Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
mexanh
Posts: 517
Joined: Tue Nov 04, 2008 4:18 am

Post by mexanh »

Image

Bill-Clinton-emotional-birthday-celebration


Mời các anh chị em , các bạn cùng
thưởng thức lễ mừng Sinh Nhật của cựu TT Bil Clinton năm 2011


http://news.yahoo.com/blogs/the-differe ... 22954.html

lequyen
Posts: 300
Joined: Sun May 22, 2011 6:22 am

Post by lequyen »

Image

Mùa thu trong tình ca Việt
“Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường... Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và đầy giá lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm Nay Tôi Ði Học...”

Tôi còn nhớ mãi bài “Tôi đi học” của nhà văn Thanh Tịnh hồi mới lên trung học Ðệ Nhất Cấp. Do đó mùa thu vẫn là đề tài được bàn tán muôn thủa bởi những nhà văn, nhà thơ hay những nhạc sĩ trong kho tàng văn chương hay âm nhạc Việt Nam. Người ta ca tụng mùa thu, bối cảnh mùa thu được dàn dựng trong những tác phẩm của họ như những không gian lá vàng rơi hay những chia ly buồn bã. Tôi yêu mùa thu từ bản chất, yêu cả những bản nhạc mùa thu.

Trong khuôn khổ hạn hẹp của bài này, tôi cố gắng đưa ra một số bài tiêu biểu của những nhạc sĩ đã sáng tác những tác phẩm về mùa thu. Tôi vốn thích bản thu ca tiền chiến của nhac sĩ Ðoàn Chuẩn-Từ Linh. Cuối thập niên 50 khi tôi còn học tiểu học, thầy giáo của tôi di cư từ miền Bắc vào. Ông có một tâm hồn nhạc sĩ, chính ông đã để lại trong tôi một ấn tượng thật tuyệt vời của một mùa “Thu quyến rũ”:

“Anh mong chờ mùa thu
Trời đất kia ngả màu xanh lơ
Ðàn bướm kia vui đùa trên muôn hoa
Bên những bông hồng đẹp xinh
Anh mong chờ mùa thu
Dìu thế nhân vào chốn thiên thai
Và cánh chim ngập ngừng không muốn bay
Mùa thu quyến rũ anh rồi ...”

Trong bối cảnh buồn bã nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã nói về mùa thu của ông qua đi khi “Nhìn những mùa thu đi.” Thu đi và để lại cho chúng ta những chia ly, những nuối tiếc sầu rơi, những ý nghĩ riêng tư man mác trong tâm hồn:

“Nhìn những mùa thu đi
Em nghe sầu lên trong nắng
Và lá rụng ngoài song
Nghe tên mình vào quên lãng
Nghe tháng ngày chết trong thu vàng...”

Khi người ta yêu nhau thì mọi thứ đều “từ thiện,” người ta sẽ cho nhau tất cả, từ những tháng ngày, những tặng phẩm quý báu, cho con tim, cho nhau kỷ niệm,... Với nhạc sĩ Ngô Thụy Miên, ông cho người tình cả một bầu trời mùa thu tuyệt vời về nhạc và lời ca. Bài “Mùa thu cho em” được ra đời năm 67. Chính bài ca này đã đánh thức tôi những cái đáng yêu của một mùa thu tình ái:
“Em có nghe mùa thu mưa giăng lá đổ
Em có nghe nai vàng hát khúc yêu đương
Và em có nghe khi mùa thu tới
Mang ái ân mang tình yêu tới
Em có nghe, nghe hồn thu nói
Mình yêu nhau nhé...”

Mùa thu là mùa của nỗi buồn, của chia tay, của những mối tình dang dở. Ở tuổi còn đi học, những nam sinh vẫn có những kỷ niệm đến đứng ngẩn ngơ ở cổng trường con gái như những cửa trường Gia Long, Nguyễn Bá Tòng, Sương Nguyệt Ánh hay Trưng Vương. Ðể rồi “Em tan trường về, mưa bay mờ mờ, anh trao vội vàng chùm hoa mới nở, ép vào cuốn vở.” Người con gái như đóa hoa hồng, hoa pensé, hoa mimosa hay hoa phượng hồng như môi em. Một nụ hôn đầu ngất ngây để rồi nhung nhớ mãi mãi về sau. Mùa hạ đến rồi mối tình chia ly vì lý do nào đó... Ðể rồi khi sang mùa thu, mùa tựu trường cô gái Trưng Vương nhìn lá vàng rơi ngoài đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, theo gió heo may vi vu để nhớ đến người bạn trai xưa với nụ hôn đầu nồng nàn.

Nhà thơ nữ Nguyễn Thị Lệ Thanh đã sáng tác bài thơ “Trưng Vương, khung cửa mùa thu” và nhạc sĩ Nam Lộc đã soạn thành một ca khúc ghi dấu những mối tình nhẹ nhàng, nỗi bâng khuâng, những xao xuyến của tuổi học trò:

“Tim em chưa nghe rung qua một lần!
Làn môi em chưa hôn ai cho thật gần
Tình trần mong manh như lá me xanh
Ngơ ngác rơi nhanh
Thu giăng heo may che bóng cây lạnh này
Người cho em nghe câu nhớ thương từng ngày...
Người mang cho em quen môi hôn ngọt mềm
Tình cho tim em rung những đêm lạnh lùng...
Nắng vấn vương nhẹ gót chân
Trưng Vương vắng xa anh rồi
Mùa thu đã qua một lần
Chợt nghe bâng khuâng lá rơi đầy sân...”

Mùa thu của những tình tự yêu đương lôi cuốn người nhạc sĩ đã dùng bối cảnh thu ca như trong nhiều tác phẩm của ông về mùa thu. Phạm Anh Dũng đã tâm sự những nồng nàn, những cụm từ truyền cảm của ông qua bài “Gọi mùa thu mơ”:

“Anh gọi mùa thu mơ
Một sớm thu sương mờ
Nai vàng đạp trên lá
Bước từng bước xa xa...

Anh gọi mùa thu mơ
Trời sớm sông không bờ
Lá vàng rơi lác đác
Dịu dàng cơn gió bay
Anh hẹn mùa thu sang...

Mùa thu để chúng ta ru người tình. Khi mùa thu tới người nhạc sĩ hát khúc thu ca để dìu người yêu vào giấc điệp bình yên.

Ðức Huy đã ru người tình của mùa thu như sau:

“Hôm mùa thu gió hát bài ca cũ
Mùa thu lá vàng bay
Anh ru em ngủ
Bài ca dao ta vẫn hát khúc ấu thơ
Nắng vàng ấm suối nước dệt mây thu
Ngập ngừng trôi giấc mơ
Anh ru em ngủ
Dài cơn mê thương yêu ấy
Những ngày còn ái ân...”

Còn mùa thu của Từ Công Phụng thì như thế nào? Ông ru người yêu về với mùa thu dịu dàng, du dương với những lối ru nhẹ nhàng, dấu yêu của mây ngàn bay. Hãy nghe bài “Mùa thu mây ngàn”:

“Buồn vương mây ngàn giăng khắp lối
Mùa thu bơ vơ đến bên trời
Ru tóc em suối nguồn
Gọi hồn trong gió thu buồn
Ngày mai chúng mình xa nhau rồi
Cầm tay em nhìn sao không nói...”

Tuần rồi tôi tình cờ được nghe bài “Dáng thu,” người nhạc sĩ đã âu yếm so sánh vẻ đẹp kiều diễm, đài các của mùa thu như người thiếu nữ trong những dòng nhạc thu ca. Nhật Vũ đã dìu người tình qua vũ điệu Tango:

“Dáng thu vơi buồn như thương nhớ ai
Dáng thu về đây mùa thu ơi ai có hay
Ta vẫn ngắm mây trời
Thương về tóc buông lơi
Thương nhớ mãi nụ cười
Bờ môi xinh như mộng
Từ ngày em đi
Ðã bao lần thu về rồi?

Lại một tình cờ khác, tôi lắng nghe tiếng đàn của một người nhạc sĩ Mai Ðức Vinh bên phương trời Canada. Ông cho chúng ta nghe một bản tình ca quyến luyến và nhiều vương vấn của người thiếu nữ trong giấc mơ thu của ông “Thu về hôm nao,” thơ Phạm Anh Dũng:

“...Này em nhé mắt nâu qua rừng thu
Trong bóng thời gian nhả tiếng sương mù
Chiều rơi lá chín thương em hương lụa
Anh nhặt thu về xây tím áng thơ
Chiều sao hoang vắng vàng phai sắc lá
Anh viết tình thu trên môi em thôi.”

Một chiều thu đến để Phan Bá Chúc làm thơ phổ nhạc, từ khung trời yêu thương Ðà Lạt qua ca khúc thật trữ tình và đáng yêu, “Tôi có em chiều thu”:

“Chiều phai mây trắng trôi
Trôi qua dòng đời muộn phiền
Chiều nay tôi thấy em gọi nắng lên
Chiều thu tôi em tôi em như một tình cờ vừa đến
Bàn chân em e thẹn, bàn tay em thơ dại
Vội vàng con chim bé vỗ cánh bay lên cao
Ðời cho tôi có em trong một chiều không mong đợi
Ðời cho tôi có em trong thu về hương tình tới
Bàn tay thôi e thẹn, bàn chân thôi thơ dại
Chiều nay con chim én líu lo thương đời.”

Mùa thu 75 đã làm bao nhiêu con tim điêu đứng, Ngô Thụy Miên khi ra xứ ngồi đã chia sẻ tâm tư của ông qua bài “Thu Sàigòn” như sau:

“Em hỏi anh mùa thu Saigòn
Nắng còn vương vương trên hàng phố vắng
Em hỏi anh mùa thu Saigòn
Nước mắt bây giờ có như mưa tuôn...”

Từ miền Trung Nam nước Mỹ, nhạc sĩ Ðỗ Duy Thụy đã bộc lộ tâm sự của ông khi mùa thu về tại Houston với những nhung nhớ mùa chia ly của tình yêu trong bài “Thu vàng nỗi nhớ”:

“Theo bước chân em đi thu vàng
Tình ơi sao đến muộn màng
Nổi nhớ mang theo cung đàn
Buồn vương trên bao tháng năm
Ðời một rừng thu hoang vắng
Mơ em là nắng xuân sang
Hồn anh mộng cũ chưa tan
Tình theo lá thu vàng.”

Cũng vì mùa thu năm cũ vơi đầy nhung nhớ, Ngô Thụy Miên âu yếm nhìn vào ánh mắt người tình với bài “Thu trong mắt em”:

“Rồi một mùa thu tới cho mắt em buồn trong nắng
Mầu tình hôn tóc rối ru má em hồng say đắm...
Ô hay mùa thu lại về cho mình giăng hẹn hò
Gọi tên nhau khi chiều đến
Mây thu vấn vương đan ngập lối đi
Ái ân theo hồn vút cao
Vết mơ tình xõa tay mềm...”

Nếu mùa thu được dùng như biểu tượng của sự ra đi hay sự chia ly để rồi dứt khoát một cuộc tình buồn não nề nào đó. Trong bối cảnh buồn của mùa thu ở vườn Luxemburg với ngập xác lá vàng rơi, nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu đã viết bài “Mùa thu không trở lại” để nói lên nỗi sầu tan tác của ông:

“Em ra đi mùa thu, mùa thu không trở lại
Em ra đi mùa thu, sương mờ giăng âm u
Em ra đi mùa thu, mùa thu không còn nữa
Ðếm lá mùa thu, đo sầu ngập tim tôi...”

Cũng như sự chia ly từ mùa thu dang dở, người yêu sẽ tìm quên lãng mùa thu sầu úa vì tình đã chết trong lòng khi niềm cô đơn chợt đến mà nhạc sĩ Nam Lộc ghi nhận qua bài “Anh đã quên mùa thu”:

“Bây giờ là mùa thu
Chiều vắng khói sương mù
Hàng cây khô sầu úa
Hiu hắt đứng trong mưa
Mưa như lệ tình xưa
Lệ thấm mãi cho vừa
Lệ thương hoa phượng rũ
Em có nghe mùa thu...”

Mùa thu về với khung trời Paris của Cung Trầm Tưởng, nhà thơ này đã kể về chuyện tình mùa thu với nàng kiều nữ tóc nâu người địa phương bên vườn Luxemburg. Bài thơ “Mùa thu Paris” được nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành một nhạc phẩm đã đi vào dĩ vãng của Saigon một thời xa xưa:

"Mùa thu Paris, trời buốt ra đi
Hẹn em quán nhỏ, hẹn em quán nhỏ
Rượu rưng rưng ly đỏ tràn trề ...
Mùa thu âm thầm bên vườn Lục Xâm
Ngồi quen ghế đá, ngồi quen ghế đá
Không em buốt giá từ tâm
Mùa thu nơi đâu, người em mắt nâu
Tóc vàng sợi nhỏ, tóc vàng sợi nhỏ
Chờ mong em chín đỏ trái sầu...”

Từ một phương trời nào đó Phạm Anh Dũng âu yếm thì thầm với người em gái mắt nâu của mình bằng những lời yêu dấu để thăm chừng khi nào mùa thu của tình yêu thực sự đến. Nếu Phạm Trọng Cầu hay Trịnh Công Sơn nhìn mùa thu đi với nỗi niềm tiêu cực thì tương phản, Phạm Anh Dũng lại nhìn mùa thu ở khía cạnh tích cực. Nào chúng ta hãy nghe lời hát của Phạm Anh Dũng qua bài “Mùa thu về chưa em nhỉ”:

“Này yêu dấu, mùa thu về chưa nhỉ
Gọi mây trôi em thả tóc bay đi
Hạt long lanh rơi nhạt lá thay mầu
Tình xanh biếc, xanh mầu đôi mắt nâu...
Này yêu dấu, mùa thu về lá đổ
Dòng sông xanh trôi về mãi xa xôi.”

(Nguồn: DaiHocVanKhoaSG@yahoogroups.com)

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Facebook Việt xôn xao tranh về Việt Nam Những bức tranh về Việt Nam của một họa sĩ người Thái Lan truyền trên Facebook đã khiến nhiều bạn trẻ ngỡ ngàng và xúc động.
Trên 50 bức tranh về Việt Nam do họa sĩ Direk Kingnok người Thái Lan đăng tải trên tài khoản Facebook của mình đang được nhiều bạn trẻ Việt Nam chia sẻ cho nhau trên mạng xã hội này.

Dưới nét bút của Direk Kingnok, khung cảnh 3 miền của Việt Nam được khắc họa rất sống động và chân thực. Được vẽ bằng màu nước, những bức tranh đã tái hiện lại các phong cảnh đẹp và cảnh sinh hoạt mang tính văn hóa cộng đồng tại nhiều địa điểm khác nhau như Hạ Long, Hà Nội, Huế, TP HCM…

Những tác phẩm này đem lại cho người xem cái nhìn vừa thân quen, vừa mới mẻ về Việt Nam. Bởi vậy, tranh của Direk Kingnok đã nhận được tán thưởng nồng nhiệt của các thành viên. Một thành viên quản trị của Hội Những người thích vẽ trên Facebook nhận xét: “Việt Nam thực sự đẹp hơn qua những bức tranh tinh tế của một người Thái Lan”.

Được biết, vào tháng 5 vừa qua họa sĩ Direk Kingnok cùng hai họa sĩ người Thái khác tổ chức triển lãm tranh mang tên “Hà Nội mùa xuân” tại Hà Nội nhân kỷ niệm 35 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Thái Lan. Dưới đây là một số bức tranh họa sĩ Direk Kingnok đăng tải trên tài khoản Facebook của mình:
Image
Một góc phố rực rỡ sắc màu của Hà Nội trước thềm Tết Nguyên đán.

Image
Những người đánh cá bươn chải ở vịnh Hạ Long,
kỳ quan thiên nhiên của thế giới.

Image
Hà Nội với những tia nắng hiếm hoi trong mùa đông.

Image
Khuê Văn Các, biểu tượng của Hà Nội.

Image
Một buổi trưa ở Huế.

Image
Di tích Ngọ Môn, Huế.

Image
Một con phố gần chợ Bến Thành Saigon

Image
Hoàng hôn trênTP Saigon

Image
Những chiếc xe máy cũ kỹ bên bức tường chi chít "Khoan cắt bê tông",
khung cảnh quen thuộc ở các đô thị Việt Nam.

Image
Một góc phố thâm trầm đầy hoài niệm.

Image
Một buổi tối ấm áp ở Hà Nội.

Image
Phố Hàng Mã rực rỡ sắc màu.

Image
Đường phố Sài Gòn nhộn nhịp, xô bồ.

Image
Hà Nội sau cơn mưa.

Image
Đêm Hà Nội.

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Nguyễn Ngọc Ngạn kể chuyện làm MC

Ðức Tuấn/Người Việt

LTS: Nhắc đến Trung Tâm Thúy Nga chắc chắn bạn sẽ không thể nào quên được tên tuổi của nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn. Ông bắt đầu cộng tác với Trung Tâm Thúy Nga từ tác phẩm Thúy Nga Paris số 17, trong số báo này, nhật báo Người Việt muốn được trân trọng gửi đến quý độc giả phần phỏng vấn ngắn xoay quanh vấn đề dẫn chương trình của ông, do phóng viên Ðức Tuấn thực hiện.

Ðức Tuấn (NV): Thường trước khi một chương trình thu hình của Trung Tâm Thúy Nga, thì phải mất bao lâu để ông chuẩn bị cho phần dẫn chương trình của mình? Hay ông phải đọc bao nhiêu cuốn sách hoặc tìm tòi ở đâu những kiến thức ông nói trong chương trình?
Image
Nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn, MC lâu năm của Trung Tâm Thúy Nga. (Hình: Dan Huynh/Người Việt)

Nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn: Có thể là không tốn và cũng có thể là tốn nhiều, vì kiến thức không thể có qua một đêm ngủ dậy sáng ra là có ngay, kiến thức được định nghĩa như là một sự gom góp dần dần mỗi thời gian, thí dụ như những kiến thức về âm nhạc, về ca dao tục ngữ, lịch sử, về văn chương, địa lý, nhân văn mà tôi thường hay nói trên các tác phẩm của Paris By Night là sự tích lũy từ nhiều khía cạnh dồn lại như kinh nghiệm sống trong xã hội, những kiến thức lúc tôi còn đi dạy hoặc kiến thức lúc tôi đi lính, đi cải tạo rồi những kinh nghiệm khi tôi mới bước chân sang Canada định cư, hay hằng ngày tôi đọc sách, coi chương trình trên TV... Dĩ nhiên nói về kiến thức thì vô chừng, trong xã hội này có hàng vạn người có kiến thức nhiều hơn tôi gấp bội nhưng vấn đề có dùng được hay không hoặc dùng đúng hay không.

NV: Những câu chuyện vui hay dí dỏm hoặc những kiến thức như ông nói có được dùng đi, dùng lại nhiều lần trong những chương trình ca nhạc khác nhau hay không?

Nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn: Trong các tác phẩm DVD của Trung Tâm Thúy Nga thì không bị lập đi, lập lại nhưng trong những chương trình quay trực tiếp thì những chuyện cười, pha trò hay chuyện thời sự, có sự lập lại nhưng dĩ nhiên là chương trình ở nhiều thành phố khác nhau.

NV: Trước khi bắt đầu thu hình cho một tác phẩm DVD của Trung Tâm Thúy Nga, là một người dẫn chương trình, ông có phải trình báo những gì ông sẽ nói trong chương trình thu hình đó với ban giám đốc của trung tâm?

Nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn: Cũng may mắn cho tôi là kể từ ngày đầu tiên tôi hợp tác với Trung Tâm Thúy Nga đến hôm nay, chưa bao giờ tôi phải trình bày bất cứ điều gì liên quan đến vấn đề kịch bản tôi viết để chuẩn bị cho chương trình thu hình cả, nói chung là Trung Tâm Thúy Nga luôn để cho người MC được tự do, nhưng cũng chính vì vậy mà tự mình cảm thấy mình phải biết làm thế nào cho công việc của mình được hoàn tất mỹ mãn, cũng như mình phải chịu trách nhiệm với tất cả những gì mình nói trên sân khấu.

NV: Ông nhận xét thế nào về những MC tại hải ngoại?

Nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn: Theo tôi mỗi một người MC trên sân khấu đều có một nét riêng, như anh Nam Lộc, anh Việt Dzũng, anh Việt Thảo... trải qua mấy chục năm làm MC thì nghiệm ra chúng ta sẽ thấy mỗi người đều có một nét riêng và chính nhờ những nét riêng đó mà họ mới đứng được lâu như thế này, nếu không tạo được nét riêng mà chỉ là sự lặp lại hình bóng của người khác thì rất khó.

NV: Vậy nét riêng của Nguyễn Ngọc Ngạn là gì?

Nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn: Nét riêng của tôi là nói chuyện vui mà không cười, là tạo được hình ảnh của ông thầy giáo trên sân khấu.

NV: Ông có nghĩ sẽ có ngày MC Nguyễn Ngọc Ngạn được mời làm MC cho một chương trình âm nhạc nào đó tại Việt Nam?

Nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn: Chuyện tương lai thì tôi không biết thế nào, cho nên tôi không thể trả lời được cho câu hỏi này, tôi không bao giờ nói rằng tôi sẽ không bao giờ về hay nay mai tôi sẽ về, chỉ biết rằng tôi sang đây từ năm 1978, tôi chưa về Việt Nam lần nào, và tôi thật sự rất muốn về nơi mình sinh ra để thăm mộ và thắp nén hương cho song thân nhưng chưa biết ngày nào.

NV: Kinh tế toàn cầu đang xuống thấp, ông nghĩ thế nào về sự ảnh hưởng của nó với sinh hoạt văn nghệ tại hải ngoại?

Nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn: Kinh tế có xuống thấp nhưng hoàn toàn không ảnh hưởng đến các chương trình ca nhạc của ca sĩ vì hiện nay phong trào làm chương trình phần lớn do các sòng bài tổ chức để kéo khách đến đánh bài. Một yếu tố khác đó là tệ nạn sang băng lậu ở bên ngoài đối với vấn đề ra các sản phẩm DVD hay CD từ các trung tâm như Thúy Nga, Vân Sơn, Asia... Ðây là một điều làm nhiều nhà tổ chức cũng như các trung tâm ca nhạc lớn nhỏ đều đau đầu, tóm lại kinh tế dù có xuống dốc nhưng không ảnh hưởng đến vấn đề làm DVD hay CD gì cả, vì giá bán của một cuốn DVD thật sự chỉ là trên $20 thì so ra vẫn còn rất rẻ, thế nhưng tệ nạn mua băng đĩa copy đã trở thành thói quen.

NV: Khi ông dẫn chương trình cho một chương trình mà bị vắng khách thì tâm lý của ông như thế nào?

Nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn: Khi gặp một show vắng khách “ghế nhiều hơn người đi xem” thì luôn luôn người nghệ sĩ sẽ tự hỏi là có phải vì khách không thích mình nữa hay vì đụng show? Dĩ nhiên lúc đó mình sẽ phải khựng lại chứ không thể nào còn nhiều hứng thú để trình diễn giống như bình thường được.

NV: Nếu như phải chọn lựa giữa làm ca sĩ, MC và nhà giáo, MC Nguyễn Ngọc Ngạn sẽ chọn điều gì?

Nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn: Tôi xin chọn làm nhà giáo vì đó vốn dĩ là chức năng của tôi từ ngày xưa (cười).

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Mùa Lá Rụng

Nguyên Nhung
Năm nay, mùa thu hình như đến muộn ở khắp nơi, tôi cũng có một chuyến đi tìm mùa thu phương xa, nhưng nơi tôi đến, hai thành phố Ottawa và Montréal mọi năm lá đã chuyển màu theo mùa thu, vẫn óng ả một màu xanh cuối hạ. Trời chỉ hơi lành lạnh, nắng ấm vẫn reo vui trên sân cỏ mượt, trong mấy ngày ở đây tôi lang thang leo đồi chờ lá vàng mùa thu, nhưng cũng chỉ có chút heo may làm se sắt lòng người phương xa.

Lần này là lần thứ hai tôi trở lại căn nhà ở Ottawa có khung cửa sổ mở rộng, nhìn ra ngoài cảnh vật tự nhiên thay cho một bức tranh bốn mùa. Phía sau nhà là mảnh vườn nhỏ, cách với con đường xe chạy là một hàng rào dây leo quấn quýt, vài cây thông xứ lạnh vẫn óng lên màu xanh biêng biếc.

Tôi đi tìm mùa thu phương xa,
Trời mới vào thu lá vàng chưa chín
Vẫn biêng biếc một màu xanh cuối hạ
Nắng nghiêng nghiêng trên bãi cỏ sau nhà


Ottawa là thủ đô và là thành phố lớn thứ tư của Canada và cũng là thành phố lớn thứ nhì của tỉnh bang Ontario. Ottawa nằm trong thung lũng sông Ottawa phía bờ Đông của tỉnh bang Ontario, cách Toronto 400 km về phía Đông Bắc và Montreal 190 km về phía Tây. Ottawa nằm trải dài theo bờ sông Ottawa, con sông này ngăn cách tỉnh bang Ontario và Québec.

Tuy tiếng là thủ đô của một quốc gia, nhưng thành phố Ottawa mới mẻ, bằng phẳng không núi non và không đẹp bằng thành phố Québec , hay vùng ngoại ô của Mộng Lệ An. Đời sống tương đối bình lặng và êm đềm, dân số không đông đảo và phức tạp như ở Toronto và Montreal. Ở đây mọi giao dịch đều sử dụng hai ngôn ngữ là tiếng Anh và tiếng Pháp. Đây là lần thứ ba đến Ottawa, đã hai lần được người nhà chở đi thăm viếng những công trình được xây dựng theo lối cổ, như toà nhà Quốc Hội, Dinh Toàn quyền Rideau, Toà Nhà Liên Bang. Gần đó có một vườn hoa rất rộng trồng đủ loại hoa rất đẹp, khi tôi đến đây trời đã sang thu, hoa không còn tươi tắn như mùa hè mà vẫn đủ sức thu hút du khách ghé vào ghi lại những bức ảnh kỷ niệm.

Vài ngày với gia đình ở Ottawa qua nhanh, chúng tôi lên đường sang Mộng Lệ An thăm cô bạn thân, đây cũng là lần thứ hai đến thành phố này và thú thật là người phương xa thường luống cuống với hệ thống giao thông ở Montréal. Hình như có những con đường người ta sửa hoài mà vẫn chưa xong, từ muà hè năm 2008 đến nay lúc nào xe cộ cũng ứ lại vì tắc nghẽn trong những giờ cao điểm.

Mộng Lệ An đối với tôi hình như thân thiết hơn các nơi khác của Canada mà tôi đã ghé qua, gắn bó bởi cái tình của một tình bạn do văn chương mà có. Lần nào đến thăm bạn,tôi cũng chạy ngay ra mảnh vườn sau nhà bạn, mảnh vườn thật đẹp, cây chen hoa cứ như là muôn loài kỳ hoa dị thảo ở đâu đâu đều tụ lại trong mảnh vườn này, qua sự chăm sóc chu đáo của chủ nhân. Tuy đã vào thu mà hoa vẫn nở rộ, những cành hoa tím ẻo lả thả mình xuống rừng cúc vàng rực, toàn những màu sắc hoà hợp lạ lùng để tạo cho bức tranh mùa thu thêm phần rực rỡ. Mùa đông ở đây kéo dài với những tháng ngày lạnh buốt, lại mưa nhiều, khi trời vào xuân sang hè, tuyết tan thật nhanh và nước giữ lại trong đất cho hoa cứ thế mà hối hả vươn lên xanh tươi lạ lùng, nhất là loại thông xứ lạnh lá màu xanh bạc là vẻ đẹp khó tìm được ở những vùng nhiệt đới.

"Buổi sáng trong vườn trời xanh đẹp quá
Gió mênh mang trên những ngọn thông gìa
Tít trên cao nghe đất trời kể lể
Chuyện cuộc đời và chuyện ở quanh ta"

Lần này chúng tôi không đi thăm lại những nơi đã đi vào mùa hè năm 2008, nhưng có một nơi làm tôi nhớ mãi đó là thành phố Québec khi chúng tôi đến thăm , thủ phủ của tỉnh bang và cũng là thành phố du lịch có mùa thu tuyệt vời với những rừng lá vàng lá đỏ. Nơi ấy tôi đã gặp bức tượng chân dung cụ Nguyễn Trãi, trong một chiều lang thang dưới cơn mưa, như những kẻ “tha hương ngộ cố tri”, lòng lại bồi hồi một nỗi buồn không đâu khi bất chợt thấy nhau nơi xứ lạ quê người:

“Tàng cây sũng nước trời thổi gió
Người đến nơi đây tự thuở nào?
Phải chăng đồng cảnh đời lưu lạc
Mà mắt rưng buồn như ướt mưa”

Chen lẫn những ngày nắng đẹp, Mộng Lệ An vẫn sũng ướt trong mưa thu. Lần này Tiểu Thu cô bạn văn thân thiết của tôi lại đưa khách đi hành hương hai địa điểm tôn giáo, đó là Đền Thánh Giuse nơi mà nghe kể lại nhiều người từ các nơi trên thế giới đổ về đây, và họ đã nhận được nhiều phép lạ chữa lành từ vị Thánh Cả của giáo hội Công Giáo. Trời hôm ấy rất âm u nhưng không mưa, nhiều khách hành hương cầu nguyện trong khu đền thờ cổ kính, đứng từ trên cao nhìn xuống phố xá như chìm trong một màu xám ảm đạm.

Ngày hôm sau nắng đẹp, người trong nhà rủ nhau đi viếng chùa Đại Tòng Lâm, nằm cách Mộng Lệ An khoảng hơn một giờ lái xe. Con đường đến chùa đi ngang một thành phố núi tuyệt đẹp, mùa đông nơi đây đã thu hút hằng nghìn người đến trượt tuyết, và khi mùa thu thực sự đến thì những cánh rừng sẽ bao quanh ngôi chùa sẽ biến thành bức tranh tuyệt tác của thiên nhiên.

Con đường ngoằn nghoèo đưa đến ngôi chùa xa, đường trải nhựa nhưng càng đi nhiều đoạn đường còn lổn nhổn đất đá, tuy nhiên vẫn thu hút khách thập phương tìm đến, trước để lạy Phật sau cũng là để ngoạn cảnh. Thật vậy, tuy chùa còn đang xây dựng dở dang nhưng cảnh lại đẹp như tranh vẽ, không khí tĩnh mịch của cửa Thiền trong một ngày vắng vẻ, khiến tôi lan man nghĩ đến cảnh chùa Long Giáng với tác phẩm “Hồn Bướm Mơ Tiên” của nhà văn Khái Hưng trong “Tự Lực Văn Đoàn”. Bách, tùng, thông, phong, núi, rừng tạo nên một phong cảnh hùng vĩ để ngôi chùa nổi bật giữ thiên nhiên, chưa kể hồ nước trong xanh lác đác hoa sen, hoa súng, ông trời lại còn in xuống đáy hồ thăm thẳm những gợn mây trắng tầng tầng thì không còn cảnh nào an tịnh hơn để lòng người càng lắng xuống.

Hơn 10 ngày rong chơi rồi cũng trôi qua, mùa thu vẫn chưa đến hay chỉ thả chút heo may thêm nỗi buồn vu vơ vào những tâm hồn lãng mạn. Chuyến về, từ Ottawa máy bay phải ghé vào phi trường O’ Hair ở Chicago để chuyển máy bay, tuy chờ đợi hơi lâu nhưng chuyến trở về Houston, ông trời lại đãi ngộ cho một vầng trăng bay theo, và chưa bao giờ tôi có cảm tưởng được gần trăng như vậy.

Từ máy bay nhìn xuống, thành phố Gió về đêm tuyệt đẹp chi chít ánh đèn như cảnh bồng lai, đã nằm lại khi con tàu bay vút lên cao, lúc ấy trên trời cao đã có một vầng trăng lơ lửng bay theo:

“Rồi tôi cũng về , về lại Houston
Chuyến bay đêm có vầng trăng đưa đón
Trời nhung thẫm, bóng trăng treo lồng lộng
Theo chuyến tàu đêm trăng đón tôi về”

Trăng đêm ấy đẹp quá, chưa phải đêm rằm mà trăng đã tròn như một cái đĩa bạc, treo lơ lửng trên không gian bay theo về đến tận nhà. Trong khung cửa nhỏ của con tàu, tôi ngoái nhìn ra vầng trăng bay theo mà cứ ngỡ trăng là người bạn tri kỷ, đã đón tôi về dù không hề hò hẹn:

“Rất tình cờ Trăng chẳng nói đón đưa
Trăng vẫn đến dù không lời hò hẹn
Trăng chan chứa ân tình nơi tôi đến
Trăng thuỷ chung theo từng bước tôi về”

Ánh trăng đêm ấy dịu dàng tỏa ánh sáng dịu hiền xuống vạn vật, khiến những dòng sông vạt rừng trở nên huyển mộng đẹp lạ lùng. Trăng vẫn đi theo suốt chuyến bay dài, và tôi bỗng bật cười khi hiểu rằng chỉ có con tàu chuyển động thôi, như con người đi khắp nơi mà vầng trăng thì vẫn ở đó chung thuỷ đợi chờ. Miên man nhìn trăng tôi lại nhớ đến những người bạn mình vừa chia tay, cái tình ấy cũng đầy như một vầng trăng, để khi tôi đến lúc tôi về, vẫn mang theo cái tình ấm áp ấy.

Đêm hôm qua, phải rồi, đêm hôm qua đã bước qua tháng Mười mới thấy gió chuyển mùa đem thu tới nơi tôi ở. Lúc ấy khoảng nửa đêm về sáng tôi nghe tiếng chuông gió reo leng keng ngoài giàn hoa ti gôn, và cánh cửa sau bật mở cho gió thu ùa vào căn phòng ấm. Thế là mùa thu đã trở lại, buổi sáng, khi ra vườn tôi đã thấy bao nhiêu lá khô rụng đầy trên sân, mùa thu đã tới với khu vườn của tôi, hay mùa thu đã tới trong tâm hồn tôi với những chiếc lá rụng tấp vào nhau hò hẹn. Nhìn lá rụng, tôi bỗng dưng nhớ đến mẹ tôi, ngày xưa ấy khi tuổi còn niên thiếu, tôi vẫn thường theo mẹ ra vườn quét lá. Tiếng chổi tre xoèn xoẹt trong mảnh vườn mà ở đấy có bao nhiêu lá tre, lá xoài, lá ổi, mẹ tôi gom lại đốt thành tro rồi trộn chung với đất, vun vào vườn rau, vườn đậu.

“Mảnh vườn quê tỏa khói lúc chiều buông
Là lúc ấy mẹ tôi đang đốt lá
Khói lá chơi vơi hong đời vất vả
Lấy tro tàn vun bón luống ngô khoai”

Nhìn lớp lá khô màu tàn phai theo gió cuốn nằm chất lên nhau ở một góc vườn, nghĩ về định luật tuần hoàn của vũ trụ, những chiếc lá xanh, lá vàng, lá đỏ rồi một ngày cũng sẽ thành những chiếc lá khô. Khi hiểu được điều đó lòng tôi cảm thấy nhẹ tênh khi nghĩ về sự Sinh Tử của con người và vạn vật:

“Ở quê người những chiều nắng thu phai
Nhìn xác lá rụng đầy trên mặt cỏ
Rồi một mai những lá vàng, lá đỏ
Cũng buồn hiu thành những chiếc lá khô”

Thời gian qua nhanh, đã bao nhiêu mùa thu qua đi trong cuộc đời, mẹ tôi đã khuất bóng từ lâu, hình ảnh mẹ tôi mập mờ như chiếc lá khô, ẩn khuất trong đó là những chiếc lá xanh, lá vàng, lá vàng, lá đỏ, những óng ả của cuộc đời sẽ có lúc đổi màu để thành làn khói bay lên bầu trời miên viễn:

“Như mẹ tôi đã về với hư vô
Tựa làn khói bay lên trời vô tận
Những mùa thu của đời người rất ngắn
Đến rồi đi không trở lại bao giờ”

Mùa Thu là mùa của lá rụng, ai cũng ngẩn ngơ nhìn cảnh tàn tạ của những chiếc lá khô đã sống hết một đời của lá, rơi xuống và nằm thinh lặng trên mặt cỏ. Riêng tôi, mỗi lần quét lá trong mảnh vườn nhỏ của mình lòng vẫn bùi ngùi nhớ lại ngày xưa, những buổi chiều xem mẹ vun lá và đốt lá trong vườn, quà cho con chỉ là củ khoai nướng thơm lừng còn tươm mật nóng hổi, có lẽ đã trở thành những kỷ niệm khó quên thời niên thiếu.

Nguyên Nhung
( Mùa Thu, 2011)

lequyen
Posts: 300
Joined: Sun May 22, 2011 6:22 am

Post by lequyen »

Vào Bếp Xem
Các Vua Triều Nguyễn Ăn Gì

Nói đến ẩm thực xứ Huế, người ta thường nghĩ đến lối ăn cung đình, một phong cách ẩm thực được hình thành để phục vụ triều đình nhà Nguyễn trong hơn một thế kỷ đóng đô ở đây.


Theo số liệu thống kê gần đây, Việt Nam có khoảng 1.700 món ăn, trong đó riêng vùng đất Thừa Thiên Huế có tới 1.300 món, cho thấy ẩm thực Thừa Thiên Huế nói chung và ẩm thực cung đình nói riêng rất đa dạng và phong phú.

Thành lập năm 1802, đến năm 1808, dưới triều Minh Mạng, bộ phận bếp núc chính thức có tên gọi là Thượng Thiện đội, chuyên lo việc bếp núc, từ mua sắm thức ăn, nấu nướng, chuẩn bị bát đĩa, tăm, thìa cho bữa ăn của vua và cúng giỗ của hoàng gia.


Nhân viên đội Thượng Thiện có khoảng 50 người, phải chịu nhiều điều cấm để bảo đảm an toàn trong việc ăn uống và đặt dưới sự giám sát của viện Thái Y. Bên cạnh đội Thượng Thiện, trong cung còn có viện Thượng Trà chuyên trách việc cung cấp đồ uống cho vua và cúng giỗ của hoàng gia.
Image
Một bữa ngự thiện của các vua chúa.

Bữa cơm vua không những chỉ trình bày tỉ mỉ đẹp mắt, màu sắc hài hòa thanh nhã mà phải lo chăm chút từng món ăn cho phù hợp, món này không kiêng kỵ món kia, phải biết kết hợp giữa các loại thực phẩm và gia vị một cách tinh tế của nóng và lạnh, của sự cân bằng âm và dương, nước uống phải tinh sạch, gạo thơm lựa từng hạt để cho bữa Ngự Thiện được hoàn mỹ.

Đồ ngự dụng gồm chén, bát, dĩa bằng men lam, những đôi đũa vua dùng được vót bằng tre vừa trổ đủ lá một ngày thay một lần...Ông hoàng, bà chúa khẩu vị mỗi người mỗi khác… Theo những bậc cao niên kể lại, các bữa ăn hàng ngày của ông hoàng bà chúa trong cung không khác những bữa ăn của dân thường là bao.

Món ăn được ưa thích của mẹ vua Bảo Đại vẫn chỉ là cá bống kho, canh cá óc mó, canh rau dại nấu với tôm... Vua Gia Long cũng được ghi nhận là ăn uống giản dị nhất, không bao giờ uống rượu, bữa ăn chỉ gồm ít thịt, cá, cơm, rau, bánh, trái… khi vua ăn không ai được ngồi cùng, kể cả hoàng hậu.

Vào đầu thế kỷ này, một vị phu nhân trong hoàng tộc đã ghi lại những món bà thường ăn để truyền lại cho con cháu học theo. Tập sách mỏng có tên là Thực phổ bách thiện giới thiệu 100 món ăn theo thể văn vần. Điều khiến ta ngạc nhiên là những món ăn đó không khác mấy so với món ăn dân dã.

Thịt thú rừng chỉ chiếm 4%, trong khi đó thịt nói chung chiếm 17%, gia cầm chiếm 9%, tôm cá 28% chiếm tỷ lệ cao nhất. Nếu tìm những món lạ và đắt tiền như vi cá, hải sâm, yến sào... thì chỉ có 5%. Ngược lại những món ăn bình thường như rau dưa chiếm tỷ lệ cao là 28% và các thứ mắm chiếm 14%.

Cách ăn uống giản dị này còn thể hiện qua những sản phẩm mà triều đình quy định cho các địa phương cúng tiến hàng năm theo mùa. Điểm lại các sản vật cung tiến được ghi trong sách xưa, ta thấy hầu hết chỉ là những hoa quả thông thường được trồng ở các địa phương như: dừa ở Vĩnh Long, Định Tường, xoài Phú Yên, bòng bong Quảng Nam, cam đường Thanh Hoá, Hải Dương, vải Hà Nội, mắm rươi Ninh Bình, Nam Định, lê Cao Bằng, Tuyên Quang.

Tỉnh phải nộp nhiều thứ nhất là Quảng Bình thì cũng chỉ là dưa hấu, bột hoàng tinh, tương đậu, rượu dâu, thịt cửu khổng khô (ruột một thứ sò lớn ở biển). Đây đều là những đặc sản địa phương, có thể thu hoạch một cách dễ dàng, không phải mất công khó nhọc lên rừng xuống biển tìm kiếm như xưa kia người Việt phải làm để cung tiến cho triều đình Trung Hoa.

Tuy nhiên, cũng có nhiều vua chúa thích ăn uống cầu kỳ, tiêu biểu là vua Đồng Khánh: mỗi ngày "ăn cơm 3 lần... mỗi buổi ăn có 50 món khác nhau do 50 người đầu bếp nấu và mỗi người lo nấu món riêng của mình…”. Một số món ngự thiện đã được đưa vào ca Huế qua điệu Nam Ai, liệt kê gồm: nem công, thấu thỏ, xôi vò, nham bò, trứng gà lộn, khum lệt, xào lươn, bó sò trâu, chiên cua gạch, hầm câu, cao lầu, kho tàu, thịt quay, dưa gia, kiệu thịt phay, gầm ghì, măng cày, hon hôn, nướng sẻ, um cò, tao sò, mực trộn, gân chân vịt, giò nai, cháo hải sâm, kim châm, da bì, bành mì tây....Yến tiệc cung đình – đỉnh cao ẩm thực Huế.
Image
Nem công, chả phượng
Đỉnh cao của nghệ thuật ẩm thực cung đình Huế phải kể đến những yến tiệc được tổ chức vào những dịp hưng quốc, đại khách, lễ đăng quang, lễ sinh nhật nhà vua (hoặc hoàng thái hậu, hoàng hậu, hoàn tử, công chúa…), thiết đãi tân khoa, tiếp thần sứ nước ngoài…
Image
Nem công, chả phượng

Theo sách Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ do Nội các nhà Nguyễn biên soạn, cỗ bàn được chia làm nhiều loại: cỗ hạng lớn gồm 161 phẩm vị, cỗ ngọc soạn có 30 dĩa, cỗ quý có 50 phẩm vị, cỗ điểm tâm có 12 phẩm vị.

Ngoài ra còn có các cỗ chay để cúng chùa hạng nhất có 25 món, hạng hai có 20 món.... Mỗi loại cỗ, yến đều được quy định thứ bậc và định giá. Khác với vua chúa phương Tây và Trung Hoa thường lấy săn bắn làm thú giải trí vương giả, và sự xuất hiện của thịt thú rừng trên bàn tiệc của các lãnh chúa vương công là chuyện thường xuyên, thì vua chúa Việt Nam ít ăn thịt thú rừng. Thịt dã thú chỉ thấy trong cỗ cúng với số lượng rất hạn chế: hươu, lợn rừng, công, tê tê, vịt nước, đuôi cá sấu...

Hàng năm, trước ngày giỗ 12 hôm, các đội lính săn gồm 300 người và 100 con chó săn được bủa đi săn thú rừng, tối thiểu mỗi kỳ phải săn được từ 10-20 con, cũng là một số lượng không lớn.

Các vua triều Nguyễn chuộng “đặc sản” Theo lời người già trong hoàng tộc kể lại thì có một món ăn lạ là "sâu mây" rất được các vua nhà Nguyễn ưa chuộng. Đây là một loại ấu trùng sống trong thân cây mây mọc trên rừng. Người ta chặt mây, lấy những con sâu đó về, đem thả vào ngọn cây mía trồng trong vườn. Con nhộng đục thân mía để ăn. Chờ đúng ngày nhộng vừa lớn mới chẻ cây mía ra, lấy nhộng làm thức ăn.

Ngoài ra còn có một loại thức ăn được vua chúa nhà Nguyễn ưa thích, đó là con đuông, một loại ấu trùng sống trên ngọn cây dừa, vì vậy mang vị ngọt của cùi dừa, muốn lấy con đuông phải chặt cả cây dừa, chỉ những vùng trồng dừa ở miền Nam mới lấy được. Đuông hẳn là một món ăn quý, chẳng thế mà hình ảnh và tên của nó đã được khắc trên Cửu đỉnh trước Thái Miếu của kinh thành Huế với cái tên "hồ da tử".

Nhìn chung, ngoài những món ăn thông thường được đội Thượng thiện tinh chế cầu kỳ, mỗi bữa Ngự thiện thường có thêm vài ba món ăn quý hiếm, trong đó có 8 món đặc biệt được gọi là “bát trân”: nem công, chả phượng, da tây ngưu, bàn tay gấu, gân nai, môi đười ươi, thịt chân voi, yến sào. 8 món này dành riêng cho các bậc vua chúa để bồi bổ thần kinh, tăng cường sinh lực, dẻo dai gân cốt và kéo dài tuổi thọ.

Ngày nay một số thú rừng nói trên gần như tuyệt chủng, cần phải được bảo vệ thay vì giết để lấy thịt, chỉ món yến sào và hải sâm còn được phổ biến. Dù là món dân dã hay cao lương mỹ vị, cái khác cơ bản ở đây chính là cách nấu nướng sạch sẽ, thực phẩm có chọn lọc hơn và đặc biệt là cách trình bày đẹp và tinh xảo.

Nhà văn Nguyễn Tuân đã từng nhận xét rằng người Huế ăn bằng mắt, bằng mũi trước khi ăn bằng miệng. Tỷ dụ như các thứ rau, dưa được tỉa thành những bông hoa, rau muống ăn sống phải chẻ nhỏ như sợi bún, bánh đậu xanh được nặn thành hình trái cây với màu sắc như thật, chả thịt lợn kết hợp với rau củ xếp thành hình công, phượng với tên gọi "nem công, chả phượng".

Bởi vậy, tuy chưa hẳn ẩm thực cung đình Huế tiêu biểu cho phong cách ăn uống của dân tộc nhưng đã đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật ăn uống Việt Nam.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image

Mối Tình Bí Mật Của Tổng Thống Ngô Đình Diệm
Có một sự thực đã như thứ hoả mù bao trùm miền Nam từ hơn chục năm qua: Đó là sự hiểu lầm, nghi quẩn lo quanh và dư luận.


Dư luận bao giờ cũng chỉ là dư luận. Thế nhưng dân chúng vốn dễ tin, dễ nghe cho nên dư luận về một người này hay một chuyện kia được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, dư luận mặc nhiên trở thành sự thực. Hay ít ra cũng như thực. Rồi dân chúng sống trong sự thực đó mà phản kháng, mai mỉa hay bằng lòng với nó. Về sự hiểu lầm, nghĩ sai cũng thế, ngày này qua ngày khác, tích luỹ lại rồi bộc phát tuỳ theo hoàn cảnh mà trở nên ân oán nhau.


Nói về sự ngộ nhận thì có cả trăm hình thức ngộ nhận. Từ đó dân chúng sẵn sàng "thêu hoa dệt gấm" cho nhau bằng cả cái gia tài tiếu lâm vô hạn. Về Tổng Thống Ngô Đình Diệm chẳng hạn

Trước đây có dư luận truyền trong dân chúng là ông Diệm bất lực. Vì thế Tổng Thống Diệm không lập gia đình và cứ đứng gần đàn bà thì ông ta hay thẹn thùng. Nhiều người, kể cả những người gần gũi Tổng Thống nhất cũng như trong hàng ngũ đối lập,đều thắc mắc về tiểu tiết mà họ cho là hấp dẫn, ly kỳ cần phải tìm hiểu: "Tổng Thống có như một người bình thường về cơ quan sinh dục không"? Cái quan hệ gấp trăm ngàn lần thì chả để ý, song cái "tiểu tiết" đó xem ra thiên hạ thắc mắc lắm. Rồi ngườí ta sáng tác ra nhiều giai thoại rất ly kỳ và rất phù hợp với bản chất ưa trào phúng và tiếu lâm của dân chúng. Một số người có khuynh hướng thần thánh hoá Ngô Đình Diệm (mà cựu bộ trưởng Trần Chánh Thành là một), nên đã dựng lên những câu chuyện đầy bí ẩn về đời riêng của ông ta.


Ông Phạm Văn Nhu, nguyên Chủ tịch Quốc hội thời Tổng Thống Diệm trong buổi trà đàm cho biết rằng, ông và Tổng Thống Diệm thân nhau từ năm 11, 12 tuổi ở xứ Huế. Những năm thơ ấu đó trong lúc hai người sống rất tự nhiên theo sự tự nhiên của tuổi trẻ, Phạm Văn Nhu không thấy có gì khác lạ nơi con người Ngô Đình Diệm, nghĩa là Tổng Thống Diệm hoàn toàn bình thường về cơ thể như tất cả mọi người. Điều này thiết tưởng cũng nên tìm hiểu vì ai cũng hiểu rõ rằng, yếu tố sinh lý trong một con người đã rất quan hệ đến đời sống tâm lý con người đó.

Năm 1948, cựu Thượng Thư Ngô Đình Diệm vào miền Nam, khi thì ở Vĩnh Long với anh là Ngô Đình Thục, khi thì lên Sài Gịn lưu ngụ tại khu Thánh đường Saint Pierre. Có một thời gian ông Diệm đã sống tại nhà Cha Tam ở Chợ Lớn.

Khu Thánh đường ấy, 15 năm sau (1948-l963) ông Diệm trở lại lần cuối cùng rồi vĩnh viễn ra đi về cõi thiên cổ. Ông Diệm thích tâm sự hàn huyên với cha Tam, nên dù di đâu xa, ông vẫn lưu nhớ. Khi ở Vĩnh Long về Sài Gòn ông Diệm thường đến làm việc, họp với nhóm Tinh Thần và Hoa Lư tức là hai tờ báo hoạt động theo khuynh hướng xã hội Công Giáo, trụ sở của nhóm Tinh Thần và Hoa Lư đặt một phòng trên tầng lầu hai của cư thất luật sư Lê Văn Kim (vị luật sư đậu nhiều bằng cấp khác nhau. Năm 1945 bị Nhật giết vì cho rằng luật sư Kim là gián điệp của quân đội Đồng minh). Ông Diệm hằng ngày đến trụ sở này để làm việc với một số cộng sự, trong số đó có Giáo sư Phạm Văn Nhu vừa từ Huế vào.


Giáo sư Nhu cho biết, anh em ông vẫn "tiếu lâm" với nhau sau những giờ làm việc mệt nhọc và cũng là cách để đỡ nhớ vợ con.

Nhưng mỗi khi ông "Thượng Thư" đến thì anh em ông lại phải bắt tay vào làm việc hội họp. Ông Diệm không thích chuyện tếu.

Nhưng ông có thể ngồi nói chuyện liên miên hằng hai, ba giờ hết chuyện đất nước đến chuyện Tây chuyện Mỹ, chuyện trên trời dưới biển. Những lúc tâm sự như thế, ông Diệm cười rất có duyên và yêu đời hơn cả những dân có "tình ái" yêu đời.

Năm 18, 19 tuổi, khi ông Diệm còn đang là sinh viên trường Hậu Bổ, vào một buổi sáng mùa hè nọ, ông đang ngồi đọc sách trên lầu tại nhà chị gái tức bà Cả Lễ, thì ba bốn cô gái Huế đến chơi nhà bà Cả. Vốn là những tiểu thơ khuê các trong một thời mà làn sóng lãng mạn phương Tây đang đổ xô vào tâm hồn giới trẻ (tiểu thuyết Tố Tâm năm 1922 là một thí dụ).

Các nàng tiểu thơ kia đã tìm mọi cách chọc ghẹo, chài mồi cậu ấm Diệm, tuy lùn nhưng có bộ mặt điển trai. Vào một thời đại “phi cao đẳng bất thành phu phụ”, và ở giữa đất kinh thành của vua chúa quan quyền thì tất nhiên là cậu ấm Diệm trở thành đối tượng cho lòng say mê của biết bao nhiêu tiểu thơ. Nhưng hôm ấy, trước sự chài mồi, chọc ghẹo của các cô, cậu ấm Diệm bỗng nhiên nổi nóng, đứng trên lầu mà mắng các cô, những rằng “con gái gì mà hư thân trắc nết như rứa".

Thêm vào đó, cậu ấm Diệm khi còn học ở trường Pellerin đã từng nuôi mộng đi tu để trở thành một sư huynh sau này. Từ buổi cậu bất thần nổi giận với mấy cô, cả vùng Phú Cam các cô rỉ tai nhau: "Cậu Diệm sợ đàn bà con gái". Cũng từ đó khi trở thành Tri Phủ Hồ Đa, Tuần Vũ Phan Thiết, ông Diệm đã "ở vậy" dù có rất nhiều gia đình “đường quan vị vọng” đánh tiếng gả con gái cho.

Cho đến năm 1948, khi ông Diệm đã gần ngũ tuần, giới thân cận của ông không ai nghe thấy ông nói về chuyện đàn bà con gái.

Phần vì nể ông, cho nên trong những lần trò chuyện với ông cũng chẳng ai đề cập làm chi. Lại có một số người "đạo đức giả" mỗi khi gặp ông chỉ nói toàn chuyện đạo đức tu hành thánh hiền. Hoá cho nên trong ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày, ông Diệm đã không có dịp nào sử dụng ngôn ngữ về thế giới đàn bà và tình ái. Rồi dần dần, mỗi khi nhắc đến ông Diệm, người thân và cộng sự của ông đã chỉ coi ông như một người đàn ông đứng riêng trong một thế giới không vướng mắc mùi "tục luỵ".

BÍ MẬT CỦA NHỮNG ĐIỀU THẦM KÍN

Sau này khi ông Diệm chấp chính cho đến năm 1963, người ta lại càng hồ nghi, rồi trở nên tin tưởng ông "bất thường sinh lý". Quanh cái tiểu tiết đáng tò mò này giới có ăn học lại thường đem ra phân giải theo sự ăn học. Giới bình dân thì lại rỉ tai nhau theo cái máu trào phúng của giới bình dân. Về điều gì chứ cái sự liệt của một người không đi tu dân Việt ta coi bộ không chịu và người đó bị coi là dân khó tính, dân không chịu chơi, dân mất thăng bằng và hay quan trọng hoá. Sau vụ 2-2-1960, một luật sư - người của chế độ cũ - lúc ấy đã phẩm bình trong hơi men chếnh choáng, đại ý rằng “ông Diệm thì liệt, ông Nhu thì coi bộ "lãnh cảm " nên bà Nhu mới tha hồ khống chế tung hoành, theo cái luật âm thịnh dương suy”.

Như trên đã viết, ông Diệm là một người bình thường trong phần "cơ cấu quan trọng của thân thể ", giáo sư Phạm Văn Nhu kể lại như sau:

Vào một buổi sáng đẹp trời, năm 1948, ông Diệm từ nhà thờ Cha Tam đến tìm ông Nhu ở trụ sở nhóm Hoa Lư Tinh Thần (nhà luật sư Lê Văn Kim). Hôm ấy, ông Diệm vui tươi lắm, mất hẳn sự ưu tư khắc khổ. Ông Nhu nghĩ trong bụng: Có lẽ, ”Cụ Thượng Thư" mới nhận được tin gì tốt lành đây.” Ông Diệm bảo ông Phạm Văn Nhu: "Mọi công chuyện hãy xếp lại đó, sáng nay bọn mình đi chơi sở thú'. Ông Nhu đi mượn một chiếc xe hơi Limousine của một vị tướng Cao Đài, rồi hai người "thả ga" lên dọc sở thú. Dọc đường ông Diệm đề nghị "Bọn mình ghé tiệm nào đấy uống ly café chơi". Và đó cũng là một điều lạ khiến ông Nhu thắc mắc: "Hẳn ông ấy phải có một chuyện chi quan hệ lắm đây"… Sau tuần café sữa, hai người lên sở thú, đi một vòng thưởng ngoạn cỏ cây hoa lá chim muông. Nhưng xem chừng ông Diệm có điều gì “nao nức" khác hơn là chuyện đi chơi sở thú. Ở sở thú ra, ông Diệm có vẻ ngần ngại, đắn đo một lúc lâu rồi bảo ông Nhu: "Ông cho tôi lên đường Pasteur nơi ngã tư Pasteur và đường Legland De Lahraye (tức Phan Thanh Giản hiện nay). Đến nơi, ông Diệm bảo ông Nhu khoá xe rồi đi theo ông. Hai người vào một căn nhà trên tầng lầu hai (một dãy nhà dài, gồm nhiều căn và hầu hết đều là nhà công chức người Pháp). Ông Nhu chỉ hỏi: "Ông vào nhà ai ở đây?". Ông Diệm vẻ mặt tươi hẳn lên và đáp: "Tôi vào đây thăm con mệ nó". Lần đầu tiên ông Nhu nghe thấy ông Diệm nói đến "con mệ nó", ông đi thăm "con mệ nó". Trước khi vào nhà ông Diệm nói: "Con mệ nó hiền đức lắm" - Ông Diệm gõ cửa, một người đàn ông trạc 50 tuổi ra mở cửa, vừa trông thấy ông Diệm, ông ta đã cúi đầu kính cẩn thưa: “Mời cụ lớn vào". Ông Diệm hỏi ngay “Bà có nhà không?“ Người đàn ông thưa: “Bẩm cụ lớn, bà con mới ra Nha Trang, mời cụ lớn vào nhà dùng nước đã " - Vẫn theo lời giáo sư Phạm Văn Nhu, ông Diệm đang tươi vui bỗng nhăn mặt lại, không vui. Ông nói trống không "lạ chi hè, đi Nha Trang mà không cho biết hỉ". Ông Diệm đứng bần thần một lúc rồi hỏi người đàn ông: "Ông có biết bà ra Nha Trang ở nơi mô không, ông có địa chỉ không?” Người đàn ông đáp là có biết. Ông Diệm bỗng vui hẳn lên rồi líu tíu quay sang phía ông Nhu: "Ông có mang giấy bút, ông ghi lại cho tôi ngay".

Ông Nhu thì nghĩ bụng hẳn ông Diệm hay lui tới căn nhà này luôn cho nên gia nhân mới thân mật, mời chào như vậy.

Căn nhà đó lần đầu tiên ông Phạm Văn Nhu đến thăm và ông cũng là người duy nhất được ông Diệm tin cẩn cho đi theo. Khi đã có địa chỉ trong tay rồi, ông Diệm rất mừng trở về và bảo ông Nhu phải sửa soạn hành lý đi ra Nha Trang ngay để thăm "cho biết".

Dọc đường trở về nhà ông Diệm đã tâm tình với ông Nhu là “con mệ nó" tuy lấy Tây, tuy là hạng đàn bà bị người khinh rẻ, nhưng lòng dạ tốt lắm và rất thương đồng bào. Nhờ "Con mệ nó" (ông Diệm nhắc đi nhắc lại nhiều lần) ông đã cứu được nhiều người quốc gia (1) bị mật thám bắt. Ông Diệm cho biết thêm, chồng "con mệ nó " là người Pháp tòng sự tại Sở Mật Thám liên bang Bót Catinat (Surreté Fédérale) mỗi khi có bạn bè hay người quen thuộc phe quốc gia bị mật thám bắt, ông Diệm lại nhờ "con mệ nó ", lập tức, chồng "con mệ nó”, can thiệp trả tự do ngay”.

Sau này cũng vì một vụ can thiệp như vậy do ông Diệm cậy nhờ qua trung gian là "con mệ nó", người chồng Pháp của bà ta bị thải hồi sau phải lên Đà Lạt làm cho một hãng sửa xe hơi. Rồi người chồng của bà ta bị chết trong một tai nạn máy bay trên không phận Sài Gon.

Ngày hôm sau hai ông đã có mặt tại Nha Trang. Ông Nhu đi kiếm địa chỉ trước, để về cấp báo cho ông Diệm "con mệ nó" của ông đang ở nơi mô. Khi gặp mặt bà ta, ông Nhu mới ngã ngửa người kinh ngạc. Người đàn bà này không ai khác hơn là cô gái Huế mới thuở nào hai người từng quen mặt biết tên và cô gái Huế xinh tươi thuở ấy cũng đã từng biết mặt, nghe tên "cậu ấm Diệm".

Qua bao nhiêu năm xa cách, ông Nhu không hiểu từ một duyên cớ nào cô ta đã phải đem thân lưu lạc đến tận đất Sài Gòn và trở thành vợ một người da trắng. Ông Nhu cho biết thêm: "Đây là người đàn bà thuộc loại sắc nước hương trời, ăn nói lại duyên dáng mặn mà". Ông Diệm đã tâm tình với ông Nhu: "Tôi thương con mệ nó hiền đức, tuy lấy Tây mà nó vẫn còn tình, còn nghĩa với người đồng bào ".

Bà ta ra Nha Trang lần ấy để thăm xứ Thuỳ Dương lần cuồi cùng, trước khi sang Pháp sống lưu lạc nơi quê chồng. Một nhà thơ Pháp từng than thở cho nỗi đoạn trường ân ái "Mon coeeur à son secret, mon amour à son mystère…”(1). Biết đâu ông Diệm đã chẳng từng nuơi cơn mộng sầu nhớ thiên thu của tình trường. Chỉ biết rằng, vẫn theo lời giáo sư Nhu từ đấy rồi... thôi, riêng ông không bao giờ còn nghe thấy ông Diệm nhắc lại ba tiếng “con mệ nó” với bao nhiêu nao nức như lần đi thăm Sở Thú và đến Nha thành...

* * * * *

(1)- Trái tim tôi thuộc về điều bí mật của người, tình yêu tôi thuộc về sự huyền bí của người.

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Những Bản Hùng Ca
Giao Chỉ, San Jose

(Bài này không phải là tài liệu phê bình văn nghệ, không phải là điểm phim. Đơn thuần chỉ là tâm tư của một khán giả, yêu thương những bản hùng ca, đem niềm xúc động trải trên trang giấy)

Nhớ lại chuyện xưa (1975).

Tôi vừa đọc lại cuốn sách của anh Hoa, đại tá Phạm Bá Hoa viết ký sự trong tù. Anh bạn này thực sự có trí nhớ rất tốt đã viết lại đời sống của 500 đại tá đi tù. Kể tên và chức vụ từng người. Nhớ lại chiều 29 tháng 4-75, khi ông xếp của chúng tôi là tướng Đồng Văn Khuyên đi một vòng doanh trại tổng tham mưu lần cuối trước khi qua DAO thì Phạm Bá Hoa còn ngồi ở văn phòng. Tổng thống và thủ tướng đi lâu rồi. Đại tướng tổng tham mưu trưởng đi theo sau. Bây giờ đến tướng Khuyên tham mưu trường bộ tổng tham mưu được Mỹ đưa qua Tân Sơn Nhất. Trước khi lặng lẽ lên xe, ông nói, hạm đội Mỹ đón thuyền ngoài biển. Đài Mỹ chơi bản Tuyết Trắng giữa mùa hè Sài Gòn. Phạm Bá Hoa bình tĩnh ngồi lại.Anh tính bài khác, nhưng rồi giờ chót trở tay không kịp. Nhưng Đài trở tay kịp. Chúng tôi trải qua đêm 29 dài nhất đời người. Đại tá Nguyễn Hồng Đài, con rể ông Dương Văn Minh nói với anh em Tổng Tham Mưu. Ông Già hết thuốc chữa, bảo gia đình con gái đi theo hải quân.Tôi bèn đưa anh em xuống bến tàu Khánh Hội. Đi theo giang đoàn quân vận, nối đuôi đoàn tàu của hải quân. Tháng 6-75 anh Hoa trình diện đi tập trung lao cải được chở lên Long Giao. Cũng tháng 6-75 tôi mới từ đảo Guam vào Cali, ở trại Pendleton. Hai người kẻ Nam người Bắc, cùng phục vụ trong trại Trần Hưng Đạo, bây giờ nghìn trùng xa cách. Chuyện anh Hoa, các bạn có thể đọc ký sự trong tù. Phần tôi vào trại tỵ nạn, sống ở lều bên cạnh một anh sỹ quan chiến tranh chính trị. Anh này có được các bản hùng ca, chính huấn ca và tình ca. Ngày đêm anh sang các bài hát bằng cassette phổ biến cho những người ra trại. Có bạn ngồi chép lại lời ca để kèm theo băng nhạc. Phần lớn khách hàng là cựu chiến binh. Có anh theo bảo trợ là họ đạo nhà thờ về Wiscousin, North Carolina, hay Illinois. Tỵ nạn giải đều 50 tiểu bang Hoa Kỳ.Tên các địa phương cũng khó đọc mà chẳng biết nơi đến là chỗ nào. Có những anh lính gia đình kẹt ở Việt Nam, đang phân vân nửa ở nửa về. Cầm tờ giấy ra trại từ Cali mà không biết Utah là chỗ nào. Anh lấy một băng nhạc hùng ca bỏ vào máy mới mua trên PX, nước mắt chảy dài, nằm trên ghế bố, dưới lều vải, bài ca vang vang.."Ngày bao hùng binh tiến lên, bờ cõi vang lừng câu quyết chiến”.

Giấy ra trại tỵ nạn năm 1975 ở Cali tiếng Mỹ mầu trắng. Ghi là nghề nghiệp cựu quân nhân. Cái giấy ra trại tiếng Việt mầu vàng với tội đại tá của anh Phạm Bá Hoa phải 13 năm sau mới có được. Ở lều bên cạnh, 36 năm về trước anh sỹ quan chiến tranh chính trị vẫn tiếp tục sang băng. Bài ca bất hủ “Trên đầu súng quê hương, tổ quốc đã vươn mình”
nghe như tiếng thở than duới bầu trời trại 6.

Rồi 5 năm sau (1980).

Cuối năm 75 người Việt tại Hoa kỳ có được 150,000 nhưng đến cuối năm 1980 thì con số lên gần gấp đôi. Bà con từ các quốc gia Tây Âu kéo về Mỹ đoàn tụ. Thuyền nhân ra đi trong đợt đầu đã bắt đầu vào Mỹ. Sau 5 năm thôn tính miền Nam, giấc mộng vàng của thiên đường Cộng sản xụp đổ. Đất nước lầm than và lùi lại hơn 15 năm chậm tiến. Người đi càng ngày càng đông dù năm ăn năm thua. Người về không có là bao. Nam Lộc vào làm social worker cho cơ quan tỵ nạn. Việt Dzũng viết bài ca gửi quà về quê hương qua tiếng khóc than. Thanh niên Trúc Hồ vượt biên đường bộ. Thầy giáo Trầm Tử Thiêng đi đường biển. Người Việt hải ngoại bắt đầu bàn chuyện giải phóng quê hương. Muốn đấu tranh võ trang phải tìm về ba biên giới. Phần còn lại tham dự vào công cuộc đấu tranh chính trị. Có người nói rằng phải chăng bây giờ thành lập được một tổng cục chiến tranh chính trị. Ý kiến này làm tôi nhớ lại các bản hùng ca từ trong trại tỵ nan năm 1975. Chiến đấu bằng văn hóa và chính trị, được lắm, nhưng vũ khí ở đâu?
Mong sao có được tờ báo phổ biến khắp thế giới. Có được đài phát thanh gửi về cho cả 2 miền Nam Bắc,Việt Nam. Làm sao có TV, có bản nhạc, có movie, có video đưa ngọn lửa đấu tranh, đưa tin tức đến toàn cầu. Và tìm đâu những bản hùng ca.
Con đường chinh phục lòng người, phát huy chính nghĩa mạnh mẽ và trực tiếp nhất là văn nghệ, với lời ca tiếng nhạc. Phải phổ biến rộng rải, liên tục và bền bỉ. Phải có một thứ gì tương tự như tổng cục chiến tranh chính trị của Việt Nam Cộng Hòa tại hải ngoại. Nghe hợp lý đấy, nhưng thực sự chỉ là ước mơ vô vọng vào thời kỳ 80.

Trung Tâm Asia ra đời.

Đó là năm 1981 do nhạc sĩ Anh Bằng thành lập. Ông là một nhạc sĩ tình ca rất hiền lành. Anh Bằng đã viết một bài nhạc với lời ca tưởng chừng dành riêng cho anh em chúng tôi khóa Cương Quyết Đà Lạt 1954. Lời ca như vận vào đời các tân sinh viên sỹ quan giã từ miền Bắc vào Nam. “Tôi xa Hà Nội năm lên 18 khi vừa biết yêu”. Đó là câu thứ nhất của 1954. “Bao nhiêu mộng đẹp tan ra thành khói, bay theo mây chiều”. Đó là câu thứ hai của tháng 4-1975, 21 năm sau.
Vâng, chính cái ông Anh Bằng làm lời ca như thế đã thành lập Trung tâm Asia 1981. Trong suốt 10 năm đầu Asia cũng chỉ là một trung tâm sản xuất băng nhạc như thường lệ. Qua thập niên 90 nhạc sĩ Anh Bằng lui vào hậu trường để cho cô con gái Thy Vân quản trị. Ở quận Cam có đôi bạn t ỵ nạn vong viên, một già một trẻ, người đường bộ, người đường biển, gặp nhau qua cà phê thuốc lá bắt đầu hợp tác với Asia. Chàng thanh niên Trương Anh Hùng tức nhạc sĩ Trúc Hồ trong lớp tuổi 20 của trại tỵ nạn Thái Lan bước vào Asia cùng với sự hỗ trợ tinh thần của Trầm Tử Thiêng, người viết Kinh Khổ với ca từ trầm luân của một đời Việt Nam. Người đã cùng soạn với Trúc Hồ bài ca bất hủ Bên Em Đang Có Ta.

Tiếp theo giữa thập niên 90 Nam Lộc và Việt Dzũng vào cộng tác với Asia. Từ đó Trung tâm Asia đã tìm thấy đường đi tới và mở ra một chân trời mới. Mười năm đầu chỉ là trung tâm băng nhạc. 20 năm sau trở thành một trung tâm đấu tranh. Lấy công việc thương mại làm nền móng, Asia mở mặt trận phát huy chính nghĩa bằng văn hóa, lời ca tiếng nhạc. Chỉ với 5 người, một thứ tổng cục chiến tranh chính trị của VNCH hải ngoại đã hình thành.
Trong khoảng thời gian 20 năm từ 1991 đến 2011 Asia đã cho ra đời 80 Video và DVD. Trong đó chen lẫn vào tình ca là những đề tài hết sức tâm lý chiến và chính huấn. Xin nhắc lại một số tiêu biểu : Saigon Nỗi Nhớ, Lá Thư Từ Chiến Trường, Cánh Hoa Thời Loạn, Xuân Chinh Chiến, Tình Khúc Sau Cuộc Chiến, Hành Trình 30 năm, Người Lính, Hành Trình Tìm Tự Do, Tình Khúc Thời Chinh Chiến, Chiến Tranh và Hòa Bình....
Sau cùng bây giờ là Hùng Sử Ca Việt.
Qua 20 năm sản xuất 80 bộ phim, trung bình một năm 4 cuốn Asia đã xây dựng nền móng cho tổ chức, quy tụ một đội ngũ nghệ sĩ xuất sắc và bắt đầu mở rộng qua lãnh vực truyền hình với SBTN có mặt toàn thế giới, kể cả ở VN và 24 giờ một ngày liên tục.

“Tổng cục 5 người”.

Thy Vân giám đốc sản xuất, hậu duệ của bác Anh Bằng là người cầm cân nẩy mực giữa nghệ thuật và thương mại. Nhạc sĩ Trúc Hồ, người viết 100 bản nhạc, nhiệt thành giữa đấu tranh và nghệ thuật, làm giám đốc điều hành. Nghệ sĩ Việt Dzũng vừa là MC bốc lửa, vừa là nhạc sĩ và ca sĩ, với một ý chí đấu tranh quyết liệt. Nam Lộc, người viết kịch bản, và cũng là gạch nối giữa hai thế hệ, là nhịp cầu giữa bên trong và bên ngoài, đồng thời là niên trưởng trung niên của trung tâm. Đó là 4 thành viên cột trụ của Asia. Sau cùng linh hồn của Asia là bàn thờ ông thầy dạy triết Trầm Tử Thiêng đặt trong trung tâm cùng với một chương mục dành tài khoản tựa đề “Bên Em Đang Có Ta”. Khi Asia dùng những bản nhạc của ông thì trích ra một khoản tác quyền bỏ vào đây. Dùng tiền này để dành cho việc xã hội.Với ý nghĩa trên, Trầm Tử Thiêng luôn luôn là cây cột trụ thứ 5 của Asia. Bên các em “luôn luôn có ta”. Với tinh thần đó và từ ý nghĩa đó, Asia phát hành DVD lần thứ 80 với các bản hùng ca.

Hùng Ca Sử Việt:

Một ban nhạc đại hòa tấu Hoa Kỳ. Ban hợp xướng Ngàn Khơi, Việt Nam. 20 ca sĩ Asia, 4 Mcs. Đó là tập hợp trình diễn 20 bản hùng ca của một thời Việt Nam Cộng Hòa và một số sáng tác tại hải ngoại. Quay ngay tại phim trường của Asia và SBTN.
Sau cùng DVD đã phát hành, một bản dành cho Viện Bảo Tàng Việt Nam tại San Jose. DVD này cùng với bích chương của nó, với Flyer lời ca của 20 bài nhạc sẽ được đặt cạnh những băng nhạc cassete phát hành năm 1975 tại trại 6 Camp Pendleton.
Đó là lịch sử con đường của những bản hùng ca VNCH. Khởi đi từ những thập niên 50, lưu lạc qua trại tỵ nạn, đi khắp thế giới. Nhưng rồi những lời ca tiếng mất tiếng còn. Ngày nay được ghi lại trọn vẹn với âm thanh hùng tráng, kèn trống tưng bừng. Cả một ban hợp xướng Ngàn Khơi nhiệt thành và điêu luyện, các ca sĩ trẻ trung và nổi tiếng của làng nghệ thuật Việt Nam hải ngoại. Hình ảnh của các nghệ sĩ nghiêm túc cất tiếng mạnh mẽ. Những ánh mắt vui tươi nhưng không một giây phút cười đùa làm hỏng ý nghĩa của hùng ca.

Để thực hiện một chương trình như vậy, Asia phải dựa vào uy tín của 30 năm thành lập và 20 năm tên tuổi với 80 tác phẩm đã phát hành. Một trong các ưu điểm là với thành quả của nhiều năm hoạt động mới có thể được sự cộng tác của các danh ca nam nữ lên sân khấu hát hùng ca, ngàn cánh tay giơ lên và kêu gọi công dân đáp lời sông núi.
Thêm vào đó phải có đủ nhiệt tâm với lý tưởng đấu tranh mới vượt qua yếu tố thương mại để phát hành hùng ca trên một thị trường bao năm chỉ quen nghe tình ca đi đôi với từng ca sĩ tên tuổi.

Hùng Ca Sử Việt là một thử thách của Asia, đồng thời cũng là một thử thách của lòng người Việt hải ngoại còn nghĩ đến chuyện non sông. Dù là trung tâm thương mại, nhưng đôi khi lợi nhuận không phải nhiên liệu cho lý tưởng.
Với Hội Nghị Diên Hồng, Bạch Đằng Giang gợi nhớ cho người Việt cái họa Bắc Phương trong quá khứ lịch sử và ngay cả trong thế kỷ 21 hiện tại.
Những bản Con Rồng Cháu Tiên, Một Ngày Việt Nam, Việt Nam Việt Nam nhắc nhở nguồn gốc của tiền nhân trong niềm hãnh diện dân tộc.
Bản Trên Đầu Sóng, Đáp Lời Sông Núi, Chiến Sĩ Vô Danh, Anh Về Thủ Đô, Gót Chinh Nhân, Xuất Quân… ghi dấu một thời chinh chiến với biết bao hy sinh của quân dân miền Nam trong thế kỷ 20. Hòn Vọng Phu là bài ca lịch sử nhắc đến sự hy sinh của chiến binh ngàn năm trước. Với Đáp Lời Sông Núi, Bài Ca Tuổi Trẻ, Hận Vong Quốc, Thiên Thần Trong Bóng Tối là những hùng ca của thế hệ hiện nay. Phải nói đến tác phẩm Cám Ơn Anh cùng với sự đóng góp hết sức hữu hiệu của Asia trong các chương trình cứu trợ Thương Phế Binh tại Việt Nam nhiều năm qua.

Những hình ảnh sau cùng của DVD Hùng Sử Ca là ghi dấu của cuộc đấu tranh ngay tại Việt Nam bày tỏ lòng yêu nước của người dân Việt chống sự gây hấn của Bắc Phương.
Bài ca mở đầu của DVD đã được Nam Lộc nhắc đến hoàn cảnh ngày xưa của triều đình nhà Trần trước nguy cơ giặc xâm lược phương Bắc nên đã tổ chức Hội Nghị Diên Hồng để trưng cầu dân ý.

Phải nói một cách đơn giản là hoàn cảnh Việt Nam hiện nay rõ ràng là lúc cần có một Hội Nghị Diên Hồng và Hùng Ca Sử Việt chính là thông điệp số 1 của Asia nhắn gửi về quê hương.

Với bài ca kêu gọi tuổi trẻ Việt Nam đừng sợ hãi đã được soạn ra không phải từ lời kêu gọi tại hải ngoại. Hải ngoại làm sao có tư thế kêu gọi trong nước đừng sợ hãi.Đừng sợ hãi chính là lời kêu gọi từ các nhà đấu tranh trong nước nhắn nhủ với thế hệ tuổi trẻ ngay tại Việt Nam.
Ý nghĩa của lời kêu gọi hào hùng này phát xuất từ quê hương đang bị cai trị bởi độc tài độc đảng mới đòi hỏi tuổi trẻ đừng sợ hãi. Tôi hiểu rằng Asia hải ngoại chỉ làm công việc chuyển tải lời kêu gọi từ quê hương để gửi lại cho chính tuổi trẻ tại quê hương Việt Nam.

Dùng bài quốc ca VNCH để kết thúc là một sáng kiến can đảm đáp ứng được nhu cầu mở và đóng của nghệ thuật trình diễn.
Qua những thành quả công tác như chiến dịch Cám Ơn Anh và Hùng Ca Sử Việt, vỏn vẹn có 4 nhân vật điều hợp và 1 niên trường đã ra đi, với sự cộng tác của nhiều nghệ sĩ, và hàng ngàn khán giả bốn phương Asia chính là một tổng cục chiến tranh chính trị VNCH hải ngoại mà chúng ta trông đợi. Xin gửi tặng các bạn huy chương dân sự vụ bội tinh dành cho 30 năm hoạt động. Xã hội bội tinh hạng nhất cho chương trình Cám Ơn Anh và sau cùng một đệ nhất tâm lý chiến bội tinh dành cho Hùng Ca Sử Việt.
Cảm ơn bác Anh Bằng, Trầm Tử Thiêng và các bạn trẻ. Thy Vân, Trúc Hồ, Nam Lộc, Việt Dzũng, các bạn đã làm đẹp trang sử tỵ nạn, đem di sản trân quí của trăm năm trước để lại ngàn năm sau. Đem quá khứ huy hoàng, gửi tương lai vĩnh cửu.
Tác phẩm của các bạn bây giờ lại trở thành một bản Hùng Ca

Giao Chỉ, San Jose
Viện Bảo Tàng Thuyền nhân và Việt Nam Cộng Hòa

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

Image

SAY GIÓ
Trần Huiền Ân
Không phải Tuy Hòa chỉ có mỗi thứ gió cay nghiệt, ngang tàng phóng túng…

Ngọn gió quê hương thật tình đã khiến ta say.

Vâng, ai đã từng say…say rượu, say trà, say cà phê, thuốc lá, cái say mong tìm khoái cảm…và cả cái say bị bắt buộc phải gánh chịu như say nắng, say sóng…chắc hẳn đều công nhận : chỉ có say gió là cái say tuyệt vời… Nó tạo cho ta sự lâng lâng, thật nhẹ nhàng nhưng không kém ngất ngây, nói là say mà hoàn toàn tỉnh. Phân tích thật chính xác là có một giọt say trong cái tỉnh, có một giọt ngủ trong cái thức, một giọt buồn trong cái vui, có một giọt nhớ thương xưa cũ trong cái hoan hỉ hiện tại, có một giọt xôn xao trong cái bình lặng. Những tác động của ngoại cảnh vào tâm hồn ta qua lối gió cứ lần lượt rất trật tự, tạo ra từng gợn nhẹ lăn tăn hòa tan cùng nhau tựa như khi ta nhỏ một giọt trà đậm xuống ly nước trong, trà cứ thế len lỏi vào nước, chầm chậm đổi màu.

Tất nhiên không ai say gió bấc, thứ gió hung hãn cuồng nộ quất những lằn roi lạnh buốt lên mọi sinh linh. Cũng không thể say vì gió nồm. Mát mẻ quá, yếu ớt quá, sắc hồng do nắng chiếu cũng mong manh quá.

Cái gió làm cho ta say, tạo cho ta cái cảm giác say ấy, chính là những cơn gió nam đầu mùa, khi hè vừa đến. Vào thời điểm này ngày bắt đầu sớm hơn, thức dậy ta đã thấy trời xanh mây trắng, rồi nắng cũng có chút phần gay gắt, đã gây ra nóng bức, hơi hơi khó chịu. Một cơn gió nam bất chợt thổi, bỡ ngỡ như từ nơi xa về lại cố hương. Chưa có tiếng xạc xào trên tán lá, chưa có cát bay bụi nổi, những cơn gió trẻ trung ấy có lúc khiến ta tự hỏi đó là nồm hay nam, và khi đã xác định là nam ta hiểu ra trời đất đang chuyển mùa, lòng ta như cũng dự bị sẵn sàng để đón tiếp sự đổi thay của Tạo Hóa.

Những buổi sáng thiếu niên, gió nam non trên đồi cỏ. Sương đã tan hết để rừng sim rực tím. Đám chim chiền chiện từ trên cao sà xuống thấp, bay là là rồi cùng vút lên. Tiếng chim ríu rít tan vào mây và gió. Bóng cây đổ dài tĩnh mịch. Hãy nằm xuống nệm cỏ nghiêng mắt mà nhìn lớp cỏ tai bèo. Mỗi cánh bèo bằng miệng ly con, từ đó ngọn hoa nhỏ nhô lên, cánh hoa tròn bằng hạt tấm, nõn nà xanh nhạt. Gió đi trên cao nhưng chân gió rơi đùa khẽ rung ngọn cỏ, chỉ khẽ rung thôi không buộc cỏ phải nép mình xếp ngã. Lòng ta cũng khẽ rung theo gió, theo cỏ, theo hoa. Trong tai ta văng vẳng tiếng chim chiền chiện trên cao. Mắt ta lim dim nhắm lại. Cơ hồ ta quên hết, những công thức hình học, những bài toán phân số tạp số, những tên đất tên biển xa xôi của bài địa lý. Cái nhìn nghiêm khắc của thầy giáo, nụ cười thán phục hay chế giễu của bạn bè. Tất cả tuy mới hôm qua đã quá xa xôi. Hôm nay là chủ nhật, ngày thứ hai chưa hề có trong dự định.

Những buổi sáng tuổi hai mươi. Tiếng chim chiền chiện đã thành vang vọng trong quá khứ. Không còn cái hồn nhiên nằm trên cỏ mượt tẩn mẩn đếm xem có bao nhiêu cánh tai bèo. Gió nam đưa lòng ta bay bổng về phương trời. Hôm nay là mùa cỏ tranh trên đồi vừa kín lá. Những giồng tranh xám nhạt nối tiếp nhau chạy đến nơi xa tắp. Gió vẫn ở trên cao và nhẹ nhàng đùa giỡn ngọn tranh, từng gợn từng gợn tạo ra làn sóng nhấp nhô.Ta cũng thấy giồng tranh thoi thóp như “lúa thành…(xưa cũ)…bên cồn”, nhưng liền nhận ra hai chữ “thoi thóp” sao mà già nua u trệ, không hợp cảnh hợp tình. Trên mấy đỉnh núi tròn tranh chảy dài như suối tóc. Cái say của gió nam bây giờ như có vẻ gì như nhắc nhở, không giục giã vội vàng nhưng hàm ý thôi thúc lên đường. Đi đâu và về đâu, ta như thầm hỏi gió. Gió không trả lời nhưng chỉ cho ta thấy: đó, trông vời trời biển mênh mang…

Điển tích Trung Hoa có nói đến giống ngựa Hồ phương Bắc thường được cống nạp về Trung Nguyên mỗi lần nghe gió bấc thổi hí lên những tràng thê thiết não nùng, có con bỏ ăn mà chết. Những con người của quê hương chúng ta dẫu không chút gì là đa sầu đa cảm, là giàu óc suy tưởng, làm sao không có ít nhất một lần trong tuổi trẻ tuổi trai được ngọn gió nam đầu mùa lùa vào tim óc để hiểu rằng đó là cái phong vị đặc biệt của quê hương. Trên mỗi bước đi xa, thành công hay thất bại, được hay thua, vui hay buồn… chợt nghe gió chuyển sang mùa lại nhớ về quê hương với bao nhiêu kỉ niệm.

Đối với lớp người vào tuổi xế chiều, “mắt phai xanh, đầu ngã bạc”, lúc ngọn gió nam sau một năm cách xa trở về tái ngộ, đố ai khỏi bâng khuâng? Một cái gì đó mơ hồ, huyền hoặc, nhưng nó sừng sững ngự trị, tồn tại đầy ắp trong lòng. Những lúc giữa buổi sáng, thời khắc nhiều thoải mái nhất, nhiều thích thú nhất để làm được mọi công việc, nhưng nếu như dựa người trên xích đu nhìn ra bốn hướng, màu xanh của trời, màu trắng của mây, màu hồng của nắng trong hương vị gió nam… chắc chắn là cứ muốn nằm yên đó tận hưởng cái bình yên trong hiện tại, nhớ về cái bình yên trong ký ức.

Mình ta với gió bên nhau…

Ta muốn bắt chước thiên hạ viết đôi câu thơ, nhưng chữ nghĩa của thi sĩ Bùi Giáng khắp cả bốn bên :

Mà hương quan vắng xa màu mây trôi
Sim ngàn đổ lá buông rơi
Cành nam ước hẹn sai lời tử sinh…
( Bùi Giáng)
Gió nam, ngọn gió trong trẻo ngọt ngào, cho nên ta say gió chân tình, hào sảng và tự tại. Còn như giống ngựa Hồ mỗi mùa đông ngẩng đầu nghe gió bấc chỉ có những thê thiết, nhớ thương...

cuoigia
Posts: 255
Joined: Thu Aug 06, 2009 6:57 pm

Post by cuoigia »

Lấy rái tai...gợi ký ức lúc còn thơ !

Một trào lưu đang nở rộ ở xứ sở Hoa Anh đào.

Người Nhật Bản luôn tâm niệm việc làm sạch tai gắn liền với ký ức tuổi thơ êm đẹp. Vì thế, ngày nay, rất nhiều người Nhật chịu trả một khoản tiền kha khá chỉ để mong được trở lại tuổi thơ, mặc dù chỉ trong vài phút, trong các tiệm lấy ráy tai ở đất nước Mặt trời mọc.Có lẽ cũng chính vì lý do này nên không khó hiểu tại sao các tiệm lấy ráy tai truyền thống đang mọc lên như nấm ở Nhật Bản và việc kinh doanh này đang rất hưng thịnh.
Image
Khách hàng được tùy ý gối đầu trên đùi kỹ thuật viên sao cho thoải mái nhất.


Kể từ khi nước Nhật bãi bỏ quy định việc lấy ráy tai là hoạt động y tế, các tiệm lấy ráy tai mở cửa hàng loạt mà không cần giấy phép ngành y. Đến nay, hàng vài trăm cửa tiệm phục vụ loại hình này đã xuất hiện trên khắp nước Nhật. Hầu hết khách hàng là nam giới, họ tới để thư giãn sau mỗi ngày làm việc mệt mỏi hay để nhớ lại cảm giác ngày bé vô tư gối đầu lên chân mẹ.
Ba trong bốn vị khách bước ra khỏi tiệm lấy ráy tai đều thấy hài lòng và chia sẻ, họ thiu thiu ngủ trong khi những kỹ thuật viên mặc đồ kimono truyền thống thực hiện các công đoạn vệ sinh trong tai. Một số khách hàng nam giới còn cho biết, vợ họ cũng giúp lấy ráy tai ở nhà, nhưng cảm giác không giống với kiểu trong phòng kiến trúc truyền thống và nằm trên chiếu tatami.
Image
Danh sách kỹ thuật viên của một tiệm lấy ráy tai.


Các cô gái muốn làm việc trong tiệm lấy ráy tai phải đạt yêu cầu thành thục “mimikaki” (Dụng cụ truyền thống để lấy ráy tai), vì vậy họ phải trải qua khóa huấn luyện kéo dài một tuần để đảm bảo nhuần nhuyễn các kỹ năng.

Họ phải biết lấy bao nhiêu ráy tai là đủ, bởi vì ráy tai còn có tác dụng bảo vệ màng nhĩ, đồng thời ráy tai có nhiều lợi khuẩn. Hơn nữa, tai cũng là bộ phận nhạy cảm, dễ bị tổn thương, nên việc chăm sóc cho đôi tai không hề đơn giản.

Giá trung bình của một suất lấy ráy tai trong một giờ đồng hồ khoảng 45 USD (tương đương gần 1 triệu đồng).

Mặc dù 95 % khách hàng là nam giới và các tiệm lấy ráy tai thường xuyên cập nhật hình ảnh của nữ nhân viên trên website riêng, nhưng họ khẳng định đây hoàn toàn không phải dịch vụ mại dâm. Nếu khách hàng có bất kỳ hành động sàm sỡ nào, kỹ thuật viên có quyền từ chối làm việc tiếp.

Trên Net

Post Reply