Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Chân Dung Người Lính

(tiếp theo)
- Anh cứ lái thật bình tĩnh, chỉ ngừng lại khi có lịnh tôi. Đứa nào hung hăng chặn đường, cứ cán bỏ.

Xe chạy được một lát, tài xế bị buộc phải giảm tốc độ vì mấy chiếc xe GMC chở đầy “cựu” tù binh Cộng Sản chạy cản đường phía trước. Rõ thật khôi hài. Ngày 25-4-1975, Tiểu Khu Bạc Liêu mở cuộc hành quân truy lùng và đánh thắng một trận lớn, hạ hàng trăm Việt Cộng tại trận, bắt sống gần năm mươi tên. Những tên Cộng Sản bị bắt, được xe chở quanh phố cho đồng bào xem mặt. Hôm đó, có bầy con nít chạy theo xe chỉ trỏ, hò hét “Đả đảo Cộng Sản”. Hôm nay, chắc cũng toán Việt Cộng ấy lại được chở đi cho bầy con nít chạy theo nhảy múa, hô to khẩu hiệu “Hoan hô Giải Phóng” theo đúng giọng điệu mấy tên ngồi trên xe.

Sự hiện diện của chiếc quân xa chở theo năm người súng đạn cầm trên tay, quân phục chỉnh tề, trong tư thế sẵn sàng chiến đấu, đã là cái gai trước mắt của các cán binh Cộng Sản. Họ la ó, hầm hừ như muốn ăn tươi nuốt sống chúng tôi. Đưa được chiếc xe “đi đến nơi về đến chốn”, người chiếm công đầu chính là Hạ sĩ I Tân tài xế.

Tân vốn người hiền lành chất phác, luôn vui vẻ cùng đồng đội, tận tụy với công việc được trao phó. Hôm nay trước tình thế “dầu sôi lửa bỏng”, tôi mới nhận ra sự bình tĩnh, gan dạ ẩn dấu trong con người Tân. Nhìn gương mặt cương nghị, đôi môi mím chặt, đôi mắt khi nhìn thẳng; lúc liếc dọc liếc ngang đều như muốn chọc thủng mọi vật cản trước đầu xe. Tân gồng đôi bàn tay nắm thật chặt vô lăng, giữ cho chiếc xe không bị chao đảo. Đó là một trong những hình ảnh sống động trong tôi mỗi khi nhớ về biến cố 30-4 của cuộc đời mình. Xe về đến đơn vị, tôi cảm thấy như mình vừa vượt qua được bầu không khí đông đặc đến lạnh người.

*

Trở về nơi làm việc, đầu tôi rối tựa tơ vò. Nhìn lên tấm bảng trưng bày các công tác Chiến Tranh Chính Trị, những ảnh chụp cảnh sinh hoạt vẫn còn nằm nguyên đấy. Tôi tiến đến xé nát từng tấm một, như xóa đi dấu tích in đậm nét các việc tôi làm. Lòng tôi tan nát theo từng mảnh giấy. Nhìn sang chiếc bàn bên cạnh, thấy Mẫn đang xếp lại bộ quần áo dân sự, tôi lên tiếng hỏi:

- Anh mang đồ sơ vin vào đây làm gì vậy?

- Mặc quân phục ra đường lúc này ớn quá, tôi mang bộ đồ này vào để thay mỗi khi về nhà ăn cơm.

Nhớ đến mấy tủ hồ sơ, tôi nhắc điện thoại gọi qua Sư Đoàn, Hạ sĩ Hòa tổng đài viên báo cho tôi biết ngay:

- Phòng An Ninh chẳng còn ai nữa đâu Trung úy ơi!

Tôi chán nản buông ống nghe xuống, quay sang hỏi Thượng sĩ Mẫn:

- Tôi dặn anh lo vụ hồ sơ An Ninh từ ban sáng, anh lo xong chưa?

- Tôi gọi qua phòng An Ninh nhiều lần, nhưng chẳng gặp một ai, hay Trung úy lên trình Thiếu tá xem sao?

Tôi gật đầu:

- Được, để tôi lên hỏi ông.

Bên ngoài trời đã nhá nhem tối, nhìn vào bên trong văn phòng, Thiếu tá Thanh ngồi bất động như một bóng ma. Vào đến nơi, tôi lên tiếng:

- Sao Thiếu tá không bật đèn lên?

- Tôi không cần ánh sáng!

Tôi ngồi xuống ghế rồi hỏi tiếp:

- Thưa Thiếu tá, tôi cố liên lạc với phòng An Ninh, hỏi họ về việc thiêu hủy hồ sơ. Bên phòng chẳng còn một ai. Tôi trình sự việc này lên để Thiếu tá quyết định.

Ngẫm nghĩ một lát, ông chán nản thốt lên:

- Bây giờ không cần lệnh lạc gì nữa. Thiêu hủy hay không là tùy nơi anh.

Nếu được toàn quyền, tôi đã thiêu hủy ngay từ ban sáng, nhưng đến bây giờ vẫn chưa muộn. Nhớ lại cảnh ngồi trên xe chạy qua phố hồi chiều, nghĩ tới bộ quần áo sơ vin trên tay Mẫn, tôi lại hỏi:

- Thưa Thiếu tá, khi họ vào đây, mình sẽ mặc quân phục hay thường phục?

Ông nghiêm ngay nét mặt, quắc mắt lên, nhìn thẳng tôi, nói như mắng:

- Anh còn tư cách của một người quân nhân hay không?

Tôi cảm thấy xấu hổ với chính mình. Từ ngày làm việc với Thiếu tá Thanh đến giờ, đây là lần đầu tiên tôi bị ông mắng và tỏ vẻ phiền trách. Tôi không chút giận hờn mà càng kính phục ông thêm. Trước lúc trở về ban mình, tôi lý nhí trong miệng:

- Tôi xin lỗi đã hỏi Thiếu tá câu vừa rồi.

Về đến bàn làm việc, trời tối hẳn, tôi bảo Thượng sĩ Mẫn, hãy tìm cách thiêu hủy hồ sơ. Ít phút sau, Mẫn cùng vài ba anh em binh sĩ khệ nệ khiêng về phân nửa cái phi cũ đặt nơi phía sân sau, rồi phụ giúp tôi lôi hết giấy tờ ra châm lửa đốt. Tôi đốt sạch hai tủ hồ sơ, không để lại một mảnh giấy lộn.

*

Từ hướng Quốc Lộ 4 dẫn xuống Cà Mau, ánh đèn xe di chuyển liên tục làm sáng cả một góc trời. Các đoàn xe ấy đang chở Việt Cộng và một số nông dân tiến vào thành phố. Lòng tôi se lại mỗi lúc tiếng reo hò rót vào tai. Một vài tiếng chửi thề bực tức vang lên đâu đó, tôi không hiểu đồng đội tôi chửi đổng hay chửi chính bản thân mình? Hoặc chửi mấy tên Cộng Sản một sớm một chiều bỗng trở thành kẻ chiến thắng.

Tôi buông màn nằm xuống giường nhưng không tài nào chợp mắt. Từng cơn gió thoảng đưa hơi nóng từ đống tro tàn hồ sơ còn âm ỉ, làm căn buồng oi bức thêm. Tôi định nhắc điện thoại lên gọi nói chuyện với nhà tôi, nhưng lại chẳng nghĩ ra lời nào cần nói trong giờ phút này. Ngày mai khi người Cộng Sản vào đây, họ sẽ đối xử với anh em chúng tôi ra sao? Tôi lúc mê lúc tỉnh chập chờn như người mang tâm bệnh.

Bỗng tôi vùng dậy thật nhanh khi nghe nhiều tiếng ồn ào như có cuộc đánh nhau phía ngoài cổng. Lúc tôi chạy đến nơi thì cũng vừa lúc Thiếu úy Minh sĩ quan trực đêm ra tới. Mấy chục anh em binh sĩ đứng vây quanh Hạ sĩ Trung, còn Trung vừa nói vừa múa tay múa chân như người đang giảng giải một thế quyền. Thấy tôi, Trung tiến đến đứng trước mặt, hít một hơi dài rồi kể lại từ đầu câu chuyện:

- Hàng chục tên Việt Cộng mới nhào vô đơn vị mình Trung úy ơi. Lúc đó chỉ có em và ba đứa nữa đứng gác trước cổng, nên mới bị tụi nói giựt mất một khẩu M16 và một khẩu M79. Nếu không tuân lệnh Thiếu tá Tiểu Đoàn Trưởng, em đã nổ súng hạ ngay mấy tên đó rồi. Trong lúc giằng co, em dùng báng súng dộng một thằng bể đầu. Khi anh em mình ra tới, tụi nó hăm dọa sẽ quay trở lại trả thù rồi khiêng thằng bị thương chạy mất.

Nghe xong tôi liền khuyên can:

- Các anh em phải thật bình tĩnh, tôi và Thiếu úy Minh sẽ thảo luận phương cách đối phó với họ.

Tôi và Minh vừa bước vào phòng sĩ quan Trực, chưa kịp nói với nhau lời nào, thì tiếng huyên náo lại vang lên trước cổng. Trung sĩ I Có, hạ sĩ quan Trực bước đến trước mặt tôi và Minh báo cáo:

- Trình Trung úy và Thiếu úy, có một toán Việt Cộng trang bị súng ống đầy đủ đang đứng trước cổng, đòi cho vào gặp Đơn Vị Trưởng.

Tôi quay sang Minh:

- Tôi và anh ra ngoài ấy xem sao.

Tuy ngoài miệng tôi ăn nói mạnh bạo quyết liệt, thực ra tôi chẳng thấy an tâm chút nào vì sắp phải đối đầu với mấy tên Việt Cộng. Chính sự gan lỳ của Hạ sĩ Trung và các anh em binh sĩ giúp tôi lấy lại bình tĩnh mạnh dạn bước đi. Ra đến cổng, nhìn qua bên kia vòng rào kẽm gai, tôi đếm được khoảng mươi tên Cộng quân, kẻ đứng kẻ ngồi chồm hổm, áo quần lôi thôi lếch thếch, mang đủ các loại súng ống, nào B40, M16, AK...Thấy tôi và Minh ra tới, một người đeo khẩu K54 xệ dưới thắt lưng, tiến đến trước mặt tôi hống hách phân trần về sự việc vừa mới xảy ra. Anh buộc chúng tôi phải giao nạp ngay người đã đánh lính anh ta bị thương. Tôi chưa biết phải giải quyết cách nào, nhìn sang Minh hỏi ý kiến, Minh khẽ lắc đầu. Ngẫm nghĩ một lát, tôi lên tiếng:

- Anh đứng đây chờ, tôi đi trình sự việc này lên cho Đơn Vị Trưởng tôi biết.

Nói đến đấy, tôi ngừng lại, nhìn thẳng vào mặt viên chỉ huy, cố gằn giọng nói:

- Trong lúc tôi đi, anh phải ra lệnh cho binh sĩ thuộc quyền không được gây bạo động. Báo cho anh biết, đơn vị chúng tôi rất đông, tôi không muốn có một sự việc đáng tiếc nào xảy ra thêm nữa.

Tên chỉ huy nghểnh mặt đáp:

- Được! Nhất trí với anh.

Tôi và Minh quay vào phòng sĩ quan Trực. Vừa đi Minh vừa hỏi:

- Giờ Trung úy tính sao?

- Thiệt tình tôi chẳng biết giải quyết bằng cách nào, chỉ còn nước trình cho Thiếu Tá hay.

Ngẫm nghĩ thêm một lát tôi bảo Minh:

- Nghe tôi nói cứng, chắc mấy tên này không dám động tĩnh gì đâu, tôi chỉ sợ mấy anh em mình thấy tụi nó đứng lố nhố gai mắt rồi khảy đại vài viên thì mệt đó.

Minh nhanh nhẩu đề nghị:

- Vậy để tôi ra ngoài cổng ngồi chung với anh em trong lúc Trung úy đi trình sự việc lên Thiếu tá.
Last edited by khieulong on Fri Apr 20, 2007 5:08 am, edited 1 time in total.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Chân Dung Người Lính

(tiếp theo)
Tôi bước vội về hướng căn nhà nằm cuối dãy, nơi Thiếu tá Thanh đang ở. Nhìn đèn trong nhà vẫn còn sáng, tôi đưa tay gõ lên cánh cửa. Tiếng ông Đơn Vị Trưởng từ bên trong hỏi vọng ra:

- Ai đó?

- Thưa tôi Hưởng đây Thiếu tá.

Cánh cửa rộng mở, Thiếu tá Thanh hiện ra nhìn tôi lên tiếng:

- Có việc gì không Hưởng?

Nghe tôi nói năng lắp bắp, ông chỉ chiếc ghế mời tôi ngồi, ôn tồn nói:

- Anh ngồi nghỉ một lát lấy lại bình tĩnh rồi kể rõ sự việc cho tôi nghe.

Ngả lưng xuống ghế, tôi móc túi lấy thuốc ra châm. Hít được vài hơi, cảm thấy trong người tỉnh táo trở lại, tôi nhanh chóng tường thuật mọi diễn biến vừa xảy ra. Thiếu tá Thanh chau mày nghĩ ngợi, một lát sau ông bảo:

- Anh trở ra cho họ vào đợi tôi trước phòng Trực.

Tôi đứng thẳng người, đưa tay lên chào, rồi lui bước.

Gặp lại tôi, Minh âu lo hỏi nhanh:

- Thiếu tá tính sao vậy Trung úy?

- Thiếu tá bảo, đưa họ vào phòng Trực đợi ông ra giải quyết.

Tôi đến bên hàng rào kẽm gai. Toán Việt Cộng vẫn đứng ngồi nguyên đấy. Tôi nói với viên chỉ huy, nhân tiện cảnh báo luôn toán lính của hắn:

- Trước khi cho anh vào gặp ông Đơn Vị Trưởng. Tôi yêu cầu anh ra lệnh cho binh sĩ thuộc quyền phải giữ gìn kỷ luật, không được đi lại lung tung. Nếu hai bên xảy ra xô xát, sẽ rất nguy hiểm cho các anh.

Viên chỉ huy lập lại câu nói ban nãy:

- Tôi nhất trí với anh.

Tôi ra dấu bảo người lính gác ra mở cổng, cả toán Việt Cộng lầm lũi bước theo sau tôi tiến vào bên trong doanh trại. Đến trước phòng Trực, tôi quay lại bảo họ:

- Mấy anh đứng đây chờ tôi đi mời ông Tiểu Đoàn Trưởng.

Lính tráng trong đơn vị kéo ra mỗi lúc mỗi đông thêm. Hai bên lườm nhau chằm chằm, như muốn ăn tươi nuốt sống nhau. Tôi đến bên Thiếu úy Minh nói vừa đủ nghe:

- Trong lúc tôi đi mời Thiếu Tá, anh ra đứng cạnh tên chỉ huy, để phòng khi có anh em nào nóng nảy làm bậy mình còn trở tay kịp.

Minh gật đầu, tôi rảo bước. Cánh cửa nhà Thiếu tá Thanh vẫn mở. Thấy Tôi vào đến, ông lên tiếng hỏi ngay:

- Đưa họ vào chưa?

- Thưa Thiếu tá, tụi nó đang đứng chờ bên ngoài phòng Trực.

- Đúng năm phút sau tôi ra tới.

Trở lại phòng Trực, tôi báo cho mọi người biết để sửa soạn đón tiếp ông. Khi Thiếu tá Tiểu Đoàn Trưởng vào đến phòng Trực, tôi dõng dạc hô lớn:

- Vào hàng! Phất!

Mọi người đồng loạt đứng lên, nghiêm chỉnh giơ tay chào. Thiếu tá Thanh chào lại rồi kéo ghế ngồi vào bàn sĩ quan Trực. Toán Việt Cộng đứng bên ngoài ngơ ngác, tỏ vẻ sợ sệt vì không hiểu chúng tôi đang làm trò gì. Chào kính xong, tôi ra dấu bằng mắt để Minh đưa tên chỉ huy vào. Anh ta tiến đến đứng đối diện tôi, dáng dấp không còn hùng hổ như lúc đứng bên ngoài hàng rào. Thiếu tá Thanh ngẩng mặt lên, nghiêm nghị nói:

- Tôi Thiếu tá Lương Duy Thanh chỉ huy đơn vị này, anh cho tôi biết anh là ai?

- Tui là Năm Tất Trung Đội Trưởng.

- Anh muốn gặp tôi để làm gì?

Năm Tất lập lại tất cả những điều đã nói với tôi. Dù đã biết rõ mọi sự việc, Thiếu tá Thanh vẫn lắng tai nghe từng lời tường thuật. Năm Tất dứt lời, ông nhìn thẳng vào mặt anh ta, bằng một giọng ôn tồn nhưng đanh thép ông nói:

- Tôi lấy làm tiếc cho sự việc vừa xảy ra. Anh có điều tra rõ nguyên nhân không? Anh có biết lính anh đã ngang nhiên vào đây cướp giựt súng đơn vị tôi không? Tôi cho anh biết trong tỉnh Bạc Liêu lúc này có nhiều tên côn đồ xuất hiện. Làm sao binh sĩ tôi phân biệt được người đến giựt súng là côn đồ hay Cách Mạng? Rất may, binh sĩ tôi biết tuân hành kỷ luật, nếu không đã có nổ súng, thì sự việc còn đáng tiếc biết là chừng nào. Chúng tôi đã tuân lệnh bàn giao của thượng cấp. Ngày mai, sau khi bàn giao đơn vị xong, tất cả súng ống ở đây đều thuộc về các anh. Việc gì các anh phải đi cướp giựt. Thuộc cấp tôi báo cho tôi biết, các anh giựt của chúng tôi một khẩu M79 và một khẩu M16. Anh có biết chuyện này không?

Năm Tất ấp úng đáp:

- Có.

- Vậy anh phải ký giấy nhận là lính anh đã vào cướp của đơn vị tôi mấy cây súng đó, để ngày mai khi bàn giao, người phía các anh không gây khó khăn cho chúng tôi. Anh biết cách làm việc chứ?

Nói xong ông xé một mảnh giấy trong quyển sổ trực trao cho hắn. Năm Tất lom khom cúi xuống bàn viết tờ biên nhận. Khi trao tờ giấy lại cho Thiếu tá Thanh xong y lại đòi hỏi:

- Giờ tôi yêu cầu anh giao nạp ngay người đã đánh chiến sĩ tôi bị thương.

Nhìn thẳng vào mặt năm Tất, Thiếu tá Thanh gằn giọng:

- Anh đã ký nhận là lính anh vào đây giựt hai khẩu súng. Như vậy người giựt súng có tội hay người giữ súng có tội? Đã gọi là “chiến sĩ” thì phải biết kỷ cương chứ!

Năm Tất ú ớ không trả lời được, cứ đứng nguyên một chỗ. Thấy vậy, Thiếu tá Thanh mỉm cười rồi nhỏ nhẹ gỡ rối cho hắn:

- Tôi biết...anh nóng lòng vì người bên anh bị thương, nhưng nay anh hiểu rõ mọi chuyện rồi, tôi tin sẽ không còn việc gì rắc rối nữa. Tôi phải về lo xếp đặt mọi thứ để ngày mai bàn giao cho phía các anh, cám ơn anh nhiều.

Quay sang tôi, Thiếu tá Thanh bảo:

- Trung úy, tiễn anh Năm Tất giùm tôi.

Nói xong ông đứng lên, bước nhanh ra cửa. Năm Tất biết chẳng làm gì hơn được, hắn quay ra ngoài, ngoắc tay gọi đám lính theo y rời khỏi doanh trại.

Năm Tất ra đi tuy không đem ra được người anh ta đòi hỏi, ngược lại hắn đã nhìn rõ chân tướng người lính Việt Nam Cộng Hòa trong uy thế của một quân lực chính quy.

Tuy bị buộc buông súng, nhưng không chịu khiếp nhược trước kẻ thù. Không biết anh em trong đơn vị nghĩ gì về sự việc ấy? Riêng tôi thì thở phào nhẹ nhõm vì vừa trút bỏ được mọi sự âu lo trước một vấn đề quá khó khăn. Tôi cũng vừa học được bài học quý giá về sự bình tĩnh trước sự đòi hỏi phi lý của kẻ tự coi mình chiến thắng.

Thế mới biết: không chỉ vâng phục theo mọi mệnh lệnh của người Cộng Sản là được an thân. Mình tiến thì nó lùi, không dám đặng đằng chân, lân đằng đầu đối với mình.

Sau này gặp lại Năm Tất trong trại tù, ngụy trang dưới mỹ danh học tập cải tạo. Nhận ra tôi, anh đến gần nói vài câu xã giao xong, anh nhắc lại chuyện cũ rồi thổ lộ:

- Tôi rất cảm phục ông Đơn Vị Trưởng của anh, mọi người bên “ngụy” mà đều như anh ta thì sự việc đã đổi khác rồi.

Tôi cũng bảo anh ta:

- Bây giờ ông Đơn Vị Trưởng tôi đang là “chiến lợi phẩm” của Cách Mạng rồi đó!

Suốt đêm hôm ấy, không riêng gì tôi mà hầu như mọi anh em trong đơn vị đều thức trắng, chia sẻ với nhau nỗi đớn đau từ khi có lệnh buông súng, nỗi ưu tư về một tương lai u tối. Ngoài chuyện Việt Cộng vào giựt súng, không còn sự việc gì đáng ghi nhớ xảy ra.

Đoạn Ba

Danh Dự - Trách Nhiệm

Tôi bước ra khỏi giường ngủ lúc trời tờ mờ sáng, trên người vẫn còn nguyên bộ quân phục mặc từ hôm qua. Tờ lịch 30-4 vẫn còn đó. Đối với mọi người một ngày mới đã bước sang. Còn riêng quân nhân Tiểu Đoàn 21 Truyền Tin, ngày đau thương nhất nước, ngày đau thương nhất đời vẫn còn đang tiếp diễn.

Đồng hồ trên tay tôi chỉ đúng 6 giờ sáng, tức giờ thứ 30 của biến cố 30-4 trong tôi. Nghĩ đến người Đơn Vị Trưởng đáng kính, tôi quyết định thay bộ quân phục mới. Dù bị buộc phải làm kẻ chiến bại, nhưng hình hài tôi không thể nhầu nát trước mặt đối phương.

Thay xong bộ quân phục ủi hồ thẳng nếp, như một phản ứng tự nhiên, tôi bước thẳng xuống Câu lạc bộ tìm ly cà phê buổi sáng. Vừa đi tôi vừa nghĩ, chẳng biết hôm nay Câu lạc bộ có mở cửa không? Tôi có ngay câu trả lời, bởi mũi tôi vừa ngửi được mùi cà phê mới pha thơm phức.

Bước vào bên trong Câu lạc bộ, chẳng còn chiếc ghế nào trống. Thấy tôi đưa mắt nhìn quanh tìm chỗ ngồi, một binh sĩ đứng lên nhường cho tôi chiếc ghế, tôi kéo lại ngồi bên cạnh Đại úy Trần Duy Chinh. Đại úy Chinh, là sĩ quan ở Tiểu Đoàn lâu nhất, tuổi đời và tuổi lính ông đều hơn nhóm sĩ quan trẻ chúng tôi. Nhưng khi nói chuyện với đàn em, không khi nào ông xưng hô mày tao chi tớ.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Đoạn Ba

Danh Dự - Trách Nhiệm

(tiếp theo)
Đại úy Chinh nói năng nhỏ nhẹ, miệng luôn tươi cười như một thư sinh yêu đời. Sáng nay nét vui tươi bình thường trên gương mặt ông biến mất hẳn. Tôi hỏi thăm ông:

- Đêm qua Đại úy ngủ được không?

Ông lắc đầu chán nản nói như lời trần tình:

- Ông thấy không, từ lúc mất Ban Mê Thuột đến giờ, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa như bị trói tay, có được đánh đấm gì đâu, chỉ toàn di tản, bỏ dân, bỏ đất cho Cộng Sản. Cho đến giờ phút này, từ Sàigòn xuống đến tận Cà Mau, lực lượng mình vẫn còn nguyên vẹn, nhưng bị buộc phải buông súng, tôi thấy đau lòng quá.

Tôi buồn bã tiếp lời:

- Tôi nghĩ, mất Miền Nam là bởi sự phản bội của đồng minh, bởi thiếu cấp lãnh đạo có khả năng, chớ không phải vì người lính Miền Nam yếu hèn hơn người lính phương Bắc. Tướng Dương Văn Minh là Tổng Tư Lệnh Tối Cao đã ra lệnh buông súng. Chúng ta, những người lính được huấn luyện chỉ biết làm người thi hành mệnh lệnh thượng cấp, thì còn làm được gì để xoay ngược tình thế? Đại úy thấy không, mọi lời bàn tán, mọi điều suy tư trong lúc này đều lâm vào bế tắc. Vì chúng ta không được quyền chiến đấu, thì đương nhiên không thể bảo rằng Quân Lực này chiến bại được.

Mọi lời nói, mọi lối nghĩ suy chỉ để thoát bớt niềm đau đớn cho chính mình và cho đồng đội, chớ ai cũng đều biết: thể chế và quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã bị cáo chung.

Sáng hôm nay Câu lạc bộ có gì đãi nấy, chẳng còn bán buôn gì trong giờ phút này nữa. Trung sĩ I Mạch Văn Hồng người trực tiếp trông nom câu lạc bộ, chỉ muốn chu toàn nhiệm vụ đến giờ phút cuối cùng, cho nên vẫn mở cửa như thường lệ đãi đằng anh em. Mang ly cà phê nóng đến cho tôi, Hồng bảo:

- Hôm nay còn cái gì tôi đem ra mời anh em. Ăn uống không hết, tôi đổ bỏ, chỉ để lại cho bọn quỷ đỏ cái nhà Câu lạc bộ trống không này thôi.

Lúc tôi rời Câu lạc bộ, Hạ sĩ Vinh bước vào. Vinh giơ tay chào tôi. Nhìn lên, thấy đầu Vinh không còn một sợi tóc, tôi ngạc nhiên hỏi:

- Sao em cạo đầu vậy Vinh?

Vinh bùi ngùi:

- Em cạo đầu để tang cho Tổ Quốc!

Vinh là một quân nhân ngang bướng nhất trong đơn vị. Chỉ mỗi mái tóc thôi, tôi phải phạt lên phạt xuống, bắt cắt đi cắt lại ba bốn lần, nhưng tóc anh vẫn dài. Vậy mà hôm nay Vinh lại tự tay cạo đi mái tóc. Nhìn cái đầu trọc với gương mặt buồn xo, tôi thấy thương Vinh vô hạn.

Lời nói cùng việc làm của Hồng và Vinh biểu tỏ cho tôi thấy đôi chút tâm tình của người lính Miền Nam trước lúc chịu bức tử. Một vài hành động, một vài cử chỉ tuy rất nhỏ nhặt đơn sơ nhưng giúp họ toát bớt được một phần nào nỗi ấm ức chất chứa trong lòng.

*

Đúng vào giờ thứ 32 ngày 30-4-1975, tức 8 giờ sáng 1-5 nếu tính theo giờ đồng hồ, kẻng tập họp trỗi lên như thường lệ. Mọi người tiến nhanh ra sân cờ. Trong mắt tôi hàng quân hôm nay đông đủ hơn, kỷ luật hơn mọi ngày. Thượng sĩ Thường Vụ điểm danh xong, báo cáo quân số lên Đại Đội Trưởng Chỉ Huy Công Vụ. Đại úy Chinh rời hàng quân bước vào văn phòng trình diện Tiểu Đoàn Trưởng. Khi Thiếu tá Thanh và Đại úy Chinh tiến ra sân cờ, Thiếu úy Minh sĩ quan Trực dõng dạc hô lớn:

- Thiếu tá Tiểu Đoàn Trưởng đến. Nghiêm! Chào tay! Chào!

Bàn tay mọi người đồng loạt giơ lên đặt ngang vành nón sắt. Thiếu tá Thanh dừng bước, ông đứng trong tư thế nghiêm chào hàng quân. Minh dõng dạc tiếp tục điều khiển buổi lễ:

- Phất! Thao diễn nghỉ!

Thủ tục chào kính xong. Thiếu tá Tiểu Đoàn Trưởng đưa mắt nhìn khắp hàng quân, ông hít một hơi thật mạnh, với giọng đầy xúc động, ông chậm rãi nói như mở lòng mình ra cùng thuộc cấp:

- Thưa tất cả anh em. Cho đến giờ phút này chúng ta vẫn còn là người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Chúng ta vẫn có thể hiên ngang kéo lá Quốc Kỳ lên. Nhưng người Cộng Sản đã vào đến thành phố, những người thân yêu của chúng ta và toàn dân Miền Nam đã lọt vào tay họ. Trước lúc bước ra đây, tôi tự hỏi lòng: có nên kéo lá cờ lên cho ngạo nghễ tung bay thêm vài giờ, rồi để người Cộng Sản lôi nó xuống chà đạp sau khi họ vào tiếp thu đơn vị không? Hay mỗi người chúng ta tự cất giữ, bảo vệ lá Quốc Kỳ trong lòng mình? Nghĩ vậy nên tôi quyết định, buổi chào cờ hôm nay không có lá Quốc Kỳ. Chúng ta hãy xem lá Quốc Kỳ thân yêu mà chúng ta và biết bao người đổ máu bảo vệ nó, đã được kéo xuống từ lúc vị Tổng Tư Lệnh Tối Cao, Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Nhưng tôi tin, lá Quốc Kỳ sẽ tồn tại mãi trong lòng tôi, trong lòng các anh em và trong lòng người dân Miền Nam chiến đấu cho lý tưởng Tự Do.

Thiếu tá Thanh ngừng lại giây lát, thêm một lần nữa ông đưa mắt nhìn khắp hàng quân. Mọi người đều đứng im cúi mặt lắng nghe. Ông nói tiếp:

- Tất cả chúng ta hãy đồng một lòng ngước mắt nhìn lên cột cờ, tưởng như lá cờ vàng ba sọc đỏ đang tung bay phất phới. Chúng ta vẫn có thể đồng hát bản Quốc Ca, nhưng lời ca tiếng hát giờ đây có còn gây hưng phấn cho dân chúng như mọi ngày không? Hay nó đem lại cho họ sự lo sợ? Vì vậy, chúng ta sẽ hát Quốc Ca thật lớn, nhưng...hát ở trong lòng.

Lại thêm một lần nữa Thiếu Tá Thanh ngừng nói, như để từng lời ông tâm tình, ngấm sâu vào lòng mỗi người lính. Ông lại đảo mắt nhìn khắp hàng quân rồi ban lệnh:

- Bây giờ anh em chuẩn bị làm lễ chào Quốc Kỳ.

Theo như thường lệ, sĩ quan Trực là người điều khiển buổi lễ chào cờ. Nhưng hôm nay, Thiếu tá Thanh trực tiếp làm mọi chuyện. Ông hô to:

- Nghiêm!

Hàng quân đồng loạt làm theo lệnh ông.

- Lễ chào Quốc Kỳ bắt đầu! Chào tay! Chào! Thượng kỳ! Quốc Ca!

Mọi người đứng im phăng phắc, mắt ngước nhìn lên cột cờ. Tôi như thấy lá cờ vàng ba sọc đỏ đang từ từ kéo lên. Tôi trút bỏ hết những ưu tư trong người, để lòng mình hòa vào từng câu hát. Lời ca không được phát ra bên ngoài nên tôi nuốt trọn nó vào lòng. Nhìn sang hàng quân đối diện, môi ai cũng đang mấp máy. Tôi quay về thực tại khi tiếng hô dõng dạc của ông Tiểu Đoàn Trưởng vang lên:

- Phất! Thao diễn nghỉ! Một phút mặc niệm các chiến sĩ đã hy sinh cho Tổ Quốc! Nghiêm! Chào tay! Chào!

Bầu không khí linh thiêng bao phủ khắp sân cờ. Tôi như thấy hồn thiêng sông núi đang lẩn khuất đâu đây. Tôi cúi đầu nhận tội với tiền nhân vì không làm tròn trách nhiệm với quê hương đất nước. Tâm tư tôi thoáng hiện hình ảnh bạn bè, đồng đội và những người đã hy sinh trong cuộc chiến, nghĩ đến nỗi đau khổ của Quân Dân Miền Nam...Trong người tôi không còn chỗ chứa những niềm đau, những nỗi uất hận. Tôi nghe tiếng nấc nghẹn đâu đó trong hàng quân, tiếng khóc cứ lan dần, lan dần...đến lúc này thì tôi không còn kềm hãm nổi mình nữa, để mặc nước mắt tuôn trào. Hầu như mọi người đều khóc. Phút mặc niệm qua đi, Thiếu tá Tiểu Đoàn Trưởng đứng nghiêm chào đoàn quân rồi nói trong nghẹn ngào:

- Thôi các anh em tan hàng.

Thiếu tá Thanh cúi mặt bước vội vào văn phòng, mọi người cũng lặng lẽ rời sân cờ.

*

Trong đơn vị tôi ngoài anh em cơ hữu ra còn có hơn ba mươi khóa sinh do các đơn vị thuộc Vùng IV Chiến Thuật gởi đến thụ huấn chuyên môn về Truyền Tin. Tuy là lính mới, nhưng tất cả đều tuân hành kỷ luật hết sức nghiêm minh. Lúc tôi đang thơ thẩn đếm bước đi không định hướng. Anh trưởng lớp đến chào tôi rồi lên tiếng hỏi:

- Thưa Trung úy, hôm nay tụi em có phải vào lớp học không?

Tôi lắc đầu bảo:

- Không có học hành gì nữa cả, anh cho anh em về phòng sửa soạn đồ đạc, sẵn sàng rời đơn vị sau khi bàn giao cho Việt Cộng.

Người khóa sinh đi rồi, tôi lê bước trở về ban mình. Trên chiếc bàn làm việc thường ngày, chỉ còn hai cái điện thoại đen nằm trơ trọi. Căn phòng hôm nay như hoang phế, chẳng còn gì ngoài vài bộ bàn ghế và mấy cái tủ hồ sơ trống không. Ngay như cái bảng nhỏ: “Trung Uý Nguyễn Văn Hưởng

Sĩ Quan An Ninh - Chiến Tranh Chính Trị”

mới đặt làm mấy tháng trước, tôi cũng cho quăng luôn vào lửa đốt tối hôm qua.

Thượng sĩ Thanh, với hơn 20 năm quân ngũ, từng là cựu tù binh Cộng Sản, đang ngồi cúi mặt, chống tay lên cằm. Còn Thượng sĩ Mẫn, chẳng biết làm gì, lại lôi mấy bộ quần áo sơ vin ra xếp đi xếp lại. Phần tôi, ngồi một chỗ không yên, bước ra đứng giữa khung cửa, đưa mắt nhìn vài ba anh em binh sĩ ngồi bệt giữa sân cờ trò chuyện.
Last edited by khieulong on Fri Apr 20, 2007 5:09 am, edited 1 time in total.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Danh Dự - Trách Nhiệm

(tiếp theo)
Không ai che dấu được nét ưu tư trên gương mặt. Chợt tiếng chuông điện thoại reo vang. Thượng sĩ Thanh uể oải nhắc ống nghe lên. Nói chuyện điện thoại, nhưng người Hạ sĩ quan già này vẫn quen với giọng điệu nói trên máy vô tuyến. Mắt ông mở thật to, còn miệng há hốc ra, cứ lập đi lập lại mỗi điệp khúc:

- Nhận rõ...nhận rõ...nhận rõ.

Buông ống nghe xuống, giọng ông nói như lạc đi:

- Thằng Hòa “Tổng Đài” vừa báo tin: Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam và Chuẩn tướng Lê Văn Hưng, đã dùng súng lục bắn vào đầu tự sát hồi rạng sáng hôm nay rồi!

Hai mí mắt tôi tự nhiên khép lại, đứng như bất động. Một lát sau, tôi bước trở lại bàn làm việc, buông mình xuống ghế, tâm tư hướng về hai vị tướng vừa nằm xuống.

Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, giữ chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn IV - Quân Khu IV mới gần được nửa năm, nên tôi chưa có dịp gặp mặt. Ai cũng biết, ông là một vị tướng suốt đời xông pha nơi trận tuyến, lập biết bao chiến công. Ông được mọi người ngưỡng mộ không chỉ vì là một cấp chỉ huy có tài, mà còn là một người đạo đức thanh liêm. Ông sống độc thân, nên dành hết thời giờ cho đời binh nghiệp và cho quốc gia dân tộc.

Còn với Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, đã lần lượt đảm trách các chức vụ Đại Đội Trưởng, Tiểu Đoàn Trưởng, Trung Đoàn Trưởng và Tư Lệnh của Sư Đoàn 21 Bộ Binh. Nhưng hình ảnh oai hùng nhất của ông trong tôi chính là 2 tháng dài ông tử thủ An Lộc. Những ngày ấy, tôi lo việc thiết lập hệ thống liên lạc cho Bộ Chỉ Huy Tiền Phương Sư Đoàn 21 Bộ Binh, đóng tại Tân Khai, cách hầm trú ẩn Tướng Hưng chỉ hơn mươi cây số. Tôi đã thấy hàng ngàn đồng bào Bình Long gồng gánh, bồng bế, dắt dìu nhau, men theo quốc lộ 13 tìm về vùng Quốc Gia. Chúng tôi đã bất chấp quy luật hành quân, cho dân chúng tràn vào tuyến phòng thủ, để họ có nơi trú ẩn, hầu tránh bị thương vong mỗi khi phải hứng chịu những trận pháo kinh hồn.

Cơn mưa pháo có ngày lên tới 7,500 trái, đã biến An Lộc thành bình địa, nhưng không làm nổ tung được ý chí quyết giữ An Lộc, quyết bảo vệ mấy chục ngàn đồng bào Bình Long bị kẹt giữa vùng lửa đạn của Đại tá Lê Văn Hưng. Nhưng hôm nay, vận nước ngả nghiêng, một viên đạn súng lục đã cướp đi cuộc đời vị Tướng anh hùng.

Tôi ôm mặt, cúi đầu nhắm mắt cầu nguyện, tiễn đưa hương hồn hai vị chỉ huy đáng kính. Trang sử Việt oai hùng có thêm hai vị tướng chết theo thành. Chắc anh linh Tướng Nam, Tướng Hưng giờ này đang hội ngộ cùng Võ Tánh, Ngô Tùng Châu, Hoàng Diệu, Phan Thanh Giản,... nơi miền tiên cảnh.

*

Mãi đến lúc ngồi nhìn mấy anh em binh sĩ lăng xăng dọn bữa cơm trưa nóng sốt lên bàn, tôi mới tự hỏi: Thường ngày nhà bếp sĩ quan chỉ nấu cho Thiếu Tá Thanh và vài ba anh em độc thân ăn thôi. Thế mà kể từ trưa hôm qua đến giờ, con số người ăn tăng lên gấp bốn năm lần, chợ búa thì không nhóm họp. Chẳng hiểu Trung sĩ Hỷ làm cách nào để lo tươm tất, đầy đủ từng bữa ăn cho bao nhiêu con người ấy? Tôi muốn hỏi thăm cùng nói đôi lời cám ơn Hỷ, nhưng Hỷ bận việc luôn tay. Cho nên mãi đến bây giờ, lời cám ơn ấy vẫn còn nằm nguyên trong lòng tôi và điều tôi muốn biết cũng sẽ vĩnh viễn là một bí ẩn. Tôi chỉ suy ra được một điều là mọi anh em trong đơn vị tôi, đều cố gắng chu toàn nhiệm vụ của mình cho đến khi phải ngậm ngùi từ giã đời lính.

Nếu tính cho đến giây phút những dòng chữ này được viết ra, tôi đã sống qua hơn nửa thế kỷ, nói chính xác hơn là đã sống gần hai vạn một ngàn ngày, ăn trên bốn vạn bữa cơm. Nếu chỉ được chọn ăn một bữa cơm duy nhất trong đời, tôi không ngần ngại chọn ngay bữa ăn cuối cùng của cuộc đời lính trong ngày 30-4-1975. Tôi vẫn biết bữa ăn hôm ấy không có sơn hào hải vị, không rượu ngon, còn miệng tôi cay đắng nuốt không trôi hết nửa bát cơm. Nhưng lòng tôi no đầy tình đồng đội, cái tình “sống chết có nhau là huynh đệ chi binh”. Tôi cũng ghi tạc từng lời Thiếu tá Tiểu Đoàn Trưởng tỏ lòng mình ra cùng các sĩ quan thuộc cấp:

- Tôi rất hãnh diện về tinh thần kỷ luật của anh em trong đơn vị. Trọn ngày hôm qua, tôi đắn đo suy nghĩ rất nhiều về việc ra lệnh cho mọi người đi đâu thì đi hay ở lại đây chờ họ vào? Phủi tay bỏ đi lúc này thật quá dễ. Tôi đã thầm trách các cấp lãnh đạo, các cấp chỉ huy bỏ mặc đồng bào, bỏ rơi đồng đội. Nay chính tôi lại làm như vậy hay sao? Rồi tôi nghĩ đến câu “Tổ Quốc - Danh Dự - Trách Nhiệm” trên huy hiệu người chiến binh Việt Nam Cộng Hòa. Chúng mình đã bị trói tay không bảo vệ được Tổ Quốc, nhưng còn Danh Dự - Trách Nhiệm, tôi phải bảo vệ vẹn toàn. Nghĩ thế nên tôi quyết định ngồi lại đây chờ họ đến, cho họ nhìn thấy tận mắt và hiểu rằng người lính Việt Nam Cộng Hòa không hèn yếu, khiếp nhược. Riêng bản thân tôi, tuy không dám chết vinh như hai vị tướng Nguyễn Khoa Nam và Lê Văn Hưng, nhưng tôi quyết không chịu sống nhục.

Nói xong, ông quay sang bảo Đại úy Chinh và tôi:

- Khi bọn họ đến đơn vị mình, tôi sẽ ngồi trong văn phòng, anh Chinh và anh Hưởng ra cổng hướng dẫn họ vào gặp tôi.

Một ngày mà không một người Việt Quốc Gia nào tưởng tượng có thể xảy đến đã đến. Chỉ còn vỏn vẹn vài giờ nữa đơn vị tôi chính thức bị giải thể, đời lính của tôi cũng kể như xong. Hơi thở tôi vẫn còn, súng đạn vẫn còn...Nhưng tôi đành bất lực đứng chờ giờ phút cuối của đơn vị, giờ phút cuối của đời lính mình. Trong giờ phút sau cùng này, tôi thấy rõ hơn lúc nào hết cái tinh thần bất khuất không khiếp sợ Cộng Sản của từng người trong đơn vị tôi. Riêng những người trực tiếp trông coi hệ thống liên lạc, mỗi lần nhắc điện thoại lên, các anh đều báo ngay cho chúng tôi biết, người đầu dây bên kia là Quốc Gia hay Cộng Sản. Các anh còn nắm vững và báo cáo đầy đủ tình hình các nơi, nên tuy chỉ lẩn quẩn trong vòng rào đơn vị, nhưng mọi diễn biến bên ngoài tỉnh Bạc Liêu chúng tôi đều hay biết.

*

Đến giờ thứ 38, tức 2 giờ chiều ngày 1-5-1975, một Đại Đội Việt Cộng tiến vào đơn vị tôi. Tuy mang danh Đại Đội, nhưng quân số chỉ hơn hai mươi người. Họ đến bằng xe GMC. Chiếc xe ngừng ngay lại giữa cổng chính. Toán lính ngồi trên hai băng ghế phía sau đồng loạt nhảy xuống, làm ra vẻ xung trận, tấn công tiến chiếm mục tiêu, rải người cầm súng chạy chiếm giữ các điểm trọng yếu. Đêm qua dưới ánh điện le lói, tôi không nhìn rõ toán quân Cộng Sản. Lúc này giữa ban ngày, những nét rừng rú, quê mùa hiện rõ lên trên từng gương mặt. Họ ăn mặc lôi thôi lếch thếch, chỉ có vài người mang dép râu còn lại đều đi chân đất. Từ trên ghế trưởng xa, một người đeo khẩu K54, nhảy xuống xe, ông ta cố tạo cho mình dáng vẻ một cấp chỉ huy. Nhìn thấy tôi và Đại úy Chinh đứng trước phòng tiếp tân, ông tiến lại hất hàm lên tiếng hỏi:

- Hai anh có phải là người chỉ huy đơn vị này không?

Đại úy Chinh đáp:

- Không phải. Anh là ai, cho tôi biết tên và chức vụ để tôi vào trình cho ông Đơn Vị Trưởng tôi biết?

- Tôi là Thành Biển, Chính Trị Viên Đại Đội.

- Anh đi theo tôi.

Thành Biển bước theo sau Đại úy Chinh và tôi tiến vào văn phòng Tiểu Đoàn Trưởng.

Trong lúc Thiếu tá Thanh và Thành Biển ngồi nói chuyện. Binh sĩ hai bên Quốc - Cộng chỉ đứng lườm nhau.

Nửa giờ sau, kẻng tập họp vang lên, theo lệnh Thiếu úy Minh sĩ quan Trực, mọi người nhanh chóng xếp thành hàng lối. Điểm danh xong, Đại úy Chinh ra hiệu cho tôi vào văn phòng mời Tiểu Đoàn Trưởng. Khi Thiếu tá Thanh cùng Thành Biển ra khỏi văn phòng. Đại úy Chinh dõng dạc hô to:

- Thiếu tá Tiểu Đoàn Trưởng đến! Nghiêm! Chào tay! Chào!

Tiếng hô của Đại úy Chinh và những cách tay đồng loạt giơ lên chào kính người Đơn Vị Trưởng làm kinh ngạc toán lính Việt Cộng đến tiếp thu. Nhìn anh em trong quân phục chỉnh tề cùng lễ nghi quân cách trang trọng, đối nghịch hoàn toàn với toán quân ô hợp. Tôi ngậm ngùi tự hỏi. Tại sao chúng tôi lại phải bàn giao quyền lực cho một toán quân như vậy? Hỏi chỉ để cho lòng bớt thổn thức, cho vơi đi sự đau đớn chứ chúng tôi còn làm được gì trong giờ phút này, khi lịch sử đã sang trang. Rồi mai đây, tất cả chúng tôi còn phải phục tùng nghe theo một cách bất đắc dĩ mọi mệnh lệnh của những con người đang đứng đó.

Thiếu tá Thanh đứng nghiêm chào hàng quân xong. Đại úy Chinh lại dõng dạc hô lớn:

- Phất! Thao diễn! Nghỉ!

Thiếu tá Thanh tiến lên đứng riêng một mình trước mặt hàng quân. Với giọng thật cảm động ông nói lời từ giã:

- Thưa các anh em, đây là lần cuối cùng tôi đứng nói chuyện trước anh em. Tôi cám ơn tất cả quân nhân các cấp. Trong suốt thời gian tôi giữ nhiệm vụ chỉ huy đơn vị này, anh em đã giúp tôi chu toàn nhiệm vụ của một người quân nhân. Hôm nay, tuân hành nghiêm chỉnh lệnh thượng cấp, đơn vị chúng ta buông súng bàn giao cho quân “Cách Mạng”. Trước khi từ biệt, tôi có lời khen ngợi tất cả anh em đã giữ đúng tinh thần kỷ luật cho đến giờ phút cuối cùng. Tôi cầu chúc anh em và gia quyến được mọi điều an khang. Sau đây tôi xin giới thiệu anh Thành Biển, Chính Trị Viên Đại Đội đến tiếp thu đơn vị chúng ta.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Danh Dự - Trách Nhiệm

(tiếp theo và hết)
Thành Biển khẽ cúi đầu chào hàng quân. Thiếu tá Thanh nói tiếp:

- Giờ đây tôi trở xuống đứng cùng với anh em và trao quyền lại cho anh Thành Biển.

Nói xong ông đứng nghiêm giơ tay chào hàng quân rồi bước xuống đứng bên cạnh Đại úy Chinh. Lúc ông lui bước, tôi nghe được nhiều tiếng nấc nghẹn vang lên đâu đó...Thành Biển tiến lên vị trí Thiếu tá Thanh vừa rời khỏi, ông gật đầu chào mọi người. Có lẽ bị khớp trước một hàng quân chỉnh tề, Thành Biển cất giọng run run, nói toàn những lời hoa mỹ:

- Thưa các anh em, nãy giờ tôi và anh Thanh thảo luận với nhau về việc tiếp quản đơn vị. Trước tiên tôi có lời khen tặng tất cả anh em đã tuân hành đúng đắn chỉ thị của Cách Mạng, buông súng đầu hàng tránh đổ máu. Xin các anh em an tâm và vững tin vào chính sách khoan hồng trước sau như một của Cách Mạng, là luôn tha thứ những kẻ lầm đường lạc lối, biết ăn năn hối cải quay về với tổ quốc dân tộc. Chúng tôi sẽ đối xử tử tế với tất cả anh em binh sĩ Cộng Hòa, chẳng những bây giờ mà mãi mãi sau này...cũng vậy. Đơn vị anh em là đơn vị kỹ thuật, Cách Mạng rất cần sự hợp tác của các anh em để quản lý tốt máy móc. Nếu anh em nào muốn làm việc cho Cách Mạng, tôi sẽ coi như các anh em đã gia nhập Cách Mạng trước ngày 30-4. Còn những ai muốn về quê quán làm ăn sinh sống, tôi sẽ cấp giấy tờ, cung cấp mọi phương tiện để giúp xây dựng lại cuộc đời mới.

Ngừng lại một lát, Thành Biển nói tiếp:

- Bây giờ, những anh em nào muốn phục vụ Cách Mạng, tôi yêu cầu giơ cao tay lên và bước ra khỏi hàng.

Nói xong, Thành Biển đảo mắt nhìn khắp hàng quân. Không một cánh tay nào giơ lên, không một ai bước khỏi hàng ngũ mình. Sự bất hợp tác này làm Thành Biển sụ mặt sượng sùng. Chờ thêm một lát, Thành Biển tiếp tục diễn thuyết:

- Chính sách Cách Mạng luôn tôn trọng tự do con người. Các anh em đều muốn trở về quê quán làm ăn sinh sống, tôi sẽ cấp giấy giới thiệu với chính quyền địa phương để họ giúp đỡ các anh em tái lập lại cuộc sống mới.

Tuy Thành Biển nói toàn lời ngon tiếng ngọt, nhưng tôi và đồng đội không một ai dấu được vẻ ưu tư lo lắng.

“Lễ” bàn giao xong, Thành Biển dè dặt bước vào văn phòng Tiểu Đoàn Trưởng. Anh ta ngồi vào bàn Thiếu tá Thanh, cấp giấy đi đường cho các binh sĩ và hạ sĩ quan. Còn thành phần sĩ quan, anh ta cho biết: phải đợi lệnh của Ủy Ban Quân Quản Tỉnh Bạc Liêu.

*

Tôi nhìn lại căn phòng làm việc lần cuối, từ cánh cửa, từ bực thềm, từ cái bàn cái ghế, tuy cũ kỹ, đơn sơ, nhưng ghi dấu biết bao ngày tôi miệt mài ở đấy. Những kỷ niệm vui buồn trong căn phòng này sẽ mãi không phai trong tôi. Gần sáu năm sống nơi đây, giờ phải vĩnh viễn lìa xa, làm sao tôi không quyến luyến bịn rịn cho được. Bước sang hội trường, bục thuyết trình nằm trơ trọi trong góc, tai tôi nghe như có tiếng anh em vỗ tay đồng ca theo nhịp quân hành.

Nơi đây tôi đã hun đúc tinh thần binh sĩ, tôi đã hùng hồn biện minh cho sự tất thắng của chính nghĩa Tự Do. Nhưng từ nay về sau, trong hội trường này, trên bục gỗ này, người Cộng Sản sẽ mặc tình khoác lác về chiến thắng vinh quang anh hùng của họ, rồi lên mặt nguyền rủa chúng tôi.

Các binh sĩ cùng các hạ sĩ quan lãnh giấy tờ xong, có người tìm tôi từ giã, có người lẳng lặng ra về. Nghĩ đến vị Tiểu Đoàn Trưởng khả kính, tôi đi như thất thểu tìm ông. Ông đứng dựa lưng vào cây cột trước căn nhà ông ở, hết nhìn ra sân lại nhìn vào văn phòng nơi ông làm việc. Tôi tiến lại, lẳng lặng đứng cạnh bên, ông quay lại nhìn tôi với đôi mắt thật buồn, tôi lí nhí trong miệng:

- Thưa Thiếu tá, những ngày còn ở lại Bạc Liêu, xin mời Thiếu tá lại nhà tôi ở tạm.

- Cám ơn anh, việc đó tôi sẽ tính sau. Đêm nay tôi ngủ trong đơn vị.

Ngày 30-4 sắp hết trong tôi, nhưng ngày ấy vẫn còn tiếp diễn nơi ông Đơn Vị Trưởng. Đêm nay chỉ một mình ông cô đơn trong doanh trại, không có lấy một anh em đồng đội. Tôi không còn biết làm gì hơn ngoài việc dâng lời cầu nguyện, xin ơn trên ban bình an cho ông. Bắt tay từ giã, tôi thấy trong đôi mắt sâu thẳm của ông tuy buồn nhưng ánh lên nét bất khuất của một quân nhân.

Bước chân ra khỏi cổng là tôi vĩnh viễn rời xa nơi này, ngày chia tay với đơn vị của tôi sao quá buồn thảm. Trên đỉnh cột cờ, lá cờ nửa xanh nửa đỏ của Việt Cộng vừa mới kéo lên đang lạch bạch bay trong gió. Vài ba chú lính Việt Cộng lục lọi những máy móc liên lạc truyền tin, chốc chốc lại rú lên cười như vừa khám phá ra một điều gì mới lạ. Trên lô cốt, mấy tên Việt Cộng cũng bò lên ngồi gác. Nhìn ra cái ao trước mặt đơn vị, tôi bắt gặp một gã bộ đội đang ngồi vo gạo, tôi bước tới nói với anh ta:

- Nước ao này dơ lắm, cầu tiêu đàng kia kìa, không dùng nấu ăn được đâu!

Không những không nghe lời tôi khuyên, anh còn vênh mặt lên lớp:

- Các anh Tiểu tư sản quen rồi, nước nào mà lại dùng không được!

Nói xong, anh tiếp tục công việc đang làm dở dang. Nhìn qua cử chỉ, nghe giọng anh nói, tôi nhận ra rằng: Lời nói của người Quốc Gia cho dù có thực tâm, có ý xây dựng, kể từ giờ phút này hoàn toàn vô giá trị trước người Cộng Sản.

Tôi lẳng lặng dắt xe ra cổng. Quay lại nhìn đơn vị lần cuối, tám dãy nhà tôn mờ đi, tôi phải gỡ kính xuống lau mắt để nhìn cho rõ.

Lái xe về nhà tôi quên hẳn mình đang mặc trên người bộ quân phục Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa giữa lòng thành phố đã hoàn toàn lọt vào tay Cộng Sản.

Thường khi xe về đến đầu con hẻm rẽ vào nhà, tôi hay gặp bé Tâm bốn tuổi, con anh chị Hảo, đứng chơi trước hiên nhà. Bé hay ngừng chơi vỗ tay reo mừng đón tôi:

- Trung úy đi làm về, Trung úy đi làm về...

Hôm nay, em chỉ mới kịp reo lên:

- Trung úy...

Thì chị Hảo chạy vội ra, lấy tay bịt ngay miệng con lôi vào nhà. Người mẹ ngước mắt lên nhìn tôi nửa ái ngại, nửa xót thương rồi chị cúi xuống dặn con:

- Từ đây về sau con kêu bằng chú, đừng gọi Trung úy nữa nghe chưa. Coi chừng Giải Phóng họ bắt đó.

Đứa bé ngạc nhiên, lấm lét hết nhìn mẹ đến nhìn tôi. Chị Hảo quay sang tôi lý nhí phân trần:

- Phải vậy hông Trung úy... à quên chú Hưởng.

Nghe giọng lập lờ làm tôi thấy thương cho cái chân chất của chị quá chừng. Tôi nhìn cháu bé, quay sang chị Hảo gật đầu, rồ máy cho xe chạy. Vợ tôi ra đứng chờ trước hàng hiên. Vào đến nhà, tôi thả mình xuống chiếc ghế nơi phòng khách, cởi đôi giày máp, cởi bộ quân phục trây di. Đồng hồ trên tay tôi chỉ đúng 5 giờ chiều ngày 1-5-1975. Tôi nhẩm tính lại thời gian, giờ này đúng là giờ thứ 41, giờ cuối cùng của ngày “Ba Mươi Tháng Tư Đen” trong tôi.

Sapy Nguyễn Văn Hưởng

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

MC MỚI CỦA TRUNG TÂM ASIA:
THÙY DƯƠNG, LUẬT SƯ ĐẾN TỪ ÚC CHÂU
Đầu tháng này, tại show diễn có thu hình cho cuốn DVD 54 của trung tâm Asia tại thành phố Atlanta, tiểu bang Georgia, nơi có một cộng đồng Việt Nam thật trẻ trung và sinh động, khán giả dường như bị “hớp hồn” bởi một cô gái thật trẻ, thật xinh với chiếc răng khểnh, có giọng nói thật Bắc Kỳ dù đã lớn lên tại Úc gần 20 năm, có chất giọng tiếng Anh ngồ ngộ vì pha lẫn âm giọng Úc và âm giọng Anh,… Cô cũng là một luật sư, đến từ Úc châu…

Tuy những “vốn liếng” nói trên đã đủ sức làm say bao trái tim của khán giả, nhưng chất say mà cô đã mang lại trong đêm nhạc hôm ấy không phải là vóc dáng, chất giọng, hay tài năng,… mà là một tấm lòng, một tâm nguyện hiến dâng cho cuộc đời bất hạnh…

Chỉ xuất hiện có 5 phút thôi, nhưng khán giả đã dành cho cô cả một trời thương qúy…

Người con gái ấy có tên là Thùy Dương, năm nay mới 24 tuổi, và đã tốt nghiệp trường đại học luật tại Úc,…

Những tưởng cô sẽ tự giới thiệu hay được giới thiệu về tài năng học giỏi của cô, nhưng câu chuyện lại rung động lòng người từ một nhịp sâu khác, nhịp sâu đồng cảm của những người từng ra đi đầy gian truân, từng sống phập phồng và lo âu về ngày mai trong các trại tỵ nạn…

Cô kể lại một câu chuyện rất bình thường mà nhiều người tỵ nạn đã từng trải qua: Gia đình cô mang cô vượt biển, và may mắn thay, cô đến được trại tỵ nạn Hồng Kông năm 1987, 5 ngày trước khi trại đóng cửa và chấm dứt chương trình tỵ nạn. Lúc ấy, cô bé Thùy Dương mới 5 tuổi. Nghe cô kể, tôi bỗng nhớ một tấm ảnh mà tôi thường hay ngắm nhìn khi nghĩ về những mảnh đời tỵ nạn, những tấm ảnh của những trẻ thơ Việt Nam đứng sau hàng rào kẽm gai, và nhìn đời, nhìn về tương lai qua những hàng rào kẽm gai hay bằng lưới chống B40…



Hình ảnh đó từng gây xúc động thế giới, từng làm lương tri nhân loại thổn thức…
Tôi ngồi đó và nghe em kể, tôi như đi ngược giòng thời gian, ngược không gian để nhìn thấy lại những em bé Việt Nam, và có thể trong đó có em, bên hàng rào năm nào ở trại Whitehead hay một trại nào đó ở Đông Nam Á…

Hàng triệu người Việt, đủ mọi lứa tuổi, đổ xô ra biển chạy trốn, tìm tự do sau tháng 4 năm 1975. Nhiều người đã không đến bến bờ, và thân xác đã chìm sâu trong lòng biển cả, và nhiều người đã trải qua những tháng ngày biền biệt trong trại tỵ nạn, và nhiều khi sống sầu buồn trong vô vọng,…

Thùy Dương nhớ lại có một lần đoàn sinh viên Việt Nam từ Hoa Kỳ đến thăm trại tỵ nạn và có cho Thùy Dương một trái táo. Lần đầu tiên trong đời, cô bé Việt Nam được trái táo, cô thích trái táo đến nổi không dám ăn, mà chỉ nâng niu, ôm lấy trái táo vào lòng kể cả trong giấc ngủ,…

Kỷ niệm ấy tuy đã qua, nhưng để lại trong cô, một dấu vết, một dấu hỏi cho chính mình: Bao giờ có dịp để trao lại trái táo đó cho những trẻ em bất hạnh đang cần đến nó? Ân tình mà cộng đồng Việt dành cho cô ở tuổi thơ vẫn là một ám ảnh, một lời réo gọi tình đồng hương, và trái táo trong tâm thức cô lớn dần theo tuổi tác, theo vóc dáng, và cô mơ ước: Rồi sẽ có một ngày…

Và ngày đó đã đến. Sau khi ra tốt nghiệp trường luật, cô tình nguyện về Đông Nam Á, sống và chia xẻ với trẻ em và người bất hạnh 6 tháng, nhưng rồi 6 tháng trôi qua, bước chân cô chưa đành từ giả họ, và cô đã tình nguyện ở lại thêm với họ 6 tháng nữa….

Và sau khi về lại Úc, cô tình nguyện sang Hoa Thịnh Đốn, để cùng đàn anh, đàn chị vận động, thuyết phục thế giới tự do tiếp nhận những người tỵ nạn bất hạnh còn vất vưởng trên những ngõ cụt, ở những đường cùng trên thế giới…


Trái táo ngày xưa vẫn còn ám ảnh trong ký ức của cô và bây giờ cô đến với những mảnh đời bất hạnh để trao lại cho họ trái táo yêu thương mà cô đã từng nhận trong cuộc đời…

Và bên cạnh dòng sống bận bịu ấy, có một ngày cô đi lạc vào thế giới văn nghệ: Ghi danh và thi tuyển MC của trung tâm Asia, và cô đã đoạt giải nhất.

Lần đi lạc vào thế giới văn nghệ này có lẽ sẽ mở cho cô cả một chân trời khác như anh Nam Lộc và Việt Dzũng nhận xét và tiên đoán: Một phát hiện vô giá của trung tâm Asia,… hay cô ta sẽ mở rộng cánh cửa của thế giới MC và thênh thang bước vào…

Đêm thu hình tại Atlanta chỉ là một sự giới thiệu ngắn ngũi về cô, nhưng nguồn tin từ trung tâm Asia cho biết là cô sẽ chính thức trong vai trò MC của Asia từ cuốn tới, cuốn DVD 55…

Cô gái Bắc Kỳ này đã làm say khán gỉa không phải bằng chiếc răng khểnh, không phải bằng giọng Bắc ngọt ngào, không phải bằng nét đẹp, không phải bằng bằng cấp luật sư, mà bằng một tấm lòng của một cô gái: Muốn trao lại cho thế hệ trẻ thơ bất hạnh trái táo yêu thương tình đồng loại, trái táo ngọt lịm của tình người mà cô đã nhận ngày nào…

Và cô đã làm người ngồi bên tôi nhỏ lệ…

Người Cuối Phố

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Để thay đổi không khí, mời quý vị xem sexy Lolita Alizée trình diễn
Happy xem Alizé

----------------------------------------------------

Alizée
J'en ai marre !

2003


--------------------------------------------------------------------------------

J'ai la peau douce
Dans mon bain de mousse
Je m'éclabousse
J'en ris !
Mon poisson rouge
Dans mon bain de mousse
Je l'emmitoufle
Je lui dis :

J'ai pas de problème
Je fainéante
Pas de malaise
Je fainéante
Dans l'eau je baigne
C'est l'important
Bien à mon aise dans l'air du temps

J'ai la peau douce
Dans mon bain de mousse
Je brûle à l'ombre
Des bombes
Tout est délice
Des lits des cibles
Je fais la liste des choses
Qui m'indisposent

{Refrain:}
J'en ai marre de ceux qui pleurent
Qui ne roule qu'à 2 à l'heure
Qui se lamentent et qui s' fixent
Sur l'idée d'une idée fixe
J'en ai marre de ceux qui râlent
Des extrémistes à 2 balles
Qui voient la vie tout en noire
Qui m'expédient dans l' cafard
J'en ai marre de la grande soeur
Qui gémit tout et qui pleure
Marre de la pluie, des courgettes
Qui m' font vomir sous la couette
J'en ai marre de ces cyniques
Et dans les prés les colchiques
J'en ai marre d'en avoir marre
Aussi...

J'ai la peau douce
Dans mon bain de mousse
Pas de secousses sismiques
Je me prélasse
Et me délasse
C'est mon état aquatique
Y'a comme un hic!

{au Refrain}


[video width=400 height=350][/video]

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Mời xem Galina Vale trong bài "Delicada"(Farruca) Sabicas


[video width=400 height=350][/video]

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

VỀ CÁI CHẾT OAN KHUẤT CỦA NHẠC SĨ MINH-KỲ
phạmtínanninh

“Nha Trang là miền quê hương cát trắng
Có những đêm nghe vọng lại, ầm ầm tiếng sóng xa đưa
Nha Trang cánh đồng bao la bát ngát
Hương quê dâng lên ngào ngạt, hòa cùng sức sống yên vui
.......
Ai ơi, người về cho ta nhắn với
Nha Trang quê hương dịu hiền, ngàn đời lòng tôi mến yêu”

Ai đã sinh ra và lớn lên ở Nha Trang, hoặc đã từng ghé lại đây đôi lần, đều không quên bài hát dễ thương này, mà cả một thời gian gần hai thập niên, đài phát thanh Nha Trang đã dùng làm nhạc hiệu mở đầu.
Cuối tháng 3/75, Nha Trang bị nhận chìm trong làn sóng đỏ. Người Nha Trang đã cùng chịu chung số phận. Kẻ bị giết, người bị tù đày, gia đình, bè bạn, thầy trò, chia ly tan tác. Số phận của nhạc sĩ Minh Kỳ, tác giả bài hát này (cùng nhiều bản nhạc về Nha Trang khác nữa) cũng đã gắn liền với định mệnh đau thương của thành phố mà ông đã được sinh ra, hết lòng yêu thương và đã gởi trọn lòng mình qua những dòng nhạc thiết tha trìu mến đó. Ông đã bị giết. Cái chết thê thảm và oan khuất của ông có lẽ được ít người Nha Trang, - dù còn ở trên quê nhà, hay tha phuơng khắp chốn - biết đến
Người viết bài này, có cái cơ duyên được ở chung cùng một trại tù với ông, và cũng đã được tâm sự cùng ông một vài ngày trước khi ông chết.

Đầu tháng 3/75, sau khi Ban Mê Thuột mất, những đơn vị từng sống chết với Cao Nguyên có lệnh triệt thoái. Tôi theo đơn vị, chỉ còn một phần tư quân số, lần lượt “di tản chiến thuật” vào Cam Ranh, rồi Vũng Tàu để tái tổ chức, trước khi tham dự những trận đánh cuối cùng “cô đơn và buồn tẻ” ở những địa danh xa lạ: Cần Giuộc, Bến Lức, thuộc tỉnh Long An, ngăn bước chân địch quân đang ồ ạt kéo về vây hãm Sài Gòn.

Ngày 28/4/75, tôi và cả vợ con, theo lời hẹn của người bạn chí thân, là SQ Hải Quân, có mặt tại Bến Bạch Đằng. Nhưng đến giờ chót, trước sự ngỡ ngàng và tức giận của người bạn có lòng, tôi quyết định không cùng vợ chồng anh ấy xuống tàu di tản. Có lẽ anh không hiểu được là tôi cũng đã khổ tâm biết dường nào để có cái quyết định “sống chết” ấy, mặc dù tôi biết trước là rồi tôi cũng phải trả một cái giá, chắc không nhỏ. Tôi không đành lòng bỏ lại những đồng đội đã theo tôi từ những quê quán miền Trung, mà giờ đây đã trở nên xa tít mịt mờ trong tay giặc, và nhất là cha tôi, người cha đã làm gà trống nuôi con từ lúc tôi mới lên ba, mà tôi được tin là ông đã bị bắt và đang bị giam giữ ở đâu đó ngoài Nha-Trang. Tôi không thể xa ông trong hoàn cảnh khốn cùng này.
Điều đáng ân hận nhất là, dù ở lại để chấp nhận mọi điều, nhưng tôi cũng không bao giờ có cơ hội gặp lại cha tôi. Ông đã chết trong trại cải tạo Đá Bàn, cuối tháng 6/76, và đúng ngay vào cái đêm tôi bị chở bằng xe “bịt bùng” từ trại tù An Dưỡng Biên Hòa ra bến Tân Cảng để xuống tàu Sông Hương ra Bắc. Mãi gần năm năm sau tôi mới nhận đuợc tin buồn.
Trại tù An Dưỡng Biên Hòa, cũng chính là nơi tôi đã gặp nhạc sĩ Minh Kỳ, và đã tâm tình cùng ông một ngày trước khi ông chết.

Tôi trình diện tại Trường Đại Học Kiến Trúc, bị đưa lên nhốt tại trại tù binh Tam Hiệp. Một tháng sau được chuyển đến trại tù An Dưỡng Biên Hòa, nằm bên cạnh phi trường quân sự Biên Hòa. Trại An Dưỡng này, trước là một khu quân sự, về sau đuợc chỉnh trang lại để tiếp nhận những quân nhân tù binh của ta được miền Bắc trao trả theo hiệp định Paris. Họ được nghỉ ngơi, bồi dưỡng cả sức khỏe lẫn tinh thần ở trại An Dưỡng này trước khi trở về đơn vị cũ và gia đình.
Đến trại này, tôi gặp những anh em ở đây từ trước cùng một số mới đuợc chuyển từ các trại khác tới. Gồm đủ các quân binh chủng, kể cả những sĩ quan biệt phái về các Bộ, và Cảnh Sát. Trong số này có nhạc sĩ Minh Kỳ. Tôi ở Nhà 1, còn anh Minh Kỳ ở Nhà 3 (?), cách nhau khu nhà bếp (gọi là hậu cần).
Cũng như những người Nha Trang khác, lớn lên vào những năm giữa thập niên 50, đầu thập niên 60, tôi thuộc lòng những bài hát Nha Trang của nhạc sĩ Minh Kỳ, nhưng chưa hề biết tên thật và cũng chưa được hân hạnh gặp ông. Trong Nhà 1, tôi nằm bên cạnh hai anh bạn tù lớn tuổi hơn tôi. Một anh từ Trường Chỉ Huy Tham Mưu, một anh làm ở Nha Quân Pháp.
Hai anh này rất tốt bụng và vui tính, có quen biết nhạc sĩ Minh Kỳ. Biết tôi là dân Nha Trang, nên có lần anh đã giới thiệu tôi với anh Minh Kỳ.

Nhạc sĩ Minh Kỳ lớn tuổi hơn tôi nhiều, nên tôi gọi ông bằng Anh và xưng em.. Có lẽ bản tính của anh vốn thầm lặng, ít nói, và đặc biệt trong hoàn cảnh như vừa trải qua cơn ác mộng, chưa biết ngày mai sẽ ra sao này, anh lại càng ít nói hơn. Gặp anh vài ba lần, tôi chỉ nói lên lòng hâm mộ của tôi về những bài hát Nha Trang, mà với tôi bây giờ nó lại là những kỷ niệm vô giá. Anh thường chỉ trả lời tôi bằng một nụ cười buồn.

Một đêm, cuối tháng 8/75 (31/08/75?), vào khoảng 09:30 tối, cả trại tù đang chìm trong bóng đêm với cả ngàn người tù đang nằm thao thức, bởi tâm tư còn nặng trĩu lo âu, đang chờ đợi những điều bất trắc nào đó sẽ đến với số phận mình, bỗng một tiếng nổ long trời kèm theo những tiếng la thất thanh, và rồi tiếng còi báo động, tiếng chát chúa trên loa phóng thanh, lệnh cho tất cả “cải tạo viên” nằm yên tại vị trí, kẻ nào bước ra khỏi nhà sẽ bị bắn tại chỗ.

Khi đám tù chúng tôi chưa hết hoang mang, thì tiếng xích sắt xe tăng T 54 tràn vào trại rít lên từng chặp, chia nhau bao vây từng căn nhà. Hằng loạt bộ đội, súng gắn lưỡi lê, mặt tên nào cũng đằng đằng sát khí túa vào từng nhà, kéo cơ bẩm lên đạn, quát tháo chúng tôi đứng dậy ngay tại chỗ, hai tay để trên đầu. Tôi có cảm giác là chúng tôi sắp bị xử tử...
Chúng tôi đứng bất động như vậy cho đến gần 10 giờ trưa. Nhìn qua khe cửa, tôi thấy mấy anh em tù ở nhà 3 khiêng một số người bị thương lên bệnh xá.

Cả ngày sau, tất cả tù đều không được ra khỏi nhà, ngoại trừ đi ra cầu tiêu và ở đó cũng có đầy lính gác. Sau đó, đúng vào ngày 2 tháng 9, Quốc khánh của VC, tất cả chúng tôi được đưa lên hội trường. Ngồi chễm chệ trên dãy bàn trước mặt chúng tôi là những “thủ trưởng” không mang quân hàm, nên chúng tôi cũng chẳng biết họ là ai. Chúng tôi bị “nghiêm khắc” cảnh cáo là “có bọn phản động trong các anh đã dấu diếm vũ khí, mang lựu đạn Mỹ vào để nhằm phá hoại thành quả kách mệnh”(!). Sau đó chúng tôi làm “bản tự khai tội ác” và bắt đầu bài học số 1, “Đế Quốc Mỹ là kẻ thù của nhân dân ta”.
Khi ấy chúng tôi mới biết tiếng nổ tối hôm ấy đã xảy ra tại Nhà 3, làm chết và bị thương khá nhiều. Mọi dấu tích đã được thu dọn sạch sẽ, như chưa hề có việc gì xảy ra.

Có điều cái “sự cố” thảm khốc ấy, không phải như lời “lên lớp” hù dọa của mấy ông thủ trưởng, bởi một điều rất dễ hiểu là ngay từ lúc vào trại cho đến bây giờ, đã qua hằng trăm lần kiểm soát, vã lại hành trang mang theo của mỗi người tù đâu có cái gì, ngoài hai bộ áo quần, cái khăn lau mặt và bàn chải đánh răng. Tiền bạc và tư trang khác đã được “kách mạng” giữ hộ ngay sau khi nhập trại. Vậy thì một trái lựu đạn có phép màu nào lọt vào trong trại. Điều quan trọng hơn, là nếu người tù nào dám liều mạng mang đuợc lựu đạn vào trại thì cũng chỉ nhằm mục đích giết kẻ thù chứ sao lại giết chết bao nhiêu bè bạn của mình?
Những câu hỏi đó đã có sự trả lời chính xác ngay sau đó. Một số bạn tù ở Nhà 3 và Nhà kế bên kể lại như sau:
Nhà 3 (chứa khoảng 80 tù nhân, đa số là SQ Cảnh Sát) nằm đối diện ngay trước Khu Trực Ban và Nhà Vệ Binh của Trại, chỉ cách nhau chừng hơn năm mét và một hàng rào kẻm gai. Khi ấy tổ của nhạc sĩ Minh Kỳ đang họp để phân công nấu bếp vào ngày mai, thì một quả lựu đạn được quăng vào vách tôn ngay phía sau làm 3 người chết tại chỗ và khoảng 8 người bị thương. Nhạc sĩ Minh Kỳ bị thương rất nặng, được anh em tù khiêng lên bệnh xá cùng với những anh em bị thương khác. Ông bị thương ở ngực, bụng và cổ rất nặng. Biết mình sắp chết nên trăn trối với những bạn tù:
- Tụi mày về nói với vợ tao ráng nuôi con tao, chắc tao không sống được.
Sau đó máu ở ngực và cổ chảy ra lênh láng. Ông vừa la vừa rên :
- Sao chân lạnh quá!
- Lạnh quá! Sao bụng tao lạnh quá! Sao ngực tao lạnh quá!
Ông chết từ từ, chết từ chân đến bụng rồi đến ngực cho đến lúc tắt thở.
Một cái chết mà chính Ông cảm nhận được, biết được nó đến với mình từng phút từng giây.
Sáng sớm hôm sau, anh em bạn tù, với sự giám sát của toán vệ binh VC, đem chôn các bạn tù vắn số của mình trên một mảnh rừng bên ngoài vòng đai phi trường quân sự Biên Hòa.
Ai cũng biết là trái lựu đạn giết chết nhạc sĩ Minh Kỳ cùng những người bạn tù khác, là do chính bọn VC quăng từ khu trực ban của Trại phía bên kia hàng rào.
(Có một số Sĩ Quan ngành đạn dược còn cho là tiếng nổ ấy có thể là tiếng nổ của đạn B40 hay B41, có sức tàn phá còn hơn cả lựu đạn).

Và cũng sau ngày ấy, chúng tôi phải chịu một trò chơi trả thù ác độc từ phía những người chiến thắng. Mỗi ngày chia nhau đi gỡ các bãi mìn trong hàng rào phi trường quân sự Biên Hòa.
Họ đã bày ra cái trò giết người dấu tay ở Nhà 3, để rồi lại lấy đó làm lý do giết tiếp những người còn lại bằng cái trò chơi đẫm máu “gỡ mìn” này.
Những bãi mìn này do Công Binh của ta thiết lập chằng chịt dọc theo hệ thống phòng thủ phi trường. Bây giờ, không có sơ đồ những bãi mìn, chúng tôi lại là những người không chuyên môn về mìn bẫy, có nhiều anh em giữ các chức vụ tham mưu, hay đuợc biệt phái về các bộ khác, chưa hề thấy lại quả mìn sau ngày rời khỏi quân trường. Vậy mà bây giờ phải tham dự cái trò chơi bất nhân này. Ngày nào cũng có mìn phát nổ, người chết, vài người mất tay, mất chân, nhưng vẫn không làm giao động được tấm lòng của những người “ kách mạng!”.
Và cũng chính nhờ được cắt cử đi đào huyệt chôn một người bạn tù chết mìn, sớm trả “nợ máu” sau ngày miền Nam “giải phóng” này, đám chúng tôi mới phát hiện dược bốn ngôi mộ mới đã nằm sẳn tại “nghĩa trang” vô danh trong một mảnh rừng hoang. Trước mỗi ngôi mộ đuợc đắp đất sơ sài đó có cái bia làm bằng một mảnh gổ nhỏ. Bọn chúng tôi lén đọc tên trên từng tấm bia viết bằng sơn đỏ, trong đó có tên Vĩnh My (Vĩnh Mỹ?). Đó chính là tên trong khai sinh của nhạc sĩ Minh Kỳ (Nguyễn Phúc Vĩnh Mỹ). Dưới sự canh gác nghiêm ngặt của đám vệ binh, tôi chẳng biết làm gì khác hơn là khi đi ngang trước mộ anh để trở về trại, chắp hai tay trước ngực và cúi đầu tưởng niệm anh cùng những bạn bè xấu số đã chết tức tưởi cùng anh.

Lòng tôi nhói lên đau đớn như vừa bị một nhát chém hư vô nào đó. Trong tôi vừa mới mất thêm một điều gì, mà với tôi nó trở thành thiêng liêng hơn là kỷ niệm. Nhiều đêm sau đó tôi trằn trọc cả đêm không ngủ. Dư âm những bài hát NhaTrang của anh lúc nào cũng văng vẳng bên tai tôi. Tâm tư lúc nào cũng mơ màng đến thành phố Nha Trang, đến ngôi trường Võ Tánh, nhớ da diết những kỷ niệm ấu thơ, của những ngày đi học, và hình dung đến từng khuôn mặt bè bạn thân quen... Cũng mới đây thôi, mà bây giờ tưởng chừng như đã là một quá khứ thật xa xăm, mơ hồ như kiếp trước.

Ba mươi năm chiến tranh trên quê hương đã đem lại biết bao điều bi thảm. Vậy mà sau khi chiến tranh chấm dứt lại còn nhiều bi thảm hơn. Cái chết của nhạc sĩ Minh Kỳ cũng chỉ là một trong hàng vạn, hàng triệu điều oan khiên bi thảm đó. Nhưng chúng ta xót xa và nhớ đến nhạc sĩ Minh Kỳ, bởi chính vì ông là một nghệ sĩ, một người đã sống và cống hiến cho đời bằng chính trái tim mình. Đặc biệt với những người Nha Trang và những người yêu Nha Trang, đã mang ơn Ông vì Ông đã cho chúng ta những dòng nhạc biểu tượng của quê nhà, mà chúng ta sẽ mang theo dư âm tiếng hát cho đến suốt cuộc đời.
Với tôi, những đau đớn này cứ tưởng chỉ chôn chặt trong lòng, không ngờ sau khi xem chương trình nhạc Lê-Dinh trên Thúy Nga Paris trước đây, trong đó nhạc sĩ Lê-Dinh có nhắc tới cái chết của nhạc sĩ Minh Kỳ, và mới đây là chương trình Huyền Thoại Lê Minh Bằng trên Asia, đã làm tôi nhớ thật nhiều đến cái chết của Ông và ngồi xuống viết lại những dòng này.

Xin được thay một nén hương lòng đốt lên cho một người đồng hương, đồng tù, bỏ bạn bè ra đi bằng một cái chết thảm thương, oan khuất... Cũng để được nói lên lòng tiếc thương một nhạc sĩ tài hoa đã làm Nha Trang sống mãi trong lòng người. Và nếu được phép, xin gởi một lời chia buồn thật muộn màng nhưng với trọn tấm lòng đến gia đình Ông.

Bắc Âu, một ngày không có mặt trời
phạmtínanninh

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Ngày 30 tháng 4
Trần Trung Đạo
Đối với người Việt Tự Do, ngày 30 tháng 4 mang nhiều ý nghĩa. Trên bình diện lịch sử ngày 30 tháng 4 là một ngày đen.


Ngày những chiếc tăng T54 do Liên-Xô chế tạo nghiền nát đường phố Sài Gòn thân yêu rợp bóng me xanh. Ngày những chiếc trực thăng cất cánh từ sân thượng của những cao ốc. Ngày có những tiếng loa phóng thanh ra lịnh các cấp chính quyền miền Nam tập trung, trình diện vang lên trên đường phố. Ngày với những tiếng hát cao the thé của những nữ văn công miền Bắc vọng ra từ đài phát thanh vừa rơi vào tay Cộng Sản.


Ngày những Nguyễn Khoa Nam, Lê Nguyên Vỹ, Lê Văn Hưng, Hồ Ngọc Cẩn, Nguyễn Văn Long và bao nhiêu người con yêu khác của mẹ VN đã dò theo bước chân của Trần Bình Trọng, Hoàng Diệu, Phan Thanh Giản, Nguyễn Tri Phương mà lần lượt ra đi.


Trong bình diện xã hội, 30 tháng 4 là ngày điêu tàn tang tóc. Mẹ mất cha, anh xa em, vợ lạc chồng, những đứa trẻ mồ côi lạc loài trên đường phố, nước mắt ai rơi trên bờ biển, tiếng khóc thét của em bé vừa sinh ra trên những chuyến hải hành vội vã trong đói khát, lo âu, tuyệt vọng.


Trong bình diện đấu tranh 30 tháng 4 là ngày quốc kháng. Ngày khởi điểm cho một mặt trận mới vì nhân quyền, tự do và dân chủ. Dù gọi 30 tháng 4 là ngày quốc hận, quốc nạn, quốc kháng hay là ngày gì đi nữa, thì trong tâm tư của mỗi người miền Nam sống trong ngày tháng đó vẫn là một tâm tư hãi hùng, lo sợ, bàng hoàng và đau xót.


Tất cả hình ảnh đó dường như đang xảy ra trong phút giây chúng ta đang thở. Tiếng súng như vẫn còn nghe. Ngọn lửa như vẫn còn đang nóng.


Thế nhưng đã là 29 năm. Đứa bé nằm trên bụng mẹ ngậm núm vú lạnh tanh không còn một giọt sữa mà không biết mẹ mình đã chết từ lâu, trong một bức ảnh đăng trong một tờ báo Mỹ, nay đã gần 30 tuổi. Và chúng ta, những người VN may mắn còn sống sót, vẫn như em bé kia, đang ngậm nỗi buồn nơi đất khách.


Dù tự an ủi bằng bao nhiêu bài thơ, bài hát chuyên chở niềm tin và hy vọng, bao nhiêu tuyên ngôn, tuyên cáo khẳng định lập trường, thì giấc mơ VN về một buổi sáng đẹp trời cho dân tộc vẫn còn là một giấc mơ thôi.


Hai mươi chín năm qua đi. Thế giới đã đổi thay nhanh chóng. Cuộc vận hành của lịch sử văn minh con người không chạy bằng những chuyến tàu điện nhưng đã chuyển sang thời kỳ của những máy bay siêu tốc. Tín hiệu Morse đã được chính thức thành lịch sử. Ông Denis Tito đã mua vé đi du lịch trong quỹ đạo trái đất và trở về bình an. Ông Nelson Mandela đã ra khỏi tù và đưa đất nước ông vững tiến trên con đường dân chủ. Anh Ismail Darramy cụt hai tay của xứ Sierra Leon đã cười tươi vì được quyền bỏ phiếu. Những đồ dùng chúng ta đang xử dụng trong nhà từ chiếc máy điện toán, chiếc microwave, DVD v.v. đều không có ba mươi năm trước, hay nếu có, cũng chỉ trong phòng thí nghiệm. Nói chung, tiến bộ và văn minh nhân loại đã bước một bước rất dài.


Nhìn lại đất nước VN, trong mọi lãnh vực, sau 29 năm chẳng những không bước thêm một bước nào; trái lại, về kinh tế, chính trị, đã lùi xa hơn vào quá khứ, và văn hóa đạo đức thì đang trở về gần với thời sơ khai nô lệ, nghĩa là thời kỳ mọi của cải đều có thể mua bán, trao đổi, kể cả mua bán, trao đổi chính con người. Và do đó, vấn nạn lớn nhất mà dân tộc VN đang phải đối diện hiện nay là lạc hậu về kinh tế chính trị và lạc hậu về văn hóa tư tưởng.


Khi nhận xét rằng VN lạc hậu kinh tế, không ít độc giả trong nước chưa có dịp tiếp xúc và so sánh giữa tiến bộ của thế giới và thay đổi tại VN, có thể không đồng ý với tôi. VN có cao ốc mới, khách sạn mới, cầu mới, đường mới, xe mới, nhà mới, số lượng du khách ngày càng tăng. Vâng, không ai chối cãi điều đó. Thế nhưng, trong một nền kinh tế thế giới đang toàn cầu hóa, mức độ phát triển của một quốc gia được xác định không phải bằng các chỉ tiêu riêng của từng quốc gia nhưng bằng sự so sánh với các quốc gia trong cùng khu vực, cũng như trong tương quan kinh tế thế giới. So sánh với đà phát triển của nhân loại, hai mươi chín năm, nền kinh tế VN như người bộ hành già nua đang đếm từng bước thầm trên xa lộ tân thời. Hãy nhìn bầy kiến cõng những hạt gạo nhỏ li ti kia, nếu chúng cõng liên tục ba mươi năm cũng có thể tạo nên một cao ốc đừng nói chi con người. Câu khẩu hiệu "Với sức người sỏi đá cũng thành cơm" không phải nói lên sự cố gắng nhưng phản ảnh sự lạc hậu về kỹ thuật, và cũng tố cáo bản chất bất nhân, tàn nhẫn của một giai cấp thống trị đối với nhân dân VN.


Hai mươi chín năm qua, nếu không có nhiều tỉ đô-la hàng năm gởi về từ những người một thời đã bị chế độ nguyền rủa, trù ẻo để bị chết trôi, chết chìm trên biển Đông thì nền kinh tế VN còn tệ hại đến mức nào. Hai triệu người Việt hải ngoại gởi tiền về để giúp đỡ gia đình, bà con, thân thuộc, trại mồ côi, trại cùi bởi vì họ là những người đã được nuôi dưỡng bằng những lời ru đậm đà tình thương của mẹ, bằng những câu ca dao chan chứa tình đồng bào "Lá lành đùm lá rách", "Chị ngã em nâng". Nếu họ được giáo dục bằng hận thù giai cấp, bằng sắc máu đấu tranh như những người Cộng Sản thì nền kinh tế VN ngày nay có thể vẫn còn đứng đầu bảng xếp hạng các quốc gia nghèo đói hàng năm của Liên Hiệp Quốc.


Khi nhắc đến những đổi thay kinh tế tại VN, một yếu tố quan trọng khác cũng cần lưu ý là những cái mới đó thuộc về aị Hãy bước ra đường hỏi người lái chiếc xe Nhật đắt tiền kia ông là ai, bà là ai. Hãy bước vào một cao ốc hỏi ông chủ khách sạn năm sao nguy nga tráng lệ kia, trong điều kiện xã hội chủ nghĩa thì tiền ở đâu ông có để xây một khách sạn nhiều tầng như thế.


Hãy bước vào nhà ông chủ tịch huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên hỏi rằng với đồng lương của cán bộ cấp thấp như ông, thì mấy chiếc xe tải và đàn bò mấy chục con của ông từ đâu tới. Hãy bước vào trụ sở Hội Đồng Bộ Trưởng để hỏi các ông bà ủy Viên Trung Ương Đảng, Bộ Trưởng, với cấp số lương Bộ Trưởng mà Chủ Tịch Quốc Hội Cộng Sản Nguyễn Văn An than thở "Lãnh đạo VN là những người nghèo nhất" thì làm sao các ông, các bà có dư hàng trăm ngàn đô-la để lo cho con sang Mỹ học. Sẽ không ai trả lời. Đơn giản bởi vì chẳng một kẻ cướp nào muốn thừa nhận mình là cướp, nhất là cướp từ những người cùng khổ nhất trong xã hộị Tương tự, hãy đi bờ sông Thu Bồn, sông Trà Khúc và hỏi những người đang đào hến, họ đã đào như thế bao nhiêu năm rồi. Hãy bước vào chợ Bến Thành hỏi những đứa bé đang lượm từng con cá ươn trong buổi chợ chiều, cha mẹ em đâu, nhà cửa em đâu, trường học em đâu. Hãy lên bịnh viện Chợ Rẫy hỏi những bà mẹ đang sắp hàng chờ bán máu, trong hai mươi chín năm qua, bà đã bao nhiêu lần bán máu. Hãy bước ra đường hỏi người phu đang cong chiếc lưng hốt từng đống rác, bao nhiêu chiếc chổi đời đã quét xuống lưng ông.


Hãy vào những con hẻm tối hỏi các em thanh niên nam nữ tuổi hai mươi đang bán á-phiện, ma túy, làm điếm trên những công viên tăm tối hay đang tự giết đời mình bằng những cuộc đua xe bạt mạng trên đường phố, hoài bão của các em về cuộc sống hôm qua, hôm nay và mai sau rồi sẽ ra sao. Họ có thể cũng không trả lời; không phải họ không muốn nói, nhưng như một Mục Sư làm công tác thiện nguyện tại VN đã viết: "Tuổi trẻ VN ngày nay không biết định nghĩa của hai chữ hoài bão là gì".


Một dân tộc mà thế hệ hai mươi không có một hoài bão cho đời mình, dân tộc đó sẽ đi về đâủ Một dân tộc với 65 phần trăm tuổi trẻ nhưng không có một cơ hội để tiến thân, sống trong hoang phí, sống như những tử tù đang chờ chết thì tương lai của họ sẽ về đâu? Muốn biết đất nước về đâu, hãy nhìn thẳng vào đôi mắt sâu chứa đầy nỗi lo âu, chiếc lưng đầy vết sẹo, bàn tay còn hàng trăm dấu chích của họ để qua đó đọc được cả quá khứ lẫn tương lai của một đất nước. Đất nước của họ không phải là bài ca anh hùng đánh thắng bao nhiêu đế quốc nhưng là một địa ngục đày đọa kiếp con người mấy chục năm qua.


Số lượng du khách đến VN ngày một đông. Vâng. Hãy hỏi một người du khách, phải chăng bà đến đây vì lòng kính phục VN như một nhà thơ phản chiến Thụy Điển, đã từng viết trong thời kỳ chiến tranh: "Tôi mơ sáng mai thức dậy biến thành người VN" , hay chỉ vì VN là một nơi hưởng thụ rẻ nhất Á Châu. Hãy hỏi ông du khách phải chăng ông đến VN để tìm hiểu một dân tộc có hơn bốn ngàn năm văn hiến hay là vì trên quê hương tôi giá trị đồng đô-la còn hấp dẫn hơn nhân cách con người. Hai chữ đầu tiên trên những tờ quảng cáo du lịch VN bao giờ cũng bắt đầu hai chữ Hấp Dẫn và Rẻ Tiền. Hấp dẫn và rẻ tiền chứ không phải nhân phẩm và lịch sử.


Đúng thế. Phóng viên ký tên Tương Lai của báo tuổi trẻ trong bài viết "Nỗi Đau Từ Những Con Số", đăng vào sáng ngày mùng Một Tết vừa qua, mô tả số phận của 65 ngàn phụ nữ VN đang sống với những ông chồng già Đài Loan, bất đồng ngôn ngữ, tuổi tác, học vấn. Họ bỏ gia đình và quê hương đi làm tôi mọi cho ngoại nhân, chỉ vì một vài trăm đô-la. Ngoại trừ VN, có lẽ không có nơi nào trên thế giới, chính phủ lại cho phép mua bán đàn bà, con gái một cách công khai như thế.


Ngoại trừ VN, có lẽ không một quốc gia nào có một bà Bộ Trưởng Lao Động Xã Hội và Thương Binh Nguyễn Thị Hằng miệng cười như hoa nở khi đặt bút ký hợp đồng xuất cảng lao động ra nước ngoài, thực chất là xuất cảng mồ hôi, máu, nước mắt và cả thể diện quốc gia.


Phải chăng, sau 29 năm, những định nghĩa của phẩm cách con người cũng theo đà tiến lên chủ nghĩa xã hội mà thay dần ý nghĩa. Nhắc chuyện đạo đức, tôi chợt nhớ lại một đêm thật khuya của mười hai năm trước, ngồi đọc phóng sự của một nhà báo Mỹ viết về cảnh các cô gái VN vừa mới lớn đang hành nghề mãi dâm trên trên đại lộ Sri Ayuthaya, thủ đô Bankok, Thái Lan. Tôi buồn không ngủ được. Các em đều trong tuổi vị thành niên. Hầu hết chỉ mười sáu, mười bảy tuổi.


Lẽ ra giờ này các em phải ngồi trong lớp học, học làm người phụ nữ VN, học chuyện thêu thùa, may vá, trông con và học cả chuyện yêu đương, đẹp như trăng khi tròn khi khuyết. Thế nhưng, nghèo đói đã xô đẩy em khỏi ngôi trường mà em yêu mến. Nghiệt ngã đã xua em ra khỏi vòng tay nuông chiều của me.. Lạc hậu đã xô em xuống giòng sông Chao Phraya nước đục quê người. Ngày đó tôi vẫn nghĩ hoàn cảnh như thế là đau thương và bi thảm nhất, như tôi đã viết trong bài thơ:



Sau những lúc đau thương da thịt rã rời


Em có khóc một mình trong bóng tối


Mỗi giọt lệ sẽ mang màu sám hối


Mỗi lời rên chôn giấu những ăn năn


Tóc thu buồn như những sợi oan khiên


Trói lấy cuộc đời em nghiệt ngã


Về đâu em chiều nay trên đất lạ


Về đâu em mưa gió phủ đầy sông


Người con gái VN trên đại lộ Sri Ayuthaya


Đang nhắm mắt nhìn đời trôi vô tận


Lịch sử VN vinh nhục thăng trầm bao nhiêu bận


Nhưng chưa bao giờ đen tối hơn hôm nay.



Ngày đó Internet chưa thịnh hành như bây giờ, nhưng cũng đã có nhiều khuynh hướng. Có anh chị thích bài thơ, nhưng cũng có người cho rằng tôi đã bi thảm hóa tình trạng VN chỉ nhằm mục đích tuyên truyền chống chế độ.


Theo anh chị đó, đất nước đã chuyển mình sang thời kỳ mới, nghèo đói đã đi dần vào quá khứ, một tương lai tươi sáng đang mở ra, hãy để cho nhà nước một cơ hội thay cũ và đổi mới, v.v.và v.v. Mười hai năm sau, điều mà trước đây tôi bị gọi là đã làm "thảm hóa" thực trạng VN lại càng thê thảm hơn nhiềụ Những cô gái 16, 17 tuổi đứng trên đường Sri Ayuthaya hay trên đường phố Nam Vang ngày nào, bây giờ không còn nữạ Các em đã về đâu giữa một thành phố, mà nơi đó, theo thống kê của cơ quan AIDS Liên Hiệp Quốc, UNAIDS, 44 phần trăm gái mãi dâm mang trong người bịnh AIDS. Các em hoặc đã chết trong một trại AIDS ở Bangkok, ở Chiang Mai, hay nếu may mắn sống sót trở về được quê hương cũng chỉ để lây lất ở một góc tối nào đó trong chuỗi ngày tàn tạ của đời mình. Chỗ của em đứng ngày xưa không phải vì em chết đi mà bỏ trống.


Chiếc giường tre nơi em đã nằm chờ khách không phải vì em ra đi mà bỏ trống. Nơi em đứng năm xưa đã có một bàn chân khác vừa đứng đó. Trên manh chiếu em nằm đã có người con gái khác đang nằm. Bàn chân của kẻ đến sau nhỏ nhắn hơn em. Bàn tay như hai búp măng non của kẻ đến sau hồng hào xinh xắn hơn em. Đôi mắt của kẻ đến sau đen và tròn hơn đôi mắt của em. Thân hình của kẻ đến sau không lớn hơn thân hình của những con búp-bê Barbie đang bày trên giá của tiệm bán đồ chơị.


Vâng, những kẻ đến sau chính là những Barbie VN. Nói như chị Nam Dao, chúng là những con búp-bê biết khóc tiếng người. Những kẻ đến sau chính là những cháu bé, lẽ ra giờ này đang ngồi trong trường mẫu giáo, học những bài hát tuổi thơ "Kìa con bướm vàng", "Ông trăng xuống chơi" thay vì những tiếng lóng "yum yum", "bom bom" nhục nhã. Nghe các cháu vừa cất giọng bằng tiếng Việt, tôi cảm thấy như đang một viên thuốc đắng vừa vỡ ra trong cổ mình.


Tôi chỉ mong các cháu nói dùm tiếng Thái, tiếng Miên, tiếng Lào. Tôi biết mình nghĩ thế là ích kỷ nhưng vẫn hơn là tiếng Việt. Không, các cháu nói tiếng Việt. Đau xót, nhục nhã, bất hạnh đã không còn đủ nghĩa. Lâu lắm rồi tôi mới cảm thất mất bình tĩnh như thế.


Tôi viết khá nhiều thơ về thực trạng VN, từ những bà mẹ chết trôi sông cho đến những trẻ thơ lạc loài trên vùng Kinh Tế Mới, nhưng tôi không đủ can đảm xem hết đọan phim phóng sự về nạn bán dâm tại Campuchia, đừng nói gì đến chuyện cầm bút viết một bài thơ hay một đoản văn. Tôi sẽ viết gì? Ngôn ngữ dù phong phú bao nhiêu cũng có giới hạn, nhưng sự tủi nhục khi nhìn một đứa bé VN 8 tuổi bán dâm đã vượt qua sức chịu đựng của tôi. Loài cầm thú còn biết chọn nơi, chọn tuổi đừng nói chi là con người. Khi bàn đến sự lạc hậu về tư tưởng tại VN, cũng có thể một số bạn trong nước cho rằng tôi xa nhà lâu năm nên không biết.


VN có tư tưởng chứ. Tư tưởng Mác Lê-Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là những ngọn hải đăng của thời đại. Nhắc đến Mác, tôi chợt nhớ câu chuyện đọc trên báo cách đây không lâu nhân ngày sinh nhật 5 tháng 5 của Các Mác. Sáng ngày đó, một bản tin nhỏ được gởi đi từ nghĩa trang High Gates, nơi có ngôi mộ của triết gia Cộng Sản này. Bản tin không phải trích lời chúc mừng sinh nhật Các Mác của một chủ tịch nước hay một tổng bí thư đảng Cộng Sản nhưng trích lời than thở của người quản lý 166 ngàn ngôi mộ, trong đó có Các Mác, chen chúc nhau trong nghĩa địa thuộc phía đông thành phố London, Anh Quốc. Trong bản tin, người quản lý nghĩa địa High Gates than phiền rằng ông không có một ngân khoản nào để mướn người cắt cỏ hoang trong nghĩa trang rộng 36 mẫu nàỵ Từ sau khi Liên Xô và hệ thống Cộng Sản thế giới sụp đổ không còn ai buồn thăm viếng Mác, và đương nhiên cũng không còn ai đóng góp tiền bạc để chăm sóc mộ Mác. Nghĩa trang High Gates tiêu điều và hoang vu đến nỗi một lần đã được chọn để làm ngoại cảnh cho một cuốn phim ma. Mặc dù nơi chôn cất của Mác là nơi dựng phim kinh dị, câu chuyện về thiên đường Cộng Sản đã nhiều lần được viết thành hài kịch, chủ nghĩa Mác đã bị các phần lớn trường đại học thế giới loại bỏ khỏi giáo trình, thành phố Leningrad đã được đổi lại tên cũ Saint Petersburg, có một nơi vẫn còn con đường mang tên Mác, còn công viên mang tên Lênin, và những bài viết đấu tranh giai cấp đầy sắc máu hận thù của Mác, Lênin, Stalin vẫn được xem là kinh điển, vẫn mỗi ngày nhuộm đỏ lên tâm hồn trong như ngọc của tuổi thơ. Nơi đó là VN.


Sau sự sụp đổ của hệ thống Cộng Sản thế giới, giới lãnh đạo Cộng Sản VN không còn chỗ dựa về mặt lý luận nên đã Việt hóa ý thức hệ Cộng Sản bằng việc thêm cụm từ tư tưởng Hồ Chí Minh sau khẩu hiệu chủ nghĩa Mác Lênin đã không còn dụ dổ được ai. Thật sự làm gì có tư tưởng Hồ Chí Minh, một người cả đời không viết được một tác phẩm lý luận hoàn chỉnh, ngoài tác phẩm Những Mẩu Chuyện Về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch ký dưới tên Trần Dân Tiên.


Hầu hết các tác phẩm gọi là của Hồ Chí Minh được phát hành tại VN luôn bắt đầu với chữ "Về", như "Về Độc Lập Dân Tộc", "Về Chủ Nghĩa Xã Hội". Đó là những lời phát biểu trong các buổi mít-tinh được chép lại. Khi gọi những bài nói chuyện, bài viết không đầu không đuôi của Hồ Chí Minh là tư tưởng độc lập của dân tộc VN, giới lãnh đạo Cộng Sản đã chứng tỏ sự khinh mạn đối với truyền thống lịch sử dân tộc.


Ý thức độc lập tự do của dân tộc bắt đầu từ hơn bốn ngàn năm trước chứ không phải từ ngày thành lập đảng Cộng Sản Đông Dương năm 1930.


Quyền tự chủ của dân tộc VN đã được Trưng Trắc, Trưng Nhị, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi và vô số anh hùng dân tộc khẳng định từ nhiều ngàn năm trước chứ không phải từ Hồ Chí Minh.


Giới lãnh đạo Cộng Sản VN đã cướp đoạt không những chỉ tài nguyên của cải đất nước, mà cướp đoạt cả những giá trị tinh thần đã hun đúc nên giòng giống Đại Việt. Mười lăm năm sau ngày đế quốc Cộng Sản Liên Xô sụp đổ, trên đường phố Hà Nội vẫn còn treo khẩu hiệu "Chủ Nghĩa Mác-Lênin Vô Địch Muôn Năm" để mừng ngày đại hội đảng. Thật là chuyện mỉa mai, buồn cười và ngu xuẩn vượt thời gian. Nếu Jay Leno và David Letterman có dịp thăm viếng VN, hai danh hề này sau khi trở về, sẽ làm khán giả cười nghiêng ngửa với những mẫu chuyện có thực trong đời sống tại VN.


Hiểu được điều này chúng ta sẽ thấy tại sao các thế hệ trẻ VN ngày nay không còn quan tâm đến trường học, không biết chọn một hướng đi cho đời mình. Làm sao các em có thể thấy hướng đi khi bị nhồi sọ bằng những lý thuyết viễn vông mà nhân loại đã xếp vào ngăn tủ từ bao nhiêu năm trước. Làm sao các em có thể thấy tương lai, hiểu được tình người, khi cả tuổi ấu thơ đến lúc trưởng thành bị nhào nặn bằng những tư tưởng hận thù giai cấp, bóc lột, đấu tranh. Tuổi trẻ VN thà chọn lựa những trò tiêu khiển hiểm nguy, chọn lựa đời sống ngoài khuôn thước hơn là phấn đấu để vào đoàn, vào đảng.


Chúng ta đều biết đến thảm trạng tại VN nhưng ai sẽ là những người chịu trách nhiệm trước lịch sử và trước tòa án lương tâm của dân tộc VN sau nàỷ Đối với tuyệt đại đa số người Việt yêu chuộng tự do, câu trả lời rất dễ dàng. Thủ phạm đã gây ra những điêu linh tang tóc, nghèo nàn lạc hậu, làm mất nhân phẩm của người Việt, đầu độc các thệ trẻ VN, hủy diệt mọi mầm xanh đang cố gắng vươn lên của dân tộc, không ai khác hơn là giới lãnh đạo Đảng Cộng Sản VN.


Điều đó không sai nhưng tôi vẫn cảm thấy chưa đủ. Một băng cướp ngân hàng không thể di chuyển hàng tỉ đô-la ra khỏi nhà băng nếu không có kẻ đưa đường, người dẫn lối, không có tay trong, tay ngoài, bao che, thờ ơ, dung túng.


Tương tự, đảng Cộng Sản VN sau 29 năm vẫn còn tiếp tục trấn áp nhân dân VN bởi vì, ngoài nhà tù và sân bắn, họ cũng đã được dung túng, bao che, thờ ơ và thỏa hiệp. Và những người đã thờ ơ, dung túng cho Cộng Sản trong 29 năm qua không ai khác hơn là những người VN có quyền hạn tinh thần, có trách nhiệm xã hội, có kiến thức văn hóa, có lương tâm tôn giáo nhưng đã vì quyền lợi cá nhân, tổ chức, tôn giáo riêng mà làm ngơ trước đau thương của đất nước.


Tôi thật sự không tin rằng nhà nước Cộng Sản sẽ bỏ tù Hòa Thượng Thích Chơn Thiện hay Linh Mục Nguyễn Công Danh nếu hai ngài đã từ chối không chịu ra ứng cử dân biểu quốc hội bù nhìn tại VN. Tôi thật sự không tin Cộng Sản VN dám kết án Hòa Thượng Thích Trí Tịnh hay Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn đã "âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân" nếu các ngài gióng lên tiếng nói bất bình trước cảnh những em bé 8 tuổi đã phải làm những việc vô cùng thương luân bại lý tại Campuchiạ Cả nhân loại đều phẫn uất khi biết một em bé VN chỉ vỏn vẹn 8 tuổi đầu phải phục vụ nhu cầu sinh lý cho những người bằng tuổi cha, bằng tuổi ông của các cháụ Ký giả Chris Hansen lên tiếng.


Bộ trưởng Ngoại Giao Mỹ lên tiếng. Bộ trưởng Tư Pháp Mỹ lên tiếng. Liên Hiệp Quốc lên tiếng. Đức Giám Mục Agustinus Agus của Nam Dương lên tiếng. Nhưng các ngài thì không.


Con biết các ngài có trọng trách đối với giáo hội mà các ngài đang lãnh đạo. Con biết mọi hành vi của các ngài có ảnh hưởng nghiêm trọng đối với tôn giáo mà các ngài đang dẫn dắt tại VN. Vâng, nhưng tôn giáo đó, giáo hội đó, tín đồ đó từ đâu mà có. Phải chăng đã bắt đầu từ những tiếng khóc, tiếng cười, trái tim, bàn tay, khối óc của một giống dân đã vượt qua bốn nghìn năm gian khổ để tạo thành dải đất thân thương hình cong chữ S hiện naỷ Phải chăng đã bắt đầu từ Cha Lạc Long, Mẹ Âu Cơ trong một đêm huyền diệu của đất trời và để lại 80 triệu người con, trong đó có các ngài, hiện diện cùng năm châu nhân loại như ngày naỷ. Trên con đường các ngài đi còn vọng lên tiếng kêu trầm thống của cả dân tộc chịu đựng khổ đau suốt 29 năm quạ Hạt gạo, hạt muối mà các ngài ăn là tích lũy của bao nhiêu hy sinh gian khổ mà dân tộc VN đã đổ xuống trong 29 năm quạ Tất cả đều từ Dân Tộc VN mà có. Các ngài có trách nhiệm với giáo hội của các ngài thì ai sẽ có trách nhiệm với đất nước đâỷ Các ngài quan tâm đến sự thịnh suy của tôn giáo các ngài, thì ai sẽ quan tâm đến sự thịnh suy của dân tộc VN đây? Phát triển tôn giáo là trách vụ của các bậc lãnh đạo tinh thần, vâng, nhưng trách vụ đó không nên và ngay cả không được quyền đi ngược lại quyền lợi sống còn và thiêng liêng của dân tộc VN.





Hôm nay, những tiếng kêu của những con búp-bê VN biết khóc ở Campuchia vẫn như những viên sỏi nhỏ rơi vào biển cả, không tạo nên chút sóng lương tâm nào trong lòng những vị lãnh đạo tinh thần cao cấp nhất VN. Trong lời kinh đêm nay, ngoài việc cầu nguyện các đấng thiêng liêng để ban cho các ngài cuộc sống bình an, phò trợ cho tôn giáo của các ngài không ngừng phát triển, xin các ngài dành một lời cầu nguyện cho những đứa bé 8 tuổi bất hạnh kia được có cơ hội trở về với lớp học mẫu giáo của các cháu như hàng triệu trẻ thơ khác trên thế giớị Tôi không tin đảng Cộng Sản VN có thể đồng loạt bỏ tù hàng trăm nhà văn, nhà thơ một lúc nếu họ gióng lên tiếng nói ủng hộ nhà thơ Tiêu Dao Bảo Cự, ủng hộ nhà văn Dương Thu Hương, ủng hộ nhà trí thức phản kháng Hà Sĩ Phụ


Tôi không tin rằng đảng Cộng Sản có thể bỏ tù tất cả trí thức VN vì dám lên tiếng chia xẻ quan điểm dân chủ của bác sĩ Phạm Hồng Sơn, luật sư Lê Chí Quang. Tôi không tin chế độ Cộng Sản VN bỏ tù tất cả những người cầm bút khi họ viết về cuộc sống khổ đau của hàng trăm ngàn phụ nữ VN trên đất Thái, Miên, Đài Loan, Nam Hàn. Cuộc đời họ là những tác phẩm, những vở kịch, những cuốn phim đau thương đang cần được viết lại, chiếu lại cho các thế hệ hôm nay để đọc, để xem và và cho ngàn đời sau để tránh. Im lặng là đồng lõạ Im lặng là dung túng. Nếu một nhà văn, nhà thơ không đủ can đảm nói lên sự thật, viết lên sự thật của xã hội mình đang sống thì liệu có xứng đáng để được gọi là "những phát ngôn nhân thời đại" hay không?


Điều kiện chính trị ngày nay không giống như thời Nhân Văn Giai Phẩm. Để nhận được viện trợ của nước ngoài và được công nhận như một chính phủ trong cộng đồng thế giới, Cộng Sản VN buộc lòng phải tháo lỏng bớt chiếc dây thòng lọng trên cổ văn nghệ sĩ. Nhưng tiếc thay những nhà văn, nhà thơ sĩ khí thời nay lại cũng không nhiều như thời Nhân Văn Giai Phẩm. Một tiếng nói trung thực chưa kịp vang xa đã chìm vào im lặng. Một tác phẩm mang tinh thần cách mạng xã hội vừa ra đời đã bị thu hồi. Tác giả của chúng sau một chuyến được phép "tham quan" nước ngoài đã tự nguyện biến thành những con cừu non nằm yên trong một góc chuồng để được chờ chủ nhân sai bảo như xưa. Ngày 30 tháng 4, ngoài tất cả ý nghĩa mà chúng ta đã biết, với tôi, còn là ngày để mỗi chúng ta nhìn lại chính mình, ngày để mỗi chúng ta tự hỏi mình đã làm gì cho đất nước, và đang đứng đâu trong cuộc vận hành của lịch sử hôm nay. Mỗi người VN có hoàn cảnh sống khác nhau, quá khứ khác nhau, tôn giáo khác nhau, bức xúc khác nhau và mang trên thân thể những thương tích khác nhau, nhưng chỉ có một đất nước để cùng lo gánh vác. Đất nước phải vượt qua những hố thẳm đói nghèo lạc hậu và đi lên cùng nhân loại. Không ai có quyền bắt đất nước phải đau nỗi đau của mình hay bắt đất nước phải đi ngược chiều kim lịch sử như mình đang đi lùi dần vào quá khứ.


Sức mạnh của dân tộc VN không nằm trong tay thiểu số lãnh đạo đảng Cộng Sản VN. Tương lai dân tộc không nằm trong tay thiểu số lãnh đạo đảng Cộng Sản VN. Sinh mệnh dân tộc VN do chính nhân dân VN quyết định. Và do đó, con đường chung để đến một điểm hẹn lịch sử huy hoàng cho con cháu, chính là con đường dân tộc và không có một con đường nào khác.

Post Reply