lộn quần áo vợ chồng còn trẻ, dưới 70 tuổi.

Thuyết âm dương của Tàu e rằng cao siêu quá, vượt quá xa cái triết lí bình dân của cái váy của ta:

Sáng trăng em tưởng tối trời
Em ngồi em để sự đời em ra
Sự đời bằng cái lá đa
Đen như mõm chó, chém cha sự đời.

Bọn thợ may, thợ giặt sợ cái váy có lẽ chỉ vì họ tin rằng váy có ma thuật nạo vét của cải, làm hao tài, sạt nghiệp mà thôi.

Giới trí thức cũng bị váy, quần làm cho vướng mắc lùng bùng ...

Ngày xưa, "thư sinh, nhà nho kiêng không sờ vào váy, vào quần đàn bà giữa ban ngày".

Không biết cụ Khổng lúc bé có phải giặt giũ, phơi quần áo giúp mẹ không?

Nhiều người cho rằng vì váy, quần đàn bà là vật ô uế nên nhà nho không đụng đến. Giải thích như vậy nghe không ổn. Cho dù váy, quần của các bà có ô uế thật đi nữa thì cũng chỉ ô uế vài ngày lúc các bà có tháng thôi. Còn những ngày bình thường thì quần đàn ông hay váy đàn bà đã chắc gì cái nào sạch hơn cái nào? Không riêng gì nhà nho, đến người mù chữ cũng chẳng ai muốn đụng đến những đồ ô uế.

Nhà nho là người dùi mài kinh sử chuyên nghiệp. Ông nào cũng đầy một bụng chữ thánh hiền. Ban ngày ban mặt, nhỡ mà đụng vào cái váy hấp dẫn kia thì còn đâu là chữ nghĩa nữa! Cái váy sẽ cạo vét, lau chùi sạch sành sanh cái bụng chữ thì làm sao mà mở mày mở mặt với thiên hạ được! Có muốn sờ thì chờ lúc nhá nhem hãy sờ. "Tối lửa tắt đèn, nhà ngói cũng như nhà tranh", mèo nào cũng xám như nhau. Tranh tối tranh sáng thì ... có mắt cũng như không, còn thấy đường nào mà cạo với vét!

Dân gian có một giai thoại về cái váy.

Chuyện kể rằng ông lí làng kia mới tậu được cái ô đen. Ông rất hãnh diện, đi đâu cũng che ô để khoe với dân làng. Một hôm ông vênh vang đi qua chỗ có mấy cô gái đang làm cỏ ruộng. Một cô hát:

Hôm qua tôi mất xống thâm
Hôm nay tôi gặp người cầm ô đen.

Một cô phụ hoạ thêm:

- Nói thế thì ra người ta ăn cắp cái xống thâm, cái váy đen của chị về may ô à? Em nhớ là xống thâm của chị tươi đẹp hơn ô đen kia cơ mà. Để em lên mượn, chúng mình xem cho kĩ nhé.

Ông lí bầm gan tím ruột định mắng mấy con "vén váy không nên" kia, nhưng ông chợt nghĩ nhỡ đụng phải bọn "xắn váy quai cồng" thì thật là nan giải. Nghĩ vậy, ông lí vội cụp ô, chuồn cho nhanh.

Hải Phòng cũng có một giai thoại tương tự.

Trong một cuộc hát đúm, cô gái tấn công trước:

Hôm qua em mất cái váy thâm
Hôm nay em thấy anh cầm một chiếc ô đen.

Cô gái chanh chua vừa dứt lời, liền được chàng trai nhã nhặn đáp lễ:

Em nói thế là em cũng nhầm
Hôm qua anh thấy ông đội khăn thâm ra đình

Trong lúc các bà nhà quê phải mất nhiều năm mới bỏ được cái váy sồi, váy đùm, váy đụp, thì mấy cô ở thành thị lại hớn hở tung hô cái váy xoè, váy chẽn, váy cụt của phương Tây.

Thú phô trương ao ước bấy lâu nay! Giờ mới được mân mê cái váy hiện đại, hiện sinh ... hiện hình!

Khách bên đường sững sờ liếc trộm cái của lạ muôn màu, muôn vẻ ... Muôn năm!

Thấy mà chóng cả mặt, chỉ ... muốn nằm!

Nguyễn Dư


=============

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Lòng Từ Bi Cho Người Chết
Phải Bắt Đầu Bằng Công Lý Cho Người Sống
“Lòng Từ bi cho người chết phải bắt đầu bằng Công lý cho người sống” : ông Võ Văn Ái trả lời phóng viên Đài VOA về chuyến đi Việt Nam của Sư Ông Thích Nhất Hạnh.

Hôm nay, 20.2.2007, Sư Ông Nhất Hạnh và phái đoàn Làng Mai đến phi trường Tân Sơn Nhất, Saigon. Ký giả Đài VOA Anh ngữ, ông Matt Steinglass, gọi điện thoại viễn liên từ Hà Nội sang Paris xin ông Võ Văn Ái bình luận về chuyến đi này. Sau đây là lời phát biểu của ông Ái, do Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế dịch ra Việt ngữ :

“Tôi cảm thấy bàng hoàng việc Sư Ông Thích Nhất Hạnh cùng với trên một trăm đệ tử Làng Mai được phép tự do về Việt Nam, tổ chức những buổi thuyết giảng công cộng và giải oan trên toàn quốc. Trong cùng thời gian nầy, hàng giáo phẩm thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất bị quản chế, bị tước các quyền tự do và cấm thuyết pháp. Đức Tăng thống Thích Huyền Quang, 87 tuổi, trải qua cảnh tù đày, quản chế trên 25 năm ròng, bị cấm rời tu viện ở Bình Định vào Saigon tái khám bệnh. Hòa thượng Thích Quảng Độ, 77 tuổi, bị giam cầm, quản chế nhiều thập niên qua, vừa được Sáng hội Rafto trao Giải Nhân quyền Quốc tế tháng 11 năm 2006, nhưng Hòa thượng không được phép sang Na Uy lãnh giải. Mới tuần lễ trước đây, Việt Nam từ chối chiếu khán nhập cảnh cho ông Arne Liljedahl Lynngård, Chủ tịch Sáng hội Rafto. Ông ngỏ lời đến thăm Việt Nam để trao tận tay Hòa thượng Thích Quảng Độ tấm bằng tưởng lệ Giải Rafto và gặp gỡ giới chức chính quyền trong tinh thần đối thoại. Nhưng nhà cầm quyền Hà Nội từ khước tiếp đón ông.

“Tôi nghĩ rằng nhà cầm quyền Hà Nội điều khiển chuyến đi của Sư ông Thích Nhất Hạnh nhằm che giấu các cuộc đàn áp Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và cố tạo ra ảo ảnh tự do tôn giáo tại Việt Nam.

“Tôi cũng nhận thấy khó xử cho những Trai đàn Giải oan mà Sư ông Nhất Hạnh dự tính tổ chức tại Sóc Sơn, Huế và Saigon. Sư ông ngỏ lời mời người Cộng sản đọc những trích đoạn trong kinh điển Marx bên cạnh các Tăng sĩ, Linh mục, Mục sư, Chức sắc xướng đọc các kinh điển Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hòa Hảo và Cao Đài, để cùng cầu nguyện cho những người chết oan. Tôi chẳng biết làm sao hoà đồng giữa các tôn giáo và chủ nghĩa Mác-Lênin. Tuy có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng các tôn giáo lớn đều dựng xây trên nền tảng từ bi, yêu thương. Trái lại chủ nghĩa Mác-Lên nin dựa trên căm thù, tranh chấp và đấu tranh giai cấp. Trong thực tế, chủ nghĩa Mác-Lênin với sự kiện Đảng Cộng sản ra đời tại Việt Nam là nguyên nhân cơ bản cho hàng triệu người chết oan - những người mà Sư ông Nhất Hạnh gọi kêu cầu nguyện. Tôi nghĩ đến những ai bị chôn sống trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất đầy sát khí ở Miền Bắc, những ai bị tàn sát và bị chôn sống tập thể trong cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, đặc biệt ở Huế, những ai bị hành quyết hoặc bị chết thảm vì bị tra tấn, bị đói hay kiệt sức trong các Trại Cải tạo lao động, hoặc những Người Vượt Biển đi tìm tự do bị chết thảm trên đại dương...

“Thân nhân, gia đình của những kẻ chết oan này có thể hành lễ và nghe đọc các trích đoạn kinh điển Mác-Lênin chăng ? Họ có chịu tham dự Trai đàn Giải Oan dưới sự chủ trì của giới lãnh đạo chế độ Cộng sản hay không ?

“Đã đến lúc chúng ta phải nghĩ tới những người đang sống, chứ không riêng người chết mà thôi. Sư ông Thích Nhất Hạnh hãy dùng ảnh hưởng của sư để kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam trả tự do cho tất cả những tù nhân bị giam giữ vì lý do ôn hòa bảo vệ tín ngưỡng hay chính kiến của họ. Sư ông hãy cất cao lời bênh vực cho khối “Dân Oan”, là những phụ nữ vô gia cư, những nông dân mỗi ngày kéo về Vườn hoa Mai Xuân Thưỡng khiếu kiện việc Nhà nước cưỡng chiếm đất đai, tài sản của họ. Sư ông Nhất Hạnh hãy đòi hỏi cho mọi người Việt Nam được hưởng quyền tự do đi lại, quyền ăn nói và quyền tự do tôn giáo y hệt như Sư ông và phái đoàn Làng Mai đang được hưởng trong chuyến về Việt Nam. Lòng Từ bi cho người chết phải bắt đầu bằng Công lý cho người sống. Sư ông Nhất Hạnh hãy nhìn đằng sau lưng hai triệu rưởi đảng viên Cộng sản còn có 80 triệu dân đang bị tước đoạt nhân quyền, dân chủ và tự do tại Việt Nam”.

Xin quý độc giả đọc lại bức thư Hòa thượng Thích Huyền Quang viết ngày 21.4.2000 tại nơi quản chế ở huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi, gửi các ông : Lê Khả Phiêu, Trần Đức Lương, Phan Văn Khải và Nông Đức Mạnh, đề nghị lấy ngày 30.4 mỗi năm làm « Ngày Sám hối và Chúc sinh toàn quốc ». Qua thư, Hòa thượng đòi hỏi cho Linh quyền người chết bằng hành động sám hối công khai của Đảng Cộng sản, và Nhân quyền cho người sống bằng việc thực thi dân chủ đa đản. Xin xem Thông cáo báo chí ngày 25.4.2000 ở :

http://www.queme.net/vie/news_detail.php?numb=757 ;

và về hai chữ “Giải Oan” trên Thông cáo báo chí ngày 16.2.2007 :

http://www.queme.net/vie/news_detail.php?numb=755

Đề xuất và hành động cụ thể nhằm Giải Oan cho người chết cũng như người sống được vị lãnh đạo tối cao của Gíao hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất công bố từ bảy năm trước, năm 2000, chứ không phải đợi đến hôm nay, 2007, mới toan tính. Hành động này cụ thể phải do người gây tội, là Đảng Cộng sản tác nhân các vụ thảm sát, đứng ra chủ trì, chứ không là kẻ bị thảm sát, kẻ bị oan ức xin xỏ giải oan.

Linh quyền cho người chết là những ai ? Hòa thượng Huyền Quang kê rõ trong thư : 3 triệu người chết trong chiến tranh, binh sĩ Việt Nam Cộng hòa, 300.000 bộ đội mất tích theo số liệu Hà Nội, 700.000 người bị giết trong Cải cách Ruộng đất, 100.000 người bị hành quyết trong các Trại Cải tạo, một triệu người bỏ thân trên đường Vượt Biển, hàng chục nghìn người bị giết trong vụ Mậu Thân 68, v.v...

Nhân quyền cho Người sống là gì ? Là bỏ ngay châm ngôn « Dân biết dân câm họng, Đảng biết đảng bỏ tù », bỏ ngay ý thức hệ « đấu tranh giai cấp » và « chuyên chính vô sản ». Thực hiện cụ thể bằng việc nhân Ngày 30.4, Đảng Cộng sản chính thức công bố lời Sám hối trước toàn dân, người chết cũng như người sống, về những sai lầm, những tội lỗi mà Đảng Cộng sản vi phạm trong suốt lịch sử cận và hiện đại.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Văn Ðàn Ðồng Tâm mừng Xuân Ðinh Hợi:
Kỷ niệm sinh nhật 84 nhà văn Doãn Quốc Sỹ và ra mắt Tuyển Tập Ðồng Tâm 4

Tuesday, February 20, 2007
Nguyên Huy/Người Việt


Vào đúng trưa Mùng Một Tết, Chủ Nhật 18 Tháng Hai, Văn Ðàn Ðồng Tâm và một số văn hữu đã tổ chức buổi kỷ niệm sinh nhật 84 của nhà văn Doãn Quốc Sỹ, cố vấn của văn đàn tại nhà hàng Emerald Bay.

Những tưởng vào ngày này quan khách và thân hữu sẽ không được đông, nhưng điều khá bất ngờ là số khách tham dự đến chật nhà hàng. Trong số khách tham dự thì phần đông là văn thi hữu, giáo giới đồng nghiệp với nhà văn và giới truyền thông Việt ngữ ở Nam California. Ðiều này chứng tỏ nhà văn Doãn Quốc Sỹ rất được độc giả, thân hữu và văn giới yêu chuộng và ngưỡng mộ.

Trong buổi sinh hoạt độc đáo này, độc đáo vì tổ chức vào ngày Mùng Một Tết, ngày mà ai cũng coi trọng nhất trong năm, Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm, nguyên thứ trưởng giáo dục Việt Nam Cộng Hòa, đã lược thuật lại cuộc đời “cầm bút” và “cầm phấn” của nhà văn Doãn Quốc Sỹ.

Theo Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm thì nhà văn Doãn Quốc Sỹ không chỉ là một nhà văn lớn của Việt Nam tự do, mà với giáo sư, Doãn Quốc Sỹ còn là một anh hùng vì gần suốt cuộc đời ông, ông đã chiến đấu không ngừng nghỉ dù đã bị tù đày, quản thúc. Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm đã nhắc đến thời thanh niên của nhà văn, cũng như hầu hết tuổi trẻ thời đó đã theo kháng chiến một cách nhiệt tình mong cho đất nước được độc lập tự do thoát khỏi ngoại bang. Nhưng chỉ trong 4 năm, Doãn Quốc Sỹ đã tỉnh ngộ ngay rằng cuộc kháng chiến của toàn dân đang bị Cộng Sản lợi dụng để sẽ trở thành một công cụ cho đế quốc Cộng Sản. Doãn Quốc Sỹ đã bỏ về thành và khi Hiệp Ðịnh Giơ Ne Vơ chia đôi đất nước thì Doãn Quốc Sỹ phải theo vào Nam, rời bỏ miền đất mà Việt Nam Cộng Hòa vừa chiếm được. Tác phẩm đầu tiên được xuất hiện có tựa đề là “Sợ Lửa”. Tiếp đó Doãn Quốc Sỹ đã cùng bạn bè thân hữu như Trần Thanh Hiệp, Nguyễn Sỹ Tế... cùng Mai Thảo ra tạp chí Sáng Tạo (1956) mở ra một phong trào văn học ảnh hưởng lớn lao đến tuổi trẻ Việt Nam lúc bấy giờ và cả sau này.

Sự nghiệp văn chương của Doãn Quốc Sỹ thật to lớn với nhiều truyện ngắn, truyện dài, ngụ ngôn, truyện cổ tích và hơn mười tập biên khảo về văn học Việt Nam. Tất cả những sáng tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ viết ra đều thể hiện rõ ý nghĩ lập trường, sự băn khoăn day dứt của người thanh niên yêu nước Việt Nam, khao khát mong muốn cho đất nước và dân tộc được độc lập tự do thật sự để phát triển cuộc sống. Ðộc giả biết đến và truyền tụng cho nhau nhiều nhất là những truyện dài của Doãn Quốc Sỹ viết trước 1975 như “Khu rừng lau” gồm bốn tập là “Ba Sinh Hương Lửa”, “Người đàn bà bên kia vĩ tuyến”, “Tình yêu thánh hóa”, “Ðàm thoại, độc thoại”, truyện dài “Dòng sông định mệnh” và rất nhiều truyện ngắn, truyện vừa, tân truyện như “U hoài”, “Trái đắng trường sanh”, “Ðốt biên giới”, “Cúi đầu”, “Chiếc chiếu hoa cạp điều” v.v...

Văn chương của Doãn Quốc Sỹ to lớn giá trị đối với người Việt tự do bao nhiêu thì đối với Cộng Sản lại là nọc độc, phản động bấy nhiêu. Nên khi Cộng Sản chiếm được miền Nam, nhà văn Doãn Quốc Sỹ cũng như hầu hết văn thi sĩ miền Nam đều phải bị tập trung cải tạo, tức bị nhốt vào tù mà không xét xử gì cả. Bốn năm sau, Cộng Sản “tha ra khỏi trại”, nhà văn Doãn Quốc Sỹ lập tức viết tác phẩm “Ði” phản ảnh cuộc sống sôi động của người dân Việt sau khi Cộng Sản cưỡng chiếm được toàn bộ đất nước. Viết cuốn “Ði” nhà văn đã phải viết từng đoạn lén lút gửi được sang Pháp với một tên khác là “Hồ Khanh” nhưng cũng bị Cộng Sản phát giác và đương nhiên nhà văn đã bị bắt lại và bị đưa ra tòa xử 10 năm tù vì tội “phản động”. Mãi đến Tháng Hai năm 1995 ông mới tới được Hoa Kỳ khi đã 72 tuổi. Nhưng Doãn Quốc Sỹ vẫn chưa ngừng nghỉ. Ông phải viết như những chứng nhân phải nói lên tiếng nói của sự thực, phải nói lên những nguyện ước của cả hơn một thế hệ mà không đạt tới được, để lịch sử Việt Nam trong giai đoạn vừa qua được soi sáng, để cho các thế hệ đang tới không bước vào những bước lầm lỡ, đủ sáng suốt để không làm tôi mọi cho một chủ thuyết nào, tay sai cho một thế lực quốc tế nào.

Nên ba tác phẩm mới đã được Doãn Quốc Sỹ hoàn thành tại hải ngoại là “Ði” (hoàn tất tại hải ngoại), “Mình soi lại mình” và “Người vái tứ phương”.

Ðáp một câu hỏi của chúng tôi về sự tiếp tục sáng tác của ông trong những ngày tháng tới, nhà văn Doãn Quốc Sỹ cho biết ông đang thực hiện tuyển tập gồm 9 cuốn thu gom tất cả những sáng tác của mình, nay đã ra được 3 tập, sẽ còn 6 tập nữa. Về sáng tác mới thì “sức khỏe còn cho phép nghĩa là còn minh mẫn thì khi hứng khởi tôi vẫn còn muốn cầm bút lên,” nhà văn nói vậy.

Câu trả lời của nhà văn đúng như nhận định của Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm rằng: “Doãn Quốc Sỹ không chỉ là một nhà văn lớn của người Việt mà ông còn là một anh hùng”.

Hiện nay, nhà văn Doãn Quốc Sỹ là cố vấn cho Văn Ðàn Ðồng Tâm. Sự hình thành của Văn Ðàn Ðồng Tâm từ hai năm nay chính là do từ sự gợi ý của nhà văn Doãn Quốc Sỹ với anh chị em văn thi hữu thân hữu, đặc biệt là lớp cầm bút trẻ ở hải ngoại rằng: “Chúng ta nên mở ra một nhóm thân hữu văn chương, cùng nhau đồng tâm hiệp lực để viết lách trong ý hướng gìn giữ chữ Việt tại hải ngoại.” Từ đó Văn Ðàn Ðồng Tâm đã từ một nhóm nhỏ ngòi bút có chút đam mê văn chương, viết lách đã phát triển, mở rộng hoạt động tới các văn thi hữu khắp nơi. Chỉ trong gần hai năm hình thành Văn Ðàn Ðồng Tâm đã nhanh chóng kết hợp được nhau và thực hiện được ba Tuyển Tập Ðồng Tâm và ngày hôm nay văn đàn ra mắt Tuyển Tập Ðồng Tâm 4.

“Tuyển Tập Ðồng Tâm 4” dày gần 400 trang khổ sách, rất trang nhã từ bìa ngoài cho đến nội dung bên trong. Nhiều cây bút nổi tiếng xưa như Trần Thanh Hiệp, Doãn Quốc Sỹ, Thái Tú Hạp, Vũ Hối, Nguyễn Thanh Liêm, Hồng Vũ Lan Nhi, Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích có mặt trong tuyển tập này bên cạnh các ngòi bút trẻ tại hải ngoại.

Văn Ðàn Ðồng Tâm hiện nay được điều hành bởi nhà văn Tạ Xuân Thạc và nhóm chủ trương kỷ niệm sinh nhật 84 của nhà văn Doãn Quốc Sỹ do Văn Ðàn Ðồng Tâm đứng tổ chức hôm nay là cùng Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm, Linh Mục Trần Cao Tường, các nhà văn, nhà thơ Ðỗ Tiến Ðức, Thái Tú Hạp, Trần Việt Hải và Tạ Xuân Thạc.

(N.H.)
Một số hình ảnh của phái đoàn Hồ Ngọc Cẩn trong ngày Lễ Thượng Thọ Thầy Doãn Quốc Sỹ.

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

XEM TRANH CỦA PICASSO
(Phạm Đà Giang)

Image
(Pablo Picasso-Nu au fauteuil noir, 1932 $45,102,500 at Christie's New York, 11/9/99)

Nhân dịp ông anh ở Mỹ cắt tờ báo chụp bức tranh của Picasso gửi sang cho tôi. Cho nên đêm Giáng Sinh năm nay tôi lại nhà hoạ sĩ Anh-Lân chơi, mang theo tấm ảnh bức tranh khỏa thân: “Nu au fauteuil noir” (khỏa thân trên ghế nệm đen) của Picasso vẽ 1932, trị giá 45 triệu đô la trong cuộc đấu giá ngày 9-11-99 tại Christies ở New York để chúng tôi cùng nhau xem tranh và luận với số tiền khổng lồ ấy. Tôi nói với hoạ sĩ Anh-Lân;

- Xem tranh của PICASSO vẽ người phụ nũ khỏa thân, tôi có cảm tưởng như tụi trẻ con tập vẽ mà chúng sớm có ý tưởng đến thân thể người đàn bà mà chúng nó chưa hề được nhìn thấy toàn thân người phụ nữ trần truồng bao giời, cho nên chúng vẽ tầm bậy; không giống ai, không giống bất cứ bộ phận nào trên cơ thể người phụ nữ cả. Nếu cô người mẫu nào đó sau khi nằm làm kiếu cho Picasso vẽ thành tác phẩm như vậy chắc cô ta buồn không ít khi xem người trong tranh với thân thể của chính mình chẳng còn ra mình nữa ! Anh-Lân tán thành:

- Chẳng những cô người mẫu đó buồn mà toàn thể chị em phụ nữ cũng buồn lây, vì thân thể họ có những đường nét tuyệt mỹ, thiên thần nên đã được cả nhân loại mệnh danh họ là: Phái Đẹp, chứ đâu có tệ đến thế. Ấy vậy mà Picasoo đã phủ nhận họ là phái đẹp, bằng nét vẽ biến họ thành: Phái Kỳ Cục. Tôi hỏi Anh-Lân:

- Vậy tại sao mà có người bỏ ra đến 45 triều đô để mua nó? Anh-Lân lý luận:

- Chính những tay trọc phú ấy, họ đã có công làm cho tác giả nổi danh chứ tác phẩm đó không nổi danh tý nào. Tôi không hiểu ý Anh-Lân, nên hỏi:

- Sao vậy ?

- Vì họ có quá nhiều tiền, nhưng sự hiểu biết lại quá ít ỏi mà muốn nổi danh, dù là danh hão hoặc danh giả hay danh ngông họ cũng muốn, nên họ bỏ ra mấy chục triệu đô để mua bức tranh vô hồn ấy, để tự chứng tỏ ta đây là người am tường giá trị nghệ thuật, chứ sự thực họ cũng mù tịt; chả hiểu một mảnh mún gì về nghệ thuật cả. Tôi hỏi lại Anh-Lân:

- Anh cho tác phẩm đó là vô hồn, vậy thế nào là có hồn?

- Chẳng hạn một tác phẩm: “Bất Hạnh!” Vẽ một người mù hai mắt, đứng trước cảnh đẹp thiên nhiên với trời xanh mây trắng; muôn sắc muôn màu... Tác phẩm ấy, sẽ gợi cho khách thưởng lãm một nguồn cảm xúc, một nỗi niềm chua xót đắng cay ! Khiến khách phải liên tưởng đến mình; Chính mình đang chàn đầy hạnh phúc mà nào có hay; Mở mắt ra là thấy được mọi sự mọi vật, thấy được ánh sáng nổi lên những sắc độ và đường nét diễm kiều của vũ trụ bao la... Đối với người mù, chỉ thấy một bóng đen tăm tối! làm gì có được hạnh phúc đó. Đấy là bức tranh không lời, nhưng tự nó đã nói lên thành lời và cũng gọi là Hồn của bức tranh. Tôi cắt ngang lời Anh-Lân:

- Vậy ra những tác phẩm thuộc trường phái Siêu thực, Ấn tượng họ sáng tác để họ thưởng lãm một mình họ, hoặc có chăng là những người cùng nhóm với họ, họ thưởng thức vơí nhau và chưa chắc họ đã hiểu được ý gì ẩn dụ trong tác phẩm đó. Nếu có hiểu, chẳng qua chỉ là một cách “Bốc Thơm” lẫn nhau mà thôi.Trong lúc nghệ thuật là phục vụ nhân sinh, phục vụ quảng đại quần chúng, chứ chẳng phải chỉ để ở một ngóc ngách nào đó cho vài người cùng sở trường thưởng thức và tán tụng với nhau. Tác phẩm đó, thiết nghĩ: Không thể gọi là tác phẩm được vì nó chỉ phục vụ có mấy người; ngoài nhóm ấy ra, thêm vài kẻ trọc phú như anh vừa nói phải không? Anh-Lân trả lờ:

-Đại khái là thế. Tuy nhiên, trong dân gian còn có những tác phẩm với thân hình tuyệt mỹ của người phụ nữ khoả thân mà không có đường nét, không có góc cạnh, không có bố cục, không có màu sắc, không có ánh sáng và cũng không có luôn cả hình tướng nữa. Tác phẩm đó mới thực sự có giá trị gấp nhiều triệu lần so với tác phẩm Nu au fauteuil noir của Picasso. Chẳng hạn như tác phẩm miêu tả vào một ngày mùa hè nóng nực, nàng Kiều cởi trần truồng để toàn thân lồ lộ ra tắm, Thúc-Sinh tò mò nhòm thấy rồi xây dựng một tác phẩm để đời: “Rõ ràng trong ngọc, trắng ngà. Dầy dầy sẵn đúc một tòa thiên nhiên” (Nguyễn-Du). Hay tác phẩm của Phạm Thiên Thư: “Vai nghiêng nghiêng suối tơ huyền. Đôi gò đào nở trên miền tuyết thơm”. Ôi ! đẹp làm sao và tuyệt vời biết chừng nào! Tác phẩm không hình tướng này, chẳng chê vào đâu được. Người nào thưởng lãm cũng thấy đẹp, cũng thấy quí, cũng thấy hay và ai cũng có thể có một tác phẩm theo ý tưởng với đường nét và sắc độ của riêng cho mình. Tác phẩm ấy trưng ngay trong trí tưởng tượng; trong tiềm thức của mọi người, của mọi giới. Không cần phải mua bảo hiểm, cũng không cần phải cất giấu mà không sợ bị mất trộm. Mang theo đi đâu cũng được, cũng không cần phải cả chục triệu đô mới có và cũng không cần phải có lâu đài mới có chỗ để trưng nó. Còn giá trị hơn thế nữa là chẳng tác phẩm nào giống tác phẩm nào, vì mỗi tác phẩm đều do trí tưởng tượng của chính người đó sáng tác ra. Lại nữa, tác phẩm đó có thể thay hình đổi dạng bất cứ lúc nào tuỳ ý tác giả muốn và nhất là ai cũng có thể tự sáng tác và trở lên tác giả cho tác phẩm của mình.


Phạm Đà Giang


Image
(Pablo Picasso- Les femmes d'Alger (Version "O"), 1955- $31,902,500 at Christie's New York, 11/10/97)

Image
(Pablo Picasso- Le miroir, 1932 -$26,400,000 at Sotheby's New York, 11/15/89)

Post Reply