Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

CON CÓC LÀ CẬU ÔNG TRỜI

Nguyễn Xuân Quang

Image

Tranh Đông Hồ


Bài viết này trả lời hai câu câu hỏi chúng ta thường đặt ra là tại sao con cóc là cậu ông trời? và các tượng lưỡng thê ngồi ở mé trống đồng âm dương Đông Nam Á là những tượng cóc hay ếch? Mặt khác cũng cho thấy Tiếng Việt (thật là) Huyền Diệu có thể giúp người đọc Học Anh ngữ Bằng Tiếng Việt và ngược lại người ngoại quốc có thể học Tiếng Việt bằng Anh ngữ.
Chúng ta có bài đồng dao

Con cóc là cậu ông trời,
Ai mà đánh nó thì trời đánh cho.

Câu hỏi được đặt ra là tại sao con cóc lại là cậu ông trời? Trước hết ta hãy đi tìm bản thể của cóc qua Việt ngữ. Có người cho rằng con cóc có tên là cóc vì nó ở trong hang, trong hóc tối tăm, bẩn thỉu. Có bài hát:

Trông kìa con cóc,
nó ngồi trong hóc,
nó đưa cái lưng ra ngoài,
ấy là cóc con.


Theo biến âm c=h như cùi = hủi, cóc = hóc. Con cóc là con sống trong hóc, trong góc. Theo tôi, giải thích con cóc là con hóc, con góc này mới chỉ là một diện, một phiến diện. Vì tên loài vật thường được gọi theo một đặc tính về thể xác hay sinh học của con vật hoặc theo một đặc tính biểu tượng vật tổ trong tín ngưỡng của loài người. Qua từ đôi điệp nghĩa gai góc, ta có góc = gai. Gai là những mấu nhọn, vật nhọn. Những cục, những hột nổi cộm lên ở da cũng được gọi là gai như nổi gai ốc ở da (gai da cộm lên như những con ốc, ta có loài ốc nhỏ như hạt gạo gọi là ốc gạo). Ở đây cho thấy hột, hạt, cục cùng nghĩa với gai là vật nhọn, nọc nhọn và cùng mang dương tính như gai nhọn là những dạng nguyên tạo của nọc nhọn của gai. Nhìn dưới diện chữ nòng nọc (vòng tròn-que), âm dương thì hột, hạt, nhân, cục và gai đều thuộc về nọc. Hột hạt, là nọc ở dạng nguyên thể của nọc nhọn gai và gai mũi nhọn là nọc sinh động. Nọc hột, hạt là mầm dương diễn tả trong chữ nòng nọc là một dấu chấm (.), tôi gọi là nọc chấm hay chấm nọc nguyên tạo. Chấm nọc tách ra hai chấm, nối hai chấm lại thành nọc que (I). Hai nọc que hợp lại thành nọc mũi nhọn, mũi mác, răng sói, răng cưa (>) ở dạng sinh động (xem chương Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á).

Như thế con cóc là con góc, con gai, con vật có da sần sùi có những gai, những cục, những hột nổi lên. Con cóc là con cục, con hột. Chứng mụn nổi lên ở da to bằng hột cơm gọi là mụn cơm trông giống như những cục mụn ở da cóc nên cũng gọi là mụn cóc. Anh ngữ wart, mụn cóc. Theo biến âm v=w=h (như bà vá = bà hóa = bà góa và sanwa = tam hòa, ai wa = ái hoa), ta có wart = hạt. Wart là mụn hạt, mụn hột như ở da cóc.
Ta thấy rất rõ cóc biến âm với cọc [nọc, vật nhọn, gai, sừng (con cọc là con sừng, con hươu đực có sừng, xem Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc)], với cục, cốc (trái cốc = trái cóc, thứ quả có hột sần sùi như da cóc), liên hệ với Tầy ngữ coộc, sừng (vật nhọn, vật nhọn như gai), Quảng Đông ngữ coọc, sừng, với Hán Việt cốc là hột, hạt như các nông phẩm có hạt, hột, gọi là cốc (mễ cốc, ngũ cốc).

Rõ như ban ngày con cóc là con cọc, con cốc là loài có da sần sùi nổi gai, nổi cục, nổi hột (có chất) sừng mang dương tính.
Điểm lý thú là da cóc mọc những hạt như lúa gạo mà lúa gạo cần có nước có mưa nên hiển nhiên con cóc liên hệ với nước, mưa, sấm.
Chắc có nhiều người đọc còn nghi ngờ chưa tin. Tôi xin chứng minh thêm. Ta thấy Hán Việt giác là góc như tam giác và giác cũng có nghĩa là sừng (vật nhọn như gai) như tê giác. Giác là gai góc nên dùng vật sắc nhọn như gai để lể, để giác. Anh ngữ corn có nghĩa là góc như thấy qua từ corner; corn có nghĩa là sừng như Latin cornu, corna, sừng, Anh ngữ corneous, bằng sừng, giống sừng, cornea, màng sừng ở mắt và corn cũng có nghĩa là cục, hột chai cứng do lớp sừng ở da dầy lên vì cọ xát. Ta cũng thấy rõ Anh ngữ corn có nghĩa là hột, hạt, qua từ corn chỉ những hạt nông phẩm như lúa, ngô (bắp). Corn có một nghĩa là bắp, ngô. Acorn là hột, hạt cây sồi. Hiển nhiên, corn ở đây ruột thịt với Hán Việt cốc (mễ cốc, ngũ cốc). Điểm này giải thích tại sao người Bắc gọi xôi bắp là xôi lúa. Lúa ở đây hiểu theo nghĩa tổng quát có nghĩa là một thứ hột, hạt, một thứ mễ cốc cùng nghĩa với corn, ngô, bắp (cũng có một nghĩa là hột, hạt, hột ngô, bắp gọi là kernel).

Ta cũng thấy có sự biến âm giữa Việt ngữ góc, hóc và Anh ngữ corner, góc. Corner có cor- = (coóc) = hóc = góc. Corner ruột thịt với Việt ngữ góc, hóc.
Tiến xa hơn, cóc, corn liên hệ với gốc Aryan-Phạn ngữ gar-. Ta thấy gar liên hệ với Việt ngữ gã (con trai, đàn ông, người có nọc, cọc, c. . .), Pháp ngữ garcon (con trai), với gharial loài cá sấu mõm dài như dao có cục u ghar trên mũi (cũng vì thế mà từ crocodile thường nói tắt là croc chính là từ cọc của Việt ngữ, croc là cá cọc mang dương tính biểu tượng cho ngành dương của loài cá, tộc nước. Cá sấu là cá sậu (sậu có nghĩa là cứng như ngô sậu là ngô cứng), cá sẩu (sẩu là sừng biến âm với sậu, cứng như xin khúc đầu những xương cùng sẩu), cá sào (cọc), cá gar, cá gạc (cá sừng), cá cọc, cá cóc (vì có vẩy sần sùi da cóc, có vi sừng, cá ngạc (Hán Việt ngạc ngư là cá sấu, theo g=ng như gấm ghé = ngấm nghé, gạc = ngạc) và theo g=h, gar = hạt (grain có gốc gar-), gar- = hart (hươu gạc, hươu sừng, hươu nọc), gar liên hệ với gác, với góc...

Tiến xa thêm tới tận nguồn cội của ngôn ngữ của con người được ghi lại bằng chữ nòng nọc thì con cóc là con cục, con cốc (có một nghĩa là cóc và một nghĩa là hột, hạt) diễn tả bằng chữ dấu chấm nọc (.) nguyên tạo có hình hột, hạt và con cóc là con cọc được diễn tả bằng chữ nọc mũi mác, răng cưa, răng sói (>) có nghĩa là nọc, đực, bộ phận sinh dục nam (xem bài viết Da Vinci Code và Chữ Viết Nòng Nọc Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). Ta thấy rõ như ban ngày chữ nọc mũi mác (>) có hình mũi nhọn (>), hình gai nhọn (>) và hình góc nhọn (>). Góc nhọn (>) có hình chiếc gai nhọn (>) đúng như thấy qua từ đôi điệp nghĩa gai góc, gai (>) = góc (>). Qua chữ nọc mũi mác, răng sói, răng cưa (>) trong chữ nòng nọc, ta giải thích được tại sao gai cùng nghĩa với góc, tại sao ta có từ đôi điệp nghĩa gai góc, tại sao Hán Việt giác là sừng (cùng nghĩa với nọc nhọn, gai nhọn) cũng là góc, tại sao corn- là sừng cũng là góc, tại sao gar- là gạc và cũng là góc. Gai góc, giác (sừng, góc), corn- (sừng, góc) gar- (gạc, góc) đều có gốc cội là nọc mũi nhọn (>). Chữ nọc trong chữ nòng nọc viết dưới ba dạng: dạng nọc chấm (.) nguyên tạo, dạng nọc que (I) và dạng nọc mũi nhọn mũi mác, răng sói, răng cưa. Những hạt, hột nổi cộm, nổi gai trên da cóc là dạng nọc chấm nguyên tạo. Con cóc có một khuôn mặt chính là con cọc mang dương tính có da nổi hột nọc gai sừng.
Điểm này cũng cho thấy rõ dưới diện nòng nọc, âm dương, những hình thể có dạng que nọc, có góc cạnh, gai góc, hột hạt mang dương tính trong khi những hình thể có nét cong tròn mang âm tính (Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). Trên trống đồng âm dương những con vật lưỡng thê ngồi ở mé trống có mõm hình nọc mũi mác (>) và trên người có vòng viền chấm nọc (.) cho biết rõ những con vật này là những con cóc (chứ không phải là con ếch).

Tóm lại con cóc có một khuôn mặt chính là con cọc mang dương tính thuộc ngành dương của loài lưỡng thê, có da nổi hột nọc chấm gai sừng sần sùi và ở trong hóc, trong hang (ta cũng thấy Hán Việt cốc ngoài nghĩa là hột hạt còn có nghĩa là hang, động như tịch cốc). Ta cũng thấy rõ ràng nghĩa hóc, hang là nghĩa phụ không phải là một đặc tính thể xác của con cóc, có nhiều loài vật sống trong hang trong hóc nhưng không gọi là con cóc.

Một đặc tính nữa của con cóc là nhẩy. Cóc thuộc loài ếch nhái. Từ nhái biến âm với nhẩy. Cóc, ếch thuộc cùng loài con nhái là những con nhẩy. Con cóc là con nhẩy thấy rõ qua bài thơ con cóc:

Con cóc trong hang,
Con cóc nhẩy ra,
Con cóc nhẩy ra,
Con cóc ngồi đó,
Con cóc ngồi đó,
Con cóc nhẩy đi.


Theo biến âm c=p (ở cuối chữ) như chóc, chốc (đầu) = chóp (đầu), bắn trúng ngay chóc (ngay chốc) = bắn trúng ngay chóp, ta có cóc = cóp. Theo c=h, cóc = hóc = hóp = Anh ngữ hop (nhẩy). Con cóc là con hop. Anh, Mỹ cũng gọi cóc, ếch là con nhẩy. Ta có thể dùng Việt ngữ để truy tầm nguồn gốc nghĩa ngữ của hai từ frog (ếch) và toad (cóc) của Anh ngữ (1). Theo biến âm f=b=ph như fỏng = bỏng = phỏng, ta có frog = f(r)og = phốc, phóc (nhẩy). Ta có từ đôi điệp nghĩa nhẩy phốc, nhẩy phóc với phốc, phóc = nhẩy. Vậy frog là con phốc, con phóc, con nhẩy, cùng loài con nhái. Ngoài ra cũng có một loài ếch nhái nhưng có mầu nâu vàng gọi là con chão chuộc, chẫu chuộc, cũng có nghĩa là nhẩy, ruột thịt với Phạn ngữ ças, nhẩy. Theo ç = ch, ças = chạc, choạc, chuộc, chẫu. Hán Việt tẩu (chậy) phát âm theo giọng Quảng Đông là “chẩu” liên hệ với chẩu, chẫu là nhẩy như thấy qua từ đôi chậy nhẩy. Con châu chấu cũng liên hệ với từ Phạn ngữ này, có nghĩa là con “ças ças“, con chẩu chẩu, con nhẩy nhẩy đúng với nghĩa của từ grasshopper. Từ cào cào cũng có thể là một dạng biến âm của “ças ças“ và con sạch sành (sạch sành là anh kẻ trộm), con chanh chách (thuộc loài châu chấu) có sạch, chách biến âm với ças.

Còn toad phát âm là /tót/, Trung cổ Anh ngữ tode, con toad, con tode là con“tót”. Tót chính là Việt ngữ tót, thót có nghĩa là nhẩy. Ta có từ đôi điệp nghĩa nhẩy tót với nhẩy = tót.

Đầu trọc lóc bình vôi,
Nhẩy tót lên chùa ngồi.
Ê a kinh một bộ,
Lóc cóc mõ ba hồi.

(không nhớ chắc chắn tên tác giả).
Tót, thót là nhẩy cũng thấy qua câu nói “mới đó mà nó đã tót đi đâu rồi! “ hay “tót (thót) một cái, nó đã biến mất”. Con bò tót là con bò nhẩy tức bò đực dùng nhẩy cái, là con bò đực. Con toad là con tót, con thót, con nhẩy thuộc cùng loài con nhái. Theo t=d, tót = dọt, nhẩy, chạy nhanh như nó dọt đi mất rồi, chiếc xe rất dọt. Theo d=v, dọt = vọt, có cùng nghĩa. Theo d=nh, dọt = nhót có nghĩa nhẩy như nhẩy nhót. Do đó ta có từ nhẩy = nhót. Theo d=nh, dọt = nhót. Một lần du lịch đến Nga, một tối người hướng dẫn viên du lịch mời chúng tôi “let’s go for a zhok”, Thổ ngữ Moldavian ở Nga zhok, dance. Zhok chính là Việt ngữ dọt, nhót. Chúng tôi đã được xem trình diễn vũ khúc Zhok của vũ sư I. Moisegev, giám đốc đoàn vũ Moisegev Dance Company of Moscow sáng tác theo âm nhạc của G. Fedov. Ta cũng thấy cóc, ếch ngồi ở tư thế sẵn sàng nhẩy tới trước, chồm tới trước nên thường nói con cóc, con ếch ngồi chồm chỗm. Từ đôi chồm chỗm ruột thịt với chồm có nghĩa là nhẩy tới như con chó chồm tới = con chó nhẩy tới. Theo ch=j như chà và = java, ta có chồm, chồm chỗm = Anh ngữ jump, chồm, nhẩy chồm lên, nhẩy chồm chồm, nhẩy. Anh ngữ tadpole là con nòng nọc có tad- là toad và pole là poll, đầu người, người, đầu phiếu, biểu quyết, đếm theo đầu người, thăm dò dư luận. Theo p=b=m, poll = môn, mông, mống, mường. Mông, Mán, Mường có nghĩa là người. Mống là người như không có một mống = không có một người. Mông, mống, Mán, Mường liên hệ với Pháp ngữ monde, người. Tadpole là con (cá) có đầu (-pole, poll) cóc (tad-).

Vì cóc liên hệ với cọc, nọc với chữ nòng nọc, âm dương, bây giờ ta đi tìm ý nghĩa biểu tượng của hai từ ếch và cóc trong Vũ Trụ giáo, trong Dịch lý dựa trên căn bản nòng nọc, âm dương. Việt ngữ ếch biến âm với ách, át, ạch đều liên hệ với nước. Ách là nước như óc ách là tiếng nước, át là nước như thấy qua từ đôi điệp nghĩa ướt át, ạch là ngã (ngã ạch một cái), ngã thường do trơn trượt vì mưa, nước. Ạch là ngã vì trơn trượt lúc có mưa biến âm với ếch nên khi ngã mới nói là vồ ếch. Ách, át, ạch, ếch liên hệ với Phạn ngữ ak-, aka nước. Ta thấy rất rõ Tây Ban Nha ngữ aqua- nước, ruột thịt với Phạn ngữ aka. Con ếch là con ách, con át có nghĩa là con nước. Hán Việt ếch gọi là oa. Từ oa vẫn cho là từ cóc gốc Hán ngữ, thật ra chưa hẳn là vậy vì ta thấy Maya ngữ ou là con ếch (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Oa có nhiều nghĩa trong đó có nghĩa là nước, là con ếch. Oa là ếch là nước, rõ ràng ếch liên hệ với nước. Ếch là con ách, con nước, loài nhái sống dưới nước, biểu tượng cho nước, cho mưa:
Ếch kêu uôm uôm,
Ao chuôm đầy nước.

Con ếch liên hệ với nước và sống dưới nước và da không có hột, cục mang dương tính nên có một khuôn mặt thái âm, Khôn âm của ngành Nòng.
Còn cóc có nghĩa là gì trong vũ trụ tạo sinh? Trong ngôn ngữ Việt cóc có một nghĩa là không như cóc cần là không cần, cóc biết là không biết, cóc có ai là không có ai... Ta có thể kiểm chứng lại bằng cách giải phẫn từ không. Mổ xẻ từ KHÔNG cũng cho thấy rõ cóc = không:
-Cắt bỏ chữ C đầu của KHÔNG còn lại HÔNG. Hông, hổng, hỏng cũng có nghĩa là không như đi mau mà về nghe hông?, hông biết, hỏng biết, hổng thèm, hổng có. . . Hỏng, hổng là rỗng, trống không như lỗ hổng ruột thịt với Hán Việt khổng là lỗ. Ta có hỏng, hổng, hông = khổng, không.
-Cắt bỏ chữ H còn lại KÔNG. Kông, cong, còng có một nghĩa là tròn, vòng tròn O, ruột thịt với không có nghĩa là số không 0 như thấy qua từ cong vòng tức cong = vòng, cái cong, cái cóng (gạo) hình tròn vo, cái còng = cái vòng (đeo tay) có hình vòng tròn O.
-Cắt bỏ chữ N còn lại KHÔG. Khog = cóc, cũng có nghĩa là không như đã nói ở trên.
-Cắt bỏ chữ G cuối cùng còn lại KHÔN có một nghĩa là không như khôn lường, khôn dò, khôn nguôi. Từ Khôn này chính ta từ Khôn dùng trong Dịch nòng nọc. Quẻ Khôn viết bằng ba hào âm, viết theo chữ nòng nọc là ba vòng tròn nòng O tức OOO. Khôn là không, hư không. Khôn cũng có âm dương, Khôn O thái dương II là gió là Tốn OII. Khôn O thái âm OO là Khôn nước không gian, vũ tru âm OOO. Các tác giả Việt Nam khi viết về Dịch thường dựa theo Dịch Trung Hoa cho rằng Khôn là Đất. Càn Khôn là Trời Đất. Khởi đầu vũ trụ tạo sinh bắt nguồn từ âm dương càn khôn (lửa nước nguyên thể) chưa có đất. Đất xuất hiện rất muộn trong quá trình sinh tạo của vũ trụ. Dựa vào giải phẫu tiếng Việt ta thấy rõ gốc nghĩa của Khôn không có dính dáng gì tới đất cả. Hiểu Khôn là đất là hiểu theo Dịch Trung Hoa là thứ Dịch rất muộn màng, là thứ Dịch duy tục, mị nhân sinh dùng nhiều trong bói toán phong thủy, một thứ Dịch do những kẻ thống trị dùng như một thứ đòn phép để cai trị đám dân bị trị. Ta thấy rất rõ giải phẫu cắt bỏ bớt từ KHÔNG còn lại những từ đều có nghĩa là không. Âm , nghĩa và từ khog, cóc nằm trong từ không hiển nhiên cũng có nghĩa là không. CÓC là không, là cong, còng (O, số 0) là khôn. Không có một khuôn mặt là hư không, không gian, không khí. Khôn có hai mặt âm dương. Không dương là khí gió, Khôn âm là nước vũ trụ. Con cóc, con cọc mang dương tính vì thế cũng có hai khuôn mặt. Khuôn mặt dương tức Khôn dương biểu tượng cho khí gió, sấm dông. Khuôn mặt dương của âm tức dương của Khôn âm biểu tượng cho nước dương, sấm mưa. Cả hai khuôn mặt đều liên hệ với sấm.

Mường Việt ngữ rạc: con cóc. Rạc là lạc (l=r) là lác (nước dương), L là dạng dương hóa của N (Tiếng Việt Huyền Diệu), là nác, là nước dương. Con rạc là con nước-lửa, con nước dương. Cổ ngữ Việt rạc, rặc (dùng nhiều ở vùng đất tổ Phú Thọ) là nước như 'ruộng rặc' là ruộng nước. Ruộng “rộc” cũng là ruộng nước. Con rạc (con cóc) là con nước mang dương tính. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, cóc rạc, cóc Lạc là con cóc biểu của Mặt Trời Nước Lạc Long Quân. Cóc mang dương tính như đã thấy và vì sống nhiều trên cạn nên cũng mang nhiều dương tính hơn ếch vì thế cóc biểu tượng cho nước dương, nước lửa. Trong khi đó ếch sống nhiều dưới nước nên biểu tượng cho nước âm. Điều này đã thấy rõ qua tên ếch.

Nhìn chung cóc với nghĩa là không, Khôn là thuộc ngành nòng, âm, Khôn. Theo duy dương, con cóc mang dương tính là thú biểu cho Khôn dương khí gió liên hệ với sấm dông và theo duy âm, cóc biểu tượng cho Nước Lửa, liên hệ với sấm mưa, Chấn. Trong khi đó ếch mang âm tính nhiều có biểu tượng chính cho nước thái âm, dòng nữ. Khuôn mặt dương của ếch (ếch-lửa, ếch đực) biểu tượng cho khuôn mặt dương của nước thái âm, dòng nữ.

Hiểu rõ bản thể của cóc ếch rồi bây giờ ta thử đi tìm hiểu tại sao Con cóc là cậu ông trời, Ai mà đánh nó thì trời đánh cho? Trước hết tại sao tổ tiên chúng ta gọi con cóc là cậu ông trời, mà không nói con cóc là chú ông trời, là cô, là dì ông trời? Dĩ nhiên phải có nguyên cớ. Cậu là gì? Cậu là em trai của mẹ. Mẹ là phía ngoại, âm, Khôn. Cậu là em trai mang dương tính. Rõ ràng Cậu là khuôn mặt dương của Khôn. Khôn dương là khí gió. Qua từ Cậu cho thấy con cóc có khuôn mặt Khôn dương khí gió mang tính trội.

Trong Việt ngữ từ Trời có nhiều nghĩa. Ta có nhiều ông trời. Ông Trời ở đây đánh người tức ông Trời có búa thiên lôi, có lưỡi tầm sét. Bị trời đánh là bị sét đánh. Ông Trời đánh người là ông Trời có một khuôn mặt là Thần Sấm Sét. Vậy con cóc là cậu ông thần sấm sét ruột thịt với ông sấm sét. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, Lạc Long Quân là Mặt Trời Nước, Nước-lửa, mưa-chớp, có một khuôn mặt là Thần Sấm Mưa, ứng với Chấn trong Dịch, có hậu thân là ông Thần Sấm Dông Phù Đổng Thiên Vương (xem bài viết Ý Nghĩa Ngày Vía Phù Đổng Thiên Vương Mồng Chín Tháng Tư Âm Lịch). Con cóc là cậu Lạc Long Quân tức là em mẹ của Lạc Long Quân tức là em bà Thần Long, vợ của Vua Mặt Trời Đất-Lửa Kì Dương Vương sinh ra Lạc Long Quân. Bà Thần Long là Rồng Nước có mạng Khảm là nước, mây viết theo chữ nòng nọc là quẻ Khảm OIO (giải tự OIO là nòng O thiếu âm IO, Nàng Gió, trong khi Vụ Tiên OOO là Nàng Nước, Âu Cơ OII là Nàng Lửa, vợ Hùng Vương OOI là Nàng Đất). Tại sao Thần Long Khảm, nước, mây lại là Nàng Gió. Thần Long mang dòng máu (gene) Nước vũ trụ của mẹ Vụ Tiên Khôn Nước vũ trụ cộng với dòng máu Lửa vũ trụ của cha Đế Minh Càn. Gene Nước được gene Lửa đốt bốc thành hơi, khí, gió, do đó mà Thần Long là Nàng Gió. Ta thấy rất rõ con cóc là em Thần Long, Nàng Gió nên Cậu cóc có cùng bản thể Không, khí, Gió với chị. Rõ như ban ngày con cóc có một nghĩa là không là con Không, Khôn với khuôn mặt Khôn dương mang tính trội như đã thấy. Ta có thể kiểm chứng lại qua một vài khuôn mặt cóc của Lạc Long Quân trong văn hóa Việt Nam. Thần Sấm mưa Lạc Long Quân là cháu Cậu Cóc nên cũng có dòng máu cóc trong người vì thế Lạc Long Quân có nhiều khuôn mặt cóc. Trước hết ta có từ cóc cụ. Cóc cụ là hình bóng Lạc Long Quân. Ta đã biết Lạc Long Quân là mặt Trời Nước, Mặt Trời Lặn (Lạc Dương), Mặt Trời Hoàng Hôn là một cụ già, có râu dài, thường mặc quần áo thụng trắng (trong khi Hùng Vương là Mặt Trời Mọc là chàng trai Lang, Đế Minh là Đế Ánh Sáng có một khuôn mặt thế gian là Mặt Trời Buổi Sáng, là một người trưởng thành và Kì Dương Vương là Vua Mặt Trời Giữa Trưa là một người đứng tuổi, xem Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc). Cùng hình bóng với Lạc Long Quân là Thần Osiris của Ai Cập cổ, vị thần này có một khuôn mặt là Mặt Trời Nước cũng là một người già có râu dài và Aztec cũng có một vị thần tổ râu dài mang hình bóng của Lạc Long Quân. Vì sao? Aztec có nghĩa là “Heron people” (Người Cò, Tộc Cò) liên hệ với cò Lạc của Lạc Việt Lạc Long Quân (nên nhớ thổ dân Mỹ châu là những tộc có gốc gác từ vùng duyên hải Đông Nam Á qua Mỹ châu). Khi chia tay Lạc Long Quân dặn dò các con khi hữu sự cứ gọi bố là Lạc Long Quân sẽ trở về cứu giúp. Mỗi lần gặp nguy khốn các con thường gọi “bố ở đâu, xin về cứu giúp chúng con”. Người Aztec cũng có một vị thần tổ da trắng râu dài, họ cũng tin vào lời dặn là vị thần tổ râu dài của họ sẽ về cứu giúp khi họ gặp nguy khốn. Cả một đế quốc Aztec đã sụp đổ vào tay một người da trắng Hernandez Cortez có râu dài với một nhóm lính viễn chinh Tây Ban Nha cũng chỉ vì họ cho rằng Cortez là vị thần da trắng râu dài của họ trở về cứu giúp họ (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Tóm lại Lạc Long Quân là ông trời già và cóc cụ là vật biểu của trời già Lạc Long Quân.
Theo duy dương ngành dương, Lạc Long Quân là Mặt Trời Hoàng Hôn, theo duy âm, ngành âm, Lạc Long Quân là Mặt Trời Đêm tức Ông Trăng. Vì thế mà ta có câu:
Ông giăng mà lấy bà giời,
Mồng năm dẫn cưới, mồng mười rước dâu.

Ông trăng ở đây là Cha Tổ Lạc Long Quân và bà trời là Mẹ Tổ Âu Cơ. Tại sao lại chọn ngày năm và ngày mười? Số năm theo Dịch là số Li (Lửa đất, núi lửa, núi dương) tức là chọn theo bản thể Lửa, Núi của Mẹ Tổ Âu Cơ trong khi đó chọn số 10 là số Khảm, nước là chọn theo bản thể Nước, Biển của Cha Tổ Lạc Long Quân. Nước đi đôi với trăng, trăng nước. Chọn ngày 5 Li hôn phối với 10 Khảm là ngày hôn phối âm dương, nước lửa làm ngày dẫn hỏi và ngày cưới của ông trăng Lạc Long Quân với nàng non Âu Cơ hợp với bản thể hai người thật là chí lý.
Người Việt chúng ta cũng thường gọi ông trăng là trăng già:
Trăng bao nhiêu tuổi trăng già,
Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non.
(cadao).
Non là núi âm, nổng (gò nổng) là núi nống (trụ chống) tức núi dương. Từ núi chỉ chung cả núi âm non và núi dương nổng. Ngày nay núi thay thế cho nổng (Tiếng Việt Huyền Diệu). Rõ ràng trăng Lạc Long Quân có một khuôn mặt già, là một người già. Ta cũng thấy trăng già Lạc Long Quân đi đôi với núi âm non Âu Cơ. Trăng nước liên hệ với cóc như theo truyền thuyết Trung Hoa trên mặt trăng có con cóc ba chân. Con có ba chân là khuôn mặt đối nghịch với con quạ ba chân thấy trên mặt trời. Ba chân là ba cọc, ba hào dương là siêu dương, càn, lửa, ngành dương. Trăng già Lạc Long Quân có vật biểu là con cóc già. Con cóc ba chân cũng cho thấy rõ con cóc là con cọc mang siêu dương tính. Ba chân là ba que nọc tức Càn. Điểm này cho thấy người Trung Hoa theo phụ hệ cực đoan, họ có con cóc ba chân Lửa thái dương Càn đối nghịch với con ếch là con Nước thái âm Khôn. Chúng ta, nghiêng về dòng âm, nên khuôn mặt dương của ngành âm Khôn, là khí gió Đoài vì thế con cóc có một nghĩa là không và được gọi là Cậu (em trai của mẹ, dương của Khôn).
Tóm lại, Lạc Long Quân Mặt Trời Lặn là một cụ già, là trời già, trăng già nên cóc cụ chính là cóc Lạc Long Quân.
Cũng nên biết thêm trong Việt ngữ cóc thì gọi là cóc cụ (có thể là cụ ông hay cụ bà) còn ếch thì chỉ gọi là ếch bà, không bao giờ gọi là ếch ông hay ếch cụ, điều này cho thấy rõ ếch nghiêng về dòng nữ, thái âm.
Ta cũng có từ cóc tía, gan cóc tía, gan như gan cóc tía. Trước hết, tía hiểu là mầu tím. Tím là mầu hoàng hôn, mầu chiều tím, mầu mặt trời lặn, mầu của Vua Mặt Trời Lặn Lạc Long Quân. Cũng vì là Mặt Trời lặn, Mặt Trời Hoàng hôm chiều tím nên có vương hiệu là Lạc Long Quân, được gọi là Quân chứ không gọi là Vương. Quân là màu huân, màu hôn, màu hoàng hôn. Theo q= h (quả phụ = hóa phụ), huân = quân. Hán ngữ huân là 'khói lửa bốc lên' như thế huân là màu lửa pha màu khói đen. Huân ruột thịt với Việt ngữ hun (xông khói, đốt lưœa), hùn. Màu hùn hùn là màu thâm thâm (Lê Ngọc Trụ, Giải Nghĩa Một Hai Tiếng Nói Trại, in lại trong Dòng Việt số 3 tr.103). Rõ hơn nữa ta thấy màu 'quân' trong tên quả hồng quân hay mồng quân (Flacourtia cataphracta, Roxb.), Huỳnh Tịnh Paulus Của, trong Đại Nam Quốc Âm Tự Vị ghi: “mồng quân, thứ cây có nhiều gai, có trái tròn mà nhỏ, người ta hay ăn, trái nó chín đỏ đen như màu huân cho nên cũng kêu là hồng huân...”, ở nơi từ huân ghi: ”huyền huân, màu đen tím", ở đây huân là màu tím và “trái hồng huân, tiếng tục gọi là trái mùng quân”. Trái hồng quân, mùng quân, mồng quân được gọi theo màu da của quả màu tím đen, đỏ tím đen. Vậy quân là màu tím đen, màu mặt trời đêm, mặt trời hoàng hôn. Lạc Long được gọi là quân vì là vua Mặt Trời màu 'quân', màu tím đỏ. Như thế qua từ Quân ta cũng thấy rõ Lạc Long Quân có khuôn mặt Mặt Trời Lặn, Mặt Trời Hoàng Hôn. Tóm tắt lại về mầu sắc có hai màu biểu của Mặt Trời Hoàng Hôn Lạc Long Quân là mầu vàng, mầu hoàng (chiều vàng) và màu tím đen 'quân' , mầu huân, mầu hôn (chiều tím) tức hai mầu hoàng hôn. Điểm này giải thích tại sao trước đây ở thành Thăng Long, nhà thường dân bị cấm không được sơn hay quét vôi mầu tím và mầu vàng vì được coi đó là hai mầu của vua và của rồng. Đây chính là hai mầu hoàng hôn của Vua Rồng Lạc Long Quân, Vua Mặt Trời Lặn Hoàng Hôn.
Nếu hiểu tía là bố, là cha (Tía em hừng đông đi cầy bừa, má em hừng đông đi cầy bừa...) thì như đã biết dân Việt coi Lạc Long Quân là tổ phụ thường gọi là 'bô', là bố. Cóc tía là cóc bố! cóc Lạc Long Quân! Tuy nhiên từ tía gốc từ Quảng Đông thường được dùng nhiều trong Nam, người Bắc không dùng, nên giải thích theo tía là bố không được phổ quát như tía là mầu tím.
Tóm lại dù hiểu cóc tía là cóc tím hay cóc bố thì cóc tía cũng là cóc Lạc Long Quân.
Ca dao tục ngữ có câu “con cóc nghiến răng chuyển động bốn phương trời” cho thấy rất rõ cóc là cậu của Thần Sấm nên mỗi lần nghiến răng là nhắc nhở Thần Sấm làm ra sấm chuyển động bốn phương trời. Mỗi lần cậu cóc nghiến răng là nhắc cháu Lạc Long Quân làm sấm, làm mưa.
Cóc và Vũ Trụ Tạo Sinh.
Nhìn dưới lăng kính Vũ Trụ giáo, Dịch lý, cóc mang trọn vẹn ý nghĩa của Vũ Trụ luận.
.Vô Cực: qua nghĩa cóc là Không, cóc có một khuôn mặt biểu tượng cho hư không, không gian.
.Thái Cực: Cóc mang nghĩa thái cực, nghĩa là âm dương còn ở dưới dạng nhất thể thấy qua bản thể lưỡng thê, vừa sống trên cạn mang tính dương vừa sống dưới nước (lúc còn là nòng nọc) mang tính âm. Trứng cóc có nhân đen hình “vòng tròn nòng có chấm nọc” mang nghĩa nòng nọc, âm dương, thái cực, hình ảnh của Trứng Vũ Trụ. Con nòng nọc hiển nhiên có thân hình vòng tròn nòng và đuôi hình nọc mang tính âm dương thái cực.
.Lưỡng Nghi:
-Cực dương: cóc có một khuôn mặt là cọc (dương, lửa vũ trụ, mặt trời, bộ phận sinh dục nam, cực dương ) thấy rõ qua từ cóc biến âm với cọc, qua các hột mọc ở da mang hình ảnh những chấm nọc.
-Cực âm: cóc có một khuôn mặt là cực âm thấy rõ qua từ cóc biến âm với hóc, hốc. Hang hóc có một khuôn mặt âm, bộ phận sinh dục nữ.
.Tứ Tượng
-Tượng Lửa vũ trụ Càn: như trên đã thấy cóc biến âm với cọc. Cọc biểu tượng cho cực dương dĩ nhiên có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng Lửa. Ta đã thấy rất rõ con cóc ba chân của Trung Hoa biểu tượng cho lửa Càn.
-Tượng Đất dương tức Lửa thế gian Li.
Cọc có một khuôn mặt biểu tượng cho núi nổng (núi dương), núi trụ, núi lửa biểu tượng cho tượng đất, đất dương thế gian. Con cóc sừng (horned toad) có thể dùng làm biểu tượng cho tượng Đất dương.
-Tượng Nước dương Chấn.
Con cóc nghiến răng chuyển động bốn phương trời, là cậu ông trời sấm sét, liên hệ với với mặt trăng nên có một khuôn mặt biểu tượng cho mưa, sấm (lửa trong nước, chớp-mưa), Chấn (Chấn vi lôi, Chấn là sấm). Trong các tranh dân gian thường vẽ cóc, ếch đội lá che mưa, cóc đánh trống. Trống có một khuôn mặt biểu tượng cho Sấm.
-Tượng Gió dương.
Cóc có một nghĩa là không, theo duy dương, có một khuôn mặt biểu tượng cho gió. Trong các tranh dân gian thường thấy vẽ cóc đội dù, ô. Nếu dù ô, lọng có những chi tiết mang dương tính thì là những biểu tượng cho gió.
. . . . .
Tiến xa đến chữ viết cổ nhất của loài người, ta có thể kiểm chứng với chữ nòng nọc. Như trên đã biết Cóc biến âm với cọc nên có gốc là chữ nọc: chấm nọc và nọc mũi mác, răng sói, răng cưa (>) trong chữ nòng nọc. Chữ chấm nọc (.) và nọc mũi mác (>) mang trọn nghĩa vũ trụ luận của ngành dương (Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á).
Kết luận
Tóm lại con cóc là con có da sần sùi nổi cục, nổi hột, nổi gai trông như những hạt mễ cốc thường ở trong hóc, trong hang, trong cốc, là con không, thuộc ngành Khôn, là con cọc mang dương tính, là loài con nhái, con nhẩy. Con cóc là cậu ông Trời sấm sét có búa thiên lôi. Con cóc liên hệ với nước, mưa, sấm. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, cậu cóc em bà Thần Long Nàng Gió thuộc ngành Không, Khôn, có mạng Khôn dương, khí gió là cậu của con cóc cụ, cóc tía, thú biểu của Lạc Long Quân, Vua Mặt Trời Nước có một khuôn mặt Thần Sấm mưa Chấn.
Ngoài ra với nghĩa biểu tượng, cóc là không, ta cũng thấy rất rõ con cóc lại liên hệ với trống (drum). Theo qui luật từ đôi trống không ta có trống = không. Trống có một khuôn mặt biểu tượng cho hư không và trống cũng chỉ một nhạc cụ bộ gõ (percussion) , trống (drum) là tiếng nói của hư không (tiếng trống thu không). Như thế con cóc là con không con trống, con cóc liên hệ với với hư không và với trống (drum). Con cóc là con cọc, con nọc, con đực, con trống. Trống là đực và trống cũng là nhạc cụ bộ gõ nên cóc cũng ruột thịt với trống (drum). Trống là biểu tượng của ông thần sấm. Ông Thần Sấm thường cầm chiếc trống trong tay là vậy. Cóc là cậu ông Thần Sấm nên cũng ruột thịt với trống. Điều này cho thấy các tượng lưỡng thê trên trống đồng âm dương Đông Sơn là những tượng cóc . Trong khi đó các trống đồng muộn làm vào thời nông nghiệp của các tộc khác ở Đông Nam Á mang biểu tượng chính cho mưa hay thuộc các tộc dòng thái âm, mẹ, có thể có các tượng ếch. (xem Thế Giới Loài Vật Trên Trống Đồng Âm Dương trong Giải Đọc Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á).

Ghi Chú
(1)
Ta có thể dùng Việt ngữ để truy tầm nghĩa ngữ của Anh ngữ nói riêng và của Ấn Âu ngữ nói chung. Tôi dùng Việt ngữ để học và nghiến cứu Ấn Âu ngữ nói riêng và ngôn ngữ loài người nói chung và ngược lại. Dựa vào Việt ngữ đi tầm nguyên nghĩa ngữ của ngôn ngữ loài người có thể khác với tầm nguyên nghĩa ngữ của các nhà tầm nguyên nghĩa ngữ thế giới. Bởi vì tầm nguyên nghĩa ngữ, ở mỗi ngôn ngữ, tùy theo mỗi nhà tầm nguyên nghĩa ngữ nhìn theo một góc cạnh khác nhau, có thể khác nhau. Ở đây ta thấy tầm nguyên của cóc ếch khác nhau. Con nhái, chẫu chuộc cùng nghĩa là con nhẩy với frog và toad là nhìn theo con mắt của dòng Ấn Âu ngữ. Trong khi tầm nguyên nghĩa ngữ của cóc và ếch của Việt ngữ nhìn theo chữ nòng nọc, theo Dịch lý lại khác. Ta thấy rõ nhất là con tadpole theo Anh ngữ là con (cá) đầu cóc nhưng trong Việt ngữ tadpole rõ ràng là con nòng nọc, con có thân hình vòng tròn nòng và đuôi hình nọc, gọi theo âm dương, Dịch lý. Theo tôi dựa vào chữ nòng nọc là thứ chữ cổ nhất của loài người ghi lại âm, tiếng nói cổ của loài người là đáng tin cậy nhất. Tôi giải tự linh tự Ai Cập cổ, chữ khoa đẩu thánh hiền của người Trung Hoa, hình ngữ Aztec, Maya... bằng chữ nòng nọc còn viết trên trống đồng âm dương Đông Sơn dĩ nhiên sẽ khác với lối giải tự hiện nay. Sự khác biệt này là chuyện dễ hiểu. Xin đừng quá tin vào các nhà ngôn ngữ học khoa bảng thế giới hiện nay mà đã vội vã cho rằng tôi sai.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Nguyễn Minh Triết: Nói dối! Nói láo!

Bùi Tín

Chuyện động trời: Chủ tịch Triết bị Hội Đồng Giám mục Việt Nam chỉ mặt mắng: ''nói dối!'', ''nói láo!''


Ngày 7/7 từ Toà Giám mục Việt Nam (VN) ở Nha trang, Ngài Chủ tịch Hội Đồng Giám mục VN - Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Hòa đã gửi công văn cho ông Triết, sau khi báo Tuổi trẻ trong số ra ngày 6/7 đăng cuộc phỏng vấn của ông Triết trả lời hãng CNN Hoa kỳ rằng ''Hội Đồng Giám mục VN và Toà Thánh Vatican đã hết sức đồng tình và ủng hộ việc xét xử Linh mục Nguyễn Văn Lý''.

Nguyên văn trong bức thư công khai và chính thức này là:

Hội Đồng Giám mục Việt nam nhận định như sau:

"Câu trả lởi của Cụ Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết ''Hội Đồng Giám mục Việt nam và Toà Thánh Vatican cũng đồng tình với chúng tôi'' là không đúng sự thật".

Bức thư rất ngắn, gọn, rõ.

Xin nhớ rằng trong chuyến Mỹ du của ông Triết, ông ta đã nhiều lần nhắc đi nhắc lại lời bịa đặt dựng đứng trên đây. Khi gặp bà Chủ tịch Thượng Viện Mỹ Nancy Pelosi ngày 21/6, khi gặp Tổng thống Hoa kỳ Bush ngày 22/6, khi gặp người Việt ở Dana Point ngày 23/6. Ít nhất là 3 lần nói dối, chưa kể khi trả lời hãng vô tuyến truyền hình lớn nhất Hoa kỳ CNN trên đây.

Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Hoà sâu sắc thật, nâng ông Triết lên hàng ''Cụ'', lên chức cao chót vót ''Chủ tịch Nước''... để rồi hạ xuống một nhát đau hơn hoạn: kẻ nói dối! kẻ nói láo! mà lại nói láo với những vị đứng đầu một nước lớn đang tiếp đón mình.

Xin miễn bàn gì nhiều. Để xem phản ứng của các ông bà nghị sỹ, của ngài Tổng thống, của hãng CNN Mỹ , các nhà kinh doanh Mỹ và chư vị người Việt từng nghe ông Triết trực tiếp nói dối với mình sẽ nghĩ gì về ''cái quả lừa'' ông khách không giống một ai này.

Nói dối lòi đuôi. Sẽ là một sự kiện thời sự làm sôi nổi thêm Hội nghị Trung ương 5 đang vô cùng căng thẳng và cả phiên khai mạc quốc hội khóa 12 sắp tới cho bớt phần tẻ nhạt.

Paris. 10/7/2007.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

MÙA THU QUA THI CA VIỆT NAM

DƯƠNG VIẾT ĐIỀN

Ai đã từng đọc bài thơ nỗi tiếng “Chansons D’automne” của thi- sĩ lừng danh Pháp-quốc Paul Verlaine đều cảm thấy lòng mình bồi-hồi và xúc-động . Không xúc-động sao đựơc khi nhà thơ đa-tình này đã rung cảm hồn mình thành những dòng thơ bất-hủ sau đây để nức-nở về tình thu bên bờ sông Seine tuyệt đẹp năm nào:

“Les sanglots longs
Des violons
De l’automne
Blessent mon coeur
D’une langueur monotone
Tout suffocant
Et blême, quand
Sonne l’heures
Je me souviens
Des jours anciens
Et je pleure
Et je m’en vais
Au vent mauvais
Qui m’emporte
Decà delà
Pareil à la
Feuille morte “

“Tiếng đàn ai đó lê-thê
Vĩ- cầm réo-rắt ê-chề lòng đau
Bơ-vơ chuông đổ đồng-hồ
Lòng như héo-hắt thu tàn năm xưa
Bao kỷ-niệm, theo gió đưa

Cuốn theo lệ đổ chưa vừa xót-xa
Bao năm lữ thứ xa nhà
Giang-hồ phiêu-bạt lá vàng tả-tơi..”
(Lãng-Du )


Thật vậy, mùa thu là mùa của tình yêu, mùa của lá vàng rơi rụng. Mùa thu là mùa của những cặp tình nhân dìu nhau đi dưới nắng thu để thưởng thức bầu không khí mát mẻ trong lành,rồi trao cho nhau những nụ hôn nồng cháy để rồi cùng nhau nhìn lá vàng rơi, rơi mãi tận cuối chân trời.
Mùa thu là mùa các thi-nhân đi tìm những vần thơ để sáng-tác thành những tuyệt-phẩm bất-hủ nghìn năm.

Ai đã từng đi qua phố vắng dưới ánh nắng chiều thu khi lá vàng bay bay khắp trời rồi lác-đác rơi qua mái đầu và rớt xuống đất, mới cảm thấy được cái đẹp tuyệt vời của mùa thu,mới rung cảm theo nhịp của lá vàng đang rơi,rung cảm theo những tia nắng thu dịu hiền vươn mãi đến tận chân trời xa thăm-thẳm. Nói đến mùa thu là nói đến mùa của lá vàng bay bay, mùa của lá vàng rơi rơi, mùa của lá vàng khô rụng khắp mọi nẽo đường. “ Thu đi cho lá vàng bay, lá rơi cho đám cưới về “. Ta hãy nghe các thi-nhân Việt-nam nói về lá vàng rơi mỗi độ thu về qua những dòng thơ trữ tình sau đây.
Hình ảnh nỗi bật nhất về lá rụng giữa mùa thu là hình ảnh trong hai câu thơ sau đây của thi-sĩ Tản- Đà :

“ Trận gió thu-phong rụng lá vàng
Lá bay hàng xóm lá bay sang “


Nhưng hình ảnh trữ tình và lãng-mạng nhất là hình ảnh con nai vàng ngơ-ngác giưã rừng thu qua bài “Tiếng Thu” của Lưu Trọng Lư với những câu thơ năm chữ nghe thật êm-đềm như khúc nhạc tình thu trong rừng vắng :

“ Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào-xạc
Con nai vàng ngơ-ngác
Đạp trên lá vàng khô “


Không phải chỉ có Tản Đà hay Lưu Trọng Lư mơí nói đến lá vàng khi mùa thu tới; hầu hết các thi- nhân Việt-nam đều ca ngợi cái đẹp của mùa thu bằng cách diễn tả hình ảnh của lá vàng rơi giữa trời thu. Sau đây là những dòng thơ diễn tả về lá vàng mùa thu của một số thi- nhân Việt-nam :

“ Sắc trời trôi nhạt dưới khe
Chim đi, lá rụng, cành nghe lạnh-lùng “ (Huy-Cận)

“ Rặng liễu đìu-hiu đứng chịu tang,
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng
Đây mùa thu tới mùa thu tới
Với aó mơ phai dệt lá vàng “ (Xuân-Diệu )

“ Ao thu lạnh-lẽũo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo-teo
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo” (Nguyễn Khuyến)

“Ai đâu trở lại mùa thu trước
Nhặt lấy cho tôi những lá vàng” (Chế lan Viên)

“Chẳng được như hoa vướng gót nàng
Cõi lòng man-mác giá như sương!
Ta về nhặt lấy hoa thu rụng
Đặng giữ bên lòng nỗi nhớ thương “ (Thái Can)

“Gió vàng hiu-hắt cảnh tiêu-sơ
Lẻ-tẻ bên trời bóng nhạn thưa
Giếng ngọc sen tàn bông hết thắm
Rừng phong lá rụng tiếng như mưa”(Ngô chi Lan)

“Đêm thu khắc lậu canh tàn
Gió cây trút lá trăng ngàn ngậm sương “ (Nguyên-Du)


Ngoài lá vàng rơi là biểu-tượng của mùa thu, ta còn phải đề cập đến ánh trăng thu huyền-ảo.Nói đến mùa thu mà không đề-cập đến ánh trăng thu mờ-ảo sau áng mây trời giữa đêm khuya thanh-vắng la ụmột sự thiếu sót lớn lao đối với mùa thu .
Không phải đêm thu nào ánh trăng cũng vằng-vặc giữa trời trong khi lá vàng rơi nhè nhẹ giữa đêm khuya cô-tịch mà trái lại, có những đêm thu trăng buồn ảo-nảo gió heo may thổi về làm cho lòng người cảm thấy u-buồn man-mác trước cái lạnh không làm tê-buốt con tim như mùa đông, nhưng lắm lúc làm cho hồn ta bâng-khuâng giá rét, làm cho hồn ta nhung- nhớ lạnh-lùng.

Nếu thi-sĩ Thượng Quan- Nghi đời Đường bên Trung-Quốc đã diễn-tả cái đẹp của ánh trăng thu qua hai câu thơ:

“Thước phi sơn nguyệt thự
Thuyền táo đã phong thu”
“Sườn non trăng sáng chim bay
Đồng thu gió lộng ,ve say nhạc sầu” (Chi-Điền dịch)


Thì tại Việt-Nam, rất nhiều nhà thơ đã tốn không biết bao nhiêu mực và giấy để diễn-tả chị Hằng giữa đêm thu huyền-diệu. Thật vậy nếu bài “Tiếng thu” của Lưu trọng Lư không đề cập đến ánh trăng mờ thì tòan bài thơ mất đi rất nhiều ý-nghĩa về mùa thu :

“E m không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn-thức “


Riêng nhà thơ Xuân-Diệu đã nhân-cách hóa ánh trăng thu khiến những dòng thơ trở thành bất tử:

“ Thỉnh-thỏang nàng trăng tự ngẩn-ngơ
Non xa khởi sự nhạt sương mờ
Đã nghe rét mướt luồn trong gió
Đã vắng người sang những chuyến đò”


Tuy-nhiên nói đến trăng nhất là ánh trăng thu mà không nói đến thi-sĩ Hàn Mặc Tử là một sự thiếu sót vô cùng trọng đại.
Ta hãy nghe Hàn Măỉc Tử nói về trăng thu qua những câu thơ bảy chữ với lối nhân-cách hóa làm cho ta có cảm tưởng như người đẹp Hằng -Nga đang rón-rén dời gót ngọc vào nhà ai ụgiữa đêm thu trăng sáng :

“Bóng nguyệt leo song sờ-sẫm gối
Gió thu lọt cửa cọ mài chăn”
hay là :
“ Ô kìa bóng nguyệt trần truồng tắm
Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe “


Ngoài Lưu trọng Lư, Hàn mặc Tử, Xuân-Diệu ra , ta cũng thấy rất nhiều nhà thơ nói về ánh trăng thu. Sau đây là một số bài thơ của một vài thi-nhân đã ca-tụng ánh trăng thu qua những dòng thơ đủ các thể loại :

“Lòng anh giếng ngọt trong veo
Trăng thu trong vắt, biển chiều trong xanh
Lòng em như bụi kinh-thành
Đa-đoan vó ngựa chung-tình bánh xe .” (Nguyễn-Bính)

“Nước biếc trông như tầng khói phủ
Song thưa để mặc bóng trăng vào “ ( Nguyễn -Khuyến)

“Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi !
Trần thế em nay chán nữa rồi “ ( Tản-Đà)

“Mặt trăng tỏ thường soi bên gối,
Bừng mắt trông sương gội cành ngô
Lạnh-lùng thay, bấy chiều thu,
Gió may hiu-hắt trên đầu tường vôi”
Đặng trần Côn (Đoàn thị Điểm địch)

“Vi lô san-sát heo may
Một trời thu để riêng ai một người
Dặm khuya ngất tạnh mù khơi
Thấy trăng mà thẹn những lời non sông
Rừng thu từng biếc chen hồng
Nghe chim như nhắc tấm lòng thần -hôn !” ( Nguyễn-Du )

“Đêm thu gió lọt sông đào
Nửa vành trăng khuyết ,ba sao giữa trời “( Nguyễn- Du)

“Hoa xuân nọ ,còn phong nộn nhị,
Nguyệt thu kia,chưa hé hàn-quang” ( Ôân như Hầu )


Nếu mùa thu có lá vàng rơi rụng, có trăng thu huyền ảo thì cũng có nắng thu nhẹ lướt trên đồi. Nắng mùa thu không gay-gắt rực lửa như mùa ha ỉtrái lại rất mát diụ trong lành, nhất là những lúc trời xanh mây trắng nắng hồng. Đi dươiù nắng thu người ta thấy tâm-hồn rất thoải mái lâng-lâng ,nhất là những lúc trờiụ chiều nhạt nắng có lá vàng bay bay rồi rụng khắp phố -phường. Nhiều cặp tình nhân thích đi dưới nắng thu để thưởng thức cái vẻ đẹp của mùa thu, nhặt những lá vàng rơi rồi nhìn những hàng cây khẳng-khiu chỉ còn những cành trụi lá dọc hai bên đại-lộ lúc chiều tà.
Ai cũng biết rằng các thi- nhân khi nói về mùa thu thường không quên đề-cập đến nắng thu. Nhà thơ Chế lan Viên đã làm cho ta ngạc-nhiên khi viết mấy câu thơ liên-quan đến nắng thu như sau:

“Chao ôi! thu đã tới rồi sao ?
Thu trước vừa qua mới độ nào
Mới độ nào đây hoa rạn vỡ
Nắng hồng choàng ấp dãy bàng cao .”


Nhưng ngạc-nhiên hơn nữa là hai câu thơ đầy nhạc tính của nhà thơ Bích-Khê sau đây
làm cho ta cảm thấy thích thú khi đọc lên vì nghe như một giai-điệu tuyệt vời :

“ Ô hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh-mông .”


Dĩ-nhiên, mỗi nhà thơ diễn-ta ũvẻ nắng thu một cách khác nhau, nhưng hầu hết đều ca-ngợi nắng thu như là hình ảnh tuyệt đẹp giữa gió chiều.
Nhà thơ Xuân-Diệu cũng nói về nắng thu với hai câu thơ thất-ngôn đầy lưu luyến trữ-tình :

“ Nõn-nà sương ngọc quanh thềm dậu
Nắng nhỏ bâng-khuâng chiều lỡ thì.”


Nhưng nếu ai đã đọc mấy câu thơ sau đây của nhà thơ Trúc-Ly đều cảm thấy hồn mình xao-xuyến bâng -khuâng :

“Tôi đứng bên nầy bờ dĩ-vãng
Thương về con nước ngại-ngùng xuôi
Những người con gái bên kia ấy
Ai biết chiều nay có nhớ tôi
Tôi muốn hôn bằng môi của em
Mùa thu tha-thiết nắng hoe thềm.”
Ngòai ra ta còn thấy rất nhiều nhà thơ khác cũng đã nói về nắng thu với những dòng thơ thật đẹp và thật buồn :
“Chiều nay nắng nhạt luyến chân đồi
Hơi lạnh tàn thu giục lá rơi
Sương xuống chiều đi lòng vắng vẻ
Thê-lương thêm bận khúc ly-hòai .”
hay là :
“ Hát bài hát ngô-nghê và êm ái
Bên sườn non mục-tử cưỡi trâu về
Nắng chiều rây vàng bột xuống dân quê
Lúa chín đỏ theo gió nồm sắp mái .”
Nam-Trân Nguyễn học Sỹ


Nếu những hình ảnh đẹp của mùa thu là lá vàng rơi,là ánh trăng thu giữa đêm khuya thanh-vắng, và nắng chiều thu trong buổi hòang-hôn, thì hình ảnh buồn nhất của mùa thu là mưa thu. Chính những giọt mưa thu đã làm cho lòng người lạnh-lẽo,u-buồn, làm cho lòng người hoang vắng sầu thương, bơ-vơ giữa thế-giới mưa rơi buồn-bã.

Trước cảnh mưa thu ảm-đạm ở ngòai bệnh-viện, nhạc-sĩ tài ba Đặng thế Phong đã xúc-động rồi sáng tác ngay bản nhạc “ Giọt mưa thu.” trước khi vĩnh-biệt trần-gian để lại cho đời những giọt lệ thu sầu thương nức-nở, những giọt lệ tình ai-oán lâm-ly : “Ngòai hiên giọt mưa thu thánh-thót rơi. Trời lắng u-buồn mây hắt-hiu ngừng trôi.Nghe gió thỏang mơ-hồ trong mưa thu ai khóc ai than hờ…”

Bởi vậy nói đến mưa thu là nói đến một trong những cảnh vật buồn-bã nhất của trần thế. Đọc mấy câu thơ sau đây của Bà Huyện Thanh Quan, ta thấy cảnh mưa thu thật là tiêu-điều buồn-bã:

“Thánh-thót tàu tiêu mấy hạt mưa
Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu-sơ
Xanh um cổ-thụ tròn xoe tán
Trắng xóa tràng -giang phẳng-lặng tờ.”


Hay hai câu thơ sau đây của nhà thơ Xuân-Diệu cũng cho ta thấy cảnh lặng lẽ u-buồn :

“Gió thầm, mây lặng , dáng thu xa
Mới tạnh mưa trưa chiều đã tà.”


Tuy-nhiên nếu trăng thu,nắng thu, mưa thu ,là những đề tài bất-hủ cho các văn thi-sĩ,nhạc-sĩ lấy đó để sáng-tác thì sương thu là một đề tài không kém quan-trọng để các thi-nhân dệt thành thơ. Vào những lúc trời sáng tinh-sương, ai đã từng ra sau vườn,đều trông thấy nhưnõg giọt sương đọng trên cành cây,ngọn cỏ giống như những hạt kim-cương lóng lánh đẹp tuyệt vời. Cho đến ngày hôm nay,rất nhiều người Việt-nam đã thuộc lòng đọan văn của nhà văn Thanh-Tịnh tả về cảnh sương thu : “Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và đầy gió lạnh, mẹ tôi âu-yếm nắm tay tôi,dẫn tôi đi trên con đường làng dài và hẹp.”Một nhà thơ nỗi tiếng như sóng cồn một thời vang bóng đã ca-ngợi sương thu qua bài thơ “Sương rơi.” Đó là thi-sĩ Nguyễn-Vỹ với bài thơ hai chữ đã để lại cho đời một tác-phẩm bất-hủ về sương thu.:

“ Sương rơi Rồi hạt Rơi sương
Nặng trĩu Sương trong Cành dương
Trên cành Tan-tác Liễu ngã
Dương-liễu Trong lòng Gió mưa
Nhưng hơi Tả-tơi Tơi-tả
Từng giọt
Gió bấc Em ơi ! Thánh-thót
Lạnh-lùng Từng giọt Từng giọt
Hiu-hắt Thánh-thót Tơi-bời
Thấm vào Từng giọt Mưa rơi,
Em ơi Điêu-tàn Gió rơi;
Trong lòng Trên nấm Lá rơi,
Hạt sương Mồ hoang !… Em ơi !…”
Thành một
Vết thương !… Nguyễn-Vỹ.


Như đã được trình bày ở trên,mùa thu là mùa có lá vàng rơi lác-đác,có trăng thu mờ aỏ giữa đêm buồn,có những giọt mưa rơi thánh-thót thật lâm-ly. Đã thế, nhiều lúc ánh nắng chiều thu làm cho người lữ-hành thêm cô-độc bâng-khuâng,luôn luôn cảm thấy như xa vắng lạc-lòai, như biệt-ly hiu-quạnh.Vì thế mà nhiều người đã cho rằng ,

Mùa thu là mùa của biệt-ly của xa cách nên tình thu thường nức-nở nghẹn-ngào. Mùa thu là mùa nhớ nhung từ đó và cũng là nhung-nhớ từ đây. Thế nên nói đến mùa thu là nói đến biệt-ly nhung-nhớ,là nói đến ngăn-cách xa nhau,là nói đến chia-ly buồn-bã và lắm lúc nói đến vĩnh-biệt ngàn đời để rồi “nghìn-trùng xa cách người đã đi rồi, còn gì đâu nữa mà khóc với cười .”
Sau đây, ta hãy nghe các thi-nhân Việt-nam nói về sự biệt-ly,sự nhung-nhớ cũng như những nỗi u-buồn giữa mùa thu :

“Mây vẫn từng không chim bay đi
Khí trời u-uất, hận chia-ly
Ít nhiều thiếu-nữ buồn không nói
Tựa cưả nhìn xa nghĩ-ngợi gì” (Xuân-Diệu )


Hay những dòng thơ lục-bát đầy vẻ âm-u,tiêu-điều của Huy-Cận;

“Non xanh ngây cả buồn chiều
Nhân-gian e cũng tiêu-điều dưới kia .”


Hoặc những câu thơ đầy nhung-nhớ quằn-quại giữa mùa thu:

“Chao ôi! mong nhớ ! ôâi mong nhớ
Một cánh chim thu lạc cuối ngàn.”(Chế lan Viên)


Hay hình ảnh xa vắng biệt-ly của người chinh-phu trong lòng người cô-phụ :
“Em không nghe rạo-rực
Hình ảnh kẻ chinh-phu
Trong lòng người cô-phụ.” (Lưu trọng Lư)

Hoặc là những câu thơ đầy nỗi nhớ-thương của thi-nhân :

“Chẳng được như hoa vướng gót nàng ,
Cõi lòng man- mác giá như sương!
Ta về nhặt lấy hoa thu rụng
Đặng giữ bên lòng nỗi nhớ thương “ (Thái-Can)


Nhưng sự biệt-ly đớn đau nhất hay nỗi nhớ-nhung quằn-quại triền-miên cũng như sự khổ đau cay đắng suốt đời mà ta có thể thấy được là những dòng thơ nức-nở lệ nhòa
của nữ thi- sĩ T.T.KH, một nhà thơ đã sáng tác nên những bài thơ bất-hủ ngàn năm và đã trở thành huyền thọai trong thi-ca Việt-nam. Ta hãy nghe nhà thơ T.T.KH nức-nở

những điệp-khúc tình thu sau đây :

“Anh ạ, tháng ngày xa quá nhỉ ?
Một mùa thu cũ một lòng đau
Ba năm ví biết anh còn nhớ
Em đã câm lời có còn đâu !.”

hay là :
“Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái-ân lạt-lẽo của chồng tôi
Mà từng thu chết từng thu chết
Vẫn giấu trong tim một bóng người .”


Tóm lại qua thi-ca Việt-nam, ta thấy hầu hết các thi- nhân nước Việt đều nói đến mùa thu, ca ngợi mùa thu vì mùa thu có những đêm trăng mờ ảo, có những lá vàng rơi tuyệt đẹp, có những giọt mưa thu thánh thót rơi thật lâm-ly,bi-thảm vv…Và cũng vì mùa thu là mùa của ngăn-cách ,của ly-biệt,là mùa của nức-nở nghẹn-ngào nên các thi-nhân Việt-nam không ai mà không xúc-động khi thấy mùa thu đến. Vì vậy ,qua thi-ca Việt-nam,ta thấy nhiều nhà thơ đã để lại cho đời những bài thơ trữ-tình bất-hủ về mùa thu.

DƯƠNG VIẾT ĐIỀN

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Có bông hoa nào
không cho người sẽ qua đời ?


T.Vấn
1.

Sáng nay, thứ bảy, tôi có dịp tham dự tang lễ một người quen biết tại nhà thờ xứ đạo địa phương. Tuy là xứ đạo Mỹ, nhưng vị chủ tế buổi lễ lại là một linh mục Việt Nam từ quê nhà mới qua. Bài giảng của ông khá sâu sắc, trong đó có thí dụ về Alexandre Đại đế, một vị vua nổi tiếng trong lịch sử nước Nga. Vị linh mục kể lại, trong di chúc của mình, ông vua bách chiến bách thắng đã dặn triều thần rằng, khi ông chết, cái quan tài đựng xác của ông phải có hai lỗ hổng hai bên để thò hai bàn tay của vua ra cho mọi người nhìn thấy. Đó là hai bàn tay trắng, dù khi còn sinh tiền, người ấy đã là một vị vua quyền thế, tài năng, giàu có.

Dụ ngôn ẩn chứa trong câu chuyện của vị linh mục không có gì mới. Hầu như ai cũng biết điều đó. Nhưng hình như tất cả mọi người đều không có cơ hội nghĩ đến chân lý cũ kỹ đó trong suốt cuộc đời nhọc nhằn hối hả của mình. Có chăng, chỉ trong những dịp hiếm hoi, như tôi trong buổi sáng mệt mỏi này, miệng lẩm nhẩm đọc theo mọi người những câu kinh thuộc lòng một cách vô thức, nhưng mắt cứ nhìn về phía quan tài nằm giữa nhà thờ, tưởng tượng ra tấm thân da bọc xương của người quá cố teo tóp vì vi trùng ung thư đục khóet, bây giờ nằm thảnh thơi không vướng mắc gì nữa đến vinh nhục, thành bại, sướng khổ, vui buồn của cuộc đời. Thế là đã xong một kiếp người. Hôm tuần lễ trước, tôi có ghé thăm anh tại nhà. Nhìn thấy một phụ nữ còn khá trẻ và rất xinh đẹp, đứng bên cạnh giường người bệnh, tôi hỏi thăm và được biết đó là người vợ cũ của anh. Hai người ly dị đã hơn 10 năm nay, được tin anh bị bệnh, chị đang ở một tiểu bang rất xa, đã vội thu xếp việc gia đình riêng để về chăm sóc anh những ngày cuối. Chị cho biết, tuy anh đã có những chuyện tình cảm khác sau khi hai người chia tay, nhưng anh rất vui mừng được thấy chị bên cạnh giây phút sắp lâm chung. Tôi còn được nghe vài câu chuyện khác liên quan đến cách sống của anh khi còn sinh tiền, khiến nhiều người chỉ đợi dịp này để có thể bày tỏ lòng quý mến và biết ơn của mình với anh.

Tang lễ kết thúc với bài hát thật buồn. Xin vĩnh biệt mọi người. Tôi ra đi lần cuối. Không bao giờ trở lại. Hẹn nhau nơi nước Trời. Theo sau quan tài, tôi thấy người vợ cũ vật vã trong chiếc khăn tang phủ kín khuôn mặt. Bên cạnh, là những người thân ruột thịt của anh và những người đã từng quý mến anh khi còn sống.

Một đời người đã xong, đã trở về với cát bụi trong cuộc viễn du cuối cùng, trong sự thương tiếc chân thành của mọi người có dịp quen biết.

Có lẽ đó là điều duy nhất mà người lên đường đi vào nơi miên viễn muốn mang theo làm hành trang, chứ không phải những thứ phù du hư ảo khác của cuộc đời.

2.

Người ta nói, đời người ngắn ngủi chỉ một trăm năm. Nhưng từ trước tới nay, tôi hiếm thấy người nào sống được tới trăm năm. 70 tuổi đã được gọi là thọ. Và khi người ta đến được lằn mức 70, hẳn đã hiểu hết được lẽ đời. Tất cả chỉ là hư ảo, phù du. Danh vọng, tiền bạc, niềm vui, nỗi buồn. Nằm xuống cũng chỉ hai bàn tay trắng như ông vua nước Nga lừng danh trong lịch sử.

Vậy mà, có một người gìa 78 tuổi, cũng đã từng kinh qua bao thăng trầm với những thứ phù du hư ảo, vẫn không nhìn thấy điều thật cũ kỹ mà cũng thật hiển nhiên ấy. Tuổi 78 là cái tuổi mấp mé bên bờ tử sinh. Hôm nay còn mạnh khỏe đấy, còn nói nói cười cười đấy, nhưng có thể ngay sáng ngày mai đã là người thiên cổ. Và ông gìa 78 tuổi này không hy vọng gì là một ngoại lệ trong lẽ tử sinh của đất trời.

Ông trước đây cũng có chút địa vị trong chế độ cộng hòa cũ. Tháng 4- 75, ông nhanh chân chạy thóat cộng sản, sau khi đã hô hào mọi người hãy ở lại chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Hàng trăm ngàn người lính vốn là thuộc quyền của ông, trong đó có tôi, không nhanh chân được như ông vì không có điều kiện hay rất đơn giản, muốn làm trọn nhiệm vụ của mình cho đến phút cuối cùng, kẹt ở lại và chôn vùi một phần đời quý báu trong những nhà tù tiền sử. Nhiều năm sau, một số lớn chúng tôi sống sót trở về và bằng nhiều phương cách khác nhau, đã đến được bến bờ tự do. Phần ông, 30 năm sống vất vưởng xứ người càng làm ông quay quắt thêm với giấc mộng công hầu chưa trọn vẹn, ông đã có nhiều hành động lời nói làm phiền lòng nhiều người trước đây làm việc dưới quyền ông, gián tiếp hay trực tiếp. Vẫn biết, ông chỉ là một con người của thời thế, chó nhảy bàn độc, tài năng đã nhỏ mà nhân cách lại càng nhỏ hơn, nên phần lớn chúng tôi không bận tâm lắm về những việc làm “ trẻ người, non dạ “ của một người, mà chẳng may thời thế nhiễu nhương đã đặt ông vào vị trí chỉ huy chúng tôi.

Nhưng, gần đây nhất, ông đã từ Việt nam, nơi ông sống an lành một thân phận hàng thần lơ láo, trở qua Mỹ để tham dự buổi tiệc do vị chủ tịch nước Cộng Sản chủ tọa nhân dịp ông này và phái đòan chính phủ thăm viếng Hoa Kỳ. Trên đường đi đến địa điểm tổ chức bữa tiệc, hẳn chính mắt ông phải thấy hàng ngàn người Việt hải ngọai biểu tình, phản đối sự có mặt của phái đòan chính phủ cộng sản trên nước Nỹ, yêu cầu tự do dân chủ cho Việt Nam v..v.., trong số những người đứng đó, có rất nhiều người trước đây đã “ từng dưới sự chỉ huy “ của ông. Trong bữa tiệc, như đã được sắp xếp trước, ông “ bất ngờ “ được mời lên phát biểu. Điều phiền lòng nhất cho chúng tôi là ông đã “ nhân danh cộng đồng người Việt hải ngọai “ để có những lời nịnh hót, tung hứng với phái đòan chính phủ cộng sản. Phiền lòng hơn nữa là ông lại “ nhắn nhủ “ đến “ những người từng dưới sự chỉ huy “ của ông – là chúng tôi, những người đã bị ông phản bội, bỏ rơi 30 năm trước – rằng thôi đừng thù hận nữa, đừng quốc cộng nữa, bây giờ chỉ còn có một nước Việt Nam thôi v..v..

Tôi thực sự không bận tâm phân tích những điều ông gìa 78 tuổi vừa nói. Chúng cũng chẳng hơn những điều trẻ con nói ngọng. Tôi chỉ không thể hiểu nổi, một người gần đất xa trời, vẫn còn những tham sân si trần tục đến thế sao ? Ra sức làm nhỏ mình đi trước mắt kẻ cựu thù, chỉ để có cơ hội nói rằng “ tôi trước đây đã từng được đứng ở một bên đấu trường với chủ tịch “, để có cơ hội “ tự nhân danh “ một tập thể mà chính ông đã tự tách mình ra khỏi từ lâu, để có cơ hội nhắc nhở những người lính còn sống sót sau bao phong ba rằng họ đã “ từng dưới sự chỉ huy “ của ông, có nghĩa là cố chứng minh với mọi người rằng mình vẫn còn chỗ đứng của một thời vang bóng. Giấc mộng công hầu khanh tướng nó mãnh liệt đến độ khiến cho một con người, với cái vốn nhân cách đã nhỏ như hạt đậu, lại sẵn sàng tung hê nốt để chỉ đổi lấy cái bắt tay vị chủ tịch nước cộng sản Việt Nam trên đất Mỹ, và toe tóet cười nhìn thẳng vào ống kính của bao phóng viên đang sốt sắng làm nhiệm vụ. Tôi đã từng nghe và cảm thông được những câu chuyện người nghệ sĩ say mê, nhung nhớ ánh đèn sân khấu. Điều ấy có thể hiểu được vì đó là ánh đèn nghệ thuật của những con người nghệ sĩ. Nhưng tôi không thể cảm thông được với những nhân vật “ công chúng ‘ say mê đứng trước mọi người để được chụp ảnh, quay phim giống như ông gìa 78 tuổi tội nghiệp đang làm trò với trí tưởng tượng bệnh họan rằng mình đang làm lịch sử, rồi đây mình sẽ đi vào lịch sử với vai trò người hòa giải quốc cộng. Cho dù ông tin tưởng một cách thành thật rằng mình đang đóng vai trò hòa giải, thì cái đầu óc mụ mị nhất của một người 78 tuổi cũng phải biết tự hỏi rằng đây có phải là lúc, là nơi nói lên những điều đó không khi bên ngòai kia hàng ngàn người biểu tình chống đối, mà những người ấy là những người ở về phía bên ông đang kêu gọi hòa giải, hay lại chỉ như đổ thêm dầu vào lửa, hòa giải đâu chưa thấy mà chỉ thấy thêm những oan nghiệt đẻ ra do cái “ đầu đất “ (chữ của một trí thức Hà nội hiện ở trong nước đặt tên cho ông) cuối đời vẫn còn nửa mê nửa tỉnh giấc mộng Nam Kha.

3.

Có anh phóng viên một tờ báo hải ngọai mô tả về ông già 78 tuổi nói trên, nào là “ tuy 78 tuổi nhưng ông đã bỏ hút thuốc, cữ ăn, vẫn đi bộ, vẫn điểm dáng, trí óc vẫn mẫn tiệp “, nhưng ngay từ bây giờ, tôi đã nghĩ đến cái ngày ông già này nằm xuống. Chắc cũng chẳng bao lâu nữa đâu. Kiếp người vốn hữu hạn, không ai có thể thóat ra được. Và hẳn nhiên ông già 78 tuổi không thể là một ngoại lệ.Khi ấy, chắc sẽ có nhiều người thở phào nhẹ nhõm. Bất giác, tôi liên tưởng đến người quen biết của tôi vừa được chôn cất sáng nay. Anh chỉ là một con người rất bình thường, nhưng cách cư xử của anh khi sinh tiền đã khiến cho nhiều người đến với anh rất chân tình khi anh nằm xuống. Điển hình là người vợ cũ của anh. Họ chia tay có thể do những bất đồng trong cuộc sống chung, nhưng chắc chắn chị không hề khinh rẻ anh vì cái cách anh làm người. Vì thế, sau hơn 10 năm chia tay, chị vẫn đến với anh vào lúc anh cần chị nhất. Đó cũng là niềm an ủi to lớn cho những thân nhân ruột thịt còn sống của anh.

Hồi đầu năm nay, ở hải ngọai có cái chết của một vị cựu tướng, vốn cũng đã là một “ thuộc quyền” của ông. Khi vị cựu tướng này nằm xuống, cả một cộng đồng người Việt hải ngọai thương tiếc, cùng với sự ngưỡng mộ chân thành của các cựu viên chức, cựu tướng lãnh Mỹ đã từng làm việc sát cánh bên ông. Tang lễ của ông có sự hiện diện của những lễ nghi quân cách đến từ tấm lòng quý mến và kính trọng thực sự của những người lính một thời khóac chung màu áo với ông. Đó là phần thưởng quý gía nhất mà bất cứ một vị tướng nào cũng mong ước cho ngày mình giã biệt trần gian. Đã đành, người chết đâu có nhìn thấy được những điều đó. Nhưng nó làm ấm lòng người còn sống, mỗi khi nghĩ đến sự ra đi của cha anh mình. Với một thời gian ngắn nữa đây, ông già 78 tuổi rồi sẽ xuôi tay, nhắm mắt, liệu vợ con, thân nhân ruột thịt của ông sẽ còn buồn đau thế nào khi so sánh tang lễ của chồng cha mình với một người khác cũng cùng thời, cùng một số phận, chỉ khác nhau ở cách hành xử và độ cao của lòng tự trọng.

4.

Xét cho cùng, cái đau của thân nhân ông gìa 78 tuổi trong tương lai (gần) cũng không thể so sánh với cái đau của chúng tôi bây giờ, hay đúng hơn từ nhiều năm nay. Ở trong nước, đâu đó có người Hà Nội cũng thuộc lọai biết chuyện, đã nói vọng ra cho chúng tôi ngoài này nghe đại khái rằng, bộ VNCH các anh hồi xưa hết người rồi sao để cho cái ông kỳ cục ấy làm thủ tướng. Bây giờ ông ấy về bên này cũng chỉ để học đòi làm một đại gia, nhưng mà đại gia thuộc lọai câu lạc bộ 100, chứ dễ gì chen chân vào câu lạc bộ 10. Vì nước vì dân gì cái ngữ ấy !

Chúng tôi thua trận, bị kẻ chiến thắng bắt đi đầy ải, cầm tù, điều đó cũng bình thường. Thua trận, nhưng không nhục nhã. Chúng tôi buông súng, vì tuân theo lệnh của cấp trên, của vị tổng tư lệnh tối cao quân đội lúc ấy là ông Dương văn Minh, chứ chúng tôi không đầu hàng. Những năm tháng dài đăng đẳng trong những nhà tù, chúng tôi vẫn giữ khí tiết của một người lính, không chịu khuất phục, không chịu bị “ cải tạo”. Tôi không thể quên được một đêm tháng 7 năm 1977, khi vừa bị lùa từ những toa xe lửa chỉ dành chở súc vật xuống một khu rừng gìa Yên Báy, chúng tôi đã được nghe lời huấn lệnh đầy căm thù của viên trại trưởng. Giữa đêm khuya, giọng ông ta lanh lảnh, nói cho chúng tôi biết rằng đứa con trai duy nhất của ông đã vùi thây ở chiến trường miền Nam và nhiều thứ tội ác khác mà chúng tôi đã phạm. Chúng tôi hiểu rằng, những ngày sắp tới sẽ là địa ngục trần gian ở tầng thấp nhất. Chúng tôi chấp nhận đòn thù, vì chúng tôi hiểu thân phận mình, nhưng chắc chắn chúng tôi không chịu nhục. Trong tinh thần chịu đựng tất cả, ngòai sự khuất phục, phần lớn anh em chúng tôi đã sống sót, đã ra khỏi khu rừng gìa Yên Báy địa ngục trần gian, đã lăn lóc qua nhiều trại tù khác trước khi chính thức cởi bỏ lốt áo phạm nhân. Rời khỏi nhà tù, lần lượt chúng tôi cũng đã đến được bến bờ tự do. Để ngày hôm nay, chúng tôi tai nghe, mắt thấy vị chỉ huy cũ của mình xum xoe những lời nịnh hót, khuất phục trước ánh mắt hài lòng của kẻ cựu thù. Đau đớn hơn nữa, ông ta lại nhân danh chính chúng tôi, những người đã phải trả gía cho khí tiết của mình bằng những năm tháng đẹp nhất của tuổi trẻ trong những nhà tù dựng nên bởi chính kẻ cựu thù đang hân hoan đón nhận sự thần phục của ông một cách hể hả.

Ở đây, không có hận thù, mắt trả mắt, răng đền răng. Vì chúng tôi, đã từng là nạn nhân của hận thù, từng bị đòi mắt trả mắt, răng đền răng. Ở đây, là vấn đề nhân cách của một con người, khí tiết của một người lính đang tiếp tục cuộc chiến. Cuộc chiến ngày hôm nay không phải là nhằm khôi phục nền cộng hòa cũ, mà là chủ nghĩa cộng sản phải cáo chung trên đất nước Việt nam, mà là tái thiết lập lại tự do, dân chủ, nhân quyền cho hơn 80 triệu người dân vốn đã quá đau khổ vì chiến tranh, lạc hậu, nghèo đói. Lịch sử thế giới đã chứng minh rõ ràng, ngày nào còn chủ nghĩa cộng sản, ngày ấy đất nước vẫn chưa thóat ra khỏi sự trì trệ, chậm tiến. Trong cuộc chiến hiện nay, khối người Việt hải ngọai là một lực lượng đối trọng với chính quyền cộng sản đương nhiệm, đóng vai trò yểm trợ cần thiết cho lực lượng dân chủ ở trong nước.

Vì thế, những người lính gìa chúng tôi, không thể đứng bên lề cuộc chiến đó. Và cái ông gìa 78 tuổi kia không có chút tư cách nào để nhân danh chúng tôi một lần nữa.

5.

Ai cũng chỉ có một đời để sống. Thành công hay thất bại trong cuộc đời một con người, chỉ là những khái niệm tương đối. Tùy quan niệm mỗi người, mà sự thành công đối với người này, lại là sự thất bại dưới con mắt người kia. Nhưng sống làm sao cho ra một con người, lại chỉ có một cách nhìn duy nhất. Và vì không ai có cơ hội sống lại đời mình một lần thứ hai, nên khi nằm xuống rồi, mọi chuyện liên quan đến người ấy đã được định luận.

Giàu nghèo đến 30 tết mới hay. Hay dở của nhân cách một con người chờ đến lúc xuôi tay sẽ biết. Lúc ấy, có ăn năn cũng không kịp nữa. Trong lúc bùi ngùi ném cánh hoa xuống mộ người quen biết sáng nay, tôi đã nghĩ đến giây phút này của ông già 78 tuổi. Ngoài thân nhân ruột thịt của ông, còn ai nữa sẽ ném theo xuống mộ ông một bông hoa, dẫu chỉ là bông hoa héo ?

T.Vấn

Tháng 7/2007

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Thầy Quảng Độ Chính Thức Kêu Gọi Cứu Trợ
Dân Đang Đói Lạnh Dưới Mưa Gió Bịt Bùng...
Dòng người từ các tỉnh đổ về Saigon như thác đổ, trong đó có cả những người từ Hà Nội vào.

Saigon bừng sống, Saigon nổi dậy. Con giun xéo mãi cũng phải oằn. Sức chịu đựng của người dân cũng có giới hạn. Người dân kéo về Saigon công khai đương cự lại Công An...

Nhà tan cửa nát, trắng tay vì tham quan ô lại, vì tham vọng của Đảng. Lấy nhà dân để xây hãng xưỡng nô lệ cho ngoại bang "bóc lột" lợi dụng công nhân rẽ mạt trong nước. Một người bình thường ở Hoa Kỳ đi làm mổi giờ tối thiểu 7 đô la 50, mổi ngày 8 tiếng. Tháng lảnh tối thiểu 1,200 cho một người không có tay nghề hay đang thực tập.

Lương bác sĩ giỏi ở Việt Nam 300 đô một tháng. Sinh viên mới ra trường kiếm 100 đô đỏ con mắt. Người lao động kiếm được 50 đô một tháng làm việc quần quật suốt ngày.

Con ông lớn đi du học ngoại quốc được trợ cấp từ gia đình 2 đến 3,000 đô mổi tháng - cho mổi người. Tiền đó ở đâu ra (?). Lương cán bộ Đảng bao nhiêu mổi tháng (?) để chi xài vài chục ngàn đô dể dàng.

Hỏi tức là đã trả lời.

Tin chính thức đưa ra từ Saigon, Hòa Thượng Thích Quảng Độ trong một cuộc họp riêng với quý thầy thuộc giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ngày hôm nay, 15 tháng 7 năm 2007, tùy phương tiện, tùy hoàn cảnh, mổi chùa trực thuộc giáo hội thay phiên nhau vào tận chổ cứu trợ trực tiếp những người dân đang sống đói khổ, dầm mưa phơi gió sương trước văn phòng 2 Quốc Hội Saigon.

Trong một cuộc tiếp xúc riêng, chúng tôi được cựu tướng Lý Tòng Bá cho biết, cũng kể từ hôm nay, sau khi trực tiếp nói chuyện với GH Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ở trong nước - Ủy Ban Yễm Trợ Dân Chủ Quốc Nội sẽ chuyển tất cả mọi phương tiện về để cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất cứu giúp đồng bào. Ủy Ban Yễm Trợ Dân Chủ Quốc Nội sẽ đặt mình dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Hòa Thượng Thích Quảng Độ.

Mọi hoạt động xâm nhập vào bên trong, âm thầm cứu trợ của Ủy Ban mấy ngày qua ngay Saigon tạm thời đình chỉ. Vẫn tiếp tục giúp người dân có phương tiện về Saigon để đòi hỏi quyền lợi chính đáng. Mọi chi thu tài chánh sẽ được Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất công khai bạch hóa sau khi hoàn tất.

Để gió nổi lên, để nhen một niềm hy vọng, xin chúng ta mổi người một tay đẩy mạnh Ủy Ban Yễm Trợ Dân Chủ Quốc Nội làm tròn trọng trách trong giai đoạn này.

User avatar
tieuvuvi
Posts: 2912
Joined: Sun Nov 26, 2006 1:29 pm
Been thanked: 3 times
Contact:

Post by tieuvuvi »

Image


Bài thơ tình viết từ ngục tối
Trình bày: Nguyệt Ánh- Việt Dzũng

Anh gởi cho em bài thơ tình viết vội
Trang giấy là môt chiếc lá khô rơi
Anh gởi cho em bài thơ tình giữa đời
Bút mực là giòng nước mắt đang rơi

Anh gởi cho em bài thơ tình viết vội
Đêm trại tù đèn là ánh sao rơi
Anh gởi cho em bài thơ tình cuối đời
Mây gío trăng ngàn là vầng điệu chơi vơi

Em yêu ơi bài thơ tình quá ngắn
Khi tháng ngày mình quấn quít bên nhau
Như lúc dừng quân một thoáng nghe nghẹn ngào
Nhớ gia đình nhớ thương đàn con nhỏ

Nhưng em yêu ơi! Lời thơ dài thê thiết
Dài khôn cùng như ngày tháng chốn tù giam
Tù Bắc tù Nam ôi địa ngục khinh hoàng
Còn sống ở dương trần mà như là vịnh cách nhân gian

Đêm nay nhớ em nhớ đàn con nhỏ
Nhớ Sài Gòn nhớ gia đình Lăng Ông
Nhớ chao ôi muôn nỗi nhớ trong lòng
Gom góp lại thành khói sầu nặng trĩu

Thơ của anh là hồi càn truy điệu
Khóc sơn hà khóc thương bạn bè xưa
Khóc giòng sông khóm trúc hàng dừa
Bài thơ tình là giòng nước mắt hay mưa
Image

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Đêm Sàigòn

tùy bút Ngọc Thủy

Chiều mùa hè vào cuối tháng Sáu thật đẹp, nắng vàng anh rồi chầm chậm xuống lũng đồi Hoa Vàng – San Jose, đêm nhạc chủ đề Nhớ Sàigòn đã được diễn ra tại quán cà phê Paloma trong một khung cảnh thanh lịch, ấm áp. Quan khách tham dự hầu hết là những khuôn mặt thân quen trong giới văn, thi, nghệ sĩ và truyền thông báo chí.

Mở đầu chương trình là phần trình bày của ông Lê Văn Chính, đại diện cho Ban Tổ Chức (gồm các ông Ngô Đức Diễm, Huỳnh Lương Thiện Bùi Đức Ty gởi lời chào mừng đến toàn thể quý quan khách và thân hữu hiện diện. Kế tiếp là phần phát biểu ngắn gọn của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ, đến từ Tân Tây Lan, người khởi xướng phong trào Đòi Lại Tên Sàigòn đã được phát động mạnh mẽ trong hai năm vừa qua tại các nước Âu Châu cũng như khắp các tiểu bang Hoa Kỳ. Nơi nào có cộng đồng Người Việt là có tiếng nói thiết tha và sự đòi hỏi chính đáng, đó là: Hãy Trả Lại Tên Sàigòn cho Sàigòn., cho người dân Việt Nam.

Phần mở đầu văn nghệ với hai MC là Ngọc Thủy và Kim Oanh, liên tục giới thiệu đến quý vị quan khách những nhạc phẩm chọn lọc, hát về Sàigòn, hát cho Sàigòn và để chia xẻ cùng nhau bao nỗi niềm yêu mến Sàigòn yêu dấu xưa, những điều nuối tiếc và nhớ thương về Sàigòn bị nhuộm đỏ hôm nay cùng những ước mơ tươi đẹp cho một ngày mai huy hoàng của Sàigòn tương lai.

Ngoài phần thơ Tao Đàn với giọng ngâm trầm ấm của nghệ sĩ Đan Hùng là bài thơ của thi sĩ Trần Trung Đạo “Ba Mươi Hai Năm, Thưa Mẹ, Chúng Con Đi”. Tiếng hát của nam ca sĩ Huy Sinh với hai tình khúc “Ao Lụa Hà Đông” đưa dẫn người thưởng ngoạn vào vùng trời tươi mát mộng mơ.

Phần nhạc hùng ca "Trả Lại Ta Tên Sàigòn" do ban Hưng Ca gồm Ls Nguyễn Xuân Nghĩa, Nhật Tùng v.v... trình bày. Nhạc phẩm này cũng do ca nhạc sĩ Nhật Tùng sáng tác. Là một người trẻ hiện
đang cư ngụ tại thành phố thông xanh và tuyết lạnh Spokane Washington State. Tuy mới tham gia vào Đoàn Hưng Ca hải ngoại sau này nhưng Nhật Tùng đã viết được một số ca khúc rực lửa đấu tranh cũng như thực hiện được một cuốn CD đầu tay. Nhật Tùng cho biết ca khúc Trả Lại Ta Tên Sàigòn, là anh viết cho phong trào Đòi Lại Tên Sàigòn đã được giới thiệu đến quý quan khách tại Bắc Cali hôm nay.

Đặc biệt là các tiếng hát nữ như ca sĩ Cẩm Hà, người vừa rời quê hương sang định cư ở Hoa Kỳ mới được ba tháng với giọng hát mạnh và khá chững chạc qua nhiều năm tháng kinh nghiệm hát cho các tụ điểm văn nghệ Sàigòn. Riêng tiếng hát Đồng Thảo là một tiếng hát quen thuộc và thân mến ở vùng Thung Lũng Hoa Vàng hôm đó thật xuất sắc khi trình bày các nhạc phẩm Năm 54 – 75
của nhạc sĩ Phạm Duy, nói lên tâm trạng của hầu hết những người chung quanh. Những tâm trạng thật não nề và đau thương như những lời đã được ngườii nhạc sĩ viết ra:

“Một ngày năm bốn, cha bỏ quê xa,
chốn đã chôn nhau, cắt rốn bao nhiêu đời.
Một ngày năm bốn, cha bỏ phương trời,
một miền Bắc tối tăm mưa phùn rơi..
Một ngày năm bốn,
cha phải chia lìa cùng mảnh đất,
nóc giạ cha làm ra,
Hà Nội yêu quý không thể ngăn người,
vì người đã ra đi theo Tự Do.”.

Ôi, thật xót xa, niềm đau thương của dân tộc Việt Nam khi:
“Một ngày năm bốn, cha lìa quê hương, lánh Bắc vô Nam, cha muốn xa bạo cường. Một ngày bảy lăm, đứng ở cuối đường, loài quỷ dữ xua con ra đại dương!”

Ca sĩ Đồng Thảo tâm sự: “Đó cũng là hoàn cảnh của em, vì năm 1954, bố mẹ em phải rời bỏ làng quê miền Bắc để di cư vào Nam lánh nạn Cộng sản. Rồi đến 1975, đến lượt em phải rời xa quê hương bằng cách vượt biển để tìm Tự Do nơi xứ người. Em đã diễn tả bằng hết tâm hồn của em theo tiếng nhạc lời ca đó như:

“Một ngày bảy lăm, con bỏ nước ra đi,
hai mươi năm là hai lần ta biệt xứ.
Giờ cha lưu đầy ngay trên đất ta
và giờ con lưu đày ở đây trên xứ la.
Giờ nơi nước mình niềm đau thay nỗi vui,
Sàigòn đã chết rồi, phải mang tên xác người.
Đời của cha con, hai lần vẫy chào,
chào từ giã quê hương trong khổ đau.
Đời hai lần ta bỏ quê bỏ nươc.
Phải nuôi ngày sau về ôm Tổ Quốc!”

Được biết Đồng Thảo đã vượt biên tìm Tự Do vào năm 1989, sở thích hồi nhỏ là đam mê ca hát. Cô cho biết, hát trước hết là niềm vui thích của mình. Và khi hát cho mọi người nghe, được mọi người cảm nhận những gói ghém trong nội dung nhạc phẩm qua tiếng hát có thể chuyên chở được của mình thì thực sự là một hạnh phúc lớn.

Từ ngày tới Mỹ, Đồng Thảo theo học ngành Dental Assistan và hiện nay đang làm phụ tá cho một văn phòng Nha Khoa. Một công việc không dính dáng gì đến văn nghệ hoặc ca hát nhưng cô vẫn cố gắng sắp xếp thời giờ để trau luyện tiếng hát của mình mỗi ngày một thêm điêu luyện mượt mà. Người thưởng lãm thích nghe cô hát về nhạc Trịnh Công Sơn nhưng người ta cũng rất thú vị khi nghe cô hát những khúc tình ca khác và đặc biệt là những nhạc phẩm mang giai điệu và tình tự quê hương.

Tiếp nối, tà áo dài tím thướt tha của Thu Nga bay theo tiếng hát ngọt ngào của cô trong ca khúc: “Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu”, gợi nhớ cho mọi người những kỷ niệm sáng tươi của thời nữ sinh hoa mộng ngọc ngà. Tiếng hát của Thu Nga càng trầm buồn da diết hơn khi cô trình bày nhạc phẩm Một Lần Đi của ca nhạc sĩ Nguyệt Ánh:

“Sàigòn ơi, ta có ngờ đâu rằng,
một lần đi là một lần vĩnh biệt,
một lần đi là mòn lối quay về,
một lần đi là mãi mãi thương đau,
một lần đi là nghìn trùng cách biệt.
Người tình ơi, ta có ngờ đâu rằng,
một lần đi là vĩnh viễn xa nhau...”

Khi tôi khen hôm nay cô diễn đạt thật tuyệt vời ca khúc đó bằng tiếng hát truyền cảm thấm thía thì cô bùi ngùi tâm sự:

“ Khi em lên tầu vượt biên theo các anh chị trong gia đình, em còn khá nhỏ. Giã từ Ba Mẹ, em không ngờ đó lần chai tay mãi mãi, vì ra đi không lâu thì được tin Mẹ mất nên chẳng bao giờ em còn có dịp đượcgặp lại Me nữa. Đó là nỗi đau thương mà em đã đặt hết tâm trạng của mình trong nhạc phẩm đó như:

“Sàigòn ơi, ta có ngờ đâu rằng
Mẹ hiền xưa giờ về cùng đất lạnh.
Sàigòn ơi, ta có ngờ đâu rằng
một ngày qua là một ngày ly biệt,
một ngày qua là muôn kiếp chia phôi,
là một lần vĩnh biệt...
Lệ khóc cho mẹ già.
Lệ khóc cho người còn ở lại quê hương...”.

Thu Nga vượt biển năm 1980, sau khi ở trại tỵ nạn hai năm cô mới được đặt chân tới Hoa Kỳ. Nơi cư ngụ đầu tiên của cô là thành phố Wichita – Kansas. Theo học ngành Accounting và Điện toán, sau khi ra trường, đi làm một thời gian thì mở tiệm Thẩm Mỹ và cũng có ca hát giúp cho các buổi gây quỹ của Chùa hoặc cộng đồng Người Việt ở địa phương. Vào giữa năm 2003, cô cùng chồng là nhạc sĩ Lê Minh Hiền đã đến San Jose lập nghiệp. Đất lành chim đậu, nên hiện nay cô đã có một đời sống ấm êm hạnh phúc cùng chồng con và điều hành một Thẩm Mỹ Viện rất đông khách tại San Jose. Tuy bận rộn với công việc nhưng ca hát vẫn là niềm đam mê yêu thích của Thu Nga, nhất là sau khi cô đoạt giải Nhì của cuộc thi Tuyển Lựa Ca Sĩ do Trung tâm Kim Lợi tổ chức năm 2004. Từ đó, cô thường xuất hiện vàrất nhiệt tình góp mặt trong các buổi sinh hoạt của Cộng Đồng Người Việt nơi đây.

Cuối cùng, Ngọc Thủy xin phép được giới thiệu đến quý độc giả của tuần báo Việt Tribune và quý thân hữu tham dự trong buổi văn nghệ Đêm Sàigòn vừa qua là một tiếng hát khá đặc biệt của ca sĩ Hồng Hạnh. Cô từng cư ngụ tại San Jose trong nhiều năm, nhưng vì hoàn cảnh công việc nên cô đã dời xuống miền biển ấm San Diego cách đây hai năm. Thương mến Thung Lũng Hoa Vàng nên tuy xa xôi, Hồng Hạnh vẫn thường trở lại thăm chốn cũ và bạn bè, nhất là vẫn mong muốn tiếp tục đóng góp tiếng hát của mình vào các sinh hoạt đoàn thể ở Bắc Cali.

Nữ ca sĩ Hồng Hạnh được biết đến nhiều với những ca khúc trữ tình tươi sáng như: Xuân Và Tuổi Trẻ (La Hối), Tuổi Mười Ba (Ngô Thụy Miên) v.v.... Cô cũng thành công với những ca khúc của nhạc sĩ Hà Thúc Sinh. Được sự yêu mến của khán thính giả và đặc biệt là sự hỗ trợ rất nhiệt tình và đậm đà của phu quân, Hồng Hạnh thực hiện được hai cuốn CD đã được phát hành đến tay quý vị yêu âm nhạc với tiếng hát lả lướt bay cao của Hồng Hạnh.

Đêm Sàigòn được diễn ra trong một không khí rất thân mật, vui vẻ. Mọi người đều hài lòng với những ca khúc chọn lọc và các tiếng hát ngày hôm đó. Ngọc Thủy xin được kết thúc bài viết này với những lời nhạc thiết tha của nhạc sĩ Nam Lộc viết hộ cho tất cả mọi người chúng ta:

“Sàigòn ơi,
tôi xin hứa rằng tôi trở về.
Người tình ơi,
tôi xin giữ trọn lời thề,
dù thời gian có là một thoáng đam mê,
phố phường vạn ánh sao đêm,
nhưng tôi vẫn không bao giờ quên”.


ngọc thủy

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Ai là cha đẻ của chương trình Dạ Lan nổi tiếng một thời của đài Phát Thanh Quân Ðội?




* Câu trả lời: - Ðại Tá Trần Ngọc Huyến

Ít nhất đã có hai vị đại tá nhảy ra tự nhận là chính mình khai sinh ra chương trình này.

Ðại Tá Trần Ngọc Huyến và những chương trình cải tổ đường lối tâm lý chiến của Quân Ðội VNCH từ sau Tháng11-1963.

HUY PHƯƠNG


LTG.- Tuần qua tôi có nhận được e-mail của anh Dương Ngọc Hoán, từ Virgiania, cựu đại úy, phục vụ tại đài Phát Thanh Quân Ðội từ năm 1965. Nội dung bức thư như sau:

“Anh Huy Phương ơi.

Tôi vừa xem xong chương trình “Paris By Night 88”, đặc biệt về nhạc sĩ Lam Phương, và buồn về chuyện “đất nước nhiễu nhương”, có người nhảy ra vỗ ngực tự xưng là đã làm ra chương trình Dạ Lan trên đài Quân Ðội, rồi bịa đặt ra đã dùng nhạc Lam Phương trong chương trình này như thế nào cho công tác “địch vận” (trong khi ai cũng biết Dạ Lan là một chương trình “binh vận”).

Qua đây, ai muốn nói trước đây mình làm gì cũng được, chẳng nể nang gì ai, chẳng sợ có người phán xét lời nói của mình. Phải chi những người xem chương trình này đều được đọc bài viết của anh về chương trình Dạ Lan để biết thật giả ra sao?

Vài hàng thăm anh chị,

Thân mến, Hoán.”

Vì cho cả người sống (anh chị em phục vụ trong đài Quân Ðội như Nguyễn Văn Thúy, Anh Ngọc, Ðan Thọ, Dương Ngọc Hoán...) và người chết (Ðại Tá Trần Ngọc Huyến, Trung Tá Lê Ðình Thạch), bài báo này buộc phải đăng lại. (Huy Phương)

--------------------------------------------



(12-2004). Trong tuần qua, một bản tin nhỏ từ Houston Texas cho biết cựu Ðại Tá Trần Ngọc Huyến, nguyên chỉ huy trưởng trường Võ Bị Quốc Gia vừa qua đời. Người viết bài này không tốt nghiệp từ trường Võ Bị, nhưng cái tên Trần Ngọc Huyến nhắc nhở lại một đoạn đời phục vụ tại Nha Chiến Tranh Tâm Lý (1) của mình, mà ngày ấy ông là giám đốc. Người ta biết nhiều tới chức vụ chỉ huy trưởng trường Võ Bị của ông hơn là chức vụ giám đốc Nha Chiến Tranh Tâm Lý, nhưng chính ông là người đã thay đổi hoàn toàn đường lối chiến tranh tâm lý của Quân Ðội một cách bạo dạn và khôn ngoan, đưa đến những kết quả tốt đẹp. Phải nói ông là người có nhiều sáng kiến và dám làm, đối với các cộng sự, ông không câu nệ tới cấp bậc mà nhìn vào khả năng làm việc của từng người. Ðại Tá Trần Ngọc Huyến là một người đã có bằng cử nhân văn chương trước khi vào lính. Trước năm 1960, ông là chỉ huy phó kiêm phó văn hóa vụ tại trường Võ Bị Quốc Gia, sau cuộc đảo chính năm 1960 ông giữ chức vụ CHT, và thăng đại tá sau Tháng Mười Một 1963 nhờ công trận của ông trong lúc ông là quân trấn trưởng Ðà Lạt. Tuy nhiên, người ta nói ông có liên hệ nhiều với cố Tổng Thống Ngô Ðình Diệm nên sau đó từ cao nguyên Ðà Lạt, ông lại được mời đi làm lãnh sự tại Hồng Kông. Cũng không biết với lý do nào, sau đó Ðại Tá Trần Ngọc Huyến lại được triệu về giao cho chức vụ thứ trưởng Bộ Thông Tin kiêm giám đốc Nha Chiến Tranh Tâm Lý.


* Khai sinh ra chương trình Dạ Lan:


Sau khi tốt nghiệp khóa 16 SQTB Thủ Ðức (7-1964), tôi trình diện Nha Chiến Tranh Tâm Lý, thì ông là giám đốc Nha, nghe nói ông đã rời Bộ Thông Tin vì bất đồng quan điểm với bộ trưởng Bộ này về vụ Bộ tiếp đón phái đoàn của Bộ Quốc Phòng Mỹ. Là một sĩ quan mới ra trường tôi phấn khởi thấy được làm việc với một cấp chỉ huy trẻ trung, năng động và có nhiều sáng kiến như ông. Chính ông người khai sinh ra chương trình phát thanh “Dạ Lan” của đài Phát Thanh Quân Ðội (2) lúc bấy giờ, chứ không phải là những người kế nhiệm ông như nhiều người vẫn lầm tưởng. Ðại Tá Trần Ngọc Huyến đã có sáng kiến thay đổi các lối mòn tuyên truyền của thời cũ, nhất là sau biến cố 1963, cần ổn định lại tinh thần của các binh sĩ ngoài mặt trận. Ngoài chương trình Dạ Lan, phỏng theo một chương trình địch vận của Ðài Loan hướng về Trung Quốc lục địa vào thập niên 50, Ðại Tá Trần Ngọc Huyến đã có sáng kiến mở những chương trình:

- Chương trình Gia Binh với xướng ngôn viên Ngọc Dung dành cho gia đình binh sĩ.

- Chương trình Ðồng Minh Vận (do XNV Mai Lan và Dương Ngọc Hoán phụ trách (3) phát thanh bằng Anh ngữ) dành cho các quân nhân đồng minh đang chiến đấu bên cạnh QLVNCH. Trong Ðệ II Thế Chiến Nhật Bản cũng có chương trình “Rose of Tokyo” phát thanh bằng Anh ngữ, nhưng nhắm vào quân đội Mỹ ở Thái Bình Dương, lúc bấy giờ là kẻ thù của Nhật.


Ðại Tá Trần Ngọc Huyến, ngoài các buổi họp tham mưu ở Nha, đã mời một số anh em phụ trách các tiết mục trong chương trình Dạ Lan dùng những bữa cơm “tham mưu” để tạo sự thông cảm và nói chuyện thân mật về việc mở ra chương trình này. Phó giám đốc Nha bấy giờ là Trung Tá Cao Ðăng Tường, chánh sự vụ Sở Kỹ Thuật là Thiếu Tá Lê Ðình Thạch. Trong quân đội, cùng cơ quan, phải nói ít khi có một buổi ăn mà đại tá ngồi chung với thượng sĩ (trong nhóm “ tham mưu” Dạ Lan, thượng sĩ nhà văn Lưu Nghi là người có cấp bậc nhỏ nhất) để bàn công chuyện như thời Trần Ngọc Huyến. Ông là người có tinh thần “cách mạng” và rất gần gũi với những người cộng sự.


Tôi được điều từ phòng báo chí về để viết “chapeau” (lời dẫn cho mỗi bản nhạc) do hai nhạc sĩ Ngọc Bích và Ðan Thọ soạn vào thời gian phôi thai của chương trình Dạ Lan.


* Dạ Lan, cô là ai?


Không ai có thể ngờ rằng xướng ngôn viên mang tên Dạ Lan nói giọng Bắc lại là một người con gái Quảng Nam có một thời gian sinh sống tại Huế, tên Nguyễn Xuân Lan. Cô này trước làm việc tại đài Phát Thanh Quân Ðội Ðồng Hà, một chương trình phát thanh về bên kia vĩ tuyến, thiết lập tại Ðông Hà tại tỉnh địa đầu Quảng Trị. Ðài này do Nhất Tuấn làm quản đốc và Hà Huyền Chi làm phó. Cô Xuân Lan không đẹp nhưng cô phát âm tiếng Bắc rất đúng giọng (nhờ HHC huấn luyện trong thời gian ở Ðồng Hà) và lẽ cố nhiên rất ngọt ngào. Ðêm đêm trên làn sóng điện của đài Phát Thanh Quân Ðội, giọng nói của người em gái hậu phương có mãnh lực thu hút cảm tình của các binh sĩ trú đóng khắp trên bốn vùng chiến thuật. Danh từ “em gái hậu phương” và “anh trai tiền tuyến” là một danh từ khá quen thuộc phát sinh trong thời gian này được nghe và dùng nhiều trong các bài thơ hay nhạc phẩm thịnh hành.


* Chương trình Dạ Lan:


Chương trình được phát thanh hằng đêm từ 7 giờ đến 9 giờ , gồm các phần câu chuyện hằng, tin tức, thời sự , điểm báo và phần văn nghệ. Ðặc biệt nhất là phần trao đổi thư tín giữa Dạ Lan và các quân nhân, phần lớn là các quân nhân ở các tỉnh xa thủ đô, nhất là thành phần trú đóng ở các tiền đồn. Trong giai đoạn mới thành lập, chương trình Dạ Lan, phần câu chuyện hằng ngày do Lưu Nghi (4) phụ trách, tin tức do Mai Trung Tĩnh, điểm báo do Nguyễn Triệu Nam (5), phần nhạc do nhạc sĩ Ðan Thọ, Ngọc Bích (6) chọn và lời dẫn nhạc (chapeau) do Huy Phương viết (7). Phần tin tức do ban tin tức của Ðài phụ trách và thư tín do cô Ngọc Xuân và một số cô đặc trách việc chọn lựa thư tín để sau đó Dạ Lan trả lời trên làn sóng phát thanh.

Chương trình Dạ Lan rất được anh em quân nhân hoan nghênh, nhất là các quân nhân xa nhà, trú đóng ở các tiền đồn hẻo lánh. Vào hai năm 1964-1965, đài Phát Thanh Quân Ðội phải tuyển thêm một số nữ nhân viên để phụ trách vấn đề trả lời thư của các “anh tiền tuyến” hằng đêm. Một số carte-postale chụp cô Xuân Lan đã nói trên cũng được Nha Chiến Tranh Tâm Lý ấn hành để gởi tặng đến các chiến sĩ tiền đồn. Tuy vậy nhân vật “em gái hậu phương Dạ Lan” chưa bao giờ xuất hiện trên truyền hình, báo chí hay ngoài đời mà chỉ duy nhất qua làn sóng điện, vì ngoài đời nhan sắc cô chỉ thuộc loại trung bình. Cô cũng nhận được không ít thư từ tỏ tình với cô của các “anh tiền tuyến”. Nhiều anh tiền tuyến đi phép về Saigon có tìm đến đài phát thanh Quân Ðội nhưng không bao giờ gặp được Dạ Lan bằng xương bằng thịt.

Chương trình Dạ Lan kéo dài tới ngày tàn cuộc chiến, nhưng chỉ sôi nổi vào những năm đầu khi còn Ðại Tá Trần Ngọc Huyến, một phần là nhờ sự lưu tâm đặc biệt của ông, phần khác, chương trình nào qua thời gian cũng trở nên nhàm chán, thư từ trở nên thưa thớt và chương trình còn lại chỉ là cái vỏ bọc để chuyên chở tin tức, bình luận thời sự cho đài Phát Thanh Quân Ðội. Thậm chí vào khoảng năm 1966 khi cô Xuân Lan rời Ðài Phát Thanh Quân Ðội, tiếng nói Dạ Lan được thay bằng cô Mỹ Linh, gốc người Bắc vẫn thường phụ trách các chương trình nhạc ngoại quốc buổi trưa, mà ở ngoài Ðài Quân Ðội không ai hay biết.

Chương trình Dạ Lan bắt đầu có từ thời quản đốc Ðài Quân đội là Thiếu Tá Nguyễn Văn Văn Thúy, tức nhà văn Kỳ Văn Nguyên. Ông ở binh chủng truyền tin, nhưng sau khi tác phẩm “Tìm Về Sinh Lộ” (viết về cuộc di cư 1954) của ông ra đời, ông được cấp lãnh dạo VNCH chú ý và mời về làm quản đốc đài. Tiếp đó là Thiếu Tá Phạm Hậu, tức nhà thơ Nhất Tuấn. Giai đoạn sau Thiếu Tá Phạm Hậu là Thiếu Tá Hà Sĩ Phong. Cuối cùng từ năm 1969 cho đến khi tan hàng, quản đốc đài là Trung Tá Nguyễn Quang Tuyến tức là nhà văn Văn Quang. Ðài Phát Thanh Quân Ðội ngày ấy liên tiếp qui tụ nhiều văn nghệ sĩ tên tuổi như Văn Thiệt, Dương Ngọc Hoán, Anh Ngọc, Nhật Bằng, Xuân Tiên, Xuân Lôi, Canh Thân, Nguyễn Ðức, Văn Ðô, Trần Thiện Thanh, Nguyễn Triệu Nam, Lưu Nghi, Nguyễn Ngọc Quan, Trần Trịnh, Ðào Duy, Mai Trung Tĩnh, Nguyễn Quốc Hùng (thầy khóa Tư), Dương Phục, Châu Trị, Lâm Tường Dũ, Nguyễn Xuân Thiệp...


* Những thay đổi trong ngành báo chí Quân Ðội:


Ðối với báo chí quân đội (8 ), Ðại Tá Trần Ngọc Huyến cũng có những cải tổ rất táo bạo. Ông chủ trương hình thức cũng như nội dung của những tờ báo này phải hấp dẫn, tươi mát vì cuộc sống lính tráng đã quá gian khổ, khô cằn. Hình thức phải đẹp, có ảnh các kiều nữ, và nếu có hở hang đôi chút cũng không sao. Báo phải có hí họa, chuyện vui cười và nếu có dung tục một chút cũng OK. Tờ “Thông Tin Chiến Sĩ” dành cho binh sĩ do Huy Vân (8 ) phụ trách và tờ “Văn Nghệ Chiến Sĩ” do Thanh Nam (9) và kế là Thiếu Úy Nguyễn Văn Thảo làm TTK Tòa Soạn. Thiếu Úy Hiếu Ðệ, họa sĩ là tác giả nhiều ảnh hý họa trên hai tờ báo này. Nhiều lúc Ðại Tá Huyến còn gợi ý cho Huy Vân viết truyện cười và cho Hiếu Ðệ vẽ tranh vui, và chính ông đã đổi tên hai tờ báo này thành “Chiến Sĩ Cộng Hòa” và “Tiền Phong”, tăng số lượng in lên gấp đôi, hai tờ báo này tồn tại cho đến ngày tàn cuộc. Những người đã lần lượt phụ trách thư ký tòa soạn cho hai tờ báo này là Tường Linh, Ðặng Trần Huân, Trần Xuân Thành, Du Tử Lê, Hà Huyền Chi và chúng tôi là Huy Phương.

Về sau này nhiều sĩ quan tên tuổi được lần lượt tăng cường cho báo chí quân đội như các họa sĩ Nguyễn Uyên, Mai Chửng, Trần Nhật Thiệu, các nhà văn Nguyễn Ðạt Thịnh, Phạm Huấn, Hà Huyền Chi, Ðặng Trần Huân, Trần Xuân Thành, Du Tử Lê, Nguyễn Thiệp, Tô Mặc Giang, Nguyễn Chí Khả, Ðặng Triên...


* Sinh bất phùng thời:


Về nhân dáng, Ðại Tá Trần Ngọc Huyến là người có bề ngoài rất dễ gây thiện cảm, ông có nước da trắng, môi hồng, rất đẹp trai, có tài hùng biện dễ thu phục người khác và làm cho thuộc cấp cũng như bạn bè quí mến ông. Ông cũng là một sĩ quan có văn hóa, lương thiện, có óc cầu tiến, nhưng chắc chắn ở con người ông không tránh khỏi đôi chút kiêu hãnh nhất là đối với những tướng tá kém cỏi nhưng đầy quyền lực trong thời đại của ông. Tác phong và kiến thức của ông trong quân đội đáng lẽ còn đưa ông tới những cấp bậc chỉ huy và tham mưu cao hơn, nhưng ông là người bất phùng thời, bị trù dập, chỉ mang tới cấp bậc đại tá là cùng.

Dư luận cho rằng ông không lên cấp tướng được là vì ông là sĩ quan trừ bị và không chịu vào hiện dịch. Nhưng khi thấy một sĩ quan cấp đại tá bị đày ra chiến trường với cái chức vụ kỳ quái được Bộ Tổng Tham Mưu phong cho là “quan sát viên chiến trường” phải xuống tới cấp tiểu đoàn bộ binh, thì người ta phải hiểu rằng ông đã bị chèn ép như thế nào. Ông giải ngũ khoảng năm 1966 và những năm cuối cùng trước khi ra ngoại quốc, ông là giám đốc hãng xăng Esso ở Saigon.

Sang Hoa Kỳ vào năm 1975, ông sống ở Houston Texas với một đời sống tương đối lặng lẽ suốt từ ngày ấy tới nay. Hai tuần trước, vào ngày 15 Tháng Mười Một, 2004, ông qua đời tại đây vì bệnh tim, hưởng thọ 80 tuổi. Ở khắp nơi, các “cùi” Võ Bị Ðà Lạt, môn sinh của ông đã làm lễ tưởng niệm để thương tiếc, nhớ tới một vị thầy khả kính của họ, riêng tôi, một thời là sĩ quan trừ bị cấp nhỏ, được làm việc với ông trong ngành chiến tranh tâm lý quân dội, không khỏi bùi ngùi nhớ tới ông. Một người sĩ quan như Ðại Tá Trần Ngọc Huyến không phải là người dễ kiếm trong hàng ngũ của chúng ta.


12/2004

Huy Phương

* Nói cho rõ thêm (7-2007): Những bản tân nhạc phát trong chương trình Dạ Lan.

Vào thời ấy (1964-1965), các nhà xuất bản đã trả cho các nhạc sĩ số tiền bản quyền khá cao, vì ngoài các dĩa nhạc, họ còn cho in những bản lời ca rất phổ biến, có khi lên đến hàng chục nghìn ấn bản cho quần chúng bình dân. Muốn bản nhạc được phổ biến bán chạy thì bản nhạc ấy phải được phát sóng trên hai đài Phát thanh duy nhất là đài Saigon và Quân Ðội. Tôi nhớ vào thời ấy, các ông chủ nhà xuất bản đều vào ra liên tục đài quân đội, và ông Thượng Sĩ Chiêu thuộc văn phòng đài này có một cuốn sổ để ghi tên những bản nhạc đã chạy trong tuần, bất kể Dạ Lan nhạc yêu cầu, để hàng tháng lãnh tiền của nhà xuất bản, số tiền thu này đi đâu thì tôi không rõ, nhưng chắc chắn là những người như Ðại Tá Trần Ngọc Huyến không biết gì về chuyện này.

Sở dĩ tôi nêu chuyện này lên là để nói với cựu Ðại Tá Nguyễn Văn Nam (thời 1964 ông là thiếu tá, trưởng khối Tình Báo Tâm Lý Chiến (địch vận) không liên hệ gì với chương trình Dạ Lan là “binh vận” đúng như anh Dương Ngọc Hoán đã nói) là việc phát nhạc trên đài nếu có là do các ông chủ nhà xuất bản, băng dĩa lo liệu, không cần ai ở Nha Chiến Tranh Tâm Lý hay Cục Tâm Lý Chiến phải đi năn nỉ nhạc sĩ Lam Phương bằng lòng cho chương trình Dạ Lan chạy nhạc như thế. Ðề cao ông Lam Phương như thế là quá đáng và hoàn toàn sai sự thật.


Chú thích:

(1) Về sau ngành Chiến Tranh Chính Trị của VNCH mô phỏng theo tổ chức Lục Ðại Chiến của Trung Hoa Dân Quốc, Nha Chiến Tranh Tâm Lý trở thành Cục Tâm Lý Chiến và Tổng Cục CTCT được thành lập ra để chỉ huy các Cục này (như Xã Hội, Chính Huấn, ANQÐ...)

(2) Giám đốc đài Phát Thanh Quân Ðội lúc bây giờ là Ðại Úy Phạm Văn Thúy, bút hiệu Kỳ Văn Nguyên, ngành truyền tin, tác giả cuốn “Tìm Về Sinh Lộ” đã được giải thưởng Văn Học thời TT Ngô Ðình Diệm. Ông rời đài Quân Ðội năm 1969.

(3) Chương trình Ðồng Minh Vận lúc đầu do một nữ nhân viên làm việc tại Tòa Ðại Sứ Anh làm xướng ngôn viên. Về sau, cô Mai Lan, một sinh viên con của một sĩ quan đã làm tùy viên Quân Sự tại Thái Lan về nước được tuyển chọn thay thế. Cô Mai Lan, rất xinh đẹp, trong thời gian ở Bangkok đã theo học trường Sinh Ngữ Quốc Tế, có giọng nói rất chuẩn.

(4) Thượng Sĩ Lưu Nghi, người Quảng Nam, ông chủ trương một nhà xuất bản sách nhi đồng ở Saigon, giải ngũ năm 1966. Sau 1975 người ta mới phát giác ra ông là cán bộ nằm vùng hoạt động cho CS ở Saigon, cũng như trường hợp thi sĩ Tường Linh ở Phòng Báo Chí.

(5) Nguyễn Triệu Nam là con trai của nhà văn Nguyễn Triệu Luật, khóa 13 SQTB, giải ngũ năm 1966.

(6) Ðan Thọ, Ngọc Bích đều là hạ sĩ quan đồng hóa trước di cư.

(7) từ Báo Chí biệt phái cho chương trình phát thanh.

(8 ) Trưởng Phòng Báo Chí năm 1964 là Ðại Úy Văn Quang, tên thật là Nguyễn Quang Tuyến, sau năm 1970, Văn Quang về phụ trách Ðài Phát Thanh Quân Ðội.

(9) Huy Vân tên thật là Nguyễn Trung Hòa, bào huynh của nhà văn Nguyễn Trung Hối (Oregon) và là thân phụ của nhạc sĩ Trung Hành. Cấp bậc cuối cùng là thiếu úy, tổng thư ký tòa soạn NB Tiền Tuyến. Ông mất trong trại cải tạo ở Bắc Việt khoảng năm 1980.

(10) Nhà văn Thanh Nam là nhân viên đồng hóa, giải ngũ vào cuối năm 1964.

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

[B[b]]Chương trình Dạ Lan trên Đài Quân dội .

Tôi đã xem chương trình ca nhạc Thuý Nga Paris 88 với chủ đề "Đường về Quê Hương " giới thiệu nhạc của nhạc sĩ Lam Phương , coi như đây là cuốn thứ 3 nói về nhạc sĩ Lam Phương .

Đặc biệt trong cuốn DVD ca nhạc này , Trung tâm Thuý Nga đã bắt chước Trung Tâm Asia mời 3 vị khách đặc biệt nói về nhạc sĩ Lam Phương .

Người khách đầu tiên ;Thi sĩ Nhất Tuấn tức Trung tá Phạm Hậu ,người đã từng Quản đốc Đài Quân Đội ,một thời gian ngắn .
Người khách thứ Hai , ông Trần đình Trường chủ con Tàu Trường Xuân đã đưa hàng ngàn người Vượt biên ngày 29 tháng 4 ,trên tàu có nhạc sĩ lam Phương .
Người khách thứ ba , Đại tá Nguyễn văn Nam , trước đây là Trưởng khối Tình báo Nha Chiến tranh T6am lý sau này là Cục Tâm Lý Chiến trực thuộc Tổng Cục Chiến tranh chính trị
.[/B]
+++ Thi sĩ Nhất Tuấn , khi xuất hiện đã nói : Nhạc của nhạc sĩ Lam Phương đã được làm nhạc hiệu của Đài Quân Đội . Là Hoàn Toàn sai . Bản nhạc "Ngày Hạnh Phúc " của nhạc sĩ Lam Phương chỉ là nhạc Hiệu mở đầu cho chương trình Gia Binh - (chương trình dành cho Vợ Lính ) phát thanh hàng ngày lúc 6 giờ 30 . Chương trình Gia Binh này do cô xướng ngôn viên Ngọc Dung phụ trách . Nhạc của Lam Phương cũng được hát bình thường như nhạc sĩ khác . Thành ra Thi sĩ Nhất Tuấn hơi quá ca tụng nhạc sĩ lam Phương .[/B]

Người khách thứ ba . Đại tá Nguyễn văn Nam . MC Nguyễn ngọc Ngạn giới thiệu cựu Đại tá Nguyễn văn Nam là người Sáng lập ra Chương trình Dạ Lan tiếng hát Hậu Phương Là HOÀN TOÀN SAI ++ Người Sáng lập ra Chương trình Dạ Lan là cố Đại tá Trần ngọc Huyến (hồi đó 1960 làm giám đốc Nha Chiến tranh Tâm lý ) .
Chính cố đại tá Trần ngọc Huyến đã sáng lập ra chương trình Binh vận Dạ Lan và người thực hiện toàn bộ chương trình là Đại úy Nguyễn văn Thuý ( Nhà văn Kỳ văn Nguyên ) Quản đốc Đài Quân đội từ 1960 dến 1969 . Hiện giờ cựu Trung tá Nguyễn văn Thuý đang định cư ở Santa .
Anna .


Thành phần chọn bài vở , tin tức và ca nhạc cho Chương trình Dạ Lan do Nam ca si Anh Ngọc , nhà văn Nguyễn trệu Nam , cố đại úy Nguyễn thiệu Hùng (nhà thơ Mai trung Tĩnh ) Lưu Nghi và một số người khác .

Khi thực hiện chương trình Dạ Lan , đại uý Nguyễn văn Thuý Quản đốc dài đã tổ chức một cuộc tuyển chọn xướng ngôn viên làm em gái Dạ Lan . Và cô Nguyễn xuân Lan từ Quảng Trị đã vào sàigon dự cuộc thi tuyển cùng với một số người khác , trong đó có nữ ca sĩ Tâm Đan , Mỹ Linh v.v...

Sau khi được trúng tuyển Cô Xuân Lan tức Dạ Lan đã phải luyện tẵp ,một thời gian để trở thành đúng vai trò của người em gái hậu phương cho chương trình Dạ Lan .

Đúng như anh Dương ngọc Hoán đã viết thư cho Huy Phương nói rất buồn khi đã có 2 người tự mạo nhận là người sáng lập ra chương trình Dạ Lan .

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Những Giọt Nước Mắt Rơi
Những Tấm Lòng Nặng TrỉuCuộc Chiến Chưa Tàn

3 giờ sáng 19 tháng 7 ở Saigon, đêm dài kinh hoàng của những dân oan kéo dài suốt 5 tiếng. Người cuối cùng đã bị bứng khỏi văn phòng 2 quốc hội Saigon.

Công An CSVN đã tấn công vài phút sau con số chỉ 10 giờ. Xe cứu hỏa bắt đầu chỉa vòi rồng xịt thẳng vào hàng trăm tấm bạt che nắng mưa của những người dân bất hạnh. Hàng trăm công an cầm roi điện, dùi cui xông vô, bình chữa lửa phun vào mặt dân chúng. Đấm đá, thoi đạp không nương tay vào những người dân liều mạng chống cự lại.

Tiếng kêu cứu từ 2 cái loa cầm tay vang dội qua đường giây điện thoại viễn liên. Tiếng hỏi dồn dập qua phone: - Tụi em làm sau đây các anh ơi... Chúng dã man quá.
Image Tôi rưng nước mắt không dám trả lời. Xúi dân chống cự đến tận cùng (?). Kêu dân buông tay chịu thua (?). Tôi đã khóc.

Từ ban chiều khi công an bắt đầu cô lập các con đường thì điện thoại từ Việt Nam gọi qua. Mới hơn 4 giờ sáng ở California. Tôi yêu cầu tất cả các anh em "trong nhà" rút ra khỏi chổ văn phòng 2 quốc hội Saigon. Vài anh em không chịu bỏ cuộc, bỏ đồng bào.

Tôi chỉ nói những câu ngắn gọn: Anh em đã làm đủ bổn phận cứu giúp đồng bào hơn 20 ngày qua, đã hòa mình cùng ăn cùng sống để tiếp trợ đồng bào. Anh em đã gian khổ suốt nhiều chục năm trường. Anh em đã làm tròn bổn phận. Hãy để đồng bào hải ngoại tiếp tục đối phó. Nên rút lui bảo toàn lực lượng về sau. Cuộc chiến sẽ còn tiếp diễn...

Tôi tiếp tục nhận tin mổi 30 phút... Không biết viết gì đây. Chữ nghĩa không đủ để diễn tả niềm đau cảm nhận được qua tiềm thức.

Tường thuật gì đây (?) viết cái gì đây (?) khi bên kia bờ đại dương gần một ngàn đồng bào tôi bị chục ngàn tên công an mọi rợ đánh đập tàn nhẩn. 4 người xốc nách 1 người kéo lê quăng lên xe như những con vật. Tôi nghe, tôi cảm nhận như chính mình đang bị hành hạ.

25 ngày đêm nổi dậy ở Saigon là một giai đoạn lịch sữ. Tảng băng ngầm sẽ không tan.

Thầy Quảng Độ và quý thượng tọa Phật Giáo đã góp bàn tay chứng nhân.

Linh mục Chân Tín đã xã thân cho đồng bào.

Đó là những điều tôi thấy và biết được trước mắt.

Rất nhiều anh em hải ngoại đã về nước tiếp tay đồng đội đem từng viên thuốc, ổ bánh mì, gói cơm hộp đến cho người dân đang đói khát bịnh hoạn. Việc làm của quý anh đồng bào trong nước biết... Các anh, những người vô danh dũng cãm. Xin cho tôi gửi lời cám ơn.
Image 25 ngày đêm chỉ mới là chặng dò đường cho chuyến ra khơi. Nó không ngưng lại giữa chừng.

Tôi chờ lửa lại lên. Đồng bào hải ngoại không bỏ rơi người dân quốc nội. Nguyễn Tấn Dũng sẽ "trả nợ" này khi qua Mỹ vào tháng 9.

Đêm nay có lẽ sẽ không còn điện thoại nữa đêm gọi ra từ Việt Nam. Tôi sẽ ngủ yên trong đầm đìa nước mắt...

Tôi biết một điều, cuộc chiến chưa dừng ở đó. Nó sẽ tiếp tục.

Post Reply