Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Tiếng Cú
Trong biên bản hội thảo “Góp ý với Văn kiện đại hội Đảng CSVN,” đọc được trên Đàn Chim Việt Online – vào ngày 11 tháng 11 năm 2010 – TS Lưu Bích Hồ đã nêu lên mấy câu hỏi, cùng với câu trả lời, dễ ợt:

“Nền tảng của xã hội ta là gì? Tôi xin hỏi ý kiến các anh? Đảng có dựa vào công nhân không? Có dựa vào nông dân không? Tôi nghĩ không? Vậy dựa vào cơ sở nào? Có dựa vào trí thức không? Cũng không nốt!”

-Ủa, nói vậy thì Đảng dựa vào cái gì cà?

Tui cũng làm bộ hỏi (theo) cho vui vậy thôi, chớ ở Việt Nam thì ngay cả trẻ em cũng biết là Đảng dựa vô “cái gì” rồi ? Không tin hỏi thử em Dương Đình Hiếu học sinh lớp 8A, Trường THCS Xuân Phương, huyện Phú Bình là biết liền hà.

Theo báo Lao Động: “Chiều 24.11, em cùng các bạn trong lớp lao động dọn dẹp vệ sinh sân trường. Trong quá trình dọn dẹp em và các bạn có đùa nghịch, té nước vào nhau. Khi đó ông T. là Trưởng CA xã có mặt tại đó quát nhưng em vẫn té nước. Không ngờ, ông T. đã lao đến tát và bóp cổ em. Vừa nói, Hiếu vừa chỉ cho chúng tôi vết xước dài còn hằn trên cổ. Tức giận vì bị tấn công bất ngờ, Hiếu vùng thoát rồi có lời lẽ không hay với ông T.. “

“Ông T. đuổi theo nhưng không bắt được Hiếu, người đàn ông tự xưng là trưởng CA xã đã gọi thêm người dùng xe máy đuổi theo Hiếu đến tận ruộng ngô. Khi bắt được, Hiếu đã bị trói quặt cánh gà rồi dẫn về trụ sở CA xã.”

“Theo tường trình của Hiếu, tại CA xã ông T. tiếp tục đấm, đá rồi lấy dùi cui nện liên tục vào lưng. Đến khi tỉnh lại, Hiếu thấy mình nằm trên giường trong trụ sở CA xã.”

“Đến khoảng 17h00 cùng ngày, ông Dương Văn Viễn là ông của Hiếu nhận được thông báo đã ra trụ sở CA xã nhận cháu về. Nhưng trước đó, Hiếu bị buộc phải viết tường trình nhận lỗi.”

“Ông Viễn cho biết: “Đến ngày hôm sau (25.11) Hiếu kêu đau đầu, đau lưng, có biểu hiện hoảng loạn nên gia đình đã đưa đi bệnh viện.”

Trong suốt cuộc đời còn lại, em Hiếu e sẽ còn nhiều lần bị “hoảng loạn” và được đưa đi “bệnh viện” (nữa) vì ngoài công an xã, công an khu vực, công an phường, công an huyện, công an tỉnh, công an thành phố, công an thủ đô – mai hậu – em sẽ phải đối mặt với đủ kiểu, đủ cỡ, và đủ loại công an khác nữa: công an văn hoá, công an giao thông, công an mạng, công an vũ trang, công an kinh tế, công an tôn giáo, công an biên phòng, công an phòng chống tội phạm, công an môi trường, công an an ninh, công an hình sự, công an tư pháp, công an hải quan, công an phi trường, công an bến cảng, công an nhà văn, công an nhà báo …

Theo Wikipedia, Việt Nam hiện có một ông Bộ Trưởng Công An cùng với mười ông thứ trưởng, và hàng trăm ông sĩ quan cấp tướng, lãnh đạo đủ mọi ban ngành liên hệ. Họ được nhà văn Dương Thu Hương gọi (chung) là “bầy chó berger của chế độ.”

Cái “bầy” này chỉ là phần nổi, và chắc là phần nhỏ, của tảng băng sơn. Còn lực lượng công an chìm, và công an tự phát thì (ôi thôi) không biết bao nhiêu mà kể. Nói tóm lại ở nước ta nơi đâu có ruồi là ở đó có công an – kể cả chùa chiền, giáo đường, miếu đền, hay thánh thất!

Chính sách công an trị không chỉ hiện hành tại Việt Nam. Những nước XHCN anh em khác – Bắc Hàn, Cu Ba, Trung Cộng … – cũng áp dụng thể chế tương tự và đều (có vẻ) thành công tốt đẹp!

Chưa ai nghe nói đến một cuộc đình công hay biểu tình nào ráo (trọi) ở Cu Ba, hay Bắc Hàn. Ở Trung Cộng thì những vụ “khiếu kiện đông người” tuy có xẩy ra nhưng vô cùng hạn hữu, và đều được giải quyết (đẹp) trong một thời gian kỷ lục. Những nhân vật đối lập hay bất đồng chính kiến, tất nhiên, đều hiếm hoi như … lá mùa thu!

Lực lượng công an ở Việt Nam – tiếc thay – không (còn) có khả năng trị an một cách hữu hiệu tương tự. Ở xứ sở này, chuyện đình công cũng như khiếu kiện xẩy ra như cơm bữa. Còn những nhân vật bất đồng chính kiến thì lại xuất hiện hơi nhiều – dù giới người này vẫn bị bắt bớ, giam cầm, hay sách nhiễu đều đều.

Vụ án mới nhất mới diễn ra ngày ngày 26 tháng 10 năm 2010. Sáng hôm đó, toà án tỉnh Trà Vinh đã kết án ba nhà sáng lập Công Đoàn Tự Do – Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đoàn huy Chương, Đỗ Thị Minh Hạnh – tổng cộng 23 năm tù với tội danh là “lợi dụng các vấn đề còn thiếu sót trong chế độ lao động và tiền lương của công nhân để tuyên truyền, kích động công nhân đình công, biểu tình.” (Chúng tôi xin trở lại vấn đề này, trong một bài viết khác, cũng trên diễn đàn này.)

Và người bị bắt giữ mới nhất (vào ngày 4 tháng 11 năm 2010) là luật sư Cù Huy Hà Vũ. Về sự kiện này, bỉnh bút Ngô Nhân Dụng của nhật báo Người Việt – phát hành từ California, hôm 9 tháng 11 năm 2010 – đã bình luận như sau:

“Ðảng ra tay bắt Cù Huy Hà Vũ, nhưng vụ bắt bớ này lại được đạo diễn rất vụng về, ngớ ngẩn, có thể gọi là lố bịch!”

“Nhiều người Việt Nam thấy thế rất buồn. Ðây là một bằng cớ cho thấy ngay cả bộ máy công an cũng bất lực thê thảm! Ðáng buồn, vì xưa nay công an là guồng máy chạy tốt nhất ở trong đảng Cộng Sản Việt Nam. Kỹ sư công chánh có thể xây cầu chưa xong đã sập. Bộ Giáo Dục có thể bất lực để cho trẻ em ở thôn quê thất học; đào tạo sinh viên ra trường đến hãng ngoại quốc nào người ta cũng phải huấn luyện lại. Hải quân có thể bất lực không bảo vệ được ngư phủ Việt Nam, để cho ‘tàu lạ’ cướp thuyền, cướp máy móc và tôm cá, bắt cóc, đòi tiền chuộc! Cả guồng máy cai trị có thể bất lực để cho nước cống phềnh lên tràn ngập các thành phố Sài Gòn, Hà Nội; đêm đêm dân nằm ngủ nghe tiếng nước chảy dạt dào dưới gậm giường, người này lại đổ cho người kia! Tất cả các cơ quan cai trị có thể làm ăn bết bát, không đâu vào đâu cả; nhưng công an xưa nay vẫn là bộ máy chạy tốt nhất, không ai chê được. .. Bây giờ chính guồng máy có công suất tốt nhất đó lại làm ăn loạng choạng! Nhiều người rất thất vọng!”

….

“Một cách giải thích giản dị, là thực sự công an nó như vậy, khả năng của nó không hơn gì các kỹ sư làm cột xi măng cốt tre cả! Xưa nay người ta cứ sợ công an, không phải vì họ giỏi, mà chỉ vì họ đông quá, lấy thịt đè người.”

Xin được thưa trước, và nói liền rằng trong số “nhiều người Việt Nam thấy thế rất buồn” và “rất thất vọng” (về cách làm ăn “loạng choạng” của lực lượng công an) không có em đâu đó nha. Tôi chưa bao giờ có chút kỳ vọng nào vào qúi ông qúi bà công an nên không có lý do gì để thất vọng, và cũng không cớ chi để buồn phiền về sự “bất lực thê thảm” của họ hiện nay.

Buồn bã không, thất vọng cũng không (luôn) nhưng lo âu thì … có! Loạng choạng là tư thế suýt ngã hay sắp đổ. Coi: lỡ sáng mai, chiều mốt, tuần sau, hay tháng tới mà cái giàn “xi măng cốt tre” đang chống đỡ chế độ gẫy cái rụp là chết (mẹ) cả đám. Mà ngó bộ thì nó muốn đổ thiệt (và đổ tới nơi) rồi, chớ đâu phải chuyên giỡn – mấy cha?

Cái lực lượng “xi măng cốt tre” này, được một nhà báo khác, ông Bùi Tín – người sống gần hết đời mình trong lòng cách mạng – mô tả một cách rất … đơn sơ và ngắn gọn:

“Dưới danh hiệu Công an Nhân dân, dưới khẩu hiệu Công an là bạn dân, trong con mắt của đông đảo người dân lương thiện, công an bị đánh giá là bọn kiêu binh tệ hại nhất, dùng quyền lực để hà hiếp, bóc lột, làm tiền, cướp đất, cướp nhà cửa, của cải của nhân dân một cách ngang ngược, bị nhân dân xa lánh, khinh bỉ nhất.”

Sau hơn nửa thế kỷ “dùng quyền lực để hà hiếp, bóc lột, làm tiền, cướp đất, cướp nhà cửa, của cải của nhân dân một cách ngang ngược,” chuyện gì sẽ xẩy ra cho “bọn kiêu binh tệ hại nhất” này – khi họ không còn súng đạn trong tay?

Câu hỏi được đặt ra (e) hơi bị muộn nhưng muộn còn hơn không. Bên cạnh những vấn đề cấp thiết khác trước mắt (đạo đức xã hội suy vi, tình trạng sắc tộc căng thẳng, an ninh lãnh thổ bị đe dọa, tài nguyên và ngân sách quốc gia bị thao túng, môi trường bị hủy hoại…) tưởng chúng ta cũng cần phải quan tâm và chuẩn bị để giảm thiểu (tối đa) cảnh bạo loạn – trong tương lai gần – khi mà những cô chú công an (bỗng chốc) biến thành đích nhắm cho mọi người trút sự thù hằn, oán hận, và phẫn uất đã chất chứa hơn nửa thế kỷ qua!

Tôi tin rằng đã đến lúc mà lòng bao dung, đức nhân ái, và tính độ lượng (vốn) tiềm tàng trong tâm hồn dân tộc Việt cần phải được khơi dậy và đề cao hết mức. Trong tinh thần này, giữa lúc làn sóng phẫn nộ dâng cao – ngay sau khi một đoạn video được cho là của lực lượng công an phòng chống tệ nạn mại dâm, vừa được tung lên YouTube – những lời lẽ cảnh cáo nhẹ nhàng, và ôn tồn của blogger Mai Xuân Dũng thật đáng trân trọng:



Tranh Goya. Nguồn: blog Mai Xuân Dũng
“Cũng là một lũ bần cùng khố dây khố rợ cả, nên thương nhau thì hơn. Bức tranh tôi có post lên đấy, các chú xem nhé: bão cát thì ngập đến đầu gối các chú rồi, bão đang to lên lắm, liệu mà nương nhờ nhau cho khỏi cát vùi bão dập thì hơn chứ đừng làm cái chuyện bẩn thỉu như vậy. Nếu các chú là con người, cũng có vợ và con cái như những người khác thì hối đi kẻo không kịp.”

Trước viễn cảnh “cát vùi bão dập” sắp tới, nhà văn Dương Thu Hương cũng vừa ân cần nhắc nhở mọi người đừng quên rằng giữa “bầy chó berger của chế độ” không thiếu những người trung thực và tử tế:

“Tuy nhiên, tôi không có ý nói rằng toàn thể các sĩ quan công an đều là bọn mafia, đều là quân cướp. Bởi, nói như vậy là vu khống, là hàm hồ... Trong đám công an, không thiếu những người trung thực, theo ngôn ngữ bình dân, người tử tế. Chỉ có điều họ đã trở thành thiểu số và họ gần như vô năng.”

Những kẻ “thiểu số vô năng” này, tất nhiên, đều vô tội. Còn cái đám đa số còn lại (cũng) chỉ là nạn nhân của một thể chế bạo ngược, và bất nhân thôi. Nói rộng hơn, theo nhà văn Uyên Thao: ”Mọi con dân Việt Nam, vì thế, đều trở thành nạn nhân bi thảm vì bị tước đoạt mọi quyền sống, bao gồm trong đó không ít nạn nhân đã và đang còn đóng vai thủ phạm gieo rắc tội ác không chỉ cho đồng loại mà cho ngay cả bản thân.”

Nghĩ cho cùng họ vẫn đáng tha thứ hơn là trừng phạt. Hơn nữa, hơn nửa thế kỷ qua, có người dân Việt nào dám tự hào nói rằng mình hoàn toàn (và tuyệt đối) không bị ảnh hưởng, hay lây nhiễm tính vô cảm và thói bạc ác của chế độ hiện hành?

Nói thế (e) bao dung và độ lượng quá chăng? Biết thế nhưng với hiện cảnh, và với lịch sử của một dân tộc đã triền miên sống giữa cảnh bom đạn máu lửa, giữa oán hận chất chồng, và nghi kỵ phân hoá – kéo dài hết từ đời này sang đời khác – liệu có lựa chọn nào khác (thế) không?

© Tưởng Năng Tiến

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Người Viết Mướn

Tiểu Tử
Ở chợ Plateau thành phố Abidjan ( thủ đô cũ của xứ Côte d'Ivoire, Phi Châu ) ai cũng biết ông già viết mướn đó. Người ta gọi ông là " l'écrivain chinois " (ông Tàu viết mướn )

Xứ Côte d'Ivoire – thuộc vùng Phi Châu Da Đen – ngày xưa là thuộc địa của Pháp. Dân bản xứ đi học bằng tiếng Pháp. Và vì họ gồm nhiều bộ tộc, mỗi bộ tộc nói một thổ ngữ, nên họ phải dùng tiếng Pháp để hiểu nhau. Về sau, khi đã độc lập rồi, trường vẫn dạy bằng tiếng Pháp và ngôn ngữ chánh trong dân gian vẫn là tiếng Pháp. Những người ít học hay thất học thì nói " tiếng bồi ", nghĩa là tiếng Pháp không đúng văn phạm. Mấy bà buôn bán ở chợ Plateau nói trên thuộc vào thành phần này. Nhiều bà có con cái " đi làm ăn " ở Pháp hay ở Bỉ, lâu lâu cần xin gì hay cần nhắn gì, họ phải nhờ người khác viết cho cái thư. Ngoài ra, có nhiều người cần viết đơn từ thưa gởi nhưng không đủ trình độ để viết đúng từ ngữ hành chánh nên nhờ viết dùm. Do đó mới có cái nghề viết mướn.

Ở khu chợ Plateau, trước đây, chỉ có một người đàn ông trung niên người bản xứ làm nghề này. Anh ta hành nghề dưới hàng hiên khu phố nhìn qua chợ, nằm cách chợ một con đường. Chỗ hắn ngồi là một bức tường nhỏ nằm giữa hai cửa hàng bán radio của người libanais. " Dụng cụ " của anh ta là cái máy đánh chữ loại xách tay đặt trên bàn gỗ nhỏ. Anh ta ngồi trên ghế thấp vừa tầm với cái bàn, nhưng vì anh ta lớn con chân dài nên khi đánh máy anh ta phải cho hết hai chân xuống dưới bàn đưa thẳng về phía trước lòi ra một khúc, trông giống như anh ta ôm cái bàn vào lòng ! Còn " khách hàng " thì hoặc đứng hoặc ngồi xổm cạnh hai bàn chân to xù mang dép Nhựt của hắn, tỉ tê kể những gì mà họ muốn để trong thư. Anh ta gõ máy bằng hai ngón tay nhưng gõ khá nhanh, khách kể đến đâu hắn gõ theo đến đấy. Đánh xong thư, khách hàng đưa cho hắn mảnh giấy nhỏ trong đó có ghi rõ địa chỉ của người nhận thư, hắn lấy trong ba lô để dưới chỗ hắn ngồi một phong bì có dán tem sẵn, đánh máy địa chỉ, cho thư vào rồi le lưỡi liếm keo dán lại. Người khách hàng chỉ còn có cho thư vào thùng thư đứng ở góc đường gần đó. Dĩ nhiên, khi hắn tính tiền, hắn tính cả tiền giấy, phong bì, tem…Thư gởi đi Pháp hay đi Bỉ đều cùng một giá. Cho nên đã thành lệ, sau vài câu chào hỏi, khách hàng cứ đặt tiền trước lên bàn rồi đợi hắn sửa bộ kéo bàn vào lòng với cái máy đánh chữ lúc nào cũng " ngậm " sẵn một tờ giấy, là bắt đầu tỉ tê kể lể…Còn đơn từ thì hắn dùng phong bì không có tem, bởi vì khách hàng mang tay đến nộp thẳng cho cơ quan liên hệ. Loại " đơn từ " này, hắn vẫn lấy bằng giá với " thư nhà ", bởi vì, theo hắn giải thích, viết cho hành chánh khó gấp mấy lần viết cho thân nhân. Bớt con tem nhưng thêm nhiều công suy nghĩ !

Một hôm, có ông già á đông – ốm nhom, già khú – đi lang thang với điếu thuốc trên môi, ngang qua đó nghe tiếng đánh máy lọc cọc nên tò mò đứng lại nhìn. Đợi anh đen làm xong công việc, ông già mới chào hỏi làm quen. Anh đen rất ngạc nhiên vì ông ta nói tiếng Pháp rất trôi chảy rành rọt, không giống những người á đông mà anh đã từng gặp hay quen biết. Ông già ghé đít ngồi lên bệ thềm gần đó, hỏi :

- Ông làm nghề gì vậy ?

Anh đen nhăn răng cười :

- Viết thư dùm người ta, người ta trả tiền. Ông không thấy bà hồi nãy cầm phong bì đi sao ?
- Thấy. Nhưng mà hồi nãy hai người nói với nhau bằng thổ ngữ nên tôi không hiểu.

Ngừng một chút, ông già lại hỏi :

- Làm ăn có khá không ?
- Ố ! Cũng tạm được.

Hắn chỉ qua bên chợ :

- Khách hàng của tôi là mấy bà buôn bán ở bên kia. Họ không biết chữ, mà con cái họ thì đi làm công bên Pháp bên Bĩ hết. Thành ra, ngày nào cũng viết dùm vài cái thư, lai rai…Với lại ở xứ này, người ta hay thưa gởi kiện cáo lắm nên có công việc làm hoài !

Rồi hắn nhìn ông già từ đầu đến chân :

- Còn ông ? Ông làm nghề gì ở đây ?
- Già quá đâu có ai mướn. Ở không, đi lang thang.

Anh đen lại nhìn ông già ra vẻ tội nghiệp :

- Rồi lấy gì sống ?
- Sống nhờ con. Con gái ở nhà làm nem. Thằng em nó đạp xe đi bán. Khá chật vật !
- Ông người Tàu hả ?
- Không. Tôi người Việt Nam.

Nói xong, ông già thở dài. Tội nghiệp cho cái xứ Việt Nam của ông ! Nhược tiểu đến mức độ mà người dân khi ra ngoại quốc cứ bị thiên hạ gọi là người Tàu !

Ông già đưa bao thuốc lá mời anh đen :

- Hút một điếu chơi.
- Cám ơn. Tôi không biết hút thuốc.

Ngừng một chút, anh ta hỏi :

- Nhà ông ở đâu ?
- Ở tuốt trên Cocody, gần nhà thờ.
- Xa quá há. Rồi ông đi bằng gì xuống đây ? Xe buýt hả ?
- Đi bằng xe đạp. Đạp xuống thì dễ, đạp về leo dốc mới mệt !

Anh đen lại nhìn ông già một lúc, mới nói :

- Ông nói tiếng Pháp rành quá mà không đi làm việc cũng uổng.
- Già như tôi thì còn làm được gì ?
- Tuổi tác ăn nhập gì, trình độ văn hoá mới cần chớ !

Ông già hít mấy hơi thuốc, suy nghĩ. Một lúc sau ông hắng giọng rồi hỏi :

- Ông thấy tôi làm cái nghề viết mướn được không ?

Anh đen nhăn răng cười hớn hở :

- Được chớ ! Được chớ !

Rồi đề nghị :

- Ông cứ ngồi kế bên đây ! Đừng ngại gì hết ! Cả khu Plateau chỉ có một mình tôi làm nghề này. Có thêm ông càng vui.

Thấy dễ dàng quá, ông già đứng ngẩn ra, chưa kịp nói lời nào thì anh ta nói tiếp :

- Vậy, sáng mai ông đem máy đánh chữ ra, nghen.
- Tôi không có máy đánh chữ. Tôi viết tay được không ?

Giọng anh đen hơi xìu xuống :

- Ồ…cũng không sao. Cứ ra đây đi, rồi tính.

Ông già mừng rở, bắt tay anh đen, nói " Cám ơn ! Cám ơn ! Ông tốt bụng quá !", rồi đi xăng xớm về chỗ để xe đạp trước ngân hàng gần đó, mở khoá lấy xe phóng lên đạp đi mà nghe như vừa được bơm vào người thêm nhiều sinh lực !

Mấy hôm sau, ông già xin được của hội nhà thờ một cái bàn và ba cái ghế bằng nhôm loại xếp được để đi pique-nique. Ông mua một mớ giấy viết thư, phong bì, tem, bút bi rồi đạp xe đạp chở bàn ghế đến ngồi cạnh anh đen, hành nghề viết mướn. Buổi sáng đó, trước khi rời nhà, ông lẩm bẩm :" Bữa nay đúng là một ngày đẹp trời !"…

Ông già ngồi đã ba hôm, chẳng có một ai đến nhờ viết ! " Khách hàng " cứ nhờ anh đen. Thấy vậy, anh ta an ủi :

- Đừng buồn. Từ từ rồi sẽ có khách. Tại ông không có máy đánh chữ nên người ta không biết đó thôi.

Một hôm, có hai bà cùng đến một lúc. Anh đen tiếp một bà rồi nói với bà kia :

- Nếu bà gấp thì bước qua ông đồng nghiệp của tôi đây, ổng giúp cho. Ổng viết tay, nhưng cần gì ! Viết tay hay đánh máy cũng vậy thôi ! Điều cần thiết là viết làm sao cho người đọc hiểu.

Bà khách ngần ngừ một lúc rồi bước qua ngồi lên cái ghế xếp trước mặt ông già. Như thông lệ, bà ta đặt tiền lên bàn rồi bắt đầu kể lể bằng thứ tiếng Pháp không có văn phạm. Ông già ngồi chống càm, lắng tai nghe.

Thấy ông viết mướn không viết gì hết, bà khách ngừng kể, lấy làm lạ nhìn ông :

- Sao ông không viết ?
- Thưa bà, tôi đang nghe bà kể, đây.

Bà ta chỉ anh đen :

- Sao kỳ vậy ? Ông làm không giống anh này ! Với anh ta, khi tôi bắt đầu nói là anh ta bắt đầu gõ. Còn ông thì không nhúc nhích gì hết !

Ông già phì cười, giải nghĩa chầm chậm :

- Xin lỗi. Tôi phải nghe bà kể hết những gì bà muốn nói cho người con của bà, rồi tôi mới sắp xếp câu văn để viết. Bà biết không, viết thư phải viết cho mạch lạc thì người con của bà mới hiểu được hết cái ý của bà, bà hiểu không ?

Bà khách ngần ngừ rồi gật đầu. Ông già đốt điếu thuốc, nói tiếp :" Bây giờ, xin bà kể lại. Từ từ kể lại, tôi nghe ". Bà khách liếc nhìn ông rồi nhìn vội xuống hai bàn chân của bà, thấp giọng kể…Bà khổ lắm, buôn bán ế ẩm, con dâu mang bầu đứa thứ năm gần sanh mà cứ đau rề rề, mấy đứa cháu nội đi mót khoai mót củ nhưng không đủ ăn, bà đã gởi ba cái thư xin tiền thằng con, xin nó thương vợ thương con của nó nheo nhóc, chắc thư đã đi lạc nên không thấy hồi âm, bà khổ lắm, không biết thằng con ở bên Pháp còn sống hay đã bị cái gì rồi…Bà khách ngừng kể, kéo ống tay áo lên lau nước mắt.

Nghe xong, ông già viết mướn, chừng như xúc động, làm thinh hít mấy hơi thuốc dài. Bà khách len lén nhìn ông rồi lại nhìn xuống chân của bà, hai bàn chân cùi đày nằm trong đôi dép cao su rách bươm lấm lem bùn đất. Bà đợi. Suy nghĩ một lúc, ông già mới lấy giấy viết. Lâu lâu, ông ngừng lại nhìn xa xăm qua chợ nằm phía đối diện như để tìm chữ tìm câu. Rồi lại cuối đầu viết tiếp.

Viết xong, ông hỏi :

- Bà cần tôi đọc lại không ?

Bà khách chớp chớp mắt, lắc đầu. Bà đưa cho ông địa chỉ của người con, ông chép lên phong bì đã dán tem, cho thư vào dán lại rồi trao cho bà khách. Bà cầm thư lật qua lật lại nhìn như thiếu tin tưởng, rồi đứng lên làm thinh đi về hướng thùng thư đứng ở góc đường. Ông già nhìn theo, lòng nghe chơi vơi như chính ông đang đi gởi thư cho thằng con…

Ngày nào ông già viết mướn cũng mang đồ ra ngồi cạnh anh đồng nghiệp đen, nhưng không phải ngày nào ông cũng có khách. Lâu lâu, có dư người thì anh đen " đẩy " qua cho ông. Anh ta nói đùa :" Đồng nghiệp mà ! Phải giúp nhau chớ ! " Ông cười chua chát :" Cám ơn ! Cám ơn ! Nhờ lòng tốt của anh mà tôi cũng vớt vát được một hai người ".

Một hôm, anh đen bỗng hỏi :

- Hồi trước ông làm gì ở Việt Nam ?
- Buôn bán.

Ông không muốn nói hồi đó ông là chủ hai nhà thuốc tây, khá giàu.

- Rồi tại sao ông đi qua đây vậy ?
- Tại làm ăn không được. Tại…tại nghèo.

Ông không muốn nói " cách mạng " đã tịch thâu tài sản của ông, gia đình ông sống cầu bơ cấu bất ở vùng kinh tế mới, vợ ông chết ở trên đó, ông và hai đứa con trốn về thành phố sống chui như bầy chó hoang, ăn nhờ ở đậu…

- Bộ ông có quen ai bên nây hả ?

Đến đây thì ông già không giấu giếm gì hết :

- Đâu có. Tôi đâu có quen ai. Tôi nghe nói Nhà Nước Côte D' Ivoire dễ dãi và tốt bụng nên tôi viết đại một lá thư dài gởi thẳng cho ông Tổng Thống, trong đó tôi kể hết hoàn cảnh bi đát của tôi. Tôi viết mà không có hy vọng gì hết.
- Ồ…Tại ông không biết chớ Tổng Thống Houphouet của tụi này rất bình dân và thương người lắm !
- Bây giờ thì tôi biết. Bởi vì sau bức thư của tôi, tôi nhận được visa và luôn vé máy bay cho ba cha con tôi nữa. Chuyện thật khó tin.
- Gì mà khó tin ? Tổng Thống tụi này hay làm những " cú " ngoạn mục như vậy lắm ! Chắc ông viết thư cũng phải hay lắm nên mới làm xúc động " Le Vieux " ( Ông Già ).

Ở Côte d' Ivoire, dân chúng thương Tổng Thống Houphouet nên khi nói chuyện với nhau họ gọi ông là " Ông Già " một cách triều mến.

- Hồi đó tôi viết giống như tôi muốn than thở với một người nào đó để cho vơi nỗi thống khổ của mình, chớ đâu dè. Nhận được giấy tờ, tôi như trên trời rớt xuống !

Đến đây, ông già không nói rằng ông đã bán mấy chiếc nhẫn cất giấu từ sau trận nhà nước đánh tư sản, để chạy lo vô hộ khẩu của người bà con xa, rồi chạy lo chiếu khán xuất cảnh v.v…

Ông chỉ nói :

- Hồi qua đến phi trường Abidjan, cha con tôi không biết đi đâu ở đâu. Tôi phân trần với chánh quyền sở tại, họ điện thoại gọi hội " Anciens d'Indochine ". Nhờ hội này giúp nên tụi tôi mới có căn nhà nhỏ ở Cocody và chút vốn làm nem đi bán dạo, sống lây lất tới bây giờ…
- Tôi nghe nói người ViêtNam tỵ nạn ở Pháp ở Mỹ nhiều lắm. Bộ ông không có bạn bè bà con định cư ở các xứ đó sao ?
- Có chớ.
- Sao ông không viết thư cho họ ? Kẻ đi trước giúp người đi sau là sự thường mà.

Ông thở dài, hít mấy hơi thuốc rồi mới nói :

- Tôi có viết thư chớ. Chỉ viết thăm thôi và báo tin rằng tôi đã đến Côte d'Ivoire. Nhưng không thấy ai trả lời hết.
- Có lẽ không đúng địa chỉ chăng.
- Đúng chớ ! Nếu không đúng nó phải được trả về, bởi vì tôi có ghi rõ địa chỉ người gởi mà. Hồi ở Việt Nam người thân của họ cho tôi địa chỉ và tin tức, nói họ bây giờ ổn định và khá lắm.
- Ờ…sao vậy há ?
- Chắc họ sợ tôi xin tiền…

Ông cười khẩy một tiếng nghe như ông muốn khạc ra một cái gì chận ngang cổ họng, một cái gì vừa cay đắng vừa nhờm tởm. Ông nhớ lại hồi thời " vàng son ", bạn bè bà con của ông tới lui nhà ông ăn nhậu hà rầm, trong số đó có nhiều người đã được ông giúp đỡ cưu mang. Vậy mà bây giờ…Ông hít một hơi thuốc thật sâu rồi nhả khói ra từ từ làm khoảng trống trước mặt bị mờ đi, giống như ông muốn xoá bỏ trong đầu hình ảnh của mấy thằng bạn bè mấy người bà con mà ông vừa nhớ lại…Anh đồng nghiệp da đen suy nghĩ một lúc lâu rồi nghiêng người qua vỗ vai ông vài cái nhè nhẹ, một cử chỉ an ủi tầm thường như vậy mà ông già viết mướn bỗng thấy nó đẹp vô cùng. Ông xoay người qua bắt tay anh đen, không nói gì hết, nhưng ông chắc chắn rằng anh bạn đó hiểu là cái cám ơn của ông già Việt Nam lưu vong…

Một hôm, bà khách hàng đầu tiên của ông già viết mướn mang biếu ông hai trái xoài Caméroun ( loại xoài xứ Caméroun ngon nổi tiếng vùng Phi Châu Da Đen ) vừa cười vừa nói :

- Tôi cám ơn ông. Nhờ cái thư của ông mà thằng con của tôi hồi tâm. Nó gởi tiền về, kèm theo một cái thư dài. Nó nói nó đọc thư của ông nó khóc quá ! Nó lạy lục xin tôi tha tội cho nó. Nó nói là nó có vợ và một con ở bên Pháp nhưng nó thề sẽ gởi tiền về đều đặn để nuôi tụi này…Tôi vui quá ! Vui quá !

Bà ta nói một hơi, nói thứ tiếng Pháp " ba xí ba tú ", nhưng trong giọng nói nghe đầy xúc động. Nói xong, bà kéo ống tay áo lên lau nước mắt. Ông già nhớ lại cách đây hơn mươi bữa, bà cũng kéo áo lên lau như vậy sau khi kể lể sự buồn khổ của bà. Thì ra, cái vui cái buồn vẫn giống nhau ở giọt nước mắt !

Ông già mỉm cười :

- Tôi viết mướn, bà trả tiền, có gì đâu mà bà cám ơn ?
- Không nhờ cái thư của ông, không biết tụi này còn khổ sở đến đâu. Cám ơn ! Cám ơn !

Nói xong, bà đi trở qua chợ. Ông già đưa một trái xoài cho anh đen :

- Anh cầm lấy để chia vui với tôi !

Anh ta cầm trái xoài trên tay nhìn ngắm một lúc rồi nói :

- Làm nghề này đã hơn năm năm, tôi chưa được khách hàng tặng quà bao giờ. Ông mới ra nghề mà được như vầy là ông viết thư phải hay lắm.
- Thì cũng ráng viết vậy thôi.
- Đâu được ! Viết mà làm xúc động người đọc đâu phải dễ. Bây giờ tôi hiểu tại sao "Ông Già" đã gởi tặng ông visa và vé máy bay !

Ông già viết mướn đốt điếu thuốc, thở khói một cách sảng khoái. Ông nhớ lại ngày xưa, thuở thiếu thời, ông lúc nào cũng đứng đầu về luận văn, và về sau ra đời, ông cũng có lai rai vài ba truyện ngắn đăng báo này tạp chí nọ. Viết, đối với ông, là để giải toả tâm tư, một cách giải toả trầm lặng và sâu đậm hơn là nói. Cho nên trong đời ông, ông rất thích viết, nhứt là viết thư cho bạn, những người cũng thích viết như ông hay ít ra cũng biết viết vài dòng hồi âm hay vài chữ để hỏi thăm nhau…

Hai hôm sau, có thêm một bà mang đến mấy trái cam để cám ơn ông đã viết thư cho chồng bà có vợ đầm ở Bỉ. Rồi cứ như vậy, vài hôm là có người đến cám ơn, cho quà, khi thì chai đậu phọng ( Ở đây, sau khi ran, đậu được cho vào chai lít đầy tới miệng rồi đóng nút để giữ cho được dòn lâu. Người nghèo bản xứ hay ăn đậu phọng với bánh mì…) Khi thì mấy trái cà chua, vài bó rau cải…Có gì cho nấy, không nề hà ! Ông già nhận hết, bởi vì ông thấy làm như vậy, người cho rất vui. Cái vui của họ được bộc lộ ra một cách rất thiệt thà : họ quay lưng bước đi, vừa vỗ tay thành nhịp vừa lắc lư nhún nhảy. Lần nào ông cũng nhìn theo, thấy cũng vui lây…

Vậy rồi không biết họ đồn với nhau thế nào mà khách hàng cứ đến nhờ ông viết. Những người cần làm đơn từ cũng đến nhờ ông ! Bên anh đen đồng nghiệp thấy thưa khách. Ông già bèn đề nghị :" Tình trạng này kéo dài coi kỳ quá ! Tôi đề nghị anh bạn như thế này : tôi lãnh viết thư nhà, anh lãnh viết đơn hành chánh. Mình cứ nói đơn hành chánh phải được đánh máy cho sạch sẽ dễ đọc thì các cơ quan mới mau chóng cứu xét. Anh đồng ý không ? " Anh đen nhăn răng cười, bắt tay ông một cái đau điếng !

Từ đó, thấy khách đến, anh đen trịnh trọng nói :" Đơn từ thì ở bàn này. Thư cho thân nhân thì bước sang bàn ông bạn đồng nghiệp của tôi đây ! " Lần hồi, khách hàng cũng quen nên cả hai người viết mướn cùng có việc làm đều đặn. Và càng ngày càng đông khách.

Một hôm, anh đen hỏi :

- Tôi cứ thắc mắc : làm sao viết thư mướn mà ông viết hay được như vậy ?

- Tại anh không biết. Xưa nay tôi say mê viết. Tôi thích viết cho một người nào đó để giải bày, để chia xẻ những cảm nghĩ những suy tư của mình, chọn lời cho đúng, chọn câu cho hay…thú lắm !

Ông già ngừng nói, hít chầm chậm một hơi thuốc rồi chép miệng :

- Bây giờ tôi chẳng còn ai để mà viết. Bạn bè thì anh biết đó. Chúng nó cũng như người vừa đui vừa điếc, viết uổng công. Cho nên làm nghề viết mướn này, tôi có chỗ để viết. Tôi khổ cái khổ của khách hàng, tôi vui cái vui của khách hàng, tôi tâm sự cái tâm sự của khách hàng. Tôi viết với tất cả những xúc cảm chân thật đó,viết mà không nghĩ là mình viết mướn !

Anh đen vỗ tay đôm đốp, khen :

- Hay ! Ông nói hay quá ! Bây giờ tôi mới hiểu tại sao khách hàng mến mộ ông như vậy ! Tổng Thống tụi tôi đem ông qua đây, đúng là " Ông Già " ổng có con mắt !

Rồi hắn cười hắc hắc làm ông già cũng bật cười theo. Cả hai, không người nào nhớ rằng mình da đen hay mình da vàng, họ chỉ biết họ là hai người viết mướn…

Hai năm sau…

Một hôm ông già bỗng thèm viết cho mấy thằng bạn hồi đó. Viết cho mỗi người một cái thư, lời lẽ y chang như nhau. Viết bức thư cuối cùng cho họ. Viết để cho họ thấy rằng ông phủi đít phủi tay, dứt khoát không còn bận bịu gì nữa với quá khứ, với lớp bụi đất đã ăn bám vào ông hồi thuở " vàng son ".

Ông đốt điếu thuốc, suy nghĩ. Đại khái, ông sẽ viết :

" Thưa anh…gì gì ( hay chị … gì gì )

Tôi viết thư này để báo tin cho anh… ( hay chị… ) mừng dùm cho cha con chúng tôi. Tụi này đã định cư luôn ở Côte d'Ivoire. Bây giờ, đời sống tụi này đã ổn định, cuộc sống tương đối khá. Hai con tôi có cửa hàng bán nem ở chợ Cocody, thiên hạ đến mua cũng đông. Còn tôi thì làm nghề viết mướn, khách hàng cũng nhiều. Được như vậy là nhờ ở xứ đen này, con người thấy đen nhưng lòng dạ của họ không đen chút nào hết. Chẳng bằng người Việt mình, nhiều người bề ngoài trắng trẻo lịch sự nhưng lòng của họ chẳng những đen mà còn bạc nữa, anh… ( hay chị…) có thấy như vậy không ?..."

Nghĩ đến đó, ông già bỗng cười khan một mình !

Tiểu Tử

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Những cơ hội trong đời
Cùng các bạn bè thân hữu,

Một câu chuyện có thể thấy xảy ra rất thường xuyên ở xứ Hoa Kỳ. Một đêm mưa gió đầy trời cuối thu của năm 1890, một đôi vợ chồng già nọ bước vào sảnh đường rộng lớn của một đại khách sạn, hai ông bà bước đến quầy tiếp tân để ghi tên lấy một phòng trọ. Người quản lý khách sạn ái ngại nói với hai vợ chồng này:

- Chúng tôi rất lấy làm hối tiếc, tất cả các phòng ngủ của khách sạn đều đã được đặt hết vào tối hôm nay vì chúng tôi có một cuộc tiếp tân lớn của một đoàn thể suốt trong tuần lễ này. Nếu như là lúc bình thường thì tôi rất sẵn lòng đưa ông bà sang nghỉ tại những khách sạn của những đồng nghiệp của chúng tôi ở ngay khu vực gần đây nhất. Thế nhưng trong một đêm mưa to gió lớn như thế này mà lại phiền nhiễu quí khách như vậy thì thật tế tôi không an tâm chút nào cả. Tôi xin đề nghị quí khách cứ tạm cư ngụ tại phòng nghĩ ngơi của tôi. Tuy rằng phòng này không sang trọng như những phòng khách hạng nhất nhưng tôi xin bảo đảm với hai vị là phòng ngủ này rất tươm tất, có đầy đủ tiện nghi, sạch sẽ và nhất là đúng tiêu chuẩn phòng ngủ của những khách sạn hảo hạng trong thành phố Philadelphia nầy. Tối hôm nay tôi trực đêm cho nên tôi chỉ cần nghĩ lưng trong phòng nghĩ ngơi nhân viên là đủ rồi.

Trước lời đề nghị hợp tình hợp lý và thái độ thành khẩn của người quản lý khách sạn, hai vợ chồng ông khách vui vẻ chấp nhận đề nghị này. Họ ngỏ lời cảm ơn người quản lý tốt bụng và sau đó hai ông bà đã ngủ lại một đêm an lành trong phòng nghĩ của viên quản lý.

Ngày hôm sau, đôi vợ chồng già nầy thu dọn hành lý và đến quầy tiếp tân để thanh toán tiền phòng. Người quản lý đã có mặt tại đó với bộ mặt tươi tỉnh. Ông ta nhận lấy chìa khóa phòng và ngỏ lời với hai vợ chồng người khách:

- Ông bà ngủ tại phòng nghĩ ngơi của tôi chứ không phải phòng ngủ của khách sạn cho nên chúng tôi không dám nhận tiền của ông bà. Hy vọng là ông bà đã có một đêm yên nghỉ ngon giấc.

Ông khách già tỏ ý hài lòng với cung cách đối xử lễ độ của ông quản lý khách sạn nên đã nói lời khen ngợi:

- Ông quả thật là một mẫu người quản lý mà tất cả những ông chủ khách sạn trên thế giới này đều mong được dịp cộng tác. Không chừng một này nào đó tôi sẽ giúp ông cất một ngôi khách sạn lớn tại New York.

Ba năm sau, vào một buổi sáng mùa đông, ông quản lý khách sạn nhận được một lá thư bảo đảm từ bưu điện. Người viết bức thư kể lại câu chuyện hai vợ chồng ông khách già đã trú ngụ trong đêm mưa gió và đã được sự tiếp đãi nồng hậu của ông quản lý này. Trong bức thư còn kèm theo một thiệp mời và một vé xe lửa khứ hồi hạng nhất từ Philadelphia đến New York. Thiệp mời ngỏ ý mời ông ta đến New York chơi một chuyến để hai vợ chồng già năm xưa có dịp thù tiếp ông.

Ông quản lý khách sạn nể lời nên đã sắp xếp đến New York một chuyện. Tại thành phố lớn nhất thế giới này, ông quản lý đã dò theo sự hướng dẫn trong thiệp mời để đến ngay góc đường 5th Ave and 34th street để gặp vợ chồng người khách năm xưa. Ngay tại góc đường này là phòng tiếp tân choáng ngợp của một khách sạn cực kỳ sang trọng mới vừa dựng bảng khai trương. Ông khách năm xưa xuất hiện với bộ quần áo sang trọng bậc nhất đã vỗ vai vị quản lý vừa cười vừa nói:

- Ba năm trước, tôi đã nói tôi sẽ giúp ông cất một ngôi khách sạn và sẽ đặt dưới quyền điều hành của ông, không biết ông còn nhớ không?

Ông quản lý há hốc mồm không nói lên lời:

- Ông là ai? Tại sao ông lại chọn tôi? Chẳng hay ông có kèm theo điều kiện gì cho chức vụ điều hành này không?

Ông khách già mỉm cười nói:

- Tôi tên là William Waldorf Astor, tôi mời ông đến đây để cai quản lấy khách sạn này mà không có một điều kiện nào khác cả. Tôi đã từng nói, ông chính là một mẫu người quản trị lý tưởng mà tất cả mọi người chủ khách sạn trên đời này đều mong có dịp được hợp tác cùng.

Khách sạn vừa mới khai trương đó là khách sạn Waldorf gồm có 450 phòng ngủ và hơn 1000 nhân viên phục vụ vào năm 1893 đã kết nối với khách sạn Astoria kế cận khai trương vào năm 1897 để trở thành tổ hợp khách sạn Waldorf-Astoria đã là một ngôi khách sạn lớn nhất thế giới thời bấy giờ. Còn ông William Waldorf Astor là một tỉ phú có rất nhiều bất động sản tại New York mà về thứ hạng thì chỉ đứng sau dòng họ Rockefeller một chút mà thôi. Sau nầy khách sạn Waldorf-Astoria đổi địa chỉ sang 301 Park Ave, còn vị trí đầu tiên tại góc đường 5th Ave và 34th Street được đập phá để xây dựng thành Empire State Building. Ngày nay khách sạn Waldort-Astoria tượng trưng cho những sự sang trọng bậc nhất của thành phố New York. Khách sạn này là nơi cư ngụ của hầu hết những vị nguyên thủ quốc gia đến thăm xứ Hoa Kỳ. Các bạn chúng ta nếu có dịp viếng thăm NYC cũng nên book khách sạn này ở một đêm cho biết mùi thế giới trưởng giả, website của khách sạn:
http://www.newyorkcityluxuryhotels.com/ ... bAodfmptYw)

Bạn có biết người quản lý trong câu chuyện trên đây là ai không? Ông ta là George C. Boldt, người đã có công đưa tên tuổi của gia đình Waldorf lên ngôi vị hoàng đế khách sạn trên thế giới. Song song với việc điều hành hệ thống khách sạn Waldorf-Astoria, ông cũng là chủ nhân của một hệ thống khách sạn nổi tiếng khác mà chính bản thân ông cũng là một trọc phú của nước Mỹ. Có thể bạn chưa từng nghe qua tên của ông, nhưng tôi tin chắc bạn đã từng ăn qua một loại sốt của ông điều chế, đó là loại salad dressing đặc biệt có tên là Thousand Islands.

Qua câu chuyện trên đây, chúng ta thấy phảng phất trong đó có hình ảnh của một câu chuyện thần thoại với khuôn mẫu "ở hiền gặp lành". Đúng vậy, anh chàng George Boldt đã gặp phải quí nhân là vợ chồng của một nhà triệu phú, thế nhưng nếu ở cương vị của một người quản lý khác không có nhiệt tình đặc biệt như ông thì chắc chắn chúng ta đã không có câu chuyện thần thoại trên đây.

Trên thế gian, trong mỗi một phút giây đều có hàng ngàn hàng vạn nhân duyên đang lướt qua bên người chúng ta mà mỗi một nhân duyên đó đều có thể đưa đẩy vận mạng con người lên đến một đỉnh cao chót vót (hoặc đáy vực vô cùng), bạn đừng nên bỏ sót bất kỳ một mối nhân duyên với bất kỳ một người nào, cũng đừng sơ xuất trước một cơ hội nào để có thể giúp đỡ kẻ khác. Ta hãy cố gắng học hỏi để có một sự nồng nàn, nhiệt tình đối với mọi người, mọi sự việc thì có thể một ngày nào đó chúng ta sẽ trở thành "quí nhân" cho chính bản thân của chúng ta. Người ta nói rằng xứ Hoa Kỳ là một nơi chốn của cơ hội, điều đó đúng cho những người không buông bỏ một cơ hội nào cả, phải không quí vị.

Ghi chú: Câu chuyện trên đây đã được trích dịch từ nguồn website:

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Một số hình ảnh của cố văn hào Nhất Linh Nguyễn Tường Tam
Do cô Trương Kim Anh ( Nauy ) cung cấp.


Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Thơ, Văn, Nhạc Giáng Sinh
Nguyễn Mạnh Trinh

Viết về các văn thi nhạc sĩ qua đề tài Giáng sinh tuy tạo nhiều thích thú nhưng khó có có thể đầy đủ được. Thực ra có rất nhiều thi, văn, nhạc sĩ có những tác phẩm về ngày lễ này rất hay và độc đáo nhưng chúng tôi vì bài viết có hạn nên chỉ đề cập đến một vài tác giả tiêu biểu mà thôi. Nhưng điều cốt tủy là chúng tôi muốn chia sẻ với cuộc đời, với thời tiết, với nhân loại những tâm tư và ý nghĩa của ngày Chúa sinh ra đời. Và tấ t cả đã thể hiện trong những tác phẩm xuất hiện có thể từ thời tiền chiến, thời kỳ hai mươi năm văn học miền Nam hoặc văn học ở hải ngoại…

Có người đã nhắc nhở đến nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên và các bài thơ về Giáng sinh của ông. Trong không khí của ngày Noël năm nay, có lẽ chúng ta cũng nên nhắc lại những bài thơ ấy.

Nguyễn Tất Nhiên có những bài thơ rất lạ. Hình ảnh của Chúa và Đức Mẹ được nhà thơ xử dụng phương cách độc đáo, chuyên chở được tình cảm một cách dễ thương. Từ “Vì tôi là linh mục” đến “Chuông mơ”, rồi "Em hiền như ma soeur” đến "Hai năm tình lận đận”, thơ và nhạc hình như đã bổ túc cho nhau để làm nổi bật hơn cá tính của người thơ. Thuở sinh thời, ông thường bực bội vì nghĩ rằng độc giả chỉ biết đến Nguyễn Tất Nhiên qua những bản nhạc mà ít để ý đến cốt tủy là chính những bài thơ của ông. Những bài thơ mà ông cho là biểu hiện rõ nét thi ca của ông. Những câu thơ tràn đầy nhạc tính và cũng chan chứa thi tính...

Nhiều bài thơ của ông được phổ nhạc và đã làm ông nổi tiếng.

Như bài thơ nhan đề “Nguyện làm cây thánh giá“ đăng lần đầu tiên trên tạp chí Văn số Giáng sinh năm 1972 và sau dổi thành “Hai năm tình lận đận“ và Phạm Duy phổ nhạc. Bài thơ ấy có đoạn như sau:

“... em bây giờ có lẽ
toan tính chuyện lọc lừa
anh bây giờ có lẽ
nên làm người tình thua

nhà thờ chuông đổ chậm
tượng Chúa gầy hơn xưa
Chúa bây giờ có lẽ
Rơi xuống trần gian, mưa

(dù sao thì Chúa cũng
một thời làm trai tơ
dù sao thì Chúa cũng
làm đàn ông… dại khờ)

anh bây giờ có lẽ
thiết tha hơn tín đồ
nguyện làm cây thánh gía
trên chót đỉnh nhà thờ

cô đơn nhìn bụi bặm
làm phân bón rêu xanh
(dù sao cây thánh giá
cũng được người nhân danh)

hai năm tình lận đận
em đã già hơn xưa.”


Chỉ có hai năm lận đận cuộc tình thôi mà nhà thơ bắt “em” già đi thì hơi ác! Nhã Lan khi đọc thơ và nghe nhạc, cảm giác hơi khác nhau. Ở thơ, có một điều gì buồn buồn, nhẹ nhàng và hơi chút mỉa mai. Còn ở nhạc, thì có vẻ ngây thơ lãng mạn hơn.

Với tôi, khi đọc thơ, lại cảm vì những chi tiết rất đời thường nhưng lại tạo được nét mới lạ. Từ trước tới giờ, có lẽ chưa có ai có ý nghĩ như Nguyễn Tất Nhiên: dù sao thì Chúa cũng / có một thời... trai tơ / dù sao thì Chúa cũng / làm đàn ông dại khờ. Chính cái nét ngang ngang khác người ấy làm bài thơ sinh động. Còn khi nghe nhạc thì cảm giác khác hơn. Cái nét ngang ngang tinh nghịch ngầm không giống ai ấy biến dạng đi. Và thay thế là cảm giác của sự trẻ trung đầy nét lãng mạn. Đó là nhận xét thô thiển của riêng tôi, khi đặt mình vào vị trí người thưởng ngoạn…

Có một tập thơ của nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên mà hình bìa là hai tháp giáo đường cao vút với bức tranh của họa sĩ Nguyễn Thị Hợp. Đó là tập thơ Chuông Mơ mà Nguyễn Tất Nhiên xuất bản vào dịp Giáng sinh năm 1999. Bài thơ mà nhan đề được chọn cho tập thơ là bài thơ gửi về cho người xưa còn ở Việt Nam:

“chiều nay em còn mảng tóc mai
hay đã lao tâm luống bạc rồi
chiều nay vừa đến giờ tan học
hay vừa buông cuốc chặm mồ hôi?

Chiều nay em bước trên quê hương
Chắc tóc không còn óng ả chuông
Chắc chuông không mượt nâng tà tóc
Chắc tóc và chuông đã… đoạn trường!

Chiều nay em trên quê hương
Chắc Chúa chẳng nhìn như mọi hôm
Bởi vì mắt Chúa và em đã
Lóng lánh vùi chôn lệ ngấn lòng

Áo trắng cả sân trường trắng
Tan học trong đời anh thẩn thơ
Đời anh quên, nhớ, quên, nhiều lắm
Chiều chiều xứ Mỹ cũng chuông mơ.”


Thơ Giáng sinh của Nguyễn Tất Nhiên chắc còn nhiều lắm. Nhiều bài thơ khác như “Em hiền như ma soeur”. “Vì tôi là linh mục”,... và cũng được phổ nhạc thành những bài hát mà chưa bị thời gian làm cho phai phôi…

* * *

Thơ tình Giáng sinh còn có bài nào khác của thi sĩ khác làm tôi thích thú. Tôi có đọc một bài thơ của nhà thơ Trần Vấn Lệ. Ngày Giáng sinh, giở đúng bài ”Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình yên dưới thế cho người tôi thương” thì đúng là thích hợp quá rồi còn gì!!! Cái nhan đề gợi lại một điều gì tuy quen mà lạ, tuy dài mà ngắn. Nó gợi lại một giây phút của hai người tình nhân xưa sau hai mươi năm gặp lại trong ngày Giáng sinh. Chỉ có như vậy, nhưng ngôn ngữ giản dị, tự nhiên như những lời kể chuyện và nhất là man mác trong đó nỗi niềm hoài vọng. Hoài vọng một thời đã qua. Hoài niệm mối tình đã lỡ...

Bài thơ gồm 14 đoạn mỗi đoạn 4 câu. Khá dài nhưng là một truyện kể của một người đã luống tuổi nhưng vẫn còn vương vấn mối tình xưa khi gặp người tình cũ.

“ngày này năm ngoái nhớ không em?
Mình gặp nhau qua một cái nhìn
Mười bảy năm trời trên đất Mỹ
Vẫn là ánh mắt tối Noël

ôi em kinh ngạc trông mà tội
anh cũng tội gì cứ đứng run?
Em vẫn là em cô gái nhỏ
Và anh vẫn vậy, lính băng rừng

Hai mươi năm cũ như cơn mộng
Mười bảy năm trời một tiếng kêu
Rất khẽ. Bởi lòng hai đứa nghẹn
Dù đêm ròn rã tiếng chuông reo

Lạy Chúa cho con gặp lại người
ôi lời anh thốt giống em thôi
Đưa tay muốn nắm mà không được
Đối diện trời ơi lỡ hết rồi

Lỡ hết rồi em! Lỡ hết anh
Em mừng sao mắt lệ long lanh
Anh mừng mắt chớp sau làn kính
cảm tạ trời! Con đã đứng im

dăm ba câu hỏi như bè bạn
em tiếp đường em, anh bước lui
mình gặp nhau đây không ước hẹn
tình cờ em nhỉ chuyện vui vui

chuyện vui tình ý ai không biết?
Thôi giả đò em nhé, Chúa thương
Anh giả đó than hoàn cảnh khổ
Để em dìu dịu ”mắt Tây phương”

Bài thơ đôi mắt người Sơn Tây
Em chép ngày xưa ”kính tặng thầy”
Anh nhắc một câu mà nuốn khóc
Một năm đằng đẵng mắt còn cay!”


Sau một năm kể từ giây phút gặp gỡ ấy, người thơ vẫn còn cảm xúc. Và đến tối Noël năm sau, thì cảm giác ấy lại càng rõ nét.

”Hồi năm ngoái đó với bây giờ
anh giật mình như tỉnh giấc mơ
trọn tối Noël nhìn ảnh Chúa
tưởng chừng đôi mắt của người xưa

em nhớ hay là em đã quên
lạy trời em mãi mãi bình yên
anh làm thầy giáo rồi đi lính
lết tới quê người đạn trúng tim

thôi lỡ rồi em lỡ hết rồi
đường Em đi tới – Con Đường Vui
đường anh trở lạnh đêm năm ngoái
gục xuống quỳ ôm Chúa ngậm ngùi

tha hương kỳ ngộ, ôi lòng Chúa
xin hãy vì người con mến thương
chấp nhận những điều con khấn nguyện
cho nàng hạnh phúc ở nhân gian

em ơi anh tắt từng cây nến
hai chục năm mờ bóng cố nhân
chuông giáo đường vang, tim Chúa đập
đường Em đi tới rộn ràng xuân

đường anh trở bước trăng soi sáng
vẫn bóng trăng rằm quá khứ xưa
đôi mắt Sơn Tây thời lãng mạn
dụi hoài cứ ướt những câu thơ...”

* * *

Có một bài thơ khá nổi tiếng của một nhà thơ người miền Nam Bộ. Bài thơ ấy cũng được phổ nhạc bởi nhạc sĩ Huỳnh Anh và nhạc sĩ Anh Bằng. Một bài thơ mà thành hai bản nhạc. Đó là bài thơ “Hoa trắng thôi cài trên áo tím” bài thơ của Kiên Giang Hà Huy Hà.

Nhà thơ khi ăn mừng thượng thọ 81 tuổi đã mang bức di ảnh của người xưa để công bố một hình bóng nàng thơ áo tím, một nhân vật có thực của đời mình và là một hình bóng thân yêu trong bài thơ. Theo bài viết đăng trên web-site của nhà văn Lê Thiếu Nhơn thì nàng thơ của Kiên Giang Hà Huy Hà (tên thật là Trương Khương Trinh) là bà Nguyễn Thúy Nhiều, người bạn học của chàng hay đi ngang qua nhà thờ mỗi khi xem lễ với tà áo tím. Hà Huy Hà đã mang hình ảnh ấy vào thơ với cảnh giáo đường, với chuông nhà thờ. Và ông cũng lồng vào khuôn cảnh một thời tao loạn để có cảnh tử biệt sinh ly. Thơ Kiên Giang Hà Huy Hà rặc ròng âm hưởng Nam Bộ, có lúc thật giống với thơ Nguyễn Bính nhưng cũng có khi y khuôn như những câu ca dao của miền sông nước Cửu Long. Về khuynh hướng chính trị, Kiên Giang thiên cộng trong thời kỳ trước năm 1975 và là một người được chế độ Cộng sản cho tham dự vào các sinh hoạt văn chương sau 1975 nhưng dường như chẳng có đãi ngộ nào đáng kể mặc dù được xưng tụng là có hơn 60 năm phục vụ nghệ thuật cho cách mạng. Lúc đến tuổi hưu ông phải bán đi căn nhà nhỏ bé của mình và sinh kế cũng khá chật vật.

Bài thơ khá dài. Đoạn mở đầu:

“lâu qúa không về thăm xóm đạo
từ ngày binh lửa cháy quê hương
khói bom che lấp chân trời cũ
che cả người thương nóc giáo đường

mười năm trước em còn đi học
áo tím điểm tô đời nử sinh
hoa trắng cài duyên trên áo tím
em là cô gái tuổi băng trinh

quen biết nhau qua tình lối xóm
cổng trường đối diện ngó lầu chuông
mỗi lần chúa nhật em xem lễ
anh học bài ôn trước cổng trường

thuở ấy anh hiền và nhát quá
nép mình bên gác thánh lầu chuông
để nghe khe khẽ lời em nguyện
thơ thẩn chờ em trước thánh đường...”


Tình yêu rồi cũng phai phôi. Nàng áo tím đi lấy chồng. Chàng nghe ròn rã chuông xóm đạo như tiễn nàng vu quy. Rồi sau đó chiến tranh, và nàng áo tím ngày xưa đã thành chiến sĩ và chết dưới bóng cờ.

Và kết cuộc:

”Hoa trắng thôi cài trên áo tím
mà cài trên cỗ nắp quan tài
điểm tô công trận bằng hoa trắng
hoa tuổi học trò mắt thắm tươi

xe tang đã khuất nẻo đời
chuông nhà thờ khóc đưa người ngàn thu
từ đây tóc rũ khăn sô
em cài hoa trắng trên mồ người xưa.”


Nhưng, đó là bốn câu thơ cuối của bài thơ đầu tiên. Về sau này, người chồng của bà Thúy Nhiều ghen tức khi bà này đặt tên con đầu lòng bằng tên ghép của hai người: chính bà và người thơ ngày xưa. Bản sau của bài thơ, Kiên Giang Hà Huy Hà sửa lại đoạn kết bài thơ là :

“Lạy chúa con là người ngoại đạo
nhưng tin có Chúa ở trên trời
trong lòng con giữa màu hoa trắng
cứu rỗi linh hồn con Chúa ơi!”


Thơ Kiên Giang ngôn ngữ chất phác, những bài thơ như Xe Trâu hay Hoa Trắng Thôi Cài Trên Aó Tím nhờ sự hồn hậu bình dân biểu lộ tính tình của người dân Nam Bộ nên đã có vị trí trong thi ca Việt Nam…


* * *

Tức cảnh sinh tình tôi cũng có làm vài bài thơ về Giáng sinh của đời mình. Trong đó, có bài thơ làm khi vừa từ đảo đến Mỹ định cư:

Vào thương xá giọt nhạc rơi
Giờ thánh tẩy, chợt cõi đời bù hao
Từ khi gươm súng vẫy chào
Ngẩn ngơ tiền kiếp lao đao bóng hình

Soi gương mù mịt nhân sinh
ngọn thông đèn thắp nỗi mình ở đâu?
Đứng bên hang đá u sầu
Thấy cây thập giá nỗi đau hình thành

Tượng Mẹ giọt lệ long lanh
Hồng ân thiên cổ trên cành còn treo
Chiếc xe đò cũ qua đèo
Nghe sương khói chạnh cuối chiều bâng khuâng

Đứng trên đỉnh dốc phong trần
Áo cơ hàn cũ thế thân vẫn vừa
nhạc rơi ẩm sáng lạnh trưa
Giáng sinh tôi, quạnh đêm mưa ngang đầu.


Nói về mình đã kỳ mà nói về thơ của mình lại kỳ cục hơn. Đại khái bài thơ này chỉ là tâm sự của một người sắp bước chân vào một cuộc sống mới và sẽ phải gánh nặng trong tâm một quá khứ có từ những thời gian đã qua của đời mình…

Một bài thơ khác, ghi lại một thời gian khác một kỷ niệm khác. Giáng sinh ở Sài Gòn. Bài thơ đã để lại từ một thành phố đầy ắp trong trí nhớ những kỷ niệm.

1

Hãy xuống đường và mặc áo mới.
Chiếc áo ngày Chúa bị đóng đinh

Còn khô vệt máu
Hãy xuống đường và xưng tội
Thân phận Việt Nam.
Âm như dao sắc

Thánh ca xoáy tròn
cấu da nỗi đau có thực.

2

Giáng sinh ở Sài gòn
Con phố không còn gió
Ngọn cờ ủ ê.
Lặng lẽ.

Giáng sinh ở Sài Gòn
Thắp trong mắt mỗi người ngọn nến nửa đêm
Đầu mang vòng gai buốt
Hân hoan hành xác mình

Giáng sinh ở Sài gòn.
Mọi người đi ra đường
Cầm trái tim
Làm vũ khí.

Lời đồng dao của quỉ
Bắt đầu chuông báo tử mùa xuân.

3

hát cho rõ tiếng guốc nàng.
Hai mươi năm trẻ dại
Hát và thở ký ức chàng
Thác reo lũng gió

Hát và vỗ tay thế kỷ chúng ta.
Khúc hoan ca thinh lặng
Hát và long lanh hạt lệ
Giáng sinh ba mươi năm trí nhớ.

4

bây giờ nửa đêm
phơi khô dây hạnh phúc
ngọn nắng phai phai
ru tôi tóc sợi.


Bây giờ ở Sài gòn
Tôi trốn vào đám đông
Mặt nạ che tông tích
Tự hỏi có phải là dòng sông

Trôi qua những ấu thơ tinh nghịch
Cánh cửa khuya đóng lại bình minh.

5

Giáng sinh ở Sài gòn
nhớ ly cà phê gạo rang đắng chát.
Cho cũ một ngày.
Ngọn đèn dầu nhỏ tăm tối

Sao không thắp hỏa châu
Sân ga không tàu đợi

Giáng sinh ở Sài gòn.
Ngực khan đám đông đau
Than vừa ngún
Bếp đỏ lửa rồi bè bạn ta ơi


Giáng sinh ở Sài gòn
Sống lại chính chúng ta
Hàng hàng lớp lớp
Tôi phục sinh anh phục sinh

Từ dòng máu giọt…

(Nguyễn Mạnh Trinh)

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

RMS “TUYỂN TẬP THƠ VĂN NHẠC”
CỦA DƯƠNG VIẾT ĐIỀN

Phong Vũ


California chưa từng mưa như thế. Mưa ngập đất ngập trời. Mưa như biển cả bốc hơi cạn ráo để trút xuống thành cơn hồng thủy. Rồi đến cuối tuần, trời lại le lói nắng. Một chút thôi cũng đủ làm ấm lòng những kẻ đến tham dự buổi ra mắt sách của Hạ Ái Khanh, hay cũng là nhà văn Dương Viết Điền.

Lúc đầu chỉ là những dự định mơ hồ của bộ ba Phước Lộc Thọ: Quỳnh Giao, Phong Vũ và Dương Viết Điền. Chỉ là những lời nói quanh quẩn một buổi chiều trời thẩm màu tím than phương tây, bên kia dưới đồi Calabasas. Nhưng rồi thành sự thật. Sao lại không nhỉ ? Sao không là một buổi trình làng tác phẩm thứ 9. Và cũng là buổi tiệc Tất Niên của câu lạc bộ Tình Nghệ Sĩ kia mà ! Thế là bắt đầu từ bước một nhé. Đặt nhà hàng này. Viết chương trình này. Mời khách này. Làm thiệp mời này. Tất cả từng hạt kết thành chiếc vòng lóng lánh nắng ngày Chúa Nhật 26 tháng Chạp, cuối năm 2010 .

Cũng lại Diamond Seafood Palace ! Hình như Văn Đàn Đồng Tâm và Tình Nghệ Sĩ có duyên văn nghệ với ngôi nhà hàng đẹp đẻ này. Hay tại cách bài trí sáng mắt, đẹp lòng bên trong. Hay cũng tại cái sân khấu, nhỏ thôi, nhưng thật thơ mộng với bức màn tím đen lóng lánh đính sao sáng? Không biết tại sao, nhưng các buổi liên hoan văn nghệ đều đã diễn ra tại đây, từ mấy năm nay !

Sao hai tuần hồi hộp, van vái trời đất ngưng mưa, ngừng bão, Cuối cùng toại nguyện. Ngày Chúa Nhật đã thật đẹp nắng, đẹp trời. Cái không khí lang mang lạnh, của những ngày cuối năm đưa lòng người muốn gần gũi nhau hơn. Chương trình bắt đầu lúc 11 giờ, thế mà đã có người đến sớm hơn. Họ đứng nói chuyện truớc hiên chờ nhà hàng mở cửa. Quỳnh Giao, trưởng ban tổ chức nên đã tất bật đến sớm nhất. Chị hôm nay vận một chiếc áo dài cổ rộng, màu hoa hồng trắng trông thật đẹp và trang nhả . Anh chị Dương Viết Điền thì là chủ trì nên cũng đến sớm với hai cô con gái mà một trai (hợp thành Hạ-Ái-Khanh).
Phong Vũ là người viết chương trình nên cũng đã đến chung với nhà văn Việt Hải (Chủ bút Văn Đàn Đồng Tâm). Hai cánh cửa kính dày rộng mở, mọi người tuần tự vào ghi tên trước bàn tiếp tân, và mua sách với dòng chữ kỷ niệm của NV Dương Viết Điền đang ngồi ký. Ban nhạc Hoài Hương với nhạc sĩ Keyboard Khanh, Đoàn Thảo và bộ Tứ ca Khánh Vân, Lan Hương, Xuân Thanh, Vũ Hùng đã vào từ lúc nào, và đang sửa soạn khí cụ âm thanh.

Khách đến đông đảo dần, ngồi kín các chiếc bàn tròn phủ khăn trắng và các chiếc ghế có thắt chiếc nơ hồng to tướng. Có gần hai trăm khách mời tham dự. Tiếng nhạc bắt đầu vang vang, với giọng hát của Lan Hương, Khánh Vân, Xuân Thanh, Vũ Hùng trên sân khấu. Cũng là ban nhạc thân quen, nên các ca sĩ đã bắt đầu “chào sân” ngay cho ấm cúng không khí.
Đúng theo chương trình: 12:00 PM đúng ngọ, Cao Minh Hưng, Phong Vũ và Quỳnh Giao lên sân khấu chào mừng quan khách, và cử hành nghi lễ chào quốc kỳ quốc ca thân yêu của miền Nam khi trước. Mọi người cùng cất tiếng hát bài quốc ca trong nỗi xúc cảm dâng trào. Rồi ca sĩ Lan Hương cất tiếng hát quốc ca Hoa Kỳ thật long trọng. Phút mặc niệm cũng là giây phút thiêng liêng để mọi người cùng nhớ đến sự hy sinh của chiến sĩ VNCH bỏ mình vì nước.

Quỳnh Giao và Phong Vũ đọc tên các quan khách hiện diện. Nhận thấy có GS Nguyễn Thanh Liêm, GS Lê Văn Khoa, Ông bà Giáo sư Song Thuận, Nhạc sĩ Diệu Hương, nhạc sĩ Ngô Tín, nhà văn Nguyễn Hữu Của (Phó Chủ tịch hội Văn Bút Tây Nam Hoa Kỳ), Việt Hải Chủ bút Văn Đàn Đồng Tâm, Minh Tuấn (Tình Nghệ Sĩ San Diego), ông bà BS Cao Minh Hưng và Ngọc Bích. Ký giả Nguyễn Kinh Doanh, Ký giả Hoàng Phúc, Ký giả Thanh Huy, nhà văn Vương Trùng Dương, ký giả Lê Bình (Nàng Magazine Sanjose) . Nhà thơ Phan Bá Thuỳ Dương. Nhà văn Huyên Chương Quý . Ký giả Nguyên Huy. Nhà thơ Khiêu Long và nhà thơ Nguyễn Ngọc Tuấn (San Diego), nhà thơ Bích Ty, BS Phạm Nguyên Lương, Nhà văn Thiết Trượng, BS Lê Đình Ái và phu nhân. Họa sĩ Lê Thuý Vinh, Bữu Tịnh và Steve Bữu. Phóng viên Lê Huỳnh, ca sĩ Billy Hùng, Ca sĩ Xuân Thanh, Lan Hương, Khánh Vân, Vũ Hùng, nhạc sĩ Khánh, Đoàn Thảo. Ca sĩ Hà Trúc Mai, ca sĩ Hạnh Cư, Ký giả Ninh Thuận. Nhóm vũ Hùng Sử Việt gồm Quỳnh Hoa, Dạ Lan, Bích Đào, Kim Bích, An Hảo, Phương Lan. Ca sĩ Như Ngọc Hoa, Ca sĩ Ngọc Tuyết, Thuý Nga. Nhạc sĩ Nguyên Thảo. Cựu Trung tá Nguyễn Tri Tấn và phu nhân (Sư đoàn 1 Bộ Binh, VNCH). Nhóm thân hữu Bình Điềnvà Ái Tử. Nhóm thân hữu Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt. Nhóm cựu Phi Công Không Đoàn 110 , thuộc sư đoàn 1 Không quân Đà Nẵng, VNCH. Ca sĩ Evis Huy, Tiến sĩ Mai Thanh Triết. Ông bà Phạm Khanh (Hiệu trưởng trường Việt ngữ Văn Lang ở San Fernando).

Sau đó, BS Cao Minh Hưng (Hội trưởng Tình Nghệ Sĩ) giới thiệu Phong Vũ lên nói về tác giả . Dương Viết Điền là một cựu sĩ quan Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt. Sau năm 75, ông bị đi tù cải tạo với cấp bậc Đại Uý, và bị lao động khổ sai suốt 10 năm dài. Ông được thả và đi theo chương trình HO định cư ở Hoa Kỳ vào năm 1990. Ông bắt đầu sáng tác mạnh và xuất bản nhiều tác phẩm thơ, văn nhạc …

Phong Vũ giới thiệu cô MC Minh Phương - một xướng ngôn viên có giọng nói mượt mà như lụa lên để cùng điều hợp chương trình.

- MC Minh Phương giới thiệu nhóm Vũ Hùng Sử Việt. Bài hát “Thương Về Xứ Huế” được ca sĩ Quỳnh Hoa hát cùng với những vũ điệu duyên dáng của các cô Dạ Lan, Bích Đào, Kim Bích, An Hảo, Phương Lan. Các cô mặc áo dài tha thướt, tay che nón lá bài thơ của xứ Huế cổ kính và thơ mộng. Điệu vũ được mọi người tán thưởng nhiệt liệt.

- Ký giả Thanh Huy (cộng sự viên của nhật báo Việt Báo) lên diễn thuyết về tác phẩm ra mắt “Tuyển Tập Thơ Văn, Nhạc”. Với giọng nói êm đềm, ký giả Thanh Huy đã mô tả những nét hay đẹp của từng chương sách. Như một công trình to lớn (sách dày hơn 500 trang) của nền văn học hải ngoại.

-Phong Vũ giới thiệu một tiết tấu độc đáo, đến từ một người cũng độc đáo, và điêu luyện. Nhạc sĩ Classical Guitar Ngô Tín, qua dòng nhạc Flamenco nổi tiếng Âu Châu. Đã từng tổ chức và trình diễn trong các đêm nhạc thính phòng với các ca sĩ như Tuấn Ngọc, Thanh Lan, Ý Lan.. Nhạc phẩm nổi tiếng của anh "Em Bây Giờ Mắt Biếc" do Tuấn Ngọc hát rất thành công, hay CD "Broken Wing (Uyên Ương Gãy Cánh) của anh cũng có số phát hành rất cao..Hôm nay Ngô Tín đến với Tình Nghệ Sĩ qua tiếng đàn Tây Ban Cầm điêu luyện và đặc biệt của anh.

-BS Cao Minh Hung giới thiệu nhà văn Lê Anh Dũng lên nói về tác phẩm và tác giả - sách và con người. Lê Anh Dũng có giọng nói chân thật, pha chút dí dỏm khiến người nghe rất hoan nghênh.

-Đặc biệt hoạ sĩ Lê Thúy Vinh đã thân tặng một bức tranh sơn dầu rất đẹp - vẽ “Một cô gái Huế” để tặng cho anh chị Dương Viết Điện. Như một món quà văn nghệ, để nhớ Huế yêu thương.

Phong Vũ giới thiệu một màn trình diễn độc đáo, có một không hai ở các show hải ngoại. Một “Impersonator” đã xuất hiện như “ King Of Rock and Roll” Elvis Presley - Ca sĩ Elvis Huy đã xuất hiện trong y phục và phong cách trình diễn của một Elvis Preley rất thật. Anh gây hào hứng và kích động với khán giả bởi giọng hát trầm ấm và điệu bộ điêu luyện của anh.

-Minh Phương giới thiệu: BS, và nhạc sĩ Cao Minh Hưng. Một người tài hoa về cả văn lẫn nhạc. “Tài” thì là một bác sĩ chuyên chữa trị bệnh nhân. Còn “Hoa” thì sẽ giới thiệu một ca sĩ Cao Minh Hưng qua nhạc phẩm do chính anh sáng tác " Lời Nguyện Cầu Đêm Noel"

-Minh Phương giới thiệu: để cùng nhau nhớ lại những thập niên 70 vàng son của một thời nhạc trẻ Sài Gòn. Hôm nay chúng ta có sự góp mặt của ca sĩ Billy Hùng, một người chuyên trị nhạc trẻ. Anh trình diễn một bài hát có tên “Unchain Melody”. Được biết anh sẽ tổ chức một show ca nhạc có tên “ Sài Gòn Kỷ Niệm Vũ Trường Trước 75” tại nhà hàng Emeral Bay vào ngày 26 tháng hai tới đây. Để giới thiệu và nhắc nhở lại các giọng hát hàng đầu một thời của Sài Gòn.

-Minh Phương giới thiệu: Một kỹ sư, một ca sĩ và là một nhạc sĩ tài hoa đến từ thành phố biển xanh mây trắng. Minh Tuấn qua nhạc phẩm “Em Sài Gòn” do chính anh sáng tác. Một nhạc phẩm đang được nhiều người ưa chuộng trên Cyber Net .

-Phong Vũ giới thiệu: Một ca sĩ có giọng hát trầm ấm của ban nhạc Hoài Hương. Ca sĩ Vũ Hùng hát bài “Đôi Mắt” do chính anh sáng tác. Sau đó anh đã ngâm một bài thơ trích trong sách “Tuyển tập Thơ-Văn-Nhac”.
- Minh Phương giới thiệu: Mùa xuân đã thấp thoáng bên thềm. Nàng xuân đã sửa soạn xiêm y để tha thướt trở lại với đất trời. Ca sĩ Như Ngọc Hoa qua nhạc phẩm Hoa Xuân.

-Minh Phương giới thiệu: ca sĩ Ngọc Tuyết qua nhạc phẩm “Nhớ Một Chiều Xuân”.

-Minh Phương Cao Minh Hưng giới thiệu : Nguyên Thảo. một người bạn mới của Tình Nghệ Sĩ. Hôm nay cô góp mặt để chung vui. Cô trình tấu hai bài guitar classic và violine cổ điển hai bài nhạc của BS Cao Minh Hưng sáng tác “Phương Đỏ Mùa Đông” và “Yêu Em Ngàn Năm”.
- Phong Vũ giới thiệu “nhà thơ Quỳnh Giao” tác giả của thi tập “Trong Ta Ngậm Ngùi” sẽ trở lại sân khấu để điều hợp mừng Sinh Nhật các anh chị em trong Tình Nghệ Sĩ.

Quỳnh Giao, Minh Phương gọi tên các anh chị em có sinh nhật trong các tháng lên sân khấu:
- Tháng 10: cô Thu Hảo, nhạc sĩ Diệu Hương, ca sĩ Khánh Vân , ca sĩ Hoàng Đình Nguyên.
-Tháng 11: nhà văn Nguyễn Hữu Của, ca sĩ Diễm Chi, ca sĩ Mỹ Lan, ca sĩ Hạnh Cư.
-Tháng 12: nhà văn Việt Hải, Quỳnh Giao, ca sĩ Lan Hương và Phong Vũ .
Tất cả cùng cắt bánh sinh nhật và hát bài “Happy Birthday”.

Phong Vũ, Minh Phương mời Hội trưởng Tình Nghệ Sĩ Cao Minh Hưng, chủ bút VDDT Việt Hải, Trưởng nhóm Tình Nghệ Sĩ San Diego Minh Tuấn cùng lên sân khấu chúc mừng tất niên 2011 và nâng ly mừng với anh chị em.

Minh Phương giới thiệu: Một đôi song ca đến từ thành phố cực Nam của Hoa Kỳ, San Diego. Một đôi song ca “Thi Huệ và Như Ngọc Hoa” đến với nhạc phẩm tươi vui “Xuân Miền Nam”.

Phong Vũ giới thiệu một ca sĩ dễ thương. Cô cũng là người mẫu cho các họa sĩ và nhiếp ảnh gia. Sở trường cô là các loại nhạc thính phòng. Ca sĩ Hà Trúc Mai qua nhạc phẩm “Khúc Thụy Du”. Thơ Du Tử Lê. Nhạc Anh Bằng.

-Minh Phương giới thiệu: Phong Vũ trong nhạc phẩm “Riêng Một Góc Trời” của Ngô Thụy Miên.

-Minh Phương giới thiệu ca sĩ Hạnh Cư qua nhạc phẩm: “Bài Thánh Ca Buồn” .

- Minh Phương giới thiệu: ca sĩ Thúy Nga qua nhạc phẩm “Đường Xưa Lối Cũ”

-Trao phần MC âm nhạc lại cho ban nhạc Hoài Hương . Ca sĩ Lan Hương, Khánh Vân, Xuân Thanh cùng thay nhau hát .

3: 30 PM Cả nhóm Tình Nghệ Sĩ cùng lên sân khấu hát bài “Ô Me Ly” như một thông lệ để chấm dứt chương trình .

Theo như các phóng viên và ký giả báo chí có mặt tại chỗ thì buổi ra mắt sách hôm nay của nhà văn Dương Viết Điền đã thành công về phẩm lẫn lượng. Số khách tham dự đông đảo. Nhà văn Dương V Điền ngồi ký tặng sách mỏi cả tay, trong lúc khách vẫn đứng xếp hàng chờ mua sách . Không khí tưng bừng vui nhộn với các màn trình diễn văn nghệ đặc sắc.

Một ngày vui cho nhà văn Dương Viết Điền và thân hữu. Cũng là một ngày vui cho Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ. Trời bên ngoài vân khô ráo, hứa hẹn một tuần lễ cuối năm tốt đẹp, mỹ mãn vừa lòng mọi người. Văn học Việt Nam có thêm một tác phẩm mới trình làng “Tuyển tập Văn Thơ Văn Nhạc “ để làm phong phú thêm cho nền văn chương tự do, nơi hải ngoại.

Chiều cuối năm 26 tháng chạp, 2010
Phong Vũ
Image

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

VIỆT NAM : TOP TEN 2010

NGUYỄN DUY THÀNH
Cuối năm 2009, đề mục Top Ten chính thức mở mắt chào đời trên trang mạng: Take2tango. Mà nghe đâu; chỉ trong vòng 9 tiếng đầu đời đã có 78.600 đọc giả ghé chào!

Nhưng buồn thay!

Buồn như Việt Nam năm 2010 phải trải qua nhiều dông bão nhân quyền- chính trị và tài chánh, mưa than gió thở trong 12 tháng lướt qua và cũng đã cuốn trôi đi phần đất hạ sinh và bàn tay cắt rốn đầu đời cho Top Ten.

Thế nên, năm nay xin được mượn “ vạt đất” của tất cả Báo “ lề trái” để kiếm tìm..Ai- Nhân vật nào? Sự kiện ra sao vì 3 chìm, 7 nổi, 6 lênh đênh, mà trăm họ Việt Nam đã tụ năm tụm bảy để bàn ra tán vào nhiều nhất trong năm 2010!?

Nhưng trước hết, dân gian Việt Nam thường có câu: Tiên lễ Hậu binh. Vậy thì xin vào ngay phần lễ nghi trước, đó là:

1 - NHƯ MỘT LỜI CHIA TAY VỚI TRANG ĐIỆN BÁO NHIỀU ĐỘC GIẢ NHẤT.

Có thể nói; trên đường phố Sài Gòn hay vỉa hè Hà Nội. Hay, ai đã từng du lịch Phi Châu, một xứ sở mà con người và cảnh vật.. ..Cái gì cũng “ Hắc”..cả! Nhưng ngộ lắm; vẫn không ít cô-chú choai choai không rành tiếng Việt nhưng vẫn thích mở trang mạng take2tango.com để đọc tin tức. Kỳ công cộng với kỳ kèo lắm để hỏi ra mới biết là:

-“ Chúng em thích vì trang mạng này nó nhiều chuyện lắm..”!!!

Tại đâu mà bảo “ nhiều chuyện lắm” nghĩa là sao?

Có lẽ là thế; và vì thế! Mà sáng sớm mồng 1 tháng 11 năm 2010, toàn bộ độc giả đã đột ngột nghẹt thở và lưu luyến, bởi:

“ Những hẹn hò từ nay khép lại
Thân nhẹ nhàng như mây
Chút nắng vàng rồi đây cũng vội
Khép lại từng đêm vui..”

Rất có thể; lời nhạc buồn như tiếng kinh đêm của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn khá hợp cảnh cho tình cảm của bao độc giả khi hay tin Ký giả Thế Phương thành người thiên cổ, và người tình Take2tango của ông.. ..cũng hóa đá theo!

Sự chia tay mãi hoài không tái ngộ của người sáng lập trạng mạng này đã để lại khá nhiều..thì ..thầm..nhỏ..to, vì có người cho rằng Ký giả Thế Phương làm Báo theo kiểu “ Bảy Cầu Muối”..vv..vv..!

Nhưng cũng không ít người bênh vực rằng, phương thức phục vụ độc giả của Thế Phương rất đáng học hỏi, nhất là mặt kỹ thuật. Bởi khó ai đó có thể vơ, vét, nhồi, nhét mọi chuyện trên trời dưới đất vào một trang báo điện tử như ông!

Điểm nổi bật của Ký giả Thế Phương là minh định được lập trường chính trị của tờ báo, do vậy, người tình Take2tango của ông đã chuyển tải không ít giá trị phổ quát về quyền tự nhiên của con người đến với đồng bào quốc nội đang bị bưng bít bởi bức tường lửa của giới đương quyền bảo thủ. Chỉ chừng đó thôi; khá đủ để độc giả cùng nhau nghiệm ra cái câu mà cổ nhân Trầm Tử Thiên đã than:

“..Vài vạn ngày gió cuồng mưa lũ
Trăm cơn đau một vừng nhang khói
Kéo ta về, về cõi hư vô.. ..”

Thế nên, ai lúc sinh thời không mang tâm tình như Trịnh Công Sơn, mà rằng:

“..Làm sao biết từng nỗi đời riêng
Để yêu thêm, yêu cho nồng nàn..”

Thôi thì! Thắm lòng bao dung đó, hãy xí xóa mà hỷ xã cho nhau, để cùng nhau trọng kính gởi lời chào: VĨNH BIỆT THẾ PHƯƠNG VÀ NGƯỜI TÌNH TAKE2TANGO..của ông ..!

2- KHUÔN MẶT “ CẢI TẠO TỐT” NHẤT 2010.

Xin một tràng pháo tay .. ..để báo tin mừng đến với độc giả, là: Ông Chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Minh Triết đã được Top Ten 2010 bình chọn khuôn mặt “ Cải Tạo Tốt Nhất” trong năm!

Vì rằng; năm 2009 ông đạt danh hiệu “ phát biểu lôm côm. Nói năng cà chớn nhất”. Nhưng theo dõi thật sát trong suốt 12 tháng qua, thì có thể so sánh với nhiều nhân vật trên diễn đàn. Rằng, ông Triết rất tiến bộ trong “ biểu hiện ngoại giao, ít phát biểu lung tung”. Có được điểm này thì nghe đâu là nhờ Phật Ngọc về Việt Nam, ông Chủ tịch có đến “ rờ tượng” và chấp tay khấn vái!

“Nói có sách, mách có chứng”. Có lẽ tấm hình này ít nhiều cũng chứng minh ngài chủ tịch muốn hối cải... Và cũng không biết rằng Phật Ngọc hòa bình có nói là:

-“ Thí chủ hãy bỏ đồ đao xuống lập địa thành Phật”???

Mà xem bộ; mặt mày ông Triết đở “ngố” hơn năm ngoái!

Nhưng nhiều người lắc đầu với chuyện “ bỗng nhiên” này! Vì cho rằng, ông Triết mà tin thánh thần thì như phim Hồng Kông nói là tin “ Heo nái leo cây”..!

Chẳng biết đường mô..mà rờ..!

Nhưng thôi; miễn sao ông Triết tiến bộ là được rồi. Mong sao; sang năm về hưu ông Triết ít nói ít phô cho thiên hạ được nhờ!

3- TRÁI TIM KHÔNG NGỦ YÊN VÌ MỸ NHÂN CÓ CẶP ĐÙI QUÁ CỞ..
Người Việt có câu:- Làm gì có chuyện “ nhìn Gà hóa Quốc”. Thế mà, như phim thần thoại, chỉ một đêm thôi, con Ó Đen Lý Tống bỗng hóa thành Mỹ nhân.. ..tuyệt sắc.. ..!

Mèn đét ơi! Từng tự hào là bao nhiêu năm làm chủ sân khấu, nhưng e rằng, đêm đó sẽ là “..đêm nay..đêm cuối cùng..” của Mr Đàm trên xứ Nữ Thần Tự Do, và cũng có thể, đêm đó cũng là đêm trái tim của nàng Ca sĩ Mỹ Tâm có biệt danh Tóc Nâu Môi Trầm không ngủ yên như chính tựa bài hát nàng ca: TRÁI TIM KHÔNG NGỦ YÊN..!

Thôi kỳ lắm, nhắc lại chuyện cũ làm chi ..vì ai cũng biết hết rồi, nhưng nghĩ lại thì.. ..thật là vừa.. “ phê”.. ..vừa mắc cỡ.. ..Vì người đẹp Lý Tống “ lười” thể dục nên..Your body too.. ..đại chang..”!

Nhưng, cũng nhờ ông Lý hay có lối đấu tranh “ ngẫu hứng Lý Qua Cầu” đó, mà sẽ dần dần dẹp tan được đám “ âm công” Việt cộng…..đổ bộ..qua Mỹ..để phá xóm phá làng. Top Ten 2010 hoan hô Mỹ Nhân: LÝ TỐNG.

4- ÔNG ĐẠI SỨ NHƯNG THIẾU TRÁI TIM THIÊN SỨ..
Top Ten năm nay rất buồn khi phải chọn một người ngoại quốc vào nhân vật và sự kiện không vui này! Đó là ông Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Mr Michael W. Michalak.

Ba năm, một thời gian không ngắn mà vị Đại sứ đã gắn bó với quê hương này, điều đó tự nó đã trở thành kỷ niệm, là một phần đời sống của chính ông! Nhưng thật tiếc! Trái với lòng mong đợi của bao người kỳ vọng ở ông, cũng như đi ngược lại chính sách của Hoa Thịnh Đốn luôn giương cao ngọn cờ Nhân quyền và Dân chủ!

Xét một cách khách quan, các đánh giá, nhận định về tình hình nhân quyền Việt Nam của vị Đại sứ này đã thiếu trung thực, không phù hợp với thực tế như đã xảy ra trên quốc gia mà ông làm công tác ngoại giao. Vì thế, giới cầm quyền Việt Nam đã gia tăng sự đàn áp một cách khốc liệt, năm 2010 là năm có nhiều nhà đấu tranh dân chủ bị bắt một cách vô cớ, và cũng là năm các tôn giáo bị đàn áp nặng nề nhất trong quá trình cầm quyền của đảng công sản Việt Nam.

Thế nhưng, các biểu quyết về đề nghị đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC đều bị loại tại Thượng viện Hoa Kỳ. Không loại sao được; khi đại diện của chính phủ Mỹ tại Hà Nội luôn nhận xét rằng: Nhân quyền Việt Nam có tiến bộ hơn trước đây. Như thế nào gọi là tiến bộ khi Thánh giá, tượng Chúa bị đặt mình giật sập, khi giáo dân tại Cồn Dầu bị đánh chết!??

Đồng niệm rằng, ngoại giao bao giờ cũng trả lời theo lối “ Ba phải” để hòng đem lại quyền lợi cho nước lớn. Nhưng không thể bước qua sự thật khi chính mình đang thực thi sứ mạng rao giảng và bảo vệ giá trị quyền phổ quát của con người!

Lạy trời khấn đất tân Đại sứ sắp tới sẽ có “ tâm hồn” như Henry Cabot Lord, thì thiên hạ Việt Nam có nhiều hy vọng “ hạ heo” ăn mừng!

5- NGƯỜI CON GÁI ĐÁNG KÍNH TRỌNG NHẤT. NHƯNG ÍT ĐƯỢC QUAN TÂM NHẤT.

Nếu quân sử Việt Nam Cộng Hòa từng tự hào trận hải chiến để đời tại Hoàng Sa với Trung Cộng vào năm 1974.

Hay, Quân Đội Nhân Dân Việt Nam giao chiến với Trung Cộng tại Trường Sa vào năm 1988.

Thì, hôm nay đây rất đáng tự hào và kính phục vì thế hệ thứ hai có Phạm Thị Thanh Nghiên như một chiến sĩ ái quốc đáng được tôn vinh. Bằng hành động tọa kháng với khẩu hiệu khẳng định “ Hoàng Sa- Trường Sa là của Việt Nam ”. Nhưng trớ trêu thay; giới cầm quyền Việt Nam đã kết án cô 4 năm tù giam.

Phẫn uất trước hành động ngang ngược và quỷ quái của nhà nước Việt Nam , nhiều Blog tại quốc nội đã cực lực lên án với nhiều Tựa Báo rất thống thiết như: “ Yêu Nước Là Có Tội?” hay “ Sao Kết Aùn Người Yêu Nước”, hoặc “ Kẻ Kết Aùn Cô Nghiên Là Tàu Hay Việt Nam ”..vv…..

Mặc dầu sục sôi không khí bảo vệ cho cô, nhưng lực bất tòng tâm trước đám quái quyền. Và cũng từ độ đó đến nay, so với các nhân vật khác, trường hợp cô Nghiên rất ít được quan tâm, mà lẽ ra, ngọn lửa ái quốc của Phạm Thị Thanh Nghiên, hay Điếu Cày..vv.. cần được nhen nhóm trở lại hơn bao giờ hết! Vì đây mới là “ tử huyệt” của giới cầm quyền Hà Nội, và đó cũng là mục đích có sức hút đám đông nhất cho lực lượng đâu tranh!

Top Ten 2010 xin được đưa trường hợp cô Phạm Thị Thanh Nghiên là người con gái đáng kính trọng nhất, như một biểu tượng để kêu gọi lòng ái quốc của tuổi trẻ Việt Nam .

Đồng thời cảnh cáo với giới đường quyền Hà Nội rằng: Sẽ có thời kỳ hậu cộng sản, vì tình tự dân tộc hay điều kiện chính trị và lịch sử. Người dân Việt có thể tha thứ tội ác của các lãnh đạo cộng sản Việt Nam . Nhưng chắc chắn, người ta sẽ quyết tâm tử hình những kẻ bán nước, nhất là những kẻ hủy diệt lòng yêu nước của người dân.

Do đó, đang trong thời kỳ bàn giao quyền lực của đảng cộng sản Việt Nam , thì Chủ tịch Nguyễn Minh Triết là người được Hiến Pháp Việt Nam cho đặc quyền ân, hay đặc xá, tha bổng tù nhân, kể cả tử tội. Vậy hãy thả cô Nghiên – Điếu Cày như một biểu hiện lòng yêu nước, tích đức dồn phước trước khi về hưu.

Song hành, việc trả tự do ngay lập tức cho cô Nghiên cũng là việc đầu tiên nên làm của tân Bộ chính trị cộng sản Việt Nam , ngay sau Đại hội đảng thứ 11!

6- TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM ĐƯỢC NHIỀU NGƯỜI ĐỌC NHẤT.

Quan sát qua nhiều diễn đàn thì có thể kết luận và đưa vào hàng Top Ten 2010 về Tác giả và Tác phẩm có nhiều bạn đọc và được bình chọn điểm cao nhất. Vinh dự đó thuộc về Luật sư : Đinh Thạch Bích.

Có thể nói rằng, trong hoàn cảnh đấu tranh với chế độ độc tài, mọi cố gắng chuyển tải thông tin từ bên ngoài làm sao lọt được vào bên trong là một yêu cầu hết sức cấp thiết, cũng như tạo điều kiện cho người bên trong vượt qua được “ tường lửa” là một điểm tối quan trọng. Với nhu cầu đó, khối bài vở của Tác giả Đinh Thạch Bích đã có kết quả cao trong sứ mạng nhân bản này!

Khác với nhiều Tác giả là viết bài cho độc giả xem, Ls Đinh Thạch Bích dùng phương pháp audio. Thay vì, một tay người đọc “ôm” ly Cà phê, một tay thì “ rờ” con chuột, bây giờ độc giả chỉ việc ngồi nhâm nhi vừa vuốt râu khoan thai nghe đọc báo. Với “ kỹ thuật viết báo” kiểu này, tại Việt Nam đã có nhiều người hoan hỷ đón nhận bài viết của ông, có những độc giả trên diễn đàn còn khoe rằng:- Chỉ cần một lần tải xuống máy thì sau đó vô số người chuyền tay nhau để nghe”!

Xem chừng; bài vở đều đặn, nội dung phong phú, bình luận và nhân định phù hợp xu hướng chính trị hiện nay, thì nhiều người cho rằng sức mạnh đó không thua gì cả một cơ quan truyền thông!

7- BÓI RA MA. QUÉT RA NHÀ NGOẠI CẢM.

Nếu gọi Nhà ngoại cảm Phạm Thị Bích Hằng là Bà, thì e là Nàng không vui ..! Vâng ; phải gọi là Nàng bởi Happy Birthday của Hằng chỉ là Nhâm Tý 1972.

Câu chuyên của nàng Hằng trở thành Nhà ngoại cảm được đảng cộng sản Việt Nam nể phục, thì quả thật là một chuyện dài ly kỳ và hấp dẫn, còn hơn nữ nhân vật Mai Siêu Phong khổ luyện tuyệt chiêu Ngủ Trảo Phanh Thây trong phim kiếm hiệp Hồng Kông !

Để xem câu chuyện của Hằng hư thực ra sao ; không ít người phải tốn công « trèo » lên Mạng. Sau khi vào được « Tàng Kinh Các » Google rồi lục xem « sổ bộ » tại đây, thì chuyện rằng :

Vào năm 1988, một hôm nàng Hằng cùng người bạn vừa hồn nhiên nhảy cò.cò.. vừa hát » :

« Em là búp măng non em lớn lên trong mùa cách mạng, sướng vui có đảng tiền phong.. » !

Đang hát ca ..ngon ..trớn..thì bỗng nhiên một con Chó dại từ đâu lao đến..và cắn..rồi cắn..cả 2 người. .. !

Lập tức, cô bạn của Hằng « ngay đơ cán cuốc »! Còn Hằng thì hồi phục sau nhiều bài thuốc của một vị Thầy lang.

Không biết và cũng chẳng ai hay là do nọc độc của con Chó dại, hay hiệu nghiệm từ phương thuốc của Thầy Lang có căn cơ rể rốn gì với Trung y Hoa Đà Tái Thế trong phim kiếm hiệp Tàu hay không ? Mà bỗng nhiên, sau khi hạ chân khỏi giường bệnh thì cả làng ai cũng chào xáo : « Con bé Hằng, bây giờ đẹp ra phết » !

Mà thật ; tài liệu trên Internet cũng nói là sau khi bị chó dại cắn thì sức khỏe của nàng là « phới phới dậy tương lai » !

Thế rồi ; « con nhỏ »Hằng bây giờ khác với cô bé Hằng năm xưa lắm, nàng đi đứng lung tung và ngắm nhìn từng người để xem tướng số thọ trường hay chết yểu !. Chao ôi ..giời ơi ; oan hơn Thị Kính cho cái ông Vũ Văn Trác chỉ vào tuổi 50 đang mạnh như Trương Phi. Thế mà, Hằng phán ngay một câu :

« Thôi ; Chú nghĩ việc đi, sắp chết rồi làm gì cho nó nhọc công » !

Cả làng trợn mắt vì con bé ! Nhưng kinh hải hơn là mấy ngày sau. Tại tư gia, ông Trác trúng gió lăn đùng ra chết, mặc dù nhà ông vách dày cửa kín chẳng có một chút gió mưa nào !

Nhưng chưa đâu nha.. .. ! Chuyện đó vẫn chưa ghê gớm bằng chuyện ông Bùi Văn Trai đương là Chủ nhiệm Hợp tác xã trong làng. Đang giữa chốn đông người, ông Trai khoe mình sẽ có hỷ sự vào tháng Giêng, cả làng vui lây theo ông. Nhưng nàng Hằng lắc đầu bĩu môi phán ngay một câu như đinh đóng cột :

« Số anh tận rồi, về nói gia đình lo hậu sự đi, tháng Giêng này anh sẽ chết » !

Đúng thế ; như cái đinh đóng mạnh vào cột, nhổ chẳng ra ! Tháng Giêng năm ấy ông Trai bỏ lỡ cuộc chơi không kịp hát bài « Ra Giêng Anh Cưới Em » ! Buồn nào hơn đêm nay vì đám cưới biến thành đám tang !

Cả làng rùng mình tợn tóc gáy mà bảo là « con nhỏ Hằng bị ma ám » ! Nhưng cũng không ít người tu ti tù tỳ rồi xù xì xâm xi là : « Con bé Hằng đang được độ ơn trên » !

Chẳng biết ai đúng ai sai nhưng nghe nói dạo đó Hằng « hốt đậm » nhờ nhiều « phi vụ » tìm hài cốt Liệt sĩ chết ở Miền Nam thời chiến tranh. Cũng từ đó, giới tâm linh dị đoan phong ngay cho nàng chức : Mệ.

Khác với các vị thầy Mo khác là có tham vọng đào tạo hậu sinh thành lập giáo phái, rồi tự mình làm Giáo chủ như thời Nga Mi-Không Động-Cái Bang ! Riêng Hằng thì nàng vẫn đam mê môn Cận Tâm Lý cùng các đồng chí đồng chèo để phục vụ cho đảng ta lúc trái gió trở trời !

Thế rồi, trời không phụ nàng khi dịp đại may lại đến. Toàn đảng toàn quân tổ chức đại lễ 1000 năm Thăng Long-Hà Nội. Mọi sự đang trôi chảy thì Mệ Hằng bấm đốt ngón tay, lẫm nhẫm một hồi rồi chép miệng :

Đại sự không may rồi, ắt sẽ có điều hung ngàn năm một thủa xuất hiện !

Tuy Đài phát thanh hay Báo chí của đảng ít nhắc đến, nhưng thiên hạ lại « leo » lên Mạng chật ních vì nguồn tin của Nhà Ngoại cảm Minh Hằng cho hay : - Ngay trong ngày Đại lễ 1000 năm Thăng Long thì Cầu Long Biên sẽ sập làm chết rất nhiều người, và rùng mình hơn là cựu Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng sẽ thổ huyết và lìa đời.. !

Chết ! Nguy hiểm quá phải làm gì đây ???

Cả Bộ chính trị đứng ngồi không yên ! Chuyện gì thì cũng giải quyết được, chỉ cần dùi cui và còng số 8 là xong chuyện. Nhưng làm sao mà vác cái cầu Long Biên đem giấu vào đâu ! Hoặc chẳng nhẽ tiêm thuốc độc cho đồng chí Đại tướng chết trước vài ngày. Nhiều diễn đàn mô tả tình hình căng thẳng như..bí..đái.. !

Nhưng rồi 3 hồn 7 vía về đây mà chứng giám. .. !

Đại lễ Thăng Long qua..đời..từ..kiếp ..mô rồi, nhưng cầu Long Biên vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt. Còn đồng chí Đại tướng Võ Nguyễn Giáp vẫn ung dung vừa nằm bú sữa bình vừa huýt gió bài : Anh không chết mô ..em !

Vì sao Ngoại cảm Mệ Hằng không « thiêng » nữa ???

Có trời mới biết ! đó là chuyện dài nhân dân dưới thời Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

8 - KHUÔN MẶT TRUYỀN HÌNH ĐƯỢC KHEN NHẤT. CHƯƠNG TRÌNH XEM KHOÁI CHÍ NHẤT.

Tuy chưa có một cuộc thăm dò chính thức. Nhưng có thể kiếm tìm và so sánh qua nhiều diễn đàn, đặc biệt sự ru ri rì rầm của thiên hạ thì có thể tạm thời kết luận rằng :

Xướng ngôn viên Bảo Châu của Kênh truyền hình SBTN được xem như là người trúng giải : Đọc tin hay..duyên dáng cùng khả ái. Chưa hết ..đâu nha.. ! Nàng Xướng ngôn viên này còn được nhiều khán giả..mê hồn..và ..chết giả ..vì nụ cười của Nàng.. !

Nhiều Nick bảo rằng.. ..Chỉ cần Châu ré..lên ..nụ ..ha..ha..ha.. thì vợ chồng đang choảng nhau..cũng phải dừng lại. Hay, « đột xuất » Nàng tiếu lên..hí..hí..hí thì Baby khó tính đến đâu cũng chụp ngay bình sữa.. !

Đẹp trai kiêm con nhà giàu nào thích « Mỹ Nhân Nhất Tiếu » này thì nhào vô.. .. ! Gọi ngay ( hình như) là : 1.888. BẮT–SBTN.. !

Chà ! Hot như nước sôi!

Trong khi đó, để cân đôi vừa cặp cho nụ cười của Xướng ngôn viên Bảo Châu, thì SBTN cũng đã « moi ra » được một nụ cười « cực kỳ khó hiểu ». Vâng ; phải nói là thế ! Nếu bảo danh hài Văn Chung cười ra..con Dê, thì nụ cười của anh chàng Hoàng Phúc Nguyên sẽ đẻ ra con gì..nhỉ.. ? Không ai mà ngồi yên được khi anh chàng ..ti..hí..này..ngân lên...hí ..hi..hi..hì.. lúc chương trình : Cười Bể Bụng do ca sĩ Tiến Dũng bắt đầu. Chương trình này xuất hiện trên SBTN không lâu nhưng thiên hạ xôn xao xì xào : Đây là chương trình xem khoái chí nhất.. !

Nếu « anh giai» nào có loại bụng bia hay nước lèo thì nên rủ nhau xem chương trình này để khỏi mất thời gian tập thể dục, vì : CƯỜI BỂ BỤNG.. … ..

9) SỰ KIỆN XÔN XAO XÌ XÀO NHẤT. PHẬT NGỌC ĐÈ PHẬT XI MĂNG..

“ Mô Phật.. ..Thiện tai..Thiện tai.. ..mà cũng..Thiện tài.. ..Thiện tài.. ..”

Đó là lời niệm tình của bao người trên diễn đàn khi bàn ra tán vô về sự kiện Phật Ngọc Hòa Bình năm nay. Tổng kết từ hàng ngàn phản hồi, phản biện và kể cả vô số các bài chủ thì có thể “ Túm Lại” như thế này:

Hơn 35 năm xa cách quê nhà, người tỵ nạn Việt cộng làm sao không nhớ hương tình cố thổ. Vì thế, hình ảnh ngôi Chùa như mái nhà chung, lúc yên vui hay khi tối dạ nóng lòng thì Phật giúp tử ngộ ra điều chân lý. Nhờ vậy, trong nhang khói và hiển linh, lòng người tha hương nhưng lúc nào cũng niệm: Mái chùa là hồn dân tộc..!

Nhưng không khí của bao Phật tử đang yên ấm như thế thì bỗng đâu có một ông tên là Gờ Rin, Gờ Réc chi ..chi đó, ở tận bên xứ con Căng cù rụ.. Trình ra một tượng Phật bằng Ngọc. Vâng; đã có nhiều xác minh là Ngọc-chính hiệu nai vàng..!

Rứa là từ đó! Thiên hạ chúng sinh ào ào kéo nhau đi chiêm bái Phật ngọc. Cũng vì thế, mấy tượng Phật bằng xi măng không có ai hương khói, tất cả nhang tàn bàn lạnh, đa số chùa nào cũng rơi vào tình trạng “ Vắng như chùa Bà Đanh”!

Trong khi đó, dòng người sắp hàng thắp hương cho Phật ngọc thì “ đắt như tôm tươi”!

Vì sao cái tật “ thấy trăng quên đèn” này vẫn chưa dứt được trong lòng chúng sanh???

Trả lời câu hỏi to như trái chuối này.. trên diễn đàn chia ra nhiều hệ phái. Nhưng có một NickName “ Xứ Huế Mộng Mơ” thì bảo rằng:

“.. Nam Mô A Di! Thiện hạ bây chừ loạn cả rồi; Phật mô là Phật chiến tranh, mà Phật mô là Phật hòa bình! Răng mà lạ rứa; tượng Phật Ngọc hay tượng Phật bằng thạch cao thì cũng rứa thôi, chỉ có Phật trong tâm ta mới là Phật”!

Nghe ra rất có lý! Chứng tỏ tu học của Thí chủ này rất thâm hậu !

10- CÓ MỘT ÔNG VIỆT CỘNG « DỄ THƯƠNG » NHẤT.. !

Có lẽ, nghĩa tự của hai chử « Dễ Thương » trong văn hóa Việt Nam sẽ rất đủ để nhận xét về cựu Thiếu tướng cộng sản Việt Nam Nguyễn Trọng Vĩnh.

Oâng cũng từng là vị đại sứ của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tại Trung Cộng kéo dài đến thập niên 90.

Với kinh nghiệm của 15 năm trong nghành ngoại giao cũng như tường tận về bản chất chính trị của người Phương Bắc. Oâng Việt cộng Nguyễn Trọng Vĩnh đã có khá nhiều bài viết gởi đến diễn đàn kể từ lúc giới trí thức Việt Nam nhận ra hiểm họa của Trung Cộng.

Có thể đưa ra một khái quát chung về ông Việt cộng này là rất khác với các đồng chí cùng đồng cảnh với ông. Điểm đặc biệt này được thể hiện rất rõ qua nhiều tiểu luận rất đều đặn của ông, mặc dầu tuổi đã 90.

Cổ nhân từng dạy người cầm bút là : « văn dĩ tải đạo », hay nhận xét người ta qua văn chương bút tích nên mới có câu : « Văn là người ». Dù ở khía cạnh nào thì người ta vẫn thấy một điểm gì đó hết sức trung thực, ái quốc thuần chính, không be bờ, bảo thủ, quyết chiến với phương bắc. Các yếu tố căn bản cần có nói trên đều đã thể hiện qua các bài Báo của ông Việt cộng này !

Ngồ ngộ hơn ! Oâng là Việt cộng « chính hiệu Nai vàng » nhưng ít khi tìm thấy trong văn tự của ông có những từ ngữ « Việt cộng-Việt que ». Mà ngược lại ; tham khảo bài vở của ông, người ta đễ dàng nhận ra chân dung một kẻ sĩ của đầu thế kỷ 20 còn sót lại, bởi chút nho gia, thuần chính ái quốc nhưng dung dị chan hòa !

Sở dĩ, Top Ten rất vui chọn ông Việt cộng Nguyễn Trọng Vĩnh làm người « Dễ Thương » nhất trong năm, cũng không ngoài mục đích thể hiện tiếng nói độc lập và hoài mong chính giới, quân đội, hay sinh viên học sinh, trí thức quốc nội Việt Nam sớm ( cần-nên-phải) có lòng ái quốc chân chính như ông trước mối hiểm nguy Trung Cộng !

Trong tinh thần đồng Việt, nhân dịp năm mới, Top Ten xin được xưng và kính chúc Cụ vui khỏe và viết khỏe cho độc giả Việt Nam. Kính.


Top Ten 2010 Trân trọng gởi lời chào Việt Nam đến toàn thể bạn đọc. Kính chúc quý vị hưởng trọn một năm 2011 trong không khí trẻ trung-yêu đời và vui nhộn !

NGUYỄN DUY THÀNH

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Nỗi niềm dùng Internet tại VN

Blog Nguoibuongio
Firewall không những áp dụng với các trang web như danchimviet.info mà cả các blog

Dạo này có việc phải về quê ở, dùng 3g của bọn Viettel. Hồi trước vẫn vào được blog, nhưng từ khi có cuộc ký kết hiệp đồng tác chiến gì đó giữa bọn Viettel và các chiến sĩ an ninh thông tin đến giờ. Mình không vào được blog nữa.

Hôm nay chủ nhật về nhà, phải vượt tường lửa mới vào được blog này.

Chị Nguyễn Phương Nga khi nào trả lời quốc tế miệng dẻo quẹo, Việt Nam có tư do intenet, bằng chứng nào là càng ngày càng có nhiêu thuê bao internet đăng ký thêm tại Việt Nam. Đúng là có thì có thật, nhưng thật thế nào thì còn phải xem. Người ta không đến nỗi đổ oan hết để chị phải méo miệng thanh minh đâu.

Việt Nam có cho tự do đăng ký thuê bao dùng internet, nhưng dùng tường lửa để chặn nhiều trang. Nói đầy đủ là như vậy. Như kiểu tao cho mày ăn bao nhiêu cũng được, miễn mày có tiền mua, nhưng tao chỉ cho bán những thứ tao muốn.

Nếu lên án việc chặn tường lửa, bưng bít thông tin. Chị Nga và đồng bọn (cùng với bọn a dua) sẽ phản ứng rằng ở đâu mà chính phủ chẳng kiểm soát thông tin, nước nào cũng vậy mà thôi. Các thông tin độc hại cần phải được ngăn chặn, chị dẫn chứng là trang này khiêu dâm, trang kia bạo lực….ngăn chặn là việc làm bình thường của cơ quan hữu trách.

Đây là kiểu mượn gió bẻ măng, hay tiện tay vơ bèo gạt luôn cả tép vào trong rổ. Nhiều trang website không hề kích động bạo lực, hay khiêu dâm cũng bị ngăn tuốt tuột. Khi bị hỏi đến chị Nga dứ cái rổ ra, nhanh tay vơ nắm bèo lên hươ cho thiên hạ thấy rồi lu loa, đấy nhé chúng tôi vơ bèo đây này, toàn bèo đấy nhé mở to mắt ra mà xem, tất nhiên bọp tép bị oan thì nằm dưới đống bèo. Người ta không tin đòi kiểm tra rổ bèo thì chị dãy nảy rằng.

- Phải tôn trọng nội bộ, phải tin tưởng lẫn nhau trên tinh thần hợp tác, đừng xâm phạm đến việc riêng tư.

Quá đà nữa thì chị la.

- À, có phải định âm mưu chia rẽ, ý đồ đen tối, muốn vu khống tôi à, liên can gì đến các người mà đòi xem công việc của chúng tôi.

Nếu bọn kia lấn thêm tí nữa là thành cãi nhau to, mà nói chung thì bọn nó không thích chuyện cãi nhau nhiều, việc thì rành rành ra đấy rồi. Chị Nga cũng thừa biết là nói thế chúng nó không tin, nhưng chị cứ phải già mồm vậy không phải để chúng nó tin, mà để đồng bọn (và bọn a dua) của chị có căn cứ để viết trên báo, tuyên truyền lại với nhân dân là chúng ta có tự do intenr, có ngôn luận, chúng ta đã đối thoại thẳng thắn cởi mở với quốc tế, bằng những chứng cứ hiển nhiên, bọn quốc tế phải im lặng không cãi được vào đâu.

Bọn quốc tế nó không cãi nhau với chị Nga nhiều, nó khoanh cái bản đồ Việt Nam mau đen kịt cùng với Triều Tiên, I ran, Miến Điện… rồi làm gì tiếp theo thì chịu. Ai mà biết bọn tư bản giãy chết này âm mưu cái gì.

Tóm lại bên này bảo có thì cứ bảo có để phục vụ lý tưởng cao đẹp,còn bên kia bảo không có thì cứ tin là không có về mà âm mưu phục vụ ý đồ đen tối.

Còn ai dùng internet tại Việt Nam cứ việc tự do ca ngợi chính phủ sáng suốt, đảng ta tài ba, đất nươc giàu đẹp. Còn ai mà bauxite, chủ quyền, tham nhũng, bất công thì chịu khó vượt tường lửa mà dùng, hoặc theo anh Điếu Cày, Anh Ba SG, anh Cù Huy Hà Vũ vào trại giam mà tự do ngôn luận với bốn bức tường xi măng.

Nguồn: Blog Nguoibuongio

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Chuyện Người Tù Chết Chiều 30 Tết

Một bí ẩn của tâm linh
Hình như suốt đêm qua tôi không ngủ, lại lơ mơ nhớ đến một lời hưá với con cuả người tù đã chết chiều 30 Tết năm 1977 tại vùng Sơn La Việt Bắc thâm u những mồ hoang mả lạc. Chuyện thật 100%, không hư cấu, cũng không phải chuyện ma, nhưng cứ như một cơ duyên bí ẩn của tâm linh, tình cờ mà đến, phải chăng vẫn có một thế giới vô hình không hiểu được.

Khoảng đầu năm nay, tôi đang lơ mơ ngồi đọc email cuả mấy người bạn, thì một lá thư cuả người bạn thân từ bên Úc gửi qua, bạn nhờ có quen ai ở Trà Vinh thì tìm giùm thân nhân cuả anh Chung Hữu Hạnh, một giáo sư biệt phái bị đi cải tạo và đẩy ra miền Bắc, anh đã chết trong một xó xỉnh nào đó cuả miền Việt Bắc, may là còn lại tấm bia mộ.

Anh gốc người Trà Vinh, vợ con sau khi mất tin chồng đã tìm đường vượt biển, chẳng biết bây giờ ở đâu. Tôi nhanh nhẩu ngồi liền vào máy viết thư cho nhà thơ Huỳnh tâm Hoài, một nhà thơ gốc Trà Vinh có những bài thơ được phổ nhạc rất hay là Lời Ru Sóng Vỗ, do nhạc sĩ Nguyễn hữu Tân phổ nhạc.

Như một bí ẩn của tâm linh, anh Huỳnh tâm Hoài vưà là bạn tù, vừa là bạn học cùng thời với anh Chung hữu Hạnh. Đọc tin anh buồn vui lẫn lộn, buồn vì nhớ bạn mình đã chết đơn độc vùi thân nơi rừng sâu núi thẳm, vui vì đã tìm được mộ thì hy vọng sẽ có ngày bạn mình được về hưởng hương khói gia đình.

Chỉ trong 5 ngày tin phóng đi, một người đã tìm ra thân nhân cuả anh Chung Hữu Hạnh, và tháng 6 năm nay chị Hạnh cùng các con đã tìm ra miền Bắc bốc mộ chồng đem về an táng tại Trà Vinh. Anh Chung hữu Hạnh là thầy cuả vợ bạn tôi, chắc thầy sống khôn thác thiêng nên tìm tới cô học trò để rồi cái đường dây loanh quanh trong cõi vô hình, cuối cùng thầy cũng tìm được về quê nhà, được sự chăm sóc khói hương cuả vợ hiền và các con.

Bạn tôi gửi cho tôi xem những tấm hình cảnh bốc mộ cuả anh Hạnh, nhìn nắm xương phù du còn lại được bươi lên từ đất cát khô cằn của miền Bắc, tôi cảm thấy ngậm ngùi, tất cả đều là vô thường, một ngày nào đó ai cũng phải tan thành tro bụi. Sẵn trớn tôi viết thư kể cho bạn tôi nghe về người tù chết chiều 30 tết, tôi cũng chả biết anh ta là ai, chỉ nghe chồng tôi kể lại ngay cái tên cũng không nhớ. Câu chuyện từ mùa đông năm 1977 tại trại tù vùng Sơn La, nằm trên con đường đến Nghĩa Lộ.

Chiều cuối năm rét mướt, trong cảnh u ám thê lương cuả trại tù miền Bắc, cùng nỗi đói khát cuả những người tù gầy guộc và bịnh tật. Cả lán đang xôn xao ngoài sân chờ được phân phát thức ăn cuả ngày tết, quanh năm đói khát vất vả vẫn hy vọng có chút thức ăn ngon, khẩu phần là hai cái bánh chưng to hơn bàn tay, và mấy miếng thịt bé bằng ngón tay cái. Trong lán giữa nhà là đống củi lửa cháy bập bùng, sưởi chút ấm áp cho người tù vì trời vô cùng giá rét mà chăn chiếu lại thiếu. Mọi người ai cũng buồn vì nhớ gia đình, cám cảnh “gặm một mối hờn căm trong cũi sắt”. Ở cuối phòng có một chỗ nằm đã giăng mùng xùm xụp, một người bạn không thấy anh bạn tù ra lãnh món bánh chưng mà mấy ngày hôm trước anh ta thường than thở rằng chỉ thèm một miếng bánh chưng, nên đã tốc mùng xem thì thấy anh bạn tù nằm chết tự bao giờ.

Cả lán lại chìm trong nỗi buồn, giữa đêm tận cùng cuả năm mà hình ảnh người bạn tù chung nằm chết trong lán, như một ám ảnh khiến ai cũng nghĩ đến phận mình, một ngày nào sẽ bỏ xác nơi đây, gia đình thân nhân không ai hay biết. Báo cho quản giáo xong, họ xem xét thấy anh đã ngưng thở, nhưng vẫn hỏi ai có thể làm hô hấp nhân tạo cho anh ấy được không?

Mọi người lặng im, lúc ấy không hiểu sao thì chồng tôi lại xung phong làm việc ấy đối với một xác chết, nuôi một chút hy vọng nếu anh ấy thở lại được thì sao? Nhưng hoàn toàn vô vọng, bốn người tương đối trẻ và khoẻ được chọn để khiêng xác anh bỏ ra cái lò rèn, nằm đó chờ đến ngày mùng hai mới đem chôn, vì kiêng ngày mùng một tết(síc). Một vị thượng toạ thấy vậy đã lẻn đam phần ăn ngày tết cuả anh ra nơi quàn xác để âm thầm gọi là tiễn đưa linh hồn người bạn tù được “no nê” ở thế giới bên kia. Thảm thật!

Ngày liệm xác anh vào cái hòm gỗ thô sơ, xác anh được cuốn vào một cái bao cát, thay cho anh một bộ đồ tù mới, chồng tôi thấy tội nghiệp đã lấy chiếc áo thung xanh cuả người chết để anh gối đầu lên cho đỡ thảm, người ta còn cố tuột cho được cái nhẫn cưới trong bàn tay gầy guộc cuả người tù ốm đói. Sau này nghe con anh kể, chiếc nhẫn ấy đã được gửi về trả lại cho gia đình, nhưng mộ phần thì không biết thất lạc nơi đâu vì trại tù đã bị dời đi, trả lại cái nền hoang cho dân chúng địa phương canh tác ruộng bắp. Anh là người tù đầu tiên chết ở miền Bắc muà xuân năm 1977.

Ngày mùng hai, lại bốn người tù được chọn lầm lũi đẩy chiếc xe “ cải tiến” có quan tài cuả người tử sĩ đem đi chôn. Không có một nghĩa địa nên buộc lòng phải vùi anh một nơi nào đó dọc theo sườn núi. Tất cả suy nghĩ rồi quyết định chôn anh trong một lòng huyệt nông vì đá tai mèo cứng quá không đào nổi, bên một dòng suối, thoai thoải là sườn núi chênh vênh với cây rừng, anh nằm đó để linh hồn được thanh thản nghe tiếng suối reo, nghe cây rừng than van với bốn bề hiu quạnh. Trước khi về, họ còn ráng khiêng những tảng đá lớn chất lên mộ để đánh dấu, hy vọng một ngày nào đó thân nhân sẽ tìm được mộ của người thân ….

Đường Tìm Về Với Thân Nhân:

Tôi gõ “meo” kể câu chuyện này cho bạn tôi nghe, rồi đi ngủ, lòng không mảy may vướng bận. Sáng hôm sau, khi xong việc nhà tôi vừa mở email thì đã thấy thư cuả bạn, với chữ Khẩn trong Subject. Tôi đọc thư, vắn tắt bạn viết:

“Đây là chuyện thật, không phải hư cấu để nhà văn viết truyện. Làm ơn hỏi ông xã giùm hồi xưa anh bạn tù chết chiều 30 tên gì, vì con anh đi tìm mộ cha ba năm rồi mà không ai biết, chỉ mơ hồ nên không biết chính xác mộ nằm ở đâu.
Please! Hồi âm cho biết vì rất mong, con anh sắp trở về VN tìm lần nữa vào tháng 7 này.”

Tôi giật mình, lại một chuyện lạ, chẳng lẽ hồn anh Chung hữu Hạnh lại dẫn bạn tù về tìm đúng người để về với gia đình sao? Ớn lạnh, tôi là tác gỉa cuả một loạt truyện Cõi Mù Sương viết về thế giới bên kia, nhưng thật ra tôi toàn mượn chuyện người sống để nói về người chết, hư cấu 100%. Chờ chồng tôi đi làm về, tôi kể chuyện, sau đó liên lạc với con anh người tử sĩ, anh tên là trung úy Huỳnh tự Trọng, sinh quán ở Đà Nẵng hay Quảng Nam gì đó.

Người con cuả anh liền xin số phone để liên lạc, cháu yêu cầu chồng tôi cố nhớ lại vị trí cuả trại tù ngày xưa, và nhất là vị trí cuả nơi chôn cất anh Huỳnh tự Trọng. Hơn 30 năm vật đổi sao dời, dâu hoá biển, biển hoá dâu là chuyện thường, bây giờ chẳng biết cảnh cũ thay đổi ra sao, nhưng may ra còn dãy núi, còn con suối làm chứng cho cái trại tù heo hút ngày xưa. Đấu óc một người đã từng sống trong cảnh tù đầy thiếu ăn thiếu mặc, thêm nhiều năm vất vả với cuộc đời để tìm nguồn sống cho cả gia đình, chắc chắn là không nhớ hết được, thế nhưng như một sức mạnh thiêng liêng, từ linh hồn người tử sĩ, chồng tôi đã vẽ được sơ đồ cho con anh bạn tù bạc mệnh đi tìm lại mộ cha.

So sánh với sơ đồ anh vẽ, và những hình ảnh các cháu đã chụp lại trong chuyến đi kỳ trước, khó mà tìm ra mộ vì tất cả chỉ còn một màu xanh của ruộng bắp, không thấy suối, hòn đá cao chắn ngang lối mòn năm xưa cũng không còn, lấy gì để xác định được ngôi mộ nằm ở chỗ nào.

Hành Trình Đi Tìm Mộ Cha:

Thư qua tin lại với con cuả tử sĩ Huỳnh tự Trọng, nhiều câu hỏi được đặt ra qua những thông tin của cháu, sự tha thiết tìm lại ngôi mộ của người cha bất hạnh vẫn nung nấu trong lòng những đưá con. Có lúc cả hai bên tưởng như tuyệt vọng, dù cháu cố nài nỉ “Chú ơi! Làm ơn nhớ giùm con, lúc ấy chú đi từ trại ra nơi chôn ba cháu ra sao? Chú chấm thử một địa điểm lần chót nữa đi, cháu hy vọng ba cháu sẽ chỉ cho chú…”Cảm động đến rơi nước mắt, chỉ còn hai hôm thôi hai đưá con anh lại lên đường đi tìm mộ cha, lần này nếu không được là thôi, hết hy vọng.

Tối hôm đó ngồi thần thừ trước tấm sơ đồ trại tù miền núi năm xưa, chồng tôi thầm cầu nguyện rồi khoanh tròn màu đỏ lên tấm ảnh mà cháu gửi qua. Anh nghĩ nó nằm ở chỗ này, làm một phép tính nhỏ( anh học ban B, vốn giỏi toán từ hồi đi học), lấy khoảng đứng từ ngoài đường vào trại tù cũ, gần một ngã ba cuả con đường tẽ vào Nghĩa Lộ, rặng núi đánh dấu cho địa điểm chính xác, ngôi mộ sẽ nằm ở khoảng này, khoanh một vòng tròn màu đỏ, anh đi ngủ để mai đi làm mà lòng nặng trĩu…

Theo chuyện kể cuả các cháu, chuyện người tử sĩ Huỳnh tự Trọng ly kỳ như một cuộn phim tâm linh khó giải thích, dọc đường đi anh đã phù hộ cho con anh ra sao, và khi đến nơi, lần trước các cháu đã biết có một ngôi miếu do một người bộ đội đã phục viên kể lại. Chính anh ta vì được một linh hồn khuất bóng lảng vảng nơi này cứu giúp trong cơn hoạn nạn, nên đã tự lập một ngôi miếu để thờ, mà chẳng biết là ai. Anh ta về quê làm rẫy, thường hay thấy một bóng người đi ra đi vào ruộng bắp, nhưng chỗ ấy không có nhà cửa thì lấy làm lạ, có khi cái bóng ấy còn đi vào nhà anh, nên anh tin là có một điều gì lạ lùng trong thế giới vô hình mà không diễn tả được. Trước khi đến đây làm nhà, anh ta nghe dân địa phương nói chỗ sườn núi này có một ngôi mộ nhưng bây giờ không biết nằm đâu rồi. Khi gia đình gặp chuyện không may, anh van vái người khuất mày khuất mặt phù hộ gia đình anh thoát nạn, anh sẽ cất miếu thờ, chính vì vậy mà có miếu thờ tử sĩ Huỳnh Tự Trọng( nhưng vẫn không có tên).

Trước khi các cháu lên đường tìm mộ cha, chồng tôi chỉ bảo một lần chót: “Chú không tin lắm ở trí nhớ cuả mình, nhưng khuyên cháu là khi về nên đến cái miếu thờ ấy van vái ba cháu cho tìm được mộ. Nếu linh hồn ông thiêng thật, nhất định các cháu sẽ tìm ra mộ cha.”

Một tin tưởng để vớt vát niềm hy vọng cho con cuả người bạn tù năm xưa, chúng tôi không tin rằng các cháu có thể tìm được mộ cha dưới gần 3 thước đất, vì sau khi gặp được người địa phương nổ mìn phá núi để lấy đá, ông ta nói ngày xưa nơi đây có cái suối nước nhưng bị lấp mất rồi, còn hòn đá to chặn ngang đường đi đã bị phá huỷ để lấy đá làm đường thì có lẽ trong lúc ấy, đã đẩy ngôi mộ sâu xuống đất nên không còn dấu vết.

Nghe xong những chi tiết này, con anh Huỳnh tự Trọng liền suy nghĩ và tính toán xem mộ cha sẽ nằm ở khoảng nào, đúng với cái vòng tròn màu đỏ và quyết định không bỏ cuộc. Cộng thêm giấc mơ anh Huỳnh tự Trọng báo mộng, xác anh nằm gần một mô đất cao, cháu nhìn thì thấy có một mô đất cao hơn đường đi nên nhất định đào sâu thêm nữa theo hình tam giác cuả sợi dây giăng làm chuẩn. Mấy người đào mộ thấy đào sâu quá bèn hỏi bộ định đào ao nuôi cá sao?

Vậy mà khi nhát xẻng chạm vào một khoảnh đất cứng hơn, mọi người mới bàng hoàng nhận ra những mảnh gỗ mục và hiện ra hình dạng một bộ xương người nằm trong cái bao cát tẩm liệm 33 năm dài trong lòng đất, loại bao này bằng ni lông cuả quân đội VNCH, được cắt ra chia cho tù dài khoảng 2 mét để làm tấm trải ngủ. Khi mở ra, cái đầu lâu khô cuả tử sĩ Huỳnh Tự Trọng còn gối lên chiếc áo thung xanh năm xưa, chỉ bị huỷ hoại khoảng 20%...
Một buổi chiều tháng bảy ở quê người, trong khi tôi đang nói chuyện qua phone với Đỗ Dung, cô bạn văn có ngòi bút trung thực và tính tình điềm đạm nhất cuả tôi thì chồng tôi báo tin, các con anh Trọng đã tìm được xác cha. Tôi cảm thấy lạnh cả sống lưng, và kể chuyện cho bạn tôi nghe. Chao ơi! người chết tìm về, tin hương linh người tử sĩ không quen tìm về với gia đình anh đã làm tôi xúc động, tôi cũng cảm được sự xúc động cuả bạn tôi qua giọng nói từ xa vọng tới…

Đây là câu chuyện về người tù chết chiều 30 tết trong một ngày cuối đông rét mướt đã 33 năm về trước, anh đã tìm về được với gia đình, trở về với mảnh đất quê nhà và hưởng hương khói gia đình. Hôm nay còn lại một vài ngày nữa để bước sang một năm mới, tôi nhớ đến lời hưá với con cuả người tử sĩ, nên viết một mạch cho tâm hồn thanh thản.

Xin mời những nhà thơ nhà văn có tâm hồn nhạy cảm, dễ rung động như cung đàn muôn điệu cùng với gió với mây, hãy cảm tác mấy vần thơ cho ấm lòng người tử sĩ nha.
Phần tôi, quá mệt cho một đêm không ngủ để nhớ lại từng chi tiết vì câu chuyện không thể nào hư cấu được.

Viết xong buổi sáng cuối năm 2010.
Nguyên Nhung

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Image


Một cách trả thù.
Có hai người thổ dân rất thù ghét nhau.Một ngày, kia một trong hai người gặp cô con gái nhỏ của kẻ thù mình trong rừng .

Hắn đã bắt lấy cô con gái và chặt đứt hai ngón tay của cô bé.

Cô bé vừa chạy về vừa khóc lóc đau đớn,còn tên hung thủ thì vừa đi vừa đắc chí hô lớn: ta đã trả thù được rồi

Mười mấy năm sau,cô bé đáng thương ấy đã có gia đình.

Một hôm có một người ăn xin đến gõ cửa nhà cô.Cô nhận ra người hành khất chính là kẻ đã chặt tay cô cách đây mười mấy năm.

Không một chút oán hờn ,không một lời trả đũa, cô vội vàng vào nhà và mang thức ăn ra hầu hạ cho kẻ đã từng hành hạ mình.

Khi người hành khất đã ăn no rồi, người đàn bà liền đưa bàn tay cụt mất hai ngón cho ông ta xem và nói :Tôi cũng đã trả được thù rồi'
Cách trả thù thứ hai "Lấy ân trả oán".Không có cách trả thù nào cao quý hơn bằng yêu thương và tha thứ cho chính kẻ thù.

Ta không mắc nợ ai điều gì ngoài tình thương mến.

Chỉ có tình thương ,chỉ có lòng tha thứ mới có thể tiêu diệt được hận thù.

Lấy hận thù để tiêu diệt hận thù,lấy bạo động để tiêu diệt bạo động ,con người chỉ đổ thêm dầu vào hận thù và bạo động mà thôi.

Chỉ có cuộc cách mạng tình thương mới có thể tiêu diệt được hận thù.

Thay vì tiêu diệt kẻ thù, chúng ta hãy tiêu diệt chính sự hận thù trong tâm hồn chúng ta.

Bạn thử đặt tâm trạng , mình đang làm chuyện gì đó có lỗi với ai , người bị bạn làm tổn thương không những không ghét bạn nhưng vẫn đối xử tốt với bạn , tâm trạng bạn sẽ ra sao ?

Bạn sẽ cảm thấy cắn rứt lương tâm vì mình thì đối xử tệ với người ta , người ta đúng ra phải thù ghét mình nhưng lại có thái độ rất tốt đối với mình .

Vậy bạn hãy dùng tình yêu thương đó mà đối xử với người mà bạn đang thù ghét và có ý định trả thù , như vậy người hổ thẹn là người kia không phải là bạn .

Ngoài ra , bạn cũng đã làm được một việc rất cao thượng .

Có một thứ tình yêu còn quý giá hơn tình yêu nam nữ , tình bạn , tình thân ...

Đó chính là yêu thương và tha thứ chính kẻ thù của mình .

Tha thứ cho kẻ thù đã khó , mà Chúa còn dạy chúng ta phải yêu thưong kẻ thù .

Vậy bạn hãy từ bỏ ý định trả thù để cảm thấy tự hào về bản thân , vì mình đã làm được một việc mà khó có ai làm được , không chỉ vậy , bạn còn cảm thấy luôn bình an và vui tươi trong tâm hồn vì không còn phải nghĩ cách gì để trả thù .

Thêm một người bạn còn hơn thêm kẻ thù'

Post Reply