Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image

Nhớ tiếng rao hàng Sài Gòn
Tất cả những ai từng sống ở Sài Gòn đều biết một di sản truyền đời của đời sống kinh doanh-mua bán ở đô thị này là tiếng rao hàng. Tiếng rao từ gánh hàng rong cho đến các xe bán tạp hóa, các xe quảng cáo tuồng cải lương vang khắp đường phố bến sông, từ sáng tinh mơ cho đến tận đêm khuya luôn hòa huyện với hơi thở đời sống người Sài Gòn.

Một cựu người thợ hồ kể. “Tôi ở chung cư, tối tối ưng làm xị rượu để ngủ. Biết ý tôi, bà cụ bán hột vịt lộn hễ đến là cất tiếng rao: Ai hột vịt lộn úp mề không! Nghe tiếng rao của cụ mấy chục năm tôi đâm ghiền. Hôm nào mưa gió quá, thấy vắng tiếng rao của bà cụ là nhớ, rồi lo không biết cụ có ốm đau gì không. Nói thiệt, nhớ tiếng rao như nhớ tiếng ru của má tôi ngày xưa vậy.”

Khi nghe người người lính già này nhắc về bà cụ bán hột vịt lộn chúng tôi cũng nhớ bà cụ ấy. Giọng bà rao như hát và một điều kỳ lạ là ai nghe cụ rao cũng không đoán được tuổi của cụ. Cụ gốc người Bắc di cư, trước thì gánh hàng, sau vì vai đau, chân yếu cụ sắm chiếc xe gỗ ba bánh đẩy hàng đi rao bán khắp các hẻm ở quận Tân Bình, quận 11... Ðến khi vắng bóng, vắng tiếng rao của cụ người ta mới ngỡ ngàng là cụ đã mất. Bây giờ, dù món hột vịt lộn vẫn bán đầy phố nhưng không ai rao hàng nữa. Với nhiều người, cùng với chuyện khuất bóng của cụ là cả một nền văn hóa-nghệ thuật rao hàng của Sài Gòn cũng chết theo.

Một vị Việt kiều già hỏi: “Chú có nhớ thì nhắc giùm, tôi chỉ nhớ cái âm lớ lớ của ông già bán chè mè đen.” Chúng tôi đi hỏi và được mấy ông người Hoa ở khu chợ Thiếc nhắc tiếng rao đó là: Chí mè phủ. Nhưng tiếng rao này từ giọng gốc của những người Quảng Ðông nghe như giọng ngâm thơ Ðường, hay vô kể!

Nhưng có lẽ giọng rao của ông già bán cháo huyết ở xóm chúng tôi là lạ lùng hơn cả, vì ông là người Hoa nhưng khi rao bán cháo huyết bằng tiếng Việt, ông không rao nguyên câu mà chỉ rao mỗi một âm: Huyết! Tiếng huyết kéo dài và cao vút nghe bí hiểm như tiếng hú. Ai ở Sài Gòn vào khoảng đầu giờ đêm đến khuya cũng nhớ tiếng rao bánh giò, bánh chưng. Tiếng rao của những người bán hàng này thường được tiếng cọc cạch của sên, líp chiếc xe đạp cà tàng “đệm nhạc.” Thường thì câu đầu của “ca từ” là nguyên văn: Ai bánh giò, bánh chưng! Nhưng đến câu sau chỉ còn là: Giò, gai, chưng đây. Người nghe cảm nhận được nhịp rã rời của đôi chân và một cuộc đời vất vả kiếm sống.

Một chị bạn kể. “Tôi hồi nhỏ mê giọng rao của chị bán chè: Ai ăn chè bột khoai, nước dừa đường cát hôn! Nghe trong mà ngọt còn hơn nghe Ngọc Giàu hát vọng cổ. Có lần mua chè, tôi hỏi. Chị có giọng trời cho vậy sao không làm nghệ sĩ. Chị mà đi hát người ta mê rần rần. Chị cười buồn hiu với tôi rồi nói một câu mà tôi nhớ đến giờ: Có chắc chị đi hát đỡ khổ hơn hôn em!”

Ngày nay ở Sài Gòn gần như tiếng rao hàng đã mất. Thủ phạm có thể là sự ô nhiễm tiếng ồn khủng khiếp, nhưng tiếng ồn cũng chỉ là thủ phạm hình thức, thủ phạm thật sự là sự suy thoái toàn diện của văn hóa trước những cơn bão tư bản hoang dã cùng thói cưỡng đoạt của tập đoàn độc quyền đã biến mọi người thành nạn nhân: Một thầy giáo về hưu nói “Mấy ông có để ý không, người bán báo dạo ngày nay không rao, không mời nữa. Có người cứ thế mà đưa thẳng cả xấp báo vào mặt khách. Bán vé số cũng vậy, ngày trước người ta bán vé số rao mời rất hay: Vé số chiều xổ đây. Trách mấy người khổ mua bán rong là điều không phải, chỉ thấy buồn thôi.”

Thật ra ngày nay giới bán dạo Sài Gòn cũng có cách rao hàng. Ðiển hình như những xe bán: Keo dính chuột, họ rao hàng bằng loa điện hẳn hoi.

Có điều ngôn ngữ và âm điệu rao chẳng thể nào quen tai được chớ nói gì đến chuyện nghệ thuật rao hàng như ngày xưa. Một số mặt hàng khác cũng chuyển qua rao hàng bằng loa điện như mua bán đồ cũ, đồ xưa, còn bán cà rem, kẹo kéo, băng dĩa nhạc thì tha hồ mở nhạc hiệu, đến ngay cả mấy tay mài dao, mài kéo cũng phát loa như cỡ mấy cái loa sắt gắn trên cột điện của hệ thống thông tin tuyên truyền chế độ. Ðến cả mấy cái Parkson, siêu thị to đùng hễ bán ế, hoặc muốn câu khách là mời mấy nhóm nhạc múa disco, nhóm lân sư rồng về múa hát loạn xạ, vừa không giống ai lại vừa góp phần tạo thêm hỗn loạn âm thanh. Và dàn hòa âm hết công xuất phát hằng ngày này khiến ai cũng đinh tai nhức óc...

Nếu ở Sài Gòn ngày nay mà bạn không bị chứng điếc do môi trường hoặc điếc do bị nhồi nhét cả một đống rác âm thanh thì bạn là người thật may mắn. Và càng là nạn nhân, người Sài Gòn lại càng nhớ đến những tiếng rao hàng một thời làm nên diện mạo và bản sắc nghệ thuật bán hàng văn minh lịch sự. Cùng với cái chết của những tiếng rao hàng chân phương trong sáng như một câu hát ru, người Sài Gòn cũng mất dần những căn tánh - ứng xử thị dân nhân văn.

Ký sự Trần Tiến Dũng/ Người Việt

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Mốt chụp ảnh cưới khỏa thân ở Trung Quốc

Hiệp hội các nhiếp ảnh gia ở Trung Quốc muốn cấm việc chụp ảnh khoe da thịt của các cặp tân lang, tân nương, một trào lưu mới trong giới trẻ ở đây.

Image
Một bức ảnh quảng cáo cho hình thức chụp ảnh cưới khỏa thân ở Trung Quốc. Ảnh: qq.com.

Hiệp hội kinh doanh cưới hỏi ở Thượng Hải cho biết những bức ảnh đó trái với truyền thống kết hôn ở Trung Quốc. Họ cảnh báo sẽ gây áp lực lên chính phủ và yêu cầu cấm cửa các hiệu ảnh thực hiện những bức ảnh hở hang của cô dâu chú rể, AFP dẫn tin trên tờ Shanghai Daily hôm nay cho biết.

"Chúng tôi không ủng hộ hình thức chụp ảnh này vì nó không hợp với truyền thống của Trung Quốc", phó chủ tịch hiệp hội He Lina cho hay. "Đám cưới là buổi lễ linh thiêng, vì thế chúng tôi mong giới trẻ tôn trọng nó".

Ảnh cưới của các cặp tình nhân Trung Quốc thường được chụp vài tháng trước lễ kết hôn. Họ thường tạo dáng trong trang phục phương Tây hoặc truyền thống.

Giờ đây, nhiều phòng chụp bắt đầu đưa ra dịch vụ ảnh chân dung khỏa thân. Các cô dâu, chú rể hoặc là không mặc gì, hoặc phần kín của họ được che bằng giấy và các thứ khác một cách khéo léo.

Luật sư Liu Chunquan cho hay việc chụp ảnh như trên không vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, bất cứ ai phát tán những bức ảnh đó đều có thể đối mặt với cáo buộc về khiêu dâm.

Tuy thế, những mẫu ảnh cưới khỏa thân vẫn được đăng trên Internet, kéo theo một loạt cuộc tranh luận. Những fan của hình thức này cho rằng ảnh sẽ ghi lại được tình yêu sâu đậm của cặp tình nhân.

Mai Trang

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Mối tình bất hủ của Victor Hugo

- “Hơn cả chúa trời, hơn cả con gái cưng – là tình yêu của em...” - đó là câu trích từ một bức thư mà Victor Hugo viết cho người tình của ông vào năm 1844…

Khi ấy, chủ nhân của «Nhà thờ Đức Bà Paris» đã lừng danh cả trên chính trường lẫn văn chương, nhưng về đời tư ông lại chẳng thành công như vậy - giữa ông và người vợ Adele Hugo lúc đó chỉ còn chung nhau hai thứ: cái họ Hugo và năm đứa con. Vậy những lời da diết kia ông viết cho ai? Không phải cho vợ, không phải cho con gái cưng, mà là cho Juliette Drouet - người đàn bà đã trở thành nàng thơ và tri kỷ của ông suốt nửa thế kỷ. Với ông, tình yêu đối với Juliette “ý nghĩa hơn mọi thứ trên đời, hơn cả chúa trời, hơn cả con gái cưng”.

Quý bà có nụ cười trẻ thơ
Họ quen nhau vào năm 1833, khi một vở kịch của Hugo được dàn dựng tại một nhà hát và Juliette có sắm một vai nhỏ trong đó. Juliette lúc đó đã 26 tuổi và nàng quá quen với sự săn đón của những đấng mày râu bị hớp hồn bởi vẻ yêu kiều cũng như cá tính độc lập, sự năng động ở nàng.
Với tuyên ngôn «Đàn bà chỉ có một người tình duy nhất – đó là thiên thần, có hai người tình song song – đó là quái vật, có hơn ba người tình – đó mới là đàn bà thật sự», Juliette đã trở thành gái gọi hạng sang điển hình của Paris hoa lệ chuyên sống dưới sự bảo trợ của những quý ông. Trong đám đông quý ông ấy có cả nhà điêu khắc nổi tiếng Pradier mà kết quả của cuộc tình này là một bé gái chào đời khi Juliette mới 19 tuổi

Cuộc sống của Juliette trôi đi trong ánh đèn mờ của nhà hàng, rạp hát và những buổi dạ vũ. Nàng sành ăn diện, giỏi xài tiền nhưng cũng rất biết thực thi “nghĩa vụ” đối với “đại gia”. Nàng không chỉ đẹp mà còn có khiếu khôi hài, sự lịch lãm, bất chấp nguồn gốc “thứ dân” của mình. Mà nàng cũng chẳng thèm che giấu hay hổ thẹn về điều này. Ngược lại còn biết nhắc đến nó một cách ý nhị trong câu chuyện với các quý ông. Có lẽ vì thế mà nàng chẳng bao giờ gặp khó khăn về tài chính, trái lại luôn có người sẵn lòng dốc hầu bao vì nàng.

Tuổi tác và phong thái khiến cho Juliette lịch duyệt như một quý bà. Nhưng chỉ cần mỉm cười là nàng lập tức biến thành một cô bé cực kỳ thơ ngây. Chẳng thế mà dưới những bức thư gửi cho cô tình nhân bé bỏng (16 tuổi) của mình, Pradier đã ký một lúc ba xưng danh: «Bạn trai, người tình và người cha của bé». Nhà điêu khắc tài danh này đề cao trí tuệ nàng như một người bạn, say mê thể xác nàng như một người tình và bảo bọc yêu thương nàng như một cô con gái vậy.

Người ta bảo nụ cười của Juliette không phải là nụ cười mời mọc của gái gọi mà là nụ cười của hồi ức - hồi ức buồn về một tuổi thơ khốn khó sớm mồ côi cha mẹ phải sống nhờ vào lòng tốt của một người bác và sau đó lớn lên trong khu nhà trọ Công giáo. So với tầng lớp của mình, có thể nói Juliette được giáo dục khá tốt. Thời ấy phụ nữ được học hành là chuyện hiếm, vậy mà Juliette đã biết chữ từ khi mới lên năm. Nàng đã đọc rất nhiều nên sớm cảm thụ được vẻ đẹp của văn chương cũng như sở hữu một “túi khôn” kha khá. Nàng tin rằng đàn bà có thể quyến rũ “nửa bên kia” không chỉ bằng thân xác mà bằng cả trí tuệ. Ở đầu thế kỷ 19 thì ý tưởng này có thể nói là táo bạo, nhất là đối với giới hạ lưu của nàng.
Rời bỏ khu nhà trọ, Juliette quyết định trở thành một diễn viên – cái nghề đang gắn liền với những nhan sắc được bảo bọc bởi các đại gia. Lối sống này là rất ổn khi người ta còn trẻ đẹp, nhưng Juliette đủ thông minh để hiểu rằng nàng không thể cứ như thế suốt đời. Có phải vậy mà nụ cười trẻ thơ của nàng phảng phất ưu tư?

Một cuộc tình hồi sinh hai số phận

Và năm 1833 Hugo vĩ đại đã trở thành nô lệ của nụ cười đó. Juliette xuất hiện trong cuộc đời Hugo đúng vào lúc ông khổ tâm nhất – ông vừa phát hiện ra vợ mình ngoại tình với người bạn thân của ông – nhà thơ Sainte-Beuve. Sự “đồng phản trắc” của vợ và bạn đã khiến Hugo vô cùng đau đớn. Và ông vùi đầu vào văn chương như một thứ cứu rỗi duy nhất.
Chính vào thời điểm này ông được mời đến một nhà hát dựng vở. Và tại đó, nụ cười mê hoặc của nữ diễn viên Juliette đã khiến nhà thơ như hồi sinh. Nhiều năm sau ông viết: «Anh có hai ngày sinh, cả hai đều vào tháng hai. Lần đầu tiên, khi chào đời vào ngày 28/2/1802 anh nằm trong tay mẹ, còn lần thứ hai - vào ngày 16/2/1833 - anh tái sinh trong vòng tay em, bằng tình yêu của em. Lần sinh nhật đầu tiên ban cho anh cuộc sống, còn lần thứ hai – tặng anh niềm đam mê».

Và niềm đam mê ấy không chỉ là đam mê tình yêu mà cả đam mê trong sáng tạo, đam mê với cuộc đời. Không chỉ tâm hồn mà cả văn chương của Hugo như cũng được tái sinh: từ những sáng tác mang đậm chất sử, ông chuyển sang những trang viết đầy ắp hơi thở cuộc sống hiện thực.
Còn Juliette, từ một diễn viên hạng trung, cô trở thành người tình tuyệt vời và bạn tâm giao thông thái của một đại văn hào. Chẳng màng đến cưới xin hay danh phận, nàng mang sự an ủi, nguồn cảm hứng lớn lao đến cho Hugo. Nhân chứng cho mối tình bất diệt này là hơn 15.000 lá thư khi thì nồng nàn, da diết, lúc lại đầy chất trí tuệ mà họ gửi cho nhau suốt 50 năm ròng.

Có thể nói cuộc tình này là một sự “đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu” giúp cả hai như cùng được tái sinh. Bên cạnh nàng, ông đã tìm thấy sự tĩnh tâm. Còn nàng, đã vì ông mà từ bỏ hào quang sân khấu, từ bỏ cuộc sống xa sỉ bên đám đông hâm mộ để trở thành cái bóng của một thiên tài. Cuộc sống nàng từ đó gắn liền với số phận của Hugo, với niềm vui của những cuộc gặp gỡ ngắn ngủi và nỗi buồn của sự chia xa.
Mùa hè năm 1834, để giữ «nếp nhà», Hugo vẫn cùng vợ con đi nghỉ mát ở tỉnh ngoài. Nhưng Juliette cũng chẳng hề rời xa ông, nàng thu xếp để ở cách chỗ ông chỉ vài cây số. Đôi tình nhân tiếp tục hẹn hò và cây dẻ già đã biến thành hòm thư của họ. Dường như chính những cuộc gặp gỡ ngắn ngủi càng khiến những lá thư họ gửi cho nhau thêm da diết.
«Phải, anh đang viết cho em đây! Mà anh làm sao có thể không viết cho em kia chứ... Điều gì sẽ xảy ra với anh đêm nay nếu chiều nay anh không ngồi viết cho em?... Juliette của anh, anh yêu em. Một mình em có thể quyết định sự sống của anh hay cái chết cho anh. Hãy yêu anh, hãy gạt bỏ khỏi trái tim em tất cả những gì không liên quan đến tình yêu của chúng mình, để trái tim em cũng ngập tràn tình yêu như trái tim anh… Anh chưa bao giờ không yêu em ngày hôm nay nhiều hơn ngày hôm qua, và đó là sự thật... Thứ lỗi cho anh. Anh thật là đê hèn, anh là kẻ điên rồ đến quái gở, kẻ mất trí vì ghen và vì yêu. Anh không biết anh đã làm những gì nhưng anh biết rằng anh yêu em...»

«Em yêu anh, em yêu anh, Victor của em; em không thể không lặp lại và lặp lại mãi câu này. Thật khó mà diễn tả những điều mà em đang cảm nhận lúc này. Em nhìn thấy anh trong tất cả những gì tuyệt diệu bao quanh em... Nhưng anh còn tuyệt diệu hơn cả những điều tuyệt diệu ấy... Anh không giản đơn là tán xạ của mặt trời với bảy sắc cầu vồng lấp lánh, anh chính là vầng dương chiếu sáng, sưởi ấm và làm hồi sinh sự sống. Đó tất cả là anh, còn em – em là người đàn bà bị quy phục, người yêu anh đắm say Juliette».

Tuy quan hệ vợ chồng Hugo chỉ còn trên danh nghĩa và mỗi người đều đã có «khoảng trời riêng», nhưng Adele không vì thế mà không tỏ ra khó chịu. Còn Juliette, tuy phải sắm “vai thứ” nhưng nàng rất mãn nguyện. Nàng bỏ bê sân khấu để làm thư ký không công cho người yêu, để trở thành độc giả đầu tiên của tất cả những kiệt tác ký tên Hugo. Mùa hè đến, nàng lại cùng ông lang thang khắp châu Âu: từ Pháp sang Thuỵ Sĩ, Bỉ, Hà Lan, Đức, Tây Ban Nha... Những chuyến du hành ấy đã mở rộng tầm nhìn cho cả hai, đã giúp Hugo có thêm nhiều cảm hứng sáng tác.
Thư từ Hugo gửi cho bạn bè vào thời kỳ này đã cho thấy quan điểm sâu sắc và đầy tính minh triết của ông. Nhiều tập thơ tuyệt vời của ông cũng xuất hiện giai đoạn này, trong đó có nhiều bài thể hiện niềm si mê với nàng thơ Juliette. Vậy là lần đầu tiên, đại văn hào vốn say sưa với đề tài lớn lao của lịch sử và chiến tranh, đã dành thật nhiều lời ngợi ca cho tình yêu, cho vẻ đẹp của thiên nhiên và những niềm vui bé món đời thường.
Bên nhau nơi cùng trời cuối đất

Năm 1841 Hugo được bầu vào Viện Hàn Lâm Pháp và trở thành người trẻ tuổi nhất trong cương vị này. Năm 1845, ông được tặng danh hiệu Cây Bút Nước Pháp. Các năm 1848-1849, ông là dân biểu của Paris. Có thể nói đây là thời kỳ hoàng kim trong sự nghiệp chính trị cũng như sáng tác của Hugo. Tuy nhiên vì Hugo đã từ chối ủng hộ Louis Bonapart (cháu trai của Naponeon đại đế) và còn viết một bài văn trào phúng có tựa «Napoleon bé nhỏ» để rồi phải trả giá bằng 20 năm lưu vong ở nước ngoài. Sau cuộc đảo chính năm 1851, tác giả của «Những người khốn khổ» phải rời khỏi nước Pháp. Và Juliette đã lên đường theo ông, bất chấp việc nàng vừa bị ông phản bội...

Người khiến Hugo phản bội Juliette là Leonie Biard – cũng là một fan hâm mộ tài năng Hugo. Năm 1851, Leonie đã gửi cho Juliette toàn bộ thư từ mà Hugo đã viết cho mình. Cô nàng Leonie ấy trẻ trung và xinh đẹp nhưng chẳng dám mạo hiểm vì tình yêu. Trong suốt 20 năm nhà văn lưu vong, sát cánh bên ông không phải là Adele hay hay Leonie mà vẫn là Juliette - người phụ nữ không sợ scandal, cũng chẳng ngán các loại tình địch hay đối thù chính trị của người tình. Chính nàng đã tìm kiếm các tài liệu cần thiết cho Hugo, đã thu xếp để ông rời khỏi Pháp rồi bí mật đi theo ông, đầu tiên là sang Bỉ, sau đó sang Anh...

Từ một cô tình nhân, Juliette trở thành người đồng hành, đồng chí, trợ lý riêng cho Hugo. Mối thâm tình của họ đã trở thành một huyền thoại khiến người đương thời không thể không ngưỡng mộ. Ngay cả Adele trước khi chết còn xin được chồng và nàng thơ của chồng thứ lỗi. Vào những ngày tháng cuối cùng của cuộc đời, Adele thậm chí còn coi Juliette như người nhà, chấp nhận việc nàng kề cận bên Hugo.

Năm 1871, sau khi Adele mất được ba năm, Hugo và Juliette mới trở về tổ quốc. Lúc này nhà văn được coi như người hùng của nước Pháp, còn Juliette - là tri kỷ người hùng ấy. Nàng đã trở thành người bạn đời đích thực của ông trên mọi phương diện, tiếp tục chia sẻ với ông mọi thành công cũng như thất bại.

Cuối đời, Juliette bị ung thư. Ngày 1/1/1883 trong lời chúc mừng năm mới cuối cùng gửi cho Hugo, Juliette viết: «Yêu dấu ơi, em không biết mình sẽ ở chốn nào trong năm tới, nhưng em hạnh phúc và tự hào được nói lên sự tri ân của em đối với anh bằng ba từ: EM YÊU ANH”. Trong những tuần cuối cùng của Juliette, Hugo không lúc nào rời xa giường bệnh của người yêu. Juliette đã qua đời trong vòng tay và nụ hôn của ông.

Sau cái chết của người yêu, Hugo đau khổ đến mức suy sụp, ông thậm chí chẳng còn đủ sức để có mặt tại tang lễ. Ông bàng quan với tất thảy và không viết lách gì nữa. Trong sổ tay của ông chỉ có một dòng buồn bã: «Chẳng bao lâu nữa tôi sẽ ngừng che lấp chân trời». Hai năm sau, Hugo từ giã cuộc đời. Ông mất vào ngày 15/5/1885.

Bình Minh Mưa (dịch từ báo Nga)

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Bữa cơm tối ở Nhà hàng Ly Hôn

Anh cưới chị được 10 năm. Giữa hai vợ chồng không còn xúc cảm và hứng thú. Anh ngày càng cảm thấy đối với vợ hầu như chỉ còn là trình tự và nghĩa vụ.
Anh bắt đầu thấy ngán.

Image
Nhất là khi đơn vị vừa nhận về một người phụ nữ trẻ hết sức sôi nổi và cuồng nhiệt bám lấy anh. Anh chợt có cảm giác cô ta là mùa xuân thứ hai của anh. Sau nhiều đêm suy nghĩ, anh quyết định ly dị vợ. Chị dường như đã trơ lỳ, bình thản, đồng ý đòi hỏi của anh.

Thủ tục tiến hành rất thuận lợi. Sau khi ra khỏi cửa, anh chị đã trở thành cá nhân độc lập và tự do. Không hiểu sao, anh bỗng thấy trống trải vô cùng, anh nhìn chị nói: "Trời tối rồi, hay là đi ăn cơm đã".
Chị nhìn anh nói: "Vâng. Em nghe nói gần đây vừa khai trương Nhà hàng Ly Hôn, chuyên phục vụ bữa ăn cuối cùng cho các cặp vợ chồng ly dị.

Chúng mình đến đấy đi?"
Anh gật đầu. Hai người, một trước một sau lặng lẽ đi vào Nhà hàng Ly Hôn. Anh chị vừa yên vị trong phòng VIP, cô phục vụ đã bước vào nói: "Anh chị dùng gì ạ?"
Anh nhìn chị nói: "Em gọi đi." Chị lắc đầu: "Em ít khi ăn nhà hàng, không quen gọi món, anh gọi đi."
"Xin lỗi, nhà hàng chúng tôi quy định, bữa này do vợ gọi món hàng ngày người chồng thích ăn nhất, và chồng gọi món người vợ thích ăn nhất. Đấy là món "Ký ức cuối cùng."
"Thôi được", chị hất món tóc xõa trước mặt ra sau, nói: "Gà luộc chấm gia vị nước chanh, đậu phụ rán chấm nước mắm nguyên chất rắc hành thái nhỏ, chân giò luộc chấm mắm tôm, rau cải thảo luộc."
"Anh gọi gì ạ?" Cô phục vụ nhìn anh. Anh sững người. Lấy nhau 10 năm, anh thật sự không biết vợ anh thích ăn món gì. Anh há hốc mồm, ngồi thừ ra đấy.
"Những món này đủ rồi, đều là món chúng tôi thích nhất." Chị vội chữa thẹn cho anh. Cô phục vụ cười: "Thực tình mà nói, đến nhà hàng chúng tôi ăn bữa cơm cuối cùng, các anh các chị đều không thể nuốt trôi. Hay là anh chị đừng dùng món "Ký ức cuối cùng" nữa, hãy dùng bữa tối nhà hàng đặc biệt làm cho vợ chồng ly hôn: Đồ uống ướp lạnh. Những người đến đây, không có ai từ chối sự lựa chọn này." Anh chị gật đầu: "Được."

Chốc lát, cô phục vụ mang đến hai suất đồ uống ướp lạnh. Trong hai suất có một suất xanh lơ, toàn đá đập vụn; một suất đỏ tươi, còn đang bốc khói. "Bữa tối này gọi là "một nửa ngọn lửa, một nửa nước biển". Mời anh chị thưởng thức." Cô phục vụ nói xong lui ra. Trong phòng ăn im lặng như tờ, anh chị ngồi đối diện, nhưng không biết nói gì với nhau.

"Cộc cộc cộc!" Có tiếng gõ cửa nhẹ nhàng. Cô phục vụ đi vào, tay bưng chiếc khay có một bông hồng đỏ tươi, nói: "Anh còn nhớ cảnh tặng hoa cho chị đây không? Bây giờ, khi mọi việc đã kết thúc, không còn là vợ chồng, nhưng là bạn. Bạn bè gặp nhau vui vẻ rồi chia tay, anh tặng chị bông hồng cuối cùng đi."

Chị rùng mình, trước mắt hiện ra cảnh anh tặng hoa chị 10 năm về trước. Hồi đó, anh chị vừa đến thành phố xa lạ này, hai bàn tay trắng, bắt đầu xây tổ ấm từ số không. Ban ngày, anh chị đi tìm việc làm, ban đêm chị ra hè phố bán quần áo. Anh vào nhà hàng rửa bát. Nửa đêm mới về đến gian nhà thuê chưa đầy 10 mét vuông. Đời sống khổ cực, nhưng anh chị thấy vui, thấy hạnh phúc.

Tết Valentin đầu tiên ở thành phố này, anh mua tặng chị bông hồng đầu tiên, nước mắt chị chảy dài trên má vì sung sướng quá. 10 năm rồi, cuộc đời đã giàu lên, thế mà anh chị lại chia tay nhau. Càng nghĩ, chị càng tủi, hai mắt ngấn lệ, xua tay nói: "Thôi, thôi, khỏi cần."

Anh cũng nhớ lại 10 năm qua. Và sực nhớ 5 năm nay, anh không mua hoa tặng chị. Anh vội vẫy tay, nói: "Không, phải tặng."
Cô phục vụ cầm bông hồng lên, "xoèn xoẹt" một cái, bẻ làm đôi, ném vào cốc của anh chị, mỗi người một nửa. Bông hồng tức khắc hòa tan trong cốc.
"Đây là bông hồng nhà hàng làm bằng gạo nếp, cũng là món ăn thứ ba gửi anh chị. Mời anh chị thưởng thức. Còn cần gì nữa, anh chị cứ gọi tôi". Nói xong, cô quay người ra khỏi phòng.
"Em... anh..." Anh nắm lấy tay chị, nói không nên lời. Chị rút mạnh bàn tay. Không rút nổi, bèn để yên. Anh chị im lặng nhìn nhau, vẫn không nói nên lời.
"Phụt!" Đèn điện tắt ngấm, trong phòng tối om. Bên ngoài vang lên tiếng chuông báo động đổ dồn, có mùi cháy khét lẹt bay vào.
"Chuyện gì thế?" Anh chị vội đứng lên.
"Nhà hàng cháy rồi, mọi người ra ngoài mau, mau lên!" Bên ngoài có người kêu thét lên. "Anh!" Chị ép vào người anh, "em sợ!"
"Đừng sợ!" Anh ôm chặt lấy chị, "Em đừng sợ, có anh ở bên cạnh. Chúng mình chạy ra ngoài đi."

Ngoài phòng, đèn điện sáng trưng, mọi vật như cũ, không có chuyện gì xảy ra. Cô phục vụ nói: "Xin lỗi anh chị, đây là món "Sự lựa chọn từ đáy lòng" của nhà hàng gửi tới anh chị."
Anh chị trở về phòng ăn, ánh sáng chan hòa. Anh cầm tay chị nói: "Vừa nãy là sự lựa chọn từ đáy lòng của chúng mình thật. Anh cảm thấy chúng mình không thể sống thiếu nhau, ngày mai chúng mình đi đăng ký lại!"
Chị cắn môi: "Anh nói thật lòng đấy chứ?"
"Thật! Anh hiểu rồi." Cô ơi, cho thanh toán.
Cô phục vụ đi vào, đưa cho anh chị mỗi người một tấm phiếu màu hồng rất đẹp nói: "Đây là phiếu thanh toán của anh chị, cũng là món quà của nhà hàng gửi tặng anh chị, gọi là "Phiếu thanh toán vĩnh viễn", mong anh chị cất giữ mãi mãi."
Anh nhìn phiếu, mắt đỏ hoe. "Anh làm sao thế?" Chị lo lắng hỏi. Anh đưa phiếu thanh toán của mình cho chị, nói: "Anh có lỗi với em, mong em tha thứ."

Chị cầm tấm phiếu đọc: "Một gia đình ấm cúng, hai bàn tay làm lụng, ba canh ngồi chờ anh về, bốn mùa dặn anh giữ gìn sức khỏe, năm tháng săn sóc anh chí tình, sáu mươi mẹ già vui vẻ, bảy ngày trong tuần nuôi dạy con cái, tám phương giữ gìn uy tín của anh, chín giờ thường xuống bếp làm món anh khoái khẩu, mười năm hao tổn tuổi xuân. Vì ai... Đó là vợ anh".
"Anh vất vả thật đấy. Mấy năm qua em thờ ơ với anh quá." Chị đưa phiếu thanh toán của mình cho anh xem. Anh mở ra đọc: "Một mình gánh vác trách nhiệm, hai vai nặng trĩu cơ đồ, ba canh cặm cụi bên bàn, tứ thời chạy ngược chạy xuôi, vinh nhục biết chia sẻ cùng ai, bể dâu khắc sâu đuôi mắt, nghĩa vụ đối với gia tộc, gập ghềnh chông gai con đường công danh, là người phàm tục làm sao mười phân vẹn mười. Lúc nào cũng tận tình với vợ con... Đấy là chồng em".
Anh chị ôm chầm lấy nhau, oà lên khóc thành tiếng.

Theo Đỗ Quyên

daudua
Posts: 77
Joined: Sat Oct 10, 2009 6:05 am

Post by daudua »

Món quà con dâng Chúa
(Thân tặng chị Amy - người con gái da đen có tấm lòng vàng)

Image
Chị Amy Mai bên cây thánh giá
– ảnh: Hoàng Thanh/Viễn Đông.

Bước vào tiệm food to go, tôi thoáng thấy một phụ nữ da đen - mà tôi nghĩ ngay là người Mỹ đen hay Phi Châu, đứng trước quầy thức ăn dường như đang lựa chọn. Như thường lệ, tôi đứng đợi tới phiên mình. Bỗng dưng nghe chị này nói rất rõ ràng bằng tiếng Việt: “Bán cho tui một phần cơm chiên nhỏ”, làm tôi ngạc nhiên quay lại nhìn, vì không ngờ chị ta nói tiếng Việt rành thế. Da chị này rất đen, đúng điệu là dân lai Mỹ đen chính hiệu. Khi tôi ra bàn ngồi ăn, chị ấy bước đến rụt rè chỉ vào chiếc ghế bên cạnh tôi và hỏi: “Tui ngồi đây được không?”. Tôi gật đầu.

Trời Cali vào đông lành lạnh, ngồi gắp từng đũa mì Nam Vang nóng mà tôi nghe ấm cả lòng. Đang múc muỗng nước lèo thì chị da đen lên tiếng: “Trời lạnh quá, ăn cái này ngon lắm mà không chắc bụng”. Tôi quay sang nhìn thì bắt gặp chị ấy vừa đưa tay chỉ chỉ vào tô mì tôi đang ăn, vừa nói với ánh mắt có vẻ thèm thuồng. Chị nói với cái giọng chân chất rất nhà quê: “Cơm chiên nó hổng ngon bằng, nhưng nó chắc cái bụng, tui mới khiêng đồ nặng nổi”.

Thấy ái ngại, tôi nói ngay: “Chị ăn không? Tôi kêu tặng chị một tô”. Chị ấy lắc đầu: “Giờ ăn hổng kịp đâu, trễ xe bus là cả tiếng nữa mới có chuyến sau”. Tôi hỏi: “Chị làm gì mà phải khiêng nặng?”. Chị đáp: “Tui lau chùi cầu tiêu, lau sàn nhà, chùi rửa hết tất cả phòng, sắp xếp đồ đạc lại ngay ngắn, khiêng bàn ghế, nhiều bàn ghế nặng lắm, cái gì tui cũng làm hết đó, để mười giờ người ta vô thì mọi thứ phải sạch sẽ đâu vô đó”. Rồi chị tiếp, “Tui ở xa, nên 7 giờ phải dậy rồi, đi xe bus tới đây thì phải đổi xe bus khác mới tới. Nhưng đói quá nên tui phải xuống mua đồ ăn cho no bụng cái đã, rồi mới đón xe bus đi tiếp đến chỗ làm”.

Tôi cứ nghĩ chắc chị này đi làm thêm overtime ngày cuối tuần, nên tôi nói: “Chị làm thêm cuối tuần vậy, họ trả chị khá không?”. Chị nói ngay: “Tui đâu có lãnh lương, làm cho nhà thờ mà, cái này là tui tự nguyện làm, tui làm là cho Chúa, mà tui làm nhiều năm nay rồi...”. Vừa thấy tội nghiệp cho chị, tôi vừa thầm khâm phục chị đã có can đảm mà đứng chờ hai chuyến xe bus từ 7 giờ sáng, ngày Chủ Nhật - là lúc mà ai nấy đều đang ngon giấc với khí trời rất lạnh ở bên ngoài. Chị không những đã làm được điều phi thường đó, không có lương, một cách vui vẻ, mà lại từ nhiều năm qua...

Bỗng dưng tôi muốn làm quen: “Chị tên gì? Mà tại sao chị lại tự nguyện làm công việc này từ bao lâu nay, nhà thờ không có người nào phụ chị sao?”. Thấy có người quan tâm, chị có vẻ xúc động, nỗi xúc động mà tôi linh cảm như của một con người thường bị hất hủi bỏ rơi. Chị nói nhỏ lại: “Tui tên Amy, là tên Mỹ đó, còn tên Việt Nam, tui không thích nó...”. “Chị có tên Việt Nam?”. “Ừa, mà tui ghét nó lắm...”. Tôi ngạc nhiên: “Tại sao chị lại ghét tên mình?”. Chị đen im lặng, và rồi chị kể, bằng cái giọng quê mùa mộc mạc....

* Tuổi thơ đen...
“Khi Má sinh ra tui thì mọi người ai cũng đã ghét tui rồi. Chỉ vì tui ra đời dưới ngôi sao xấu, bởi vì cái màu da đen đúa không sao che giấu được của tui. Tui đâu có quyền được chọn màu da gì để sinh ra, cả Má tui cũng không chọn được cho tui.

Nhà tui nghèo lắm, ở ven bờ một con sông. Gia đình tui gồm có sáu người: Má và 5 chị em, chị Hai, chị Ba, chị Tư , tui, rồi đến em trai Út. Mấy chị và em trai là da vàng, chỉ có tui là đen thui thôi. Nhà tui nghèo mạt rệp, cả căn nhà dột nát, không có cả cái bàn hay cái giường, cái ghế. Một mình Má đi mò ốc cả ngày để bán lấy tiền mua đồ ăn cho 6 miệng ăn.

Mới ba, bốn tuổi là tụi con nít đã ghét tui. Tui tên Tí, họ Mai là họ của Má, vì Ba bỏ Má từ khi Má mới có bầu tui. Tụi con nít cả đám cứ đi theo sau tui hát nhạo là: ‘Cút về Mỹ đi con Tí đen’. Có đứa còn lấy que tre vít cứt chim, cứt gà rồi kêu cả bọn xúm lại đè tôi xuống, trét vô miệng tui, tới khi nào tui lạy, tui khóc thì tụi nó mới tha.

Năm 6 tuổi, Má cho tui với mấy chị đi học trường làng, nhưng tụi học trò khinh ghét tui lắm. Có lần tụi nó hè hội đồng tống một đống cứt gà vô miệng, tui không chống cự được nên nuốt vô cổ họng, nghe thúi ình và chua loét. Tui oẹ ra, tụi nó bốc nhét vô lại. Tui vùng vẫy, la hét. Thấy tui khóc dữ quá, mấy chị và em trai xúm lại binh, thì tụi nó đánh mấy chị, vừa đánh tụi nó vừa chửi: ‘Đồ Mỹ đen không cha cút về nước đen mà sống’. Lần đó tui chạy về khóc với Má sưng cả mắt. Má cứ im lặng và rồi bà cho tui nghỉ học luôn.

Nhiều lúc tui thèm được đi học, thèm được chơi chung, bất cứ trò chơi nào với chúng bạn, vậy mà đứa nào cũng chê là tui đen, tui dơ, tui thúi... hổng ai thèm chơi. Tui tủi thân lắm nên hỏi Má. Má bảo là Ba bỏ Má từ lúc tui chưa sinh ra nữa. Tôi ức lắm, hỏi lại: ‘Thế Ba tên gì? Sao Má không đi tìm?’. Má im lặng, rồi Má khóc. Tui thương Má quá, và tui ghét Ba lắm. Tui thề sẽ có một ngày tui tìm gặp Ba và hỏi Ba cho ra lẽ”. Tôi im lặng. Chị đen tiếp: “Tại Ba mà giờ này tui vẫn chưa biết đọc, biết viết. Người ta nói là tui mù chữ. Mắt tui sáng mà, tui thấy đường, nhìn tờ báo thì tui chỉ thấy hình, chớ không biết đọc.

Một hôm Má tui nói là: ‘Tí đen ơi, đúng là Trời thương Má con mình, mình sắp hết khổ rồi...’. Thì ra là chính phủ nước của Ba tui (chính phủ Mỹ) cho nhà tui đi theo diện con đen (con lai). Má và tui mừng hơn bắt được vàng.

Lúc vô phỏng vấn, tui run quá nên cứ khóc, mà tay chân thì lạnh ngắt. Tui cứ sợ ông Bill - tên ông hỏi chuyện Má tui, mà thấy tui đen, tui xấu, tui hôi, tui dơ... ổng không cho đi thì tui phải ở đây suốt đời tui khổ lắm.

Má tui cũng khóc, năn nỉ cô thông dịch xin ông Bill cho đi Mỹ. Lúc đó tui nghe ai cũng nói ở Mỹ sướng lắm, con nít được đi học, dù mình đen cũng không ai đánh mình, không ai nhét cứt vô miệng mình... Khi đó chị Hai và chị Ba có chồng rồi, còn chị Tư và em trai thì chưa. Má định nếu được đi Mỹ rồi thì Má sẽ nhờ người làm đơn xin chính phủ cho chị Tư và em tui đi sau.

Đêm trước hôm phỏng vấn, Má lo quá không ngủ được, mấy mẹ con cứ ngồi ôm nhau khóc cả đêm. Với gia đình tui, thì nước Mỹ là thiên đàng, chỉ tới Mỹ thì chúng tui mới hết khổ. Khi ông Bill biết rằng chị Tư và em trai còn độc thân, ông nói: ‘Chiến tranh đã làm cho Bà và các con cực khổ, nên nay vì nhân đạo, chúng tôi cho Bà, cô con gái lai và cả hai người con độc thân cùng đi, để qua Mỹ đùm bọc nhau mà sống’. Cả nhà tui khóc, vì mừng quá, đến nỗi quên cả nói lời cám ơn ông Bill...”.

* Bước rẽ ngoặc cuộc đời...
“Đặt chân đến ‘thiên đàng’ Virginia, bốn Má con tui không biết một chữ tiếng Anh, nói không được câu nào, mà đọc cũng rặn không ra, còn viết thì một chữ bẻ đôi cũng không biết. Một người quen cùng làng ngày xưa nhận ra Má, nên giúp tìm dùm cho chúng tôi thuê một căn apartment nhỏ xíu một phòng ngủ để cả nhà ở chung.

Cả nhà tui đi làm đủ thứ nghề nặng nhọc để đắp đổi qua ngày. Tui còn nhớ lần thi vô quốc tịch, tui lo quá chừng, cứ học thuộc lòng những câu hỏi như con vẹt, vì tui có đọc và hiểu được chữ nào đâu. Có một chị người Việt đọc cho tui nghe các câu hỏi rồi biểu tui học cho thuộc, hễ người ta hỏi câu nào thì trả lời y như đã thuộc. Vậy mà may mắn ghê, tui đậu.

Khi họ hỏi tui muốn có tên Mỹ không, hay vẫn muốn giữ cái tên Việt Nam là Tí Mai, thì tui khóc. Không biết nói tiếng, tui nhờ cô thông dịch nói dùm với ổng là ‘Tui ghét lắm cái tên Tí đen, vì nó đen như màu da tui, đen như tuổi thơ nghèo hèn của tui’. Ông Mỹ trắng hỏi tui muốn tên gì. Lúc đó tui chỉ nhớ đến đứa cháu họ xa, đi lính cho quân đội Mỹ. Có một lần về thăm Má con tui ở Virginia, nó nói lý do nó đi lính là vì nó muốn đền ơn chính phủ. Tui nhớ mang máng nó có nói quân đội Mỹ gọi là... ‘AMI’... gì đó thì phải.

Thiệt tình khi đó tui không biết chữ ‘AMI’ viết làm sao nữa, nên tui nói đại với cô thông dịch là ‘Tui muốn cám ơn chính phủ Mỹ, cám ơn ông Bill đã thương mà cho Má con tui đi, nên tui muốn có tên Mỹ là AMI, có nghĩa là quân đội’. Tui còn nhớ khi nghe tui nói vậy thì cô này cười, dễ thương lắm, và cô viết tên tôi lên tờ giấy đưa cho ông Mỹ. Thế là passport của tui có cái tên Amy Mai từ đó. Mãi sau này tui mới biết là cô đã quên chữ e rờ (R), vì quân đội viết là “army”, nhưng sao có người lại nói với tui là cô ta cố tình quên...?

Sau đó vài năm, thì phát giác ra là Má tui bị có nước trong phổi. Bác sĩ sau khi hỏi cặn kẽ đã giải thích rằng, do Má ngâm nước lạnh hằng mấy chục năm liền khi đi mò ốc, nên giờ phổi Má yếu lắm. Mấy chị em sợ quá, đứa nào cũng đi làm quần quật mà không sao đủ tiền mua thuốc cho Má. May mà Trời thương, nên lại có người hàng xóm ngày xưa biết chuyện, bảo chị em tui qua Cali ở đi, thì khí hậu ấm sẽ tốt hơn cho sức khỏe của Má.

Nhưng tiền đâu mà mua vé máy bay? Cô Anh bảo, ‘Khi xưa lúc chồng cô mới chết, cô một mình với con nhỏ, sức khỏe yếu nên không sao ngâm nước nổi, nhờ Má cho cô bữa bịch ốc, khi mấy con tôm mà sống qua ngày’, nên cô muốn đền ơn Má bằng cách mua bốn vé máy bay cho chúng tôi qua Cali, cô cũng đã thuê sẵn một appartment nhỏ (cô Anh đã trả trước một tháng tiền nhà) cho Má con tui. Thế là cả nhà kéo nhau qua Cali.

Cả tháng trời không ai xin được việc làm. Khi chỉ còn vài ngày là hết tháng, tụi tui lo lắm vì tiền đâu để trả cho tháng tới? Gọi phone cho cô Anh thì cô và gia đình đi đâu rồi nên không sao liên lạc được. Một buổi tối trước ngày Giáng Sinh, mấy Má con đứng đón xe bus về nhà. Trời lại lạnh, bụng ai cũng đói, nên không còn sức để mà đi, cứ đứng mà run.

Chúng tôi thấy nhiều người đi vào một nhà thờ nhỏ. Vì lạnh quá, nên chúng tôi cũng đi vô đại, định tìm một chỗ trú cho ấm chút rồi sẽ về. Đó là buổi tối đánh dấu một bước ngoặc lớn trong cuộc đời chúng tui. Trên kia, mục sư Bảo đang giảng về tình yêu của Chúa. Ông nói: ‘Chúa luôn luôn dang rộng vòng tay yêu thương cho mọi người’.

Có lẽ lúc ấy, vì quá buồn, mỏi mệt và tủi thân, nên bốn Má con đứng khóc ròng. Một người đàn bà bước lại hỏi thăm (sau này tui mới được biết là vợ Mục Sư Bảo). Má con tui thật lòng kể hết. Vợ chồng Mục Sư cùng một vài cô chú ở nhà thờ thấy tội nghiệp, nên chở giùm mấy Má con về nhà, rồi hôm sau người ta đem đồ đến cho, bàn ghế, quần áo, tiền bạc, thức ăn. Rồi đích thân vợ chồng Mục Sư giúp điền đơn dùm Má con tui để xin tiền bệnh, tiền trợ cấp. Cũng chính nhờ sự khuyến khích, nâng đỡ cả về vật chất lẫn tinh thần, mà Má con tui mới sống nổi qua ngày...”.

* Con đến với Ngài...
“Và từ đó chúng tui đi nhà thờ mỗi Chủ Nhật. Cám ơn Chúa. Cầu nguyện cho Má mau hết bệnh. Cầu nguyện cho mấy chị em có công ăn việc làm. Các cô chú trong nhà thờ đối xử rất tốt với tui, không ai nhìn màu da tui mà khinh khi hết. Tui vui lắm khi mọi người cứ kêu ‘Amy, đến phụ cô làm cái này đi!’, ‘Amy, ăn chút gì cho có sức rồi hẵng làm chứ cháu...". Và tui biết là ở nơi nào có Chúa, thì tui có tình thương...

Mang ơn vợ chồng Mục Sư Bảo và các cô chú trong nhà thờ, nên mấy chị em tui tình nguyện làm bất cứ việc gì nhà thờ cần. Tiền thì không có, nên chúng tui đóng góp bằng công sức và thời gian. Tui không bao giờ buồn vì công việc mình làm hết. Mà cầu tiêu ở Mỹ sạch sẽ lắm kìa, không có dơ, không có thúi như mấy đống cứt gà mà hồi nhỏ tui phải nuốt đâu. Tui vui lắm, dù công việc có cực nhọc cách mấy, vì tui biết mình làm là đền đáp công ơn Chúa...

Và rồi một ngày, Chúa gọi Má tôi về với Ngài. Bà chết khi trong túi mấy chị em cộng lại hết vẫn chưa được một đồng. Lúc còn sống, Má cứ ước có tiền về Việt Nam thăm chị Hai, chị Ba và các cháu. Vậy mà mơ ước chưa thành, Má đã ra đi. Tui còn nhớ lúc biết mình sẽ không qua khỏi, Má nói với các chị em tui: ‘Ngày xưa Má cứ ước ao cả nhà mình qua đến được thiên đàng, nhưng nếu như Má có mất, thì mấy con ráng lo cho Má về Việt Nam mà chôn cất, dù gì nằm bên bờ sông ngày xưa với mấy con ốc, Má vẫn thấy ấm lòng hơn...’.

Cả nhà ai cũng đều biết ước nguyện cuối cùng của Má là được chôn nơi miền quê cha đất tổ, mà đào đâu ra tiền để chở xác Má về Việt Nam? Tụi tui chỉ biết khóc, vì không mua nổi một quan tài cho Má. Vợ chồng Mục Sư Bảo biết rõ ước nguyện của Má, nên tối nào Mục Sư cũng lên đài kêu gọi mọi người giúp một tay. Đêm nào mấy chị em cũng ngồi trên đài với Mục Sư Bảo và tụi tui cứ khóc, thương Má, mang ơn vợ chồng Mục Sư và tất cả những người hảo tâm.

Nhiều người mang tiền đến tận nhà giúp. Cuối cùng quyên góp được 16 ngàn đồng, một gia tài mà mấy chị em tui không bao giờ dám mơ tới. Phải, 16 ngàn đồng - con số này suốt đời tui không thể nào quên. Đó là công ơn của hằng trăm người, mà nhiều nhất là vợ chồng Mục Sư Bảo và bác sĩ Nguyễn Hùng. Anh Tuấn ở nhà quàn biết hoàn cảnh nhà tui, nên anh bớt cho hai ngàn tiền chi phí chuyên chở xác Má về Việt Nam. Em trai tui được mua vé đi cùng về Việt nam với Má. Rồi số tiền còn lại thì mục sư đưa cho em tui về mua đất và lo chôn cất Má. Thế là cuối cùng, Má cũng được về yên nghĩ vĩnh viễn bên vùng ven biển ngày nào, với những con ốc nhỏ ngày xưa. Tạ ơn Chúa. Tạ ơn những tấm lòng...”.

Chị Amy ngừng kể. Tôi im lặng, vì tôi biết có nói gì cũng sẽ là rất thừa thãi vào giây phút này. Bất chợt chị nói: “Tui không biết tên Ba, phải chi tui được gặp lại ông Bill năm nào phỏng vấn, có thể tui nhờ ổng tìm ra Ba tui...”.

- “Chị mong gặp lại Ba chị à? Chị không giận Ba sao?”.

- “Ngày xưa tui ghét Ba lắm. Nhưng Chúa dạy rằng ‘Mình phải biết tha thứ và yêu thương’. Tui chỉ mong gặp Ba, để nhìn ông và kêu một tiếng ‘Ba’ một lần trong đời”.

Ngừng một chút, chị tiếp: “Và tui sẽ nói rằng ‘Ba đã làm Má khổ và con buồn’. Vậy thôi...”.

* Món quà con dâng Chúa...
Gió ngoài trời lành lạnh, báo hiệu một mùa Giáng Sinh nữa lại sắp đến. Tôi hỏi: “Năm nay Giáng Sinh, chị sẽ làm gì?”. Chị Amy buồn buồn đáp: “Tui đến nhà thờ dọn nhà cầu, khiêng bàn ghế, lau chùi các phòng, dự Thánh lễ rồi về nhà... nhớ Má. Má mới mất năm ngoái thôi, nên tui nhớ bả lắm...”. Chị lại tiếp: “Năm nào tui cũng đâu có tiền mà mua gì dâng tặng nhà thờ, hay tặng vợ chồng mục sư - người mà gia đình tui mang ơn cả đời, nên tui chỉ biết cầu nguyện cho mọi người. Nhiều lúc tui buồn lắm, vì không năm nào có tiền mua món quà gì dâng Chúa...”.

“Những gì chị làm, chắc chắn là Ngài sẽ biết mà. Tôi tin chắc là thời gian, công sức và tấm lòng của chị, sẽ là một trong những món quà mà Ngài ưng ý nhất...”.

Chị Amy chỉ cười, không nói. Tự dưng chị hỏi: “Khi nào có báo, chị cho tui xin ba tờ được không?”.

- “Được chứ”. Tôi đáp ngay.

- “Tui sẽ mang biếu vợ chồng Mục Sư Bảo một tờ, bác sĩ Nguyễn Hùng một tờ, còn một tờ tui sẽ nhờ ai đó đọc cho tui nghe, tại tui không biết chữ, rồi thì tui sẽ giữ nó mãi suốt đời. Phải chi Má còn sống, nghe đọc tờ báo này, chắc Má tui vui lắm...”.

Chị Amy nhờ tôi gửi bài viết này kính tặng vợ chồng Mục sư Nguyễn Xuân Bảo, Bác Sĩ Nguyễn Hùng cùng tất cả những tấm lòng nơi Thánh đường Sài Gòn. Chị nói, đây là món quà - từ trái tim - chị dâng tặng mọi người nhân mùa lễ Giáng Sinh.

Trước khi chia tay, tôi hứa sẽ mang tặng chị Amy ba tờ báo, và sẽ đọc cho chị nghe. Chị nói: “Cám ơn người đẹp”. Tôi ngượng ngùng: “Chị đừng gọi tôi là người đẹp, kỳ lắm”. Amy đáp: “Đẹp chứ, bởi vì chị trắng hơn tui...”.

Tôi quay đi. Chạnh cả lòng. Nhìn xuống làn da mình, tôi tự hỏi, cuộc đời này có được bao người thật sự “trắng da” hơn chị?

Hoàng Thanh/Viễn Đông.

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Image


CHỮ TRINH CÒN MỘT CHÚT NÀY

Nhật Hồng Nguyễn Thanh Vân

Trong quyển Truyện Kiều của Cụ Nguyễn Du, người ta đọc được năm lần, hoặc trực tiếp hay gián tiếp Kiều nhắc đến chữ Trinh, và một lần Kim Trọng biện giải về chữ này.
Lần thứ nhất, giữa đêm khuya sau khi Kiều gảy đàn nơi hiên Lãm Thúy, thì Kim Trọng :

… “Sóng tình dường đã xiêu xiêu,

Xem trong âu yếm có chiều lả lơi”…

Nàng nghiêm trang cảnh tỉnh người yêu bằng những lời lẽ thanh tao, và trong vài câu mở đầu đã nói đến chữ trinh, như một thứ vũ khí có hiệu quả làm dịu đi được cơn sóng tình đang bộc phát kia :

… “Đã cho vào bậc bố kinh,

Đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu”…

Với mẫu người được mô tả là quân tử như Kim Trọng, thì chữ trinh nêu ra ở đây quả là một gáo nước tưới tắt được lửa lòng đang từng cơn thèm muốn trong chàng. Vì họ mới lén lút yêu nhau mà đã hò hẹn gặp gỡ thề thốt. Rồi cùng nhau uống rượu, ngâm thơ, gảy đàn đã là đi quá lễ giáo gia phong rồi… nếu biết giữ gìn trong sạch cho nhau, thì còn có thể châm chước được. Lại ra tuồng “trên bộc trong dâu” và muốn “ăn xổi ở thì” nữa, thật không xứng đáng là kẻ học sách thánh hiền. Rồi Kiều lại đem chuyện Trương Quân Thụy và Thôi Oanh Oanh làm dẫn chứng :

… “Gẫm duyên kỳ ngộ xưa nay,

Lứa đôi ai dễ sánh tày Thôi-Trương.

Mây mưa đánh đổ đá vàng,

Quá chiều nên để lỡ làng yến anh.

Trong khi chấp cánh liền cành,

Mà lòng rẻ rúng đã dành một bên.

Mái Tây để lạnh hương nguyền,

Cho duyên đằm thắm ra duyên bẽ bàng.

Gieo thoi trước phải giữ giàng,

Để sau nên thẹn với chàng vì ai”…

Lần thứ hai, bằng lời lẽ gián tiếp, sau khi về với Mã Giám Sinh nàng thốt :

… “Phẩm tiên rơi đến tay hèn,

Uổng công nắng giữ mưa gìn với ai !

Biết thân đến bước lạc loài,

Nhụy đào thà bẻ cho người tình chung”…

Rõ ràng là cái phẩm của tiên, cái nhụy của hoa đào nay đã về tay kẻ ô trọc. Giá mà nàng biết được tấm băng trinh phải như thế, thì thà là dâng hiến cho chàng Kim trong đêm gảy đàn đó vẫn còn hơn.

Lần thứ ba, lúc ở lầu Ngưng Bích bỏ trốn vì mắc mưu Tú Bà và Sở Khanh nàng bị bắt trở lại, bị đánh đập tàn nhẫn đành cất tiếng lạy van rồi đau lòng trình thưa :

… “Thân lươn bao quản lấm đầu,

Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa !”..

Xin chừa chút lòng trinh bạch ! Thật là tiếng than đứt ruột ! Không muốn làm gái làng chơi để giữ cái trinh bạch của người đàn bà cũng không được, thôi thì quản gì thân lươn phải chịu lấm đầu !

Lần thứ tư, trong buổi tiệc cả nhà đoàn viên, cha và em đều một lòng nối duyên nàng lại với chàng Kim, Kiều nại lý do :

… “Nghĩ rằng : Trong đạo vợ chồng,

Hoa thơm phong nhụy trăng vòng tròn gương.

Chữ trinh đáng giá ngàn vàng,

Đuốc hoa chẳng thẹn với chàng sau xưa”…

Ôi ! thân nàng giờ đây “ong qua bướm lại” lắm rồi. Chữ trinh ngàn vàng còn đâu nữa mà dâng hiến cho kẻ tình chung ! Nên nàng nhất mực chối từ, nhưng cuối cùng đành phải cắn răng ưng chịu.

Chàng Kim thì hết lòng bào chữa cho chữ trinh đã bị hoen ố đó :

… “Xưa nay trong đạo đàn bà,

Chữ trinh cũng có đến ba bảy đường.

Có khi biến, có khi thường,

Có quyền nào phải một đường chấp kinh ?

Ví nàng lấy hiếu làm trinh,

Bụi nào cho đục được mình ấy vay ?”…

Nàng vì hiếu phải bán mình chuộc tội cho cha, thì dù tấm băng trinh có nhơ nhuốc đến ngần nào dưới con mắt của chàng vẫn cho là còn trong trắng.. Ta biết Kim là môn đồ trong cửa Khổng với thuyết lý luôn bó chặt trinh tiết của người phụ nữ, xem đó như món hàng quý giá khi lấy chồng và gần như không có gì đánh đổi được. Nhưng chàng ta lại quan niệm rất rộng rải trong trường hợp này.

Lần thứ năm, trong đêm động phòng hoa chúc để tái hồi duyên nợ với Kim Trọng, chàng muốn vầy duyên ân ái. Nàng cũng nghiêm trang khôn khéo chối từ :

… “Chữ trinh còn một chút này,

Chẳng cầm cho vững lại giày cho tan !”…

Với lý do như thế, nàng xin Kim hãy coi nàng như bạn tri kỷ. Tiếng là vợ chồng nhưng không chung đụng xác thịt. Chỉ cùng nhau “khi chén rượu lúc cuộc cờ, khi xem hoa nở khi chờ trăng lên” mà thôi. Kim cũng bằng lòng và họ giữ vậy cho đến mãn đời.

Trong tất cả các sách vở nói đến đoạn này, đều đồng quan điểm như lời giải thích của hai cụ Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim : “chữ Trinh đây là nói cái lòng trinh tiết của Kiều vốn giữ với Kim Trọng tự xưa đến nay. Dẫu có phải ong qua bướm lại cũng là bất đắc dĩ, chứ cái lòng thỉ chung vẫn không đổi. Đấy là nói cái trinh của Kiều đối với Kim Trọng : cái trinh ấy Kiều muốn giữ cho được trọn vẹn, không nở đem cái thân tồi tàn mà đãi người tình chung”.

Tuy nhiên, cũng xin được có một nhãn quan khác, để phiếm bàn về “Chữ Trinh” đó như sau :

Kim Trọng là mối tình đầu khi Kiều vừa mới “cặp kê” tức khoảng 15 – 16 tuổi, và mẫu người thư sinh quân tử, nho nhã phong lưu như chàng Kim hẳn là kẻ trong mộng tưởng của nàng rồi. Nên suốt quảng đường sương gió có rất nhiều lần nàng nghĩ đến người yêu. Nay được tái hồi trong đèn hoa chúc, trong tiệc hợp cẩn giao bôi, thì hà tất gì nàng nỡ để hoa xưa ong cũ chẳng được hưởng cái tình chung ?

Lấy lý do theo giải thích trên, bề ngoài thì đúng. Nhưng chắc còn có ẩn tình ? Bởi nàng cũng biết, chính Kim đã hết lời binh vực cho chữ trinh hoen ố của nàng, rằng không có chi là dơ bẩn. Thế thì việc ăn nằm với chàng đâu có gì là tồi tàn ? Cố chấp quá chăng ? Câu trả lời có lẽ là không.

Xin thử lý luận một vài sự kiện xảy ra trong suốt cuộc đời luân lạc của nàng, để tìm hiểu cho điều này.

Nàng và Kim Trọng đúng là một cặp tài tử giai nhân hiếm có. Họ yêu nhau thật tương xứng ! Yếu tố về kinh nghiệm trường đời đối với họ trong tuổi cặp kê này hầu như không có. Nhất là đối với Kiều, một cô gái chỉ biết có phòng khuê. Giá mà mọi việc đều cứ bình thản trôi qua, thì không có gì để nói.

Nhưng sau đó, Kiều bị ném ra ngoài xã hội, phải lăn mình vào giữa đống bùn nhơ nhớp của cuộc đời. Kinh nghiệm sống mỗi ngày một chồng chất thêm lên. Cho nên mẫu người “mọt sách” như kiểu chàng Kim, bây giờ đã có phần bị xói mòn trong tâm não của Kiều, vì nàng là nạn nhân của loại người này quá nhiều !

Nào là Mã Giám Sinh – tức là người họ Mã học sinh trường Quốc Tử Giám – không biết là thực hay giả, nhưng theo tên gọi thì cũng là hạng sách đèn, nhưng lại chuyên nghề ăn bẩn lầu xanh !

Nào là Sở Khanh với cái vẻ “hình dong chải chuốt áo khăn dịu dàng”, ngâm thơ xướng họa đúng là hạng thư sinh thứ thiệt. Thế mà lại là “một cốt một đồng” với mụ Tú Bà chuyên gạt gẫm gái lành !

Rồi đến Thúc sinh viên, Truyện Kiều đã tả :

“Khách du bỗng có một người,

Kỳ Tâm họ Thúc vốn nòi thư hương”…

Nòi thư hương ! Ba tiếng đó đủ xác định con người có ăn học. Chàng lại là rễ của quan lớn đầu triều, cũng có tác phong nho nhã văn vẻ hơn người, nhưng về nhà thì sợ vợ hơn cha !

Kịp đến lúc Hồ Tôn Hiến xuất hiện, Kiều càng thấy chán chường thêm cho kẻ sĩ có quan danh. Hồ là một trọng thần của triều Minh, lại giữ chức Tổng Đốc với kinh luân gồm đủ hẳn là văn võ toàn tài. Nhưng mưu mô lừa đảo thì quá bỉ ổi, lại còn ép vợ của tướng địch phải thị yến dưới màn để chuốc rượu nài hoa. Điều này một tướng lãnh biết trọng danh dự không ai làm. Đó là chưa kể nàng hết sức ghê tởm cho hạng quan lại bất công, chuyên ăn của lót như tên quan đã xử ép cha nàng.

Bên cạnh đó, một Từ Hải sáng rực hào quang trí dũng có thừa. Kiều gặp chàng mới đúng câu :

… “Trai anh hùng, gái thuyền quyên,

Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cỡi rồng”…

Qua kinh nghiệm bản thân trong suốt gần 10 năm lưu lạc phong trần, nàng nhìn được cái chân giá trị trong chí khí hào kiệt của Từ :

… “Thưa rằng lượng cả bao dong,

Tấn Dương được thấy mây rồng có phen,

Rộng thương nội cỏ hoa hèn,

Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau”…

Họ thật là ý hợp tâm đồng, vì Từ cũng nhận xét về nàng :

… “Khá khen con mắt tinh đời,

Anh hùng đoán giữa trần ai mới già”…

Chỉ có Từ Hải mới đích thực là ý trung nhân đánh giá đúng về nàng. Còn Kim Trọng chỉ là kẻ thấy hương thì luyến, thấy ngọc thì thương chứ không nhìn được tim óc của người đẹp.

Trong lần tái hợp này, thực tình mà nhận xét, thì cán cân tâm hồn của Kiều đã nặng về phía họ Từ mất rồi. Kim Trọng dù hiện diện bằng xương bằng thịt, cũng chỉ là cái bóng mờ của dĩ vãng. Chăn gối với chàng chắc gì có mặn nồng âu yếm, thà tìm cách từ chối còn hơn. Nếu ân ái, biết đâu Kim Trọng tìm hiểu được sự miễn cưỡng này, sẽ đau xót đến ngần nào.

Lại nữa, trong năm năm chung sống với Từ, tuy miệng đời cho là vợ của tướng giặc, nhưng cũng “Triều đình riêng một góc trời. Gồm hai văn võ rạch đôi sơn hà” với đầy đủ thể thức của bậc mẫu nghi thiên hạ. Dân chúng lại rất cảm phục sự nhân nghĩa của nàng. Đó cũng là một kỷ niệm khó quên.

So sánh như thế để thấy ẩn tình của nàng muốn thủ tiết với Từ, vì Từ mới thật là người chồng lý tưởng. Nhờ Từ mà nàng trả được oán ân đủ đầy. Từ chết thảm thương cũng vì nàng. Không thủ tiết mới chính là bội nghĩa. Dù nàng không có cái trinh để dâng hiến Từ, nhưng còn cái tiết phải giữ cho chàng. Cái tiết phụ đó là : lấy chồng phải theo chồng, vinh nhục cùng chồng, chồng chết thủ phận thờ chồng đúng theo đạo lý. Bây giờ hoàn cảnh có khác, tuy nàng không chính thức công bố thủ tiết với Từ, nhưng âm thầm cư xử như vậy bằng chính tâm hồn và thể xác của mình vẫn đỡ ân hận hơn.

Có thể người đời không biết, nhưng linh hồn Từ ắt biết. Chung chăn gối với Kim Trọng là làm đau lòng kẻ đã bỏ xác vì mình ! Biết đâu chẳng là như vậy đối với Từ ! Trong khi sự thủy chung của Kim Trọng đã được đền đáp bằng Thúy Vân kia rồi. Quả thật nàng nợ chàng Kim có ít, mà nợ với Từ thì lại quá nhiều…

Cho nên trước khi nại lý do “Chữ trinh còn một chút này…” để quyết định dứt khoát từ chối sự ăn nằm với Kim, nàng cũng đã thốt : Khéo là dở nhớp bày trò. Còn tình chi nữa là thù đấy thôi !” như muốn nói thẳng ra rằng :

“Nếu chàng nhất định đòi giao tiếp xác thịt thì chỉ là bày trò nhơ nhớp, khiến cái tình cũ mà thiếp đã từng dành cho chàng 15 năm về trước nay biến ra thù hận mà thôi ! Hãy để cánh hoa tàn này được phụng thờ linh hồn Từ Hải. Vì chính Từ đã từng vớt nó khi còn ở lầu xanh, đem nó về đưa lên ngôi tuyệt đỉnh, trân trọng nó, và chết đứng vì nó. Hãy giữ trong lòng cô Kiều ở tuổi cập kê, và để yên cho cái thể xác của Kiều sau 15 năm luân lạc này ! Chính đó là hai hình ảnh của một con người, nhưng xin đừng nhập nhằng lẫn lộn. Đừng phong thánh bằng những mỹ từ “lấy hiếu làm trinh” rồi cho cả hai vào làm một. Bắt cô Kiều sau phải trả nợ gối chăn cho cô Kiều trước bằng cái vỏ đạo đức luân thường, thì cũng bỉ ổi chẳng kém gì Hồ Tôn Hiến đã bắt nàng thị yến dưới màn… trong đêm thắng trận”.

Có người thắc mắc rằng sau khi Từ chết, nàng đã thất thân với hai kẻ khác nữa, đó là Tôn Hiến và Thổ Quan thì tiết hạnh còn đâu mà giữ ?

Ắt hẳn ai cũng biết đó là do ép buộc chứ lòng nàng đâu muốn. Phải đành nhắm mắt đưa chân mà thôi ! Vả có muốn chăng là cố ý tống mắt đưa tình với Hồ Tôn Hiến, để ép tên dâm quan này uống rượu mà bằng lòng cho cảo táng di hình thân thể Từ Hải chôn ở một mảnh đất xấu ven sông. Nếu không thì xác của Từ Hải phải phơi ngoài chiến địa, làm mồi cho quạ diều cùng thú dữ !

Biết đâu nàng cũng coi hai gã này như những bọn đã từng “vào trước ra sau” đối với nàng khi ở lầu xanh, để “Mặc người mưa Sở mây Tần. Riêng mình nào biết có xuân là gì ?”. Chắc Từ cũng hiểu mà thông cảm cho nàng.

Còn bây giờ, tuy cũng trong hoàn cảnh bị cha và gia đình ép buộc động phòng hoa chúc với Kim, nhưng còn chủ động tìm cách biến tình chồng vợ ra nghĩa bạn bè, để khuớc từ chăn gối được, tại sao không làm ?

Theo thiển kiến người viết, Kiều khéo lập luận “Chữ trinh còn một chút này”… để an lòng Kim Trọng, chứ thật sự bề trong nàng muốn thủ tiết với Từ. Nhìn rộng hơn, có lẽ đây cũng là tâm sự của Tiên Điền Tiên Sinh khi mà thể xác mặc triều phục nhà Nguyễn, nhưng trong lòng vẫn hoài vọng vua Lê.
Nhật Hồng Nguyễn Thanh Vân

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Nhật ký về Phùng Quán
Viên Linh
14 tháng 1, 1997 - Bốn mươi năm trước, báo Văn xuất bản tại Hà Nội, số 21 ra ngày 27 tháng 9, 1957, có đăng bài thơ Lời Mẹ Dặn của Phùng Quán.

Bút giấy tôi ai cướp giật đi -
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá
.

Hai câu thơ ấy như một tuyên ngôn của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm. Người viết tuyên ngôn lúc ấy mới 25 tuổi. Sau đó là tù đày, và ròng rã ba mươi năm sống như ngoi trên mặt nước, chỉ đủ sức để nhô lên để khỏi cái chết ngạt.
Hai năm trước, vào tháng này - 5 giờ chiều Thứ Bảy, 21 tháng 1 năm 1995, Phùng Quán từ trần tại Hà Nội. Trưa Thứ Ba, 24 tháng 1, trên 500 người đưa anh về an táng tại quê vợ ở Ô Cầu Giấy, đi trên hơn 10 chiếc xe vận tải, xe buýt, với 70 vòng hoa. Có mặt khi hạ huyệt là các nhà văn Nguyễn Hữu Ðang, Hoàng Cầm, Phùng Cung, Lê Ðạt, những người bạn từ thời Giai Phẩm. Nguyễn Hữu Hiệu không về được mặc dù từ năm 1978, Hiệu đã kết nghĩa huynh đệ với Phùng Quán, mặc dù năm 1993, anh Phùng Quán đã cùng vợ chồng Hiệu về Ðồng Văn thăm mộ thầy chúng tôi, trước khi Hiệu lo việc tảo mộ.
Ðời Phùng Quán có nhiều số 1. Anh ra đời tại xã Thùy Dương, thành phố Huế, trong tháng 1 năm 1932, đến tháng 1 năm 1946 gia nhập Vệ Quốc Ðoàn, khi mới 13 tuổi. Sau đó chuyển qua làm trinh sát Trung Ðoàn 101. Vào năm 1970 anh gửi truyện ngắn nhan đề “Như Con Cò Vàng Trong Cổ Tích” dự cuộc thi viết truyện ngắn do hãng APN Liên Xô tổ chức và được trao giải nhất. Cũng vào tháng 1, đúng hai năm trước đây, anh lìa đời.
Thuở Nhân Văn, Giai Phẩm, bài Phùng Quán được anh em trong nhóm gọi là bom nguyên tử. Khi phong trào bị trù dập, tác giả bài “Thơ Cái Chổi” chống tham ô lãng phí đi tù. Sau khi ở tù ra, cũng không được chính thức cầm bút trở lại, do đó anh đã phải viết kiếm sống dưới 30 bút hiệu khác nhau. Nhưng đối với anh, thơ vẫn là chốn trú ẩn cuối cùng: “Thơ là mạng sống, là lý lịch đời tôi.” Hay “có những lúc ngã lòng, tôi vịn thơ mà đứng dậy.”
Căn nhà nhỏ anh chị Phùng Quán-Vũ Bội Trâm ở vốn trước kia là cái chuồng ngựa, số 10 đường Thụy Khuê, trước Hồ Tây, trong khuôn viên trường Chu Văn An. Anh gọi nhà anh là Chòi Ngắm Sóng. Ðời sống nhà thơ đã được kể lại phần nào trong bài “30 Năm Cá Trộm, Rượu Nợ, Văn Chui,” thơ hơn là trong bài “Ðêm Nghi Tàm Ðọc Ðỗ Phủ Cho Vợ Nghe.” Anh nói về thơ Ðỗ Phủ mà như nói về thơ mình:

Ðỗ Phủ tự Tử Mỹ
Thường xưng già Thiếu Lăng
Sinh ở miền Ðất Củng
Cách ta hơn ngàn năm

Thơ ai như thơ ông
Lặng im mà gầm thét
Trang trang đều xé lòng
Câu câu đều đầm huyết.

Thơ ai như thơ ông
Kể chuyện mái nhà tốc
Vác củi làm chuồng gà
Ðọc lên trào nước mắt!

Thơ ai như thơ ông
Mỗi chữ đều như róc
Từ xương thịt cuộc đời
Từ bi thương phẫn uất!
(1969)

Trực tiếp hơn, Phùng Quán nói về mình:

Là nhà văn
Tôi đã viết suốt ba mươi năm
Là chiến sĩ
Tôi là xạ thủ cấp kiện tướng trung đoàn
Tôi có thể viết như bắn!
Trên giấy không kẻ dòng
Nhưng tôi vẫn viết trên giấy có dòng
Như cái thuở vỡ lòng tập viết.
Với nhiều người
Giấy không kẻ dòng
Dễ viết đẹp
Nhưng với tôi
Không có gì đẹp hơn
Viết ngay và viết thẳng.


Và đây là tuyên ngôn thời 70, khi Phùng Quán làm bài “Dịch Thơ Essenhin.” (Theo chú thích của tác giả, Essenhin thắt cổ tự tử năm 30 tuổi, vào năm 1925; trước khi chết cắt máu ngón tay viết hai câu tuyệt mệnh: “Ở cuộc đời này chết chẳng có gì mới. Nhưng sống cũng chẳng có gì mới hơn!” Cũng vẫn theo Phùng Quán, nhà thơ Mai-a (Vladimir Mayakovsky) tin rằng Essenhin chết vì tuyệt vọng - song sau đó chính Mai-a cũng tự sát chết năm 37 tuổi. Phùng Quán làm bài “Dịch Thơ Essenhin” như sau, và theo tôi, bài này là một tuyên ngôn nữa của Phùng Quán:

Cả triệu người, nửa thế kỷ qua
Trong đó có cả Mai-a
Ðều tin Essenhin tự sát vì tuyệt vọng
Nhưng tôi không tin, tôi biết
Vì sao Essenhin tự giết

Khi anh thấy thơ không đủ sức mạnh
Ðể tiêu diệt cái cũ
Anh phải lấy máu anh, hồn anh, thân xác thiên tài của anh
Ðúc chiếc chuông-thơ-cảnh-tỉnh
Sống là phải mới không ngừng
Nếu không
Thì cả thơ và đất nước đứng trên bờ vực chết!
(Dịch thơ Essenhin, 1970)


Năm 1950, rời bỏ nơi chôn rau cắt rốn, ga Ðồng Văn lên Hà Nội trọ học, không phải tôi chỉ rời bỏ quê làng, mà không biết rằng từ lúc đó con đã bỏ lại mộ thầy. Ðã 47 năm qua, (tới 1997) chưa một lần bái mộ, cho nên khi nhìn thấy tấm hình anh Phùng Quán ngồi nhổ cỏ dại trước mộ phụ thân mình, tôi đã kìm dòng lệ, không cho các em tôi biết. Chưa kịp viết thư cảm ơn anh, anh đã qua đời. Yêu ai cứ bảo là yêu, ghét ai cứ bảo là ghét, hai câu thơ ấy cũng là châm ngôn. Bài thơ “Lời Mẹ Dặn” của anh nói theo cách nói của Lê Quí Ðôn - đáng gọi là Bài Châm Bên Mình. Anh viết châm cho người, thật ra cũng là viết châm cho mình:

Là nhà văn và xạ thủ
Tôi biết
Khó vô cùng bắn trăm phát trúng cả trăm
Nhưng càng khó hơn
Viết trọn một đời văn
Dòng đầu thẳng ngay như dòng cuối.
(Tôi Thích Viết Trên Giấy Có Kẻ Dòng, 1984)


(Ðể nói rõ hơn vì sao có việc gặp gỡ giữa nhà thơ Phùng Quán và dịch giả Nguyễn Hữu Hiệu, nguyên trưởng ban Tu thư Viện Ðại Học Vạn Hạnh, người viết bài này xin trích vài đoạn thư Phùng Quán gửi Nguyễn Hữu Hiệu)
Hà Nội, sáng 25 tháng 2 (1978) - Hiệu biết không, vào tháng 8 năm 1975, mình đã nằm ngủ ở cái giường mà Hiệu đã ngủ rồi đó. Hồi đó mình vào Vạn Hạnh thăm Thượng Tọa (Minh Châu), gặp Chân Nguyên, Chân Hạnh Nhiều buổi trưa, đêm, mình nằm ngủ trên cái giường thoảng mùi ẩm mốc đó, tò mò đọc những giấy tờ rơi vãi Hiệu để lại. Và trong những ngày đó, mình đọc những lời bạt của Hiệu viết về Ðốt. (Dostoievsky), bản dịch Vĩnh Biệt Tình Em (Dr. Jivago của Boris Pasternak), những trang thơ Jivago Hiệu dịch. Chơn Nguyên còn cho mình một bản Bác Sĩ Jivago, có nhiều chỗ sửa chữa của Hiệu, chuẩn bị cho một bản dịch mới. Bản sách này mất mấy chục trang cuối, hiện nay mình còn giữ
Mình quê ở Huế, năm nay đã 46 tuổi.

Chòi Ngắm Sóng 2 giờ sáng ngày 31 tháng 9, 1990 - Hai hôm nay Hà Nội mưa tầm tã, mình ngồi trên Chòi Ngắm Sóng nhìn Hồ Tây phủ mưa, nghĩ đến Hiệu 15 năm trôi qua - cuốn sách (Jivago) mình vẫn còn giữ trong tủ sách của mình. Cách đấy hai năm Jivago được Hà Nội in. Cuộc sống của mấy anh em chúng mình ở đây (Trần Dần, Văn Cao, Hoàng Cầm) không còn cam go như cái hồi 56, 57... Nhưng những ngày đó chính là những ngày sống đẹp nhất, trọn vẹn nhất của mấy anh em.

Hồ Tây sáng sớm, đầy gió 24 tháng 11, 1993
Hai em Dung Hiệu và cháu Siêu Việt
Anh gửi kèm theo đây tờ báo Pháp Luật đăng bài phản ứng về việc phá bỏ núi Giả Sơn - Cảnh tượng rất hoang tàn - Hai em nhìn thấy chắc phải khóc.
Anh đã gặp T.T. cho biết đã về Ðồng Văn gửi tiền cho ông chú xây mộ cho cu ỳ- Trong tuần sắp đến T. sẽ về tận nơi xem xét và sẽ chụp ảnh gửi sang cho hai em yên tâm.”
Bài thơ sau đây là một trong những di cảo của Phùng Quán để lại:

Mời bạn

Tôi muốn mời bạn đến thăm nhà tôi
Bạn thích đến lúc nào tùy bạn
Cửa nhà tôi bốn mùa mở rộng
Chim trời
Thánh hiền
Du đãng
Bước qua ngưỡng cửa nhà tôi đều là thượng khách [à]

Vĩ nhân
Anh hùng
Người đẹp
Những người từng khuynh đảo thế gian
Ðều trở thành tro bụi
Chỉ có thiên nhiên
Rượu
Thơ
Tình bạn
Là bất tử.

Phùng Quán, Hồ Tây sáng sương mù.

(Viên Linh, Hồi Ký Văn Học, chưa hoàn tất)

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Bàn tay của mẹ, bài học của con, câu chuyện về lòng biết ơn


Một thanh niên học hành xuất sắc nộp đơn vào chức vụ quản trị viên cho một công ty lớn. Anh ta vừa xong buổi phỏng vấn đầu tiên, ông giám đốc phỏng vấn lần cuối để quyết định nhận hay không nhận anh ta.

Viên giám đốc khám phá học bạ của chàng thanh niên, tất cả đều tốt và năm nào, từ bậc trung học đến các chương trình nghiên cứu sau đại học, cũng đều xuất sắc, không năm nào mà anh chàng thanh niên không hoàn thành vượt bực.

Viên giám đốc hỏi “Anh đã được học bỗng nào của trường?” Chàng thanh niên đáp “Thưa không”

Viên giám đốc hỏi “Thế cha anh trả học phí cho anh đi học?” Chàng thanh niên đáp “Cha tôi chết khi tôi vừa mới một tuổi đầu. Mẹ tôi mới là người lo trả học phí”

Viên giám đốc lại hỏi “Mẹ của anh là việc ở đâu?” Chàng thanh niên đáp “Mẹ tôi làm việc giặt áo quần”. Viên giám đốc bảo chàng thanh niên đưa đôi bàn tay cho ông ta xem. Chàng thanh niên đưa hai bàn tay mịn màng và hoàn hảo của chàng cho ông giám đốc xem.

Viên giám đốc hỏi “Vậy trước nay anh có bao giờ giúp mẹ giặt giũ áo quần không?” “Chưa bao giờ, mẹ luôn bảo tôi lo học và đọc thêm nhiều sách. Hơn nữa, mẹ tôi giặt áo quần nhanh hơn tôi.” Chàng thanh niên đáp.

Viên giám đốc dặn chàng thanh niên “Tôi yêu cầu anh một việc. Hôm nay khi trở lại nhà, lau sạch đôi bàn tay của mẹ anh, và rồi ngày mai đến gặp tôi. ”

Chàng thanh niên cảm thấy khả năng được công việc tốt này rất là cao. Khi vừa về đến nhà, chàng ta sung sướng thưa với mẹ để được lau sạch đôi bàn tay của bà. Mẹ chàng cảm thấy có gì đó khác lạ, sung sướng, nhưng với một cảm giác vừa vui mà cũng vừa buồn, bà đưa đôi bàn tay cho con trai xem.

Chàng thanh niên từ từ lau sạch đôi bàn tay của em. Vừa lau, nước mắt chàng tuôn tràn. Đây là lần đầu tiên chàng thanh niên mới khám phá đôi tay mẹ mình, đôi bàn tay nhăn nheo và đầy những vết bầm đen. Những vết bầm làm đau nhức đến nỗi bà đã rùng mình khi được lau bằng nước. Lần đầu tiên trong đời, chàng thanh niên nhận thức ra rằng, chính từ đôi bàn tay giặt quần áo mỗi ngày này đã giúp trả học phí cho chàng.
Những vết bầm trong tôi tay của mẹ là giá mẹ chàng phải trả cho ngày chàng tốt nghiệp, cho những xuất sắc trong học vấn và cho tương lai sẽ tới của chàng.

Sau khi lau sạch đôi tay của mẹ, chàng thanh niên lặng lẽ giặt hết phần áo quần còn lại của me.

Tối đó, hai mẹ con tâm sự với nhau thật là lâu. Sáng hôm sau, chàng thanh niên tới gặp ông giám đốc.

Viên giám đốc lưu ý những giọt nước mắt chưa ráo hết trong đôi mắt của chàng thanh niên, và hỏi “Anh có thể cho tôi biết những gì anh đã làm và đã học được hôm qua ở nhà không?”

Chàng thanh niên đáp “Tôi lau sạch đôi tay của mẹ, và cũng giặt hết phần áo quần còn lại.” Viên giám đốc hỏi “Cảm tưởng của anh ra sao?”

Chàng thanh niên đáp, “Thứ nhất, bây giờ tôi hiểu thế là ý nghĩa của lòng biết ơn; không có mẹ, tôi không thể thành tựu được như hôm nay.
Thứ hai, qua việc hợp tác với nhau, và qua việc giúp mẹ giặt quần áo, giờ tôi mới ý thức rằng thật khó khăn và gian khổ để hoàn tất công việc.
Thứ ba, tôi biết ơn sự quan trọng và giá trị của quan hệ gia đình.”

Viên giám đốc nói, “Đây là những gì tôi tìm kiếm nơi người sẽ là quản trị viên trong công ty chúng tôi. Tôi muốn tuyển dụng một người biết ơn sự giúp đở của những người khác, một người cảm thông sự chịu đựng của những người khác để hoàn thành nhiệm vụ, và một người không chỉ nghĩ đến tiền bạc là mục đích duy nhất của cuộc đời. Em được nhận.”

Sau đó, chàng thanh niên làm việc hăng say, và nhận được sự kính trọng của các nhân viên dưới quyền. Tất cả nhân viên làm việc kiên trì và hợp tác như một đội. Thành tựu của công ty mỗi ngày được nhiều cải thiện.

Một đứa bé, được che chỡ và có thói quen muốn gì đước nấy, có thể sẽ phát triển “tâm lý đặc quyền” và sẽ luôn nghĩ đến mình trước. Hắn sẽ thờ ơ về các nỗ lực của cha mẹ.
Khi làm việc, hắn giả thiết rằng mọi người phải vâng lời hắn, và khi trở thành một quản trị viên hắn có thể sẽ không bao giờ biết sự chịu đựng của các nhân viên dưới quyền và luôn đổ thừa cho người khác.

Đối với loại người này, có thể học giỏi, có thể thành công một thời gian ngắn nhưng thật sự sẽ không cảm nhận được ý nghĩa của thành tựu. Hắn sẽ cằn nhằn, lòng chất đầy oán ghét và đấu tranh để có được nhiều thứ cho mình. Nếu chúng ta thuộc loại cha mẹ chuyên bao che con cái như thế này, phải chăng chúng ta đang cho chúng thấy tình thương của cha mẹ hay thay vì đang tàn phá chúng?

Bạn có thể cho con cái sống trong những căn nhà lớn, ăn thức ăn ngon, học dương cầm, xem TV màn ảnh rộng. Nhưng khi chúng ta cắt cỏ, xin vui lòng cho chúng làm việc đó. Sau bữa cơm, hãy để chúng rữa chén bát cùng với anh chị em chúng. Không phải vì các bạn không có tiền để mướn người làm trong nhà, nhưng bởi vì bạn nên thương con đúng cách.

Bạn muốn chúng hiểu rằng, bất kể cha mẹ giàu có cỡ nào, một ngày tóc họ cũng sẽ bạc như mẹ của người bạn trẻ kia. Điều quan trọng nhất là con cái của bạn học để biết hơn sự khó khăn, học khả năng cùng làm việc với những người khác để hoàn thành công việc.

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

Image
Tình sử Bùi Giáng - Kim Cương: Duyên nợ

Cõi đời một kiếp yêu em
Dẫu là bỏ cuộc , mộng tìm dáng xưa


Kỳ nữ Kim Cương chiếm một vị trí đặc biệt trong cuộc đời, trong tâm hồn và trong sáng tác của Bùi Giáng. Trong tâm hồn ông, Kim Cương là "đệ nhất mỹ nhân" trong thiên hạ. Ông yêu Kim Cương bằng một tình yêu lạ lùng nhất thế gian. Chỉ có thể nói đó là một tình yêu bất tử. Đã có rất nhiều giai thoại xung quanh mối tình kỳ bí này.

Đối với Kim Cương, tuy là mối tình đơn phương từ phía Bùi Giáng, nhưng nữ nghệ sĩ đã rất trân trọng tình yêu của ông, một sự trân trọng vô cùng cảm động và hiếm thấy. Nhiều năm qua, nghệ sĩ Kim Cương có những lý do riêng nên đã không lên tiếng một cách chính thức. Lần đầu tiên, bà tiết lộ với Báo Thanh Niên một số sự thật về thiên tình sử này, vì đã đến lúc bà không còn lý do để tiếp tục im lặng... Chúng tôi tạm gác những phần cuối của loạt bài Bùi Giáng - thi sĩ kỳ dị để giới thiệu riêng cùng bạn đọc những tiết lộ của Kim Cương. Chúng tôi xin tỏ lòng biết ơn nghệ sĩ Kim Cương. Những tiết lộ này sẽ giúp cho công chúng hiểu rõ hơn con người và sự nghiệp của một thi sĩ độc đáo vào bậc nhất của đất nước.

Có lẽ trong cuộc đời của thi sĩ Bùi Giáng, ngoài chuyện văn chương ra thì chuyện tình đơn phương của ông với NSƯT Kim Cương là nổi bật nhất, kỳ lạ nhất, và cũng cảm động nhất. Kim Cương còn giữ rất nhiều bài thơ của ông viết tặng riêng bà, cả hình ảnh nữa, nhưng từ lâu bà từ chối mọi lời yêu cầu của các tờ báo, nhà xuất bản xin được phát hành, đặc biệt sau khi Bùi Giáng vừa qua đời nhiều đơn vị còn đặt vấn đề "mua" những tấm ảnh, tập thơ đó. Bà nói: "Tôi không muốn đem tình cảm của Bùi Giáng ra đánh bóng tên tuổi của mình hoặc làm gì đó có dấu ấn kinh doanh. Dù tôi không yêu ông, nhưng tôi trân trọng tình yêu của ông. Tuy nhiên, bây giờ sau loạt bài của Báo Thanh Niên, tôi thấy đây không còn là chuyện riêng tư nữa, mà Bùi Giáng là một sự kiện văn học chung của đất nước, cần có thêm nhiều thông tin về ông. Và vì không lên tiếng nên có những thêu dệt không đẹp cho Bùi Giáng, vì vậy tôi chỉ muốn nói rõ một vài sự thật để người ta hiểu đúng ông hơn".

Kim Cương biết Bùi Giáng lúc bà khoảng 19 tuổi, còn theo đoàn cải lương của má Bảy Nam nhưng đã được mệnh danh là "kỳ nữ". Thật ra, ông chú ý đến bà trong một đám cưới của đôi bạn Hạnh - Thùy. Sau đám cưới, một hôm Thùy bảo Kim Cương: "Có một ông giáo sư Đại học Văn khoa, đi học ở Đức về, ái mộ chị lắm, muốn đến nhà thăm chị". Kim Cương trả lời: "Ừ, thì mời ổng tới". Hóa ra là Bùi Giáng, lúc ấy đang dạy học, cũng áo quần tươm tất chứ chưa có "điên điên" như sau này. Bùi Giáng lui tới, mời Kim Cương lên xe đạp ông chở đi chơi, rồi cả cầu hôn, nhưng bà đều né tránh. Bởi sau vài lần tiếp xúc, bà thấy ở ông toát lên cái gì đó "kỳ kỳ", bất bình thường, nên bà sợ. Đeo đuổi mãi không được, Bùi Giáng thở dài nói: "Thôi, chắc cô không ưng tôi vì tôi lớn tuổi hơn cô (Bùi Giáng lớn hơn Kim Cương mười mấy tuổi), vậy cô hứa với tôi là sẽ ưng thằng cháu của tôi nhé. Nó trẻ, lại đẹp trai, học giỏi". Kim Cương ngần ngừ: "Thưa anh, chuyện tình cảm đâu có nói trước được. Tôi không dám hứa hẹn gì đâu, để chừng nào gặp nhau hẵng tính...". Ý bà muốn hoãn binh. Nhưng Bùi Giáng đã đùng đùng dắt cháu tới. Trời ơi, hóa ra đó là thằng nhỏ mới... 8 tuổi. Kim Cương hết hồn, thôi rồi ổng đúng là không bình thường!

Từ đó, mỗi năm Bùi Giáng mỗi bệnh nặng hơn. Ông không có vợ con, suốt ngày đi lang thang ngoài đường, hò hét, rồi cứ địa chỉ nhà Kim Cương mà tới. Thằng bé Toro con của Kim Cương lúc ấy khoảng 5 tuổi, thường trố mắt ra nhìn ông, và hỏi: "Mẹ ơi, sao bác này giống cái xe hoa quá?". Tư duy trẻ con thật ngộ nghĩnh, nhưng lại rất chính xác. Thì trên người Bùi Giáng có đủ thứ: nào hộp lon treo lủng lẳng, nào lá cờ giắt sau lưng, nào nhánh cây, vòng hoa trên đầu... cả một nải chuối đeo thường xuyên trên cổ. Không mở cửa cho ông vào là ông la hét, đập cửa, chửi um sùm, ném đá nữa, khiến hàng xóm náo động. Nhưng riết rồi quen, mỗi lần ông tới nhà Kim Cương ai nấy đều cười. Má Bảy Nam ở trên lầu chỉ cần nghe la rùm beng, đập cửa ầm ầm, là hỏi: "Bùi Giáng phải không?". Nhiều lần ông say khướt, nằm ịch xuống gốc cây trước nhà Kim Cương, mọi người phải khiêng vào. Bà lắc đầu: "Sợ ổng chết. Tướng tá vầy có thể chết bất cứ lúc nào. Nhưng khiêng vô rồi cũng sợ rủi ổng chết trong nhà mình. Mà điều, không nỡ bỏ ổng lăn lóc ngoài đường, thấy tội quá".

Nhưng điều hay nhất là mỗi khi vô nhà Kim Cương ông lại sáng tác thơ để tặng bà. Tiện tay xé bất cứ tờ giấy, tờ lịch nào là ông viết ào vô đó. Nguồn thơ yêu cứ tuôn trào như suối, không vơi cạn theo năm tháng. Về sau, khi ông "quậy" quá thì Kim Cương nghĩ ra cách, không mở cửa, mà lòn một cuốn sổ ra khe cửa cho ông viết thơ. Ông hí hoáy một hồi, rồi vui vẻ bước đi. Suốt 40 năm, cả chục cuốn sổ tay đã đầy ắp chữ của ông, chỉ riêng tặng "nương tử Kim Cương". Bà trân trọng gìn giữ trong ngăn tủ. Những vần thơ yêu với nét chữ ngả nghiêng chệnh choạng nhưng hồn nhiên say đắm lạ kỳ.

- Kính thưa nương tử Kim Cương
Tấm lòng rộng mở phi thường bấy nay
Ngàn năm điêu đứng đọa đày
Thiên thu sử lịch cau mày về sau
Thưa em đời mộng dạt dào
Tình yêu vô tận yêu đào vô biên

- Kể từ tao ngộ đầu tiên
Kim Cương vô tận, thuyền quyên vô cùng
Bốn mươi năm đã lẫy lừng
Âm thầm tưởng niệm lạ lùng giai nhân
Trái tim thiết thạch vô ngần
Từ tam thu tới tử phần hôm nay
Kể từ sử lịch xa xuôi
Bất ngờ một bận bùi ngùi yêu em

Lang thang vạn dặm độc hành
Cẫm nang bỏ cuôc đời miǹh trao em


Image

Tình sử Bùi Giáng - Kim Cương:
"Quyền lực" của Kim Cương


Phải nói là Kim Cương có "quyền lực" rất lớn đối với Bùi Giáng. Cứ nghe tên bà là ông trở lại ngoan ngoãn như một đứa trẻ con. Một lần, ông làm "chim bay cò bay" giữa phố, gây ách tắc giao thông, công an tới lôi ông vào cũng không được.

Tình cờ có ông bạn Đoàn Thạch Hãn trông thấy, thế là anh ta rỉ tai ông: "Kim Cương nhắn ông tới nhà kìa!". Lập tức ông riu ríu đi theo Đoàn Thạch Hãn.

Ông còn "ái mộ" bà theo kiểu "kinh khủng" của ông. Người ta ái mộ thì xin chữ ký, xin hình, còn ông thì xin... quần. Ông tới nhà nằng nặc đòi bà cho ông cái quần. Bà lấy quần của cậu Toro nay đã lớn cỡ ông mặc vừa. Ông giãy nảy không chịu, đòi cái quần của Kim Cương mới được. Bà bực quá, đưa thiệt. Lập tức ông mặc vô và rồi không chịu thay ra. Tắm xong, mặc lại. Tỉnh bơ.

Và sau này khi ông ở nhờ nhà anh Hoài - cháu gọi ông bằng bác họ - tại Gò Vấp, thì cũng chỉ Kim Cương là người phụ nữ duy nhất được ông cho phép bước vào nhà. Nhiều lần, các bạn thơ nữ có ghé thăm ông, nhưng vừa mới nghe cháu vô báo tin là ông đã la hét om sòm, đuổi họ như đuổi tà: "Chỉ có tiên nữ Kim Cương mới được bước tới đây. Đi ra! Đi ra hết!".

Nghệ sĩ Kim Cương nói: "Tôi rất trân trọng tài năng của ông, nhưng phải nói thật là ông điên nặng, nhưng là cái điên trí tuệ, nói ra nhiều câu cực kỳ sâu sắc". Thỉnh thoảng, khi ông hơi tỉnh thì Kim Cương cũng ngồi bàn chuyện thơ văn với ông cho ông vui. Những lúc ấy, ông gọi bà bằng "cô" đàng hoàng chứ không "nương tử", không "Hằng Nga" gì hết. Nhưng có một lần, ông làm bà hết hồn. Hai người bàn luận đến Kiều, bà đọc mấy câu lỡ có sai một chút, ông liền đập bàn, la hét, nhảy dựng lên: "Tại sao Kiều mà cô nói sai như vậy? Câu vậy mà cô nói là của Kiều hả?". Thấy ông trợn mắt giận dữ, bà cứ ngỡ ông sắp bóp cổ mình tới nơi. Bà quên mất rằng ông cũng yêu Kiều say đắm như yêu bà.

Có một chuyện nhỏ, nhưng cảm động. Kim Cương nói rằng Bùi Giáng có đóng phim gì nữa đó, chắc đóng vai phụ nho nhỏ thôi. Kim Cương nhớ khi ông lãnh tiền thù lao, liền mua hai trái xoài đem tới cho bà. Rất dễ thương.

Kim Cương bùi ngùi nhớ lại: "Suốt 40 năm, ông đối với tôi như một người yêu đơn phương, thì ngược lại, tôi đối với ông như chỗ dựa tinh thần, bất cứ lúc nào nghe ông đau ốm hay bị công an bắt, bị người ta đánh là tôi có mặt". Bởi đơn giản, trong đầu Bùi Giáng chỉ có một số điện thoại duy nhất, một địa chỉ duy nhất, đó là địa chỉ và số điện thoại của Kim Cương. Nhiều lần ông đứng giữa đường dang tay la hét, làm kẹt xe, công an tới bắt, hỏi cách gì ông cũng chỉ nói một câu: "Thân mẫu tôi là Kim Cương, ở số... Hoàng Diệu, điện thoại 844...". Thế là công an réo gọi Kim Cương. Bà đi lãnh ông ra. Chuyện đó xảy ra không biết bao nhiêu lần. Có khi ông bị té, bị thương, người ta chở vô bệnh viện, ông cũng chỉ "khai báo" y như vậy. Bệnh viện lại réo bà. Bà lại đến. Hoặc những lúc ông lên cơn, có khi vô quậy cả đám cưới nhà người ta, bị người ta đánh, bà lại đến đưa ông về. Có lần, ông xuất hiện trước nhà bà với tóc tai mặt mũi đầy máu vì mới bị ai đó đánh, bà hoảng hốt gọi xích lô cho ông đi cấp cứu. Ông không chịu: "Chừng nào cô đi với tôi thì tôi mới đi". Ừ, thì đi. Kim Cương gọi chiếc xích lô chở ông, vừa ngồi xe ông vừa nói vung vít, mặc cho Kim Cương chịu trận.

Và như thường lệ, trong cơn điên điên tỉnh tỉnh, ông lại tiếp tục làm thơ yêu qua cuốn sổ nhỏ nhét vào khe cửa nhà bà:

- Yêu nhau từ bấy tới nay
Xiết bao tâm sự từ ngày qua đêm
Thưa em nương tử dịu mềm
Bốn mươi năm lẻ êm đềm vô biên
- Đầu tiên tiên nữ Kim Cương
Cuối cùng muôn một phi thường Cương Kim
Cúi đầu bái tạ tình em
Về sau vĩnh viễn êm đềm thương nhau
- Làm thơ tiếp tục yêu em
Ồ Kim Cương ạ êm đềm vô song
Kể từ lịch kiếp long đong
Anh điêu tàn tới thong dong bây giờ
...

Hư vô và vĩnh viễn

Cũng vô lý như lần kia dưới lá
Con chim bay bỏ lại nhánh khô cành
Đời đã mất tự bao giờ giữa dạ
Khi lỡ nhìn viễn tượng lúc đầu xanh
Buổi trưa đi vào giữa lòng lá nhỏ
Tiếng kêu kia còn một chút mong manh
Dòng nức nở như tia hồng đốm đỏ
Lạc trời cao kết tụ bóng không thành
Lá cũng mất như một lần đã lỡ
Trời đã xanh như tuổi ngọc đã xanh
Trời còn đó giữa tháng ngày lỡ dở
Hồn nguyên tiêu ai kiếm lại cho mình
Đường vất vả vó ngựa chồn lảo đảo
Cồn sương đi vào sương lạnh miên man
Bờ bến cũ ngậm ngùi sông nước dạo
Đêm tàn canh khắc ngợi nguyệt gương ngàn
Một lần đứng lên mấy lần ngồi xuống
Ngón trên tay và tóc xõa trên đầu
Tình đếm lại muôn vàn thôi đã uổng
Để bây giờ em có biết nơi đâu
Bờ trùng ngộ một phen này phen nữa
Tờ cảo thơm như lệ ứa pha hồng
Hồn hoa cỏ Phượng Thành Hy Lạp úa
Nghe một lần vĩnh viễn gặp hư không


Tình sử Bùi Giáng -
Kim Cương: Ba lời cảm tạ của Kim Cương


Bùi Giáng về ở nhà của anh Hoài vào khoảng năm 1978, thì đến khoảng 1992 đã hơi tỉnh tỉnh. Nhà thơ Trụ Vũ thường ghé chơi với ông. Một lần Trụ Vũ bảo: "Kim Cương hẹn ngày mai lên thăm anh". Thế là suốt đêm ông không ngủ. Sáng dậy, ông đi tới đi lui, đứng ngồi không yên, và càu nhàu: "Cái thằng Trụ Vũ, chừng nào lên thì lên, nhắn nhe làm chi cho người ta sốt ruột".

Anh Hoài còn tiết lộ ông phải giả vờ uống một tí rượu để đóng vai "say", như thế khi Kim Cương lên thăm ông mới có cớ đi ngả nghiêng cho Kim Cương dìu đỡ. Nhưng có lần uống mãi, uống mãi, rồi say thật lúc nào chả biết, khi Kim Cương đến nơi thì ông đã... ngủ khò.

Một bữa, Kim Cương đến nhà, tặng ông đóa hoa hồng. Ông sung sướng quá. Kim Cương về rồi, ông hỏi anh Hoài: "Làm sao giữ được hoa tươi mãi hè?". "Ba ngày là nó héo thôi bác ơi!". "Trời ơi, của Kim Cương tặng tao, phải giữ hoài chớ bây!". "Con có cách. Đem hoa trút ngược xuống thì sẽ giữ giùm bác được vài tháng". Đúng là giữ được vài tháng, đến khi hoa đã khô nát ông mới đành lòng chia tay.

Gần 60 tuổi, ông tới nhà bà với đôi mắt nheo nheo không nhìn thấy rõ. Bà dắt ông đi mua cặp kính lão. Nhưng chỉ một tháng sau, ông xuất hiện với một bên tròng kính bị bể vì người ta đánh. Bà dỗ ngọt: "Tôi mua cho anh kính mới nghen". Ông lắc đầu: "Thôi cô, nhìn đời bằng một con mắt đủ rồi".

Bốn, năm năm cuối đời, ông gần như tỉnh hẳn, và cứ sáng mùng 1 Tết là ông xông đất nhà Kim Cương. Riết rồi biết ý, đêm giao thừa Kim Cương tự xông đất trước cho mình, để tảng sáng mở cửa đón ông vào. Ông vô nhà, ngồi bệt xuống nền, không bao giờ chịu ngồi trên ghế. Rồi ông lì xì cho Kim Cương, khi 5.000đ, khi 10.000đ. Bà xẻ dưa hấu đãi ông ăn. Ông hớn hở trong sự nâng niu của bà.

Kể ra, đâu chỉ có Bùi Giáng kiên nhẫn và thủy chung với kỳ nữ Kim Cương, mà chính Kim Cương cũng đã đáp lại mối tình đơn phương của Bùi Giáng một cách chân thành và kiên nhẫn, thủy chung suốt 40 năm, gần giống một người chị, một người mẹ. Cho nên, có người nói với bà: "Chắc kiếp trước Bùi Giáng mắc nợ bà!". Bà đáp vui trở lại: "Hổng biết ổng mắc nợ tui hay tui mắc nợ ổng!". Những lúc tỉnh táo, ông nói: "Cô nhơn hậu lắm cô mới chịu nói chuyện với tôi tới giờ này!". Nhân đó bạn bè hỏi: "Kim Cương có cái gì mà anh thương dữ vậy?". Ông đáp: "Lúc tôi gặp cô trong đám cưới của Hạnh - Thùy, cô mặc cái áo dài lụa trắng, tôi thấy hào quang tỏa tỏa ra, tới bây giờ vẫn còn tỏa".

15 ngày trước khi chết, Bùi Giáng đến nhà Kim Cương để lại mấy câu thơ như báo trước điềm chia ly:

- Thương yêu có lẽ như là
Nghi ngờ nhau mãi vẫn là Kim Cương

- Ông đi đau xiết vui buồn
Một mình ở lại muôn trùng em yêu


Rồi ông té, chấn thương sọ não, chở vào Bệnh viện Chợ Rẫy. Người đầu tiên gia đình gọi đến là Kim Cương. Kim Cương nói: "Lần đầu tiên tôi thấy Bùi Giáng sạch sẽ. Đầu cạo sạch, không còn mớ tóc bù xù nữa. Và quần áo bệnh viện thì trắng bong. Cho nên tôi nhìn ổng không ra, cứ chạy đôn chạy đáo khắp các phòng tìm ổng". Những đứa cháu xin bà cho ý kiến. Bà đồng ý để bác sĩ phẫu thuật cho ông dù chỉ còn 1% hy vọng.

Nhưng rồi Bùi Giáng đã ra đi. Trước mộ ông trước giờ hạ huyệt, Kim Cương nhẹ nhàng thủ thỉ:

"Thưa Bùi Giáng! Đời ông là một đời giang hồ, nhưng mọi người vẫn mến thương ông, chắc ông cũng mãn nguyện rồi. Riêng tôi có 3 điều cảm ơn ông. Thứ nhất, ông đã để lại một sự nghiệp thơ cho đời. Thứ hai, cảm ơn mối tình 40 năm ông dành tặng tôi, tới giờ tôi có thể nói đó là mối tình lớn, ông là người yêu tôi chung thủy nhất, lâu dài nhất. Thứ ba, cảm ơn vì ông đã cho tôi một bài học, rằng dù điên hay tỉnh, giàu hay nghèo, già hay trẻ, trong lòng mỗi người cũng phải có một mối tình để sống".

Nhưng chắc gì Bùi Giáng đã chịu xa lìa Kim Cương. Ông còn một lời nhắn nhủ viết trong cuốn sổ tay tại nhà Kim Cương:

"Kiếp sau gặp lại nhau, anh Bùi Giáng chỉ mong được Kim Cương chấp thuận cho phép anh Bùi được làm đầy tớ trung thành tuyệt đối của Kim Cương".

Và:

Vô ngần tao ngộ đầu tiên
Em bao giờ biết anh phiền ưu sao
Yêu em từ những kiếp nào
Về sau cũng niệm nguyên màu ban sơ.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Trúc Phương, vị ‘hoàng tử lầm than của những tình khúc đổ vỡ, chìa lìa’

Du Tử Lê
Nếu không kể những cái chết uất nghẹn của người tù cải tạo trong những trại tù từ Nam ra Bắc; những cái chết mất xác kinh hoàng hàng loạt của những người vượt biên và; những cái chết bi thảm, đôi khi của cả một gia đình vì tuyệt vọng, đói khổ thì, biến cố 30 tháng 4, 1975 cũng là nguyên nhân đưa tới nhiều cái chết thương đau cho một số văn nghệ sĩ thuộc 20 năm văn học, nghệ thuật miền Nam.

Trong số những cái chết không nhắm mắt trong giới văn nghệ sĩ miền Nam, được dư luận nhắc nhở nhiều, có thể kể tới cái chết rất sớm của nhà thơ Trần Việt Hoài. Ông còn được biết qua bút hiệu Thiết Bản Ðạo Nhân, ký dưới những bài thơ trào phúng châm chích tệ đoan xã hội. Họ Trần mất đúng ngày mồng Một Tết, năm 1976. Kế tiếp là cái chết của nghệ sĩ Vân Sơn. Ông tự kết liễu cuộc sống của mình bằng cách nhảy cầu Thị Nghè, năm 1977(?).Ông là một trong ba thành viên nổi tiếng của ban hợp ca AVT thời đó - Gồm có ông và các nhạc sĩ Lữ Liên, Vũ Huyến. Cũng trong năm đó còn có cái chết bi thảm của nhạc sĩ Trọng Khương, tác giả những ca khúc nổi tiếng như “Ghen” (phổ thơ Nguyễn Bính,) “Bánh Xe Lãng Tử”...

Theo một số bằng hữu sống gần ông thì trước khi chết, nhạc sĩ Trọng Khương đã rơi sâu trong tình trạng mất trí! Riêng nhà thơ Tuệ Mai, mất năm 1983, khi đời sống tình cảm cũng như vật chất của bà sa sút tới cực độ... Nhưng có dễ không có cái chết nào bi thảm hơn cái chết của nhạc sĩ Trúc Phương, xảy ra năm 1996.

Lý do, trước khi mất, thảm kịch đời ông kéo dài quá lâu; mặc dù ông là một nhạc sĩ nổi tiếng ngay tự những năm cuối thập niên (19)50. Nhạc của ông không ngừng chói sáng hiểu theo nghĩa được nhiều tầng lớp thính giả nồng nhiệt đón nhận, ngay cả khi mọi sáng tác của ông đã bị chính quyền CS cấm lưu hành sau biến cố tháng 4, 1975. Bên cạnh đó, vì ông từ trần giữa thập niên (19)90, nên nhiều chi tiết được ghi lại qua bằng hữu, báo chí, cũng như qua một video clip (duy nhất?) mà, ông là người lên tiếng.

Theo tôi, nhạc sĩ Trúc Phương là một thứ nạn nhân của tài hoa mình. Hay, cũng có thể ví von, ông như một “hoàng tử lầm than của những tình khúc đổ vỡ, chia lìa.”
Image
Nhạc sĩ Trúc Phương.
Trước khi đi sâu vào cõi giới âm nhạc của nhạc sĩ Trúc Phương, tôi nghĩ chúng ta cũng nên lược qua tiểu sử đời ông; để những người trẻ lớn lên sau 1975, có chút khái niệm về con người, đời sống và những gì ông đã tận hiến cho nền tân nhạc miền Nam Việt Nam 20 năm, trước đây.

Theo những tư liệu được trang mạng Bách Khoa Toàn Thư Mở Wikipedia và, bài viết của tác giả Hàn Phương thì:

Nhạc sĩ Trúc Phương tên thật Nguyễn Thiện Lộc. Ông sinh năm 1933 tại xã Mỹ Hòa, quận Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh (Vĩnh Bình), vùng hạ lưu sông Cửu Long. (1) Cha ông là một nhà giáo sống kín đáo, nghiêm túc. Nhưng Trúc Phương/Nguyễn Thiện Lộc thì ngược lại. Ngay từ tấm bé, ông đã cho thấy thiên tư hay khả năng âm nhạc đặc biệt. Ông tìm vào cõi giới của âm thanh, cung bậc rất sớm.

Mười lăm tuổi, Nguyễn Thiện Lộc đã mày mò, tập tành sáng tác ca khúc.

Tác giả Hàn Phương kể, địa phương, nơi họ Nguyễn trải qua thời niên thiếu là một vùng đất bao bọc bởi nhiều rặng tre, trúc... Do đấy, khi cần chọn cho mình một bút hiệu, họ Nguyễn chọn hai chữ “Trúc Phương.”

Vẫn theo Hàn Phương thì, cuối thập niên 1950, Trúc Phương sinh hoạt văn nghệ với các nghệ sĩ ở Ty Thông Tin tỉnh Vĩnh Bình một thời gian, trước khi lên Sài Gòn dạy nhạc và sáng tác ca khúc. Hai ca khúc đầu tay, ký tên Trúc Phương, được trình làng, là bài “Tình Thắm Duyên Quê” và “Chiều Làng Em.” (2)

Ca khúc “Chiều Làng Em” có những câu như:

“Quê em nắng vàng nhạt cô thôn / Vài mây trắng dật dờ nơi cuối trời / Bâng khuâng tiếng hò qua xóm vắng / Khói lam buồn như muốn ngừng thời gian.” (3) Với hai sáng tác đầu tay kể trên, cho thấy cõi giới âm nhạc khởi nghiệp của Trúc Phương là tình tự quê hương. Không phải tình yêu tan vỡ hoặc thân phận người lính như nhiều sáng tác sau đó.

Tới nay, không ai biết, có phải vì đổ vỡ, bẽ bàng của mối tình đầu, Trúc Phương có với một người con gái, con nhà giầu, học trò nhạc của Trúc Phương, ở Gia Ðịnh, ngay những ngày đầu tiên, khi ông mới bước chân vào chốn phồn hoa đô hội - Mà, từ đó, hàng loạt ca khúc nói về đổ vỡ, chia lìa ra đời - Làm mủi lòng, gây thương cảm cho hàng triệu thính giả miền Nam, thời ấy?

Tôi trộm nghĩ, những người ái mộ Trúc Phương sẽ thương quý ông hơn, nếu biết chuyện ông bị cha mẹ của cô học trò đem lòng yêu ông, đuổi ông ra khỏi nhà, ngay khi họ phát giác chuyện tình của hai người!

Ðổ vỡ này không chỉ là một bẽ bàng, ê chề đầu đời của tác giả “Ai Cho Tôi Tình Yêu” mà, thực tế, còn đẩy ông tới chỗ không nơi tạm trú nữa!

Từ những bước chân vô định và những đêm lang thang khắp các ngả đường Saigon, Trúc Phương có hai tình khúc “Nửa Ðêm Ngoài Phố” và “Buồn Trong Kỷ Niệm.” Như một thứ định mệnh mang tính “song trùng”: Hai ca khúc kia đã mở rộng cánh cửa huy hoàng cho tiếng hát Thanh Thúy! Ðến độ, có một thời gian, nhắc tới Thanh Thúy, người ta liên tưởng ngay tới “Nửa Ðêm Ngoài Phố,” “Buồn Trong Kỷ Niệm.” Và, ngược lại.

Giới thưởng ngoạn tân nhạc ở thời điểm này, hẳn chưa quên những ca từ như:

“Ðường vào tình yêu có trăm lần vui, có vạn lần buồn / Ðôi khi nhầm lỡ đánh mất ân tình cũ / Có đâu chỉ thế, tiếc thương chỉ thế / Khi hai mơ ước không chung cùng vui lối về...” (Buồn Trong Kỷ Niệm.) (4)

Hoặc:

“Buồn vào hồn không tên / Thức giấc nửa đêm nhớ chuyện xưa vào đời

“Ðường phố vắng đêm nao quen một người / Mà yêu thương trót trao nhau trọn lời

“Ðể rồi làm sao quên?...” (Nửa Ðêm Ngoài Phố.) (5) Hai ca khúc ấy, như đã nói, không chỉ mang đến cho ca sĩ Thanh Thúy, những vòng nguyệt quế mà, tự thân, nó còn cho thấy tính phổ biến sâu rộng với lời hai, phổ biến trong dân gian. Như:

“Ðường vào trường đua có trăm thua, có một lần... huề...”

Ở góc độ quần chúng, đó là một thành tựu mà, không phải ca khúc nổi tiếng nào, cũng vinh dự có được.

Trúc Phương trở thành một trong những đỉnh cao của sự được ngưỡng mộ. Nhưng không vì thế mà định mệnh nương tay vùi dập vị “hoàng tử của những tình khúc đổ vỡ, chia lìa” kia. Ðịnh mệnh vẫn gán cho ông bản án: “Nạn nhân của chính tài hoa mình?”

Thực tế đời thường một lần nữa, lại cho thấy thuộc tính cay nghiệt của nó.

Hàn Phương kể, năm 1970, Trúc Phương được một thiếu nữ thuộc loại “lá ngọc cành vàng” chọn, để “cùng chung một hướng đời” - Một hướng đời nửa đường! Nửa đoạn!

Hàn Phương cho biết, niềm vui của đôi lứa này lại không được bền lâu!

Khiến sau đó, nhạc sĩ Trúc Phương đã buông thả đời mình trong bi phẫn và, men rượu. Nhưng, cũng như chia lìa trước, trong những khoảnh khắc giãy giụa, phẫn nộ giữa bẽ bàng, ê chề, Trúc Phương có những sáng tác, như những bức tranh hiện thực cảnh đời!

Ðó là thời gian ông chắt đau thương nhỏ vào những ca khúc như “Hai Lối Mộng”:

“Xin giã biệt bạn lòng ơi / Trao trả môi người cười / Vì hai lối mộng hai hướng trông / Mình thương nhau chưa trót / Thì chớ mang nỗi buồn theo bước đời / Cho dù chưa lần nói...” (6)

Hoặc “Thói Ðời”:

“Người yêu ta rồi cũng xa ta / nên chung thân ta giận cuộc đời! / Ðôi mắt nào từng đêm buốt giá! / Bên chiếu chăn tình xa nhịp thở / Tiền đổi thay khi rủ cơn mê / để chua xót trên lối về!” (7) Theo ghi nhận của nhiều người thì, tính tiên cảm mạnh mẽ có nơi một số thi sĩ, nhạc sĩ... thường cho họ khả năng “nói trước” về đời họ, ở những ngày sẽ tới. (Hay đó là tính chất “vận vào người” theo cách nói của thi hào Nguyễn Du?)

Tôi không biết. Nhưng nội dung của ca khúc “Thói Ðời” đã phần nào phản ảnh đời thực của nhạc sĩ Trúc Phương chỉ ít năm sau khi tác phẩm này ra đời!

Ðó là khi biến cố 30 tháng 4, 1975 ập tới, như đa số những văn nghệ sĩ không có trong tay một nghề chuyên môn nào khác hơn khả năng sáng tác, vị “hoàng tử của những tình khúc đổ vỡ, chia lìa,” phải bươn chải để lây lất sống còn...

Tuy nhiên, trong cơn đại nạn của cả một dân tộc thì, dù nhẫn nhục cách mấy, cũng có lúc Trúc Phương không thể tự lo lấy cho mình.

Trong hoàn cảnh này, ông trở về Trà Vinh, tìm sự giúp đỡ của bạn bè cùng xứ...

Ở đấy, theo lời kể của Hàn Phương, có người hỏi tác giả “Ai Cho Tôi Tình Yêu” rằng, sao không về ở hẳn quê cũ?

Trước câu hỏi tuy có lý, nhưng vô tình lại xé rách thêm vết thương thầm kín của mình, Trúc Phương đáp:

“Má của tôi thì già yếu ở dưới quê Cầu Ngang (Trà Vinh). Nhưng bà nghèo quá, lại phải nuôi đám cháu nheo nhóc, không đủ ăn... Tôi đã không đỡ dần được bà chút gì... đâu thể nào tìm về để khổ cho bà thêm nữa!” Ở Trà Vinh với bạn cũ một thời gian, Trúc Phương tìm đường về lại Sài Gòn. Ban ngày ông làm thuê, làm mướn đủ mọi thứ nghề, lang thang khắp nơi. Trong một video clip (duy nhất?) trước khi từ trần, ông nói, đại ý:

“Sau biến cố cuộc đời, tôi sống kiểu rày đây mai đó... Nói là đói thì cũng không đói ngày nào. Nhưng nói no thì cũng chẳng có ngày nào gọi là no... Tôi không có nổi cái mái nhà. Vợ con thì cũng tan nát rồi. Tôi sống nhờ bạn bè. Nhưng khổ nỗi hoàn cảnh họ cũng bi đát, cũng khổ, nên không ai đùm bọc ai được... Lại nữa lúc đó vấn đề an ninh rất khe khắc. Bạn bè không ai dám ‘chứa’ tôi trong nhà, vì tôi không có giấy tờ tùy thân. Cũng chẳng có thứ gì khác trong người... Tôi nghĩ ra được một cách là tìm nơi nào có khách vãng lai, chui vào đó ngủ với họ để tránh bị kiểm tra giấy tờ... Ban ngày thì lê la thành phố, đêm thì ra Xa Cảng thuê một chiếc chiếu. Một chiếc chiếu lúc bấy giờ là 1 đồng. Ngủ tới sáng, xếp chiếu lại, trả cho người ta. Mình lấy lại 1 đồng, như tiền thế chân vậy...

“Một năm như vậy, tôi ngủ ở Xa Cảng hết 9 tháng... Mà nói anh thương... khổ lắm! Hôm nào có tiền để đi xe lam, ra đó sớm khoảng chừng năm giờ; thuê được chiếc chiếu trải được chỗ lịch sự chút, tương đối vệ sinh một tí. Nhưng mà hôm nào ra trễ, những chỗ sạch sẽ, vệ sinh người khác chiếm hết rồi, tôi đành phải trải chiếu gần chỗ ‘thằng cha đi tiểu vỉa hè’, cũng phải nằm thôi. Tôi sống có thể nói là những ngày bi đát... Lẽ ra tôi nên buồn cho cái hoàn cảnh như thế; nhưng tôi không bao giờ buồn... Tôi nghĩ thôi, cũng là may mắn lắm rồi, còn được sống tới bây giờ, và đó cũng là một cái chất liệu để tôi viết bài sau này vậy...”

Tiếc thay, tới ngày từ trần, “nạn nhân của chính tài hoa mình,” Trúc Phương đã không sáng tác thêm được ca khúc nào khác!

Du Tử Lê

Chú thích:
(1): Một số tư liệu ghi nhạc sĩ Trúc Phương sinh năm 1933. Riêng tác giả Hàn Phương ghi Trúc Phương sinh năm 1939.

(2): Ca khúc này có hai tên? Trang nhà dactrung.com ghi “Chiều Làng Em.” Tác giả Hàn Phương ghi “Chiều Làng Quê.”

(3), (4), (5), (6), (7): dactrung.com

Post Reply