Quán Vắng không Người ...3
Moderator: khieulong
CÔ CON GÁI QUÁ GIANG TRONG ĐÊM MỒNG MỘT TẾT
phạmtínanninh Chiếc thuyền nhỏ mang theo hơn năm mươi người, một nửa là đàn bà và con nít, ra khơi hai ngày thì gặp bão. Chúng tôi may mắn được một chiếc tàu chuyên chở dầu hỏa của Nauy trên đường từ Nhật sang Singapore cứu vớt. Hai ngày sống trên tàu chúng tôi có cảm giác như đang ở trên một thiên đàng. Tất cả đều được tận tình hỏi han chăm sóc. Chúng tôi cảm thấy vừa mừng vừa xót xa khi nhận ra thế gian này vẫn còn có đầy ấp tình người. Họ là những kẻ xa lạ, không cùng màu da, màu tóc, không cùng ngôn ngữ, mà lòng thông cảm yêu thương họ đã dành cho chúng tôi lớn lao biết đến dường nào. Trong lúc những “người anh em” cùng một nhà thì lại hành hạ đuổi xô chúng tôi đến bước đường cùng để phải đành lòng bỏ nước mà đi. Với ân tình đó chúng tôi chọn Vương quốc Nauy là quê hương thứ hai để gởi gấm phần đời còn lại của mình và vun đắp tương lai cho mấy đứa con nhỏ dại.
Sau gần một năm ở trại tị nạn, gia đình chúng tôi được đi định cư. Khi bầu đoàn thê tử như một bầy nai vàng ngơ ngác bước xuống phi trường Oslo, được nhiều người đón tiếp, trong đó lại có cả mấy ông nhà báo và đài truyền hình nhà nước phỏng vấn, quay phim. Gốc nhà quê, nên tôi cũng chẳng biết họ quay phim để làm cái gì. Trước khi về nhà, chúng tôi còn được mời vào một nhà hàng Tàu, và tha hồ gọi bất cứ thức ăn nào mình thích.
Đến khi bước vào ngôi nhà, được bà trưởng phòng xã hội trao cho một chùm chìa khóa, dẫn đi một vòng xem phòng ốc đã được trang trí xong nội thất, cái bếp và cả cái tủ lạnh có sẵn đầy đủ thức ăn nước uống, một cái TV màu. Mọi thứ đều mới tinh. Sáu đứa con và hai đứa cháu họ của tôi thì ngồi mân mê mấy cái bàn học, và mấy cái ba lô có đầy đủ sách vở trong đó. Trước khi ra về bà giới thiệu chúng tôi một cô nhân viên của bà, và một cô giáo ở lại hướng dẫn chúng tôi xử dụng mọi thứ tiện nghi trong nhà, và mỗi ngày sẽ đến đưa gia đình chúng tôi đi mua sắm, khám bệnh, làm răng, còn cô giáo thì đặc trách lo việc học hành cho mấy đứa nhỏ. Khi tất cả ra về, tôi nằm dài dưới sàn nhà và chợt khám phá ra rằng mình quả là may mắn được đến định cư ở một nước Bắc Âu xa lạ nhưng thơ mộng và có quá rộng tấm lòng này, mà lúc xuống biển ra đi chắc chẳng có ai bao giờ nghĩ tới.
Buổi tối, cơm nước xong, cả nhà quây quần trước cái TV. Thằng con trai lớn ra điều mới học được văn minh, bấm tới bấm lui tìm đài. Cả đám bất ngờ nhìn thấy dung nhan của mình trên màn ảnh. Thì ra chương trình phóng sự. Họ đang kể về gia đình chúng tôi: “những công dân mới của Nauy, mà ông bố đã từng ở tù nhiều năm, giống nhiều người Nauy bị nhốt trong các trại cải tạo của Đức quốc xã, cái thời Hitler làm mưa làm gió ở Âu châu, và đã can đảm dắt theo sáu đứa con và hai đứa cháu nhỏ vượt đại dương trên một chiếc thuyền đánh cá mong manh”. Nghe họ ca ngợi mình mà tôi xấu hổ. Dù gì tôi cũng là kẻ bỏ nước tha phương, với họ, ít nhiều gì cũng là một cành tầm gởi. Còn chuyện vượt biển, vượt biên, đến bước đường cùng thì ai cũng phải liều mạng thế thôi, chứ có hàng triệu người còn can đảm gấp vạn lần tôi. Nhiều người đi bằng đường bộ, trèo núi, băng rừng, lội suối, bơi sông, qua Cam Bốt, Thái Lan, để vài năm sau mới đến được Singapore. Và dĩ nhiên đã có biết bao nhiêu người chẳng bao giờ tới bến.
Cũng vì cái chương trình phóng sự bất ngờ này, mà sau đó, mỗi ngày gia đình chúng tôi phải tiếp nhiều người khách không mời, và nhận đủ thứ quà. Trong số đó, đặc biệt có một người đàn bà Việt Nam, mà lúc bà mới bước vào nhà, chúng tôi cứ tưởng là người Nhật, hay là người Tàu gì đó, khi nhìn thấy cái vẻ quí phái đặc biệt của bà. Tôi nghĩ có lẽ không có người Việt Nam nào sống ở cái xứ Bắc Âu xa lạ này từ lâu để có được nét đẹp của một người con gái đông phương pha lẫn âu tây ở cái tuổi còn trẻ như bà. Sau đó tôi bất ngờ thú vị khi bà tự giới thiệu tên là Huyền-Trân Thomassen, hiện là giảng sư môn nhân chủng xã hội học tại trường đại học Oslo, chồng bà là người Nauy, hiện đang làm đại sứ tại Mexico. Bà không muốn bỏ nghề bà yêu thích, hơn nữa bà vẫn còn tiếp tục nghiên cứu về ngành này, nên không theo chồng mà ở lại Nauy với hai đứa con. Lúc nhỏ bà theo cha sang sống ở Thụy Sĩ, khi cha bà là đại sứ của VNCH tại đó. Người chồng của bà, cũng thuộc một gia đình có truyền thống ngoại giao. Cha của ông cũng một thời là đại sứ của Nauy tại Thụy Sĩ. Hai người con của hai ông đại sứ quen nhau từ khi học chung một trường trung học và làm đám cưới sau khi tốt nghiệp đại học tại thủ đô Bern, một năm trước khi miền Nam Việt Nam thất thủ.
Tôi rất ngưỡng mộ người đàn bà trẻ này. Rời Việt nam từ lúc 12 tuổi, nhưng bà nói tiếng Việt rất lưu loát, hiểu biết rất nhiều về văn học Việt nam, từ truyện Kiều của Nguyễn Du, đến bài thơ Hai Sắc Hoa TyGôn của TTKH. Điều đặc biệt hơn hết là bà rất quí mến và giúp đỡ tận tình người đồng hương. Gia đình tôi cũng mang nặng khá nhiều ơn nghĩa của bà.
Những ngày sống hạnh phúc ở quê người, nhìn con cái ngày một lớn lên và đang có cả một bầu trời xanh bao la trước mặt, lúc nào tôi cũng chạnh lòng nhớ lại cái thời mình khốn khó và những bạn bè xưa. Tôi thấy mình nợ nần nhiều người mà không biết làm sao trả được. Trong số này, người mà tôi thường nghĩ tới nhiều nhất và ân hận chẳng giúp được điều gì là Nguyễn Thượng Tâm, người đồng đội và cũng là đứa em kết nghĩa của tôi.
* * *
Tâm ra trường sau tết Mậu Thân. Về trình diện đơn vị tôi khi vừa tròn 18 tuổi. Mặc dù còn rất trẻ, nhưng được đào tạo từ lúc còn nhỏ tại trường Thiếu Sinh Quân nổi tiếng ở Vũng Tàu nên Tâm là một hạ sĩ quan gương mẫu trong kỷ luật và gan dạ trong chiến trường. Tâm hiền lành và rất ít nói. Nhưng không phải vì vậy mà tôi trở thành thân thiết với Tâm và hai thằng kết nghĩa anh em, nếu không có buổi sáng mồng một Tết năm 1969, khi đơn vị chúng tôi tạm dừng quân trong một ngôi làng hoang đổ nát nằm sâu giữa những động cát nơi giáp ranh hai tỉnh Bình Thuận và Bình Tuy lúc trước.
Dù đang hành quân, nhưng biết hôm đó là mồng một Tết, tôi thức dậy thật sớm, thay bộ đồ trận mới, đi một vòng chúc tết anh em. Ngày đầu năm, nằm giữa một khu hoang tàn không một bóng người, chắc ai cũng chạnh lòng nhớ tới gia đình. Chiếc radio từ một căn lều poncho nào đó đang phát ra tiếng hát nỉ non của ca sĩ Duy Khánh, trong bản nhạc Xuân Này Con Không Về của Trịnh Lâm Ngân, làm lòng tôi càng thêm lắng xuống. Đến cuối ngôi làng, tôi bỗng giật mình khi nghe tiếng sụt sùi. Lại gần tôi mới nhận ra Tâm. Anh ta đang quì lạy trước một cái bàn thờ được kê bằng cánh cửa sổ của căn nhà nào sập xuống. Trên bàn thờ dã chiến, tôi thấy có mấy cái hoa rừng cấm trong cái bi đông nước, hai bát cơm bằng gạo sấy và một lon guigoz có lẽ chứa nước trà hay canh nấu bằng lá giang hay lá tàu bay gì đó. Tâm khấn vái một lúc, quay lại bất ngờ nhận ra tôi. Tâm đưa tay chào và cũng như mọi khi, không nói một lời nào. Có lẽ Tâm biết là tôi đã đứng im lặng ở đây từ lâu lắm. Tôi bước tới nắm chặt tay Tâm, kéo anh đứng lên. Tâm vội rút tay ra lau nước mắt. Tôi đến trước bàn thờ vái một vái, rồi vỗ vai Tâm:
- Em cúng bố mẹ à. Sao đầu năm mà buồn quá vậy em.
- Không, bố em còn ở ngoài Bắc, em không biết là còn sống hay đã chết. Mẹ em thì đã qua đời lúc em còn bé lắm. Nhà em ở tận Ý Yên, nhưng bố em đi làm xa, nên phải gởi hai anh em em xuống nhà ông chú ở Hà Nội học, rồi theo gia đình chú ấy xuống tàu há mồm vào Nam luôn.
- Còn anh của em bây giờ ở đâu? Tôi hỏi
- Anh ấy chết rồi. Anh là sĩ quan thủy quân lục chiến, tử trận đúng ngày mồng một tết Mậu Thân ở ngay Sài gòn. Hôm nay là giổ đầu của anh ấy.
- Anh em tên gì?
- Nguyễn thượng Minh, khi chết anh vừa mới lên trung úy.
Tôi giật mình. Cái tên Nguyễn thượng Minh làm tôi nhớ ngay đến một thằng bạn cùng tên hồi còn tiểu học. Tôi hỏi Tâm:
- Vậy có phải em là cháu của thầy giáo Nguyễn Thượng Cầu?
- Dạ phải, nhưng chú Cầu đã chết lâu rồi. Tâm trả lời rồi nhìn tôi ngạc nhiên.
Năm 1954, tôi đang học lớp nhì trường huyện Vạn Ninh. Nhập học được vài tháng, thì thầy hiệu trưởng Nguyễn công Tố dắt ba đứa học trò lạ vào lớp giới thiệu với cô giáo Kiệt rồi dặn dò đám học trò chúng tôi:
- Hôm nay trường nhận thêm những em học trò mới, trong đó có ba em vào lớp này. Tất cả các em phải biết yêu thương và giúp đỡ những người bạn này, vì họ đã vừa phải bỏ quê hương, gia đình ngoài miền Bắc, di cư vào đây. Đó cũng là lời kêu gọi của Ngô Thủ Tướng.
Hai thằng con trai và một đứa con gái cúi đầu chào cô giáo rồi quay xuống chào chúng tôi bằng thứ tiếng lạ hoắc khó nghe. Thằng lớn con nhất được cô Kiệt chỉ cho ngồi dãy bàn cuối lớp, ngay phía sau tôi.
Đến giờ ra chơi, bọn tôi bu quanh “phỏng vấn” nó đủ điều. Tên nó là Nguyễn Thượng Minh. Nó và thằng em nhỏ hơn bốn tuổi, nhà ở quê, mẹ chết sớm, ông bố đi làm xa, nên phải gởi anh em nó xuống Hà Nội ở nhà ông chú để học hành, hơn nữa ông lại là thầy giáo. Khi có lệnh di cư, ông chú không liên lạc được bố nó, nên dắt hai anh em nó xuống tàu há mồm vào Nam luôn, rồi được chính quyền phân phối đến định cư ở quê tôi, Vạn Giã, cùng với hơn mười gia đình khác. Nó bảo vài hôm nữa ông chú nó cũng sẽ được sắp xếp cho vào dạy lớp ba trường này, thay cho một ông thầy thuyên chuyển đi nơi khác.
Nó lầm lì ít nói, chắc ngại cái tiếng Bắc Kỳ xa lạ của nó. Nhưng không phải vì điều đó mà làm cho tôi ghét nó, và đã có nhiều lần đánh lộn với nó nữa. Lý do chính là nó đánh bi rất giỏi, giành mất giải quán quân của tôi trong lớp. Nó đánh bi khác với chúng tôi. Chúng tôi để viên bi lên đầu ngón tay giữa rồi bắn đi, còn nó đặt viên bi trong lòng bàn tay và bắn đi bằng ngón tay cái. Vậy mà nó ăn tôi sạch túi. Bọn tôi bảo là nó ăn gian, không được chơi kiểu bắc kỳ của nó mà phải chơi theo kiểu trung kỳ của bọn tôi. Nhập gia phải tùy tục. Nó cô đơn một mình nên chịu thua, phải trả lại cho tôi tất cả viên bi nó thắng ngày hôm đó. Vậy mà hai hôm sau nó chơi trở lại, dĩ nhiên với cái kiểu hoàn toàn mới lạ với nó, nhưng nó vẫn thắng tôi oanh liệt. Cuộc đấu bi này bây giờ không phải chỉ giữa cá nhân hai thằng: tôi với nó, mà giữa hai miền nam-bắc, cho nên học trò trai gái cả trường bu quanh làm khán giả. Tôi thua trắng tay, mất luôn chức vô địch từ lớp năm đến bây giờ. Dĩ nhiên là tôi ức lắm. Điều ghê gớm hơn nữa, là chỉ có cuối tháng đầu tiên nó đứng hạng ba trong lớp, lên nhận bảng danh dự sau tôi, nhưng kể từ tháng thứ nhì trở đi nó đều chiếm hạng nhất. Tôi đâm ra hận nó, có nó là tôi mất tất cả. Mấy lần tôi nhại tiếng Bắc chọc quê nó, nó cũng chỉ cười, tôi nghe lời xúi của lũ bạn, bảo nó rờ sau “đít” coi có còn tòn ten cọng rau muống nào không, nó chỉ im lặng. Có lần bọn tôi xô nó ngã, nó chỉ cười, đứng dậy rồi phủi bụi trên áo quần. Tôi thua nó, nhưng cố làm ra vẻ tự mãn: “nó vẫn chỉ là một anh hùng cô đơn, không có ai chơi với nó”.
Đùng một cái nó nghỉ học. Chẳng có ai biết lý do. Nhưng rồi vài ngày sau nó tới trường, nhưng không phải để học mà để bán bánh mì và cà rem. Cô giáo và bạn bè hỏi, nó khóc và bảo là bà thím, sau khi cãi vã với chú nó một trận, không nuôi hai anh em nó nữa, nó phải tự “khắc phục” để còn nuôi một thằng em nhỏ. Hôm đó bọn tôi nhiều thằng cũng khóc theo với nó. Chờ cho tất cả vào lớp, tôi ở nán lại chỉ để ôm nó và nói một lời xin lỗi về những điều đã qua. Nó nhìn tôi thân thiện, và bảo là nó chưa hề để tâm tới điều ấy. Tôi “tâm phục khẩu phục” nó. Nó còn nhỏ mà thông minh và thánh thiện hơn tôi nhiều.
Tôi bèn làm ngay một cuộc “quảng cáo” cho bánh mì và cà rem của nó, vì vậy hôm nào nó mang mọi thứ tới trường là bán sạch ngay trong giờ ra chơi buổi sáng. Sau đó tôi còn kêu gọi một cuộc lạc quyên giúp nó: gạo, tiền xu, tiền cắc, áo quần, có thằng còn mang tới cho nó cả buồng chuối và một trái mít nữa.
Rồi nó cũng được chính quyền giúp đỡ, tôi nghĩ như thế, nên vài tuần sau nó trở lại lớp học, và chỉ bán bánh mì trong giờ ra chơi. Nó vẫn học giỏi, vẫn đứng đầu lớp, nhưng lần này nó không còn là anh hùng cô đơn nữa mà nó có đông đảo bạn bè, mà thằng thân nhất chính là tôi.
Ông chú nó, thầy giáo Nguyễn thượng Cầu, cũng đã vào trường dạy lớp ba, nhưng bây giờ anh em nó không còn ở chung với ông chú nữa, mà chỉ đến thăm ông vào những cuối tuần. Có khi nó dắt tôi đi theo. Vì vậy tôi mới bíết ông thầy, chú nó sợ bà vợ Bắc kỳ còn hơn sư tử, nên chẳng dám bênh vực nhiều anh em nó, mặc dù ông rất đau lòng xót xa khi bọn nó phải dọn ra ở ké nhà một gia đình người di cư khác.
Tôi mất mẹ, cha tôi cũng đi làm xa, nên tôi thông cảm hoàn cảnh của Minh, nên thường đưa anh em nó về nhà ông bà nội tôi và chơi với đám anh em họ hàng của tôi.
Khi xong tiểu học, tôi vào Nha Trang học trung học, cũng là lúc phải chia tay nó. Bởi Minh cũng vừa theo một số người di cư vào tận khu định cư Phước Tỉnh nào đó ở trong nam, người ta bảo trong ấy làm ăn khấm khá hơn ở quê tôi nhiều lắm. Từ đó, tôi không gặp lại nó, mặc dù trong ký ức tuổi ấu thơ của tôi, lúc nào hình ảnh nó cũng in lên đậm nét.
Không ngờ hôm nay, giữa chiến trường xa xôi này tôi lại bất ngờ gặp lại thằng em duy nhất của Minh, và lòng tôi lắng xuồng khi biết nó cũng từng là lính đánh giặc và đã hy sinh đúng ngày này năm trước: ngày mồng một Tết. Cái ngày mà lời chúc Tết của ông Hồ Chí Minh trên đài phát thanh Hà Nội chính là cái mật lệnh “Tổng Công Kích Tết Mậu Thân” để giết hại bao nhiêu người vô tội, đặc biệt hàng vạn người ở Huế bị chôn sống. Cũng là cái ngày người ta nhận diện được bọn trí thức, sinh viên phản trắc, đã giết hại bao nhiêu thầy, bạn của chính mình.
Sau đó, tôi rút Tâm về làm việc bên cạnh tôi, phụ tránh toán quân báo gồm toàn những người lính trẻ. Chúng tôi yêu thương nhau như anh em. Rồi vào một đêm trăng sáng, dưới sự chứng giám của đất trời, tôi đã nhận Tâm là đứa em kết nghĩa, sau lần Tâm liều mình cứu tôi thoát chết trong một cuộc phục kích ở Thiện Giáo. Đổi lấy sự an toàn cho tôi, Tâm phải mất hai ngón tay của bàn tay trái và nằm bệnh viện hơn một tháng để được giải phẩu lấy một mãnh đạn nằm trong sâu trong thanh quản. Sau khi xuất viện, Tâm phát âm tương đối khó khăn. Được hội đồng giám định y khoa xếp vào loại không còn khả năng chiến đấu, Tâm có thể chọn về một đơn vị hành chánh hay tiếp vận nào mà Tâm thích, nhưng Tâm một mực chối từ và nằng nặc đòi trở lại đơn vị cũ. Tâm xác nhận là mình vẫn còn khả năng chiến đấu, hai ngón tay của bàn tay trái và giọng nói khó khăn một chút không gây trở ngại nhiều cho một người lính chiến trường. Cuối cùng Tâm được toại nguyện.
Tôi vừa vui mừng vừa cảm động khi Tâm trở về trình diện. Tâm bảo sống chết gì em cũng muốn ở bên anh. Vì gia đình em có còn ai nữa đâu. Đơn vị này là gia đình của em. Tôi sắp xếp cho Tâm một công việc tạm thời ở hậu cứ để tiếp tục chửa bệnh. Chỉ sau vài tháng giọng nói của Tâm gần trở lại bình thường. Tâm nghe lời tôi xin vào khóa Sĩ Quan Đặc Biệt ở Thủ Đức. Tâm được ưu tiên thu nhận vì gốc TSQ.
Ra trường đúng vào mùa hè đỏ lửa 1972, Tâm lại xin trở về đơn vị cũ, lúc này đang ngày đêm nằm trong lửa đạn ở mặt trận Kontum. Năm tháng sau, tôi bị thương, được tản thương về Quân y viện Pleiku nằm điều trị gần một tháng. Xuất viện, được điều về Phòng Hành Quân. Cả tháng tôi không gặp lại Tâm, nhưng ngày nào chúng tôi cũng liên lạc trên hệ thống vô tuyến.
Cuối năm 1973, chiến trường lắng dịu. Tâm xin phép về Sài gòn cưới vợ. Vợ Tâm là cô bạn nhỏ ngày xưa trong cùng một viện mồ côi. Bây giờ là cô giáo. Hai người gặp lại và tình yêu nẩy nở trong thời gian Tâm học ở trường Thủ Đức. Cả vợ chồng tôi đều có mặt trong ngày cưới, và làm chủ hôn bên họ nhà trai. Đám cưới xong, tôi vận động xin cho vợ Tâm được chuyển lên dạy tại một trường tiểu học nằm trong thành phố Pleiku, để vợ chồng được gần gũi nhau hơn.
Đầu tháng 3/1975 Ban Mê Thuột thất thủ, bản doanh Bộ Tư lệnh SĐ 23 BB bị tràn ngập sau một phi vụ bắn nhầm. Ông Tư Lệnh Phó cùng ông tỉnh trưởng Đắc Lắc bị bắt. Hai tiểu đoàn của Trung Đoàn 44 được trực thăng vận nhảy xuống đầu tiên ở Phước An, quận duy nhất còn lại của tỉnh Đắc Lắc, nhằm vừa ngăn chặn địch quân tràn xuống Khánh Dương theo Quốc lộ 21, vừa tái chiếm thị xã Ban Mê Thuột khi tình hình cho phép. Tâm có mặt trong toán quân đầu tiên này. Tôi không gặp được Tâm nhưng có liên lạc nói chuyện vài lần trong máy vô tuyến. Tâm rất đau lòng khi phải bỏ vợ và đứa con gái ba tuổi trên Pleiku, trước khi gởi gấm cho anh trung sĩ tiếp liệu đại đội cố dắt theo cùng đoàn quân triệt thoái về tỉnh lộ 7, bây giờ không biết ra sao. Tâm khẩn khoản nhờ tôi tìm mọi cách liên lạc và giúp vợ con mình. Tôi lấy cái tình anh em kết nghĩa mà thề với Tâm là tôi sẽ cố gắng hết sức mình. Không ngờ, đó là một kế hoạch triệt thoái tồi tệ nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam, đã làm mất biết bao nhiêu sinh mạng, kéo theo sự sụp đổ cả miền Nam. Ra tận Tuy Hòa, đứng đón dòng người tả tơi, nét mặt còn đậm nỗi kinh hoàng, họ vừa trải qua và chứng kiến biết bao nhiêu cái chết thê thảm để được đến bên này bờ con sông Ba nhuộm máu, tôi nghĩ là tôi chẳng còn có cơ hội nào gặp lại vợ con Tâm. Trở lại Khánh Dương, đúng lúc Phước An thất thủ và đơn vị của Tâm đã phải tan hàng, tôi gặp lại vị chỉ huy của Tâm ở Dục Mỹ, ông xác nhận là trung úy Nguyễn Thượng Tâm đã nằm lại trên đỉnh đồi Chu Cúc, khi chiến đấu tới viên đạn cuối cùng rồi tự sát trước một biển người của địch quân tràn lên chiếm giữ.
* * *
Hơn sáu tháng định cư ở Nauy, cả nhà tôi lúc nào cũng miệt mài để sớm hội nhập vào quê hương mới. Thời gian qua nhanh quá. Mới đây mà chúng tôi cũng đã tập tành tổ chức ngày lễ Giáng Sinh và ăn cái tết Tây đầu tiên theo truyền thống của Nauy. Sau đó bận bịu đi học đi làm, và cũng chẳng có cuốn lịch Âm lịch nào để biết ngày nào là Tết Ta, Nguyên Đán. Một buổi tối vợ chồng tôi đang ngồi cãi nhau về thời điểm giao thừa để thắp một nén hương tưởng nhớ ông bà, thì điện thoại reo. Bà Huyền-Trân Thomassen gọi, mời cả nhà chúng tôi tối mai lên ăn tết với gia đình, chồng bà từ Mexixo cũng mới trở về. Bà cho biết bây giờ đã là sáng mồng một Tết bên Việt Nam. Thì ra, chúng tôi tệ quá, mới rời khỏi Việt Nam hai năm mà không còn nhớ ngày tết và tổ chức mừng Tết như bà. Tôi cám ơn và nhận lời bà xong, vội vàng thắp mấy nén hương tạ tội ông bà. May mắn ngày mai là thứ bảy.
Bà biết gia đình chúng tôi có tới mười người mà chỉ có một cái xe Ford vừa nhỏ vừa cũ, nên bà đặt một chiếc taxi tám chỗ ngồi lại đón chúng tôi. Bà xã tôi chỉ huy bầy con gái trên chiếc taxi, còn tôi lái xe chở đám con trai chạy theo sau. Trời thật lạnh, tuyết rơi trắng cả bầu trời. Chúng tôi phải chạy gần một tiếng đồng hồ mới tới nhà bà. Bà ở trong một ngôi biệt thự khá xinh, cách trường đại học Oslo, nơi bà dạy, chừng năm phút lái xe. Trong phòng khách bà trang trí giống như tết ở Việt Nam, đặc biệt có cả một cành mai thật to (một loài hoa Bắc Âu nở hoa vào mùa đông, nhìn giống như hoa mai) trong một cái bình sứ lớn, nằm ở giữa nhà. Chồng bà rất phúc hậu, và nói được một ít tiếng Việt. Khi giới thiệu ông với chúng tôi bà đùa:
- Hoàng đế Chế Mân của tôi đây.
- Không, tôi là Trần Khắc Chung. Ông vừa đưa tay bắt tay tôi vừa đùa.
Ông ta khá am tường về lịch sử Việt nam. Ông cũng biết khá nhiều và có những nhận định khá công bình về cuộc chiến Việt nam. Ông cho biết là lúc cuộc chiến Việt Nam đang ác liệt, khi ấy ông là trưởng ban ngoại giao của Quốc Hội Nauy, đã phản đối kịch liệt những nhóm tả khuynh và đặc biệt là những nhận định và việc làm của ông Olaf Palma, thủ tướng Thụy Điển, người đã hô hào ủng hộ Bắc Việt và tuyên bố sẵn sàng chấp nhận cho binh lính Mỹ đào ngũ đến dung thân ở nước ông. Khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, nhìn hàng triệu người phải bỏ nước ra đi, ông vừa kịp phản tỉnh thì cũng bị ám sát chết.
Bữa ăn còn có cả dưa hành, thịt kho và bánh chưng. Tôi phục bà và thấy xốn xang nhớ những ngày tết lúc tôi còn nhỏ ở quê nhà.
Ăn uống xong, bà còn lì xì bì thơ màu đỏ cho mấy đứa con và mấy đứa cháu của tôi. Tôi đành phải ngượng ngùng xin lỗi vì không chuẩn bị kịp quà cáp cho hai đứa con của bà. Nhưng bà rất khéo léo, khi bảo sự có mặt của gia đình chúng tôi trong thời khắc đặc biệt này đã là một món quà vô giá, rất có ý nghĩa cho mẹ con bà.
Tôi thay mặt gia đình cám ơn, chúc tết ông bà và gia đình. Tôi cũng nói lên lòng ngưỡng mộ của chúng tôi đối với một người đã xa quê hương lâu ngày và lập gia đình với một người ngoại quốc mà vẫn còn giữ được truyền thống và bản sắc văn hóa Việt Nam, trong lúc một số người mới chân ướt chân ráo sang đây đã vội tập tành thành người bản xứ, muốn quên hết nguồn cội của mình.
Chia tay bà lúc gần mười hai giờ đêm. Đường sá vắng tanh. Tuyết vẫn rơi kín bầu trời. Không quen lái xe trên tuyết, tôi chạy thật chậm. Khi đến trước khu đại học Blindern, tôi thấy có một người đứng dưới tàng cây thông, đưa tay đón. Tôi dừng xe lại. Một cô gái chạy tới xin quá giang về nhà, vì cô dự tiệc tối ra, đã gọi taxi khá lâu mà không thấy tới. Tôi bảo đứa con trai lớn của tôi ra ngồi ở băng sau, nhường ghế trước cho cô gái. Khi cô lễ phép chào tôi, và bắt tay mấy cậu con và cháu của tôi ngồi ở băng sau, tự giới thiệu tên Anita rồi ngồi lên ghế, tôi mới nhận ra cô gái gốc Á đông, nhưng phát âm tiếng Nauy và điệu bộ hoàn toàn như người bản xứ. Tôi ngạc nhiên khi thấy cô đang run vì lạnh. Cô chỉ mặc một cái áo khoác mỏng. Tôi dừng xe, cởi cái áo choàng bằng lông cừu choàng qua vai cô. Gương mặt cô bé xinh xắn dễ thương, nhưng phảng phất buồn. Tôi hỏi cô bé đến từ nước nào. Cô cho biết cô được cha mẹ nuôi người Nauy nhận mang về đây lúc chưa tròn ba tuổi, nên cô chẳng biết gì. Sau này lớn lên, cô mới được cha mẹ nuôi kể lại là cô được Cơ quan Bảo Trợ Nhi Đồng LHQ nhận từ một viện mồ côi ở Việt Nam vào năm 1975. Ông bà xin nhận cô làm con nuôi từ Cơ quan này. Cô bé rất mong muốn được trở lại Việt nam một lần, để biết nơi mình sinh ra và nhờ người tìm lại tông tích, mồ mả của cha mẹ ruột. Cô sẽ xây mộ cho ông bà. Cha mẹ nuôi có hứa sẽ đưa cô về sau khi cô học xong trung học, và khi nào việc xin visa vào Việt Nam dễ dàng hơn. Nhà cô không xa nơi tôi ở, có lẽ không quá hai mươi phút lái xe. Khi qua hết mấy khu rừng thông thanh vắng, cô chỉ ngôi nhà lớn nằm lưng chừng trên một ngọn đồi, bảo tôi dừng lại phía dưới. Cô sẽ đi lên bằng con đường tắc. Cô cám ơn tôi, cởi trả lại tôi cái áo choàng. Cô hỏi xin tôi một mảnh giấy, viết địa chỉ xong rồi đưa lại cho tôi. Cô mời tôi đến Lễ Phục Sinh ghé lại nhà cô chơi. Vì chỉ còn một ngày nữa cô phải đi London tiếp tục theo học một năm chương trình trao đổi học sinh. Cha mẹ nuôi của cô rất thích nói chuyện với người Việt Nam, nhất là những người đã từng tham gia cuộc chiến. Tôi hứa với cô là thế nào tôi cũng đến thăm cô cùng ông bà cha mẹ nuôi tốt bụng.
Về nhà, khi kể lại chuyện cô bé quá giang cho vợ và mấy cô con gái nghe, tôi mới nhận ra một điều: sao tôi lại có duyên với những người mồ côi đến thế. Suốt cả đêm hôm ấy tôi nằm trằn trọc nghĩ đến thân phận mình và nhớ thật nhiều đến Nguyễn Thượng Tâm, người mà tôi đã từng nhận làm đứa em kết nghĩa, nhưng mãi đến bây giờ vẫn chưa làm tròn được lời thệ ước của mình.
* * *
Ðến Lễ Phục Sinh, nhớ lời hẹn, tôi rủ bà xã và hai cô con gái lớn đến thăm cô Anita. Bây giờ là đầu tháng tư mà tuyết vẫn còn rơi trắng cả bầu trời. Nhờ ban ngày nên tôi thấy rõ nhà cô hơn. Ngôi nhà có dáng của một lâu đài, cổ kính, sang trọng. Chung quanh là một hàng thông. Chủ ngôi nhà chắc đã trọng tuổi và giàu có. Ngần ngừ một lúc, tôi bấm chuông. Đúng như tôi nghĩ, người mở cửa là một bà già khoảng trên bảy mươi, nhưng còn khỏe mạnh và nói năng vui vẻ lịch thiệp. Bà ngạc nhiên nhìn tôi, và hỏi tôi đến có việc gì bất ngờ mà bà không đuợc báo trước. Tôi xin lỗi, giới thiệu tên mình và cho bà biết là tôi có hẹn với cô Anita, con gái của bà, đến thăm cô ấy và vợ chồng bà. Có lẽ cô Anita quên, không kể chuyện lại với bà. Bà tròn mắt ngạc nhiên:
- Anita nào ? vì đứa con gái duy nhất của chúng tôi đã chết rồi mà.
Bây giờ đến lượt tôi ngơ ngác. Tôi kể cho bà nghe chuyện tôi gặp cô Anita trước cổng trường đại học hồi tháng hai, và cho cô quá giang về đây lúc nửa đêm. Bà mời tôi vào nhà, chỉ cho tôi tấm ảnh treo trên vách.
- Đây chính là cô Anita mà tôi đã gặp, trước khi cô trở lại London để tiếp tục học. Tôi nói to như để xác nhận với bà.
Bà nhìn tôi sụt sùi hai dòng nước mắt.
- Ðúng rồi, sau lần về thăm nhà và cũng để khám bệnh ấy, thay vì trở lại trường, con tôi phải vào bệnh viện, do một mảnh đạn nằm sâu trong tim từ lúc cháu ba tuổi, và cháu qua đời sau đó một tuần. Trước đây, bác sĩ có khám và chụp hình, nhưng bảo mảnh đạn nằm ở một vị trí khá an toàn, và rất nguy hiểm nếu phải giải phẩu. Không ngờ cháu lại chết vì chính mảnh đạn từ thời chiến tranh này.
Bà ra nhà sau lên tiếng gọi ông chồng, kể cho ông nghe câu chuyện tự nãy giờ. Ông đến chào tôi, và bảo tôi chờ ông bà mặc áo lạnh rồi sẽ dẫn tôi ra nghĩa trang, nằm không xa ở phía sau nhà, thăm ngôi mộ cô con gái.
Ngôi mộ phủ đầy tuyết trắng. Bà đưa tay phủi lớp tuyết trên tấm bia, hàng chử khắc sâu trên bia: ANITA NGUYEN HILDE. Nhìn tấm ảnh trên mộ bia, tôi có cảm giác dường như cô cũng đang nhìn tôi mỉm cười. Tôi đứng trước mộ, chấp hai tay khấn nguyện một đôi điều. Ông bà chủ nhà sụt sùi, bảo với tôi đó là cô con gái duy nhất mà ông bà hết lòng thương quí. Từ khi cô ta qua đời, ông bà chẳng còn thiết tha bất cứ thứ gì trên cõi đời này nữa. Đưa tôi trở lại nhà, ông châm củi thêm vào lò sưởi, rót mời tôi một tách cà phê nóng. Ông bảo nếu cô không chết thì mùa hè này ông bà sẽ đưa cô về thăm quê hương nguồn cội ở Việt Nam. Riêng cha mẹ ruột của cô thật sự đã chết trong chiến tranh rồi.
Dường như vừa nhớ lại một điều gì, ông đứng lên bước tới kệ sách, quay lại nói vói tôi:
- Trong hồ sơ của con tôi, người ta có ghi chú: Khi hấp hối, mẹ cháu có trăn trối nhờ người mang nó về một viện mồ côi mà bà quen. Bà có để trong túi áo quần của đứa con một tấm hình khi vợ chồng bà làm đám cưới. Sau tấm hình có ghi tên và đơn vị của ba cháu. Đó cũng là dấu tích duy nhất về gốc gác của cô con gái nuôi yêu dấu của chúng tôi.
Tôi chưa kịp hỏi, ông đã đưa cho tôi tập album, và chỉ cho tôi một tấm ảnh đen trắng ngã màu vàng sậm, được dán ngay ở trang đầu. Nhìn tấm ảnh, tôi giật thót cả người, như đang bị mộng du vào một cõi xa xăm nào đó: hai người trong tấm ảnh chính là vợ chồng Nguyễn Thượng Tâm, người em mồ côi kết nghĩa mà chúng tôi đã lạc mất nhau trong những ngày cuối của một cuộc chiến huynh đệ tương tàn.
phạm tín an ninh
phạmtínanninh Chiếc thuyền nhỏ mang theo hơn năm mươi người, một nửa là đàn bà và con nít, ra khơi hai ngày thì gặp bão. Chúng tôi may mắn được một chiếc tàu chuyên chở dầu hỏa của Nauy trên đường từ Nhật sang Singapore cứu vớt. Hai ngày sống trên tàu chúng tôi có cảm giác như đang ở trên một thiên đàng. Tất cả đều được tận tình hỏi han chăm sóc. Chúng tôi cảm thấy vừa mừng vừa xót xa khi nhận ra thế gian này vẫn còn có đầy ấp tình người. Họ là những kẻ xa lạ, không cùng màu da, màu tóc, không cùng ngôn ngữ, mà lòng thông cảm yêu thương họ đã dành cho chúng tôi lớn lao biết đến dường nào. Trong lúc những “người anh em” cùng một nhà thì lại hành hạ đuổi xô chúng tôi đến bước đường cùng để phải đành lòng bỏ nước mà đi. Với ân tình đó chúng tôi chọn Vương quốc Nauy là quê hương thứ hai để gởi gấm phần đời còn lại của mình và vun đắp tương lai cho mấy đứa con nhỏ dại.
Sau gần một năm ở trại tị nạn, gia đình chúng tôi được đi định cư. Khi bầu đoàn thê tử như một bầy nai vàng ngơ ngác bước xuống phi trường Oslo, được nhiều người đón tiếp, trong đó lại có cả mấy ông nhà báo và đài truyền hình nhà nước phỏng vấn, quay phim. Gốc nhà quê, nên tôi cũng chẳng biết họ quay phim để làm cái gì. Trước khi về nhà, chúng tôi còn được mời vào một nhà hàng Tàu, và tha hồ gọi bất cứ thức ăn nào mình thích.
Đến khi bước vào ngôi nhà, được bà trưởng phòng xã hội trao cho một chùm chìa khóa, dẫn đi một vòng xem phòng ốc đã được trang trí xong nội thất, cái bếp và cả cái tủ lạnh có sẵn đầy đủ thức ăn nước uống, một cái TV màu. Mọi thứ đều mới tinh. Sáu đứa con và hai đứa cháu họ của tôi thì ngồi mân mê mấy cái bàn học, và mấy cái ba lô có đầy đủ sách vở trong đó. Trước khi ra về bà giới thiệu chúng tôi một cô nhân viên của bà, và một cô giáo ở lại hướng dẫn chúng tôi xử dụng mọi thứ tiện nghi trong nhà, và mỗi ngày sẽ đến đưa gia đình chúng tôi đi mua sắm, khám bệnh, làm răng, còn cô giáo thì đặc trách lo việc học hành cho mấy đứa nhỏ. Khi tất cả ra về, tôi nằm dài dưới sàn nhà và chợt khám phá ra rằng mình quả là may mắn được đến định cư ở một nước Bắc Âu xa lạ nhưng thơ mộng và có quá rộng tấm lòng này, mà lúc xuống biển ra đi chắc chẳng có ai bao giờ nghĩ tới.
Buổi tối, cơm nước xong, cả nhà quây quần trước cái TV. Thằng con trai lớn ra điều mới học được văn minh, bấm tới bấm lui tìm đài. Cả đám bất ngờ nhìn thấy dung nhan của mình trên màn ảnh. Thì ra chương trình phóng sự. Họ đang kể về gia đình chúng tôi: “những công dân mới của Nauy, mà ông bố đã từng ở tù nhiều năm, giống nhiều người Nauy bị nhốt trong các trại cải tạo của Đức quốc xã, cái thời Hitler làm mưa làm gió ở Âu châu, và đã can đảm dắt theo sáu đứa con và hai đứa cháu nhỏ vượt đại dương trên một chiếc thuyền đánh cá mong manh”. Nghe họ ca ngợi mình mà tôi xấu hổ. Dù gì tôi cũng là kẻ bỏ nước tha phương, với họ, ít nhiều gì cũng là một cành tầm gởi. Còn chuyện vượt biển, vượt biên, đến bước đường cùng thì ai cũng phải liều mạng thế thôi, chứ có hàng triệu người còn can đảm gấp vạn lần tôi. Nhiều người đi bằng đường bộ, trèo núi, băng rừng, lội suối, bơi sông, qua Cam Bốt, Thái Lan, để vài năm sau mới đến được Singapore. Và dĩ nhiên đã có biết bao nhiêu người chẳng bao giờ tới bến.
Cũng vì cái chương trình phóng sự bất ngờ này, mà sau đó, mỗi ngày gia đình chúng tôi phải tiếp nhiều người khách không mời, và nhận đủ thứ quà. Trong số đó, đặc biệt có một người đàn bà Việt Nam, mà lúc bà mới bước vào nhà, chúng tôi cứ tưởng là người Nhật, hay là người Tàu gì đó, khi nhìn thấy cái vẻ quí phái đặc biệt của bà. Tôi nghĩ có lẽ không có người Việt Nam nào sống ở cái xứ Bắc Âu xa lạ này từ lâu để có được nét đẹp của một người con gái đông phương pha lẫn âu tây ở cái tuổi còn trẻ như bà. Sau đó tôi bất ngờ thú vị khi bà tự giới thiệu tên là Huyền-Trân Thomassen, hiện là giảng sư môn nhân chủng xã hội học tại trường đại học Oslo, chồng bà là người Nauy, hiện đang làm đại sứ tại Mexico. Bà không muốn bỏ nghề bà yêu thích, hơn nữa bà vẫn còn tiếp tục nghiên cứu về ngành này, nên không theo chồng mà ở lại Nauy với hai đứa con. Lúc nhỏ bà theo cha sang sống ở Thụy Sĩ, khi cha bà là đại sứ của VNCH tại đó. Người chồng của bà, cũng thuộc một gia đình có truyền thống ngoại giao. Cha của ông cũng một thời là đại sứ của Nauy tại Thụy Sĩ. Hai người con của hai ông đại sứ quen nhau từ khi học chung một trường trung học và làm đám cưới sau khi tốt nghiệp đại học tại thủ đô Bern, một năm trước khi miền Nam Việt Nam thất thủ.
Tôi rất ngưỡng mộ người đàn bà trẻ này. Rời Việt nam từ lúc 12 tuổi, nhưng bà nói tiếng Việt rất lưu loát, hiểu biết rất nhiều về văn học Việt nam, từ truyện Kiều của Nguyễn Du, đến bài thơ Hai Sắc Hoa TyGôn của TTKH. Điều đặc biệt hơn hết là bà rất quí mến và giúp đỡ tận tình người đồng hương. Gia đình tôi cũng mang nặng khá nhiều ơn nghĩa của bà.
Những ngày sống hạnh phúc ở quê người, nhìn con cái ngày một lớn lên và đang có cả một bầu trời xanh bao la trước mặt, lúc nào tôi cũng chạnh lòng nhớ lại cái thời mình khốn khó và những bạn bè xưa. Tôi thấy mình nợ nần nhiều người mà không biết làm sao trả được. Trong số này, người mà tôi thường nghĩ tới nhiều nhất và ân hận chẳng giúp được điều gì là Nguyễn Thượng Tâm, người đồng đội và cũng là đứa em kết nghĩa của tôi.
* * *
Tâm ra trường sau tết Mậu Thân. Về trình diện đơn vị tôi khi vừa tròn 18 tuổi. Mặc dù còn rất trẻ, nhưng được đào tạo từ lúc còn nhỏ tại trường Thiếu Sinh Quân nổi tiếng ở Vũng Tàu nên Tâm là một hạ sĩ quan gương mẫu trong kỷ luật và gan dạ trong chiến trường. Tâm hiền lành và rất ít nói. Nhưng không phải vì vậy mà tôi trở thành thân thiết với Tâm và hai thằng kết nghĩa anh em, nếu không có buổi sáng mồng một Tết năm 1969, khi đơn vị chúng tôi tạm dừng quân trong một ngôi làng hoang đổ nát nằm sâu giữa những động cát nơi giáp ranh hai tỉnh Bình Thuận và Bình Tuy lúc trước.
Dù đang hành quân, nhưng biết hôm đó là mồng một Tết, tôi thức dậy thật sớm, thay bộ đồ trận mới, đi một vòng chúc tết anh em. Ngày đầu năm, nằm giữa một khu hoang tàn không một bóng người, chắc ai cũng chạnh lòng nhớ tới gia đình. Chiếc radio từ một căn lều poncho nào đó đang phát ra tiếng hát nỉ non của ca sĩ Duy Khánh, trong bản nhạc Xuân Này Con Không Về của Trịnh Lâm Ngân, làm lòng tôi càng thêm lắng xuống. Đến cuối ngôi làng, tôi bỗng giật mình khi nghe tiếng sụt sùi. Lại gần tôi mới nhận ra Tâm. Anh ta đang quì lạy trước một cái bàn thờ được kê bằng cánh cửa sổ của căn nhà nào sập xuống. Trên bàn thờ dã chiến, tôi thấy có mấy cái hoa rừng cấm trong cái bi đông nước, hai bát cơm bằng gạo sấy và một lon guigoz có lẽ chứa nước trà hay canh nấu bằng lá giang hay lá tàu bay gì đó. Tâm khấn vái một lúc, quay lại bất ngờ nhận ra tôi. Tâm đưa tay chào và cũng như mọi khi, không nói một lời nào. Có lẽ Tâm biết là tôi đã đứng im lặng ở đây từ lâu lắm. Tôi bước tới nắm chặt tay Tâm, kéo anh đứng lên. Tâm vội rút tay ra lau nước mắt. Tôi đến trước bàn thờ vái một vái, rồi vỗ vai Tâm:
- Em cúng bố mẹ à. Sao đầu năm mà buồn quá vậy em.
- Không, bố em còn ở ngoài Bắc, em không biết là còn sống hay đã chết. Mẹ em thì đã qua đời lúc em còn bé lắm. Nhà em ở tận Ý Yên, nhưng bố em đi làm xa, nên phải gởi hai anh em em xuống nhà ông chú ở Hà Nội học, rồi theo gia đình chú ấy xuống tàu há mồm vào Nam luôn.
- Còn anh của em bây giờ ở đâu? Tôi hỏi
- Anh ấy chết rồi. Anh là sĩ quan thủy quân lục chiến, tử trận đúng ngày mồng một tết Mậu Thân ở ngay Sài gòn. Hôm nay là giổ đầu của anh ấy.
- Anh em tên gì?
- Nguyễn thượng Minh, khi chết anh vừa mới lên trung úy.
Tôi giật mình. Cái tên Nguyễn thượng Minh làm tôi nhớ ngay đến một thằng bạn cùng tên hồi còn tiểu học. Tôi hỏi Tâm:
- Vậy có phải em là cháu của thầy giáo Nguyễn Thượng Cầu?
- Dạ phải, nhưng chú Cầu đã chết lâu rồi. Tâm trả lời rồi nhìn tôi ngạc nhiên.
Năm 1954, tôi đang học lớp nhì trường huyện Vạn Ninh. Nhập học được vài tháng, thì thầy hiệu trưởng Nguyễn công Tố dắt ba đứa học trò lạ vào lớp giới thiệu với cô giáo Kiệt rồi dặn dò đám học trò chúng tôi:
- Hôm nay trường nhận thêm những em học trò mới, trong đó có ba em vào lớp này. Tất cả các em phải biết yêu thương và giúp đỡ những người bạn này, vì họ đã vừa phải bỏ quê hương, gia đình ngoài miền Bắc, di cư vào đây. Đó cũng là lời kêu gọi của Ngô Thủ Tướng.
Hai thằng con trai và một đứa con gái cúi đầu chào cô giáo rồi quay xuống chào chúng tôi bằng thứ tiếng lạ hoắc khó nghe. Thằng lớn con nhất được cô Kiệt chỉ cho ngồi dãy bàn cuối lớp, ngay phía sau tôi.
Đến giờ ra chơi, bọn tôi bu quanh “phỏng vấn” nó đủ điều. Tên nó là Nguyễn Thượng Minh. Nó và thằng em nhỏ hơn bốn tuổi, nhà ở quê, mẹ chết sớm, ông bố đi làm xa, nên phải gởi anh em nó xuống Hà Nội ở nhà ông chú để học hành, hơn nữa ông lại là thầy giáo. Khi có lệnh di cư, ông chú không liên lạc được bố nó, nên dắt hai anh em nó xuống tàu há mồm vào Nam luôn, rồi được chính quyền phân phối đến định cư ở quê tôi, Vạn Giã, cùng với hơn mười gia đình khác. Nó bảo vài hôm nữa ông chú nó cũng sẽ được sắp xếp cho vào dạy lớp ba trường này, thay cho một ông thầy thuyên chuyển đi nơi khác.
Nó lầm lì ít nói, chắc ngại cái tiếng Bắc Kỳ xa lạ của nó. Nhưng không phải vì điều đó mà làm cho tôi ghét nó, và đã có nhiều lần đánh lộn với nó nữa. Lý do chính là nó đánh bi rất giỏi, giành mất giải quán quân của tôi trong lớp. Nó đánh bi khác với chúng tôi. Chúng tôi để viên bi lên đầu ngón tay giữa rồi bắn đi, còn nó đặt viên bi trong lòng bàn tay và bắn đi bằng ngón tay cái. Vậy mà nó ăn tôi sạch túi. Bọn tôi bảo là nó ăn gian, không được chơi kiểu bắc kỳ của nó mà phải chơi theo kiểu trung kỳ của bọn tôi. Nhập gia phải tùy tục. Nó cô đơn một mình nên chịu thua, phải trả lại cho tôi tất cả viên bi nó thắng ngày hôm đó. Vậy mà hai hôm sau nó chơi trở lại, dĩ nhiên với cái kiểu hoàn toàn mới lạ với nó, nhưng nó vẫn thắng tôi oanh liệt. Cuộc đấu bi này bây giờ không phải chỉ giữa cá nhân hai thằng: tôi với nó, mà giữa hai miền nam-bắc, cho nên học trò trai gái cả trường bu quanh làm khán giả. Tôi thua trắng tay, mất luôn chức vô địch từ lớp năm đến bây giờ. Dĩ nhiên là tôi ức lắm. Điều ghê gớm hơn nữa, là chỉ có cuối tháng đầu tiên nó đứng hạng ba trong lớp, lên nhận bảng danh dự sau tôi, nhưng kể từ tháng thứ nhì trở đi nó đều chiếm hạng nhất. Tôi đâm ra hận nó, có nó là tôi mất tất cả. Mấy lần tôi nhại tiếng Bắc chọc quê nó, nó cũng chỉ cười, tôi nghe lời xúi của lũ bạn, bảo nó rờ sau “đít” coi có còn tòn ten cọng rau muống nào không, nó chỉ im lặng. Có lần bọn tôi xô nó ngã, nó chỉ cười, đứng dậy rồi phủi bụi trên áo quần. Tôi thua nó, nhưng cố làm ra vẻ tự mãn: “nó vẫn chỉ là một anh hùng cô đơn, không có ai chơi với nó”.
Đùng một cái nó nghỉ học. Chẳng có ai biết lý do. Nhưng rồi vài ngày sau nó tới trường, nhưng không phải để học mà để bán bánh mì và cà rem. Cô giáo và bạn bè hỏi, nó khóc và bảo là bà thím, sau khi cãi vã với chú nó một trận, không nuôi hai anh em nó nữa, nó phải tự “khắc phục” để còn nuôi một thằng em nhỏ. Hôm đó bọn tôi nhiều thằng cũng khóc theo với nó. Chờ cho tất cả vào lớp, tôi ở nán lại chỉ để ôm nó và nói một lời xin lỗi về những điều đã qua. Nó nhìn tôi thân thiện, và bảo là nó chưa hề để tâm tới điều ấy. Tôi “tâm phục khẩu phục” nó. Nó còn nhỏ mà thông minh và thánh thiện hơn tôi nhiều.
Tôi bèn làm ngay một cuộc “quảng cáo” cho bánh mì và cà rem của nó, vì vậy hôm nào nó mang mọi thứ tới trường là bán sạch ngay trong giờ ra chơi buổi sáng. Sau đó tôi còn kêu gọi một cuộc lạc quyên giúp nó: gạo, tiền xu, tiền cắc, áo quần, có thằng còn mang tới cho nó cả buồng chuối và một trái mít nữa.
Rồi nó cũng được chính quyền giúp đỡ, tôi nghĩ như thế, nên vài tuần sau nó trở lại lớp học, và chỉ bán bánh mì trong giờ ra chơi. Nó vẫn học giỏi, vẫn đứng đầu lớp, nhưng lần này nó không còn là anh hùng cô đơn nữa mà nó có đông đảo bạn bè, mà thằng thân nhất chính là tôi.
Ông chú nó, thầy giáo Nguyễn thượng Cầu, cũng đã vào trường dạy lớp ba, nhưng bây giờ anh em nó không còn ở chung với ông chú nữa, mà chỉ đến thăm ông vào những cuối tuần. Có khi nó dắt tôi đi theo. Vì vậy tôi mới bíết ông thầy, chú nó sợ bà vợ Bắc kỳ còn hơn sư tử, nên chẳng dám bênh vực nhiều anh em nó, mặc dù ông rất đau lòng xót xa khi bọn nó phải dọn ra ở ké nhà một gia đình người di cư khác.
Tôi mất mẹ, cha tôi cũng đi làm xa, nên tôi thông cảm hoàn cảnh của Minh, nên thường đưa anh em nó về nhà ông bà nội tôi và chơi với đám anh em họ hàng của tôi.
Khi xong tiểu học, tôi vào Nha Trang học trung học, cũng là lúc phải chia tay nó. Bởi Minh cũng vừa theo một số người di cư vào tận khu định cư Phước Tỉnh nào đó ở trong nam, người ta bảo trong ấy làm ăn khấm khá hơn ở quê tôi nhiều lắm. Từ đó, tôi không gặp lại nó, mặc dù trong ký ức tuổi ấu thơ của tôi, lúc nào hình ảnh nó cũng in lên đậm nét.
Không ngờ hôm nay, giữa chiến trường xa xôi này tôi lại bất ngờ gặp lại thằng em duy nhất của Minh, và lòng tôi lắng xuồng khi biết nó cũng từng là lính đánh giặc và đã hy sinh đúng ngày này năm trước: ngày mồng một Tết. Cái ngày mà lời chúc Tết của ông Hồ Chí Minh trên đài phát thanh Hà Nội chính là cái mật lệnh “Tổng Công Kích Tết Mậu Thân” để giết hại bao nhiêu người vô tội, đặc biệt hàng vạn người ở Huế bị chôn sống. Cũng là cái ngày người ta nhận diện được bọn trí thức, sinh viên phản trắc, đã giết hại bao nhiêu thầy, bạn của chính mình.
Sau đó, tôi rút Tâm về làm việc bên cạnh tôi, phụ tránh toán quân báo gồm toàn những người lính trẻ. Chúng tôi yêu thương nhau như anh em. Rồi vào một đêm trăng sáng, dưới sự chứng giám của đất trời, tôi đã nhận Tâm là đứa em kết nghĩa, sau lần Tâm liều mình cứu tôi thoát chết trong một cuộc phục kích ở Thiện Giáo. Đổi lấy sự an toàn cho tôi, Tâm phải mất hai ngón tay của bàn tay trái và nằm bệnh viện hơn một tháng để được giải phẩu lấy một mãnh đạn nằm trong sâu trong thanh quản. Sau khi xuất viện, Tâm phát âm tương đối khó khăn. Được hội đồng giám định y khoa xếp vào loại không còn khả năng chiến đấu, Tâm có thể chọn về một đơn vị hành chánh hay tiếp vận nào mà Tâm thích, nhưng Tâm một mực chối từ và nằng nặc đòi trở lại đơn vị cũ. Tâm xác nhận là mình vẫn còn khả năng chiến đấu, hai ngón tay của bàn tay trái và giọng nói khó khăn một chút không gây trở ngại nhiều cho một người lính chiến trường. Cuối cùng Tâm được toại nguyện.
Tôi vừa vui mừng vừa cảm động khi Tâm trở về trình diện. Tâm bảo sống chết gì em cũng muốn ở bên anh. Vì gia đình em có còn ai nữa đâu. Đơn vị này là gia đình của em. Tôi sắp xếp cho Tâm một công việc tạm thời ở hậu cứ để tiếp tục chửa bệnh. Chỉ sau vài tháng giọng nói của Tâm gần trở lại bình thường. Tâm nghe lời tôi xin vào khóa Sĩ Quan Đặc Biệt ở Thủ Đức. Tâm được ưu tiên thu nhận vì gốc TSQ.
Ra trường đúng vào mùa hè đỏ lửa 1972, Tâm lại xin trở về đơn vị cũ, lúc này đang ngày đêm nằm trong lửa đạn ở mặt trận Kontum. Năm tháng sau, tôi bị thương, được tản thương về Quân y viện Pleiku nằm điều trị gần một tháng. Xuất viện, được điều về Phòng Hành Quân. Cả tháng tôi không gặp lại Tâm, nhưng ngày nào chúng tôi cũng liên lạc trên hệ thống vô tuyến.
Cuối năm 1973, chiến trường lắng dịu. Tâm xin phép về Sài gòn cưới vợ. Vợ Tâm là cô bạn nhỏ ngày xưa trong cùng một viện mồ côi. Bây giờ là cô giáo. Hai người gặp lại và tình yêu nẩy nở trong thời gian Tâm học ở trường Thủ Đức. Cả vợ chồng tôi đều có mặt trong ngày cưới, và làm chủ hôn bên họ nhà trai. Đám cưới xong, tôi vận động xin cho vợ Tâm được chuyển lên dạy tại một trường tiểu học nằm trong thành phố Pleiku, để vợ chồng được gần gũi nhau hơn.
Đầu tháng 3/1975 Ban Mê Thuột thất thủ, bản doanh Bộ Tư lệnh SĐ 23 BB bị tràn ngập sau một phi vụ bắn nhầm. Ông Tư Lệnh Phó cùng ông tỉnh trưởng Đắc Lắc bị bắt. Hai tiểu đoàn của Trung Đoàn 44 được trực thăng vận nhảy xuống đầu tiên ở Phước An, quận duy nhất còn lại của tỉnh Đắc Lắc, nhằm vừa ngăn chặn địch quân tràn xuống Khánh Dương theo Quốc lộ 21, vừa tái chiếm thị xã Ban Mê Thuột khi tình hình cho phép. Tâm có mặt trong toán quân đầu tiên này. Tôi không gặp được Tâm nhưng có liên lạc nói chuyện vài lần trong máy vô tuyến. Tâm rất đau lòng khi phải bỏ vợ và đứa con gái ba tuổi trên Pleiku, trước khi gởi gấm cho anh trung sĩ tiếp liệu đại đội cố dắt theo cùng đoàn quân triệt thoái về tỉnh lộ 7, bây giờ không biết ra sao. Tâm khẩn khoản nhờ tôi tìm mọi cách liên lạc và giúp vợ con mình. Tôi lấy cái tình anh em kết nghĩa mà thề với Tâm là tôi sẽ cố gắng hết sức mình. Không ngờ, đó là một kế hoạch triệt thoái tồi tệ nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam, đã làm mất biết bao nhiêu sinh mạng, kéo theo sự sụp đổ cả miền Nam. Ra tận Tuy Hòa, đứng đón dòng người tả tơi, nét mặt còn đậm nỗi kinh hoàng, họ vừa trải qua và chứng kiến biết bao nhiêu cái chết thê thảm để được đến bên này bờ con sông Ba nhuộm máu, tôi nghĩ là tôi chẳng còn có cơ hội nào gặp lại vợ con Tâm. Trở lại Khánh Dương, đúng lúc Phước An thất thủ và đơn vị của Tâm đã phải tan hàng, tôi gặp lại vị chỉ huy của Tâm ở Dục Mỹ, ông xác nhận là trung úy Nguyễn Thượng Tâm đã nằm lại trên đỉnh đồi Chu Cúc, khi chiến đấu tới viên đạn cuối cùng rồi tự sát trước một biển người của địch quân tràn lên chiếm giữ.
* * *
Hơn sáu tháng định cư ở Nauy, cả nhà tôi lúc nào cũng miệt mài để sớm hội nhập vào quê hương mới. Thời gian qua nhanh quá. Mới đây mà chúng tôi cũng đã tập tành tổ chức ngày lễ Giáng Sinh và ăn cái tết Tây đầu tiên theo truyền thống của Nauy. Sau đó bận bịu đi học đi làm, và cũng chẳng có cuốn lịch Âm lịch nào để biết ngày nào là Tết Ta, Nguyên Đán. Một buổi tối vợ chồng tôi đang ngồi cãi nhau về thời điểm giao thừa để thắp một nén hương tưởng nhớ ông bà, thì điện thoại reo. Bà Huyền-Trân Thomassen gọi, mời cả nhà chúng tôi tối mai lên ăn tết với gia đình, chồng bà từ Mexixo cũng mới trở về. Bà cho biết bây giờ đã là sáng mồng một Tết bên Việt Nam. Thì ra, chúng tôi tệ quá, mới rời khỏi Việt Nam hai năm mà không còn nhớ ngày tết và tổ chức mừng Tết như bà. Tôi cám ơn và nhận lời bà xong, vội vàng thắp mấy nén hương tạ tội ông bà. May mắn ngày mai là thứ bảy.
Bà biết gia đình chúng tôi có tới mười người mà chỉ có một cái xe Ford vừa nhỏ vừa cũ, nên bà đặt một chiếc taxi tám chỗ ngồi lại đón chúng tôi. Bà xã tôi chỉ huy bầy con gái trên chiếc taxi, còn tôi lái xe chở đám con trai chạy theo sau. Trời thật lạnh, tuyết rơi trắng cả bầu trời. Chúng tôi phải chạy gần một tiếng đồng hồ mới tới nhà bà. Bà ở trong một ngôi biệt thự khá xinh, cách trường đại học Oslo, nơi bà dạy, chừng năm phút lái xe. Trong phòng khách bà trang trí giống như tết ở Việt Nam, đặc biệt có cả một cành mai thật to (một loài hoa Bắc Âu nở hoa vào mùa đông, nhìn giống như hoa mai) trong một cái bình sứ lớn, nằm ở giữa nhà. Chồng bà rất phúc hậu, và nói được một ít tiếng Việt. Khi giới thiệu ông với chúng tôi bà đùa:
- Hoàng đế Chế Mân của tôi đây.
- Không, tôi là Trần Khắc Chung. Ông vừa đưa tay bắt tay tôi vừa đùa.
Ông ta khá am tường về lịch sử Việt nam. Ông cũng biết khá nhiều và có những nhận định khá công bình về cuộc chiến Việt nam. Ông cho biết là lúc cuộc chiến Việt Nam đang ác liệt, khi ấy ông là trưởng ban ngoại giao của Quốc Hội Nauy, đã phản đối kịch liệt những nhóm tả khuynh và đặc biệt là những nhận định và việc làm của ông Olaf Palma, thủ tướng Thụy Điển, người đã hô hào ủng hộ Bắc Việt và tuyên bố sẵn sàng chấp nhận cho binh lính Mỹ đào ngũ đến dung thân ở nước ông. Khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, nhìn hàng triệu người phải bỏ nước ra đi, ông vừa kịp phản tỉnh thì cũng bị ám sát chết.
Bữa ăn còn có cả dưa hành, thịt kho và bánh chưng. Tôi phục bà và thấy xốn xang nhớ những ngày tết lúc tôi còn nhỏ ở quê nhà.
Ăn uống xong, bà còn lì xì bì thơ màu đỏ cho mấy đứa con và mấy đứa cháu của tôi. Tôi đành phải ngượng ngùng xin lỗi vì không chuẩn bị kịp quà cáp cho hai đứa con của bà. Nhưng bà rất khéo léo, khi bảo sự có mặt của gia đình chúng tôi trong thời khắc đặc biệt này đã là một món quà vô giá, rất có ý nghĩa cho mẹ con bà.
Tôi thay mặt gia đình cám ơn, chúc tết ông bà và gia đình. Tôi cũng nói lên lòng ngưỡng mộ của chúng tôi đối với một người đã xa quê hương lâu ngày và lập gia đình với một người ngoại quốc mà vẫn còn giữ được truyền thống và bản sắc văn hóa Việt Nam, trong lúc một số người mới chân ướt chân ráo sang đây đã vội tập tành thành người bản xứ, muốn quên hết nguồn cội của mình.
Chia tay bà lúc gần mười hai giờ đêm. Đường sá vắng tanh. Tuyết vẫn rơi kín bầu trời. Không quen lái xe trên tuyết, tôi chạy thật chậm. Khi đến trước khu đại học Blindern, tôi thấy có một người đứng dưới tàng cây thông, đưa tay đón. Tôi dừng xe lại. Một cô gái chạy tới xin quá giang về nhà, vì cô dự tiệc tối ra, đã gọi taxi khá lâu mà không thấy tới. Tôi bảo đứa con trai lớn của tôi ra ngồi ở băng sau, nhường ghế trước cho cô gái. Khi cô lễ phép chào tôi, và bắt tay mấy cậu con và cháu của tôi ngồi ở băng sau, tự giới thiệu tên Anita rồi ngồi lên ghế, tôi mới nhận ra cô gái gốc Á đông, nhưng phát âm tiếng Nauy và điệu bộ hoàn toàn như người bản xứ. Tôi ngạc nhiên khi thấy cô đang run vì lạnh. Cô chỉ mặc một cái áo khoác mỏng. Tôi dừng xe, cởi cái áo choàng bằng lông cừu choàng qua vai cô. Gương mặt cô bé xinh xắn dễ thương, nhưng phảng phất buồn. Tôi hỏi cô bé đến từ nước nào. Cô cho biết cô được cha mẹ nuôi người Nauy nhận mang về đây lúc chưa tròn ba tuổi, nên cô chẳng biết gì. Sau này lớn lên, cô mới được cha mẹ nuôi kể lại là cô được Cơ quan Bảo Trợ Nhi Đồng LHQ nhận từ một viện mồ côi ở Việt Nam vào năm 1975. Ông bà xin nhận cô làm con nuôi từ Cơ quan này. Cô bé rất mong muốn được trở lại Việt nam một lần, để biết nơi mình sinh ra và nhờ người tìm lại tông tích, mồ mả của cha mẹ ruột. Cô sẽ xây mộ cho ông bà. Cha mẹ nuôi có hứa sẽ đưa cô về sau khi cô học xong trung học, và khi nào việc xin visa vào Việt Nam dễ dàng hơn. Nhà cô không xa nơi tôi ở, có lẽ không quá hai mươi phút lái xe. Khi qua hết mấy khu rừng thông thanh vắng, cô chỉ ngôi nhà lớn nằm lưng chừng trên một ngọn đồi, bảo tôi dừng lại phía dưới. Cô sẽ đi lên bằng con đường tắc. Cô cám ơn tôi, cởi trả lại tôi cái áo choàng. Cô hỏi xin tôi một mảnh giấy, viết địa chỉ xong rồi đưa lại cho tôi. Cô mời tôi đến Lễ Phục Sinh ghé lại nhà cô chơi. Vì chỉ còn một ngày nữa cô phải đi London tiếp tục theo học một năm chương trình trao đổi học sinh. Cha mẹ nuôi của cô rất thích nói chuyện với người Việt Nam, nhất là những người đã từng tham gia cuộc chiến. Tôi hứa với cô là thế nào tôi cũng đến thăm cô cùng ông bà cha mẹ nuôi tốt bụng.
Về nhà, khi kể lại chuyện cô bé quá giang cho vợ và mấy cô con gái nghe, tôi mới nhận ra một điều: sao tôi lại có duyên với những người mồ côi đến thế. Suốt cả đêm hôm ấy tôi nằm trằn trọc nghĩ đến thân phận mình và nhớ thật nhiều đến Nguyễn Thượng Tâm, người mà tôi đã từng nhận làm đứa em kết nghĩa, nhưng mãi đến bây giờ vẫn chưa làm tròn được lời thệ ước của mình.
* * *
Ðến Lễ Phục Sinh, nhớ lời hẹn, tôi rủ bà xã và hai cô con gái lớn đến thăm cô Anita. Bây giờ là đầu tháng tư mà tuyết vẫn còn rơi trắng cả bầu trời. Nhờ ban ngày nên tôi thấy rõ nhà cô hơn. Ngôi nhà có dáng của một lâu đài, cổ kính, sang trọng. Chung quanh là một hàng thông. Chủ ngôi nhà chắc đã trọng tuổi và giàu có. Ngần ngừ một lúc, tôi bấm chuông. Đúng như tôi nghĩ, người mở cửa là một bà già khoảng trên bảy mươi, nhưng còn khỏe mạnh và nói năng vui vẻ lịch thiệp. Bà ngạc nhiên nhìn tôi, và hỏi tôi đến có việc gì bất ngờ mà bà không đuợc báo trước. Tôi xin lỗi, giới thiệu tên mình và cho bà biết là tôi có hẹn với cô Anita, con gái của bà, đến thăm cô ấy và vợ chồng bà. Có lẽ cô Anita quên, không kể chuyện lại với bà. Bà tròn mắt ngạc nhiên:
- Anita nào ? vì đứa con gái duy nhất của chúng tôi đã chết rồi mà.
Bây giờ đến lượt tôi ngơ ngác. Tôi kể cho bà nghe chuyện tôi gặp cô Anita trước cổng trường đại học hồi tháng hai, và cho cô quá giang về đây lúc nửa đêm. Bà mời tôi vào nhà, chỉ cho tôi tấm ảnh treo trên vách.
- Đây chính là cô Anita mà tôi đã gặp, trước khi cô trở lại London để tiếp tục học. Tôi nói to như để xác nhận với bà.
Bà nhìn tôi sụt sùi hai dòng nước mắt.
- Ðúng rồi, sau lần về thăm nhà và cũng để khám bệnh ấy, thay vì trở lại trường, con tôi phải vào bệnh viện, do một mảnh đạn nằm sâu trong tim từ lúc cháu ba tuổi, và cháu qua đời sau đó một tuần. Trước đây, bác sĩ có khám và chụp hình, nhưng bảo mảnh đạn nằm ở một vị trí khá an toàn, và rất nguy hiểm nếu phải giải phẩu. Không ngờ cháu lại chết vì chính mảnh đạn từ thời chiến tranh này.
Bà ra nhà sau lên tiếng gọi ông chồng, kể cho ông nghe câu chuyện tự nãy giờ. Ông đến chào tôi, và bảo tôi chờ ông bà mặc áo lạnh rồi sẽ dẫn tôi ra nghĩa trang, nằm không xa ở phía sau nhà, thăm ngôi mộ cô con gái.
Ngôi mộ phủ đầy tuyết trắng. Bà đưa tay phủi lớp tuyết trên tấm bia, hàng chử khắc sâu trên bia: ANITA NGUYEN HILDE. Nhìn tấm ảnh trên mộ bia, tôi có cảm giác dường như cô cũng đang nhìn tôi mỉm cười. Tôi đứng trước mộ, chấp hai tay khấn nguyện một đôi điều. Ông bà chủ nhà sụt sùi, bảo với tôi đó là cô con gái duy nhất mà ông bà hết lòng thương quí. Từ khi cô ta qua đời, ông bà chẳng còn thiết tha bất cứ thứ gì trên cõi đời này nữa. Đưa tôi trở lại nhà, ông châm củi thêm vào lò sưởi, rót mời tôi một tách cà phê nóng. Ông bảo nếu cô không chết thì mùa hè này ông bà sẽ đưa cô về thăm quê hương nguồn cội ở Việt Nam. Riêng cha mẹ ruột của cô thật sự đã chết trong chiến tranh rồi.
Dường như vừa nhớ lại một điều gì, ông đứng lên bước tới kệ sách, quay lại nói vói tôi:
- Trong hồ sơ của con tôi, người ta có ghi chú: Khi hấp hối, mẹ cháu có trăn trối nhờ người mang nó về một viện mồ côi mà bà quen. Bà có để trong túi áo quần của đứa con một tấm hình khi vợ chồng bà làm đám cưới. Sau tấm hình có ghi tên và đơn vị của ba cháu. Đó cũng là dấu tích duy nhất về gốc gác của cô con gái nuôi yêu dấu của chúng tôi.
Tôi chưa kịp hỏi, ông đã đưa cho tôi tập album, và chỉ cho tôi một tấm ảnh đen trắng ngã màu vàng sậm, được dán ngay ở trang đầu. Nhìn tấm ảnh, tôi giật thót cả người, như đang bị mộng du vào một cõi xa xăm nào đó: hai người trong tấm ảnh chính là vợ chồng Nguyễn Thượng Tâm, người em mồ côi kết nghĩa mà chúng tôi đã lạc mất nhau trong những ngày cuối của một cuộc chiến huynh đệ tương tàn.
phạm tín an ninh
Câu chuyện Miệt Dưới:
Tường trình đặc biệt từ Úc châu: Tết ở Melbourne.
Mưa Buồn, Melbourne, Feb 05, 2008 Chợ Tết ở Footscray
Cali Today News - Xuân đã vê`! Xuân đã về!... Dù thời tiết xứ Úc đang vào mùa hè oi bức, nhưng nghe bài nhạc đón xuân về, người Việt xa xứ vẫn thấy lòng nôn nao. Ai mà không khỏi chạnh lòng khi nhớ đến những mùa xuân đầm ấm xa xưa nơi quê nhà.
Bầu không khí Tết ngày đó ngay cả bây giờ tại VN cũng không còn. Đó là những năm trước chiến tranh, khi mà xuân về, lòng người rộn rã với các bài “Xuân và Tuổi trẻ” của nhạc sĩ La Hối, hay bài “ Đón Xuân” của Pham Duy. Hình ảnh ông đồ già ngồi cặm cụi viết câu đối cuối phố là cái gì đặc trưng cho không khí Tết . Cây nêu , bánh chưng xanh vần còn ở Vn bây giờ. Nhưng tiếng pháo nổ đã từ lâu không còn được vang trên đất nước, ngay cả lúc thanh bình như hiện nay, khiến cái không gian Tết ngày xưa vẫn làm người ta lưu luyến và nhớ mãi.
May thay, cả chục năm nay, người Việt xa xứ ở Melbourne lại được đón giao thừa bằng những tràng pháo nổ suốt đêm. Người Việt ở Úc có khoảng 250 ngàn người, trong đó Melbourne có 85 ngàn, thường sống tập trung tại các khu phố buôn bán ở Footscray, Richmond, Springvale và St. Alban.
Dù bận rộn với cuộc sống, nhưng người Việt không quên ăn Tết. Cứ đến sau Tết Tây thì vào mỗi cuối tuần đều có tổ chức hội chợ Tết. Khi thì ở Richmond, tuần thì tại Footscray, tuần khác ở St. Alban. Nhưng chợ Tết lớn nhất do Cộng đồng tổ chức thường là vào gần ngày Tết. Có cái hay là các vị trong Ban Tổ chức biết đoàn kết để thay nhau tổ chức tại địa phương mình, chứ không phải mạnh ai nấy làm. Thành thử chợ Tết được trải dài trong suốt cuối tuần của tháng giêng, nên rất xôm tụ và vui vẻ.
Đêm giao thừa ở chùa Quang Minh
Chợ Tết Footscray đã được tổ chức vào ngày 27/01/08. Các con phố chính dẫn vào khu Thương mại Footscray đựơc ngăn xe chạy vào ngày này để lấy chỗ cho các gian hàng chợ Tết. Trên đường Hopkins và khu vực trước chợ Footscray náo nhiệt hẳn lên. Vào buổi chiều đã thấy rất đông người Việt tới vui Xuân. Các gian hàng thực phẩm tỏa mùi thơm ngào ngạt của thịt nướng, chả chiện. Xen kẽ là những gian hàng bán đĩa và băng nhạc, cùng những gian hàng trò chơi như ném phi tiêu, chọi banh, câu vòng vịt . Phía trước khu thương mại Bilo, bãi đậu xe được dùng cho các trò chơi cảm giác mạnh. Tiếng động cơ và tiếng thét của những người chơi nghe thật huyên náo của một ngày hội chợ .
Buổi chiều đã có cả mấy ngàn người đi chợ Tết, thì buổi tối trời mát, chắc còn đông hơn thế nữa. Tuần lễ trước đó, cũng có rất đông người Việt đến vui Xuân trên đường Victoria, khu Thương mại Richmond. Đường Victoria là một trong những con đường huyết mạch dẫn về Trung tâm thành phố Melbourne, nhưng đã được chận lại một khúc để chúng ta tổ chức hội chợ. Đủ thấy Cộng đồng có tiếng nói đáng kể ở Hội đồng Thành phố và Chính quyền Úc đã tôn trọng và khuyến khích người di dân tổ chức lễ hôi theo phong tục tập quán của mình.
Năm nay, chợ Tết của Cộng đồng người Việt Tự do Victoria sẽ được tổ chức trong ba ngày: thứ Sáu 08/02, thứ Bảy 09/02 và Chủ nhật 10/02 tại Sandown Racecource and Entertainment Centre, vùng Springvale. Nơi này thì khá xa thành phố, vì mấy năm gần đây, việc tìm được một chỗ để tổ chức hội chợ cho mấy chục ngàn người, không phải là chuyện dễ. Lúc trước, Cộng đồng chúng ta tổ chức ở Dockland, nhưng nơi này đang xây dựng nên không cho thuê muớn để tổ chức hội chợ nữa. Còn Melbourne Show, nơi tổ chức ngày lễ hội Thú Vật truyền thống của Úc, thì tiền thuê khá mắc. Hơn nữa phải chịu nhiều điều kiện khắc khe của Ban Điều hành, nên cuối cùng, Cộng đồng phải tìm một nơi xa hơn, nhưng thích hợp với túi tiền và có nhiều điều kiện dễ dàng cho sinh hoạt hơn.
Chợ Tết ở Richmond
Vì chợ Tết này là ngày hội lớn nhất do Cộng đồng tổ chức nên sẽ có nhiều quan khách Úc tham dự . Ngoài các gian hàng và trò chơi , hội chợ còn là dịp để giới thiệu nếp sống văn hóa của người Việt, nên có nhiều tiết mục văn nghệ do các ca sĩ đến từ Hoa kỳ. Các phòng triễn lãm trưng bày về nếp sống người tỵ nạn, về lịch sử oai hùng chống Cộng của quân dân miền Nam, về các thú chơi tao nhã như nghệ thuật trồng cây Bonsai. Ngoài ra, còn có lễ phát thưởng cho các em đạt thành tích xuất sắc nhất trong kỳ thi tốt nghiệp Trung học phổ thông VCE.
Việc vui xuân của người Việt Melbourne lên đến đỉnh điểm vào đêm giao thừa ở các chùa chiền và nhà thờ. Vì ngày tết VN thường được các công ty và hãng xưởng cho phép công nhân gốc Việt được xin nghỉ vào ngày đó, nên người Việt có điều kiện hưởng xuân “tới bến”. Một trong những nơi được ưa chuộng để đón giao thừa là nhà thờ Vinh sơn Liêm và chùa Quang Minh. Chùa này năm trên khu đất rộng ở vùng Braybrook, gần với Footscray, thủ đô tỵ nạn của người Việt Melbourne.
Từ 8g tối, các con đường dẫn đến chùa đều ứ nghẹt. Nhiều người phải đậu xe từ xa để đi bộ. Gần đến nơi đã nghe vang lên âm thanh huyên náo của các gian hàng chợ tết và trò chơi gần khuôn viên chùa. Buổi tối giao thừa có chương trình văn nghệ bởi các ca sĩ cây nhà lá vườn. Trước giao thừa nửa tiếng , đội lân 12 con đã rộn rã nhảy múa trên khán đài. Đến đúng giờ giao thừa, 5 phong pháo dài treo trên cổng chùa thi nhau nổ đì đùng nghe rất vui tai và xác pháo thấm đỏ cả sân chùa. Mọi người bắt tay chúc tụng nhau trong mùi thơm ngào ngạt của pháo và nhan đèn. Thoảng bên tai, tiếng tụng kinh,gõ mõ, cầu mong một năm mới an bình đến cho mọi nhà. Khách du xuân có thể tận hưởng cuộc vui đến sáng ở chùa hoặc tản bộ dọc theo khu dân cư người Viêt gần đó, để xem múa lân, đốt pháo do các gia chủ mời đội lân tới xông đất lấy hên.
Quả thật, những hương vị ngày tết năm nào ở quê nhà, mới thực sự được tìm thấy nơi đây.
Mưa Buồn, Melbourne
Một vòng Thời sự Úc châu
* Thủ tướng Úc, Kevin Rudd, đã sửa sọan bài diễn văn để đọc trong ngày 13 tháng 2 tới đâ,y về việc xin lỗi người Thổ dân trong thiện chí muốn bày tỏ sự hòa giải thật sự với họ.
Điều này là một bước tiến đáng kể cùa tân chính phủ Úc, vì truớc đó, cựu Thủ tướng J. Howard đã nhiều lần bác bỏ việc xin lỗi (apology) người Thổ dân về những đau khổ mà người Thổ dân phải hứng chịu do lỗi lầm của thế hệ Cha ông. Tuy nhiên, ông Rudd cho biết, sự xin lỗi này không thể được diễn dịch sai lầm là bước mở đầu cho việc đòi bồi thường cho người Thổ dân. Chính phủ sẽ không dự trù bất cứ Quỹ hay ngân khỏan nào cho việc bồi thường, nếu xảy ra.
* Đảng chủ trương kỳ thị, Australia First, đã làm khuấy động sự sợ hãi của dân cư trong vài vùng ở Sydney với việc gia tăng những hành động chống người di dân đến từ các nuớc Hồi giáo Trung đông. Gần đây họ đã tụ tập nhau lại để tuyên chiến với người di dân. Đồng phục của họ là áo thun đen với hàng chữ trước ngực “ Nói tiếng Anh hoặc chết”. Ngoài thành tích gây rối trật tự vào năm 2005 ở Cronulla, đảng này đang chống lại kế họach xây dựng một trường học dành cho người Hồi giáo tại vùng Camden, ngọai ô Sydney.
* Chính phủ Liên bang Úc đã cảnh cáo là sẽ dùng các phương tiện luật pháp để
chống lại công dânÚc, David Hicks, nếu các ủng hô viên đang muốn lợi dụng để thu lợi qua việc bán hồi ký. Hicks đang được trên 30 cơ sở báo chí trên thê giới đề nghị mua lại quyển hồi ký về việc bị bắt ở A phú hãn và những ngày sống trong lao tù ở Guantanamo về tội tình nghi khủng bố. Anh này đã được Mỹ trao trả cho Chính phủ Úc và được một Tòa án ở Adelaide phóng thích vào tháng 12/07, sau khi Chính phủ Liên bang và Nam Úc đã đạt được điều khỏan luật về việc xuất bản hồi ký để thu lợi nhuận của công dân này là bất hợp pháp.
Cảnh vật quán xá Melbourne
Hanging Rock
Nằm cách Melbourne 80 kms về phía Bắc, Hanging Rock có thể dễ dàng tìm thấy trên Calder freeway. Nguyên thủy nó là ngọn núi lửa đã hết phun. Độ cao cách mặt biển 718 mét .Đá ở đây thuộc loại quý hiếm chỉ tìm thấy được ở vài ba nơi trên thế giới.
Khu núi lửa này trở nên nổi tiếng và hấp dẫn khách du lịch khi cuốn phim “Picnic at Hanging Rock” của đạo diễn Peter Weir ra đời năm 1975, dựa trên quyển tiểu thuyết cùng tên . Nó đã trở thành cuốn phim đầu tiên của Úc được trình chiếu tại các Đại hội Điện ảnh ngoại quốc. Và sau đó đã đi vào lịch sử làng phim nhựa Úc khi được nổi tiếng trên thế giới.
Để lên Hanging Rock, du khách phải leo các bậc tam cấp như đường lên động Hương Tích, Chùa Hương. Trên đường dốc đá quanh co, du khách sẽ được ngắm nhìn các tảng đá hình thù quái dị, có tảng được thiên nhiên xếp chồng lên nhau, nằm cheo leo giữa trời. Leo dược lên tới đỉnh, du khách sẽ được ngắm nhìn khung cảnh bát ngát trời mây , mê hoặc lòng người ,y như khu núi đá thiên nhiên Ngũ hành sơn ở miền Trung Việt nam.
Sau khi đi thám hiểm các tảng đá đã mệt nhoài, du khách có thể trở về nằm dài trên bãi cỏ phía dưới, bên các lò nướng BBQ ngạt ngào, để rồi cùng chung với gia đình nhâm nhi những miếng sườn nướng thơm lừng và nốc vài lon bia thì có gì thú vị bằng.
Tường trình đặc biệt từ Úc châu: Tết ở Melbourne.
Mưa Buồn, Melbourne, Feb 05, 2008 Chợ Tết ở Footscray
Cali Today News - Xuân đã vê`! Xuân đã về!... Dù thời tiết xứ Úc đang vào mùa hè oi bức, nhưng nghe bài nhạc đón xuân về, người Việt xa xứ vẫn thấy lòng nôn nao. Ai mà không khỏi chạnh lòng khi nhớ đến những mùa xuân đầm ấm xa xưa nơi quê nhà.
Bầu không khí Tết ngày đó ngay cả bây giờ tại VN cũng không còn. Đó là những năm trước chiến tranh, khi mà xuân về, lòng người rộn rã với các bài “Xuân và Tuổi trẻ” của nhạc sĩ La Hối, hay bài “ Đón Xuân” của Pham Duy. Hình ảnh ông đồ già ngồi cặm cụi viết câu đối cuối phố là cái gì đặc trưng cho không khí Tết . Cây nêu , bánh chưng xanh vần còn ở Vn bây giờ. Nhưng tiếng pháo nổ đã từ lâu không còn được vang trên đất nước, ngay cả lúc thanh bình như hiện nay, khiến cái không gian Tết ngày xưa vẫn làm người ta lưu luyến và nhớ mãi.
May thay, cả chục năm nay, người Việt xa xứ ở Melbourne lại được đón giao thừa bằng những tràng pháo nổ suốt đêm. Người Việt ở Úc có khoảng 250 ngàn người, trong đó Melbourne có 85 ngàn, thường sống tập trung tại các khu phố buôn bán ở Footscray, Richmond, Springvale và St. Alban.
Dù bận rộn với cuộc sống, nhưng người Việt không quên ăn Tết. Cứ đến sau Tết Tây thì vào mỗi cuối tuần đều có tổ chức hội chợ Tết. Khi thì ở Richmond, tuần thì tại Footscray, tuần khác ở St. Alban. Nhưng chợ Tết lớn nhất do Cộng đồng tổ chức thường là vào gần ngày Tết. Có cái hay là các vị trong Ban Tổ chức biết đoàn kết để thay nhau tổ chức tại địa phương mình, chứ không phải mạnh ai nấy làm. Thành thử chợ Tết được trải dài trong suốt cuối tuần của tháng giêng, nên rất xôm tụ và vui vẻ.
Đêm giao thừa ở chùa Quang Minh
Chợ Tết Footscray đã được tổ chức vào ngày 27/01/08. Các con phố chính dẫn vào khu Thương mại Footscray đựơc ngăn xe chạy vào ngày này để lấy chỗ cho các gian hàng chợ Tết. Trên đường Hopkins và khu vực trước chợ Footscray náo nhiệt hẳn lên. Vào buổi chiều đã thấy rất đông người Việt tới vui Xuân. Các gian hàng thực phẩm tỏa mùi thơm ngào ngạt của thịt nướng, chả chiện. Xen kẽ là những gian hàng bán đĩa và băng nhạc, cùng những gian hàng trò chơi như ném phi tiêu, chọi banh, câu vòng vịt . Phía trước khu thương mại Bilo, bãi đậu xe được dùng cho các trò chơi cảm giác mạnh. Tiếng động cơ và tiếng thét của những người chơi nghe thật huyên náo của một ngày hội chợ .
Buổi chiều đã có cả mấy ngàn người đi chợ Tết, thì buổi tối trời mát, chắc còn đông hơn thế nữa. Tuần lễ trước đó, cũng có rất đông người Việt đến vui Xuân trên đường Victoria, khu Thương mại Richmond. Đường Victoria là một trong những con đường huyết mạch dẫn về Trung tâm thành phố Melbourne, nhưng đã được chận lại một khúc để chúng ta tổ chức hội chợ. Đủ thấy Cộng đồng có tiếng nói đáng kể ở Hội đồng Thành phố và Chính quyền Úc đã tôn trọng và khuyến khích người di dân tổ chức lễ hôi theo phong tục tập quán của mình.
Năm nay, chợ Tết của Cộng đồng người Việt Tự do Victoria sẽ được tổ chức trong ba ngày: thứ Sáu 08/02, thứ Bảy 09/02 và Chủ nhật 10/02 tại Sandown Racecource and Entertainment Centre, vùng Springvale. Nơi này thì khá xa thành phố, vì mấy năm gần đây, việc tìm được một chỗ để tổ chức hội chợ cho mấy chục ngàn người, không phải là chuyện dễ. Lúc trước, Cộng đồng chúng ta tổ chức ở Dockland, nhưng nơi này đang xây dựng nên không cho thuê muớn để tổ chức hội chợ nữa. Còn Melbourne Show, nơi tổ chức ngày lễ hội Thú Vật truyền thống của Úc, thì tiền thuê khá mắc. Hơn nữa phải chịu nhiều điều kiện khắc khe của Ban Điều hành, nên cuối cùng, Cộng đồng phải tìm một nơi xa hơn, nhưng thích hợp với túi tiền và có nhiều điều kiện dễ dàng cho sinh hoạt hơn.
Chợ Tết ở Richmond
Vì chợ Tết này là ngày hội lớn nhất do Cộng đồng tổ chức nên sẽ có nhiều quan khách Úc tham dự . Ngoài các gian hàng và trò chơi , hội chợ còn là dịp để giới thiệu nếp sống văn hóa của người Việt, nên có nhiều tiết mục văn nghệ do các ca sĩ đến từ Hoa kỳ. Các phòng triễn lãm trưng bày về nếp sống người tỵ nạn, về lịch sử oai hùng chống Cộng của quân dân miền Nam, về các thú chơi tao nhã như nghệ thuật trồng cây Bonsai. Ngoài ra, còn có lễ phát thưởng cho các em đạt thành tích xuất sắc nhất trong kỳ thi tốt nghiệp Trung học phổ thông VCE.
Việc vui xuân của người Việt Melbourne lên đến đỉnh điểm vào đêm giao thừa ở các chùa chiền và nhà thờ. Vì ngày tết VN thường được các công ty và hãng xưởng cho phép công nhân gốc Việt được xin nghỉ vào ngày đó, nên người Việt có điều kiện hưởng xuân “tới bến”. Một trong những nơi được ưa chuộng để đón giao thừa là nhà thờ Vinh sơn Liêm và chùa Quang Minh. Chùa này năm trên khu đất rộng ở vùng Braybrook, gần với Footscray, thủ đô tỵ nạn của người Việt Melbourne.
Từ 8g tối, các con đường dẫn đến chùa đều ứ nghẹt. Nhiều người phải đậu xe từ xa để đi bộ. Gần đến nơi đã nghe vang lên âm thanh huyên náo của các gian hàng chợ tết và trò chơi gần khuôn viên chùa. Buổi tối giao thừa có chương trình văn nghệ bởi các ca sĩ cây nhà lá vườn. Trước giao thừa nửa tiếng , đội lân 12 con đã rộn rã nhảy múa trên khán đài. Đến đúng giờ giao thừa, 5 phong pháo dài treo trên cổng chùa thi nhau nổ đì đùng nghe rất vui tai và xác pháo thấm đỏ cả sân chùa. Mọi người bắt tay chúc tụng nhau trong mùi thơm ngào ngạt của pháo và nhan đèn. Thoảng bên tai, tiếng tụng kinh,gõ mõ, cầu mong một năm mới an bình đến cho mọi nhà. Khách du xuân có thể tận hưởng cuộc vui đến sáng ở chùa hoặc tản bộ dọc theo khu dân cư người Viêt gần đó, để xem múa lân, đốt pháo do các gia chủ mời đội lân tới xông đất lấy hên.
Quả thật, những hương vị ngày tết năm nào ở quê nhà, mới thực sự được tìm thấy nơi đây.
Mưa Buồn, Melbourne
Một vòng Thời sự Úc châu
* Thủ tướng Úc, Kevin Rudd, đã sửa sọan bài diễn văn để đọc trong ngày 13 tháng 2 tới đâ,y về việc xin lỗi người Thổ dân trong thiện chí muốn bày tỏ sự hòa giải thật sự với họ.
Điều này là một bước tiến đáng kể cùa tân chính phủ Úc, vì truớc đó, cựu Thủ tướng J. Howard đã nhiều lần bác bỏ việc xin lỗi (apology) người Thổ dân về những đau khổ mà người Thổ dân phải hứng chịu do lỗi lầm của thế hệ Cha ông. Tuy nhiên, ông Rudd cho biết, sự xin lỗi này không thể được diễn dịch sai lầm là bước mở đầu cho việc đòi bồi thường cho người Thổ dân. Chính phủ sẽ không dự trù bất cứ Quỹ hay ngân khỏan nào cho việc bồi thường, nếu xảy ra.
* Đảng chủ trương kỳ thị, Australia First, đã làm khuấy động sự sợ hãi của dân cư trong vài vùng ở Sydney với việc gia tăng những hành động chống người di dân đến từ các nuớc Hồi giáo Trung đông. Gần đây họ đã tụ tập nhau lại để tuyên chiến với người di dân. Đồng phục của họ là áo thun đen với hàng chữ trước ngực “ Nói tiếng Anh hoặc chết”. Ngoài thành tích gây rối trật tự vào năm 2005 ở Cronulla, đảng này đang chống lại kế họach xây dựng một trường học dành cho người Hồi giáo tại vùng Camden, ngọai ô Sydney.
* Chính phủ Liên bang Úc đã cảnh cáo là sẽ dùng các phương tiện luật pháp để
chống lại công dânÚc, David Hicks, nếu các ủng hô viên đang muốn lợi dụng để thu lợi qua việc bán hồi ký. Hicks đang được trên 30 cơ sở báo chí trên thê giới đề nghị mua lại quyển hồi ký về việc bị bắt ở A phú hãn và những ngày sống trong lao tù ở Guantanamo về tội tình nghi khủng bố. Anh này đã được Mỹ trao trả cho Chính phủ Úc và được một Tòa án ở Adelaide phóng thích vào tháng 12/07, sau khi Chính phủ Liên bang và Nam Úc đã đạt được điều khỏan luật về việc xuất bản hồi ký để thu lợi nhuận của công dân này là bất hợp pháp.
Cảnh vật quán xá Melbourne
Hanging Rock
Nằm cách Melbourne 80 kms về phía Bắc, Hanging Rock có thể dễ dàng tìm thấy trên Calder freeway. Nguyên thủy nó là ngọn núi lửa đã hết phun. Độ cao cách mặt biển 718 mét .Đá ở đây thuộc loại quý hiếm chỉ tìm thấy được ở vài ba nơi trên thế giới.
Khu núi lửa này trở nên nổi tiếng và hấp dẫn khách du lịch khi cuốn phim “Picnic at Hanging Rock” của đạo diễn Peter Weir ra đời năm 1975, dựa trên quyển tiểu thuyết cùng tên . Nó đã trở thành cuốn phim đầu tiên của Úc được trình chiếu tại các Đại hội Điện ảnh ngoại quốc. Và sau đó đã đi vào lịch sử làng phim nhựa Úc khi được nổi tiếng trên thế giới.
Để lên Hanging Rock, du khách phải leo các bậc tam cấp như đường lên động Hương Tích, Chùa Hương. Trên đường dốc đá quanh co, du khách sẽ được ngắm nhìn các tảng đá hình thù quái dị, có tảng được thiên nhiên xếp chồng lên nhau, nằm cheo leo giữa trời. Leo dược lên tới đỉnh, du khách sẽ được ngắm nhìn khung cảnh bát ngát trời mây , mê hoặc lòng người ,y như khu núi đá thiên nhiên Ngũ hành sơn ở miền Trung Việt nam.
Sau khi đi thám hiểm các tảng đá đã mệt nhoài, du khách có thể trở về nằm dài trên bãi cỏ phía dưới, bên các lò nướng BBQ ngạt ngào, để rồi cùng chung với gia đình nhâm nhi những miếng sườn nướng thơm lừng và nốc vài lon bia thì có gì thú vị bằng.

HOA MAI
Trần Tuấn Mẫn
Hoa mai đẹp. Ở miền Nam chỉ thấy có mai vàng, thật hiếm có mai trắng và thật hiếm thấy mai trắng nở hoa. Hoa vàng thì nhiều, rất nhiều, năm cánh, sáu bảy cảnh, hoặc mới đây có hoa mười lăm mười bảy cánh, vàng đậm, vàng tươi, rực rỡ trong ngày Xuân và thiêng liêng như hồn Xuân vậy. Người trồng mai nếu không tính toán kỹ thì có thể mai nở trước Tết hoặc sau Tết. Vậy nếu để tự nhiên, hoa mai sẽ nở vào lúc nào?
Nguyễn Gia Thiều có câu thơ nói về mai:
Gió đông thôi đã cợt đào ghẹo mai Gió đông là gió mùa Đông hay gió Xuân (mùa xuân thuộc phương đông, đông phong là gió xuân)? Vịnh hoa mai, vua Lê Thánh Tông viết:
Đa thiểu Quỳnh lâm Xuân tín tảo
Phong tiền thác lạc ngọc thiên chu.
(Bao mấy rừng Quỳnh tin xuân sớm
Tung bay trước gió ngọc ngàn cây)
Tin Xuân sớm nghĩa là vào lúc đang đông, vậy là hoa mai nở vào cuối đông.
Nhưng hoa mai mà các thi nhân ngày xưa ca tụng là mai trắng hay mai vàng? Tôi nghĩ là miền Bắc không có mai vàng vì đến nay tôi vẫn nghe nhiều người nói như thế. Được biết trước kia ở ngoại ô Hà Nội có xã Hoàng Mai và xã Bạch Mai, nay thuộc quận Hai Bà Trưng, lại có bệnh viện Bạch Mai. Vậy mai trắng hẳn là có ở đất Bắc nhưng mai vàng liệu có ở Hoàng Mai hay nơi nào khác?
Vua Lê Thánh Tông bảo hoa mai là “thanh hương diễm sắc” (hương nhẹ nhàng, sắc mỹ lệ) và có câu “nguyệt hạ phù hương nhập mộng vô” (Dưới nguyệt, hương vào cõi mộng không – bài Mai hoa thi, Quỳnh Uyển Cửu Ca). Mai ở đây là mai trắng, vì bài họa của Thân Nhân Trung có hai câu:
Cô xạ thiên tiên tiết tháo cô
Phục phi tố luyện, bội minh châu
(Tiết tháo tột cùng, tiên núi Cô
Khoác y lụa trắng, ngọc ngời phô) Lụa trắng (tố luyện) nhằm trỏ sắc hoa, còn hương thì nhẹ nhàng thanh thoát, cho nên sách Tỳ Nhã bảo: “Mai ưu ư hương, đào ưu ư sắc” (Mai ưu thắng do mùi hương, đào ưu thắng do màu sắc). Mùi hương tinh khiết này được Thôi Nhật Dụng nhắc đến:
Khúc trì đài sắc băng tiền dịch
Thượng uyển mai hương tuyết lý phiêu
(Rêu nơi ao Khúc in băng lạnh
Mai chốn vườn Vua ngát tuyết trong) Nguyễn Trãi cũng ca tụng sự thanh khiết của hoa mai kèm với hình ảnh tuyết trắng:
Ái mai, ái tuyết, ái duyên hà
Ái duyên tuyết bạch, mai thanh khiết.
(Yêu mai, yêu tuyết bởi vì sao
Bởi vì tuyết trắng, mai thanh khiết.)
(Ức Trai thi tập, Đề Hoàng Ngự sử Mai Tuyết hiên)
Bà Huyện Thanh Quan nêu lên hình ảnh đẹp của rừng mai bát ngát:
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi
Dặm liễu sương sa khách bước dồn. Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng có khoảng 20 câu thơ nhắc đến mai. Trong bộ tam tùng, trúc,mai, mai được xem là của mùa đông cùng với tùng, trúc. Trong bộ tứ mai, lan, cúc, trúc, mai lại đại diện cho mùa xuân. Mai được rất nhiều nhà thơ nói đến theo tính ước lệ, nhằm trỏ sự mảnh mai, tinh khiết, thanh cao hoặc nhằm trỏ người phụ nữ đẹp. Các thi sĩ nước ta ngày xưa vẫn thường tả mai theo ước lệ, lấy ý tưởng và hình ảnh mai của Trung Hoa để đưa vào thơ mình. Thế nhưng lắm khi cùng một tên hoa mà hoa ở Trung Quốc lại khác hoa ở Việt Nam, như trường hợp hoa mẫu đơn, hải đường, đỗ quyên, dương liễu… Hoa mai thì sao? Cứ xem tranh Tàu vẽ hoa mai ta thấy toàn là hoa trắng, giống với hoa mai trắng ở nước ta, dù cánh hoa có vẻ lớn hơn.
Việt Nam tân tự điển của Thanh Nghị nói về mai như sau: 1) Cây hoa có màu trắng hay vàng, cuối Đông nở hoa, lại chua thêm tiếng Pháp: Variéte de rosacées aux fleurs odorantes (thuộc loại hoa hồng, hoa có mùi thơm), và 2)Cây mơ,chua thêm tiếng Pháp: Prunier. Tra thêm chữ Mơ, ta thấy: cây thuộc loại mận, quả có vị chua (Abricotier). Tra đến chữ Mận: cây thuộc loại mơ, quả ăn được (Prunier). Thế là lại trở về mơ và có thêm mận và các từ abricoter, prunier. Abricotier và prunier của tiếng Pháp đồng nghĩa với apricot và prune của tiếng Anh. Tân tiêu chuẩn Anh Hán từ điển giải thích: cây apricot có trái màu vàng, có hột, có bà con với cây hạnh (chữ hạnh là chữ Hán chua thêm để giải thích từ plum). Tra chữ Plum: chỉ cho những loại quả có hạt và cây có quả ấy (lại có chua thêm các từ chữ Hán: mai, lý). Bây giờ ta lại trở về từ mai, lại có thêm từ lý! Hẳn ai cũng có lần gặp phải sự lẩn quẩn như thế này khi dò lần theo từ điển! Đang đi tìm mai lại gặp mận, mơ, lý, hạnh! Từ điển Webster giải thích: plum là một loại cây cao hoặc cây bụi, trái da mịn, có hình cầu hay hình trứng, mọng nước và có hạt hình chữ nhật; apricot là loại trái có hình trứng, màu cam, cây thuộc vùng ôn đới, trái có vị giống như đào (peach), mận (prune).
Các từ điển trên đều giải thích mai là loại cây có quả. Từ điển Từ Hải ghi: Mai là loại cây lớn; lại bảo: Mai là loại cây rụng lá, nở hoa vào đầu xuân, có hai loại đỏ và trắng. Loại trắng thì khi mới nở hoa có màu lục, cũng là loại lục ngạc mai (hoa mai có đài màu lục). Sau khi rụng lá, cây sinh hoa, (cánh) hoa hình trứng mà nhọn, viền răng cưa. Quả có vị chua, sau tiết lập hạ thì chín. Trái mới sinh có màu xanh, khi chín thì vàng.
Hán Việt tự điển của Thiều Chửu thì ghi: “Mai: cây mơ, đầu mùa xuân thì nở hoa, có hai loại trắng và đỏ”. Cây mơ cũng có hoa trắng như hoa mai nở vào đầu xuân; vậy có phải mai là mơ? Có lẽ thế nên ở Hà Nội, gần Bạch Mai có chợ Mơ. Trái mơ rất quen thuộc với người miền Bắc, trái mơ ngâm đường làm thức uống rất tốt. Kinh Thi lại có câu: “Nhược tác hòa canh, nhĩ duy diêm mai” (nếu cần hòa và canh, chỉ có mai ngâm muối (là ngon nhất).
Thiền sư Pháp Thường đắc pháp với ngài Mã Tổ qua câu “Tức tâm là Phật”, về tu ở núi Đại Mai, nơi có nhiều mai, nhân đó mới có hiệu là Đại Mai. Về sau Mã Tổ sai một vị Tăng đến dò hỏi Sư. Vị Tăng bảo rằng Mã Tổ không còn dạy rằng “Tức tâm là Phật” nữa, mà lại dạy “Chẳng phải tâm chẳng phải Phật”. Sư nói: “Lão già này cứ làm người ta mê loạn, không biết đến bao giờ mới thôi. Mặc cho các người “Chẳng phải tâm chẳng phải Phật”, ta đây cứ “Tức tâm tức Phật”. Nghe vị Tăng trở về thuật lại, Mã Tổ khen: “Quả mai đã chín” (Mai tử thục dã) – Xem Mã Tổ ngữ lục. Quả mai ở đây hẳn là quả mơ!
Hãy trở lại với hoa mai. Bài kệ của Đại sư Mãn Giác (1052-1069) đời Lý có hai câu kết rất nổi tiếng:
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai
(Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Trước sân, đêm trước một cành mai). Lắm người nghĩ rằng bài kệ trên là một bài thơ xuân, thậm chí là bài thơ vịnh hoa mai. Hai câu trên thường được in trên thiệp chúc Tết, bằng chữ Hán, thảo tự hoặc bằng “thư pháp” chữ Việt, có kèm tranh vẽ hình chụp một cành hoa mai vàng rực rỡ.
Theo Thiền uyển tập anh, Đại sư Mãn Giác tịch vào tháng 11 (năm 1096). Trước lúc Sư tịch, đồ chúng tụ tập quanh Sư, hẳn là ai cũng sầu thương. Sư đọc bài kệ thị tịch:
Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tùng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai (Xuân đi, trăm hoa rụng; Xuân đến, trăm hoa nở; Sự việc cứ qua trước mắt; Tuổi già đến trên đầu;…). Rõ ràng là nhân đồ chúng buồn thương vì Sư sắp tịch, Sư khuyên họ chớ buồn vì đời là vô thường, đó là lý tự nhiên. Xuân đi, xuân đến, hoa nở, hoa rụng ở đây không nhằm trỏ riêng mùa xuân mà chỉ giống như trăng tròn, trăng khuyết, mây tụ, mây tán, hết nắng lại mưa… đều là những biểu hiện tính vô thường, tự nhiên. Điều cần thiết là mọi người hãy cố gắng tu tập để nhận rõ cái chân tâm thường trụ của mình, đó là bản lai diện mục, pháp tính, Phật tính,… không hề tăng giảm, không hề tiêu mất.
Đêm trước một cành mai là sao? Đã bảo là xuân tàn hoa rụng hết, sao lại còn một cành mai? Sư tịch vào tháng 11, khi hoa mai chưa nở; khi xuân đến mai nở chỉ trong vài ngày, không lẽ xuân tàn vẫn còn hoa mai? Và nếu còn thì có ý nghĩa gì đâu? Không lẽ Sư khuyên mọi người hãy vui vì còn mấy bông hoa trên cành? Thế thôi sao? Cành mai ở đây là một cành của cây mai, không có hoa vì hoa đã rụng rồi; nhưng khả năng nở hoa, cái tính nở hoa của cành vẫn còn đó, không mất đi đâu cả, nó sẽ đơm hoa khi thời tiết nhân duyên đến, cũng như Phật tính vẫn có sẵn ở mỗi người, sẽ thể hiện vào một lúc nào đó thuận hợp. Có lẽ đây mới là cốt lõi của bài kệ.
Vì là bài kệ ứng khẩu, cũng như nhiều thiền sư khác, ngài Mãn Giác không cố ý làm thơ cho hay, ngài chỉ chợt nhớ, chợt nghĩ đến một ý tưởng, một hình ảnh cũ nào đó và ngài đưa vào bài kệ. Có lẽ ngài nhớ đến hai câu thơ trong bài ngũ ngôn tứ tuyệt Tảo mai của Hòa thượng Tề Kỷ đời Đường:
Tiền thôn thâm tuyết lý
Tạc dạ nhất chi khai
(Thôn trên dày tuyết phủ
Đêm trước nở cành mai) Cành mai của Tề Kỷ là cành mai nở sớm (tảo mai) trong đám tuyết dày cuối đông; cành mai của Mãn Giác là cành mai chỉ có lá, hoa đã rụng từ lâu vì bấy giờ xuân đã tàn. Cành mai của ngài Tề Kỷ thật đẹp đẽ, thanh khiết; cành mai của ngài Mãn Giác thật đầm ấm, vỗ về, lạc quan, tràn đầy hy vọng.
Những ngày cuối năm… Tôi vẫn thường quây quần với vài ba người bạn bên bàn với những tách cà phê đen đậm. Đám bạn bè cũ năm nọ với câu chuyện hoa mai đã tứ tán, nói theo kinh Bổn sinh, họ đã đi theo nghiệp của họ: đi làm ăn xa, bận bịu với công việc, nằm bệnh với tuổi già, không còn trên đời nữa hay đang hóa thân trong một kiếp sống mới…
Ly cà phê cạn, buồn tênh. Tuổi đời vẫn thêm, lắm khi không uống cạn hết ly đen, tôi vẫn mong mời rủ hay được mời rủ, cùng bằng hữu uống cà phê. Thì ra cái “sự cà phê” trong tôi vẫn còn đó. Xuân sắp đến, sẽ rực rỡ mai vàng, ai sẽ cùng tôi bên ly đắng?
THẾ GIỚI TÌNH YÊU - ASIA 57
Dương Hà & Vương Thư Sinh Hí viện Long Beach Terrace Theater tại miền Nam Cali hôm nay lại tưng bừng nhộn nhịp như ngày trẩy hội vì với hai xuất hát của Trung Tâm Asia trực tiếp thu hình cho DVD Asia 57 diễn ra trong không khí tưng bừng của mùa lễ lạc cuối năm 2007, quan khách đến tham dự thật đông đảo và đường vào parking lot xe vào tấp nập.
Nhìn vào poster Asia Show 57, những dòng chữ tạo cho người xem một ấn tượng với chủ đề nổi bật là ca ngợi "Thế Giới Tình Yêu". Tình yêu là đề tài gắn liền với con người muôn thuở. Cuộc sống không có tình yêu thì con người như vô vị, như khô héo, dù sự gắn bó đó là tình thương giữa ông bà, cha mẹ và con cái, tình yêu dành cho quê hương, đất nước, cho tha nhân, tình yêu dành cho tôn giáo và nhất là tình yêu về đôi lứa. Tình yêu vốn mang đặc tính trừu tượng nối kết hai tâm hồn hoặc là nối kết tâm hồn với yếu tố siêu hình hay tâm linh, như khi nói về quê hương hay tôn giáo.
Khắp mọi nơi trên mặt địa cầu thì mọi người đều đã diễn tả và biểu lộ tình yêu theo nhiều hình thức cá nhân, những cảm tính cá biệt, bằng cách này hay cách khác, tùy hoàn cảnh hay địa hình hay địa vật, tùy theo ngôn ngữ diễn tả, hay phong tục hoặc tập quán tùy mỗi nơi có thể khác nhau, nhưng chung quy thì vẫn có thể nói rằng tất cả dành cho những cảm xúc dâng tràn nội tâm hay những rung động bâng khuâng được phát xuất từ con tim, để trao cho nhau những lời nói ngọt ngào, hay dịu dàng từ đáy lòng, hay ít ra những cái liếc mắt đưa tình mà đối tượng có thể cảm xúc được. Cho nên từ những nguồn cảm hứng, những rung động thổn thức dạt dào mà những văn nhân, những thi sĩ, những nhạc sĩ thường đem hết khả năng và tim óc với sự đam mê, với hứng khởi, hoặc ngay cả những kinh nghiệm trên tình trường mà mình đã gặp dù hạnh phúc hay khổ đau để sáng tác để đời những tác phẩm ngọt ngào hay cay đắng. Nhạc tình chan chứa cả kho tàng âm nhạc, trong nhiều bài ca đó bây giờ được chương trình Asia 57 đem ra trình làng qua chủ đề rất luyến lưu "Thế Giới Tình Yêu". Chương trình đã diễn ra khá dài, hơn 5 tiếng đồng hồ, với 60 tiết mục bao gồm rất nhiều chi tiết về các bài hát, phỏng vấn ca sĩ, trình chiếu video clips tài liệu, hài kịch, những giai thoại về văn học, vinh danh những tác giả sáng tác, và tất cả được tóm tắt qua 27 bài hát tiêu biểu về nhạc chủ đề như đã nói.
Mở đầu là "Liên Khúc Tình Yêu" của hai nhạc sĩ Vũ Thành An và Trịnh Công Sơn do các ca sĩ trẻ của Trung tâm Asia trình diễn. Phần sân khấu được dàn dựng đẹp mắt. Bài hát "Paris Có gì Lạ Không Em", một trong những "top hits" của nhạc sĩ Ngô Thụy Miên, bài nhạc được phổ từ thơ của thi sĩ Nguyên Sa. Hãy nghe:
"Paris có gì lạ không em
Mai anh về, em có còn ngoan”
Và sự lãng mạn đáng yêu:
"Anh sẽ cầm lấy đôi bàn tay
Tóc em anh sẽ gọi là mây…
Ngày sau hai đứa mình xa cách
Anh vẫn được nhìn mây trắng bay"
Theo video clip trình chiếu, nhà thơ Nguyên Sa có tên thật là Trần Bích Lan, sinh năm 1932 sau là giáo sư Triết Học và hiệu trưởng tư thục Văn Học, cũng là giáo sư Ðại Học Văn Khoa ở Sài Gòn. Nguyên Sa là một trong những nhà thơ nổi bật của hậu bán thế kỷ 20. Thơ tình của Nguyên Sa vẫn là nét quyến rũ trong văn chương lãng mạn và mang nét nhạc tính. Theo lời tâm sự của nhạc sĩ Ngô Thụy Miên khi ông phổ nhạc bài thơ này như sau, trích từ trang Ðặc Trưng:
"Những năm 60, 70, bọn trẻ chúng tôi dù trưởng thành trong khói lửa chiến tranh, có ai không mơ một ngày được đặt chân đến Paris, được cùng người yêu dạo chơi phố phường Paris, hay lang thang bên bờ sông Seine nhớ đến một cuộc tình... Paris như một lời kêu gọi, một nơi chốn tìm về cõi tình yêu. Từ những mộng ước đó, bản nhạc thứ hai tôi phổ từ thơ Nguyên Sa đã thành hình. Có những bài thơ khi muốn phổ nhạc, người nhạc sĩ phải tìm điệu nhạc để chuyên chở ý thơ, hoặc phải thay đổi lời thơ để nhập vào ý nhạc... Riêng "Paris Có Gì Lạ Không Em" khi đọc lên tôi đã nghe phảng phất tiếng phong cầm rộn rã của nhịp 3 luân vũ. Trên phím dương cầm, giòng nhạc dồn dập, chạy dài trên 10 đầu ngón tay, tôi đã hoàn tất phổ bài thơ trong một ngày đầu xuân năm 1971".
Vào năm 1949 Nguyên Sa được gia đình gửi sang Pháp du học. Năm 1953 ông theo học Triết Học ở Đại học Sorbonne. Lập gia đình năm 1955 với cô Trịnh Thúy Nga ở Paris, đầu năm 1956, vợ chồng trở về Sài Gòn. Ông chọn Bút hiệu Nguyên Sa từ thời ở Pháp, mà ông giải thích rằng tất cả cuộc đời chỉ là một hạt cát, chữ Nguyên Sa có nghĩa là một hạt cát nguyên vẹn.
Giáo sư Trần Bích Lan từng dạy Triết cho nhiều trường trung học và Đại học Văn Khoa ở Saigon, sau này ông mở trường Văn Học trên đường Phan Thanh Giản. Năm 1966 nhập ngũ Khóa 24 Sĩ quan Trừ Bị Thủ Đức, phục vụ tại Trường Quốc Gia Nghĩa Tử từ năm 1967 đến tháng 4 năm 1975. Ông viết nhiều thể loại, từ truyện dài, truyện ngắn, sách nghiên cứu về Triết học, nhưng nổi tiếng nhất là những bài thơ tình lãng mạn mà ông viết cho người yêu và sau này trở thành người bạn đời mang tên Nga. Sau khi tỵ nạn sang Mỹ, ông định cư tại California và cộng tác với một số báo chí Việt ngữ, trước khi lập tờ báo riêng lấy tên là tạp chí Đời. Điều ít ai biết là ông rất yêu văn nghệ, và chủ trương một trung tâm băng nhạc cũng lấy tên là Đời. Chính ông là người sớm nhận ra tài năng của các tiếng hát trẻ, và góp công rất lớn trong việc giới thiệu những tên tuổi của thời đó như Hải Lý, Ngọc Lan và Tuấn Vũ.
Ông cùng với nhà văn Mai Thảo, được coi là hai cây cổ thụ của nền văn học nghệ thuật tại hải ngoại. Ông qua đời vào ngày 18 tháng 4 năm 1998, hưởng thọ 67 tuổi, trong niềm thương tiếc của mọi người.
Trong "Thế Giới Tình Yêu", nếu chúng ta nhìn sang nước láng giềng Thái Lan, nhạc Thái cũng mang âm điệu ngũ cung nên rất gần gủi với nhạc Việt Nam. Bài hát "Sabaay Sabaay" rất nổi tiếng của Thái Lan, được hát bởi nam ca sĩ Thongchai McIntyre, mà người Thái gọi anh chỉ bằng một cái tên duy nhất là "Bird", tức là "Chim". Người ca sĩ này thành công vượt bực khi có kỷ lục số dĩa hát được bán lên đến hàng triệu dĩa. "Sabaay Sabaay" là bài hát ca ngợi tình yêu, nó có nghĩa là "Tình Yêu Tình Yêu’’, mà nhạc sĩ Nam Lộc đã chuyển qua lời Việt, chứng tỏ tình yêu ở nơi nào cũng có những lưu luyến và thắm thiết như lời ca:
"Tình yêu, Tình yêu!
Tình như viên thuốc bọc đường
Dẫu đắng bên trong, vẫn cứ trông mong,
Vẫn luôn vấn vương trong lòng.
Người yêu, người yêu!
Người cho em biết thật nhiều.
Biết nói quanh co, biết nỗi âu lo.
Dẫu có anh bên lòng".
Thi sĩ Phong Sơn đặt bài thơ "Rất Huế" được nhạc sĩ Anh Bằng phổ nhạc. Tình yêu quê hương đất nước là tình cảm cao đẹp. Những năm gần đây thế giới chịu nhiều thiên tài vì hậu quả của sự hâm nóng địa cầu. Việt Nam là nước ven biển, nên cả 3 miền đất nước đều bị bão tố hoành hành. Gần đây miền Trung bị nạn bão lụt gây cho người dân khốn đốn, 5 lần bão lụt liên tiếp, mực nước sông Hương dâng cao 3 thước, cảnh đời khổ sở tại quê hương. Thiên tai liên tiếp khiến nhiều người dân đã nghèo lại càng nhọc nhằn hơn. Đó là hậu quả do thiên nhiên, video clip cũng cho thấy yếu tố con người gây ra, hay sự tắc trách của chế độ trong phạm vi quán xuyến xứ sở. Tại Cần Thơ, một tai nạn sập cầu thật đau thương đã xảy ra tại thủ đô của miền Tây, hay Tây Đô. Đó là cây cầu đang xây bị gẫy đổ, gây ra sự kinh hoàng và phẫn uất cho người dân, biến cố này được nhắc nhở qua bài hát "Chiều Tây Đô", như sự xót xa thống khổ từ đất mẹ, nhạc của Lam Phương.
Biến cố Dân Oan nói lên tình yêu quê hương, vấn nạn do sự tham lam và thái độ côn đồ của nhà cầm quyền. Bài hát "Khóc Mẹ Dân Oan" của Mặc Thiện được phổ biến từ trong xứ, kèm theo với đoạn video clip minh họa là phần trình diễn của ca sĩ Như Quỳnh.
Một vấn đề thời sự quan trọng trong nước đã được đồng hương hải ngoại chú ý theo dõi là trong suốt diễn trình đấu tranh cho lý lẽ công bằng qua sự việc "Dân Oan Khiếu Kiện". Thực tế đó là khi những người dân thấp cổ bé miệng ở trong nước nhất là ở những vùng nông thôn bất mãn, phẫn nộ vì đã bị những cán bộ thế lực như những quan chức tư bản đỏ, sách nhiễu, nhũng lạm quyền hành, đã cướp nhà cửa, ruộng vườn của họ từ nhiều năm qua để làm giàu bất chính trên xương máu nhân dân. Người dân đen không những không được chánh quyền bảo vệ đoái hoài đến, không giải quyết thỏa đáng mà ngược lại, họ còn bị Công an chèn ép, hành hung tàn nhẫn, quê hương như đắm chìm trong sự bất công. Câu chuyện cảm động khi nguồn gốc của bài nhạc ra đời trong bối cảnh chua xót của nạn Dân Oan.
Buổi chiều ngày 2 tháng 9 nhạc sĩ Mặc Thiện từ Qui Nhơn đã gọi điện thoại đến người bạn của anh đang viết trang nhật ký trên mạng, anh vừa khóc vừa tâm sự như sau:
“Bạn ơi, tôi là Mặc Thiện đây, tôi không làm gì được cho đồng bào Dân Oan Khiếu Kiện, họ đang khổ đau vì bị đàn áp, tôi chỉ có thể hát lên khúc "Hát Trong Uất Hận". Vì tôi hận những kẻ vô lương tâm, những kẻ cướp bóc giữa ban ngày. Miệng chúng thì hô khẩu hiệu công bằng xã hội, mà lại thẳng tay bóc lột đồng bào không chút lòng xót thương. Chúng là kẻ "vừa đánh trống vừa ăn cướp".
Và nhạc sĩ Mặc Thiện đã gởi cho người bạn đó ca khúc "Khóc Mẹ Dân Oan" để nhờ phổ biến rộng rãi, anh coi đây như một lời tạ tội đối với những người Mẹ Việt Nam, anh xót thương nhưng bất lực không làm gì để cứu giúp họ. Đau xót thay cho những người mẹ đã cống hiến cả cuộc đời mình cho đàn con, để hôm nay nhận sự "trả ơn trong sự vô ơn", không chút lương tâm khi các con mình đã đạt được mục đích tối hậu rồi, khi nắm được quyền hành sinh sát đất nước trong tay, "đàn con nay trở thành mất dạy", nhẫn tâm quay về cướp bóc, trấn lột hết cả gia tài của mẹ.
Nhạc sĩ Mặc Thiện cũng thố lộ thêm rằng:
"Nếu trong mỗi chúng ta không thể có một hành động nào, và nếu cũng không thể nói lên những tiếng nói cứu Mẹ thì xin hãy cất lên một tiếng hát... khóc. Khóc cho Mẹ và khóc cho quê hương lầm than khốn khổ".

"Một ngày trần gian khóc thương mẹ dân oan
Ngại gì sương gió nuôi con qua khổ nạn
Nay con sang giàu mẹ sống cảnh lầm than
Đời oan trái đã gieo bao oán hờn
Cưu mang con rồi nay con phủi công ơn
Vườn ruộng đất nhà tranh con hoán đổi
Mẹ sống sao đây khi đổi mười lấy một?
Mẹ đòi công lý chịu thêm nhiều uất hận
Hận kẻ vô tâm mẹ phơi thân giữa bão bùng
Trời lạnh giá tấm bạt thô không giữ được
Gió lùa mưa vào lạnh thấu cả tâm can
Tay mẹ run run đôi chân không vững được
Biết bám víu vào đâu khi mẹ tỏ tường đời?"
Asia 57 nêu lên vấn nạn khác của xã hội Việt Nam qua bài hát "Đêm Mưa". Nạn buôn người từ Việt Nam mà thế giới cố gắng ngăn chận. Danh dự của dân tộc Việt Nam bị sỉ nhục khi phẩm hạnh của phụ nữ Việt Nam bị buôn bán như những món hàng. Những cô gái còn non trẻ ở trong nước đã và đang tiếp tục bị bán đi sang các nước Đài Loan, Nam Hàn, Singapore, v.v. Những hình ảnh của những em bé không nhà không cửa đang nằm co quắp ngủ ngay bên cạnh lề đường, hình ảnh của những bà mẹ già lọm khọm đẩy xe hoặc quẩy những gánh hàng đi bán dạo để kiếm miếng ăn qua ngày, lại đến những cô gái trẻ trở thành những kẻ buôn hương bán phấn, bán trôn nuôi miệng trong một xã hội Việt Nam Cộng sản vô kỹ luật là một thực tế phủ phàng của ngày hôm nay.
Khắc khoải với những trường hợp như vậy nên nhạc sĩ trẻ Tuấn Khanh đã sáng tác ra nhạc phẩm "Đêm Mưa". Bản nhạc này đã diễn tả những nỗi niềm u uất, khổ đau của những kẻ khốn cùng đang lang thang trong đêm tối giữa chợ đời. Lời ca nhuốm âm vang cô liêu, u hoài. Này mưa hết với những giấc mơ, mẹ thảnh thơi quên hết âu lo, và tôi mơ đến những sớm mai, người em gái bỗng thấy tương lai. Và tôi mơ nhắm mắt cứ mơ, bầy trẻ thơ thôi hết bơ vơ, rồi tôi mơ đến những sớm mai, người yêu nhau quên hết thương đau. Phải chăng tác giả hy vọng sau cơn mưa thì trời lại sáng?

"Có khi đêm dài không hết
Mắt xanh ngó lên trần đời
Tự dưng sao lòng buồn thiu
Ôi tháng năm hao mòn yêu dấu
Người về tìm người nơi đâu
Bỗng dưng mắt cay giọt sầu
Ôi trăm năm nhân thế hát theo điệu buồn
Thì xin yêu thương nhau nhé cho đời vơi cay
Này mưa hết với những giấc mơ
Mẹ thảnh thơi quên hết âu lo
Và tôi mơ đến những sớm mai
Người em gái bỗng thấy tương lai
Và tôi mơ nhắm mắt cứ mơ
Bầy trẻ thơ thôi hết bơ vơ
Rồi tôi mơ đến những sớm mai
Người yêu nhau quên hết thương đau" Xem chương trình Asia 57 khán thính giả đã như được đắm chìm vào thế giới của Tình Yêu mộng ảo ở khắp mọi nơi với nhiều khía cạnh khác nhau của tình yêu qua những phong cảnh được dàn dựng hài hòa trên sân khấu, hay qua những thước phim thời sự mà nội dung chứa chan tình yêu đau khổ có những bà mẹ "dân oan" mang một hình ảnh khổ đau nhọc nhằn, rồi có những mảnh đời bất hạnh của những kẻ nghèo khó bị xã hội ruồng bỏ, lại còn có những cái chết oan ức của nhiều người dân trong nước vì thiên tai hay vì hậu quả từ bản sắc của chế độ cầm quyền.
Những giờ phút cuối của Asia 57 không quên nhắc nhở biến cố đau khổ của dân tộc: Hoàng Sa và Trường Sa. Sự lưu tâm và suy gẫm thật nhiều dù cho chúng ta đang sinh sống ở bất cứ phương trời nào, hoặc ngay cả đồng bào trong nước, tất cả đều có mẫu số chung là một nỗi xót xa cho quê hương Việt Nam mất mát. Một khi lãnh thổ của đất nước Việt Nam đang bị xâm phạm, hồn Việt tộc dâng cao. Những tin tức cho biết là Trung Cộng đã ngang nhiên cưỡng chiếm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, mà từ bao đời đã có chủ quyền của dân tộc Việt Nam. Những căm phẫn, tủi nhục dâng trào khắp nơi khi biết rằng qua những hồ sơ, văn kiện còn lưu trữ, chính những nhà lãnh đạo Việt Cộng đã đem dâng các hải đảo này cho nước đàn anh Trung Cộng từ lâu. Khi người dân đứng lên phản đối Trung Cộng, nhà cầm quyền Việt Nam cấm cản. Một chế độ nhu nhược, vô dụng hiện đang cai trị quê hương. Yếu tố Hoàng Sa, Trường Sa trong show Asia 57 khiến người xem quyến luyến với tình yêu quê hương, tình yêu đất nước.
oOo
Với chủ đề "Thế Giới Tình Yêu", chương trình Asia 57 mang đến cho khán thính giả những tiết mục chọn lọc đặc sắc, mà trong đó chúng ta mỗi người sẽ tìm lại được những kỷ niệm ở mọi lứa tuổi của chính mình đã đi qua, từ khi mới bắt đầu biết yêu đương hay ngay cả ở lứa tuổi buồn thảm đã về chiều, hay ngả nghiêng ở cuối nẽo đường đời cũng vẫn mang xúc cảm được tình yêu thương nhớ hay những gắn bó day dứt. Như biến cố mất đất đai vào tay ngoại xâm, bài hát diễn tả về tình yêu quê hương, tình yêu đất nước mà tiêu biểu là bài "Tình Ca", tâm tư rung động qua những tình tự dân tộc dạt dào, "Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi. Mẹ hiền ru những câu xa vời. À à ơi ! Tiếng ru muôn đời."
Quê hương hùng vĩ, quê hương bất khả phân ly, quê hương không thể đổi chác. Từ tiếng ru à ơi của những bà mẹ bên chiếc nôi yêu dấu đến những tiếng khóc, tiếng cười, theo vận nước nổi trôi, lời ca vang vọng khắp nơi. Chương trình được kết thúc qua tiếng hát của Vũ Khanh và toàn thể các nghệ sĩ góp mặt trong chương trình Asia 57.
"Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui
Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi
Tiếng nước tôi! Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi
Thoắt nghìn năm thành tiếng lòng tôi, nước ơi...".
DƯƠNG HÀ & VƯƠNG THƯ SINH
Dương Hà & Vương Thư Sinh Hí viện Long Beach Terrace Theater tại miền Nam Cali hôm nay lại tưng bừng nhộn nhịp như ngày trẩy hội vì với hai xuất hát của Trung Tâm Asia trực tiếp thu hình cho DVD Asia 57 diễn ra trong không khí tưng bừng của mùa lễ lạc cuối năm 2007, quan khách đến tham dự thật đông đảo và đường vào parking lot xe vào tấp nập.
Nhìn vào poster Asia Show 57, những dòng chữ tạo cho người xem một ấn tượng với chủ đề nổi bật là ca ngợi "Thế Giới Tình Yêu". Tình yêu là đề tài gắn liền với con người muôn thuở. Cuộc sống không có tình yêu thì con người như vô vị, như khô héo, dù sự gắn bó đó là tình thương giữa ông bà, cha mẹ và con cái, tình yêu dành cho quê hương, đất nước, cho tha nhân, tình yêu dành cho tôn giáo và nhất là tình yêu về đôi lứa. Tình yêu vốn mang đặc tính trừu tượng nối kết hai tâm hồn hoặc là nối kết tâm hồn với yếu tố siêu hình hay tâm linh, như khi nói về quê hương hay tôn giáo.
Khắp mọi nơi trên mặt địa cầu thì mọi người đều đã diễn tả và biểu lộ tình yêu theo nhiều hình thức cá nhân, những cảm tính cá biệt, bằng cách này hay cách khác, tùy hoàn cảnh hay địa hình hay địa vật, tùy theo ngôn ngữ diễn tả, hay phong tục hoặc tập quán tùy mỗi nơi có thể khác nhau, nhưng chung quy thì vẫn có thể nói rằng tất cả dành cho những cảm xúc dâng tràn nội tâm hay những rung động bâng khuâng được phát xuất từ con tim, để trao cho nhau những lời nói ngọt ngào, hay dịu dàng từ đáy lòng, hay ít ra những cái liếc mắt đưa tình mà đối tượng có thể cảm xúc được. Cho nên từ những nguồn cảm hứng, những rung động thổn thức dạt dào mà những văn nhân, những thi sĩ, những nhạc sĩ thường đem hết khả năng và tim óc với sự đam mê, với hứng khởi, hoặc ngay cả những kinh nghiệm trên tình trường mà mình đã gặp dù hạnh phúc hay khổ đau để sáng tác để đời những tác phẩm ngọt ngào hay cay đắng. Nhạc tình chan chứa cả kho tàng âm nhạc, trong nhiều bài ca đó bây giờ được chương trình Asia 57 đem ra trình làng qua chủ đề rất luyến lưu "Thế Giới Tình Yêu". Chương trình đã diễn ra khá dài, hơn 5 tiếng đồng hồ, với 60 tiết mục bao gồm rất nhiều chi tiết về các bài hát, phỏng vấn ca sĩ, trình chiếu video clips tài liệu, hài kịch, những giai thoại về văn học, vinh danh những tác giả sáng tác, và tất cả được tóm tắt qua 27 bài hát tiêu biểu về nhạc chủ đề như đã nói.
Mở đầu là "Liên Khúc Tình Yêu" của hai nhạc sĩ Vũ Thành An và Trịnh Công Sơn do các ca sĩ trẻ của Trung tâm Asia trình diễn. Phần sân khấu được dàn dựng đẹp mắt. Bài hát "Paris Có gì Lạ Không Em", một trong những "top hits" của nhạc sĩ Ngô Thụy Miên, bài nhạc được phổ từ thơ của thi sĩ Nguyên Sa. Hãy nghe:"Paris có gì lạ không em
Mai anh về, em có còn ngoan”
Và sự lãng mạn đáng yêu:
"Anh sẽ cầm lấy đôi bàn tay
Tóc em anh sẽ gọi là mây…
Ngày sau hai đứa mình xa cách
Anh vẫn được nhìn mây trắng bay"
Theo video clip trình chiếu, nhà thơ Nguyên Sa có tên thật là Trần Bích Lan, sinh năm 1932 sau là giáo sư Triết Học và hiệu trưởng tư thục Văn Học, cũng là giáo sư Ðại Học Văn Khoa ở Sài Gòn. Nguyên Sa là một trong những nhà thơ nổi bật của hậu bán thế kỷ 20. Thơ tình của Nguyên Sa vẫn là nét quyến rũ trong văn chương lãng mạn và mang nét nhạc tính. Theo lời tâm sự của nhạc sĩ Ngô Thụy Miên khi ông phổ nhạc bài thơ này như sau, trích từ trang Ðặc Trưng:"Những năm 60, 70, bọn trẻ chúng tôi dù trưởng thành trong khói lửa chiến tranh, có ai không mơ một ngày được đặt chân đến Paris, được cùng người yêu dạo chơi phố phường Paris, hay lang thang bên bờ sông Seine nhớ đến một cuộc tình... Paris như một lời kêu gọi, một nơi chốn tìm về cõi tình yêu. Từ những mộng ước đó, bản nhạc thứ hai tôi phổ từ thơ Nguyên Sa đã thành hình. Có những bài thơ khi muốn phổ nhạc, người nhạc sĩ phải tìm điệu nhạc để chuyên chở ý thơ, hoặc phải thay đổi lời thơ để nhập vào ý nhạc... Riêng "Paris Có Gì Lạ Không Em" khi đọc lên tôi đã nghe phảng phất tiếng phong cầm rộn rã của nhịp 3 luân vũ. Trên phím dương cầm, giòng nhạc dồn dập, chạy dài trên 10 đầu ngón tay, tôi đã hoàn tất phổ bài thơ trong một ngày đầu xuân năm 1971".
Vào năm 1949 Nguyên Sa được gia đình gửi sang Pháp du học. Năm 1953 ông theo học Triết Học ở Đại học Sorbonne. Lập gia đình năm 1955 với cô Trịnh Thúy Nga ở Paris, đầu năm 1956, vợ chồng trở về Sài Gòn. Ông chọn Bút hiệu Nguyên Sa từ thời ở Pháp, mà ông giải thích rằng tất cả cuộc đời chỉ là một hạt cát, chữ Nguyên Sa có nghĩa là một hạt cát nguyên vẹn.
Giáo sư Trần Bích Lan từng dạy Triết cho nhiều trường trung học và Đại học Văn Khoa ở Saigon, sau này ông mở trường Văn Học trên đường Phan Thanh Giản. Năm 1966 nhập ngũ Khóa 24 Sĩ quan Trừ Bị Thủ Đức, phục vụ tại Trường Quốc Gia Nghĩa Tử từ năm 1967 đến tháng 4 năm 1975. Ông viết nhiều thể loại, từ truyện dài, truyện ngắn, sách nghiên cứu về Triết học, nhưng nổi tiếng nhất là những bài thơ tình lãng mạn mà ông viết cho người yêu và sau này trở thành người bạn đời mang tên Nga. Sau khi tỵ nạn sang Mỹ, ông định cư tại California và cộng tác với một số báo chí Việt ngữ, trước khi lập tờ báo riêng lấy tên là tạp chí Đời. Điều ít ai biết là ông rất yêu văn nghệ, và chủ trương một trung tâm băng nhạc cũng lấy tên là Đời. Chính ông là người sớm nhận ra tài năng của các tiếng hát trẻ, và góp công rất lớn trong việc giới thiệu những tên tuổi của thời đó như Hải Lý, Ngọc Lan và Tuấn Vũ. Ông cùng với nhà văn Mai Thảo, được coi là hai cây cổ thụ của nền văn học nghệ thuật tại hải ngoại. Ông qua đời vào ngày 18 tháng 4 năm 1998, hưởng thọ 67 tuổi, trong niềm thương tiếc của mọi người.
Trong "Thế Giới Tình Yêu", nếu chúng ta nhìn sang nước láng giềng Thái Lan, nhạc Thái cũng mang âm điệu ngũ cung nên rất gần gủi với nhạc Việt Nam. Bài hát "Sabaay Sabaay" rất nổi tiếng của Thái Lan, được hát bởi nam ca sĩ Thongchai McIntyre, mà người Thái gọi anh chỉ bằng một cái tên duy nhất là "Bird", tức là "Chim". Người ca sĩ này thành công vượt bực khi có kỷ lục số dĩa hát được bán lên đến hàng triệu dĩa. "Sabaay Sabaay" là bài hát ca ngợi tình yêu, nó có nghĩa là "Tình Yêu Tình Yêu’’, mà nhạc sĩ Nam Lộc đã chuyển qua lời Việt, chứng tỏ tình yêu ở nơi nào cũng có những lưu luyến và thắm thiết như lời ca:"Tình yêu, Tình yêu!
Tình như viên thuốc bọc đường
Dẫu đắng bên trong, vẫn cứ trông mong,
Vẫn luôn vấn vương trong lòng.
Người yêu, người yêu!
Người cho em biết thật nhiều.
Biết nói quanh co, biết nỗi âu lo.
Dẫu có anh bên lòng".
Thi sĩ Phong Sơn đặt bài thơ "Rất Huế" được nhạc sĩ Anh Bằng phổ nhạc. Tình yêu quê hương đất nước là tình cảm cao đẹp. Những năm gần đây thế giới chịu nhiều thiên tài vì hậu quả của sự hâm nóng địa cầu. Việt Nam là nước ven biển, nên cả 3 miền đất nước đều bị bão tố hoành hành. Gần đây miền Trung bị nạn bão lụt gây cho người dân khốn đốn, 5 lần bão lụt liên tiếp, mực nước sông Hương dâng cao 3 thước, cảnh đời khổ sở tại quê hương. Thiên tai liên tiếp khiến nhiều người dân đã nghèo lại càng nhọc nhằn hơn. Đó là hậu quả do thiên nhiên, video clip cũng cho thấy yếu tố con người gây ra, hay sự tắc trách của chế độ trong phạm vi quán xuyến xứ sở. Tại Cần Thơ, một tai nạn sập cầu thật đau thương đã xảy ra tại thủ đô của miền Tây, hay Tây Đô. Đó là cây cầu đang xây bị gẫy đổ, gây ra sự kinh hoàng và phẫn uất cho người dân, biến cố này được nhắc nhở qua bài hát "Chiều Tây Đô", như sự xót xa thống khổ từ đất mẹ, nhạc của Lam Phương. Biến cố Dân Oan nói lên tình yêu quê hương, vấn nạn do sự tham lam và thái độ côn đồ của nhà cầm quyền. Bài hát "Khóc Mẹ Dân Oan" của Mặc Thiện được phổ biến từ trong xứ, kèm theo với đoạn video clip minh họa là phần trình diễn của ca sĩ Như Quỳnh.
Một vấn đề thời sự quan trọng trong nước đã được đồng hương hải ngoại chú ý theo dõi là trong suốt diễn trình đấu tranh cho lý lẽ công bằng qua sự việc "Dân Oan Khiếu Kiện". Thực tế đó là khi những người dân thấp cổ bé miệng ở trong nước nhất là ở những vùng nông thôn bất mãn, phẫn nộ vì đã bị những cán bộ thế lực như những quan chức tư bản đỏ, sách nhiễu, nhũng lạm quyền hành, đã cướp nhà cửa, ruộng vườn của họ từ nhiều năm qua để làm giàu bất chính trên xương máu nhân dân. Người dân đen không những không được chánh quyền bảo vệ đoái hoài đến, không giải quyết thỏa đáng mà ngược lại, họ còn bị Công an chèn ép, hành hung tàn nhẫn, quê hương như đắm chìm trong sự bất công. Câu chuyện cảm động khi nguồn gốc của bài nhạc ra đời trong bối cảnh chua xót của nạn Dân Oan.Buổi chiều ngày 2 tháng 9 nhạc sĩ Mặc Thiện từ Qui Nhơn đã gọi điện thoại đến người bạn của anh đang viết trang nhật ký trên mạng, anh vừa khóc vừa tâm sự như sau:
“Bạn ơi, tôi là Mặc Thiện đây, tôi không làm gì được cho đồng bào Dân Oan Khiếu Kiện, họ đang khổ đau vì bị đàn áp, tôi chỉ có thể hát lên khúc "Hát Trong Uất Hận". Vì tôi hận những kẻ vô lương tâm, những kẻ cướp bóc giữa ban ngày. Miệng chúng thì hô khẩu hiệu công bằng xã hội, mà lại thẳng tay bóc lột đồng bào không chút lòng xót thương. Chúng là kẻ "vừa đánh trống vừa ăn cướp".
Và nhạc sĩ Mặc Thiện đã gởi cho người bạn đó ca khúc "Khóc Mẹ Dân Oan" để nhờ phổ biến rộng rãi, anh coi đây như một lời tạ tội đối với những người Mẹ Việt Nam, anh xót thương nhưng bất lực không làm gì để cứu giúp họ. Đau xót thay cho những người mẹ đã cống hiến cả cuộc đời mình cho đàn con, để hôm nay nhận sự "trả ơn trong sự vô ơn", không chút lương tâm khi các con mình đã đạt được mục đích tối hậu rồi, khi nắm được quyền hành sinh sát đất nước trong tay, "đàn con nay trở thành mất dạy", nhẫn tâm quay về cướp bóc, trấn lột hết cả gia tài của mẹ.
Nhạc sĩ Mặc Thiện cũng thố lộ thêm rằng:
"Nếu trong mỗi chúng ta không thể có một hành động nào, và nếu cũng không thể nói lên những tiếng nói cứu Mẹ thì xin hãy cất lên một tiếng hát... khóc. Khóc cho Mẹ và khóc cho quê hương lầm than khốn khổ".

"Một ngày trần gian khóc thương mẹ dân oan
Ngại gì sương gió nuôi con qua khổ nạn
Nay con sang giàu mẹ sống cảnh lầm than
Đời oan trái đã gieo bao oán hờn
Cưu mang con rồi nay con phủi công ơn
Vườn ruộng đất nhà tranh con hoán đổi
Mẹ sống sao đây khi đổi mười lấy một?
Mẹ đòi công lý chịu thêm nhiều uất hận
Hận kẻ vô tâm mẹ phơi thân giữa bão bùng
Trời lạnh giá tấm bạt thô không giữ được
Gió lùa mưa vào lạnh thấu cả tâm can
Tay mẹ run run đôi chân không vững được
Biết bám víu vào đâu khi mẹ tỏ tường đời?"
Asia 57 nêu lên vấn nạn khác của xã hội Việt Nam qua bài hát "Đêm Mưa". Nạn buôn người từ Việt Nam mà thế giới cố gắng ngăn chận. Danh dự của dân tộc Việt Nam bị sỉ nhục khi phẩm hạnh của phụ nữ Việt Nam bị buôn bán như những món hàng. Những cô gái còn non trẻ ở trong nước đã và đang tiếp tục bị bán đi sang các nước Đài Loan, Nam Hàn, Singapore, v.v. Những hình ảnh của những em bé không nhà không cửa đang nằm co quắp ngủ ngay bên cạnh lề đường, hình ảnh của những bà mẹ già lọm khọm đẩy xe hoặc quẩy những gánh hàng đi bán dạo để kiếm miếng ăn qua ngày, lại đến những cô gái trẻ trở thành những kẻ buôn hương bán phấn, bán trôn nuôi miệng trong một xã hội Việt Nam Cộng sản vô kỹ luật là một thực tế phủ phàng của ngày hôm nay.Khắc khoải với những trường hợp như vậy nên nhạc sĩ trẻ Tuấn Khanh đã sáng tác ra nhạc phẩm "Đêm Mưa". Bản nhạc này đã diễn tả những nỗi niềm u uất, khổ đau của những kẻ khốn cùng đang lang thang trong đêm tối giữa chợ đời. Lời ca nhuốm âm vang cô liêu, u hoài. Này mưa hết với những giấc mơ, mẹ thảnh thơi quên hết âu lo, và tôi mơ đến những sớm mai, người em gái bỗng thấy tương lai. Và tôi mơ nhắm mắt cứ mơ, bầy trẻ thơ thôi hết bơ vơ, rồi tôi mơ đến những sớm mai, người yêu nhau quên hết thương đau. Phải chăng tác giả hy vọng sau cơn mưa thì trời lại sáng?

"Có khi đêm dài không hết
Mắt xanh ngó lên trần đời
Tự dưng sao lòng buồn thiu
Ôi tháng năm hao mòn yêu dấu
Người về tìm người nơi đâu
Bỗng dưng mắt cay giọt sầu
Ôi trăm năm nhân thế hát theo điệu buồn
Thì xin yêu thương nhau nhé cho đời vơi cay
Này mưa hết với những giấc mơ
Mẹ thảnh thơi quên hết âu lo
Và tôi mơ đến những sớm mai
Người em gái bỗng thấy tương lai
Và tôi mơ nhắm mắt cứ mơ
Bầy trẻ thơ thôi hết bơ vơ
Rồi tôi mơ đến những sớm mai
Người yêu nhau quên hết thương đau" Xem chương trình Asia 57 khán thính giả đã như được đắm chìm vào thế giới của Tình Yêu mộng ảo ở khắp mọi nơi với nhiều khía cạnh khác nhau của tình yêu qua những phong cảnh được dàn dựng hài hòa trên sân khấu, hay qua những thước phim thời sự mà nội dung chứa chan tình yêu đau khổ có những bà mẹ "dân oan" mang một hình ảnh khổ đau nhọc nhằn, rồi có những mảnh đời bất hạnh của những kẻ nghèo khó bị xã hội ruồng bỏ, lại còn có những cái chết oan ức của nhiều người dân trong nước vì thiên tai hay vì hậu quả từ bản sắc của chế độ cầm quyền.
Những giờ phút cuối của Asia 57 không quên nhắc nhở biến cố đau khổ của dân tộc: Hoàng Sa và Trường Sa. Sự lưu tâm và suy gẫm thật nhiều dù cho chúng ta đang sinh sống ở bất cứ phương trời nào, hoặc ngay cả đồng bào trong nước, tất cả đều có mẫu số chung là một nỗi xót xa cho quê hương Việt Nam mất mát. Một khi lãnh thổ của đất nước Việt Nam đang bị xâm phạm, hồn Việt tộc dâng cao. Những tin tức cho biết là Trung Cộng đã ngang nhiên cưỡng chiếm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, mà từ bao đời đã có chủ quyền của dân tộc Việt Nam. Những căm phẫn, tủi nhục dâng trào khắp nơi khi biết rằng qua những hồ sơ, văn kiện còn lưu trữ, chính những nhà lãnh đạo Việt Cộng đã đem dâng các hải đảo này cho nước đàn anh Trung Cộng từ lâu. Khi người dân đứng lên phản đối Trung Cộng, nhà cầm quyền Việt Nam cấm cản. Một chế độ nhu nhược, vô dụng hiện đang cai trị quê hương. Yếu tố Hoàng Sa, Trường Sa trong show Asia 57 khiến người xem quyến luyến với tình yêu quê hương, tình yêu đất nước.oOo
Với chủ đề "Thế Giới Tình Yêu", chương trình Asia 57 mang đến cho khán thính giả những tiết mục chọn lọc đặc sắc, mà trong đó chúng ta mỗi người sẽ tìm lại được những kỷ niệm ở mọi lứa tuổi của chính mình đã đi qua, từ khi mới bắt đầu biết yêu đương hay ngay cả ở lứa tuổi buồn thảm đã về chiều, hay ngả nghiêng ở cuối nẽo đường đời cũng vẫn mang xúc cảm được tình yêu thương nhớ hay những gắn bó day dứt. Như biến cố mất đất đai vào tay ngoại xâm, bài hát diễn tả về tình yêu quê hương, tình yêu đất nước mà tiêu biểu là bài "Tình Ca", tâm tư rung động qua những tình tự dân tộc dạt dào, "Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi. Mẹ hiền ru những câu xa vời. À à ơi ! Tiếng ru muôn đời."Quê hương hùng vĩ, quê hương bất khả phân ly, quê hương không thể đổi chác. Từ tiếng ru à ơi của những bà mẹ bên chiếc nôi yêu dấu đến những tiếng khóc, tiếng cười, theo vận nước nổi trôi, lời ca vang vọng khắp nơi. Chương trình được kết thúc qua tiếng hát của Vũ Khanh và toàn thể các nghệ sĩ góp mặt trong chương trình Asia 57.
"Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui
Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi
Tiếng nước tôi! Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi
Thoắt nghìn năm thành tiếng lòng tôi, nước ơi...".
DƯƠNG HÀ & VƯƠNG THƯ SINH


VALENTINE: NÓI CHUYỆN TÌNH YÊU
Tuyết Mai
Cứ vào Tháng Hai thì các cửa hàng ở Mỹ bày bán rất nhiều thứ làm quà như kẹo, chocolate đựng trong hộp hình trái tim, hoa tươi, vàng vòng , kim cương có hình trái tim để những cặp tình nhân hay vợ chồng mua trao tặng nhau nhân ngày tình yêu, có tên là ngày Valentine.
Ngày Valentine là 14 Tháng Hai là ngày mất của Ông Thánh Valentine. Theo truyền thuyết thì ông là người có trái tim nhân ái, anh hùng và lãng mạn. Đang lúc nước có chiến tranh, Hoàng Đế Claudius II cho rằng những ai có vợ con sẽ không có tinh thần hăng say chiến đấu vì có nhiều lo
âu cho gia đình, vì vậy ông ra lệnh cấm tất cả trai tráng lấy vợ. Ông Valentine đã âm thầm chống lại lệnh của Hoàng Đế, bí mật cử hành hôn lễ cho nhiều đôi tình nhân trẻ, ông bị bắt và bị xử tử ngày 14 Tháng Hai năm 269 sau Công Nguyên.
Để tưởng niệm ông, người bấy giờ quyết định lấy ngày 14 Tháng 2 làm ngày hẹn hò và đính ước. Dần dần có nhiều thay đổi, nay ngày này được coi là ngày của tình yêu, những người yêu nhau chọn những món quà độc đáo, lãng mạn tặng cho người yêu để biểu lộ tình yêu và cũng để sưởi ấm tình nồng.
Có truyền thuyết cho là lúc Ông Valentine bị giam trong ngục, ông đã đem lòng yêu cô con gái của người bắt giam ông. Khi ra pháp trường ngày 14 Tháng Hai ông viết một lá thư cho người yêu rồi ký tên “From your Valentine” . Từ đấy ngày 14 Tháng Hai trở thành ngày của tình yêu. Lá thư nhỏ của Ông Thánh Valentine đã trở thành tục lệ trao đổi thiệp cho nhau trong ngày này.
Điều quan trọng nhất là ngày này không phải là ngày chỉ dành riêng cho những người đang yêu nhau mà cũng là ngày của tình bạn, của tình người.
Tình Yêu là niềm giao cảm kỳ diệu, là những rung động bất tận của những trái tim đa cảm … cho đến nay tình yêu vẫn còn là những hiện tượng còn đầy bí ẩn mà loài người vẫn chưa tìm hiểu được cho thấu đáo. Thi ca VN là một dàn đại hợp xướng , kết hợp bằng những giai điệu tuyệt vời, những âm hưởng du dương và lãng mạn, tình yêu trong thi ca VN đã trở thành một đề tài lớn, một nghệ thuật rực rỡ và vĩnh cữu của nền văn hóa dân tộc.
Xuân Diệu, một nhà thơ lớn của thi ca VN, dỗi hờn với người yêu:
“Được giận hờn nhau ! sung sướng biết bao nhiêu
Anh một mình nghe tất cả buổi chiều
Vào chầm chậm ở trong hồn hiu quạnh”
(Tương Tư Chiều)
Với Xuân Diệu tình yêu không thể ngầm hiểu nhau mà phải nói lên thật nhiều lần:
“Yêu tha thiết , thế vẫn còn chưa đủ
Phải nói yêu, trăm bận đến ngàn lần
Phải mặn nồng cho mãi mãi đêm Xuân
Đem chim bướm thả trong vườn tình ái”
(Phải nói).
Nguyễn Nhược Pháp diễn tả trâm trạng yêu ngất ngây của cô gái tuổi mười lăm đi Chùa Hương gặp chàng trai trẻ:
“Làn gió thổi hây hây
Em nghe tà áo bay
Em tìm hơi chàng thở
Chàng ơi chàng có hay
Đường đây kia lên trời
Ta bước tựa vai cười
Yêu nhau , yêu nhau mãi!
Đi, ta đi, chàng ơi!
Ngun ngút khói huơng vàng
Say trong giấc mơ màng
Em cầu xin Giời Phật
Sau cho em lấy đựơc chàng”
(Chùa Hương)
Đỗ Huy Nhiệm nũng nịu “Bắt Đền” người yêu:
”Hôm nay em đến bắt đền anh
Đã để cho em ngủ một mình
Trong giấc mơ màng bao sợ hãi
Quờ tay chỉ thấy bóng trăng thanh!
Phòng vắng sương gieo, gió lạnh vào
Tìm chăn, chăn đã biến nơi nao
Lạnh lùng em muốn anh ôm ấp
Để cõi lòng em ấm chút nào
Em giận con gà gáy sáng ran
Làm em trót tỉnh giấc mơ tan
Anh ơi khẽ kéo rèm the lại
Nối lại cho em giấc mộng vàng”
Nguyễn Bính thì dối lòng, không dám nhận mình yêu:
”Cô chẳng bao giờ biết đến tôi,
Mà tôi dan díu mấy đêm rồi
Mấy đêm dan díu người trong mộng
Mộng tỉnh canh tàn châu lệ rơi
Chòm hoa dâm bụt bên bờ giếng
Nở đỏ như muôn mản lụa điều
Tôi dối lòng tôi nên chẳng dám
Nhận là mình đã bắt đầu yêu”
(Nhặc Nắng)
Thanh Tịnh bâng khuâng … tình yêu như áng mây chiều:
Còn nhớ hôm xưa độ tháng này
Cánh đồng xào xạc gió đùa cây
Vô tình thiếu nữ cùng ta ngắm
Một đoạn tơ trời lững thững bay
Tơ trời theo gió vướng mình ta,
Mối khác bên nàng nhẹ bỏ qua
Nghiêng nón nàng cười đôi má thắm
Ta nhìn vơ vẫn áng mây xa”
(Tơ trời với tơ lòng)
Hồ Dzếnh Ngập ngừng… xin em cứ hẹn nhưng đừng đến nhé:
“ Em tôi ơi, tình có nghĩa gì đâu
Nếu là không lưu luyến buổi sơ đầu?
Thủa ái ân mong manh như nắng lụa,
Hoa bướm ngập ngừng, cỏ cây lần nữa,
Hẹn ngày mai mùa đến sẽ vui tươi
Chỉ ngày mai mới đẹp, ngày mai thôi!”
…
Nếu trót đi em hãy gắng quay về,
Tình mất vui khi đã vẹn câu thề
Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở
Thơ viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ
Cho nghìn sau…lở lửng…với ngàn xưa”
(Ngập Ngừng).
Hàn mạc Tử thích đi vào cỏi mộng:
“Mà anh hay em trong tim đều rạn
Đều chôn sâu hình ảnh một người thơ
Bây giờ đây quấn quít hiện bây giờ
Chỉ biết có đôi ta là đang sống
Đang cho nhau ngọt ngào và đang mộng
Cố làm lơ không biết đến thời gian
Đến bông hoa tàn tạ với trăng ngàn
Đến những tình duyên xung quanh thất vọng
Nhiều hành tinh tan đi vì đã lỏng
Ôi muôn năm! Giác mộng đả đời chưa?”
(Đôi ta).
Nguyên Sa đắm đuối trong tình yêu:
“Tháng sáu trời mưa em có nghe mưa xuống
Trời không mưa em có lạy trời mưa
Anh vẫn xin mưa phong tỏa đường về
Anh vẫn cầu mưa mặc dầu mây ảm đạm
Da em trắng anh chẳng cần ánh sáng
Tóc em mềm anh chẳng thiết mùa Xuân
Trên cuộc đời sẽ chẳng có giai nhân
Vì anh gọi tên em là nhan sắc
Anh sẽ vuốt tóc em cho đêm khuya tròn giấc
Anh sẽ nâng tay em cho ngọc sát vào môi
Anh sẽ nói thầm như gió thoảng trên vai
Anh sẽ nhớ suốt đời mưa Tháng Sáu.”
Những dòng thơ trữ tình trên đây đã nói lên khát vọng thiết tha với tình yêu của thi nhân, còn đọng lại trong bầu trời thi ca VN, tạo nên những cung
bậc , mà người yêu thơ càng đọc, càng cảm thấy ngọt ngào, say đắm.
Chính những khát vọng mãnh liệt này đã mang đến cho thi ca VN một
sắc thái quyến rũ lạ lùng và tình yêu là vô tội, đẹp như hương yêu say dậy
với trăng rằm. Kính chúc mọi người một Valentine tràn đầy thương yêu, hạnh phúc.

Obama - Hillary Bất Phân Thắng Bại Ứng cử viên tổng thống Barack Obama vừa có một cuối tuần đáng nhớ khi toàn thắng năm cuộc bầu cử sơ bộ, qua đó lập lại cân bằng trong cuộc đấu với bà Hillary Clinton.
Cuộc bầu cử sơ bộ tại Mỹ đang diễn biến hết sức gay cấn. Trong khi tại đảng Cộng hòa, Thượng nghị sĩ John McCain đang rất ung dung thì cuộc đua tại đảng Dân chủ vẫn ở thế so kè quyết liệt giữa hai ứng viên Barack Obama và Hillary Clinton. Sau khi tỏ ra thất thế trước bà Hillary trong "ngày thứ ba lớn" (5.2), ứng viên da đen Obama đã có chiến thắng ngoạn mục vào cuối tuần qua. Chỉ trong ngày thứ bảy (9.2), Thượng nghị sĩ Obama đã thắng tại ba tiểu bang Louisiana, Nebraska, Washington và quần đảo Virgin thuộc Mỹ. Sau đó một ngày, ông lại khẳng định sức mạnh khi thắng trong cuộc bỏ phiếu kín ở tiểu bang Maine.
Với loạt thắng lợi vừa qua, Thượng nghị sĩ Obama gần như đã san bằng khoảng cách với đối thủ Hillary Clinton. Đến nay ông đã giành thắng lợi ở 19 tiểu bang với số đại biểu dự đại hội đảng Dân chủ toàn quốc vào tháng 8 là 1.085, còn bà Hillary thắng tại 13 tiểu bang với số đại biểu là 1.104. Điều này cho thấy mỗi ứng viên đều đã "gom" được khoảng 50% số đại biểu cần có (2.025) để đảm bảo chiến thắng trong đại hội toàn quốc sắp tới. Và từ các con số trên, có thể dự báo cuộc đua ở đảng Dân chủ sẽ tiếp tục gay cấn tới phút chót, trước mắt là tại các cuộc bầu cử sơ bộ ở Maryland, Virginia và Washington D.C vào ngày 12 tháng 2.
Bên cạnh cuộc chạy đua nóng bỏng nói trên là những chiến dịch âm thầm nhưng không kém phần quyết liệt phía sau hậu trường. Hãng tin ABC hôm qua đưa tin bà Hillary, vào tuần trước, đã kín đáo viếng thăm cựu Thượng nghị sĩ John Edwards tại nhà riêng của ông này ở North Carolina. Ông Edwards từng được đánh giá là đối thủ đáng gờm của bà Hillary và Obama nhưng vừa tuyên bố kết thúc giấc mộng tòa Bạch Ốc sau khi giành được những kết quả hết sức khiêm tốn trong vài đợt bầu cử sơ bộ đầu tiên. Giờ đây, việc giành được lá phiếu ủng hộ của ông này là một điều hết sức quan trọng cho các ứng viên. Vì thế, sau cuộc viếng thăm bí mật của bà Hillary, có nguồn tin cho hay ông Obama cũng đã vội vã ghé thăm cựu đối thủ Edwards vào hôm qua.
Trong khi ở đảng Dân chủ, cuộc đua giữa Obama và Hillary ngày một gay cấn thì ở đảng Cộng hòa, Thượng nghị sĩ John McCain khá thong dong. Đến nay cựu quân nhân cao tuổi này đã thắng tại 12 tiểu bang với 719 đại biểu dự đại hội đảng Cộng hòa toàn quốc. Sau khi ông Mitt Romney bỏ cuộc thì ứng viên đáng kể còn lại là ông Michael Huckabee, người mới thắng tại 7 bang với 234 đại biểu.
Hôm chủ nhật, ông Huckabee đã cố xoay chuyển tình thế bằng cách lên tiếng phản đối kết quả cuộc bỏ phiếu kín ở tiểu bang Washington diễn ra trước đó một ngày. Tại cuộc bỏ phiếu đó, ông McCain đã giành thắng lợi áp đảo nhưng phe của Huckabee lại nói đó là "một kết quả thiếu minh bạch". Tuy nhiên, thách thức này xem ra cũng khó cản được bước tiến của ông McCain.

Hội Chợ Tết ở Little Saigon Nam Cali
Tuyết Mai
Đây là Chợ Tết thứ hai mươi sáu do Tổng Hội Sinh Viên Nam Cali cùng với sự hợp tác của nhiều hội đoàn, mạnh thường quân tổ chức Chợ Tết ở Westminter, CA. Chợ Tết Mậu Tý năm nay được tổ chức vào hai ngày 9,10 Tháng 2, 2008 tại Westminster, Cali. Chợ Tết ở đây mỗi nămđược tổ chức hoàn hảo hơn năm nào cũng có vài chục ngàn người tham dự , năm nay nguời nào mặc áo dài thuần túy được miễn mua vé vào cửa nên có rất nhiều phụ nữ và trẻ em mặc áo dài rực rỡ, không khí vô cùng nhộn nhịp vui tươi.
Chị Phương Lê, một trong những người trong ban tổ chức cho biết mục đích các sinh viên tổ chức Hội Chợ Tết này là để cho các em thế hệ trẻ biết nhiều về cội nguồn của mình, Lễ niệm hương tổ chức theo truyền thống là để giữ gìn truyền thống văn hóa dân tộc, cám ơn ơn trên, cảm ơn Tổ Tiên đã dày công dựng nên đất nước Việt Nam. Chúng ta là người Việt đang tha hương nhưng dù ở nơi nào trên th ếgiới chúng ta cũng luôn nhớ đến quê cha đất tổ.
Phần niệm hương sẽ gồm có đại biểu nhiều thành phần trong xã hội , các cụ trưởng lão, các bậc trung niên và các em học sinh, sinh viên từ nhiều trường trung học hay trường đai học ở Cali. Trong Hội Tết doTổng Hội Sinh Viên tại Cali tổ chức đặc biệt có làng Việt Nam, gồm Đền Thần Hoàng, làng thả thơ, những mái nhà tranh với vách nứa phênh tre, sân trước có vườn cây trái, hoa quả , cây cảnh tươi đẹp, vườn sau có chuồng gà, vịt, heo… Có ghe bán rau cải như cảnh chợ nổi trên sông nước đồng bằng Cửu Long. Trước sân nhà có nhiều người thư thả ngồi đánh cờ tướng. Trong thôn xóm có nhiều thôn nữ mặc áo tứ thân hay áo bà ba nâu, đầu đội nón lá, đẹp giản dị như cảnh miền quê Việt Nam. Đưn1g ở đây người ta có cảm tưởng như đang ở vùng quê VN. Mục đích dựng lên cảnh làng Việt Nam là để nhắc nhở các em thế hệ trẻ sinh trưởng ở HK biết cảnh làng quê ở VN, biết cội nguồn của mình để có những tình cảm gắn bó với quê hương.
Chị Phương Lê cho biết thường thì Hội Chợ Tết bắt đầu vào chiều thứ Sáu và kết thúc vào chiều Chủ Nhật, ước lượng có cả ngàn học sinh, sinh viên tham dự trực tiếp hay gián tiếp trong việc tổ chức và trình diễn Chợ Tết.
Cô Xuân Mai , Phó Hội Trưởng Hội Đền Hùng Hải Ngoại cho biết hội sẽ cùng với Câu Lạc Bộ Hùng Sử Việt làm lễ khai mạc và Cô sẽ đọc văn tế trong Lễ Hội Tết đầu năm, năm nay. Hằng năm hai hội vẫn tổ chức những nghi lễ cổ truyền vào dịp Tết hay những lễ tưởng niệm những anh hùng liệt nữ để giữ gìn truyền thống dân tộc Việt Nam. Trong những sinh hoạt đó hội cố giữ lại những di sản văn hóa cũng như lịch sử VN cho các em trẻ hiểu biết thêm về truyền thống dân tộc, và hội cũng hy vọng qua những hình ảnh truyền thống, người bản sứ sẽ quý trọng người VN và coi sự có mặt của người VN ở đây hay ở nơi nào trên thế giới , đã đóng góp phần nào vô dòng chính văn hóa của nhân loại. Đó là mong ước của hội khi thực hiện chương trình niệm hương truyền thống như hôm nay. Đặc biệt trong Chợ Tết này có nhiều sinh viên cầm một lá đại kỳ VNCH trải rộng theo chiều nằm , đó là lá cờ VNCH treo ở Tòa Đại Sứ VN tại Paris trước năm 1975, sau đó Pháp đã trao lá cờ này cho Tổng Hội SinhViên VN ở Pháp và năm 1984, Tổng Hội Sinh Viên Pháp Quốc đã trao cờ cho lại Tổng Hội Sinh Viên VN ở Cali. Chưong trinh được khai mạc với nghi lễ chào quốc kỳ Việt - Mỹ trang nghiêm do Hội Võ Bị Nam Cali đãm trách. Hai bên khán đài là hai hàng quân nhân các quân binh chủng trong đó có nhiều Nữ Quân Nhân trong quân phục. Toán quốc quân kỳ cầm cờ VNCH và cờ Hoa Kỳ tiến vào vị trí hành lễ. Điều đặc biệt là trong nghi lễ chào quốc kỳ, quốc kỳ VN được chào trước rồi quốc kỳ Hoa Kỳ và theo sau là một phút mặc niệm tưởng nhớ những anh hùng liệt nữ đã hy sinh vì Tổ Quốc.
Chương trình được tiếp nối với lễ niệm hương trước bàn thờ Tổ Quốc với ban nghi lễ Hoàng Tộc trong cung đình theo truyền thống VN, trong đó có hai người che lộng cho Vua và Hoàng Hậu theo sau là nhiêu quan văn, võ, lính hầu, dân chúng ăn mặc theo xưa và cầm nhiều cờ ngũ sắc. Nghi lễ niệm hương do Ông Hà Việt Văn chánh tế. Hai bên lễ đài có rất nhiều dân chúng trong áo dài khăn đống cổ truyền, áo tứ thân màu sắc thật rực rỡ, áo nâu nông dân, đầu đội nón lá ... Trong tiếng chiêng trống cử hành lễ, quý vị cụ trong quốc phục áo dài khăn đống gấm xanh dâng hương hoa lên bàn thờ Tổ Tiên, Cô Xuân Mai đọc tế văn, quý cụ lễ bái vô cùng trang nghiêm.
Sau nghi lễ là màn múa lân với nhiều con lân màu sắc đủ loại, nhào lộng theo nhịp trồng thật và đẹp mắt, cùng lúc đó pháo nổ vang rền trời khói bay mù mịt. Sau nghi lễ trên, bà con dạo chơi qua các nhiều cửa hàng quảng cáo hàng hóa, và đông nhất là những hàng bán thức ăn. Thời tiết ấm với nắng vàng hanh, trẻ con có rất nhiều trò giải trí, người ngồi tản mát trên thãm cỏ xanh, thưởng thức những món ăn thuần tuý Việt Nam như nem mướng, cháo lòng , bún Huế, gỏi đu đủ bò khô.., không khí thật tưng bừng, nhộn nhịp, vui thật vui, không khác gì ngày Tết ở Việt Nam…Tới chiều bà con từ nhiều ngã đường lũ lượt nhau kéo đổ về khu Chợ Tết. Buổi tối có chương trình văn nghệ rất hấp dẫn và Chợ Tết sẽ dài đến chiều ngày hôm sau…
Trong những ngày lưu lạc tha hương, không khí vui tươi, tưng bừng của Chợ Tết ở đây đã sưởi ấm phần nào nỗi buồn của người tỵ nạn, những cán chim lạc bầy xa xứ.

Quà cho "Làm Biếng Thầy Chạy"
Một nhà phát minh Hoa Kỳ đã chế tạo một cái tủ lạnh có thể ném các lon bia lạnh cho những người lười biếng. John Cornwell đã chi số tiền $3000 đô-la để chế tạo cái tủ lạnh độc đáo có cái tên là Beer Launching Fridge. Và sự phát minh của anh ta đang thu hút rất nhiều sự chú ý kể từ khi cuốn video cho thấy sự họat động của chiếc tủ lạnh này được đưa lên mạng . Cái tủ lạnh này họat động bởi một thiết bị điều khiển từ xa (remote control). Đường dây chuyền sẽ chuyển lon bia lạnh tới cái cần phóng, và rồi nó ném lon bia này tới người uống cách xa khỏang 4 thước. Cái tủ lạnh này có thể chứa một két bia 24 lon.
John, 22 tuổi, vừa tốt nghiệp từ trường Đại học North Carolina, kể rằng: “Khi đang ngồi trên sa-lông để uống vài lon bia, tôi chợt nghĩ phải chi không cần phải bước tới tủ lạnh để lấy lon bia để uống thì thích biết mấy. Và rồi khỏang ba tháng sau tôi có một cái tủ lạnh hòan tòan tự động, điều khiển từ xa, có thể ném lon bia tới người nhận ở xa khỏang 4 mét. Mặc dù có nguy cơ nhỏ bị chai bia ném trúng đầu, nhưng nguy cơ này giảm dần khi bạn trở nên quen thuộc với nó.”
[flash width=450 height=350]http://www.metacafe.com/fplayer/445498/ ... erator.swf[/flash]
Một nhà phát minh Hoa Kỳ đã chế tạo một cái tủ lạnh có thể ném các lon bia lạnh cho những người lười biếng. John Cornwell đã chi số tiền $3000 đô-la để chế tạo cái tủ lạnh độc đáo có cái tên là Beer Launching Fridge. Và sự phát minh của anh ta đang thu hút rất nhiều sự chú ý kể từ khi cuốn video cho thấy sự họat động của chiếc tủ lạnh này được đưa lên mạng . Cái tủ lạnh này họat động bởi một thiết bị điều khiển từ xa (remote control). Đường dây chuyền sẽ chuyển lon bia lạnh tới cái cần phóng, và rồi nó ném lon bia này tới người uống cách xa khỏang 4 thước. Cái tủ lạnh này có thể chứa một két bia 24 lon.
John, 22 tuổi, vừa tốt nghiệp từ trường Đại học North Carolina, kể rằng: “Khi đang ngồi trên sa-lông để uống vài lon bia, tôi chợt nghĩ phải chi không cần phải bước tới tủ lạnh để lấy lon bia để uống thì thích biết mấy. Và rồi khỏang ba tháng sau tôi có một cái tủ lạnh hòan tòan tự động, điều khiển từ xa, có thể ném lon bia tới người nhận ở xa khỏang 4 mét. Mặc dù có nguy cơ nhỏ bị chai bia ném trúng đầu, nhưng nguy cơ này giảm dần khi bạn trở nên quen thuộc với nó.”
[flash width=450 height=350]http://www.metacafe.com/fplayer/445498/ ... erator.swf[/flash]
-
Nguyễn_Sydney
- Posts: 2581
- Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
- Been thanked: 1 time
Xe Hơi chạy dưới Nước

Chiếc hơi hiệu Rinspeed có thể chạy trên đường và chạy dưới Nước sâu 10m . Chiếc xe có thể Tự động Lái điều khiển bằng Remote Control và biết tránh người đi bộ. Khi muốn cho xe chạy dưới nước ,Người lái sẽ thay bảng Số Xe bằng chữ SQuba , tự động hai bên cuối xe sẽ có 2 cánh quạt để dưới Nước. Xe nặng 920 kg , Dài 3790mm , rộng 1940mm , Cao 11.200mm

Chiếc hơi hiệu Rinspeed có thể chạy trên đường và chạy dưới Nước sâu 10m . Chiếc xe có thể Tự động Lái điều khiển bằng Remote Control và biết tránh người đi bộ. Khi muốn cho xe chạy dưới nước ,Người lái sẽ thay bảng Số Xe bằng chữ SQuba , tự động hai bên cuối xe sẽ có 2 cánh quạt để dưới Nước. Xe nặng 920 kg , Dài 3790mm , rộng 1940mm , Cao 11.200mm

MÙA XUÂN TRỞ LẠI
Trần Tuấn Kiệt Ngày giáp Tết năm nay ở Saigon khí hậu nóng ran ran. Tôi đến Linh ở đường Nguyễn Thiện Thuật để nhờ anh ta giúp vài chuyện liên quan đến công việc dịch thuật.
Trước nhà Linh có hai người đàn bà Trung hoa bán khoai lang nướng. Tôi mua hai củ khoai tím Dương Ngọc ăn rất thơm ngon. Ngồi xuống xe nước mía, tôi hỏi bà chủ là Linh chừng nào về. Bà ta bảo cậu ấy mới đi uống cà phê đâu đó. Bác ngồi đợi, không bao lâu Linh sẽ về. Ít khi nào Linh đi đâu vì bà mẹ bắt anh ta coi nhà không cho ra ngoài. Tôi cười, bỗng dưng Linh đã thành “bác sĩ” rồi.
Cách đây khoảng gần bốn mươi năm, đây là con đường thân thương của tôi nhất. Tôi ở đậu để đi học trong xóm ở đường Hai Mươi, bây giờ đổi tên là Điện Biên Phủ. Lịch sử đã thay đổi hết. Và lớp trẻ như Linh lớn lên sau 75 không còn biết gì về những người tăm tiếng trước kia nữa.
Con đường này trước 75 có rất nhiều quán cà phê văn nghệ. Thời đó quán nào cũng vang lên bài Sang Ngang của Đỗ Lễ 'Đưa em sang sông…'. Bọn thanh niên cứ quây lấy các cô gái xinh xinh và lãng mạn, rồi suốt ngày yêu cầu quán cho nghe hết sang sông, thì sang ngang… Xuyên qua đường này đến Phan Thanh Giản (Điện Biên Phủ), tôi thường đi với người bạn cùng quê là dân Sa đéc lên, bạn học từ lớp ba, lớp tư tiểu học. Hắn lên Saigon trước và gặp tôi trong quán cà phê vỉa hè ở đó. Hắn bảo:
- Tôi có đọc anh trên báo Phổ Thông. Anh có biết Đàm-trường-viễn-kiến của ông Nguyễn Đức Quỳnh trong hẻm gần chùa đó không?
- Không.
- Ở đó, ngày nào cũng nhiều người tụ tập nói chuyện xôm tụ lắm.
Lúc này tôi (Sa Giang) và Hàn Giang Dương Thành Long và anh Mẫn bút hiệu Giang Châu, cả ba thành lập thi đoàn Tam Giang; sau có thêm Chương Đình Thu (Bạch Lộ) nữa. Bọn trẻ chúng tôi thời đó mê thơ văn quên cả ăn cơm, thường thì chỉ lấy cà phê thuốc lá làm thức ăn chính.
Hắn dẫn tôi vào nhà cụ Nguyễn Đức Quỳnh, căn nhà nằm ngang chắn ở cuối con đường hẻm rộng. Thường khi có xe bộ trưởng Công dân vụ Ngô Trọng Hiếu vào đó.
Cụ Quỳnh là cố vấn của ông Hiếu. Tôi nhớ hôm đó cụ Quỳnh đang ca ngợi tranh Nguyễn Trung, cho họa sĩ này là người vẽ ngựa giỏi nhất. Cũng không ngờ trong buổi đầu tiên đến, tôi gặp nhiều người đã nghe danh trên văn đàn ở đó. Lý Đại Nguyên như đệ tử ruột của cụ Nguyễn Đức Quỳnh cùng Duy Sinh là con cả cụ Quỳnh, đang lý luận, tranh luận sôi nổi về vấn đề văn hóa mới và văn hóa dân tộc.
Ban đầu tôi ngỡ tất cả cùng nhóm nhưng không phải: Duy Lam và Thế Uyên thường bài bác tranh Tạ Tỵ, Duy Sinh lại có vẻ chống lại bố là cụ Quỳnh với tư tưởng hiện sinh mới nhập vào VN đang cùng nhóm Sáng Tạo do Mai Thảo làm chủ súy. Có mặt rất nhiều người như Hoàng Bảo Việt, Hồ Nam, Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp, Tô Thùy Yên và Mai Sử Giương tức Nguyễn Nghiệp Nhượng…
Hôm ấy là ngày đầu Xuân nên có bánh mứt Tết. Ngồi cạnh tôi là Trần Dạ Từ bút hiệu Hoài Nam, dường như đã xuất bản quyển thơ Hương Cau Quê Ngoại. Cả nhà nhiếp ảnh Nguyễn Cao Đàm đang phàn nàn về cái giải thưởng hạng nhất Quốc tế chưa được đi lãnh, vì nhà nước bắt đóng thuế. Phần nhiều ở đó là các nhà văn miền Bắc di cư 54 vào Nam thời đệ nhất Cộng hòa Ngô Đình Diệm.
Cụ Quỳnh nói dõng dạc:
- Tôi bảo đảm anh em cứ tự do phát biểu, cả chỉ trích chính quyền. Các anh em sẽ không hề bị hỏi han bắt bớ gì cả khi ở nhà này trở về.
Tất nhiên cụ Quỳnh đã có bảo đảm của Ngô Trọng Hiếu, một ông bộ trưởng quyền uy đứng vào hàng thứ ba chỉ sau Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu thời đó. Cho nên anh em văn nghệ tranh luận nhau quyết liệt, nhất là nhóm Sáng Tạo có Duy Thanh và nhóm Văn Hóa Ngày Nay, hậu thân của Tự Lực Văn Đoàn, với Thế Uyên và Duy Lam là hai kiện tướng.
Dương Nghiễm Mậu, Trần Dạ Từ, Hồ Nam… phát biểu hầu như thao thao bất tuyệt.
Đã gọi là Đàm Trường Viễn Kiến thì tất mọi khuynh hướng, mọi tư tưởng văn hóa tôn giáo chính trị nghệ thuật đều được đem ra mổ xẻ thẳng thừng giữa các nhà văn hóa mới đầy nhiệt huyết. Chẳng bao lâu, cái lò luyện người với tư tưởng tổng hợp, gọi là Tổng Thức Vận đo,ù tiêm nhiễm vào tôi hồi nào không hay. Hồi đó còn có nhóm Hoa Mười Phương của Kiều Thệ Thủy. Tờ Mã Thượng của Linh Thi và Sinh Lực của Đồng Tân đã viết về thơ tôi, khi ấy tôi chưa đầy mười tám tuổi. Có lần mọi người đề cập đến Bùi Giáng, cho là một hiện tượng lạ: Cụ Quỳnh nói Bùi Giáng là Lão tử thời nay. Tôi chơi thân và hiểu Bùi Giáng nên không đồng ý với nhận xét này. Tôi về ghé kể cho Bùi Giáng nghe. Ông cười cười lôi tôi ra khỏi nhà, nói:
- Mình đi ăn tiết canh vịt ở Ngã Bảy đi.
Rồi ông đem chiếc xe Mobylette ra chở tôi đến Ngã Bảy bây giờ là đường Lý Thái Tổ gần Ngã sáu Chợ Lớn, nơi đó bày đủ các hàng ăn uống nhậu nhẹt. Lúc này Bùi Giáng còn làm giáo sư dạy ở trường Tân Thanh, có cả nhà viết sử Thiên Giang, có cả triết gia Đệ Tứ là Tam Ích sau dạy Pháp văn, nghiên cứu viết về Hiện sinh và Phật giáo.
Những người này là thày tôi ở trường Tân Thanh. Lúc đó tôi theo Nguyễn Vỹ mưu sinh và hằng ngày vào nhà cụ Lê văn Trương ở Ngã Tư Quốc Tế chơi. Có lúc Trầm Tử Thiêng từ Khánh Hội cũng qua chơi. Cả Thanh Quang sau chịu ảnh hưởng Phi Lạc Sang Tàu của Hồ Hữu Tường, cùng bà Trúc Lâm Nương làm giáo chủ đạo Hồng Môn ở Vạn Kiếp (Gia Định).
Đi du Xuân mà ăn tiết canh thì tôi không thích nhưng chìu Bùi Giáng nên tôi cũng đi theo. Cạnh cái quán tiết canh đó là quán chị Lệ Liễu. Chị mở quán ca nhạc gần đó, bày sân khấu nhỏ để ai muốn lên mà ca hát ngâm nga thâu đêm suốt sáng. Đây là quán nổi tiếng nhất là nơi ăn chơi một thời: Đại đức Trí Minh, bạn của Vũ Anh Khanh lúc chưa đi tu cũng thường đến đây vừa nhậu, vừa hát và ngâm thơ. Ông thường dẫn theo Mặc Tưởng và Thùy Dương Tử. Tôi cũng muốn cùng Bùi Giáng tạt vào quán Lệ Liễu chơi nhưng ở đây ‘quá bụi’ không thích hợp với ông nên thôi...
Trời Xuân rộn rã, tôi vừa uống chút bia thấy ngà ngà. Nhìn qua bên kia đường, một dãy nhà dọc Lý Thái Tổ đang bán đủ loại hàng hóa, máy móc như mọi con đường khác. Phía sau lưng dãy nhà mơí xây này ngày xưa bãi cỏ mọc vô tội vạ, con đường đó vào sâu hơn là nơi “cát cứ' của ban Văn nghệ Địa phương quân do đại úy Tô Công Biên cai quản. Tôi không nhớ rõ lúc này Du Tử Lê là thiếu úy hay trung úy cũng ở đó.
Hằng ngày Du Tử Lê dẫn ca sĩ lên Đài phát thanh quân đội nơi có đại tá Cao Tiêu, Tô Kiều Ngân, Tô Thùy Yên, Tường Linh và Phan Bá Thụy Dương thường có mặt. Đó là Cục Chiến Tranh Tâm Lý ở ngay cạnh Sở Thú. Khi ấy tôi đang viết báo cho Phổ Thông, trong Tao Đàn Bạch Nga của Nguyễn Vỹ. Một hôm đại tá Phát (Nguyễn Tấn Phát), người đã từng là bác sĩ riêng của ông Ngô Đình Diệm, bảo tôi vào lính Văn Nghệ Địa Phương Quân. Ông Phát cũng gia nhập Tao Đàn Bạch Nga với Thu Nhi, Minh Đức Hoài Trinh, Tuệ Mai, Nguyễn Thu Minh, Bạch Yến. Thế là tôi vào Ban văn nghệ Địa phương quân, có nhiệm vụ viết ‘sapô’ cho ca sĩ giới thiệu các bài hát.
Ban văn nghệ này rất nổi tiếng, người điều khiển là anh Nguyễn Hữu Sáng, em ruột Nguyễn Hữu Thiết. Anh là người điềm đạm, ít nói và có tài.
Thời ở Địa phương quân, tôi biết Lam Phương, anh hiền lành, cũng ít nói nhưng hay vào trại trễ, thường bị phạt chạy vòng sân. Cái thân hình bệ vệ của Lam Phương lúc bị đại úy Tô Công Biên phạt chạy vòng sân, khiến ai cũng tức cười. Ngày nào mọi người cũng tập dượt ầm ĩ cả trại. Sáo có Nguyễn Đình Nghĩa, còn Khả Năng, Phi Thoàn là hai cây cười rôm rả nhất. Anh hề nổi tiếng chịu chơi nhất, hễ buổi sớm lôi nhạc cụ ra thấy thiếu món nào thì y như cứ bắt anh ta phải 'đi chuộc' ở tiệm cầm đồ về là có ngay. Đó là danh hề Thanh Việt, thêm cả Tùng Lâm nữa. Cũng một ngày Tết khác sau 75, tôi gặp Khả Năng ở rạp Rex thì anh vui vẻ nói “Mới ở trại cải tạo về'. Sau đó nghe đâu anh trốn qua Thái lan hay Mã lai rồi mất tăm hơi luôn.
Tôi ngồi với Bùi Giáng mà nhớ tới những ngày cùng Du Tử Lê ở ban Văn nghệ Địa phương quân, sau tôi bị chuyển qua hậu bị quân đưa vô Rừng Sác rồi tôi biến luôn không vào trại nữa. Bùi Giáng gọi thêm rượu rồi ra ngoài, lát sau có người cầm vào hai dĩa bánh ướt to tướng. Bùi Giáng nói: - Ăn đi. Anh còn vào Đàm trường viễn kiến không ?
Tôi vừa ăn vừa lắc đầu: - Viết báo với Chu Tử lo kiếm cơm. Từ ngày cụ Quỳnh mất tôi không tới đó nữa.
Bùi Giáng hỏi:- Chu Tử có tốt không?
- Tốt, vui với anh em lắm. Có Hồ Nam, Trần Dạ Từ, Duyên Anh làm ở đó nữa, nhất là Tú Kếu.
Rồi tôi hỏi:
- Ông có đọc thơ Tú Kếu?
Bùi Giáng trả lời: - Tú Kếu làm thơ lục bát hay lắm. Còn thơ đen thì không có đọc.
Sau đó tôi nói với Chu Tử lấy tập sách kiếm hiệp của Ngọa Long Sinh là Kim Kiếm Điêu Linh do Bùi Giáng dịch đưa vào báo Sống. Sau biến cố 75, mọi sự đều thay đổi. Bạn tôi Trầm Tử Thiêng qua Mỹ viết bản trường ca Áo dài Việt Nam tôi được nghe một lần, rồi anh mất bên đó.
Mùa Xuân này tôi chợt có dịp trở về con đường hẻm Bàn cờ cũ gần nhà cụ Quỳnh, nơi cư xá Đô Thành có trường Tân Thanh xưa, nay đã biến thành khách sạn. Đi sâu vào cư xá Đô Thành, tôi từng vào thăm chị em Khánh Ly ở một căn gác nhỏ dường như mướn trong đó. Thấy tôi đến,cả hai ngó nhau cười như không tiền đãi cà phê đen nữa. Em gái Khánh ly rất đẹp, lần nào tôi đến cũng nói: Anh Kiệt ngâm thơ cho em nghe đi, sau này cô lấy Văn Quang, hiện anh vẫn còn ở lại VN...
À quên nhắc lại ban Văn nghệ Địa phương quân, anh em văn nghệ kẻ còn người mất. Vừa rồi xem băng Thúy Nga Paris,thấy có chương trình về Lam Phương. Nhưng anh ấy nay đã già, bị tai biến mạch máu não, tay phải không còn đàn được nữa. Nhớ tới Lam Phương ngày nào với hàng trăm bản nhạc đi vào lòng người. Thật buồn cho số phận tài hoa của một nhạc sĩ ngày nào...
Khi tôi làm báo Sống, thỉnh thoảng Khánh Ly ghé chơi. Chúng tôi hay ngồi ăn hủ tíu ở quán Tàu đường Gia Long. Lúc đó, ghế chủ tịch đại diện sinh viên Văn khoa là Phạm Quốc Bảo, có cả Phạm Quân Khanh, Ngô Vương Toại giúp sức... Thêm nhiều anh em khác như Cung Văn Nguyễn Vạn Hồng, nhà thơ nữ Hồng Khắc Kim Mai ở Văn khoa thường lui tới nhà tôi. Chúng tôi vẫn hay ngồi quán Chung Nhuận Hy bên hông Lê Thánh Tôn.
Ngày đó trong khuôn viên đại học Văn khoa có dựng một gian nhà gỗ nhỏ của nhóm họa sĩ trẻ gồm Mai Chửng điêu khắc, Nguyễn Trung, Nghiêu Đề, Hồ Thành Đức… Căn nhà gỗ này do Nguyễn Trung và Hồ Thành Đức xin được trong không quân đem về dựng lại. Hằng ngày Nguyên Khai và Nguyễn Thành Nhơn đến điêu khắc chơi và thoạt tiên cũng là chỗ ngủ của Nguyễn Nghiệp Nhượng và Cù Nguyễn.
Sau 75, khi qua đường Lê Thánh Tôn, tôi nhớ lại cái quán cà phê cũ đã thay mới, các cây điệp (phượng đỏ) cội rất lớn, thân cây bị cưa cụt đã đâm ra thêm nhiều cành nhánh mới, có nhánh đã ra hoa...
Tôi đứng lặng nhớ về bạn bè hay gặp nhau ở đấy: Trần Lam Giang, Phạm Tài Tấn, Phạm Quốc Bảo và Bùi Ngọc Tuấn.., nhớ tới các bạn họa sĩ, Khánh Ly, Nguyễn Thụy Long, Lam Thiên Hương thuở còn xuân sắc tươi đẹp. Bây giờ Lam Thiên Hương trở thành bà ngoại già thường dắt cháu ngoại đến Cung văn hóa Lao động chơi.
Đường Lê Thánh Tôn và những cành điệp cũ gợi cho tôi rất nhiều về lịch sử của một thời. Nay mùa Xuân trở lại, con đường vẫn rộn ràng xe cộ, khách nước ngoài đi lại dập dìu.
Cả mấy chục năm nay ở Saigon mà tôi cứ quanh quẩn mãi Thị Nghè như một thằng Mán không biết gì về nhiều sự đổi thay. Năm 2005 Phan Bá Thụy Dương lần đầu tiên về nước ghé thăm tôi: Hai đứa mới trở lại nơi đây nhìn sang Pagoda cũ với tâm trạng ngậm ngùi. Cũng chính từ gốc phố nhộn nhịp này, tôi và Thụy Dương đã làm 2 bài thơ Tưởng Niệm Hoàng Trúc Ly.
Tôi đang ngồi tư lự, quẩn quanh lộn xộn những kỷ niệm xưa, thì Linh và San Hà đi đâu trở về. Linh mời:
- Vào nhà chơi đi anh
- Thôi mình ngồi uống nước mía.. Anh có việc nhờ em.
San Hà nhắc:
- Từ ngày chị Huệ Thu ghé thăm, anh bị trợt thang gác đến nay vẫn cũng chưa lành sao?
- Chị Huệ Thu là người có lòng tốt. Nghe nói chị tửu lượng cao. Trùng Dương không những viết truyện hay mà uống rượu cũng cừ lắm. Tú Trinh cũng vậy. Có lần Tú Trinh ghé nhà không gặp, nói với con gái anh sẽ chở anh đi nhậu. Những người bạn trước đều rủ anh nhậu cả, chỉ có em bảo anh thôi hút thuốc.
- Anh bị bệnh, hút nhiều quá làm sao du Xuân. Sao cây hải đường năm rồi anh không giữ lại?
- Phải, cây hải đường cành lá xum xuê đẹp lộng lẫy. Phạm Cung xuống xem nói đó là đại hồng trà, hái lá nấu làm trà xanh uống ngon lắm. Nhà Hồ Hữu Thủ rộng rãi, năm nay anh định mua tặng anh ấy một cây hải đường, nhà mình chật hẹp không trồng lâu được.
San Hà chở tôi trên chiếc xe Honda thời tiền sử chậm chạp, tôi nói:
- Chạy cẩn thận thôi, coi chừng đụng người ta đấy
San Hà cười.
- Không sao đâu. Để đó em chạy an toàn chở anh đi xem hoa.
- Anh nghe nói trong Tao Đàn có dựng đền Hùng vương, xem hoa xong rồi ta vào lễ đền tổ nghe.
Rồi San Hà cho xe rẽ qua cửa Tây Sàigòn đi về phía bùng binh. Chợ hoa chỗ ấy thật đông đúc: Hải đường, dạ lý và muôn hồng nghìn tía đua nhau khoe sắc mừng mùa Xuân mới. Thân hữu của tôi giờ đây kẻ còn người mất, thất lạc bốn phương. Với tôi họ mãi mãi là những cánh hoa Xuân làm đẹp cho đời, cho nền văn hoá Việt tộc.
Trần Tuấn Kiệt – SG 2008

