Quán Vắng không Người ...3
Moderator: khieulong
TIẾNG VIỆT "TRẺ" THỜI… CHAT!
Ngôn ngữ “chat” đang đe dọa sự trong sáng của tiếng Việt
“Chời, mày nghĩ sao dị? Tao mà đi thít thằng chả? Tao mà iu được hắn, tao chit lìn. Hôm đi uống hồng chà cùng chả, nói cái giề chả cũng gật đầu”bít rùi bít rùi, thực ra, chỉ được cái khoe khoang, có bít cái gì đâu. Nổ là chính? Đúng là nhục như con cá nục. Được cái quần áo lượt là dị thôi chứ đói như con chó sói í, đi ăn chung toàn để tao trả tiền... ”Thì tao đâu bít thằng chả như dị đâu. Thấy cũng đẹp chai, gòi cũng ga lăng tăn. Gòi cũng thấy mày thít đi với chả mừ?”
Tôi đã thực sự choáng cả người khi vô tình nghe được mẫu đối thoại trên của đôi bạn gái tuổi teen tại một quán hồng trà trên đường Võ Văn Tần (TP ****). Theo nhiều bạn trẻ, đó là thứ “ngôn ngữ ”không lạ trong các phòng chat, nhưng chẳng lẽ giờ đã “đi vào cuộc sống”
Ngôn ngữ của “dân prồ”
Chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu “ngôn ngữ chat” ra đời từ lúc nào và do vị “tổ sư” nào sáng lập, chỉ biết đó là ngôn ngữ bị bóp méo, đang ngày càng phong phú và…quái dị! Đặc biệt, với đối tượng tuổi teen đã ngồi vào phòng chat mà vẫn sử dụng ngôn ngữ “chính thống” là bị mọi người coi là tay mơ ngay.
Vào phòng chat, đầu tiên là khâu chào hỏi. Bạn không thể viết là “Xin chào” mà phải là “2” (Hi !- xin chào), nếu bạn là người được chào trước, có thể chào lại là “3!”. Tuy “3!” chẳng có nghĩa gì cả, nhưng được ngầm hiểu đó là một lời chào lại! Sau đó, bạn phải nắm một số “từ vựng cơ bản” như : “iu” (yêu), dìa (về), rùi (rồi), đâu gòi (đâu rồi), chìu (chiều), dị (vậy), ù (ừ), mừ (mà), bít (biết), bùn (buồn), hic hic (thể hiện trạng thái buồn), ha ha (thể hiện trạng thái vui)…
Ngoài ra, bạn còn phải nắm sơ sơ mấy câu “thành ngữ”: “nghèo như con cá kèo”, “đói như con chó sói”, bùn như con chùn chùn (buồn như con chuồn chuồn), “ chán như con gián”, dở hơi lại hỏng biết bơi”, “ăn mì gói cho đời oi khói”… để thêm “sang trọng” trong giao tiếp !
Thúy Hằng - học sinh lớp 9, tâm sự: “Có đi chat mới biết, vào phòng chat mà không sử dụng ngôn ngữ chat là không thấy…đã. Sau quá trình chat với nhau, học được “từ” nào mới là thích lắm, lâp tức đưa vào bộ nhớ ngay. Vốn “từ chat” càng nhiều, chat càng thích và cũng làm bạn chat của mình hứng thú theo. Những lần lên mạng, vô tình gặp một số người nói chuyện cứng quèo (không sử dụng “từ vựng chat”) là em “bưa bưa” ngay (bye bye). Riêng em cũng “sáng tạo” ra được hai từ và có khá đông người đang sử dụng theo , đó là “ún” (uống) và “seo” (sao).
Lây lan ra khỏi phòng chat!
Điều đáng báo động là “ngôn ngữ chat” đã lan ra đường phố, trường học, gia đình. Mới đây, một phụ huynh tên Thanh Minh ( Bình Thạnh, TP. ****) gởi đến Phụ Nữ tâm sự hết sức đặc biệt:
“Tôi có con gái 14t, chẳng biết cháu học ở đâu mà gần đây cứ sử dụng những từ hết sức méo mó, kinh dị, và khó hiểu. Cháu gọi tôi là “ma ma”, thấy mẹ dọn cơm ra, thốt lên : “He he he, ngon góa, măm măm. Có đồ en ngon gòi”. Có hôm cháu sà vào lòng, thỏ thẻ : “Ma ma ui, con bùn góa!”. Mỗi lần như vậy, tôi phải nhờ cháu “dịch” từng chữ mới hiểu nổi. Khuyên con sửa lại cách ăn nói, nhưng tôi biết cháu không thể một lúc mà bỏ được. Tụi trẻ bây giờ thật khó hiểu. Từ ngữ ông bà để lại đẹp đẽ như vậy không dùng, lại làm cho nó méo mó đi…”
Thanh Hằng (học sinh lớp 8 ở Q Gò Vấp) tâm sự: “ Em thích dùng mấy cái từ như vậy vì nó vui vui, ngồ ngộ. Ở nhà là ba cấm tiệt. Trước mặt ba, em phải uốn lưỡi rất mệt để nói chuyện bằng từ ngữ bình thường. Riêng với mẹ, nói thoải mái vì mẹ có mắng cũng cười trừ. Trên trường, cứ đến giờ ra chơi là cả nhóm con gái túm lại, nói chuyện kiểu như chat, vui lắm. Có mấy bạn nam cũng thích kiểu trò chuyện này và hào hứng tham gia. Có lúc phát biểu trong giờ học, em lỡ nói “Dạ, em bít rùi ạ!”, thầy cũng hiểu, không mắng, chỉ cười”.
Nhiệm vụ giữ gìn trong sáng của tiếng Việt đang gặp phải ba khó khăn lớn: Xen tiếng nước ngoài vào bài viết, lời nói; quá lạm dụng từ viết tắt; dùng quá nhiều tiếng lóng. Đặc biệt, thời gian gần đây, hiện tượng từ lóng của “ngôn ngữ chat” lan nhanh vào đời sống một cách đáng báo động. Chính lớp trẻ - đối tượng giữ vai trò quan trọng nhất trong việc bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt - lại đang từng ngày bị đe dọa bởi thứ ngôn ngữ méo mó, quái dị đó. Đây là vấn đề bức thiết, cần có sự vào cuộc của gia đình, nhà trường và xã hội để cùng nhau phối hợp giáo dục, “kéo” con em chúng ta trở lại với cách sử dụng tiếng Việt đẹp đẽ vốn có”
Trần Văn đăng trên báo Phụ Nữ
Phân tích của Meta
Để hiểu sâu xa hơn hiện tượng ngôn ngữ chat, chúng ta nên trở ngược về thời kỳ các bộ gõ mới bắt đầu ra đời.
Lúc ấy khoảng năm 1995. Tuy VN mở cửa vào khoảng năm 1992 nhưng vi tính còn thuộc loại hàng hiếm quý, dành cho người lớn, chưa phổ cập vào các trường học, nơi "hang ổ" (hehehe) của học trò.
Ở Mỹ, trẻ con còn lệ thuộc vào gia đình nhiều lắm. Nhà nào có con trẻ nói tiếng Mỹ thì lấy làm xấu hổ, chẳng dám gọi con ra chào khách, sợ nó phun tiếng Mỹ, mà toàn tiếng để cho người ngang hàng nói với nhau. Ví dụ : "Hi! This is my stupid sis"; "My God damned younger bro" v.v...Chính trẻ con mỗi khi phun tiếng Mỹ ra với nhau, cũng nhìn trước nhìn sau kẻo người lớn nghe thấy, sẽ bị mắng. Chúng bị buộc phải nói tiếng Việt ở nhà. Từ đó, một loại ngôn ngữ mới ra đời. Không phải giọng Bắc, giọng Trung hay giọng Nam mà là giọng hải ngoại.
- Cái quần "me" bị bể.
- Call me later ok. I am busy rửa tóc.
Theo thời gian, giọng hải ngoại ngày càng phong phú. Đôi khi nó diễn tả tốt cả những chuyện trừu tượng nữa. Ta có thể thấy rõ khi lắng nghe con trẻ nói chuyện điện thoại với bè bạn.
Bậc cha mẹ lo lắng lắm. Dù công ăn việc làm bề bề cũng phải dành nửa buổi sáng Chủ Nhật ngồi vặt râu bên tay lái, chờ rước con học Việt Ngữ. Nên mở chút xíu ngoặc khâm phục những người có lòng. Trường Việt Ngữ mọc như nấm và hoàn toàn miễn phí. Duy có điều trình độ khác nhau vì thời gian ở Mỹ khác nhau. Em 20 tuổi ngồi chen chúc với em 6 tuổi. Có em 30 tuổi có bằng kỹ sư kỹ xiếc mà không biết vì lý do đếch gì, nói tiếng Việt cứ khậm khà khậm khẹc như chó ngửi rắm, cũng chịu khó cắp sách đi học. Giờ ra chơi cũng tham gia cãi nhau với "đồng liêu" me, you ầm ĩ. Sau này, khi các trường Việt Ngữ lớn mạnh, người ta chia thành các lớp tương đương với tuổi, tình trạng lớn bé chênh lệch trong lớp không còn nữa.
Chỉ tốn có 1 ngày weekend, nghĩa là chẳng lấy đi thời giờ quý báu trong tuần mà trải qua vài chục năm, con cháu chúng ta ở Mỹ đạt được những bước tiến đáng nể. Chúng làm thơ, viết văn xịn hơn trẻ em trong nước. Thật thế, hãy xét theo con số. Đa số trẻ em hải ngoại khoái làm thơ, viết văn hơn các em trong nước. Không phải các em trong nước mất gốc, nhưng vì thời kỳ mở cửa, VN ta có vẻ coi nhẹ văn thơ hơn những gì hứa hẹn hơn, thoải mái hơn như vi tính, thời trang, các bản nhạc tiếng Mỹ... Nhà cầm quyền trong nước chẳng hiểu muốn dành công trạng này hay vì lẽ gì, cho đến năm 2004 định cho các giáo viên trong nuớc sang Mỹ dạy tiếng Việt cho trẻ em hải ngoại, dĩ nhiên dạy miễn phí. Tiền ăn ở, tiền vé máy bay rồi còn bao thứ tiền sách vở, trợ huấn cụ v.v... nhà nước lo hết. Nhà nước tốt quá. Họ định giở trò gì? Tại sao không nghĩ đến tiền lương chết đói của các giáo viên VN, nhất là các trường ở vùng sâu, vùng xa, mặc dù gia đình các em trong nước phải ráng gồng mình đóng học phí mỗi ngày một nhiều vẫn không làm sao nâng cao đời sống giáo chức. Dạy miễn phí cho trẻ em hải ngoại sau vài chục năm bỏ rơi, đúng hơn, sau vài chục năm tịch biên tài sản, đuổi người ra biển?
Cám ơn, chúng tôi tự lo lấy và tự lo tốt.
Các bộ gõ tiếng Việt ra đời như thể một hành động nối giáo cho giặc. Các em viết tiếng Việt tự do không hề sợ cô giáo rầy la lỗi chính tả. Những từ "bùn", "nhìu qié", "iu" ra đời không phải để làm dáng như ta thường nghĩ, mà nó phản ảnh cái vốn nghèo nàn chữ viết của các em hải ngoại. Tiếng mà mình nói mỗi ngày như thế nào, cứ việc viết sao cho phát âm giông giống là đủ. Love là yêu nhưng nếu tôi chưa từng viết chữ yêu bao giờ, theo những gì học được ở trường Việt Ngữ, chữ yêu có lẽ viết là "iu". Cùng lứa tuổi hiểu nhau ngay. Thật đấy, Meta đã xem 2 đứa trẻ 5 tuổi, một Việt một Mỹ chơi bắn bi ngoài sân. Đứa Việt Nam mới chân ướt chân ráo qua Mỹ, chỉ nói tiếng Việt. Thế mà 2 đứa cả Mỹ lẫn Việt đứa nào nói tiếng đứa nấy, vẫn hiểu nhau như thường. Các nhà tâm lý giải thích giùm hiện tượng này.
Vi tính phổ cập vào trường học, tư gia ở VN sau 1996. Các em ở VN tập chat bằng cách xem người hải ngoại chat. Các em học những từ ngữ quái dị ấy để tỏ ra lịch lãm, văn minh. Các em biết thừa "iu" phải viết là yêu, nhưng viết thế nhà quê quá. Giống như kẻ ở vườn lên thành phố, càng biết nhiều càng được thán phục. Em nào dùng những từ ngữ ấy nhuần nhuyễn, chắc chắn có nhiều trái tim rung động, mê say. Các em ngả nghiêng trong giông bão thời thượng.
Rồi đây khi các em lớn lên, lập gia đình, có con cái. Lúc ấy, phong trào theo thời đã tàn lụn. Các em sẽ có dịp hồi tưởng lại cái thời xa xưa khi mà văn hóa Âu Mỹ ồ ạt như thác lũ tràn sang nước ta, để thấy những cái gì không chính thống, nó đến rồi đi theo cơn lũ thời thượng. Chỉ tiếng Việt, cái keo sơn gắn bó trẻ em hải ngoại với một quê hương thần thoại (với các em hải ngoại, VN là cái quê hương chưa hề thấy, nó có vẻ trong thần thoại); cái tinh túy dân tộc mà các em trong nước nỡ xem thường, luôn vĩnh cửu như có người nói: Tiếng Việt còn nước ta còn. Suy ra, tiếng Việt mất, nước ta mất.
Buổi giao thời nào cũng thế. Có những người theo sau tất có người dẫn đầu. Người dẫn đầu không biết gì nhiều hơn quần chúng nhưng bản tính thích dẫn đầu. Nhìn vào họ mỗi ngày ta đều thấy những mới lạ, mới lạ đến độ quái lạ. (Bây giờ, con Meta vẫn ngạc nhiên :"Êu ơi hồi đó ba mặc áo có eo, quần ống loe hả"). Còn nhớ đầu thập niên 1990 VN tung sang Mỹ 1 số phim ảnh và kịch video. Tác phẩm nào cũng ở truồng. Diễn viên nữ nào cũng nần nẫn như lợn cạo. Chẳng phải họ chơi nổi mà vì lúc ấy, các đạo diễn VN tưởng thị trường Mỹ toàn những thứ sexy như thế. Được vài năm họ biết là lầm, họ làm phim đứng đắn ngay. Tuy nhiên họ dẻo mồm chê bai "văn hóa đồi trụy" của các trung tâm hải ngoại, quên bẵng đi một thời họ chủ trương đồi trụy.
Kể ra cái mốt viết theo văn phạm chat cũng chẳng có gì là xấu. Nó chỉ đánh dấu một giai đoạn lịch sử khi mà con người VN lần đầu tiếp xúc với Âu Mỹ sau hàng mấy chục năm bế môn tỏa cảng xây dựng xã hội chủ nghĩa. Như đã nói, cái phong trào nào cũng suy tàn theo năm tháng. Về già ta cũng chẳng mắc cở đâu vì có gì xấu mà mắc cở. Nhưng đã gọi là từng trải (tức là già đấy) ta nhận ra rằng cái gì không bền, ta không nên theo. Mất công vô ích và có vẻ ngố thế nào ấy. Chỉ về già mới biết như thế. Sẽ có một ngày, ca sĩ Henry Chúc cấu cái cà rá gắn trên lông mày vứt đi, vì sợ con cháu cười.
Metamorph
===
Ngôn ngữ “chat” đang đe dọa sự trong sáng của tiếng Việt
“Chời, mày nghĩ sao dị? Tao mà đi thít thằng chả? Tao mà iu được hắn, tao chit lìn. Hôm đi uống hồng chà cùng chả, nói cái giề chả cũng gật đầu”bít rùi bít rùi, thực ra, chỉ được cái khoe khoang, có bít cái gì đâu. Nổ là chính? Đúng là nhục như con cá nục. Được cái quần áo lượt là dị thôi chứ đói như con chó sói í, đi ăn chung toàn để tao trả tiền... ”Thì tao đâu bít thằng chả như dị đâu. Thấy cũng đẹp chai, gòi cũng ga lăng tăn. Gòi cũng thấy mày thít đi với chả mừ?”
Tôi đã thực sự choáng cả người khi vô tình nghe được mẫu đối thoại trên của đôi bạn gái tuổi teen tại một quán hồng trà trên đường Võ Văn Tần (TP ****). Theo nhiều bạn trẻ, đó là thứ “ngôn ngữ ”không lạ trong các phòng chat, nhưng chẳng lẽ giờ đã “đi vào cuộc sống”
Ngôn ngữ của “dân prồ”
Chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu “ngôn ngữ chat” ra đời từ lúc nào và do vị “tổ sư” nào sáng lập, chỉ biết đó là ngôn ngữ bị bóp méo, đang ngày càng phong phú và…quái dị! Đặc biệt, với đối tượng tuổi teen đã ngồi vào phòng chat mà vẫn sử dụng ngôn ngữ “chính thống” là bị mọi người coi là tay mơ ngay.
Vào phòng chat, đầu tiên là khâu chào hỏi. Bạn không thể viết là “Xin chào” mà phải là “2” (Hi !- xin chào), nếu bạn là người được chào trước, có thể chào lại là “3!”. Tuy “3!” chẳng có nghĩa gì cả, nhưng được ngầm hiểu đó là một lời chào lại! Sau đó, bạn phải nắm một số “từ vựng cơ bản” như : “iu” (yêu), dìa (về), rùi (rồi), đâu gòi (đâu rồi), chìu (chiều), dị (vậy), ù (ừ), mừ (mà), bít (biết), bùn (buồn), hic hic (thể hiện trạng thái buồn), ha ha (thể hiện trạng thái vui)…
Ngoài ra, bạn còn phải nắm sơ sơ mấy câu “thành ngữ”: “nghèo như con cá kèo”, “đói như con chó sói”, bùn như con chùn chùn (buồn như con chuồn chuồn), “ chán như con gián”, dở hơi lại hỏng biết bơi”, “ăn mì gói cho đời oi khói”… để thêm “sang trọng” trong giao tiếp !
Thúy Hằng - học sinh lớp 9, tâm sự: “Có đi chat mới biết, vào phòng chat mà không sử dụng ngôn ngữ chat là không thấy…đã. Sau quá trình chat với nhau, học được “từ” nào mới là thích lắm, lâp tức đưa vào bộ nhớ ngay. Vốn “từ chat” càng nhiều, chat càng thích và cũng làm bạn chat của mình hứng thú theo. Những lần lên mạng, vô tình gặp một số người nói chuyện cứng quèo (không sử dụng “từ vựng chat”) là em “bưa bưa” ngay (bye bye). Riêng em cũng “sáng tạo” ra được hai từ và có khá đông người đang sử dụng theo , đó là “ún” (uống) và “seo” (sao).
Lây lan ra khỏi phòng chat!
Điều đáng báo động là “ngôn ngữ chat” đã lan ra đường phố, trường học, gia đình. Mới đây, một phụ huynh tên Thanh Minh ( Bình Thạnh, TP. ****) gởi đến Phụ Nữ tâm sự hết sức đặc biệt:
“Tôi có con gái 14t, chẳng biết cháu học ở đâu mà gần đây cứ sử dụng những từ hết sức méo mó, kinh dị, và khó hiểu. Cháu gọi tôi là “ma ma”, thấy mẹ dọn cơm ra, thốt lên : “He he he, ngon góa, măm măm. Có đồ en ngon gòi”. Có hôm cháu sà vào lòng, thỏ thẻ : “Ma ma ui, con bùn góa!”. Mỗi lần như vậy, tôi phải nhờ cháu “dịch” từng chữ mới hiểu nổi. Khuyên con sửa lại cách ăn nói, nhưng tôi biết cháu không thể một lúc mà bỏ được. Tụi trẻ bây giờ thật khó hiểu. Từ ngữ ông bà để lại đẹp đẽ như vậy không dùng, lại làm cho nó méo mó đi…”
Thanh Hằng (học sinh lớp 8 ở Q Gò Vấp) tâm sự: “ Em thích dùng mấy cái từ như vậy vì nó vui vui, ngồ ngộ. Ở nhà là ba cấm tiệt. Trước mặt ba, em phải uốn lưỡi rất mệt để nói chuyện bằng từ ngữ bình thường. Riêng với mẹ, nói thoải mái vì mẹ có mắng cũng cười trừ. Trên trường, cứ đến giờ ra chơi là cả nhóm con gái túm lại, nói chuyện kiểu như chat, vui lắm. Có mấy bạn nam cũng thích kiểu trò chuyện này và hào hứng tham gia. Có lúc phát biểu trong giờ học, em lỡ nói “Dạ, em bít rùi ạ!”, thầy cũng hiểu, không mắng, chỉ cười”.
Nhiệm vụ giữ gìn trong sáng của tiếng Việt đang gặp phải ba khó khăn lớn: Xen tiếng nước ngoài vào bài viết, lời nói; quá lạm dụng từ viết tắt; dùng quá nhiều tiếng lóng. Đặc biệt, thời gian gần đây, hiện tượng từ lóng của “ngôn ngữ chat” lan nhanh vào đời sống một cách đáng báo động. Chính lớp trẻ - đối tượng giữ vai trò quan trọng nhất trong việc bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt - lại đang từng ngày bị đe dọa bởi thứ ngôn ngữ méo mó, quái dị đó. Đây là vấn đề bức thiết, cần có sự vào cuộc của gia đình, nhà trường và xã hội để cùng nhau phối hợp giáo dục, “kéo” con em chúng ta trở lại với cách sử dụng tiếng Việt đẹp đẽ vốn có”
Trần Văn đăng trên báo Phụ Nữ
Phân tích của Meta
Để hiểu sâu xa hơn hiện tượng ngôn ngữ chat, chúng ta nên trở ngược về thời kỳ các bộ gõ mới bắt đầu ra đời.
Lúc ấy khoảng năm 1995. Tuy VN mở cửa vào khoảng năm 1992 nhưng vi tính còn thuộc loại hàng hiếm quý, dành cho người lớn, chưa phổ cập vào các trường học, nơi "hang ổ" (hehehe) của học trò.
Ở Mỹ, trẻ con còn lệ thuộc vào gia đình nhiều lắm. Nhà nào có con trẻ nói tiếng Mỹ thì lấy làm xấu hổ, chẳng dám gọi con ra chào khách, sợ nó phun tiếng Mỹ, mà toàn tiếng để cho người ngang hàng nói với nhau. Ví dụ : "Hi! This is my stupid sis"; "My God damned younger bro" v.v...Chính trẻ con mỗi khi phun tiếng Mỹ ra với nhau, cũng nhìn trước nhìn sau kẻo người lớn nghe thấy, sẽ bị mắng. Chúng bị buộc phải nói tiếng Việt ở nhà. Từ đó, một loại ngôn ngữ mới ra đời. Không phải giọng Bắc, giọng Trung hay giọng Nam mà là giọng hải ngoại.
- Cái quần "me" bị bể.
- Call me later ok. I am busy rửa tóc.
Theo thời gian, giọng hải ngoại ngày càng phong phú. Đôi khi nó diễn tả tốt cả những chuyện trừu tượng nữa. Ta có thể thấy rõ khi lắng nghe con trẻ nói chuyện điện thoại với bè bạn.
Bậc cha mẹ lo lắng lắm. Dù công ăn việc làm bề bề cũng phải dành nửa buổi sáng Chủ Nhật ngồi vặt râu bên tay lái, chờ rước con học Việt Ngữ. Nên mở chút xíu ngoặc khâm phục những người có lòng. Trường Việt Ngữ mọc như nấm và hoàn toàn miễn phí. Duy có điều trình độ khác nhau vì thời gian ở Mỹ khác nhau. Em 20 tuổi ngồi chen chúc với em 6 tuổi. Có em 30 tuổi có bằng kỹ sư kỹ xiếc mà không biết vì lý do đếch gì, nói tiếng Việt cứ khậm khà khậm khẹc như chó ngửi rắm, cũng chịu khó cắp sách đi học. Giờ ra chơi cũng tham gia cãi nhau với "đồng liêu" me, you ầm ĩ. Sau này, khi các trường Việt Ngữ lớn mạnh, người ta chia thành các lớp tương đương với tuổi, tình trạng lớn bé chênh lệch trong lớp không còn nữa.
Chỉ tốn có 1 ngày weekend, nghĩa là chẳng lấy đi thời giờ quý báu trong tuần mà trải qua vài chục năm, con cháu chúng ta ở Mỹ đạt được những bước tiến đáng nể. Chúng làm thơ, viết văn xịn hơn trẻ em trong nước. Thật thế, hãy xét theo con số. Đa số trẻ em hải ngoại khoái làm thơ, viết văn hơn các em trong nước. Không phải các em trong nước mất gốc, nhưng vì thời kỳ mở cửa, VN ta có vẻ coi nhẹ văn thơ hơn những gì hứa hẹn hơn, thoải mái hơn như vi tính, thời trang, các bản nhạc tiếng Mỹ... Nhà cầm quyền trong nước chẳng hiểu muốn dành công trạng này hay vì lẽ gì, cho đến năm 2004 định cho các giáo viên trong nuớc sang Mỹ dạy tiếng Việt cho trẻ em hải ngoại, dĩ nhiên dạy miễn phí. Tiền ăn ở, tiền vé máy bay rồi còn bao thứ tiền sách vở, trợ huấn cụ v.v... nhà nước lo hết. Nhà nước tốt quá. Họ định giở trò gì? Tại sao không nghĩ đến tiền lương chết đói của các giáo viên VN, nhất là các trường ở vùng sâu, vùng xa, mặc dù gia đình các em trong nước phải ráng gồng mình đóng học phí mỗi ngày một nhiều vẫn không làm sao nâng cao đời sống giáo chức. Dạy miễn phí cho trẻ em hải ngoại sau vài chục năm bỏ rơi, đúng hơn, sau vài chục năm tịch biên tài sản, đuổi người ra biển?
Cám ơn, chúng tôi tự lo lấy và tự lo tốt.
Các bộ gõ tiếng Việt ra đời như thể một hành động nối giáo cho giặc. Các em viết tiếng Việt tự do không hề sợ cô giáo rầy la lỗi chính tả. Những từ "bùn", "nhìu qié", "iu" ra đời không phải để làm dáng như ta thường nghĩ, mà nó phản ảnh cái vốn nghèo nàn chữ viết của các em hải ngoại. Tiếng mà mình nói mỗi ngày như thế nào, cứ việc viết sao cho phát âm giông giống là đủ. Love là yêu nhưng nếu tôi chưa từng viết chữ yêu bao giờ, theo những gì học được ở trường Việt Ngữ, chữ yêu có lẽ viết là "iu". Cùng lứa tuổi hiểu nhau ngay. Thật đấy, Meta đã xem 2 đứa trẻ 5 tuổi, một Việt một Mỹ chơi bắn bi ngoài sân. Đứa Việt Nam mới chân ướt chân ráo qua Mỹ, chỉ nói tiếng Việt. Thế mà 2 đứa cả Mỹ lẫn Việt đứa nào nói tiếng đứa nấy, vẫn hiểu nhau như thường. Các nhà tâm lý giải thích giùm hiện tượng này.
Vi tính phổ cập vào trường học, tư gia ở VN sau 1996. Các em ở VN tập chat bằng cách xem người hải ngoại chat. Các em học những từ ngữ quái dị ấy để tỏ ra lịch lãm, văn minh. Các em biết thừa "iu" phải viết là yêu, nhưng viết thế nhà quê quá. Giống như kẻ ở vườn lên thành phố, càng biết nhiều càng được thán phục. Em nào dùng những từ ngữ ấy nhuần nhuyễn, chắc chắn có nhiều trái tim rung động, mê say. Các em ngả nghiêng trong giông bão thời thượng.
Rồi đây khi các em lớn lên, lập gia đình, có con cái. Lúc ấy, phong trào theo thời đã tàn lụn. Các em sẽ có dịp hồi tưởng lại cái thời xa xưa khi mà văn hóa Âu Mỹ ồ ạt như thác lũ tràn sang nước ta, để thấy những cái gì không chính thống, nó đến rồi đi theo cơn lũ thời thượng. Chỉ tiếng Việt, cái keo sơn gắn bó trẻ em hải ngoại với một quê hương thần thoại (với các em hải ngoại, VN là cái quê hương chưa hề thấy, nó có vẻ trong thần thoại); cái tinh túy dân tộc mà các em trong nước nỡ xem thường, luôn vĩnh cửu như có người nói: Tiếng Việt còn nước ta còn. Suy ra, tiếng Việt mất, nước ta mất.
Buổi giao thời nào cũng thế. Có những người theo sau tất có người dẫn đầu. Người dẫn đầu không biết gì nhiều hơn quần chúng nhưng bản tính thích dẫn đầu. Nhìn vào họ mỗi ngày ta đều thấy những mới lạ, mới lạ đến độ quái lạ. (Bây giờ, con Meta vẫn ngạc nhiên :"Êu ơi hồi đó ba mặc áo có eo, quần ống loe hả"). Còn nhớ đầu thập niên 1990 VN tung sang Mỹ 1 số phim ảnh và kịch video. Tác phẩm nào cũng ở truồng. Diễn viên nữ nào cũng nần nẫn như lợn cạo. Chẳng phải họ chơi nổi mà vì lúc ấy, các đạo diễn VN tưởng thị trường Mỹ toàn những thứ sexy như thế. Được vài năm họ biết là lầm, họ làm phim đứng đắn ngay. Tuy nhiên họ dẻo mồm chê bai "văn hóa đồi trụy" của các trung tâm hải ngoại, quên bẵng đi một thời họ chủ trương đồi trụy.
Kể ra cái mốt viết theo văn phạm chat cũng chẳng có gì là xấu. Nó chỉ đánh dấu một giai đoạn lịch sử khi mà con người VN lần đầu tiếp xúc với Âu Mỹ sau hàng mấy chục năm bế môn tỏa cảng xây dựng xã hội chủ nghĩa. Như đã nói, cái phong trào nào cũng suy tàn theo năm tháng. Về già ta cũng chẳng mắc cở đâu vì có gì xấu mà mắc cở. Nhưng đã gọi là từng trải (tức là già đấy) ta nhận ra rằng cái gì không bền, ta không nên theo. Mất công vô ích và có vẻ ngố thế nào ấy. Chỉ về già mới biết như thế. Sẽ có một ngày, ca sĩ Henry Chúc cấu cái cà rá gắn trên lông mày vứt đi, vì sợ con cháu cười.
Metamorph
===
Thầy Cúng
VAN TO
Tác giả tên thật Tô Văn Cấp, cư trú tại Westminster, cựu sĩ quan VNCH. Tù CS 10 năm, đi diện HO1, hiện làm ở Ocean View School District. Lần này, tác giả viết về một người bạn tù với ghi chú “Tên những người trong bài đã được đổi, nếu vô tình trùng hợp, xin thứ lỗi.”
Hàng năm, hội Liên Trường thương lính, tổ chức tiệc và văn nghệ gây quỹ cho TPB! Tôi phục các anh trai-thanh, các chị gái-lịch trong ban tổ chức, cảm động nước mắt lưng tròng khi trông thấy anh Chu văn An dìu chị Trưng Vương, chú Võ trường Toản, cậu Trần Lục dắt mợ Lê văn Duyệt, ông Pétrus Ký xách ví cho bà Gia-Long.
Trong đám nam-thanh nữ-tú ấy tôi thấy chị phụ nữ dìu một ông già chống gậy như một bà mẹ dắt đứa con mới chập chững biết đi, cả hai tiến đến bàn của hội Trưng Vương. Như một khúc phim đẹp, sống động và cảm động trên màn ảnh khiến tôi chú ý và đến chào để làm quen, nhưng bất ngờ, tôi bị khựng lại trong giây lát, hình như là.., hình như là... Đúng lúc đó ông già ngước lên và chúng tôi bốn mắt nhìn nhau, tôi ấp úng:
- "Hình như là thầy cun. .. Đông... phải không?"
Tôi kịp chặn lại chữ "cúng" không thích hợp trong lúc này thì Đông mỉm cười:
- "Thầy-cúng chứ ai nữa, còn đây là X.Y., bà xã tôi".
Không hiểu lý do nào mà anh em đội lâm sản trại Z30D đặt cho hắn biệt danh là "thày cúng". Cái tên rất hài hước pha một chút châm biếm, vậy mà khi nghe ai gọi đến cái biệt danh này hắn chỉ nhếch mép cười và người đối diện cũng vui vẻ cười theo. Riêng tôi thì không vui ti nào khi phải về đội lâm sản này và nằm đối diện với hắn. Thái độ bất cần đời, không màng chuyện ăn uống, ngay cả khi được gia đình thăm nuôi, mang đồ tiếp tế vào trại, giao cho bạn tù cất giữ và xử dụng, còn hắn, đủng đỉnh leo lên võng nằm đọc sách báo tiếng Tây tiếng U.
Hằng ngày đội Lâm-Sản đi rừng cưa cây và chuyên chở về nhà bếp làm củi, công việc vất vả nặng nhọc và thường xảy ra tai nạn khi đốn cây, khi vận chuyển, vì thế cần những người có sức khỏe và nhanh nhẹn. Mỗi buổi sáng, người thì tay rìu kẻ tay búa, người khác vác cưa, ra tới rừng là ai cũng vội vàng túa đi khắp ngả để tìm cây cưa xuống, cắt khúc, khuân, vác, xếp thành đống để chất lên xe v.v.. Còn hắn, có cái thân hình của những siêu người mẫu thì đủng đỉnh đòn gánh trên vai với 2 thùng không, tới điểm "tập-kết", thày-cúng đi lấy nước, nấu nước sôi cho anh em uống, trong khi chờ nước sôi, hắn nằm tựa gốc cây đọc truyện tiếng Anh, loại sách mà tôi không ưa (!). Gai mắt không chịu được tôi chất vấn đội trưởng thì được trả lời:
- Anh mới về nên không biết, ảnh là bùa hộ mạng của anh em trong đội đấy.
- Không có tao trong đó.
Tôi càng bực thêm nên sẳng giọng với đội trưởng Tâm-Mèo như vậy, vì là chỗ quen biết trước, nên Tâm không khó chịu với thái độ của tôi mà còn ân cần giải thích:
- "Từ từ rồi anh sẽ hiểu, nhưng trước mắt nếu anh không thích không khí tự do sau khi cưa cây, thì em sẽ sắp xếp để anh ở nhà trực buồng với anh Lê tiến Cẩn, thằng Cốc-Phong nó cứ đòi xin đi rừng hoài mà em chưa tìm được ai thay thế"
Đi rừng có nghĩa là đi lấy củi cho trại, sau khi cưa cây xong, xếp đống để đó ngày hôm sau sẽ chất lên xe chở về trại, tuy vất vả nhưng anh em có dư nhiều thời gian thoải mái, thế là tất cả phóng ra Xuân-Thành, một làng dọc theo 2 bên quốc lộ, như một dãy phố buôn bán, để giải trí, ăn uống, rồi tình quân dân như cá với nước, nhiều mối tình lãng mạng nẩy chồi giữa tù đội lâm sản với gái làng Xuân-Thành
"Không gì quý bằng tự do", tự do trong tù, dù chỉ trong chốc lát cũng bằng cả vạn giờ ngoài đời. Phải thành thật nói rằng đây là thời kỳ vàng son của đội lâm sản, những mối tình của Hóa, của Vấn, Đức, thầy Thức, chú Triển khiến nhiều "cán bộ" nổi cơn ghen, tại sao gái làng chê công an mà đi phải lòng với mấy tên tù già khú đế, vì thế chúng báo cáo lên trại trưởng ra lệnh cấm, nhưng giống như cơ thể một ông già bệnh và hoạn nên "trên bảo dưới không nghe", cán bộ quản giáo đội lâm sản giả điếc lệnh trên, vẫn làm ngơ cho anh em tự do "kéo cưa lừa xẻ" sau khi cưa củi xong.
Mấy đời bánh đúc có xương, mấy đời quản giáo mà thương Ông Tù, cái sự làm ngơ của cai tù chẳng phải tự nhiên trên Trời rơi xuống, hủ-hóa quản giáo để đổi lấy sự "tự do" cho anh em là có bàn tay của "thày-cúng" nhúng vào. Thầy-Cúng không nói ra nên không ai biết cái giá mà anh phải trả cho "tự do" của anh em là bao nhiêu "bác", nhưng đa kim ngân, phá luật lệ lúc nào cũng đúng.
Không thích 4 đổ tường và vì lý do sức khỏe, tôi đổi nhiệm vụ cho Cốc-Phong để hắn đi rừng, có nghĩa là tôi không hàm ơn thầy-cúng, nhưng khi đã tỏ rõ nguồn cơn, tôi không ghét anh nữa mà nể phục cách cư xử của anh. Cải tạo viên thông thường vo tròn cho cuộc sống riêng tư, không thiếu những trường hợp vì đói mà "hại bạn", bán linh hồn cho quỷ sứ như những tên Cg-què, Ng-lùn, Qu-lé v. v.. nhưng trường hợp như thầy-cúng rất hiếm, nên hai chữ Thầy Cúng tôi phải viết hoa khi nghĩ về anh.
Thầy Cúng tên thật là Võ tường Đ.., anh trở về từ con tầu Việt-Nam Thương-Tín và rồi được “đảng khoan hồng nhân đạo” đội cho cái mão "CIA"! Bị ở tù chung với những dạng "ác ôn" mũ đỏ Song-Kiếm, mũ nâu Cọp Ba-Móng, mũ xanh Trâu-Điên, dù cho cái ngành anh phục vụ hiền như ma-sơ. Tôi hỏi tại sao lại quay về, anh tâm sự:
- Lúc hốt hoảng vội vàng quên tất cả, khi tỉnh lại mới biết không thể sống nếu thiếu vợ con, phải quay về vì thương vợ nhớ con, bất chấp hậu quả.
- Bây giờ có hối hận không?
- Không, cái giá phải trả cho sự tự nguyện hồi hương tuy khá đắt, nhưng bù lại thỉnh thoảng vẫn được ngắm Bà-Xã khi đến thăm.
Nghe Thầy Cúng lãng mạn tâm sự, tôi kín đáo cười thầm, không biết bà ấy "ra-răng" mà thằng cha này si thế? Thông thường thì trồng cây với đào chớ nào mấy ai si một khi ván đã đóng thuyền.
Chuyện Thầy Cúng tôi đã quên khi ra tù, mỗi người mỗi nơi, phiêu bạt giang hồ, người đi đường bộ, kẻ đi ghe, bạn bè bảo lãnh thì Ô-đi-pi, tù VC thì đã có HO, ai được ai thua nào hay biết! Nhưng quả cầu tròn, rất bất ngờ tôi gặp lại Thầy Cúng trong buổi tiệc của hội Liên Trường tổ chức gây quỹ giúp anh em thương phế binh QLViệt NamCH tại nhà hàng Xi-Phút-Ba-Lát.
Gặp lại nhau trong tiệc Liên Trường gây quĩ cho Thương Phế Binh VNCH, sau khi được “Thầy Cúng” giới thiệu, tôi gật đầu chào chị XY rồi định hỏi lý do tại sao Đ. phải chống ba-toong nhưng thấy anh vui với cái hỗn danh bạn tù gán cho nên tôi cũng đùa theo:
- Ông học trường Trưng Vương hồi nào mà ngồi đây?
- "Rể TV thôi, bà xã tôi mới là con cháu Hai-Bà.
Nhớ lại trong thời gian còn ở đội Lâm-Sản, đội có ba người chơi đàn khá hay, chú Hùng "trường can" chuyên đàn cờ-lát-sic, chú Vấn-Vẩu có ngón tay hay không chịu được, làm mê lòng mấy em bộ đội đứng gác ngoài song sắt, thay vì cấm nhạc vàng theo lệnh trên thì mấy em này cứ bò đến chỗ chú Vấn nằm đòi chú gẩy cho nghe:
- Chú cho cháu nghe bản Son-Đố-Mì đi.
- Cho cháu bản Xoong-Nấu-Mì, hay Ối-Mì-Ly thì hết ý v.v..
Còn Chú Đông thường ôm cây đàn ghi-ta do vợ gởi vào "chuyên trị" nhạc Tây, gẩy từng tưng nghêu ngao gọi em Ờ-Lin, nhạc ta lúc nào cũng chỉ có một lời ca:
"Da em trắng, anh không cần ánh sáng.
Tóc em mềm anh chẳng thiết mùa xuân,
Trên cuộc đời sẽ chẳng có giai nhân,
Vì anh gọi tên em là "X-Y"
Thời còn ở tù, hỏi "X-Y" là ai vậy thì Đ.. chỉ mỉm cười. Hôm nay được hân hạnh gặp chị X-Y tôi mới hiểu lý do tại sao Đ.. đã từ bỏ cuộc sống an toàn ở nước ngoài để nhất quyết bơi theo tàu Việt Nam Thương Tín quay trở về cùng gia đình rồi chịu cảnh tù tội! Cái giá anh phải trả với 10 năm tù khá đắt, nhưng bù lại, những lúc bệnh (mà không hoạn) như thế này mà còn dìu nhau đi tham dự buổi gây quỹ giúp TPB thì thật là quý hóa.
Qua câu chuyện trao đổi, tôi được biết anh chị cùng các cháu sang HK theo diện HO, cũng chịu cảnh "trâu chậm uống nước đục", vất vả lúc ban đầu, nay khi các con đã tiểu đăng khoa, đại đăng khoa thì tai họa đến với anh! Đang lái xe trên xa lộ 22 thì anh bị "xì-trốc", may mắm xe lại ủi vô lề phải và anh được các con đưa đi cấp cứu kịp thời, bảo toàn mạng sống, nhưng một bên người trở thành "quý liệt vị". Đó là lý do chị dìu anh đi, chính chị là bà thày đang "điều trị" cho chân tay của anh được hồi phục dần.
- Anh chị ở vùng nào, có xa đây không?"
- Chúng tôi ở vùng Lawndale, cách đây chừng 35 miles, không xa lắm đâu, tuần 3 lần tôi chở nhà tôi đến trung tâm Z.. ở Westminster để chạy "tê-ra-bi", sau đó cùng đến "sở làm" ở Long-Beach
Thấy tôi có vẻ ngạc nhiên, Đông lại mỉm cười, lúc nào cũng cười:
- Chỉ có X-Y làm thôi, còn tôi, sau bao công lao học hành thi cử vất vả lấy được cái mảnh bằng "c.c M.Đ", hành nghề chưa được lâu thì bị Trời hành, đành đổi sang nghề làm-biếng, ngồi rung đùi trả lời điện thoại "búch khách" cho tiệm.
- Tiẹm có khá không chị?
- Đủ dùng anh ạ, từ ngày anh Đ.. bị xì-trốc thì hơi vất vả thêm một chút, những lúc chở nhà tôi đi chạy điện thì lại phải nhờ mấy cô thợ trông tiệm dùm, may là các em ấy rất dễ thương và biết điều, nếu như gặp phải các cô Nails khác, lúc nào cũng nghĩ ta giỏi, đòi làm cái đinh thì tôi dẹp tiệm lâu rồi.
Ngày xưa tôi cũng ở Lawndale, mỗi lần phải đi dự tiệc cưới ở Bolsa là ngại vô cùng, nhất buổi tối lái xe trên xa-lộ, nhìn một lane hóa hai, không nhìn rõ chữ trên các bảng hướng dẫn, thấy chữ FW 22.E thì không còn kịp nữa đành ôm 405.S rồi Exit vòng vòng vài đường thế là mất hướng, chạy tuốt ra bờ biển thay vì nhà hàng Seafood-world! Đi lạc là "chuyện thường ngày ở huyện", nghĩ vậy tôi nói với Đông:
- Ông bà chịu khó thật, xa xôi, đêm tối lại thêm vấn đề đi đứng khó khăn mà cũng lặn lội đi tham dự buổi tiệc gây quỹ của hội Liên Trường, trong khi tôi ở sát bên, lại có vé free, ăn chùa mà vẫn ngại ngùng. Hay là Đông có bà xã đẹp và đảm đang muốn đem trình diện bà con làng nước?"
Đông mỉm cười, nháy mắt ra hiệu với tôi với ngụ ý đừng lật tẩy nhau mà làm gì, một trăm anh đần ông có "nhà-tôi" đẹp và khang trang thì 101 anh muốn la làng rằng ta có cung phu-thê phù trợ, có sao mèo mù vớ cá rán. Nghe tôi nói vậy chị X-Y vội nói:
- Không phải thế đâu anh ơi, ông Đông nhà tôi là vua lười trên hết các vua lười, không thích đi ra ngoài, cả những lúc tình tứ dễ thương nhất là đẩy xe theo vợ đi sốp-binh mà mặt cũng xị xuống. Nhưng từ ngày nhà em bị xì-tốc thì đổi khác, hễ nghe tin tức có nơi nào tồ chức gây quỹ giúp TPB là ảnh đòi đi cho bằng được, ngày xưa anh ấy ở ngành không "đánh đấm" nên rất xa lạ với TPB".
Tuy chị X-Y không nói hết câu nhưng tôi hiểu ý chị muốn nói tiếp "Đoạn trường ai có qua cầu mới hay" hoặc cải lương một tí thì: "Ai có cô đơn dọc đường gió bụi thì mới thèm cái hạnh phúc của đôi uyên ương trong túp lều carton bên vệ. ứ ứ ừ .. đường".
Quả đúng là như thế, nếu anh chưa một lần bị mèo bỏ, bồ đá thì chưa biết cái đau của việc bị bò đá thế nào! Đau như bị bò đá! Anh chưa một lần chống nạng thì không hiểu được cái buồn của anh chàng đu mình trên đôi nạng gỗ! Cái khổ của người TPB. Thương binh đã buồn! Còn thêm chi chữ Phế! Hỡi Thượng Đế ơi!
Không ai muốn thế, nhưng nếu cùng là phế thì hai hoàn cảnh vẫn khác nhau xa, bên ni anh Phế được hưởng mọi săn sóc y tế, anh Phế bên quê nhà thì.. ôi thôi! Người thông minh đọc được ý nghĩ người khác, thấy mặt tôi nghệt ra chị X-Y nói tiếp:
- "Em thường nói với nhà em rằng anh còn may mắn hơn đồng đội TPB của anh ở Việt Nam nhiều lắm. Chúng ta còn mắc nợ họ, nên anh phải cố gắng lên, tập đi đứng, không dùng ô-tô-ma-lác wheel-chair, cần thiết lắm thì mới dùng đến lắc tay, người TPB/Việt Nam không có cả đôi nạng gỗ mà chống chứ đùng nói xe lắc tay. Đó là lý do tụi em có mặt ở đây tối nay, mà không chỉ ở đây, tối nay, mà bất cứ nơi nào khi nào có những buổi tổ chức gây quỹ giúp TPB/VNCH bên quê nhà sẽ đều có mặt của chúng em."
Nhớ lại hồi tôi mới13 tuổi, bà cụ tôi muốn có con dâu về xay lúa giã gạo, nấu cám heo, nuôi lợn và bồng... con trai cụ nên cụ cứ khen chị Thị-Nở hàng xóm là tuy xấu người nhưng đẹp nết, "cái nết đánh chết cái đẹp"! Tuy còn bé, ham chơi, thẩy lỗ đáo nhưng tôi cũng biết tính toán, em Nở mà đánh cho chết cái đẹp thì chỉ còn có nước khóc... hu hu. Tại sao "bu" không nói "cái nết làm tăng cái đẹp?
Cho tới 50 năm sau, hôm nay tôi mới lại có dịp nhớ lại câu đó, cái nết không làm chết cái đẹp mà nó làm tăng giá trị và tư cách của người đẹp. Đó là trường hợp của chị Đông, nói và làm những điều tử tế mà bấy lâu chỉ nghe người ta nói nhiều hơn là làm.
Đông ơi! Bạn là người hạnh phúc. Chị Đông ơi, cái nết càng làm chị đẹp thêm. Và kính thưa quý cụ, không nên nói "cái nết đánh chết cái đẹp" nữa vì bất cứ một người phụ nữ nào cũng có cái đẹp riêng, mỗi người đàn bà là một dung nhan, không có người đàn bà xấu, chỉ có người phụ nữ không biết làm đẹp bằng nụ cười, bằng nghĩa cử như bà xã của Thầy-Cúng Võ tường Đông".
Các đại bàng, tiểu bàng đang dần dần trở thành những người thiên cổ, "còn ai còn" cũng mỏi mòn đang trở thành "quý liệt vị"! Bởi đâu vì đâu? Không cần biết, chưa làm được đại sự thì bàn giao cho con cháu, còn tiểu sự thì nên làm. Phu nhân các đại bàng đã đẹp càng đẹp thêm nếu như nói nhỏ vào lỗ tai các vị lời âu yếm sau đây: "Chúng ta hãy nói (và làm gì để) cám ơn đến đồng đội Thương Phế Binh đang quằn quại tại quê nha."
VAN TO
VAN TO
Tác giả tên thật Tô Văn Cấp, cư trú tại Westminster, cựu sĩ quan VNCH. Tù CS 10 năm, đi diện HO1, hiện làm ở Ocean View School District. Lần này, tác giả viết về một người bạn tù với ghi chú “Tên những người trong bài đã được đổi, nếu vô tình trùng hợp, xin thứ lỗi.”
Hàng năm, hội Liên Trường thương lính, tổ chức tiệc và văn nghệ gây quỹ cho TPB! Tôi phục các anh trai-thanh, các chị gái-lịch trong ban tổ chức, cảm động nước mắt lưng tròng khi trông thấy anh Chu văn An dìu chị Trưng Vương, chú Võ trường Toản, cậu Trần Lục dắt mợ Lê văn Duyệt, ông Pétrus Ký xách ví cho bà Gia-Long.
Trong đám nam-thanh nữ-tú ấy tôi thấy chị phụ nữ dìu một ông già chống gậy như một bà mẹ dắt đứa con mới chập chững biết đi, cả hai tiến đến bàn của hội Trưng Vương. Như một khúc phim đẹp, sống động và cảm động trên màn ảnh khiến tôi chú ý và đến chào để làm quen, nhưng bất ngờ, tôi bị khựng lại trong giây lát, hình như là.., hình như là... Đúng lúc đó ông già ngước lên và chúng tôi bốn mắt nhìn nhau, tôi ấp úng:
- "Hình như là thầy cun. .. Đông... phải không?"
Tôi kịp chặn lại chữ "cúng" không thích hợp trong lúc này thì Đông mỉm cười:
- "Thầy-cúng chứ ai nữa, còn đây là X.Y., bà xã tôi".
Không hiểu lý do nào mà anh em đội lâm sản trại Z30D đặt cho hắn biệt danh là "thày cúng". Cái tên rất hài hước pha một chút châm biếm, vậy mà khi nghe ai gọi đến cái biệt danh này hắn chỉ nhếch mép cười và người đối diện cũng vui vẻ cười theo. Riêng tôi thì không vui ti nào khi phải về đội lâm sản này và nằm đối diện với hắn. Thái độ bất cần đời, không màng chuyện ăn uống, ngay cả khi được gia đình thăm nuôi, mang đồ tiếp tế vào trại, giao cho bạn tù cất giữ và xử dụng, còn hắn, đủng đỉnh leo lên võng nằm đọc sách báo tiếng Tây tiếng U.
Hằng ngày đội Lâm-Sản đi rừng cưa cây và chuyên chở về nhà bếp làm củi, công việc vất vả nặng nhọc và thường xảy ra tai nạn khi đốn cây, khi vận chuyển, vì thế cần những người có sức khỏe và nhanh nhẹn. Mỗi buổi sáng, người thì tay rìu kẻ tay búa, người khác vác cưa, ra tới rừng là ai cũng vội vàng túa đi khắp ngả để tìm cây cưa xuống, cắt khúc, khuân, vác, xếp thành đống để chất lên xe v.v.. Còn hắn, có cái thân hình của những siêu người mẫu thì đủng đỉnh đòn gánh trên vai với 2 thùng không, tới điểm "tập-kết", thày-cúng đi lấy nước, nấu nước sôi cho anh em uống, trong khi chờ nước sôi, hắn nằm tựa gốc cây đọc truyện tiếng Anh, loại sách mà tôi không ưa (!). Gai mắt không chịu được tôi chất vấn đội trưởng thì được trả lời:
- Anh mới về nên không biết, ảnh là bùa hộ mạng của anh em trong đội đấy.
- Không có tao trong đó.
Tôi càng bực thêm nên sẳng giọng với đội trưởng Tâm-Mèo như vậy, vì là chỗ quen biết trước, nên Tâm không khó chịu với thái độ của tôi mà còn ân cần giải thích:
- "Từ từ rồi anh sẽ hiểu, nhưng trước mắt nếu anh không thích không khí tự do sau khi cưa cây, thì em sẽ sắp xếp để anh ở nhà trực buồng với anh Lê tiến Cẩn, thằng Cốc-Phong nó cứ đòi xin đi rừng hoài mà em chưa tìm được ai thay thế"
Đi rừng có nghĩa là đi lấy củi cho trại, sau khi cưa cây xong, xếp đống để đó ngày hôm sau sẽ chất lên xe chở về trại, tuy vất vả nhưng anh em có dư nhiều thời gian thoải mái, thế là tất cả phóng ra Xuân-Thành, một làng dọc theo 2 bên quốc lộ, như một dãy phố buôn bán, để giải trí, ăn uống, rồi tình quân dân như cá với nước, nhiều mối tình lãng mạng nẩy chồi giữa tù đội lâm sản với gái làng Xuân-Thành
"Không gì quý bằng tự do", tự do trong tù, dù chỉ trong chốc lát cũng bằng cả vạn giờ ngoài đời. Phải thành thật nói rằng đây là thời kỳ vàng son của đội lâm sản, những mối tình của Hóa, của Vấn, Đức, thầy Thức, chú Triển khiến nhiều "cán bộ" nổi cơn ghen, tại sao gái làng chê công an mà đi phải lòng với mấy tên tù già khú đế, vì thế chúng báo cáo lên trại trưởng ra lệnh cấm, nhưng giống như cơ thể một ông già bệnh và hoạn nên "trên bảo dưới không nghe", cán bộ quản giáo đội lâm sản giả điếc lệnh trên, vẫn làm ngơ cho anh em tự do "kéo cưa lừa xẻ" sau khi cưa củi xong.
Mấy đời bánh đúc có xương, mấy đời quản giáo mà thương Ông Tù, cái sự làm ngơ của cai tù chẳng phải tự nhiên trên Trời rơi xuống, hủ-hóa quản giáo để đổi lấy sự "tự do" cho anh em là có bàn tay của "thày-cúng" nhúng vào. Thầy-Cúng không nói ra nên không ai biết cái giá mà anh phải trả cho "tự do" của anh em là bao nhiêu "bác", nhưng đa kim ngân, phá luật lệ lúc nào cũng đúng.
Không thích 4 đổ tường và vì lý do sức khỏe, tôi đổi nhiệm vụ cho Cốc-Phong để hắn đi rừng, có nghĩa là tôi không hàm ơn thầy-cúng, nhưng khi đã tỏ rõ nguồn cơn, tôi không ghét anh nữa mà nể phục cách cư xử của anh. Cải tạo viên thông thường vo tròn cho cuộc sống riêng tư, không thiếu những trường hợp vì đói mà "hại bạn", bán linh hồn cho quỷ sứ như những tên Cg-què, Ng-lùn, Qu-lé v. v.. nhưng trường hợp như thầy-cúng rất hiếm, nên hai chữ Thầy Cúng tôi phải viết hoa khi nghĩ về anh.
Thầy Cúng tên thật là Võ tường Đ.., anh trở về từ con tầu Việt-Nam Thương-Tín và rồi được “đảng khoan hồng nhân đạo” đội cho cái mão "CIA"! Bị ở tù chung với những dạng "ác ôn" mũ đỏ Song-Kiếm, mũ nâu Cọp Ba-Móng, mũ xanh Trâu-Điên, dù cho cái ngành anh phục vụ hiền như ma-sơ. Tôi hỏi tại sao lại quay về, anh tâm sự:
- Lúc hốt hoảng vội vàng quên tất cả, khi tỉnh lại mới biết không thể sống nếu thiếu vợ con, phải quay về vì thương vợ nhớ con, bất chấp hậu quả.
- Bây giờ có hối hận không?
- Không, cái giá phải trả cho sự tự nguyện hồi hương tuy khá đắt, nhưng bù lại thỉnh thoảng vẫn được ngắm Bà-Xã khi đến thăm.
Nghe Thầy Cúng lãng mạn tâm sự, tôi kín đáo cười thầm, không biết bà ấy "ra-răng" mà thằng cha này si thế? Thông thường thì trồng cây với đào chớ nào mấy ai si một khi ván đã đóng thuyền.
Chuyện Thầy Cúng tôi đã quên khi ra tù, mỗi người mỗi nơi, phiêu bạt giang hồ, người đi đường bộ, kẻ đi ghe, bạn bè bảo lãnh thì Ô-đi-pi, tù VC thì đã có HO, ai được ai thua nào hay biết! Nhưng quả cầu tròn, rất bất ngờ tôi gặp lại Thầy Cúng trong buổi tiệc của hội Liên Trường tổ chức gây quỹ giúp anh em thương phế binh QLViệt NamCH tại nhà hàng Xi-Phút-Ba-Lát.
Gặp lại nhau trong tiệc Liên Trường gây quĩ cho Thương Phế Binh VNCH, sau khi được “Thầy Cúng” giới thiệu, tôi gật đầu chào chị XY rồi định hỏi lý do tại sao Đ. phải chống ba-toong nhưng thấy anh vui với cái hỗn danh bạn tù gán cho nên tôi cũng đùa theo:
- Ông học trường Trưng Vương hồi nào mà ngồi đây?
- "Rể TV thôi, bà xã tôi mới là con cháu Hai-Bà.
Nhớ lại trong thời gian còn ở đội Lâm-Sản, đội có ba người chơi đàn khá hay, chú Hùng "trường can" chuyên đàn cờ-lát-sic, chú Vấn-Vẩu có ngón tay hay không chịu được, làm mê lòng mấy em bộ đội đứng gác ngoài song sắt, thay vì cấm nhạc vàng theo lệnh trên thì mấy em này cứ bò đến chỗ chú Vấn nằm đòi chú gẩy cho nghe:
- Chú cho cháu nghe bản Son-Đố-Mì đi.
- Cho cháu bản Xoong-Nấu-Mì, hay Ối-Mì-Ly thì hết ý v.v..
Còn Chú Đông thường ôm cây đàn ghi-ta do vợ gởi vào "chuyên trị" nhạc Tây, gẩy từng tưng nghêu ngao gọi em Ờ-Lin, nhạc ta lúc nào cũng chỉ có một lời ca:
"Da em trắng, anh không cần ánh sáng.
Tóc em mềm anh chẳng thiết mùa xuân,
Trên cuộc đời sẽ chẳng có giai nhân,
Vì anh gọi tên em là "X-Y"
Thời còn ở tù, hỏi "X-Y" là ai vậy thì Đ.. chỉ mỉm cười. Hôm nay được hân hạnh gặp chị X-Y tôi mới hiểu lý do tại sao Đ.. đã từ bỏ cuộc sống an toàn ở nước ngoài để nhất quyết bơi theo tàu Việt Nam Thương Tín quay trở về cùng gia đình rồi chịu cảnh tù tội! Cái giá anh phải trả với 10 năm tù khá đắt, nhưng bù lại, những lúc bệnh (mà không hoạn) như thế này mà còn dìu nhau đi tham dự buổi gây quỹ giúp TPB thì thật là quý hóa.
Qua câu chuyện trao đổi, tôi được biết anh chị cùng các cháu sang HK theo diện HO, cũng chịu cảnh "trâu chậm uống nước đục", vất vả lúc ban đầu, nay khi các con đã tiểu đăng khoa, đại đăng khoa thì tai họa đến với anh! Đang lái xe trên xa lộ 22 thì anh bị "xì-trốc", may mắm xe lại ủi vô lề phải và anh được các con đưa đi cấp cứu kịp thời, bảo toàn mạng sống, nhưng một bên người trở thành "quý liệt vị". Đó là lý do chị dìu anh đi, chính chị là bà thày đang "điều trị" cho chân tay của anh được hồi phục dần.
- Anh chị ở vùng nào, có xa đây không?"
- Chúng tôi ở vùng Lawndale, cách đây chừng 35 miles, không xa lắm đâu, tuần 3 lần tôi chở nhà tôi đến trung tâm Z.. ở Westminster để chạy "tê-ra-bi", sau đó cùng đến "sở làm" ở Long-Beach
Thấy tôi có vẻ ngạc nhiên, Đông lại mỉm cười, lúc nào cũng cười:
- Chỉ có X-Y làm thôi, còn tôi, sau bao công lao học hành thi cử vất vả lấy được cái mảnh bằng "c.c M.Đ", hành nghề chưa được lâu thì bị Trời hành, đành đổi sang nghề làm-biếng, ngồi rung đùi trả lời điện thoại "búch khách" cho tiệm.
- Tiẹm có khá không chị?
- Đủ dùng anh ạ, từ ngày anh Đ.. bị xì-trốc thì hơi vất vả thêm một chút, những lúc chở nhà tôi đi chạy điện thì lại phải nhờ mấy cô thợ trông tiệm dùm, may là các em ấy rất dễ thương và biết điều, nếu như gặp phải các cô Nails khác, lúc nào cũng nghĩ ta giỏi, đòi làm cái đinh thì tôi dẹp tiệm lâu rồi.
Ngày xưa tôi cũng ở Lawndale, mỗi lần phải đi dự tiệc cưới ở Bolsa là ngại vô cùng, nhất buổi tối lái xe trên xa-lộ, nhìn một lane hóa hai, không nhìn rõ chữ trên các bảng hướng dẫn, thấy chữ FW 22.E thì không còn kịp nữa đành ôm 405.S rồi Exit vòng vòng vài đường thế là mất hướng, chạy tuốt ra bờ biển thay vì nhà hàng Seafood-world! Đi lạc là "chuyện thường ngày ở huyện", nghĩ vậy tôi nói với Đông:
- Ông bà chịu khó thật, xa xôi, đêm tối lại thêm vấn đề đi đứng khó khăn mà cũng lặn lội đi tham dự buổi tiệc gây quỹ của hội Liên Trường, trong khi tôi ở sát bên, lại có vé free, ăn chùa mà vẫn ngại ngùng. Hay là Đông có bà xã đẹp và đảm đang muốn đem trình diện bà con làng nước?"
Đông mỉm cười, nháy mắt ra hiệu với tôi với ngụ ý đừng lật tẩy nhau mà làm gì, một trăm anh đần ông có "nhà-tôi" đẹp và khang trang thì 101 anh muốn la làng rằng ta có cung phu-thê phù trợ, có sao mèo mù vớ cá rán. Nghe tôi nói vậy chị X-Y vội nói:
- Không phải thế đâu anh ơi, ông Đông nhà tôi là vua lười trên hết các vua lười, không thích đi ra ngoài, cả những lúc tình tứ dễ thương nhất là đẩy xe theo vợ đi sốp-binh mà mặt cũng xị xuống. Nhưng từ ngày nhà em bị xì-tốc thì đổi khác, hễ nghe tin tức có nơi nào tồ chức gây quỹ giúp TPB là ảnh đòi đi cho bằng được, ngày xưa anh ấy ở ngành không "đánh đấm" nên rất xa lạ với TPB".
Tuy chị X-Y không nói hết câu nhưng tôi hiểu ý chị muốn nói tiếp "Đoạn trường ai có qua cầu mới hay" hoặc cải lương một tí thì: "Ai có cô đơn dọc đường gió bụi thì mới thèm cái hạnh phúc của đôi uyên ương trong túp lều carton bên vệ. ứ ứ ừ .. đường".
Quả đúng là như thế, nếu anh chưa một lần bị mèo bỏ, bồ đá thì chưa biết cái đau của việc bị bò đá thế nào! Đau như bị bò đá! Anh chưa một lần chống nạng thì không hiểu được cái buồn của anh chàng đu mình trên đôi nạng gỗ! Cái khổ của người TPB. Thương binh đã buồn! Còn thêm chi chữ Phế! Hỡi Thượng Đế ơi!
Không ai muốn thế, nhưng nếu cùng là phế thì hai hoàn cảnh vẫn khác nhau xa, bên ni anh Phế được hưởng mọi săn sóc y tế, anh Phế bên quê nhà thì.. ôi thôi! Người thông minh đọc được ý nghĩ người khác, thấy mặt tôi nghệt ra chị X-Y nói tiếp:
- "Em thường nói với nhà em rằng anh còn may mắn hơn đồng đội TPB của anh ở Việt Nam nhiều lắm. Chúng ta còn mắc nợ họ, nên anh phải cố gắng lên, tập đi đứng, không dùng ô-tô-ma-lác wheel-chair, cần thiết lắm thì mới dùng đến lắc tay, người TPB/Việt Nam không có cả đôi nạng gỗ mà chống chứ đùng nói xe lắc tay. Đó là lý do tụi em có mặt ở đây tối nay, mà không chỉ ở đây, tối nay, mà bất cứ nơi nào khi nào có những buổi tổ chức gây quỹ giúp TPB/VNCH bên quê nhà sẽ đều có mặt của chúng em."
Nhớ lại hồi tôi mới13 tuổi, bà cụ tôi muốn có con dâu về xay lúa giã gạo, nấu cám heo, nuôi lợn và bồng... con trai cụ nên cụ cứ khen chị Thị-Nở hàng xóm là tuy xấu người nhưng đẹp nết, "cái nết đánh chết cái đẹp"! Tuy còn bé, ham chơi, thẩy lỗ đáo nhưng tôi cũng biết tính toán, em Nở mà đánh cho chết cái đẹp thì chỉ còn có nước khóc... hu hu. Tại sao "bu" không nói "cái nết làm tăng cái đẹp?
Cho tới 50 năm sau, hôm nay tôi mới lại có dịp nhớ lại câu đó, cái nết không làm chết cái đẹp mà nó làm tăng giá trị và tư cách của người đẹp. Đó là trường hợp của chị Đông, nói và làm những điều tử tế mà bấy lâu chỉ nghe người ta nói nhiều hơn là làm.
Đông ơi! Bạn là người hạnh phúc. Chị Đông ơi, cái nết càng làm chị đẹp thêm. Và kính thưa quý cụ, không nên nói "cái nết đánh chết cái đẹp" nữa vì bất cứ một người phụ nữ nào cũng có cái đẹp riêng, mỗi người đàn bà là một dung nhan, không có người đàn bà xấu, chỉ có người phụ nữ không biết làm đẹp bằng nụ cười, bằng nghĩa cử như bà xã của Thầy-Cúng Võ tường Đông".
Các đại bàng, tiểu bàng đang dần dần trở thành những người thiên cổ, "còn ai còn" cũng mỏi mòn đang trở thành "quý liệt vị"! Bởi đâu vì đâu? Không cần biết, chưa làm được đại sự thì bàn giao cho con cháu, còn tiểu sự thì nên làm. Phu nhân các đại bàng đã đẹp càng đẹp thêm nếu như nói nhỏ vào lỗ tai các vị lời âu yếm sau đây: "Chúng ta hãy nói (và làm gì để) cám ơn đến đồng đội Thương Phế Binh đang quằn quại tại quê nha."
VAN TO
8.3 Đọc những câu thơ yêu vợ của Việt Hải
Lang thang trên internet bất ngờ đọc thấy những câu thơ yêu vợ của Đặng Ca Việt (*) (bút danh của Nguyễn Việt Hải, hoạ sĩ trình bày của báo Tuổi Trẻ, bị tai nạn ô tô mất năm 2003) chợt bần thần mất mấy ngày. Thơ viết cho người yêu thì nhiều, thế nhưng thơ yêu cho vợ như Việt Hải thì rất hiếm
Lão vua Ấn Độ Jahan thế kỷ 17 yêu vợ đến mức bỏ ra cả 30 năm để làm ngôi đền Taj Mahal tráng lệ cho người vợ có với mình đến 14 mặt con yên nghỉ, kể cũng là vô địch thiên hạ yêu vợ mấy ngàn năm; hoặc như Đập cổ kính ra tìm lấy bóng/ Xếp tàn y lại để dành hơi của Tự Đức cũng thuộc loại xưa nay hiếm. Thế nhưng yêu vợ đến độ Dép thơm em để lại nhà/ Đem săm soi nhớ ngọc ngà bàn chân như Việt Hải thì hình như Tự Đức cũng phải gọi bằng sư phụ!
Cũng giống như bao nhiêu gã đàn ông khác, những ngày đầu chung sống là những ngày ngập tràn hạnh phúc, các câu thơ kiểu như: Tận cùng hương vị thịt da/ Thương yêu làm đất trời hoà vào nhau (Trần Mạnh Hảo), Thả xuống con thuyền ngàn vạn những vì sao (Phan Hoàng Phương) hoặc như Việt Hải Ta đi vào lòng nhau/ Những đêm chăn giường thức... cũng nhiều. Thế nhưng giữ cái tình yêu ấy bền chặt, không cũ mòn, lúc nào cũng cồn cào nhớ mong như Việt Hải không phải là dễ. Vợ đi vắng anh viết Ngoài hiên quỳnh nở, trăng đơn/ Làn da trắng ấy như còn trên hoa/ Trăng xoay về góc trời xa/ Anh xoay lòng mãi vẫn là góc em.
Yêu vợ, nhớ vợ mỗi lúc đi xa, anh làm thơ và gọi những bài thơ ấy là Vọng thê một, hai và ba. Trông chồng hoá đá còn được chứ ai lại trông vợ mà hoá đá! Một xã hội vốn được xây dựng trên nền tảng tạo niềm vui cho đàn ông như xã hội hôm nay thì một anh chàng nào đó “vọng thê” xem ra không thích hợp lắm. Thế mà Việt Hải yêu vợ và sung sướng công khai điều ấy bất cứ chỗ nào và trương nó lên trả cả những cái tít: Thư cho vợ, Vợ ta, Thơ của vợ, Dặn vợ... Hoặc như: Thế kỷ hai mươi có gã điếc/ Mần thơ bút hiệu Đặng Ca Việt/ Lếu láo, ngông nghênh a, bờ, cờ/ Ba mươi được làm “ông Thu Nguyệt”. Người ta lấy tên theo chồng chứ ai lại lấy tên theo vợ một cách đầy sung sướng như anh chàng này đâu!
Buồn
Buồn như tiền kiếp đoạ đày
Buồn như hoa rụng cuối ngày,
tàn đông.
Buồn như tiếng của thạch sùng
Buồn như một phút tưng bừng
vừa qua.
Buồn như em chẳng yêu ta
Buồn như mình sắp rời xa cuộc đời.
Việt Hải
Yêu lắm thì ghen nhiều, dĩ nhiên là vậy rồi, vợ mình xinh đẹp thế (cho dù là chỉ trong mắt mình thôi chứ không phải là hoa hậu đã được công chúng thừa nhận) thì người ta ghẹo (có khi do tưởng cũng nên) cũng là điều dễ hiểu: Tôi giật mình nhìn vào mắt những thằng đàn ông háo đủ thứ muốn nuốt chửng em; nhiều thằng đàn ông ghen đến khổ, thế nhưng với Việt Hải thì ta hãy nghe Việt Hải ghen: Vợ hiền như chiếc lá me/ Lỡ rơi không tiếng vọng về thì sao?/ Phồn hoa thì lắm lối vào/ Đường ra chỉ mở khi nào hương phai. Mùa theo mùa, ngày qua ngày. Vọng thê là bệnh của thời văn minh. Trời đất, hình như anh hình dung vợ mình sẽ bị bắt cóc hoặc làm một cuộc “24 giờ trong đời người đàn bà” mà anh chỉ có thể gặp lại khi nào hương phai!
Thời mà ngồi bên chồng bên vợ người ta vẫn có thể nói chuyện với người tình qua những dòng tin nhắn thì yêu vợ như Việt Hải xem ra sẽ khiến lắm người vợ thèm: Dăm bận ta vờ khen tặng vợ/ Em rất ngoan và em vẫn xinh/ Nhói lòng ta biết tại ta tất/ Hoa thơm ai đã cắm vô sình. Hoặc “Thôi thì. Em là hoa. Ta làm cỏ vậy.../ Chiều ấy ngồi bên đời ta hát/ Một gã tình si bệ rạc/ Mong làm êm bước em đi.
Ngày 8.3 bất chợt bắt gặp những câu thơ yêu vợ của Việt Hải và muốn thật nhiều người biết về nó. Hải là hoạ sĩ, để đời là những tác phẩm mỹ thuật, anh đồng thời có viết văn làm thơ, thế nhưng hình như chính những câu thơ yêu vợ này mới khiến anh bất tử, trăm năm nữa những ông chồng cũng sẽ giật mình khi biết có người yêu vợ đến vậy. Thế nhưng sẽ không có ai giật mình hết nếu không có bài Grand Prix dưới đây. Hải sẽ chỉ là thằng đàn ông yêu vợ vì lỡ có vợ đẹp, hoặc là một thằng yêu vợ hơi bị mù quáng, bản năng, hoặc chẳng có dịp nếm mùi thế giới bên ngoài bao rộng. Trong bài Grand Prix, Hải thể hiện rõ lòng yêu ấy là một quá trình nhận thức như bất cứ thằng đàn ông nào khác, cũng yêu nhau mà cưới, rồi cũng lãng quên, cũng hành hạ nhau đến rớm máu, và em thì “đẹp dần lên” chứ không phải là rước hoa hậu về nhà:
Tôi mẫn cảm
Run lên sung sướng trước một bức tranh đẹp
Nhưng nhận thức về em hơi bị chậm.
Vì lý do nào đó tôi chẳng quan tâm
Rằng tôi yêu em hơn bất cứ người đàn ông nào khác
Em không cần quà tặng
Và tôi tay trắng đón em...
Mãi đến lúc ra đời những đứa trẻ mang ADN của tôi và em
Mãi đến khi tôi giật mình
nhìn vào mắt những thằng đàn ông háo đủ thứ muốn nuốt chửng em
Đến khi em là em, hoang dã loài hoa chưa ai đặt tên, hoang dã biển bão núi lửa, hoang dã con sẻ bị tên...
Đến khi tôi đổ sập bằng cơn địa chấn bảy độ richter
Tôi vùi trong đêm cô đơn đại dương
Em vùi trong tôi mềm rũ cọng bún mắc mưa
Em đẹp dần lên.
Em không phải là người đàn bà để tôi có thể đem ra so sánh
Em đẹp mình em.
Tôi thông minh giữa đời nhưng khờ khạo trước em
Ngoan ngoãn nhờ em yêu giùm.
Khi tôi chết
Nhớ khắc giùm tôi câu này lên bia đá:
Đây là chiếc giường hạnh phúc vĩnh cửu của một thằng khờ được giải Grand Prix cuộc đời mà không cần trải qua một cuộc đua nào.
Vâng, trăm năm nữa người ta cũng sẽ nhớ đến Hải với những câu thơ yêu vợ đơn giản mà không ai viết nổi ấy.
Lang thang trên internet bất ngờ đọc thấy những câu thơ yêu vợ của Đặng Ca Việt (*) (bút danh của Nguyễn Việt Hải, hoạ sĩ trình bày của báo Tuổi Trẻ, bị tai nạn ô tô mất năm 2003) chợt bần thần mất mấy ngày. Thơ viết cho người yêu thì nhiều, thế nhưng thơ yêu cho vợ như Việt Hải thì rất hiếm
Lão vua Ấn Độ Jahan thế kỷ 17 yêu vợ đến mức bỏ ra cả 30 năm để làm ngôi đền Taj Mahal tráng lệ cho người vợ có với mình đến 14 mặt con yên nghỉ, kể cũng là vô địch thiên hạ yêu vợ mấy ngàn năm; hoặc như Đập cổ kính ra tìm lấy bóng/ Xếp tàn y lại để dành hơi của Tự Đức cũng thuộc loại xưa nay hiếm. Thế nhưng yêu vợ đến độ Dép thơm em để lại nhà/ Đem săm soi nhớ ngọc ngà bàn chân như Việt Hải thì hình như Tự Đức cũng phải gọi bằng sư phụ!
Cũng giống như bao nhiêu gã đàn ông khác, những ngày đầu chung sống là những ngày ngập tràn hạnh phúc, các câu thơ kiểu như: Tận cùng hương vị thịt da/ Thương yêu làm đất trời hoà vào nhau (Trần Mạnh Hảo), Thả xuống con thuyền ngàn vạn những vì sao (Phan Hoàng Phương) hoặc như Việt Hải Ta đi vào lòng nhau/ Những đêm chăn giường thức... cũng nhiều. Thế nhưng giữ cái tình yêu ấy bền chặt, không cũ mòn, lúc nào cũng cồn cào nhớ mong như Việt Hải không phải là dễ. Vợ đi vắng anh viết Ngoài hiên quỳnh nở, trăng đơn/ Làn da trắng ấy như còn trên hoa/ Trăng xoay về góc trời xa/ Anh xoay lòng mãi vẫn là góc em.
Yêu vợ, nhớ vợ mỗi lúc đi xa, anh làm thơ và gọi những bài thơ ấy là Vọng thê một, hai và ba. Trông chồng hoá đá còn được chứ ai lại trông vợ mà hoá đá! Một xã hội vốn được xây dựng trên nền tảng tạo niềm vui cho đàn ông như xã hội hôm nay thì một anh chàng nào đó “vọng thê” xem ra không thích hợp lắm. Thế mà Việt Hải yêu vợ và sung sướng công khai điều ấy bất cứ chỗ nào và trương nó lên trả cả những cái tít: Thư cho vợ, Vợ ta, Thơ của vợ, Dặn vợ... Hoặc như: Thế kỷ hai mươi có gã điếc/ Mần thơ bút hiệu Đặng Ca Việt/ Lếu láo, ngông nghênh a, bờ, cờ/ Ba mươi được làm “ông Thu Nguyệt”. Người ta lấy tên theo chồng chứ ai lại lấy tên theo vợ một cách đầy sung sướng như anh chàng này đâu!
Buồn
Buồn như tiền kiếp đoạ đày
Buồn như hoa rụng cuối ngày,
tàn đông.
Buồn như tiếng của thạch sùng
Buồn như một phút tưng bừng
vừa qua.
Buồn như em chẳng yêu ta
Buồn như mình sắp rời xa cuộc đời.
Việt Hải
Yêu lắm thì ghen nhiều, dĩ nhiên là vậy rồi, vợ mình xinh đẹp thế (cho dù là chỉ trong mắt mình thôi chứ không phải là hoa hậu đã được công chúng thừa nhận) thì người ta ghẹo (có khi do tưởng cũng nên) cũng là điều dễ hiểu: Tôi giật mình nhìn vào mắt những thằng đàn ông háo đủ thứ muốn nuốt chửng em; nhiều thằng đàn ông ghen đến khổ, thế nhưng với Việt Hải thì ta hãy nghe Việt Hải ghen: Vợ hiền như chiếc lá me/ Lỡ rơi không tiếng vọng về thì sao?/ Phồn hoa thì lắm lối vào/ Đường ra chỉ mở khi nào hương phai. Mùa theo mùa, ngày qua ngày. Vọng thê là bệnh của thời văn minh. Trời đất, hình như anh hình dung vợ mình sẽ bị bắt cóc hoặc làm một cuộc “24 giờ trong đời người đàn bà” mà anh chỉ có thể gặp lại khi nào hương phai!
Thời mà ngồi bên chồng bên vợ người ta vẫn có thể nói chuyện với người tình qua những dòng tin nhắn thì yêu vợ như Việt Hải xem ra sẽ khiến lắm người vợ thèm: Dăm bận ta vờ khen tặng vợ/ Em rất ngoan và em vẫn xinh/ Nhói lòng ta biết tại ta tất/ Hoa thơm ai đã cắm vô sình. Hoặc “Thôi thì. Em là hoa. Ta làm cỏ vậy.../ Chiều ấy ngồi bên đời ta hát/ Một gã tình si bệ rạc/ Mong làm êm bước em đi.
Ngày 8.3 bất chợt bắt gặp những câu thơ yêu vợ của Việt Hải và muốn thật nhiều người biết về nó. Hải là hoạ sĩ, để đời là những tác phẩm mỹ thuật, anh đồng thời có viết văn làm thơ, thế nhưng hình như chính những câu thơ yêu vợ này mới khiến anh bất tử, trăm năm nữa những ông chồng cũng sẽ giật mình khi biết có người yêu vợ đến vậy. Thế nhưng sẽ không có ai giật mình hết nếu không có bài Grand Prix dưới đây. Hải sẽ chỉ là thằng đàn ông yêu vợ vì lỡ có vợ đẹp, hoặc là một thằng yêu vợ hơi bị mù quáng, bản năng, hoặc chẳng có dịp nếm mùi thế giới bên ngoài bao rộng. Trong bài Grand Prix, Hải thể hiện rõ lòng yêu ấy là một quá trình nhận thức như bất cứ thằng đàn ông nào khác, cũng yêu nhau mà cưới, rồi cũng lãng quên, cũng hành hạ nhau đến rớm máu, và em thì “đẹp dần lên” chứ không phải là rước hoa hậu về nhà:
Tôi mẫn cảm
Run lên sung sướng trước một bức tranh đẹp
Nhưng nhận thức về em hơi bị chậm.
Vì lý do nào đó tôi chẳng quan tâm
Rằng tôi yêu em hơn bất cứ người đàn ông nào khác
Em không cần quà tặng
Và tôi tay trắng đón em...
Mãi đến lúc ra đời những đứa trẻ mang ADN của tôi và em
Mãi đến khi tôi giật mình
nhìn vào mắt những thằng đàn ông háo đủ thứ muốn nuốt chửng em
Đến khi em là em, hoang dã loài hoa chưa ai đặt tên, hoang dã biển bão núi lửa, hoang dã con sẻ bị tên...
Đến khi tôi đổ sập bằng cơn địa chấn bảy độ richter
Tôi vùi trong đêm cô đơn đại dương
Em vùi trong tôi mềm rũ cọng bún mắc mưa
Em đẹp dần lên.
Em không phải là người đàn bà để tôi có thể đem ra so sánh
Em đẹp mình em.
Tôi thông minh giữa đời nhưng khờ khạo trước em
Ngoan ngoãn nhờ em yêu giùm.
Khi tôi chết
Nhớ khắc giùm tôi câu này lên bia đá:
Đây là chiếc giường hạnh phúc vĩnh cửu của một thằng khờ được giải Grand Prix cuộc đời mà không cần trải qua một cuộc đua nào.
Vâng, trăm năm nữa người ta cũng sẽ nhớ đến Hải với những câu thơ yêu vợ đơn giản mà không ai viết nổi ấy.
Công nhân nước ngoài tại Hoa Kỳ làm việc “Gần Như Nô Lệ”
Thanh Trúc, phóng viên đài RFA, Mar 17, 2007
RFA - Vào khi có tin đồn lao động Việt Nam sắp được sang làm việc tại Hoa Kỳ theo thời vụ khiến nhiều người trong nước háo hức nuôi mộng, thì tổ chức Southern Poverty Law Center chuyên bảo vệ công lý cho tầng lớp nghèo khổ tại Hoa Kỳ vừa công bố phúc trình mới nhất cho thấy người ngoại quốc đến Mỹ làm việc tay chân đã bị khai thác và bóc lột chẳng khác gì nô lệ.
Thực tại của công nhân các nước nghèo đến Mỹ lao động theo thời vụ hay ngắn hạn là bị bóc lột và không được bảo vệ.
Đó là lời mở đầu phúc trình mới nhất của Southern Poverty Law Center ở bang Alabama, Hoa Kỳ, có nhiệm vụ vạch rõ những vấn đề tiêu cực liên quan đến nạn khai thác bóc lột sức lao động của người nghèo, đồng thời đưa ra những quan điểm hợp pháp hầu bảo vệ quyền lợi căn bản của các giai tầng lao động nghèo khổ ở Mỹ.
Lạm dụng sức lao động
Với tựa đề Close To Slavery, tạm dịch là Gần như là Nô Lệ, bản phúc trình của tổ chức Southern Poverty Law Center cho biết theo chương trình thuê mướn công nhân nước ngoài, giới chủ nhân Hoa Kỳ đã dựa vào đó để tuyển hàng chục ngàn người lao động ngoại quốc không có tay nghề từ nước họ đến làm việc cho mình, khống chế họ bằng thủ tục chiếu khán và nhập nội.
Đây là chương trình được chính phủ lập ra để cho phép người bản quốc trong các lãnh vực lâm nghiệp, nông nghiệp và hải sản được quyền tìm kiếm công nhân nước ngoài làm theo thời vụ hoặc ngắn hạn trên đất Mỹ.
Giám đốc của dự án bảo vệ công lý di dân trong Southern Poverty Law Center, bà Mary Bauer, phân tích:
“Công nhân bị lạm dụng sức lao động một cách có hệ thống. Vấn đề không nằm ở chỗ có một số ông chủ xấu hay tốt mà vấn đề phát xuất từ cấu trúc của chương trình thuê mướn lao động nước ngoài này.
Tuy không thể chối cãi là cũng đã có một ít qui định về nhân quyền, nghĩa là cách nào đó thì quyền con người lao động cũng được nói tới, nhưng hầu như không có sự chủ tâm để thực hiện. Do đó mà có thể nói rằng chương trình thuê mướn người lao động ngoại quốc đến Mỹ đang trở thành một vấn nạn thường trực và đáng xấu hổ.”
Vay nợ chồng chất
Để có thể sang Hoa Kỳ lao động dù chỉ là công việc chân tay nặng nhọc trong những nông trại bao la hoặc những cơ xưởng đồ sộ, nhiều người từ Mexico hay những quốc gia Châu Mỹ La Tinh khác đã phải trả hàng chục ngàn đô la hầu được cấp visa và việc làm.
Cũng như người nghèo Việt Nam muốn qua Đài Loan, Malaysia, Hàn Quốc để lao động, nhiều người Mexico, Peru, Bolivia, Jamaica, Kampuchia, Thái Lan đã phải thế chấp nhà cửa ruộng vườn ở quê hương. Hậu quả là tới xứ người làm việc quần quật với gánh nợ chất chồng trên hai vai.
Một thí dụ điển hình gần đây là sau trận cuồng phong Katrina 2005 ở vùng Vịnh của Hoa Kỳ, một hệ thống khách sạn lớn ở New Orleans đã mướn thật nhiều công nhân từ Peru, Bolivia hay Cộng Hoà Dominic sang. Để được tới đất Mỹ, những người này phải trả trên 5.000 đô la, nghĩa là gấp ba hay bốn lần so với số lương hàng tháng mà chủ Mỹ hứa trả cho họ.
Bản phúc trình tựa đề Close To Slavery phân tích rõ là công nhân ngoại quốc phải sống trong những căn nhà dưới mức tiêu chuẩn, không được hưởng nhiều phúc lợi, không có bảo hiểm sức khỏe mà nếu có chăng thì cũng rất là khiêm tốn.
Nhiều người còn bị trả lương thấp so với mức qui định lương tối thiểu của liên bang, không được ai chú ý đến chuyện binh vực quyền lợi hay chí ít chỉ cho họ thấy điều kiện lao động căn bản như thế nào.
Theo bà Mary Bauer, cái khó là rất ít người dám phàn nàn hay khiếu nại vì sợ bị chủ nhân sa thải, đuổi về nước hoặc phê những điều bất lợi vào hồ sơ mà sẽ ảnh hưởng đến công việc của họ sau này.
Thiên đường giả tạo
Mặt khác, những người hoạch định chính sách ở Mỹ, đúng hơn là những đại diện dân cử, thường không hay biết về mảng công nhân nước ngoài bị lạm dụng và bị bóc lột, bởi phần lớn người lao động ngoại quốc làm việc tại những vùng quê xa xôi của nước Mỹ và rất ít tiếp xúc với những cộng đồng đông dân.
Báo cáo của Southern Poverty Law Center nhấn mạnh tới điểm hết sức thực tế rằng không phải lúc nào siêu cường kinh tế Mỹ cũng là thiên đường của lao động nước ngoài.
Điểm khác nữa là hầu hết công nhân đến Mỹ từ các nước Châu Mỹ La Tinh hay Châu Á đều là những thành phần nghèo, thiếu học, nói tiếng Anh không sỏi.
Được hỏi bà nghĩ sao trước tin đồn ở Việt Nam là Hoa Kỳ sẽ nhận công nhân sang đây làm việc, và trước đây đã có bản tin hứa hẹn rằng sang Mỹ hái nho hoặc hái cam mà lương tới năm ngàn đô một tháng, bà Mary Bauer trả lời:
“Tôi không biết về điều ấy, cũng không có lý do gì để tin là đã có sự đồng ý như vậy. Về chuyện tiền lương năm ngàn thì thật khó tin. Tôi không dám nói là không thể xảy ra, nhưng tôi nghĩ chắc chắn không thể nào tới mức ấy được. Đó là một lời hứa hẹn giả tạo.”
Bà Bauer nói tiếp “Có nhiều ông chủ Mỹ khi được chấp thuận thì đã nhắm đến một số nước Châu Á như Indonesia, Thái Lan, Kampuchia. Việt Nam cho tới lúc này thì tôi không nghe đến.
Tôi dám nói là trên thực tế lương của họ đều rất thấp nên không thể trả được nợ mà họ vay trước khi đi. Tôi chưa thấy một lao động Á Châu nào hưởng được mức lương hứa hẹn cả.
Chúng tôi cũng được biết là những người lao động đó phải trả 5 đến 10 ngàn đô la để có một việc làm cộng với phí tổn sang Mỹ.
Nhiều người lao động Châu Á mà chúng tôi tiếp xúc đã nói là trong thời gian làm việc ngắn hạn ở Hoa Kỳ họ đã không thể nào kiếm lại đủ tiến vốn bỏ ra, họ cảm thấy rất tuyệt vọng khi nghĩ đến món nợ lớn ở quê nhà.”
Phải vô cùng thận trọng
Được hỏi nếu có thể nhắn nhủ gì với những người Việt Nam đang ôm giấc mộng chưa thành hiện thực là sang Mỹ lao động, bà Mary Bauer nói bà xin phép nhấn mạnh ở điểm:
“Tôi xin nói cần phải vô cùng thận trọng trước những lời hứa kiểu đó. Cần chắc chắn những gì người ta hứa với bạn phải được viết trên giấy trắng mực đen rõ ràng và đưa cho bạn giữ một bản sao chép. Nếu họ đòi bạn trả năm ngàn, mười ngàn thì hãy nghi ngờ về những số tiền lớn như vậy.”
Theo số liệu chính thức ở Hoa Kỳ, năm 2005, 32.000 người nước ngoài đến Mỹ lao động theo hộ chiếu H-2B, qui định được ở nhà miễn phí, được di chuyển giới hạn trong nước Mỹ, được chăm sóc sức khỏe và thời gian làm việc là 75% số giờ đã ký trong hợp đồng.
Tổ chức Southern Poverty Law Center cho biết hiện có 90.000 lao động nước ngoài đang làm việc tại các tiểu bang trên toàn nước Mỹ, phần lớn chỉ được hưởng chế độ trợ cấp và bảo hiểm nghèo nàn.
---
Thanh Trúc, phóng viên đài RFA, Mar 17, 2007
RFA - Vào khi có tin đồn lao động Việt Nam sắp được sang làm việc tại Hoa Kỳ theo thời vụ khiến nhiều người trong nước háo hức nuôi mộng, thì tổ chức Southern Poverty Law Center chuyên bảo vệ công lý cho tầng lớp nghèo khổ tại Hoa Kỳ vừa công bố phúc trình mới nhất cho thấy người ngoại quốc đến Mỹ làm việc tay chân đã bị khai thác và bóc lột chẳng khác gì nô lệ.
Thực tại của công nhân các nước nghèo đến Mỹ lao động theo thời vụ hay ngắn hạn là bị bóc lột và không được bảo vệ.
Đó là lời mở đầu phúc trình mới nhất của Southern Poverty Law Center ở bang Alabama, Hoa Kỳ, có nhiệm vụ vạch rõ những vấn đề tiêu cực liên quan đến nạn khai thác bóc lột sức lao động của người nghèo, đồng thời đưa ra những quan điểm hợp pháp hầu bảo vệ quyền lợi căn bản của các giai tầng lao động nghèo khổ ở Mỹ.
Lạm dụng sức lao động
Với tựa đề Close To Slavery, tạm dịch là Gần như là Nô Lệ, bản phúc trình của tổ chức Southern Poverty Law Center cho biết theo chương trình thuê mướn công nhân nước ngoài, giới chủ nhân Hoa Kỳ đã dựa vào đó để tuyển hàng chục ngàn người lao động ngoại quốc không có tay nghề từ nước họ đến làm việc cho mình, khống chế họ bằng thủ tục chiếu khán và nhập nội.
Đây là chương trình được chính phủ lập ra để cho phép người bản quốc trong các lãnh vực lâm nghiệp, nông nghiệp và hải sản được quyền tìm kiếm công nhân nước ngoài làm theo thời vụ hoặc ngắn hạn trên đất Mỹ.
Giám đốc của dự án bảo vệ công lý di dân trong Southern Poverty Law Center, bà Mary Bauer, phân tích:
“Công nhân bị lạm dụng sức lao động một cách có hệ thống. Vấn đề không nằm ở chỗ có một số ông chủ xấu hay tốt mà vấn đề phát xuất từ cấu trúc của chương trình thuê mướn lao động nước ngoài này.
Tuy không thể chối cãi là cũng đã có một ít qui định về nhân quyền, nghĩa là cách nào đó thì quyền con người lao động cũng được nói tới, nhưng hầu như không có sự chủ tâm để thực hiện. Do đó mà có thể nói rằng chương trình thuê mướn người lao động ngoại quốc đến Mỹ đang trở thành một vấn nạn thường trực và đáng xấu hổ.”
Vay nợ chồng chất
Để có thể sang Hoa Kỳ lao động dù chỉ là công việc chân tay nặng nhọc trong những nông trại bao la hoặc những cơ xưởng đồ sộ, nhiều người từ Mexico hay những quốc gia Châu Mỹ La Tinh khác đã phải trả hàng chục ngàn đô la hầu được cấp visa và việc làm.
Cũng như người nghèo Việt Nam muốn qua Đài Loan, Malaysia, Hàn Quốc để lao động, nhiều người Mexico, Peru, Bolivia, Jamaica, Kampuchia, Thái Lan đã phải thế chấp nhà cửa ruộng vườn ở quê hương. Hậu quả là tới xứ người làm việc quần quật với gánh nợ chất chồng trên hai vai.
Một thí dụ điển hình gần đây là sau trận cuồng phong Katrina 2005 ở vùng Vịnh của Hoa Kỳ, một hệ thống khách sạn lớn ở New Orleans đã mướn thật nhiều công nhân từ Peru, Bolivia hay Cộng Hoà Dominic sang. Để được tới đất Mỹ, những người này phải trả trên 5.000 đô la, nghĩa là gấp ba hay bốn lần so với số lương hàng tháng mà chủ Mỹ hứa trả cho họ.
Bản phúc trình tựa đề Close To Slavery phân tích rõ là công nhân ngoại quốc phải sống trong những căn nhà dưới mức tiêu chuẩn, không được hưởng nhiều phúc lợi, không có bảo hiểm sức khỏe mà nếu có chăng thì cũng rất là khiêm tốn.
Nhiều người còn bị trả lương thấp so với mức qui định lương tối thiểu của liên bang, không được ai chú ý đến chuyện binh vực quyền lợi hay chí ít chỉ cho họ thấy điều kiện lao động căn bản như thế nào.
Theo bà Mary Bauer, cái khó là rất ít người dám phàn nàn hay khiếu nại vì sợ bị chủ nhân sa thải, đuổi về nước hoặc phê những điều bất lợi vào hồ sơ mà sẽ ảnh hưởng đến công việc của họ sau này.
Thiên đường giả tạo
Mặt khác, những người hoạch định chính sách ở Mỹ, đúng hơn là những đại diện dân cử, thường không hay biết về mảng công nhân nước ngoài bị lạm dụng và bị bóc lột, bởi phần lớn người lao động ngoại quốc làm việc tại những vùng quê xa xôi của nước Mỹ và rất ít tiếp xúc với những cộng đồng đông dân.
Báo cáo của Southern Poverty Law Center nhấn mạnh tới điểm hết sức thực tế rằng không phải lúc nào siêu cường kinh tế Mỹ cũng là thiên đường của lao động nước ngoài.
Điểm khác nữa là hầu hết công nhân đến Mỹ từ các nước Châu Mỹ La Tinh hay Châu Á đều là những thành phần nghèo, thiếu học, nói tiếng Anh không sỏi.
Được hỏi bà nghĩ sao trước tin đồn ở Việt Nam là Hoa Kỳ sẽ nhận công nhân sang đây làm việc, và trước đây đã có bản tin hứa hẹn rằng sang Mỹ hái nho hoặc hái cam mà lương tới năm ngàn đô một tháng, bà Mary Bauer trả lời:
“Tôi không biết về điều ấy, cũng không có lý do gì để tin là đã có sự đồng ý như vậy. Về chuyện tiền lương năm ngàn thì thật khó tin. Tôi không dám nói là không thể xảy ra, nhưng tôi nghĩ chắc chắn không thể nào tới mức ấy được. Đó là một lời hứa hẹn giả tạo.”
Bà Bauer nói tiếp “Có nhiều ông chủ Mỹ khi được chấp thuận thì đã nhắm đến một số nước Châu Á như Indonesia, Thái Lan, Kampuchia. Việt Nam cho tới lúc này thì tôi không nghe đến.
Tôi dám nói là trên thực tế lương của họ đều rất thấp nên không thể trả được nợ mà họ vay trước khi đi. Tôi chưa thấy một lao động Á Châu nào hưởng được mức lương hứa hẹn cả.
Chúng tôi cũng được biết là những người lao động đó phải trả 5 đến 10 ngàn đô la để có một việc làm cộng với phí tổn sang Mỹ.
Nhiều người lao động Châu Á mà chúng tôi tiếp xúc đã nói là trong thời gian làm việc ngắn hạn ở Hoa Kỳ họ đã không thể nào kiếm lại đủ tiến vốn bỏ ra, họ cảm thấy rất tuyệt vọng khi nghĩ đến món nợ lớn ở quê nhà.”
Phải vô cùng thận trọng
Được hỏi nếu có thể nhắn nhủ gì với những người Việt Nam đang ôm giấc mộng chưa thành hiện thực là sang Mỹ lao động, bà Mary Bauer nói bà xin phép nhấn mạnh ở điểm:
“Tôi xin nói cần phải vô cùng thận trọng trước những lời hứa kiểu đó. Cần chắc chắn những gì người ta hứa với bạn phải được viết trên giấy trắng mực đen rõ ràng và đưa cho bạn giữ một bản sao chép. Nếu họ đòi bạn trả năm ngàn, mười ngàn thì hãy nghi ngờ về những số tiền lớn như vậy.”
Theo số liệu chính thức ở Hoa Kỳ, năm 2005, 32.000 người nước ngoài đến Mỹ lao động theo hộ chiếu H-2B, qui định được ở nhà miễn phí, được di chuyển giới hạn trong nước Mỹ, được chăm sóc sức khỏe và thời gian làm việc là 75% số giờ đã ký trong hợp đồng.
Tổ chức Southern Poverty Law Center cho biết hiện có 90.000 lao động nước ngoài đang làm việc tại các tiểu bang trên toàn nước Mỹ, phần lớn chỉ được hưởng chế độ trợ cấp và bảo hiểm nghèo nàn.
---

Bông Hồng Cho
Lê Thị Công Nhân Đất nước Việt Nam ta, hiện tại có một người con gái phi thường tên Lê Thị Công Nhân. Chị ra đời ở miền Nam, mới 2 tuổi, chỉ sống với mẹ vì người cha đã bỏ nhà ra đi biền biệt, chưa một lần gọi điện thoại hay thư từ thăm hỏị. Tuổi thơ của chị chắc chắn phải trải qua những sóng gío của cuộc đời vì thiếu vắng sự dạy dỗ của người cha, ấy thế mà chị đã vượt qua tất cả. Cái tuổi 28 này với một người luật sư như chị, đáng lẽ đang được sống hạnh phúc riêng tư bên chồng con dưới một mái ấm gia đình. Nhưng không, chị đã chọn một con đường đầy chông gai, một con đường chấp nhận tù tội để lo cho cái chung của toàn dân: Tự Do, Dân Chủ, và Nhân Quyền cho Việt Nam. Chúng ta mỗi người xin gởi một bông hồng đến cho chị
Thấm thoát mà đã 15 ngày trôi qua kể từ khi nhà cầm quyền CS Hà Nội bắt giam chị Lê Thị Công Nhân. Hôm nay ngày 21 tháng 3 năm 2007, mẹ của chị Lê Thị Công Nhân đã đến trại giam để thăm chi... Thật là tàn nhẫn và hành dân, mẹ chị LTCN đã đến cơ cở công an nhân dân 4 lần, và đã đến trại giam lần thứ 3 và thứ 4 mới được phép gởi đồ ăn thăm nuôi đến chi.. Điều oái oăm là những tên công an trại giam lại không khẳng định được chị LTCN có tuyệt thực hay không nhưng những tên công an lại bảo rằng: "cứ gởi thêm đồ ăn vào cho chị ấỵ". Về quần áo chăn màng thì bọn CA nói rằng không cần tiếp tế vì họ đã cung cấp đầy đủ cho chị LTCN.
Trước ngày chị bị bắt giam 6 tháng 3, cả 2 diễn đàn Paltalk trên 400 người, gần như đã bậc khóc bằng hàng trăm những gương mặt nước mắt cùng những bông hồng được gởi trên màn ảnh, ngay cả anh MC cũng nghẹn ngào không thốt nên lời, tiếng nói anh hùng, uất nghẹn của chị vẫn còn được nghe văng vẵng bên tai:{{Thực sự tôi không thể đoán được việc gì có thể xảy ra đối với tôị Nhưng tôi khẳng định với tất cả lương tâm, trách nhiệm của mình đối với đất nước Việt Nam và dân tộc VN, tôi sẽ chiến đấu tới cùng cho dù chỉ còn có một mình tôi đấu tranh. Truớc hết là để giành lấy nhân quyền cho chính mình và giành lấy quyền tự do cho người VN. Và CSVN đừng có mong chờ bất kỳ một điều gì là thỏa hiệp chứ đừng nói là đầu hàng từ phía tôị Tôi không thách thức, nhung nếu CSVN đã quyết tâm thực hiện những hành vi tội ác bằng cách chà đạp lên nhân quyền của nguời dân Việt Nam và muốn dìm đất nước VN trong tăm tối về mặt chính trị, nghèo nàn về mặt kinh tế, lạc hậu về mặt văn hóa, kéo dài cho tới trọn đời con cháu của chúng ta cung như của chính những nguời CS thì họ cứ việc hành xử với những gì mà họ có.
Gia đinh tôi đã chuẫn bị cho truờng hợp xấu nhất, đó là tôi sẽ bị khởi tố và có thể bị đi tù. Tôi xin khẳng định một lần nữa, đó chưa phải là điều tồi tệ nhất có thể xảy ra ...
Tôi đã đuợc sinh ra là một con nguời thì tôi có đầy đủ nhân quyền cơ bản mà đấng tạo hóa đã ban ra cho tôi và tôi đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền cho VN hoàn toàn xuất phát từ niềm tin, từ lương tâm và trách nhiệm của tôi đối với chính tôi, với dân tộc VN và đối với đấng tạo hóa đã sinh ra tôị
Những gì tôi đã làm đuợc, tuy hết sức là nhỏ bé, nhung nếu như mỗi cá nhân chúng ta đừng thờ ơ, nghĩa là chưa ủng hộ hay ủng hộ rồi mà chưa tham gia hay tham gia rồi mà chưa tích cực, xin hãy mạnh dạn nói lên tiếng nói của mình .
CS đã hết sức thành công trong việc làm cho dân tộc VN sống chìm trong nỗi sợ hãi hàng chục năm trờị Nếu chúng ta đều sợ hãi như vậy thì tôi e rằng chúng ta đã sợ hãi quá mức cần thiết, tù tội cũng chưa phải là điều tồi tệ nhất có thể xảy rạ Tôi không muốn nói mình là một tấm gương, nhưng nếu như tôi có bị tạm thời nhận một nhiệm sở mới hết sức là bất đắc dĩ, đó là nhà tù thì tôi mong rằng các nhiệm sở ở bên ngoài tức là xã hội sẽ có nhiều những nguời con VN tiếp tục những công việc mà tôi đang làm. Cố nhiên trong nhiệm sở bất đắc dĩ đó tôi sẽ cố gắng hết sức để vẫn tiếp tục công việc truyền bá dân chủ, dân quyền và đấu tranh cho nền dân chủ nhân quyền và tự do cho nguời dân VN.
Kính thưa các vị khách quốc tế , những gì mà quý vị đã ủng hộ, đã lên tiếng, đa thể hiện sự quan tâm và ủng hộ của quý vị cho công cuộc đấu tranh của chúng tôi, thật sự là vô cùng quý báu và xuất phát từ lương tri của quý vị . Tôi có thể nói một cách ngắn gọn là - tôi tri ân quý vi..
Nhà cầm quyền Việt Nam, tôi xin khẳng định với tư cách là một nguời dân VN bình thuờng và tôi mong quý vị hiểu đuợc điều đó là CSVN xuất phát từ một nền văn hóa thấp kém, một nhà cầm quyền phi nhân đạo, phi nhân bản, chuyên áp dụng bạo lực để đàn áp, để trấn áp với một mục tiêu hoàn toàn phi đạo lý,vô chính trị và có thể nói là phi pháp. Đó là tịch thu tất cả quyền lãnh đạo đất nuớc và xã hội vào một nhóm nguòi nhỏ bé và truờng kỳ thực hiện thi hành một chế độ độc tàị
Tất cả những điều đó đã tạo nên một tâm lý chủ nhân và họ rất sợ truớc những áp lực quốc tế, truớc tiếng nói của đất nuớc văn minh , những tổ chức nhân quyền trên thế giớị
Tại sao họ sợ, họ sợ là vì nơi đó có một sức mạnh rất là lớn trên trường quốc tế mà bản thân của những nguời Việt nam của chúng tôi ở quốc nội thì không nói đuợc, nhung ở những nuớc văn minh và phát triển ...tôi rất mong muốn không chỉ trong trường hợp khẩn nguy như hiện nay mà báo giới quốc tế, cũng như những nguời có đời sống tâm linh trên toàn thế giới hãy nói lên tiếng nói của mình một cách mạnh mẽ, một cách kịp thời để sau này không có những giây phút hối hận rằng chúng ta đã không làm hết sức mình, đã không dùng hết sức mình trong khi chúng ta có thể làm đuợc nhiều hơn để giúp đỡ cho nguời dân đang sống ở một cái đất nước bé nhỏ, nghèo khó và lạc hậu như VN .
Những người dân đó đã can đảm chấp nhận tất cả những hy sinh về vật chất về an ninh cá nhân để nói lên tiếng nói lương tri của mình, chỉ mong lấy lại những nhân quyền cơ bản nhất của một con người, mà những điều đó đã bị chế độ độc tài CSVN không những đã cuớp đi mà còn chà đạp và thủ tiêu hằng chục năm đằng đẳng vừa qua và sẽ còn tiếp tục tùy thuộc vào công cuộc đấu tranh của chúng ta mạnh mẽ và hiệu quả .
Một lần nữa tôi xin khẳng định những sự đàn áp này không làm ảnh huởng tiêu cực đuợc đến phong trào đấu tranh của khối 8406 của Đảng Thăng Tiến VN.}}
Một người con gái can trường, vượt trên những nỗi sợ hãi, không chấp nhận đầu hàng đối với bạo quyền Hà Nội. Chị chính là những người con yêu của mẹ Việt Nam, ấy thế mà bây giờ phải nằm trong tù, vô lý thật. Những nhà đấu tranh kiên cường khác cũng không kém như linh mục Nguyễn Văn Lý, luật sư Nguyễn Văn Ddài, mục sư Hồng Trung, anh Nguyễn Phong, chị Hoàng Thị Anh Đào ... đang bị trù dập tàn nhẫn trong khi đó những con hạm đục khoét tài sản quốc gia qua những PMU 18, qua đường dây cao thế 500 kilovolt, dự án Nhà Máy Lọc Dầu Dung Quất thì lại sống nhỡn nhơ ngoài vòng luật pháp. Theo nguồn tin đặc biệt, Nhà nước VC đã ký kết với hãng dầu Mitsubishi Oli vào năm 1994, một khế ước khai thác dầu khí tại những khu vực xung quanh Vũng Tàu dài 20 năm, coi như hãng dầu MO đã khai thác được 13 năm. Theo một nhân viên làm việc cho hãng MO ước lượng, một ngày MO rút dầu từ 70 ngàn đến 100 ngàn thùng dầu thô, vị chi trung bình mỗi ngày 6 triệu đô la tiền dầu thô chạy ra khỏi VN, một năm 2.2 tỉ đô la, 44 tỉ đô la tổng cộng trong suốt 20 năm. Điều đau đớn là không người dân nào biết rõ chi tiết Bản Khế Ước này là VN sẽ hưởng được bao nhiêu tiền. Chỉ biết Nhật Bản tài trợ VN xây dựng con đường 60 km từ Ngã Ba Vũng Tàu đi đến Vũng Tàụ. Đối với các quốc gia dân chủ, tài sản dầu khí là tài sản quốc gia của chung, người dân Việt Nam có quyền biết rõ nội dung Bản Khế Ước này.

Cô Lê Thị Kim Thu , Thân mẫu Luật sư Công Nhân - bà Trần Thị Lệ, Luật sư Lê Thị Công Nhân và cô Vũ Thanh Phương. Ngoài tổng số 27 quốc gia trong khối Âu Châu đã áp lực bạo quyền Hà Nội qua những kháng thư tố cáo sự vi phạm nhân quyền của Hà Nội qua việc đàn áp các nhà dân chủ trong nước, Úc Châu và Hoa Kỳ cũng lên án rất mạnh mẽ. Bộ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ là bà Condolizza Rice đã đặt vấn đề Nhân Quyền lên hàng đầu khi Phó Thủ Tướng Phạm Gia Khiêm đến Mỹ và cũng tố cáo Hà nội đã vi phạm những gì HN ký kết trước khi được vào WTO, và trước khi được lấy ra khỏi danh sách hằng quan tâm đặc biệt (CPC List) và cho Hà Nội hưởng quy chế mậu dịch bình thường (PNTR).
Đã đến lúc, chúng ta không thể ngồi yên để đứng nhìn những tên cộng sản sâu bọ đang đục phá đất nước VN của chúng tạ.
Đã đến lúc chúng ta không thể ngồi yên nhìn bọn cộng sản sâu bọ này giam giữ chị LTCN và biết bao nhiêu nhà dân chủ khác.
Đã đến lúc chúng ta cũng đứng lên để giải quyết vấn đề VN của chính chúng ta.
Nếu mỗi người Việt Nam chúng ta gởi một cành hoa hồng đến chị Lê Thị Công Nhân chúng ta nhất định phải đạt được niềm mơ ước chung của toàn dân: Tự Do, Dân Chủ, và Nhân Quyền cho Việt Nam.
Ngày 21 tháng 3 năm 2007
Nguyễn Thị Mỹ Linh
Những đồng bào có lòng xin liên lạc trực tiếp: Bà Trần thi Lệ (mẹ luật sư Lê thị Công Nhân)
Phòng 316 nhà số A 7, ngõ 4 -
phố Phương Mai, Quận Đống Đa,
Hà Nội.
Phone: 935.153.722.

Doãn Quốc Sỹ, kẻ sĩ thời đại chúng ta
Nguyễn Mạnh Trinh Với nhiều người bản xứ, hình như dư âm của cuộc chiến tranh Việt Nam vẫn còn nên văn chương và văn hóa Việt Nam được đặc biệt chú ý. Tôi có một người bạn cùng lớp Creating & Writing học viết văn người Mỹ gốc Ý rất thích thú với văn chương Việt Nam. Một bữa anh khoe với tôi tuyển tập “Việt Nam: A traveler's literary companion” do John Balaban và Nguyễn Quý Ðức chủ biên và rất đặc biệt chú ý tới nhà văn Doãn Quốc Sỹ với truyện ngắn “The Stranded Fish” (Con cá mắc cạn). Anh còn khoe đã được dự một cuộc seminar với hai Giáo Sư Doãn Quốc Sỹ và Lê Hữu Mục vào Tháng Sáu năm 1999 tại University St Thomas ở Houston với đề tài “Living Two Cultures: A conference for Vietnamese-Americans”. Và anh hỏi tôi một câu: Bạn nghĩ thế nào về nhà văn Doãn Quốc SỸ. Nhà văn? Nhà giáo? Một người hoạt động chính trị? Hay một người yêu nước bị chế độ đương thời đầy ải khi ở trong nước? Và một nhà văn luôn hướng về tương lai ở hải ngoại...
Có một người đã làm thơ để dường như trả lời giùm cho cá nhân tôi. Những câu thơ gợi ý và lấy từ những nhan đề của tác phẩm mà nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã viết trong suốt hơn một nửa thế kỷ cầm bút:
“Dòng sông định mệnh”, thiên thu
“Sầu mây” còn đỉnh mịt mù dương gian
nước non mấy nẻo quan san
lốc quay thời thế gian nan một đời
Ðến. Ði. Ði. Ðến. ngược xuôi
Quê hương. Ðất lạ. chỗ ngồi bụi không.
“Khu rừng lau” lửa mênh mông
“U hoài” đâu tiếng bên sông gọi buồn.
Ðường ranh lịch sử mỏi mòn
“Ba sinh “còn tấc “lửa hương” chập chờn
ngã tư bước rẽ không hồn
lưu lạc nào để mất còn hoang mang
“Ðàm htoại, độc thoại” từng trang
“Tình yêu thánh hóa” trường gian mấy nguồn
biển khơi nào rã rêu rong
ai trăng lụn tưởng nến chong dặm ngoài
“Giữ ngọc” thôi cũng “gìn vàng”
sót thiên lương với ngỡ ngàng tâm tư
“Vào thiền “giây phút hoại hư
kiếp già ngục tối mắt thù chăm chăm
trong tâm linh thoảng hương trầm
trong lênh đênh có lời thầm đinh ninh
Thì thôi, “Mình lại soi mình”
Dấu chân cát xóa bóng hình nổi trôi
“người vái tứ phương”, một đời
hoa thơm ngát để một trời mộng mơ
kinh vạn quyển thiếu một tờ
chữ vô tự nẻo mịt mờ muôn năm
Tâm ai vằng vặc trăng rằm
Lời ca dao vẫn tiếng ngâm triệu đời” Bài thơ đầy những Dòng sông định mệnh, Sầu mây, U hoài, Vào thiền, Khu rừng lau, Ba sinh hương lửa, Tình yêu thánh hóa, Ðàm thoại độc thoại, Gìn vàng giữ ngọc, Mình lại soi mình, Dấu chân cát xóa, Người vái tứ phương, Ði... và cũng nêu được tính chất riêng của một kẻ sĩ phương Ðông. Luôn luôn chân thành và tin tưởng vào cuộc đời ở những khía cạnh nhân bản tốt...
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ra và trưởng thành trong một giai đoạn lịch sử đặc biệt. Như một câu ví von của ông: “Ba sinh hương lửa” thành nhan đề của một tập trong trường thiên Khu Rừng Lau. Các nhân vật đã sống trong thời đại Pháp thuộc, Nhật thuộc, rồi Việt minh, rồi đảng phái Quốc Gia, rồi ở lại kháng chiến, rồi trở về thành phố mà thời ấy gọi là về Tề, bao nhiêu là biến chuyển, bao nhiêu là cảnh bể dâu. Rồi hiệp định Genève chia đôi đất nước, rồi chiến tranh tiếp diễn... Hình như, sống trong thời đại ấy, định mệnh đã đẩy con người đi vào những lối ngõ khác nhau và cho đến bây giờ, hàng triệu người lưu lạc xứ người và cuộc chiến vừa qua tới bây giờ vẫn còn hậu quả. Cuộc đời đầy những chuyến ra đi, rời quê Bắc vào Nam, rồi lại phải ra đi lần nữa. Lịch sử toàn là những chia ly tan tác.
Thế mà, ông viết văn trong cái tâm thái ung dung, dù đang trong cảnh tù giam bức bối. Vẫn thái độ tin vào mình, tin vào người, tin ở những điều tốt đẹp của cuộc sống. Ðộc giả khó tìm thấy những lời hằn học, những tâm trạng phẫn nộ. Viết văn, với ông là một phương cách của “văn dĩ tải đạo”. Viết, như một cách để làm đời sống đẹp tươi thêm...
Những lúc thấy những cảnh tráo trở tàn nhẫn của người đời với nhau, tôi lại giở những “Gìn vàng Giữ Ngọc” hay “Chiếc chiếu hoa cạp điều” ra đọc. Những lúc buồn nhớ về quê hương, tưởng tượng ra những Hà Nội, những Sài Gòn, tôi đọc “Dòng sông định mệnh” để thấy mình tìm lại cái rung động thuở nào khi đọc những câu thơ tả lại cảnh đạp xe theo một tà áo trắng những câu dễ thương. “...Em nghèo ta có giàu đâu. Tịch liêu đổ xuống đôi đầu ngẩn ngơ. Hoe đôi mắt em vơ tà áo. Áo trắng bong ảo não hồn trinh. Lòng ta gợn gió ngây tình.Theo em nào biết chúng mình về đâu..” Và khi nào thấy đời sống có một chút gì sương khói, tôi đọc “Sầu mây”, “Vào thiền”...
Có người nói rằng văn chương mà mang thời thế làm đề tài thường tuổi thọ không dài bằng những đề tài xoáy sâu vào chân dung con người muôn thuở. Viết về thời thế khó có tác phẩm lớn.
Nhưng tôi lại có ý nghĩ khác. Không có đề tài nào giới hạn cho những tác phẩm lớn. Nếu có tài năng, nhà văn sẽ viết những tác phẩm bất tử bất kỳ đề tài nào. Huống chi, một thời đại đặc biệt của dân tộc Việt Nam nếu mô tả những cơn lốc thời cuộc sẽ có biết bao nhiêu chân dung con người điển hình cho những nhân vật tiểu thuyết tuyệt diệu...
Hình như, trong tiểu thuyết của Doãn Quốc Sỹ, thời thế đã đóng vai trò quan yếu và văn chương là những dấu hằn chẳng thể nào phai trong ký ức của dân tộc chúng ta.
Với “Khu rừng Lau”, những ngày kháng chiến chống Pháp được ghi chép lại với tất cả những nỗi niềm của người yêu nước nhưng bị lừa gạt bởi những ý thức hệ ngoại lai. Một tiểu thuyết trường thiên vẽ lại cả một thời kỳ hoành tráng của lịch sử mà trong đó con người bị cuốn vào những cơn lốc dữ dội.
Với những truyện ngắn như “Chiếc chiếu hoa cạp điều”, hay “Gìn Vàng Giữ Ngọc”, chân dung những con người tốt đẹp vằng vặc như trăng đã khiến nhà văn Võ Phiến viết lên một nhận xét: “đọc sách ông, thơm tho cả tâm hồn...”. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù khốn cùng đến đâu, cái chất nhân bản vẫn rõ nét.
Quả thật, văn chương của ông bình dị không lên mặt dậy đời mà lại có sức thuyết phục. Thường thường, văn chương cũng như âm nhạc phải theo luật cân phương, có nghĩa là phải thể hiện được đời sống ở nhiều mặt tốt xấu và tất cả phải quân bình cân đối. Nhà văn thời danh Milan Kundura đã ví von công việc viết tiểu thuyết như soạn hòa âm, nhạc đề cũng cần phải có những dạo khúc hoặc những chuyển khúc và cân bằng nó là cả một vấn đề kỹ thuật tinh tế.
Thế mà, ở Doãn Quốc Sỹ, hầu như những nhân vật đều ăm ắp chất thiện ở trong. Ngay những nhân vật ở tuyến ác, cũng có nét khiến độc giả có thể bao dung được và không thể ghét bỏ hoàn toàn. Văn của ông, chuyên chở một phần nào cuộc sống và ở đó, đời sống của người Việt Nam đã được phóng chiếu qua những cảnh ngộ đặc thù của một thời đại đặc biệt.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ là một khuôn mặt văn chương hàng đầu của hai mươi năm văn học miền Nam. Ông sinh năm 1923 tại ngoại ô Hà Nội lớn lên trong thời kỳ kháng chiến, dạy học ở Hà Nội và Nam Ðịnh, rồ di cư vào Nam năm 1954. Nghề chính của ông là dạy học và đã sang Hoa Kỳ tu nghiệp giáo chức trong hai năm. Trên bình diện văn chương, ông là một cây bút chủ lực trong nhóm chủ trương tạp chí Sáng Tạo và cũng là giám đốc nhà xuất bản cùng tên đã giới thiệu được nhiều tác phẩm có giá trị và nhiều cây bút tài hoa có khả năng.
Tác phẩm của ông gồm bộ trường thiên “Khu Rừng Lau” có bốn cuốn: Ba sinh hương lửa, Người đàn bà bên kia vĩ tuyến, Tình yêu thánh hóa, Ðàm thoại, Ðộc thoại; truyện dài: Dòng sông định mệnh, Sầu mây, Ðốt biên giới; truyện ngắn Gìn vàng giữ ngọc, Cánh tay nối dài, U hoài, Gánh xiếc; tùy bút Vào thiền; khảo luận Người Việt đáng yêu...
Sau năm 1975, ông bị chính quyền Cộng Sản bắt giam hai lần và sau những cuộc can thiệp của công luận thế giới ông được trả tự do và định cư ở Hoa kỳ với người con trai lớn ở Houston, Texas.
Trường thiên “Khu Rừng Lau” vẽ lại cả một thời kỳ nhiễu nhương của lịch sử Việt Nam. Ðời sống của một lớp thanh niên tiểu tư sản được dựng lại trong cái phong cảnh hoành tráng của một đất nước không may trở thành nơi chốn đọ sức của những ý thức hệ quốc tế. Những nhân vật như Miên, Kha, Tân, Hiển, Hãng, Lăng, Khiết... từ lúc trưởng thành, tham gia kháng chiến chống Pháp, rồi trải qua những ngày cải cách ruộng đất, trở về thành rồi di cư vào Nam, tất cả những quặn mình của cả một thế hệ được nhà văn tạo thành tiêu biểu. Tuổi tác họ chênh lệch nhau nhưng cùng có chung một mẫu số yêu đất nước như yêu tự do và cùng mong ước cho một ngày đất nước hùng cường. Hình như, họ có chung nỗi hoang mang của những người trí thức luôn đi kiếm tìm cho mình một con đường nhưng lại thấy bơ vơ khi chọn lựa. Ở với kháng chiến, thấy lòng yêu nước bị lợi dụng bởi những con người Bolcheviks tàn bạo vô nhân, về thành thì thấy giặc Pháp nghênh ngang, chính phủ quốc gia chỉ là cái bóng. Di cư vào Nam, thì chế độ độc tài và gây ra nhiều kỳ thị bất công.
Dòng đời trôi, qua bao năm tháng, chiến tranh lại tiếp chiến tranh, hết độc tài cộng sản đến độc tài gia đình trị, thế nước nghiêng ngửa như những cuộc đời ngả nghiêng theo. Bộ trường thiên này có lẽ là một phác họa lịch sử hoành tráng và tiêu biểu nhất của văn học Việt Nam...
Nhưng đọc truyện ngắn của ông như “Chiếc Chiếu Hoa Cạp Ðiều “hay “Gìn Vàng Giữ Ngọc” mới thấy được cái tâm vằng vặc của ông. Hoàn cảnh dù thế nào, con người dù ở trong cảnh ngộ nào, cái tình đối xử với nhau mới là quan trọng. Cái nghèo, cái khổ, cái đói không làm hạ giá trị được con người bằng sự tha hóa tâm hồn. Tình đời thường thay đổi cách ứng xử tùy theo giàu nghèo nhưng cũng có những trường hợp cá biệt như nhân vật xưng tôi trong “Gìn vàng giữ ngọc” hay “Chiếc chiếu hoa cạp điều” trời làm loạn lạc, gây nhiều thảm cảnh nhưng con người với cái tâm hiền vẫn vòi vọi đứng không quỵ ngã. Văn phong đôn hậu, chữ nghĩa thật thà đã có tác dụng ảnh hưởng đến người đọc. Bao nhiêu năm trôi qua, tôi mỗi khi đọc lại những chuyện ngắn này thấy đời sống dù sao cũng còn nhiều người tốt và không phải chỉ toàn là lang sói và lừa lọc như những bi hài kịch thường diễn ra mỗi ngày của thực tế đời thường...
Những năm 1984.1985, nhà xuất bản Lá Bối ở hải ngoại có in một tác phẩm “Ði” với tác giả Hồ Khanh. Cuốn sách đã tạo ra dư luận xôn xao một thời lúc đó. Ðược in ở hải ngoại và chính ông là tác giả mang tên Hồ Khanh để ngụy trang. Câu chuyện kể lại một chuyến vượt biên ở vào thời điểm mà cây cột đèn đường ở Sài Gòn cũng muốn xuống ghe tìm tự do như lời người dân ví von. Có những đại gia đình mấy chục người vùi thân nơi Biển Ðông sóng dữ và cũng không biết bao nhiêu người bị bắt giam tù tội cũng như biết bao nhiêu gia đình bị tan nát sống lang thang vỉa hè vì vượt biên không thoát. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã mang chính cuộc đời những con cháu mình để tạo thành một tác phẩm vẽ lại một thời kỳ cực kỳ đen tối của đất nước. Người dân bị đẩy vào những cảnh ngộ không lối thoát và đã mang chính sinh mạng của mình và gia đình mình đánh bạc với rủi may. Chính vì chất bi thảm nên động tới lương tâm nhân loại và rốt cuộc mới có những đợt thuyền nhân và bộ nhân tới định cư ở các nước tự do.
Riêng với tôi, tôi biết những chi tiết trong “Ði” thực tới một trăm phần trăm và hình như rất ít hư cấu. Tôi vượt biên cùng chuyến tàu với gia đình con cháu của nhà văn Doãn Quốc Sỹ nên khi đọc lại những trang sách thấy mồn một rõ những nhân vật với cả những cá tính và cả hoàn cảnh nữa. Khi thường đi lại với người bạn cùng Không Quân là con rể của bác Doãn Quốc Sỹ ở căn nhà ở con hẻm đường Thành Thái tôi đã thấy được đời sống tuy thanh bạch mà rất nghệ sĩ. Sau khi bác Sỹ mới được thả về lần thứ nhất và công an để ý, nhưng ở nhà các con vẫn tụ họp ca hát những ca khúc ngày xưa mỗi khi có bạn bè mặc kệ công an mặc kệ dò xét. Tôi nhớ có lần buổi tối ghé thăm thì thấy trước cửa con nít trong xóm bu đông lại xúm xít để nghe ca nhạc. Dù đời sống lúc đó khá thiếu thốn nhưng vẫn đầy tinh thần lạc quan. Trong hoàn cảnh căng thẳng như lúc ấy, không phải là dễ để có những phong cách như vậy.
“Ði “đã mô tả rất thực hoàn cảnh gia đình nhà văn cũng như cuộc sửa soạn chuyến vượt biển và những ngày trên biển Ðông nên có sự lôi cuốn từ người thực việc thực. Những lá thư của con cháu gửi về tả lại đời sống ở trại đảo cũng như ở xứ người biểu lộ tâm tư khá tiêu biểu của những người bị dồn vào thế phải bắt buộc xa quê hương. Ra đi mà vẫn ngoái nhìn về đất nước với những người thân còn ở lại. Riêng tôi, tôi có cảm nhận rằng tác phẩm được viết ra với một tấm lòng thương con thương cháu vô bờ. Người thường nếu có tâm tưởng như thế cũng có thể viết xuất sắc huống chi một nhà văn nổi tiếng là đôn hậu thì sự lôi cuốn độc giả sẽ lên đến mức nào!
Nhà văn Nguyên Vũ chủ trương nhà xuất bản Văn Hóa hình như đang tiến hành việc in lại toàn bộ Doãn Quốc Sỹ Toàn Tập. Công việc này quả thực rất hay và cần thiết nữa. Một nhà văn tư cách đức độ có những tác phẩm tiêu biểu nói lên tâm tư của một thế hệ có phải xứng đáng để chúng ta trân trọng thành những di sản cho những thế hệ sau này...
-
Nguyễn_Sydney
- Posts: 2581
- Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
- Been thanked: 1 time
3 Tuần lễ ở Sàigon
Chiếc phi cơ của hãng hàng không Jet Star Úc chở gia đình tôi đến Phi trường Tân sơn Nhất sớm hơn nửa tiếng đồng hồ. Hai người nữ tiếp viên của Jet star tiễn tôi bằng hai nụ cười ,chúc tôi có những ngày Vui vẻ ,đón tôi ở ngay cửa là 2 nữ tiếp viên mặc Áo dài xanh không có Nụ Cười.
Tôi đến quầy Hải quan làm thủ tục.Trên đầu quầy là chiếc Nón.Mặt người Hải quan lạnh lùng. Rất may ,vợ tôi đi trước ,chắc có nói tôi và con đi cùng , nên 2 cha con tôi được xét Passport cùng 1 lúc. Khoảng 10 phút sau ,nghe được tiếng đóng dấu 4 cái ,tôi được trả lại Passport cùng giấy nhập cảnh tạm thời. lấy hình lý và đi ra khỏi cửa với Sức Nóng khủng khiếp.
Trong khi chờ đợi người nhà ra đón , nhìn trước mắt Phi trường là một màn hình To lớn của hãng Samsun đang quảng cáo show trình diễn ca nhạc của nam Ca sĩ Đại hàn Bi.Với giá "mềm " 250.000 tiền VN .
Chiếc taxi chở gia đình tôi về đường Nguyễn đình Chiểu Quận 3 , dọc theo đường Nam Kỳ khởi nghĩa Tiêu Công Lý.là các quán ăn , nhà lầu với những đèn màu Xanh đỏ lấp láy. Nước Mía Siêu Sạch , Hàng Cao cấp , Quán ăn Đa quốc tịch v..vv. Tuy ngồi trên xe ngắm nhìn phố xá , nhưng mắt tôi không rời nhìn về phía trước , để xem những người chạy xe hơi , xe gắn máy ra sao.Và nhiều khi cứ sợ Xe của Họ đâm vào xe Taxi của mình cùng hòa nhịp với tiếng bóp còi Xe hơi ,xe gắn máy liên tục ,rất may Tim tôi tốt và đầu tôi không bị đau nhức. Xe Hơi , xe gắn máy , ai nấy chạy loạn xạ ,không cần luật lệ. Cứ vượt qua nhau là được ,kể cả Vượt Đèn Đỏ.
Vì phi cơ đến buổi tối ,nên tôi không nhìn được toàn cảnh phi trường Tân sơn nhất lúc Phi cơ từ từ đáp xuống.
mà chỉ nhìn qua khung cửa , những Ánh đèn xanh đỏ phía dưới báo hiệu sự hấp dẫn về đêm Sàigon .
Chiếc phi cơ của hãng hàng không Jet Star Úc chở gia đình tôi đến Phi trường Tân sơn Nhất sớm hơn nửa tiếng đồng hồ. Hai người nữ tiếp viên của Jet star tiễn tôi bằng hai nụ cười ,chúc tôi có những ngày Vui vẻ ,đón tôi ở ngay cửa là 2 nữ tiếp viên mặc Áo dài xanh không có Nụ Cười.
Tôi đến quầy Hải quan làm thủ tục.Trên đầu quầy là chiếc Nón.Mặt người Hải quan lạnh lùng. Rất may ,vợ tôi đi trước ,chắc có nói tôi và con đi cùng , nên 2 cha con tôi được xét Passport cùng 1 lúc. Khoảng 10 phút sau ,nghe được tiếng đóng dấu 4 cái ,tôi được trả lại Passport cùng giấy nhập cảnh tạm thời. lấy hình lý và đi ra khỏi cửa với Sức Nóng khủng khiếp.
Trong khi chờ đợi người nhà ra đón , nhìn trước mắt Phi trường là một màn hình To lớn của hãng Samsun đang quảng cáo show trình diễn ca nhạc của nam Ca sĩ Đại hàn Bi.Với giá "mềm " 250.000 tiền VN .
Chiếc taxi chở gia đình tôi về đường Nguyễn đình Chiểu Quận 3 , dọc theo đường Nam Kỳ khởi nghĩa Tiêu Công Lý.là các quán ăn , nhà lầu với những đèn màu Xanh đỏ lấp láy. Nước Mía Siêu Sạch , Hàng Cao cấp , Quán ăn Đa quốc tịch v..vv. Tuy ngồi trên xe ngắm nhìn phố xá , nhưng mắt tôi không rời nhìn về phía trước , để xem những người chạy xe hơi , xe gắn máy ra sao.Và nhiều khi cứ sợ Xe của Họ đâm vào xe Taxi của mình cùng hòa nhịp với tiếng bóp còi Xe hơi ,xe gắn máy liên tục ,rất may Tim tôi tốt và đầu tôi không bị đau nhức. Xe Hơi , xe gắn máy , ai nấy chạy loạn xạ ,không cần luật lệ. Cứ vượt qua nhau là được ,kể cả Vượt Đèn Đỏ.
Vì phi cơ đến buổi tối ,nên tôi không nhìn được toàn cảnh phi trường Tân sơn nhất lúc Phi cơ từ từ đáp xuống.
mà chỉ nhìn qua khung cửa , những Ánh đèn xanh đỏ phía dưới báo hiệu sự hấp dẫn về đêm Sàigon .
Anh Năng ơiNguyễn_Sydney wrote:3 Tuần lễ ở Sàigon
Trong khi chờ đợi người nhà ra đón , nhìn trước mắt Phi trường là một màn hình To lớn của hãng Samsun đang quảng cáo show trình diễn ca nhạc của nam Ca sĩ Đại hàn Bi.Với giá "mềm " 250.000 tiền VN .
.
Nghe nói show bị lỗ vì Bi thì chỉ giới trẻ, sinh viên học sinh thích.. mà giá thì cả triệu đồng thì tiền đâu mà mua vé đại hạ giá mà vẫn không bán được nhiều.

-
Nguyễn_Sydney
- Posts: 2581
- Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
- Been thanked: 1 time
Uỷ lạo Thương phế binh VNCH
Sáng thứ hai 12 tháng 3 , tôi được tin một vị mạnh thường quân từ Nam Ca li sẽ tặng quà cho một số anh em Thương binh VNCH tại nhà thờ Huyện Sĩ Sàigon.
Đúng 7 giờ 30 , tôi đã có mặt trước cửa nhà thờ Huyện Sĩ.
lần lượt từng anh em Thương phế binh , người thì đi bộ , người ngồi xe lăn , người được con cháu chở bằng xe Honda lại , có người mù hai mắt được người bạn dẫn lại khoảng 30 người.
Đúng 8 giờ vị mạnh thường quân Bác sĩ Hà xuân Du và phu nhân cựu nữ ca sĩ Phương Tâm (chuyên hát nhạc kích động thập niên 60 ) , nhà thơ Hoàng song Liêm.Rồi có nhà văn Văn Quang , nhà báo Đoàn Dự , Sài gon Cô Nương (viết báo ) cũng dến.
Nhà báo Văn Quang kéo tất cả anh em Thương phế binh vào ngồi hàng ghế đá trong sân nhà thờ , nói đôi lời giới thiệu vị mạnh thường quân Hà xuân Du , sau đó chính tay Bác sĩ Hà xuân Du và phu nhân lần lượt trao tận tay các anh em Thương phế binh mỗi người một phong bì trong đó có một số tiền.
Nhân dịp này , tôi cũng thay mặt một vị mạnh thường quân ở Sydney trao thêm các anh em thương phế binh mỗi người
20.000 tiền VN hay 50.000 tuỳ theo mức độ tàn phế .Đặc biệt có một cựu Sĩ quan Đà lạt ở mãi Tây Ninh vì cụt hai chân không đi được , tôi đã gởi tặng 50 dollars Australia.
(vị mạnh thường quân ở Sydney gởi tôi 300 dollars Úc được ,nhờ tôi chuyển giao ).Như vậy hôm đó tôi đã chia tất cả 250 dollars .Còn 50 dollars , tôi đã lên thăm Nghĩa trang Biên Hoà , dể thăm mộ các Chiến sĩ Vô danh.
Ngày thứ ba 20 /3 ,tôi đã ghé thăm Nghĩa trang Biên Hoà
Tại lối vào Nghĩa trang Biên Hoà , mặc dù có 2 bộ đội canh gác ,tôi vẫn được một người Thương phế binh chở bằng Honda vào để thắp nhang.và nhờ những người ở gần nghĩa trang làm sạch sẽ những ngôi mộ Hoang. Những ngôi mộ tôi thăm viếng toàn là anh em Nhẩy Dù chết năm 68, 69,và 70.
Tôi đứng thắp nhang giữa những ngôi mộ Hoang mà lòng quặn đau và khóc thầm mà thương cho những người Chiến sĩ Vô Danh đã Hy sinh vì Chính nghĩa Quốc gia , bây giờ nằm đó mà không có thân nhân thăm viếng.
Tôi về giữa chốn hoang sơ
Quỳ ôm hôn những ngôi mộ hoang vu


Sáng thứ hai 12 tháng 3 , tôi được tin một vị mạnh thường quân từ Nam Ca li sẽ tặng quà cho một số anh em Thương binh VNCH tại nhà thờ Huyện Sĩ Sàigon.
Đúng 7 giờ 30 , tôi đã có mặt trước cửa nhà thờ Huyện Sĩ.
lần lượt từng anh em Thương phế binh , người thì đi bộ , người ngồi xe lăn , người được con cháu chở bằng xe Honda lại , có người mù hai mắt được người bạn dẫn lại khoảng 30 người.
Đúng 8 giờ vị mạnh thường quân Bác sĩ Hà xuân Du và phu nhân cựu nữ ca sĩ Phương Tâm (chuyên hát nhạc kích động thập niên 60 ) , nhà thơ Hoàng song Liêm.Rồi có nhà văn Văn Quang , nhà báo Đoàn Dự , Sài gon Cô Nương (viết báo ) cũng dến.
Nhà báo Văn Quang kéo tất cả anh em Thương phế binh vào ngồi hàng ghế đá trong sân nhà thờ , nói đôi lời giới thiệu vị mạnh thường quân Hà xuân Du , sau đó chính tay Bác sĩ Hà xuân Du và phu nhân lần lượt trao tận tay các anh em Thương phế binh mỗi người một phong bì trong đó có một số tiền.
Nhân dịp này , tôi cũng thay mặt một vị mạnh thường quân ở Sydney trao thêm các anh em thương phế binh mỗi người
20.000 tiền VN hay 50.000 tuỳ theo mức độ tàn phế .Đặc biệt có một cựu Sĩ quan Đà lạt ở mãi Tây Ninh vì cụt hai chân không đi được , tôi đã gởi tặng 50 dollars Australia.
(vị mạnh thường quân ở Sydney gởi tôi 300 dollars Úc được ,nhờ tôi chuyển giao ).Như vậy hôm đó tôi đã chia tất cả 250 dollars .Còn 50 dollars , tôi đã lên thăm Nghĩa trang Biên Hoà , dể thăm mộ các Chiến sĩ Vô danh.
Ngày thứ ba 20 /3 ,tôi đã ghé thăm Nghĩa trang Biên Hoà
Tại lối vào Nghĩa trang Biên Hoà , mặc dù có 2 bộ đội canh gác ,tôi vẫn được một người Thương phế binh chở bằng Honda vào để thắp nhang.và nhờ những người ở gần nghĩa trang làm sạch sẽ những ngôi mộ Hoang. Những ngôi mộ tôi thăm viếng toàn là anh em Nhẩy Dù chết năm 68, 69,và 70.
Tôi đứng thắp nhang giữa những ngôi mộ Hoang mà lòng quặn đau và khóc thầm mà thương cho những người Chiến sĩ Vô Danh đã Hy sinh vì Chính nghĩa Quốc gia , bây giờ nằm đó mà không có thân nhân thăm viếng.
Tôi về giữa chốn hoang sơ
Quỳ ôm hôn những ngôi mộ hoang vu


Last edited by Nguyễn_Sydney on Sat Mar 31, 2007 10:28 am, edited 4 times in total.



