Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Những hình ảnh ngày
"Lễ Tình Nhân "trên thế giới


Dù đến từ châu Âu hay châu Á, là dân Mỹ hay người Israel thì hôm qua
vẫn là ngày lễ chung của hầu hết cư dân trên toàn thế giới - ngày Tình nhân.

Image
Các thiếu nữ Thái đang cùng nhau chọn một đóa hồng cho ngày đặc biệt. Ảnh: Reuters.

Image

Những bó hoa hình tim rực rỡ tại thủ đô Hà Nội, Việt Nam. Ảnh: AFP.

Image
Bất chấp các cuộc đánh bom tự sát còn xảy ra tại nhiều nơi trên khắp đất nước,
người dân Iraq vẫn không quên lễ Tình nhân. Ảnh: Reuters.

Image
Các cô gái Nhật có một cách tận hưởng ngày tình yêu rất riêng.
Đó là ngâm mình thư giãn trong bồn tắm sô cô la tại khu nghỉ dưỡng ở Hakone. Ảnh: Getty Images.


Image
Một đôi trai gái trao nhau nụ hôm đắm đuối
dưới trời tuyết lạnh trên cây cầu Tình nhân (Bridge of Lovers) tại Kiev. Ảnh: Reuters.

Image

Ông Abu Salah, người Jordan,
trao tặng vợ một cánh hồng như minh chứng của tình yêu. Ảnh: Reuters.


Image
Trung tâm thương mại Hong Kong tổ chức cuộc đua "Cõng tình nhân" cho các cặp đôi nhân ngày Valentine. Ảnh: Reuters.

Image
Đôi bạn trẻ người Malaysia, Raymond Liew và Jeffrynn Wong,
tổ chức đám cưới ngay trong ngày tình yêu trên đỉnh tháp Kuala Lumpur. Ảnh: Reuters.

Image
Một đôi tình nhân cùng nhau thắp cây nến cuối cùng
hoàn thành những hình trái tim lung linh tại Yokohama, Nhật. Ảnh: Reuters.

Quỳnh Mai

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

Xuân Ca Ngày Cũ -
Từ La Hối đến Nguyễn Hiền


Quỳnh Giao
Khi các nụ thủy tiên đầu tiên tỏa hương thơm trong nhà thì dù chưa nghe được tiếng pháo, người người đã thấy rộn ràng trong tâm tưởng những khúc nhạc Xuân của thời trước, nay đã thành Xuân ca của mọi thời.

Trong số này, có lẽ nên hồi tưởng lại La Hối và bài Xuân và Tuổi Trẻ.

La Hối là nhạc sĩ có duy nhất một tác phẩm, nhưng lại nổi tiếng nhờ ca khúc duy nhất ấy. “Xuân và Tuổi Trẻ” là bài hát không thể thiếu mỗi độ Xuân về. Ông vốn là người Việt lai Hoa, nên dù viết bằng Việt ngữ, bài hát có âm hưởng Trung Hoa rất đặc biệt. Ngay từ đầu thập niên 1950 thính giả đã yêu thích bài hát vì ý nhạc phong phú, vi vút như những cánh bướm chập chờn.

Nhưng, trong nghề với nhau thì các ca sĩ thì thường dễ hụt hơi vì đoạn chuyển khúc:

Vui hát đi cho lòng thêm sướng,
Vui hát đi cho lòng thêm tươi,
Ta hát ca đón mừng Xuân mới,
Ta hát ca cho lòng thêm hăng hái...

Mười trường canh hát liền một hơi không được ngắt! Và “...hăng hái” phải được ngân khá dài.

Rời xa chúng ta được ba năm, Nguyễn Hiền là tác giả của những bài hát nhẹ nhàng đầm ấm cũng cống hiến một bản nhạc về Xuân rất đẹp, phổ thơ Kim Tuấn. Ðó là “Anh Cho Em Mùa Xuân”, nổi tiếng trong thời kỳ 1960-1970. Ðây là một bài ca về Mùa Xuân mà cũng là một bài ngợi ca quê hương với nét nhạc rất trữ tình.

Giữa hai tác giả ấy và cùng trong dòng nhạc nhẹ nhàng, thanh cao, thích hợp với mọi thời kỳ, Tuấn Khanh, tác giả của “Hoa Soan Bên Thềm Cũ” có tác phẩm “Mộng Ðêm Xuân” nhịp “Boston” tha thiết và êm đềm như một bài thơ. Thế rồi, qua những năm dài chiến chinh, Xuân của người lính chiến cũng trở thành Xuân của mọi người. Ngày nay dù chinh chiến đã tàn, ít ai quên được những bài Xuân ca viết cho chiến sĩ. Tiêu biểu nhất có Nguyễn Văn Ðông với “Phiên Gác Ðêm Xuân” và Trần Thiện Thanh với “Ðồn Vắng Chiều Xuân”...

Nói tới nhạc Xuân của Việt Nam, không thể không nhắc tới Phạm Duy.

Ông đã soạn tám bài hát về Xuân: “Hoa Xuân”, “Ðêm Xuân”, “Xuân Thì”, “Xuân Nồng”, “Xuân Ca”, “Xuân Hành”, “Tuổi Xuân”, “Xuân Hiền”. Ðó là không kể tới “Bến Xuân” soạn chung với Văn Cao, hoặc “Xuân Trên Buôn” dân ca cải tiến của sắc dân Ê Ðê và “Mùa Xuân Yêu Em”, phổ thơ Ðỗ Quý Toàn.

Trong các ca khúc trên, bài “Hoa Xuân” được hát nhiều nhất vào dịp Nguyên Ðán. Lời ca và nét nhạc bình dị, tươi tắn, diễn tả trạng thái tâm hồn phơi phới trước thiên nhiên và đồng loại. Lãng mạn nhất thì có “Ðêm Xuân”. Nghe “Ðêm Xuân”, ta hiểu thế nào và tại sao các cụ ta xưa thường dùng chữ “Xuân” để tả những gì đẹp đẽ và thơ mộng.

Riêng với người viết, nhạc và lời của “Xuân Thì” là một công phu trác tuyệt.

“Xuân Thì” không tả cảnh Xuân mà là tâm sự của tác giả về mình, về nhân thế, với đặc tính cố hữu trong lời ca của Phạm Duy là lòng nhân ái. Ông mong có một Mùa Xuân thái hòa cho nhân loại. Ông thương từ cây súng cô đơn đến những nụ đào nở trên lối mòn chiến xa. Ông ôm nhân loại trong mình, cười tuôn nước mắt cho Xuân tình dấy men. Cùng với lời ca súc tích và đầy hình ảnh, Phạm Duy dùng cách chuyển khúc từ giai điệu “thứ” sang “trưởng” thật thần tình để diễn tả nỗi hân hoan thăng hoa từ sự khổ đau.

Bản “Xuân Nồng” của ông hoàn toàn tả cảnh Xuân, mà là mùa Xuân miền Nam. “Xuân về không có mưa phùn mà chỉ có bụi xe”... nhưng vẫn là Xuân nên thơ. Nét nhạc Phạm Duy thường đi đôi với lời, nên tình và cảnh của ngày Xuân trong Nam được diễn tả bằng nhịp ba linh hoạt với âm giai “Fa trưởng” trong sáng.

“Xuân Ca” và “Xuân Hành” là hai ca khúc Phạm Duy soạn theo khuynh hướng những bài hát tâm linh. Người từ lòng người đi ra rồi sẽ trở về lòng người. Hãy hưởng Mùa Xuân trong từng chớp mắt trong cuộc sống ngắn ngủi này. Mùa Xuân của Phạm Duy có từ trong đêm tân hôn của cha mẹ, và từ đó ông ra đời góp chung câu gào thiết tha cho Mùa Xuân vĩnh cửu. Nếu chết đi thì xin được tái sinh nhiều lần để được tiếp tục đi mãi trong Mùa Xuân. Bài này soạn theo giai điệu ngũ cung, rất Việt Nam.

Một bậc sư trong nghệ thuật dung hợp cái rất Tây và rất Ðông trong tân nhạc là Dương Thiệu Tước. Ông vua của tiết điệu bán cổ điển Tây phương trong nhạc Việt đã cống hiến cho chúng ta bản luân vũ được coi là hay nhất của Việt Nam, ca khúc “Bến Xuân Xanh”.

Dương Thiệu Tước sáng tác “Bến Xuân Xanh” rất công phu. Tác phẩm dài tổng cộng 180 trường canh (gấp ba một bài luân vũ trung bình có 64 trường canh, như “Thu Vàng” của Cung Tiến) và được viết bằng âm giai “Do trưởng”, loại âm giai được coi là “sáng”. (Xin có đôi lời về nhạc thuật ở đây: giới sáng tác nhạc cho âm giai “Ré giáng trưởng” và “La giáng trưởng” là âm giai “dịu” nhất. Âm giai “Sol thứ” và “Si thứ” là âm giai “buồn” nhất. Âm giai “Do trưởng” và “Fa trưởng” là âm giai “sáng” nhất)

Vì thế, “Bến Xuân Xanh” đòi hòi ca sĩ phải trình bày đúng âm giai nguyên thủy. Khi nghe một người trình bày không đúng “ton” (thí dụ người hát không lên được những nốt cao nhất của bài hát, phải hạ xuống một hay hai “cung”) thì ông hơi hơi buồn. Ðoạn biến khúc của “Bến Xuân Xanh” được Dương Thiệu Tước chuyển sang âm giai “La giáng trưởng” trở nên êm dịu lạ thường trước khi về lại cung “Do trưởng” trong sáng.

Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước còn soạn phần nhạc mở đầu (introduction) và kết thúc (Coda) thật vi vút, du dương. Lời ca trong “Bến Xuân Xanh” tràn đầy thơ, nhạc, hoa, nắng, gió và sóng nước: toàn những biểu tượng lung linh rực rỡ của Mùa Xuân. Khi Dương Thiệu Tước vừa tạ thế ở trong nước, trong dịp tưởng niệm ông ở hải ngoại, 12 năm về trước, nhạc sĩ Nghiêm Phú Phi đã nhắc tới bản luân vũ này với lòng khâm phục. Không thua kém gì các nhạc khúc về sông nước nổi tiếng của Tây phương!

Ngoài “Bến Xuân Xanh” độc đáo nói trên, Dương Thiệu Tước có soạn ba bài khác về Mùa Xuân, là “Vui Xuân”, “Vườn Xuân Thắm Tươi”, và “Tìm Xuân”. Nhưng chỉ cần viết một “Bến Xuân Xanh” thôi, Dương Thiệu Tước đã xứng đáng với một chỗ đứng sáng chói trong nền tân nhạc Việt Nam.

Một nhạc sĩ khác cũng xứng đáng với ngôi vị trên mà lại không được quần chúng để ý, và chỉ được giới thẩm âm biết tới, đó là Vũ Thành. Người nghệ sĩ tài hoa này có ca khúc mang tựa đề về Mùa Xuân là “Tình Xuân”. Cũng với âm giai sáng “Do trưởng”, ông dùng ý nhạc cao sang, thanh thoát, cho ta nghe và thấy được một Mùa Xuân đầy sắc hương thi vị. Tuy nhiều sáng tác khác của ông không có tựa đề về Mùa Xuân nhưng luôn luôn gợi nhớ tới Xuân. Câu mở đầu của bản “Nhớ Bạn” là “Xuân vương trên ngàn hoa...” Bản “Say Nhạc Canh Tàn” cũng mở đầu bằng “Gió Xuân đưa mây vật vờ...”

Nhạc Vũ Thành cũng như con người nghệ sĩ của ông: già dặn, thanh cao mà ẩn dật như một cội mai...

Sau cùng, nói về Mùa Xuân trong nhạc, xin nhắc tới Phạm Ðình Chương, người được thính giả mang nợ nhiều nhất mỗi khi Xuân về. Ngày Xuân có thể thiếu pháo mà không thể không có “Ly Rượu Mừng”! Có lần ông nói đùa: “Nếu mọi người chỉ cần trả một đồng thôi mỗi khi hát ‘Ly Rượu Mừng’, thì tôi đã thành triệu phú từ lâu”. Ngoài nét nhạc phơi phới hân hoan, dễ nghe dễ hát, lời ca lại mang nội dung thích hợp với mọi tầng lớp thính giả. Vì thế “Ly Rượu Mừng” không chỉ được cất lên mỗi dịp Tết Nguyên Ðán mà còn thường được mọi người chung hát tại các buổi họp mặt, tiệc tùng, cưới hỏi...

Một bản nhạc Xuân khác của Phạm Ðình Chương cũng thường được nghe trình bày hợp ca tại các đài phát thanh, hay đồng ca vào những dịp họp mặt tất niên tại các trường học là bản “Ðón Xuân”. Nhưng thật ra, bài Xuân ca tuyệt vời nhất của Phạm Ðình Chương chính là “Xuân Tha Hương”. Tác phẩm này được viết với nhịp điệu Boston 3/4 chậm rãi, tha thiết. Âm giai “Ré trưởng” không quá cao hoặc quá thấp nên thích hợp với mọi giọng hát. Ý nhạc nhẹ nhàng, uyển chuyển, nhờ ông dùng nhiều chuyển âm. Gần như cứ hai trường canh ông lại thay đổi hợp âm, mang lại cho “Xuân Tha Hương” sắc thái đặc biệt Phạm Ðình Chương.

Bản nhạc còn tuyệt vời vì lời ca buồn man mác, nhẹ nhàng kín đáo chứ không rũ rượi sầu thảm. Trong thập niên 60 khi bài hát được thịnh hành, người ta yêu lời ca vì nhớ tới Hà Nội và những ngày Xuân êm đềm xa xưa.

Ngày nay, người ta càng yêu lời ca hơn vì nỗi buồn tư hương bao phủ lên cả quê hương yêu dấu.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Duyên Nợ và Tình Yêu Của Trai Gái Nông Thôn Qua Ca Dao

Võ Thu Tịnh

Phần nhiều những bài ca dao của ta đều là những bài thơ trữ tình, những bài "tình ca", mà tác giả hầu hết là trai, gái nông thôn Việt Nam thời xưa.

Thơ trữ tình là tiếng nói của lòng người khi tâm tình bị xúc động, bất bình, đau khổ. Người đau khổ thường thấy cần phải bộc lộ nỗi lòng u uất của mình ra. Đó là một nhu cầu khẩn thiết như bất cứ mọi nhu cầu nào khác!

Kinh Thi xưa có câu: "Tâm chi ưu hĩ, ngã ca thả dao", nghĩa là "lòng có sự buồn, ta vừa ca vừa hát". Hàn Dũ đời Đường cũng xác nhận: "Vật bất đắc kỳ bình tắc minh", nghĩa là "vật không được vừa lòng thì ắt phải kêu lên". Tiếng kêu lên đó là văn thơ.

Ngày nay, các nhà văn học Tây phương cho rằng:

"Con người đau khổ. Hát lên cái khổ đau của mình, con người sẽ vượt qua cái đau khổ ấy". (1)

Rồi chính ca dao ta cũng nói rõ ràng:
Chim xanh ăn trái xoài xanh,
Ăn no tắm mát đậu cành cây đa.
Cực tấm lòng em phải nói ra,
Chờ trăng trăng xế, chờ hoa hoa tàn.

Qua các câu ca dao trữ tình ấy, dân gian đã đúc kết các thành tố chính yếu của những rung cảm, suy tư về "tình yêu" giữa trai gái nông thôn, vào mấy danh từ "Duyên, Nợ, Tình". Trong ngôn ngữ hằng ngày, khi người ta bàn đến vấn đề Yêu Thương, mấy từ nầy đã được lặp đi lặp lại biết bao nhiêu lần.

Một duyên, hai nợ, ba tình,
Chiêm bao lẩn quất bên mình năm canh.
... Răng đen ai khéo nhuộm cho mình,
Để duyên mình đẹp, cho tình anh yêu.
Trăm con ống sợi chỉ điều,
Trăm con chỉ ấy buộc vào tay anh.
Một duyên, hai nợ, ba tình...

Dân gian thời trước cho rằng yêu nhau, lấy nhau, được hay không là do "duyên số". Theo tích Vi-Cố xưa, một đêm trăng đi dạo, gặp một ông lão ngồi xe các sợi tơ đỏ với nhau. Hỏi, thì đáp là đang xe những cặp trai gái ở thế gian nầy lại cho thành vợ chồng. Vi Cố tỏ ý muốn biết vợ của y sẽ là ai? Ông lão chỉ một đứa bé, con mụ ăn mày ở xó chợ gần đó. Vi Cố xấu hổ, tức giận, cho người giết đứa bé, rồi sợ tội, bỏ trốn. Mãi về sau Vi Cố cưới được con gái nhà quan, không dè đó lại là con gái mụ ăn mày trước kia bị Vi Cố giết hụt, mẹ đem bỏ ngoài chợ, một ông quan đi ngang qua gặp được, thương hại đem về nuôi. Cho nên, gặp nhau, trai gái nông thôn thường tự hỏi:

Vừa đi là gặp em đây,
Một là duyên kỳ ngộ, hai là trời xoay đất vần.
…Sông sâu nước hiểm làm vầy,
Ai xui em đến chốn nầy gặp anh?

Nhưng dân gian ta lại thêm từ "nợ" vào, cho rằng vì kiếp trước có nợ nần nhau, nên kiếp nầy phải gặp lại thành vợ chồng, để đền trả cho xong.

Đôi ta là nợ hay tình,
Là duyên là kiếp, đôi mình kết giao
Em như hoa mận hoa đào
Cái gì là nghĩa tương giao hỡi chàng?

Hoặc ...

Chồng gì anh, vợ gì tôi,
Chẳng qua là cái nợ đời chi đây !
Mỗi người một nợ cầm tay,
Ngày xưa nợ vợ, ngày nay nợ chồng.

Vậy "duyên nợ" là một từ kép bao gồm hai mặt tích cực và tiêu cực của thuyết "nhân quả" áp dụng vào phạm vi hôn nhân và tình yêu đôi lứa. Nói một cách khác, dân gian ngày xưa cho rằng hôn nhân thành hay không, là tùy theo trai gái có "phải duyên" hay "trái duyên" với nhau không?

Phải duyên, áo rách cũng màng,
Không phải duyên, áo nhiễu, nút vàng chẳng ham
Chẳng tham nhà ngói bức bàn (gỗ),
Trái duyên, coi cũng bằng gian chuồng gà
Ba gian nhà lá lòa xòa,
Phải duyên, coi tựa chín tòa nhà lim.
... Đẹp như tiên, không phải duyên không tiếc,
Xấu như ma mò, duyên hiệp anh thương.

Như vậy, dân gian đã công nhận rằng hễ "phải duyên" hay có "duyên nợ" với nhau thì xấu đẹp gì trai gái cũng đi đến chỗ thương yêu nhau.

Và dân gian cũng khẳng định "đảo lại" rằng: Hễ xấu đẹp gì mà cũng thương nhau, tức là đã "phải duyên", trai, gái quả đã có "duyên nợ" với nhau rồi.

Khẳng định đảo lại nầy đã dẫn trai gái nông thôn đến một quyết định táo bạo hơn:

Số em giàu, lấy khó cũng giàu,
Số em nghèo, chín đụn mười trâu cũng nghèo.
Phải duyên, phải kiếp thì theo,
Thân em có quản khó nghèo làm chi.
Chữ nhân duyên thiên tải nhất thì
Giàu ăn, khó chịu, lo gì mà lo.

"Phải duyên, phải kiếp thì theo" cụ thể có nghĩa là: nếu trai gái quả đã cảm thấy "thương yêu nhau", tức là "phải duyên", nghĩa là đã có " duyên nợ" với nhau, thì cứ theo nhau, lấy nhau, thành vợ thành chồng, bất chấp sang hèn, giàu khó, hay bất chấp cả sự cản trở của cha mẹ, họ hàng. Phải chăng đó là một quyết định táo bạo đối với xã hội ta ngày xưa ! Mà ngày nay, trái lại có thể coi như là một quan niệm về tình yêu và hôn nhân có tính cách tự do và hiện đại !

Ở thời phong kiến, những tục "cha mẹ đặt đâu ngồi đó" và "nam nữ thụ thụ bất thân" vốn là của Nho giáo phụ quyền, từ Trung quốc du nhập vào nước ta, và thịnh hành trong các từng lớp quan lại, phú thương, trưởng giả. Nhưng ở nông thôn, Nho giáo chỉ được phổ biến một cách hời hợt thông qua các hàn Nho sống rải rác trong xóm làng, và một khi lắng sâu vào quần chúng, thì cũng đã dần dần bị Việt hoá đi.

Riêng đối với thanh niên nông thôn, tình yêu lại còn là lẽ sống của một cuộc đời cần lao lam lũ. Ngoài tình yêu ra, còn có gì để có thể an ủi họ được nữa đâu. Cho nên, bao nhiêu Lễ giáo của đạo Nho khi xuống đến nông thôn, cũng phải nhân nhượng trước tình yêu đôi lứa của họ:

Mình về, ta chẳng cho về,
Ta nắm vạt áo ta đề câu thơ
Câu thơ ba chữ rành rành:
Chữ Trung, chữ Hiếu, chữ Tình là ba.
Chữ Trung thì để phần cha,
Chữ Hiếu phần mẹ, đôi ta chữ Tình.

Hơn nữa, xã hội nông thôn trước đây vẫn còn chịu ít nhiều ảnh hưởng di sản của mẫu hệ, nên trong việc cưới hỏi, cha mẹ không mấy khi ép buộc con cái:

Ép dầu ép mỡ, ai nỡ ép duyên
... Xưa kia ai cấm duyên bà,
Bây giờ bà già, bà cấm duyên tôi !

Rồi thỉnh thoảng nếu có trường hợp bị cha mẹ ép duyên, thì trai gái nông thôn sinh ra liều lĩnh:

Tiếc răng, tiếc rứa, tiếc ri,
Liều mình bỏ xứ mà đi cho rồi
Liều mình, giả như đứa đứt tao nôi, (a)
Giả như cha với mẹ không sinh ra đôi đứa mình.

Chú giải - (a) Đứt tao nôi (tao: sợi giây, nôi: đồ đan bằng tre để trẻ nhỏ nằm) Câu nầy ý nói: Coi như chúng mình khi còn bé đã bị đứt tao nôi,mà chết non đi.

Nhưng tục "không được cưỡng duyên" vốn đã phổ biến từ xưa trong dân gian. Trong bộ Luật Hồng Đức, đời Lê Thánh Tông, cũng có trường hợp cấm ép duyên như thế: "Con gái hứa gả chồng mà chưa thành hôn, nếu người con trai bị ác tật, phạm hình án, hoặc phá tán gia sản, thì cho phép con gái được kêu quan mà trả đồ lễ... Trái luật (nghĩa là con trai ấy cứ ép con gái phải lấy mình) thì bị xử phạt 80 trượng (b)." (2)


Chú giải: (b) Trượng: ngày xưa cây gậy bằng gỗ được gọi là trượng.

Về sau, nếu tình yêu bị gián đoạn, đổ vỡ, hôn nhân không thành, người xưa cho là tại "duyên số" dở dang, và tự an ủi rằng:

Khi nào gánh nặng anh chờ,
Qua cầu anh đợi, bây giờ em quên.
Kiếp nầy đã lỡ làng duyên,
Kiếp sau xin hẹn cửu tuyền gặp nhau.

Như đã nói trên, ở các tầng lớp quan lại, phú thương chịu ảnh hưởng Nho giáo, phong kiến, thì nhất luật "nam nữ thụ thụ bất thân". Trái lại ở nông thôn, trai gái, vì nhu cầu sinh hoạt nông tác nên thường có nhiều dịp gặp nhau: trong một vụ cấy mạ, một tối giả gạo, một chuyến đò ngang, một buổi hát giao duyên, hát trống quân, hát phường vải, một ngày chợ phiên, một lễ hội trong làng... và được tự do chuyện trò, hò hát trêu ghẹo, đưa tình với nhau

Ăn chơi cho hết tháng hai
Để làng gióng đám cho trai dọn đình.
Trong thời đánh trống rập rình,
Ngoài thời trai gái tự tình với nhau.

Ngày xưa, các buổi gặp gỡ hò hát nầy thường đưa trai gái nông thôn đến việc "nên vợ nên chồng" một cách nghiêm túc:

Con cò lấp ló bụi tre,
Sao cò lại muốn lăm le vợ người ?
Vào đây ta hát đôi lời
Để cho cò hiểu sự đời ở ăn.
... Một đàn cò trắng kia ơi!
Có nghe ta hát những lời nầy không?
Hát câu đẹp cốm tươi hồng,
Hát câu nên vợ nên chồng, cò ơi !

Chính các thân hào đã đứng ra tổ chức những đám "hát phường vải", "hát trống quân", "hát quan họ", "hát giã gạo", hát giao duyên"... để trai gái hát hò, gặp gỡ, kết "bạn văn nghệ" với nhau, dưới sự kiểm soát kín đáo của các bậc đàn anh:

Ai có chồng, nói chồng đừng sợ,
Ai có vợ, nói vợ đừng ghen.
Tới đây hò hát cho quen,
Rạng ngày, ai về nhà nấy, há dễ ngọn đèn hai tim. (c)

Chú giải - (c) Đèn hai tim = Đèn nhà quê ngày xưa đổ dầu phụng vào dĩa, dùng một sợi vải làm tim đốt. "Đèn hai tim" chỉ trai có 2 vợ.

Cũng ở thôn quê ta ngày xưa, thường con gái lại đứng lên tỏ tình và tìm đến gặp con trai trước. Một tâm tình say đắm, "lãng mạn" phi Nho giáo! Không cần biết sẽ có nên vợ, nên chồng hay không, nhưng gặp nhau, thương nhau thì cứ "xơi năm ba miếng trầu" với nhau đã... "kẻo lòng nhớ thương".

Sớm mai gánh nước mờ mờ,
Đi qua ngõ giữa tình cờ gặp anh.
Vào vườn hái quả cau xanh,
Bổ ra làm tám mời anh xơi trầu.
Trầu nầy ăn thật là say,
Dù mặn dù lạt, dù cay dù nồng.
Dù chẳng nên vợ nên chồng,
Xơi năm ba miếng kẻo lòng nhớ thương.
Cầm lược thì nhớ tới gương,
Cầm trầu nhớ túi, nằm giường nhớ nhau.

Ở đây, trai gái nông thôn chỉ cần hưởng thụ trong hiện tại, không cần biết đến "duyên nợ" sẽ đưa đến đâu ? Một hành động, mà ngày nay có thể coi như là "lãng mạn" hay "hiện sinh"!

Và tính cách "lãng mạn" ấy còn gặp lại trong cái nhìn đắm đuối, rụt rè của những mối tình vô vọng:

Ngó em chẳng dám ngó lâu
Ngó qua một chút đỡ sầu mà thôi!

"Lãng mạn" còn ở trong cử chỉ nâng niu, săn sóc đứa con nhỏ của cô gái vừa mới lừa dối mình, mà oái ăm thay, đó lại là cô gái mà ta đã lỡ yêu:

Mình nói dối ta mình chửa có con,
Ta đi qua ngõ thấy con mình bò.
Con mình những trấu cùng tro,
Ta đi xách nước rửa cho con mình.

Về sau, khi chế độ xã hội đã chuyển sang phụ hệ, với ảnh hưởng của Nho giáo, thì các cuộc hẹn hò riêng tư "thân mật, mùi mẫn" giữa trai và gái như thế tất nhiên phải kín đáo, lén lút hơn xưa:

Đêm nằm thao thức vào ra,
Chờ cha mẹ ngủ, lén qua thăm mình.
Tôi than hết sức, tôi dứt hết tình,
Thiếu điều cắn ruột trao mình, mình ơi!"
... Gió đưa cành mận, gió lận cành đào,
Vì em anh phải ra vào tối tăm.
Tối tăm thì mặc tối tăm,
Chờ cho cha mẹ đi nằm sẽ hay.
Cầm tay, anh nắm cổ tay,
Em đừng hô hoán sự nầy mà to.

Đã yêu nhau rồi, tức là đã "phải duyên", đã có "duyên nợ" với nhau rồi, thì "phải theo"... lén lút theo !

Qua các câu ca dao trữ tình, chúng ta nhận thấy có một sự tranh đấu dằng dai qua bao nhiêu thế kỷ giữa hai nền văn hóa địa phương và ngoại lai:

Giữa chế độ mẫu hệ Lạc Việt và chế độ phụ hệ Nho giáo Trung quốc, giữa lòng tin vào số mệnh trong tín ngưỡng nguyên thủy Việt-Nam với thuyết nhân duyên trong Phật giáo, giữa bản tính đa tình, lãng mạn của dân quê ta với các lễ tục khắc nghiệt của chế độ phong kiến...

Công cuộc tranh dấu gay go, đầy đau thương, nước mắt, nhằm giải phóng con người ra khỏi mọi áp bức, để đem lại tự do yêu thương, tự do kết hôn... Có thể có những khuynh hướng lãng mạn, hưởng thụ, hiện sinh, nhưng vẫn không "lăm le vợ người" và không nhận "ngọn đèn hai tim", không hề xa rời "đạo đức tự nhiên" của ông cha!

Một cuộc tranh đấu không bài ngoại tuyệt đối, mà có tính cách hòa nhập trong thế quân bình. Đó chính là sức mạnh sinh tồn ngàn năm của dân ta !

Chú thích(1) - D. Huisman et L.R. Plazolles, L'Art de la dissertation littéraire, Sedes, Paris,1960, p. 228 (L'homme souffre, mais en chantant sa souffrance, il la dépasse).
(2)- Luật Hồng Đức, chương Hộ Hôn, điều 39.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Tổng Thống Pháp và Tài "Thả Dê"

Image
Sarkozy và Carla trên bãi biển Ai Cập. Ảnh: Daily Mail.
Ông Nicolas Sarkozy ngồi chết lặng, lắng nghe siêu mẫu kiêm ca sĩ Carla Bruni gảy đàn guitar trong bữa tiệc tối ở Paris, nơi khởi nguồn mối tình sét đánh của hai người.

Vị tống thống 53 tuổi - khoác trên người bộ vest tối màu - hối hả gõ ngón tay lên bàn theo nhịp đàn và hét lớn "hay quá" mỗi khi cựu siêu mẫu kết thúc một bài hát. Ông thậm chí còn nói với quý bà tổ chức buổi dạ tiệc: "Tôi không muốn bị coi là bất lịch sự đâu, nhưng tôi phải quay lưng lại phía bà thôi", trước khi dán mắt vào người đẹp chân dài, mắt xanh - Carla Bruni.

Những vị khách khác tại buổi tiệc đều kinh ngạc khi chính trị gia và nàng Carla cuốn vào nhau trong cuộc trò chuyện dài hai tiếng sau đó. "Tôi sẽ ngồi hàng đầu, xem tất cả các cuộc biểu diễn của em", ông nói với Carla.

Vào cuối buổi tiệc, Carla hỏi Sarkozy rằng ông có xe chờ bên ngoài hay không. Sarkozy gật đầu và nàng đồng ý để tổng thống đưa về nhà. Khi chiếc xe tới nhà của nàng, Bruni mời nhà lãnh đạo Pháp vào nhà uống cafe và sững sờ khi nghe lời từ chối dứt khoát.

"Tôi không bao giờ làm thế trong cuộc hẹn đầu tiên", Sarkozy nói.

Một số chi tiết về cuộc hẹn đầu tiên của cặp uyên ương danh tiếng được tiết lộ trong ba cuốn sách xuất bản ở Pháp tuần này. Ba cuốn sách trên tràn ngập các bằng chứng về tài khiến phụ nữ xiêu lòng của tổng thống. Trong đó mô tả ngày đầu tiên sau cuộc hẹn đầu tiên với Carla thế nào; Sarkozy liên tục dội bom tin nhắn tới Carla cùng hoa và quà đắt tiền; cũng như chàng đã khiến nàng mê đắm với những bữa tối dưới ánh nến trong điện Elysee ra sao.

Theo Richard và Boulon-Cluzel - tác giả cuốn Carla Bruni: Who Is She Really?, cặp tình nhân gặp gỡ lần đầu tiên khi nàng cùng đoàn đại biểu tới điện Elysee báo cáo về ngành âm nhạc Pháp. Sarkozy không hề nói chuyện trực tiếp với nàng, tuy nhiên, sau đó ông gọi điện cho Jacques Seguela, một người bạn, than phiền rằng ở nhà một mình thật chán. Ông đề nghị Seguela tổ chức một buổi dạ tiệc và mời cô gái người Italy xinh đẹp tới biểu diễn.

Ngay trước khi được mời, Carla đã nói với bạn bè rằng nàng bị lôi cuốn bởi vẻ ngoài khá điển trai và phong thái của tổng thống. Và rõ ràng, việc Sarkozy từ chối lời mời "uống cafe" đã khiến cô càng thêm thích thú.

Sau khi bị Sarkozy bỏ lại trước thềm nhà, Carla đã gọi điện cho người chủ bữa tiệc và cảm ơn. "Ông ấy đi đã được 5 phút rồi mà vẫn chưa gọi điện cho tôi", nàng nói. Có lẽ nàng chưa từng bị đàn ông từ chối bao giờ.

Vài ngày sau, Sarkozy bỗng nhiên thay đổi chiến lược. Ông bắt đầu những bài tán tỉnh lãng mạn cùng với tin nhắn và hoa. Nàng được mời tới Elysee thưởng thức bữa tối dưới ánh nến và được tặng những món quà đắt tiền.

Ông đặt tên cho nàng là Cartila và Carla de Mèdicis - muốn ám chỉ tới Catherine và Marie de Mèdicis - cả hai từng là hoàng hậu Pháp. Ông cũng đưa nàng tới La Lanterne - một dinh cơ ở gần Versailles - nơi ông nghỉ cuốn tuần, chơi tennis và chạy bộ.

Theo tác giả Blanrue và Laffaille của cuốn In Dangerous Liaison, Sarkozy như ở trên mây tới mức mà ngày 18 tháng 12, ông tới muộn 18 phút trong cuộc gặp với Giáo hoàng, thậm chí đọc tin nhắn của Cartila trước mặt của đức cha.

Và trong đêm Giáng sinh, Sarkozy bất ngờ tới nhà của Carla khi nàng đang ăn tối với bạn trai cũ, con trai của họ và hai người bạn. "Em sắp xếp đồ đi", ông nói. "Chúng ta tới Ai Cập. Cất cánh lúc bình minh".

Một trong những người bạn tỷ phú của Sarkozy cho mượn chiếc phi cơ để ông đưa nàng đi nghỉ. Chính quyền Ai Cập đã đóng cửa một số khu vực để dành riêng cho cặp tình nhân. Vài ngày sau đó, họ bị các phóng viên chụp ảnh trong bộ đồ tắm, dạo chơi trên bãi biển.

Image
Sarkozy và Carla ở Jordan. Ảnh: Daily Mail.
Sarkozy cầu hôn nàng vào đúng ngày 25 tháng 12. Từ đó, trên tay nàng xuất hiện chiếc nhẫn kim cương, giống hệt chiếc nhẫn Sarkozy tặng vợ cũ - Cecilia. Theo tác giả của một trong những cuốn sách về cặp tình nhân này, "tổng thống không thể trao nàng nhẫn đính hôn trị giá hơn Cecelia và cũng không thể nào tặng nàng thứ kém hơn".

Sarkozy đã chính thức đưa Carla Bruni lên ngôi vị Đệ nhất phu nhân Pháp vào ngày 3 tháng 2, sau 80 ngày gặp gỡ. Đối với Carla, cuộc hôn nhân này đưa nàng tới một vị trí hoàn toàn khác, thứ mà công việc trị giá hàng triệu đô trên sàn catwalk không thể giúp nàng vươn tới được. Trong cuộc phỏng vấn đầu tiên kể từ khi trở thành đệ nhất phu nhân Pháp, Carla Bruni cho biết nàng rất vui sướng vì sẽ được gặp nữ hoàng Anh với tư cách tương đương.

"Tôi tự hào và hạnh phúc khi trở thành Đệ nhất phu nhân Pháp", Carla nói. "Tôi sẽ làm hết sức mình. Tôi không biết mình có thể làm gì với ngôi vị này nhưng tôi biết làm thế nào".

Nàng cũng rất lạc quan về tương lai: "Tôi không thích ly dị chút nào. Vì thế tôi sẽ là đệ nhất phu nhân cho tới khi chồng tôi mãn nhiệm và sẽ là vợ anh ấy suốt đời".

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Năm Mậu Tý nhớ... miếng thịt chuột trong trại tù “cải tạo”!

Nguyễn Thanh Ty

Những ai chưa từng ăn thịt chuột, ắt hẳn phải rùng mình ghê tởm và lợm giọng, khi nghĩ đến hình ảnh những con chuột cống to bằng cổ chân, mình mẩy lở loét, ban đêm từng đàn chui từ những ống cống thành phố, lên mặt đường để kiếm ăn, nếu có ai đó nói đến chuyện ăn thịt chuột.

Ngày xưa, đọc “Món lạ miền Nam” của ông nhà văn Vũ Bằng, nói về cái món thịt chuột, dù ông tả có hay cách mấy, hấp dẫn cách mấy tôi vẫn thấy ghê ghê.

Bởi tôi sinh ra và lớn lên ở một thành phố biển, người dân ở đây ăn cá tươi quanh năm, nên không có ai biết hoặc dám ăn cái món thịt chuột và không bao giờ thấy chuột được bày bán từng chùm, từng xâu, từng lồng chuột còn sống, hay từng rổ chuột đã làm sẵn, như ở những tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long.

Hình ảnh những con chuột cống lông đen trùi trũi, hay lở loét loang lổ trên lưng chạy từng đàn trong đêm tối, vẫn cứ làm tôi buồn nôn, ngay cả những ngày đói nhất, đói lã người ở trong tù.

Nhiều anh em trong tù đã “cải thiện” bữa ăn cứu đói hàng ngày cũng nhờ bắt đươc chuột trong núi.

Mỗi buổi chiều, anh em ở đội “Sơn tràng” về trại, mang theo mấy con chuột bắt được, đã làm sạch sẽ, gói trong mảnh lá chuối, tôi cứ rùng mình, lợm giọng, chảy nước giãi, lạt cả miệng, với cái màu trắng hếu của chúng.

Tuy sau đó, cái mùi thịt nướng, mùi kho mặn, mùi chiên... của thịt chuột bốc lên thơm ngạt ngào trong gió, làm cho cái dạ dày lép kẹp của tôi nôn nao, cồn cào thôi thúc đòi ăn. Tôi vẫn cứ phải nhịn thèm, quay đi chỗ khác.

Năm Kỷ Mùi, 1979, là năm đói nhất dưới ánh sáng vinh quang chiến thắng của đảng Cộng sản, sau khi cưỡng chiếm được miền Nam.

Đói cả nước.

Năm đó được mệnh danh là năm Củ Mì, nói lái chữ Kỷ Mùi. Một năm chỉ ăn toàn khoai mì và bột làm bằng củ mì. Bột được nắn thành cái bánh xe, mỏng te, to bằng bàn tay, luộc lên, phát cho tù mỗi buổi sáng, mỗi tù nhân hai cái để ăn cầm hơi và... để lao động vinh quang.

Tù gọi đó là “bánh xe lịch sử” thành quả của cách mạng XHCN.

Năm đó, bao nhiêu lúa gạo, khoai, sắn, ngũ cốc... trong cả nước, nhà cầm quyền Cộng sản đều thu vén, vơ vét sạch, chuyển tất cả sang Trung Quốc và Liên Xô để trả nợ chi phí chiến tranh khi vay nóng để “đánh Mỹ”.

Người dân bên ngoài phải ăn cả rễ cây, sâu bọ để sống qua ngày.

Người tù trong trại đành chịu cái đói thảm khốc hành hạ thân xác. Năm đó, tù đói giơ xương, đi đứng vật vờ, người không ra người, ma không ra ma. Cả cái lũ công an, bộ đội đi theo canh giữ tù cũng chỉ được cấp phát một lon gạo ăn cứu đói suốt một ngày.

Những năm đầu ở trại Đá Bàn, tuy vất vả lao khổ với công việc đẵn cây, khiêng gỗ trên rừng, chúng tôi vẫn có thể kiếm thêm cái ăn cho những khẩu phần ít ỏi hàng ngày.

Thường thường là nắm rau ven đường khi đi khiêng cây. Đôi khi mớ nấm mèo (mộc nhĩ) trên thân gỗ mục sau những ngày mưa dông. Hoặc đào khoai mài (hoài sơn) trên đồi núi đá sỏi. Thỉnh thoảng cũng đánh bẫy được chồn, sóc, rắn... Có khi câu được cá lóc, cá trê dọc bờ mương...

Năm 1978, xây dựng xong trại Đá Bàn ở Khánh Hòa (trại Huấn Luyện Công An sau này) chúng tôi bị bọn Giám thị trại lừa bịp, bảo là thả cho về, chúng lại chở ra trại A.30 ở Tuy Hòa, Phú Yên để “cải tạo” tiếp.

Trại A.30 chuyên về làm ruộng lúa và trồng hoa màu phụ.

Trừ đội “Sơn tràng” là đội chuyện đi rừng để đốn củi cho nhà bếp và chặt tre cho tổ “Đan lát” đan thúng, nia, rỗ rá cho công việc sàng sảy lúa gạo ra, số còn lại, mấy ngàn tù đều phải xuống ruộng để cày cấy trồng lúa.

Ruộng đa phần là ruộng khô phải dùng cuốc để cuốc ruộng thay cho trâu, bò cày. Lúa trồng ba vụ một năm, nên tù cuốc đất te tua, ba trăm sáu mươi lăm ngày đều đặn, không ngơi tay. Họa hoằn, ngày 2/9 và ngày Tết mới buông cuốc được một ngày.

Từ ngày chúng tôi bị đưa ra đây, sáng vác cuốc đi, chiều vác về, lao động giữa chốn đồng không mông quạnh, đành chịu đói, không còn cách gì để “cải thiện” thêm bữa ăn như lúc ở Đá Bàn.

Anh em nào cũng đói xanh xương. Mới đầu còn có chuối trồng ven đường mới trổ buồng non, tù lén bẻ trộm, người vài quả. Nhưng chuối thì chỉ có vài ba mươi cây, mà tù thì quá đông, chỉ mới vài ngày, đã bị vặt trụi, cây nào cũng chỉ còn cái cùi buồng trơ ra như cánh tay cùi. Trông buồn cười.

Lão trưởng trại tập họp tù lại, chữi té tát, vô ý thức, không biết tôn trọng, giữ gìn tài sản Xã hội Chủ nghĩa. Tù ngồi bên dưới xì xào chửi lại: Tài sản Xã Hội Chủ Nghĩa cái con bòi!

Hết chuối trái non, tù ăn qua cây chuối con. Chuối con, cây nào vừa lú lên khỏi mặt đất chừng gang tay, lập tức bị câu liêm tù cắt phăng sát gốc. Cây chuối con được xắc nhỏ trộn với khoai mì, nhét vào lon gô, nấu sền sệt giống như cháo heo, ăn chát ngắt trong miệng không ngon lành gì, nhưng cũng đỡ đói. Rồi chuối con cũng hết.

Lần mò vô trại nuôi heo, lùng sục trong đống vỏ khoai mì xem có còn sót củ nào không, hay cái cùi nào còn có tí bột gom về cạo ra nấu ăn đỡ. Riết rồi mì cũng không đủ nuôi heo lấy gì còn cho tù.

Buổi trưa hè trời nắng chang chang, tù ra giữa bãi mì vừa thu hoạch mấy hôm trước, đào dế nhũi, nướng ăn. Đất khô cứng, dế nhũi đào hang sâu để ở, đào được chừng vài con, tù thở muốn hụt hơi. Ăn được con dế nhũi, tù phải đổ nhiều mồ hôi để trả giá.

Nhìn anh em đội “Sơn tràng” nấu nướng thịt chuột ở dãy bếp lộ thiên, bấy giờ ai nấy đều thèm thuồng, ao ước. Cái cảm giác gớm ghiếc trước kia đã biến đi đâu mất tiêu.

Quả thực cái đói đã khiến cho người ta mờ cả mắt, mờ cả lý trí, mất hết cảm giác và cảm nghĩ.

Ăn! Phải có cái gì ăn mới được. Phải có cái gì bỏ vào miệng, nhai, nuốt mới được. Trong đầu, ngoài cái ý nghĩ về ăn ra, người ta không thể nghĩ được gì khác, khi đói.

Khốn nạn, khốn khổ thay! Đã có không ít người cam lòng không nổi với cái đói mà làm những chuyện mất cả danh dự và tự cách để thỏa mãn cho cái bao tử, cho cái đói.

Cộng sản đã tận dụng cái ác này như một “độc chiêu” để sai khiến một số tù làm tay sai chỉ điểm cho chúng.

Tôi buộc phải làm quen với thịt chuột để sống còn.

Tôi có người anh rể, bà con cô cậu, ở đội Sơn tràng, chuyên đánh bẫy chuột núi. Vài hôm, tôi lại thấy anh xách về một hay hai con chuột núi mập núc ních, to bằng bắp cẳng, lông mướt màu vàng thổ. Đặc biệt, chuột núi có đuôi rất dài. Dài gấp ba lần chuột đồng.

Tôi men lại gần, xin anh chia cho một ít. Anh từ chối thẳng thừng, không một chút ngần ngại. Xin đổi thuốc lào, anh vẫn lắc đầu.

- Thịt chuột rất hiếm. Tôi phải ăn để sống. Không thể chia cho cậu được.

Quả thật thịt chuột thời gian này rất quí hiếm. Lúa vừa mới mang bụng chửa, chuột đồng chưa kéo về làm hang ổ ở bờ ruộng. Cóc nhái mùa hè không có nhiều. Ló ra con nào là có vô số bàn tay giành nhau chộp lấy.

Trong phạm vi vòng rào mấy chục mẫu đất tù ở, không môt sinh vật nào có thể sống sót được. Rắn, rít, thằn lằn, rắn mối, cóc nhái, dế nhũi, cào cào, châu chấu... đều bị bao tử của tù nuốt hết.

Trong lúc tôi không biết làm cách nào có thể kiếm cái ăn để sống còn thì thình lình bị kỷ luật. Tôi bị qui cho cái tội “phỉ báng chế độ” vì hai câu thơ:

Tội gì không biết tội gì,
Sáng mai lãnh củ khoai mì ăn chơi!

Sau mấy ngày được Trại trưởng “giáo dục” ở Phòng Giáo dục, tôi bị điều ra Bàu Sen dưới quyền quản giáo của công an tên Dạn, ác nhất trại.

Ở A.30, bất cứ tù nhân nào nghe đến tên Lẫn, quản giáo Nhà 6 và tên Dạn, quản giáo Bàu Sen, đều phải xanh máu mặt. Hai tên này là những hung thần của A.30, đánh tù bằng những đòn ác hiểm, thâm độc nhất.

Trong cái rủi lại có cái may. Nhờ ở Bàu Sen, ngoài những đòn thù của tên Dạn đổ xuống đầu tôi thường xuyên về cân não và thân xác, tôi lại có thể “cải thiện” cái ăn ở Bàu Sen bằng những con ốc bưu bắt được ở đó.

Hồi mới khai phá bàu thì ốc có nhiều, đến lúc tôi ra ở đó thì cũng đã ít dần rồi hết hẵn, sau mấy tháng tù dọn bàu thành ruộng nổi để trồng lúa.

Đội Bàu Sen chuyên về “bình ruộng” và cấy lúa trên mặt bàu, nên được ở ngoài vòng trại, cách trại chính chừng nửa cây số, để tù dễ dàng sớm khuya lo việc cầy cấy, dẫn nước từ đập Đồng Cam chảy về mương và từ mương chảy về hàng trăm mẫu ruộng khô trên cao của trại.

Cũng nhờ ở ngoài vòng trại nên có một số anh em tù của đội được tên Dạn tin cẩn cho làm “tự giác” có thể “cải thiện”. Làm “tự giác” là được quyền vác cuốc đi thăm ruộng bất cứ giờ giấc nào mà không có bộ đội hay công an theo bên cạnh canh chừng. Nhờ vậy, anh em có thể hái rau, cắm câu, đặt bẫy chuột... và chặt trộm chuối, mía để cứu đói.

Tôi được xếp vào tổ 1, tổ trưởng là Nguyễn văn Cư, một trung sĩ cảnh sát đặc biệt ở đặc khu Cam Ranh, sáu lần vượt biên đều bị thất bại. Lần cuối cùng anh bị bắt ở trong hang núi lúc đang lẩn trốn. Lục soát trong người anh, công an thu được một khẩu ru lô với đầy đủ 6 viên đạn trong ổ.

Anh bị Cộng sản kết tội phản động và lãnh án 20 năm tù khổ sai.

Biết tôi là thầy giáo, Cư nhờ tôi dạy anh một số câu Anh văn. Cư thầm thì tâm sự: - Nhờ anh giúp em! Em sẽ có cơ hội dùng nó sau này.

Tôi biết ý định của Cư nhưng không hỏi, cứ lén dạy mỗi đêm.

Bù lại, tôi được Cư giúp đỡ, gánh vác trong công việc “bình ruộng” nặng nhọc hàng ngày và chia sớt “chiến lợi phẩm” thu được của “địch” mỗi khi kiếm được.

Tôi biết ăn thịt chuột lần đầu tại Bàu Sen.

Lúc đầu thì Cư làm sẵn khi bắt được, rồi mang về cho tôi những con chuột đồng trắng hếu để tôi chế biến thành món ăn. Cầm con chuột để chặt làm tư, ướp muối ớt, chỉ có muối và ớt là gia vị độc nhất chúng tôi có, tay tôi vẫn nổi gai.

Sau mấy lần, tôi bạo dạn dần, tự tay mình có thể lột da, chặt đầu chuột. Chừng hai tuần lễ tôi đã trở thành chuyên viên làm thịt chuột.

Khi bắt được chuột, Cư dùng móng tay cái bẻ răng chuột trước khi bóp cho chết rồi mới giao cho tôi vì biết tôi vẫn còn sợ khi nó vùng vẫy.

Làm chuột không cho vấy nước. Nói chung thịt rừng vấy nước sẽ bị tanh. Tôi lột da chuột trên những tàu lá chuối tươi và lau máu chuột bằng lá chuối khô. Tôi không thích thui chuột trong lửa rơm. Mùi khét lẹt của lông chuột cháy làm tôi muôn nôn mửa. Vả lại ăn da chuột tôi vẫn còn cảm giác ghê ghê ở miệng và nhờn nhợn ở trong cổ họng.

Cư đi kiếm thêm mấy cái lon thiếc đựng dầu ăn thăm nuôi, tù vất ra, về làm bẫy chuột. Chưa tới kỳ gặt lúa, chuột cũng chưa nhiều. Đánh bẫy bữa có, bữa không.

Mùa gặt xong, đào hang chuột tha hồ, ngày nào cũng có thịt chuột.

Nướng, chiên, xào với bắp chuối, kho mặn để dành... toàn là những món “sơn hào” của tù, ngon hơn cả “yến” nhà vua.

Thịt chuột béo ngậy, mềm, ngọt. Xương cũng mềm.

Tôi đã cảm thấy ngon miệng khi nhai thịt chuột trong miệng. Nhưng tôi không tài nào ăn được những con chuột con còn đỏ hỏn. Những anh em khác, khi đào được ổ chuột con, mừng hí hửng, bảo đó là nhân sâm.

Họ nạo khoai mì sống thành bột, nấu cháo. Khi cháo đang sôi, họ thả những con chuột đỏ hỏn đó vào nồi, rồi múc chia nhau ăn, mỗi người một chén. Giữa chén cháo trắng bột mì có con chuột nhân sâm đỏ hỏn năm khoanh tròn. Vừa xì xụp húp cháo chuột vừa hể hả khen nhau.

Thật là giây phút hạnh phúc đầm ấm trong tù.

Chuột là cứu tinh của chúng tôi, những người tù không thăm nuôi.

Những năm kéo dài sau này, cái đói trong tù cũng bớt dần nhờ có sản phẩm tù làm ra. Lúa gạo, nông phẩm làm ra mười, tù chỉ được hưởng có một. Còn lại bao nhiêu được chở đi mất. Không biết chở đi đâu.

Tù không được biết, và không được hỏi.

Ban Giám thị luôn dạy rằng: Làm tùy sức, ăn tiêu tùy cầu. Đó là mục tiêu cao cả của Chủ nghĩa Xã hội.

Đã hơn ba mươi hai năm xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa ở miền Nam và 60 năm ở miền Bắc, chắc hẵn Nhà nước Cộng sản Việt Nam đã thực thi được lý tưởng cao cả của Mác Lê. (Liên Xô 70 năm vẫn không làm được)

Tám mươi ba triệu con dân Việt Nam, nay, ai cũng có cơm ăn, được học hành và còn có cả... xe hơi trị giá cả trăm triệu đô để đi dạo.

Đất nước Việt Nam quả thật là một Thiên đường Cộng Sản lý tưởng để cho cả thế giới dòm vào mà thèm muốn... tới chết!

Tôi làm thân lưu lạc xứ người hơn 17 năm, mỗi lần đọc báo mạng Việt Nam, thấy toàn là những tin tức “hồ hởi phấn khởi” như độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc, kinh tế phát triễn vượt bực, chắp cánh bay lên trời cao, sãi tay bơi ra biển lớn... lòng cứ rộn lên như được “mặt trời chân lý chói qua tim”!

Nhưng đó chỉ là ảo ảnh của người đi trong sa mạc, người Cộng Sản vẫn cứ cố tin rằng đó là ốc đảo thật.

Tất cả chỉ là bánh vẽ. Chỉ là lường gạt và dối trá.

Và sẽ tiếp tục dối trá cho đến khi chế độ sụp đỗ như Liên Xô.

Năm nay là năm Mậu Tý.

Giở tờ lịch mới cho con chuột đón xuân, tôi bất giác nhớ lại những miếng thịt chuột, những con chuột đồng, chuột núi đã là ân nhân của chúng tôi một thời, những người tù thời cuộc bất khả kháng dưới bàn tay bạo tàn, sắt máu của Cộng Sản, Cộng Sản Việt Nam, chúng ác độc hơn bất cứ một thứ Cộng Sản nào trong chế độ quái vật Cộng Sản sắp tiệt chủng, còn sót lại.

Tôi ra tù năm 1981, đến nay đã hơn hai mươi sáu năm, mỗi khi chợt nhớ về những ngày tháng ở trong “trại cải tạo”, tôi vẫn còn rùng mình ghê sợ cho cái tàn bạo của con thú đội lốt người có tên là Cộng Sản.

Và cũng không quên hương vị béo ngậy, ngọt mềm của những miếng thịt chuột, ngon hơn cả trái nhân sâm ở trên thượng giới mà Trư Bát Giới cứ thòm thèm ao ước.

Cám ơn những chú chuột núi.

Cám ơn những chú chuột đồng ân nhân.

Nguyễn Thanh Ty

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »


Image


Phan thị Minh Yến - Câu Chuyện Một Bà Mẹ Quốc Gia Nghĩa Tử
Góa Phụ Ba Mươi Tháng Tư 1975


Gửi tặng đại hội QGNT tại San Jose tháng hai 2008
Một năm có ba trăm sáu mươi lăm ngày, ngày nào chả là ngày của mẹ. Mang nặng đẻ đau, chín tháng mười ngày, chúng ta ai cũng phải có một bà mẹ. Để toàn dân tỏ tình với thân mẫu, Hoa Kỳ điều kiện hóa tấm lòng hiếu thảo bằng cách đặt ra một ngày Chủ Nhật lần thứ nhì của tháng 5 là Ngày Của Mẹ. Tập tục đẹp đẽ này bắt đầu từ hơn 150 năm trước.

Cho đến bây giờ thì những bà mẹ được xưng tụng vào ngày đầu tiên tại Hoa Kỳ đã đi xa cả rồi, nhưng nước Mỹ hiện đã có nhiều bà mẹ với đủ mọi sắc diện và ngôn ngữ đang nối tiếp đóng góp những bàn tay xây dựng cho cái xã hội rất đa diện và hết sức phong phú này.

Di ảnh Tướng Lê Nguyên Vỹ.

Qua thế kỷ thứ 21 là đến lượt các bà mẹ Việt Nam hiện diện. Bốn năm trước, cơ quan IRCC, chương trình Radio Dân Sinh và thành phố San Jose hợp tác lần đầu tiên trong một chương trình tuyên dương rất mới mẻ dành cho các bà mẹ trong cộng đồng Việt Nam tại một thị xã điện tử nổi danh toàn thế giới.

Đã có 20 bà mẹ với lớp tuổi khác nhau, hoàn cảnh khác nhau được giới thiệu lên lãnh bằng tuyên dương do đề nghị của chính các con trong gia đình.

Có thể quý vị sẽ tự hỏi tại sao với 30 ngàn bà mẹ Việt Nam tại San Jose lại chỉ có 20 bà mẹ được tuyên dương. Câu trả lời rất giản dị. Đó là vì các con ghi tên tham dự.

Tất cả các bà mẹ đều là những nữ anh hùng trong “Ngày Của Mẹ” xét theo quan điểm của các con. Mỗi năm, khi tháng Năm trở về, gia đình thuộc sắc dân nào thì cũng phải nghĩ đến món quà để trao tặng vào “Ngày Của Mẹ.”

Đối với các con, bà mẹ nào cũng vĩ đại. Bà mẹ lo cho con ăn và lo cho con ngủ từ lúc còn thơ ấu cho đến lúc trưởng thành. Ngay từ lúc còn nằm trong nôi, bà mẹ đã là người hùng của đứa con. Mỗi khi thấy người lạ đến gần là đứa con lẩn trốn trong vòng tay mẹ. Mẹ là sự no ấm. Mẹ là sự bình an. Mẹ là trời đất. Mẹ là tất cả.

Phần lớn chúng ta sống tại San Jose trên 3 năm cho đến 30 năm. Thị trấn nổi danh này bây giờ đã trở thành miền đất quê hương thứ hai với đầy đủ vui buồn của một làng xã Việt Nam.

Ngày Của Mẹ đối với các gia đình ghi danh sẽ cùng nhau tham dự một buổi lễ giản dị nhưng đầy ý nghĩa. Con cái sẽ mời bà mẹ lên nhận sự tuyên dương trên diễn đàn của hội trường thành phố San Jose tại City Hall. Cô gái nhỏ sẽ cất tiếng thương yêu trong niềm hãnh diện: “Thưa quý vị, đây là Mẹ của chúng con.” Và bà mẹ đầy ân tình của cô sẽ lên trên bục diễn đàn để nhận một bản tuyên dương của thị xã. Món quà mang ý nghĩa tượng trưng như là một chìa khóa vàng trao cho bà mẹ là cư dân danh dự của San Jose. Phim ảnh muôn màu sẽ ghi lại giây phút vinh quang của tình mẫu tử.

Do đó, sự lựa chọn và tham dự vào Ngày Của Mẹ trong chương trình này không nhằm vào giá trị của tài sản, danh tiếng hay sự nghiệp của vị nữ lưu. Đây chỉ là món quà của người con gửi cho mẹ được trình diện trước công chúng. Và công chúng ở đây cũng chỉ gồm có các gia đình thân hữu cùng tham dự chương trình. Rõ ràng là trong vòng thân mật.

Vì ý nghĩa của tổ chức trong phạm vi địa phương nên tất cả các thành viên tham dự đều cư ngụ tại Bắc California. Tuy nhiên,vào năm 2004 cũng có một người ở bên bờ biển Đại Tây Dương được đề nghị nhưng không đến tham dự. Chúng tôi yêu cầu ông thị trưởng San Jose gửi quà tuyên dương đến cho bà. Câu chuyện của bà mẹ Việt Nam này tôi thấy rất cần phải kể lại cho quý vị nghe trong dịp anh chị em quốc gia nghĩa tử bốn phương về họp tại San Jose..

Vào năm 1954, cô Phan Thị Minh Yến còn rất nhỏ, nhà ở Cầu Đất, Hải Phòng bắt đầu theo cha mẹ di cư vào Nam. Cô gái Bắc Kỳ nhỏ nhỏ được gia đình cho học chương trình Pháp tại Sài Gòn và đã có câu chuyện tình từ năm 17 tuổi. Khi được 19 xuân xanh thì chính thức lập gia đình với một anh Đại Úy Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Lúc đó là mùa Xuân năm 1964. Chàng hơn nàng 10 tuổi. Nhưng trước sau cô Yến chỉ có một mối tình từ khi biết yêu cho đến lúc thành hôn. Tiếp theo là 10 năm làm vợ lính thời chinh chiến. Rồi bắt đầu làm mẹ. Những đứa con lần lượt ra đời. Các cháu Quang, Minh, Chính,... Đại. Ba đứa con trai đầu lòng đặt tên với niềm tự hào của người cha cương trực sống trong một hoàn cảnh đất nước nghiêng ngả. Nhưng cô Út bé bỏng, xinh đẹp chỉ được gọi là em Đại ở trong gia đình. Khi ở ngoài lớp học thì đây là cô nhỏ Tường Vi của bà mẹ Hải Phòng.

Suốt thời gian thơ ấu, người cha đi chinh chiến đêm ngày. Các con phần lớn sống gần gũi và trông cậy vào mẹ. Tuy nhiên, hình ảnh người cha quân đội vẫn là chỗ dựa tinh thần mạnh mẽ cho cả mẹ con.

Tháng 4 năm 1975, bà mẹ 29 tuổi dẫn 4 con từ 6 tuổi đến 10 tuổi di tản qua Hoa Kỳ. Người chồng chỉ huy đơn vị nên không có cơ hội tiễn chân vợ con. Lần chia tay sau cùng mà vợ chồng không biết là lần vĩnh biệt. Anh đã ra đi vào miền vĩnh cửu khi quân đội tan hàng. Không một mảnh khăn tang. Không một giọt nước mắt. Vợ con cũng không hề biết tin về cái chết của người thân yêu. Năm đó chưa 30 tuổi, cô Phan Thị Minh Yến trở thành góa phụ ở vậy nuôi con cho đến năm nay 2008 vừa đúng 33 năm.

Qua Hoa Kỳ, một mẹ và 4 con nhỏ, Minh Yến bắt đầu bằng nghề cắt tóc. Cố gắng tự lập nuôi con. Vừa làm mẹ, vừa làm cha. Từ nữ sinh trường đầm ở Sài Gòn, trở thành vợ lính sống cảnh gia binh, rồi trở thành góa phụ.

Sau bằng ấy năm trời, các con đã trưởng thành, tốt nghiệp đại học, có cháu nội cháu ngoại. Hỏi rằng bây giờ chị làm gì? Còn làm gì nữa. Trước sau cũng chỉ làm một việc cắt tóc chải đầu. Nhưng nghề chính là vừa làm cha vừa làm mẹ. Làm mẹ thì cũng dễ vì đã làm mẹ từ Việt Nam. Nhưng làm cha cho những đứa con trai ở Hoa Kỳ mới thật khó. Tất cả đều phải quyết định một mình. Không bàn với ai được. Ba đứa con trai ở tuổi niên thiếu tại miền đất lạ. Biết bao nhiêu là khó khăn. Chuyện học hành, chuyện sinh sống, chuyện yêu đương của các cháu rồi đến chuyện hôn nhân. Cái gì cũng là chuyện của các con.

Khi được hỏi rằng thế chị làm ở tiệm tóc thì làm chủ hay làm thợ. Được trả lời rằng trước sau chỉ làm công mà thôi. Đã bảo rằng nghề chính là làm mẹ, nếu bôn ba mở tiệm, e rằng không có đủ thì giờ trông nom lũ nhỏ. Hỏi rằng đi làm như vậy có gặp những điều gì khó chịu không. Trả lời rằng lúc đầu cũng thấy tủi thân lắm. Nhưng rồi thì cũng phải nhịn nhục cho quen đi. Vả lại, ở đây cũng không ai biết hoàn cảnh mình ra sao nên cứ việc mình, mình làm. Cũng thi lái xe, cũng lấy bằng, cũng tìm đường đi học nghề, đi làm và nuôi con. Vâng, việc chính là nuôi con.

Chị có buồn giận về chuyện anh nhà đã không đi được vào năm 1975 hay không? Trả lời rằng thì anh nghĩ coi, ai mà chả muốn có vợ có chồng. Các con muốn có đủ cha mẹ. Nhưng phần số đã như vậy thì mẹ con phải sống sao cho phải đạo với sự hy sinh của ông nhà tôi. Ông ấy mà còn thì cũng chỉ muốn cho các con của chúng tôi được học hành tốt nghiệp đại học, rồi dựng vợ gả chồng cho các cháu như bây giờ gia đình tôi đã được như vậy.

Ngoài việc hãnh diện về chuyện con cái, bà mẹ gốc Hải Phòng còn kể thêm với niềm hào hứng đặc biệt. Đó là mối liên hệ với mẹ chồng.

Số là ngay sau khi di tản qua Hoa Kỳ, gia đình được tin chồng chết nên đã tìm cách báo về Bắc cho bà mẹ già biết tin. Tội nghiệp chưa. Ông nhà tôi, lời chị Yến, cũng di cư vào Nam từ 54, mẹ con xa nhau 21 năm không liên lạc. Bây giờ bà cụ mới biết tin con dâu và các cháu ở Mỹ thì đồng thời cũng biết tin con trai đã qua đời.

Những năm đầu ở Hoa Kỳ cũng rất chật vật nên không tiếp tế được nhiều. Những năm sau này bắt đầu gửi tiền về miền Bắc cho bà cụ. Chính tôi là con dâu mà chưa hề biết mặt mẹ chồng. Đến khi liên lạc được thì chồng đã chết. Gia đình tôi và các cháu tiếp tục liên lạc về Bắc. Mấy năm gần đây cụ vào Nam gặp các bà chị tôi rồi thu xếp cải táng đưa di hài nhà tôi về Bắc. Xong công việc quan trọng, cụ mới qua đời mấy năm gần đây.

* * *

Vâng, thưa quý vị, tôi vừa kể hầu quý vị một câu chuyện của bà mẹ Việt Nam trong nghĩa vụ thay chồng làm cha thời hậu chiến kéo dài hơn 30 năm tại Hoa Kỳ. Một người thiếu nữ 10 năm làm vợ nhưng đã có đến 30 năm vừa làm cha, làm mẹ, và làm dâu hàm thụ qua thư tín.

Cũng suốt 33 năm tại Hoa Kỳ, với vốn liếng Pháp văn và Anh ngữ của trường Đầm Sài Gòn, trước sau bà cũng vẫn chỉ là cô Yến làm tóc tại Hoa Kỳ. Bởi vì, người phụ nữ Việt Nam đơn giản này đã có một nghề cao quý vô cùng mà bà phải hết lòng theo đuổi. Đó là nghề làm mẹ. Do đó Ngày Của Mẹ hàng năm sẽ là ngày đặc biệt đối với những đứa con của bà.

Và mỗi năm, ngày tang 30 tháng 4 cũng là ngày giỗ bố của đám nhỏ. Bà mẹ Việt Nam tổ chức giỗ chồng bằng âm lịch những vẫn dặn con vào ngày cuối tháng 4, dù ở đâu cũng phải dành cho bố những giây phút tưởng niệm.

Bởi vì thân phụ của các cháu đã chết đúng ngày 30 tháng 4 năm 1975. Tên ông là Lê Nguyên Vỹ, người Sơn Tây, Bắc Việt, chết tại Lai Khê miền Đông Nam Phần.

Ngày nay, tại ngôi đình làng cũ tỉnh Sơn Tây có thờ bài vị của tướng công Lê Nguyên Vỹ, Tư Lệnh Binh Đoàn Số 5 của quân đội Sài Gòn. Ông đã tự sát vào ngày đất nước thống nhất và hòa bình. Đó là cách ghi nhận của người đồng hương Sơn Tây với một chút tự hào. Và hình ảnh của ông vẫn trong lòng các con Lê Nguyên Quang, Lê Nguyên Minh, Lê Nguyên Chính và con gái út Lê Nguyên Đại Tường Vi tại miền Virginia Hoa Kỳ.

Đối với lũ trẻ Quang Minh Chính Đại, ba trăm sáu mươi lăm ngày, ngày nào cũng là Ngày Của Mẹ.

Giao Chỉ - San Jose

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

"Nghệ Thuật
Hớ Hênh"
... của Diva
Image
Nhưng bức ảnh hơ hênh khiến người khác tò mò của Mariah Carey.
Hớ hênh thì dễ. Nhưng hớ hênh mà khiến người tò mò nhất cũng không nhìn thấy gì thì không phải ai cũng làm được. Mariah Carey đã thể hiện đẳng cấp của mình cho mọi người thấy điều đó.

Cách đây đúng một tháng Mariah Carey "chiêu đãi" cánh săn ảnh những khoảnh khắc nóng bỏng nhất. Giờ đây khoảnh khắc đó được lặp lại với "đẳng cấp cao hơn". Cũng như lần trước, Mariah Carey không biết vô tình hay cố ý tung tăng dạo bước trên biển mà quên mặc áo. Nhưng cánh đàn ông hau háu dù dùng kính ... hiển vi cũng khó có thể thỏa lòng.
Image Rất đơn giản, hai tay ôm khư khư mấy cuốn tạp chí trước ngực, Carey nhìn thẳng vào ống kính cười rạng rỡ đầy khiêu khích như muốn nói: "Nào các chàng trai, tôi không mặc áo mà các anh vẫn chịu chết à?".

Để cho tuyệt đối an toàn, nữ diva lắm chiêu trang bị thêm cho mình chiếc vòng cổ to như dây ... xích. Cùng với mái tóc, vòng trở thành phương tiện hỗ trỡ đặc lực cho Carey khi cô "quên" mặc áo.

Khi đã chán mấy cuốn tạp chí khô cứng, Carey ôm chú chó nhỏ xinh vào lòng nựng yêu. Nhìn cảnh này, có lẽ rất nhiều quý ông muốn được như... chú cún dễ thương kia.

Biết có nhiều người dõi theo nên Carey liên tục thay đổi "chiến thuật" tạo dáng. Mấy cuốn tạp chí và chú cún dễ thương sớm bị cho ra rìa. Thay vào đó Carey duyên dáng cùng chiếc khăn đồng màu với chiếc quần bơi nâu đậm.

Bỏ lại mọi buồn phiền sau lưng, Carey dạo bước trên bãi biển mà không cần mặc áo.
Image

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

"Condi" Câu Chuyện Nữ Ngoại Trưởng Mỹ


Chơi piano từ năm 3 tuổi, hứa hẹn trở thành pianist tài năng, nhưng Condi (tên thân mật ngoại trưởng Mỹ Condoleezza Rice) bất ngờ rẽ vào con đường chính trị. Cuốn "Chuyện về Condoleezza Rice" hé lộ nhiều thú vị về nhân vật nổi tiếng này.

Condoleezza Rice sinh năm 1954 tại Birmingham, tiểu bang Alabama, Mỹ. Gia đình nội ngoại của bà đều xuất thân từ những người nô lệ da đen, nhưng cùng chung ý chí vươn lên thoát khỏi nghèo đói, ngu dốt và sự cai trị của người da trắng.

Gia đình đã nỗ lực nuôi dạy Condoleezza trong một môi trường giáo dục toàn diện, chu đáo. Trong cái tên Condoleezza Rice của bà, chữ Condoleezza có nguồn gốc từ tiếng Italy nghĩa là con dolcezza, ký hiệu trên một bản nhạc ngụ ý: "Hãy chơi thật tình cảm".

Condi bắt đầu học đàn dương cầm từ năm 3 tuổi. Bà được đánh giá là một nghệ sĩ piano tài năng, được đào tạo bài bản để trở thành ngôi sao chuyên nghiệp. Cho đến năm học đầu tiên tại cao đẳng, bà quyết định chuyển sang ngành học quan hệ quốc tế vì bị hấp dẫn từ một bài giảng về Liên bang Sô Viết của giáo sư Josef Korbel (cha của cựu nữ ngoại trưởng Madeleine Albright).

Tốt nghiệp ĐH chuyên ngành khoa học chính trị năm 19 tuổi, bà từng giảng dạy bộ môn này tại ĐH Stanford và sau đó trở thành hiệu trưởng của ngôi trường danh tiếng này.

Vốn am hiểu các vấn đề về Nga và Đông Âu, giỏi tiếng Nga và Pháp và là một chuyên gia về châu Âu, năm 35 tuổi, Condi trở thành cố vấn hàng đầu các vấn đề Sô Viết cho tổng thống George H. Bush (Bush cha). Tháng 7/1999, bà thôi chức Hiệu trưởng để giữ vai trò làm cố vấn đối ngoại cho chiến dịch tranh cử của tổng thống George W. Bush. Trong nhiệm kỳ đầu của Tổng thống Bush (con), bà giữ vai trò là Cố vấn an ninh quốc gia.

Tổng thống G.W. Bush nhận xét, Condi là một trong những người thân cận nhất có thể chia sẻ với ông các thông tin về đối ngoại với lượng thông tin đồ sộ và sự phân tích rất rõ ràng, diễn đạt những thứ phức tạp trở thành dễ hiểu.

Tháng 1/2005, tiến sĩ Rice là phụ nữ Mỹ gốc Phi đầu tiên đảm nhiệm cương vị Ngoại trưởng Mỹ.

Nữ ngoại trưởng của Mỹ được đánh giá là một phụ nữ thông minh, cứng rắn và thân thiện. Còn bà tự nhận xét về mình: "Tôi là người rất thực tế, và tôi không tin rằng tôi sinh ra trên đời này để phải mủi lòng, tôi luôn là người lạc quan". "Tôi cho rằng tôi chỉ ở trên mức trung bình"...

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Ơi anh Phú De !

Không biết tại sao bên DĐ Lê Văn Duyệt không vào được các topic từ hôm qua đến giờ . Anh hỏi thử xem sao đi anh Phú De. :oops: :oops:

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

macco wrote:Ơi anh Phú De !

Không biết tại sao bên DĐ Lê Văn Duyệt không vào được các topic từ hôm qua đến giờ . Anh hỏi thử xem sao đi anh Phú De. :oops: :oops:
Mắc Cở ơi ...Diễn Đàn bên nớ đang Tu Sửa cho Hoàn Hảo,chắc phải có bàn tay của bạn hiền mới xong sớm !!!

Post Reply