Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
MatVit
Posts: 855
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:18 pm

Post by MatVit »

Image


BẪY TÌNH
Thủy bỏ tờ báo xuống, gỡ cặp kính để lên bàn, đôi mắt từ từ khép lại. Nàng vừa đọc một cái tin trên tờ San Jose Mercury News, số ra Sunday, Nov. 6, 2011:

“Sài Gòn City, Vietnam -- The trouble for Henry Liem begins every time he prepares to return to his homeland.

Getting the required visa from the Vietnamese government is a breeze. It's the "second visa" -- from his wife worried that he will stray over there -- that requires diplomatic skills.
> "My wife is always cranky every time I go," said Liem, a philosophy instructor at San Jose City College who visits Vietnam twice a year to teach at a university. "So I rarely disclose my upcoming trip until the last minute. It's pain minimization. The longer she knows, the longer I have to bear the pain."


Bài báo mở đầu bằng câu chuyện của ông Henry Liem nào đó. Ông này về Việt Nam mỗi năm hai lần để dạy triết cho một trường đại học. Không biết ông dạy triết loại gì mà khi xin visa, ông được xã hội chủ nghĩa cho nhập cảnh một cách thật dễ dàng. Tuy nhiên, ngoài cái visa do tòa lãnh sự việt cộng cấp để nhập cảnh, ông còn phải xin thêm một visa nữa để xuất cảnh: đó là cái visa chấp thuận để đi của bà vợ đầu ấp tay gối mỗi ngày.

Một điều nghịch lý là mỗi khi xuất ngoại, hầu hết mọi người đều lo xin visa sớm, để nếu có gì trục trặc, thì còn nhiều thời gian xoay trở. Trong khi cái visa thứ nhì của ông Henry Liem thì ngược lại: phải đợi đến giờ phút cuối ông mới nộp đơn, và không đợi bà vợ có đủ thời gian suy tính cản trở, ông cuốn gói dông cho lẹ!

Cả bài báo đại ý nói về tình trạng đàn ông Việt Nam ở ngoại quốc, khi trở về thăm quê hương, thường bị (hay được!) những cô gái tuổi còn rất trẻ tống tình một cách mãnh liệt. Cho dù là người đàn ông thuộc loại “quá đát, mỏi gối chồn chân,” cũng được các nường nhỏ bằng con cháu của mình chiếu cố một cách tận tình, lý do: tất cả chỉ vì tiền chứ không phải vì tình! Có tiền là các nường sẽ chiều chuộng tới bến. Chính vì cái đề tài “Fun for men, pain for women” nên ông ký giả người Mỹ John Boudreau bỏ công để viết và bài được đăng trên trang nhất ngày Chủ Nhật của tờ báo…

Khoảng năm phút sau, để tâm tư lắng đọng, Thủy mở mắt nhìn lên trần, bài báo đã khơi lại tâm tư đau đớn của nàng…

Liếc nhanh về phòng ngủ của Xuân, người chồng của nàng gần bốn mươi năm, có lẽ ông ta còn ngủ, cũng có thể đã thức mà chưa ngồi dậy. Đã hai năm nay vợ chồng nàng ngủ riêng, mỗi người mỗi phòng, giờ giấc tùy hỉ chẳng ai để ý đến ai. Cứ tưởng sau bao năm làm lụng vất vả trên xứ người, vợ chồng nàng sẽ tận hưởng những gì do công lao hai người cực khổ xây dựng, được sống hạnh phúc bên nhau từng phút từng giây vào lúc cuối đời, nào dè…

---

Năm 1954, nhờ thấy được sự tàn ác của cộng sản, gia đình Thủy nhanh chân lên máy bay đi thẳng vào Sài Gòn và định cư tại đó. Hơn nữa Bố nàng là một người khoa bảng cho nên được chính quyền miền nam nhanh chóng chọn để nắm một chức vụ quan trọng, lúc đó nàng chỉ là một “Cô bé Bắc Kỳ nho nhỏ.” Cuộc đời niên thiếu của nàng êm ả trôi qua tại miền nam nắng ấm. Nàng là nữ sinh TV, đọc dí dỏm là Trứng Vịt thay vì Trưng Vương.

-

Năm lên đệ nhị cấp, do sự giới thiệu của bạn bè, nàng quen biết Xuân, cũng là người bắc di cư, lúc đó Xuân đang học Chu Văn An, hơn nàng hai lớp. Bố của Xuân là một thương gia tương đối thành công tại Sài Thành. Cuộc tình học trò Chu Văn An Trưng Vương (CVATV) chớm nở từ đó.

-

Sau đó Thủy và Xuân đều học luật. Năm 1972, Xuân được bổ nhiệm làm Thẩm Phán của một tỉnh lỵ nhỏ ở miền Tây. Sáu tháng sau, đám cưới của Xuân và nàng được tổ chức linh đình tại Sài Gòn để kết thúc cuộc tình năm chữ : “CVATV” (Chết Vì Ăn Trứng Vịt.)

-

Nàng theo Xuân về sống tại một tỉnh lẻ của đồng bằng miền nam. Với bằng cử nhân luật, nàng xin đi dạy tại một trường trung học để cho đỡ buồn, đồng thời có thêm lợi tức. Cũng nhờ khoảng thời gian sống gần gũi người miền nam và đám học trò thật thà chất phác, nàng cảm thấy thoải mái khi tiếp xúc với mọi người. Theo nàng nghĩ, người miền nam không có chiều sâu, cho nên không cần phải “đề phòng” như người miền bắc. Chỉ cần nói chuyện một lát, là có thể đoán được người đó nghĩ gì, nàng tự hào như vậy.

Nhờ vào chức vụ, Xuân được cấp cho một ngôi nhà xinh xắn bên cạnh một nhánh của sông Cửu Long. Cuộc sống êm ả mỗi ngày của Thủy như giòng nước trôi qua lại khi thủy triều thay đổi. Đứa con gái đầu lòng của nàng cũng sinh ra tại đây. Nhiều khi nàng ngồi im lặng hàng giờ để nhìn nước trôi mà trong đầu chẳng nghĩ ngợi gì hết. Cũng có lúc nàng cảm thấy nhàm chán vì cuộc sống quá êm đềm, nhưng bây giờ, sau bốn mươi năm cuộc đời, nàng thấy nhớ giòng sông năm xưa và thèm có lại những giây phút vô tư lự quý giá đó.

-

Cứ tưởng cuộc đời êm ả trôi qua, đầu Tháng Tư năm 1975, Bố nàng bất thần gọi điện thoại bảo vợ chồng nàng về Sài Gòn gấp, lý do theo Bố nghĩ: miền nam sẽ mất. Với kinh nghiệm hiểu biết về cộng sản, Bố hoảng hốt hối thúc mọi người chuẩn bị đi tỵ nạn thêm một lần nữa. Vợ chồng nàng không tin lắm vì lúc đó vùng đồng bằng vẫn an toàn không một thị trấn nào bị việt cộng chiếm đóng. Bố nàng phải nhiều lần thúc dục, nàng mới chịu ẵm con cùng chồng trở về Sài Gòn khi Quốc Lộ 4 được khai thông trở lại.

-

Cuộc đời đến với nàng một cách thật dễ dàng, trong khi quân dân miền nam vất vả ngăn chặn kẻ thù vào những giờ phút hấp hối, thì gia đình nàng đã tới Subic Bay ở Philippine, có thể nói là những người tỵ nạn đầu tiên đến căn cứ này. Tài sản của cả hai bên nhà nàng và chồng, coi như mang đi hết, ngoại trừ bất động sản. Sau hai lần tỵ nạn: từ bắc vô nam và từ miền nam sang Mỹ, Thủy không có cảm giác đau khổ của một người vì bất đắc dĩ phải lìa bỏ quê hương, đôi lúc nàng còn có cảm tưởng như là đi du lịch, chỉ sau khi rời khỏi trại tỵ nạn Camp Pendleton để định cư tại Orange County, thì nàng mới phải vật lộn với đời sống vật chất của xứ này. Trong những năm đầu, gia đình nàng được nhận trợ cấp của chính phủ, đứa con trai thứ nhì cũng chào đời lúc đó.

Lợi dụng thời gian được hưởng trợ cấp, vợ chồng nàng đã đi học lại. Năm 1980 Xuân ra trường với bằng kỹ sư điện và gia đình nàng dời lên San Jose vì Xuân nhận được việc làm với lương khá cao. Sau đó Thủy cũng nhận được một việc làm về accounting đúng với ngành nàng chọn học.

Thời gian trôi qua, nơi Thung Lũng Hoa Vàng, cặp vợ chồng Xuân Thủy không mấy chốc trở nên khá giả. Có lúc vợ chồng nàng làm chủ đến năm căn nhà vì biết đầu tư đúng lúc vào thị trường địa ốc.

-

Đến năm 2000, Thủy về hưu vì tài chánh không còn cần thiết để nàng phải lặn lội ra đi từ 9 giờ sáng đến 5 giờ chiều nữa. Vả lại, với số bất động sản đã có, nàng đủ việc để ở nhà quán xuyến. Chỉ có chồng nàng là vẫn còn phải tiếp tục đi làm vì lợi tức cao nhờ lương hậu, cộng với bonus và stock hãng cho. Hơn nữa Xuân phải đi làm để có bảo hiểm sức khỏe cho cả gia đình.

Sau khi về hưu, Thủy được hưởng những giây phút thoải mái sau bao năm làm việc vất vả. Xuân, chồng nàng là một người đàn ông tốt, có trách nhiệm, yêu thương nàng và con cái một cách tuyệt đối. Cả thời gian lấy Xuân, nàng chưa bao giờ thấy chồng mình dối gạt hay làm những chuyện gì có lỗi với nàng. Đôi lúc nàng còn tự hào: nhờ “chăm sóc kỹ lưỡng,” nên Xuân không “thoát” được bàn tay phù thủy của nàng, con gái “Bắc Kỳ” mà…

-

Gia đình nàng và Xuân rất sùng đạo Phật. Sẵn có nhiều thời gian rảnh rỗi, nàng đi chùa để tô đắp niềm tin Phật pháp. Cả nàng và Xuân thường hay bỏ thời gian làm công quả cho chùa và dĩ nhiên cũng là người giúp đỡ tận tình nếu chùa bị kẹt về tài chánh. Cũng chính vì như vậy, vợ chồng Thủy là những người được kính nể đối với ban trị sự của chùa, tiếng nói của hai người rất được mọi người chú ý. Ban đầu, trong những cuộc tổ chức làm từ thiện, chùa đều mời vợ chồng nàng tham gia, sau đó với sự nhiệt tình, chùa nhờ vợ chồng nàng đảm trách tất cả.

-

Năm 2002, chùa đón tiếp một vị sư từ Việt Nam qua chơi. Sau nhiều lần tiếp xúc với vị sư này, vợ chồng nàng quyết định về Việt Nam lần đầu, hầu để nhìn tận mắt cảnh khốn khổ của những người nghèo, nhất là những trẻ mồ côi. Lần đó vợ chồng nàng quả thật động tâm khi thấy những nỗi khổ đau của người nghèo sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa. Sau khi trở về Mỹ, Thủy và chồng thành lập một hội từ thiện, kêu gọi lòng hảo tâm của mọi người để giúp những kẻ khốn khổ bên nhà. Nhiều lần tổ chức quyên tiền, văn nghệ gây quỹ và cả hai đã nhiều lần trở về mang lại bao nhiêu niềm hy vọng cho những người khốn cùng. Thủy và Xuân hăng say làm từ thiện vì nghĩ rằng sẽ để phước lại cho con cái.

-

Có một lần, trong một chuyến về Việt Nam, Xuân gặp lại một người bạn học cũ ở trung học. Tay bắt mặt mừng, cả hai đều thích thú kể chuyện ngày xưa lúc còn học ở Chu Văn An. Sau đó người bạn của Xuân mời vợ chồng nàng đi uống nước ở một quán, gần khách sạn nơi vợ chồng nàng đang trú ngụ. Quán nước này trông khá lịch sự, mặc dù các cô chiêu đãi ăn mặc cũng hơi…mát mẻ.

Lúc mới bước vào quán, Thủy để ý xem cảnh vật chung quanh, cảnh giác mọi hành động lẫn lời nói của mấy cô chiêu đãi. Mặc dù Xuân đáng tuổi bác của mấy cô này, nhưng Thủy không muốn cô nào có hành động lố lăng đối với ông chồng của mình. Nàng đã từng nghe rất nhiều lời bàn của mấy bà đã từng về trước… Có một bà bạn của Thủy kể lại rằng: khi vợ chồng bà vào một quán ăn, một cô chiêu đãi viên đáng tuổi cháu, gọi ông chồng đầu tóc bạc phơ của bà là anh và xưng em ngọt sớt. Bà bạn của Thủy nóng mặt lên lớp cô ta rằng: “Ông ấy đáng tuổi bác của cô mà dám gọi bằng anh xưng em?” Bà này nhận được câu trả lời của cô chiêu đãi: “Ở Việt Nam, chỉ có cha và những người già tới một trăm tuổi, mới được gọi Ba và Bác, xưng con, còn dưới một trăm tuổi thì chỉ đáng làm anh thôi.” Bà bạn của Thủy giận run lên mà chẳng nói được gì, chỉ còn biết hối chồng mình đi về!

Khi người bạn của Xuân gọi thức uống, một cô chiêu đãi buột miệng xưng em làm Thủy giật mình. Nàng trừng mắt nhìn cô ta làm cô này khựng lại, lí nhí thêm vài tiếng rồi bỏ vào bên trong.

Vài phút sau, một cô chiêu đãi khác mang thức uống ra. Cô này có gương mặt hiền lành, dáng điệu hết sức khúm núm. Cô ta mời mọi người dùng nước và gọi vợ chồng nàng bằng bác, xưng con. Thủy nghe cách xưng hô, lấy làm hả dạ và có cảm tình với cô này ngay. Dưới mắt nàng cô gái gợi lại hình ảnh những đứa học trò thật thà chất phát của nàng ngày xưa, lúc nàng đi dạy ở trung học.

-

Trong khi Xuân và người bạn đang kể lại những kỷ niệm năm xưa, thì thình lình có tiếng ồn ào chửi bới làm náo động cả quán, cùng lúc đó, một tên thanh niên hùng hổ bước vào gọi tên Mẫn. Hắn ta chửi bới đòi Mẫn phải đưa tiền cho hắn. Người con gái mặt hiền lành mang nước cho nàng lúc nãy sợ hãi bước ra, thì ra cô ta tên Mẫn.

Tên thanh niên vừa trông thấy Mẫn là tiến tới nắm áo, tát vào mặt nàng một cái nẩy lửa. Mẫn chới với không biết phải làm sao. Tên này bèn giật cái ví từ tay của Mẫn, lục soát lấy hết tiền rồi ném trả cái ví vào mặt nàng, xong xuôi hắn bỏ đi. Trước khi rời quán, hắn không quên hăm dọa là sẽ trở lại lấy thêm…

-

Cảnh tượng xảy ra làm Thủy thật bất mãn, nàng chưa bao giờ thấy một người đàn ông vũ phu đánh một người con gái yếu đuối như tên này. Nhìn vào góc nhà, Thủy thấy Mẫn đang ôm mặt khóc nức nở. Động lòng trắc ẩn, nàng đến hỏi thăm và vỗ về, đồng thời hỏi xem sự tình. Mẫn kể lể, người đàn ông đó là chồng của cô. Hai người lấy nhau bốn năm, có một đứa con gái. Vì chồng cô bị nghiện ngập lại mắc thêm tật cờ bạc, nên cả gia đình bị tan nát. Hắn ta còn lén lút đem cầm miếng đất hương hỏa trong đó có cái nhà của cha mẹ nàng ở dưới quê. Vì muốn chuộc lại miếng đất đó, nàng phải giao con cho mẹ giữ để lên Sài Gòn tìm việc làm. Đã vậy mà Mẫn cũng không được yên, thỉnh thoảng hắn tới đòi đưa tiền cho hắn. Mẫn đã nhiều lần thay đổi chỗ làm, nhưng rồi hắn vẫn tìm thấy. Nói xong Mẫn khóc sướt mướt làm Thủy cảm thấy đứt ruột, lòng xót xa thương hại cho một người con gái thật vô phước.

Sau khi biết rõ sự tình, Thủy sanh lòng hảo tâm, rút trong túi quần ra tờ một trăm đô la dúi vào tay Mẫn, coi như là làm một việc từ thiện. Khi nhìn thấy một trăm đô la Mỹ, Mẫn hoảng hốt đưa lại cho Thủy, nói là không dám nhận sự giúp đỡ của nàng. Cho dù Thủy nói cách nào Mẫn vẫn một mực từ chối và nói: con không dám nhận tiền của bác.

Vì tính thật thà của Mẫn, Thủy càng thấy mến người con gái đáng thương này nhiều hơn. Sau đó Thủy hỏi Mẫn là bây giờ cháu tính làm sao. Mẫn trả lời là không biết phải tính sao nữa, vì chồng nàng đã biết chỗ này rồi, thì nàng phải đi tìm chỗ khác để làm. Hơn nữa chỗ ở của Mẫn cũng bị người chồng vũ phu tìm thấy, cho nên cô ta cũng phải tìm nơi khác trú ngụ.

Đã lỡ mở lòng hảo tâm, Thủy không nỡ bỏ rơi Mẫn. Một ý nghĩ thoáng qua đầu, nàng chực nhớ trong chùa, nơi nàng hợp tác làm từ thiện có một phòng trống. Họ vẫn thường mời vợ chồng nàng đến ở mỗi khi về Việt Nam. Nàng hỏi Mẫn: “Nếu cháu không ngại, bác sẽ gửi cháu vào một chùa để tránh chồng của cháu?” Sau một hồi phân vân, Mẫn đồng ý theo Thủy về chùa.

Sau đó, mỗi lần vợ chồng Thủy về Việt Nam làm từ thiện, Mẫn là một trợ tá đắc lực trong mọi công tác. Cô ta hiền lành giữ đạo làm con nên vợ chồng Thủy càng tin tưởng và thương Mẫn nhiều hơn.

-

Sự việc bắt đầu xảy ra là có một lần, trước ba ngày khởi hành về Việt Nam, Thủy bị đưa vào nhà thương cấp cứu vì bị đau ruột dư. Sau hai ngày nằm bệnh viện nàng được về nhà, sức khỏe không có gì nguy hiểm, chỉ cần thời gian bình phục. Vì công việc từ thiện dính líu đến nhiều người, không thể hoãn lại được, nên Thủy bảo chồng đi một mình. Lần đó đáng lẽ chồng nàng chỉ phải ở lại có một tuần, nhưng Xuân đã ở lại đến ba tuần mới về, với lý do: chậm trễ giấy phép của chính quyền. Sau khi Xuân trở về Mỹ, Thủy thấy cử chỉ và hành động của chồng rất khác thường: Xuân như bị mất hồn, tâm trí như ở đâu đâu và dáng dấp trông thật mỏi mệt. Nàng tưởng là Xuân quá vất vả vì công việc, nên lo săn sóc chồng một cách chu đáo… Thật sự Thủy có ngờ đâu, lần vắng mặt của nàng đó, là lần người con gái hiền lành mà nàng thương mến giúp đỡ, đã ngã vào lòng người “bác” kính yêu và âu yếm xưng “em” với chồng của nàng một cách nũng nịu!

Thật ra, lần về làm từ thiện này của Xuân chỉ cần có một tuần, nhưng chỉ ba ngày sau Xuân đã ôm trọn người con gái tuổi còn nhỏ hơn con mình trong vòng tay mà chính chàng cũng không ngờ! Sự việc xảy ra quá bất ngờ nên Xuân không biết phải xử trí ra sao. Sau đó Mẫn đòi ra ở riêng, vì nếu còn ở lại chùa thì thế nào chuyện cũng đổ bễ. Hai tuần về trễ cũng vì Xuân phải ở lại sắp xếp chỗ ở cho Mẫn.

-

Sau lần đó, người chồng thân yêu của Thủy có những cử chỉ khác thường. Đôi lúc Xuân tỏ vẻ yêu thương nàng một cách nồng nàn, đôi lúc thì xa vắng như hồn về cõi khác. Xuân thường hăng say nhắc đến việc về Việt Nam làm từ thiện, chàng còn tỏ vẻ quán xuyến tất cả mọi việc để Thủy không phải lo. Hơn thế nữa, Xuân thường hay ỡm ờ là nếu Thủy không khỏe thì cứ để chàng lo cho cũng được.

Cũng vì hoạch định một chương trình từ thiện quy mô, nên hai tháng sau Xuân trở về Việt Nam, xui một điều là Thủy lại để chồng đi một mình! Lần này theo chương trình, chồng nàng sẽ ở đến ba tuần. Khi ra đi Thủy thấy mặt chồng hớn hở thì nghĩ rằng: đó là cái phúc hậu của người làm từ thiện!

Sau khi Xuân về Việt Nam được hai tuần, vào một đêm, Thủy nhận được một cú điện thoại, người gọi nàng là vị sư cô quản trị của chùa…

-

Để có yếu tố bất ngờ, Thủy tức tốc về Sài Gòn mà không báo cho chồng biết. Sau khi rời phi trường Tân Sơn Nhất, Thủy đến ngay khách sạn nàng thường hay ở để tìm Xuân. Không thấy chồng mình ở đó, Thủy bèn đến chùa ngay, cũng không gặp Xuân, đồng thời nàng mới biết là Mẫn đã dọn ra từ hai tháng trước. Đến bấy giờ nàng mới gọi điện thoại tìm Xuân, điện thoại không trả lời. Cùng đường, nàng đành trở về khách sạn nghĩ cách tìm chồng, tâm can như bị thiêu đốt.

Một ngày sau, có lẽ có người thông báo cho Xuân, chồng nàng hớt hải xách vali hành lý đến khách sạn tìm nàng. Gặp mặt chồng Thủy giận quá muốn xỉu, miệng mấp máy nói không ra lời. Sau cùng nàng cũng ráng hỏi Xuân đi đâu, Xuân ấp úng trả lời là đi phân phát quà từ thiện ở Bình Tuy. Nhìn mặt Xuân, nàng biết ngay đó là lời nói dối, bởi vì người chồng bao nhiêu năm nàng ôm ấp không có cái khuôn mặt trơ trẽn như vậy! Thủy òa lên khóc nức nở…

-

Biết là không thể dối vợ được nữa, Xuân bèn nói thật. Chàng nói là cũng không ngờ tại sao Mẫn nằm trong vòng tay của chàng mà chàng không có cách nào chống cự, để rồi chuyện nó đến và tiếp tục tiến tới. Với số tuổi sáu mươi, Xuân biết mình không còn bao nhiêu sức lực để theo kịp Mẫn, nhưng không hiểu tại sao mỗi lần gần Mẫn, cô ta không bao giờ làm cho chàng có cảm tưởng là một ông già và lúc nào cũng tỏ vẻ chân thành cảm kích Xuân đã cho cô ta những giây phút sung sướng tuyệt vời…Mặc dù là vậy, lần này trở về, Xuân có thủ sẵn một hộp Viagra để giúp chàng có đủ sự tự tin của người đàn ông khỏe mạnh. Hộp thuốc này chàng đã bí mật nhờ một người bạn làm dược sĩ mua dùm, Thủy hoàn toàn không biết…

-

Xuân rón rén mở cửa rào để Thủy bước vào nhà, ngôi nhà nho nhỏ xinh xinh nằm trong một cái hẻm không sâu lắm. Đó là cái tổ uyên ương mà Xuân vừa mới tậu cho Mẫn được một tuần. Chàng gõ nhẹ cửa, cánh cửa mở ra, vợ chồng Thủy hết sức ngạc nhiên vì người mở cửa là tên chồng vũ phu đã đánh Mẫn tại quán nước. Hắn ta tỏ vẻ là chủ nhân mời vợ chồng nàng vào nhà. Sau khi vợ chồng Thủy ngồi xuống, hắn ta chọn một cái ghế ngồi đối diện, dáng điệu trông rất xấc xược. Lúc đó Mẫn đứng phía sau của hắn, gương mặt có vẻ ngại ngùng nhưng không còn nét hiền hậu như những lần gặp trước. Trên môi cô ta, điểm nhẹ một nụ cười khó hiểu. Thủy nhìn giáp vòng rồi nhìn Mẫn hỏi:

“Mẫn, bác thương con như con ruột, sao con có thể làm nên chuyện như vậy?”

Mẫn tránh né không trả lời, tên chồng của cô ta bèn lên tiếng:

“Sẵn đây tui giới thiệu cho hai bác biết, con nhỏ này tên Mận, chứ không phải Mẫn, nó là bồ của tui đó.”

Thủy đi từ ngạc nhiên này, đến ngạc nhiên khác. Nhưng lúc đó nàng mới khám phá ra rằng, đây là một âm mưu có tính toán từ đầu. Hắn ta tiếp lời:

“Nhân dịp này tui cám ơn hai bác đã cho tui gửi con Mận, bây giờ tui lấy nó lại.”

Thủy cứng họng, biết chẳng còn gì để nói, trong khi Xuân chồng nàng mặt mày thay đổi từ xanh qua tím, quả là một điều sỉ nhục. Thủy hậm hực đứng lên ra về, chồng nàng tiu nghỉu, tay chân run rẩy riu ríu theo sau…

-----

Kể từ lần sau cùng về làm từ thiện, Thủy đau khổ tột cùng vì sự phản bội của người chồng yêu quý. Tình cảm hai người hầu như không còn có thể hàn gắn lại. Còn Xuân thì mang một mặc cảm tội lỗi tày trời mà chàng tự nghĩ không thể nào tha thứ cho mình được. Đã nhiều lần chàng quỳ gối trước mặt Thủy khóc lóc van xin tha thứ. Đối với Thủy, người đàn ông mà nàng kính yêu trước kia, bây giờ trông sao hèn hạ quá! Nhục nhã quá!

-

Xuân đã xin nghỉ việc sau khi trở về. Chàng như một kẻ tàn phế từ thể xác đến linh hồn, không còn tâm tư để làm việc được nữa. Việc chùa chiền, làm từ thiện, vợ chồng nàng đều hoàn toàn chấm dứt.

Hai đứa con nàng thấy Bố quá tội nghiệp đều năn nỉ xin nàng tha thứ cho Bố. Vì thương con, hơn nữa chuyện xảy ra Thủy cũng có một phần trách nhiệm, nên lần lần Thủy cũng dịu lại. Xuân vì muốn chuộc lỗi lầm của mình nên lúc nào cũng chiều chuộng vợ một cách quá đáng, nhiều lúc làm Thủy bực mình, nhưng sau cùng nàng lại thấy tội nghiệp… Rồi thì vào một ngày đẹp trời, Thủy đã xiêu lòng và chuyện tình vợ chồng nàng bắt đầu nối lại. Số thuốc Viagra mà Xuân đã dùng vào việc “bất chánh” trước kia, phần còn lại, bây giờ lại có… chánh nghĩa.

-----

Đầu óc Xuân mơ hồ, tai nghe văng vẳng những tiếng xôn xao xa vắng. Đôi mắt chàng từ từ hé mở, nhưng phải nhắm lại ngay vì ánh sáng quá chói chang. Chàng không biết mình ở đâu, cũng không biết chuyện gì xảy ra. Định thần vài giây, chàng lại từ từ mở mắt, chưa kịp nhìn thấy gì thì đã nghe tiếng nói quen thuộc của vợ. Phải thêm chừng ba mươi giây nữa thì Xuân mới biết là mình đang nằm trong bệnh viện…Trong vòng hai tháng, đây là lần thứ nhì chàng bị xỉu và phải đưa vào cấp cứu.

Đã nửa năm nay, sức khỏe của Xuân không tốt. Chàng không nghĩ là mình có bệnh gì nguy hiểm, nhưng không hiểu tại sao cứ thấy mỏi mệt, nhức đầu, đau nhức, tay chân rã rời, con người không có sinh lực…

Vì thấy cái sân cỏ mọc quá cao, Xuân miễn cưỡng đi lấy máy ra cắt. Có lẽ vì nắng hơi gắt, cộng với trong người không được khỏe, nên khi làm nửa chừng chàng bị xỉu. Cũng may là Thủy đang ở gần đó, nên vội vàng gọi xe cứu cấp đưa chồng vào nhà thương. Thủy hoảng hốt sợ chồng mình bị stroke mặc dù lần trước đã không phải. Sau khi nằm ở phòng cấp cứu được năm giờ, Xuân được cho về vì không thấy gì nguy hiểm. Tuy nhiên vì đây là lần thứ nhì, nên bác sĩ cấp cứu khuyên chàng nên gặp bác sĩ riêng của mình để được theo dõi kỹ hơn…

-----

Xuân bước vô nhà, buông người ngồi phịch xuống sofa, tay ôm mặt khóc, chàng thấy cả thế giới chung quanh mình sụp đổ. Xuân tự hỏi: tại sao ông Trời lại có thể tàn nhẫn với chàng như thế được? Sau nhiều cuộc thử nghiệm, kết quả sau cùng bác sĩ có câu trả lời: chàng bị nhiễm trùng HIV, tình trạng trên đà bộc phát! Thêm một hậu quả tai hại do lỗi lầm của chàng gây ra hơn năm năm về trước! Dù có hối hận, tìm cách chuộc lỗi, nhưng đã muộn rồi! Thủy có thể tha thứ cho chàng, nhưng với cái bệnh nan y thời đại, cái giá mà Xuân phải trả thật là quá đắt!

-----

Thủy nhìn lên bàn thờ Phật, tâm tư thật hỗn loạn. Nàng không biết là mình nên cầu cứu với đấng Bồ Tát, hay là trách cứ Ngài. Cả gia đình nàng hoàn toàn bị sụp đổ khi khám phá ra rằng: nàng cũng bị nhiễm trùng HIV do chồng truyền sang! Còn gì tệ hại hơn nữa không? Chắc là không, theo nàng nghĩ!

Kể từ thời niên thiếu, cuộc đời của Thủy êm ả trôi qua, chỉ phải chịu cực đôi chút vì cuộc sống vật chất trên đất Mỹ, nhưng nói chung nàng luôn nhìn đời là màu hồng.

Cứ tưởng rằng với thành quả đạt được sau bao năm vất vả, về hưu, nàng sẽ sống phần đời còn lại một cách thoải mái trong tình yêu gắn bó của gia đình. Nào ngờ tất cả đều sụp đổ kể từ khi vợ chồng nàng bắt đầu… làm từ thiện!

Trách ai đây? Bồ Tát chăng?

Nhiều khi quẩn trí nàng có ý đó, nhưng rồi lại sợ xúc phạm tới đấng thiêng liêng mà bao năm gia đình nàng đặt hết niềm tin.

Trách con Mận và thằng bồ của nó chăng?

Đúng, nếu không có con Mận và thằng bồ của nó bày mưu lập kế, thì người chồng đi ngay về thẳng của nàng đâu có phạm phải một lỗi lầm tày trời như vậy!

Trách Xuân, chồng nàng chăng?

Cũng đúng nữa. Tại sao người chồng của nàng lại dám phản bội nàng đi ngoại tình với một đứa con gái tuổi còn nhỏ hơn con mình? Nàng không bao giờ tin chuyện đó có thể xảy ra được! Vậy mà nó xảy ra!

Trách nàng chăng?

Chuyện xảy ra quá đau khổ, nghĩ tới cái gì, nàng trách cái đó, nghĩ tới người nào nàng trách người đó, trong đó có cả nàng:

Nàng trách mình tại sao về hưu sớm, để có quá nhiều thời gian đi chùa, từ đó mới bày đặt đi làm từ thiện!

Mà muốn làm từ thiện cũng không sao, nhưng tại sao phải về Việt Nam? Xứ Mỹ này cũng lắm người cần giúp đỡ kia mà?

Nàng trách nàng quá dại dột đã để người chồng hiền lành không kinh nghiệm tình trường đi một mình! Chỉ cần một chút mánh khóe của con Mận là đã hồn bay phách tán, quên mất đường về!

Nàng trách nàng quá khờ dại tin người. Trách mình quá tự tin: nhìn bề ngoài của một người miền nam, mà tin là đoán được những gì họ nghĩ trong đầu, như nàng đã từng tự hào khi còn theo chồng dạy học ở miền tây tỉnh lẻ. Nàng không ngờ sau ba mươi năm xa quê hương, vật đổi sao dời, xã hội Việt Nam đã bị nhiễm độc nặng, trong đó, những đứa con gái thật thà miền nam cũng cùng số phận!

Nàng trách, nàng trách tất cả, trách để trút bỏ cái tức, xả bỏ cái hận, trách cho vơi nỗi niềm, trách để đổ lỗi tại cái này, vì người kia, nhưng rốt cục, càng trách nàng càng thấy đau khổ.

-----

Tiếng chuông thanh thoát chấm dứt phần đọc kinh buổi sáng, Thủy nhẹ nhàng để cây chày xuống bàn, ngước mắt nhìn lên bức hình Phật Tổ Như Lai, hai tay chắp trước ngực, nàng lâm râm khấn vái thêm vài phút trước khi đứng dậy. Ngày hai buổi thành tâm tụng niệm, rốt cục Thủy dần dần tìm thấy sự an bình cho tâm hồn. Một điều Thủy khám phá ra rằng: không phải cứ đi chùa thường xuyên là tu. Cũng không phải cho người ta nhiều tiền là làm từ thiện, có nhiều phước. Càng không phải đọc kinh cho hay, lạy cho nhiều là trở thành một người tu hành có cấp bậc cao, để được người khác kính trọng. ..

Tất cả là duyên, là nghiệp hay nói nôm na là cái số. Phật ở trong tâm của ta. Phật ở trong tất cả hành động sinh hoạt hàng ngày. Phật ở tất cả mọi nơi. Điều quan trọng nhất là tâm hồn phải vị tha, luôn thành tâm hướng thiện. Mọi việc đã có tạo hóa an bài…

Nàng đã ngộ.

CHÚ THÍCH:

Vì một cái duyên, tôi biết được câu chuyện. Bài báo của ký giả John Boudreau là động lực thúc đẩy tôi kể lại. Hy vọng nó sẽ đóng góp vào kho tàng vô tận“Chuyện Dài XHCN.”

Vì là chuyện dài xhcn, nên còn rất nhiều mánh khóe hấp dẫn mình chưa thấy hết. Theo tôi nghĩ: nếu còn “Khúc Ruột Ngàn Dặm,”thì mình sẽ còn được thưởng thức những câu chuyện cười ra nước mắt! Xin chúc tất cả may mắn!

2011
Lạc Long Huỳnh Quốc Phú

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Tại sao ca sĩ Trần Thái Hòa có về VN thăm gia đình,
nhưng từ chối không trình diễn?

Vũ Hoàng, phóng viên RFA
Trung tuần tháng 11, ca sĩ Trần Thái Hòa đến tiểu bang Virginia tham dự đêm Thánh nhạc “Hướng Tới Tương Lai”.

Nhân dịp này Vũ Hoàng có cơ hội gặp gỡ và trao đổi với ca sĩ Trần Thái Hòa về con đường nghệ thuật cũng như những tâm tư và tình cảm của anh với con đường ca hát sau đúng 10 năm đứng trên sân khấu.

Vũ Hoàng: Trước hết cám ơn ca sĩ Trần Thái Hòa dành ít phút cho Đài ACTD, Vũ Hoàng xin được hỏi anh Trần Thái Hòa là anh rất nổi tiếng trong trường phái nhạc tiền chiến và nhạc thính phòng, thì không biết anh Hòa có thử sức trong các lĩnh vực khác chưa ạ?

Trần Thái Hòa: Trước hết cho Trần Thái Hòa gửi lời chào đến anh Vũ Hoàng và tất cả thính giả của đài ACTD. Thưa Vũ Hoàng, từ lúc Hòa bắt đầu đi hát thì thường hay hát những tác phẩm tiền chiến như Cô Láng Giềng, hay những bài trong khoảng thời gian cùng thời như thế. Nhưng thực ra, Hòa không chỉ gói gọn mình trong dòng nhạc tiền chiến hay thính phòng, mà ngoài ra, bất cứ một nhạc sĩ nào dù là thời trước 75 hay sau 75 nếu có những bài hát nào mà Hòa cảm thấy phù hợp, Hòa thích thì Hòa đều hát cả, trong đó có những tác phẩm của các nhạc sĩ trẻ hơn thời tiền chiến, ví dụ như Ngô Thuỵ Miên, Từ Công Phụng, Vũ Thành An, Hoàng Thanh Tâm hoặc Diệu Hương sau này và rất nhiều tác giả khác.

Vũ Hoàng: Cho Vũ Hoàng xin hỏi anh Trần Thái Hòa, trong những nhạc phẩm mà anh Trần Thái Hòa đã rất thành công với Trung tâm Thuý Nga thì nhạc phẩm nào mang đến cho anh một kỷ niệm thật sâu sắc không ạ?


Trần Thái Hòa: Nếu Vũ Hoàng hỏi như vậy thì Hòa phải nhắc đến một tác phẩm mà Hòa rất là yêu thích, đó là bài Cô Láng Giềng của nhạc sĩ Hoàng Quý, là bởi vì bài hát này lúc ở Việt Nam, khi Trần Thái Hòa còn bé thì được nghe danh ca Sĩ Phú và danh ca Duy Trác hát, nghe giai điệu du dương rất là hay, lời rất là đẹp, mà thời gian đó là sau 1975, ở miền Nam bị cấm không được nghe nhạc tiền chiến hoặc nhạc vàng, thì gia đình phải lén lút phải mở băng cassette lúc xưa để nghe những bài hát đó.

Lúc đó tài sản còn lại duy nhất là một máy cassette và mấy cuốn băng nhạc trước 75 mà thôi, nên quý lắm, đến gần Tết mới lấy ra để mở nghe một lần, mở nhỏ nhỏ, nghe lén thôi.

Bây giờ mỗi lần nghe đến Cô Láng Giềng: Hôm nay trời xuân bao tươi thắm, dừng bước phiêu lưu về thăm nhà thì Hòa cứ nghĩ đến những mùa xuân tại quê nhà trong những thời gian rất khó khăn đó. Đó là điều mà Trần Thái Hòa không thể nào quên được.

Vũ Hoàng: Vâng cám ơn ca sĩ Trần Thái Hòa, đó là một kỷ niệm rất là đẹp và rất là xúc động, thì một câu hỏi rất riêng tư thôi, có một Cô Láng Giềng như vậy, thì không biết ngoài đời cô láng giềng của anh Trần Thái Hòa ra sao ạ?

Trần Thái Hòa: Lúc xưa trung tâm Thuý Nga muốn gả cô láng giềng cho Trần Thái Hòa nhưng không thành, thế nên sau này, đem lòng yêu Cô Hàng Nước, cuối cùng thì cũng không đâu về đâu bởi vì cô ấy đã đi lấy chồng rồi.

Thích tự do hát và sáng tạo

Vũ Hoàng: Vâng… (cười) … Hiện nay thấy có một trào lưu, không biết sử dụng từ “trào lưu” có chính xác hay không, nhưng Vũ Hoàng thấy đông đảo ca sĩ ở hải ngoại về Việt Nam biểu diễn thì không biết anh Trần Thái Hòa như thế nào trong trào lưu đó?

Trần Thái Hòa: Thưa Vũ Hoàng cũng như thưa quí thính giả của Đài Á Châu Tự Do, tháng 3 vừa rồi, Trần Thái Hòa có dịp về thăm gia đình, Hòa có mặt ở cả Sài Gòn và Hà Nội. Có rất nhiều lời mời biểu diễn ở trong nước, những phòng trà lớn ở Sài Gòn, nhất là ở Hà Nội có những chương trình rất lớn, họ muốn tổ chức ngay tại Nhà Hát Lớn Hà Nội và mời Trần Thái Hòa về trình diễn nhưng mà Hòa từ chối.

Dạo này có rất nhiều ca sĩ hải ngoại, những người thành danh trước năm 1975 hoặc sau năm 1975 về Việt Nam trình diễn, đối với riêng Trần Thái Hòa thì Hòa nghĩ rằng, mỗi người có một quan niệm, nhận định và suy nghĩ riêng về bối cảnh lịch sử đất nước, về kinh tế hoặc là họ về đơn thuần là mở rộng thị trường ca hát của họ mà thôi. Với riêng Hòa, Hòa không có ý kiến hay chống đối gì đối với những đồng nghiệp về Việt Nam trình diễn hiện nay.

Nhưng lý do vì sao Hòa từ chối, bởi quan niệm riêng của Hòa là trong vấn đề nghệ thuật nói chung và vấn đề ca hát nói riêng, cần phải có sự tự do để mình hát và sáng tạo. Sự tự do này Hòa muốn nói đến đối với riêng cá nhân của Hòa thôi, đó là Hòa muốn hát những bài hát Hòa muốn hát và muốn hát những bài hát thính giả thực sự muốn nghe, chứ Hòa không muốn chỉ hát những bài được phép hát, được phép phát hành, được phép nghe thôi. Đấy là lý do Trần Thái Hòa cảm thấy như vậy.


Vũ Hoàng: Vâng, cũng rất là cám ơn anh Trần Thái Hòa đã có những suy nghĩ cũng như những bộc bạch rất chân thành. Thì cũng nhân đây, thay mặt quí thính giả đài ACTD, Vũ Hoàng cám ơn anh Trần Thái Hòa rất nhiều cho buổi trò chuyện thân mật và cởi mở để thấy hết ý nghĩa và nghĩa tình của ca sĩ hải ngoại khi hướng về Việt Nam cũng như khi phục vụ cộng đồng người Việt khắp nơi trên thế giới.


Trần Thái Hòa: Trần Thái Hòa cám ơn anh Vũ Hoàng, kính chúc Vũ Hoàng cũng như quí thính giả của Đài ACTD một mùa Lễ Thanksgiving và Giáng sinh thật là hạnh phúc, đầm ấm bên gia đình và người thân. Xin kính chào.

Khi được hỏi ca sĩ Trần Thái Hòa muốn giới thiệu một bài hát hay một điệu nhạc nào thật là tâm đắc đến thính giả, thì ca sĩ Trần Thái Hòa có nói với Vũ Hoàng rằng bất kỳ một bài hát nào Trần Thái Hòa thu âm, lựa chọn thì đều là những bài hát tâm huyết, mang đến cho thính giả những giây phút thư giãn, chiêm nghiệm được hết vẻ đẹp của bài hát. Đó là mục đích mà ca sĩ Trần Thái Hòa muốn gửi đến quí thính giả.

User avatar
mexanh
Posts: 517
Joined: Tue Nov 04, 2008 4:18 am

Post by mexanh »

Image

Chủ Nhật...." Tuổi Đá Buồn "

Có những câu hát bất chợt thoảng qua tai khi ta đi trên đường bỗng làm trái tim thổn thức, bâng khuâng, nhiều khi là giật mình vì giọng hát kia như đang nói hộ lòng mình. Âm nhạc nhiều khi làm cho người ta bật khóc vì nó nói đựơc những điều mà ta chỉ có thể trải nghiệm bằng cảm nhận của riêng mình…

Từ một quán café bên đường? Hay từ trong tâm tưởng của một tâm hồn đang dồn nén bởi những cô đơn giờ đây được không gian bàng bạc mưa khai mở? Không biết, và cũng ko cần biết nữa.

Trời còn làm mưa, mưa rơi mưa rơi
Từng phiếm mây hồng, em mang trên vai
Tuổi buồn như lá, gió mãi cuốn đi, quay tận cuối trời..

Những câu hát như những lời ru miệt mài đưa bước em đi về một miền giáo đường, mà có lẽ là một miền ký ức mông lung…

Em mang trên tay những bông hồng hay mang tình một tình yêu, mang mà như quên, như cố quên, một sự vùi lấp những ký ức, những kỷ niệm đã làm em buồn “ru em giận hờn, ru em giận hờn..”

Trời còn làm mưa, mưa rơi thênh thang,
Từng gót chân trần, em quên, em quên
Ôi miền giáo đường, ngày chủ nhật buồn
Còn ai còn ai…

Đời người như một giấc mộng phù du, như một điều gì đó không thật, đứng bên bờ vực của nỗi vui và cơn buồn sầu như từ kiếp trước. Tuổi em buồn, tuổi ta buồn hay cuộc đời chúng ta buồn như chiếc lá kia mỏng manh vô định. Em không biết, ta cũng không biết…

Âm điệu mênh mang trải dài suốt bài hát gợi cho ta những cảm xúc thật khó nói được bằng lời. Đời người, ai tránh được những khổ đau.

Có những người như mang trong lòng khổ đau, sầu nhớ từ kiếp trước, để rồi khi nghe những âm điệu mênh mang ấy lại giật mình như đang nhớ lại điều gì không thực mà sao lại khiến ta buồn đến lạ...

Trần Tuấn Cường
Image
Khánh Ly

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=ncp7b8p4nz

Trời còn là mưa, mưa rơi mênh mang
Từng ngón tay buồn, em mang em mang
Đi về giáo đường, ngày chủ nhật buồn
Còn ai còn ai
Đóa hoa buồn cài lên tóc mây
Ôi đường phố dài, lời ru miệt mài
Ngàn năm ngàn năm, ru em nồng nàn, ru em nồng nàn.

Trời còn là mây, mây trôi lang thang
Sợi tóc em bồng, trôi nhanh trôi nhanh
Như dòng nước hiền, ngày chủ nhật buồn
Còn ai còn ai
Đóa hoa hồng vùi quên trong tay
Ôi đường phố dài, lời ru miệt mài
Ngàn năm ngàn năm, ru em giận hờn, ru em giận hờn.

Trời còn là mưa, mưa rơi mưa rơi
Từng phiến băng dài trên hai tay xuôi
Tuổi buồn em mang, đi trong hư vô, ngày qua lững lờ
Trời còn là mưa, mưa rơi mưa rơi
Từng phiến mây hồng, em mang trên vai
Tuổi buồn như lá, gió mãi cuốn đi, quay tận cuối trời.

Trời còn là mưa, mưa rơi thênh thang
Từng gót chân trần, em quên em quên
Ôi miền giáo đường, ngày chủ nhật buồn
Còn ai còn ai
Đóa hoa hồng tàn hôn lên môi
Em về ngón dài, lời ru miệt mài
Ngàn năm ngàn năm, ru em muộn phiền, ru em bàng hoàng.


Image
Minh họa của họa sĩ Đinh Cường cho nhạc phẩm Tuổi đá buồn với chữ viết của TCS ghi tặng

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

"Cái Giọng Sài Gòn"
Sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn, trong đầu lúc nào cũng có một ý định là sẽ “thở đều” trên mảnh đất ồn ào này, ý định đó chắc sẽ giữ mãi cho đến lúc một ngày nào đó âm thầm không bứt rứt cắn tay áo mà mỉm cười he he he XXX xuống dưới ấy…

Gọi là yêu Sài Gòn thì có phần hơi quá! Không dám gọi thứ tình cảm dành cho Sài Gòn là tình yêu, nó chưa thể đạt đến mức ấy. Cái tình với Sài Gòn là cái tình của một thằng ăn ở với Sài Gòn hơn 20 năm, cái tình của một thằng mà với nó, Sài Gòn còn quá nhiều điều níu kéo, quá nhiều chuyện để mỗi khi bất chợt nghĩ về Sài Gòn, lại thấy nhơ nhớ, gần gũi...

Hồi còn đi học, vẫn hay chọc mấy đứa bạn bằng 2 câu thơ nhại :
Image
hình minh họa
Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ
Gái Sài Gòn cái mỏ cong cong


Chuyện con gái Sài Gòn "mỏ" có cong không thì hổng có biết, chỉ biết con gái Sài Gòn có cái đầu môi cong cong dễ làm chết người lắm, nhất là khi cánh môi be bé ấy cong lên một chữ "hônggg..." khi đứa con trai rủ rê đi đâu, năn nỉ gì đó. Lúc đó, đem gương hay kiếng soi, chắc cái mặt của đứa con trai đó tội lắm.

Mà con gái Sài Gòn có điệu đà, õng ẹo chút thì mới đúng thiệt là con gái Sài Gòn. Ai mà chẳng biết vậy. Gọi đó là cái duyên ngầm của người con gái đất Gia Định cũng chẳng có gì sai. Ai hiểu được, người đó sẽ thấy sao mà yêu mà thương đến vậy...

Có dạo đọc trong một bài viết về Sài Gòn – Gia Định của nhà văn Sơn Nam , có thấy ông viết giọng Sài Gòn, cũng như văn hóa và con người Sài Gòn là một sự pha trộn và giao thoa đến hợp nhất của nhiều nơi. Đó là những người Chăm bản địa, những người khách trú (người Hoa hay chú ba tàu), những người miền Trung đầu tiên đến đất Gia Định…Từ đó hình thành một loại ngôn ngữ vừa bản địa, vừa vay mượn của những người đi mở đất…

Giọng người Sài Gòn được xem là giọng chuẩn của miền Nam, cũng như giọng người Hà Nội được xem là giọng chuẩn của người miền Bắc. Giọng chuẩn tức là giọng không pha trộn, không bị cải biến đi qua thời gian. Như nói về giọng chuẩn của người Hà Nội, người ta nói đến cái giọng ấm nhẹ, khi trầm khi bổng, khi sắc khi thanh, và chẳng ai phủ nhận người Hà Nội nói chuyện rất hay và “điêu luyện”. Cái “điêu luyện” ấy như thuộc về bản chất của người Hà Nội mà chỉ người Hà Nội mới có được. Nếu nói là người Việt Nam nói như hát, thì đúng ra chỉ có người Hà Nội là “nói như hát” mà thôi, họa chăng chỉ còn có giọng tha thiết của người con gái xứ Huế trầm tư mới cùng được ví von như thế…

Người Sài Gòn thì khác, giọng Sài Gòn cũng khác. Không ngọt ngào …mía lùi như một số người dân Tây Nam Bộ ven vùng sông nước mênh mang chín rồng phù sa, không nặng nề cục mịch như người miền Đông Nam Bộ nóng cháy da thịt. Giọng người Sài Gòn cũng ngọt, nhưng là cái ngọt thanh hơn, nhẹ hơn. Đó là chất giọng “thành thị” đầy kiêu hãnh của người Sài Gòn, thứ giọng chẳng lẫn vào đâu được mà dù người khác có bắt chước cũng khó lòng. Dường như qua nhiều năm cùng với đất Gia Định – Sài Gòn phù hoa trong nhịp sống, trong đổi mới và phát triển, thì giọng nói của người Sài Gòn cũng trở nên “cao sang” hơn. Dù vậy, nó chính là cái “thanh” của một vùng đất một thời là thủ phủ Nam Bộ, nhưng cũng chẳng mất đi đâu cái mộc mạc không bỏ được của cái gốc chung Nam Bộ.
Image
hình minh họa
Giọng người Sài Gòn nói lên nghe là biết liền. Ngồi nghe hai người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau ở một quán nước, bên đường hay qua điện thoại, dễ dàng nhận ra họ. Cái giọng không cao như người Hà Nội, không nặng như người Trung, mà cứ ngang ngang, sang sảng riêng…Mà điều đặc biệt trong cách người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau là mấy từ “nghen, hen, hén” ở cuối câu... Người miền khác có thích hay khoái, có yêu người Sài Gòn thì cũng vì cách dùng từ “nghen, hen” này.

Khách đến nhà chơi, chủ nhà tiếp. Khách về, cười rồi buông một câu “Thôi, tôi dìa nghen!” - Chủ nhà cũng cười “Ừ, dzậy anh dìa hen!”.

Nói chuyện điện thoại đã đời, để kết câu chuyện và cúp máy, một người nói “Hổng còn gì nữa, dzậy thôi hen!”. “Thôi” ở đây nghĩa là dừng lại, kết thúc, chấm dứt gì đó. Hai đứa bạn nói chuyện cùng nhau, bắt gặp cái gì vui, quay đầu sang đứa kế bên lên tiếng “Hay hén mậy?” bằng giọng điệu thoải mái…

Giọng người Sài Gòn đôi khi diễn đạt cùng một câu nói, nhưng lại bằng nhiều cung bậc giọng điệu khác nhau, lại mang ý nghĩa khác nhau. Đám nhỏ quậy, nghịch phá, người chị mắng, giọng hơi gằn lại và từng tiếng một, có chút hóm hỉnh trong đó “Dzui dzữ hen!”.

Đám bạn cùng tuổi, ngồi chơi chung, cười đùa, một người nói giọng cao cao vui vẻ “Dzui dzữ hen!”… Người Sài Gòn có thói quen hay “đãi” giọng ở chữ cuối làm câu nói mang một sắc thái khác khi hờn giận, khi đùa vui như “Hay dzữuuu”, “Giỏi dzữưưu…!”
Image
hình minh họa
Nghe người Sài Gòn nói chuyện, trong cách nói, bắt gặp “Thôi à nghen” “Thôi à!” khá nhiều, như một thói quen, như cái “duyên” trong giọng Sài Gòn. Người Sài Gòn nói chuyện, không phát âm được một số chữ, và hay làm người nghe lẫn lộn giữa âm “d,v,gi” cũng như người Hà Nội phát âm lẫn các từ có phụ âm đầu “r” “xong dzồi”.


Nói thì đúng là sai, nhưng viết và hiểu thì chẳng sai đâu, đó là giọng Sài Gòn mà, nghe là biết liền. Mà cũng chẳng biết có phải là do thật sự người Sài Gòn không phát âm được những chữ ấy không nữa, hay là do cách nói lẫn từ “d,v,gi” ấy là do quen miệng, thuận miệng và hợp với chất giọng Sài Gòn..

Ví như nói “Đi chơi dzui dzẻ hen mậy!” thì người Sài Gòn nói nó… thuận miệng và tự nhiên hơn nhiều so với nói “Đi chơi vui vẻ hen!”. Nói là “vui vẻ” vẫn được đấy chứ nhưng cảm giác nó ngường ngượng miệng làm sao đó. Nghe một người Sài Gòn phát âm những chữ có phụ âm "v" như "về, vui, vườn, võng" có cảm giác sao sao ấy, không đúng là giọng Sài Gòn chút nào...


Nhìn lại một quãng thời gian hơn 300 năm hình thành và phát triển của Sài Gòn từ Phiên Trấn, Gia Định Trấn, Gia Định Thành, Phiên An, Gia Định Tỉnh…cho đến Sài Gòn, dân Sài Gòn đã là một tập hợp nhiều dân tộc sinh sống như Việt, Hoa, Kh’mer…Các sử sách xưa chép lại, khi người Việt bắt đầu đến Đồng Nai – Gia Định thì người Kh’mer đã sinh sống ở đây khá đông, rồi tiếp đó là khách trú (người Hoa), và một số dân tộc láng giềng như Malaysia, Indonesia (Java) cũng có mặt. Sự hợp tụ này dẫn đến nhiều sự giao thoa về mặt văn hóa như đàn ông không mặc quần mà quấn sà rông, nhà giầu quê bận bộ áo bà ba mầu trắng, làm ăn khi giao tiếp phải có chầu “nhậu”, cũng như những mặt khác của đời sống, trong đó dĩ nhiên phải nói đến ngôn ngữ.

Tiếng nói của người Sài Gòn không chỉ thuần là tiếng Việt, mà còn là sự học hỏi, vay mượn nhiều từ ngữ của dân tộc bạn, đâm ra mang nhiều “hình ảnh” và “màu sắc” hơn. Những từ như “lì xì, thèo lèo, xí mụi, cũ xì,cái ki …” là tiếng mượn của khách trú, những từ như “xà quầng, mình ên…” là tiếng của người Kh’mer. Nói riết đâm quen, dần dần những từ ngữ đó, những tiếng nói đó được người dân Sài Gòn sử dụng một cách tự nhiên như của mình, điều đó chẳng có gì lạ…Thêm vào đó, nó được sửa đổi nhiều cho phù hợp với giọng Sài Gòn, thành ra có những nét đặc trưng riêng.

Vậy nói cho cùng thì người Sài Gòn cũng có những tiếng gọi là “tiếng địa phương” (local dialect !?). Những tiếng này thể hiện rõ nhất khi người Sài Gòn nói chuyện cùng người miền khác. Nghe một người Sài Gòn nói chuyện cùng một người khác vùng, dễ dàng nhận ra những khác biệt trong lời ăn tiếng nói giữa hai người, hai miền. Có một số từ người Sài Gòn nói, người miền khác nghe rồi…cười vì chưa đoán ra được ý. Điển hình như tiếng “địt”, có nghĩa là cái bụng nó sả hơi. Cũng như khi nghe người Huế dùng một số từ lạ lạ như “o, mô, ni, chừ, răng…” trong khi nói chuyện vậy thôi. Khác là mấy tiếng người Sài Gòn nói, vẫn có chút gì đó nó…vui vui tai, là lạ, ngồ ngộ làm sao.

Người Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung, có thói quen dùng từ "dạ" khi nói chuyện, khác với người miền Bắc lại dùng từ "vâng". Để ý sẽ thấy ít có người Sài Gòn nào nói từ "vâng". Khi có ai gọi, một người Sài Gòn nói "vâng!" là trong dáng dấp của câu nói đó có giọng đùa, cười cợt.

Khi nói chuyện với người lớn hơn mình, người dưới thường đệm từ "dạ" vào mỗi câu nói. "Mày ăn cơm chưa con ? - Dạ, chưa!"; "Mới dìa/dzề hả nhóc? - Dạ, con mới!"… Cái tiếng "dạ" đó, không biết sao trong cảm giác nghe của một người Sài Gòn với một người Sài Gòn thấy nó "thương" lạ...dễ chịu mà gần gũi, nhẹ nhàng mà tình cảm lắm lắm. Cảm giác nó thật riêng so với những nơi khác. Nghe một tiếng "dạ" là biết ngay tên này là dân miền Nam cái đã rồi hẳng hay...

Một người miền khác, có thể là Bắc hoặc Trung, diễn tả một khoảng thời gian ngắn vài ngày thì nói “Từ bữa đó đến bữa nay”, còn người Sài Gòn thì nói “Hổm nay”, “dạo này”…người khác nghe sẽ không hiểu, vì nói chi mà ngắn gọn ghê. (Lại phát hiện thêm một điều là người Sài Gòn hay dùng từ “ghê” phía sau câu nói để diễn tả một sắc thái tình cảm riêng. Tiếng “ghê” đó chẳng hàm ý gì nhiều, nó mang ý nghĩa là “nhiều”, là “lắm”. Nói “Nhỏ đó xinh ghê!” nghĩa là khen cô bé đó xinh lắm vậy.)

Lại so sánh từ “hổm nay” với “hổm rày” hay nghe ở các vùng quê Nam Bộ, cũng một ý nghĩa như nhau, nhưng lại không hoàn toàn giống nhau.. Nghe người Sài Gòn dùng một số từ “hổm rày, miết…” là người Sài Gòn bắt chước người miền sông nước vậy. Nhưng nghe vẫn không trái tai, không cảm thấy gượng, vì trong người Sài Gòn vẫn còn cái chất Nam Bộ chung mà.

Nghe một đứa con trai Sài Gòn nói về đứa bạn gái nào đó của mình xem…”Nhỏ đó xinh lắm!”, “Nhỏ đó ngoan!”…Tiếng “nhỏ” mang ý nghĩa như tiếng “cái” của người Hà Nội. Người Sài Gòn gọi “nhỏ Thuý, nhỏ Lý, nhỏ Uyên” thì cũng như “cái Thuý, cái Uyên, cái Lý” của người Hà Nội thôi.

Nói một ai đó chậm chạp, người Sài Gòn kêu “Thằng đó làm gì mà cứ cà rề cà rề…nhìn phát bực!” Nghe cứ như là đùa, chẳng làm câu nói nặng nề lắm. Một người lớn hơn gọi “Ê, nhóc lại nói nghe!” hay gọi người bán hàng rong “Ê, cho chén chè nhiều nhiều, tiền ít coi!”… “Ê” là tiếng Sài Gòn đó, kiểu bắt chước Tây, coi gọi trổng không vậy mà chẳng có ý gì đâu, có thể nói đó là thói quen trong cách nói của người Sài Gòn. Mà người Sài Gòn cũng lạ, mua hàng gì đó, thường “quên” mất từ “bán”, chỉ nói là “cho chén chè, cho tô phở”… “cho” ở đây là mua đó nghen.

Nghe người Sài Gòn nói chuyện với nhau, thường bắt gặp thế này “Lấy cái tay ra coi!” “Ngon làm thử coi!” “Cho miếng coi!” “Nói nghe coi!”… “Làm thử” thì còn “coi” được, chứ “nói” thì làm sao mà “coi” cho được nè ? Vậy mà người Sài Gòn lại nói, từ “coi” cũng chỉ như là một từ đệm, dân Sài Gòn nói dzậy mà.

Ngồi mà nghe người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau thì quái lắm, lạ lắm, không ít người sẽ hỏi “mấy từ đó nghĩa là gì dzậy ta ?” – Mà “dzậy ta” cũng là một thứ “tiếng địa phương” của người Sài Gòn à. Người Sài Gòn có thói quen hay nói “Sao kỳ dzậy ta?” “Sao rồi ta?” “Được hông ta?”…Nghe như là hỏi chính mình vậy đó, mà…hổng phải dzậy đâu nghen, kiểu như là nửa hỏi người, nửa đùa đùa vậy mà. “coi dzậy mà hổng phải dzậy”


Tiếng Sài Gòn là thế đó, nếu bạn giả giọng Sài Gòn nói chuyện, dù có giống cách mấy mà bỏ quên mấy tiếng đệm, mấy tiếng Sài Gòn riêng riêng này thì đúng là… “bạn hông biết gì hết chơn hết chọi!”. Mà giọng Sài Gòn đã thế, cách người Sài Gòn xưng hô, gọi nhau cũng có phần mang “màu sắc” riêng.

Người Sài Gòn có cái kiểu gọi “Mày” xưng “Tao” rất “ngọt”. Một vài lần gặp nhau,nói chuyện ý hợp tâm đầu một cái là người Saigon mày tao liền. Nếu đúng là dân Sài Gòn, hiểu người Sài Gòn, yêu người Sài Gòn sẽ thấy cách xưng hô ấy chẳng những không có gì là thô thiển mà còn rất ư là thân thiện và gần gũi.

Mày-tao là kiểu xưng hô hay thấy trong mối quan hệ bạn bè của người Sài Gòn. Cách xưng-hô này thấy dàn trải từ đủ các mối quan hệ bạn bè; từ bạn học giữa mấy đứa nhóc chút xíu, cho đến mấy bác mấy anh lớn lớn tuổi. Hổng biết cái máu dân Sài Gòn nó chảy mạnh quá hay sao mà thấy mấy cách gọi này nó...tự nhiên và dễ nói hơn là mấy từ như "cậu cậu - tớ tớ" của miền Bắc. Nói chuyện bạn bè với nhau, thân thiết mà gọi mấy tiếng mày mày tao tao thì nghe thật sướng, thật thoải mái tự nhiên, và khoai khoái làm sao ấy. Gọi thế thì mới thiệt là dân Sài Gòn.

Đấy là ngang hàng, ngang vai vế mà gọi nhau, chứ còn như đám nho nhỏ mà gặp người lớn tuổi hơn, đáng bậc cha, chú thì khác. Khi ấy “tụi nhỏ” sẽ gọi là chú, thím, cô, dì, hay bác và xưng “con” ngọt xớt. Có vẻ như người Sài Gòn "ưa" tiếng chú, thím, dì, cô hơn; cũng như đa phần dân miền Nam khác vậy mà. Mà có lẽ cách gọi này cũng còn tuỳ vào việc ước lượng tuổi của người đối diện. Gặp một người phụ nữ mà mình nhắm chừng tuổi nhỏ hơn mẹ mình ở nhà thì "Dì ơi dì...cho con hỏi chút...!" - còn lớn hơn thì dĩ nhiên là "Bác ơi bác..." rồi. Khi gọi một cách thân mật có ý khuyên bảo với một em nhỏ, người Sài gòn thường nói “Nầy, chú em…”

Những tiếng mợ, thím, cậu,... cũng tuỳ vào vai vế và người đối diện mà gọi. Có người chẳng bà con thân thuộc gì, nhưng là bạn của ba mình, lại nhỏ tuổi hơn, thế là gọi là chú và vợ của chú đó cứ thế gọi luôn là thím. Gọi thì gọi thế, còn xưng thì xưng “con” chứ không phải “cháu cháu” như một số vùng khác. Cái tiếng “con” cất lên nó tạo cho người nghe cảm giác khoảng cách giữa mình với đứa nhỏ đang nói kia tự dưng… gần xịt lại. Nghe sao mà quen thuộc, và gần gũi đến lạ lùng. Tự dưng là thấy có cảm tình liền.

Nói tiếp chuyện xưng-hô, người Sài Gòn có kiểu gọi thế này :

Ông đó = ổng
Bà đó = bả
Anh đó = ảnh
Chị đó = chỉ

Không hiểu sao mà dấu hỏi tự nhiên cái trở nên giữ vai trò quan trọng... ngộ nghĩnh vậy nữa. Nhưng mà kêu lên nghe hay hay đúng hông? Gọi vậy mới đúng là chất Nam Bộ - Sài Gòn á nghen.

Người Sài Gòn cũng có thói quen gọi các người trong họ theo... số. Như anh Hai, chị Ba, thím Tư, cô Chín, dượng Bảy, mợ Năm...Mà nếu anh chị em họ hàng đông đông, sợ gọi cùng là chị Hai, anh Ba mà hổng biết nói về ai thì dzậy nè, thêm tên người đó vào. Thành ra có cách gọi : chị Hai Lý, chị Hai Uyên, anh Ba Long, anh Ba Hùng, anh Sáu Lèo ...


Thêm nữa, nếu mà anh chị em cùng nhà thì tiếng "anh-chị-em" đôi khi được....giản lược mất luôn, trở thành "Hai ơi Hai, em nói nghe nè..." và "Gì dzạ Út ?"...Tôi thích cách gọi này, đâm ra ở nhà gọi Dì Út tôi chỉ là một tiếng Út gọn lỏn. Có chuyện nhờ là cứ "Út ơi...con nhờ chút!" hoặc với mấy chị tôi thì "Hai ơi Hai...em nói nghe nè!".

Cách gọi này của người Sài Gòn nhiều khi làm người miền khác nghe hơi...rối. Có lần, kể cho người bạn ở Hà Nội nghe về mấy người anh chị trong gia đình. Ngồi kể lể "anh Hai, chị Hai, dì Hai, Út, cậu Hai, mợ Hai, chú Ba..." một hồi cái bị kêu là hổng hiểu, xưng hô gì rối rắm quá chừng, làm phải ngồi giải thích lại suốt một hồi...lâu.

Cách xưng hô của người Sài Gòn là vậy. Nghe là thấy đặc biệt của cả một mảnh đất miền Nam sông nước. Cứ thế, không sang trọng, điệu đà như giọng người dân đất Bắc, cũng chẳng trầm lắng, thanh thanh như tiếng Huế Thần Kinh. Cái giọng Sài Gòn đi vào tai, vào lòng, vào cách cảm, và nỗi nhớ nhung của người Sài Gòn lẫn dân miền khác bằng sự ngọt ngào, bằng cái chân chất thật thà của truyền thống xa xưa, và bằng cả cái “chất Sài Gòn” chảy mạnh trong từng mạch máu người dân Sài Gòn. Đi đâu, xa xa Sài Gòn, bỗng dưng nghe một tiếng “Dạ!” cùng những tiếng “hen, nghen” lại thấy đất Sài Gòn như đang hiện ra trước mắt với những nhớ thương…

Hải Phan

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

TẢN MẠN VỀ CHIM

Nguyễn Thị Kim-Thu

Image
Chim robin, khách vườn nhà tôi
Con chim robin năm nay đến viếng vườn nhà tôi sớm trước ba tuần. Đây là năm thứ 8 nó đến thăm vườn nhà tôi, thông thường khoảng một tuần trước Giáng Sinh. Năm nay nó đến sớm hơn, có lẽ do khí hậu ấm hơn các năm trước. Cách đây 2 năm (2010), trời quá lạnh, tuyết rơi suốt cả tuần trong dịp giáng sinh, nó không đến, tôi tưởng nó đã chết. Chim robin thuộc loại thiên di, không có quê hương nhất định, nay đây mai đó trên lộ trình đã quy định trong tìềm thức để đến thăm viếng nơi chốn cũ một thời gian ngắn rồi bay đến nơi khác. Tạo hóa thật tuyệt vời, làm sao đầu óc nhỏ xíu của nó biết đường tìm về chốn cũ trên đoạn đường thiên di từ Phi Châu bay qua Đại Tây Dương để đến nước Anh, tới ngôi vườn nhà tôi rồi đến các nơi khác.
Trên thế giới có khoảng 10 ngàn loài chim, sống ở mọi khí hậu, kễ cả những khí hậu khắc nghiệt nhất mà con người không thể sống được. Chẳng hạn loài chim Penguin sống ở Nam Cực hay Bắc Cực buốt giá. Nó có thể lặn trong nước biển băng giá hàng giờ, tới độ sâu 300 m để tìm mồi. Con ngỗng trời (Bar-headed Geese, Anser indicus) có thể bay ở độ cao của phi cơ phản lực, khi thiên di từ Trung quốc qua Ấn Độ đàn ngỗng bay vượt qua đỉnh Everest của Hy Mả Lạp Sơn ở độ cao 8.848 m, nơi vừa lạnh, áp xuất rất thấp, vừa không đủ oxy để con người thở. Mỗi loài chim chỉ thích ứng sinh sống ở một môi trường. Nhưng chim se sẻ, giống như con người, sống được ở mọi môi trường, từ nhiệt đới đến ôn đới, từ đồng bằng đến núi cao.


Tổ tiên loài chim bắt nguồn từ khũng long biết bay Theropod dinosaurs tiến hóa thành chim cách đây 160 triệu năm.
Cơ thể loài chim có những cấu trúc rất đặc biệt. Để bay được, bộ xương chim rất nhẹ vì cấu tạo bởi những lỗ hổng chứa không khí. Hệ thống lỗ hỗng trong xương nối liền với hệ thống hô hấp. Khi chim thở vào, 75% không khí chạy vào các lỗ hỗng của xương, chỉ 25% không khí vào phỗi. Khi thở ra, phần không khí ở phỗi thoát ra ngoài trước, phần không khí tích trữ ở trong xương chạy đến phổi. Vì vậy, phỗi chim lúc nào cũng chứa không khí tươi, lúc thở ra hay hít vào.
Chim không có bộ phận tiểu tiện riêng biệt. Thận lọc chất đạm thừa trong máu biến thành uric acit, chứ không thành urê hay ammonia như động vật có vú. Chất lỏng uric acit được thải cùng lúc và hòa lẫn với phân. Bộ phận tiêu hóa của chim cũng rất đặc biệt. Để giúp việc bay, chim tiêu hóa và bài tiết rất nhanh cho thân thể nhẹ nhàng. Chim có bọng diều làm kho chứa thực phẩm, mề chứa sạn để xay nhuyễn thức ăn vì chim không có răng như các động vật khác.

Chim có hệ thống thần kinh trong bộ óc rất phát triễn, nhất là loài chim thiên di có bộ phận định-vị-trí, giúp tìm phương hướng, vị trí nơi đến, tìm đối tượng làm tình và nơi thuận tiện lót ổ. Thí dụ điển hình nhất là chim bồ câu có khả năng tìm về ổ khi được mang đi xa hàng ngàn cây số. Lợi dụng đặc tính này, ngày xưa con người dùng chim bồ câu để thông tin, đưa thư, mật mả khẫn cấp nhất là trong chiến tranh. Mắt chim cũng rất phát triễn, nhìn thấy xa hơn người. Chim không nháy mắt. Chim ưng bay ở trời cao thấy được con chuột nhắt ở dưới đất, chim bói cá từ trên cao thấy cá ở trong nước. Mắt chim ưng, diều hâu trang bị hệ thống tia tử ngoại có thể theo dỏi vết nước đái của chuột để tìm bắt chuột ở cánh đồng. Chim cú mèo có hệ thống hồng ngoại tử trong mắt, nhìn rõ mọi vật ban đêm. Nhưng gà thì “mắt quáng gà” khi trời tối. Chim không ngữi được mùi vị vì khứu giác ít phát triễn.

Ở vài loại chim, lông phát tia cực tím (ultra violet) mắt người không thấy được, nhưng chim cùng giống nhận biết. Đó là lúc chim động tình, chim khác phái nhận biết, nếu muốn trò “chim chuột” thì bay đến.
Một vài loại chim có khả năng sản xuất hóa chất tự vệ để chống cự tình địch nhất là chim ăn thịt như diều hâu, chim ưng. Khi gặp chim ưng rượt, chim Procellariiformes xịt một loại dầu có mùi khó chịu làm chim ưng bỏ cuộc rượt bắt. Chim Pitohuis ở New Guinea có chứa chất độc thần kinh trong da và bộ lông, không con thú nào dám ăn nó.

Giống chim nhỏ nhất là chim hút mật Bee Hummingbird (Mellisuga helenae) ở Cuba dài 5 cm tính từ mỏ đến đuôi, nặng 1,58 g. Con chim lớn nhất là đà điểu (Ostrich) nặng 130 kg, con đực có thể nặng 157 kg, dài 2,75 m và cao 2,75 m. Mắt đà điểu lớn nhất trong loài động vật, đường kính mắt 5 cm, vì vậy nó nhìn thấy rất xa. Đà điểu là loại chim không biết bay, chạy nhanh kỹ lục trong loài chim với vận tốc 70 km/giờ, có trứng lớn nhất nặng 1,4 kg. Ban ngày con mái ấp trứng, nhưng ban đêm đó là phận sự của con đực. Chân chim có 4 ngón, nhưng đà điểu chỉ có 2 ngón. Đà điểu có thể sống tới 45 năm. Khi gặp thú ăn thịt như sư tử thì đà điểu chạy trốn, và ít có con thú nào rượt kịp. Khi gặp quá nguy biến, nó nằm dài sát đất giả chết. Tuy nhiên, khi bảo vệ đàn con, thì đà điểu chiến đấu rất can trường và có thể giết được sư tử.

Chim Gentoo Penguin ở Nam Cực lặn và lội trong nước nhanh nhất với vận tốc 40 km/giờ.
Một vài loài chim có thể nói tiếng người như cưởng, sáo, nhồng, két (vẹt), quạ. Trong các loại chim biết nói, két là loài nỗi tiếng nhất, nên có từ “Nói như Vẹt”. Để huấn luyện chim, chủ dạy nói những từ dễ phát âm, rồi thưởng thức ăn ngon mỗi khi chim nói. Sau đó dạy nói những từ khó hơn. Giống két xám ở Phi Châu nỗi tiếng thông minh. Theo sách phá kỹ lục Guiness, có một con két trong giống này nói được 1000 từ, có thể hát vài câu dài, đọc kinh thánh hay chuyện khôi hài. Tuy nhiên, “nói như vẹt” vẫn thua một số người. Chủ cho lương cao, bổng lộc lớn, nên nói thuộc lòng theo ý chủ, mặc dầu biết là nói bậy, nói sai, nói trái với lương tâm.

Mỗi con chim hay cặp vợ chồng chim đều có một lảnh thổ để sống. Đó là một cây để làm ổ và một khoảng đất hay cây cối chung quanh để tìm mồi. Chúng bảo vệ lảnh thổ, gây chiến với chim cùng loài vi phạm lảnh thổ chúng, nhất là vào mùa đẻ trứng, nuôi con. Đặc tính bảo vệ lảnh thổ rất dễ thấy ở loài cu. Vì đặc tính này, người đi “bẩy cu” hay “gát cu” dùng cu mồi để trong lồng bẩy đặt vào vị trí lảnh thổ của chim cu muốn bắt. Khi nghe cu mồi cất tiếng gáy, chim cu bay về chiến đấu với cu mồi và bị sập bẩy.
Đối với loài người, có giống chim đẹp có giống chim xấu, tùy theo văn hóa mỗi dân tộc. Công, phượng đều là chim đẹp của mọi dân tộc. Chim cú, đối với văn hóa âu tây, tượng trưng cho sự thông minh, bác học vì chúng có cặp mắt giống như mang kính, nhưng đối với văn hóa Việt Nam chim cú báo hiệu tang tóc và bất hạnh.

Không ai thấy cái xấu của mình. Một chuyện ngụ ngôn kễ rằng trong nhà trẻ của loài chim, con công mẹ rất hãnh diện với công con vì bộ lông đẹp đẻ và biết múa hát. Chim cú mèo với hình dáng xấu xí, nhưng cú mẹ vẫn khen cú mèo con là đẹp nhất trong số các loài chim con mà lại thông minh.

Chim có đặc tính biết được thời tiết, môi trường mà con người không có.

Le le xuôi về bể thì gió,
Le le lên ngàn thì mưa


Bìm bịp bay đi tìm mồi khi nước thủy triều dâng, vì lúc này rắn, chuột, ếch nhái phải bò ra khỏi hang và leo lên chỗ cao tránh nước.

Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi
Buôn bán không lời, chèo chống mỏi mê


Vì bìm bịp ăn rắn độc, các ông Tàu nghĩ rằng thân thể bìm bịp chứa nhiều chất thuốc trị độc, nên mới chế “thuốc rượu bìm bịp” trị bá chứng đau nhức mỏi gân cốt. Tội nghiệp cho giống chim bìm bịp sắp tuyệt chủng vì các ông thầy Tàu này.
Con chim cuốc hay “quốc”, còn gọi là “đỗ quyên” sống từng cặp vợ chồng. Khi một con chết, con kia kêu “quốc” “quốc”, rất thảm sầu, cho tới khi chết. Chúng rất chung tình. Nhưng qua thi ca thì biến thành nhớ “nước”, “ái quốc”.


Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
(Qua Đèo Ngang, Bà Huyện Thanh Quan)


Con quốc quốc chính là con cuốc, nhưng thực tế không có con gia gia, mà chỉ có con chim đa đa. Hóa ra, bà Huyện Thanh Quan, vì thích chơi chữ đối với quốc quốc bằng chim đa đa, nhưng Bà biến chữ đa đa thành gia gia để có “nhớ nước, thương nhà”. Con cuốc biết bay, nhưng ít khi bay. Khi gặp hiểm nguy thì nó lủi trốn trong bụi bờ, nên có từ “cuốc lủi” hay “lủi như cuốc”. Cuốc cũng không biết ấp trứng nuôi con, giống như con tu hú, đi đẻ nhờ vào ổ của giống chim khác, và bắt chim khác ấp dùm và nuôi con nó. Trứng cuốc và tu hú nở trước trứng chim khác, nên khi vừa nở ra, nó dùng chân và mỏ đẩy các trứng kia ra khỏi ổ, để chim mẹ chỉ nuôi cuốc hay tu hú mà thôi. Hóa ra, quốc mang danh “thương nước” mà hèn nhát (cuốc lủi), tâm địa lại ác độc.
Đối với kẽ vô ơn bạc nghĩa thì:

Được chim quên ná (bẻ ná)
được cá quên nơm


Cổ thi có câu “Hồ mã tê Bắc phong, Việt điểu sào Nam chi”, có nghĩa là “Ngựa Hồ hí gió Bắc, Chim Việt ở cành Nam”. Trong truyện “Trinh thử” của Hồ Huyền Qui cũng có câu: “Chỉ con chim Việt đỗ rày cành Nam”. Chim Việt là loài chim sinh ở đất Việt, phía nam nước Tàu. Hàng năm cứ đến đầu thu, từng đàn chim Việt thiên di bay sang phương Bắc. Khi làm ổ, chúng chọn cành cây hướng về phương Nam, tức là nước Việt. Vì vậy, Chim Việt hay Việt điểu ám chỉ tình nhớ quê hương cố quốc. Sự thật, sở dĩ chim thiên di chọn cành ở phương nam để lót ổ, vì nước Tàu ở xa xích đạo thuộc bắc bán cầu, vào mùa Thu hay Đông, mặt trời đều ở phương Nam, nên ổ chim được ấm hơn vì có mặt trời.

Chim thay lông hàng năm. Để giải thích tại sao chim quạ sói đầu vào dịp tháng bảy mưa ngâu, nên mới có chuyện cổ tích Ngưu Lang Chức Nữ. Chuyện cổ tích này có liên quan đến các sao Chức Nữ (Vega) và Ngưu Lang (Altair) của dải Ngân Hà, và hiện tượng mưa ngâu xảy ra vào đầu tháng Bảy âm lịch ở Việt Nam. Ngưu Lang là vị thần chăn trâu của Ngọc Hoàng Thượng đế, vì say mê một tiên nữ phụ trách việc dệt vải tên Chức Nữ nên bỏ bê chăn trâu. Chức Nữ cũng vì mê tiếng tiêu của Ngưu Lang nên trễ nải việc dệt vải. Ngọc Hoàng giận giữ, bắt cả hai phải ở cách xa nhau, người đầu sông Ngân, kẻ cuối sông. Sau đó, Ngọc Hoàng thương tình ra ơn cho hai người mỗi năm được gặp nhau một lần vào đêm mùng 7 tháng 7 âm lịch. Khi tiễn biệt nhau, Ngưu Lang và Chức Nữ khóc sướt mướt. Nước mắt của họ rơi xuống trần hóa thành cơn mưa và được người dưới trần gian đặt tên là mưa ngâu. Thời bấy giờ, sông Ngân trên thiên đình không có một cây cầu nào cả, nên Ngọc Hoàng mới ra lệnh cho làm cầu để Ngưu Lang và Chức Nữ gặp nhau. Các chuyên viên cầu cống ở trần thế nước Việt được xuất khẩu lên trời xây cầu. Vì quen thói ở trần thế, mạnh ai nấy làm, không ai nghe ai, họ cãi nhau chí chóe nên đến kỳ hạn mà cầu vẫn chưa xong, nhưng trình lên Ngọc Hoàng là đạt chỉ tiên 100% trước kỳ hạn. Ngọc Hoàng tức giận, bắt tội đám chuyên viên dỏm này hóa kiếp làm quạ, lấy đầu sắp lại làm cầu cho Ngưu Lang và Chức Nữ gặp nhau. Vì thế cứ tới tháng bảy là loài quạ phải họp nhau để chuẩn bị lên trời bắc Ô kiều. Trong đại hội, chúng lại lao vào cắn mổ đấm đá nhau đến xác xơ lông cánh, lông đầu.


Chim là nguồn cảm hứng của dân gian qua hàng ngàn câu ca dao nói về chim. Con cò là hình ảnh của người phụ nử, người vợ, người mẹ suốt đời vì chồng vì con:

Con cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non
Nàng về nuôi cái cùng con
Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng.


Mỗi giống chim có đặc tính riêng:

Chim hay lớn tiếng
Tu hú, ác là
Nhảy nhót lăng ba
Chích choè bìm bịp
Tính hay ăn hiếp
Chim cú chim diều
Lưng trâu sáng chiều
Sáo hành sáo nghệ
Ăn không xiết kể
Công cốc, chàng bè
Đáp xuống cành tre
Là con chim bói
Cái mồng đỏ chói
Cao các hồng hoàng
Thức suốt canh tàn
Chim heo chim vọ


Trong xã hội loài chim, mỗi giống cũng đều có một nhiệm vụ:

Thùng thùng thùng
Đánh ba tiếng trống
Sắp quân cho chỉnh
Phượng hoàng thống lĩnh
Bạch hạc hiệp đồng
Tả chi thì công
Hữu chi thì sếu
Giang cao ngất nghểu
Đi trước tiên phong
Cả mỏ bồ nông
Đi sau tiếp hậu
Sáo đen sáo sậu
Dặn dục đôi bên
Chú quạ thông tin
Dóng dả ba quân
Đội lương đi trước
Một đàn vịt nước
Chú két chú le
Sắm sửa thuyền bè
Cho anh trẩy thủy
Chim chích chim gi
Bé mọn biết gì


Hay:

Con quạ nó ăn tầm bậy tầm bạ nó chết,
Con diều xúc nếp làm chay,
Tu hú đánh trống bảy ngày,
Con bịp nó dậy, nó bày mâm ra.
Con cuốc nó khóc u oa,
Mẹ nó đi chợ đàng xa chưa về.
và
Con cò chết rủ trên cây,
Cò con mở lịch xem ngày làm ma
Cà cuống uống rượu la đà
Chim ri ríu rít bò ra chia phần
Chào mào thì đánh trống quân,
Chim chích cỡi trần vác mõ đi rao.


Hoặc:

Con cò mắc giò mà chết
Con quạ ở nhà mua nếp làm chay
Con cu đánh trống bằng tay
Chào mào đội mũ làm thầy tế văn
Chiền chiện vừa khóc vừa lăn
Một bầy chim sẻ bịt khăn khóc cò


Reading, 12/2011
Nguyễn Thị Kim Thu

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Những nơi sinh sống lý tưởng nhất thế giới

Những thành phố lớn và quan trọng chưa hẳn đã là những nơi tốt nhất để sinh sống.
Tỉ lệ tội phạm cao và việc phải thường xuyên di chuyển trên những quãng đường dài chật chội làm suy giảm chất lượng cuộc sống.
Vậy trên trái đất này đâu là nơi lý tưởng nhất để sinh sống?


Dưới đây là danh sách 15 thành phố tuyệt vời nhất trên thế giới dựa theo khảo sát chất lượng cuộc sống năm 2011 của công ty tư vấn nhân lực Mercer.
Khảo sát này xem xét điều kiện sống của 221 thành phố trên thế giới và xếp hạng chúng dựa trên các tiêu chí như kinh tế,
môi trường, văn hóa, xã hội, chính trị, giáo dục và y tế.

Điều đặc biệt là thành phố của một số nền kinh tê lớn thế giới như Mỹ, Nhật Bản và Anh lại không xuất hiện trong danh sách này.

15. Toronto, Canada

Image

Toronto, thành phố đông dân thứ 5 tại khu vực Bắc Mỹ, là một trong ba thành phố duy nhất của Canada và Bắc Mỹ lọt vào danh sách này.
Toronto đang thu hút rất nhiều người nhập cư, trong khi tỷ lệ nhập cư của NewYork chỉ là 28%/năm thì đối với Toronto con số này lên tới 50%.
Khoảng 30% dân số ở thành phố này nói được thứ tiếng khác ngoài 2 ngôn ngữ chính thức của Canada là Anh và Pháp.
Ngoài ra, Toronto cũng là trung tâm kinh tế của Canada và sở hữu sàn giao dịch chứng khoán lớn thứ 7 thế giới về giá trị vốn hóa thị trường.
Kinh tế của Toronto đóng góp gần 1/5 cho GDP của Canada.

Toronto là một trong 5 thành phố ở Canada luôn dẫn đầu bảng xếp hạng an toàn cá nhân ở Bắc Mỹ.
Cùng với Vancouver, Montreal, Ottawa, và Calgary, Toronto xếp thứ 17 trong số các thành phố an toàn nhất trên thế giới.
Theo như báo cáo của Mercer, mức độ an toàn ở Toronto cao gấp 35 lần so với các thành phố lân cận của Mỹ như Chicago, Honolulu, Houston và San Francisco.

14. Ottawa, Canada

Image

Ottawa, thủ đô Canada, là một trong 6 thủ đô lọt vào danh sách này. Thành phố có nhân lực học vấn cao này cũng là trụ sở nhiều cơ quan
liên bang Canada cũng như Đại sứ quán các nước và những ông trùm công nghệ như Nortel Networks, Cisco Systems, Alcatel Lucent, và Dell.
Hơn 90% các nghiên cứu và phát triển về viễn thông của Canada được tiến hành tại các công ty này.

Chất lượng cuộc sống ở Ottawa nhưng lại không đắt đỏ, thậm chí năm nay thành phố này còn được vinh danh là thành phố ít tốn kém nhất của Canada.
Dựa theo các tiêu chí như nhà ở, giao thông, thực phẩm và may mặc sống ở Toronto đắt gấp 55 lần sống ở Ottawa.
Đây cũng là một trong những thành phố sạch nhất trên thế giới, đứng thứ 3 trong bảng xếp hạng các thành phố sinh thái năm 2010 theo tiêu chí
về độ sạch của nước, hệ thống nước thải, ô nhiễm không khí, và xử lý chất thải.

13. Wellington, New Zealand

Image

Wellington là một trong 3 thành phố trong khu vực châu Á -Thái Bình Dương có mặt trong danh sách năm nay.

Wellington có trình độ dân trí cao nhất NewZeland với hơn 1/3 số dân có bằng cử nhân trở lên.
Thu nhập bình quân đầu người tại Wellington cao hơn thu nhập bình quân đầu người của cả New Zealand.
Hơn 40% hộ gia đình có thu nhập trên 66.000 USD/năm. Thêm vào đó, thành phố này còn có khí hậu tuyệt vời với trên 2.000 giờ nắng/năm.

12. Amsterdam, Hà Lan

Image

Amsterdam, nổi tiếng với khu phố đèn đỏ và những quán cà phê phục vụ cần sa, là một trong những thành phố thu hút nhiều du khách nhất trong danh sách này.
Thành phố này là trung thâm văn hóa và thương mại của Hà Lan, nổi lên vào thế kỷ XVII,
thời kỳ hoàng kim của thương mại Hà Lan và vẫn duy trì chất lượng cuộc sống cao cho tới bây giờ.

Amsterdam là nơi hình thành thị trường chứng khoán lâu đời nhất thế giới. Những con kênh cổ kính, các tòa nhà với lối kiến trúc đặc trưng
đã thu hút khách du lịch tới thành phố này. Chính quyền thành phố
Amsterdam khuyến khích những lối sống khác nhau của người dân và khoảng 54% số hộ gia đình ở đây là những người đơn thân.
Theo số liệu thống kê năm 2009, các hộ gia đình với hai người lớn chiếm 20% dân số.
Thành phố này cũng đứng trong top 20 thế giới về mức độ an toàn cá nhân.


11. Sydney, Australia

Image

Sydney là thành phố đông dân nhất và cũng là trung tâm kinh tế của Australia, chiếm khoảng 1/4 GDP.
Thành phố này sở hữu những địa danh đặc trưng nhất của Australia, bao gồm nhà hát Opera House và cầu cảng Harbour.

Trung tâm của thành phố nằm trên một trong những bến cảng tuyệt vời nhất thế giới và được bao quanh bởi các vườn quốc gia,
các vịnh, sông và bãi biển.
Là một trung tâm kinh doanh lớn, Sydney là trụ sở của gần 40% trong tổng số 500 công ty hàng đầu của Australia.
Thu nhập bình quân đầu người của thành phố này là hơn 55.000 USD/năm.

Mức sống cũng như mức độ an toàn cá nhân của thành phố này vượt xa so với các khu vực Châu Á - Thái Bình Dương khác,
kể cả Australia và NewZeland do có sự đầu tư liên tục về cơ sở vật chất hạ tầng và các dịch vụ công cộng

10. Copenhagen, Đan Mạch

Image

Copenhagen đứng thứ hai trong số các thành phố châu Âu thân thiện với môi trường nhất thế giới vào năm 2010.
Được biết đến như thiên đường của xe đạp, Copenhagen có tổng số 218 dặm đường dành cho xe đạp
với khoảng 36% người dân thành phố đi lại bằng xe đạp mỗi ngày.

Sức khỏe và hạnh phúc đã trở thành một phần thiết yếu trong cuộc sống của người dân Đan Mạch với hơn 15% dân số trên 65 tuổi.
Nhận thức trong việc bảo vệ sức khỏe của người dân Đan Mạch ngày một gia tăng khiến nước này
trở thành một trong những nước tiêu thụ và sản xuất thực phẩm sạch hàng đầu Châu Âu.
Khoảng 75% thực phẩm tiêu thụ ở Copenhagen là thực phẩm sạch và cứ mỗi 10 người dân thành phố thì có một người mua thực phẩm hữu cơ.

9. Bern, Thụy Sỹ

Image

Bern, thủ đô Thụy Sĩ, là một trong 3 thành phố Thụy Sĩ nằm trong danh sách này.
Thành phố đã liên tục cũng luôn giữ vị trí số 9 về chất lượng cuộc sống trong suốt 4 năm qua.

Nằm trên cao nguyên Thụy Sĩ, thành Bern ở trung tâm thành phố đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới vào năm 1983.
Thành Bern vẫn duy trì nét quyến rũ của thời trung cổ qua nhiều thế kỷ với những mái vòm, đài phun nước,
mặt tiền bằng đá sa thạch, những tòa tháp và những con phố nhỏ hẹp.

Bern thường xuyên được xếp vào danh sách những thành phố đắt đỏ nhất thế giới, đây cũng là trung tâm kỹ thuật và chế tác của Thụy Sĩ
với các doanh nghiệp chuyên sản xuất các sản phẩm y tế, công nghệ thông tin, ô tô cũng như các sản phẩm bán lẻ cao cấp khác như đồng hồ.

Năm nay, Bern được đánh giá là thành phố an toàn thứ hai thế giới, chỉ sau Luxembourg.
Sự trung lập của Thụy Sĩ và danh tiếng của các ngân hàng nước này cũng là điểm nhấn thu hút nhiều người đến tạo dựng cuộc sống mới.

8. Geneva, Thụy Sỹ

Image


Geneva, thành phố đông dân thứ hai Thụy Sĩ, là trụ sở của khoảng 20 tổ chức quốc tế, trong đó có Liên hợp quốc,
Tổ chức Thương mại Thế giới và Hội chữ thập đỏ quốc tế. Vai trò quốc tế của nó được thể hiện ở việc các đại diện của hơn 160 quốc gia
trên thế giới thường xuyên đến đây dự các hội nghị quốc tế. Hơn 44% dân cư trong thành phố là người ngoại quốc.
Nằm dưới chân dãy núi Anpơ, dọc theo bờ hồ Geneva, môi trường tự nhiên của thành phố
được đánh giá là một trong những thành phố xanh nhất ở châu Âu.
Khoảng 20% diện tích của Geneva được bao phủ bởi cây cối chính là lý do nó được còn được gọi là "thành phố của các công viên".
Geneva được như vậy là nhờ thực thi nghiêm ngặt các điều khoản ô nhiễm cũng như các quy định về môi trường khác.
Theo nghiên cưu của Mercer thành phố này cũng là thành phố đắt đỏ thứ 5 thế giới và có chi phí sinh hoạt cao nhất châu Âu.

7. Frankfurt, Đức

Image

Frankfur, thành phố lớn thứ 5 của Đức là trung tâm tài chính lớn nhất châu Âu.
Đây là trụ sở của Ngân hàng Trung ương Châu Âu và sàn giao dịch chứng khoán Frankfurt.

Thêm nữa, Frankfurt còn là điểm trung chuyển quan trọng của châu Âu nhờ có hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại,
bao gồm một hệ thống đường cao tốc và sân bay hiện đại.

Frankfurt còn được đánh giá là thành phố an toàn thứ 11 thế giới dựa trên các cấp độ tội phạm và hiệu quả của việc thực thi pháp luật.

6. Vancouver, Canada

Image

Vancouver, thành phố xanh thường xuyên xuất hiện trong danh sách này trong vòng 5 năm qua,
là nơi có khí hậu ôn hòa nhất Canada và có lượng carbon phát thải nhỏ nhất trong các thành phố của Bắc Mỹ.

Được bao quanh bởi nước và các dãy núi phủ đầy tuyết, chính quyền Vancouver luôn khuyến khích xây dựng,
quy hoạch và công nghệ xanh với tham vọng trở thành thành phố xanh nhất thế giới vào năm 2020.

5. Dusseldorf, Đức

Image

Dusseldorf, nằm bên bờ sông Rhine, là thành phố đông dân thứ 7 của Đức. Thành phố này có cơ sở vật chất hạ tầng hiện đại,
nổi tiếng với các hội chợ thời trang và thương mại.

Thêm nữa, Dusseldorf cũng là trung tâm viễn thông hàng đầu của Đức và cũng là trụ sở của các công ty nổi tiếng như Hewlett-Packard và Nokia.
Ngoài ra, với hơn 100 phòng trưng bày, thành phố này còn là thủ đô của nghệ thuật đương đại của Đức.

4. Munich, Đức

Image

Munich, thành phố lớn thứ 3 của Đức và là một trong những trung tâm kinh tế quan trọng của nước này.
Thành phố này cũng là trụ sở của nhiều doanh nghiệp nổi tiếng của Đức như Siemens, Allianz và tạo ra 30% GDP hàng năm của bang Bravia.

Sức mua tính theo đầu người của người dân nước này là hơn 33.700 USD vào năm 2009, con số cao nhất trong các thành phố của Đức
và cao hơn mức trung bình 32%. Thành phố này cũng thu hút người nhập cư trên khắp thế giới với hơn 40% dân cư thành phố là người ngoại quốc.

3. Auckland, New Zealand

Image

Auckland, có chất lượng cuộc sống tốt nhất tkhu vực Châu Á - Thái Bình Dương,
thường xuyên nằm trong top 5 của danh sách này trong vòng 5 năm qua.

Auckland là thành phố lớn nhất New Zealand với 1,35 triệu cư dân Auckland, chiếm hơn 30% dân số NewZealand.
Khoảng 63% cư dân thành phố là gốc Châu Âu, trong khi người gốc Moaris (dân bản địa New Zealand),
và người các đảo thuộc Thái Bình Dương chiếm khoảng 24%. Thành phố được đặt một cách độc nhất giữa hai cảng,
với 11 núi lửa tắt và rất nhiều đảo khiến nó trở thành thành phố sở hữu nhiều thuyền nhất tính theo đầu người.
Auckland cũng được xếp là thành phố an toàn thứ hai trong khu vực châu Á, sau Singapore.

Sự ổn định về chính trị là một điểm quyết định nữa của New Zealand, so với các láng giềng châu Á.

2. Zurich, Thụy Sỹ

Image


Zurich, thành phố lớn nhất Thụy Sĩ, vừa đạt được danh hiệu thành phố với chất lượng cuộc sống tốt nhất trên thế giới.
Zurich được biết đến như cỗ máy kinh tế của Thụy Sĩ.

Mức thuế thấp cũng thu hút các doanh nghiệp tìm đến với thành phố này, tài sản của 82 ngân hàng nơi đây
tương đương 85% tổng giá trị tài sản của Thụy Sĩ. Thành phố này cũng là điểm thu hút nhiều khách du lịch nhất của Thụy Sĩ.

Zurich được đánh giá là thành phố đắt đỏ thứ 3 của châu Âu.

1. Viên, Áo

Image


Viên, một trong 3 thủ đô lọt vào danh sách này năm nay, là thành phố có chất lượng cuộc sống tốt nhất thế giới.
Vienna là thành phố có dân số lớn nhất và cũng là trung tâm văn hóa, kinh tế và chính trị của Áo.

Những thay đổi về cơ sở vật chất hạ tầng của Viên đã giành được giải thưởng của Liên hiệp quốc
về quy hoạch đô thị để cải thiện cuộc sống của người dân vào năm 2010. Viên cũng là nơi thường xuyên được chọn để tổ chức các hội nghị và 5.000.000 lượt khách du lịch mỗi năm.

Bất chấp cuộc khủng hoảng xảy ở châu Âu đang diễn ra gần đây, các quốc gia như Áo, Đức và Thụy Sĩ vẫn đảm bảo chất lượng cuộc sống khá tốt.
Tuy nhiên, nhà nghiên cứu lâu năm của Mercer- Slagin Parakatil cho biết các thành phố này sẽ không thể đứng ngoài vòng xoáy đi xuống
của mức sống nếu như nhưng vấn đề về kinh tế của khu vực không được giải quyết.

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Bí mật thân phận thật của nàng Mona Lisa

Trước khi những bí mật về nàng Mona Lisa được hé mở, đã có nhiều giả thiết về thân phận thật của nàng,
thậm chí có người cho rằng nàng là người tình bí mật của danh họa Leonardo da Vinci.

Image
Hiện bức chân dung nàng Mona Lisa đang được trưng bày tại bảo tàng Louvre tại Paris, Pháp.
Nụ cười của nàng đã khiến hàng triệu người trên thế giới bị mê hoặc nhưng không ai hiểu được bí mật đằng sau nụ cười đó như thế nào. Nàng là ai, nàng từng sống như thế nào vẫn là một câu hỏi lớn. Tuy nhiên từ sau năm 2005 tới nay, với sự hỗ trợ những công nghệ kỹ thuật cao, bí mật về thân phận của nàng Mona Lisa dần dần được hé mở.

Liên quan tới thân phận thật của nàng Mona Lisa, vài trăm năm trước đã có nhiều cách giải thích khác nhau, có người nói rằng nàng là mẹ của danh họa Leonardo da Vinci, có người lại nói nàng là người tình bí mật của ông, hay Mona Lisa là gái làng chơi ở thành Florence tuy nhiên giả thiết Mona Lisa là bức chân dung tự họa của Leonardo da Vinci được nhiều người đồng tình nhất.

Vào thế kỷ 16, nhà sử học nghệ thuật nổi tiếng- Vasari nói rằng nàng Mona Lisa là vợ của một thương gia giàu có ở Florence nhưng quan điểm của ông không được nhiều người quan tâm. Tới năm 2005, chuyên gia nghiên cứu bản thảo trường đại học Heidelberg (Đức) cho biết đã tìm thấy chứng cứ quan trọng trong đống sách cổ ở thư viện, một cuốn sách cổ năm 1503. Chủ sở hữu cuốn sách này là một người bạn tốt của Leonardo da Vinci-Vespucci.

Trên cuốn sách có dòng chữ mà Vespucci viết vội: "Leonardo da Vinci đã sáng tạo ra ba bức họa nổi tiếng, trong đó có một bức họa là chân dung Gherardini". Điều này trùng với tuyên bố của Vasari thế kỷ 16. Ông từng nói "vợ của Francesco del Giocondo" là Gherardini, tên đầy đủ là Lisa Gherardini del Giocondo, trong đó del Giocondo là họ chồng bà.

Sau hai năm, thư viện Đại học Heidelberg cho rằng phát hiện của tiến sỹ Giuseppe Pallanti đã khiến những giả thiết về thân phận của nàng Mona Lisa bị loại bỏ cũng như mở ra những bí ẩn về nàng trong suốt mấy trăm năm.

Mona Lisa sinh ngày 15 tháng 6 năm 1479 trong một gia đình từng định cư lâu đời ở thành phố Florence, là con cả trong số 7 anh chị em. Khi đó, cả châu Âu đang bước vào giai đoạn đầu của thời kỳ Phục Hưng, là một trong những thành phố lớn nhất, Florence được coi là biểu tượng của thành công và giàu có. Tuy nhiên, cuộc sống của những người dân ở đây lại không đẹp như những gì mà thơ ca ca ngợi vì sự phân biệt giàu nghèo quá lớn. Lisa xuất thân trong một gia đình quý tộc nhưng theo thời gian, gia đình nàng cũng mất dần sức ảnh hưởng của mình.

Ngày 5 tháng 3 năm 1495, Lisa đi lấy chồng khi nàng tròn 16 tuổi. Chồng nàng là một thương gia tơ lụa có tiếng trong thành và Lisa là vợ thứ 3 của ông. Của hồi môn của Lisa là 170 đồng vàng Florin và một nông trang ở vùng ngoại ô. Cuộc hôn nhân này đã khiến địa vị xã hội của Lisa được nâng cao vì chồng nàng là một người cực kỳ giàu có, không những thế Francesco del Giocondo cũng được lợi từ vợ của mình vì Gherardini là một dòng họ cao quý. Họ đã có với nhau 5 người con.

Ngày 5 tháng 3 năm 1503, Lisa và chồng chuyển tới một căn hộ ở gần Via della Stufa, nơi ông cụ thân sinh của Leonardo - ông Piero da Vinci đang sinh sống. Ông Piero da Vinci và vợ chồng Lisa nhanh chóng trở thành hàng xóm thân thiết của nhau.

Cũng giống như nhiều gia đình giàu có ở Florence, mỗi khi gia đình có sự kiện trọng đại, vợ chồng Lisa và các con lại mời các họa sỹ tới vẽ chân dung kỷ niệm. Năm 1503 là một năm quan trọng đối với gia đình del Giocondo khi họ chuyển tới ngôi nhà mới của mình, hơn nữa Lisa lại mới mang thai đứa con thứ ba. Ông del Giocondo đã mời 4 nghệ sỹ tới nhà để trang trí cho ngôi nhà mới, Leonardo da Vinci, con trai của người hàng xóm mới cũng được mời tới để vẽ chân dung Lisa.

Những năm 1503, Leonardo da Vinci rơi vào tình cảnh khốn đốn, ông không có nguồn thu nhập nào và lời mời tới vẽ chân dung cho một quý bà khiến ông cảm thấy rất phấn khởi và có lẽ đó là động lực để có được một tác phẩm tuyệt vời. Tay phải của Lisa đặt lên tay trái để toát lên vẻ hiền thục và thủy chung của nàng. Bộ đồ mà Lisa mặc rất thời trang, có người cho rằng thần thái của Lisa trên bức tranh còn thật hơn ở ngoài đời.
Image
Bản thảo chân dung nàng Mona Lisa
Leonardo da Vinci đã mất 10 năm để hoàn thành bức chân dung nàng Mona Lisa. Nhưng cuối cùng ông đã không giao lại bức họa này cho Lisa. Một số học giả ban đầu nhận định có lẽ vì không được trả tiền thù lao nên Leonardo mới làm thế. Nhưng sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng người ta mới phát hiện rằng nguyên nhân không đơn giản như vậy.

Trên thực tế, trong thời gian ở Florence, Leonardo đã có quan hệ khá mật thiết với gia đình quý tộc Giuliano de Medici. Đây là một trong những dòng họ danh tiếng nhất ở Italy vào thế kỷ 15-16. Gia đình Giuliano de Medici rất đam mê nghệ thuật nên họ đã không ngần ngại bỏ tiền ra để tài trợ cho các nghệ sỹ trong đó có cả Leonardo da Vinci, tuy nhiên khoản tiền này lại là tiền cướp từ mồ hôi, xương máu của người dân thường. Vì thế, các gia đình quý tộc khác ở thành Florence tỏ ra không hài lòng về chuyện này, gia đình Gherardini cũng vậy. Năm 1503, trong lúc Leonardo da Vinci vẽ chân dung nàng Lisa, gia tộc Giuliano de Medici và gia tộc Gherardini đã xảy ra mâu thuẫn lớn. Leonardo da Vinci là người ở giữa nên đành phải cắt đứt quan hệ với gia đình Lisa. Năm 1511, Florence bị quân Giáo hoàng tấn công, gia tộc Gherardini phải sống lưu vong. Trong những năm 1517, Leonardo da Vinci đã phải mang theo bức họa nàng Mona Lisa rời khỏi Florence sang Pháp. Từ đó cũng không ai biết tin gì về nàng Lisa nữa.

Mãi cho tới năm 2007, nhà sử học nghiệp dư Giuseppe Pallanti mới tìm thấy một tờ giấy khai tử đã ố vàng của Lisa Gherardini. Trong tờ giấy khai tử có viết: chồng bà Lisa mất năm 1538, thọ 79 tuổi còn Lisa mất 4 năm sau đó khi 64 tuổi và được chôn cất tại tu viện trung tâm Tuscan.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

'Ði Mỹ,' ước vọng đắng cay của người tù cải tạo

Nguyên Huy/Người Việt

WESTMINSTER (NV) - Chiều Chủ Nhật tuần này, 11 Tháng Mười Hai, nhà văn Trần Yên Hòa sẽ ra mắt truyện dài “Ði Mỹ” tại hội trường Việt Herald, trên đường Moran, Westminster.

Image
Nhà văn Trần Yên Hòa. (Hình: quanvan.net)

Chuyện “Ði Mỹ” của những người tù cải tạo, sau hàng chục năm trời trong “đáy địa ngục” như cuốn sách của Tạ Tỵ viết, là cả một biến cố lớn tưởng như không bao giờ có sau cuộc đổi đời 30 Tháng Tư, 1975 đối với quân cán chính VNCH. Biết bao nhiêu hoàn cảnh dở khóc dở cười cũng như biết bao nhiêu gian truân, khổ nhục đã đến với người cựu tù cải tạo, từ khi còn là những tin đồn cho tới khi có lệnh nhận đơn từ quận lên đến Nguyễn Du qua Nguyễn Trãi, ở Hàng Bài, Hà Nội,... kéo dài cả chục năm trời.

“Ði Mỹ” với nhà văn Trần Yên Hòa là một số góc cạnh của những cựu tù cải tạo trong biến cố này. Gần 300 trang sách, tác giả nhũn nhặn gửi độc giả trước khi vào chuyện: “Chuyện dài đi Mỹ thì có cả trăm hình vạn trạng. Mỗi người, mỗi gia đình có một hoàn cảnh riêng. Ở đây tôi chỉ ghi lại một vài chuyện nhỏ trong muôn hình vạn trạng kia thôi. Dĩ nhiên là hư cấu.”

Hư cấu ở đây vì tác giả dùng hình thức tiểu thuyết để viết về một sự kiện lịch sử diễn ra trong cuộc sống của người dân Việt sau cuộc đổi đời trắng thành đen mà đen thành trắng đối với toàn thể dân tộc Việt Nam kể cả Bắc lẫn Nam. Thực ra sự hư cấu đó hoàn toàn dựa trên thực tế, trên cuộc đời của những người có thật mà phần lớn còn sống tại hải ngoại. Thực tế vì “biến cố” ấy đã làm xao động cả một xã hội tưởng như đã chìm khuất trong “đáy địa ngục.”

Không phải chuyện “Ði Mỹ” chỉ liên quan đến người cựu tù mà nó còn liên quan đến hầu khắp mọi người mọi giới, mọi tôn giáo, mọi thành phần kể cả những thành phần đang là đảng viên của đảng đang cầm quyền.

“Ði Mỹ” trước hết là đổi đời cho người cựu tù, kế đến là vợ con họ, là thân quyến họ, là những người yêu, hôn phu, hôn thê của lớp con cái, là những cán bộ từ khóm phường qua quận huyện lên đến thành phố sang Nguyễn Du (nơi tập trung đơn xin đi Mỹ để chuyển lên Bộ Nội Vụ, Bộ Ngoại Giao ở Hà Nội) và song song là Nguyễn Trãi (nơi các cán bộ ngoại vụ làm dịch vụ, tức làm tiền cho xuất cảnh), là những người môi giới nhà cửa đất đai, v.v...

Hàng trăm ngàn quân cán chính VNCH sau 30 Tháng Tư, 1975 bị nhà cầm quyền cộng sản lùa vào tù hết, từ gian manh lập lờ qua hai cái Thông Cáo Học Tập Cải Tạo cho đến bắt bớ vô tội vạ những người có ít nhiều dính đến chế độ cũ, thậm chí có người không liên quan gì đến chế độ cũ nhưng bị bọn “cách mạng 30 Tháng Tư” vu oan cũng phải lên đường “học tập!” Chỉ có một số rất ít là được về sớm trước ba năm do là “gia đình cách mạng” hay do chạy được đúng chỗ... Còn lại phần lớn đều có trung bình từ năm đến bẩy năm tù cải tạo. Một số không nhỏ bóc tới hơn 10 cuốn lịch mà nếu không có được sự can thiệp của Hoa Kỳ thì có lẽ còn “mút chỉ” nữa.

Với số lượng ấy, sự thỏa thuận giữa Việt Nam và Hoa Kỳ cho đi định cư tại Mỹ quả đã là biến cố lớn làm rung chuyển cuộc sống của hầu hết mọi người đang phải sống trong vô vọng.

Nhắc lại chuyện cũ, nhà văn Trần Yên Hòa không phải muốn khơi sâu nỗi hận thù mà như ông viết trong lời “Mở” của cuốn sách rằng, “Ngày Ấy với Hôm Nay đã lâu lắm rồi. Ngày ấy là những ngày, những tháng, những năm của thế kỷ trước. Nói thì lâu lắc lắm vậy, nhưng thật ra, cũng chỉ mười chín, hai mươi năm thôi. Hôm nay, mỗi khi nhớ lại quãng thời gian đó, tôi vẫn thấy lòng mình có một nỗi chua xót, đắng cay, bàng hoàng, xúc động.”

Ðọc đến đây, chắc hẳn có không ít những người cựu tù, có người đã xênh xang áo mão trở về, nhớ về những ngày, những tháng những năm ấy. Có những chuyện khóc cười muôn vẻ. Như một cựu tù khi trở về thấy mình tay không thật sự, không vợ, không con, không nhà không cửa, không một đồng xu dính túi đành phải làm bất cứ một nghề hèn mạt nào để có được miếng ăn, bỗng có tin “đi Mỹ” thì được ngay một “mệnh phụ” thời đại tiếp rước về làm chồng, sắm cho xe Cub Dream II “để anh đi chạy giấy tờ cùng em.”

Nhưng bỗng nhiên chuyện ra đi khựng lại vì nhà nước giở trò đòi hơn thiệt với Hoa Kỳ nên việc ra đi của cựu tù phải hoãn lại. Chuyện hoãn lại trong chế độ Cộng Sản được hiểu là khó thể có lại nên “mệnh phụ” một sớm một chiều đổi ý, đòi lại chiếc xe và nhẹ nhàng mời anh ra khỏi nhà!!!

Ðó là một chuyện dở khóc dở cười có thật. Một chuyện khác, khi tin ra đi của người tù cải tạo được chính thức thi hành, một người tù thất lạc mất hai con trên đường di tản trên Tỉnh Lộ 7 bỗng được một gia đình cán bộ cấp thành phố làm thân, gửi gấm hai con của ông cho nhập hộ khẩu của người tù cải tạo này, mọi chuyện giấy tờ ông ta lo hết kể cả 10 cây vàng cho người tù làm vốn khi tới xứ người.

Còn không biết bao nhiêu chuyện dở khóc dở cười với người cựu tù cải tạo khi được Mỹ nhận cho định cư. Có người đã nắm được giấy xuất cảnh từ Bộ Nội Vụ gửi về, ấy thế mà vẫn chưa đi được chỉ vì nhất định không nhận công tác của một cơ quan thuộc cơ quan bảo vệ chính trị thành phố gửi gấm hay người cựu tù nhất định không làm giấy hiến dâng căn nhà 3 tầng bị nhà nước tịch thu từ “ngày trình diện.”

Ðúng như tác giả Trần Yên Hòa viết: “Mỗi người, mỗi gia đình là một hoàn cảnh, một trường hợp,” không ai giống ai, khóc cười đủ mọi vẻ mà trong suốt lịch sử dân tộc Việt Nam có lẽ chưa bao giờ diễn ra như thế.

Ấy là bởi vì, sau 30 Tháng Tư, 1975 thì “cái cột đèn mà biết đi thì nó cũng đi” nên già trẻ lớn bé được nếm mùi cộng sản vài năm rồi mới khao khát chuyện ra đi như thế. Niềm khao khát ấy không chỉ là người dân từng sống trong thời VNCH mà cả người dân miền Bắc đã phải chịu đựng trong chế độ Cộng Sản trước đó hàng mấy chục năm trời. Cái lạ là ngay cả những đảng viên cao cấp trong đảng, trong chính quyền cũng khao khát cho con cái được ra đi.

Trần Yên Hòa ra mắt sách “Ði Mỹ,” ông đã không chỉ viết tiểu thuyết để đọc chơi thay vì xênh xang áo mão về làng mà Trần Yên Hòa đã viết sử, viết về một giai đoạn lịch sử dân tộc bằng chính cuộc sống của dân tộc.

Quý bạn đọc muốn có “Ði Mỹ” xin liên lạc: (714) 360-7356 hay email: tran hao47@yahoo.com. Giá mỗi cuốn $20.

cuoigia
Posts: 255
Joined: Thu Aug 06, 2009 6:57 pm

Post by cuoigia »

Image

ĐÀ LẠT TRỜI MƯA

Phạm Tín An Ninh


Tôi đến Đà Lạt đúng vào một ngày mưa. Mưa tầm tã. Ngồi trong nhà Thủy Tạ, nhìn những hạt mưa bay giăng kín rừng thông, phủ mờ khu phố Hòa Bình, và rơi lả tả xuống mặt hồ Xuân Hương, tôi mơ hồ như những giọt nước mắt của người góa phụ đã từng một thời nhan sắc.

Người con gái vừa đến gặp tôi làm cho tôi mỉm cười với sự so sánh lạ lùng này. Bởi cô ta cũng xinh đẹp, và dù có nở nụ cười tỏ ra mừng rỡ khi chào tôi, vẫn không giấu được nét buồn trong đôi mắt. Một nỗi buồn có cái gì xót xa sâu lắng lắm.

Tôi đã đến thành phố này nhiều lần. Lần cuối cùng vào mùa Giáng Sinh năm 1970, khi đơn vị tôi may mắn được lệnh về đây phối hợp hành quân giữ an ninh cho một khóa Võ Bị làm lễ ra trường. Bao nhiêu năm trong rừng núi tây nguyên gió lạnh mưa mùa, rồi xuống bờ biển Phan Thiết với những động cát trơ trọi nóng như lửa đốt, bất ngờ được về Đà Lạt, cho dù chỉ sau một ngày ở thành phố, đơn vị tôi lại được đổ xuống những rừng thông xa tít, nhưng đám lính tráng bọn tôi vẫn có cái cảm giác như được đi nghỉ mát. Người ta nói đúng, Đà Lạt dễ thương như những cô gái với gò má trắng hồng và đôi môi mọng đỏ để ai một lần lên xứ Hoa Đào mà lòng không vấn vương? Đà Lạt cũng là nơi có nhiều huyền thoại về những mối tình đẹp và buồn của các cô sinh viên với những chàng trai mang alpha đỏ theo nghiệp kiếm cung, mà tôi đã đọc được trong những bài thơ thật buồn của Lệ Khánh từng vang tiếng một thời.

Nhưng đó là Đà Lạt của ngày xưa. Còn hôm nay tôi đến Đà Lạt, với ngổn ngang những nỗi buồn nặng trĩu trong lòng, và Đà Lạt bây giờ chỉ là một thành phố chết.

Tôi ra tù, trong thời gian còn bị quản chế, trong túi không có bất cứ một tờ giấy nào. Ngay tấm “Giấy Ra Trại” cũng đã bị công an xã giữ. Nhờ thằng em cùng đơn vị cũ, có lò bánh mì ở Tháp Chàm, gởi tôi theo một chiếc xe bộ đội nhận mối chở bánh mì với tiền thù lao khá, tôi mới có mặt ở đây. Anh tài xế sau khi giao mấy thùng bánh mì, còn gởi tôi cho cô “chủ nhiệm” quán Thủy Tạ (bây giờ là của nhà nước), bảo là ông anh họ, để tôi yên lòng không bị hỏi giấy tờ. Quán vắng tanh.Tôi chọn cái bàn nhỏ xa phía trước và gọi hai tách trà nóng. Tôi cũng chỉ đủ tiền để trà hai tách trà này.
- Anh chờ em có lâu không?
Tôi giật mình khi nghe cô gái hỏi.
- Không sao, tôi chờ cũng đã khá lâu, nhưng được gặp chị hôm nay là tôi mừng lắm rồi.

Điều mà ai cũng ái ngại khi phải mang tin buồn đến cho một người. Đặc biệt người đó lại lại là một cô con gái đẹp, như cô gái đang ngồi trước mặt tôi đây.

Tôi dè dặt:
- Chắc chị đã biết, như trong lá thư tôi gởi. Tôi là bạn tù của Thống, và hôm nay muốn gặp chị là để nhắn lại những điều Thống đã nhờ tôi.
- Em biết là anh Thống đã chết từ năm 1978, nhưng mãi đến năm ngoái, em mới được phường đưa “Giấy Báo Tin”. Em không biết làm sao báo cho mẹ anh ấy biết. Bà ở bên Mỹ nhưng em không liên lạc được.

Tôi bất ngờ, nhưng chợt thấy một chút yên lòng khi nghĩ là cô sẽ không còn đột ngột nhận một tin buồn từ chính miệng của tôi.
- Chị đã biết tin buồn về Thống. Như vậy cũng là may, chứ không phải người tù nào chết mà người nhà cũng được báo tin. Hôm nay, dù hoàn cảnh khó khăn, tôi cũng phải tìm gặp chị để nói lại cùng chị những lời trăn trối cuối cùng, và trao cho chị những kỷ vật mà anh Thống nhờ tôi trao lại chị.

- Cả tuần nay lòng em rất bồn chồn, mong sớm được gặp anh. Vì em không biết anh Thống chết ở đâu và mồ mả ra sao. Nhiều lần nằm mơ, em thấy anh Thống, nhưng chưa bao giờ nghe anh ấy bảo là anh đã chết.

Tôi lấy trong túi ra để trên bàn một sợi dây đeo một tấm ảnh nhỏ được lồng vào trong cái khung có hình trái tim đẽo bằng gỗ mun - loại gỗ quý mà chúng tôi thường tìm được ở khu rừng Việt Bắc, một chiếc vòng nhỏ làm bằng nhôm xinh xắn, có khắc đậm sáu chữ Lê Minh Thống & Hà Nhất Anh, và trịnh trọng đứng lên đưa cho cô.

Nhất Anh chính là cô gái, và Minh Thống là tên một người bạn tù của tôi. Anh đã chết sau gần hai năm bị chuyển ra ngoài bắc.

Tôi gặp Thống ở trại Lào Cai, khi hai thằng vừa trong nam mới chuyển ra. Sau hơn một năm cả hai cùng chuyển về trại Hang Dơi thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn và may mắn được “biên chế” về cùng một tổ. Thống tốt ngiệp từ trường Võ Bị Đà Lạt, được chuyển sang không quân, lái phản lực. Trong thời gian học trường Võ Bị, Thống quen Nhất Anh, khi ấy đang là sinh viên của trường Chính trị Kinh Doanh. Thống chỉ còn bà mẹ già và cô em gái ở Sài Gòn. Cuộc tình của cô sinh viên Đà Lạt và chàng cựu sinh viên sĩ quan alpha đỏ kéo dài khá lâu. Hai người đã làm lễ hỏi. Nếu Thống không sang Mỹ học phi hành và nếu không có ngày 30 tháng Tư, thì hai người đã làm đám cưới.

Những ngày cuối cùng khi Sài gòn hấp hối, Thống được bạn bè thu xếp hai chỗ trên trực thăng để bay ra hạm đội Mỹ, nhưng Thống lại dành cho mẹ và cô em gái. Gởi mẹ và em cho thằng bạn thân, Thống nói dối với mẹ là anh sẽ đi sau.
Thống liều lĩnh tìm mọi cách chạy về Đà Lạt. Chưa kịp đón Nhất Anh, thì Sài Gòn mất. Thống nằm ở nhà Nhất Anh một tuần rồi ra trình diện “uỷ ban quân quản”, nhưng người ta chỉ cấp giấy chứng nhận và ghi là phải về Sài Gòn trình diện chính quyền địa phương ngay. Trở lại Sài Gòn, nhà bị tịch thu, Thống phải ở ké nhà một người bà con trước khi vào trại cải tạo.

Mấy năm trong tù, Thống có liên lạc được với Nhất Anh. Nhưng vài tháng mới nhận được một lá thư ngắn, chỉ hỏi thăm vài câu và khuyên “học tập tốt để sớm được khoan hồng về với nhân dân”. Bao nhiêu nhung nhớ yêu thương đều phải giấu kín ở trong lòng. Trong tờ khai lý lịch, Thống ghi Hà Nhất Anh là vợ, cũng là người thân duy nhất, và địa chỉ của Nhất Anh cũng là nơi anh xin cư trú sau này.
Thống to con đẹp trai, nhưng dường như tình yêu dễ làm cho Thống yếu lòng. Có những ngày đi chặt nứa trong rừng, Thống chỉ ngồi khóc và thì thầm gọi tên người yêu. Mấy lần không mang về đủ nứa, bị phạt cắt bớt một nửa phần ăn vốn đã ít oi, nhưng vẫn không ngăn được nước mắt của Thống. Dường như khi lòng đang thương nhớ ai, thì cái đầu không còn điều khiển đôi tay được nữa. Nhiều hôm tôi phải vận động anh em nhường bớt một chút phần ăn cho Thống, và chia nhau đi lấy thêm nứa cho Thống có đủ chỉ tiêu để không bị phạt.

Thống còn trẻ, nhưng cũng như hầu hết sĩ quan xuất thân từ Đà Lạt, dù ở binh chủng nào cũng kiêu hùng và thăng tiến rất nhanh. Thống nhỏ hơn tôi sáu tuổi, nên xem tôi như người anh. Có điều gì vui buồn, Thống tìm tôi chia sẻ. Tôi luôn an ủi và khuyến khích để anh có thêm nghị lực. Thống có gì khó khăn tôi sẵn sàng hết lòng giúp Thống.

Sau này, đội tù của tôi được phân công đi lấy gỗ về xây dựng hội trường. Họ bắt chúng tôi phải tìm những cây gỗ lớn và thẳng. Có những thân cây lớn đến hai vòng tay ôm không hết. Trời mùa đông với những cơn mưa phùn không dứt, nên những con đường mòn trơn như mỡ, chúng tôi chia từng nhóm hai mươi người vừa kéo vừa bẩy cho từng thân cây lăn theo những con đường mòn ấy từ trên núi cao lao xuống suối để cho nó trôi về bên hông trại.

Ăn uống quá thiếu thốn, đám tù chúng tôi triền miên trong cơn đói. Sức ngày càng yếu mà phải lao động quá nặng nhọc, nên chỉ sau một tuần lấy cây, người nào cũng mệt lả. Một hôm đang lấy sức bật một thân cây xuống bờ suối, Thống mệt quá nên lảo đảo rồi ngã sấp trên thân cây, đúng lúc cây này lăn xuống suối, bật luôn theo Thống. Chúng tôi chỉ còn nghe tiếng hét của Thống trước khi anh bị văng xuống lòng suối nằm sâu dưới vực.

Trời nhá nhem tối, cả hơn bốn mươi thằng tù chia nhau trèo xuống suối đi tìm Thống. Gần nửa giờ sau chính tổ của tôi tìm được Thống. Anh nằm bất động bên bờ suối. Rất may là ở một nơi không có đá. Thống thoi thóp thở, nhưng không còn cử động được.

Chúng tôi nhanh chóng kết một cái bè gỗ, rồi theo dòng suối, cùng nhau đẩy anh về trại. Sau hơn một tiếng đồng hồ trong trạm xá, Thống tỉnh lại, mở hé mắt nhìn mọi người. Khi nhận ra tôi, Thống thì thào:
- Nếu sau này anh còn sống mà về được, nhớ tìm giùm Hà Nhất Anh và nói là em xin lỗi nàng. Mong nàng hãy sớm lấy chồng và quên em đi.

Tôi nắm chặt đôi vai lạnh lẽo của Thống:
- Thống yên chí, tôi sẽ làm bất cứ điều gì mà Thống dặn dò.

Thống cố gắng mở lớn mắt nhìn tôi như cầu khẩn:
- Nhờ anh giữ lại cái vòng nhôm trong balô và tấm ảnh em đang mang trong cổ này, trao lại cho Nhất Anh. Nhớ nói giùm là em xin lỗi cô ta... xin lỗi cô ta .
Ngày hôm sau, một buổi chiều mưa buồn ảm đạm, dưới sự kiểm soát của hai vệ binh, tôi cùng ba người bạn tù đẩy xác Thống trên một chiếc xe “cải tiến” ra chôn dưới triền núi, bên một hốc đá . Chúng tôi đào huyệt đúng vào lúc cơn mưa trút xuống. Huyệt đào tới đâu thì nước ngập theo tới ấy. Tôi năn nỉ xin hai vệ binh cho chúng tôi tìm một nơi khác cao hơn, và chờ cơn mưa tạnh bớt, nhưng không được đồng ý, mà còn bị quát tháo, bảo phải “chôn khẩn trương lên mà về ngay”.

Tôi phải ngồi đè trên xác Thống, lềnh bềnh trên nước, để cho ba người bạn tù kia lấp đất.

Chuyện xảy ra đã hơn sáu năm rồi. Thời gian có biết bao sự đổi thay. Tôi cũng đã nghe và chứng kiến không ít những điều phản trắc. Không biết bây giờ Nhất Anh đã có chồng chưa và trong cảnh đổi đời kéo theo bao cay đắng, liệu trong lòng cô có còn lưu luyến chút tình xưa?

Đắn đo giây lát rồi tôi cũng quyết định phải nói hết những gì tôi biết và nhất là những điều mà Thống, trước khi trút hơi thở cuối cùng, đã nhờ tôi nếu còn có dịp trở về, hãy nói lại cùng nàng.

Nghe tôi kể xong mọi điều, Nhất Anh vẫn ngồi yên bất động. Im lặng một lúc tôi nghe tiếng nàng khóc. Hai tay nắm chặt các kỷ vật mà tôi vừa trao lại cho nàng. Ngoài trời những cơn mưa càng vần vũ. Tiếng mưa như thấu hiểu được nỗi niềm, từng đợt trút xuống mái nhà Thủy Tạ làm át đi tiếng sụt sùi, để cho nàng khóc.
Tôi cũng đã không cầm được nước mắt.
- Em cám ơn anh, và xin lỗi... em đã không nén được xúc động.

Tôi cũng kịp lấy lại bình tĩnh và tìm lời an ủi nàng:
- Dù sao mọi việc cũng đã qua rồi. Sau cái ngày nước mất nhà tan, biết có bao cảnh chia lìa tang tóc. Thôi thì tôi cầu mong Nhất Anh sớm nguôi được nỗi buồn này và có thêm nhiều nghị lực để mà bước tới, như lời trối trăn của Thống. Nhất Anh còn trẻ mà, còn cả một con đường thật dài trước mặt. Còn tôi, trong hoàn cảnh này, cũng chẳng biết rồi đời sẽ ra sao. Thôi đành phó cho trời đất đẩy đưa.

Nhất Anh vẫn ngồi bất động, không nói lời nào. Nhìn đồng hồ treo trên vách, nhớ tới lời hẹn của anh tài xế, tôi khẽ gọi nàng:
- Chị Nhất Anh! Chỉ còn 15 phút nữa là anh tài xế sẽ quay lại đón tôi. Sau này nếu chị có cần gì ở tôi, cứ liên lạc với tôi nghe!

Tôi nói cốt chỉ để an ủi thôi. Chứ tôi thì còn khả năng gì mà giúp nàng. Hơn nữa thời buổi nhiễu nhương này, dễ gì mà liên lạc được với nhau.
Nhất Anh lấy tay lau nước mắt, ngước lên nhìn tôi, ngần ngừ vài giây rồi lên tiếng:
- Nhờ anh vẽ lại và hướng dẫn cho em nơi chôn cất anh Thống. Sau này biết đâu có dịp may, em sẽ tìm ra thăm anh ấy.

Tôi đứng lên đến quày trả tiền hai tách trà, và xin một tờ giấy trắng. Tôi ngồi vẽ khá tỷ mỷ và hướng dẫn cho Nhất Anh con đường đến trại tù, và mộ của Thống nằm bên hốc đá trên triền núi, phía sau trại tù chừng một cây số. Cũng may là có cái hốc đá lớn duy nhất, để có thể định hướng được ngôi mộ nằm ở nơi nào giữa vùng rừng núi bao la.

Nhất Anh đứng dậy mặc lại áo mưa, xúc động nói lời chia tay, rồi đạp xe đi. Tôi nhìn theo bóng dáng nhỏ nhắn của nàng lảo đảo xiêu vẹo dưới cơn mưa tầm tã mà ngậm ngùi lo âu cho số phận của nàng. Tôi nghĩ có lẽ không bao giờ tôi còn có dịp gặp lại Nhất Anh.

oOo

Mùa hè năm rồi, vợ chồng tôi sang Cali thăm mấy cô con gái, nhân tiện chúng tôi đến thăm gia đình ông anh họ ở thành phố biển San Diego. Giáng Sinh năm 1970, nhân cuộc hành quân bất ngờ ở Đà Lạt, tôi có ghé thăm anh chị. Khi ấy anh làm ở trung tâm điện lực Đa Nhim và vợ anh là giáo sư dạy trường Bùi thị Xuân Đà Lạt. Anh chị rời Việt Nam từ những ngày Sài Gòn hấp hối, nên cũng đã hơn ba mươi năm rồi bây giờ anh em mới gặp lại nhau. Anh lớn hơn tôi gần mười tuổi, vừa bà con lại vừa là học trò cưng của ba tôi lúc anh còn học ở trường Pháp Việt, nên anh chị rất quý chúng tôi, nhất quyết bắt vợ chồng tôi phải ở lại nhà anh chị một tuần để cùng đi chơi với anh chị. Sau một ngày đi khắp nơi ở San Diego, chúng tôi đi một vòng sang khu nghỉ mát Cancun bên Mexcico. Đến ngày thứ bảy cuối tuần anh chị rủ chúng tôi đi tham dự buổi họp mặt của Hội Đồng Hương Đà Lạt, tổ chức tại Anaheim, gần khu Little Saigon, nhân tiện sau đó anh chị đưa tôi về lại nhà cô con gái ở Fullerton, cũng rất gần nơi ấy. Gia đình anh được giấy mời với bốn chỗ ngồi. Vợ chồng đứa con trai lớn không đi, nhường chỗ cho chúng tôi, bảo là chú thím ở tận bắc Âu, lâu lắm mới có dịp gặp nhiều đồng hương.

Không ngờ đã rời khỏi quê hương khá lâu, nhưng những người Đà Lạt còn giữ cái tình đồng hương đậm đà như thế. Hội trường không còn một chỗ ngồi. Nghe bà chị nói là họ đã đến từ khắp nơi trên nước Mỹ và Canada, một số từ Úc và Âu châu. Chưa tới giờ khai mạc, mọi người ngồi nói chuyện líu lo với những tiếng cười nghe như dư âm của một thời trai trẻ. Những cô gái với đồng phục áo dài trắng trong ban tổ chức đang chuẩn bị cho bài quốc ca, vẫn còn dáng dấp của Đà Lạt ngày xưa: môi đỏ má trắng hồng.

Chúng tôi ngồi ở dãy bàn đầu dành cho quan khách, cùng với gia đình của hai vị cựu giáo sư Bùi Thị Xuân khác. Trên sân khấu, một cái phông lớn là hình ảnh của khu chợ Hòa Bình và một mảng của hồ Xuân Hương trong sương mù. Tôi thầm phục người họa sĩ Đà Lạt nào đã vẽ bức tranh thật sống động. Tôi có cảm giác như mình đang ở một nơi nào đó trên thành phố thơ mộng một thời này. Ai đó đã nói đúng “người Việt nào ra đi cũng mang theo quê hương”.

Khi nghe cô MC giới thiệu thành phần ban tổ chức cuộc họp mặt hôm nay, tôi hơi ngạc nhiên khi thấy toàn là phái nữ. Tôi chợt nhớ tới một bài viết nào đó mà tôi đã đọc đươc: Người Việt đến Mỹ, nữ giới thành công hơn là nam giới, và số lượng phụ nữ tham gia vào những hoạt động chính trị, cộng đồng ngày một nhiều hơn. Tôi nghĩ tới Dương Nguyệt Ánh, Lê Duy Loan, những người phụ nữ đã mang đến cho người Việt bao điều hãnh diện. Nhưng đến khi chị trưởng ban tổ chức có đôi lời cùng đồng hương, tôi mới hiểu thêm: Buổi họp mặt này là do các cựu nữ sinh trường Bùi Thị Xuân đảm trách.

Đang vui tôi bỗng ngậm ngùi khi một chị trong Ban Tổ Chức lên trình bày về hoàn cảnh thương tâm của nhà thơ Lệ Khánh. Bây giờ tôi mới biết Lệ Khánh là con gái của phó trưởng ty cảnh sát Đà Lạt và có cuộc hôn nhân thật buồn với một nhà thơ quân đội, lại là sĩ quan cấp tá trong ngành Tâm Lý Chiến. Bao nhiêu điều ấy đã đưa nhà thơ nổi danh một thời của xứ sương mù vào bước đường cùng, phải đi bán hàng rong, bán từng trái cà trái ớt trong cơn bệnh hoạn, và đứa con trai duy nhất phải đi ở mướn cho người ta. Ban tổ chức kêu gọi tình thương của những cựu Bùi Thị Xuân, của những người Đà Lạt cũ. Tôi thầm cám ơn tấm lòng của những người Đà Lạt và nghĩ đây là một việc rất nên làm.

Đến phần văn nghệ, cô MC giới thiệu “nhạc phẩm Ai Lên Xứ Hoa Đào với một giọng hát truyền cảm của một Bùi Thị Xuân ngày trước, đã từng làm điêu đứng bao trái tim học sinh, sinh viên Đà Lạt.”

Lời giới thiệu đó không có một chút cường điệu nào. Giọng hát cất lên cao vút làm cả hội trường im lặng trong khi lòng tôi lắng xuống thẫn thờ. Không phải vì giọng hát truyền cảm, mà vì người hát ấy chính là Hà Nhất Anh, người con gái có một mối tình buồn với người bạn tù của tôi ngày trước. Gần hai mươi năm rồi, khuôn mặt có đôi chút đổi thay, nhưng tôi vẫn nhận ra. Cũng với nhan sắc ấy, nhưng với nụ cười rạng rỡ, không còn nét buồn nào đọng trên đôi mắt.

Thấy tôi nhìn đăm đăm lên sân khấu, bà chị đập vai tôi:
- Bộ có quen hay sao mà nhìn dữ vậy? Hay lại là một người xưa?

Tôi quay lại, đúng vào lúc bài hát vừa chấm dứt. Chờ cho những tràng pháo tay, cùng những tiếng la hét lắng xuống, tôi ôm vai bà chị:
- Đúng là có quen, nhưng không phài người xưa của em, mà là hôn thê của một thằng bạn tù của em, đã chết ngoài Bắc! Chính em là người đã trao lại cho cô ấy những kỷ vật của anh ta, khi em vừa mới ra tù.
- Cô ấy là học trò cũ của chị, để chị gọi cô ấy lại nghe.

Tôi chưa kịp trả lời, thì bà chị đã vẫy tay gọi một cô trong ban tiếp tân nhờ đi mời “ca sĩ Hà Anh”.

Cô đến nhoẻn miệng cười, cúi đầu chào anh chị tôi và các thầy cô giáo cùng bàn, rồi khựng lại khi nhìn vợ chồng tôi, gật đầu nhưng không nói lời nào. Thấy tôi ngồi gần bà chị, nên cô nhìn bà chị như muốn hỏi chúng tôi là ai. Bà chị cười chỉ vào tôi:
- Đã gặp nhau rồi mà không còn nhận ra sao?
Cô nhìn tôi, rồi lắc đầu:
- Xin lỗi, em không nhớ ra.

Tôi có một chút khó chịu trong lòng. Hóa ra người đàn bà cũng dễ quên, ngay cả những kỷ niệm đáng ra phải nhớ trong đời. Giữ lịch sự, tôi nhìn cô:
- Có phải chị là hôn thê của anh Lê Minh Thống? Tôi là người đã trao cho chị những kỷ vật của anh ấy ở nhà Thủy Tạ, khi tôi vừa mới ra tù. Chị không còn nhớ?

Cô ta khựng lại giây lát, nhưng rồi lắc đầu:
- Xin lỗi, em không nhớ. Có lẽ anh nhầm em với ai đó!
Cô chào tất cả mọi người rồi vội vã quay về phía sau sân khấu.

Tôi nhìn sang ông anh bà chị nói cho đỡ ngượng:
- Chắc bây giờ chị ta đang hạnh phúc, nên không muốn nhắc lại chuyện tình xưa.
Trên sân khấu chương trình văn nghệ nối tiếp bằng một hài kịch. Thiên hạ cười ầm ĩ, trong lúc lòng tôi dửng dưng với một chút bẽ bàng.

Buổi họp mặt chấm dứt, tôi theo ông anh bà chị bước ra khỏi hội trường. Trong lòng không còn cái háo hức của lúc mới bước vào đây. Trống rỗng và một chút bực dọc.

Tôi đang đứng chờ ông anh bà chị đi lấy xe, thì một bàn tay đâp trên vai tôi. Quay lại, tôi ngạc nhiên khi nhận ra Hà Nhất Anh. Cô đưa cho tôi mảnh giấy, rồi bảo nhỏ, trước khi chạy nhanh về phía hội trường:
- Em xin lỗi, nhưng Anh nhớ phải đến nghe!
Tôi mở vội tấm giấy ra đọc. Chỉ có số điện thoại và địa chỉ, cùng với một dòng ngắn ngủi: “Suốt ngày mai, chủ nhật, em sẽ chờ anh ở nhà”.

Tôi cảm giác có điều gì lạ lắm. Và dường như cô ta muốn giấu mọi người. Nghĩ như vậy nên tôi không nói lại với ông anh bà chị và ngay cả vợ tôi. Ông anh bà chị đưa vợ chồng tôi về Fullerton, rồi hẹn quay lại sáng thứ bảy tới đưa chúng tôi đi thăm mấy người đồng hương và cũng là học trò cũ của cha tôi ngày trước.
Tôi nhờ cô con gái lớn gọi phôn, hẹn đến gặp vào lúc hai giờ chiều chủ nhật. Cô con gái chở vợ chồng tôi tới trước cổng nhà, sau khi xem đúng địa chỉ, bấm chuông, rồi lái xe đi, bảo khi nào cần gọi cellphone, sẽ quay lại đón.

Một ngôi nhà nhỏ, khá xinh, có trồng nhiều loại hoa Đà Lạt, nằm trong khu Fountain Valley yên tĩnh. Người ra mở cổng là một người đàn ông trẻ, khá bảnh trai với hàng ria mép. Anh gật đầu chào, nở nụ cười rất tươi bắt tay chúng tôi, giới thiệu tên, nói năng lễ phép bặt thiệp:
- Cám ơn anh chị đến thăm. Bà xã em mừng lắm, đợi mong từ sáng tới giờ.
Tôi bước vào sân nhà, với một ý nghĩ vừa thoáng trong đầu: Được một người chồng như thế, hèn gì cô ta chóng quên mối tình xưa.

Nhất Anh mang nước ra mời chúng tôi, vui vẻ, thân tình, khác hẳn với Nhất Anh trong hội trường ngày hôm qua. Tôi im lặng, bởi không biết phải nói điều gì, ngồi chờ cô ta lên tiếng trước. Một lúc im lặng, tôi bất ngờ nhìn thấy cô ta khóc. Anh chồng đưa giấy cho cô lau nước mắt.

- Mong anh chị tha lỗi cho em. Ngày hôm qua khi gặp anh, nghe anh nhắc tới anh Thống em xúc động lắm, lại biết chính anh là người đã mang về những kỷ vật của anh Thống nữa. Nhưng hôm qua đông người quá, em không tiện nói.

Tôi đỡ lời:
- Tôi hiểu. Làm sao mà chị có thể quên được mối tình đầu, vừa đẹp lại vừa buồn, nhất là anh Thống đã ở lại và bị chết oan ức cũng vì quá yêu chị. Phải không?

Rồi quay sang anh chồng, tôi lên giọng như một nhà tâm lý học:
- Ai lại chẳng có mối tình đầu. Và người chồng nào lại không tôn trọng cái kỷ niệm đẹp đó của vợ mình, phải không anh?

Anh ta không trả lời, chỉ cúi xuống với một chút bối rối.
- Xin lỗi anh. Em không phải là chị Nhất Anh, và cũng không phải là người yêu của anh Thống!

Tôi bất ngờ, vừa ngượng ngùng vừa hụt hẫng khi nghe câu nói của người con gái, mà tôi đã chắc nịch là Hà Nhất Anh. Bây giờ người bối rối lại chính là tôi.

Cô gái hạ giọng:
- Em là em kế của chị ấy và cũng là đứa em duy nhất. Ba má em chỉ sinh có hai đứa con gái. Chị em giống nhau lắm, nên có nhiều người cũng lầm.

Tôi nhìn cô ngờ vực:
- Tôi nhớ ngày hôm qua khi MC giới thiệu chị lên hát, cũng với tên là Hà-Anh mà? Tôi nghĩ Hà Nhất Anh, nhưng khi qua Mỹ người ta thường bỏ đi chữ lót.
- Đúng ra tên em là Hà Nhị Anh, nhưng bây giờ trong giấy tờ, em mang tên chị em: Hà Nhất Anh, mà Nhất Anh hay Nhị Anh gì sang đây, như anh nói, cũng đều gọi Hà Anh như nhau mà anh...

Đến lúc này thì tôi không còn hiểu gì nữa. Cô ta đứng lên nhoẻn miệng cười và mời vợ chồng tôi theo cô lên từng trên, cô bảo:
- Anh chị cứ theo em lên trên này thì hiểu nhiều hơn.

Ba tấm ảnh để trên bàn thờ nhỏ. Tôi nhận ra Thống và Nhất Anh, mặc dù lúc chụp những tấm ảnh này hai người còn rất trẻ. Còn tấm ảnh thứ ba, một người con gái khác, tôi không nhận ra ai. Tôi chưa kịp hỏi thì cô gái lại sụt sùi:
- Chị Nhất Anh đã chết khá lâu rồi anh ạ. Vào một ngày mùa đông mưa tầm tã, chị ấy đạp xe đi đâu không biết, cả nhà chờ cơm tới tối vẫn chưa thấy về. Từ trước chị không bao giờ đi đâu một mình vào buổi tối. Cả nhà em và mấy người bạn hàng xóm chia nhau đi tìm. Em đạp xe đi khắp nơi. Trời mưa lớn quá nên em lạnh cóng. Đường xá vắng tanh không một bóng người. Cuối cùng thì chính em tìm ra chị ấy. Chị nằm bất động bên bờ hồ Xuân Hương, không xa nhà Thủy Tạ bao xa.

Tôi giật mình hoảng hốt:
- Ở gần nhà Thủy Tạ, bên bờ hồ Xuân Hương? Rồi có tìm được chiếc xe đạp và cái gì nữa không?
- Chiếc xe đạp rớt xuống hồ, ngày hôm sau người ta mới tìm thấy.
- Và chị đã chết? Tôi hỏi.
- Không, khi ấy thì chị còn sống, nhưng bất tỉnh và mình mẩy thì lạnh cóng. Vào bệnh viện, nửa giờ sau chị tỉnh lại, nhưng rất yếu chưa nói được. Khi thay áo cho chị, em thấy trong túi áo có một sợi dây đeo cổ có tấm ảnh của chị và một chiếc vòng nhôm có khắc tên chị và tên anh Thống.
- Không có tờ bản đồ vẽ trại tù và nơi mộ anh Thống?
- Có chứ! Chính nhờ tấm bản đồ đó mà vợ chồng em, cách nay ba năm về Việt Nam, ra tận nơi tìm được, rồi thuê người lấy hài cốt của anh Thống mang về chôn trên Đà Lạt. Cám ơn anh đã vẽ cái bản đồ khá chi tiết và chính xác.
- Còn chị Hà Nhất Anh?
- Hai tuần sau, chị khá hơn nhiều, nói năng tỉnh táo, bệnh viện cho xuất viện bảo về nhà điều trị, bồi dưỡng là chị sẽ khỏe thôi. Nhưng không ngờ về nhà mấy hôm thì lên cơn sốt nặng rồi hôn mê trở lại. Đưa vào bệnh viện thì chị mất. Người ta bảo là chị bị sưng phổi cấp tính. Mà thời ấy có thuốc men gì đâu mà chữa. Trong mấy ngày tỉnh táo, chị thường nhắc tới anh Thống, năn nỉ ba má em tìm mọi cách đem anh Thống về Đà Lạt, và báo cho mẹ anh ấy biết. Lúc trước bà thương quí chị lắm, nên chị cũng rất thương và lo lắng cho bà, khi em gái anh Thống vừa quá trẻ lại vừa yếu đuối. Không ngờ đó lại là những lời trăn trối của chị.

Tôi thầm nghĩ, chính vì đi gặp tôi hôm ấy mà Nhất Anh chết. Chắc cô đã xúc động nhiều lắm. Lòng tôi chùng xuống. Tôi có cái cảm giác đau đớn như vừa có những nhát chém vô hình nào đó trong lòng mình. Tôi lấy lại bình tĩnh:
- Như vậy là bây giờ mộ của Thống nằm trên Đà Lạt?
- Dạ. Anh nằm bên cạnh chị Nhất Anh. Vợ chồng em mua lại mảnh đất tư gần khu rừng Ái Ân. Từ đó anh Thống có thể nhìn thấy Trường Võ Bị của anh lúc xưa và đỉnh núi Lâm Viên mà anh đã từng chinh phục.
- Đồi thông hai mộ! Tự dưng tôi buột miệng.

Đến lúc này tôi mới thấy cô nhoẻn miệng cười:
- Sau ngày 30 tháng 4/75, ở Đà Lạt có khá nhiều “đồi thông hai mộ”. Có dịp anh chị về Đà Lạt, ghé lại Rừng Ái Ân hỏi thăm, là người ta biết hai ngôi mộ của anh chị Thống-Anh.
- Thế rồi, cô có liên lạc được mẹ và em gái của anh Thống?

Cô không trả lời, mà lại mời vợ chồng tôi bước sang phòng bên cạnh. Căn phòng rộng, thoáng mát, có cửa kính lớn nhìn ra công viên phía trước. Một bà cụ tóc bạc trắng, nhưng da dẻ hồng hào, đôi mắt sáng, ngồi trên chiếc xe lăn.

Khi tôi cúi đầu chào bà, cô gái giới thiệu:
- Anh này là bạn tù của anh Thống ở ngoài Bắc.

Rồi quay sang tôi:
- Chắc anh ngạc nhiên lắm, đây chính là mẹ của anh Thống.

Bà cụ ôm lấy tôi, nước mắt trào ra trên đôi gò má. Bà hỏi tôi về Thống trong những ngày ở tù và vì sao mà Thống chết. Nhưng tôi chỉ kể vài kỷ niệm về Thống trong những lúc vui vẻ, và không dám nói cho bà nghe về cái chết thảm thương của Thống. Tôi nói dối là Thống chết vì bệnh kiết lỵ nặng mà nhà tù không có thuốc. Tôi tưởng nói dối như vậy cho cụ yên lòng, không ngờ cụ đã khóc ngất lên. Tôi chỉ còn biết ôm vai bà cụ mà im lặng.

Một lúc sau, bà cụ mới tỉnh táo và kể lại tai nạn xe hơi đã làm chết cô con gái, em Thống và làm tê liệt đôi chân của bà. Nhìn sang cô gái, bà cụ thỏ thẻ:
- Cũng nhờ vợ chồng cháu nó đây mà bác còn sống đến bây giờ.

Nhị Anh nắm tay bà cụ:
- Má coi vợ chồng em không khác gì con ruột của má. Em sang đây sau khi em gái anh Thống chết. Tấm ảnh trên bàn thờ lúc nãy là của cô ấy. Cô nhỏ hơn em tới sáu tuổi. Lúc ấy má đang làm chủ mấy sạp may, đã lo lắng tiền bạc cho em sang đây và cho em tiếp tục học xong đại học nữa. Ngôi nhà này là của má cho vợ chồng em đó chứ.

Vợ chồng tôi chào bà cụ, chúc bà sức khỏe và hứa bất cứ lúc nào có dịp sang Cali, sẽ ghé lại thăm bà.

Khi bắt tay từ biệt vợ chồng Hà Nhị Anh, chợt nhớ tới một điều, nên tôi hỏi cô:
- Khi nãy tôi có nghe chị nói là bây giờ tên tuổi của chị trong giấy tờ lại là tên tuổi chị Nhất Anh. Sao vậy?

Cô gái vẫn còn nắm chặt bàn tay tôi, kéo tôi ra xa, nhìn quanh rồi hạ giọng:
- Chính nhờ cái giấy của trại tù báo tin anh Thống chết, trong đó có ghi tên chị Nhất Anh là vợ, nên em đã thay chị ấy mà sang đây theo diện dành cho vợ tù nhân cải tạo bị chết trong tù. Em thấy xấu hổ lắm khi phải làm điều gian dối ấy, tội lớn lắm đối với luật pháp Hoa Kỳ, nhưng đó lại là ước mong của mẹ anh Thống, và của cả chị Nhất Anh trước khi chết nữa. Em săn sóc cho má bao nhiêu năm nay, nên má thương em như con gái má. Biết đâu đây là sự sắp xếp nhiệm màu từ chị Nhất Anh – anh Thống? Hơn nữa nhìn em cũng giống chị em lắm, và tên em với tên chị ấy cũng như nhau mà. Nhưng anh nhớ phải tuyệt đối giữ hộ cho em điều bí mật này nghe.

Vâng! Chính vì tôi đã giữ cho cô cái điều bí mật đó, nên hai cái tên Hà Nhất Anh, Hà Nhị Anh mà các bạn vừa đọc được trong truyện, đều không phải là tên thật của hai chị em nàng.

Phạm Tín An Ninh

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image

Câu Truyện Cô bé bán mía ghim
Đêm Giáng Sinh.


Trần Mông Lâm.

(Kỷ niệm Noel cuối cùng của tôi tại Cần Thơ)


Tôi không hiểu cô bé đó bây giờ ra sao, còn sống hay đã chết. Điều tôi biết chắc chắn là những đứa trẻ Việt Nam xấu số như cô có rất nhiều, nhất là sau năm 1975, khi cuộc chiến chấm dứt, đất nước rơi vào tay một bọn chỉ biết một điều là sâu dân, mọt nước.

Cuối năm 1977, sau khi đươc Việt Công thả về từ một trại học tập U Minh , tôi bị cưỡng bách trở lại Cần Thơ tuy gia đình tôi ở Sài Gòn.Căn nhà mà tôi mua để ở tại lộ 20 đã bị một tên cán bộ chiếm mất.Tứ cố vô thân, tôi không còn cách nào hơn là vào nhà anh bạn dược sĩ HLV đã được về trước để ngủ nhờ. Sau một vài ngày, anh bạn tôi nhờ người quen, kiếm được cho tôi một việc làm tạm tại trạm y tế phường Cái Khế . Tôi không có chỗ ở, nên họ cho tôi vào ở tập thể với những nhân viên của trạm y tế này.


Nói là nhân viên cho nó sang trọng chứ thực sự chỉ có tôi và vài người nữa, một cô nữ hộ sinh tên Hồng Hoa,có chồng đi học tập chưa đưọc về, một anh thầy thuốc nam, một cựu y tá kiêm nghề giết heo và một cựu trung sĩ y tá của quân đội ta ngày trước. Mấy người này đều có gia đình, nhà cửa ở Cần Thơ nên họ không ở tập thể. Trái lại hằng đêm có những cán bộ việt cộng không làm việc gì tại trạm y tế nhưng có dịp ghé qua Cần Thơ công tác, được bà phường trưởng Bẩy Thịnh cho đến ở một vài đêm, sau đó lại biến mất, ẩn hiện bất thường. Vì chẳng dính dáng gì đến mình, tôi cũng chẳng cần chú ý.

Khu vực Bến Xe Mới Cần Thơ là một khu vực phức tạp. Có những căn hẻm lầy lội, dơ bẩn, cống rãnh hôi thối. Nơi đây là chỗ chú ẩn của tầng lớp nghèo hèn nhất của Tây Đô. Những gái điếm, những ả hớt tóc ôm, bia ôm ngày trước. Những căn nhà ổ chuột không một chút tiện nghi trong đó chui rúc những bà mẹ , những trẻ mồ côi. Đêm đêm, những người bạn hàng cần đi những chuyến xe đò về Sài Gòn hay xuống Long Xuyên, Sóc trang sang hôm sau để buôn bán gì đó ngủ lê lết nhiều khi trông tội vô cùng. Cả thành phố chỉ thấy nghèo nàn với những người không dám mang mang giày, chân người nào cũng mang dép nhựa, dép râu, áo bỏ ngoài quần. Thỉnh thoảng, trong đêm tối, thấy tiếng gấu ó, chưởi thề, và tiếng những tên công an trong trạm công an phường gần đó nạt nộ, mà bọn dân nghèo vì đã quá nghèo , chẳng sợ hãi gì.

Phường Cái Khế ngoài trạm Y Tế còn có các phòng khác như Phòng Vật Tư chuyên bán mấy món hàng vật dụng cần thiết trong đời sống hàng ngày, cửa hàng ăn uống với các nhân viên hồi đó bán cơm, bia, vớ vẩn, phòng kế hoạch...v.v.Nhân viên phường chẳng là bao nên chúng tôi liên lạc với nhau rất thân thiết.Chúng tôi họp thành một nhóm anh em kết nghĩa để đùm bọc lẫn nhau. Đa số những nhân viên này đều hoặc gốc ngụy, hoăc chẳng biết cộng sản là gì, chui vào phường để làm chỗ dựa mà thôi, vì lương bổng chết đói, làm gì đủ ăn. Đã vậy, lâu lâu lại có một bà cán bộ, không biết thật hay cán bộ 30, bắt mua những cuốn sổ tiết kiệm theo kế hoạch kinh tế của phường.Nín thở qua sông, tôi cũng làm bộ hưởng ứng đóng góp tuy để có thể sống còn, lâu lâu phải bán nhưng chiếc nhẫn vàng 1 chỉ, hai chỉ lấy tiền độ nhựt.Những chiếc nhẫn này là do mẹ tôi gửi xuống cho đứa con hoạn nạn.


Đó là thời gian kỳ cục nhất của đời tôi, làm cán bộ việt cộng.

Ở tập thể có cái lợi của nó. Lúc đó tôi đã bần cố nông đến hết cỡ rồi nên có thể nói là cùi không sợ lở, vì không thể lở thêm nữa, mà bọn Việt Cộng lại rất đễ dãi trong vấn đề đạo đức. Làm gì cũng được miễn là đừng nói chính trị và đụng đến “bác”.

Việc làm tại Trạm Y Tế phường coi như không làm bác sĩ vì chẳng có thuốc men gì hết, vài viên thuốc đen thui, chẳng biết lấy ở đâu ra, vài cái lá quỷ lá quái trị bách bệnh. Vậy mà những người dân nghèo chẳng có chỗ nào đi đành phải đến xin giúp đỡ. Tôi còn nhớ có những người bị xuất huyết vì ung thư tử cung, những người ho ra máu, tôi chẳng giúp ích được gì hơn là khuyên họ đến bệnh viện đa khoa. Chẳng hiểu tại bệnh viện họ làm ăn ra sao hay vì bọn người này không có tiền lo lót, ít lâu sau lại thấy họ trở lại, thân thể ngày một tiều tụy đi.

Trong số những người hay trở đi trở lại đó, tôi còn nhớ có một người đàn bà , trên giấy tờ chưa tới năm mươi, nhưng nhìn như bà lão 70. Bà này ho ra máu .Tôi nhớ rõ bà vì bà này có một đứa con gái khỏng 12, 13 gì đó. Bà mẹ ngồi bán những điếu thuốc lá lẻ, thứ thuốc mà người ta vấn lấy, rồi cho vào bọc ny lông, gọi bậy bạ là capstan, mélia...v.v, thỉnh thoảng có những điếu thuốc quốc doanh như Vàm Cỏ, Tam Đảo gì đó. Đứa con thì hay lê lết bán bán những món quà vặt như trái ổi, trái cóc, hay vài xâu mía ghim, vài vòng bông hoa lài.

Đứa con gái bé quắt đó tên Hiền rất hay đến trạm Y Tế , hoặc để xin thuốc cho mẹ, hoặc để bán hàng cho mấy đứa chúng tôi. Thấy quá tội nghiệp cho 2 mẹ con nó, chúng tôi, nhất là cô Hồng Hoa, hay giúp đỡ nó vì cô cũng có một đứa con gái trạc tuổi nó.

Về phần tôi, sau mỗi bữa ăn đạm bạc, với một chút rau, hay vài con cá kèo, thường mua của nó vài xâu mía ghim để tráng miệng.

Thời gian qua lẹ. Tôi bắt đầu làm ở phường Cái Khế khoảng đầu tháng 6 năm 1977 mà tháng 12 đến lúc nào không biết.Thời trước 75, vào dịp Lễ Giáng Sinh, luân luôn vang dôi những bản nhạc bất hủ như Silent Night, Petit Papa Noel, Đêm Thánh Vô Cùng...v.v làm mọi người rạo rực và mua tặng nhau những món quà, tấm thiệp Noel để gửi cho nhau.

Mùa Noel năm đó, Cần Thơ buồn như một thành phố chết.

Buổi chiều ngày 24 tháng 12, mọi người đều đã về nhà. Còn ở lại trong trạm, chỉ còn mình tôi.Tôi ngồi buồn nghĩ đến những Noel trước đây, khi tôi còn là sinh viên, và khi tôi chưa mất nước. Tôi nghẹn ngào nhớ lại những buổi chiều chen chúc nơi đường Lê Lợi để mua những gói chocolat, hay những tấm thiệp khi mở ra có tiếng nhạc của các bài hát quen thuộc. Tôi nghẹn ngào khi nhớ tới các buổi khiêu vũ gia đình, các khuân mặt bạn bè lúc đó đang may mắn ở tại Paris, hay New York, California...Nhìn xuống thân mình, thật chẳng giống ai.

Trong lúc đang buồn bã đó, thì tôi bỗng thấy con bé Hiền đi vào trạm với một ít xâu mía trên tay dù lúc đó đã 10 giờ đêm. Tôi hỏi nó:

-Giờ này con còn đi bán hay sao. Đêm Giáng Sinh sao không ở nhà với mẹ?

-Chú mua dùm cháu . Mẹ cháu lại ho ra máu .Vào nhà thương, họ không cho nhập viện. Nhà cháu không còn gì. Cháu cũng không có tiền mua đồ ăn cho mẹ cháu, chú mua giúp cháu nghe chú.Cô Hồng Hoa thương cháu nhưng cô cũng nghèo, chỉ có thể cho cháu một số tiền nhỏ đủ mua mấy xâu mía này để đem đi bán. Cháu bán ở bến Ninh Kiều suốt buổi tối này mà không hết.Mẹ cháu ở nhà không biết ăn uống ra sao. Chú mua hết cho cháu để cháu có thể về nghe chú.

Nhìn đứa bé, tôi chợt thấy thương cảm vô cùng. Trong khi ở các nước giầu có, và ngay cả Sài Gòn trước đây, đêm Giáng Sinh là đêm những em bé đó được nhận những gói quà treo trên những cây Noel rực rỡ ánh đèn. Vậy mà đêm nay con bé này cực khổ kiếm tiền nuôi mẹ.Tôi nói với con bé :

-Thôi để chú mua hết cho cháu, mà chú cũng không thể ăn hết những xâu mía này.

Tôi lục túi quần, lấy hết những đồng tiền còn lại trong túi đưa cho nó:

-Cháu cầm lấy hết đi để lo cho mẹ.

Mắt đứa bé sáng lên vì vui mừng . Món tiền không đáng gì nhưng với nó rất lớn.Nó cầm tiền rồi nói với tôi :

-Cám ơn chú. Cháu sẽ mua cơm mang về cho mẹ cháu.

Nói rồi cháu tất tả chạy đi.

Tôi thấy hơi vui vì nếu không giúp được mẹ nó điều gì trong cương vị y sĩ, thì ít nhất tôi cũng đã giúp họ một chút trong cương vị con người.Tôi tưởng tượng rằng tối hôm nay, đêm Giáng Sinh, với số tiền tôi cho, hai mẹ con nó sẽ có được một lễ Giáng Sinh vui vẻ.

Ngày 26 tháng 12 năm 1977, khi tôi thức dậy sau một đêm khó ngủ, với những cơn ác mộng chập chờn, đang sửa soạn để đánh răng, rửa mặt để làm việc, thì tôi thấy Hồng Hoa đi vào.

-Hôm nay sao cô đi làm sớm thế.

Tôi không thấy tiếng trả lời vui vẻ như mọi ngày, tôi ngạc nhiên nhìn lên thì thấy mắt Hồng Hoa đỏ hoe.Tôi hỏi :

-Có chuyện buồn gì thế.

-Mẹ con Hiền chết rồi.Hôm qua, lúc nó mang cơm về cho mẹ, thì mẹ nó thổ huyết, rồi sau đó chết ngay, chưa kịp ăn miếng cơm nào .Tội nghiệp con bé, mồ côi cha từ nhỏ. Nay mẹ nó chết rồi, thấy thương quá. Nếu khá giả, em đã đem nó về nuôi, nhưng trong hoàn cảnh này, em không đủ sức.

Tôi lặng người. Tôi biết rằng mẹ con bé không thể sống lâu. Trước sau gì bà ta cũng chết vì ho lao mà không có thuốc men, nhưng chết bất đắc kỳ tử trong một đêm Noel, thật quá thê thảm. Nhưng cũng như Hồng Hoa, tôi không biết làm sao để giúp Hiền. Chính thân mình còn lo chưa xong, phải ăn ở trong cái trạm y tế này, ở tập thể, chẳng còn gì riêng tư !!

Tôi đã muốn ở lại làm ở phường Cái Khế cho đến mãn đời, vì lúc đó việc vượt biên đối với tôi gần như không tưởng. Ở phường Cái Khế, tôi không thể nào hành nghề y, nhưng ở đó, tôi đã tìm được tình người, giữa những kẻ thất thế bại trận và những kẻ nghèo đói khốn cùng của xã hội Việt Nam sau 75.Rất tiếc, sang năm 1978, tôi được thuyên chuyển về trường Trung Học Y Tế tỉnh Hậu Giang và phải khăn gói gió đưa về Vị Thanh (Chương Thiện). Ở đây, tôi cũng ở tập thể. Mỗi bữa cơm, mang một đôi đũa và một cái chén xuống nhà bếp ăn những bữa ăn không cách nào nuốt nổi. Trong số những người được đưa về Vị Thanh với chúng tôi, có anh DS Chiểu sau đó đã tự tử cùng vơi vợ và hai đứa con sau một lần vượt biên thất bại. Vợ anh và hai đứa con, hai bé gái rất dễ thương,chết hết.Riêng anh Chiểu không chết, không biết tại sao. Anh được đưa về Cần Thơ, may mắn được đưa vào đúng trại của một bác sĩ quen biết từ trước 75. Ông này tạo điều kiện để anh trốn khỏi bệnh viện sau đó. Số phận anh bạn dược sĩ này không biết ngày nay ra sao.

Tôi cũng không hiểu cô bé bán mía ghim tên Hiền ở Cần Thơ sau Giáng Sinh 1977 trôi dạt về đâu.Tôi cũng mất liên lạc với những người đã cùng tôi một thời hoạn nạn và kết nghĩa anh em , công nhân viên phường Cái Khế , lạc loài năm bẩy đứa.. Việc tôi vượt biên tháng 5 năm 1978 cũng là may mắn hy hữu, do một người bạn cho đi không lấy tiền bạc gì.

Tôi xa Cần Thơ từ đó, tính đến nay cũng đã trên 30 năm.

Tôi đã thề không bao giờ trở lại Việt Nam chừng nào chế độ chưa đổi thay.Những kỷ niệm về Giáng Sinh năm 1977 của tôi tại Cần Thơ vì lý do đó coi như là Giáng Sinh sau cùng của tôi tại Cần Thơ nếu như lời tiên đoán của bạn tôi, thi sĩ Nguyễn Đức Liêm thành sự thực. Nói về Cộng Sản, nhà thơ đã viết : Nó sẽ chết, nhưng mình chết trước nó. Tôi lại vừa nhận được tin một đàn anh của tôi, bác sĩ Trần Ngươn Phiêu mới từ giã cõi đời.Anh chỉ lớn hơn tôi một giáp mà thôi. Một con giáp nữa, có đủ để CS biến mất hay chưa ?? !!!

Post Reply