Quán Vắng không Người ...3
Moderator: khieulong
Ngải nói
Nguyễn Ðạt Thịnh
“Ngải nói” là một tin tưởng (dị đoan?) cho rằng người ngậm ngải có quyền phép thuyết phục người nghe họ nói phải làm theo lời họ. Có nhiều giai thoại rất gần với chuyện hoang đường kể lại thái độ của những người đàn bà tuân lệnh cổi nữ trang đưa cho người họ mới gặp lần thứ nhất, hoặc ngoan ngoãn đi theo họ tới một chỗ nào đó.
Câu chuyện nghe như chuyện thần thoại, nhưng bạn nào trong lứa tuổi bẩy, tám mươi như tôi tối thiểu cũng đã vài lần nghe về chuyện ngải nói. Quý bạn trẻ hơn chưa biết cái nghệ thuật tưởng đã thất truyền này cũng đừng thất vọng, vì tôi sắp giới thiệu với quý bạn một người có chuộc ngải nói, và dùng ngải nói rất hiệu nghiệm: người đó là thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng của Việt Cộng.
Ông ta đến yết kiến Giáo Hoàng, dùng ngải nói làm Giáo Hoàng có vẻ tin rằng cộng sản không bao giờ chủ trương vô tôn giáo.
Ông ta tiếp xúc với quý vị Giám Mục Việt Nam, dùng ngải nói thuyết phục quý vị này tin rằng kẻ đi ngược lại giáo lý không phải là Nguyễn Tấn Dũng mà lại chính là Linh mục Nguyễn Văn Lý.
Dũng trình bày là linh mục Lý bị bịt miệng là tại ông “đả đảo cộng sản” chứ không phải tại ông đọc kinh, và ông bị tù vì ông chống chánh phủ chứ không vì ông làm lễ.
Lý thuyết cộng sản dựa trên “lô dích” --thuật dẫn giải hợp lý cả những điều không hợp lý. Ngải nói cũng dẫn giải như vậy.
Chiều 23-10, Nguyễn Tấn Dũng tiếp phái đoàn Tự do Tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ do ông M.L.Cromartie làm Trưởng đoàn, đến thăm để tìm hiểu tình hình sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng tại Việt Nam
Nguyễn Tấn Dũng mở ngải nói qua chữ “on” rồi hoan nghênh Ủy ban Tự do Tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ đến thăm Việt Nam, khẳng định Ðảng và nhà nước trước sau như một luôn tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, và cả quyền tự do không tín ngưỡng tôn giáo của công dân.
Tờ báo Nhân Dân của Ðảng viết, “thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói ông vui mừng trước những bước phát triển tốt đẹp của mối quan hệ hợp tác hữu nghị giữa Việt Nam - Hoa Kỳ trong những năm qua; nhấn mạnh Chính phủ Việt Nam chủ trương nhất quán khép lại quá khứ, hướng tới tương lai vì lợi ích của hai dân tộc, hai đất nước. Chính phủ và nhân dân Việt Nam luôn mong muốn và sẽ làm hết sức mình để mối quan hệ hợp tác giữa hai dân tộc, hai nước Việt Nam - Hoa Kỳ tiếp tục phát triển trong tất cả các lĩnh vực trên cơ sở hai bên cùng có lợi.”
Tuy nhiên “giữa Việt Nam và Hoa Kỳ còn có một số quan niệm, cách nhìn khác nhau về văn hóa, lối sống, tự do tôn giáo và hệ thống pháp luật. Dũng nói, “đây cũng là điều dễ hiểu vì mỗi quốc gia đều có một hoàn cảnh lịch sử và truyền thống văn hóa riêng. Chính phủ Việt Nam luôn sẵn sàng lắng nghe và đối thoại với Hoa Kỳ về những lĩnh vực có những quan điểm khác nhau. Là thành viên của LHQ, Việt Nam hiểu rõ tuyên ngôn của LHQ về nhân quyền”.
Dũng còn nói, “nhân quyền phải dựa trên Hiến pháp và pháp luật của nhà nước thể hiện ý chí của toàn dân. Bất kỳ công dân Việt Nam nào vi phạm pháp luật của nhà nước Việt Nam đều bị xét xử theo quy định của pháp luật Việt Nam không phân biệt tôn giáo, thành phần dân tộc. Việt Nam không bao giờ bỏ tù một người nào về tội bất đồng chính kiến. Những người xây dựng, hình thành các tổ chức chống phá Nhà nước Việt Nam thì phải bị xét xử theo pháp luật Việt Nam .”
Báo Nhân Dân tường thuật tiếp lời Nguyễn Tấn Dũng, “Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo với hơn 22 triệu người theo đạo. Cả tám tôn giáo lớn trên thế giới đều có tại Việt Nam . Mọi tổ chức tôn giáo đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam thì đều được cấp đăng ký hoạt động và được bảo đảm tự do tín ngưỡng, tôn giáo bằng pháp luật.
“Thủ tướng khẳng định Chính phủ Việt Nam sẵn sàng tạo điều kiện cho Ủy ban Tự do Tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ trong dự trình thăm và làm việc tại Việt Nam . Tuy nhiên, phái đoàn cần tìm hiểu và nhìn nhận vấn đề tự do tôn giáo tại Việt Nam một cách khách quan, phản ánh đúng sự thật; tránh việc áp đặt ý chí, quan điểm sai lệch đối với vấn đề tự do tôn giáo tại Việt Nam. Phái đoàn cũng cần quan tâm, tìm hiểu về thực trạng của những người dân Việt Nam là nạn nhân bị tác động của chất độc da cam sau chiến tranh.
“Ông M.L.Cromartie và các thành viên trong Ðoàn Ủy ban Tự do Tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ đã cảm ơn và đánh giá cao việc Thủ tướng dành thời gian tiếp và việc Chính phủ Việt Nam tạo điều kiện cho Ðoàn đi thăm, tìm hiểu tình hình tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam; coi đây như sự thể hiện thái độ cởi mở và đối thoại của Việt Nam về vấn đề tự do tôn giáo.
“Một số thành viên trong Ðoàn phát biểu ý kiến, đánh giá cao mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước Việt Nam - Hoa Kỳ; cho rằng trên cơ sở mối quan hệ tốt đẹp đó, hai bên cần tiếp tục hợp tác, đối thoại về những vấn đề còn có những ý kiến khác biệt.”
Câu cuối cùng có nghĩa là “không hề có khác biệt trong vấn đề tự do tôn giáo”, do đó nên đổi đề tài bàn về những vấn đề khác.
Tờ Nhân Dân ra vẻ quá tin vào hiệu lực của ngải nói: chỉ cần gặp một lần Dũng cũng đã thuyết phục được phái đoàn Cromartie.
Nhưng tôi tin là ông Cromartie sẽ nhận thấy tôn giáo tại Việt Nam vô cùng tự do, nếu ông cũng đi chùa Hương như tôi đã xem DVD đi chùa Hương, xem cảnh hàng chục ngàn người nô nức vào Chùa lễ phật, và không thấy một tên công an nào lảng vảng trên đường.
Ông Cromartie không có lý do nào để loại chùa Hương ra ngoài những ngôi chùa thể hiện tín ngưỡng của người phật tử, và ông cũng không thể thấy một chỉ dấu nào ngăn cấm phật tử đi chùa.
Người Việt Nam chúng ta biết Việt Cộng đàn áp tôn giáo, biết ngôi Hồ Tự cất tại Bình Dương với chi phí hàng chục triệu mỹ kim chỉ là một màn xiệc để đánh lừa thế giới về sức lớn mạnh của một môn phái phật giáo mới, không thuộc hai phái đại hay tiểu thừa, mà là phái quốc doanh.
Ða số khách đến viếng chùa Hương là du khách, nhưng Dũng thừa biết không ai có thể phủ nhận chùa Hương là một ngôi chùa thờ Phật, và cũng không ai chứng minh được là Việt Cộng có một hành động nhỏ nào nhằm kiểm soát người đi chùa.
Trong cuộc tranh luận xem Việt Cộng có đàn áp tôn giáo hay không, chúng ta bênh vực sự thật, nhưng đang đuối lý không chứng minh được một tình trạng có thật: tình trạng Việt Cộng đàn áp tôn giáo; trong lúc Việt Cộng chứng minh được điều không hiệu hữu, không có thật --tự do tôn giáo.
Xin đánh lên tín hiệu S.O.S. cầu cứu quý vị PhD tìm cho ra ngải nói để sự thật không bị chà đạp, và để những chiến sĩ dân chủ không rục xương trong tù Việt Cộng.
Nguyễn Ðạt Thịnh
Nguyễn Ðạt Thịnh
“Ngải nói” là một tin tưởng (dị đoan?) cho rằng người ngậm ngải có quyền phép thuyết phục người nghe họ nói phải làm theo lời họ. Có nhiều giai thoại rất gần với chuyện hoang đường kể lại thái độ của những người đàn bà tuân lệnh cổi nữ trang đưa cho người họ mới gặp lần thứ nhất, hoặc ngoan ngoãn đi theo họ tới một chỗ nào đó.
Câu chuyện nghe như chuyện thần thoại, nhưng bạn nào trong lứa tuổi bẩy, tám mươi như tôi tối thiểu cũng đã vài lần nghe về chuyện ngải nói. Quý bạn trẻ hơn chưa biết cái nghệ thuật tưởng đã thất truyền này cũng đừng thất vọng, vì tôi sắp giới thiệu với quý bạn một người có chuộc ngải nói, và dùng ngải nói rất hiệu nghiệm: người đó là thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng của Việt Cộng.
Ông ta đến yết kiến Giáo Hoàng, dùng ngải nói làm Giáo Hoàng có vẻ tin rằng cộng sản không bao giờ chủ trương vô tôn giáo.
Ông ta tiếp xúc với quý vị Giám Mục Việt Nam, dùng ngải nói thuyết phục quý vị này tin rằng kẻ đi ngược lại giáo lý không phải là Nguyễn Tấn Dũng mà lại chính là Linh mục Nguyễn Văn Lý.
Dũng trình bày là linh mục Lý bị bịt miệng là tại ông “đả đảo cộng sản” chứ không phải tại ông đọc kinh, và ông bị tù vì ông chống chánh phủ chứ không vì ông làm lễ.
Lý thuyết cộng sản dựa trên “lô dích” --thuật dẫn giải hợp lý cả những điều không hợp lý. Ngải nói cũng dẫn giải như vậy.
Chiều 23-10, Nguyễn Tấn Dũng tiếp phái đoàn Tự do Tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ do ông M.L.Cromartie làm Trưởng đoàn, đến thăm để tìm hiểu tình hình sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng tại Việt Nam
Nguyễn Tấn Dũng mở ngải nói qua chữ “on” rồi hoan nghênh Ủy ban Tự do Tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ đến thăm Việt Nam, khẳng định Ðảng và nhà nước trước sau như một luôn tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, và cả quyền tự do không tín ngưỡng tôn giáo của công dân.
Tờ báo Nhân Dân của Ðảng viết, “thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói ông vui mừng trước những bước phát triển tốt đẹp của mối quan hệ hợp tác hữu nghị giữa Việt Nam - Hoa Kỳ trong những năm qua; nhấn mạnh Chính phủ Việt Nam chủ trương nhất quán khép lại quá khứ, hướng tới tương lai vì lợi ích của hai dân tộc, hai đất nước. Chính phủ và nhân dân Việt Nam luôn mong muốn và sẽ làm hết sức mình để mối quan hệ hợp tác giữa hai dân tộc, hai nước Việt Nam - Hoa Kỳ tiếp tục phát triển trong tất cả các lĩnh vực trên cơ sở hai bên cùng có lợi.”
Tuy nhiên “giữa Việt Nam và Hoa Kỳ còn có một số quan niệm, cách nhìn khác nhau về văn hóa, lối sống, tự do tôn giáo và hệ thống pháp luật. Dũng nói, “đây cũng là điều dễ hiểu vì mỗi quốc gia đều có một hoàn cảnh lịch sử và truyền thống văn hóa riêng. Chính phủ Việt Nam luôn sẵn sàng lắng nghe và đối thoại với Hoa Kỳ về những lĩnh vực có những quan điểm khác nhau. Là thành viên của LHQ, Việt Nam hiểu rõ tuyên ngôn của LHQ về nhân quyền”.
Dũng còn nói, “nhân quyền phải dựa trên Hiến pháp và pháp luật của nhà nước thể hiện ý chí của toàn dân. Bất kỳ công dân Việt Nam nào vi phạm pháp luật của nhà nước Việt Nam đều bị xét xử theo quy định của pháp luật Việt Nam không phân biệt tôn giáo, thành phần dân tộc. Việt Nam không bao giờ bỏ tù một người nào về tội bất đồng chính kiến. Những người xây dựng, hình thành các tổ chức chống phá Nhà nước Việt Nam thì phải bị xét xử theo pháp luật Việt Nam .”
Báo Nhân Dân tường thuật tiếp lời Nguyễn Tấn Dũng, “Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo với hơn 22 triệu người theo đạo. Cả tám tôn giáo lớn trên thế giới đều có tại Việt Nam . Mọi tổ chức tôn giáo đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam thì đều được cấp đăng ký hoạt động và được bảo đảm tự do tín ngưỡng, tôn giáo bằng pháp luật.
“Thủ tướng khẳng định Chính phủ Việt Nam sẵn sàng tạo điều kiện cho Ủy ban Tự do Tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ trong dự trình thăm và làm việc tại Việt Nam . Tuy nhiên, phái đoàn cần tìm hiểu và nhìn nhận vấn đề tự do tôn giáo tại Việt Nam một cách khách quan, phản ánh đúng sự thật; tránh việc áp đặt ý chí, quan điểm sai lệch đối với vấn đề tự do tôn giáo tại Việt Nam. Phái đoàn cũng cần quan tâm, tìm hiểu về thực trạng của những người dân Việt Nam là nạn nhân bị tác động của chất độc da cam sau chiến tranh.
“Ông M.L.Cromartie và các thành viên trong Ðoàn Ủy ban Tự do Tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ đã cảm ơn và đánh giá cao việc Thủ tướng dành thời gian tiếp và việc Chính phủ Việt Nam tạo điều kiện cho Ðoàn đi thăm, tìm hiểu tình hình tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam; coi đây như sự thể hiện thái độ cởi mở và đối thoại của Việt Nam về vấn đề tự do tôn giáo.
“Một số thành viên trong Ðoàn phát biểu ý kiến, đánh giá cao mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước Việt Nam - Hoa Kỳ; cho rằng trên cơ sở mối quan hệ tốt đẹp đó, hai bên cần tiếp tục hợp tác, đối thoại về những vấn đề còn có những ý kiến khác biệt.”
Câu cuối cùng có nghĩa là “không hề có khác biệt trong vấn đề tự do tôn giáo”, do đó nên đổi đề tài bàn về những vấn đề khác.
Tờ Nhân Dân ra vẻ quá tin vào hiệu lực của ngải nói: chỉ cần gặp một lần Dũng cũng đã thuyết phục được phái đoàn Cromartie.
Nhưng tôi tin là ông Cromartie sẽ nhận thấy tôn giáo tại Việt Nam vô cùng tự do, nếu ông cũng đi chùa Hương như tôi đã xem DVD đi chùa Hương, xem cảnh hàng chục ngàn người nô nức vào Chùa lễ phật, và không thấy một tên công an nào lảng vảng trên đường.
Ông Cromartie không có lý do nào để loại chùa Hương ra ngoài những ngôi chùa thể hiện tín ngưỡng của người phật tử, và ông cũng không thể thấy một chỉ dấu nào ngăn cấm phật tử đi chùa.
Người Việt Nam chúng ta biết Việt Cộng đàn áp tôn giáo, biết ngôi Hồ Tự cất tại Bình Dương với chi phí hàng chục triệu mỹ kim chỉ là một màn xiệc để đánh lừa thế giới về sức lớn mạnh của một môn phái phật giáo mới, không thuộc hai phái đại hay tiểu thừa, mà là phái quốc doanh.
Ða số khách đến viếng chùa Hương là du khách, nhưng Dũng thừa biết không ai có thể phủ nhận chùa Hương là một ngôi chùa thờ Phật, và cũng không ai chứng minh được là Việt Cộng có một hành động nhỏ nào nhằm kiểm soát người đi chùa.
Trong cuộc tranh luận xem Việt Cộng có đàn áp tôn giáo hay không, chúng ta bênh vực sự thật, nhưng đang đuối lý không chứng minh được một tình trạng có thật: tình trạng Việt Cộng đàn áp tôn giáo; trong lúc Việt Cộng chứng minh được điều không hiệu hữu, không có thật --tự do tôn giáo.
Xin đánh lên tín hiệu S.O.S. cầu cứu quý vị PhD tìm cho ra ngải nói để sự thật không bị chà đạp, và để những chiến sĩ dân chủ không rục xương trong tù Việt Cộng.
Nguyễn Ðạt Thịnh
TRẠCH GẦM QUA THI TẬP VỤN VẶT:
NỖI HOÀI NHỚ VÀ NHỮNG TIẾNG THỞ DÀI ÂM U CỦA MỘT CỰU TÙ CHÍNH TRỊ
VỀ CHIẾN ĐỊA CŨ, BẰNG HỮU XƯA
Phan Bá Thụy Dương Cuối tháng 8 Trạch Gầm trao cho tôi tập bản thảo Vụn Vặt gồm 105 bài thơ và cho biết dự định sẽ xuất bản. Anh nhờ tôi viết mươi dòng nhận định để làm “reference” cho bìa sau tập thơ đầu tay của anh.
Sau khi đọc xong, tôi đã kêu gọi 2 anh bạn thân sáng nào cũng la cà với tôi tại Topless/Bottomless là Thiết Trượng nguyên chủ bút tờ Dân và Vương Trùng Dương chủ nhiệm tờ Cali Weekly phụ giúp người bạn thơ vui tính, đôn hậu này trong việc thực hiện tranh bìa, edit những lỗi chính tả nhỏ, rồi nhờ anh Du Miên của Thư viện Việt Nam, quản nhiệm tuần san Thời Báo layout dùm trước khi giao cho nhà in.
Trạch Gầm là người vốn quen thuộc với bạn đọc trang Thơ Cuối Tuần, nên người phụ trách mục này – ngoài lời nhận định đã viết nơi trang bìa sau của thi tập - thấy không cần thiết để nói nhiều thêm. Hơn nữa, Lời Bạt được trích dẫn sau đây của anh Đỗ Tiến Đức đã phản ảnh trọn vẹn cá tính của TG cũng như tâm tư, tình cảm tiềm tàng trong Vụn Vặt:
Vào dịp 30 tháng 4, 2007 tòa soạn Thời Luận có nhận được một bài thơ của anh, do người bạn của anh và cũng là của tôi, gửi tới…
Đó là bài thơ 8 chữ. Đọc bằng mắt mới được vài câu thôi là tôi đã cảm thấy cái hồn thơ của anh, cái hơi thơ của anh nó thấm ngay vào trái tim tôi. Thế là tôi đọc bằng miệng. Giọng của tôi mỗi lúc một to hơn và mỗi lúc lại có thêm cả sự diển tả khiến tôi như một tài tử đang tham gia một vở kịch thơ vậy… Sau đó ít ngày, tôi nhận được thêm vài bài thơ của Trạch Gầm. Càng đọc thơ anh càng thêm mến mộ khiến tôi đi tìm anh. Chúng tôi gặp nhau trong buổi kỷ niệm của an hem tù cải tạo. Trạch gầm có nụ cười bẽn lẽn như con gái. Nhưng Trạch Gầm lại là người cựu tù duy nhất mặc đồ lính, đội chi61c mũ lính. Bộ quân phục của anh bạc màu, cũ kỹ chứ không phải đồ của lính kiểng mỗi năm chỉ mặc vào ngày kỷ niệm quân lực…Sau đó ban tổ chức mời anh lên sân khấu trình bầy thơ của anh. Dáng điệu của anh là một sự trục trặc giữa những nét ngang tang, kiêu hùng của người lính tiền phương nhưng lại lúng túng vụng về của một học sinh trung học...
Ít ngày sau, Trạch Gầm gởi cho tôi tập bản thảo chưa có tựa gồm hàng trăm bài thơ của anh. Vẫn là những câu thơ của một người lính lưu lạc nơi đất khách nhớ về quê hương đất nước, nhớ bạn thời hoa niên và nhất là nhớ chiến trường xưa. Cái nhớ da diết này vừa bi thảm phẫn hận vừa hào khí ngất trời mà nhiều người đã so sánh như con hổ bị nhốt trong sở thú nhớ rừng hoang. Tất nhiên là sự so sánh ấy chỉ đúng một phần thôi, bởi vì người lính trong con người thơ Trạch Gầm, không chỉ mong thoát cũi xổ lồng để tung hoành mà trong ông, hay nói đúng hơn là trong thơ của ông, luôn luôn thấy nói tới một sứ mạng chưa hoàn thành, nghĩa là trách nhiệm bảo quốc an dân của người lính Trạch Gầm còn dang dở…
Tập thơ của Trạch Gầm có thể nói là một cuốn sử thi viết về người lính Việt Nam cộng hòa, viết bằng máu khi chiến đấu và viết bằng nước mắt khi phải buông súng. Tôi rất cảm thương người lính Trạch Gầm vì tôi hiểu rằng anh không làm thơ để đi vào lịch sử văn học mà làm thơ chỉ để giãi bầy những tâm sự u uất, phẫn hận và đã trở thành thuốc nổ đang ngày đêm đốt phá tim gan anh. Những dòng thơ của anh là những giòng nước mắt cần được trào ra ướt mặt để con người anh không bị dìm xuống trong lòng biển chất chứa một dĩ vãng bi thảm của đất nước…
[Trích Lời Bạt của Đỗ Tiến Đức: Sử Thi Của Người Lính Trẻ]
Thơ Cuối Tuần xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc 7 bài thơ tiêu biểu, tiềm ẩn nội dung thi ca của TG qua thi tập VỤN VẶT
◊ PHAN BÁ THỤY DƯƠNG
Thơ trích từ thi tập Vụn Vặt (Thơ Cuối Tuần 50)
NỖI HOÀI NHỚ VÀ NHỮNG TIẾNG THỞ DÀI ÂM U CỦA MỘT CỰU TÙ CHÍNH TRỊ
VỀ CHIẾN ĐỊA CŨ, BẰNG HỮU XƯA
Phan Bá Thụy Dương Cuối tháng 8 Trạch Gầm trao cho tôi tập bản thảo Vụn Vặt gồm 105 bài thơ và cho biết dự định sẽ xuất bản. Anh nhờ tôi viết mươi dòng nhận định để làm “reference” cho bìa sau tập thơ đầu tay của anh.
Sau khi đọc xong, tôi đã kêu gọi 2 anh bạn thân sáng nào cũng la cà với tôi tại Topless/Bottomless là Thiết Trượng nguyên chủ bút tờ Dân và Vương Trùng Dương chủ nhiệm tờ Cali Weekly phụ giúp người bạn thơ vui tính, đôn hậu này trong việc thực hiện tranh bìa, edit những lỗi chính tả nhỏ, rồi nhờ anh Du Miên của Thư viện Việt Nam, quản nhiệm tuần san Thời Báo layout dùm trước khi giao cho nhà in.
Trạch Gầm là người vốn quen thuộc với bạn đọc trang Thơ Cuối Tuần, nên người phụ trách mục này – ngoài lời nhận định đã viết nơi trang bìa sau của thi tập - thấy không cần thiết để nói nhiều thêm. Hơn nữa, Lời Bạt được trích dẫn sau đây của anh Đỗ Tiến Đức đã phản ảnh trọn vẹn cá tính của TG cũng như tâm tư, tình cảm tiềm tàng trong Vụn Vặt:
Vào dịp 30 tháng 4, 2007 tòa soạn Thời Luận có nhận được một bài thơ của anh, do người bạn của anh và cũng là của tôi, gửi tới…
Đó là bài thơ 8 chữ. Đọc bằng mắt mới được vài câu thôi là tôi đã cảm thấy cái hồn thơ của anh, cái hơi thơ của anh nó thấm ngay vào trái tim tôi. Thế là tôi đọc bằng miệng. Giọng của tôi mỗi lúc một to hơn và mỗi lúc lại có thêm cả sự diển tả khiến tôi như một tài tử đang tham gia một vở kịch thơ vậy… Sau đó ít ngày, tôi nhận được thêm vài bài thơ của Trạch Gầm. Càng đọc thơ anh càng thêm mến mộ khiến tôi đi tìm anh. Chúng tôi gặp nhau trong buổi kỷ niệm của an hem tù cải tạo. Trạch gầm có nụ cười bẽn lẽn như con gái. Nhưng Trạch Gầm lại là người cựu tù duy nhất mặc đồ lính, đội chi61c mũ lính. Bộ quân phục của anh bạc màu, cũ kỹ chứ không phải đồ của lính kiểng mỗi năm chỉ mặc vào ngày kỷ niệm quân lực…Sau đó ban tổ chức mời anh lên sân khấu trình bầy thơ của anh. Dáng điệu của anh là một sự trục trặc giữa những nét ngang tang, kiêu hùng của người lính tiền phương nhưng lại lúng túng vụng về của một học sinh trung học...
Ít ngày sau, Trạch Gầm gởi cho tôi tập bản thảo chưa có tựa gồm hàng trăm bài thơ của anh. Vẫn là những câu thơ của một người lính lưu lạc nơi đất khách nhớ về quê hương đất nước, nhớ bạn thời hoa niên và nhất là nhớ chiến trường xưa. Cái nhớ da diết này vừa bi thảm phẫn hận vừa hào khí ngất trời mà nhiều người đã so sánh như con hổ bị nhốt trong sở thú nhớ rừng hoang. Tất nhiên là sự so sánh ấy chỉ đúng một phần thôi, bởi vì người lính trong con người thơ Trạch Gầm, không chỉ mong thoát cũi xổ lồng để tung hoành mà trong ông, hay nói đúng hơn là trong thơ của ông, luôn luôn thấy nói tới một sứ mạng chưa hoàn thành, nghĩa là trách nhiệm bảo quốc an dân của người lính Trạch Gầm còn dang dở…
Tập thơ của Trạch Gầm có thể nói là một cuốn sử thi viết về người lính Việt Nam cộng hòa, viết bằng máu khi chiến đấu và viết bằng nước mắt khi phải buông súng. Tôi rất cảm thương người lính Trạch Gầm vì tôi hiểu rằng anh không làm thơ để đi vào lịch sử văn học mà làm thơ chỉ để giãi bầy những tâm sự u uất, phẫn hận và đã trở thành thuốc nổ đang ngày đêm đốt phá tim gan anh. Những dòng thơ của anh là những giòng nước mắt cần được trào ra ướt mặt để con người anh không bị dìm xuống trong lòng biển chất chứa một dĩ vãng bi thảm của đất nước…
[Trích Lời Bạt của Đỗ Tiến Đức: Sử Thi Của Người Lính Trẻ]
Thơ Cuối Tuần xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc 7 bài thơ tiêu biểu, tiềm ẩn nội dung thi ca của TG qua thi tập VỤN VẶT
◊ PHAN BÁ THỤY DƯƠNG
Thơ trích từ thi tập Vụn Vặt (Thơ Cuối Tuần 50)Cựu quân nhân thương phế binh, anh là ai?
Trần Quỳnh Lưu Marcel Proust nói “Quá khứ không phải chỉ thoáng qua, nó vẫn còn tại chỗ”. Thật vậy, quá khứ luôn luôn tồn tại và đeo đuổi chúng ta, dù chúng ta có đi đến chân trời góc bể nào hay chúng ta có sống với bất cứ môi trường nào thì “quá khứ vẫn nằm nguyên đó, không mất” đôi khi nó còn là một ám ảnh trong suốt cuộc đời. Trong mỗi con người ai cũng đều có một quá khứ riêng để giữ và để nhớ. Có những quá khứ vinh quang để hãnh diện, để nhắc nhở với con cháu, nhưng cũng có những quá khứ bi thảm mà con người cố quên, càng cố quên nó lại càng hiện rõ, đậm nét như Marcel đã nói “nó vẫn còn tại chỗ”. Nó vẫn còn tại chỗ là hiện hữu của những “mảnh đời rách nát, cơ khổ”. Những mảnh đời đã bị thời thế, chủ nghĩa và con người ruồng bỏ thảm hại. Những mảnh đời “hôm qua còn nguyên vẹn, hôm nay bỗng dưng lại là người ăn xin” ngay trên chính quê hương mình. Quá khứ một thời đó đứng nguyên tại chỗ với tên gọi “Thương Phế Binh Miền Nam ” hiện diện mỗi ngày trên các đường phố. Bởi vì quá khứ của họ đứng nguyên vẹn tại chỗ cho nên họ là những người không có tương lai, con cái họ cũng thế. Tương lai có chăng là những miếng cơm thừa canh cặn của những quan chức Cộng Sản quyền thế, ác độc bố thí, ban phát. Cái họ cần là làm sao có được ngày hai bữa cầm hơi.
Chúng ta những người Quốc Gia Miền Nam đang sống trên đất khách quê người có còn nhớ đến họ hay không? Và nhớ đến họ với tên gọi Thương Binh bằng những tuyên dương chỉ có trên ngôn ngữ và những tổ chức vinh danh không phải để đánh bóng cái quá khứ bi hùng đã qua hay là vì cái gì? Có phải chúng ta đang sống chỉ để mà tưởng nhớ thiếu thực tế, chỉ cần lập ra cho họ một ngày Thương Binh là đủ trả hết món nợ máu xương hay nợ ân tình của những người lính muôn năm trước. Món nợ đó có phải chăng là một nghĩa vụ và trách nhiệm mà hầu hết quân dân miền Nam cần báo trả. Và trả bằng cách nào để cho những người thương binh được hưởng những ân tình của những người dân miền Nam nhớ ơn họ. Trả bằng cách nào và phải trả làm sao cho những người thương phế binh và con cháu họ không bị những đòn thù của Cộng Sản giáng xuống đầu thêm một lần nữa.
Thực sự, Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa có cần những người Việt hải ngoại tổ chức rầm rộ một ngày vinh danh hay họ chỉ cần giúp đỡ về vật chất một cách cụ thể, cách nào để họ nhận được sự trợ giúp đó mà không bị Cộng Sản làm khó dễ?
Rất nhiều câu hỏi cần phải được làm sáng tỏ.
Nhân chúng tôi được biết có một số anh em cựu quân nhân hải ngoại có ý định lập một ngày để “Vinh Danh Thương Phế Binh VNCH”.
Ðây là một vấn đề rất nhạy cảm. Xét cả về tinh thần lẫn pháp lý. Cả hai vế đều cần phải mang tính Chính Danh, nếu không như thế sẽ gây ra nhiều ngộ nhận và hiểu lầm, có khi gây thêm hiềm khích và chia rẽ. Do đó trong phần quan điểm này xin được nêu ra những dữ kiện với mục đích đóng góp thêm những ý kiến xây dựng và làm sáng tỏ những vấn đề lịch sử và không hề có ý công kích hoặc đả phá bất cứ một cá nhân hay một nhóm nào. Quan điểm này cũng chỉ muốn nói lên những hiểu biết về một vấn đề mang tính thời sự mà trước đây ít có người nhắc đến, hoặc vì họ thiếu quan tâm hay vì không được biết tường tận nên có những ý kiến làm ngược lại những gì đã có từ trước vì một dụng ý riêng tư hay vì một thúc đẩy nào đó từ những tham vọng cục bộ. Nếu những nhận xét sau đây thiếu chính xác, tôi xin được đón nhận những cao kiến của quý vị trong tinh thần tương kính và học hỏi.
Cựu Quân Nhân-Thương Phế Binh-Anh là ai?
Theo định nghĩa của Phòng Tổng Quản Trị/Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH. Chiếu theo Huấn Thị Ðiều Hành Căn bản 230-600 về Tái Ðăng, Giải Ngũ được tu chính trong Ðại Hội Tổng Quản Trị/TTM năm 1971 và được Tổng Tham Mưu Trưởng, Ðại Tướng Cao Văn Viên ký ban hành (Huấn Thị Tái Ðăng-Giải Ngũ chỉ là một trong nhiều Huấn Thị được ban hành trong thời gian này) quy định thể thức Tái Ðăng và cho Giải Ngũ các quân nhân nằm trong các điều kiện như sau và những quân nhân này khi được giải ngũ sẽ mang danh xưng là cựu quân nhân.
1. Giải ngũ vì đáo hạn tuổi.
2. Giải ngũ vì bất khiển dụng và tàn phế vĩnh viễn do chiến tranh, sau khi được Hội Ðồng Y Khoa thuộc Cục Quân Y giám định mức độ tàn phế (chiếu theo tường trình ủy khúc và báo cáo tổn thất QÐ-22 của sĩ quan quản trị nhân viên và đơn vị trưởng, Hội Ðồng Giám Ðịnh Y Khoa sẽ chiếu theo báo cáo tổn thất này để phân định cấp độ tàn phế và cũng phải căn cứ trên hồ sơ bệnh lý của các quân y viện). Giải ngũ vì lý do này được gọi là “thương phế binh”.
3. Giải ngũ vì lý do thi hành xong nghĩa vụ quân dịch pháp định (thời bình).
4. Giải ngũ vì lý do kỷ luật (không được hưởng những quyền lợi dành cho cựu quân nhân).
5. Giải ngũ vì thâm niên cấp bậc quá lâu, trên 8 năm mà không được thăng cấp, đơn vị trưởng đề nghị thuyên chuyển về một đơn vị khác có bảng cấp số cao hơn để hội đủ điều kiện thăng cấp. Nếu vẫn không được thăng cấp, mặc nhiên sẽ được giải ngũ (điều khoản này được tu chính năm 1971).
Riêng quân nhân loại 2 không được giải ngũ, đương sự sẽ được thuyên chuyển về đơn vị chuyên môn không tác chiến.
Trước khi được giải ngũ, hồ sơ quân bạ do các trung tâm quản trị các quân khu và trung tâm quản trị trung ương tại Sài Gòn quản trị. Sau khi được giải ngũ tất cả các hồ sơ được chuyển về Bộ Cựu Chiến Binh. Do đó thương phế binh được nằm trong thành phần cựu chiến binh theo như huấn thị điều hành căn bản của Bộ Tổng Tham Mưu quy định.
Ngoài các huấn thị của quân lực, chính phủ Ðệ Nhất Cộng Hòa, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, nhằm nhớ đến công lao của những người đóng góp máu xương cho sự tự do, no ấm của đồng bào và đất nước. Ông đã ban hành luật Nhớ Ơn, Tương Trợ Cựu Chiến Binh và Cô Nhi Quả Phụ ngày 18 Tháng Giêng 1962. Và cũng kể từ năm này, chính thể Ðệ Nhất và Ðệ Nhị Cộng Hòa hàng năm đều tồ chức Lễ Ghi Ơn Cựu Chiến Binh, Thương Phế Binh và Cô Nhi Quả Phụ. Ngày 18 Tháng Giêng đã trở thành luật dành cho thương phế binh và nhằm vinh danh những người đã hy sinh một phần thân thể bảo vệ giang sơn, tổ quốc. Năm 1973 khi chính phủ Nguyễn Văn Thiệu ban hành Luật Người Cày Có Ruộng, các thương phế binh trong ngày 18 Tháng Giêng 1973 đã xuống đường biểu tình với sự cầm đầu của TPB Nguyễn Rô, Chủ Tịch TPB/VNCH đòi thương phế binh có nhà (theo niên biểu lịch sử VN thời kỳ 1945 - 1975 của soạn giả Vân Phố Hoàng Ðống do Ðại Nam phát hành).
Căn cứ trên những tài liệu lịch sử đã dẫn chứng. Chúng tôi rất cảm thông với những tấm lòng của một số cựu quân nhân muốn chọn một ngày khác vinh danh cho thương phế binh đều không mang tính chính danh.
Nếu chúng ta còn mang danh xưng Việt Nam Cộng Hòa như là cựu quân nhân QLVNCH, thì chúng ta không nên chọn một ngày khác ngoài cái ngày mà hai nền Ðệ Nhất và Ðệ Nhị Cộng Hòa đã ban hành thành luật và đã từng tổ chức hàng năm để vinh danh thương phế binh và cựu quân nhân cô nhi quả phụ. Thực sự, nếu chúng ta còn một chút tấm lòng dành cho những người đã từng hy sinh một phần thân thể trên chiến trường đang sống cơ cực tại quê nhà. Một món “Nợ Máu Xương” chúng ta có nghĩa vụ phải đền đáp và chúng ta còn muốn mang danh xưng Việt Nam Cộng Hòa thì chúng ta nên giữ ngày lễ của VNCH đã có trước đây. Ðó là chưa muốn nói đến yếu tố tâm lý lẫn chính trị, nếu chúng ta cố tình chọn một ngày khác theo ý muốn của một số quân nhân (có thể vì tấm chân tình với những thương phế binh còn ở lại) thì sự chọn lựa này đều không chính đáng.
Chúng tôi cũng được nghe nói đến một lý do mà một số anh em quân nhân có ý muốn chọn ngày 16 Tháng Chín làm ngày vinh danh cho thương phế binh khắp nơi tại hải ngoại. Ðể đóng góp ý kiến cho vấn đề này. Xin được chia làm hai phần, thứ nhất nói về Tình, thứ hai nói về Lý (quân sử ).
Trước khi phân tích hai phần trên, theo sự nhận biết của người viết bài này. Có một số anh em cựu quân nhân muốn chọn ngày 16 Tháng Chín làm ngày “Vinh Danh Thương Phế Binh” vì theo luận cứ của các anh em này cho rằng 16 Tháng Chín là ngày Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến VNCH tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị trong Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972 và theo họ, mức thương vong trong trận đánh này lên rất cao.
Có thật như vậy hay không? Tôi xin được trình bày như sau:
- Thứ nhất: Theo Tình thì đã là người dân VNCH, chúng ta luôn phải nhớ ơn những người lính Cộng Hòa Miền Nam đã xả thân vì đại nghĩa dân tộc, nhất là những người lính đã hy sinh một phần thân thể trên chiến trường. Họ là những thương binh bị bỏ lại và bị quên lãng trong một thời gian khá lâu, và đã sống trong một hoàn cảnh nghiệt ngã trong chế độ Cộng Sản chỉ biết có trả thù. Việc nhớ đến họ là điều cần thiết phải có, không những chỉ vinh danh mà còn phải giúp họ về vật chất để họ có thể sống chuỗi ngày còn lại trong sự biết ơn của đồng bào miền Nam. Ðây là nghĩa vụ của mỗi người, nhất là các vị chỉ huy của họ mà hầu hết hiện đang sống ổn định tại hải ngoại. Một món nợ “Máu Xương” mà tất cả nhân dân miền Nam thiếu họ.
Do đó, rất thông cảm với một số anh em cựu quân nhân có ý định phát động ngày ghi ơn các thương phế binh, nhằm cho mọi người nhớ đến những thương phế binh cùng khổ này. Việc làm này thật đáng khích lệ. Nhưng chúng tôi thiết nghĩ, như đã trình bày trong phần trên, mong các vị cựu quân nhân có ý định như thế nên nhìn vào thực tế đã có từ trước, như vậy có thể tránh được mọi ngộ nhận đáng tiếc có thể xảy ra làm phân hóa tiềm năng chiến đấu của người Việt Quốc Gia hải ngoại.
- Thứ hai: Nói về Lý thì trong quân sử do Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH ấn hành nhận định tình hình của Trung Tâm Hành Quân Bộ TTM, trận tổng tấn công Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972 do CS Miền Bắc phát động và tiến hành cùng một lúc trên 3 mặt trận, Kontum, Bình Long-An Lộc và Quảng trị cho thấy mặt trận Kontum và Quảng Trị chỉ là diện nhằm phân tán và xé mỏng các binh chủng ưu tú của quân lực VNCH. Mặt trận An Lộc mới chính là điểm vì các lý do sau:
Về Chính Trị: Nhằm áp lực với Mỹ ở thế mạnh trong lúc đang thương thảo về một hiệp ước ngưng bắn tại Paris (ký ngày 17 Tháng Giêng năm 1973 ) do đó, CS đã tung vào chiến trường An Lộc 3 sư đoàn chủ lực 5, 7, và 9 cộng với các trung đoàn chiến xa T-54, pháo binh cố chiếm cho bằng được An Lộc với mưu đồ dùng An Lộc làm thủ đô cho cái gọi là Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam do Huỳnh Tấn Phát làm chủ tịch và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam do Nguyễn Hữu Thọ làm chủ tịch, nhưng thực chất là con cờ của Hà Nội, do Hà Nội đẻ ra, với ý đồ chính trị như thế, và nhằm đánh tan âm mưu của CS, nên chính phủ VNCH và QLVNCH bằng mọi giá quyết giữ An Lộc.
Về Quân Sự: Bộ Tổng Tham Mưu đã tung vào chiến trường An Lộc 3 Sư Ðoàn Bộ Binh 5,18, 21, Trung Ðoàn 15 Sư Ðoàn 9, 3 Liên Ðoàn BÐQ, 2 Lữ Ðoàn Nhảy Dù, Chiến Ðoàn Xung Kích Quân Ðoàn III, Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù, các đơn vị Thiết Giáp, Pháo Binh v.v... Với quyết tâm và cường độ chiến tranh như thế, mức thương vong về phía QLVNCH được lượng định cao hơn 2 chiến trường Trị-Thiên và Kontum rất nhiều, do đó, tình trạng thương bệnh binh cũng hơn hẳn 2 mặt trận kia. Ðây là sự thật được viết trong Quân Sử và cũng được rất nhiều báo chí thời đó tường thuật rất tỉ mỷ, rõ ràng. Luận cứ dùng ngày 16 Tháng Chín 1972 chọn làm ngày vinh danh các thương phế binh, vì cho rằng trong mặt trận tái chiếm Cổ Thành, sự thương vong của các quân nhân dù và Thủy Quân Lục Chiến cao nhất trong Mùa Hè Ðỏ Lửa là không đúng sự thật. Giả dụ nếu chúng ta chối bỏ luật ngày 18 Tháng Giêng 1962 “Nhớ Ơn Cựu Quân Nhân, TPB và Cô Nhi Quả Phụ” do chính phủ VNCH ban hành, để chọn một ngày khác, thì nhất định phải chọn là ngày Giải Tỏa An Lộc chứ không phải là ngày Tái Chiếm Cổ Thành Quảng Trị, đó là chưa nói đến yếu tố Chính Danh.
Thực tế, với cuộc sống khó khăn của các thương phế binh VNCH tại quê nhà, và với sự trù dập của chế độ Cộng Sản. Nếu chúng ta vẫn dùng các ngày lễ của VNCH, Cộng
Sản VN vẫn không có cái cớ để đàn áp anh em thương phế binh, cho rằng Cộng Sản sẽ không từ bỏ bất cứ một hành động nào nhằm đàn áp và bóc lột người dân trong nước. Cho dù chúng ta có tổ chức rầm rộ hay âm thầm trợ giúp thương phế binh, thì bản chất ăn cướp của Cộng Sản vẫn thế, không thay đổi. Có điều, những người Việt Quốc Gia vẫn còn tâm tình yêu thương những người lính Cộng Hòa, nhất là các thương phế binh đang sống trong nước, chúng ta nên chọn ngày mà chính phủ Cộng Hòa đã tuyên dương họ, bởi vì tự chính những người lính ấy đã được người dân Việt trong cũng như ngoài nước vinh danh họ lâu rồi! Họ vẫn sống trong lòng mỗi người dân Việt biết nhớ ơn và trả ơn! Nếu chúng ta có lòng nhớ đến những người lính bất hạnh ấy thì “Xin hãy trả họ về cái ngày mà lịch sử đã ghi công, ngày mà toàn dân miền Nam nhớ ơn họ, kể từ 18 Tháng Giêng 1962”.
Xin một chút thinh lặng trong nỗi niềm tri ân, và cũng bởi vì như Marcel Proust đã nói “Quá khứ không phải chỉ thoáng qua, nó vẫn còn tại chỗ”.
Trần Quỳnh Lưu Marcel Proust nói “Quá khứ không phải chỉ thoáng qua, nó vẫn còn tại chỗ”. Thật vậy, quá khứ luôn luôn tồn tại và đeo đuổi chúng ta, dù chúng ta có đi đến chân trời góc bể nào hay chúng ta có sống với bất cứ môi trường nào thì “quá khứ vẫn nằm nguyên đó, không mất” đôi khi nó còn là một ám ảnh trong suốt cuộc đời. Trong mỗi con người ai cũng đều có một quá khứ riêng để giữ và để nhớ. Có những quá khứ vinh quang để hãnh diện, để nhắc nhở với con cháu, nhưng cũng có những quá khứ bi thảm mà con người cố quên, càng cố quên nó lại càng hiện rõ, đậm nét như Marcel đã nói “nó vẫn còn tại chỗ”. Nó vẫn còn tại chỗ là hiện hữu của những “mảnh đời rách nát, cơ khổ”. Những mảnh đời đã bị thời thế, chủ nghĩa và con người ruồng bỏ thảm hại. Những mảnh đời “hôm qua còn nguyên vẹn, hôm nay bỗng dưng lại là người ăn xin” ngay trên chính quê hương mình. Quá khứ một thời đó đứng nguyên tại chỗ với tên gọi “Thương Phế Binh Miền Nam ” hiện diện mỗi ngày trên các đường phố. Bởi vì quá khứ của họ đứng nguyên vẹn tại chỗ cho nên họ là những người không có tương lai, con cái họ cũng thế. Tương lai có chăng là những miếng cơm thừa canh cặn của những quan chức Cộng Sản quyền thế, ác độc bố thí, ban phát. Cái họ cần là làm sao có được ngày hai bữa cầm hơi.
Chúng ta những người Quốc Gia Miền Nam đang sống trên đất khách quê người có còn nhớ đến họ hay không? Và nhớ đến họ với tên gọi Thương Binh bằng những tuyên dương chỉ có trên ngôn ngữ và những tổ chức vinh danh không phải để đánh bóng cái quá khứ bi hùng đã qua hay là vì cái gì? Có phải chúng ta đang sống chỉ để mà tưởng nhớ thiếu thực tế, chỉ cần lập ra cho họ một ngày Thương Binh là đủ trả hết món nợ máu xương hay nợ ân tình của những người lính muôn năm trước. Món nợ đó có phải chăng là một nghĩa vụ và trách nhiệm mà hầu hết quân dân miền Nam cần báo trả. Và trả bằng cách nào để cho những người thương binh được hưởng những ân tình của những người dân miền Nam nhớ ơn họ. Trả bằng cách nào và phải trả làm sao cho những người thương phế binh và con cháu họ không bị những đòn thù của Cộng Sản giáng xuống đầu thêm một lần nữa.
Thực sự, Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa có cần những người Việt hải ngoại tổ chức rầm rộ một ngày vinh danh hay họ chỉ cần giúp đỡ về vật chất một cách cụ thể, cách nào để họ nhận được sự trợ giúp đó mà không bị Cộng Sản làm khó dễ?
Rất nhiều câu hỏi cần phải được làm sáng tỏ.
Nhân chúng tôi được biết có một số anh em cựu quân nhân hải ngoại có ý định lập một ngày để “Vinh Danh Thương Phế Binh VNCH”.
Ðây là một vấn đề rất nhạy cảm. Xét cả về tinh thần lẫn pháp lý. Cả hai vế đều cần phải mang tính Chính Danh, nếu không như thế sẽ gây ra nhiều ngộ nhận và hiểu lầm, có khi gây thêm hiềm khích và chia rẽ. Do đó trong phần quan điểm này xin được nêu ra những dữ kiện với mục đích đóng góp thêm những ý kiến xây dựng và làm sáng tỏ những vấn đề lịch sử và không hề có ý công kích hoặc đả phá bất cứ một cá nhân hay một nhóm nào. Quan điểm này cũng chỉ muốn nói lên những hiểu biết về một vấn đề mang tính thời sự mà trước đây ít có người nhắc đến, hoặc vì họ thiếu quan tâm hay vì không được biết tường tận nên có những ý kiến làm ngược lại những gì đã có từ trước vì một dụng ý riêng tư hay vì một thúc đẩy nào đó từ những tham vọng cục bộ. Nếu những nhận xét sau đây thiếu chính xác, tôi xin được đón nhận những cao kiến của quý vị trong tinh thần tương kính và học hỏi.
Cựu Quân Nhân-Thương Phế Binh-Anh là ai?
Theo định nghĩa của Phòng Tổng Quản Trị/Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH. Chiếu theo Huấn Thị Ðiều Hành Căn bản 230-600 về Tái Ðăng, Giải Ngũ được tu chính trong Ðại Hội Tổng Quản Trị/TTM năm 1971 và được Tổng Tham Mưu Trưởng, Ðại Tướng Cao Văn Viên ký ban hành (Huấn Thị Tái Ðăng-Giải Ngũ chỉ là một trong nhiều Huấn Thị được ban hành trong thời gian này) quy định thể thức Tái Ðăng và cho Giải Ngũ các quân nhân nằm trong các điều kiện như sau và những quân nhân này khi được giải ngũ sẽ mang danh xưng là cựu quân nhân.
1. Giải ngũ vì đáo hạn tuổi.
2. Giải ngũ vì bất khiển dụng và tàn phế vĩnh viễn do chiến tranh, sau khi được Hội Ðồng Y Khoa thuộc Cục Quân Y giám định mức độ tàn phế (chiếu theo tường trình ủy khúc và báo cáo tổn thất QÐ-22 của sĩ quan quản trị nhân viên và đơn vị trưởng, Hội Ðồng Giám Ðịnh Y Khoa sẽ chiếu theo báo cáo tổn thất này để phân định cấp độ tàn phế và cũng phải căn cứ trên hồ sơ bệnh lý của các quân y viện). Giải ngũ vì lý do này được gọi là “thương phế binh”.
3. Giải ngũ vì lý do thi hành xong nghĩa vụ quân dịch pháp định (thời bình).
4. Giải ngũ vì lý do kỷ luật (không được hưởng những quyền lợi dành cho cựu quân nhân).
5. Giải ngũ vì thâm niên cấp bậc quá lâu, trên 8 năm mà không được thăng cấp, đơn vị trưởng đề nghị thuyên chuyển về một đơn vị khác có bảng cấp số cao hơn để hội đủ điều kiện thăng cấp. Nếu vẫn không được thăng cấp, mặc nhiên sẽ được giải ngũ (điều khoản này được tu chính năm 1971).
Riêng quân nhân loại 2 không được giải ngũ, đương sự sẽ được thuyên chuyển về đơn vị chuyên môn không tác chiến.
Trước khi được giải ngũ, hồ sơ quân bạ do các trung tâm quản trị các quân khu và trung tâm quản trị trung ương tại Sài Gòn quản trị. Sau khi được giải ngũ tất cả các hồ sơ được chuyển về Bộ Cựu Chiến Binh. Do đó thương phế binh được nằm trong thành phần cựu chiến binh theo như huấn thị điều hành căn bản của Bộ Tổng Tham Mưu quy định.
Ngoài các huấn thị của quân lực, chính phủ Ðệ Nhất Cộng Hòa, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, nhằm nhớ đến công lao của những người đóng góp máu xương cho sự tự do, no ấm của đồng bào và đất nước. Ông đã ban hành luật Nhớ Ơn, Tương Trợ Cựu Chiến Binh và Cô Nhi Quả Phụ ngày 18 Tháng Giêng 1962. Và cũng kể từ năm này, chính thể Ðệ Nhất và Ðệ Nhị Cộng Hòa hàng năm đều tồ chức Lễ Ghi Ơn Cựu Chiến Binh, Thương Phế Binh và Cô Nhi Quả Phụ. Ngày 18 Tháng Giêng đã trở thành luật dành cho thương phế binh và nhằm vinh danh những người đã hy sinh một phần thân thể bảo vệ giang sơn, tổ quốc. Năm 1973 khi chính phủ Nguyễn Văn Thiệu ban hành Luật Người Cày Có Ruộng, các thương phế binh trong ngày 18 Tháng Giêng 1973 đã xuống đường biểu tình với sự cầm đầu của TPB Nguyễn Rô, Chủ Tịch TPB/VNCH đòi thương phế binh có nhà (theo niên biểu lịch sử VN thời kỳ 1945 - 1975 của soạn giả Vân Phố Hoàng Ðống do Ðại Nam phát hành).
Căn cứ trên những tài liệu lịch sử đã dẫn chứng. Chúng tôi rất cảm thông với những tấm lòng của một số cựu quân nhân muốn chọn một ngày khác vinh danh cho thương phế binh đều không mang tính chính danh.
Nếu chúng ta còn mang danh xưng Việt Nam Cộng Hòa như là cựu quân nhân QLVNCH, thì chúng ta không nên chọn một ngày khác ngoài cái ngày mà hai nền Ðệ Nhất và Ðệ Nhị Cộng Hòa đã ban hành thành luật và đã từng tổ chức hàng năm để vinh danh thương phế binh và cựu quân nhân cô nhi quả phụ. Thực sự, nếu chúng ta còn một chút tấm lòng dành cho những người đã từng hy sinh một phần thân thể trên chiến trường đang sống cơ cực tại quê nhà. Một món “Nợ Máu Xương” chúng ta có nghĩa vụ phải đền đáp và chúng ta còn muốn mang danh xưng Việt Nam Cộng Hòa thì chúng ta nên giữ ngày lễ của VNCH đã có trước đây. Ðó là chưa muốn nói đến yếu tố tâm lý lẫn chính trị, nếu chúng ta cố tình chọn một ngày khác theo ý muốn của một số quân nhân (có thể vì tấm chân tình với những thương phế binh còn ở lại) thì sự chọn lựa này đều không chính đáng.
Chúng tôi cũng được nghe nói đến một lý do mà một số anh em quân nhân có ý muốn chọn ngày 16 Tháng Chín làm ngày vinh danh cho thương phế binh khắp nơi tại hải ngoại. Ðể đóng góp ý kiến cho vấn đề này. Xin được chia làm hai phần, thứ nhất nói về Tình, thứ hai nói về Lý (quân sử ).
Trước khi phân tích hai phần trên, theo sự nhận biết của người viết bài này. Có một số anh em cựu quân nhân muốn chọn ngày 16 Tháng Chín làm ngày “Vinh Danh Thương Phế Binh” vì theo luận cứ của các anh em này cho rằng 16 Tháng Chín là ngày Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến VNCH tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị trong Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972 và theo họ, mức thương vong trong trận đánh này lên rất cao.
Có thật như vậy hay không? Tôi xin được trình bày như sau:
- Thứ nhất: Theo Tình thì đã là người dân VNCH, chúng ta luôn phải nhớ ơn những người lính Cộng Hòa Miền Nam đã xả thân vì đại nghĩa dân tộc, nhất là những người lính đã hy sinh một phần thân thể trên chiến trường. Họ là những thương binh bị bỏ lại và bị quên lãng trong một thời gian khá lâu, và đã sống trong một hoàn cảnh nghiệt ngã trong chế độ Cộng Sản chỉ biết có trả thù. Việc nhớ đến họ là điều cần thiết phải có, không những chỉ vinh danh mà còn phải giúp họ về vật chất để họ có thể sống chuỗi ngày còn lại trong sự biết ơn của đồng bào miền Nam. Ðây là nghĩa vụ của mỗi người, nhất là các vị chỉ huy của họ mà hầu hết hiện đang sống ổn định tại hải ngoại. Một món nợ “Máu Xương” mà tất cả nhân dân miền Nam thiếu họ.
Do đó, rất thông cảm với một số anh em cựu quân nhân có ý định phát động ngày ghi ơn các thương phế binh, nhằm cho mọi người nhớ đến những thương phế binh cùng khổ này. Việc làm này thật đáng khích lệ. Nhưng chúng tôi thiết nghĩ, như đã trình bày trong phần trên, mong các vị cựu quân nhân có ý định như thế nên nhìn vào thực tế đã có từ trước, như vậy có thể tránh được mọi ngộ nhận đáng tiếc có thể xảy ra làm phân hóa tiềm năng chiến đấu của người Việt Quốc Gia hải ngoại.
- Thứ hai: Nói về Lý thì trong quân sử do Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH ấn hành nhận định tình hình của Trung Tâm Hành Quân Bộ TTM, trận tổng tấn công Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972 do CS Miền Bắc phát động và tiến hành cùng một lúc trên 3 mặt trận, Kontum, Bình Long-An Lộc và Quảng trị cho thấy mặt trận Kontum và Quảng Trị chỉ là diện nhằm phân tán và xé mỏng các binh chủng ưu tú của quân lực VNCH. Mặt trận An Lộc mới chính là điểm vì các lý do sau:
Về Chính Trị: Nhằm áp lực với Mỹ ở thế mạnh trong lúc đang thương thảo về một hiệp ước ngưng bắn tại Paris (ký ngày 17 Tháng Giêng năm 1973 ) do đó, CS đã tung vào chiến trường An Lộc 3 sư đoàn chủ lực 5, 7, và 9 cộng với các trung đoàn chiến xa T-54, pháo binh cố chiếm cho bằng được An Lộc với mưu đồ dùng An Lộc làm thủ đô cho cái gọi là Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam do Huỳnh Tấn Phát làm chủ tịch và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam do Nguyễn Hữu Thọ làm chủ tịch, nhưng thực chất là con cờ của Hà Nội, do Hà Nội đẻ ra, với ý đồ chính trị như thế, và nhằm đánh tan âm mưu của CS, nên chính phủ VNCH và QLVNCH bằng mọi giá quyết giữ An Lộc.
Về Quân Sự: Bộ Tổng Tham Mưu đã tung vào chiến trường An Lộc 3 Sư Ðoàn Bộ Binh 5,18, 21, Trung Ðoàn 15 Sư Ðoàn 9, 3 Liên Ðoàn BÐQ, 2 Lữ Ðoàn Nhảy Dù, Chiến Ðoàn Xung Kích Quân Ðoàn III, Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù, các đơn vị Thiết Giáp, Pháo Binh v.v... Với quyết tâm và cường độ chiến tranh như thế, mức thương vong về phía QLVNCH được lượng định cao hơn 2 chiến trường Trị-Thiên và Kontum rất nhiều, do đó, tình trạng thương bệnh binh cũng hơn hẳn 2 mặt trận kia. Ðây là sự thật được viết trong Quân Sử và cũng được rất nhiều báo chí thời đó tường thuật rất tỉ mỷ, rõ ràng. Luận cứ dùng ngày 16 Tháng Chín 1972 chọn làm ngày vinh danh các thương phế binh, vì cho rằng trong mặt trận tái chiếm Cổ Thành, sự thương vong của các quân nhân dù và Thủy Quân Lục Chiến cao nhất trong Mùa Hè Ðỏ Lửa là không đúng sự thật. Giả dụ nếu chúng ta chối bỏ luật ngày 18 Tháng Giêng 1962 “Nhớ Ơn Cựu Quân Nhân, TPB và Cô Nhi Quả Phụ” do chính phủ VNCH ban hành, để chọn một ngày khác, thì nhất định phải chọn là ngày Giải Tỏa An Lộc chứ không phải là ngày Tái Chiếm Cổ Thành Quảng Trị, đó là chưa nói đến yếu tố Chính Danh.
Thực tế, với cuộc sống khó khăn của các thương phế binh VNCH tại quê nhà, và với sự trù dập của chế độ Cộng Sản. Nếu chúng ta vẫn dùng các ngày lễ của VNCH, Cộng
Sản VN vẫn không có cái cớ để đàn áp anh em thương phế binh, cho rằng Cộng Sản sẽ không từ bỏ bất cứ một hành động nào nhằm đàn áp và bóc lột người dân trong nước. Cho dù chúng ta có tổ chức rầm rộ hay âm thầm trợ giúp thương phế binh, thì bản chất ăn cướp của Cộng Sản vẫn thế, không thay đổi. Có điều, những người Việt Quốc Gia vẫn còn tâm tình yêu thương những người lính Cộng Hòa, nhất là các thương phế binh đang sống trong nước, chúng ta nên chọn ngày mà chính phủ Cộng Hòa đã tuyên dương họ, bởi vì tự chính những người lính ấy đã được người dân Việt trong cũng như ngoài nước vinh danh họ lâu rồi! Họ vẫn sống trong lòng mỗi người dân Việt biết nhớ ơn và trả ơn! Nếu chúng ta có lòng nhớ đến những người lính bất hạnh ấy thì “Xin hãy trả họ về cái ngày mà lịch sử đã ghi công, ngày mà toàn dân miền Nam nhớ ơn họ, kể từ 18 Tháng Giêng 1962”.
Xin một chút thinh lặng trong nỗi niềm tri ân, và cũng bởi vì như Marcel Proust đã nói “Quá khứ không phải chỉ thoáng qua, nó vẫn còn tại chỗ”.
Nhà văn HUY PHƯƠNG!
letamanh Tôi được quen với Huy Phương trong một trường hợp rất lạ. Số là chúng tôi dự tính tổ chức cuộc họp mặt những người tù chính trị thuộc các trại Z 30 Hàm Tân và trại tù Tân Lập Vĩnh Phú. Không ngờ rằng nhà giáo, nhà văn, nhà báo Huy Phương cũng là một tù nhân, có số lượng năm tù mười mấy năm trời; điện thoại mời chúng tôi lên đài SBTN trong cuộc phỏng vấn do anh phụ trách. Mục đích chính, anh muốn giới thiệu buổi họp mặt các cựu tù rộng rãi để anh em các nơi nghe thấy được, đến tham dự cho đông...
Từ đó chúng tôi dường như có mối tình tri kỷ đâu đó đợi chờ bộc phát và thông cảm nhau. Tôi mời anh phát biểu cảm tưởng trong cuộc họp mặt Gia Ðình Lại Giang nhân dịp ra mắt Ðặc San. Vừa bước lên bục, anh đã chiếm được cảm tình của mọi người chỉ sau mấy câu khởi đầu. Chậm rãi và trầm tĩnh, không trau chuốt, lời nói giản dị nhưng đậm đà tính thuyết phục. Giọng Huế nhẹ và trong, nụ cười nửa miệng... Ôi! một ông già đáng yêu làm sao! Tôi ngạc nhiên và thốt lên như thế!
Hôm ra mắt tập Tạp Ghi “Ấm Lạnh quê người”, tác giả, trong lúc ký tên vào sách nhìn tôi mỉm cười, mắt cũng cười. Với số lượng quan khách đông đúc như thế, tôi chúc mừng anh với đứa con thứ, con mọn đang được mọi người trân trọng. Tôi cầm tập sách , nói với anh bạn nhà báo Nguyễn Thanh Huy: “Anh Huy Phương vẫn xem nước Mỹ là quê người chứ chưa phải là quê của mình.” Mà cũng lạ, tại sao trong đầu chúng ta còn mãi xem quốc gia thứ hai là quê của người chứ không phải là của mình, khi mình đang là một công dân, đang thực thi và được hưởng toàn thể các quyền căn bản có được?.
Ðọc suốt tất cả những bài viết trong “Ấm lạnh quê người” ta thấy rỏ con người Huy Phương, một người vừa sống một nửa trên đất Mỹ và một nửa còn lại nằm ở Việt Nam! Giữa một nhà giáo Việt Nam bảo thủ, một người lính kỷ luật, một người tù bất khuất, một người Mỹ gốc Việt làm công tác truyền thông tiến bộ... Nói cách nào đó, Huy Phuong vẫn còn là một con người của quá khứ ! Cho nên những bài viết của anh, những chuyện trên trời dưới đất đầy xúc tích và cũng đầy vẻ thâm sâu mang nặng phần ẩn dụ làm cho người ta phải suy nghĩ thật nhiều sau khi đọc loạt bài trong tập Tạp Ghi này.
Có một người cũng hay viết những chuyện trên trời dưới đất nổi tiếng là Bùi Bảo Trúc. Chính cái hôm ra mắt sách anh chàng này giới thiệu chuyện trên trời dưới đất của anh chàng kia một cách rất ư là tâm đắc. Mỗi anh mỗi vẻ mười phân vẹn mười; hôm ấy người ta vỗ tay tán thưởng những lời dí dỏm của Bùi Bảo Trúc cũng chính là tán thưởng Huy Phương với những vui buồn đến “ấm” rồi “lạnh” trên quê hương của “Người”! Không biết tác giả Huy Phương có mâu thuẫn không, khi trong tập sách nầy, anh ca tụng mước Mỹ và bằng lòng, thỏa mãn với quê hương thứ hai “xin nhận nơi này làm quê hương”; trong lúc đó lại lấy tên cho tập sách “quê người”?
Trong ngày vinh danh Bà Khúc Minh Thơ ở Nam Cali, Huy Phương, lúc diễn tả cảnh tù đày, anh đem ra trưng dẫn một lon Guigo có làm quai xách của tù trong những lúc lén lút “cải thiện linh tinh” trong tù như thế nào. Anh lôi ra từ cái lon thẩm đem màu khói những con dế, con nhái, con chàng hiu, cào cào châu chấu... vốn là thức ăn quí báu nhiều “protein” trong những ngày ở tù đói rét! Chỉ có thế, đã nói lên tất cả, không cần nói nhiều về công ơn mà Bà chị Khúc Minh Thơ đã theo đuổi từ tuyệt vọng nầy đến hy vọng khác một thời gian dài đấu tranh để người tù chính trị không còn những ngày kè kè cái lon guigo khốn nạn đó nữa. Huy phương chậm rãi, chửng chạc, chính xác làm một công việc đầy ý nghiã, làm cho mọi người cảm thấy vừa gần gũi những tình cảm xưa bùng cháy lại trong tim, vừa trải rộng tấm lòng để cùng chia xẻ những kỷ niệm đầy ắp ngày xưa ấy.
Huy Phương chứng tỏ một hiểu biết tổng quát rất rộng, trí nhớ hơn người, lời văn trau chuốt nhưng giản dị, những câu chuyện kể đều lấy trong thực tế hằng ngày. Chuyện của anh là cuộc sống, là hơi thở, là niềm ưu tư hay suy nghĩ chung của mọi người. Vì thế Huy Phương là người khơi dậy những điều mà chúng ta thường quan tâm. Hay nói cách khác, Huy Phương đã nói thay, viết thay cho chúng ta vậy!
Tôi không có khả năng giới thiệu hay “lăng xê” Huy Phương, vì chính tác giả cũng như những bậc đàn anh đã làm việc đó rồi. Ở đây, tôi chỉ ghi lại những ý nghĩ thô thiển của mình về một người anh văn nghệ đã được may mắn quen biết. Tôi cũng không dại gì đi trích ra những đoạn văn để làm cái việc bình luận văn học, đó là cộng việc của người khác, đàn anh của tôi. Tôi đọc xong tập Tạp Ghi “Ấm Lạnh Quê Người”, cảm thấy thích thú, nên ghi lại những dòng này để gọi là cám ơn tác giả. Nhờ Huy Phương, đọc văn Huy Phương mà tôi được mở rộng thêm kiến thức của mình, tự mình thấy ấm hẳn trên quê hương thứ hai đang trở lạnh trong mùa thu đầy trăn trở sau trận bảo lửa Nam California, nơi chúng tôi đang sống, dường như trở thành như một thảm họa...
cuối tháng 10 năm 2007
letamanh
letamanh Tôi được quen với Huy Phương trong một trường hợp rất lạ. Số là chúng tôi dự tính tổ chức cuộc họp mặt những người tù chính trị thuộc các trại Z 30 Hàm Tân và trại tù Tân Lập Vĩnh Phú. Không ngờ rằng nhà giáo, nhà văn, nhà báo Huy Phương cũng là một tù nhân, có số lượng năm tù mười mấy năm trời; điện thoại mời chúng tôi lên đài SBTN trong cuộc phỏng vấn do anh phụ trách. Mục đích chính, anh muốn giới thiệu buổi họp mặt các cựu tù rộng rãi để anh em các nơi nghe thấy được, đến tham dự cho đông...
Từ đó chúng tôi dường như có mối tình tri kỷ đâu đó đợi chờ bộc phát và thông cảm nhau. Tôi mời anh phát biểu cảm tưởng trong cuộc họp mặt Gia Ðình Lại Giang nhân dịp ra mắt Ðặc San. Vừa bước lên bục, anh đã chiếm được cảm tình của mọi người chỉ sau mấy câu khởi đầu. Chậm rãi và trầm tĩnh, không trau chuốt, lời nói giản dị nhưng đậm đà tính thuyết phục. Giọng Huế nhẹ và trong, nụ cười nửa miệng... Ôi! một ông già đáng yêu làm sao! Tôi ngạc nhiên và thốt lên như thế!
Hôm ra mắt tập Tạp Ghi “Ấm Lạnh quê người”, tác giả, trong lúc ký tên vào sách nhìn tôi mỉm cười, mắt cũng cười. Với số lượng quan khách đông đúc như thế, tôi chúc mừng anh với đứa con thứ, con mọn đang được mọi người trân trọng. Tôi cầm tập sách , nói với anh bạn nhà báo Nguyễn Thanh Huy: “Anh Huy Phương vẫn xem nước Mỹ là quê người chứ chưa phải là quê của mình.” Mà cũng lạ, tại sao trong đầu chúng ta còn mãi xem quốc gia thứ hai là quê của người chứ không phải là của mình, khi mình đang là một công dân, đang thực thi và được hưởng toàn thể các quyền căn bản có được?.
Ðọc suốt tất cả những bài viết trong “Ấm lạnh quê người” ta thấy rỏ con người Huy Phương, một người vừa sống một nửa trên đất Mỹ và một nửa còn lại nằm ở Việt Nam! Giữa một nhà giáo Việt Nam bảo thủ, một người lính kỷ luật, một người tù bất khuất, một người Mỹ gốc Việt làm công tác truyền thông tiến bộ... Nói cách nào đó, Huy Phuong vẫn còn là một con người của quá khứ ! Cho nên những bài viết của anh, những chuyện trên trời dưới đất đầy xúc tích và cũng đầy vẻ thâm sâu mang nặng phần ẩn dụ làm cho người ta phải suy nghĩ thật nhiều sau khi đọc loạt bài trong tập Tạp Ghi này.
Có một người cũng hay viết những chuyện trên trời dưới đất nổi tiếng là Bùi Bảo Trúc. Chính cái hôm ra mắt sách anh chàng này giới thiệu chuyện trên trời dưới đất của anh chàng kia một cách rất ư là tâm đắc. Mỗi anh mỗi vẻ mười phân vẹn mười; hôm ấy người ta vỗ tay tán thưởng những lời dí dỏm của Bùi Bảo Trúc cũng chính là tán thưởng Huy Phương với những vui buồn đến “ấm” rồi “lạnh” trên quê hương của “Người”! Không biết tác giả Huy Phương có mâu thuẫn không, khi trong tập sách nầy, anh ca tụng mước Mỹ và bằng lòng, thỏa mãn với quê hương thứ hai “xin nhận nơi này làm quê hương”; trong lúc đó lại lấy tên cho tập sách “quê người”?
Trong ngày vinh danh Bà Khúc Minh Thơ ở Nam Cali, Huy Phương, lúc diễn tả cảnh tù đày, anh đem ra trưng dẫn một lon Guigo có làm quai xách của tù trong những lúc lén lút “cải thiện linh tinh” trong tù như thế nào. Anh lôi ra từ cái lon thẩm đem màu khói những con dế, con nhái, con chàng hiu, cào cào châu chấu... vốn là thức ăn quí báu nhiều “protein” trong những ngày ở tù đói rét! Chỉ có thế, đã nói lên tất cả, không cần nói nhiều về công ơn mà Bà chị Khúc Minh Thơ đã theo đuổi từ tuyệt vọng nầy đến hy vọng khác một thời gian dài đấu tranh để người tù chính trị không còn những ngày kè kè cái lon guigo khốn nạn đó nữa. Huy phương chậm rãi, chửng chạc, chính xác làm một công việc đầy ý nghiã, làm cho mọi người cảm thấy vừa gần gũi những tình cảm xưa bùng cháy lại trong tim, vừa trải rộng tấm lòng để cùng chia xẻ những kỷ niệm đầy ắp ngày xưa ấy.
Huy Phương chứng tỏ một hiểu biết tổng quát rất rộng, trí nhớ hơn người, lời văn trau chuốt nhưng giản dị, những câu chuyện kể đều lấy trong thực tế hằng ngày. Chuyện của anh là cuộc sống, là hơi thở, là niềm ưu tư hay suy nghĩ chung của mọi người. Vì thế Huy Phương là người khơi dậy những điều mà chúng ta thường quan tâm. Hay nói cách khác, Huy Phương đã nói thay, viết thay cho chúng ta vậy!
Tôi không có khả năng giới thiệu hay “lăng xê” Huy Phương, vì chính tác giả cũng như những bậc đàn anh đã làm việc đó rồi. Ở đây, tôi chỉ ghi lại những ý nghĩ thô thiển của mình về một người anh văn nghệ đã được may mắn quen biết. Tôi cũng không dại gì đi trích ra những đoạn văn để làm cái việc bình luận văn học, đó là cộng việc của người khác, đàn anh của tôi. Tôi đọc xong tập Tạp Ghi “Ấm Lạnh Quê Người”, cảm thấy thích thú, nên ghi lại những dòng này để gọi là cám ơn tác giả. Nhờ Huy Phương, đọc văn Huy Phương mà tôi được mở rộng thêm kiến thức của mình, tự mình thấy ấm hẳn trên quê hương thứ hai đang trở lạnh trong mùa thu đầy trăn trở sau trận bảo lửa Nam California, nơi chúng tôi đang sống, dường như trở thành như một thảm họa...
cuối tháng 10 năm 2007
letamanh
CHIẾC LON “GÔ”
Huy Phương Tôi đã lang thang trên “net” chiều nay nhưng không thể nào tìm ra hình ảnh của người chiếc lon “gô”, người bạn ngày nào của tôi. Bao bì của các món hàng sản xuất mỗi ngày mỗi tân tiến, mới lạ, đẹp đẽ và gọn nhẹ. Bây giờ người ta dựng sữa bột trong những bao bằng giấy dày hoặc bằng thứ kim loại mỏng, không như bằng chiếc hộp nhôm không rỉ sét, dày dặn như cái thời xa xưa đó. Người vẽ kiểu của chiếc lon “gô” ngày nào chắc cũng đã ra người thiên cổ, không còn để cái đám tù tập trung trong các trại tù Cộng Sản sau này gặp gỡ để nói một lời cám ơn về một thứ đồ dùng, một bao bì mà sau khi dùng sản phẩm, có thể vứt bỏ, nó lại được dùng như một vật tiện dụng và hữu ích qua nhiều năm tháng.
Loại sữa Guigoz của Hòa Lan được nhập cảng vào Việt Nam nhiều nhất là sau khi người Pháp trở lại Việt Nam vào khoảng năm 1956. Vào thời ấy lon sữa bột Guigoz không lấy gì làm đắt. Một công chức trung bình ở miền Nam cũng có thể nuôi con bằng loại sữa bột này. Có hai loại sữa Guigoz, loại trắng cho trẻ sơ sinh, và loại màu vàng cho tuổi từ một năm trở đi. Loại sữa bột này phổ biến đến nỗi hầu như gia đình trung lưu nào cũng nuôi con bằng sữa Guigoz, và những chiếc lon nhôm, dày dặn, với dung tích 0.75 lít, có chiều cao 18cm, đường kính 8cm, không rỉ sét này thường được các bà nội trợ cất giữ để đựng thực phẩm ở trong bếp, trừ muối, nó có thể đựng đường, ớt, tiêu hành hay các thức ăn khô. Tuy chiếc lon Guigoz tiện dụng nhưng thật ra nó không có giá trị gì, nó có thể ra nằm ngoài đống rác. Từ năm 1965 trở về sau, miền Nam đã nhập cảng nhiều loại sữa bột khác dành cho trẻ em, nhưng chiếc lon sữa Guigoz vẫn còn tồn tại trong hầu hết gia đình vì nó bền, chắc, khó móp méo hay hư hỏng.
Thế mà chiếc lon Guigoz đó lại trở thành người bạn thân thiết từ mùa hè năm 1975 khi tôi phải giã từ quân đội, bỏ lại vợ con và thành phố yêu đấu để trình diện đi tù, làm cái công việc của một người lính thất trận. Thoạt đầu chiếc lon chỉ mang theo mớ thức ăn khô dùng tạm cho vài ngày, nhưng về sau khi thức ăn đã hết, chiếc lon kia đã đổi chức năng để từ đây gánh vác một phần tháng ngày gian khổ cho tôi. Về sau khi thấy tôi không còn hy vọng gì quay trở lại với gia đình trong một thời gian ngắn, chiếc lon sữa Guigoz kia đã không rời tôi nửa bước như một người bạn tri kỷ có thể chia ngọt xẻ bùi với nhau, khi với một nắm rau bên vệ đường, khi với một con nhái bén, có khi với một mẩu sắn thừa sau ngày thu hoạch còn sót lại trong đám đất bị cày xới.
Có khi chiếc lon ấy trở thành một bình trà với những đọt chè xanh, đậm đà hơn một tuần Thiết Quan Âm thời phong lưu hay mở ra một ngụm cà phê sảng khoái đánh lừa khứu giác với những hạt bo bo cùng với mấy hạt ngô rang cháy. Nó cũng trở thành người bạn mỗi sáng với những công việc vệ sinh thường nhật bên “lán” tù, và cũng tội nghiệp cho chúng tôi trong một miền Bắc không có thừa lấy một manh giấy báo hay một mẩu giẻ rách, nó đã theo những người tù mỗi lần vì nhu cầu phải đi thăm…“lăng Bác”.
Ngày xưa chiếc lon kia mang một cái tên ngoại quốc khá đẹp từ xứ Hòa Lan có nhiều nhà máy xay gió, những cánh đồng cỏ bất tận và những đàn bò bình yên, đến miền Nam với hình dáng tròn trịa, mới mẻ, nay nó mang một cái tên xấu xí trần tục trong một xã hội đói nghèo, lạc hậu. Nó là “gô”, là “cống” hay có người gọi nó là “hăng gô”(?), những cái tên rất khó bề giải thích. Nó dần dần trở thành đen điu, xấu xí, hèn mọn, móp méo qua những lần bị nung nóng trên bếp lửa của trại tù hay trên đám cỏ khô giữa cánh rừng bạt ngàn hay bên dòng suối nhỏ trong những buổi trưa, để thêm một chút “cải thiện” với nắm rau “tàu bay” hay một mẩu khoai mài. Những ngày có thăm nuôi, nó cũng chắt chiu nắm mì gói hay chút ruốc thịt mang cho “sang cả” thêm cho bữa ăn khốn khổ của người tù. Những lúc chẳng có gì, một gô nước lả cũng đầy bụng.
Chiếc lon gô ngày nay đã đen điu hình dáng nhưng chưa bao giờ chịu để mình bẩn thỉu, nó đã nhiêu lần được kỳ cọ như chủ nhân đã kỳ cọ cái thân thể gầy còm khốn khổ của người tù dưới suối sau một ngày kiệt sức, vắt mồ hôi. Đêm về, chiếc lon kia cũng lặng lẽ ở trên đầu nằm cùng với mớ chăn chiếu lẫn lộn với những mảnh nhung y sờn rách, bạc màu, để sáng mai thức dậy trong tiếng kẻng tù gắt gỏng.
Chưa có một vật dụng nào thiết thân với người tù như cái lon “gô” đen điu ấy. Bộ áo quần tù có thể thay đổi, đôi dép có thể mòn vẹt, nhưng chiếc lon “gô” đã bền bĩ với thể chất cũng như tấm lòng với người tù qua những đoạn đường gian khổ, những ngày lên nương xuống rẫy, những sáng mùa đông giá buốt cũng như những trưa hè đổ lửa. Nó gần gũi, khắng khít không rời người tù đi đâu nửa bước.
Thế mà…
Như những ông già H.O. trên đất Mỹ, tôi thường đẩy xe cho vợ đi chợ mua thức ăn. Những hàng hóa, thực phẩm bày biện trong những ngôi chợ to lớn, chỉ gây ngạc nhiên cho tôi lúc đầu tiên mới đặt chân đến Mỹ cách đây hàng chục năm, bây giờ trở nên quen thuộc và thường tình đến nhàm chán. Những kệ hàng bán đầy khoai lang đủ loại hay những đống khoai mì đầy ắp, nhưng mớ cải xanh, những bó rau muống tươi tắn, những củ su hào mập mạp… không hề nhắc nhở hay cho tôi một suy nghĩ nào về những tháng ngày tù tội, thiếu thốn mà những củ khoai, những nắm rau xanh đó như một nỗi mơ ước thèm thuồng thường nhật của một người tù.
Nhưng có một buổi nọ, khi đẩy chiếc xe đi chợ đến bên hàng bày bán khoai mì, không hiểu sao lần này tôi dừng lại, cổ họng như nghẹn ngào, những giọt nước mắt như muốn trào ra. Trong một thoáng tôi bỗng nhớ lại hình ảnh của nồi sắn luộc không bóc vỏ với những mẩu sắn rơi vải nhuộm một màu tím sẫm, hình ảnh của người bạn tù say sắn, té từ chỗ ngủ ở tầng trên xuống nền gạch và những tiếng la cầu cứu trong đêm. Những củ sắn nằm trên kệ hàng ở đây, là một món ăn chơi của những người no đủ, không hề có một giá trị gì với đời sống của một con người bình thường này trên mảnh đất giàu có như nước Mỹ.
Chúng ta thật đã nhàm chán với những bữa tiệc tùng sang trọng, mỗi tuần không dám ăn tới ba quả trứng gà, bắt đầu thấy sợ thịt, không bao giờ đụng đến bơ, sữa hay phó mát. Phần tôi, đã nhiều lần đi qua những ngôi chợ khác nhau mà lòng thấy dửng dưng trước những món thực phẩm tầm thường như nhìn một vật xa lạ chưa lần nào gặp gỡ hay gắn bó trong cuộc đời mình. Phải chăng những vật hèn mọn này, những củ khoai lang, những miếng sắn luộc này đã từng ám ảnh chúng ta trong giấc ngủ ngày nào?
Và tôi nhớ ra một điều, khi được ra khỏi nhà tù, tôi đã quên hẳn và vất bỏ ở xó xỉnh nào đó cái lon “gô” đen đúa, người bạn thân thiết của những tháng ngày tù tội của tôi. Tôi đã đi một vòng khá xa, từ Bắc vào Nam, từ Tây sang Đông, qua bao nhiêu cánh rừng, qua bao nhiêu eo biển, bỏ lại sau lưng quê hương và quá khứ của tôi.
Đôi khi tôi cũng đã quên tôi, nói gì đến những vật tầm thường hèn mọn như thế!
Huy Phương
Huy Phương Tôi đã lang thang trên “net” chiều nay nhưng không thể nào tìm ra hình ảnh của người chiếc lon “gô”, người bạn ngày nào của tôi. Bao bì của các món hàng sản xuất mỗi ngày mỗi tân tiến, mới lạ, đẹp đẽ và gọn nhẹ. Bây giờ người ta dựng sữa bột trong những bao bằng giấy dày hoặc bằng thứ kim loại mỏng, không như bằng chiếc hộp nhôm không rỉ sét, dày dặn như cái thời xa xưa đó. Người vẽ kiểu của chiếc lon “gô” ngày nào chắc cũng đã ra người thiên cổ, không còn để cái đám tù tập trung trong các trại tù Cộng Sản sau này gặp gỡ để nói một lời cám ơn về một thứ đồ dùng, một bao bì mà sau khi dùng sản phẩm, có thể vứt bỏ, nó lại được dùng như một vật tiện dụng và hữu ích qua nhiều năm tháng.
Loại sữa Guigoz của Hòa Lan được nhập cảng vào Việt Nam nhiều nhất là sau khi người Pháp trở lại Việt Nam vào khoảng năm 1956. Vào thời ấy lon sữa bột Guigoz không lấy gì làm đắt. Một công chức trung bình ở miền Nam cũng có thể nuôi con bằng loại sữa bột này. Có hai loại sữa Guigoz, loại trắng cho trẻ sơ sinh, và loại màu vàng cho tuổi từ một năm trở đi. Loại sữa bột này phổ biến đến nỗi hầu như gia đình trung lưu nào cũng nuôi con bằng sữa Guigoz, và những chiếc lon nhôm, dày dặn, với dung tích 0.75 lít, có chiều cao 18cm, đường kính 8cm, không rỉ sét này thường được các bà nội trợ cất giữ để đựng thực phẩm ở trong bếp, trừ muối, nó có thể đựng đường, ớt, tiêu hành hay các thức ăn khô. Tuy chiếc lon Guigoz tiện dụng nhưng thật ra nó không có giá trị gì, nó có thể ra nằm ngoài đống rác. Từ năm 1965 trở về sau, miền Nam đã nhập cảng nhiều loại sữa bột khác dành cho trẻ em, nhưng chiếc lon sữa Guigoz vẫn còn tồn tại trong hầu hết gia đình vì nó bền, chắc, khó móp méo hay hư hỏng.
Thế mà chiếc lon Guigoz đó lại trở thành người bạn thân thiết từ mùa hè năm 1975 khi tôi phải giã từ quân đội, bỏ lại vợ con và thành phố yêu đấu để trình diện đi tù, làm cái công việc của một người lính thất trận. Thoạt đầu chiếc lon chỉ mang theo mớ thức ăn khô dùng tạm cho vài ngày, nhưng về sau khi thức ăn đã hết, chiếc lon kia đã đổi chức năng để từ đây gánh vác một phần tháng ngày gian khổ cho tôi. Về sau khi thấy tôi không còn hy vọng gì quay trở lại với gia đình trong một thời gian ngắn, chiếc lon sữa Guigoz kia đã không rời tôi nửa bước như một người bạn tri kỷ có thể chia ngọt xẻ bùi với nhau, khi với một nắm rau bên vệ đường, khi với một con nhái bén, có khi với một mẩu sắn thừa sau ngày thu hoạch còn sót lại trong đám đất bị cày xới.
Có khi chiếc lon ấy trở thành một bình trà với những đọt chè xanh, đậm đà hơn một tuần Thiết Quan Âm thời phong lưu hay mở ra một ngụm cà phê sảng khoái đánh lừa khứu giác với những hạt bo bo cùng với mấy hạt ngô rang cháy. Nó cũng trở thành người bạn mỗi sáng với những công việc vệ sinh thường nhật bên “lán” tù, và cũng tội nghiệp cho chúng tôi trong một miền Bắc không có thừa lấy một manh giấy báo hay một mẩu giẻ rách, nó đã theo những người tù mỗi lần vì nhu cầu phải đi thăm…“lăng Bác”.
Ngày xưa chiếc lon kia mang một cái tên ngoại quốc khá đẹp từ xứ Hòa Lan có nhiều nhà máy xay gió, những cánh đồng cỏ bất tận và những đàn bò bình yên, đến miền Nam với hình dáng tròn trịa, mới mẻ, nay nó mang một cái tên xấu xí trần tục trong một xã hội đói nghèo, lạc hậu. Nó là “gô”, là “cống” hay có người gọi nó là “hăng gô”(?), những cái tên rất khó bề giải thích. Nó dần dần trở thành đen điu, xấu xí, hèn mọn, móp méo qua những lần bị nung nóng trên bếp lửa của trại tù hay trên đám cỏ khô giữa cánh rừng bạt ngàn hay bên dòng suối nhỏ trong những buổi trưa, để thêm một chút “cải thiện” với nắm rau “tàu bay” hay một mẩu khoai mài. Những ngày có thăm nuôi, nó cũng chắt chiu nắm mì gói hay chút ruốc thịt mang cho “sang cả” thêm cho bữa ăn khốn khổ của người tù. Những lúc chẳng có gì, một gô nước lả cũng đầy bụng.
Chiếc lon gô ngày nay đã đen điu hình dáng nhưng chưa bao giờ chịu để mình bẩn thỉu, nó đã nhiêu lần được kỳ cọ như chủ nhân đã kỳ cọ cái thân thể gầy còm khốn khổ của người tù dưới suối sau một ngày kiệt sức, vắt mồ hôi. Đêm về, chiếc lon kia cũng lặng lẽ ở trên đầu nằm cùng với mớ chăn chiếu lẫn lộn với những mảnh nhung y sờn rách, bạc màu, để sáng mai thức dậy trong tiếng kẻng tù gắt gỏng.
Chưa có một vật dụng nào thiết thân với người tù như cái lon “gô” đen điu ấy. Bộ áo quần tù có thể thay đổi, đôi dép có thể mòn vẹt, nhưng chiếc lon “gô” đã bền bĩ với thể chất cũng như tấm lòng với người tù qua những đoạn đường gian khổ, những ngày lên nương xuống rẫy, những sáng mùa đông giá buốt cũng như những trưa hè đổ lửa. Nó gần gũi, khắng khít không rời người tù đi đâu nửa bước.
Thế mà…
Như những ông già H.O. trên đất Mỹ, tôi thường đẩy xe cho vợ đi chợ mua thức ăn. Những hàng hóa, thực phẩm bày biện trong những ngôi chợ to lớn, chỉ gây ngạc nhiên cho tôi lúc đầu tiên mới đặt chân đến Mỹ cách đây hàng chục năm, bây giờ trở nên quen thuộc và thường tình đến nhàm chán. Những kệ hàng bán đầy khoai lang đủ loại hay những đống khoai mì đầy ắp, nhưng mớ cải xanh, những bó rau muống tươi tắn, những củ su hào mập mạp… không hề nhắc nhở hay cho tôi một suy nghĩ nào về những tháng ngày tù tội, thiếu thốn mà những củ khoai, những nắm rau xanh đó như một nỗi mơ ước thèm thuồng thường nhật của một người tù.
Nhưng có một buổi nọ, khi đẩy chiếc xe đi chợ đến bên hàng bày bán khoai mì, không hiểu sao lần này tôi dừng lại, cổ họng như nghẹn ngào, những giọt nước mắt như muốn trào ra. Trong một thoáng tôi bỗng nhớ lại hình ảnh của nồi sắn luộc không bóc vỏ với những mẩu sắn rơi vải nhuộm một màu tím sẫm, hình ảnh của người bạn tù say sắn, té từ chỗ ngủ ở tầng trên xuống nền gạch và những tiếng la cầu cứu trong đêm. Những củ sắn nằm trên kệ hàng ở đây, là một món ăn chơi của những người no đủ, không hề có một giá trị gì với đời sống của một con người bình thường này trên mảnh đất giàu có như nước Mỹ.
Chúng ta thật đã nhàm chán với những bữa tiệc tùng sang trọng, mỗi tuần không dám ăn tới ba quả trứng gà, bắt đầu thấy sợ thịt, không bao giờ đụng đến bơ, sữa hay phó mát. Phần tôi, đã nhiều lần đi qua những ngôi chợ khác nhau mà lòng thấy dửng dưng trước những món thực phẩm tầm thường như nhìn một vật xa lạ chưa lần nào gặp gỡ hay gắn bó trong cuộc đời mình. Phải chăng những vật hèn mọn này, những củ khoai lang, những miếng sắn luộc này đã từng ám ảnh chúng ta trong giấc ngủ ngày nào?
Và tôi nhớ ra một điều, khi được ra khỏi nhà tù, tôi đã quên hẳn và vất bỏ ở xó xỉnh nào đó cái lon “gô” đen đúa, người bạn thân thiết của những tháng ngày tù tội của tôi. Tôi đã đi một vòng khá xa, từ Bắc vào Nam, từ Tây sang Đông, qua bao nhiêu cánh rừng, qua bao nhiêu eo biển, bỏ lại sau lưng quê hương và quá khứ của tôi.
Đôi khi tôi cũng đã quên tôi, nói gì đến những vật tầm thường hèn mọn như thế!
Huy Phương

Sài Gòn trong nhạc Việt
Lê Hoàng Thanh
Vốn là người miền Trung nên khi bắt đầu vào bậc trung học đệ nhất cấp tôi mới nghe nói đến thành phố Sài Gòn, lý do là quí thầy cô khi đến nhậm chức thường hay giới thiệu từ đâu đến. Có Thầy tốt nghiệp đại học sư phạm đến từ Huế, Đà Lạt và có Thầy Cô đến từ Sài Gòn. Từ đó thủ đô Việt Nam Cộng Hoà mang tên Sài Gòn hiện hữu trong tâm trí của tôi.
Sau này vì lý do nghề nghiệp ba má tôi thỉnh thoảng vào Sài Gòn (SG) và mỗi lần về kể lại cho nghe chúng tôi mới biết thêm về Sài thành, mới biết là thành phố SG sầm uất, với những ngôi nhà “cao chật trời” qua sự tưởng tương của trẻ thơ, với những con đường dập dìu xe cộ, với những cửa tiệm đầy hàng hóa đẹp được nhập cảng từ ngoại quốc v.v… Tóm lại là Sài Gòn có rất nhiều cái lạ, ngựa xe đông đúc mà tỉnh nhỏ tôi không có và không thể so sánh được :
Ai đến Sài Gòn cũng khen Sài Gòn lớn
Ai đến Sài Gòn thấy chi cũng lạ hơn
Người đông xe đông đường phố mênh mông
Nhịp sống sôi động ngày đêm chờ mong
Ai đến Sài Gòn nhớ vô thăm chợ Lớn
Thăm bến Bạch Đằng rất vui Thảo Cầm Viên
Từ khắp bốn phương mời hãy ghé thăm
Ai đến một lần để biết Sài Gòn
Ước mơ được ghé thăm Sài Gòn chớm nở trong tôi từ khi nghe ba má nói vài ngày nữa Ba (hay Má) vào Sài Gòn nhưng …mãi đến hè 1965 khi học xong đệ tam, lần đầu tiên tôi mới được dịp vào thăm SG vài tuần. Lúc đó tôi được ba gởi vào ở nhà người bạn gần Việt Nam Quốc Tự nên đã có cơ hội làm quen với SG, một thời được mệnh danh là “Hòn Ngọc Viễn Đông”.
Vào trú ngụ ở khu bàn cờ nhưng đâu biết tại sao người ta gọi như thế, rồi có dịp dạo phố, đi thăm sở thú v.v.. và điều mà tôi không quên được là trong những ngày ở đây tôi “đã khóc” hơi nhiều vì hầu như ngày nào cũng ngửi hơi lựu đạn cay vì luôn có các cuộc biểu tình trước khu Việt Nam Quốc Tự và cảnh sát muốn giải tỏa đoàn người biểu tình nên hay sử dụng loại vũ khí này. Dầu vậy trong trí óc của cậu học trò 16 tuổi lúc bấy giờ vẫn còn giữ lại vài hình ảnh khó quên, đúng như nhạc sĩ Văn Phụng diễn tả :
Cùng nhau đi tới Sài Gòn
Cùng nhau đi tới Sài Gòn
Thủ đô yêu dấu nước Nam tự do
Dừng chân trên bến Cộng Hòa
Người Trung Nam Bắc một nhà
Về đây chung sống hát khúc hoan ca
Cùng nhau đi tới Sài Gòn
Là nơi du khách dập dồn …
Ngựa xe buôn bán hẹn hò
Người dân no ấm sống đời tự do
(Ghé Bến Sài Gòn của Ns Văn Phụng)
Lần thứ hai vào SG hè 1968, sau khi tôi học xong bậc trung học. Lần này ở SG lâu hơn nên tôi có nhiều thì giờ để thăm viếng thành phố Sài Gòn nhưng dù gì cũng chỉ là “khách phương xa” nên không dám nói về Sài thành. Khoảng sáu tháng sau từ giã gia đình, tạm biệt bạn bè tôi rời VN đi xa, thật xa với lời hứa hẹn đơn sơ là sẽ có ngày trở lại. Trong suốt chuổi ngày bôn ba xứ người thỉnh thoảng một mình trong căn phòng trọ tôi thường nghĩ về quê hương VN, gia đình bên kia bờ đại dương, ngồi ôn lại quá khứ và dĩ nhiên làm sao quên được thành phố Sài Gòn :
Sài Gòn ơi, Sài Gòn ơi
Nhớ Sài Gòn như nhớ người thương,
Bao năm xa cách thiết tha miên trường
Xuân sắc một thời em xinh như mộng,
Đẹp ơi là đẹp, Sài Gòn Hòn Ngọc Viễn Đông
(Nhớ Sài Gòn của Ns Bùi kim Cương & Nhất Tâm)
Tôi nói riêng lại nhớ đến SG nhiều hơn nữa mỗi lần nhận thư bạn bè từ VN gởi sang. Mà không nhớ sao được khi vài cô bạn gái “chơi ác” nhắc khéo :
Anh còn nhớ không anh ?
Nhớ Sài Gòn mưa rơi thật nhiều
Nhớ Sài Gòn bao nhiêu là chiều
Nhớ Sài Gòn từng tiếng hát đêm
(Sài Gòn 2 mùa)
Tuy chưa có dịp tìm hiểu nhiều về Sài Gòn vì chỉ ở có hơn 5 tháng nhưng tôi cũng đã từng dạo phố Sài Gòn những chiều thu. So với cái lạnh chết người xứ mà tôi (bất đắc dĩ) tìm đến chẳng thấm vào đâu nhưng cũng đã trải qua cái lạnh nhè nhẹ cuối năm của Sài Gòn ngày nào :
Khoác chút áo màu ra phố
Lang thang mùa Đông Sài Gòn
Anh đi đâu mùa khốn khó
Tôi (*) cô đơn đến ngại ngùng
(Mùa đông Sài Gòn của Ns Nguyễn Ngọc Thiện)
(*) Nguyên văn là : Em cô đơn đến ngại ngùng
Thế rồi như đã nói, tôi rời SG năm 1968 khi VN đang cuối đông. Thời gian trôi đi nhanh thật, sau 6 năm xa xứ, giữ đúng lời hứa tôi đã trở lại quê hương, ghé thăm Sài Gòn vào mùa Xuân 1975, phản ảnh phần nào tâm trạng của nhạc sĩ Khúc Lan :
Sài Gòn nơi đi Sài Gòn chốn đến
Ai bước chân đi chẳng mong ngày về
Tàu nào ra khơi mà không nhớ bến
Trở lại quê xưa vẹn một lời thề.
(Sài Gòn Niềm Nhớ của Ns Khúc Lan)
Đây là lần thứ ba tôi đặt chân đến Sài Gòn sau nhiều năm cách biệt. Rất tiếc tình hình chính trị VN vào thời điểm này trở nên căng thẳng nên chỉ về trung được có một tuần lễ thăm gia đình là tôi phải vào lại SG, ở đó cho đến khi từ giả thành phố này. Không ngờ lần chia tay này (cho đến nay !) cũng là lần chót tôi giã từ SG vì sau đó VNCH thua trận, miền Nam VN bị cộng sản miền Bắc cưỡng chiếm. Tôi mất nước từ 30.04.1975, xin tị nạn xứ người và SG của tôi ngày nào đã bị đổi tên. Dầu vậy, mỗi lần nhắc đến Hòn Ngọc Viễn Đông dạo nào thì Sài Gòn vẫn là cái tên luôn ngự trị trong tim, không bao giờ phai nhạt đối với tôi nói riêng và hầu hết người Việt tị nạn nói chung :
Sài Gòn ơi ! Ta mất người như người đã mất tên
như giòng sông nước quẩn quanh buồn
như người đi cách mặt xa lòng ta hỏi thầm em có nhớ không
Sài Gòn ơi ! Đến những ngày ôi hè phố xôn xao
trong niềm vui tiếng hỏi câu chào sáng đời tươi thắm vạn sắc màu
nay còn gì đâu...
(Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên của Ns Nguyễn đình Toàn)
Cưỡng chiếm miền Nam VN xong rồi thì cộng sản áp đặt sự thống trị trên phần đất chúng chiếm được. Quân cán chính VNCH thì hết lớp này đến lớp khác bị đẩy vào các trại cải tại, ra đi mà chẳng biết ngày về. Chưa đủ, cs đã xóa luôn tên thủ đô VNCH. Hãy nghe nhạc sĩ Trần quang Lộc bùi ngùi tiếc thương dùm cho đồng hương miền Nam của mình :
Sài Gòn giờ đã thay tên
Cũng như em đã đổi họ năm nào
Sài Gòn vui buồn dấu trong tim
Chỉ biết thương nhau bằng ánh mắt nhìn
(Trả Lời Thư Em của Ns Trần Quang Lộc)
Tình yêu dành cho thành phố Sài Gòn không vì thế mà phai nhòa. Ngược lại là khác. Nhiều văn sĩ, nhạc sĩ đã mượn lời thơ giòng nhạc để viết về Sài Gòn, để tiếc thương một thành phố đã ăn sâu vào tâm thức người miền Nam VN nói chung. Tâm trạng đó đã được nhạc sĩ Ngô Thụy Miên diễn tả qua ca khúc “Sài Gòn còn đó nỗi buồn” :
Còn đâu nữa Sài Gòn
Còn chăng nữa niềm đau không tên
Bao nhiêu năm qua, đời như đợi chờ
Đời như tình cờ, đời như mịt mờ
Đời như nắng mưa qua
(Sài Gòn còn đó nỗi buồn của Ns Ngô thụy Miên)
Sau 30/04/1975 hàng triệu người Việt lưu lạc khắp năm châu. Khi quyết định bỏ nước ra đi hầu như mọi người đều ấp ủ hoài bảo và hẹn sẽ có ngày trở lại. Có lẽ tâm trạng của nhạc sĩ Nam Lộc cũng là tâm trạng của những người cùng cảnh ngộ, đã phải lìa bỏ quê hương ra đi để tìm sự sống :
Sài Gòn ơi, tôi xin hứa rằng tôi trở về
Người tình ơi, tôi xin giữ trọn mãi lời thề
Dù thời gian, có làm một thoáng đam mê
Phố phường vắng ánh sao đêm
Nhưng tôi vẫn không bao giờ quên.
(Vĩnh Biệt Sài Gòn của Ns Nam Lộc)
Và sau khi sang được đến bờ tự do, được định cư tại một đệ tam quốc gia nào đó, người Việt tị nạn cộng sản vẫn không quên thành phố Sài Gòn. Dầu đang đi giữa thành phố hoa lệ Paris mà ngày nào từng mơ ước được một lần ghé thăm nhưng kỷ niệm cũ quay về, hình ảnh Sài Gòn lờn vờn trước mặt, nổi buồn lâng lâng được thể hiện qua tâm trạng của Ngô Thụy Miên :
Tôi đi giữa trời Paris
mà nhớ thương Sài Gòn
Nắng Sài Gòn hôm nao dìu bước chân em
Qua phố phường vào quán chợ thân quen
Tôi bỗng thấy lòng bâng khuâng
Nắng Paris, Nắng Sài Gòn của Ns Ngô thụy Miên
Càng sống lâu nơi đất lạ người Việt chúng ta mới có thể so sánh để rồi lại nhớ thương về quê mẹ, về Sài Gòn của chúng ta thưở nào. Nhạc sĩ Phạm anh Dũng đã mượn lời nhạc phát họa cho chúng ta thấy vài hình ảnh của Hòn Ngọc Viễn Đông ngày xưa và nếu ai tình cờ vào trang nhà Phan Châu Trinh nghe nữ ca sĩ Xuân Thanh với tiếng hát điêu luyện, ngọt ngào của “người con gái miền sông Hương núi Ngự” trình diễn trọn bài hát này thì chắc chắn sẽ nhớ Sài Gòn ghê lắm :
Nhớ đến em nhiều này Sài Gòn ơi.
Xa xôi ngàn khơi đâu tà áo trắng.
Duy Tân im lìm phố vắng.
Thương ai cây lá hoang tàn.
Người xây giấc mơ hồi hương
Này Sài Gòn yêu thương …
(Nhớ Sài Gòn của Ns Phạm Anh Dũng)
Còn rất nhiều nhạc sĩ sáng tác những bản nhạc viết tặng riêng cho Sài Gòn như : Sài Gòn Có Em của Phạm mạnh Đạt; Đêm nhớ về Sài Gòn của cố nhạc sĩ Trầm tử Thiêng; Sài Gòn Em và Tôi của Y Vũ; Sài Gòn trên đường Nguyễn Du và Sài Gòn ơi tôi còn em đó của Trường Sa; Mùa Đông Sài Gòn của Nguyễn ngọc Thiện hay Hẹn Em Sài Gòn của Hà Thúc Sinh, Chiều trên đường Hồng Thập Tự của Nguyễn Tất Nhiên v.v… Gần đây có nhạc sĩ Trần Chí Phúc đã sáng tác và trình diễn nhiều bài hát viết cho Sài Gòn như Sài Gòn Em Ở Đó, Sài Gòn Một Thoáng 30 Năm….nhưng xin thông cảm cho là tôi không thể trích dẫn hết ra đây được.
Khi rời Sài Gòn lần sau cùng thì tôi còn là một thanh niên trẻ. Thắm thoát đã hơn 30 năm biệt xứ kể từ tháng 04-1975, chưa một lần ghé lại thăm nên tôi nói riêng rất thích nghe và thường khẽ hát bài hát do Kim Tuấn và Lê Uyên Phương sáng tác, có lẽ vì nội dung bản nhạc phản ảnh đúng tâm trạng của chính mình !. Vâng tôi đã xa Sài Gòn khá lâu, không biết là :
Sài-gòn bây giờ trời mưa hay nắng ?
Sài-gòn bây giờ ai khóc thương ai ?
Sài-gòn giới nghiêm che kín đêm dài ?
Sài-gòn khói bay, Sài-gòn nắng đổ ?
Sài-gòn có còn bước chiều bơ vơ ?
(Khi Xa Sài Gòn của Ns Kim Tuấn & Lê Uyên Phương)
… Nhưng từ ngày nghe biết đến Phong Trào Sài Gòn thì trong tôi lại toé lên một tia sáng hy vọng. Phong Trào Quốc Dân đòi trả lại tên Sài Gòn (gọi tắt là PTSG) do Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ chủ xướng, với sự hỗ trợ đắc lực của Cô Nguyễn Thanh Hà, các ông Việt Sĩ và Dominic Hoàng, từ đó lại có thêm nhiều bản hát viết về Sài Gòn ra đời, bài đầu tiên được phổ biến trên trang nhà http://www.Sà i GònforSài Gòn.org/ là “Hãy Trả Lại Tôi Sài Gòn” của Nhạc Sĩ Xuân Điềm, kế đến là những bản hát khác như “Đòi lại tên Sài Gòn” của Hải Sơn, “Trả lại ta tên Sài Gòn” của Nhật Tùng, “Mãi Mãi Sài Gòn” của Phan văn Hưng và Nam Dao hay gần đây với bản nhạc mới xuất hiện với tựa đề “Sài Gòn Còn Mãi Trong Tôi” của Cù Hoà Phong và Nhật Hạnh … Phải nói đây là việc làm đáng hoan nghênh và nên tiếp tục thực hiện. Viết nhạc với chủ đề Sài Gòn để vinh danh SG, để người Việt tỵ nạn CS không quên Sài Gòn, để cái tên Sài Gòn yêu dấu từ đó trở nên quen thuộc trong lòng mọi người Việt tha hương !
Phong trào Sài Gòn được sự ủng hộ khá mạnh mẽ của người Việt Tỵ nạn CS hải ngoại cũng như đồng hương ở quốc nội và văn thư đòi đổi tên Tổng Giáo Phận HCM thành Sài Gòn đã được gởi đến Toà Thánh Vatican.
Hy vọng rằng một ngày không xa, Vatican sẽ chuẩn y nguyện vọng của người Việt tỵ nạn CS, biến ước mơ thành sự thật, để (tưởng như là) :
Thấy mình vừa trở lại quê hương
Đã gặp người một trời yêu thương, cho lòng thêm chút ấm
Thấy bạn bè thèm ngồi bên nhau, Nhắc chuyện người chuyện đời thương đau
và lúc đó chúng ta sẽ cùng nhau quây quần nắm tay vui mừng cất tiếng hát vang bài “Sài Gòn” của nhạc sĩ Y Vân :
Sống mãi trong tôi bóng hôm nay sẽ không phai
Sài Gòn đẹp lắm, Sài Gòn ơi ! Sài Gòn ơi !
Sài Gòn đẹp lắm, Sài Gòn ơi ! Sài Gòn ơi !
Lê Hoàng Thanh
(Thượng tuần tháng 05/2007)

Ai Đã Hạ Gục
Chủ Nghĩa Cộng Sản?
James G. Hershberg
Phạm Minh Ngọc dịch Tờ The Economist đưa ra một câu trả lời cực kì ngắn gọn. Sau khi Ronald Reagan tạ thế, tờ báo này đưa ảnh của ông lên trang bìa với dòng chữ: Người chiến thắng chủ nghĩa cộng sản. Những người khác cũng nói hệt như thế. Một buổi phát thanh mà tôi có nghe bắt đầu như sau: “Người ta tin rằng ông là người chiến thắng Chiến tranh Lạnh”. Sau đó vài phút, một nhà chính trị học ghi nhận hai thắng lợi chính của Reagan: giành chiến thắng trong Chiến tranh Lạnh và tiêu diệt Liên Xô. Sau đó là hàng loạt những người sùng bái và bình luận viên tiếp tục tung ra những lời ngợi ca Reagan vì chiến thắng “đế chế của cái Ác”.
Xin đợi cho một chút. Mọi chuyện không phải đơn giản như thế đâu.
Chắc chắn là chính sách của Reagan đã góp phần vào việc phá hủy đế chế của Điện Kremlin mà đỉnh điểm của nó là các cuộc cách mạng chống cộng ở Đông Âu hồi năm 1989 và sự sụp đổ Liên Xô hai năm sau đó. Nhưng gán cho vị Tổng thống thứ 40 của Hoa Kì toàn bộ công lao như các phương tiện truyền thông và các nhà viết tiểu sử của ông đang làm thì cũng chẳng khác gì gán cho cầu thủ tiền đạo đã đưa bóng vào lưới đối phương tất cả công lao của trận thắng, thế là ta đã quên công của người đưa bóng cho anh ta, ta đã quên công của thủ môn cũng như công của những người mang trên vai mình tất cả gánh nặng của trận đấu.
Các nhà sử học luôn tỏ vẻ coi thường những người qui giản những hiện tượng phức tạp vào những nguyên nhân đơn lẻ. Liên Xô sụp đổ không phải vì có một anh hùng cụ thể nào, nhưng nếu tôi phải chọn một người có vai trò to lớn nhất thì đấy không phải là Reagan, chính sách của ông ta nói chung vẫn đi theo đường lối ngăn chặn truyền thống của Chiến tranh Lạnh mà các Tổng thống từ Truman đến Carter đã làm.
Mikhail Gorbachev, một người đã trải qua tất cả các nấc thang thăng tiến của Đảng Cộng sản Liên Xô rồi bỗng nhiên quay hẳn sang hướng khác để trở thành nhà cải cách cấp tiến, rõ ràng là người có vai trò quan trọng hơn. Bị tác động bởi thời kì “tan băng” ngắn ngủi do Khrushchev khởi xướng hồi những năm 1950, trước khi Reagan được bầu làm Tổng thống, Gorbachev đã nhận ra rằng Liên Xô là một hệ thống trì trệ, cần phải cải tổ gấp. Gorbachev cũng đã làm một việc đáng gọi là dị giáo khi ông từ bỏ mục tiêu cách mạng thế giới và cuộc đấu tranh giai cấp trên bình diện quốc tế và chấp nhận “các giá trị nhân bản chung của loài người”. Nhưng quan trọng hơn là ông đã từ chối sử dụng lực lượng vũ trang hùng hậu có trong tay nhằm giữ cho Đảng quyền kiểm soát các nước Đông Âu, cũng như kiểm soát các nước cộng hoà có xu hướng dân tộc chủ nghĩa ngay trong lòng Liên Xô, điều mà những người tiền nhiệm của ông là Yuri Andropov và Konstantin Chernenko, nếu họ chưa kịp đi về thế giới bên kia, chắc chắn sẽ làm.
Nhưng cũng chẳng nên qui tất cả công trạng cho một mình Gorbachev. Liên Xô tan rã chủ yếu là do các nguyên nhân bên trong chứ không phải bên ngoài. Trong một bài báo viết vào năm 1947 trên tờ Foreign Affairs, George F. Kennan cho rằng “siêu cường Liên Xô cũng như chủ nghĩa tư bản đều mang trong lòng nó mầm mống của sự tan rã, nhưng mầm mống ở Liên Xô sẽ lớn nhanh hơn”. Đầu những năm 1950, mặc cho những lo lắng về các vụ thử hạt nhân của Liên Xô, mặc cho chiến thắng của cộng sản ở Trung Quốc và sự ngóc đầu dậy của chủ nghĩa McCarthy, James B. Conant, Hiệu trưởng Đại học Harvard (Harvard University President) đã tiên đoán rằng khoảng năm 1980 “sự phi lí và hệ thống tĩnh tại của Liên Xô sẽ làm cho nó ngừng hẳn”. Kể ra ông cũng không sai nhiều lắm.
Thực chất là Reagan đã theo đúng đường lối kiềm chế mà cả hai Đảng Cộng hoà và Dân chủ đều theo đuổi. Vâng, ông có cung cấp vũ khí cho các lực lượng chống cộng thuộc Thế giới Thứ ba và thường xuyên tuyên bố rằng ông tin tưởng vào tự do và dân chủ, nhưng các Tổng thống khác trước ông cũng đã làm như thế. Khi xảy ra khủng hoảng Reagan cũng chẳng sẵn sàng liều lĩnh khởi động Chiến tranh Thế giới III hơn những người tiền nhiệm của ông. Ông không dám đối đầu trực tiếp khi Điện Kremlin tiến hành các vụ đàn áp ở Trung Âu (cũng là việc đáng thông cảm thôi!). Phản ứng của Reagan khi bị kết án là đã giúp đỡ Công đoàn Đoàn kết ở Ba Lan - những lời nói hoa mĩ, bày tỏ cảm tình và những biện pháp cấm vận nửa vời chống lại việc thiết quân luật ở Ba Lan tháng 12 năm 1981 cũng chẳng hơn gì phản ứng của Eisenhower đối với vụ đàn áp của Liên Xô ở Đông Đức (1953), ở Hungary (1956) và phản ứng của Kennedy đối với việc xây Bức tường Berlin (1961) hay phản ứng của Johnson đối việc Liên Xô đổ quân vào Tiệp Khắc (1968).
"Mr. Gorbachev, xin hãy phá bỏ bức tường này đi!" - lời kêu gọi của Reagan năm 1987 đã trở thành đề tài thời sự cũng như đề tài của lịch sử nữa. Nhưng dù những lời đó có gây xúc động lòng người đến đâu, người dân Đông Âu dưới chế độ cộng sản, qua kinh nghiệm cay đắng của mình, biết rằng cả kị binh bay lẫn những lời có cánh của Tổng thống Mĩ đều không thể giải phóng được họ. Đạo diễn các chương trình truyền hình kỉ niệm đặc biệt có thể lồng hình ảnh Reagan đang gào thét trước bức tường vào cảnh dân Berlin nhảy múa trên những đống gạch vụn của nó hai năm sau đó, nhưng nói rằng hai sự kiện này gắn bó nhân quả với nhau thì nghĩa là ta đã cố tình biến lịch sử thành truyện cổ tích hay ít nhất cũng đơn giản hoá nó một cách quá đáng.
Năm 1989, nhân dân Đông Âu đã nhận thức được rằng họ phải tự đứng lên giành lấy quyền tự do. Người ta phải mang mạng sống của mình ra để kiểm tra giới hạn của học thuyết mới của Gorbachev (các nước cộng sản khác có thể “đi theo con đường của mình”) và đã phát hiện ra rằng học thuyết của Gorbachev đã hoàn toàn thay thế cho lí luận của Brezhnev, tức là cái lí luận biện hộ cho việc đưa quân can thiệp, không cho các nước đào thoát khỏi “cộng đồng xã hội chủ nghĩa”. Những người tuần hành ở thành phố Leipzig vào tháng 10 năm đó không thể nào biết được họ có tránh khỏi số phận của những người biểu tình ở Thiên An Môn mấy tháng trước đó hay không. Nhiều nhà lãnh đạo Đông Đức lúc đó sẵn sàng làm theo các đồng chí Trung Quốc!
Liệu những thách thức mà Reagan đưa ra trên khắp thế giới có đẩy nhanh tiến trình sụp đổ của Liên Xô hay không? Reagan đã giúp đỡ các mujaheddin (chiến sĩ thánh chiến) ở Afghanistan làm cho Liên Xô nhanh chóng thất bại và như vậy là làm cho tình trạng bên trong Liên Xô càng căng thẳng thêm, nhưng dự án này đã khởi sự ngay dưới thời Carter và được cả hai đảng ủng hộ. Còn việc Reagan ủng hộ lực lượng Contras trong cuộc đấu tranh chống chế độ Sandinist ở Nicaragua lại tạo ra một vụ bê bối nghiêm trọng cho chính quyền của ông và lái dư luận khỏi những sự kiện quan trọng đang diễn ra trong thế giới cộng sản, thí dụ như Trung Quốc.
Những người hâm mộ Reagan khẳng định rằng chính cuộc chạy đua vũ trang trong những năm 1980 đã làm Điện Kremlin phá sản. “Bằng cách tăng cường lực lượng phòng vệ chứ không phải tiến hành xâm lược, Ronald Reagan đã làm cho Liên Xô sụp đổ”, ông Bob Dole, một cựu thượng nghị sĩ Đảng Cộng hoà, ứng cử viên Tổng thống đã tuyên bố trên tờ the New York Times như thế. Biên bản các cuộc họp của Bộ Chính trị ghi nhận nỗi lo lắng thực sự (mặc dù vô căn cứ) về việc xây dựng tên lửa phòng vệ trong chương trình “Chiến tranh giữa các vì sao” và những nhà lãnh đạo sáng suốt của Liên Xô nhận thức được sự cách biệt ngày càng gia tăng về quân sự và công nghệ giữa phương Tây, nhất là Mĩ với Liên Xô. Điều đó càng làm cho Gorbachev thêm quyết tâm loại bỏ sự thù địch của Chiến tranh Lạnh, quyết tâm tìm cách tiếp cận với hàng hoá và công nghệ của phương Tây và chuyển các nguồn lực từ lĩnh vực quân sự sang nền kinh tế phục vụ dân sinh.
Gorbachev còn nhận ra sự phi lí của cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân. Đến giữa những năm 1980 các siêu cường đã sở hữu tổng cộng hơn 70.000 đầu đạn hạt nhân. Ông hiểu rằng có thể đưa ra những đề nghị hấp dẫn để khởi đầu đàm phán về hạn chế vũ khí, cho phép thực hiện việc giám sát tại chỗ hay trao đổi về tên lửa tầm trung mà không ảnh hưởng đến vũ khí đánh chặn chiến lược của Liên Xô.
Như vậy là cuộc chạy đua vũ trang trong những năm 1980 không làm cho Liên Xô sụp đổ. Nền kinh tế Liên Xô, vì nhiều lí do khác nhau, đã bị thối rữa ngay từ bên trong. Những ưu tiên sai lầm của Điện Kremlin - giữ một bộ máy quân sự khổng lồ trong khi nền kinh tế và đời sống nhân dân thua xa phương Tây – là một tác nhân làm cho đế chế Liên Xô tan rã. Nhưng những ưu tiên như thế đã diễn ra hàng chục năm rồi. Bước ngoặt diễn ra không phải dưới thời Reagan mà là do những ý muốn điên rồ của Stalin ngay sau Chiến tranh Thế giới II. Mặc dù đất nước còn bị tàn phá ngổn ngang, lãnh tụ quyết định xây dựng kho vũ khí hạt nhân và giành danh hiệu siêu cường. Từ đó trở đi lực lượng vũ trang luôn luôn nhận được những thứ tốt nhất và đã làm biến dạng nền kinh tế.
Việc chú mục vào quân sự còn làm cho người ta đánh giá sai vai trò của quyền lực “mềm” trong việc lật nhào nhà nước Xôviết. Hàng ngàn tỉ dollar mà phương Tây chi cho vũ khí và chiến lược ngăn chặn cuối cùng lại hoá ra không quan trọng bằng lối sống phương Tây, tức là lĩnh vực chẳng có liên quan gì đến chính sách quốc gia - nhạc, phim ảnh, thời trang (quần bò xanh), hàng tiêu dùng, “Coca-Cola hoá” - và một tương lai tự do hơn, giầu có hơn, no đủ hơn. Lối sống phương Tây, nhờ đài phát thanh, TV, Hollywood, văn học samizdat, máy fax v.v… bắt đầu thâm nhập vào thế giới cộng sản, tạo ra một trường hấp dẫn mới. Tôi không bao giờ quên sự háo hức của các thanh niên Nga khi họ giở tờ tạp chí Time mà tôi mang theo trong chuyến đi đến đó vào những năm 1980, tôi cũng không thể quên hình ảnh người dân Moskva ăn bánh Big Mac trong cửa hàng McDonald đầu tiên mở tại quảng trường Pushkin.
Sự trớ trêu của số phận là chính những người mà Reagan không ưa hồi ông còn làm Thống đốc bang California như những thanh niên hippies, những người chống chiến tranh Việt Nam, những nhà hoạt động trong phong trào gọi là “counter-culture” hồi những năm 1960 đã làm ra các bản nhạc, đã đề xuất ra các tư tưởng và tính cách lập dị lôi cuốn giới trẻ có học trong thế giới cộng sản, lại là những người có công lớn trong việc làm cho chế độ cộng sản sụp đổ. Những người có điều kiện tiếp xúc với phương Tây, kể cả con cái của giới tinh hoa trong bộ máy và các chuyên gia cao cấp, lại thích Lennon [1] hơn Lenin, thích Mick [2] hơn Marx.
Xin hãy hỏi ngay Pavel Palazchenko, một phiên dịch viên hói đầu và có ria mép, ngồi cạnh Reagan và Gorbachev mỗi khi họ gặp nhau. Trong những năm 1960 ông học ở một trường đại học ngoại ngữ danh tiếng ở Moskva. Sau này ông viết trong cuốn hồi kí xuất bản hồi năm 1997, cuốn hồi kí rất hay nhưng ít được chú ý, rằng “hệ tư tưởng ngu xuẩn đến mức không làm cho người ta cười được”. Để giải trí, ông cùng bạn bè góp tiền mua rượu và mời các bạn gái uống say (lúc đó rượu còn rẻ). “Và chúng tôi nghe Beatles”, ông nói.
"Chúng tôi thuộc những bài hát đó… Tôi có giọng thế này phần lớn là nhờ Beatles chứ không phải thày giáo dạy phát âm đâu. Nhưng tôi và những người bạn đồng trang lứa của mình còn nợ họ một vài thứ nữa. Trong những năm đen tối dưới thới Brezhnev (1964-1982) họ không chỉ là nhạc giải trí. Họ đã giúp chúng tôi tạo ra thế giới của riêng mình, một thế giới khác hẳn với thế giới chán phèo và vô nghĩa của những nghi lễ càng ngày càng giống thời Stalin hơn… Tôi tin rằng thời đó ít người trong chúng tôi tìm được hứng khởi nhờ các tác phẩm của Andrei Sakharov (một nhà vật lí và bất đồng chính kiến nổi tiếng) vì chúng tôi chưa đủ sức hiểu được tư tưởng của ông. Beatles đã giúp chúng tôi lặng lẽ chia tay ‘hệ thống’, trong khi vẫn thực hiện phần lớn các yêu cầu của nó.”
Không phải tất cả các nhà lãnh đạo Liên Xô đều nhận ra những ảnh hưởng có tính cách phá hoại như thế. Tháng 12 năm 1980, một tháng sau khi Reagan được bầu làm Tổng thống, Andropov, người đứng đầu KGB lúc ấy đã gửi cho Ban Chấp hành Trung ương một báo cáo mật. Đấy không phải là báo cáo về cuộc bầu cử mà là báo cáo về vụ sát hại John Lennon. Andropov nói rằng “Trong nhiều trường đại học ở Moskva đã xuất hiện những tờ rơi kêu gọi tổ chức diễu hành tưởng niệm cựu thành viên Beatles”. "KGB đã thi hành những biện pháp cần thiết nhằm xác định danh tính những kẻ tổ chức vụ tụ tập và vẫn kiểm soát được tình hình”, ông ta hứa với lãnh đạo Đảng như thế.
Nhưng hoá ta KGB không kiểm soát được tình hình. Cuối những năm 1980 các sân khấu rock bí mật bắt đầu xuất hiện trên mảnh đất của “chủ nghĩa xã hội hiện thực”. Sau khi toàn bộ ngôi nhà xã hội chủ nghĩa đã sụp đổ, những nhân vật đối lập cũ trong khối Warszawa, như Vaclav Havel đã chào đón (và đôi khi dựng tượng) cho những người như Frank Zappa, Pink Floyd, Lou Reed và James Dean.
Reagan đã xô những bức tượng vốn đã rung rinh của Marx và Lenin, nhưng có lẽ ông không đóng vai trò chính, ông chỉ có vai trò phụ trợ. Vẫn còn quá sớm để khẳng định bất cứ điều gì một cách chắn chắn. Việc ca ngợi quá đáng vai trò của Reagan trong vụ đạp đổ con rồng Liên Xô nói về ông thì ít mà nói về chúng ta thì nhiều. Hỗn hợp tình cảm, tâm trạng hân hoan sau Chiến tranh Lạnh, quá nhiều thông tin về sự kiện chỉ chứng tỏ thói quen coi thường sự phức tạp của thế giới, thói quen đưa các vấn đề thế giới vào các sơ đồ đơn giản, đấy cũng là một thói quen nguy hiểm của người Mĩ chúng ta.
James Hershberg là phó giáo sư lịch sử và các vấn đề quốc tế tại George Washington University và là cựu giám đốc của dự án về chiến tranh lạnh tại Woodrow Wilson Center.
Hôm nay kỷ niệm 25 năm xây dựng bức tường "Đá Đen" tưởng niệm những chiến sỹ người Mỹ đã hy sinh trong cuộc chiến Tranh Việt Nam , cũng là ngày Quân Nhân "Veterans' Day"
Tưởng Niệm 25 Năm Bức Tường Vietnam Veterans Memorial
TUYẾT MAI .
Cuộc diễn hành trang nghiêm, cảm động.
(LTS: Vì lý do thiếu trang, bài tường thuật diễn hành của phóng viên Tuyết Mai đã được cắt ngắn các đoạn sau nơi đây. Tuy nhiên, độc giả có thể xem phóng viên Tuyết Mai tường thuật chi tiết qua một đoạn phim đã được quay chuyên nghiệp và xuất sắc ở đây xin click vào :
Để kỷ niệm 25 năm khánh thành Bức Tường Đá Hoa Cương Đen Tưởng Niệm 58,256 Chiến Sĩ Hoa Kỳ đã hy sinh ở chiến trường Việt Nam, “ Hội Cựu Chiến Binh HK tham chiến tại VN" đã tổ chức một cuộc Diễn Hành – “The Wall 25 Years – Anniversary Parade “ tại Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn, vào lúc 10 giờ sáng ngày 10 Tháng 11, 2007 trên Constitution Avenue.
Đây không phải là cuộc diễn hành được tổ chức hằng năm, mà đây là lần thứ hai, 25 năm sau, kể từ ngày Bức Tường Tưởng Niệm được khánh thành vào 13 Tháng 11, 1982.
Bức Tường này là “Vietnam Veterans Memorial”, là một đài tưởng niệm chiến tranh quốc gia được thành lập để vinh danh 58,256 chiến binh HK đã hy sinh trong chiến tranh Việt Nam. Bức tường tọa lạc ở Constitution Garden, ngay tại National Mall, làm bằng hai bức tường đá hoa cương màu đen, mỗi bức tường dài 246 feet 9 inches (75 meters) nối với nhau theo hình chữ V ở góc độ 125 * 12, do Kiến Trúc Sư Laya Lin vẽ kiểu. Trên hai bức tường đó có khắc tên 58,256 chiến binh HK đã hy sinh hay đã mất tích trong chiến tranh Việt Nam. Đây là một dấu tích ghi đậm nỗi đau thương trong lòng những Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ và gia đinh những chiến sĩ đã hy sinh. Năm 2005 có gần bốn triệu du khách đến viếng thăm đài tưởng niệm này.
Trong dịp kỷ niệm 25 năm “Hội Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ tham chiến tại VN” đã mời Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Hải Ngoại tham dự cuộc Diễn Hành. Được sự ủy nhiệm của Niên Trưởng Nguyễn Xuân Vinh, Chủ Tịch Hội Đồng Đại Diện của Tập Thể Chiến Sĩ Việt Nam Hải Ngoại, Niên Trưởng Trần Thiện Hiệu, Liên Hội Cựu Chiến sĩ vùng HTDD và phụ cận đã tổ chức tham dự cuộc diễn hành này.
Những Cựu Chiến Sĩ trong QLVNCH, ngày nay đã không còn cơ hội để đóng góp xương máu cho lý tưởng tự do, nhưng Tập Thể Cựu Chiến Sĩ VNCH vẫn chưa tan hàng, các cựu quân nhân trong QLVNCH vẫn giữ màu cờ sắc áo của các quân binh chủng dưới Quốc Kỳ VNCH và Quân kỳ của QLVNCH. Trong tâm tình hoài niệm và tri ân đặc biệt đến những người bạn đồng minh HK và nhất là những chiến binh HK đã một thời sát cánh chiến đấu và hy sinh trong cuộc chiến bảo vệ Miền Nam VN thân yêu; đây cũng là dịp để vinh danh các cựu quân nhân trong QLVNCH, và cũng là cơ hội để chúng ta hãnh diện giương cao ngọn cờ vàng và cờ của các Quân, Binh Chủng QLVNCH giữa Thủ Đô của Hoa Kỳ, nên có khoảng sáu trăm cựu quân nhân thuộc các quân binh chủng QLVNCH và nhân dân chính, nhiều nơi ở HK và thế giới về HTDD tham gia cuộc diễn hành thật long trọng và đầy ý nghĩa này.
Trong cuộc diễn hành này về phía Hoa Kỳ có 143 tổ chức, hội đoàn tham dự, phía VNCH có trên 41 hội đoàn, quân binh chủng tham dự.
Địa điểm cử hành lễ là The National Mall ở Washington, D.C. Buổi lễ được bắt đầu lúc 10 giờ sáng. Đến 11 giờ thì cuộc diễn hành bắt đầu ở góc đường số 4th và Constitution Avenue, diễn hành dọc theo đại lộ Constitution và chấm dứt ở góc đường 18th và Constitution Ave.
Từ sáng sớm đã có hằng trăm ngàn người đứng dọc hai bên Đại lộ Cosntitution, chờ xem diễn hành, quang cảnh rất nhộn nhịp, có rất nhiều dân chúng HK mặc quần áo hay đội nón có màu cờ HK xanh, trắng đỏ. Có rất nhiều cựu chiến binh HK không tham gia diễn hành, nhưng đứng hai bên đường, mặc quần jean, áo jacket da đen, trên áo có huy hiệu của Vietnam Veterans Chapter tiểu ban của họ.
Đây là một ngày thật đặc biệt đối với người Việt Nam, vì màu cờ vàng được phô trương rất nhiều trên cờ và huy hiệu của các hội cựu Chiến binh Hoa Kỳ. MC điều khiển chương trình cũng đọc và nói hằng ngàn lần hai tiếng “Viet Nam” khi giới thiệu các hội đoàn Cựu Chiến Binh HK diễn hành.
Mở đầu cuộc diễn hành là đoàn xe mô tô, theo sau là những Vietnam Veterans Chapter ở khắp nơi Hoa Kỳ. Đoàn diễn hành của các hội Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ nhiều nhất là chừng hơn một trăm người, với xe diễn hành. Có đoàn mặc quân phục và đi theo nhịp quân nhạc, đều bước đẹp mắt, cũng có đoàn chừng vài chục người mặc quần jean và áo jacket da đen có huy hiệu của Hội Cựu Chiến Binh HK, đi rời rạc. Tất cả đều được dân chúng vỗ tay hoan nghênh, chào mừng nồng nhiệt. Xen giữa là những ban quân nhạc mặc đồng phục, rất đẹp mắt.
Đặc biệt trong những đoàn diễn hành của HK có đoàn của những người con lai với banner “We are proud to be children of U.S. soldiers”.
Đoàn diễn hành VN bắt đầu bắng chữ “V” nên được xếp gần cuối, với hơn 41 đoàn thể, khoảng sáu trăm cựu quân nhân các quân chủng và dân chính tham dự. Đây là đoàn lớn nhất trong cuộc diễn hành và được tổ chức rất chu đáo để thể hiện niềm hãnh diện dân tộc và cũng để vinh danh một Quân Đội hùng mạnh. Đi đầu là vài phụ nữ Việt Nam mặc áo dài thuần túy, đầu đội khăn vành cầm banner giới thiệu phái đoàn VN. Sau đó là đoàn Quốc Quân kỳ với quốc kỳ VNCH, và quân cờ các Quân chủng, Hải, Lục, Không Quân, Quân kỳ của bốn Quân Đoàn I - II - III- IV và cờ Binh chủng Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân… màu sắc vàng, đỏ, rực rỡ, ngạo nghễ tung bay phất phới giữa bầu trời tự do, lộng gió.
Theo sau đoàn Quốc Quân kỳ là những toán cựu quân nhân trong quân phục chỉnh tề, diễn hành theo quân nhạc, trông rất oai nghi, hiên ngang, hùng dũng, được hằng trăm ngàn khán giả hai bên đường vỗ tay tán thưởng nhiệt liệt, không dứt. Xen giữa đoàn diễn hành VN có xe quân nhạc, âm thanh tốt và tiếng nhạc vui đã góp phần không nhỏ cho sự thành công của đoàn diễn hành Việt Nam. Bên cạnh hình ảnh những người hùng hiên ngang là những phụ nữ VN đẹp thuớt tha, sáng chói trong áo dài vàng và khăn vành thuần túy, cầm đại cờ vàng trải rộng theo chiều nằm, cũng đựợc khán giả hai bên đường ciêm ngưỡi, vỗ tay vang dội một góc trời. Ngoài ra, những người diễn hành cũng cầm banners “Vinh Danh Người Lính Cộng Hòa”, có banner viết bằng tiếng Mỹ “We Honor The American Heroes Who Fought For Freedom In Vietnam”…
Đây không phải là một cuộc diễn binh, mà là một cuộc diễn hành của Quân, Dân, Cán Chính VNCH trong quân phục cũng như thường phục, nên phần cuối cuộc diễn hành có nhiều dồng bào mặc thường phục.
Chiều hôm trước, ngày 9 Tháng 10, 2007 lúc 7 giờ có một buổi dạ tiệc để đón tiếp và khoảng đãi các phái đoàn ở xa về, tại nhà hàng Thần Tài, Falls Church. Đây cũng là dịp để Ban Tổ Chức gây quỹ tài trợ cho những chi phí diễn hành.
Có khoảng bốn trăm quan khách tham dự trong một không khí thật ấm cúng thân thương, đậm tình chiến hữu. Trong đó có Niên trưởng Nguyễn Duy Hinh, Niên Trưởng Đào Mộng Xuân, Ông Nguyễn Xuân Dục, Tổng Hội Trưởng Hải Quân; Ông Võ Tấn Y, Tổng Hội Trưởng các chiến sĩ thuộc Nha Kỹ Thuật; Ông Hồ Sỹ Báu, Hội Trưởng Cảnh Sát QG; Ông NguyễnVăn Mùi , HT Sư Đoàn Dù/HT Đ; Ông Nguyễn Văn Thuận, Hội Trưởng CSV Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt; Ông Nguyễn Trấn Quốc, HT Thủy Quân Lục Chiến/HT Đ…DDặc biệt trong số các cựu quân nhân ở xa về có gần năm mươi “anh hùng vô danh” là những chiến sĩ thuộc Nha Kỹ Thuật, được coi như là nhóm cựu quân nhân đông nhất ở xa về tham dự. (...)
VIDEO HÌNH ẢNH CUỘC DIỄN HÀNH
TUYẾT MAI
Tưởng Niệm 25 Năm Bức Tường Vietnam Veterans Memorial
TUYẾT MAI .
Cuộc diễn hành trang nghiêm, cảm động.
(LTS: Vì lý do thiếu trang, bài tường thuật diễn hành của phóng viên Tuyết Mai đã được cắt ngắn các đoạn sau nơi đây. Tuy nhiên, độc giả có thể xem phóng viên Tuyết Mai tường thuật chi tiết qua một đoạn phim đã được quay chuyên nghiệp và xuất sắc ở đây xin click vào :
Để kỷ niệm 25 năm khánh thành Bức Tường Đá Hoa Cương Đen Tưởng Niệm 58,256 Chiến Sĩ Hoa Kỳ đã hy sinh ở chiến trường Việt Nam, “ Hội Cựu Chiến Binh HK tham chiến tại VN" đã tổ chức một cuộc Diễn Hành – “The Wall 25 Years – Anniversary Parade “ tại Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn, vào lúc 10 giờ sáng ngày 10 Tháng 11, 2007 trên Constitution Avenue.
Đây không phải là cuộc diễn hành được tổ chức hằng năm, mà đây là lần thứ hai, 25 năm sau, kể từ ngày Bức Tường Tưởng Niệm được khánh thành vào 13 Tháng 11, 1982.
Bức Tường này là “Vietnam Veterans Memorial”, là một đài tưởng niệm chiến tranh quốc gia được thành lập để vinh danh 58,256 chiến binh HK đã hy sinh trong chiến tranh Việt Nam. Bức tường tọa lạc ở Constitution Garden, ngay tại National Mall, làm bằng hai bức tường đá hoa cương màu đen, mỗi bức tường dài 246 feet 9 inches (75 meters) nối với nhau theo hình chữ V ở góc độ 125 * 12, do Kiến Trúc Sư Laya Lin vẽ kiểu. Trên hai bức tường đó có khắc tên 58,256 chiến binh HK đã hy sinh hay đã mất tích trong chiến tranh Việt Nam. Đây là một dấu tích ghi đậm nỗi đau thương trong lòng những Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ và gia đinh những chiến sĩ đã hy sinh. Năm 2005 có gần bốn triệu du khách đến viếng thăm đài tưởng niệm này.
Trong dịp kỷ niệm 25 năm “Hội Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ tham chiến tại VN” đã mời Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Hải Ngoại tham dự cuộc Diễn Hành. Được sự ủy nhiệm của Niên Trưởng Nguyễn Xuân Vinh, Chủ Tịch Hội Đồng Đại Diện của Tập Thể Chiến Sĩ Việt Nam Hải Ngoại, Niên Trưởng Trần Thiện Hiệu, Liên Hội Cựu Chiến sĩ vùng HTDD và phụ cận đã tổ chức tham dự cuộc diễn hành này.
Những Cựu Chiến Sĩ trong QLVNCH, ngày nay đã không còn cơ hội để đóng góp xương máu cho lý tưởng tự do, nhưng Tập Thể Cựu Chiến Sĩ VNCH vẫn chưa tan hàng, các cựu quân nhân trong QLVNCH vẫn giữ màu cờ sắc áo của các quân binh chủng dưới Quốc Kỳ VNCH và Quân kỳ của QLVNCH. Trong tâm tình hoài niệm và tri ân đặc biệt đến những người bạn đồng minh HK và nhất là những chiến binh HK đã một thời sát cánh chiến đấu và hy sinh trong cuộc chiến bảo vệ Miền Nam VN thân yêu; đây cũng là dịp để vinh danh các cựu quân nhân trong QLVNCH, và cũng là cơ hội để chúng ta hãnh diện giương cao ngọn cờ vàng và cờ của các Quân, Binh Chủng QLVNCH giữa Thủ Đô của Hoa Kỳ, nên có khoảng sáu trăm cựu quân nhân thuộc các quân binh chủng QLVNCH và nhân dân chính, nhiều nơi ở HK và thế giới về HTDD tham gia cuộc diễn hành thật long trọng và đầy ý nghĩa này.
Trong cuộc diễn hành này về phía Hoa Kỳ có 143 tổ chức, hội đoàn tham dự, phía VNCH có trên 41 hội đoàn, quân binh chủng tham dự.
Địa điểm cử hành lễ là The National Mall ở Washington, D.C. Buổi lễ được bắt đầu lúc 10 giờ sáng. Đến 11 giờ thì cuộc diễn hành bắt đầu ở góc đường số 4th và Constitution Avenue, diễn hành dọc theo đại lộ Constitution và chấm dứt ở góc đường 18th và Constitution Ave.
Từ sáng sớm đã có hằng trăm ngàn người đứng dọc hai bên Đại lộ Cosntitution, chờ xem diễn hành, quang cảnh rất nhộn nhịp, có rất nhiều dân chúng HK mặc quần áo hay đội nón có màu cờ HK xanh, trắng đỏ. Có rất nhiều cựu chiến binh HK không tham gia diễn hành, nhưng đứng hai bên đường, mặc quần jean, áo jacket da đen, trên áo có huy hiệu của Vietnam Veterans Chapter tiểu ban của họ.
Đây là một ngày thật đặc biệt đối với người Việt Nam, vì màu cờ vàng được phô trương rất nhiều trên cờ và huy hiệu của các hội cựu Chiến binh Hoa Kỳ. MC điều khiển chương trình cũng đọc và nói hằng ngàn lần hai tiếng “Viet Nam” khi giới thiệu các hội đoàn Cựu Chiến Binh HK diễn hành.
Mở đầu cuộc diễn hành là đoàn xe mô tô, theo sau là những Vietnam Veterans Chapter ở khắp nơi Hoa Kỳ. Đoàn diễn hành của các hội Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ nhiều nhất là chừng hơn một trăm người, với xe diễn hành. Có đoàn mặc quân phục và đi theo nhịp quân nhạc, đều bước đẹp mắt, cũng có đoàn chừng vài chục người mặc quần jean và áo jacket da đen có huy hiệu của Hội Cựu Chiến Binh HK, đi rời rạc. Tất cả đều được dân chúng vỗ tay hoan nghênh, chào mừng nồng nhiệt. Xen giữa là những ban quân nhạc mặc đồng phục, rất đẹp mắt.
Đặc biệt trong những đoàn diễn hành của HK có đoàn của những người con lai với banner “We are proud to be children of U.S. soldiers”.
Đoàn diễn hành VN bắt đầu bắng chữ “V” nên được xếp gần cuối, với hơn 41 đoàn thể, khoảng sáu trăm cựu quân nhân các quân chủng và dân chính tham dự. Đây là đoàn lớn nhất trong cuộc diễn hành và được tổ chức rất chu đáo để thể hiện niềm hãnh diện dân tộc và cũng để vinh danh một Quân Đội hùng mạnh. Đi đầu là vài phụ nữ Việt Nam mặc áo dài thuần túy, đầu đội khăn vành cầm banner giới thiệu phái đoàn VN. Sau đó là đoàn Quốc Quân kỳ với quốc kỳ VNCH, và quân cờ các Quân chủng, Hải, Lục, Không Quân, Quân kỳ của bốn Quân Đoàn I - II - III- IV và cờ Binh chủng Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân… màu sắc vàng, đỏ, rực rỡ, ngạo nghễ tung bay phất phới giữa bầu trời tự do, lộng gió.
Theo sau đoàn Quốc Quân kỳ là những toán cựu quân nhân trong quân phục chỉnh tề, diễn hành theo quân nhạc, trông rất oai nghi, hiên ngang, hùng dũng, được hằng trăm ngàn khán giả hai bên đường vỗ tay tán thưởng nhiệt liệt, không dứt. Xen giữa đoàn diễn hành VN có xe quân nhạc, âm thanh tốt và tiếng nhạc vui đã góp phần không nhỏ cho sự thành công của đoàn diễn hành Việt Nam. Bên cạnh hình ảnh những người hùng hiên ngang là những phụ nữ VN đẹp thuớt tha, sáng chói trong áo dài vàng và khăn vành thuần túy, cầm đại cờ vàng trải rộng theo chiều nằm, cũng đựợc khán giả hai bên đường ciêm ngưỡi, vỗ tay vang dội một góc trời. Ngoài ra, những người diễn hành cũng cầm banners “Vinh Danh Người Lính Cộng Hòa”, có banner viết bằng tiếng Mỹ “We Honor The American Heroes Who Fought For Freedom In Vietnam”…
Đây không phải là một cuộc diễn binh, mà là một cuộc diễn hành của Quân, Dân, Cán Chính VNCH trong quân phục cũng như thường phục, nên phần cuối cuộc diễn hành có nhiều dồng bào mặc thường phục.
Chiều hôm trước, ngày 9 Tháng 10, 2007 lúc 7 giờ có một buổi dạ tiệc để đón tiếp và khoảng đãi các phái đoàn ở xa về, tại nhà hàng Thần Tài, Falls Church. Đây cũng là dịp để Ban Tổ Chức gây quỹ tài trợ cho những chi phí diễn hành.
Có khoảng bốn trăm quan khách tham dự trong một không khí thật ấm cúng thân thương, đậm tình chiến hữu. Trong đó có Niên trưởng Nguyễn Duy Hinh, Niên Trưởng Đào Mộng Xuân, Ông Nguyễn Xuân Dục, Tổng Hội Trưởng Hải Quân; Ông Võ Tấn Y, Tổng Hội Trưởng các chiến sĩ thuộc Nha Kỹ Thuật; Ông Hồ Sỹ Báu, Hội Trưởng Cảnh Sát QG; Ông NguyễnVăn Mùi , HT Sư Đoàn Dù/HT Đ; Ông Nguyễn Văn Thuận, Hội Trưởng CSV Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt; Ông Nguyễn Trấn Quốc, HT Thủy Quân Lục Chiến/HT Đ…DDặc biệt trong số các cựu quân nhân ở xa về có gần năm mươi “anh hùng vô danh” là những chiến sĩ thuộc Nha Kỹ Thuật, được coi như là nhóm cựu quân nhân đông nhất ở xa về tham dự. (...)
VIDEO HÌNH ẢNH CUỘC DIỄN HÀNH
TUYẾT MAI

Tình Ca Mùa Thu
* Lê Ngọc Châu · Thương tặng TLN, các em tôi XH, KH.
· Thân tặng chị NTVN, chị LvT, TV61 và cô láng giềng ThH.
Mùa Thu là một trong bốn mùa trên trái đất, nó là giai đoạn chuyển tiếp từ mùa hạ sang mùa đông. Thu là mùa trong đó phần lớn các loại cây rụng mất lá của chúng. Thu cũng là mùa mà thời gian ban ngày ngắn dần lại và thời tiết thay đổi, cảm thấy lạnh hơn giữa cơn gió nhẹ và khi Thu về thì tại các vùng ôn đới lượng mưa cũng tăng dần lên trong một số khu vực.
Theo nghiên cứu của các nhà sinh vật học thì lá đổi màu vào mùa thu bởi vì:
- Ánh nắng mặt trời làm lá khô héo
- Lá sản xuất ít đi chất chlorophyll có tác dụng giữ lá xanh.
- Cây hút chất xanh để có đủ sức sống cho mùa đông.
(Những nhà sinh vật học giải thích (theo Internet / Wikipedia) như sau: Vào mùa thu, các loài cây sản xuất chlorophyll ít hơn, chất này mang lại màu xanh cho lá. Không có chlorophyll, một số lá mang màu của những chất còn lại, những chất này khác nhau ở các cây khác nhau, vì vậy tạo nên màu sắc đa dạng trong mùa thu).
Mùa Thu buồn, lãng mạn vì thế nên có rất nhiều nhà thơ, nhà văn lấy mùa thu làm chủ đề. Riêng trong kho tàng văn hóa Việt Nam thì mùa thu được nhiều tác giả mượn làm khung cảnh cho những sáng tạo và sáng tác của họ. Cũng trong chiều hướng đó, nhiều nhạc sĩ Việt đã mượn mùa Thu, hình ảnh của mùa Thu để sáng tác thành những bản tình ca rất trữ tình và lãng mạn.
Như chúng ta biết, Thu là giai đoạn chuyển tiếp từ mùa Hạ sang Đông. Mùa Hạ (hay hè) thường có tiếng ve reo, cũng là mùa bãi trường và sau đó lại phải đi nhường chỗ cho mùa Thu trở lại. Hình ảnh này đã được nhạc sĩ (ns) Phan văn Hưng phát hoạ như sau:
Con ve sầu ve ve hè nào
Con ve sầu bao nhiêu nhiệm màu
Sớm Thu về tức tưởi xanh xao
Con ve chợt lột xác trên cao
(Con Ve Sầu của ns Phan văn Hưng &Nam Dao)
Có thi sĩ mong Thu sớm trở lại để từ đó nguồn cảm hứng dâng cao và họ mới có thể sáng tác phong phú được, ns Đoàn Chuẩn và Từ Linh có lẽ mang nỗi buồn hay vấn vương tiếc nuối gì đó nên đã gởi gấm tâm trạng của họ qua nhạc phẩm “Thu Quyến Rũ”:
Anh mong chờ mùa Thu
Dìu thế nhân dần vào chốn Thiên Thai
Và cánh chim ngập ngừng không muốn bay
Mùa Thu quyến rũ Anh rồi.
…
Thu nay vì đâu tiếc nhiều
Thu nay vì đâu nhớ nhiều
Đêm đêm nhìn cây trút lá
Lòng thấy rộn ràng
Ngỡ bóng ai về.
(Đoàn Chuẩn và Từ Linh)
Thời gian qua đi không ngừng nghĩ nhưng đôi khi vì đa đoan công chuyện nên hầu như quên khấy đi không gian và thời gian. Đang đi ngoài đường, bỗng dưng nghe sột soạt vì chân mình vừa đạp lên những chiếc lá vàng rơi rụng hay chợt nhìn thấy chiếc lá úa lìa cành rơi xuống sân vườn thì lúc đó mới giật mình biết rằng Thu đà trở lại, và kỷ niệm bỗng chợt về nhưng chẳng biết người yêu giờ ở đâu mặc dầu anh chàng mõi mòn chờ đợi mà người tình vẫn biền biệt chưa đến, để rồi than thở:
Em có còn trở lại
Trời bây giờ vào thu
mây sầu dâng kín lối
Nghe em xa mịt mù
Em có còn trở lại
Khóc trong vòng tay anh
Như một trời u ám
Thương tình mình mong manh
(Em Có Còn Trở Lại của cố ns Trầm Tử Thiêng)
Mỗi năm, vào khoảng hạ tuần tháng mười trở đi thì thờitiết bắt đầu trở lạnh, lá cây tàn úa, rơi rụng trong vườn, ngoài ngõ phũ ngập lối đi. Buổi sáng sương mù, bầu trời âm u và ãm đạm. Đến xế trưathì có nắng vàng hanh và cơn gió heo mai đã làm cho những chiếc lá vàng từ cành rơi nhẹ làm cho cảnh Thu thêm thơ mộng,làm xao xuyến tâm hồn người nghệ sĩ. Nhạc sĩ Ngô Thuỵ Miên và Thụy Anh đã mượn hình ảnh lãng mạn đó để nhắn nhũ, tỏ tình với người yêu, một nhạc phẩm được nhiều người ưa thích:
Em có nghe... mùa thu mưa giăng lá đổ
Em có nghe... nai vàng hát khúc yêu đương Và...
Em có nghe khi mùa thu tới... Mang ái ân mang tình yêu tới
Em có nghe, nghe hồn thu nói... Mình yêu nhau nhé
Em có hay... mùa thu mưa bay gió nhẹ
Em có hay... thu về hết dấu cô liêu Và...
Em có hay khi mùa thu tới... Bao trái tim vương mùa xanh mới
Em có hay, hay mùa thu tới... Hồn anh ngất ngây
(Mùa Thu Cho Em)
Và khi người yêu đã đi xa, mang theo niềm thương và chôn vùi mối tình đẹp một chiều thu thì còn lại chỉ là nỗi nhớ không nguôi! Hãy nghe ns Lê Mộng Nguyên thay “chúng ta bộc lộ tâm trạng” này:
Người ra đi chìm trong sương gió
Dứt tình trong một chiều thu
Lòng mơ ước vinh quang ngày mai núi sông lừng vang khúc ca khải hoàn
Bao chiều thu qua
Chiếc lá thu nhắc bóng dáng người mơ màng nay còn đâu
Bao nhung nhớ trong tâm hồn thoáng hương xưa
(Chiều Vàng Năm Xưa)
Con người sinh ra để hoà đồng với xã hội. Đến lứa tuổi nào đó thì lại biết yêu, biết nhớ nhưng đôi khi không có được hạnh phúc trọn vẹn trong cuộc sống hay trên đường tình. Vì thế con người nhiều khi cảm thấy rằng hình như mình thiếu vắng một cái gì đó, để rồi băn khoăn, rồi mơ mộng lãng mạn, nhớ nhung, nhất là khi ngoại cảnh buồn ảnh hưởng phần nào đến những tâm hồn đang cô đơn:
Mùa Thu không em anh buồn một mình
Cỏ hoa xanh xao chết từ ngày nào
Mùa Thu không em rừng Thu mông mênh
Lá vàng rụng sầu em có hay đâu ?
Mùa Thu không em anh về một mình
Đường mưa bay nhanh lối mòn gập gềnh
Mùa Thu không em hồn Thu ru êm
Tiếng buồn gọi về chua xót tình mê.
(Mùa Thu Không Em Phạm mạnh Cương)
Vâng, Thu đã về cùng với làn gió nhẹ, khẽ lay rụng những chiếc lá trên mặt đất, bụi cây ngọn cỏ:
Với bao tà áo xanh đây mùa thu
Hoa lá tàn, hàng cây đứng hững hờ
Lá vàng từng cánh rơi từng cánh
Rơi xuống âm thầm trên đất xưa
Gửi gió cho mây ngàn bay
Gửi bướm muôn màu về hoa
Gửi thêm ánh trăng màu xanh lá thư
Về đây với thu trần gian
(Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay của ns Đoàn Chuẩn và Từ Linh)
Cảnh vật thay đổi làm cho lòng người cũng cảm thấy bâng khuâng. Lá rơi rụng ngập lối đi như nhắc nhỡ chúng ta về sự phù du của cuộc đời, giống như chiếc lá: xuân về xanh tươi, đến thu thì úa vàng và cuối cùng rơi rụng, lìa cành. Mùa Thu đến như gợi nhớ trong ta biết bao kỷ niệm mà ta một thời đã trải qua, theo từng giai đoạn và từng khúc quanh của giòng đời:
Mùa thu lá bay anh đã đi rồi!
Vỡ tan ôi bao giấc mộng lứa đôi
Giờ đành lìa xa thế nhân sầu đau!
Hẹn anh kiếp sau ta nhìn thấy nhau
(Mùa Thu Lá Bay)
Thu tạo nên cảm hứng và không có cảnh nào đẹp, tình tứ hơn là cảnh cùng người yêu tay trong tay dạo bước chiều Thu:
Trời mùa thu lắm mây
còn bước em đi quên về
vòng tay ôm lẻ loi
cho mình còn mãi thương nhau
Chậm lặng người đi qua trên đường phố rét mướt
dấu chân chưa tìm về chút kỷ niệm ngày đầu
để từng mùa thu đến
ra đi không mang tin nỡ quên thôi đành sao
(Mùa Thu Trong Mưa của ns Trường Sa)
Cơn nắng chiều tàn chợt rực lên, nhuộm một màu vàng lên vạn vật, rồi lịm tắt. Mùa Thu cũng thế, đẹp tuyệt vời nhưng buồn và mau tàn úa. Nhạc sĩ Lam Phương rung cảm trong cảnh Thu ãm đạm và gió heo may làm rơi rụng những chiếc lá vàng khô. Kỷ niệm Thu năm nào trở về trong ký ức khách tha hương, nhất là đối với những người Việt tị nạn bỏ xứ ra đi sau ngày 30.04.1975. Ra đi đôi khi chẳng kịp từ giả người thân, không một lời tạm biệt với người tình và có lẽ ai trong số người bỏ nước ra đi tìm tự do hầu như đều mang theo trong tâm khảm ít nhiều những hoài niệm khó quên:
Buồn không em (?)
Mùa thu tan tác lá bay gọi nhau bên thềm
Buồn không em (?)
Những chiều cô đơn xâm chiếm hồn em
Vài tia nắng xuyên qua rèm
Hồng đôi má em cho lòng buồn thêm
Những đêm xa nhà, đời lữ thứ buồn không em?
(Buồn Không Em của Lam Phương)
Gió Thu lành lạnh. Con đường còn ẩm ướt sương đêm. Trong đêm đen, kỷ niệm chợt quay về như như níu kéo, như yêu thương và cảm giác cô đơn lan toả để rồi chợt thấy lòng mình bỗng se lại, tê tái giữa cơn mưa, giống như tâm trạng của ns Lê Minh Bằng qua “Mất Nhau Mùa Thu”:
Đêm thu còn đây... mưa vẫn giăng mắc mưa đầy
Người đã xa người, tình đã phai rồi
không còn đường mưa chung lối
Em đi về đâu? Cho gió mưa rớt u sầu
Đèn phố không màu,
Mùa thu với cái nắng vàng ươm, với gió bay nhè nhẹ làm rung động người nghệ sĩ nên có nhiều nhạc sĩ sáng tác những bản tình ca độc đáo khi Thu về, như Nguyễn Hiền với “Mái Tóc Dạ Hương”:
Từ giã hoàng hôn trong mắt em
Tôi đi tìm những phố không đèn
Gió mùa thu sớm bao dư vị
Của chút ân tình vương tóc quen
Hay nhạc sĩ Từ Công Phụng với “Mùa Thu Mây Ngàn”:
Chiều nay có mùa thu đi về
Buồn vương mây ngàn giăng khắp lối
Mùa thu bơ vơ đến bên trời
Ru tóc em suối nguồn
Gọi hồn hong gió thu buồn
Mùa Thu mộng mơ cũng là khung cảnh của những cuộc tình đắm say nhưng không sao tránh khỏi những lần chia tay đầy nước mắt được thể hiện qua nhạc phẩm rất nổi tiếng “Ngàn Thu Aó Tím” của nhạc sĩ Hoàng Trọng :
Ngàn thu mưa rơi trên áo em màu tím
Ngàn thu đau thương vương áo em màu tím
Nhuộm tím những chuỗi ngày vắng nhau
Tháng năm còn lướt mau
Biết bao giờ thấy nhau.
“Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” và vì con người vốn nhạy cảm, dễ lưu luyến cái buồn trong thiên nhiên nên có lẽ chúng ta cũng chẳng lạ gì khi sự rạo rực của con tim dễ giao cảm với cảnh Thu buồn, phản ảnh qua lời nhạc của Đặng Thế Phong và Bùi Công Kỳ với tuyệt tác “Giọt Mưa Thu”:
Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi
Trời lắng u buồn mây hắt hiu ngừng trôi
Nghe gió thoảng mơ hồ trong mưa thu
Ai khóc ai than hờ!
Nhạc sĩ Cung Tiến thì não nùng, ai oán hơn với “Hoài Cảm”:
Chiều buồn len lén tâm-tư
Mơ hồ nghe lá thu mưa
Dạt dào tựa những âm xưa
Thiết tha ngân lên lời xưa
Ngay cả khi qua xứ người, nhìn Thu người nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đã bắt gặp hồn thu giữa xứ lạ ngập đầy lá vàng và không thể dằn nỗi cảm hứng nên dòng nhạc Thu lai láng sáng tạo thành ca khúc “Mùa Thu Đông Kinh”:
Mùa thu Đông Kinh
Buồn như tình em trong cơn gió
Đìu hiu liễu bên đàng ru lòng ai
Lá thu vàng trên bờ vai
Như bao nhiêu thu tình
Mang theo bao nỗi lòng
Tiếng gió thu lạnh lùng
Thu với khí trời mát mẻ, trong lành thường đem lại nguồn cảm hứng cho biết bao nhạc khúc, chẳng hạn “Lời Tình Băng Giá” của Nhạc sĩ Anh Bằng:
Ru nỗi buồn nhớ anh
Ôi nhạc Thu buồn xa vắng
Giọt Thu sầu lai láng
Tình trôi vào quên lãng
Không biết làm sao định nghĩa đúng được “tình yêu” nhưng tình yêu đã làm cho biết bao nhiêu nam nữ đâm ra thất tình, đau khổ. Lắm lúc yêu nhau thật nồng nàn, để rồi nhớ nhau, rồi khắc khoải đêm ngày, nhất là mỗi độ mùa Thu ảm đạm quay về:
Chiều thu mưa vẫn rơi
Chiều thu mưa vẫn rơi
Nhạc thu ru nắng phai nhạt nhòa cuối trời
Rồi em theo gió bay
Tình em như bóng mây
Tình anh như núi sông, biển rộng mênh mông…
(Tình Là Hư Không của thi sĩ Phạm anh Dũng)
Cái buồn làm cho nội dung bài thơ, lời nhạc trở nên ướt ác và làm cho vẽ đẹp trở nên quyến rũ, lôi cuốn hơn. Cảnh vật chỉ đẹp, chỉ thơ mộng khi nó phảng phất một chút buồn. Và những vần thơ, những áng văn hay những nhạc phẩm được người đời ưa thích nhất vẫn là những bản nhạc buồn, chất chứa „một ít“ nhớ thương. Rồi đến lúc cũng phải nghẹn ngào tiễn đưa Thu, như cảnh chia tay trong luyến tiếc của những cặp tình nhân thiếu may mắn, cuộc tình đổ vỡ không trọn vẹn:
Thu đi cho lá vàng bay, lá rơi cho đám cưới về
Ngày mai, người em nhỏ bé ngồi trong thuyền hoa tình duyên đành dứt
Có những đêm về sáng đời sao buồn chi mấy cố nhân ơi
đã vội chi men rượu nhấp đôi môi mà phung phí đời em không tiếc nhớ
Lá đổ muôn chiều ôi lá úa, phải chăng là nước mắt người đi
Em ơi đừng dối lòng dù sao chăng nữa không nhớ đến tình đôi ta
Thôi thế từ đây anh cố đành quên rằng có người
Cầm bằng như không biết mà thôi
Lá thu còn lại đôi ba cánh,
đành lòng cho nước cuốn hoa trôi …
(Lá Đổ Muôn Chiều của ns Đoàn Chuẩn và Từ Linh)
Người được coi là nhạc sĩ của mùa Thu là Đoàn Chuẩn (và Từ Linh). Những tình khúc mùa Thu do ông viết, có nhiều bản từng ru hồn người nghe như “Chiếc Lá Cuối Cùng”, “Chuyển Bến”, “Dang Dở”, “Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay”, “Lá Đổ Muôn Chiều”, “Tình Nghệ Sĩ”, “Thu Quyến Rũ” và “Vàng Phai Mấy Lá” ….
Còn nhiều nhạc sĩ đã cho ra đời những bài “Tình Ca Thu” rất trữ tình. Rất tiếc là trong bài phóng tác này tôi chỉ có thể trích vài bản tiêu biểu, giới thiệu đến quý độc giả, mong quí vị thông cảm.
* Lê Ngọc Châu (Munich, Đầu Thu_11.2007)
Câu Lạc Bộ Đằng Phương
dangphuongclub@ yahoo.com
703-732-3283
T h ư M ờ i
Lần đầu tiên, một cuốn phim mang tính chất sử liệu về một nhân vật thời đại
được phát hành trong Cộng Đồng Người Việt hải ngoại:

Nguyễn Ngọc Huy, Thân Thế và Sự Nghiệp
Cuốn phim đã được giới thiệu với công chúng thủ đô Hoa Thịnh Đốn
trong thượng tuần tháng 9 năm vừa qua.
Trong nỗ lực quảng bá cuộc đời của những nhà ái quốc đến với mọi người Việt Nam,
hầu nung nấu tinh thần tranh đấu trường kỳ của tiền nhân, để truyền thừa
cho thế hệ trẻ Việt Nam trong cũng như ngoài nước,
Câu Lạc Bộ Đằng Phuơng sẽ giới thiệu cuốn phim tài liệu này
cùng đồng hương tại California, lúc:
2 giờ 00 chiều Thứ Bảy, ngày 17 tháng 11 năm 2007
tại Hội Quán Little Saigon Radio
15781 Brookhurst Street
Westminster, CA 92683
Trân trọng kính mời Ông, Bà:
Những người cùng thời hay thuộc thế hệ sau nhân vật lịch sử Nguyễn Ngọc Huy,
xin đến chia sẻ với Ban Tổ Chức về những ngày tháng lịch sử thương đau của dân tộc,
và những kinh nghiệm cống hiến cuộc đời cho Tổ Quốc của những thế hệ trước đây.
Chúng tôi ước mong được tiếp đón Ông, Bà tại điạ điểm và ngày giờ nói trên.
Câu Lạc Bộ Đằng Phương
trân trọng kính mời
Xin liên lạc: Ô. Bùi Diễm: 301-340-9222 Ô. Lê Ngọc Diệp: 714-422-9851
Ô. Đỗ Tiến Đức: 323-221-5851 Ô. Lê Minh Nguyên: 714-719-5220 Ô. Trần Thu: 703-732-3283
dangphuongclub@ yahoo.com
703-732-3283
T h ư M ờ i
Lần đầu tiên, một cuốn phim mang tính chất sử liệu về một nhân vật thời đại
được phát hành trong Cộng Đồng Người Việt hải ngoại:

Nguyễn Ngọc Huy, Thân Thế và Sự Nghiệp
Cuốn phim đã được giới thiệu với công chúng thủ đô Hoa Thịnh Đốn
trong thượng tuần tháng 9 năm vừa qua.
Trong nỗ lực quảng bá cuộc đời của những nhà ái quốc đến với mọi người Việt Nam,
hầu nung nấu tinh thần tranh đấu trường kỳ của tiền nhân, để truyền thừa
cho thế hệ trẻ Việt Nam trong cũng như ngoài nước,
Câu Lạc Bộ Đằng Phuơng sẽ giới thiệu cuốn phim tài liệu này
cùng đồng hương tại California, lúc:
2 giờ 00 chiều Thứ Bảy, ngày 17 tháng 11 năm 2007
tại Hội Quán Little Saigon Radio
15781 Brookhurst Street
Westminster, CA 92683
Trân trọng kính mời Ông, Bà:
Những người cùng thời hay thuộc thế hệ sau nhân vật lịch sử Nguyễn Ngọc Huy,
xin đến chia sẻ với Ban Tổ Chức về những ngày tháng lịch sử thương đau của dân tộc,
và những kinh nghiệm cống hiến cuộc đời cho Tổ Quốc của những thế hệ trước đây.
Chúng tôi ước mong được tiếp đón Ông, Bà tại điạ điểm và ngày giờ nói trên.
Câu Lạc Bộ Đằng Phương
trân trọng kính mời
Xin liên lạc: Ô. Bùi Diễm: 301-340-9222 Ô. Lê Ngọc Diệp: 714-422-9851
Ô. Đỗ Tiến Đức: 323-221-5851 Ô. Lê Minh Nguyên: 714-719-5220 Ô. Trần Thu: 703-732-3283

