Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
tieuvuvi
Posts: 2912
Joined: Sun Nov 26, 2006 1:29 pm
Been thanked: 3 times
Contact:

Post by tieuvuvi »

Ở cuối hai con đường

(Một câu chuyện hoàn toàn có thật. Tác giả xin được kể lại nhân dịp 32 năm từ ngày miền Nam thất thủ)

********

Những năm "cải tạo" ở miền Bắc, tôi được chuyển đi khá nhiều trại. Từ Lào Cai, xuống Hoàng Liên Sơn, rồi Nghệ Tĩnh. Khi mới đến Hoàng Liên Sơn, tôi được đưa đến trại Hang Dơi, nằm sâu trong núi. Đây là một vùng sơn lâm chướng khí, nên chỉ mới gần hai năm mà tôi đã có hơn 20 người bạn tù nằm lại vĩnh viễn ở dưới sườn đồi.
Sau đó, tôi được chuyển về trại 6/ Nghĩa Lộ. Trại này nằm gần Ban chỉ huy Tổng Trại, và cách trại 5, nơi giam giữ gần 30 tướng lãnh miền Nam, chỉ một hàng rào và mấy cái ao nuôi cá trám cỏ. Ban ngày ra ngoài lao động, tôi vẫn gặp một vài ông thầy cũ, kể cho nhau nghe đủ thứ chuyện vui buồn.
Ngày nhập trại, sau khi "biên chế" xong, cán bộ giáo dục trại đưa 50 thằng chúng tôi vào một cái láng lợp bằng nứa, nền đất, ngồi chờ "đồng chí cán bộ quản giáo" đến tiếp nhận.
Vài phút sau, một sĩ quan mang quân hàm thượng úy đi vào láng. Điều trước tiên chúng tôi nhìn thấy là anh ta chỉ còn một cánh tay. Môt nửa cánh tay kia chỉ là tay áo bằng kaki Nam Định, buông thỏng xuống và phất phơ qua lại theo nhịp đi của anh. Không khí trở nên ngột ngạt. Không nói ra, nhưng có lẽ trong đám tù chúng tôi ai cũng có cùng một suy nghĩ : - Đây mới đích thực là nợ máu đây, biết trả như thế nào cho đủ ?.
Nhưng bất ngờ, người cán bộ quản giáo đến trước chúng tôi , miệng nở nụ cười. Nhìn khuôn mặt hiền lành, và ánh mắt thật thà, chúng tôi cũng bớt lo âu.
Bằng một giọng đặt sệt Nghệ Tỉnh, anh quản giáo giới thiệu tên mình: Nguyễn văn Thà, rồi "báo cáo" môt số nội quy, yêu cầu của Trại. Anh đưa cho anh đội trưởng một tập vở học trò, phát cho anh em mỗi người một tờ giấy để làm bản "lý lịch trích ngang".
Tôi đang ngồi hý hoáy viết cái bản kê khai lý lịch ba đời với bao nhiêu thứ "tội" dưới biển trên trời mà tôi đã thuộc lòng từ lâu lắm - bởi đã phải viết đến cả trăm lần, ngay cả những lần bị đánh thức lúc nửa đêm - bỗng nghe tiếng anh quản giáo hỏi:
- Trong này có anh nào thuộc Sư 23 ?
Tôi im lặng giây lát rồi lên tiếng :
- Thưa cán bộ, có tôi ạ,.
- Anh ở trung đoàn mấy
- Trung Đoàn 44
- Vậy anh có tham dự trận đánh Trung Nghĩa ở KonTum đầu mùa hè 1972?
- Vâng, có ạ.
Anh quản giáo đưa cánh tay bị mất một nửa, chỉ còn cái tay áo đong đưa, lên ;
- Tôi bị mất cánh tay này trong trận đó.
Nhìn qua anh em, thấy tất cả mọi con mắt đều dồn về phía tôi. Để lấy lại bình tĩnh, tôi làm ra vẻ chủ động:
- Lúc ấy cán bộ ở đơn vị nào ?
- Tôi ở trung đoàn xe tăng thuộc Sư 320.
Anh quản giáo rảo mắt nhìn quanh, rồi hạ giọng tiếp tục:
- Trận ấy đơn vị tôi thua nặng. Cả một tiểu đoàn tăng của tôi còn có 2 chiếc. Chiếc T54 của tôi bị bắn cháy. Tôi thoát được ra ngoài, nhưng bị các anh bắt làm tù binh.
- Sau đó cán bộ được trao trả ? tôi hỏi .
- Tôi bị thương nặng lắm, do chính đạn trong xe tôi phát nổ. Tôi được các anh đưa về quân y viện Pleiku chữa trị . Nhờ vậy mà tôi còn sống và được trao trả tù binh đợt cuối cùng năm 1973, sau khi có hiệp định Ba Lê.
Dạo đó, miền Bắc, đặc biệt trên vùng Hoàng Liên Sơn, trời lạnh lắm. Mỗi láng được đào một cái hầm giữa nhà, đốt những gốc cây được anh em nhặt ngoài rừng, sau giờ lao động, mang về sưởi ấm. Tối nào, anh quản giáo cũng xuống sinh hoạt với anh em. Gọi là sinh hoạt, nhưng thực ra anh chỉ tâm tình những chuyện vui buồn đời lính, thăm hỏi hoàn cảnh của anh em tù, và khuyên anh em nên cố gắng giữ gìn sức khỏe, đừng làm điều gì sai phạm để không phải nghe mấy ông cán bộ nặng lời. Anh thường nói :
- Tôi rất đau lòng, khi thấy các anh phải nghe những lời thô lỗ. Tôi biết các anh đều là những người có trình độ văn hóa và ai cũng đã từng chỉ huy.
Mùa đông, không trồng trọt được, nên khẩu phần ăn của một nguòi tù chỉ có một miếng bánh mì đen bằng hai ngón tay, hoặc lưng một bát bắp hạt. Phần thiếu ăn, một phần ẩm ướt thiếu vệ sinh, nên nhiều anh em tù bị bệnh kiết lỵ. Thuốc men hoàn toàn không có, nên bệnh kéo dài lâu ngày. Nhiều người đứng không vững.
Một buổi chiều cuối đông, mưa phùn rả rích, sương mù giăng kín cả thung lũng trại tù, cả đám tù chúng tôi ngồi co ro trong láng, cố nhai từng hạt bắp cứng như viên sỏi, nhìn ra cánh đồng phía trước, thấp thoáng một người mang áo tơi (loại áo mưa kết bắng lá cây) chạy lúp xúp từ chỗ này đến chỗ khác, cho đến khi trời tối.
Đêm đó, như thường lệ, anh Thà xuống sinh hoạt với anh em bên bếp lửa. Anh bảo nhỏ anh đội trưởng :
- Tôi để một giỏ cá đàng sau láng. Trước giờ ngủ, anh ra mang vào, chia cho mấy anh bị bệnh kiết lỵ đang mất sức để các anh bồi dưỡng. Nhớ giữ kín, đừng để trên biết.
Bây giờ anh em mới hiểu, người mà chiều nay, đặt lờ bắt cá ngoài đồng ruộng chính là quản giáo Thà. Ai cũng cảm động.
Biết là anh em tù bị đói triền miên, nhất là sau mùa đông dài, một buổi sáng đầu mùa xuân , quản giáo Thà đưa cả đội 50 người tù lên một đồi trồng toàn sắn của một hợp tác xã nào đó. Sắn đầu mùa, củ còn nhỏ. Anh chỉ cho anh em cách đào lấy củ mà thân sắn vẫn còn nguyên; đào mấy cái bếp "Hoàng Cầm" để luột sắn mà không ai phát hiện có khói. Anh dắt hai anh tù xuống đồi xách hai thùng nước mang lên, căn dặn anh em thay phiên nhau luột sắn ăn cho no. Anh đích thân ở lại đứng gác, nếu có ai vào, anh vờ ra lệnh "chuẩn bị đi về", anh em tức khắc dấu hết "tang vật" xuống một cái hố đã đào sẵn.
Dường như đó là cái ngày duy nhất mà 50 người tù chúng tôi được no -dù chỉ là no sắn-
Không biết tối hôm ấy, trong giờ "giao ban" , quản giáo Thà đã báo cáo với ban chỉ huy trại là đội tù của chúng tôi đã phát được bao nhiêu hecta rừng ?
Mỗi lần ra bãi thấy anh em lao động nặng nhọc, anh Thà bảo nhỏ :
- Anh em làm việc vừa phải, khi nào mệt thì ta nghỉ. Nhớ giữ gìn sức khỏe, vì thời gian cải tạo còn dài lắm.
Vào một dịp Tết, cầm giấy nghỉ phép trong tay, nhưng anh không về nhà, mà ở lại với anh em. Số tiền lương vừa lãnh được, anh mua mấy bánh thuốc lào, vài ký kẹo lạc, biếu anh em ăn tết. Lần ấy, anh tâm sự thật nhiều với anh em :
- Lần bị thương năm 1972 ở Kontum, tôi nghĩ là tôi đã chết. Vết thương quá nặng, lại phải nằm trong rừng rậm một mình, không có thức ăn, nước uống. Trong lúc tuyệt vọng nhất, tôi bất ngờ được một đơn vị của Sư 23 các anh phát giác. Các anh băng bó vết thương, cho tôi ăn uống, tận tình săn sóc tôi như một người đồng ngũ. Các anh luân phiên khiêng tôi ra khỏi khu rừng rậm, gọi máy bay tản thương đến đưa tôi về bệnh viện. Trời tối, máy bay chưa xuống được, đảo mấy vòng, thì vị trí bị lộ. Các anh bị pháo kích, may mà không có ai bị thương. Các anh lại phải vội vàng di chuyển đi nơi khác. Cả khu rừng chỉ có một khe đá là nơi trú ẩn an toàn, các anh lại dành cho tôi, rồi phân tán mỏng. Tôi được hai anh y tá săn sóc suốt cả đêm . Người chỉ huy hôm ấy là một anh rất trẻ, mang quân hàm trung úy, mấy lần ôn tồn hỏi thăm tôi và khuyên tôi cố gắng để được đưa về quân y viện chữa trị. Anh còn cho tôi nửa bao thuốc lá còn lại của anh, bảo tôi hút thuốc để quên bớt cơn đau của vết thương. Sáng sớm hôm sau, tôi được máy bay tản thương đưa tôi về quân y viện Pleiku. Ở đây, mặc dù tôi phải nằm riêng, nhưng được bác sĩ các anh chăm sóc tận tình. Tất cả đã đối xử với tôi như người đồng đội. Có lần, một phái đoàn đến ủy lạo thương binh các anh, họ cũng đến thăm, cho tôi quà, và an ủi tôi thật chân tình. Vết thương vừa lành, thì tôi được lệnh trao trả tù binh. Khi chia tay, bệnh viện còn cho tôi nhiều thuốc men và một số đồ dùng. Lòng tôi tràn ngập cảm xúc. Tôi nghẹn ngào trước tình con người, tình dân tộc mà các anh đã dành cho tôi. Tình cảm ấy tôi chôn chặt tận đáy lòng, không dám tâm sự cùng ai, vì lòng tôi lúc nào cũng nghĩ đến vợ con tôi, và nhất là người mẹ già gần tuổi 80 đang ngày đêm mong chờ tôi trở về.
Anh cố gắng giữ bình tĩnh, nhưng rõ ràng là giọng nói của anh sắp nghẹn ngào.
- Khi về lại ngoài Bắc, người ta có còn tin cậy anh không? - một anh tù hỏi.
- Ngay sau khi được trao trả, tôi phải vất hết thuốc men và những thứ các anh cho. Tôi cố dấu mấy viên thuốc trụ sinh phòng nhiễm trùng, nhưng họ khám xét kỹ quá, tôi phải tìm cách vất đi. Trước khi đưa về Bắc, chúng tôi được học tập hơn một tháng, làm kiểm điểm và lên án sự đối xử tàn ác của các anh. Tôi thấy xấu hổ lắm khi nói điều ngược lại, nhưng rồi ai cũng thế, không thể làm khác hơn. Chính vì vậy mà lòng tôi cứ dằng vặt mãi cho đến hôm nay.
Thời gian vàng son của năm mươi người tù đội 4 trại 6/ Nghĩa Lộ, Hoàng Liên Sơn, kéo dài không quá sáu tháng.
Một buổi sáng sớm, khi sương mù còn vương trên thung lũng trại tù, một người đạp chiếc xe đạp vội vã rời ban chỉ huy trại. Sau xe đèo theo một cái rương bằng gỗ và một túi đeo lưng bộ đội. Một vài anh em nhận ra anh Thà và báo cho anh em. Cả một đội năm mươi người tù vừa mới thức dậy, còn ngái ngủ, chạy ùa ra sân, vẫy tay gọi. Anh Thà không nhìn lại, đưa cánh tay chỉ còn một nửa lên vẫy vẫy, rồi biến dạng trước cổng trại.
Chiếc thuyền nhỏ mang theo trên 30 người vượt biển, trong đó có tôi và ba người bạn cùng tù ở Nghĩa Lộ ngày trước, ra đến hải phận quốc tế hai ngày thì gặp bão. Chúng tôi may mắn được một chiếc tàu chuyên chở dầu hỏa của vương quốc Nauy, trên đường từ Nhật sang Singapore, cứu vớt. Hai ngày đêm trên tàu là cả một thiên đường. Từ vị thuyền trưởng đến anh thủy thủ, chị bác sĩ, y tá, đều hết lòng săn sóc lo lắng cho chúng tôi. Hôm rời tàu để được chuyển đến trại tị nạn Singapore, chúng tôi quá xúc động không ai cầm được nước mắt. Tất cả thủy thủ đoàn đều ra đứng thành hai hàng dài trên boong tàu, ai nấy đều khóc sướt mướt ôm lấy từng người chúng tôi mà chia tay. Rồi những ngày sống trong trại, chúng tôi được thầy cô giáo và ông đại sứ Nauy, thường xuyên có mặt lo lắng cho chúng tôi đủ điều. Chúng tôi vừa xúc động vừa đau đớn. Nỗi đau của một người vừa mới bị anh em một nhà hành hạ, đuổi xô đến bước đường cùng, phải bỏ nhà bỏ xứ để thoát thân trong cái chết, bây giờ lại được những kẻ xa lạ không cùng ngôn ngữ, màu da, màu tóc, lại hết lòng đùm bọc yêu thương. Mang cái ân tình đó, chúng tôi chọn Nauy là nơi tạm gởi phần đời còn lại của mình.
Bốn anh em, những người cùng tù Nghĩa Lộ năm nào, được sắp xếp ở gần nhau. Mỗi ngày gặp nhau đều nhắc lại những năm tháng khốn khổ trong tù. Đặc biệt khi nhắc tới quản giáo Thà, ai trong chúng tôi cũng ngậm ngùi, nghĩ đến một người không cùng chiến tuyến mà còn có được tấm lòng. Sau lần bị "hạ tầng công tác" ở trại tù Nghĩa Lộ, không biết anh đi về đâu, nhưng chắc chắn là bây giờ cũng vất vả lắm.
Sau hai năm theo học, tôi được nhận vào làm trong ngân hàng bưu điện trung ương. Tại đây, tôi quen với Kenneth Hansen, một bạn đồng nghiệp còn trẻ tuổi, lại ở gần nhà, nên sau này trở nên thân tình. Anh ta là sinh viên đang theo học về kinh tế, chỉ làm việc thêm ngoài giờ hoc. Làm chung gần một năm, thì anh bạn Nauy này lại được nhận vào một công ty lớn và sang làm việc ở chi nhánh bên Ấn Độ.
Bẵng đi vài năm, bất ngờ một hôm anh gọi điện thoại báo là sẽ đến thăm tôi và đem đến cho tôi một bất ngờ. Và đúng là bất ngờ thật, vì cùng đến với anh là một người con gái Việt nam. Anh giới thiệu với vợ chồng tôi, đó là vị hôn thê của anh.
Cô gái tên Đoan, nói giọng Hà Nội chính tông. Gặp chúng tôi ở một nơi xa lạ, cô vui mừng lắm, nhưng khi nhìn thấy tấm ảnh của tôi treo trên tường, mang quân phục và cấp bậc của quân đội VNCH, cô có vẻ ái ngại. Biết vậy, chúng tôi cũng niềm nỡ , đùa cợt cho cô được tự nhiên. Cô cho biết cô là bạn thân với nữ ca sĩ Ái Vân từ lúc hai người còn đi học ở Hà Nội. Sau sáu năm du học ở Đông Đức, rồi Liên Xô, cô được sang thực tập tại Ấn Độ. Chính tại đây cô có dịp gặp và quen với chàng trai Nauy này. Khi ấy cô đã có chồng và một đứa con trai. Người chồng trước cùng du học ở Liên Xô, sau này trở thành một cán bộ cao cấp trong ngành dầu khí tại Hà Nội. Sau thời gian thực tập ở Ấn Độ trở về, cô được bạn bè và người thân cho biết là anh chồng đã cặp một cô gái khác chỉ một vài tuần sau ngày cô đi. Cô đem việc này nói phải trái với chồng, lại bị anh ta hành hung và nói những lời thô lỗ. Cô vừa buồn vừa giận, bỏ chồng, xin sang học tiếp chương trình Tiến sĩ tại một đại học ở Đông Đức.
Sau ngày bức tường Bá Linh ô nhục bị nhân dân Đức phá sập, nước CHND Đức (Đông Đức) bỗng chốc không còn nữa. Cô không về nước mà tìm cách trốn sang Tây Đức. Qua một thời gian hết sức khó khăn, cô may mắn liên lạc được với anh Kenneth Hansen, để được bảo lãnh sang Nauy. Biết cô thuộc gia đình một đảng viên cộng sản cao cấp, bởi cô được du học ở nhiều nước thuộc khối cộng sản trước đây, nhưng tôi không hỏi vì sợ cô ngại. Sau này chính Kenneth Hansen, cho biết, bố của cô trước kia là đại sứ Việt Nam tại Liên Xô cũ. Sau ngày Liên Xô sụp đổ, kéo theo sự tan vỡ của toàn khối cộng sản Đông Âu, ông xót xa nhìn ra được một điều gì đó. Trở về Việt Nam, ông không còn được nhà nước Cộng sản trọng dụng, trở thành kẻ bất mãn, cả ngày nằm nhà không tiếp xúc một ai.
Sau một thời gian, được cấp quốc tịch Nauy, cô Đoan trở về Việt Nam thăm gia đình, đặc biệt là người cha già đang ốm nặng. Nhân tiện xin mang đứa con trai sang Nauy với cô.
Việc cô Đoan trở về Hà Nội, làm tôi nghĩ dến anh quản giáo Nguyễn văn Thà thưở trước. Tôi cùng với mấy người bạn tù cũ, góp một số tiền khoảng 800 đôla, nhờ cô Đoan về Nghệ Tĩnh tìm và trao lại cho anh, như để tỏ chút lòng biết ơn một người bao nhiêu năm sống trong đám bùn lầy nước đọng mà vẫn còn giữ sạch được tấm lòng. Việc tìm anh không phải dễ dàng, vì chúng tôi không biết nhiều về anh. Trong mảnh giấy nhắn tin, chỉ vỏn vẹn vài chữ : "ông Nguyễn văn Thà, gốc Nghệ Tĩnh, khoảng năm 1979 là thượng úy, làm quản giáo trại tù cải tạo số 6/ Nghĩa Lộ, Hoàng Liên Sơn ". Cô Đoan vui vẻ nhận lời và hứa sẽ tìm đủ mọi cách để gặp hoặc liên lạc anh Thà. Cô cũng cho biết là cô có ông chú họ hiện làm việc tại bộ quốc phòng. Cô sẽ nhờ ông ta tìm hộ.
Một tháng sau, cô Đoan trở lại Nauy, báo cho chúng tôi biết là ông chú của cô không tìm thấy tên Nguyễn văn Thà trong danh sách sĩ quan. Ông đoán là anh ta đã bị phục viên từ lâu lắm rồi. Cô đã đích thân vào Nghệ Tĩnh, hỏi thăm mọi cơ quan, nhưng không ai biết. Cuối cùng cô phải thuê mấy tờ báo địa phương đăng lời nhắn tin, trong đó có ghi số điện thoại của tôi. Cô còn cho biết là nhân tiện có mặt ở Nghệ Tĩnh thì cô nhờ họ thôi, chứ không có nhiều hy vọng gì, vì chỉ một ít người ở thành phố có báo đọc.
Thời gian trôi qua, bận bịu bao nhiêu việc làm ăn, lo cho con cái, để kịp hội nhập vào đời sống trên quê hương mới, chúng tôi không còn ai nhắc đến chuyện anh Thà.
Bỗng một hôm, khi đang say ngủ, nghe tiếng điện thoại reo, tôi giật mình tỉnh giấc. Xem đồng hồ, hơn hai giờ sáng. Mùa đông Bắc Âu, nhiệt độ bên ngoài cửa sổ chỉ - 20 độ C. Tôi ái ngại. Giờ này mà ai gọi điện thoại thì phải có điều gì khẩn cấp lắm. Tôi bốc ống nghe, Đầu giây bên kia là giọng một cô gái, nói tiếng Việt rất khó nghe. Cô hối hả, nhưng rất lễ phép, xin được gặp tôi. Cô cẩn thận nhắc lại tên tôi hai lần, với đầy đủ họ và tên.
- Xin lỗi, cô là ai và đang ở đâu ạ ? tôi hỏi.
- Dạ, cháu là Hà, Nguyễn Thị Hà, cháu đang ở Ba Lan ạ.
Tôi im lặng. Thoáng lục lọi trong trí nhưng tôi không nhớ là mình đã quen ai tên Hà. Bên kia đầu giây, cô gái lên tiếng:
- Bác có còn nhớ ông Thà, làm quản giáo ở Nghĩa Lộ không ạ?
- Ông Thà, Nguyễn văn Thà, Bác nhớ, nhưng cô là gì của ông Thà, và sao lại ở Ba-Lan ?
- Dạ, ông Thà là bố cháu. Cháu ở Ba-Lan với một đứa em trai. Bọn cháu khổ lắm Bác ạ. Tiếng cô gái sụt sùi.
- Cháu cho bác số phôn, bác gọi lại ngay, để cháu khỏi tốn tiền.
Tôi gọi lại, và nghe tâm sự não nề của cô gái. Cô và em trai, tên Tĩnh, được bố mẹ lo lắng, chạy vạy, bán hết đồ đạc trong nhà, kể cả chiếc xe đạp Trung quốc mà cha cô nâng niu như là một thứ gia bảo, vay mượn thêm, lo cho hai chị em cô sang lao động ở Ba-Lan. Sau khi chính quyền cộng sản Ba-Lan bị cuốn theo làn sóng dân chủ ở Đông Âu, chị em cô cùng hầu hết những người được chính quyền Việt Nam gởi sang lao động, đã không về nước, trốn ở lại. Vì sống bất hợp pháp, nên không tìm được việc làm chính thức. Hầu hết làm chui, buôn bán thuốc lá lậu. Một số trở thành ăn cắp, băng đảng, quay lại cướp bóc hoặc tống tiền chính những nguòi đồng hương, đồng cảnh. Số người Việt này trở thành mối bận tâm không nhỏ cho những chính quyền mới ở các nước Đông Âu.
Hai chị em cô Hà thuê một căn gác nhỏ trong thành phố Warszawa, nhận thuốc lá của một người khác, mang đi bán. Nhưng mỗi lần dành dụm được một ít, chưa kịp gởi về giúp gia đình thì bị cướp sạch. Một hôm, cậu em trai nhận thuốc lá mang đi bán, bị cảnh sát bắt và phát hiện là số thuốc lá kia vừa bị mất cắp tại một cửa hàng Ba-Lan. Vì vậy cậu em trai bị nhốt vào tù, còn cô Hà thì đang bị truy nã. Việc xảy ra một ngày trước khi cô Hà gọi điện thoại cho tôi .
- Bây giờ cháu đang ở đâu ? Tôi hỏi.
- Cháu đang trốn ở nhà một nguòi bạn, nhưng cô ta không dám chứa cháu lâu. Cháu không biết phải làm sao, thì bất ngờ nhớ đến lá thư của ba cháu gởi cho cháu cách nay vài tháng. Ba cháu bảo cháu trong trường hợp rất cần thiết mới gọi cho bác.
- Ba cháu bây giờ làm gì ?
- Ông bị ốm nặng. Cách nay hai năm bị tai biến mạch máu não, liệt nửa người, nên chỉ nằm một chỗ. Vì vậy nên chị em cháu trốn ở lại đây để kiếm tiền gởi về cho bố cháu điều trị và sống qua ngày bác ạ.
Tôi ghi số điện thoại, địa chỉ người bạn của Hà, tên nhà tù mà Tĩnh, em trai của Hà đang bị giam giữ, trấn an và hẹn sẽ gặp cô trong một ngày rất gần ở Ba-Lan.
Tôi nhớ tới một người bạn Ba-lan, anh Zbigniew Piwko. Chúng tôi quen khá thân lúc cả hai vừa mới đến Nauy. Anh ta lớn hơn tôi ba tuổi. Trước kia là một đại tá không quân, chỉ huy môt không đoàn chiến đấu thuộc quân đội cộng sản Ba-Lan. Về sau. anh ta ngầm ủng hộ Công Đoàn Đoàn Kết do ông Walesa lãnh đạo. Hành tung bại lộ, trong khi bị truy bắt, anh đã lấy một chiếc trực thăng, chở gia đình, gồm người vợ và hai đứa con, bay sang Tây Đức. Theo sự thỉnh cầu của anh, gia đình anh được chính phủ Nauy đặc biệt nhận cho tị nạn chính trị.
Anh và tôi học tiếng Nauy cùng một lớp, và sau đó có một thời gian chúng tôi cùng làm thông dịch cho Sở Cảnh Sát. Nhưng chỉ hơn một năm sau, thì tình hình chính trị ở Ba-Lan thay đổi bất ngờ. Công Đoàn Đoàn Kết của ông Walesa lãnh đạo đã thắng lợi vẻ vang . Ông được bầu làm Tổng Thống đầu tiên của nước Ba-Lan dân chủ. Anh Piwko, người bạn tị nạn của tôi, được mời về nước để giữ môt chức vụ khá lớn trong ngành cảnh sát. Vào những dịp Giáng sinh, nhớ đến tôi, anh gởi thiệp mừng giáng sinh và năm mới. Anh kể đủ thứ chuyện về xứ sở của anh, về niềm vui và hy vọng của người dân Ba-Lan bây giờ. Sau tấm thiệp không đủ chỗ nên lúc nào anh cũng viết kèm theo vài trang giấy. Anh mời vợ chồng tôi có dịp thu xếp sang chơi với gia đình anh vài hôm và xem đất nước Ba-Lan của anh đang hồi sinh trong dân chủ.
Sáng hôm sau, tôi tìm lại số phôn và gọi cho anh. Anh rất vui mừng khi nghe tôi báo tin sang thăm . Vì đi vội, nên tôi chỉ đi một mình. Vợ chồng anh đón tôi ở phi trường, nơi dành cho VIP (thượng khách). Anh chị còn cho biết là rất thú vị khi có dịp được dùng lại ngôn ngữ Nauy để nói chuyện với tôi. Tôi thực sự xúc động trước sự tiếp đón nồng hậu mà gia đình anh đã dành cho tôi. Tôi ngại ngùng không dám nói với anh những điều muốn nhờ anh giúp. Nhưng rồi cuối cùng, tôi cũng phải tâm tình cùng anh về chuyện anh quản giáo Thà trong trại tù Nghĩa Lộ năm nào, và hoàn cảnh khốn cùng của hai đứa con hiện đang ở tại đây, ngay trên đất nước Ba-Lan của anh. Nghe tôi kể, anh ngậm ngùi giây lát rồi đứng lên ôm vai tôi, hứa sẽ hết lòng giúp tôi về việc này.
Anh đưa tôi đến gặp hai chị em cháu Hà. Đưa Hà về nhà ở với gia đình anh. Hai hôm sau anh làm thủ tục bảo lãnh Tĩnh, em của Hà từ trại tù về.
Trước khi về lại Nauy, tôi đã thức trọn một đêm để tâm tình khuyên lơn hai chị em Hà, biếu cho hai cháu một số tiền để tạm sinh sống và chuyển về Việt nam biếu anh Thà, bố hai cháu. Trên đường đưa tôi ra phi trường, vợ chồng Piwko bảo tôi yên tâm, anh chị xem hai chị em Hà như là cháu trong nhà và sẽ tận tình lo lắng cho hai cháu.
Hơn một tháng sau, Piwko gọi phôn báo cho tôi tin mừng: hai chị em Hà đã được Piwko bảo trợ, được cấp giấy tờ chính thức cư trú tại Ba-lan. Hai cháu đang được học ngôn ngữ Ba-lan. Hà, vì lớn tuổi, nên sẽ xin việc làm. Tĩnh, em Hà, sẽ được tiếp tục theo học tại một trường trung học.

--------------------------------------------------------------------------------

"Các Anh thân quí,
Khi ngồi viết nhừng dòng này cho các anh, thực tình tôi không còn nhớ mặt các anh, nhưng tôi còn nhớ rất rõ thời gian tôi làm quản giáo ở trại Nghĩa Lộ. Vậy mà không ngờ hôm nay các anh còn nhớ đến tôi. Đọc thư của cháu Hà từ Ba-Lan gởi về, cùng với số tiền của các anh gởi cho, lòng tôi cảm xúc đến nghẹn ngào. Tôi và gia đình xin muôn vàn cảm tạ. Các anh làm tôi nhớ tới một câu nói của Các-Mác: Chỉ có loài súc vật mới quay lưng trước cảnh khốn khổ của đồng loại". Ngày nay, cả thế giới đều lên án Mác, những nước một thời lấy chủ nghĩa Mác làm ánh đuốc soi đường, bây giờ cũng đã từ bỏ Mác, chỉ còn một vài nơi lấy Mác làm bức bình phong để che đậy những mục nát ở phía bên trong, nhưng câu nói trên kia của Mác, với tôi, vẫn mãi mãi là một lời vàng ngọc. Điều tệ hại là những kẻ một thời theo Mác đã luôn luôn làm ngược lại lời nói này của Mác.
Chúng tôi mừng cho các anh đã đưa được gia đình ra khỏi nước. Mặc dù tôi biết một người phải bỏ quê hương mà đi, còn đau đớn nào hơn. Ngay cả con cái chúng tôi, vất vả biết chừng nào, mà tôi cũng đành khuyên các cháu phải ra đi để may ra còn tìm được một chút tương lai, giá trị nào đó của kiếp con người
Phần tôi, sau khi bị kiểm điểm nặng nề ở trại Nghĩa Lộ, tôi bị điều ra mặt trận phương Bắc, trong thời kỳ giặc bành trướng Trung Quốc tràn qua biên giới . Nhờ thương tật, tôi được bố trí một công tác lặt vặt ở hậu cần. Mặt trận kết thúc, tôi bị phục viên về nhà, tiền phụ cấp không đủ nuôi chính bản thân. Tôi chỉ còn một cánh tay mà phải phát rẫy trồng rau để phụ giúp gia đình.
Hơn ba năm nay, tôi bị ốm nặng, nằm liệt giường. Nhờ chị em cháu Hà gởi tiền về nuôi tôi và cả gia đình, tôi mới còn sống được đến hôm nay. Biết trốn lại Ba Lan, không có giấy tờ, hai cháu sẽ khó khăn ghê lắm, nhưng vẫn còn hơn là về lại bên này. Có làm suốt ngày cũng chẳng đủ ăn. May mà nhờ các anh hết lòng giúp hai cháu. Cái ơn này biết khi nào chúng tôi mới trả được cho các anh đây.
Tôi biết mình không còn sống bao lâu. Cuối đời một con người, tôi nghiệm rõ được một điều: Chỉ có cái tình con người với nhau mới thực sự quí giá và tồn tại mãi với thời gian. Những chế độ này, chủ nghĩa nọ, cuối cùng cũng chỉ là những đám mây đen bay trên đầu. Đôi khi che ta được chút nắng, nhưng nhiều lúc đã trút bao cơn mưa lũ xuống để làm khốn khổ cả nhân gian..."


--------------------------------------------------------------------------------
Không ngờ lá thư đầu tiên này cũng là lá thư cuối cùng chúng tôi nhận được từ anh Thà. Anh đã qua đời sau đó không lâu. Nghe cháu Hà kể lại. Khi hấp hối, anh bảo vợ anh mang mấy cái huy chương, anh được cấp trong thời chiến tranh, đào lỗ chôn xuống phía sau nhà. Anh thầm thì: xin hãy chôn chặt hộ tôi cái quá khứ đau thương và lầm lỡ đó lại. Chính nó đã gây biết bao chia lìa, tang tóc, và sự thù hận giữa những người anh em cùng một mẹ, không biết sẽ kéo dài cho đến bao giờ?

Phạm Tín An Ninh, Vương Quốc Na Uy
Image

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

"Dzũa" Mất Gà ! Một người bạn đồng môn của tôi vừa mới than thở với tôi là: “Ngày 30 tháng 4 đã đến rồi đi qua; nhưng mà sao không thấy, chưa thấy Báo chí, Điện báo, Các chương trình Truyền hình và Truyền thanh của người Việt ở hải ngọai "Dzũa" bọn Việt Gian Cộng Sản [VGCS] dùm cho các người Việt tị nạn thấp cổ bé họng đủ để cho họ (ít nhất cũng) hả giận ???”

Tôi cũng đồng ý với người bạn tôi. Tôi bèn tạm sưu lục một số cách chửi có thể làm VGCS đau mình như sau :

*Xin cứ xem VGCS như là tên ăn trộm gà trong các câu chửi dưới đây.

Bản 1
(Bản này mang mầu sắc Bắc Kỳ).


“Làng trên xóm dưới, bên ngược bên xuôi, tôi có con gà mái xám. Sáng nay tôi còn cho nó ăn, thế mà bây giờ nó bị mất ! Ai bắt được thì cho tôi xin, nếu không trả thì tôi chửi cho mà nghe đấy… ấy… ấy !

Bố cái thằng chết đâm, cha cái con chết xỉa ! Mày day tay mặt, mày đặt tay trái, nỡ ăn cắp của bà đây con gà. Này bà bảo cho chúng mày biết: Thằng đứng chiếu ngang, thằng sang chiếu dọc, thằng đọc văn tế, thằng bế cái hài, thằng nhai thủ lợn… Con gà nó ở nhà bà là con gà. Nó bị bắt trộm về nhà mày thì thành con cú, con cáo, con thành đanh mỏ đỏ, nó sẽ mổ mắt, xé xác ông, bà, cha, mẹ, vợ , chồng, con cái nhà mày đấy… ây… ấy !

Mày mà ăn thì con gà nhà bà thì ăn một miếng chết một đứa, ăn hai miếng chết hai đứa, ăn ba miếng chết ba đứa, và ăn cả con gà đó sẽ chết cả nhà cả ổ nhà mày.

Cha tiên nhân ông nội, ông ngoại, ông dại, ông khôn, đồng môn chi rễ nhà mày nhá ! Mày gian tham đã ăn trộm ăn cắp con gà mái nhà bà. Rồi ra, nhà chúng mày chết một đời cha, chết ba đời con, đẻ non, đẻ ngược, chân ra trước đầu bước ra sau, để sót nhau. Chết mau, chết sớm ! Chết trẻ, đẻ ngang nhá.

Bốn thằng cầm cờ xanh đứng đầu ngõ, ba thằng cầm cờ đỏ đứng đầu làng, đưa đám tang cả nhà mày ra đồng làng chôn đấy. Mày có khôn hồn, mang trả ngay con gà đó cho bà, kẻo không bà đào mồ, quật mả cao tằng tổ khảo, cao tằng tổ tỉ, thúc, bá, đệ, huynh, cô, dì, tỷ, muội nhà mày đấy.

Hôm nay bà chửi một bài, ngày mai bà sẽ chửi hai lần liền. Bà chửi cho mày hóa điên, bà rủa suốt tháng liên miên không ngừng. Bây giờ bà mệt quá chừng, bà về cơm nước, nhớ đừng quên a… Muốn sống thì thả gà ra, lạy bà hai lạy, bà tha cho mày”

Bản 2
(Bản này mang đầy bản sắc Miền Trung, xứ Huế):


“Cao tằng tổ đĩ, cao tằng tổ khảo, cố tổ gia tông cả ông, cả bà, cả cha, cả mẹ, chú bác, anh em, họ nội họ ngoại, xa gần ân ái, họ gái họ trai, dưới âm phủ đội mũ mà đi lên, trên thiên đàng xếp hàng đi xuống, bây hãy vén mái tai, gài mái tóc, đặng chống tai lên cho rõ, chống cửa ngõ cho cao, chặt hàng rào cho thấp để mà nghe tao chửi đây này:

Tam canh mụ đội, xóm hội xóm phường, xóm trước xóm sau, xóm trên xóm dưới, lư hương, bát nước, chiếu trải giường thờ, tau bới mả cha bay rung rinh như thuyền mành gặp sóng, tau nín như nín địt, tau dập như dập cứt mà bay cứ bươi ra, bay chọc cho tau chửi. Tau chửi cho tan nát tông môn họ hàng cái quân khốn khiếp, cái quân vô hậu kế đợi đã ăn của tau bảy con gà xám, tám con gà vàng. Bây ăn chi mà ác nhơn ác nghiệp. Bây ăn bằng nồi đồng, bây ăn bằng nồi đất, bay ăn lật đật, bay ăn ban đêm, bữa túi. Bây ăn cho chồng bây sợ, cho con bây kinh, bây ăn cho ngả miếu sập đình, cho mồ cha bây chết hết để một mình bây ngồi đó bây ăn. Đồ quân ăn chó cả lông, ăn hồng cả hột. Cái quân không sợ trời đánh thánh đâm, trời đánh thánh vật. Bây ăn mần răng mà hết một chục rưỡi con gà ?”

Bản 2 “bis”

Và đây thêm một vài câu cũng với bản sắc của đất Huế để quí vị rộng đường “tham khảo”:

“Cha cố tổ mười đời cha bay. Bây ăng chi mà ăng ác rứa ? Bây tham chi mà tham vô hậu rứa ? Cứ sáng sáng mấc cái thóng, đứng bóng mấc cái niêu, chiều chiều mấc lẻ củi, túi túi mấc con gà. Diều dọi chi cho cam, một bầy ba cong gà xám, tám cong gà vàng, rứa mà hắng ăng mất môột cong, chừ đếm đi đến lại, coòng mười môột con. Bay ăng chi mà ăng vô hậu rứa ? ….”

Hay là :

“Hôm qua tau mất con gà mái dầu khoang cổ. Hôm ni tau mất con gà mái nổ khoang bông. Con mô bắt là gái trốn chúa lộn chồng. Thằng mô bắt là đàn ông ba đời đi ở đợ… Tụi bay hãy vén mái tai, gài mái tóc, chống cửa ngõ cho cao, chặt hàng rào cho thấp mà nghe tao chửi… Bay ăn cho chồng bay sợ, cho vợ bay kinh, bay ăn cho ngã miếu sập đình, cho mồ cha bay chết hết, để một mình bay ăn.”

Phần chửi thêm (Extra / Bonus):

(Cách chửi văn minh hơn một chút, có thêm phần “tân toán học !!!” Đọc cho dzui !!! hihi)

1- “Tiên sư đứa nào bắt mất con gà nhà bà, gà ở nhà bà con công con phượng, gà về nhà mày thành con cáo con diều hâu.

Bố mày là A, mẹ mày là B, bà cho vào ‘ngoặc’ bà ‘khai căn’ cả họ nhà mày. Bà rủa mày ăn miếng rau mày ói ra miếng thịt, mày tắm trong ao mày chết chìm trong chậu.

Sau khi bà ‘khai căn’ cả họ nhà mày xong rồi, bà ‘tích phân n bậc,’ bà bắt cả hang, cả hốc, ông cụ ông nội, cả tổ tiên nhà mày ra mà ‘đạo hàm n lần.’ ”

2- “Ái chà chà ! Mày tưởng nuốt được con gà nhà bà là mày có thể yên ổn mà chơi trò ‘cộng trừ âm dương’ trên giường với nhau à. Bà là trị cho ‘tuyệt đối’ hết cả họ chín đời nhà mày, cho chúng mày biết thế nào là ‘vô nghiệm,’ cho chúng mày không sinh, không đẻ, không duy trì được nòi giống nữa thì thôi.

Bà sẽ nguyền rủa cho chúng mày đời đời chìm đắm trong ‘âm vô cùng,’ sẽ gặp tai ương đến ‘dương vô tận,’ cho chúng mày chết rục trong địa ngục, cho chúng mày trượt đến “maximum” của sự ‘vô hạn’ tối tăm.

3- "Tiên sư nhà mày, mày tưởng ngày nào mày cũng rình mò ‘tiệm cận’ hàng rào nhà bà là bà không biết đấy à ? Bà là bà ‘giả thiết’ mày ăn cắp hơn hai chục con gà nhà bà, mày về mày vỗ béo để nhồi ‘đường cong’ cho con vợ mày, à... à… mày vẽ nữa đi, mày tô nữa đi. Mày tô, mày vẽ, mày nhồi cho đến khi ‘đường cong’ của con vợ mày nó nứt toác, nó gẫy khúc ra, chọc xiên chọc xẹo đi, rồi đi lên đi xuống nữa vào, rồi có ngày con vợ mày sẽ hạ ‘vuông góc’ một mạch thẳng xuống ‘góc tủ.’ “

Phần phụ diễn:

Bây giờ, để cho câu chuyện chửi có vẻ “bình quyền, bình đẳng,” thử đổi lời chửi của “Bà Mất Gà” thành lời chửi của “Ông Mất Ngỗng” để nghe xem cái giọng chửi nó khác nhau ra làm sao nhé (???) :

“Tiên sư đứa nào bắt mất con Ngỗng vàng nhà ông, Ngỗng ở nhà ông là con công con phượng, Ngỗng về nhà mày thành con cáo con diều hâu.

Bố mày là A, mẹ mày là B, ông cho vào ngoặc ông ‘khai căn’ cả họ nhà mày. Bà rủa mày ăn miếng rau mày ói ra miếng thịt, mày tắm trong ao mày chết chìm trong chậu.

Ông ‘khai căn’ cả họ nhà mày xong rồi, ông ‘tích phân n bậc,’ ông bắt cả hang, cả hốc, ông cụ ông nội, cả tổ tiên nhà mày ra mà ‘đạo hàm n lần.’

Ái chà chà, mày tưởng nuốt được con Ngỗng nhà ông là mày có thể yên ổn mà chơi trò ‘cộng trừ âm dương’ trên giường với nhau à. Ông là trị cho tuyệt đối hết cả họ chín đời nhà mày, cho chúng mày biết thế nào là ‘vô nghiệm,’ cho chúng mày không sinh, không đẻ, không duy trì được nòi giống nữa thì thôi.

Ông sẽ nguyền rủa cho chúng mày đời đời chìm đắm trong ‘âm vô cùng,’ sẽ gặp tai ương đến ‘dương vô tận,’ cho chúng mày chết rục trong địa ngục, cho chúng mày trượt đến ‘maximum’ của sự ‘vô hạn’ tối tăm

Tiên sư nhà mày, mày tưởng ngày nào mày cũng rình mò ‘tiệm cận’ hàng rào nhà ông là ông không biết đấy à ? Ông là ông ‘giả thiết’ mày ăn cắp hơn hai chục con Ngỗng vàng nhà ông, mày về mày vỗ béo để nhồi ‘đường cong’ cho con vợ mày, à... à… mày vẽ nữa đi, mày tô nữa đi. Mày tô, mày vẽ, mày nhồi cho đến khi ‘đường cong’ con vợ mày nó nứt toác, nó gẫy khúc ra, chọc xiên chọc xẹo đi, rồi đi lên đi xuống nữa vào, rồi có ngày con vợ mày sẽ hạ ‘vuông góc’ một mạch thẳng xuống ‘góc tủ.’ ”

Hình như là cái “âm điệu” chửi của mấy ông không “hay” bằng của mấy bà (?)

Tạm hết, chửi mấy kiểu này thì ai có lỡ lấy gà (hay ngỗng) cũng chịu thôi, đem gà trả lại để khỏi nghe, nuốt hổng dzô !!!

Trần Văn Giang tôi chưa “xiu lục” được (tìm hoàii hổng ra !) văn hóa chửi của Miền Nam. Xin quí vị sửa sai và bổ túc thêm cho.

Hết ý kiến.

Thân

Trần Văn Giang
[Lượm rải rác trên NET]

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Sống Chết Có Nhau là Huynh Đệ Chi Binh


Nghe lại bài hát Huynh Đệ Chi Binh với nhịp điệu vui nhộn mà lòng mình cứ thắt lại. Bởi lời hát mang ý nghĩa cao đẹp quá:

Huynh đệ chi binh
Là mình cùng chung đời lính,
Thương nhau khác chi nhân tình
Từ người deuxième cùi bắp,
Và rồi đi lên thượng cấp
Đều là huynh đệ chi binh

Lúc sướng có nhau là huynh đệ chi binh
Lúc khó có nhau là huynh đệ chi binh
Giúp đỡ lẫn nhau là huynh đệ chi binh
...
Sướng khổ có nhau là huynh đệ chi binh
Sống chết có nhau là huynh đệ chi binh


Còn lời nào đầy đủ và ý nghĩa hơn? Thuở xưa, cứ nghe và hát nghêu ngao cho vui miệng mà có biết đâu bài hát ấy là một thông điệp với ý nghĩa cao đẹp của nhạc sĩ Anh Bằng, là một nhạc sĩ nặng lòng với đất nước, muốn nói lên điều ước mơ của mọi người, nhất là những người trong quân đội. Hãy coi nhau như anh em ruột thịt để xây dựng sức mạnh chiến đấu với quân thù. Với vài lời phát biểu của nhạc sĩ Anh Bằng cũng đủ: "...không đoàn kết là chết".

Đọc lại "Mùa Hè Đỏ Lửa" của Phan Nhật Nam để thấy hình ảnh người lính xem nhau như anh em. Ở Charlie, chiếc trực thăng được lệnh của thiếu tá Duffy đáp xuống để bốc những người lính Nhảy Dù Việt Nam , trong đó có Duffy. Đạn thù bắn rát quá, chỉ vội đáp nhanh rồi bốc lên. Vừa chạm được càng trực thăng thì Hải bị trúng đạn rơi xuống đất. Pilot định bay luôn nhưng Duffy bảo pilot: "Quẹo lại, tao xuống, nó là bạn tao!"

Một người lính Mỹ mà còn đối xử với người lính Việt Nam rất là "huynh đệ chi binh" như thế kia! Điều gì đã làm cho họ "sống chết có nhau" như vậy. Duffy như con diều hâu nhảy từ trực thăng cách mặt đất 3 thước "hovering". Anh khều được Hải. Hải mềm như sợi bún (Mùa Hè Đỏ Lửa- Phan Nhật Nam ). Đau đớn thay, Hải đã hy sinh, mềm như sợi bún trong tay Duffy. Nhưng khi Duffy ôm xác Hải trên tay và cố lên được trực thăng thì người lính xạ thủ Mỹ cũng bị trúng đạn và hy sinh. Ở một đoạn khác của "Mùa Hè Đỏ Lửa", chiếc trực thăng đáp xuống để tải thương, một vị chỉ huy của của tiểu đoàn 11:
"-Bác sĩ Liệu đi luôn "líp" này, chân ông bị hư...
"-Tôi ở lại với các ông.
"-Không được! Ông đi trước!
Không ai tranh dành lên máy bay để được tải thương trước. Lính Nhảy Dù Việt Nam , ông này nhường ông kia lên máy bay trước: "Tôi ở lại,... ông đi trước". Ấy là vì tình chiến hữu như anh em ruột thịt, là "huynh đệ chi binh". Tình chiến hữu keo sơn ấy đã giúp cho đạo quân anh hùng Việt Nam có sức mạnh vạn năng và gây khiếp đảm cho địch quân, trên bốn vùng chiến thuật. Nơi trận mạc lúc còn chiến tranh, hay trong đời nay người ta gọi là đấu tranh, phía trước mặt là kẻ thù Việt cộng, thì có hành trang nào cần thiết hơn "huynh đệ chi binh"? Trước đây, người lính Việt Nam làm chủ trên nhiều chiến trường là nhờ họ xem nhau như anh em. Họ hiểu "huynh đệ chi binh" là gì. Khi đã chung vai đấu cật ở chiến trường thì không những "giúp đỡ lẫn nhau" hay "sướng khổ có nhau" mà phải là: "sống chết có nhau", thì mới mong có ngày chiến thắng.

Nhưng, có phải mặc áo lính thì trở thành lính và thương nhau "khác chi nhân tình"? Ở chiến trường hay ở bất cứ nơi đâu, bên trong bộ đồ lính ấy, cần phải có một người lính đúng nghĩa, thì mới "huynh đệ chi binh" được. Cách cư xử với nhau nói lên tư cách của người ấy. Có thương yêu nhau thì mới "sống chết có nhau"; có thương yêu nhau thì mới có "huynh đệ chi binh" và tạo nên sức mạnh được. Nếu không thực sự thương yêu nhau thì người ta sẽ không thấy những hình ảnh của một thiếu tá Duffy hay những người lính Nhảy Dù Việt Nam rất tiêu biểu vừa kể trên đây. Thử nghĩ, một đội quân có chen lẫn thành phần bất hảo, ăn trộm đồ đạc của nhau, toa rập nhau tìm cách loại trừ nhau, tống khứ anh em đi đến chỗ nguy hiểm thay cho mình,... thì làm sao đạo quân ấy có sức mạnh được. Họ sẽ chẳng làm nên trò trống gì, mà còn để lại ô danh muôn thuở. Đi đến đâu cũng bị coi khinh!
Bạn thân mến,

Nghe lại lời nhắn gửi của nhạc sĩ Anh Bằng mà ta cảm thấy yên tâm. Những lời mời gọi huynh đệ bốn phương hãy tiếp tục giữ vững tinh thần "huynh đệ chi binh". Bởi vì, nếu "không đoàn kết là chết!". Kẻ thù còn đó mà nhiệm vụ cứu quốc chưa hoàn thành thì lòng nào đành đoạn dứt bỏ "huynh đệ chi binh". Chí nhân là ở chỗ đó. Anh em trong nhà phải đùm bọc lẫn nhau thì mới đủ sức mạnh để đối đầu với kẻ thù bên ngoài. Và như vậy mới đúng với câu "lấy chí nhân mà thay cường bạo". Bọn đạo tặc vô nhân đối xử với nhau tàn độc, coi nhau như kẻ thù. Nhưng, những con người chí nhân, họ thương yêu đùm bọc nhau như anh em thì chắc chắn sẽ vượt trở ngại và đạp tan cường bạo.

Các bạn còn cho mình là chiến sĩ đang tham gia công cuộc chống cộng cứu nước thì dù ở nơi đâu cũng cần phải đội ngũ hóa và đoàn kết trong tinh thần "huynh đệ chi binh". Hải ngoại và quốc nội phải một lòng "sống chết có nhau" thì chắc chắn chúng ta sẽ có sức mạnh đánh thắng hung tàn.

Lê Văn Bảy
Tháng Tư-2007

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Bản án xử Nguyễn Minh Triết

Nguyễn Ðạt Thịnh
Ngày 10 tháng 5, 2007 tòa án Việt Cộng xử tù ba chiến sĩ dân chủ, bác sỹ Lê Nguyên Sang 5 năm , luật sư Nguyễn Bắc Truyển và nhà báo Huỳnh Nguyên Đạo 4 và 3 năm.
Chúng buộc quý vị này vào tội viết hay nói những điều chống lại chúng. Rút kinh nghiệm thái độ bất khuất trước bạo lực của linh mục Nguyễn Văn Lý, lần này chúng không cho giới quan sát ngoại quốc vào theo dõi phiên tòa dài khoảng bốn tiếng đồng hồ.
Tổ chức Ân Xá Quốc tế lên tiếng bày tỏ quan ngại đặc biê?t trước việc Việt Cộng thẳng tay đàn áp những người bất đồng chính kiê´n kể từ sau hội nghị thượng đỉnh Apec tháng 11 năm 2006, v?i sự hiện diện của tổng thống Bush.
Ngày hôm sau, chúng xử hai luật sư Nguyễn Văn Đài 5 năm tù giam, 4 năm quản chế và Lê Thị Công Nhân 4 năm tù giam, 3 năm quản chế

Luật sư Lê thị Công Nhân, 27 tuổi và luật sư Nguyễn văn Ðài, 38 tuổi
Hãng thông tấn AFP trích lời toà án Việt Cộng nói những tài liệu tìm đuợc trong văn phòng 2 luật sư "xuyên tạc lịch sử đấu tranh cách mạng và chính sách cũng như luật pháp của đảng và nhà nước, chỉ trích Hồ Chí Minh và giới lãnh đạo cấp cao của đảng và nhà nước".
Phiên xử cũng kéo dài khoảng 4 tiếng đồng hồ, toà Việt Cộng cáo buộc họ đã hợp tác với những người cổ vũ cho dân chủ hiện sống ở hải ngoại và dùng Internet để bày tỏ quan điểm.
Chúng cũng cáo buộc hai luật sư hợp tác với Linh mục Nguyễn Văn Lý.
Hãng AP tường thuật khi tòa Việt Cộng hỏi "các hành vi này có cấu thành tội hay không?", luật sư Lê Thị Công Nhân đáp "chắc chắn là không". Cô Công Nhân cũng khẳng định việc cô tham gia vào Khối 8406 và làm người phát ngôn cho đảng Thăng Tiến Việt Nam.
Tại phiên xử, luật sư Đài cũng nói là ông không vi phạm bất kỳ luật nào mà chỉ đơn thuần thực hiện quyền tự do ngôn luận và quyền lập hội.
Tòa Việt Cộng buộc hai luật sư này vào tội "kêu gọi cử tri Việt Nam tẩy chay cuộc bầu cử đại biểu quốc hội khóa XII”, một cuộc đảng cử dân bầu nữa, thêm vào những cuộc bầu cử quái thai của Việt Cộng như từ trước đến nay.
Luật sư Nguyễn Văn Đa`i và luật sư Lê Thị Công Nhân bị bắt cùng ngày 06 tháng Ba với cáo buộc là họ đã từng sử dụng văn phòng luật Thiên Ân của luật sư Đài để “đào tạo về nhân quyền cho sinh viên ở Hà Nội".
Trong lúc chúng thẳng tay đàn áp dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam thì Nguyễn Minh Triết một trong những tên tội đồ chính phạm của chúng chuẩn bị sang thăm Hoa Kỳ, quê hương của dân chủ và nhân quyền. Chúng ra mặt thách thức thế giới, coi thường thái độ phản đối của mọi người.
Chúng ta không thể điềm nhiên ngồi nhìn Việt Cộng đàn áp các chiến sĩ dân chủ quốc nội.
Chúng ta phải có thái độ nào?
Tôi đề nghị chúng ta bắt Triết phải khai khẩu lên tiếng, để trừng trị trọng tội của hắn và của đồng bọn hắn bịt miệng dư luận bằng hành động bịt miệng cha Lý và thẳng tay đàn áp, giam giữ những chiến sĩ dân chủ khác.
Bắt hắn nói để làm gì?
Ðể hắn phải tự cung khai tội trạng trước tòa án dư luận quốc tế; bắt hắn trả lời những câu hỏi của phóng viên thế giới như "Xin ông vui lòng cho biết linh mục Nguyễn Văn Lý phạm tội gì mà bị xử 8 năm tù?"
Ðương nhiên Triết sẽ nói đến đạo luật "còng đôi 88" cấm tuyên truyền chống chính phủ, việc làm bất bạo động mà thế giới dân chủ cho là đệ tứ quyền, và Hoa Kỳ coi như hiến quyền của mọi người dân đuợc phép tự do phát biểu."Còng 88" và quan điểm quyền tự do phát biểu sẽ đụng chạm, và sẽ làm Triết lòi ra cái ngụy thuyết đánh lận nhân dân Việt Nam với đảng cộng sản, tổ quốc thiêng liêng với nhà nước tư hữu của Việt Cộng.
Ðụng chạm này sẽ khiến chế độ cộng sản thoái hóa đuợc trình bày dưới góc nhìn của truyền thông thế giới.
Làm cách nào vận động truyền thông thế giới phỏng vấn Nguyễn Minh Triết?
Viết thư, viết điện thư yêu cầu họ. Thử hình dung những tờ nhật báo như Los Angeles Times, NYTimes, Washington Post, tuần báo Time, Newsweek, những talkshow hosts tên tuổi như Larry King, Gordon Liddy, Jim Bohannon, hay Sean Hannity … mỗi nơi nhận đuợc vài trăm, hay chỉ vài chục thư yêu cầu họ phỏng vấn Triết.
Và thử hình dung chỉ 2 trong những cơ quan truyền thông hay những talkshow hosts này tò mò muốn tìm hiểu Triết và đảng cộng sản của hắn! Kết quả sẽ lớn hơn mọi tưởng tượng lạc quan nhất của chúng ta.
Xin bạn đọc hãy nhìn vào ánh mắt đầy quả cảm của cô Công Nhân đứng trước tòa Việt Cộng để đọc bức thông điệp cô gởi cho chúng ta.
Ðừng chần chừ nữa, ngồi ngay xuống bàn viết thư, đua Triết ra trước tòa án dư luận quốc tế để bắt hắn tự khai ra những bỉ ổi của Việt Cộng.
Dù Triết có thoái thác, tránh né truyền thông thì thái độ tránh né của hắn cũng vẫn là một lời thú tội trước công luận.

Nguyễn Ðạt Thịnh

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

MẸ TÔI Vô Danh

Suốt thời thơ ấu và cả khi lớn lên, lúc nào tôi cũng ghét mẹ tôi. Lý do chính có lẽ vì bà chỉ có một con mắt. Bà là đầu đề để bạn bè trong lớp chế giễu, châm chọc tôi.

Mẹ tôi làm nghề nấu ăn để nuôi tôi ăn học. Một lần bà đến trường để kiếm tôi làm tôi phát ngượng. Sao bà lại có thể làm như thế với tôi? Tôi lơ bà đi, ném cho bà một cái nhìn đầy căm ghét rồi chạy biến. Ngày hôm sau, một trong những đứa bạn học trong lớp la lên.

- Ê, tao thấy rồi! Mẹ mày chỉ có một mắt!

Tôi xấu hổ chỉ muốn chôn mình xuống đất. Tôi chỉ muốn bà biến mất khỏi cuộc đời tôi. Ngày hôm đó, đi học về tôi nói thẳng với bà.

- Mẹ chỉ muốn biến con thành trò cười!

Mẹ tôi không nói gì. Còn tôi, tôi chẳng để ý gì đến những lời nói đó, vì lúc ấy lòng tôi tràn đầy giận dữ. Tôi chẳng để ý gì đến cảm xúc của mẹ. Tôi chỉ muốn thoát ra khỏi nhà, không còn liên hệ gì với mẹ tôi. Vì thế tôi cố gắng học hành thật chăm chỉ; và sau cùng, tôi có được một học bổng đi học ở một tiểu bang xa.

Sau đó, tôi lập gia đình, mua nhà và có mấy đứa con. Vợ tôi là con nhà gia thế, tôi giấu nàng về bà mẹ của mình, chỉ nói mình mồ côi từ nhỏ. Tôi hài lòng với cuộc sống, với vợ con và những tiện nghi vật chất tôi có được ở một thành phố sang trọng. Tôi mua cho mẹ một căn nhà nhỏ, thỉnh thoảng lén vợ gởi một ít tiền về biếu ba, tự nhủ thế là đầy đủ bổn phận. Tôi buộc mẹ không được liên hệ gì với tôi.

Một ngày kia, mẹ bất chợt đến thăm. Nhiều năm rồi bà không gặp tôi, thậm chí bà cũng chưa bao giờ nhìn thấy các cháu. Khi thấy một bà già trông có vẻ lam lũ đứng trước cửa, mấy đứa con tôi có đứa cười nhạo, có đứa hoảng sợ. Tôi vừa giận vừa lo vợ tôi biết chuyện, hét lên.

- Sao bà dám đến đây làm con tôi sợ thế? Đi khỏi đây ngay!

Mẹ tôi chỉ nhỏ nhẹ trả lời.

- Ồ, xin lỗi, tôi nhầm địa chỉ!

Và lặng lẽ quay đi. Tôi không liên lạc với bà trong suốt một thời gian dài. Hồi nhỏ, mẹ đã làm con bị chúng bạn trêu chọc nhục nhã, bây giờ mẹ còn định phá hỏng cuộc sống đang có của con sao?

Một hôm, nhận được một lá thư mời họp mặt của trường cũ gởi đến tận nhà, tôi nói dối vợ là phải đi công tác. Sau buổi họp mặt, tôi ghé qua căn nhà của mẹ. Mấy người hàng xóm nói rằng mẹ tôi đã mất vài ngày trước đó, và do không có thân nhân, sở an sinh xã hội đã lo mai táng chu đáo.

Ồ, thế là từ nay tôi không còn phải bận tâm về bà nữa. Họ trao lại cho tôi một lá thư mẹ để lại cho tôi.

"Con yêu quý,

Lúc nào mẹ cũng nghĩ đến con. Mẹ xin lỗi về việc đã dám bất ngờ tìm đến nhà con và làm cho các cháu phải sợ hãi. Mẹ rất vui khi nghe nói con sắp về trường tham dự buổi họp mặt, nhưng mẹ sợ mẹ không bước nổi ra giường để đến đó nhìn con. Mẹ ân hận vì đã làm con xấu hổ với bạn bè trong suốt thời gian con đi học ở đây.

Con biết không, hồi con còn nhỏ xíu, con bị tai nạn hỏng mất một con mắt. Mẹ không thể ngồi nhìn con lớn lên mà chỉ có một mắt, nên mẹ đã cho con con mắt của mẹ. Mẹ đã bán tất cả những gì mẹ có để bác sĩ có thể thay mắt cho con, nhưng chưa bao giờ mẹ hối hận về việc đó. Mẹ rất hãnh diện vì con đã nên người, và mẹ kiêu hãnh về những gì mẹ đã làm cho con. Con đã nhìn thấy cả thế giới mới, bằng con mắt của mẹ, thay cho mẹ.

Mẹ yêu con lắm,

Mẹ... "

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Thằng chó đẻ của má
Má ơi ! Bữa nay là ngày 23 tháng chạp, ngày đưa ông Táo . Không biết những người Việt lưu vong như tụi con có còn giữ phong tục hằng năm cúng đưa ông Táo về Trời hay không, chớ vợ của con năm nào đến ngày này cũng mua hoa quả bánh ngọt cúng đưa ông Táo, cũng thành khẩn như ngày xưa, hồi còn ở bên nhà.


Năm nay, nhờ vợ của con lau dọn bàn thờ ông Táo để sửa soạn bày lễ vật ra cúng, nên con mới nhớ ra là ngày 23 tháng chạp. Ngày này cũng là ngày sanh của má. Hồi đó, má hay nói: « Ngày sanh của đứa nào còn khó nhớ, chớ ngày sanh của tao là ngày ông Táo về Trời, không dễ gì quên ! ». Và ngày này hồi đó, khi cúng vái, má hay cầu khẩn : « Ông về ở trển nhờ tâu lại bữa nay tôi lên thêm một tuổi, cầu xin Ngọc Hoàng bớt cho tôi chút đỉnh khổ cực … ». Hồi đó, nghe má cầu xin, con phì cười. Bây giờ, nhớ lại, con bỗng ứa nước mắt…Cuộc đời của má - theo lời tía kể - cũng lắm gian truân từ ngày má bỏ cái làng quê ở bờ sông Vàm Cỏ để đi theo tía dấn thân làm cách mạng vào những năm 1928/29. Gia đình giòng họ từ bỏ má cho nên hồi sanh con, tía bận đi xa, má nằm chèo queo một mình trong nhà bảo sanh, chẳng có người nào đi thăm hết. Vậy mà sau đó, má vẫn tiếp tục bôn ba …Mãi về sau, khi con lên sáu bảy tuổi, có lẽ chỉ vì sanh có một mình con nên tía má mới « trụ hình » - vẫn theo lời tía kể - với nhiều cực nhọc và khó khăn tiếp nối dài dài…Hỏi sao sau này mỗi lần đưa ông Táo má không có lời cầu khẩn nghe tội nghiệp như vậy ?


Nhớ lại, cách đây ba năm má thọ tròn trăm tuổi. Tính ra, từ ngày con đi chui theo ý má muốn - má nói : « Mầy đem vợ con mầy đi đi, để tao còn hy vọng mà sống thêm vài năm nữa » ! – cho đến năm đó, con xa má 25 năm. Con mới 72 tuổi mà cứ bịnh lên bịnh xuống nhưng năm đó con quyết định phải về. Và con đã về …


Thằng Bảy, con chị Hai Đầy ở Thị Nghè nghỉ chạy xe ôm một bữa để đưa con về cái làng quê nằm bên sông Vàm Cỏ. Nó nói : « Đi xe đò chi cho tốn tiền, để con đưa cậu Hai về, sẵn dịp con thăm bà Tám luôn ».


Hồi tụi con bước vào nhà, cả xóm chạy theo mừng. Con nhỏ giúp việc vội vã đỡ má lên rồi tấn gối để má ngồi dựa vào đầu giường : « Thưa bà cố, có khách ». Má nhướn mắt nhìn, hai mắt sâu hỏm nằm trên gương mặt gầy nhom đầy vết nám thâm thâm : « Đứa nào đó vậy ? ». Con nghẹn ngào : « Dạ, con… ». Chỉ có hai tiếng « Dạ, con » mà má đã nhận ra con ngay mặc dầu đã xa con từ 25 năm ! Má nói : « Mồ tổ cha mầy ! Trôi sông lạc chợ ở đâu mà bây giờ mới dìa ? Mà dìa sao không cho tao hay ?» Con ngồi xuống cạnh má: “ Sợ cho hay rồi má trông” Má nói mà gương mặt của má nhăn nhúm lại: “ Tao trông từ hai mươi mấy năm nay chớ phải đợi đâu tới bây giờ ! ” Rồi má nhắm mắt một vài giây mới để lăn ra được hai giọt nước mắt. Cái tuổi một trăm của má chỉ còn đủ hai giọt nước mắt để cho má khóc mừng gặp lại thằng con ... Xúc động quá con gục đầu vào vai má khóc ngất, khóc lớn tiếng, khóc mà không cần biết cần nghe gì hết. Cái tuổi bảy mươi hai của con còn đầy nước mắt để thấm ướt cái khăn rằn má vắt trên vai...


Suốt ngày hôm đó, má con mình nói biết bao nhiêu chuyện, có sự tham dự của họ hàng chòm xóm. Nhớ gì nói nấy, đụng đâu nói đó ...vui như hội. Vậy mà cuối ngày, không thấy má mệt một chút nào hết. Con nhỏ giúp việc ngạc nhiên: “Bình thường, bà cố nói chuyện lâu một chút là thở ồ ồ. Bữa nay sao thấy nói hoài không ngừng ! Có ông Hai dìa chắc bà cố sống thêm năm bảy năm nữa à ông Hai !”


Đêm đó, má “đuổi” con vô mùng sớm sợ muỗi cắn. Con nằm trên bộ ván cạnh cái hòm dưỡng sinh của má. Con hỏi: “Bộ cái hòm hồi đó má sắm tới bây giờ đó hả ?” Má cười khịt khịt vài tiếng rồi mới nói: “Đâu có. Cái hòm mầy nói, tao cho cậu Tư rồi. Hồi Cao Miên pháo kích quá, tao đem cậu Tư về đây ở, rồi ổng bịnh ổng chết. Tao có sắm cái hòm khác, cái đó tao cho thằng Hai con cậu Tư. Tội nghiệp thằng làm ăn suy sụp nên rầu riết rồi chết !” Con nói chen vô: “ Vậy, cái nầy má sắm sau đám của anh Hai” Má lại cười khịt: “Đâu có. Cái hòm sắm sau cái hòm cho thằng Hai, tao cho dì Sáu rồi. Hồi chỉ nằm xuống, nhà chỉ không có tiền mua hòm thì lấy gì làm đám ma ? ”Ngừng lại một chút rồi má mới nói : “ Còn cái hòm nầy chắc tao không cho ai nữa. Họ hàng quyến thuộc lần hồi chết hết, còn lại có mình tao thôi, có nó nằm gần tao cũng yên bụng !”


Nằm tơ lơ mơ một lúc bỗng nghe má hỏi: “ Thằng chó đẻ ... ngủ chưa ?” Con trả lời : “Dạ chưa” Má tằng hắng: “ Tao tụng kinh một chút nghen” Con : “Dạ” mà nghe tiếng “Dạ” nghẹn ngang trong cổ. Mấy tiếng “Thằng chó đẻ” của má kêu con đã làm cho con thật xúc động. Hồi đó – lâu lắm, cách đây sáu mươi mấy bảy chục năm, hồi con còn nhỏ lận – má hay gọi: “Thằng chó đẻ, lại hun cái coi !”. Hồi đó, mổi lần cưng con, nựng con, ôm con vào lòng má luôn luôn gọi con bằng “ thằng chó đẻ” ! Mà con thì chỉ biết sung sướng khi nghe má gọi như vậy. Rồi con lớn lần, má không còn gọi con bằng “thằng chó đẻ” nữa. Con không để ý và chắc má cũng không để ý đến chuyện đó. Mãi đến bây giờ má lại gọi con bằng “thằng chó đẻ”, gọi tự nhiên như hồi còn nhỏ. Chỉ có mấy tiếng thật thô thiển bình dị, nghe khô khan như vậy mà sao con cảm nhận tình thương thật là tràn đầy. Và đối với má, dầu tuổi đời của con có cao bao nhiêu nữa, con vẫn là “thằng nhỏ”,”thằng chó đẻ cưng”. Con bắt gặp lại sự sung sướng của hồi đó khi được má gọi như vậy. Rồi bao nhiêu hình ảnh thuở ấu thời hiện về trong đầu con, liên miên chớp tắt. Đêm đó, con trằn trọc tới khuya...

Sáng hôm sau, má biểu con đẩy xe lăn đưa má đến từng bàn thờ để má thắp nhang tạ ơn Trời Phật, Ông Bà. Cuối cùng, đến bàn thờ của tía, má nói: “Ông ơi, Có thằng nhỏ nó dìa đó. Ông độ cho nó được mạnh giỏi, độ cho vợ con nó ở bên tây được suông sẻ trong công việc làm ăn...” Đứng sau lưng má, con phải cắn môi thật mạnh để khỏi bật lên thành tiếng nấc !


Đẩy má ngang bàn viết cũ của tía, con thấy trên tường có treo hai khuôn kiếng lọng văn bằng đỏ chói có đóng dấu cũng đỏ chói của Nhà Nước. Con ngừng lại đọc: một tấm là huân chương hạng nhứt và một tấm là huy chương hạng ba cấp cho Lê thị Ráng. Con hỏi: “ Cái gì vậy, má ?” Má nói: “ Mề-đai của tụi nó cho tao. Tụi nó bươi chuyện thời ông Nhạc nào đâu hồi mấy năm 1928-29 rồi chạy lại cho. Cái hạng nhứt đó cho năm ngoái, còn cái hạng ba mới cho đây” Con cười: “ Vậy là họ hạ cấp má rồi” Má hỏi: “Sao mầy nói vậy ?” Con giải nghĩa: “Thì từ hạng nhứt tuột xuống hạng ba là bị hạ cấp chớ gì nữa ?” Má cười: “Mầy không biết. Cái đầu hạng nhứt đó, cho treo chơi chớ không có tiền. Cái hạng ba đó mới có cho tiền” Con đùa: “Vậy má chia cho con chút đỉnh lấy hên coi !” Má khoát tay: “Ối ...từ ngày nhận cái mề-đai đó tới nay đã ba tháng rồi mà có thấy tụi nó đưa tiền đâu. Nghe nói còn mấy khâu gì gì đó chưa thông nên có hơi trễ !” Thấy trên văn bằng đề “Lê Thị Ráng” con thắc mắc: “Ụa ! Mà Lê Thị Ráng đâu phải là tên của má. Trong khai sanh của con, má là Lê Thị Láng mà !” Má cười khục khục mấy tiếng rồi mới nói: “Để tao nói cho mầy nghe. Hồi đó tao sanh mầy ở gần nhà thờ Cha Tam, trong Chợ Lớn. Cô mụ người tàu, nói tiếng Việt còn lơ lớ. Cổ hỏi tao tên gì để làm khai sanh. Tao nói tao tên Ráng, mà R cổ nói không được, nên ra sở khai sanh, cổ nói Ráng thành Láng là như vậy” Mãi tới bảy mươi hai tuổi con mới biết tên đúng của má là “Ráng” !


Hôm đưa ông Táo, con có tổ chức một bữa tiệc để ăn mừng một trăm tuổi của má, có họ hàng tham dự đầy nhà. Vừa ngồi vào bàn, dì Bảy Giang nói: “Theo phong tục mình, con cái phải quì lạy để chúc thọ mẹ cha. Bây giờ, chị Tám được một trăm tuổi, hiếm lắm, quí lắm. Mầy phải lạy má mầy đi rồi ăn uống gì ăn” Mọi người vỗ tay tán thành. Má cũng cười, nói: “Ồ phải ! Hồi nẳm, đám cưới của mầy, mầy có đi học lạy với cậu Bảy Dinh, nhưng bên đàng gái miễn lễ chỉ bắt xá thôi, rồi về đây tía mầy cũng miễn luôn. Cho nên tao chưa thấy mầy lạy ra sao hết. Đâu ? Mầy lạy tao coi !” Mọi người lại vỗ tay nữa. Con đứng trước mặt má, chấp tay ấp úng: “Thưa má. Hôm nay là ngày sanh thứ một trăm của má, con xin lạy mừng thọ má” Rồi con lạy ba lạy, cũng đủ điệu bộ lên gối xuống gối như con đã học lạy cách đây gần năm chục năm. Con lạy mà nước mắt chảy quanh. Con biết rằng lần lạy đầu tiên này có thể là lần lạy cuối cùng, bởi vì qua Tết, con sẽ trở về Pháp với cái lạnh cắt da của mùa đông, rồi sau đó biết có còn về nữa hay không ? Sức khỏe của con càng ngày càng kém, bao nhiêu thứ thuốc uống vô hằng bữa liệu kéo dài sự sống của con được đến bao lâu ? Điều này, con đâu dám cho má biết. Mọi người lại vỗ tay khi con lạy xong. Rồi thì nhập tiệc. Bữa tiệc hôm đó thật là vui. Người vui nhứt là má.

Má ơi ! Bữa nay là ngày sanh thứ 103 của má, ngày đưa ông Táo về Trời. Vậy là ba năm qua rồi, con đã không về thăm má. « Thằng chó đẻ » của má vẫn còn « trôi sông lạc chợ », để cho má cứ phải trông nó về, trông hằng ngày, trông mòn con mắt, trông khô nước mắt !

Má thương con , xin má tha thứ cho con... tha thứ cho con ….


Tiểu Tử

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Quê Hương Một Giải Hữu Tình
Thanh Trúc
Lịch sử Việt Nam có lúc hưng, lúc suy, bao nhiêu năm chinh chiến triền miên trên quê hương yêu dấu của chúng ta và đến 30/04/1975 chiến tranh đã chấm dứt, thời gian đã đủ để cho Việt Nam vươn lên với năm Châu, bốn bể. Nhưng tại sao đất nước vẫn tụt hậu. Trước năm 1975, tuy là thời chinh chiến mà nước ta được mệnh danh là "Hòn Ngọc Viễn Ðông", một trong những "Con Rồng Châu Á" , sao giờ đây biến thành một nước lạc hậu, đói rách, xã hội băng hoại, giáo dục suy đồi, bằng cấp như tờ giấy lộn được mua bán bằng tiền.

Việt Nam là một trong những nước đứng đầu về buôn bán bạch phiến, là một trong mười nước nghèo nhất và là nước đứng h àng đ ầu v ề nạn tham nhũng trên thế giới. Chưa nói đến bệnh hoạn không thuốc thang. Tuổi ngây thơ đáng lẽ được cắp sách đến trường, thì lại phải đi bán vé số hay sống lay lứt trên những đống rác. Hàng chục ngàn em bé gái bị bán, ép làm nô lệ tình dục bên Campuchia, phụ nữ thì bán sang Ðài Loan làm điếm với chiêu bài hôn nhân. Trong thời đại văn minh nhân bản, có quốc gia nào có cái "chợ vợ" như ở Viết Nam không.?.Ðó là hai chữ "giải phóng" mà CSVN đã thực hiện cho dân tộc đó hay sao?

Nước Việt Nam yêu dấu trãi qua 32 năm khốn khổ, một bước thăng trầm của dòng lịch sử oan nghiệt cho một Dân Tộc con Rồng cháu Tiên .

Qua bao nhiêu thời đại , qua bao nhiêu vinh nhục người Việt Nam vẫn kiêng cường bất khuất chưa bao giờ khuất phục ngoại bang , chưa bao giờ phải bỏ nước ra đi tìm tự do như những ngày 30 tháng tư đen .

Tháng tư vận nước nghiệt oan
Tháng tư Cộng Phỉ phá tan Sơn Hà
Cáo, Hồ, một lũ gian tà
Quấy hôi đất Bắc, tiến qua Nam phần

Khiến toàn dân Việt trầm luân
Giang Sơn gấm vóc mất dần, tang thương
Cũng vì lũ Mạnh, Khải, Lương
Nhân dân đói rách, trăm đường xót xa

Tiên phong một lão Hồ già
Theo sau một lũ cũng là vong nô
Toàn phường cúi mặt bưng bô
Van lạy tứ xứ kiếm đô làm giầu

Dân lành khốn khổ, bể dâu
Nhân quyền, nhân phẩm còn đâu hỡi trời
Quê hương một cảnh rối bời
Ai người nhung lụa, ai người lưu vong

Đứng lên ta quyết một lòng
Đánh tan Cộng Phỉ mới mong thanh bình
Quê hương một giải hữu tình
Mây đen tan biến, bình minh lại về.

32 năm qua hàng triệu triệu người Việt Nam yêu dấu phải rời quê cha đất tổ để chạy trốn khỏi xiềng xích gọng cùm của cộng sản Việt Nam.

Ôi Tổ Quốc thương đời tỵ nạn,
Dân tộc buồn thấm vạn niềm đau,
Nhà nát tan cuộc sống cơ cầu,
Vận nước nghiệt cúi đầu chua xót !

Cay đắng thay những người Việt cộng đó lại cũng là da vàng máu đỏ, tàn ác như Hitlơ người Đức thì ông ta cũng giết người Do Thái chứ đâu có giết người Đức , Mẹ Việt Nam đau khổ tũi nhục vì chính Việt cộng là người Việt Nam lại giết hại chính dân tộc Việt Nam ! Những người cộng sản da vàng máu đỏ đã đem một thứ chủ thuyết ngoại lai của người Nga Xô Mac-Lenin du nhập vào ViệtNam để chôn sống một dân tộc , chính những người Việt cộng này đã đem chủ thuyết tàn bạo độc tài để khóa miệng người dân, đàn áp nhân quyền khống chế dân chủ. Dưới xã hội chủ nghĩa của cộng sản Việt Nam không có tự do tôn giáo , không có tự do ngôn luận . Hình ảnh Linh mục Nguyễn Văn Lý giữa phiên tòa bất công của Việt cộng đang bị công an bịt miệng chính là bằng chứng của cái gọi là tam vô của cộng sản: Vô nhân tánh –Vô đạo đức và Vô Tổ Quốc.

Vì không có nhân tánh cho nên Việt cộng đàn áp nhân quyền dân chủ không gớm tay vì vô đạo đức Việt cộng đã buôn bán người dân trẻ em và phụ nữ như một món hàng thua cả xúc vật đây là nỗi nhục Quốc thể ! và vì Việt cộng là những con người vô Tổ Quốc cho nên Việt cộng thẳng tay dâng đất và biển cho Trung cộng còn đâu nữa Ãi Nam Quan Thác Bản Giốc , Suối Phi Khanh và vùng Biển Đông của nước Việt Nam ta ..và còn nữa không sao kể hết tội ác tày trời của Viêt cộng .

Đất Nước điêu tàn con dân khóc,
Nỗi đau chung khóc lệ lưng tròng,
Lương tri còn nên phải long đong,
Tận nhân lực trên đường tranh đấu !

Những người Việt Nam yêu chuộng tự do đã chôn thây ngoài biển cả đã vùi thây nơi mộ hoang trên đất người Mã Lai Bidong hay Thái Lan và còn nữa... nhưng Việt cộng vẫn không tha cho người đã chết. Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đã với tay từ trong nước đập phá tan nát những mộ bia của thuyền nhân tỵ nạn Việt cộng muốn bôi xóa lịch sử muốn bịt mắt thế gìới như đã bịt miệng Linh mục Lý trong phiên tòa bất công trong nước, nhưng Việt cộng không làm nỗi ! Việt cộng đã thất bại trong sách lược nghị quyết 36 kêu gọi hòa họp hòa giải dân tộc. Dân tộc Việt Nam trong và ngoài nước chỉ có 1 không cần hòa giải, khác chăng là chủ thuyết cộng sản khác với dân tộc Việt Nam vì dân tộc Việt Nam bao đời ngàn năm văn hiến vẫn là yêu thương tự do yêu chuộng hòa bình và không bao giờ khuất phục ngoại bang để dâng đất dâng biển cho ngoại bang như Việt cộng đã làm.

Ngày nay, các cao trào đấu tranh đang bộc phát. Thế giới đã biết được phần nào bộ mặt gian manh của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam, thiết nghĩ chúng ta lại càng phải cảnh giác và nỗ lực hơn nữa. Ðừng bao giờ bị ru ngủ bởi những xảo trá lọc lừa qua những buổi ca nhạc, nghệ thuật hay văn hóa "giao lưư". Bởi đây chính là những viện thuốc độc bọc đường của CS. Nếu không cẩn thận thì chính những viên thuốc bọc đường này sẽ hủy hoại con em chúng ta.

Sự tác hại của nó chính là làm cho con người mất định hướng và trở nên hèn nhược, mất ý thức quê hương và lòng tự hào dân tộc. Như vậy, bọn CSVN sẽ vững mạnh và tiếp tục buôn dân bán nước, giày xéo Quê Hương.

Trước âm mưu thâm độc này của CSVN, mong rằng tất cả chúng ta, nhất là những bạn trẻ, đừng bao giờ tham dự bất cứ một buổi ca nhạc hay sinh hoạt nào do CSVN giựt dây, dù gián tiếp hay trực tiếp. Ðất nước ngày mai, sáng hay tối, dân tộc có thoát được gông cùm CS hay không là do chính sự ý thức của chúng ta, nhất là những người trẻ của hôm nay.

Ngày xưa dân chủ nhân quyền
Ngày nay dân bị xích xiềng khổ đau
Ngày xưa đất nước sang giàu
Ngày nay mang đất dâng Tầu bán dân
Cáo Hồ một lũ hèn đần
Đem về tà thuyết phá dần Giang San
Tan hoang từ phố đến làng
Băng hoại đạo đức hoang đàng giết nhau
Bao giờ cho hết bễ dâu
Ngọc cờ chính nghĩa xây mầu vinh quang.

Thanh Trúc (Melbourne –Úc Châu)
13/05/2007

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Người giữ bí mật về T.T.Kh đã ra đi

Nhà văn Thanh Châu, tên thật là Ngô Hoan đã từ trần lúc 11g30 ngày 8-5 tại nhà riêng ở quận Tân Bình, sau một cơn cảm mạo trước đó ba ngày. Ra đi ở độ tuổi 96, nhà văn Thanh Châu đã mang sang thế giới bên kia những bí mật còn lại của nghi án văn chương T.T.Kh, bởi giới nghiên cứu văn học Việt Nam đều biết Thanh Châu là người có liên quan đến sự xuất hiện của T.T.Kh và sở hữu nhiều thông tin về nhân vật bí ẩn này.

Văn đàn Việt Nam năm 1937 xuất hiện truyện ngắn Hoa Ti-gôn của Thanh Châu đăng trên tạp chí Tiểu thuyết thứ bảy - nơi ông đang cộng tác. Chỉ mấy ngày sau, tòa soạn Tiểu thuyết thứ bảy nhận được bài thơ Hai sắc hoa Ti-gôn từ một thiếu phụ trẻ mang đến. Giới văn chương xôn xao vì bài thơ Hai sắc hoa Ti-gôn quá hay, cộng với sự bí ẩn của cái tên tác giả viết tắt khiến làng văn thêm xao động.

Cho đến nay, có nhiều người tự nhận T.T.Kh là người yêu của mình, nhưng người lên tiếng trước tiên là Thanh Châu, ông tự nhận T.T.Kh chính là nhân vật trong truyện ngắn Hoa Ti-gôn và cô này cũng chính là người yêu của ông.

Tuy nhiên, khi có nhiều người cũng nhận T.T.Kh là người yêu, Thanh Châu không phát biểu gì nữa cả. Và ông im lặng cho đến cuối đời, mặc cho nghi án văn chương ấy cứ liên tục được nhắc đến trên nhiều tờ báo suốt 70 năm qua.

Từ nay, nhà văn Thanh Châu vĩnh viễn đi sang thế giới bên kia cùng với bí mật về T.T.Kh mà nhiều người tin rằng chính ông là người nắm giữ cuối cùng.

Ông sinh năm 1912, quê gốc Thanh Hóa, từng đi học tại Hà Nội, cộng tác với tạp chí Tiểu thuyết thứ bảy vào những năm 1930 .

Ông có các tác phẩm chính: Sám hối nửa đêm (1940), Bóng người ngày xưa (1941), Tà áo lụa (1942), Cùng một ánh trăng (1942), Trong bóng tối (1936), Người thầy thuốc (1938), ông còn viết truyện thiếu nhi, soạn kịch…

Từ năm 2000, nhà văn Thanh Châu vào sống tại Sài Gòn cùng con trai.

Lễ động quan sẽ được cử hành vào lúc 15g ngày 10-5, sau đó linh cữu nhà văn được chuyển về an táng tại Nghĩa trang đồng hương Bến Tre.

Lam Điền

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Quanh Đại Hội Asia Chủ Đề "75 Năm
Âm Nhạc VN Hát Với Thần Tượng"


Bác Sĩ Trần Xuân Ninh
Đại nhạc hội chủ đề “75 năm âm nhạc Việt nam: hát với thần tượng” tại rạp la Mirada, thành phố La Mirada, tiểu bang California, đã tạo nên một số bàn tán và phản ứng. Lý do là vì đại nhạc hội tổ chức vào ngày 19 tháng 5. Ngày này là ngày sinh nhật chính thức của Hồ chí Minh. Và thần tượng ở đây là Hồ chí Minh. Từ đó có những bàn tính phản đối, phản ứng. Trước những tin tức này, trung tâm Asia đã ra một tuyên cáo báo chí, do nhạc sĩ Trúc Hồ ký tên. Mà vắn tắt nội dung là:

1/ ”Hát với thần tượng” chỉ có nghĩa là hát với thần tượng ca nhạc của người ca sĩ đó, chứ không hề có mục đích vinh danh bất cứ một nhân vật chính trị nào, và hải ngoại không cần phải nhớ ngày sinh nhật Hồ chí Minh

2/ Việc Asia chọn ngày 19 tháng 5 hoàn toàn có tính cách vô tình và dựa vào thời khoá biểu cùng lịch trình thuê mướn do chủ rạp quyết định

3/ Khẳng định nội dung các tác phẩm của Asia từ khi thành lập đều có nội dung không chấp nhận chế độ CS, và đấu tranh cho tự do dân chủ và nhân quyền tại Việt nam.

4/ Mọi dư luận hoặc những lời đồn đại chỉ nhằm mục đích đánh lạc hưóng cuộc tranh đấu của người Việt tại hải ngoại, tạo sự chia rẽ trong cộng đồng và nhằm đánh phá cũng như vô hiệu hoá khả năng của các cơ quan truyền thông đứng đắn có lập trường quốc gia.

Và kết thúc rằng đây là bản minh định lập trường duy nhất và chính thức của trung tâm Asia để trả lời tất cả mọi thắc mắc liên quan đến chương trình văn nghệ “75 năm âm nhạc Việt Nam”.

Ngắn gọn và vững chắc. Nhưng liệu như thế có đủ để dẹp những thắc mắc và phản ứng hay không?

Có người đã bênh trung tâm Asia, viện lẽ các thành phẩm Asia cho tới nay đều có nội dung như Trúc Hồ nói, khác với Thúy Nga Paris đã có lần bị chống đối kịch liệt vì một tác phẩm mà đồng bào thấy là rõ ràng quảng cáo cho Cộng sản. Có người còn nêu ra trường hợp Trịnh Hội mới đây, là sau khi Trịnh Hội có thái độ nghịch với lập trường chung của cộng đồng là không đồng ý cho ca sĩ trong nước ra trình diễn “giao lưu một chiều”, thì Asia đã xác nhận tin Trịnh Hội không còn là MC nữa. Người ta không biết Asia đuổi Trịnh Hội hay Trịnh Hội tự ý rời bỏ Asia vì không muốn làm liên lụy đến Asia. Đối với quần chúng nhìn từ xa, dù sao đó cũng là một điểm tích cực của Asia.

Có người thì lại cho rằng Asia đã tỏ thái độ thách đố sau khi nghe những bàn tán về chủ đề “hát với thần tượng” và sự liên hệ tới ngày 19 tháng 5. Những người này cho rằng giải thích của Asia không đủ, và hỏi nếu thấy có sự ngộ nhận thì tại sao không chọn ngày khác. Nhất là vì điểm 4 thông cáo báo chí đã khẳng định rằng “mọi dư luận hoặc những lời đồn đại chỉ nhằm mục đích đánh lạc hưóng cuộc tranh đấu của người Việt tại hải ngoại, tạo sự chia rẽ trong cộng đồng và nhằm đánh phá cũng như vô hiệu hoá khả năng của các cơ quan truyền thông đứng đắn có lập trường quốc gia”. Khẳng định này là một dán nhãn cho những người đặt câu hỏi về chủ đề đại nhạc hội là âm mưu “tạo sự chia rẽ, nghi kỵ và đánh phá cộng đồng”.

Một cách khách quan thì có thể nói rằng lời giải thích của Asia là rõ ràng, không quanh co. Nhưng không thể thuyết phục được hoàn toàn, vì những người nghi ngờ còn có thể đặt câu hỏi là ngày 19/5 tại sao không biết, và rằng tại sao không tránh vì luôn luôn có thể điều đình với chủ rạp vân vân, là giải thích về thần tượng là thần tượng của ca sĩ thì biết vậy nhưng không thể tin. Tuy hỏi thế là chủ quan nhưng cũng hiểu được, nếu mà lời giải thích này viết ra sau khi có người đặt vấn đề. Nhưng, hai chữ thần tượng đã được giải thích trước. Những ai đã xem cuốn DVD 54 Bước chân Việt Nam của Asia đều có thể biết Asia đã giới thiệu DVD 55 với chủ đề “Hát với thần tượng” được trực tiếp quay hình tại Cali vào ngày 19 tháng 5/2007. Câu giới thiệu đó như thế này: “Những tiếng hát lừng lẫy nhất hiện nay sẽ hát với thần tượng của chính mình. Một cơ hội gặp gỡ của những thần tượng để cùng hát những ca khúc”. Lời giới thiệu trên rõ ràng chỉ là lời quảng cáo rằng DVD 55 gồm toàn thần tượng: thần tượng hiện nay là những ca sĩ đang nổi, và thần tượng ngày xưa, là những ca sĩ kỳ cựu đã già, và là thần tượng của những ca sĩ đang nổi.

Bình tĩnh mà nói, đa số nghe câu trên sẽ chẳng có thắc mắc gì. Nhưng mà thực tế thì vẫn có người “dị ứng” với những ngày của Cộng sản: 19 tháng 5, 19 tháng 8, 2 tháng 9 vân vân… Sự dị ứng này chỉ là hậu quả của những khổ nạn cực kỳ mà ngưòi dị ứng đã trải qua và chứng kiến. Đó là lý do tại sao có những quân nhân Mỹ chi nghe nói tới người Việt nam là có phản ứng bất thưòng. Và cá nhân tôi biết một cặp vợ chồng Mỹ mà người chồng là cựu chiến binh tại Việt nam như thế.

Rút lại, sự dán nhãn cho nhau không phải là điều cần thiết. Trong tình hình hiện nay, hãy nhìn vào sự việc một cách khách quan để mà nhận định phải trái. Hành xử như vậy sẽ cho thấy rằng các người trong cuộc ai là nạn nhân của những khổ nạn Cộng sản không kiểm soát được cảm tính của mình, ai là những người thời cơ, ai là những kẻ luồn lách làm việc cho Cộng sản, và ai là những người bình tĩnh, sáng suốt, có thể dóng góp cho đấu tranh.

Trần Xuân Ninh

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Ngày Lễ Cha xứ người

Lê Hoàng Thanh
Hằng năm, hầu hết trên toàn thế giới, con cái thường làm lễ mừng cha mẹ là những người đã sinh và nuôi dưỡng mình khôn lớn. Người Việt chúng ta nói riêng xưa nay không có ngày lễ mừng cha hay mẹ riêng biệt mà chỉ lấy ngày Đại Lễ Vu Lan, được tổ chức rất trọng thể vào ngày 7 tháng 7 âm lịch để tưởng nhớ đến đấng sinh thành. Nhân ngày Đại Lễ này, con cái thường đi Chùa lễ Phật cầu an hay cúng vái, tưởng nhớ đến cha mẹ, nếu đã khuất núi. Tuy nhiên, sau tháng tư đen 1975, hàng triệu người Việt rời bỏ quê hương đi tìm tự do, lưu lạc khắp năm châu và định cư tại nhiều quốc gia khác nhau như Anh, Pháp, Áo, Mỹ, Úc, Thuỵ Sĩ, Đức… Nhập gia thì phải tùy tục cho nên với giòng thời gian chúng ta từ từ hội nhập vào đời sống, xã hội của quốc gia tạm dung, cũng theo phong tục người bản xứ tổ chức những ngày lễ giống như họ. Trước hết là Ngày Lễ Mẹ, hay theo người Việt mình được gọi với cái tên âu yếm, dễ thương hơn là Ngày Hiền Mẫu, được tổ chức vào tháng 5. Sau đó là Ngày Lễ Cha, nhằm vinh danh người cha mà truyền thống Á Châu mình ví như là rường cột của gia đình (ghi chú thêm của người viết: Quan niệm này đối với người Việt chỉ có giá trị tương đối vì sau 30.4.1975, khi mà người cha bị Cộng Sản bắt đưa đi học tập cải tạo thì người mẹ một mình đã phải tảo tần nuôi đàn con dại, thăm nuôi chồng cho đến ngày người chồng may mắn được về đoàn tụ cùng gia đình, vợ con!).

Trong khi khắp nơi trên toàn thế giới tổ chức Ngày Lễ Mẹ đồng loạt vào ngày chủ nhật thứ hai của tháng năm thì ngược lại, ngày Lễ Cha tùy theo địa phương được tổ chức, ít ra cũng có ba ngày khác nhau, vào ngày Lễ Thăng Thiên, ngày chủ nhật thứ hai của tháng sáu và ngày chủ nhật thứ ba của tháng bảy. Trong khuôn khổ bài này, người viết xin được giới thiệu khái quát với quí độc giả Ngày Lễ Cha tại vài quốc gia mà người viết sưu tầm được từ Internet.
Image Hiện tại chỉ có vài quốc gia Âu Châu còn duy trì và tổ chức ngày Lễ Cha, như:



- Đức: Ngày Lễ Cha tại Đức được tổ chức vào ngày Lễ Thăng Thiên (Ascension), ngày thứ năm thứ hai trước Lễ Ba Ngôi (Whitsun / Pentecost) và còn được dân Đức đặt tên là ngày lễ đàn ông. Ngay vào thời trung cổ (middle ages) người ta đã tổ chức những buổi diễn hành, để khánh hạ người Cha DIO. Hình thức tổ chức mừng Ngày Lễ Cha như hiện nay đã có từ cuối thế kỷ thứ 19 và vẫn còn được giới đàn ông Đức ưa thích, duy trì cho đến bây giờ. Đặc biệt là tại vùng Bắc Đức, được tiêu biểu qua những buổi liên hoan (Party) dành cho người đàn ông. Họ đi bộ, có người ngồi trên xe ngựa, đi xe đạp, xe đẩy (wheel barrows) hay trắc tơ (tractors) nối đuôi nhau kéo ra cánh đồng xanh vui chơi, ăn nhậu và sau đó trở về nhà nhưng ai nấy đều say túy toé. Lắm người uống quá nhiều nên mãi đến sáng hôm sau mới mò về nhà được. Với thời gian, nhất là giới trẻ, nhiều bà cũng tham dự Ngày Lễ Cha chung vui với chồng, kết quả của nền văn minh hiện đại „nam nữ bình quyền“.

Vì tiêu thụ khá nhiều rượu bia và càng ngày càng có nhiều người đàn ông (ngay cả những người chưa có con!) tham dự nên theo thống kê thường xảy ra lộn xộn, người ta hay đánh nhau trong Ngày Lễ Cha cho nên vì vậy ngày lễ này bị tai tiếng nhiều, được mang thêm cái tên là „ngày lễ uống say và đánh lộn“, buồn cười là đàn bà lại đánh nhau trong ngày lễ đàn ông, ngoài tai nạn lưu thông do quí ông say rượu gây ra đã làm cho cảnh sát và các cơ quan cứu cấp làm việc tới tấp trong dịp này.



- Hòa Lan: Ngày Lễ Cha được du nhập vào Hoà Lan kể từ năm 1936. Tại đây, những người cha tụ họp lại tổ chức những buổi tiệc dành riêng cho đàn ông có ca nhạc và nhảy múa.



- Áo: Khác với Đức, ngày Lễ Cha tại nước Áo được tổ chức vào ngày chủ nhật thứ hai của tháng sáu và đặc biệt thường được tổ chức giữa những người có đức tin nên mang tính cách tôn giáo nhiều hơn. Tương tự như Ngày Lễ Mẹ, đây là dịp mà con cái người Áo đi mua bông, mua quà nho nhỏ để tặng Cha. Lần đầu tiên ngày Lễ Cha được tổ chức vào năm 1956 tại Áo.


- Thụy Sĩ: Khá phức tạp khi đề cập đến ngày Lễ Cha tại Thụy Sĩ vì ngày lễ này không mang nhiều ý nghĩa quan trọng đối với dân Thụy Sĩ và nếu có thì cũng tổ chức vào ngày Lễ Thăng Thiên, giống như Đức. Đặc biệt, những buổi tiệc vui hay sinh hoạt như tổ chức du ngoạn nhân ngày Lễ Cha thường được tổ chức vào ngày chủ nhật thứ hai hay thứ ba của tháng sáu.

- Lục Xâm Bảo: Nước Lục Xâm Bảo tổ chức ngày Lễ Cha vào ngày chủ nhật đầu tiên của tháng mười. Con cái thương hay mua bông và quà để tặng người Cha.

- Thái Lan: Người Thái gọi ngày Lễ Cha là „Wan Phor“ và là ngày quốc lễ, dân chúng được nghỉ làm vì đó cũng là ngày sinh nhật của Vua Bhumibol Adulyadej, mồng năm tháng 12. Trong ngày Lễ này Thái vinh danh những người Cha gương mẫu của toàn nước Thái. Trong năm 2004 có đến 327 người Cha được vinh danh. Nếu ngày 5.12 là ngày chủ nhật thì Thái, không liên quan gì đến ngày sinh nhật Vua, sẽ dời ngày Lễ này sang ngày thứ hai kế tiếp.

- Nam Hàn: Tại Nam Hàn, ngày Lễ Cha còn được gọi là ngày trẻ con (children’s day) và cũng là ngày quốc lễ, nhằm tạo điều kiện và cơ hội cho người cha đùa chơi với con cái tại những công viên (parks) hay có thì giờ để chung vui với con cái.

- Thổ Nhĩ Kỳ: Tại Thổ, ngày Lễ Cha được tổ chức vào ngày chủ nhật thứ ba của tháng sáu. Và cũng giống như nước Áo, không phải là ngày thuần túy cho đàn ông, tổ chức tương tự ngày Lễ Mẹ.

- Mỹ: Tại Mỹ, ngày Lễ Cha tương đối được trọng vọng, không thua gì ngày Lễ Mẹ và được tổ chức vào ngày chủ nhật thứ ba của tháng sáu. Trọng điểm của ngày lễ này là người cha mà biểu tượng chính cho ngày Lễ Cha tại Mỹ là Cà Vạt, xe hơi (càng chạy nhanh càng tốt) và những hoạt độ thể thao như đánh Golf hay đi câu cá.

Lần đầu tiên, vào năm 1909, Bà B. Dodd nảy ra ý kiến tổ chức Father’s Day để vinh danh Cha của bà, ông William Smart, là một cựu chiến binh trong cuộc nội chiến vào những năm 1861-1865. Mẹ của bà ta bị chết sau khi sanh xong đứa con thứ sáu và ông Smart đã một mình nuôi đứa con vừa lọt lòng cũng như lo chăm sóc cho năm đứa con dại khác tại một nông trại thuộc miền Đông tiểu bang Washington. Vì thế bà B. Dodd muốn vinh danh người cha đã có nghị lực nuôi dưỡng sáu người con. Ngày Lễ Cha đầu tiên được tổ chức vào ngày 19.06.1910 tại Spokon/Washington. Cùng thời điểm nhiều thành phố khác trên nước Mỹ cũng tổ chức ngày lễ vinh danh những người cha. Ngày lễ thành công đến độ Tổng Thống Calvin Coolidge lên tiếng hỗ trợ và đề nghị chọn một ngày Lễ Cha chung cho từng tiểu bang nước Mỹ. Với thời gian, hầu hết mọi giới người Mỹ đều chấp nhận ngày lễ này nên vào năm 1974, Tổng thống Richard Nixon đã tuyên bố chính thức chấp nhận ngày lễ Cha làm ngày quốc lễ và chọn ngày chủ nhật thứ ba của tháng sáu làm Ngày Lễ Cha của Mỹ. Tại Mỹ, con cái mua bông hoa, làm thơ, mua quà tặng cho người Cha. Riêng trong năm 1997 đã có hơn 90 triệu thiệp mừng được bán nhân ngày lễ này. Giống như ở Đức, vì được xem như là ngày lễ dành riêng cho đàn ông nên ở Mỹ, người cha cũng thường hay ngồi xe ngựa diễn hành để vui mừng ngày lễ cho chính mình, ngoài những buổi du ngoạn chung giữa cha con và đây chính là kỷ niệm mà hầu hết „những người đàn ông Mỹ“ sau này khi lớn lên họ không khi nào quên được.

Người viết tóm lược nguồn gốc Ngày Lễ Cha xứ người để giới thiệu cùng độc giả và hy vọng qua đó người Việt tị nạn cộng sản, nếu đang định cư tại một trong những quốc gia kể trên biết thêm (nếu chưa) được chút ít phong tục tập quán người bản xứ hầu từ đó có thể dễ dàng hội nhập hơn.

Vì tính cách tổng quát của bài viết chắc chắn còn nhiều thiếu sót, xin qúi độc giả thông cảm và bổ túc thêm.



Lê hoàng Thanh
(Nhân ngày Father’s Day = Le jour de père = Vatertag)

Post Reply