Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Liên Trường Hè Bắc California

Phạm Thanh Nga
Hàng ngàn cánh chim của các trường trung học ở VN trước đây đã bay về tụ họp thật đông, thật vui trong công viên Conningham, San Jose trưa chủ nhật 12/08/07 .
Image

Tôi bước vội vào trong vùng ký ức
Mong tìm ra những hình bóng thân thương
Đâu những người xưa cùng với mái trường
Đã in mãi trong tôi ngày mới lớn

Hai dãy lầu cao vươn trong nắng sớm
Hành lang dài gắn bó những yêu thương
Cột cờ cao ngạo nghễ đến phi thường
Tung bay mỗi thứ hai giờ vào lớp

Tâm tình ấy ôi sao mà choáng ngợp
Cuốn phim xưa quay chậm lại từ đầu
Ngôi trường xưa ... thầy bạn cũ nơi đâu
Thầm tính lại bao kẻ còn, người mất

Cổng trường xưa ảo mờ mà tưởng thật
Những quần xanh, áo trắng, mặt ngây thơ
Cậu con trai còn lại đến bây giờ
Đầu điểm trắng, lưng còng theo năm tháng

Những cô gái ngày xưa từng bè bạn
Tà áo dài trong gió nhởn nhơ bay
Quấn quít lòng ai vương mãi hồn say
Giờ cũng đã chân chim viền đuôi mắt

Trường tôi ơi, sao nhớ se nhớ thắt
Sân bóng chiều những cậu bé mải chơi
Để hôm nay trên vạn nẻo cuộc đời
Xin thầm gọi tình xưa thương trường cũ

TN

Các nàng Gia Long xinh đẹp đã nhận lãnh vai trò trưởng ban tổ chức cho buổi picnic Liên trường 2007, tôi được biết đã hơn mười năm, mỗi năm, mỗi trường sẽ thay phiên nhau nhận lãnh trách nhiệm tổ chức . Năm nay có sự tham dự của 12 trường trung học . Những khay heo quay, xôi gấc, bánh mì , chả giò được chia đều cho mỗi trường, tuy bận rộn nhưng chị Bùi thị Như Hằng ( chủ tịch cựu HS Gia Long ) vẫn vui tươi trong công việc vác ngà voi nàỵ.
Image

Tiếng trống vang vang buổi tựu trường
Bốn phương ...ho.p lại nhớ ...quê hương
Đâu tà áo tím ngày xưa ấy
Đâu ngẩn ....trông vời áo trắng bay ..!

Ngọc Hương
Nơi góc trái của sân khấu... dã chiến là trường Võ trường Toản , Quốc Gia Nghĩa Tử ( hay còn được gọi là Quyết Giữ Nghĩa Tình ) , Quốc học, Đồng Khánh, Nguyễn Bá Tòng và Trần Quốc Tuấn. Chị Nguyễn Tấn Phát nhanh nhẹn giới thiệu tôi với các Anh chị Phan Thanh Giản và Đoàn thị Điểm . Chị vẫn trẻ trung và nhiệt tình như những ngày tôi mới gặp chị hơn 20 năm về trước .

Các anh Petrus Ký thì lúc nào cũng " như chim liền cánh, như cây liền cành " với các chị Gia Long nên đã có nhiều chuyện tình học trò thật dễ thương kéo dài cho mãi đến hôm nay và có lẽ sẽ là mãi mãi .

Hãy nghe lời tỏ tình ngây thơ được dấu trong hộc bàn
"từ khi diện kiến dung nhan của tiểthơ, tiểu sinh ra về
đêm đêm quên ăn
ngày ngày quên ngủ
hôm nay đánh bạo, cắn ngón tay lấy máu đỏ
hoà với lệ xanh
viết cánh thư hồng
mượn con chim nâu,mang đến tận lầu vàng, trao vào tay người ngọc" *

kể bao nhiêu là trằn trọc
nói biết mấy nỗi nhớ nhung
xin cho một buổi tao phùng, mong sao một lần hội diện
tình đã như điện
giật bắn con tim thổn thức
mãi kiếm tìm, mong lắm thay mối duyên trời định
tương tư là bịnh
thuốc chữa ấy bạn tình
món nợ tình nhất định đời này trả dứt
những lời thành thực
kính đệ tiểu thơ
chờ mong thư phúc đáp

TN
Image Chu văn An thì Chết Vì Yêu các nàng Trương Vương diễm tuyệt ( nhưng các cô cậu học trò thì cho là Chết Vì Ăn Trứng Vịt ) . Anh Lại Đức Hùng không hết lời khoe về ngôi trường thân yêu mà anh đã mài đũng quần suốt từ năm 1959-1965 .


Image

Image

Image
Hồ ngọc Cẩn với Lê văn Duyệt cũng chẳng rời nhau .
Tôi đã gặp rất nhiều khuôn mặt thân quen, hình như họ đã để lại bên ngoài những địa vị , những bon chen , những vất vả của cuộc sống . Mọi người tụ họp lại nơi đây để khơi lại cho nhau những ngày xưa thân ái , những thân thương của những ngày còn cắp sách đến trường . Tiếng cười trong veo thật thoải mái không còn những khách sáo thường ngày . Tiếng gọi nhau ơi ơí rộn ràng như giờ ra chơi trong sân trường . Trên sân khấu Đồng Thảo với những bài tình ca đưa mọi người tìm về kỷ niệm , Tony Tuấn đã điệu nghệ đưa mọi người ra sân với điệu Cha cha cha vui nhộn. Trần Cúc với những tình ca của TCS và nhiều tiếng hát thật hay, thật học trò mà tôi không nhớ hết .

Không còn cách biệt, không còn ngại ngùng từng cặp xoay tròn trong điệu nhạc dưới nắng Hè Cali . Chị không cần biết anh là ai , anh không cần biết chị học ở đâu tôi chỉ thấy tất cả như những hạt thủy ngân đang tìm về với nhau . Và sẽ chẳng thể nào tách rời họ ra được .
Image BS Phương Thúy hôm nay trông thật trẻ trung và bình dị trong áo polo tím hoa cà , chị duyên dáng giới thiệu tiết mục trên sân khấu , cô bé luật sư Hương vẫn nhẹ nhàng , đằm thắm như :" môi em chưa nghe rung qua một lần ..." bên cạnh ông chồng điển trai . Các ông ký giả, nhà báo thì hình như chẳng ai còn nhớ mình đến đây để làm gì nữa họ đã bị cuốn hút trong rừng toàn những bông hoa đẹp mãi..... không tàn. " Vui là vui qú, vui là vui ghê , vui không chỗ nào chê hết ! "

Thày cô cũng đến tham dự thật đông , anh Lê bình Định , anh Nguyễn Xuân Hải, anh Đặng Hải đã giới thiệu cô giám thị Trần thị Liêm với tôi trong xúc động: " Cô là giám thị của trường Kỹ thuật QGNT trong thời gian anh đi học ở đây , anh mới tìm được cô sau 32 năm mất liên lạc " . Khi còn đi học , những đứa học trò phá phách như tôi mà các thày cô giám thị gọi đến tên là biết ....." có vấn đề " , nhưng các anh chàng này đã tìm kiếm cô giám thị của mình 32 năm nay chắc phải là ...thành phần gương mẫu rồi . Trời ạ họ còn độc thân nữa chứ ! Các chị áo trắng nào còn đang lựa chọn , thì đừng chần chờ nhé.

Thày Lê quốc Tấn giới thiệu một cách chân tình với chúng tôi :" Thày dạy nhiều trường nhưng thày thương các học trò QGNT vì họ đã không may mắn như các học trò trường khác . Và dù thành lập rất trễ chỉ mới bắt đầu từ năm 67 nhưng thày biết là có 4 khoa học gia đã có những bằng sáng chế rất hữu ích ....." Chúng tôi thấy niềm vui và hãnh diện tràn ngập trong lời nói của thày . Xin chúc mừng thày và những anh chị đã có những đóng góp cho quê hương thứ hai của chúng ta .

Chúng tôi trở lại gần sân khấu xem màn múa của các cháu thuộc thế hệ thứ hai , những động tác đơn sơ không điêu luyện nhưng đầy ắp những ân tình . Màn vũ đã được vỗ tay như không muốn dứt , xin gởi lời cám ơn đến các cháu, các phụ huynh đã đem các cháu vào với sinh hoạt của cha mẹ ngày hôm nay . Rồi các màn đố vui có thưởng , những bản tình ca , những bước chân , những vòng tay ......Ai cũng hớn hở trong nắng ấm của Thung lũng đầy Hoa vàng.
Còn nhớ không em dấu vết xưa
Con đường Võ Tánh những ngày mưa
Lăng Ông Cha Cố giờ tan học
Tà áo dài bay dưới cơn mưa

Còn nhớ không anh kỷ niệm nào
Cổng trường những bóng nhỏ lao xao
Những chuyến xe lam mờ mịt khói
Xe buýt vàng ... lòng chợt nôn nao

Đã bao lâu trường cũ thay tên
Màu sơn đã phủ mấy lần thêm
Có còn đâu đó bao nhân ảnh
Trò cũ, thầy xưa, bụi phấn mềm

Thầy và Trò cùng ngả tóc sương
Cùng mơ chung về một mái trường
Rêu phong ngày tháng không chôn được
Một mảnh tình thâm vạn vấn vương

Những người còn ... những kẻ đã đi
Cùng chung giấc mộng ... hẹn một khi
Trường cũ cờ bay trong gió lộng
Bạc phơ râu tóc thấy xuân thì

TN
Last edited by khieulong on Wed Aug 15, 2007 5:31 pm, edited 3 times in total.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

TIẾNG HÁT BAY TRÊN HÀNG PHỐ BÂNG KHUÂNG
Trần Cũng Sơn
Chiều hôm nay đọc tin ca sĩ Lệ Thu trả lời những câu hỏi của những người yêu nhạc trên mạng lưới trong nước, lòng bâng khuâng. Chị đã trở về Sài Gòn và hát trong đêm nhạc chủ đề nhạc và họa Trịnh Công Sơn mang tên Rơi Lệ Ru Người cùng nhiều tiếng hát thời danh trong nước vào cuối tháng 6/2007 tại nhà hát Hòa Bình với ca khúc Hạ Trắng mà theo lời kể thì Lệ Thu là người đầu tiên nhận được sáng tác này từ nhạc sĩ họ Trịnh gởi tới.

Vào hai ngày 24, 25 tháng 8, tại sân khấu của nhạc viện Hồ Thành ( Sài Gòn), Lệ Thu sẽ xuất hiện chính trong chương trình nhạc Theo Dòng Thời Gian với những ca khúc nổi tiếng Chiều Một Mình Qua Phố, Mắt Lệ Cho Người, Serenade, Đêm Đông cùng với hai giọng ca nam Cao Minh và Trọng Tấn. ( Nhắc tới Cao Minh chợt nhớ tới giọng ca trầm ấm và khỏe trong bản Thuyền Và Biển, thơ Xuân Quỳnh, nhạc Phan Hùynh Điểu, rất thành công).

Ký ức chợt trở về khỏang thời gian sau năm 1975, Lệ Thu lúc chưa vượt biển được phải đầu quân cho một đòan hát văn công và mỗi đêm khán giả vẫn nghe chị hát bản Tự Nguyện của Trương Quốc Khánh có câu : “Nếu là chim tôi sẽ là lòai bồ câu trắng…” Và thập niên 80, chị có mặt tại hải ngọai và trở lại với nghề ca hát, sống trong cộng đồng người tị nạn hải ngọai hơn hai chục năm, tính từ thời đó cho đến nay.

Ngòai những bài hát nổi tiếng thời trước được thu băng lại bên này, có lẽ bản Mười Năm Tình Cũ của Trần Quảng Nam vào năm 1985, chị hát một cách xuất thần mà ngay chính sau đó vài năm chị cũng hát lại bài này trong một cuốn băng do một trung tâm thực hiện cũng không bằng.

Có người cho là tiếng hát của Lệ Thu hay nhất là vào thời điểm khi Sài Gòn chưa thất thủ. Cuốn băng Sơn Ca 2 chủ đề giọng ca Lệ Thu, chị hát những bài chọn lọc thật tuyệt vời, rất tiếc lọai băng cassette này theo năm tháng đã nhão mòn, khó mà giữ lại được âm thanh như cũ.

Trong cuốn Tình Khúc Ngô Thụy Miên 1, Lệ Thu trình bày hai bản Giáng Ngọc (Bàn tay năm ngón em vẫn kiêu sa…) và Bản Tình Cuối (Mưa có rơi và nắng có phai…) cũng được coi là truyền cảm nhất và sau này ca sĩ Khánh Ly khi được yêu cầu hát đã phải từ chối và nói là Lệ Thu hát hai bản này quá hay cho nên xin nhường sự độc quyền cho chị.

Nhận xét về chất giọng Lệ Thu quả thật có nét đặc biệt, cách đọc lời bằng giọng Bắc Hà Nội cao sang, (khác hẳn giọng Hà Nội sau năm 1975 đã pha chất Thanh Nghệ Tĩnh như Trần Thu Hà, Thu Phương, Bằng Kiều..) và nhất là giọng rung rất truyền cảm. Độ rung của giọng ca Lệ Thu không dài, không ngắn và vừa đúng mức độ hòan hảo để tạo sự rung cảm cho người nghe.

Một lần gặp nhạc sĩ Lê Văn Thiện tại tiệm sách Tú Quỳnh mười mấy năm trước trong câu chuyện gẫu, có hỏi một câu là giữa Khánh Hà và Lệ Thu ai hát hay hơn thì ông cho là Khánh Hà. Và cũng trong một lần nói chuyện với Tuấn Ngọc thì nam ca sĩ này cho là tiếng hát Lệ Thu vào thời điểm sung mãn nhất của cuộc đời vẫn được chấm là hay nhất trong các ca sĩ.

Nguời viết bài này hòan tòan đồng ý với Tuấn Ngọc cho dù khi nói nghệ thuật thì khó mà nói là ai hay hơn ai một cách rõ ràng.

Chẳng hạn những năm sau này, Lệ Thu đã tâm sự rằng bây giờ chị hát hay hơn thời trước với lý do là chị hiểu các lời ca kỹ hơn để mà diễn tả cho có hồn, nhưng mà tôi vẫn thích nghe tiếng hát của chị trước năm 1975 hơn hiện tại.

Trong một sô ca nhạc tại San Jose, mời những ca sĩ nổi tiếng để trình bày ca khúc mà thính giả cho là họ hát hay nhất thì Lệ Thu trình bày ca khúc Xin Còn Gọi Tên Nhau của Trường Sa: “Tiếng hát bay trên hàng phố bâng khuâng….” Cũng theo lời kể thì chị hát vào năm 1972, và tác giả đã vẽ ra tiếng hát Lệ Thu với câu ca trên.

Phạm Duy thì viết hẳn một bài hát Nước Mắt Mùa Thu để tặng cho Lệ Thu, tuy là có ý nghĩa riêng cho một ca sĩ nhưng giá trị của bài hát chưa ở trên đỉnh cao nghệ thuật so với những ca khúc khác của ông.

Khán giả trẻ có thể không thấy hào hứng với một dáng đứng của nữ ca sĩ Lệ Thu đứng yên một chỗ trên sân khấu trong tà áo dài, nhưng đó là nét đặc biệt của chị. Có lẽ chị cho là người ta cần nghe tiếng hát của chị hơn là xem chị trình diễn.

Một vài lần cùng có dịp đi ăn quán với Lệ Thu, ăn xong trong lúc chờ người khác nói chuyện thì chị dán mắt vào cuốn truyện cầm trong tay, điều này nói lên sự ham mê đọc sách của chị như câu trả lời trên báo điện tử. Tuy đọc sách nhiều nhưng người nữ ca sĩ này lại rất ít nói trên sân khấu và chỉ hát mà thôi.

Với số tuổi trên sáu mươi, trải dài tiếng hát trên khắp vùng đất nước cho đến hải ngọai thì hôm nay Lệ Thu lại trở về trên sân khấu của nhạc viện thành phố để hát những bài xa xưa, những bài hát có thời bị chế độ cấm. Con đường Nguyễn Du rất thơ mộng của Sài Gòn, nơi có trường nhạc, sẽ lại vang lên tiếng hát của chị, chất đầy kỷ niệm.

Thời gian mấy chục năm, nhiều thay đổi, tôi tưởng tượng ra hình ảnh lãng mạn của đêm văn nghệ, nhớ lại những đêm đạp xe đến nghe các buổi diễn của nơi này, một thời tuổi trẻ đam mê. Có lẽ nghệ thuật là một trong những thứ còn lại lâu bền nhất.

Đầu óc chợt lan man… “Tiếng hát bay trên hàng phố bâng khuâng”.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

TRƯNG VƯƠNG KHUNG CỬA MÙA THU”

Tuyết Mai


Trường Nữ Trung Học Trưng Vương là một trong những trường nổi tiếng nhất của Miền Nam trước 1975. Trường tọa lạc ở Đường Nguyễn Bỉnh Khiêm , Saigon. Theo truyền thống, nhằm mục đích thắt chặt tình thân giữa Thầy Trò Trưng Vương, bạn hữu khắp nơi và tạo cơ hội để Cựu Nữ Sinh Trưng Vương vinh danh quý Thầy Cô đã dày công dạy dỗ cho các học sinh nên người, cứ mỗi năm năm, Gia Đình Cựu Nữ Sinh Trưng Vương vùng Hoa Thịnh Đốn tổ chức Đại Hội Hoa Anh Đào, để Cựu Nữ Sinh Trưng Vương toàn thế giới về họp mặt . Năm nay nhóm Trưng Vương trẻ muốn thay đổi, tổ chức mỗi bốn năm, và năm nay là lần đầu tiên Đại Hội Trưng Vương có chủ đề “Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu”, được tổ chức trong ba ngày 20, 21 và 22 Tháng 10, 2007 tại Hoa Thịnh Đốn.

Hai lần trước đây, Gia Đình Trưng Vương HTĐ đã tổ chức rất thành công với khoảng bảy, tám trăm người tham dự.

Đại Hội Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu năm nay chính thức khai mạc lúc 6 giờ chiều ngày 20 Tháng 10, 2007 tại Grand Ballroom, Hyatt Regency Crystal City. Khách sạn này nằm ngay trung tâm Crystal City, VA, cách Reagan National Airport 5 phút và cách Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn 10 phút lái xe.

Tại Đại hội này các Cựu Nữ sinh Trưng Vương được dịp gặp lại Quý Thầy Cô, bạn bè, hàn huyên và Đặc San Trương Vương 2007 được giới thiệu. Cùng lúc có triển lãm nhiều văn hóa phẩm và chụp hình lưu niệm do Nhiếp Ảnh Gia Đỗ Lệnh Dũng và nhóm nhiếp ảnh vùng HTĐ phụ trách.

Sau đó là dạ tiệc và văn nghệ với sự đóng góp của các Cựu Nữ Sinh Trưng Vương khắp nơi trên thế giới. Sau cùng là chương trình dạ vũ với ban nhạc nổi tiếng của HTĐ, Ban nhạc The Red Sun.

Ngày hôm sau 21 Tháng 10, 2007, các Cựu Nữ Sinh Trương Vương và thân hữu có thể đi du thuyền Odyssey trên Sông Potomac, Washhington, D.C. Du thuyền này sẽ đưa khách thưởng lãm đi qua nhiều địa danh nổi tiếng của HTĐ như GeorgeTown , Washington Harbor, Watergate, Kennedy Center, Old Town Alexandria …

Trên du thuyền có ăn trưa (Champagne Brunch) khiêu vũ với các bản nhạc nổi tiếng từ thập niên 60 tới 90 qua nhiều thể điệu khác nhau với hai ban nhạc sống.

Ngày Thứ Hai 22 Tháng 10, 2007, từ 9 giờ sáng đến 3 giờ chiều có tổ chức đi du ngoạn Động Thạch Nhũ Luray Carverns và đi xem rừng Thu lá vàng trải dài 105 dặm trên triền núi Blue Ridge , dọc theo SkyLine Drive ở Shenandoan Valley, Virginia. Có người hướng dẫn và ăn trưa ở Luray Carverns,

Vé Đại Hội Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu ở Hyatt Regency là $75.00.

Vé Du Thuyền Odyssey trên sông Potomac , Wa shignton, D.C. là $75.00.

Vé Luray Carverns và Thung Lũng Lá vàng, Shenandoan Valley là $35.00

Được biết Hiệu Trưởng nổi tiếng của Nữ Trung Học Trưng Vương là Bà Giáo Sư Tăng Xuân An. Rất nhiều bậc phụ huynh mong mỏi con gái mình được nhận vào học ở Trường Trưng Vương. Nhà trường chẳng những chỉ quan tâm về mặt giáo khoa, mở mang kiến thức mà rất lưu ý dạy dỗ các nữ sinh về mặt đức dục. Nhờ vậy nữ sinh Trưng Vương chẳng những được nổi tiếng là những học trò xuất sắc mà cũng được tiếng thơm, rất nết na , đức hạnh. Trường đã đào tạo cho xã hội Việt Nam nhiều thế hệ nữ lưu trí thức, trước năm 1975.


Theo Chị Tâm Đạt, Gia Đình Cựu Nữ Sinh Trưng Vương vùng Hoa Thịnh Đốn được thành lập trên hai mươi năm, với hơn một trăm người. Sinh hoạt chính của Cựu Nữ Sinh Trưng Vương là tham gia Ngày Lễ Hai Bà Trưng do Hội Người Việt Cao Niên tổ chức hằng năm vào khoảng Tháng Hai và tham gia bán hàng ở Chợ Tết nhân dịp Tết Nguyên Đán. Trong hai dịp lễ này các Cựu Nữ Sinh Trưng Vương mặc đồng phục, áo dài xanh dương thật duyên dáng và đẹp mắt. Ngoài ra Cựu nữ sinh Trưng Vương cũng tham gia, đóng góp tài chính hỗ trợ nhiều sinh hoạt văn hóa, xã hội , từ thiện trong vùng…


Đặc biệt Cựu Nữ Sinh Trưng Vương HTĐ đã tích cực tham gia trong ngày điều trần trước Quốc Hội Hoa Kỳ về “ Tệ nạn buôn phụ nữ , trẻ em VN” và “Ngày Nhân Quyền cho VN” ở Quốc Hội HK.

Gia Đình Cựu Nữ Sinh Trưng Vương Hoa Thịnh Đốn rất mong mỏi các bạn Trưng Vương và thân hữu khắp nơi phổ biến rộng rãi thư mới này và ước mong được đón tiếp quý Thầy Cô, các bạn Trưng Vương và thân hữu về tham dự Đại Hội đông đảo . Muốn biết thêm chi tiết xin liên lạc với :

TV Trúc Mai (703) 901 – 7777
TV Tâm Đạt ( 703) 354 – 2479
TV Mai Hương (703) 263 - 7377
Last edited by khieulong on Thu Aug 16, 2007 6:19 am, edited 1 time in total.

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

Vua Báo Chí Mỹ: Rupert Murdoch

VI ANH .


Trong tuần lễ thứ hai tháng Tám năm 2007, Ong Rupert Murdoch, một ông già 76 tuổi, đã mua và nắm tập đoàn Dow Jones với tờ báo Wall Street Journal. Đứng trên phương diện tài chánh, Ong đã trở thành Ong Vua báo chí mà chưa có Ong Vua Báo chí nào quyền thế hơn. Ong kiểm soát cả một đế quốc báo chí, News Corp, trị giá hơn 70 tỷ Đô la, có 175 đơn vị truyền thông đại chúng. Trong đó ở Anh có The Times, The Sun, News of the World, ở Mỹ có New York Post, Weekly Standard, hệ thống và mạng lưới truyền hình Fox, Sky và DirecTV, các phim trường Twentieth Century Fox, nhà phát hành HarperCollins và mạng lưới Internet My Space.

Như vậy, có phải triều đại Mỹ Rupert Murdoch làm vua báo chí Mỹ đã bắt đầu? Ong tiếp nối các triều vua báo chí William Randolph Hearst, Joseph Pulitzer và William Maxwell Aitken. Ong Rupert Murdoch vốn là một người nhiều người sợ, nhiều người ghét, nhưng cũng nhiều người ngưỡng mộ. Vì tánh ham quyền lực vô bờ bến của con người Ong. Ô Rupert Murdoch là một người bảo thủ rõ rệt. Ong ghét thuế má, ghét chánh quyên xen vào chuyện của dân. Ong ủng hộ các biện pháp chánh trị mạnh và quân đội Mỹ ở nước. Ong không ưa nghiệp đoàn khống chế công nhân. Liệu gió có đổi chiều? Khuynh hướng bảo thủ có thắng thế ở một quốc gia đệ nhứt siêu cường, với nên báo chí được mặc thị xem là một đệ tứ quyền trong chánh quyền tam lậo, là Hiệp chúng Quốc Hoa kỳ, tiếng gọi nhanh là Mỹ này không?

Khi nắm được một hệ thống truyền thông đại chúng, trong đó có nhiều tờ báo mà tờ Wall Street Journal là một đóa hoa vượt trội nhứt, Ong Rupert Murdoch - đúng -- đã đại thắng. Nhưng đại thắng đó lại giới hạn cuộc phiêu lưu chinh phục của Ong. Đây là cơ hội thử thách những tài ba làm vua báo chí của Ong. Không ai tin những tờ báo khổ nhỏ The New York Post, The Sun, hay hệ thống dây chuyền tin tức của Fox News trong đế quốc báo chí của Ô. Rupert Murdoch là nguồn tham khảo của báo chí Mỹ nói chung. Nhưng trường trường hợp của tờ Wall Street Journal thì khác. Wall Street Jouranl là một trong ba tờ nhựt báo lớn nhứt ở cấp liên bang Mỹ. Thiên hướng và truyền thống báo chí Mỹ Mỹ là phân biệt rạch ròi nghi luận và thông tin. Một bên là bình luận với quan điểm chánh trị, kinh tế, xã hội, nói mạnh và thẳng. Một bên khác là sư kiện tường trình càng chính xác càng vô tư vô tư càng tốt.

Tờ Wall Street Journal là tờ nhựt báo được 31 giải Pulitzer và chưa bao giờ phải đính chánh một điều gì. Thưc sư báo Wall Street Journal gồm có hai tờ báo trong một tờ. Một nhựt báo liên quan đến việc làm ăn là công cụ làm việc cho 2,7 triệu người đạt mua báo khắp nơi trên thế giới. Và một nhựt báo liên quan đến dư luận mà những người bảo thủ Mỹ xem như sách gối đầu giường.

Tính độc lập của báo Wall Street Journal được nhiều người Mỹ thừa nhận. Nhưng lập trường cố hữu của người chủ mới là Ô Rupert Murdoch là một người không đứng giữa. Nên những người Mỹ thiên tả và theo đảng Dân Chủ đặt vấn đề ngay khi Ô Rupert Murdoch nắm tờ báo Wall Street. Những người này đoàn kết lại để tấn công tính độc lập của tờ báo. Phê bình chỉ trích chiến lược của Ô. Rupert Murdoch là "tăng cường nỗ lực chiếm nhiều phương tiện truyền thông, càng chiếm nhiều quyền lực trong giới truyền thông để thúc đẩy công luận khuynh hữu và quyền lợi riêng của Ong", như lời của Josh Silver, tổng giám độc hiệp hội Free Press đang vận động cải tổ truyền thông Mỹ. Còn Jack Shafer, người viết mục thời luận của Slate Magazine, thì viết "Murdoch không phải là nhà báo, đó là một ông bầu, một chánh khách, một người xây dựng đế quốc, chỉ chú ý đến chân lý khi nào chân lý phục vụ cho quyền lợi riêng của ông."
Không phải chỉ những người thiên tả và Dân Chủ tấn công Ong. Mà một số người của Đảng Cộng Hòa cũng nghi ngại Ong. Không thích Ong có ba đời vợ. Chê tính dung tục của những tờ báo khổ nhỏ và hệ thống truyền hình mà Ô. Murdoch đã nắm. Bực tinh thần ủng hộ mạnh việc nhập của Ô Murdoch. Lo sớ khi Ong nắm truyền thông gần như độc quyền trong cánh truyền thông thiên hữu, Ong Ô Rupert Murdoch sẽ là người làm ra tổng thống Mỹ và quyết định số phận của những chuẩn ứng cử viên tổng, ưng cử viên dân biểu nghị sĩ.

Có lẽ biết được mối lo ngại đó, Ô Rupert Murdoch đã hứa sẽ lập ra một hội đồng biên tập độc lập để bảo đảm cho tờ Wall Street độc lập. Nhưng lời hứa đó không phù họp với dĩ vãng của Ong. Mới năm rồi đây Ông đẵ nói "Tôi cố gắng biết hết mọi chi tiết. Tồi quan sát sản phẩm hàng ngày. Điều đó không có nghĩa là tôi xen vào, nhưng đôi khi chứng tỏ khả năng hội nhập cũng là điều quan trọng.”

Nhưng Rupert Murdoch là một con người thực dụng. Ong sống với niềm tin "khong thù muôn thuở, không bạn muôn đời, chỉ có quyền lợi là vĩnh viễn", như Huân Tước Anh Lord Palmerston đã viết trên tờ The Economists hồi thế kỷ 19. Nên người ta thấy hệ thống News Corp. Fox News và New York Post quyết liệt chống Chiến tranh Iraq, chánh quyền Bush, và ủng hộ TNS Dân Chủ Hillary Clinton trong kỳ bầu cử Thượng Nghị sĩ 2006. Dù bảo thủ, Ô Rupert Murdoch, vẫn tổ chức gây quỹ cho Bà Hillary Clinton trong mùa bầu cử tổng thống này.

Tánh thực dụng của Ong khi lên làm vua báo chí Ô Rupert Murdoch, nhiều người nghĩ, có thể làm cho báo Wall Street và đề quốc truyền thông đại chúng không đổi chiều vì lý do kinh tế. Điều đó cũng dễ hiểu thôi, nhiều tổng thống, thống đốc khi ra ứng cử nói chuyện lấp biển vá trời, cải cách, cải tổ đủ thứ chuyện. Nhưng khi nắm được quyền bính rồi, đi sâu và sống trong guồng máy chánh quyền với những dây chằn dây néo và nhu cầu tồn tại chức vụ của mình, những lời tuyên bố, lập trường chánh tri, quân sự, ngoại giao tuyên bố khi tranh cử, còn được 25% là phước cho cử tri.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Phận Bọt Bèo -
Nguyễn văn B. T
Càng ngày thời tiết càng khắc nghiệt hơn. Mấy năm nay mưa lớn, gió to xảy ra triền miên nên thường sinh ra bảo lụt . Không hiểu sao quê hương tôi chịu đựng quá nhiều tai biến. Bao nhiêu năm bị đô hộ, bao nhiêu năm chiến tranh, biết bao nhiêu người gục xuống dưới những lằn tên mủi đạn. Biết bao nhiêu chiếc khăn tang chít lên đầu những cô nhi, quả phụ.

Máu đào chảy khắp non sông, nước mắt úng tràn đất mẹ . Những cảnh máu đổ thịt rơi,xác người gom không đầy chiếc nón, chôn vội chôn vùi giửa núi cao rừng sâu đã làm Mẹ Việt Nam tuôn trào nước mắt. Những tưởng chấm dứt chiến tranh, con người sẽ được sống trong ấm no hạnh phúc, nhưng trớ trêu thay, chẳng những không khá hơn mà còn tồi tệ hơn đối với những người dân lương thiện vốn nghèo lại càng khốn khó thêm . Đời nào cũng vậy, Kẻ nào càng nghèo mạc bao nhiêu thì giai cấp càng thấp hèn bấy nhiêu . Người giàu có, may mắn tranh nhau vượt biển vượt biên, người thất thời thì khăn gói lên đường gọi là học tập cải tạo, ráng sống còn để rồi đi HO sang Mỹ. Còn những thân phận bọt bèo của chúng tôi thì ngàn thu vẫn thế. Vẫn đói, vẫn nghèo, vẫn hèn, vẫn bị nguyền rủa, miệt thị, vẫn bị lãng quên, vẫn bị cho là làm bẩn mắt, vẫn bị cho là kẻ thù , vẫn bị cho là sống thừa và còn trăm ngàn cái đắng cay khác mà họ muốn trút lên đầu những người bất hạnh như chúng tôi.

Đã 32 năm dài trôi qua, từ ngày Quân Lực miền Nam nghe lệnh bỏ súng, và cũng là ngày tôi được một người đồng cảnh cùng là thương bệnh binh dìu đở tôi ra khỏi Quân Y Viện một cách vội vàng trong lúc chân tôi máu vẫn còn đầm đìa vì mới cưa cắt hai hôm trước. Thế mà vẫn sống bên cạnh một người bạn lúc nào cũng ôm đùm ruột còn nằm trong bọc nylon đã đỗi màu đen thâm vì bụi đất mà chẵng có được một viên thuốc trụ sinh hay một lọ thuốc khử trùng. Hai đứa cùng tâm trạng là sợ gia đình buồn nên quyết định không về quê mà lang thang lếch thếch sống nhờ vào lòng từ tâm của những người còn kẹt ở lại ...

Hai tháng sau, người bạn đời đã vĩnh viễn ra đi vì đùm ruột nhiểm độc nặng sưng to và sình thối . Ba ngày trước khi chết anh ấy rên la trăn trở dử lắm. Tuy chân tôi đã lành nhưng hoàn cảnh quá đói rách tôi cũng bó tay ngồi khóc nhìn bạn đau đớn ra đi không nhắm mắt. Xác bạn được sở vệ sinh đô thành đến cuộn trong bao nylon ném lên xe rác chở đi ...? Lúc đó tôi cầm lòng không được, tôi khóc thật lớn - biết bao nhiêu cặp mắt nhìn tôi đầy vẽ thương hại và hỏi thăm hoàn cảnh hai đứa tôi . Nhiều người tốt bụng giúp cho tôi một số tiền khuyên tôi hảy về quê với người thân dầu gì cũng có người săn sóc và cận kề mỗi khi trái gió trở trời . Lời bà con khuyên cũng đúng , nhưng với thân hình què quặt cụt 1 tay và 1 chân làm sao cha già mẹ yếu chịu nỗi cái cảnh nhìn con nát tan như tàu lá chuối...

Nhiều năm trôi qua, dạ cầu chử Y là nơi tá túc lý tưởng nhất của đám nghèo mạc cùng đinh của chúng tôi. Nhiều gia đình trốn từ kinh tế mới về chen chút nhau sống dài dọc dưới gầm cầu như một xóm thân quen kẻ ở góc nầy người ở góc nọ không vách rào nhưng không ai xâm phạm lảnh thổ của ai, tự chia đất lớn nhỏ theo đầu người không ai đòi hỏi hay thắc mắc gì , thương nhau lắm có lẽ vì cùng hoàn cảnh. Không hộ khẩu, không có bất cứ cái gì mà bình thường con người ở trên hoàn vũ nầy phải có ít nhất dù chỉ là cái giường nằm hay cái nhà tắm hoặc cầu tiêu để cho việc vệ sinh cá nhân.

Chúng tôi hoàn toàn chẳng có gì cả mà cái xóm tự lập nầy có thể lên đến mấy trăm con người lương thiện bị đẩy cuộc sống ra ngoài vòng pháp luật vì nghèo quá không còn gì để họ ngó ngàng đến. Sống đơn độc ngày ngày khập khểnh mưu sinh qua những trái tim từ ái của bá tánh cũng tạm qua ngày. Nhưng cuộc đời của những kẻ thua cuộc có bao giờ được bình yên để an phận đâu . Lâu lâu có 1 ngày làm đẹp lòng lề đường để tăng vẽ mỹ quan thành phố thì lũ chúng tôi trốn chui trốn nhủi, mấy anh ngồi vá xe đạp bị tịch thâu đồ nghề, các chị gánh hành rong bị rượt đuổi như bắt cướp thấy mà xót xa cho những người dân nghèo .

... Nhớ ngày nào còn trên chiến địa, bao năm xông pha đễ giử yên bờ cỏi. Có lẽ tại chúng tôi bị thương, tập thể thương binh chúng tôi rời tay súng nên mới xảy ra mất nước. Vì chúng tôi là những bia thịt ở tuyến đầu, còn các vị tư lệnh hay, Tổng Tham Mưu Trưởng hay Tổng Thống họ đánh giặc bằng mồm nhiều hơn nên không có những chục ngàn bia thịt của chúng tôi thì họ chạy làng, rồi ung dung sống sa hoa nơi xứ người không còn màng đến chúng tôi, những thân tàn ma dại mà họ đã từng ra lệnh Tổng Động Viên, bắt quân dịch v.v.. Chiến trận cũng như bàn cờ có lúc thắng lúc thua. Tôi không than thở vì mình phải thua, nhưng làm tướng phải chết theo thành chứ ai đâu mà chạy làng ra hải ngoại trước người ta với gia sản kếch xù đã chuẩn bị trước.

30 năm đơn độc có lắm khi mệt mỏi quá tối ngủ vùi ngoài bến xe, nhà ga hay sạp chợ. Cuộc sống đã quen và chai lỳ đối với mưa nắng gió sương. Ngày ngày vác bị chống nạng lếch thếch đi khắp mọi nơi để mưu sinh cầu thực. Một hôm tôi gặp lại người bạn cùng đơn vị, cũng phế binh, nhưng may mắn hơn là có vợ và 2 con sống trong một chòi lá nghèo nàn sơ xác. Nhìn thấy căn chòi lá xiêu vẹo, tơi tả được chèn vá bằng mấy tấm giấy thùng và bao ny lon dưới lùm cây trong nghĩa địa mà thương bạn vô cùng. Hai vợ chồng bạn mời gọi tôi về ở chung cho vui. Thoạt đầu tôi ngần ngại, sau đó tôi đồng ý về đó ở chung cho thêm phần ấm cúng. Ngay ngày đầu tiên tôi về ở chung trong nghĩa địa, có mấy anh em cũng là lính cũ cùng gia đình tá túc nơi ấy đến hỏi thăm tôi và có mời tôi một chung rượu đế gọi là buổi sơ giao của những con người không phải là công dân của một đất nước Đảng lảnh đạo nhà nước quản lý.

Từ đó trong xóm nhà lá không số ở nghĩa địa Phước Bình có tôi gia nhập sống chung với ma, những lúc hè nóng nực rủ nhau ngũ trên mã cho mát là thói quen của chúng tôi. Sáng sớm mạnh ai nấy bung ra đi kiếm sống. Tối về quay quần lại nấu ăn chung cho vui. Cuộc đời chúng tôi chỉ có thế mặc thế sự nhân tình có đổi thay, thay đổi thế nào đi chăng nửa chúng tôi cũng chẳng còn ham muốn gì hơn. Mới đó mà tôi đã về tá túc nghĩa trang gần sáu năm trời, thời gian qua cũng vùn vụt nhưng lắm khi uể oải trôi đi trong ngao ngán sự đời.

Chúng tôi là lũ người hạ cấp nhất đã bị bỏ quên bao nhiêu năm nay ở chốn địa ngục trần gian không còn bút mực nào viết hết được những đắng cay tủi nhục của một con người sống vào thế kỷ 21 này. Hôm qua được chủ nhà tốt bụng ở xóm bên kia nghĩa trang cho chúng tôi mượn địa chỉ liên lạc Hội cứu trợ TPB, nhắn hôm nay người giao tiền do Hội gởi sẽ trở lại xem đúng người mới giao tiền . Nôn nóng cả đêm không ngũ được, mới tờ mờ sáng hai chúng tôi đã chực chờ bên hiên nhà người cho mượn địa chỉ. Đến trưa chiếc xe HonDa chở 2 người dừng lại, tìm gặp hai đứa tôi và trao cho mỗi người chín trăm bảy mươi ba ngàn, may mắn cho chúng tôi quá đúng lúc quê mình đã bắt đầu vào mưa cần để sữa nhà và mùa mưa khó kiếm sống lắm.

Nhờ có chút tiền chúng tôi mua lá về che thêm cho kín gió kín mưa. Nhờ cho số tiền to lớn đó tôi nhờ một cháu trong xóm nhà không số trên chuyến đi buôn trên xe lữa ghé thăm ba mẹ tôi và tôi gởi biếu ông bà bảy trăm ngàn đồng và nhắn nhủ rằng tôi đi làm ăn xa, sắp về xứ lại thời gian không xa lắm và thăm hỏi sức khoẻ tưng người trong gia đình. Lá thư tôi viết lung tung bởi rối bời trong lòng vì xúc động thương cha nhớ mẹ từ ngày ấy đến nay. Hai hôm sau cháu bé đi bán hàng đã về, em chạy lại cho tôi hay là Ba tôi đã mất từ lâu còn Mẹ tôi mắt mờ đi đứng run rẩy phải chống gậy không đi xa được. Tôi la Trời lên, tay đấm ngực khóc ròng chỉ vì mặc cảm cụt què không về để rồi Cha chết không hay, Mẹ già không ai săn sóc. Lão đão, cố đứng lên đi từ biệt từng người để về quê phụng dưởng Mẹ già. Tội nghiệp những con người không hộ khẩu, không có giấy chứng minh nhân dân đã chắt mót, gom góp biếu tặng cho tôi một số tiền làm lộ phí về quê nuôi Mẹ. Tôi ra đi trong giọt ngắn giọt dài, vừa khóc thương Mẹ nhớ Cha vừa khóc cho tình người trong nghỉa địa nghèo nàn nhưng đầy ấp tình thương.,..

Khập khểnh quanh co, nhiều thay đổi nên phải hỏi thăm mới tới được nhà mình. Tôi nhào lại ôm mẹ tôi khóc không ngưng, Mẹ tôi quỵ mọi xuống ôm con khóc không ra tiếng, Mẹ nói Mẹ và cả nhà tưởng tôi đã chết trong những ngày cuối cùng triệt thoái cao nguyên. Hai Mẹ con ôm nhau khóc mấy tiếng đồng hồ , chòm xóm hay tin chạy sang chút mừng đoàn tụ cũng ngồi khóc theo khi nghe tôi tường thuật lại bao năm sống bụi bờ. Mẹ tôi vừa khóc vừa nói : “ Tội tình gì con ơi ! " . Bác Tư kế nhà vỗ vai tôi khuyên nhủ và nói thôi mọi chuyện đã rồi, nay lo cho những ngày kế tiếp. Tôi đứng dậy tựa vào cột nhà cám ơn bác Tư và bà con chòm xóm đã đến chia xẻ với gia đìmh tôi.

Mọi sự lắng dịu chưa đầy mươi phút, có Ông Công An Khu Vực đến hỏi tôi chứng minh nhân dân và giấy tạm vắng tạm trú. Tôi hơi bàng hoàng vì làm gì tôi có. Ông Công An nói tiếp rằng : " Anh không có các giấy tờ trên thì coi như anh là người sống ngoài vòng pháp luật, mọi người phải biết rằng nếu không có chứng minh nhân dân tức là không có quyền công dân , tôi mời anh theo tôi về Công An Xả để xử Lý ...”

Ngoài trời gió mưa mù mịt, lòng tôi tái tê khi thấy Mẹ tôi quỳ khóc, van xin, lạy lục trước sự chứng kiến của bà con chòm xóm. Tôi lếch thếch chống nạn đi theo Ông Công An với cỏi lòng tái tê chết lặng mà quên cả ngoài trời đang cơn mưa giông gió lớn . Tôi không dám quay lại nhìn mẹ, vì tôi không còn đủ can đảm...

... Ông Công An lấy tấm cao su trùm lên người đi phăng phăng phía trước thỉnh thoảng quay lại hối tôi “ Nào ! đi nhanh lên... " ...

"Mẹ ơi, con mẹ chưa già,
Giữ quê quê mất, giữ nhà nhà tan"

Thơ Hà Huyền Chi

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Tính mau quên của
người Việt tỵ nạn cộng sản

Lê Minh Úc
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ

Ðang chăm chú nhìn mặt nước thì cái cần câu bên tay phải của tôi bỗng lay động và bị kéo cong xuống. Chắc chắn là cá lớn đây, tôi nhủ thầm và nhanh tay nhấc cần câu lên rồi quay đều theo từng nhịp để giữ cho dây câu không bị chùng. Quay được một đỗi thì con cá lên tới mặt nước và tôi nhận ra đó là một con cá nhám nhỏ.

Thấy con cá không đủ lớn, không đáng để giữ lại nên tôi thả nó trở lại mặt nước. Nhưng loay hoay mãi mà chưa thể gỡ con cá ra khỏi lưỡi câu, tôi đành phải cắt bỏ cả dây lẫn lưỡi câu vẫn còn móc vào khoé miệng của con cá.

Thay dây và móc mồi khác vào lưỡi câu, tôi lại quăng dây xuống biển ngay. Chưa đầy một phút, có lẽ là lưỡi câu chỉ vừa mới chạm đáy, tôi lại thấy cái cần câu oằn xuống nữa, và cá lại cắn câu. Vẫn thao tác như cũ, tôi từ từ đưa con cá lên đến mặt nước và khi nó vừa xuất hiện thì đó chính là con cá nhám tôi vừa thả khi nãy với cái lưỡi và dây câu tôi vừa cắt lúc nãy vẫn còn dính nơi miệng con cá.

Ðây là lần thứ nhì tôi gặp phải trường hợp này. Bộ não của loài cá vốn không lưu giữ những dữ kiện được lâu. Do đó, mặc dù đã phải trải qua những “giây phút kinh hoàng” bán sống bán chết khi phải vật lộn với cái cần câu và chiếc lưỡi câu, và nhưng khi có cơ hội được trở về vẫy vùng tự do trong biển cả sông nước thì chỉ trong khoảng hơn 30 giây sau là nó quên mất những gì đã xảy ra trước đó.

Sở dĩ phải dông dài như vậy là vì tôi muốn đem so sánh cái tính “mau quên” của loài cá với con người, một động vật cao cấp nhất trên hành tinh này, có bộ óc, có cái nhìn, có tiếng nói và có suy nghĩ. Trong phạm vi giới hạn ở đây, kẻ viết bài này chỉ muốn đem so sánh cái tính “mau quên” của loài cá với tính “mau quên” của một thiểu số người Việt tỵ nạn, đã từng bán sống bán chết trốn chạy cộng sản.

Đã hơn 30 năm trôi qua, nói chính xác hơn là 32 năm sau khi CSVN nhuộm đỏ phần còn lại của Việt Nam, và hơn 60 năm cho miền Bắc, chúng đã thực thi nhiều chính sách cực kỳ xuẩn động, gian ác mà lịch sử đã ghi lại như Cải cách ruộng đất, Nhân văn Giai phẩm, vụ án xét lại,....Rồi kế tiếp trên cả 2 miền Nam Bắc thì có chính sách cướp đoạt tài sản qua 2 lần đổi tiền, rồi 2 lần đánh tư sản mại bản, ngăn sông cấm chợ,.... Ngoài ra, để thực thi chính sách “hòa hợp hòa giải”, sau tháng 4/75, chúng đã lùa hàng trăm ngàn quân dân cán chính miền Nam vào các trại tập trung khổ sai với cái tên lừa bịp là “trại cải tạo”, hoặc đẩy hàng triệu người lên vùng rừng sâu nước độc được mệnh danh là “vùng kinh tế mới”. Tất cả những chính sách xuẩn động của VC đã khiến hàng triệu người từ miền Bắc bỏ chạy vô Nam sau khi Hiệp định Geneva được ký kết năm 1954, và hơn 20 năm sau thì lại có hàng triệu người liều chết vượt biển Ðông, hoặc đi bằng đường bộ băng qua các “cánh đồng chết” (The Killing Fields) đến biên giới Campuchia-Thái Lan để bỏ nước ra đi tìm tự do. Hệ quả tất yếu là hàng trăm ngàn người đã bỏ mình trên biển cả, hoặc trên đường trốn chạy.

Người Việt tỵ nạn cộng sản, với đức tính cần cù để lại của tổ tiên ông bà, chỉ sau vài năm ở xứ người đã xây dựng lại cuộc đời mới, đóng góp tích cực vào quê hương thứ hai.

Nhưng hình như sau những gầy dựng, những thành công thì có một thiểu số người tỵ nạn bắt đầu có biểu hiện “mau quên”, hay cố tình quên đi những đau thương, mất mát mà thân nhân mình hoặc đôi khi ngay chính bản thân mình đã từng trải qua trước đây. Khách quan mà nói, không ít kẻ trong số này đã bắt đầu có những “bước chân âm thầm” trong vài năm vừa qua. Khi có dịp những người này vẫn tuyên bố kiểu đại loại như: “Việt Nam bây giờ đã đổi thay rồi”, hoặc là “VC bây giờ không còn là VC ngày xưa nữa” vv và vv … Âu, đó cũng là một cách nói để cố biện minh cho việc làm của mình.

Tôi có một người bạn, vợ anh ta là người xứ Quảng. Tôi được biết là vào tháng 3/1975, sau khi chiếm được tỉnh Quảng Ngãi thì cộng quân đã bắt tập trung lại tất cả những quân nhân công chức của miền Nam không đi di tản kịp ở chung quanh khu vực gia đình cô ta đang sinh sống. Cha của cô ta nguyên là một nhân viên cảnh sát chuyên trách về việc cấp phát thẻ căn cước, cũng bị bắt và tập trung lại. Ngay sau đó, bọn VC nằm vùng địa phương lùa những người này ra pháp trường. Đó là một bãi đất trống gần nhà cô này. Từng người một, tay bị trói quặt ra đằng sau, rồi bị chúng khai tử bằng báng súng, một viên đạn vào đầu hay bằng một nhát cuốc. Riêng cha của cô được “ân huệ” hơn những người khác, đã nhận lấy một viên đạn vào đầu. Xác của các nạn nhân được chôn vội vàng xuống hố được đào sơ sài dưới vài ba tấc đất mà ai ai cũng có thể dễ dàng nhận ra những nấm mồ cạn này. Thế nhưng bọn chúng không cho bất cứ ai kể cả thân nhân của người chết đến nhận xác của các nạn nhân. Phải đợi đến hơn 3 tháng sau khi chiếm được hoàn toàn miền Nam, chúng mới cho phép thân nhân đến cải táng đem xác về chôn cất.

Riêng mẹ của cô ta, sau khi nghe lời thuật lại của những người bị bắt đi đào hố chôn, đã gần như điên loạn hàng tháng trời sau đó. Một người mẹ trẻ mới hơn 30 tuổi, với đàn con nheo nhóc, đứa lớn nhất mới 10 tuổi, đứa bé nhất là cô ta chỉ mới hơn 1 tuổi, đã bị quẳng ra khỏi khu gia binh, và vài tháng sau đó đã được nhà nước cách mạng “ưu ái” đưa đi vùng kinh tế mới, một nơi mà chỉ có rừng sâu nước độc, rắn rết và bệnh tật.

Mấy năm sau, trong một dịp may, người mẹ này đã gởi được cô con gái út và hai đứa con trai theo người em ruột của mình đi vượt biên. Đây là chuyến vượt biên định mệnh đã cướp đi tính mạng của người cậu ruột và một người anh của cô gái này, và đó cũng là cái giá phải trả cho tự do của cô con gái út này và người con trai còn lại. Và cũng từ đây mà hai anh em đã bảo lãnh được bà mẹ và các anh em còn lại đến Úc vào đầu thập niên 90s.

Tuần rồi, trong một bữa giỗ người cha của cô ta, đã bị VC giết như đã thuật ở trên, tôi được mời đến dự và đã bắt gặp đôi mắt của người mẹ rơi lệ khi bà thắp nén hương tưởng nhớ chồng. Cũng trong bữa cơm này, khi mà nhiều người trong dòng họ ôn lại câu chuyện của những người quá cố bị VC thảm sát hơn 30 năm về trước tại Quảng Ngãi, thì cô con gái đã thốt lên một câu mà tôi cho là nghe không lọt tai khi cô ấy nói rằng “VC bây giờ văn minh lắm rồi, khác với khi xưa nhiều!”. Quay sang người mẹ cô ấy, tôi chợt thấy bà quay mặt đi chỗ khác, nhưng tôi cũng kịp thấy bà lại bật khóc một lần nữa. Vâng, bà đã khóc, có lẽ khóc vì đứa con gái mình đã nói một cách vô cùng ngây ngô thiếu suy nghĩ.

Khi nói “VC bây giờ văn minh lắm rồi, khác với khi xưa nhiều”, có lẽ cô ta cho rằng VC của thế kỷ 21 không còn giết người man rợ kiểu cán cuốc đập đầu, hay một viên đạn vào ót nữa chăng? Hay là bọn chúng giờ đây văn minh nhiều rồi, biết dụ khị “Việt kiều” bằng nghị quyết 36? Nói đến đây tôi lại liên tưởng đến câu chuyện câu cá, người ta thường phải làm mồi nhử cá, sử dụng nhiều cách khác nhau để lôi kéo đàn cá tập trung vào một chỗ để có thể dễ dàng bắt chúng. Con cá không phân biệt được khoảng cách thời gian và không phân biệt được đâu là thật đâu là giả vì có bộ óc bé tí, nên mới có chuyện chúng “mau quên” trong vòng 30 giây và trở lại cắn mồi tiếp tục. Nhưng lẽ nào con người, một động vật cao cấp nhất cũng “mau quên” đến độ vội vã “hồ hởi, phấn khởi” trước những “đổi mới” có tính toán của CSVN? Hay là việc thay đổi nhóm chữ đầy tính nhục mạ phỉ báng ngày xưa “bọn đĩ điếm rác rưởi trôi dạt về bên kia bờ đại dương” bằng mỹ từ “khúc ruột ngàn dặm” hôm nay đã làm các “khúc ruột” này mềm lòng mà quên đi những vết thương lòng vẫn còn đang rỉ máu?. Có chăng đó chỉ là những miếng mồi trước những lời lẽ chiêu dụ ngọt ngào để kêu gọi “Việt kiều yêu nước” tuôn tiền gởi bạc về giúp củng cố chế độ độc tài toàn trị của CSVN.

Có lẽ nghị quyết 36 cũng là một miếng mồi khá hấp dẫn những con ... người “mau quên” đến độ quá hăng hái lăng xăng rồi quên béng đi những đau thương thể xác lẫn tinh thần mà thậm chí chính bản thân mình cũng đã từng gánh chịu. Vết đau của cá nhân thì chỉ một, nhưng vết đau của cả dân tộc thì gấp hàng triệu triệu lần.

“Mau quên” vì đãng trí hay kém trí nhớ thì không phải là cái tội, nhưng “mau quên” chỉ vì đặc quyền đặc lợi cá nhân thì rất đáng bị phỉ nhổ. Nếu Trời Phật có mắt thì có lẽ những kẻ này rất xứng đáng cho đầu thai làm loài cá trong kiếp sau.

Lê Minh Úc (Sydney - 18/08/2007)

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

VOVINAM KHÔNG LÀM CHÍNH TRỊ

Lúc sanh tiền, Võ Sư Nguyễn Lộc đã minh xác với các môn đệ, VOVINAM KHÔNG LÀM CHÍNH TRỊ, điều đó rất đúng, vì khi làm chính trị thì con người không thể làm chủ bản thân mình, nay nói thế này, mai làm thế khác, miễn sao đạt được những lợi ích thiết thực cho những người mình đại diện dù là thiểu hay đa số. Vovinam chỉ là một đoàn thể võ thuật, hoạt động có vươn ra bên ngoài thì chỉ là những hoạt động nặng về văn hóa, góp phần bảo vệ những di sản văn hóa mà Ông Bà Tổ Tiên truyền lại từ ngàn năm trước. Vovinam chỉ phục vụ cho nhu cầu của dân tộc và sau khi hoàn thành nhiệm vụ của mình thì không được tham chính với danh nghĩa Vovinam mà lại trở về với công việc huấn luyện, tiếp tục đào tạo những con người mạnh khoẻ với một tinh thần minh mẫn cho đất nước, cho tổ quốc.

Từ những ngày đầu chuẩn bị cho toàn quốc, toàn dân kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Võ sư Sáng Tổ đã đích thân và cử các môn đồ huấn luyện võ thuật cho các đội Quyết tử quân, Tự vệ thành Hà nội và các đơn vị kháng chiến khác, sau đó nhiều môn sinh đã đền nợ nước rất oanh liệt, như vậy thì võ sư Sáng Tổ làm chính trị hay chỉ là thực hành nghĩa vụ của người công dân, của một đoàn thể đối với Quốc gia, Dân tộc?

Sau ngày võ sư Sáng Tổ và các môn đồ TÂM HUYẾT di cư vào nam, Vovinam đã phát triển rộng khắp miền Nam Việt Nam với hàng triệu môn sinh, rồi phong trào Viêt Võ Ðạo hóa học đường, rồi huấn luyện cho Trường Hiến binh Thủ Đức, huấn luyện cho Cảnh Sát Quốc Gia, huấn luyện cho Quân Đội VNCH tại Quân Đoàn IV, huấn luyện cho Cán Bộ Xây dựng Nông thôn (lực lượng đáng gờm đối đầu với du kích Việt cộng thời bấy giờ), chủ trương về nguồn như các buổi lễ giỗ Quốc Tổ và các Văn Thần Võ Thánh khác. Như vậy Vovinam làm chính trị hay chỉ làm công cuộc phát triển, hoạt động văn hóa theo chiều hướng độc lập của mình.

Ở trong nước hiện nay, đảng viên tham nhũng, ăn chơi sa đọa mà vua chúa thời phong kiến còn thua xa, áp bức bóc lột dân lành cho đến thực dân Pháp hoặc quân Tàu đô hộ dân tộc ta hàng ngàn năm cũng phải ngả mũ chào thua (vì dù chúng có tàn ác đến cách mấy thì dân tộc ta cũng dễ thở hơn bây giờ, vì nếu không dễ thở hơn thì với một ngàn năm bị cai trị tàn ác như bây giờ thì nước Việt Nam thân yêu của chúng ta đã thành quận huyện của Trung Quốc và nếu việc đó xảy ra thì làm gì có chuyện Đảng cộng sản tại Việt nam được thành lập để mang lại sự khổ nhục cho dân tộc như bây giờ). Như vậy, nếu (giả sử) Vovinam lên tiếng về các vấn nạn này để góp phần cho dân tộc được tự do thoải mái hơn thì có phải là làm chính trị hay không?

Trong một đất nước với 80% dân số là nông dân, nhưng họ lại bị tước đoạt ruộng vườn bởi những quam tham cường hào ác bá tân thời là Đảng cộng sản tại Việt Nam. Như vậy, nếu (giả sử) Vovinam tranh đấu để góp phần lấy ruộng vườn trả lại cho những người nông dân chân lấm tay bùn để họ có phương tiện nuôi sống bản thân, gia đình của họ thoát khỏi cảnh cơ cực hiện nay, thì Vovinam có làm chính trị hay không?

Tôn giáo là chỗ dựa của con người trong lúc thống khổ, tưởng tượng một xã hội không có tôn giáo thì con người sẽ sống sa đọa như thế nào? Vậy với tình trạng các tôn giáo bị đàn áp hiện nay ở trong nước, nếu (giả sử) Vovinam lên tiếng thì có phải là làm chính trị hay không?

Xin minh xác một điều,

Làm chính trị có nghĩa hoạt động của người nào đó phục vụ cho một số người nào đó trong một đảng phái chính trị, phải theo đường lối và kỷ luật do đảng mình đề ra, sau khi thành công thì sẽ tham chính trong chính quyền và vẫn phải phục vụ quyền lợi đảng của mình. Đấu tranh phục vụ quyền lợi của Dân tộc Tổ quốc, sau khi thành công thì không tham chính trong chính quyền rất khác xa với sự minh xác đầu tiên.

Nên chăng, mỗi môn sinh thấu hiểu và hành xử như chúng ta đã học từ gương Thầy Sáng Tổ, mong rằng luận điệu rẻ tiền Vovinam không làm chính trị từ những kẻ đón gió trở cờ sẽ không làm cho những người môn sinh chân chính chùn bước. Quý đồng môn đừng sống trong tháp ngà ảo của mình nữa mà hãy hòa vào vào cuộc đấu tranh chung của cả dân tộc cho TỰ DO CÔNG BẰNG và BÁC ÁI.

Mọi ý kiến đóng góp xin quý vị gởi về
PO BOX 78 NOBLE PARK , VIC 3174, AUSTRALIA
hoặc liên lạc qua điện thoại 0412 881 653, nếu trong nước Úc
hoặc +61 4... từ ngoài nước Úc

Xin cám ơn quý vị đã lắng nghe.
Lê Thành Nhân
Liên đoàn trưởng Vovinam Việt võ đạo tại Úc Châu

-------------------------------------------------------

Bạn đọc viết

Cám ơn tác giả đã đưa lên một sự kiện mà chúng ta thường nghe mỗi khi có một cá nhân hay đoàn thể nào đó lên tiếng thanh minh "chúng tôi không làm chính trị", bởi họ nghĩ rằng đấu tranh đòi hỏi tự do nhân quyền cho một đất nước nằm dưới sự cai trị độc tài là có tham vọng sau này khi thành công sẽ tham gia vào guồng máy chính quyền. Họ có biết đâu rằng với một đất nước mà họ phải bỏ ra đi thì tranh đấu cho những người còn ở lại có một đời sống tự do, nhân quyền được tôn trọng là bổn phận của tất cả mọi người khi họ nắm trong tay cái căn cước " tị nạn chính trị". Góp phần trong cuộc đấu tranh này nó tuỳ theo khả năng của mỗi người, người có trình độ thì viết bài vạch trần những âm mưu đen tối của CS, dùng tuyền thông phổ biến rộng rãi về những quyền lợi của người dân phải được hưởng dưới chế độ tự do, nói chung là hướng dẫn dư luận trước những âm mưu đen tối của CS. Khi đã hiểu rõ được rồi thì người này lại phổ biến cho những người khác. Lấy một thí dụ cụ thể, người Việt hải ngoại khi về tnước có thể dùng kiến thức của mình, mang những phúc lợi mà một chính quyền tự hào "của dân, do dân và vì dân" bắt buộc phải lo cho dân, có thế người trong nước mới hiểu được để đòi lại quyền lợi của mình đã bị trói buộc tước mất hơn nửa thế kỹ nay!Muốn thế vai trò truyền thông phải được xử dụng đứng đắn. CSVN lợi dụng sự tự do ở hải ngoại mua chuộc các cơ sở truyền thông, len lỏi vào các hội đoàn, các tôn giáo, các trung tâm dạy Viêt ngữ, dạy võ thuật...nên mới có những thanh minh " hội ái hữu không làm chính trị,", "Tôn giáo không làm chính trị", văn hoá không làm chính trị". "võ thuật không làm chính trị"..vv...nhưng lại.chỉ làm "từ thiện" Tờ Việt Weekly ca tụng việc làm từ thiện của bà bác sĩ Quỳnh Kiều, người đã về VN chữa bệnh cho người nghèo khổ..., mới đây bà bác sĩ này dã dẫn một phái đoàn gồm thành phần sinh viên học sinh hải ngoại về " kết nghĩa " với tuổi trẻ trong nước đúng theo lời của Nguyễn Đình Bin khi tới Mỹ đã lên tiếng kêu gọi tuổi trẻ về thăm lại quê hương, phụ huynh chỉ lo tiền vé máy bay còn ăn ở đi tham quan hoàn toàn do nhà nước đài thọ.Vậy việc làm của vị bác sĩ này có hoàn toàn từ thiện , không dính dáng gì đến chính trị hay không? Chưa hết, chồng bà là Bác sĩ Kiều công Chẩn, mở võ đường dạy võ ở VN, bảo trợ cho các võ sư bên này mang học trò mình về thi đấu tại VN rồi cũng làm từ thiện... Có thể những người võ sư này chỉ bị móc nối để làm từ thiện mà không hiểu âm mưu nằm trong , nghề chính của hai vợ chồng bác sĩ này là "buôn bán đồ cổ". Muốn dễ dàng trong công việc về VN khai thác đồ cổ cả hai vợ chồng phải theo những điều kiện nhà cầm quyền CS đưa ra trong NQ 36 là tạo cơ hội giới trẻ về VN để phục vụ đất nước.Nói thế mà nào CSVN có bao giờ cho người ngoài đảng tham gia xây dựngđất nước mà chỉ lợi dụng tuổi trẻ để họ làm công cụ tuyên truyền cũng cố chế độ mà thôi.
Ngày xưa người ta theo Việt Minh vì tấm lòng thiết tha chống ngoại xâm đô hộ, sau này biết bị lừa người có lương tâm đã ra khỏi đảng , lên tiếng trước khi nhắm mắt. Ngày nay qua bao cảnh đau lòng của đất nước dưới bàn tay của CS, họ phải chạy trốn chủ nghĩa này bằng mọi cách .Thế mà một số nay lại chui đầu về đầu quân cho CS thì rõ ràng họ theo CS chỉ vì TIỀN!!! Ôi Liêm sĩ mi ở đâu???

-------

Post by: Le Thi Hao

Chính trị!Phải chăng là thuật sống vương đạo,gíúp cho con người biết lựa chọn lối hành xử,để có thể trở thành bậc chính nhân quân tử:Quên mình và giúp đời?!Võ đạo là một phương tiện giúp cho các bậc chính nhân tu thân,chuẩn bị cho bước đường hành hiệp.Một khi dã chọn cho mình một lối sống và trưởng thành với võ đạo,võ sinh đã chọn,và phân biệt CHÍNH,TÀ,có nghĩa là vô tình hay hữu ý đã trang bị cho mình một thái độ,một lựa chọn Chính Trị.Người VN khi lưu lạc ở nước ngoài,hoặc từ động cơ Tỵ Nạn chính trị,hoặc từ mưu cầu kinh tế,cũng đều phát xuất từ một động lực tìm chốn an bình,xây dựng tương lai,họđều là nạn nhân của CSVN trong chính sách cai trị độc tài,bá đạo:
Thu gom tài sản của những người vượt biên,giải tỏa áp lưc khó khăn kinh tế,dùng người tỵ nạn như là một phương tiện hữu hiêu áp lực cộng đồng thế giới phụ gíup viện trợ,xuất cảng những mầm mống có thể là tai họa cho chế độ ,xuất cảng nhũng thành viên tội phạm thuộc xã hội đen ,băng đảng,mục tiêu cuối cùng là thành lập những tổ điệp báo hải ngoại.
CSVN,trong nhu cầu cũng cố sức mạnh thống trị,ngăn cản sức lớn mạnh của các Cộng Đồng NVHN,đã ra sức đánh phá,chia rẽ,gài người vào những vị trí lãnh đạo để thao túng và kiểm soát,nếu không có một thái độ chính trị,một hướng nhìn đúng đắn,và quyết tâm của NVHN,liệu chúng ta có thể bảo vệ mái ấm Cộng Đồng ỏ quê hương thứ 2 hay không? Hỏi tức đã trả lời.

-----------------------------

Post by: Chuẩn Uy Già

Thành tâm góp ý bài viế tvới quí vị,

Nhận định sắc bén, sát thực tế lịch sử ;
Phân tích chính xác;
Quan điểm tiến bộ, cập nhật trào lưu tư tưởng của nhân loại văn minh
Văn phong điềm đạm, thanh nhã.
Bài viết thật hay , đúng lúc, cần thiết cho tuổi trẻ.
Kính mong các vị võ sư VN các nơi khác trên thế giới đồng thanh lên tiếng .
Trân trọng kính mong các võ sư, huynh trửong nghiên cứu dành cho vỏ sinh các buổi thảo luận vấn đề thật quan trọng cho các em mà võ sư Lê Thành Nhân đã nêu lên .
Ngày nay nhân loại đã khẵng định bằng NQ1481 rằng : CỌNG SÃN LÀ TỘI ÁC." Xin qui'' vị võ sư quyết tâm cứu giúp cho các võ sinh mình tránh khỏi bẫy lừong gạt của CSVN để tiếp tay cho tội ác . Ngựoc lại xây dựng cho các em thành hào kiệt như Les trois Mousquetaires để "DIỆT ÁC BẢO THIỆN "
Xin cám ơn và vô cùng ngữơng mộ Võ Sư Lê Thành Nhân cùng chúc Võ sư đưa lý tửong mình về tận trong nứơc và khắp tuổi trẻ VN khắp thế giới .

---

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Đô đốc Bùi Thị Xuân, nỗi ngậm ngùi bên cửa Nhật Lệ
Image
-“Nếu có một nữ tướng như ta nữa thì cửa Nhật Lệ không để lạnh. Nhà ngươi khó mà đặt chân được tới đất Bắc hà…”
Triều vua Quang Trung có vài nữ tướng, trong số đó nổi bật hơn cả là Đô đốc Bùi Thị Xuân (Hình:Tượng nữ tướng Bùi Thị Xuân tại Bảo tàng Quang Trung)
I.Tiểu sử: Bùi Thị Xuân (?- 1802)

Quê ở làng Phú Xuân, xã Bình Phú huyện Bình Khê, nay là huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.Chưa rõ tên cha mẹ, chỉ biết bà là cháu thái sư Bùi Đắc Tuyên.

Bà là người phụ nữ xinh đẹp, nhờ sớm học võ với đô thống Ngô Mạnh nên bà rất giỏi võ nghệ, nhất là môn song kiếm. Chuyện kể rằng, trên đường đến Tây Sơn tụ nghĩa Trần Quang Diệu đã đánh nhau với một con hổ lớn, hung dữ. Nhân đi qua đấy, bà Xuân đã rút kiếm xông vào cứu trợ. Quang Diệu bị hổ vồ trọng thương nên phải theo bà về nhà chữa trị.

Sau hai người thành gia thất rồi cùng nhau về tòng quân dưới ngọn cờ Tây Sơn ở chiến khu Phú Lạc.Nhờ vào tài nghệ về chiến thuật, binh bị cộng với lòng dũng cảm; vợ chồng bà nhanh chóng trở thành những tướng lĩnh trụ cột, góp công lớn trong công cuộc đánh đuổi quân Mãn Thanh vào đầu xuân Kỷ dậu 1789 và so tranh quyết liệt với quân Nguyễn Ánh hơn 10 năm …

Người ta còn kể, khi đến với Nguyễn Huệ, người con gái trẻ đẹp làng Xuân Hòa này không chỉ tòng quân một mình mà còn dẫn theo một đội nữ binh do mình đào tạo và một đoàn voi rừng đã được bà rèn luyện thuần thục.Trước khi gia nhập quân Tây Sơn, bà đã tự phong là “Tây Sơn nữ tướng”. Sau này bà được hội kiến với Nguyễn Huệ, Huệ cũng thừa nhận bà rất xứng đáng với danh xưng đó; và vương còn ban tặng thêm bốn chữ “Cân quắc anh hùng”.

Giữa lúc Tây Sơn đang rất thành công với các hoạt động chính trị, quân sự, ngoại giao và phát triển kinh tế thì đột ngột vào ngày 29/7/1792, Quang Trung (Nguyễn Huệ) mất, để lại nhiều thương tiếc.

Cũng từ đây triều đại Tây Sơn bắt đầu suy yếu do vua Cảnh Thịnh ( Quang Toản) còn nhỏ, bất tài nên đã không giữ được việc triều chính, bị họ ngoại chuyên quyền, dẫn đầu số đó là cậu họ Thái sư Bùi Đắc Tuyên, làm cho các đại thần kết bè phái, quay sang giết hại lẫn nhau dẫn đến nội bộ lục đục, triều chính suy vi, khiến lòng dân vốn đã sống quá nhiều năm trong cảnh máu lửa càng thêm oán ghét cảnh phân tranh, loạn lạc...Và đây thật sự là một cơ hội vàng cho đối phương.

Vì vậy, tức thì Nguyễn Ánh xua quân chiếm lại Quy Nhơn vào năm 1799. Bùi Thị Xuân cùng chồng một mặt tham gia củng cố triều chính, một mặt chỉ huy quân sĩ giữ lũy Trấn Ninh, chống lại quân Nguyễn.Tuy nhiên trước sức tấn công mạnh mẽ của Nguyễn vương, các thành luỹ của Tây Sơn nhanh chóng bị mất. Bà Xuân cùng chồng con bị quân Nguyễn bắt được ở huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An .

Khi nghe bà bị bắt, Nguyễn Ánh sai người đem đến trước mặt hỏi giọng đắc chí: Ta và Nguyễn Huệ ai hơn? Bà trả lời: Chúa công ta; tay kiếm tay cờ mà làm nên sự nghiệp. Trong khi nhà người đi cầu viện ngoại bang, hết Xiêm đến Tàu làm tan nát cả sơn hà, cùng đều bị chúa công ta đánh cho không còn manh giáp. Đem so với Chúa công ta, nhà ngươi chẳng qua là ao trời nước vũng. Ánh gằn giọng: Người có tài sao không giữ nổi ngai vàng cho Cảnh Thịnh? Bà đáp: Nếu có một nữ tướng như ta nữa thì cửa Nhật Lệ không để lạnh. Nhà ngươi khó mà đặt chân được tới đất Bắc hà…

Ngày 6 tháng 11 năm Nhâm tuất (20-11-1802), vua tôi nhà Tây Sơn trong đó có Bùi Thị Xuân cùng chồng con bị đưa ra pháp trường tại Phú Xuân.Chồng bà bị xử tội lột da, còn bà cùng con gái độc nhất 15 tuổi tên Trần Bích Xuân bị xử voi dày (bãi chém An Hoà, ngoại ô Huế,ở đó khoảng 200 tướng lĩnh của nhà Tây Sơn đã hiên ngang ra pháp trường )

Theo tư liệu của một giáo sĩ phương Tây De La Bissachère viết năm 1807- người có dịp chứng kiến - đã miêu tả buổi hành hình được tóm lược như sau:

“Đứa con gái trẻ của bà ( Bùi Thị Xuân) bị lột hết y phục. Một thớt voi từ từ tiến đến .Cô gái biến sắc rồi mặt trắng bệch như tờ giấy.Nàng ngoảnh nhìn mẹ, kêu thất thanh. Bà Xuân nghiêm mặt trách : Con phải chết anh dũng để xứng đáng là con của ta !…

Đến lượt bà, nhờ lớp vải ở bên trong quấn kín thân thể, nên tránh khỏi sự lõa lồ. Và bà rất bình thản bước lại trước đầu voi hét một tiếng thật lớn khiến voi giật mình lùi lại. Bọn lính phải vội vàng bắn hỏa pháo,đâm cây nhọn sau đít con vật để nó trở nên hung tợn, chạy bổ tới, giơ vòi quấn lấy bà tung lên trời…Nhưng trái với lệ thường, nó không chà đạp phạm nhân như mọi bận mà bỏ chạy vòng quanh pháp trường, rống lên những tiếng đầy sợ hãi khiến hàng vạn người xem hoảng hốt theo”… (Theo Thiên Nam nhân vật chí, bà bị xử lăng trì, thi hài bị thiêu rụi…)

II.Những tư liệu liên quan :

1/Trận chiến đấu oanh liệt cuối cùng:

Tóm tắt theo Sử sách, bà Bùi Thị Xuân cưỡi voi liều chết đánh lũy Trấn Ninh, nơi Nguyễn Ánh đang cố thủ, từ sáng đến trưa chưa chịu lui. Rồi bà còn giành lấy dùi tự tay thúc trống liên hồi.Lúc bấy giờ Nguyễn vương cùng tướng tá đã hốt hoảng vội chia quân vượt sông Linh Giang đánh bọc hậu hòng mở đường máu thoát thân.Nào ngờ vua Cảnh Thịnh nhát gan thấy quân Nguyễn tràn qua nhiều, tưởng nguy khốn liền cho lui binh.Ngay lúc đó bà cũng nhận được tin Nguyễn Văn Trương phá tan thủy binh của Tây Sơn ở cửa biển Nhật Lệ (Quảng Bình) cướp được hầu hết tàu thuyền và tướng giữ cửa Nguyễn Văn Kiên cũng đã đầu hàng .

Trước tình thế đang thắng thành bại này đội quân của bà bỏ cả vũ khí, đạn dược để chạy …
Đây có thể nói là trận chiến đấu oanh liệt cuối cùng của bà để hòng cứu vãn tình thế.Nhưng ngờ đâu nhà Tây sơn, sau trận này thêm trượt dài trên đà suy vong, không sao gượng lại được nữa…

*Trích thêm tư liệu cùng đề tài trong web vn thu quan :

Bùi Thị Xuân đánh lũy Trấn Ninh, từ sáng đến chiều, máu và mồ hôi ướt đẫm áo giáp…
Trong bài Bùi phu nhân ca của cụ Vân Sơn Nguyễn Trọng Trì có đoạn rằng:

Xuân hàn lãnh khí như tiễn đao
Xuân phong xuy huyết nhiễm chinh bào
Hoàng hôn thành dốc bi già động
Hữu nhân diện tỷ phù dung kiều
Phu cổ trợ chiến Lương Hồng Ngọc
Mộc Lan tòng quân Hoàng Hà Khúc
Thùy ngôn cân quắc bất như nhân ?
Dĩ cổ phương kim tam đinh túc


Nghĩa là:
Khí xuân lạnh như khí lạnh nơi lưỡi dao bén thoát ra.
Gió xuân thổi máu bay thẩm đẩm tấm chinh bào
Nơi góc thành tiếng tù và lay động bóng hoàng hôn
Có người dung nhan kiều diễm như đóa hoa phù dung
Thật chẳng khác Lương Hồng Ngọc đánh trống trợ chiến cho ba quân.
Và nàng Mộc Lan xông trận nơi sông Hoàng Hà
Ai bảo khăn yếm không bằng người ?
Từ xưa đến nay vững vàng thế ba chân vạc

Ðây là tác giả tả BTX lúc đánh Ðâu Mâu (Quảng Bình).Thành lũy sắp bị hạ được thì có tin thủy quân Nhật Lệ bị quân nhà Nguyễn đánh tan. Nguyễn Quang Toản hoảng hốt ra lệnh lui binh. Không sao cản được, Bùi nữ tướng đành phải mở đường máu để lui binh…

Người đời sau cũng có́ thơ vịnh bà:
Vận nước đang xoay chuyển
Quần thoa cũng vẫy vùng
Liều thân lo cứu chúa
Công trận quyết thay chồng.
Khảng khái khi lâm nạn!
Kiên trinh lúc khốn cùng
Ngàn thu gương nữ liệt
Gương sáng hãy soi chung
:

Các gia đình họ Bùi hiện còn ở làng này đều là phái nhánh, còn phái chánh đã bị Gia Long giết sạch.

Bà sanh ở ấp Xuân hòa, nay gọi là Phú Xuân. Lớn lên, bà đi học võ nghệ với một võ sư người việt ở Thuần Truyền. Lò võ đó nổi tiếng từ thời Lê đến nay. Môn sinh rất đông, cả nam lẫn nữ và bà làm trưởng môn. Ít lâu sau ngày Tây Sơn khởi nghĩa, bà dẫn cả đoàn võ sinh đến tòng quân, theo Nguyễn Huệ đánh Đông dẹp Bắc, sự nghiệp lừng lẫy. Ở bên Phú An nay còn một đám đất gọi là Trường Võ, đó là nơi bà mở trường dạy võ nghệ cho các nghĩa sĩ trong quân đội Tây Sơn

Ngoài tài năng võ nghệ, cầm binh, huấn luyện voi rừng (nghe đâu dãy gò Dinh, sông Côn là bãi tập voi của bà) …bà còn giỏi cả việc khai hoang, làm thủy lợi như biến lòng một con suối khô, chỉ toàn là cát đá thành vùng đất màu mỡ “nhất đẳng điền” tên là ruộng Trại, rộng hơn hai chục héc-ta để lấy lúa nuôi quân…

…Chúng tôi đi thêm một quãng đường làng, rẽ vào một xóm nhỏ gồm ba bốn túp nhà xúm xít trên một khu đất chật chội, dừng lại trước một căn nhà hoang vắng .

…Đó là một căn nhà nhỏ, quá nhỏ đến không ngờ, nhà rường ba gian nhưng tất cả chỉ rộng độ 5 mét, nên 2 gian bên bị ép lại thành hai cái chái chật chội chỉ vừa đủ đặt một chiếc chõng đơn cho một người nằm…Đồ đạc không còn lại gì, ngoài một chiếc tủ gỗ mộc, phía dưới có những ngăn kéo, hình như xưa dùng để đựng quầm áo.Tất cả chỉ có thế, từ thế kỷ mười tám cho đến bây giờ !…

2/ Trần Quang Diệu ( 1746–1802) .

Danh tướng dưới triều Tây Sơn, người làng Kim Giao, xã Liên Chiểu (nay thuộc xã Phổ Thuận, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi) Nhưng cũng có ý kiến khác cho rằng quê quán của ông ở xã Ân Tín, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định…(sau đời Trần Quang Diệu, họ Trần dời ra làng Tú Sơn, nay thuộc xã Đức Lân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi)

Ông tham gia phong trào Tây Sơn từ đầu .Năm 1789,ông được Nguyễn Huệ cử làm Đốc trấn Nghệ An, xây dựng thành Phượng Hoàng trung đô. Những năm 1790 - 91,ông chỉ huy các cuộc đánh dẹp lực lượng chống đối do Lê Duy Chỉ cầm đầu. Năm 1792, Quang Trung mất, ông giữ chức Thái phó, là một trong "Tứ trụ triều đình để giúp vua Cảnh Thịnh (Nguyễn Quang Toản). Tuy vua mới hay nghe lời gièm pha nhưng vợ chồng ông vẫn tận tình giúp nhà Tây Sơn.Có thể nói thời bấy giờ, ông là chủ tướng quan trọng nhất trong việc đánh dẹp thế lực Nguyễn Ánh.

Năm 1800–1801, ông vây kinh thành Quy Nhơn cũ của vua Thái Đức (Nguyễn Nhạc) vừa mới bị quân Nguyễn Ánh đánh chiếm. Trận vây thành rồi bị cầm chân kéo dài gần một năm ở đây, tạo thời cơ tốt cho Nguyễn Ánh đánh chiếm Phú Xuân rồi bắt sống Quang Toản.( tướng thủ thành của nhà Nguyễn là Võ Tánh tự vẫn chứ không giao thành ) Lực lượng của Nguyễn Ánh sau đó phản công ngày càng ác liệt .Cuối cùng Quang Diệu và vợ con đều bị bắt sống và bị giết

Những bậc cao niên nhất trong tộc đã kể rõ rằng, sau khi ông chịu án: bị xử lột da sống, có hai người hầu thân cận đã lén đánh cắp được chỉ một mảnh áo nhỏ dính máu của ông để mang về táng trong “mộ gió”… ( chỉ nghĩ đến thôi, tôi thật sự rùng mình vì phương pháp giết người này.)

3.Vua Quang Toản(1713-1802) bị bắt:

Ngày 18, Nguyễn Ánh tiến ra Thăng Long, vua Quang Toản chạy lên phía Bắc, qua Xương Giang (thuộc tỉnh Bắc Giang) ban đêm vào chùa Thọ Xương xin ngủ trọ, bị thôn dân vây bắt, quân lính tùy tùng đều tan rã cả.Em là Nguyễn Quang Thùy và vợ chồng đô đốc Tú treo cổ tự tử..

***
Cụ Nguyễn Đức Đài, ở thôn Long Trì, xã Tân An, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang, năm nay đã ngoài 90 tuổi kể:

…Khi các cụ nhà tôi bắt được, cất giấu vua ngoài chuông Rậm, chuông Rí( hồ nước đầy cỏ năn cỏ lác giữa đồng) Họ dể ngài nằm chìm mình dưới nước, chỉ thò mũi lên để thở, trên mặt nước có ngụy trang bằng một chiếc lá sen. Rồi họ nấu cơm mang ra mời, vua bảo: trẫm không ăn đâu, trẫm hết lộc rồi, chẳng sống làm gì nữa…
Anh Nguyễn Đức Đoan, con cụ Đài, tuổi đã gần 50, dựa vào gia phả viết bằng chữ Hán đã có từ 300 trước, kể tiếp:

…Không ngờ có kẻ chỉ điểm cho quân lính, voi ngựa kéo về lùng sục bắt bớ, nhiều người dân tham vàng bỏ ngãi đã bắt nhà vua, đóng gông, bỏ vào cũi sơn son đem nộp cho quan quân lĩnh thưởng. Hai cụ nhà tôi dò la mới biết vợ chồng tên phường chèo làm chỉ điểm. Họ bèn đem anh chồng ra giết, riêng con vợ của nó quá xinh nên một ông gạ ép làm vợ; không ngờ chị ta cũng là người tiết nghĩa nên bế con, lao đầu xuống mộ chồng tự vẫn…

Người trong dòng tộc đời sau kể vậy, nhưng theo nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Phong, dẫn trong sách Nhìn ngược từ nóc nhà Đông Dương của Đỗ Doãn Hoàng, tr 349 ghi:

Chúng tôi đã nghiên cứu từ lâu, dòng họ Nguyễn Đức có 18 đời Quận công, có 2 người Quận công sau cùng được phong nhờ vào thành tích “bắt vua” mà có…

***

Vài tháng sau, Gia Long về Phú Xuân, sửa lễ cáo miếu dâng tù. Quang Toản lúc bấy giờ mới 19 tuổi, cùng những người con khác của anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ đều bị Gia Long sai dùng cực hình 5 voi xé xác.

Còn Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc cũng bị trả thù rất dã man:
Mồ mả bị khai quật, hài cốt bị giã nát vứt đi; đầu lâu của Nhạc, Huệ, Toản và mộc chủ của vợ chồng Nguyễn Huệ đều bị giam ở nhà Đồ Ngoại, sau lại đưa vào cấm cố vĩnh viễn trong ngục thất
Triều Tây Sơn từ đây chấm dứt.

4.Tương truyền Võ Văn Dũng và Bùi Thị Xuân có chung một nguồn gốc.

Thời chúa Nguyễn (1533- 1775), hai anh em Lê Kim Bảng và Lê Kim Bôi gốc người Nghệ An vào lập nghiệp ở vùng Phú Phong. Để tránh sự chú ý của chính quyền về gốc tích của mình, họ hẹn nhau khi sanh con, cải sang họ mẹ. Sau Lê Kim Bảng lấy con gái họ Bùi ở Phú Phong, sinh hạ Bùi Thị Xuân, Bùi Thị Thu và Bùi Thị Nhị, không có con trai. Lê Kim Bôi làm rể nhà họ Võ ở Phú Mỹ (?) sinh được con trai, Võ Văn Dũng là con út . Vậy Bùi Thị Xuân và Võ Văn Dũng là chị em thúc bá.

Một thuyết khác cho rằng nữ tướng Bùi Thị Xuân là ái nữ của Bùi Đắc Chí và gọi Bùi Đắc Tuyên bằng chú, quê quán ở ấp Xuân Hòa khách hộ, thôn An Hòa, thuộc Thời Đôn, huyện Tuy Viễn. Sinh trưởng trong một gia đình khá giả, bà được theo đòi nghiên bút, lại khéo tay nổi tiếng viết chữ đẹp và công dung ngôn hạnh vẹn toàn. Tuy vậy, địa thế và phong thổ ảnh hưởng rất lớn đến con người, quê hương bà chỉ có phía tây liền với Phú Phong, còn phía đông lấy suối làm ranh giới, nam giáp núi, bắc giáp sông; bà được hun đúc bởi đất hiểm nên không theo nếp nữ nhi thường tình mà thích võ hơn văn…
(Theo tài liệu trong Dactrung.net)

5.Trấn Ninh, Ðâu Mâu, Nhật Lệ:

Đều thuộc Quảng Bình. Ðó là ba căn cứ quân sự rất trọng yếu ở địa đầu trấn Thuận Hóa.
-Trấn Ninh ở địa phận xã Phú Ninh, huyện Phong Lộc. Năm Nhâm Dần (1662) Theo lời tâu của Nguyễn Hữu Dật và Nguyễn Hữu Tấn, Chúa Hiền vương cho đắp lũy Trấn Ninh và đắp lũy Sa Phụ để nương tựa nhau để chống ngăn giặc.Họ Trịnh đem quân vào đánh Thuận Hóa, đánh mấy tháng không qua khỏi hệ thống lũy này, phải rút quân trở về Bắc.
-Phá Nhật Lệ ở đông bắc huyện Phong Lộc, cũng thuộc xã Phú Ninh. Chu vi ước 5 dặm. Phía đông có gò cát bao la, đồi cao xanh rậm, biển cả chạy quanh ở đông bắc, các núi triều cũng ở tây nam sông Nhật Lệ, tức sông Ðồng Hới, chạy ra Phá.
-Núi Ðâu Mâu ở phía tây huyện Phong Lộc, tọa lạc xã Lệ Kỳ. Núi gò trùng điệp, cây cối sầm uất. Ðỉnh cao nhọn hình như mão đâu mâu, khí thế hùng vĩ. Chân núi gối sông Nhật Lệ, lũy do chúa Nguyễn đắp để ngăn quân Trịnh, chạy dài dưới chân núi…

III.Lời kết :

Thật lòng nếu không đọc được bài bút ký của Hoàng Phủ vừa nêu trên, chắc tôi không có ý định tìm hiểu thêm về Bùi Thị Xuân và soạn lại đề tài đã được nhiều người luận bàn rồi. Nhưng chẳng hiều sao khi đọc trong sách sử đến đoạn Nguyễn Ánh dụ hàng vợ chồng Bùi Thị Xuân nhiều lần mà không được, khiến tôi nảy ra băn khoăn : Vua Nguyễn có “màu mè” không khi tánh vua vốn là người hay sợ, hay nghi kỵ người tài, nhất là vợ chồng bà đã từng là kẻ khác phía và đã bao lần khiến quan quân nhà Nguyễn phải điêu đứng ?

Và ta nên hiểu chuyện Nguyễn Ánh dành cho gia đình họ những hình phạt quá thảm khốc như thế nào đây? Bởi lẽ nếu nhà vua sẵn tấm lòng khoan thứ; thật tâm mến mộ hiền tài, nhân cách ấy thì dù không chiêu hàng được, theo tôi, vua cũng sẽ lấy cái cớ “Trần Quang Diệu tha chết cho cả bọn tướng sĩ và còn sai người làm lễ liệm táng Võ Tánh & Ngô Tùng Châu tại thành Qui Nhơn vào năm 1801” để dòng tộc họ không bị giết sạch, gia đình họ được chết toàn thây hay chí ít ra cô con gái vô tội vừa vào độ tuổi xuân thì có được một con đường sống…

Và “đó là một căn nhà nhỏ, quá nhỏ đến không ngờ…hai cái chái chật chội chỉ vừa đủ đặt một chiếc chõng đơn cho một người nằm…Đồ đạc không còn lại gì, ngoài một chiếc tủ gỗ mộc…”.Những câu văn giản dị này sao mà có sức gây nhói lòng người . Ngẫm chồng là Thái phó, vợ là Đô đốc, quyền lực nằm trong tay một thời gian dài, ấy vậy mà “nhà cửa, của cải đơn sơ đến không ngờ”, chẵng đáng cho những người hôm nay tìm đọc về bà rồi sống tốt hơn sao ?…

Bùi Thụy Đào Nguyên, soạn

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Đứng núi này, trông núi nọ



Anh Quang hay chê vợ. Anh ước vợ đẹp như chị Thủy, giỏi ngoại giao như chị Liên, đảm đang như chị Hảo, làm ra tiền như chị Mai... Thế là vợ anh lẳng lặng ra đi.

Giống như anh Quang, không ít người "đứng núi này, trông núi nọ", lúc nào cũng chỉ nhìn thấy mặt xấu của bạn đời, mặt tốt của vợ... người khác rồi đem ra so sánh, dằn vặt. Và nhiều khi, hôn nhân tan vỡ chỉ vì lý do đó.

Chuyện của vợ chồng chị Châu - anh Khuê là một ví dụ.

Chị Châu luôn miệng ca cẩm chồng về đủ thứ khuyết điểm. Gay nhất là những khi hai vợ chồng xích mích, chị cứ đem anh ra mà so sánh với anh Tôn hàng xóm. Nào anh Tôn biết giúp vợ trông con, làm bếp, nào anh Tôn ăn nói nhỏ nhẹ, không đi nhậu, không la cà, nào anh Tôn...

Bực mình, anh Khuê gắt lên: “Em yêu tôi hay yêu anh Tôn? Tôi không phải chỗ nào thì em nói tôi sẽ sửa chỗ đó, chứ đừng có đem tôi ra mà so sánh với thằng đàn ông khác”. Nghe vậy, chị càng có cớ... so sánh. “Thấy chưa! Chỉ việc ăn nói thôi, anh cũng không bằng anh Tôn, đụng tới là tự ái một cục, la lối vợ con!”.

Thế là anh Khuê càng điên tiết, càng bê tha hơn cho bõ ghét. Anh nói: “Tôi làm gì cũng không vừa ý cô, vậy xấu cho xấu luôn. Tôi tệ thế, thì thôi, đường ai nấy đi cho cô rảnh". Tưởng chỉ nói thế, ai ngờ, lá đơn ly dị lại có thật. Sau này, khi đã chia tay, anh nhắn với chị: “Chúc em chọn được người hoàn hảo mà em tôn thờ”. Còn anh chẳng bao lâu lại kết hôn với chị My, người “ái mộ” anh nhiều năm qua.

Chị My hay bảo: “Kệ, anh ấy hơi cộc tính nhưng thẳng thắn, can đảm. Việc nhà hơi vụng về, nhưng giỏi ngoại giao, làm được sự nghiệp lớn cho vợ con hãnh diện. Anh ấy có cái hay riêng, tôi chọn là chọn cái hay đó, còn cái dở thì... xí xoá”. Từ ngày sống bên chị My, anh Khuê cảm thấy mình tự tin hẳn, luôn được động viên, khuyến khích, chẳng thế còn tự giác nhìn nhận những cái dở của mình. Chị My cười: “Anh như thế là tốt lắm rồi, đủ cho em thần tượng rồi. Anh mà quá 'siêu' thì bay lên trời mất, chứ đâu còn là người phàm”.

Anh Quang cũng thuộc người đứng núi này trông núi nọ. Lúc nào anh cũng chê vợ. Anh ước chị đẹp như chị Thủy, giỏi ngoại giao như chị Liên, đảm đang như chị Hảo, làm ra tiền như chị Mai... Cứ mỗi khi gặp một ai đó có ưu điểm nổi trội là anh lại thèm, và so sánh. Thế là vợ anh lẳng lặng ra đi.

Đối diện với căn nhà bề bộn, anh mới hối hận. Thì ra vợ anh tuy không quá sắc về một phương diện nào, nhưng về tổng thể lại có nét hay riêng không giải thích nổi. Chị Liên giỏi ngoại ngữ, nhưng hình như giọng của vợ anh mới thật êm đềm, sâu lắng. Chị Hảo nấu ăn rất giỏi, nhưng hình như món canh chua vợ anh nấu mới có hương vị thân quen. Chị Thủy rất đẹp, nhưng hình như cái mũi hếch của vợ anh mới ngộ nghĩnh lạ kỳ...

Càng lúc, người vợ hiện ra trong anh càng rõ nét và tuyệt vời hơn, không có ai so sánh nổi. Anh chạy đi tìm chị, cứ lo nhỡ có “thằng cha nào” nó tôn sùng, ca ngợi vợ xiêu lòng thì chết.

Đa số chúng ta hay quên hạnh phúc trong tầm tay mình, mà luôn so sánh, chờ đợi những thứ của người khác. Có câu “văn mình, vợ người” là thế. Hoặc “cũ người mới ta”. Rốt cuộc, ai cũng có những ưu và khuyết điểm mà kẻ trong cuộc mới thấy, còn mình đứng xa xa nên chỉ thấy hào quang lấp lánh. Vậy nên quay về mà chấp nhận “cái của ta”, phát hiện nét đẹp bị vùi lấp bởi sự quen thuộc, nhàm chán, chớ để khi mất rồi mới thấy nó đẹp, thì đã muộn.




----

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Image


Món Ăn Khó Nói



Đã định không nói, nhưng không nói không chịu được. Ờ mà nếu ca tụng thịt cầy mà mang tiếng là thiếu văn minh thì mình cũng đành chịu cái tiếng thiếu văn minh vậy, chớ nói đến miếng ngon Hà Nội mà không nói đến thịt cầy, thì quả là thấy thiếu thốn rất nhiềụ Chỉ thiếu có một người, vũ trụ bao la hiu quạnh... huống chi lại thiếu thịt cầy thì còn vui sống làm sao ?


Thực vậy, có ai một buổi chiều lất phất mưa xanh, trời căm căm rét, mà ngả một con cầy ra đánh chén với đôi ba bạn cố tri mới có thể cảm thấy rằng không phải đời lúc nào cũng không đáng để cho người ta sống. Rõ ràng là mình đương buồn muốn chết, người ủ rũ ra, mà "làm một bữa" vào, chỉ giây lát là "nó sướng tỉnh cả người ra", không chịu được.

Tôi có thể cam đoan với các anh: Một người thất tình, muốn đi tự tử, nếu người ấy biết thưởng thức món thịt cầy, mà các anh lại mời y dùng chơi chút đỉnh rồi muốn đi chết đâu hãy chết, tôi có thể tin rằng mươi bận thì chín bận ăn xong anh ta sẽ đổi ý định ngaỵ


Là vì đời có thịt cầy, thỉnh thoảng ăn chơi một bữa ta thấy nó cũng bõ để cho ta sống, mặc dù có nhiều lúc cái kiếp con người còn khổ hơn cả cái kiếp con chó vài ba bực. Lo cho con học, vợ hỏi tiền làm giỗ; phắc tuya đèn chưa trả; nhân tình dọa bỏ đi; cuối tháng, lại phải đến chủ nhà hỏi xem hắn có bằng lòng cho thuê nữa hay không... bao nhiêu nỗi lo âu khốn nạn nó làm cho lòng người ta day dứt! Những lúc đó, ăn vàng vào miệng cũng không ngon. Ăn vàng vào miệng không ngon, nhưng ăn một miếng chả chó, ta lại muốn ăn hai để chờ món tái đem lên, ta vừa nhắm nhót vừa suy nghĩ trong khi đợi món dựa mận, chết chết! Sao nó ngầy ngậy, béo béo, ngòn ngọt mà lại có thể thơm đến thế!

Ta tự bảo: "ờ mà, sống ở đời bất quá nhiều lắm cũng chỉ đến sáu, bảy chục năm là cùng. Mà trong sáu, bảy chục năm đó, ngày vui quá ít, lo âu, sầu não lại nhiều, thế thì tội gì lại chuốc phiền khổ vào người cho mệt! Ngả con cầy ra đánh chén! "Sống ở trên đời, ăn miếng dồi chó, chết xuống âm phủ biết có hay không?".

Thôi thì được ngày nào hãy cứ biết chiều ông thần khẩu ngày ấy đã, sau ra sao sẽ liệu, ấy thế mà chưa biết chừng ăn một bữa cầy vào, cái vận mình nó lại chuyển hung thành cát, chuyển đen thành đỏ thì lại càng hay, chớ có sao đâu ?


Thật vậy, thịt cầy ở nước ta không phải là một món ăn như thịt dê, thịt lợn, nhưng nó lại còn là một niềm tin tưởng trong dân gian nữa. Vận đương xúi quẩy, ăn một bữa thịt chó vào, người ta rất có hy vọng giải đen. Đánh bạc thua liền ba đêm, này ! Ăn một bữa thịt chó, có người gở lại hết cả tiền thua, mà lại còn được thêm là khác. Thử hỏi trong tất cả các món ăn trên thế giới có món ăn nào khả dĩ lại di chuyển được vận hạn của con người đến thế hay không?
Nhưng dẫu sao, chuyện di chuyển vận hạn cũng là chuyện của tương lai huyền bí. Nói ngay đến chuyện thiết thực ở trước mắt mà chơị. Một chiều mưa phiêu phiêu ở chốn đồng ruộng căm căm gió rét, không đi chơi đâu được, mà trãi một cái chiếu lên thềm gạch ngô, đưa cay vài chén tửu, trước mặt có một mâm thịt chó làm đủ các món: chả, tái, ca ry, dựa mận, chạo, nem... riêng cứ trông thôi, ta cũng đã thấy lòng phiêu phiêu như mở hội rồi


Thịt luộc đỏ tươi, bì vàng màu da đồng, đặt bên cạnh đĩa rau húng chó; vài dĩa riềng thái mỏng tanh; chả nướng béo ngậy, màu cánh gián; đĩa bún trắng bong nằm cạnh những bát hầm dựa mận màu hoa sim; những liễn xào nấu với chuối "chưa ra buồng" thái con bài; những đĩa dồi tươi hơn hớn, miếng thì trắng, miếng thì hồng, miếng thì tím lợt, đôi chỗ lại điểm những nhát hành xanh màu ngọc thạch... tất cả tiết ra một mùi thơm làn lạt như mùi hoa đồng thảo lại ngồn ngộn như mùi thịt gái tợ.. xin hỏi có ai mà chịu được, không thưởng thức một hai miếng làm duyên?

Người chưa ăn bao giờ ăn thử một miếng lại muốn ăn hai, còn người đã biết ăn rồi thì phải nói rằng trông thấy thịt chó mà không được ăn thì buồn bã ủ ê, nếu không muốn nói là bủn rủn chân tay, bắt chán đời muốn chết. Thôi, hãy xếp mọi thứ ưu phiền lại, cầm đũa "làm" mấy miếng đi, người anh em ! Xin mời ! Rượu này là thứ rượu sen cất ở Tây Hồ nhưng không xóc, uống vào một tợp mà như uống cả một làn sen ngào ngạt của Hồ Tây ngạt ngào vào bụng.

Nhắm một miếng dồi, lại đưa cay một tợp rượu, rồi khẽ lấy hai ngón tay nhón một ngọn rau húng điểm vào một vị hăng hăng, man mát cho tất cả cái bùi, cái béo, cái cay, cái mát, cái hăng quyện lấy nhau, anh sẽ nói với tôi cảm tưởng của anh ra thế nàọ.. Quả vậy, nếu sau này, người ta chết xuống âm phủ mà không có dồi chó để ăn thì âu cũng là một mối hận thiên thu mà ta cần phải đề phòng ngay tự bây giờ.

Óc chó có tiếng là ngon, nhưng có ý vị, càng ăn càng thấy ngon thì chính là dồi chó. Sao mà lại có những người có óc vĩ đại lại đi nghĩ ra được cách làm một cái thứ dồi ngon lạ ngon lùng đến thế, một tổ hợp tiết tấu đến như thế, hở Trờỉ. Gắp một miếng chấm muối chanh, rối đưa cay một hơi rượu, ta thấy tất cả tiết, sụn, lá thơm và đậu xanh ở trong miếng dồi nâng đở nhau, đoàn kết nhau thành một khối bất khả chia lìa, không những thấy ngon lành cho khẩu cái mà thôi, nhưng lại còn làm cho ta mát gan
nở ruột vì cái đẹp tinh thần do sự nhất trí tạo thành.

Ai cũng đã ăn dồi lợn, và ai cũng ăn dồi của người Tây mà ta thường gọi một cách nôm na là "sốt sích". Bằng thế nào được dồi chó, phải không ông? Dồi chó làm khéo thì cái ruột phải ken kỹ cho mỏng như tờ giấy, đến lúc ăn vào nó cứ giòn tan, không mềm lừ những tiết như dồi lợn, mà cũng không bã như rơmi kiểu dồi Tây; nhưng nó nhuyễn lừ đi, nhai kỹ lại hơi sừng sựt, bùi béo nhưng không ngấy, ngan ngát nhưng không nồng mùi tỏị

Nhưng muốn thưởng thức một món cầy cho thật nổi vị, ai cũng sẽ phải công nhận với tôi không có gì "điển hình" hơn món chả. Có một hôm trời lạnh bàng bạc màu chì, đứng tựa vào một hàng rào dâm bụt xanh, hoa đỏ, ta gọi một hàng thịt cho gánh đi qua mua một đĩa chả vào trong nhà nhắm rượu, cái ngon cũng đã "lẫm liệt" lắm rồị. Vậy mà nói cho thực, cái ngon đó chưa thấm với cái ngon của một món chả do một người hiền nội trợ khéo chiều chồng đã làm ra, nó tinh khiết mà lại đủ vị hơn nhiều, ăn vào đến môi, trôi liền đến cổ, ôi, thơm phải nói là... điếc mũi !

Là bởi vì các tiệm thịt chó, cũng như những hàng thịt cho gánh rong, không thể nào làm các món thực công phu, thực đúng kiểu, theo như ý chúng ta mong đợị. Muốn làm một món chả chó thật đúng với ý thích, người ta phải mất công phu nhiều hơn thế. Có thể bảo rằng ta phải tốn công phu y như thể nuôi chim yến đẻ.

Trước hết, không phải là cứ có tiền ra chợ mua bất cứ con chó nào về thịt rồi làm thành món ăn mà ăn được cả đâụ Riêng một việc lựa con chó "dùng" được cũng là cả một sự tìm tòi, học tập công phu rồị "Chó già, gà non", câu nói cửa miệng của người ta là thế: ăn thịt gà tìm gà non mà làm thịt, chó phải là thứ chó già mới thú.

Nhưng thực ra, theo những người giàu kinh nghiệm, thịt chó già thường nhạt nhẽo, mà ăn hơi bã. Muốn cho thực ngon, phải là cái thứ chó không già mà cũng không non - cái thứ chó "chanh cốm" trung bình từ hai năm tới hai năm rưỡi, cái thứ chó mà nếu các bà cho phép, ta có thể ví với các thiếu nữ dậy thì "xanh lên ngọn tóc, nhựa căng vú đào".

Song le, đừng tưởng chọn như thế mà đã đủ. Tuổi tác của con chó mới là một điểm mà ta cần lưu ý. Còn phải lưu ý nữa là bộ lông con chó, chớ không phải là cứ là chó thì "hầm bà là" cả một lứa đâụ. Theo các chuyên viên ăn thịt chó, sắc lông ảnh hưởng tới mùi vị của thịt rất nhiềụ Cái giống chó "bẹcxgxiê", "pêkinoa", cái giống chó "bátsê" cũng như giống "phốc", nói tóm lại tất cả các giống chó tây phương, cấm có ăn thịt được. Thịt cứ dai như chão rách, mà hôi quá, ăn không ra cái "thớ" gì. Chó ăn, phải chính cống là giống chó ta, không được lai căng một tí một li ông cụ.


Người Tàu thường cho rằng những người hen suyễn hoặc suy chân thận mà ăn thịt mèo đen, không có một cái lông trắng nào, thì bổ ngang uống rượu ngâm bách nhật hươu bao tử. Giống chó thì không thế. Cái anh chó mực không được trọng dụng như mèo đen. Những người sành ăn thịt chó cho rằng nhất bạch, nhị vàng, tam khoang, tứ đốm, ngoại trừ ra đều "không trúng cách" cả - tuy vẫn biết rằng cứ ăn thịt chó, mà lại thịt chó ta, thì đã ngon chết đi rồị..

ấy đấy, trong bốn thứ chó bạch, vàng, khoang, đốm đó mà ta vớ được một anh giết thịt, nhất thiết ta không thể làm cẩu thả. Trái lại, phải cẩn thận từng li từng tí, mà có khi càng cẩn thận bao nhiêu thì lúc ngả ra đánh chén lại càng thấy thú vị bấy nhiêụ. Bởi thế, tôi đã từng thấy có những người thui chó tử công phu y như thể một nghệ sĩ đem hết tâm cơ ra để tạo nên một đứa con tinh thần lưu lại cho hậu thế.

Con chó giết rồi, rửa ráy sạch cứ như ly như lau, treo lên cho khô hết nước rồi mới thuị Thui bằng rơm. Thui cả con. Thui xong, đem ra mổ, cắt đầu, cắt chân để riêng ra, duy chỉ lấy bộ lòng, làm thực kỹ, gia giãm đậu xanh, hành tỏi thực thơm cho vào đấy, rồi lấy những cành lá ổi bọc thực kín con chó lại, bọc cho dày, ngoài lại phủ một lần lá chuối, dàn hậu mói lấy bùn quánh đắp ra phía ngoài cùng. Đoạn bắc kiềng lên, đặt chó vào, chung quanh chất củi cho những đầu củi chụm vào với nhau ở phía trên, kiểu những cái "tăng" hướng đạo, rồi đốt, đốt cho cháy hết củị Củi tàn, còn than cũng đừng bắc ra vội, cứ để âm ỉ thế, cho đến khi than tàn hẳn.

Nói thì dể, nhưng làm trọn công việc đó cũng mất mấy tiếng đồng hồ. Những nghe mà sốt ruột. Nhưng thữ tưởng tượng lúc gỡ bùn, giở lá chuối và lá ổi ra mà thấy con chó béo ngậy, cái da cái thịt óng a óng ánh, cách gì mà lại không bắt thèm nhểu nước miếng ra, đòi ăn cho kỳ chết thì thôị.

Nhưng mà ăn ngay thì còn ra cái quái gì. Phí cả thịt đi: muốn nên miếng chả, còn là lắm chuyện.
Riềng già giã cho thật kỹ, đấu với mẻ, gia thêm vào đủ mắm tôm, để đấy cho ba thứ cấu kết với nhau thành một khối chặt chẽ, rồi mới bóp vào với những miếng thịt thái không to không nhỏ, cứ độ vào một đốt ngón tay cái là vừạ Đừng lấy ra ngaỵ Hãy ướp tất cả chừng vài tiếng đồng hồ rồi hãy lấy ra xếp vào một cái cặp chả, đặt lên trên than hồng mà nướng. Này, nướng chả chó, kỵ nhất cái thứ than tây đấy nhé. Nướng bằng củi cũng không được. Phải nướng bằng than tàu, quạt liền tay cho đỏ, mỡ có rỏ xuống than đừng tiếc. Mỡ đó vào lửa, bốc lên thành khói, khói đó quyện lấy chả, tạo ra một mùi vị đặc biệt không tiền khoáng hậu, thơm phưng phức nhưng không khô, thanh thoát cao sang mà vẫn gần nhân loạị Một người đau bịnh nặng, nằm ở bên cửa sổ nhìn ra giàn hoa thiên lý, chợt ngửi thấy mùi thịt bò xào hành tây, có thể ngấy mà lợm giọng; một người có chứng nhức đầu tự nhiên thấy bay đến trước mũi mùi chả lợn nướng có thế thấy khó chịu vì mùi tuy thơm nhưng có ý hơi nóng; nhưng ngửi đến mùi chả cầy ngát trong gió hiu hiu, ta có thể chắc chắn là người khó tính đến mấy đi nữa cũng phải thấy như cởi gan, cởi ruột.

Gắp một miếng thịt chó đó, đừng ăn vội, hỡi người háu ăn ơi ! Cứ từ từ, chầm chậm để làm khổ ông thần khẩu đã ! Anh đưa miếng chả lên trước mắt mà xem: miếng thịt cứ săn lại như thịt một người lực sĩ, mà bóng nhễ bóng nhại một cách mới lành mạnh làm sao ! Nó thơm quá đi mất thôi, anh ạ. Thơm quá chừng là thơm, thơm không phải chỉ làm khổ riêng khứu giác của những người ở trong nhà mà thôi đâu, còn làm khổ tất cả láng giềng, hàng xóm. ở cạnh những người ăn ngon như thế, mình lâu lâu mà không được "thưởng thức", cũng có khi phải phát bực lên mà "ai oán" cho cái kiếp người không được mấy khi xứng ý.

Chả chó cũng như thịt luộc, ăn cho thật hợp giọng không nên chấm nước mắm, mà chấm với muối chanh. Ai thích cay, ăn vài miếng lại cầm cái cuống xanh của một trái ớt đỏ, cắn một chút, một chút thôi, rồi vừa ăn vừa suy nghĩ thì mình dù lãnh đạm với cuộc đời đến bực nào cũng phải thương hại cho những ai không biết thưởng thức mùi thịt chó !

Tài thế, sao mà cứ cái thịt ấy làm món gì ăn cũng cứ ngon ở Có thể anh không thích tái chó, đuểnh đoảng với món nem chạo, thấy món cary chó cũng ngon nhưng không thú vì nó không được thuần túy Việt Nam; nhưng đến cái món dựa mận thì nhất định cả trăm người ăn thịt chó đều phải công nhận đó là một món ăn bất hủ !

Chẳng biết ông tổ nào nhà mình, trong một phút xuất thần, lại nghĩ ra một món kỳ tuyệt đến như thế được? Tôi dám nói quyết với các anh rằng có nhiều lúc ngồi thưởng thức cái món đó, tôi đã từng ví với bản nhạc "Le Danube Bleu" của Johan Strauss. Nó dìu dặt khoan thai, cuồn cuộn một cách êm dịu, có đôi khi lại như nhảy nhót lên trong ánh sáng. ấy đấy, cái món dựa mận vào trong miệng nó cũng từa tựa như thế đấỵ Thoạt mới dùng, ta thấy nó dìu dịu, hiền hiền, nhưng điểm mấy lá húng cho vào rồi đưa đi mấy lá bún trắng tinh, chấm với cái thứ nước quánh đặc một màu đào mận, ta thấy nhạc điệu khác hẳn đi, khác nhưng từ từ, chậm chậm, theo thứ tự từng gam một, chớ không lỡ điệu, không đột ngột.

Khẩu cái ta như nhảy múa tưng bừng, có lắm lúc tưởng chừng như có cái gì sắp "hỏng kiểu", làm cho ta hơi sợ; nhưng tài tình là chính lúc ta sợ như thế thì sự ngang trở uyển chuyển vuợt qua một cách thần điệu và tạo nên một nét nhạc mới thần tình đến lạ lùng.
Song đừng tưởng rằng muốn hưởng một "nhạc điệu" như thế vào trong lòng mình là một công việc dễ dàng đâụ. Thực vậy, món dựa mận muốn ăn cho ra ăn, cần phải làm công phu rất mực, có khi còn công phu hơn cả món chả là khác nữạ. Thịt chó thơm mà ngọt, thui vàng ngầy ngậy lên rồi, đem ra nấu dựa mận mà không quánh, đưa bát đựng dựa mận lên ngang mặt, nheo một con mắt lại mà không thấy nổi lên những rằn ri của bảy sắc cầu vồng, thế là chưa biết nấụ

Muốn có một bát dựa mận thật là gia dụng, ta cần phải chú ý tới ba thứ nòng cốt là mắm tôm, riềng và mẻ. Mắm tôm phải là thứ mắm tôm "tiến", lọc cho sạch; riềng giã thật kỹ, cần nhiều, kém thì không dậy mùi; mẻ cũng phải lọc đi lọc lạị Ba thứ đó trộn với nhau thực đều, gia thêm hành muối vừa độ, ướp với thịt chó sống, sau khi đã bóp kỹ rồị Tất cả để đó, chừng một tiếng đồng hồ, chớ có đụng vào, rồi hãy lấy ra ninh.

Chó già ninh kỹ, chó non đun vừa tớị Nhưng dù là chó già hay chó non cũng vậy, điều phải nhớ là không bao giờ nên gia nước - dù là nước xuýt - riêng cái tiết chó đánh vào cũng đủ làm cho nổi vị lên rồị

Image

Nói đến tiết chó, ta cũng nên biết một chút về cách mổ chó thế nào cho lông tơ của chó không rụng vào trong bát tiết. Thường thường, người ta cắt tiết chó như cắt tiết lợn. Song, những người cầu kỳ muốn tận hưởng một bữa thịt chó thật "ra trò" không chịu làm như thế, nhưng lại vẽ ra thêm một "mốt" xét ra cũng vô hại trong nghệ thuật "đả cẩu" ở nước ta; họ tìm đúng cái mạch máu lớn ở nơi giữa cổ con cầy mà cắt; máu ra, họ cho một ống tre con vào mạch máu đó và truyền tiết vào trong một cái liễn lau rửa kỹ càng.

Sự thực, tiết đó không đặc biệt gì hơn thứ tiết cắt thường, nhưng được một điều là không có lông tơ chó lẫn vàọ Vả chăng, ai lại còn không biết rằng đối với các ông ẩm thực rỗi rãi thì giờ quá, làm một món ăn càng cầu kỳ, tỉ mỉ bao nhiêuthì họ vẫn thường tưởng tượng càng ngon miệng bấy nhiêụ Trí tưởng tượng của người ta ẻo ọe y như người đàn bà trẻ đẹp: chiều thì thích, mà quên đi một chút thì "mặt lưng mày vực" ngaỵ..

Chính cũng vì lẽ đó, có nhiều ông ở nhà quê làm dựa mận ngon chết đi được rồi, mà vẫn không chịu ăn ngay, lại còn cầu kỳ muốn cho nó phải "đông" mới thú. Mà ở nhà quê, thường thường không có tủ ướp lạnh thì mới biết làm sao đâỷ Đừng lo . Người sành ăn uống cầu kỳ cũng như người ghiền a phiến vậỵ
Dựa mận mà xong đâu đó cả rồi, không đụng tới mà cho vào trong một cái hũ, bịt kín lại, lấy dây thép quấn chặt rồi trát bùn ở ngoài, lẳng xuống đáy ao một ngày một đêm mới vớt lên. Chao ôi, có cầu kỳ một chút kể cũng bõ cái công vất vả ! Ăn miếng dựa mận đông đó, nó tỉnh người ra như con sáo sậu, ông Ba ạ. Lạ miệng, bùi, ngầy ngậy, thơm thơm...


Quái lạ đến thế là cùng ! Thịt chó chất nóng, "sốt" thì lạnh, hai cái mâu thuẫn đó, ngồi mà nghĩ tưởng chừng như không thể nào dung hòa được với nhau; ấy thế mà ngờ đâu nó lại y như thể là đại số học vậy; hai cái "trừ" cộng với nhau thành ra "cộng", lựa là cứ phải một âm và một dương.

Có người đã nói thức ăn ngon mà chỗ ăn không ngon, không ngon; chỗ ăn ngon mà không khí không ngon; không ngon; không khí ngon mà không có bè bạn ăn ngon cũng không ngon. Câu đó đúng. Nhưng tôi muốn thêm vào "Tất cả đều ngon, nhưng ăn ngon mà không đúng thời tiết cũng không ngon nốt".

Lắm lúc ngồi nhắm nháp một chén rượu tăm cất ở Tây Hồ, thưởng thức một mình một đĩa tái chấm muối tiêu, chanh, ớt, tôi vẫn thường nghĩ hình như trời sinh ra thịt chó là để ăn riêng ở Bắc Việt, chứ không phải ở bất cứ đâu đâụ Từ tháng Tám trở ra, trời Bắc Việt nặng những mây mù, đìu hiu một ngọn gió hanh hao, lành lạnh, gợi nhiều niềm tưởng nhớ xa xưạ

Lòng mình không buồn não nuột, nhưng sầu nhè nhẹ và mình ưa cái sầu đó, bởi vì nó không hại người mà lại nên thơ
Đó, chính ở trong tâm trạng đó mà thưởng thức một bữa thịt chó thì không còn gì hợp lý, hợp tình, hợp cảnh hơn. Lòng đương lạnh tự nhiên thấy ấm; đời đương bàn bạc bỗng tươi lên một nét đậm màụ Một thức ăn mà có lúc thay đổi được cả nhân sinh quan của người ta, âu cũng là một cái lạ ít khi thấy vậỵ


Vì thế, nhiều khi ngồi trong nhà trông ra giàn thiên lý để cho lòng lắng xuống, tôi vẫn thấy cần phải tha thứ cho nhứng nhà tu hành chỉ vì quá yêu cái đẹp, cái ngon, cất lẻn ra đi xơi thịt chó mà bị mang cái tiếng xấu là "hổ mang, hổ lửa". Chao ôi, một Lỗ Trí Thâm, một Hồ Quỳ, làm sao mà chịu được sự câu thúc của một thủ tục chật hẹp không cho người ta sống tự do - tự do tư tưởng, tự do thưởng thức, tự do ẩm thực?

Nếu tôi có tài,tôi quyết sẽ phải viết một loại bài đăng báo cổ súy những nhà hữu trách trong các giáo phái nên để cho các vị tu hành "đả cẩu" tự do, và hơn thế, lại dùng thịt chó vào trong lễ tam sinh nữa, bởi vì theo các truyện kể trong dân gian thì dường như các ông thổ địa, các ông Thần Trà, Uất Lũy, kể cả vua Diêm Vương nữa, cũng ưa món ấỵ Thần mà còn thích thịt chó, huống chi là người !

Trong các truyện cũ của Tàu, người ta thường thấy có những con hồ ly tinh gần thành chánh quả mà chỉ vì trong một lúc thèm thịt đàn ông, con trai đã làm điều càn bậy để đến nỗi phí cả mấy ngàn năm tu luyện. Ngồi mà suy nghĩ, tôi tưởng thịt đàn ông con trai, đối với các con tinh cái, ngon bất quá cũng chỉ bằng đến thịt chó đối với chúng ta là cùng. Chẳng thế mà thịt chó đã thành ra món ăn được ca tụng trên cửa miệng mọi người, và hơn thế, lại còn đi sâu cả vào trong văn chương bình dân nữạ

Đàn ông biết đánh tổ tôm,
Biết ăn thịt chó, xem nôm Thúy Kiềụ

Thịt chó, thịt cầy, thịt "sư tử đất', bao nhiêu danh từ được đặt ra, nhưng "làng đánh đụng" vẫn cho thế là chưa đủ, nên luôn luôn những danh từ mới vẫn được người ta "sáng chế", không ngoài mục đích đề cao món ăn "số dách" kia: thịt chó còn có tên là mộc tồn - ra cái ý rằng mộc tồn là cây còn, cây còn là con cầy; nhưng linh động và ý nghĩa, chính là cái danh từ "hương nhục" - thịt thơm.


Này, có dịp nào gặp người biết thưởng thức thịt cầy, anh thử nói về thịt chó mà xem. Một trăm lần như một, anh sẽ thấy người ấy bắt đầu như thế này :"Không có thứ thịt gì lại có thể thơm như nó..."
Nhưng dù thơm, dù ngon, dù ngọt, dù bùi, bao nhiêu "đức tính" đó đã thấm vào đâu với cái đức tính bao quát của thịt chó trong công cuộc thống nhất dân tâm, san bằng sự phân biệt giữa các giai cấp trong xã hộỉ

Thực vậy, tôi đố ai lại tìm ra được một miếng ngon nào khã dĩ liên kết được dân ý đến như vậy, một miếng ngon mà từ vua chí quan, từ quan chí dân, từ ông tư bản đến người làm công, thảy đều ưa thích, thảy đều dùng được, thảy đều thèm muốn, thảy đều công nhận... "ba chê".

Ôi, cứ nghe người ta nói thì đổ thóc giống ra mà ăn ! Ăn thịt chó là thiếu văn minh, ăn thịt chó là bẩn thỉu, ăn thịt chó là bất nhân bạc ác... và còn gì nữa, và còn gì gì nữa ! Người ta viện lý con chó là bạn của loài người, ăn thịt chó là mọi rợ, thế thì tại sao con ngựa, "một chinh phục cao cả nhất của loài người" mà người Âu Mỹ cũng đem ra "đánh chén"? Bảo là con chó ăn bẩn, thế thì con gà, con lợn, con cá ăn uống sạch sẽ ư ?

Không. Con chó là con vật để cho người ta ăn thịt; ăn thịt chó không khác gì ăn thịt thỏ, ăn thịt nai, ăn thịt bò. Huống chi thịt chó lại còn ngon và bổ; vì thế tôi cho rằng mặc dầu người ta đàm tiếu thế nào đi nữa, thịt chó vẫn cứ là một món ngon bất diệt của dân ta và tôi tin rằng: "Nước ta còn, thịt chó còn" mà văn hóa ẩm thực của ta mai sau hay, dở là ở điểm có biết duy trì thịt chó hay không vậy

Vũ Bằng

Post Reply