Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Lê Văn Trương, tiểu thuyết của triết lý người hùng
Nguyễn mạnh Trinh
Lê văn Trương (1906-1964), một tiểu thuyết gia đã viết tới gần 100 tiểu thuyết, người viết văn trong thời kỳ 1935-1940 một thời lừng lẫy làm mưa làm gió trên văn đàn. Trong văn học Việt Nam, thời tiền chiến là một thời kỳ thành đạt nhất với nhiều đóng góp đáng kể của Tự Lực Văn Đoàn và các nhà văn không tập hợp thành nhóm như Nguyễn Công Hoan, Lan Khai, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Lưu Trong Lư, Vũ Hoàng Chương... và Lê Văn Trương. Ông là thần tượng một thời và có nhiều ảnh hưởng mà cái triết lý người hùng của ông đã thuyết phục và lôi cuốn đông đảo độc giả. Tuy vậy, ông không được đánh giá cao lắm trong giới các nhà phê bình văn học. Trong “Nhà văn hiện đại” Vũ Ngọc Phan nhìn ngắm ông từ môt chân dung ít thiện cảm.

Trong “Sống và viết“ nhà văn Nguyễn Ngu Í đã viết như sau:

”… Tôi nhìn ảnh anh, thời tiền chiến, cách hai mươi hai năm. Trong “Nhà văn hiện đại‘ của Vũ Ngọc Phan, quyển tư, tập thượng. Tôi bỗng nhớ lại lời anh Vũ Hoàng Chương mới đây: “Vũ Ngọc Phan đã quá nặng tay với Lê Văn Trương’ Nhà văn hiện đại” ấy đã nâng cao vài người mà cũng đã hạ thấp đôi người”. Tôi lướt mắt qua mấy cuốn tiểu thuyết của anh tôi vừa tìm đọc lại : Cô Tư Thung, truyện dài đầu tay của anh, do nó tôi bắt đầu làm quen với anh, đúng ba chục năm về trước. Một Người, Tôi Là Mẹ, quyển anh thích nhất, mà tôi đã từng say sưa đọc; cuộc phỏng vấn anh trong Bách Khoa, về quan niệm sáng tác, mà đây cũng là đoạn kết:

Tôi hỏi anh câu cuối,

Người ta cho rằng những anh hùng anh tạo ra là những anh hùng rơm, chỉ có tài nói huênh hoang. Anh có giận không?

Anh lắc đầu, tỏ vẻ không thừa sức đâu mà giận.

- Những người ấy họ sống ít, sống hẹp, sống cạn chớ thật ra, những người anh hùng ngoài đời mà tôi được gặp, họ còn có những hành vi, cử chỉ anh hùng gấp muôn lần những anh hùng trong tiểu thuyết của tôi…”

Nguyễn Ngu Í viết bài phỏng vấn này năm 1965, đến năm nay, 2008, đã hơn bốn chục năm. Bây giờ, tôi ngẫm lại lời nói của nhà văn Lê Văn Trương thấy có điều xác thực. Đã trải qua nhiều cảnh ngộ của cuộc đời, bản thân tôi đã từng mắt thấy tai nghe nhiều thảm kịch trong cuộc sống, và đã gặp biết bao nhiêu người trong những trường hợp ngặt nghèo mà vẫn vươn lên, với sức mạnh tâm linh bền bỉ để vượt qua được những chông gai của cuộc nhân sinh. Người hùng ở thời đại này nhiều lắm. Qua những cuộc đổi đời, những quay cuồng thời thế, chúng ta đã thấy những người với nghị lực vô biên đã đứng vững được. Không hẳn họ là những anh hùng thời chiến với những công trận lẫy lừng, mà có khi họ là những bà mẹ, sau năm 1975, chồng bị cải tạo, một nách bầy con thơ dại, mà vẫn tảo tần hy sinh thăm nuôi chồng, dạy dỗ con ăn học. Họ đi vào cuộc chiến đấu ngàn vạn lần khó khăn hơn những chiến sĩ ngoài sa trường.

Tôi nhớ khi còn ở trại tị nạn đảo Galang đã gặp một ông già người Hoa, tối tối cõng đứa cháu trên vai đi lang thang. Hỏi ra, thì mới biết cả toàn gia đình hơn bốn chục người vừa dâu rể vừa cháu nội ngoại đã bị chìm thuyền ở Mã Lai chết tất cả chỉ còn sót lại hai ông cháu. Ông già đã nói với tôi rằng vì đứa cháu nên phải gắng sống để nuôi nấng nó chứ thật ra rất chán đời không muốn sống cô đơn lủi thủi như vậy. Mỗi buổi tối, khi từ chỗ xem truyền hình về, hình ảnh một ông già lủi thủi cõng đứa cháu về chỗ ngủ thấy đứt ruột làm sao. Mười mấy năm sau tôi gặp ông ở chợ Tàu Los Angeles, được biết là đứa cháu đã có vợ có con và ông đã kể lại cả một thời gian cực nhọc để nuôi đứa cháu mồ côi nên người. Tôi nghĩ, đó là một hình ảnh người hùng mà tôi khâm phục. Và, trong cuộc sống này, những người hùng như thế nhiều lắm…

Người hùng của Lê Văn Trương có thể là Vượng trong “Người anh cả” đã hy sinh đời sống cá nhân mình từ danh vọng, tình yêu, tiền bạc để nuôi dưỡng bảo bọc mấy đứa em học hành đến nơi đến chốn và thành những người hữu dụng trong xã hội. Vượng đã nói : ”lòng kẻ làm anh phải rộng như bể. Làm anh là tất cả một nghệ thuật... Đại phàm trong gia đình lỗi của con em thì cha anh phải nhận lấy. Có cái can đảm nhận lấy như thế thì mới có đủ cái lòng để dìu dắt con em...” Tình cảnh của người anh cả, cha mẹ mất sớm, phải một mình mang gánh nặng dìu dắt nuôi nấng một đàn em đòi hỏi sự hy sinh không cùng. Anh chỉ là một thư ký của một sở tư nên rất hạn chế về tiền bạc hy sinh giật gấu vá vai mới nuôi nổi một đàn em ăn học. Về sau các em thành đạt giàu có, tuy có cuộc sống đầy danh vọng tiền bạc nhưng lại ruồng rẫy bỏ mặc người anh lẻ loi già yếu nhưng Vượng vẫn không chút gì oán giận.

Hay mẫu người hùng cũng có thể là Vân trong “Tôi là mẹ”, vợ của Vĩnh. Vĩnh làm chủ đồn điền buôn bán thua lỗ bị phá sản phải đi buôn lậu để có tiền cứu vãn lại cơ nghiệp nhưng bị giết ở giữa rừng trên con đường qua Xiêm. Vân góa chồng năm 21 tuổi, một nách ba đứa con mà cương quyết từ chối lời cầu hôn của một y sĩ say mê sắc đẹp mình, trung thành suốt đời với hình ảnh của người chồng quá cố và không lúc nào quên lời trối trăn của người chồng là Vĩnh để can đảm nhận lãnh trách nhiệm làm mẹ và nuôi dưỡng dạy dỗ con nên người. Nhân vật “Tôi là mẹ “cũng đã nói; ”Mình phải vì các con mà can đảm, cái đời chúng ta bây giờ không kể đến nữa, Chỉ kể cái đời của chúng nó…”. Trong đời sống của người tị nạn, những mẫu người hùng như vậy không phải là hiếm có.

Với những lớp tuổi lớn hơn lớp tuổi chúng tôi chừng hai ba thập niên, như tác giả Nguyễn Ngu Í thì nhà văn Lê Văn Trương cũng có nhiều ảnh hưởng. Tác giả “Sống và Viết “đã thổ lộ:

“mà những kẻ bị đời rẻ rúng xem thường như cô gái buôn hương bán phấn, cậu em bán báo, cũng có thể thành người cho ta đáng quí trọng. Thế hệ của chúng tôi đã không thể như cha ông hành động như những anh hùng Lương Sơn Bạc, như Quan Vân Trường, như Đơn Hùng Tín, cũng không thể như lớp đàn anh đua đòi theo các nhân vật quá ẻo lả của Từ Trẩm Á, của Song An, hay quá phi thường như Bách Si Ma, Hoàng Ngọc Ân, thì những người hùng của anh đến, thật hợp cảnh hợp thời.

Trách sao chúng tôi không say sưa, không vồ vập và cố noi gương.

Anh đã dạy chúng tôi biết bất bình, không an phận, khinh phú quí giàu sang tội lỗi, trọng gian nguy nghèo khổ thanh cao và nhất là không chấp nhận cái hèn, cái hèn hạ thấp con người, cái hèn làm nhục dân tộc. Và nhờ anh mà hai câu thơ này của Phạm ngọc Khuê được phổ biến và làm châm ngôn cho một số người:


Lấy chí ngang tàng và lòng quyết thắng
Làm hơi rượu mạnh để say sưa”

Đó là với thế hệ trước còn với thế hệ chúng tôi thì trong hoàn cảnh chiến tranh cũng như ảnh hưởng các trào lưu văn học từ phương Tây nên tiểu thuyết của ông ít được đón nhận hơn. Nhưng với riêng tôi, thì lúc học tiểu học và bắt đầu lên trung học, tôi đã đọc những “Anh em thằng Việt” hay “Hai đứa trẻ mồ côi” với cái say sưa của tuổi mới lớn và nhiều khi bắt chước theo những nhân vật này. Tôi thích những nhân vật của tuổi thơ mà đầy chất anh hùng hy sinh thà chịu thiệt thòi nhưng không làm những điều mà mình thấy không đúng. Như thằng Việt, nghịch ngợm, thông minh nhưng luôn luôn bênh vực che chở em và trong con người lúc nào cũng tiềm tàng ý hướng chỉ huy lãnh đạo. Hay như hai cậu bé mồ côi, từ đánh giày qua bán báo, tuy nghèo khổ nhưng lương thiện và cầu tiến, từ không biết chữ đã tự học để đọc và viết thông suốt. Những nhân vật ấy đã tạo hình một cách tự nhiên trong tôi thành những cá tính mà mãi về sau nhiều khi nghĩ lại vẫn thấy những ảnh hưởng. Trong cuộc đời tôi, trải qua khá nhiều thăng trầm nhưng cái triết lý người hùng ấy dù có lúc thấy hơi cải lương nhưng không phải là không tác dụng. Có thể nó giúp tôi có thêm bản lĩnh để đối mặt với đời… một cách gián tiếp.

Đọc lại những tác phẩm của Lê Văn Trương, những cuốn sách mà nhiều người cho rằng độc giả của nó thời đó phần đông là bình dân, tôi thấy tiểu thuyết của ông có nét lôi cuốn ở trong. Có thể ông là một người kể chuyện dễ dãi ít lưu tâm lắm về kỹ thuật và chú trọng về lượng hơn là về phẩm. Nhưng trong những tiểu thuyết ấy tôi tìm được rất nhiều cá tính của những nhân vật mà người ta tưởng là hiếm hoi trong đời thường mà thật ra lại có nét sống động của những mẫu người đang sống và đang hành động. Những chân dung ấy có da thịt não tủy của con người thật, và tác giả đã viết với ý hướng của một người luôn luôn đặt mình vào sự lạc quan và tin tưởng vào bản lĩnh cũng như những ý hướng dù có hơi lý tưởng một chút của mình. Tiểu thuyết của ông, dù là những truyện phiêu lưu mạo hiểm, cũng không phải chỉ là thuần tưởng tượng. Cuộc đời của ông cũng có những lúc vào trường hợp như thế. Thăng trầm trong cuộc sống đã tạo ra những cảm giác mạnh trong tiểu thuyết ông. Nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn ấy tiếc thay lại có lúc luận thuyết dài dòng khiến diễn tiến truyện bị chậm đi dù ông kể những truyện mà mình đã trải qua, đã sống với đầy đủ những cảm giác thật, những suy nghĩ thật.

Cuộc đời của Lê Văn Trương không phải là đời của một người bình thường. Ông sinh năm 1906, năm 20 tuổi thi đỗ vào ngạch chuyên viên bưu điện sang làm việc ở Nam Vang, rồi tới Monkolboray làm chủ sự nhà Dây thép ỏ nơi này để nối đường dây Battambang- Bangkok. Chính ở nơi này ông quen biết với giới giang hồ, buôn lậu và nghiên cứu để sau này thực hành những công việc ấy. Bốn năm sau, chán nghề công chức, ông bỏ việc làm và cùng gia đình đến Lovea ở Battambang bên Cao Miên lập đồn điền, rồi làm thầu khoán để làm đường sắt tàu hỏa nối liền Nam Vang và Battambang. Trong ngày khánh thành con đường này, ông là thương gia đầu tiên đã chở mười toa trâu bò trong chuyến tàu đầu tiên nối liền hai thành phố này. Ông cũng làm rất nhiều nghề ở Cao Miên, và trong đầu óc đã manh nha ý tưởng viết văn và say mê đọc sách khi rảnh rỗi. Ông thường hay tổ chức những hội săn bắn lớn và thỉnh thoảng cũng tổ chức những cuộc buôn lậu có tầm vóc liên quốc gia buôn thuốc phiện lậu sang Thái Lan, buôn trâu bò sang Singapore và buôn lậu ngọc và đá qúy sang Trung Hoa…

Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1929, ông bị phá sản và cùng vợ và bốn con trở về đất Bắc. Ông bị các nhà băng làm khó dễ vì nợ tiền để lập đồn điền ở Battambang và đời sống khá khó khăn. Ông bắt đầu viết báo tuy thỉnh thoảng vẫn cùng người vợ thứ đi buôn lậu thuốc phiện ở Bắc Giang hoặc đi thầu những công việc xây dựng đường xá, sân bay ở Trung Hoa.

Ông đầu tiên cộng tác với “Trung Bắc tân văn” của nhà văn Nguyễn Văn Vĩnh, giữ mục “Trắng Đen“, dưới bút hiệu Cô-Lý, có nghĩa là lý luận của người cô độc một mình. Ông cũng cộng tác chặt chẽ với nhà xuất bản Tân Dân của ông Vũ Đình Long và cũng là cây bút nồng cốt của Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Phổ Thông Bán Nguyệt San, Truyền Bá, Ích Hữu...

Thời kỳ những năm 1935-1940 là những năm vàng son của ông. Tiểu thuyết của ông in ra hàng tuần và được độc giả đón nhận nồng nhiệt. Có thể nói, ông có ảnh hưởng văn học lúc đó ngang với Tự Lực văn Đoàn với các cây bút lừng danh như Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam...

Giáo sư Phạm Thế Ngũ trong bộ sách Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên đã có nhận xét về nhà văn Lê Văn Trương như sau;

”… Trước hết ông là nhà tiểu thuyết của giới giang hồ. Rất nhiều truyện của ông là những truyện trai tứ chiếng gái giang hồ, mô tả cuộc đời, kiến văn cùng tâm lý của hạng người này. Nhưng không phải ông mô tả những cái kém cỏi sa đọa tồi bại của họ như một vài nhà văn xã hội tả chân mà trái lại có khuynh hướng nâng cao họ lên địa vị những anh hùng về thủ đoạn hoặc tâm hồn có thể làm cảm động kính phục. Ngay truyện đầu tiên của ông thuộc loại này: “Trước cảnh điêu tàn Đế Thiên Đế Thích” là một truyện tình giữa Bella Như Nhang hay Cô Ba Cần thơ, gái điếm thượng lưu cùng Hoàng Cương tay kinh doanh phá sản vì gặp hồi kinh tế khủng hoảng. Mấy truyện kế tiếp Cô Tư Thung, Cánh Sen Trong Bùn, cũng đều là truyện tình trong giới giang hồ cả. Ngoài truyện tình trong giới giang hồ còn những truyện ông thuật lại cuộc đời giang hồ mà có lẽ chính ông đã từng trải ở Cao Mên, Trung Hoa. Thí dụ truyện Trường Đời, Tôi Thầu Khoán... thuật công việc đắp lộ ở vùng Hoa Nam gần biên giới Bắc Việt, truyện Những Đồng Tiền Xiết Máu nói về cờ bạc ở Ma Cao, truyện Tôi Là Mẹ, Người Bạn Hiền kể việc làm đồn điền ở Cao Mên, buôn lậu qua rừng XiêmLa hoặc làm cá trên Biển Hồ...”

Và: ”... Cái hấp dẫn người đọc ở Lê Văn Trương thường chỉ là ở những tiểu thuyết giang hồ, cái vị lạ, những cảnh tượng xa xôi, những gặp gỡ kỳ thú hay gian hiểm ông kể lại cho người đọc. Bạn muốn biết Saigòn 1930 ăn chơi thế nào, bạn muốn biết người ta hít cocaine thế nào trong một tổ quỷ, hãy đọc Cô tư Thung. Bạn muốn biết trong những sòng bạc ở Macaokhach chơi được đón tiếp như thế nào, những thứ gọi là “trẩm dục, bình phong dục, mỹ nhân chúc” hãy đọc “Những đồng tiền xiết máu”. Bạn muốn biết cuộc đi núi trèo đèo ở biên giới Hoa Việt gian lao như thế nào, tắm suối Ôn Tuyền rồi bị xạ phang bắt cóc rùng rợn như thế nào, hãy theo ông Trọng Khang cùng cô Khánh Ngọc vào “Trường Đời”. Bạn muốn thăm thú Cao Mên tiếp xúc với người Kờ Me, người Cô Là hay học vài câu thổ ngữ nữa, hãy theo Hoàng Cương lên Đế Thiên Đế Thích, theo Vĩnh đi phá đồn điền ở Lovea, hoặc tải hàng lậu qua rừng Xiêm. Ở đây chúng ta phó thác cho tác giả-tuy rằng cũng có khi nghe kể ta phải mỉm cười: đi xa về tha hồ nói khoác. Nhưng khi tác giả đụng tới con người, tới nhân loại mà ta biết rõ bản chất, thì những bịa đặt của tác giả, chúng ta không thể cho qua được. Những kẻ xuất nhân về nghị lực hoặc tâm hồn, đời đâu phải không có, song con người hùng trong tiểu thuyết của Lê Văn Trương lắm khi hiện ra thật là kỳ cục. Con người hùng ấy dưới ngòi bút Lê văn trương lúc gan dạ lầm lỳ tưởng súng nổ bên tai không thèm động dong, lúc roi gân bò trong tay, hung hăng chỉ muốn đập muốn quất, lúc giảng luân lý như một thầy đồ gàn An Nam, lúc quỳ mọp dưới chân người đẹp như một chnag kỵ sĩ Tây phương thời phong kiến, lúc la lối hò hét như phường tuồng, lúc lại khóc thút thít như con nít...”

Nhà văn Vũ Ngọc Phan trong “Nhà văn hiện đại” cũng nhận xét:

”Lê Văn Trương lại tựa vào một thuyết rất hẹp. Cái thuyết sức mạnh của ông là thứ lý thuyết nông nổi không có gì vững vàng, không thể so sánh mảy may với cái thuyết về sức mạnh và về người siêu nhân của Nietzsche. Tác giả còn cần đi sâu hơn nữa.

Tiểu thuyết của Lê Văn Trương mỗi ngày mỗi nhiều. Nhưng xét chung tất cả người ta thấy các truyện của ông không khác nhau mấy tí. Người ta lại thấy về đường tư tưởng và ý kiến, những truyện của Lê Văn Trương chỉ có chiều rộngkhông có chiều sâu. Không một ai có thể bảo ông không giàu tưởng tượng nhưng người ta nhận thấy rằng bao giờ ông cũng thiên về một mặt là tin cậy ở sức mạnh bồng bột- thường thường là vật chất-nên troong tiểu thuyết của ông có rất nhiều sự quá đáng còn những cái thật “nhân loại“ thì thật quý hiếm.

Về cách hành văn, người ta thấy từ quyển truyện đầu tay cho đến những quyển xuất bản gần đây nhất của ông, ông không thay đổi mấy. Xưa kia ông hay nghị luận trong các truyện ngắn, truyện dài thì bây giờ ông cũng vẫn hay nghị luận một cách trường giang đại hải. Văn ông chỉ là một thứ văn hoạt, thứ văn dễ hiểu cho người trung lưu trí thức không có gì đặc sắc…”

Kể ra, chê bai đến như Vũ Ngọc Phan thì hết mức. Nhưng bây giờ, tôi đọc lại những tiểu thuyết của Lê Văn Trương, thì dù tâm tư cũng như suy nghĩ có khác thời ấy nhưng thấy những nhận xét của nhà phê bình họ Vũ cũng chỉ đúng một phần. Dù ông viết đến cả trăm cuốn tiểu thuyết nhưng ít có trường hợp trùng hợp nào quá đáng cũng như mỗi cốt truyện đều có những đặc tính khác nhau lồng trong những hoàn cảnh dễ làm lôi cuốn độc giả. Không phải bất cứ một tác giả nào in ra được số lượng tiểu thuyết to lớn như thế mà vẫn được ái mộ, vẫn được tìm đọc trong suốt một thời gian dài.

Đọc Lê Văn Trương, qua tập truyện ngắn đầu tay là “Trước cảnh hoang tàn Đế Thiên Đế Thích” gồm 11 truyện ngắn, tuy nhiều truyện vẫn chưa thoát được lối văn cổ biền ngậu hoặc thích nghị luận, nhưng có nhiều truyện theo tôi chứa đầy cá tính và tuy nêu ra những luân lý bình thường nhưng lại có vẻ gần gũi với đời sống. Nhà phê bình Vũ ngọc Phan cũng tỏ lời khen ngợi các truyện ngắn như “Cánh tay đứa trẻ” hay truyện “Con Quay”, truyện “Hai hào” trong tập truyện này và cũng nêu ra cái triết lý trọng nền tảng gia đình và luôn tán dương sự hy sinh quên mình để bảo bọc con cháu.

Có nhiều người nhận định rằng độc giả ái mộ Lê Văn Trương khác biệt với độc giả của Tự Lực Văn Đoàn cũng cùng một thời kỳ đó. Độc giả ái mộ TLVĐ thường là những trí thức tiểu tư sản trung lưu và thường có căn bản học vấn. Còn độc giả của Lê Văn Trương thì thuộc thành phần thấp hơn, thích đọc những truyện dễ dãi và không muốn nhức đầu với những luận đề khúc mắc, những suy luận phức tạp.

Tiểu thuyết của Lê Văn Trương phần đông đều có ý hướng thượng với những nhân vật nhiều khi làm những công việc bất hợp pháp như buôn lậu nhưng lại có nhân cách nhiều khi đáng quý hơn là những người được coi là có đạo đức có tư cách của xã hội.

Trong hoàn cảnh đất nước chúng ta, qua bao nhiêu biến cố, từ nhiều cuộc đổi thay, với người cầm bút có nhiều cuộc chia ly. Trần huyền Trân đã làm bài thơ “Từ biệt Lê Văn Trương” như một kỷ niệm đánh dấu những cuộc lên đường:


”Thôi thế anh về yên xóm cỏ
Có buồn khêu lại ngọn tàn đăng.

Thôi anh về đi tôi đi đây
Chim nào có cánh không thèm bay?
Cây nào có gió không buồn lay?
Lòng nào có máu không thèm say?
Tôi sẽ giẫm lên nguồn huyết mạch
Mà lau nguồn lệ chúng sinh rơi
... Tôi đi thực đấy dù gian khổ
đời có như người tướng bị thương
một tối rùng mình lau máu mủ
cũng không khép mắt đóng sa trường.”

Nhà văn Nguyễn Ngu Í cũng có viết lời tưởng niệm với cả tâm tư và lòng thành thật:“đọc anh chúng tôi say mê vì nhận rằng đó là một mảnh của cuộc đời mà người viết nó đã sống qua, hay đã nghe đã thấy và tác giả cầm bút vì tin chắc rằng mình đang làm một sứ mạng.

Những người có tuổi chỉ đứng về mặt nghệ thuât mà xét tác phẩm của anh đã cười anh huênh hoang, đã trách anh ba hoa, chê bố cục cuốn này lỏng lẻo, chê nhân vật nọ phường tuồng, bắt bẻ chữ dùng sai, moi móc cách hành văn luộm thuộm. Chẳng phải lớp trẻ chúng tôi có học ít nhiều không thấy những khuyết điểm đó nhưng chúng tôi “cho qua“ những điều ấy. Và chúng tôi cho chàng Vĩnh (trong Tôi Là Mẹ) cũng rất “hùng” khi đi buôn lậu; đem tài, trí, sức ra để “qua mặt“ kẻ thù đất nước và lũ tay sai của chúng đó cũng là một cách gián tiếp trả thù dân tộc.

Rồi chúng tôi lại biết anh đã bị đuổi khỏi trường Bưởi vì cùng một vài bạn cầm đầu một cuộc bãi khóa để phản kháng ông hiệu trưởng đã mắng học sinh: ”quân An Nam dơ bẩn”. Và ngọn bút của Cô-Lý trên trung bắc tân văn đã “giết” tên chủ gánh xiệc ngoại quốc đã làm nhục dân tộc Việt trên đất nước nhà.

Vì chúng tôi lúc bấy giờ như những con thuyền nằm trên cạn, mơ những cuộc viễn du, nhìn xuống con sông mà chỉ thấy có sức nước cuồn cuộn chảy, không để ý chi đến củi mục, cành khô, rác rến … cuốn theo dòng…”

Còn riêng tôi, bây giờ, khi đọc qua nhiều tiểu thuyết của nhà văn tiền bối Lê Văn Trương, thì tâm đắc một điều. Sống là phải can đảm chịu đựng những gian khổ và vững tin vào một tương lai tốt đẹp hơn hiện tại. Không biết có phải là một hình thức của “người hùng“ không, nhưng theo tôi, nếu thực hiện như thế cũng là “hùng” lắm rồi. Dân tộc chúng ta qua những biến chuyển thời thế, đã có mặt khắp năm châu bốn biển và gây dựng cơ nghiệp từ bàn tay trắng ở xứ sở định cư, thì chăc 1hẳn có rất nhiều những người “hùng“ thầm lặng. Họ có thể là những người cha, người mẹ ra đi hy sinh cho tương lai con cái. Họ có thể là những người lính cũ, qua xứ người muộn màng nhưng vẫn can đảm dấn thân để tìm đến một cuộc sống tốt đẹp hơn nhân bản hơn…

Nhà văn Lê Văn Trương đã tạ thế cách nay hơn nửa thế kỷ thế kỷ nhưng những kẻ hậu sinh cũng tìm được nhiều điểm lạc quan trong văn nghiệp của ông. Một nhà văn lừng lẫy một thời với số lượng tác phẩm sáng tác to lớn. Một người làm việc và hoạt động với cả tâm lực của mình trong đời sống bình thường và trong đời sống văn chương. Thời tiền chiến chúng ta đã có nền văn học tạo được nhiều thành quả rực rỡ. Trong số người góp công vào hàng đầu phải kể đến tác giả của “Tôi Là Mẹ”, “Trường Đời”, …


Nguyễn Mạnh Trinh

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Một đại úy Mỹ gốc Việt được Iraq thăng chuẩn tướng danh dự

Wednesday, April 16, 2008

LITTLE SAIGON, California.- Một đại úy Mỹ gốc Việt thuộc Lục Quân Hoa Kỳ, James Van Thach, vừa được Iraq thăng chức chuẩn tướng danh dự hôm 1 Tháng Tư vừa qua, một bản tin của PRWeb đăng ngày 15 Tháng Tư cho biết như vậy.

Trong bản tuyên dương do Chuẩn Tướng Lực Lượng Ðặc Biệt Nassir Ahmad Ghanim Al-Ogali, Lữ Ðoàn Trưởng Lữ Ðoàn 3, Sư Ðoàn 6, của quân đội Iraq, ký, được PRWeb trích dẫn, có đoạn: “Nhờ sự phù hộ của Thánh Allah trong ngày vinh quang 1 Tháng Tư, 2008 này, tại Cộng Hòa Iraq của chúng tôi, tôi rất vinh dự được thăng chức chuẩn tướng danh dự quân đội Iraq cho Ðại Úy James Van Thach.”

Tại buổi vinh danh Ðại Úy James Van Thach, Chuẩn Tướng Ahmad Ghanim Al-Ogali cũng phát biểu: “Các cố vấn quân sự của Hoa Kỳ đã làm được rất nhiều việc khi cung cấp chuyên môn của mình để tiếp tục chuyển giao quyền kiểm soát an ninh cho quân đội Iraq. Trong số này, có một cá nhân mà trong hai năm qua đã cống hiến hết mình trong hoàn cảnh công tác rất khó khăn. Và tôi rất vinh dự được thay mặt Cộng Hòa Iraq cảm ơn ông.”

Tháng Tư, 2006, Ðại Úy James Van Thach tình nguyện đến Iraq trong vai trò cố vấn quân sự. Một năm sau, ông công tác tại Tiểu Ðoàn 1 và Tiểu Ðoàn 3 thuộc Lữ Ðoàn 3, Sư Ðoàn 6, của quân đội Iraq.

Nhiệm vụ của Ðại Úy James Van Thach là cố vấn, hướng dẫn và giúp đỡ phát triển những kế hoạch huấn luyện cho các đồng sự Iraq và yểm trợ nhiều sứ mạng ở chiến trường. Trong lúc làm nhiệm vụ, ông bị thương hai lần.

Sau khi hết nhiệm kỳ phục vụ một năm, Ðại Úy James Van Thach tình nguyện ở lại Iraq thêm một năm nữa và được điều về công tác tại Tổng Hành Dinh Cơ Quan Yểm Trợ Iraq và làm việc cho hai Tướng Pittard và Yarbrough trong vai trò sĩ quan phục vụ và tiếp liệu, giúp thi hành kế hoạch bảo vệ an ninh thủ đô Baghdad.

Ðại Úy James Van Thach là một mũi xung kích của 12 điểm kiểm soát giao thông giữa Baghdad và Samarra.

Bản tuyên dương kết luận: “Sau hai năm phục vụ tại Iraq, Ðại Úy James Van Thach trở về Hoa Kỳ. Nguyện cầu Thánh Allah tiếp tục phù hộ ông và gia đình được khỏe mạnh và thành công. Tôi muốn ca ngợi công sức của ông và ông là một tài sản quý giá của Cộng Hòa Iraq.”

Cơ Quan Yểm Trợ Iraq của Hoa Kỳ tại Iraq hiện đóng vai trò giống như cơ quan MACV (Military Assistance Command, Vietnam) trong cuộc chiến Việt Nam.

Trong một cuộc phỏng vấn với ông Tommy Nero, sáng lập viên và Tổng Giám Ðốc V.I.P. NYC, Ðại Úy James Van Thach cho biết lý do ông tình nguyện đến Iraq là “vì chuyển giao công tác an ninh cho quân đội Iraq cũng như Afghanistan là một bước quan trọng trong việc rút quân đội Hoa Kỳ ra khỏi hai quốc gia này và để các đồng đội của tôi có thể trở về với gia đình.”

Cha của Ðại Úy James Van Thach là cựu trung tá quân đội Hoa Kỳ John Peterkin, từng làm việc cho MACV tại Việt Nam, gặp bà Ngoc Thi Thach, lúc đó là thành viên đội tuyển Thế Vận Hội Việt Nam Cộng Hòa, và hai người lập gia đình năm 1974.

Ðại Úy James Van Thach tình nguyện đến Iraq ngay sau khi tốt nghiệp luật tại đại học Touro Law School, New York. (Ð.D.)

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Sinh Viên VN ở Thái Lan


Image


Hình trên là một Nam Sinh viên Việt nam đang Du học ở Thái Lan đã xuống đường chống Rước Đuốc Thế vận chạy trên đường phố Thái Lan ngày 19 tháng 4 năm 2008

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Adieu PHẠM DUY

Image

Suốt Một Đời Không Thèm Khát
Suốt Một Đời Không Vô Liêm Sỉ
Suốt Một Đời Không Vô Lễ Giáo
Và Suốt Suốt Một Đời Không Hèn


Phạm Duy


Tôi viết về Phạm Duy lần đầu tiên năm 1987, tức là cách đây gần hai mươi năm. Tháng 8 năm đó, một nhóm người đòi bỏ bài Quốc Ca Việt Nam “Này Công Dân Ơi”, để thay vào đó bài “Việt Nam Việt Nam” của Phạm Duy. Nhóm người gồm các ông Thái Chính Châu, Nông Anh Ngọc, Vũ Trung Hiền, Bùi Duy Tâm, Phan Quang Đán,v,v...

Cuộc họp “lịch sử” diễn ra tại nhà BS Bùi Duy Tâm ở Cali. Đêm đó, họ đồng ca bài quốc ca Này Công Dân Ơi lần cuối, để vĩnh biệt ngày xưa ... Rồi họ đồng ca bài quốc ca mới, tức bài Việt Nam Việt Nam để ăn mừng kỷ nguyên mới. Duyên Anh lúc đó đang say khướt trên lầu, thì được dưới nhà gọi lên:

- “Duyên Anh ơi xuống đây chứng kiến giờ lịch sử.”.

Duyên Anh ngất ngư lò mò từ trên gác xuống, hát cà lăm:

- “Cái nhà là nhà của ta, ông cố ông cha lập ra. Moa đíu chơi với các cậu. Moa đi ngủ tiếp đây”.

Hai hôm sau, Duyên Anh gọi cho tôi, kể cho tôi nghe, rồi cà lăm:

- “Ông ơi, ông đánh bỏ mẹ chúng nó đi.Chỉ có ông mới đánh được chúng nó thôi”.

Và tôi đã lên tiếng để “đánh chúng nó”... Bài lên tiếng của tôi gồm 5 điểm. Riêng điểm 5 dành cho Phạm Duy, như sau:

“Bài Việt Nam Việt Nam của Phạm Duy đã được nhóm người đưa ra cùng một lúc với vấn đề thay đổi quốc ca. Riêng Phạm Duy cũng đã có lần chỉ trích nhạc của bài Quốc Ca. Trong vụ đòi thay đổi quốc ca, ông im lặng. Dư luận không khỏi nghĩ rằng ông là một trong những kẻ đứng đàng sau.

Phạm Duy là một tài hoa. Điều đó không ai chối cãi. Cũng không ai chối cãi việc Phạm Duy bỏ bưng về tề cuối thập niên 1940 là một điều hay cho Người Quốc Gia. CSVN đã mất một thiên tài, người Quốc Gia có thêm một tài hoa, kho tàng nghệ thuật của người Quốc Gia có thêm những bài ca giá trị. Tôi vẫn nghĩ: Người Quốc Gia nên biết ơn Phạm Duy. Ngược lại, Phạm Duy cũng phải biết ơn Người Quốc Gia; ơn này mênh mang như biển cả. Bởi vì nhờ môi sinh nhân bản của vùng quốc gia, Phạm Duy mới có điều kiện phát huy tài năng. Văn Cao, tài nghệ đáng bậc đàn anh, nhưng vì phải sống dưới chế độ súc vật cờ đỏ sao vàng, nên đành phải để tài hoa chết yểu, chưa kể phải sống như con vật, thèm từ củ khoai cọng sắn. Đó cũng là trường hợp của nhiều văn nghệ sĩ dưới chế độ cộng sản. Phạm Duy có phước hơn. Một phần tư sống trong vùng đất quốc gia, Phạm Duy đã tạo được sự nghiệp và tên tuổi trong lãnh vực sáng tác ca nhạc. Người Quốc Gia hãnh diện vì có ông và đã đối xử với ông thật tận tình. Ra đến hải ngoại, người Quốc Gia cũng vẫn một tấm lòng đó đối với ông. Nhạc của ông vẫn được tập thể tỵ nạn nâng niu, con người của ông vẫn được đồng bào quý mến. Các con của ông đã có chỗ dung thân, phần lớn là do tấm lòng của đồng bào đối với chính ông. Cho nên, nếu quả thật Phạm Duy đã tiếp tay cho việc đánh phá bài Quốc Ca VN (Tiếng Gọi Công Dân) để thay vào đó bài Việt Nam Việt Nam của ông, thì thật đáng buồn.

Riêng về bài Việt Nam Việt Nam, không ai phủ nhận giá trị nghệ thuật của nó. Nhưng đó cũng là giá trị độc nhất của nó. Nó chỉ có giá trị nghệ thuật, không có giá trị lịch sử. Nó không mang tinh huyết của cuộc chiến đấu ròng rã và đầy cam go của dân tộc VN chống lại bè lũ CS Hồ Chí Minh tay sai CS quốc tế. Nó không có được một giờ trong dòng sinh mệnh của dân tộc Việt Nam. Đang khi đó, bài Quốc Ca “Này Công Dân Ơi” đã có ít nhất 40 năm trong dòng sinh mệnh ấy.”.
***

Năm 1992, Phạm Duy cùng với Bùi Duy Tâm xuống Houston ra mắt đĩa nhạc thời trang. Buổi họp mặt hôm đó khá đông. Đây là lần đầu tiên tôi có dịp diện kiến người nghệ sĩ tài hoa. Gia chủ đọc tiểu sử Phạm Duy, rồi giơ tay về phía buồng trong, giới thiệu:

- “Đây Phạm Duy”.

Phạm Duy từ trong buồng bước ra, giơ hai tay chào, lớn tiếng tự giới thiệu:

- “Đây, Alain Đầy Lông”.

Cả phòng họp họp vỗ tay.

Sau buổi trình diễn của Phạm Duy, là những giây phút hàn huyên. Tôi được hân hạnh ngồi gần ông. Tôi hỏi:

- “Nghe nói bác đang làm đơn xin về Việt Nam?”.

Phạm Duy trả lời (nguyên văn):

- “Về làm gì. Những thằng như Hoàng Cầm, sẽ ngửa tay xin tiền. Mình cho nó một trăm đô, nó chê ít. Mà đâu chỉ có một thằng Hoàng Cầm, còn bao nhiêu thằng khác, như một lũ ăn mày. Chúng nó tưởng mình bên Mỹ hốt bạc. Về làm đéo gì. Còn chơi gái á, bên này thiếu gì.”.

Tối hôm đó, chúng tôi đi ăn nhà hàng. Tôi lại được hân hạnh ngồi gần Phạm Duy, hân hạnh mà tôi không nỡ từ chối. Con người thật của Phạm Duy hiện lên trần truồng.
***
Image Năm 1993, tờ Far Eastern Economic đăng tin Phạm Duy làm đơn xin Việt Cộng cho về Hànội để sống những ngày cuối đời, nhưng đơn xin đã bị bác. Phạm Duy đã lên tiếng cải chính.

Hai năm sau, năm 1995, một tờ báo Việt ngữ (tờ Ép Phê) tại Paris loan tin cuộc gặp gỡ thân mật tại tòa đại sứ VC tại Paris ngày 7 tháng 1/1995 để thảo luận về đề tài:

- “Chúng ta cùng hồi hương giúp nước.”.

Tờ báo đăng tấm ảnh chụp Phạm Duy đứng giữa, một bên là tên đại sứ VC Trịnh Ngọc Thái, và một bên là Trần Văn Khê. Tờ báo cũng đăng những lời bợ đỡ Việt Cộng của Phạm Duy...

Phạm Duy đã lên tiếng cải chính.

***

Năm 1997, trong một buổi họp mặt tại Cali, có thi sĩ Cao Tiêu, cựu khoa trưởng đại học Văn Khoa Sàigòn Nguyễn Khắc Hoạch, học giả Nguyễn Sĩ Tế, bác sĩ Trần Ngọc Ninh, giáo sư Lê Hữu Mục v,v... Phạm Duy đã tuyên bố bốn câu bất hủ, đựợc báo chí đăng tải. Câu một: “Tôi có chống cộng bao giờ đâu, tôi chỉ chống gậy”.

Câu hai: “Ai ngu thì mới thích nhạc của tôi. Nhạc của tôi làm trong cầu tiêu mà”.

Câu ba: “Tôi phải về Việt Nam. Tôi cần có 8 Ái Vân để hát những bản nhạc mới của tôi. Ở đây chỉ có một Ái Vân, quả là không đủ.”.

Câu bốn: “Tôi không đồng ý chống Hồ Chí Minh. Về Việt Nam, chỉ cần nhà nước trả cho tôi 10 ngàn đô la, tôi sẵn sàng ca tụng Hồ Chí Minh”.

Phạm Duy đã lên tiếng cải chính, chối không nói những câu vô liêm sỉ đó. Trong dịp sống chung với GS Mục tại nhà anh Nguyễn Trọng (cựu phóng viên của hãng Reurer) ở Oklahoma, tôi có hỏi GS Mục về vụ Phạm Duy. GS Mục quả quyết Phạm Duy có nói những lời vô liêm sỉ.

Tôi tin giáo sư Mục.

Thứ nhất: những câu nói của Phạm Duy thuộc ngôn ngữ và khẩu khí đặc biệt mà chỉ Phạm Duy - một kẻ suốt đời không vô liêm sỉ, không vô lễ giáo và không thèm khát - mới có.

Thứ hai: giáo sư Mục đã kê khai tất cả những nhân chứng có mặt hôm đó, giáo sư Mục không thể nào bịa đặt tên tuổi của những nhân chứng.
***

“Ta Tiếc Cho Một Phạm Duy...”.

Đó là nhan đề một bài tôi viết năm 2002 để phê bình bài hát “ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo” của Phạm Duy. Nhan đề của tôi bỏ lửng “ta tiếc cho một Phạm Duy” nhưng nhiều người đã tìm ra hai chữ “cùi hủi” cùng âm điệu với hai chữ thạch thảo.

Tôi viết bài đó, để thương hại cho một Phạm Duy cùi hủi.

Có ba cái đáng thương hại.

Cái đáng thương hại thứ nhất:

- Phạm Duy phổ nhạc bài thơ Lá Diêu Bông của Hoàng Cầm, viết Hoàng Cầm Ca, để ca tụng Hoàng Cầm, một tên văn nô cùi hủi Việt Cộng. Chẳng những ca tụng Hoàng Cầm, Phạm Duy còn khen vợ cũ của Hoàng Cầm (Tuyết Khanh), và khen con gái của Hoàng Cầm (Kiều Loan).

Trong bài “Một Cảm Nhận Chệnh Choạng, Một Hiểu Biết Chệch Choạc”, Hoàng Cầm từ trong nước đã lên tiếng chửi Phạm Duy thậm tệ. Mà chửi đúng.

Cái đáng thương hại thứ hai:

- Phạm Duy lấy thơ của Apollinaire (bài Adieu), để làm lời ca cho bài “Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo”. Nhưng Phạm Duy đã hiểu sai thơ Apollinaire. Phạm Duy không đủ trình độ để hiểu thơ Apollinaire.

Cái đáng thương hại thứ ba:

- Sau quá nhiều tai tiếng, nhất là sau vụ “bốn câu bất hủ”, Phạm Duy đã phải nhờ một văn phòng luật sư tại Canada lên tiếng minh oan cho cái vô liêm sỉ của mình. Văn thư minh oan ấy đề ngày 28/9/1998.

Chúng ta hãy nghe:

- “Phạm Duy quan niệm và hành động như một người nghệ sĩ phóng khoáng trong lòng dân tộc và đứng trên mọi thể chế chính trị đối nghịch nhau”.

Và chúng ta hãy nghe:

- “Nhạc sĩ Phạm Duy (cho biết) chỉ về Việt Nam khi đất nước có dân chủ và nhân quyền được tôn trọng”.
***

Mùa thu năm 1978, tức là cách đây gần 30 năm, con thuyền tỵ nạn của gia đình nhạc sĩ Ngọc Chánh tới bến Mã Lai. Trên thuyền, có ba người con trai của Phạm Duy: Phạm Duy Minh 25 tuổi, Phạm Duy Hùng 23 tuổi, Phạm Duy Cường 21 tuổi.

Khi nghe tin các con đã cập bến Mã Lai và thoát nạn cộng sản, Phạm Duy đã sáng tác hai bài ca cho người tỵ nạn, và cho chính nghĩa tỵ nạn.

Tài liệu còn đó, Phạm Duy không thể chối cãi.

Bài ca thứ nhất:

Hát Cho Người Vượt Biển

“Này đoàn người đang vượt biển Đông
Kiếp mong manh như áng mây hồng
Người gửi mình trong vùng đại dương
Treo mạng sống giữa hai sợi tóc
Người chập chờn giữa trời biển rộng
Đã bao nhiêu thành đám thây khô?
Này đoàn người đi tìm tự do
Cứu được người thật là khó.
Này loài người dưới mặt trời soi
Hãy giương to đôi mắt của người
Người và người tất cả ngược xuôi
Đi tìm lẽ sống trong trời đất
Người nào còn tin ở Trời Phật
Với đôi tay thành kính đưa ra
Mời đoàn người đi tìm tự do
Đến chia vui với người
Ôi niềm vui, ôi niềm vui
Của loài người biết thương nhau
Lậy Trời Phật cúi đầu mà coi
Bé thơ ngủ trong bão tơi bời
Lậy Trời Phật xin nhìn ngoài khơi
Ông bà lão nghiến răng cầm lái
Và con lậy xin Ngài Thần Biển
Đoái thương đôi trẻ mới xe duyên
Lậy loài người, tôi lậy tổ tiên
Hãy cho tôi thấy đất liền...”.

Bài ca thứ hai:

Hát Cho Quyền Làm Người

Loài người sinh ra như nhau cùng chung có quyền
Đây trước tiên là quyền sống có tự do
Nhưng sao hàng triệu nhân dân
Đương nhiên bị đoạt mất hết
Quyền ăn nói, tín ngưỡng, hay đi lại?

Từ ngày sinh ra chuyên môn đi cướp quyền
Trên thế gian bọn người khát máu thèm xương
Đi gieo hận thù đau thương
Ra tay độc tài áp bức đời sống dân lành
Thương cho quê hương nơi xưa sống thanh bình
Giờ thành trại giam, nhân dân bị tước nhân quyền
Gia tài tổ tiên, chúng nhóm lửa đốt hết
Trẻ già được liệt vào hàng của súc vật

Trên quê hương ta, ôi tan nát gia đình
Chẳng còn tổ quốc, chúng nó là lũ vô tình
Điên cuồng tự kiêu, chúng nó còn chém giết
Và còn đọa đầy một dân nước nghiệt oan
Loài nguời mau mau cùng xúm lại
Tranh đấu cho quyền người sống có tự do
Ta đang ở ngoài kêu to
Bên trong nổi dậy chiến đấu
ĐỂ GIẾT HẾT CỘNG NÔ
ĐỂ SẼ CÓ NHÂN QUYỀN
***

Như mọi nguời đã biết: tháng 4 năm nay (2005), sau bao nhiêu lần chạy chọt hèn hạ bợ đỡ, Phạm Duy đã đạt sở nguyện. Ông đã được Việt Cộng chấp thuận cho về nước sinh sống, để tiếp tục làm kẻ suốt đời không thèm khát, không vô liêm sỉ, không vô lễ giáo, không hèn hạ.

Và “ĐỂ GIẾT HẾT CỘNG NÔ”.
Và “ĐỂ SẼ CÓ NHÂN QUYỀN”.

Nguyễn Văn Chức (Houston 19 /5/2005)

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

NHỮNG CUỐN SÁCH CŨ
Huy Phương
Nếu có một cuốn sách dạy làm người, làm người lương thiện và tử tế thì tôi không ngần ngại nói đó là tập sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư. Xin lỗi các bạn trẻ, chúng tôi, những người bây giờ đã quá tuổi sáu mươi, tâm hồn ai lại không đẫm chất “Quốc Văn Giáo Khoa Thư” của một thời thơ ấu. Quen quá với “Xuân đi học coi người hớn hở”, hay “cậu Thu đi ở giữa đường”. Làm sao chúng ta không nhớ đến cậu bé “ngất nghểu trên mình trâu”, hình ảnh cụ già hì hục khuân tảng đá, như nghe được tiếng ru của bà trong một buổi trưa “trời nắng chang chang, gió im phăng phắc”. Không có Quốc Văn Giáo Khoa Thư, những ngày còn thơ ấu, làm sao chúng ta biết những chuyện bên Tàu như thầy Tử Lộ đội gạo nuôi song thân, ông Lý Tích nấu cháo cho chị mà bị cháy râu, ông Lưu Khoan tha thứ cho người nữ tỳ đổ cháo lên áo ông, rồi cả chuyện bên trời Tây như ông Carnot trở lại trường xưa thăm thầy cũ. Chúng ta cũng được biết những hiếu học như chàng Thừa Cung chăn lợn qua trường học, ông Châu Trí ở tại chùa Long Tuyền đốt lá đa làm đèn. Tất cả những nhân vật quen thuộc của “một thời giáo khoa thư” đều là những gương tốt, đôn hậu, thật thà, thương yêu, nhân ái và một ý tưởng luôn luôn nghĩ đến người khác.

Thương biết mấy “Quốc Văn Giáo Khoa Thư” với những vần thơ lục bát, mỗi bài chỉ có từ sáu đến mười câu nhưng chan chứa ý nghĩa thâm sâu, vần điệu ngọt ngào như ru. Chúng ta đã thuộc nằm lòng những mẩu chuyện trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư, nhiều câu văn đã trở thành những “thành ngữ” phù hợp với những chuyện thường xẩy ra trong đời thường. Chúng ta ai cũng đã nghe và thuộc những câu “chốn quê hương đẹp hơn cả”, “ôi cảnh biệt ly sao mà buồn vậy”. Cuốn sách do các ông Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc và Đỗ Thận biên soạn thuộc “Nha Học Chính Đông Pháp” dưới thời kỳ Pháp thuộc (khoảng năm 1940) nhưng không có lấy một dòng ca tụng “mẫu quốc”, những “Liên Xô, Trung Quốc vĩ đại” như cái thời “độc lập, tự do, hạnh phúc” thời nay.

Một cuốn sách khác tuy là phát xuất từ phương trời Âu, một cuốn sách dịch, nhưng đã gây ấn tượng mạnh trong tâm hồn thơ dại của chúng tôi trong những ngày tháng cũ. Làm sao tôi quên được cái câu “Hôm nay là ngày khai trường. Mấy tháng hè trôi qua như một giấc mộng. Sáng nay mẹ tôi đưa tôi vào trường Ba Lệ Tư để ghi tên lên lớp ba...” trên bài thứ nhất viết về tháng mười của cuốn Tâm Hồn Cao Thượng do ông Hà Mai Anh dịch từ cuốn Grand Coeur của Edmond De Amicis (1846-1908). Chúng tôi biết đến cái tên Hà Mai Anh rất sớm. Mặc dầu với những cái tên phiên âm rất trúc trắc, xa lạ, tôi như đã có nhiều bạn bè quen biết với những cái tên như An Di, Phan Tín, Hạ Long như những thằng bạn cùng lớp cũng như hình ảnh của thầy Bích Niên với mái tóc bạc hay cô Đan Cát Tiên hiền lành.

Cuốn sách có mười chương, mỗi chương là một tháng học trong niên khóa, mỗi tháng có sáu câu chuyện thể ký sự của một cậu bé 11 tuổi tên An Di và một câu chuyện kể trong tháng. Những câu chuyện của An Di trong “Tâm Hồn Cao Thượng” chỉ là những câu chuyện chung quanh rất “đời thường” xẩy ra trong lớp học, ở một thành phố nhỏ tên Turin ở phía bắc nước Ý. “Tâm Hồn Cao Thượng” là những chuyện về lòng thương yêu của cha mẹï, sự tận tụy của thầy cô giáo, lòng nhân ái của con người, làm cho chúng ta xúc động có khi rơi nước mắt về những câu chuyện kể. Chúng ta đã nghe câu chuyện về những trẻ em mù, khi một em bé đã thốt lên câu nói xót xa: “Lạy trời cho tôi được mở mắt một phút thôi, để tội nhận lại mặt mẹ tôi mà tôi đã quên mất rồi!”. Cuốn “Tâm Hồn Cao Thượng” nói cho chúng ta biết hạnh phúc là gì, nói về những điều chúng ta hiện có mà chúng ta không hay. Đây chỉ là những câu chuyện kể rất bình thường, tỉ tê, dịu dàng của một người thầy nói với học trò, một người mẹ nói với con, không chỉ làm rung động những tâm hồn ấu thơ và ngay đối với những cụ già, lần giở những trang sách cũ mà không khỏi bồi hồi xúc động về những câu chuyện bình thường mà chan chứa những điều nhân nghĩa. Dù cuốn sách lấy bối cảnh của một thành phố xa xôi tận bên nước Ý, nhất là vào một thời điểm mà thế giới chưa thu hẹp như ngày nay, nhưng chúng ta vẫn thấy gần gũi với những câu chuyện “rất người”. Như nhan đề “Tâm Hồn Cao Thượng”, cuốn sách làm cho tâm hồn người đọc hướng thượng, tốt hơn, hiền hơn, biết yêu thương hơn.

Những danh từ “hy sinh”, “nghĩa hiệp”, “trách nhiệm”, “danh dự” trong “Tâm Hồn Cao Thượng” hình như chúng ta khó tìm thấy trong cái xã hội Cộng Sản đạo lý suy đồi hiện nay.

Một cuốn sách khác là cuốn thơ ngụ ngôn “ Les Fables de La Fontaine” do ông Nguyễn Văn Vĩnh dịch từ Pháp ngữ, với phần minh họa của hoạ sĩ tài hoa Mạnh Quỳnh. Chắc chắn nếu không có học gỉa Nguyễn Văn Vĩnh, thơ ngụ ngôn của thi hào La Fontaine (1612-1695) không phổ biến đến đại da số người Việt Nam trong những thập niên 40, 50. Ngày nay những lời dịch của ông Nguyễn Văn Vĩnh từ thơ La Fontaine đã thành những thành ngữ rất quen thuộc như “lý kẻ mạnh bao giờ cũng đúng”, “Con Nhái Muốn To Bằng Con Bò” , “ Con Cáo với Giàn Nho”, “Hội Đồng Chuột”, “Bán Da Gấu”, “Gà Đẻ Trứng Vàng”,“Chuyện Cô Bê Rét”...

Thơ ngụ ngôn của La Fontaine đã đưa ông lên vị trí của những nhà thơ cổ điển nước Pháp và đối với một đất nước xa xôi như Việt Nam, phải ba thế kỷ sau, đa số quần chúng tây học mới biết nhiều đến những chuyện ngụ ngôn tây phương nhờ qua những bài thơ ngụ ngôn của La Fontaine. Có những ví von, những câu nói cửa miệng chúng ta dùng ngày nay mà ít khi nghĩ đến nó phát xuất từ những chữ nghĩa mỉa mai, răn đời của nhà thơ thiên tài La Fontaine.

Ngày nay, trong hàng nghìn cuốn sách không cần đến tác quyền được in lại, những tập sách cũ này được xuất bản tại Việt Nam, nhưng nó không hề được xem như một loại sách giáo khoa hay được phụ huynh học sinh khuyến khích con em tìm đọc. Những danh từ “luân lý”, “đạo đức” nghe như ngô nghê, lỗi thời trong một xã hội vị lợi mà con người chỉ biết chạy theo đồng tiền và vật dục không lý gì đến nhân nghĩa. Đây chỉ là những cuốn sách cũ không còn được ai lưu tâm, nó nằm trong góc tối của một những nhà sách không ai buồn hỏi mua và trong tâm hồn những người của một thế hệ trước, ngày nay phần lớn không còn tồn tại trên cõi đời này nữa. Phải chăng đây là những cuốn sách dễ thương của những con người tử tế, giở lại từng trang như thấy những ngày thơ ấu xưa kia hiện về, và mặc dù ngày nay nó được in trên những trang giấy mới, bìa mới, có thể thơm mùi mực mới, nhưng đây chính là... những cuốn sách cũ trong cái “thư viện tâm hồn” cổ kính, già nua của chúng ta..

Huy Phương

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Bầu cử sơ bộ của đảng Dân Chủ:
Tại sao bà Clinton cần phải thắng lớn ở Pennsylvania?

Trần Vũ theo CSM, Apr 22, 2008


Cali Today News – Một lần nữa, bà Clinton bị đẩy vào cái thế “thắng thì ăn cả, ngã về không”. Bà phải thắng lớn cuộc bầu cử ngày hôm nay thứ ba 22/4 ở cuộc bầu Sơ bộ tại Pennsylvania và thắng đậm chừng nào tốt chừng đó.

Các nhà phân tích cho là có như thế “không khí cuộc chạy đua ở những tiểu bang cuối cùng giữa bà và ông Obama mới bùng lên mạnh mẽ”.

Cuộc thăm dò mới nhất cho thấy bà có thể thắng với tỉ số 5% cách biệt, nhưng như thế là chưa đủ. Nhưng các phụ tá của bà nói “thắng là thắng”và họ đang có kế hoạch đào sâu sự thất bại của ông Obama, nếu có.

Howard Wolfson, Giám Đốc truyền thông của nhóm phụ tá bà Clinton, nóí: “Nếu Obama thất bại, đó lại là dấu hiệu cho thấy ông ấy không sao thắng được ở các tiểu bang lớn, thì làm sao hy vọng thắng ở tháng 11, nếu ông ta được đề cử.”

Nếu bà Clinton thắng từ 10% cách biệt trở lên thì ông Obama sẽ giật mình, nhưng sau đó bà cũng cần thắng ở các tiểu bang còn lại. Bà hy vọng đạt thành tích khá trước khi thuyết phục các Siêu Đại Biểu trước khi đại hội đảng Dân chủ diễn ra.

Trước khi cuộc bầu cử Pennsylvania diễn ra, ông Obama được 1,647 phiếu, so với 1,508 phiếu của bà Clinton. Một ứng cử viên Dân Chủ phải đạt tới 2,025 phiếu mới chắc chắn được Đảng đề cử tranh chức TT Hoa Kỳ vớiù ông McCain.

Vì tiểu bang Pennsylvania có thành phần cử tri na ná Ohio, mà ở Ohio, bà Clinton thắng với 10% cách biệt nên người ta phỏng chừng ở Pennsylvania bà cũng có thể đạt thành tích tương tự, nhưng đây cũng chỉ là phỏng đoán mà thôi.

John Zogby, một chuyên gia về thăm dò, cho hay trong những ngày gần đây, số cử tri còn do dự đã ngã về phía bà Clinton và từ con số 8%, hiện nay họ chỉ chiếm 5% số cử tri.

Chúng tôi sẽ cập nhật tin tức và kết quả bầu cử trong các bản tin sắp tới.

Trần Vũ theo CSM

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

khieulong wrote:Bầu cử sơ bộ của đảng Dân Chủ:
Tại sao bà Clinton cần phải thắng lớn ở Pennsylvania?

Trần Vũ theo CSM, Apr 22, 2008


Cali Today News – Một lần nữa, bà Clinton bị đẩy vào cái thế “thắng thì ăn cả, ngã về không”. Bà phải thắng lớn cuộc bầu cử ngày hôm nay thứ ba 22/4 ở cuộc bầu Sơ bộ tại Pennsylvania và thắng đậm chừng nào tốt chừng đó.

Các nhà phân tích cho là có như thế “không khí cuộc chạy đua ở những tiểu bang cuối cùng giữa bà và ông Obama mới bùng lên mạnh mẽ”.

Cuộc thăm dò mới nhất cho thấy bà có thể thắng với tỉ số 5% cách biệt, nhưng như thế là chưa đủ. Nhưng các phụ tá của bà nói “thắng là thắng”và họ đang có kế hoạch đào sâu sự thất bại của ông Obama, nếu có.

Howard Wolfson, Giám Đốc truyền thông của nhóm phụ tá bà Clinton, nóí: “Nếu Obama thất bại, đó lại là dấu hiệu cho thấy ông ấy không sao thắng được ở các tiểu bang lớn, thì làm sao hy vọng thắng ở tháng 11, nếu ông ta được đề cử.”

Nếu bà Clinton thắng từ 10% cách biệt trở lên thì ông Obama sẽ giật mình, nhưng sau đó bà cũng cần thắng ở các tiểu bang còn lại. Bà hy vọng đạt thành tích khá trước khi thuyết phục các Siêu Đại Biểu trước khi đại hội đảng Dân chủ diễn ra.

Trước khi cuộc bầu cử Pennsylvania diễn ra, ông Obama được 1,647 phiếu, so với 1,508 phiếu của bà Clinton. Một ứng cử viên Dân Chủ phải đạt tới 2,025 phiếu mới chắc chắn được Đảng đề cử tranh chức TT Hoa Kỳ vớiù ông McCain.

Vì tiểu bang Pennsylvania có thành phần cử tri na ná Ohio, mà ở Ohio, bà Clinton thắng với 10% cách biệt nên người ta phỏng chừng ở Pennsylvania bà cũng có thể đạt thành tích tương tự, nhưng đây cũng chỉ là phỏng đoán mà thôi.

John Zogby, một chuyên gia về thăm dò, cho hay trong những ngày gần đây, số cử tri còn do dự đã ngã về phía bà Clinton và từ con số 8%, hiện nay họ chỉ chiếm 5% số cử tri.

Chúng tôi sẽ cập nhật tin tức và kết quả bầu cử trong các bản tin sắp tới.

Trần Vũ theo CSM


Tin Báo chí Mỹ cho biết bà Harry Clinton đã chiến thắng ở Pennsylvania

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

500 Người Việt tham gia biểu tình chống Rước Đuốc

Tin tức mới vừa nhận được từ thủ đô Canberra cho biết đã có khoảng 500 đồng hương Người Việt từ khắp các nơi tham gia biểu tình chống rước Đuốc thế vận cùng với đồng bào Tây tạng và Pháp Luân Công . Hiện giờ tất cả đang tập trung trước Tiền sảnh toà nhà quốc Hội Liên bang để chờ phản đối.Trong khi đó một số người trong uỷ bang thế vận Úc đang chờ ngọn Đuốc đến.Ngoài ra số người Hoa ủng hộ việc Ruốc Đuốc cũng nhiều .

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Nguyễn_Sydney wrote:500 Người Việt tham gia biểu tình chống Rước Đuốc

Tin tức mới vừa nhận được từ thủ đô Canberra cho biết đã có khoảng 500 đồng hương Người Việt từ khắp các nơi tham gia biểu tình chống rước Đuốc thế vận cùng với đồng bào Tây tạng và Pháp Luân Công . Hiện giờ tất cả đang tập trung trước Tiền sảnh toà nhà quốc Hội Liên bang để chờ phản đối.Trong khi đó một số người trong uỷ bang thế vận Úc đang chờ ngọn Đuốc đến.Ngoài ra số người Hoa ủng hộ việc Ruốc Đuốc cũng nhiều .
Image

Cờ Vàng đã bay cao hơn cờ Trung quốc trong cuộc biểu tình chống Rước Đuốc Thế vận ở Thủ đô Canberra sáng hôm nay
Tòa đại sứ Trung cộng đã tung tiền chi cho các Sinh viên Trung quốc du học xuống đường ủng hộ Rước đước Thế vận.
Nhiều hơn những người chống đối,nhưng đôi bên không có va chạm.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Nam Lộc: Người Nhạc Sĩ của Tháng Tư
Mỗi năm cứ vào dịp kỷ niệm Tháng Tư đen, thì không thể nào người ta không hát, không nghe hoặc không nhắc đến ca khúc “Sàigòn Ơi, Vĩnh Biệt” mà nhạc sĩ Nam Lộc đã sáng tác vào những ngày cuối Thu 1975.

Sàigòn ơi, tôi đã mất người trong cuộc đời,
Sàigòn ơi, thôi đã hết thời gian tuyệt vời.
Giờ còn đây, những kỷ niệm sống trong tôi,
Những nụ cười nát trên môi,
Những giọt lệ ôi sầu đắng .....!

Ôi, có mấy ai sống ở miền Nam VN mà không nhỏ những giọt lệ sầu đắng cùng anh khi nghe được nhạc phẩm này. Một ca khúc mà tác giả viết cho chính thân phận mình cùng những kẻ tha hương đồng cảnh ngộ, hay cho người ở lại đã phải chào vĩnh biệt cái tên yêu dấu của thành phố Sàigòn vào tháng Tư, 1975.

Nhưng đối với người vượt biển thì mỗi độ Tháng Tư về, họ lại nhớ đến Nam Lộc qua những lời diễn tả xót xa của thân phận thuyền nhân, cùng cái giá mà họ đã phải trả để đổi lấy hai chữ Tự Do trong bài “Xin Đời Một Nụ Cười”:

Tự Do ơi Tự Do,
Tôi trả bằng nước mắt.
Tự Do hỡi Tự Do,
Anh trao bằng máu xương.
Tự Do ơi Tự Do
Em đổi bằng thân xác.
Vì hai chữ Tự Do,
Ta mang đời lưu vong....!

Quả thật, chúng ta hãy thử hỏi xem, trong số 3 triệu người tỵ nạn VN tại hải ngoại hiện nay, có bao nhiêu người đang sống lưu vong mà không phải vì hai chữ Tự Do?

Riêng đối với những người lính thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh cùng những người tù cải tạo, và nhất là các tử sĩ QLVNCH, mà Nam Lộc gọi là “chiến hữu” thì không ai mà không nhớ đến anh qua đoản khúc cuối của nhạc phẩm “Người Di Tản Buồn”:

Cho tôi xin lại ngọn đồi,
Ở nơi tôi dừng quân cũ.
Cho tôi xin lại bờ rừng,
Nơi từng chiến đấu bên nhau.
Cho tôi xin một lần chào,
Chào bao nhiêu người đã khuất.
Xin cho tôi một mộ phần,
Bên ngàn chiến hữu cuả tôi ....!

Nam Lộc đã có lần tuyên bố, cũng chính vì những lời cam kết tâm huyết này mà anh đã bỏ hết công sức để góp phần xây dựng Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ tại Westminster, đồng thời đứng ra tổ chức hoặc tham dự vào các buổi nhạc hội ở khắp mọi nơi để gây quỹ trợ giúp Thương Phế Binh VNCH hiện đang sống vất vưởng ở quê nhà.

Tháng Tư 2008, đánh dấu 33 năm viễn xứ, người ta vẫn nhắc đến Nam Lộc. Nhiều người còn cho rằng dù 66 hay 99 năm sau, dù tình hình đất nước có thay đổi thế nào đi chăng nữa, thì cứ mỗi dịp Tháng Tư về, dòng nhạc của Nam Lộc vẫn là những viên thuốc an thần hiếm quý để xoa dịu vết thương không bao giờ lành trong khúc quanh đen tối nhất của lịch sử dân tộc Việt Nam.

Sơn Lai Khê (Cựu Trung Úy Sư Đoàn 5 Bộ Binh)
Viết tặng “chiến hữu” Nam Lộc, tháng Tư 2008

Post Reply