Quán Vắng không Người ...3
Moderator: khieulong
Nguyễn Tấn Dũng chống biểu tình
Ngô Nhân Dụng
Chỉ có vài chục ngàn người ở thành phố Salt Lake, tiểu bang Utah. Nhưng cộng đồng người Việt tại đây cũng đứng chung với các nhóm người Miến Ðiện, Tây Tạng, Sudan và các môn đồ Pháp Luân Công tổ chức một cuộc biểu tình đón “Ngọn Ðuốc Nhân Quyền” tới tiểu bang Utah trong ngày Chúa Nhật 20 Tháng Tư vừa qua.
Cuộc rước Ðuốc Nhân Quyền được tổ chức song song với cuộc rước đuốc Thế Vận Hội Bắc Kinh 2008 trong cả tháng qua, nhằm tố cáo tội diệt chủng của chính quyền Cộng Sản Trung Quốc và âm mưu của họ lợi dụng Thế Vận Hội cho mục đích chính trị. Ðuốc Thế Vận chỉ đi qua San Francisco, nhưng Ðuốc Nhân Quyền còn được đưa qua các thành phố khác ở Mỹ. Vì vậy, cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản ở Utah, các hội cựu quân nhân, cựu tù nhân chính trị, các nhóm thanh niên, sinh viên người Việt đã hợp tác với những sắc dân khác tổ chức rước đuốc. Vì tất cả đều là nạn nhân của chế độ Cộng Sản Trung Quốc. Nhiều người Mỹ đã tới dự cuộc biểu tình vì ủng hộ nhân dân Tây Tạng.
Trong một ngày giá lạnh, nhiệt độ thấp hơn độ nước đóng băng, khoảng dưới 30 độ F, đứng cho các trận gió thổi quất vào mặt, có gần 200 người đã tham dự cuộc biểu dương giá trị nhân quyền. Ông chủ tịch cộng đồng người Việt ở Utah và một phụ nữ Việt gốc Hoa đã được mời lên diễn đàn đọc những bài diễn văn ngắn trình bày tội ác của chế độ Cộng Sản Trung Quốc. Cờ Việt Nam Cộng Hòa phất phới giữa một rừng cờ Tây Tạng.
Trong lúc đó, các du học sinh Trung Quốc, được hội sinh viên của họ huy động, cũng tổ chức “chống biểu tình!”. Họ mang theo một lá cờ Trung Quốc màu đỏ rộng lớn, nhằm tạo nên hình ảnh lá cờ vĩ đại của họ khống chế tất cả những lá cờ khác.
Thành phố Salt Lake đã cho phép tổ chức cả hai cuộc biểu tình trong cùng ngày, họ đã yêu cầu hai bên đứng ở hai địa điểm cách nhau một quãng ngắn, và xếp đặt giờ khai mạc chênh lệch nhau. Nhưng cuối cùng hai nhóm, biểu tình và chống biểu tình, vẫn có dịp đứng hai bên đường nhìn nhau và cùng hô khẩu hiệu! Ðám sinh viên Trung Cộng có lúc định đem lá cờ lớn của họ sang đứng cùng những người biểu tình chống Bắc Kinh, cho ngọn cờ máu vĩ đại vượt lên cao hơn cờ nước khác. Hàng trăm cảnh sát viên của thành phố đã tạo một hàng rào ngăn giữa hai nhóm.
Có tới 200 sinh viên Trung Quốc tới phất cờ, hô khẩu hiệu chống biểu tình. Có lẽ họ đã lôi kéo được tất cả các du học sinh Trung Quốc ở thành phố này. Vì ai không đi dự “chống biểu tình” thì cha mẹ họ ở trong nước có thể sẽ bị công an mời đi “làm việc!”. Cha mẹ họ sẽ bị lối xóm phê bình, bị sách nhiễu, có thể bị mất việc làm! Chỉ có một người vắng mặt, không tới dự nhưng có lý do chính đáng, là ông Nguyễn Tấn Dũng.
Ðáng lẽ ông Nguyễn Tấn Dũng phải hiện diện ở khắp những nơi nào có biểu tình chống đuốc Thế Vận Bắc Kinh 2008. Nhưng, ai cũng biết ông Nguyễn Tấn Dũng đang bận lo bảo vệ cuộc rước đuốc Thế Vận đi qua Sài Gòn “một cách trọng thị và an toàn.” Cho nên ông Dũng được miễn chấp, không cần phải đi chống tất cả các vụ biểu tình khác. Ông Dũng đã bày tỏ lòng trung thành tận tụy, quyết tâm phấn đấu lập công với Ðảng và Ðất Nước trong lúc khó khăn này. Ðảng, ở đây, là Ðảng Cộng Sản Trung Quốc, còn Ðất Nước ở đây là nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa.
Trong lúc các sinh viên Trung Cộng đi chống biểu tình ở Utah, nước Mỹ, thì hôm Chủ Nhật vừa qua ông Nguyễn Tấn Dũng đang “chủ trì” một cuộc họp bàn chuyện “chống biểu tình” để bảo vệ ngọn đuốc thế vận của Trung Quốc. Cuộc họp gồm nhiều bộ, nhiều ngành nằm trong chính phủ Hà Nội, toàn thể cấp lãnh đạo thành phố Sài Gòn cũng được gọi ra báo cáo và nghe chỉ thị. Cuộc họp này không cần thông dịch viên, vì ai cũng biết nói tiếng Việt! Mặc dù tấm lòng mọi người đều hướng tới Bắc Kinh.
Hiện nay, chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã huy động tối đa các lực lượng công an, cảnh sát, an ninh, bảo vệ, mật vụ, thanh niên xung phong, và hàng trăm tổ chức khác đi lùng bắt mấy trăm người trong sổ đen, vì đã họ đã đi biểu tình chống Trung Quốc chiếm Hoàng Sa trong tháng 12 năm ngoái và Tháng Giêng năm nay, 2008. Chỉ tiêu được ông Nguyễn Tấn Dũng đề ra là cứ mỗi người đã biểu tình hoặc có khả năng sẽ biểu tình phải có 12 nhân viên an ninh “bảo vệ.” Câu lạc bộ Nhà Báo Tự Do đang loan tin đầy đủ những cuộc bắt bớ, hỏi cung, đe dọa những “đối tượng” này. Ông Nguyễn Tấn Dũng gọi họ là những “đối tượng xấu.” Ông dùng hai chữ “đối tượng” theo đúng lối văn công an, trong những bản báo cáo công việc làm. Gọi người ta là “đối tượng” tức là biến họ thành một vật thể, không còn phải quan tâm đến tư cách con người của họ nữa. Không coi người ta là con người thì muốn làm chi cũng được, giơ gậy lên đánh vỡ đầu cũng không thấy gớm tay, và khỏi thắc mắc về chuyện nhân quyền!
Cho nên, trong vụ công an đánh biểu tình trước cửa Tòa Tổng Lãnh Sự Trung Quốc ba tháng trước, có một sinh viên Việt Nam bị công an đánh đập, không cho anh đi biểu tình đòi các đảo Hoàng Sa, anh sinh viên đã ngạc nhiên hỏi anh công an rằng: “Anh không biết ngượng à?”. Tất nhiên, anh công an cũng ngạc nhiên không kém, Tại sao lại phải ngượng? Ðảng và nhà nước bảo đánh các đối tượng là ta đánh, sao lại ngượng?
Những nhà báo tự do như anh Hoàng Hải, tức Ðiếu Cầy, đã phải bỏ trốn khỏi Sài Gòn, nhưng vẫn bị bắt ở Ðà Lạt. Công an đe dọa những người đang thuê nhà của gia đình anh Ðiếu Cầy, bảo họ bỏ đi, để gia đình anh mất nguồn lợi tức đủ sống. Những thành viên của trang mạng lưới x-cafevn đã bị công an gọi lên thẩm vấn, máy vi tính bị tịch thu, bắt ký tên giấy cam kết không cộng tác với mạng lưới của các bạn trẻ dũng cảm này! Một blogger (người mở mạng lưới blog riêng) là Luật Sư Phan Thanh Hải thì đi thuê nhà ở đâu cũng bị chủ nhà xé hợp đồng, vì chính các chủ nhà bị công an đe dọa. Các chủ nhà được báo cho biết anh Hải là “đối tượng phản động bị theo dõi đặc biệt!”
Nhà thơ Bùi Chát cũng bị chủ nhà dọa đuổi đi, vì đã viết trên các mạng lưới bày tỏ ý kiến khác với lập trường của Bắc Kinh. Bà mẹ của blogger khác là Uyên Vũ, mặc dù đã 80 tuổi và mắt lòa, vẫn bị công an đến dọa nạt và “dạy” cho cụ bà một bài học về cách dạy con ngoan ngoãn với Ðảng và nhà nước, nước Trung Hoa cũng như nước Việt Nam. Trong khi đó, ông Nguyễn Tấn Dũng vẫn lên đài BBC tuyên bố ở nước Việt Nam không có người nào đối lập, vì chỉ có các “đối tượng” thôi!
Nhưng công an sẽ còn phải đối phó với những “đối tượng” khác, ngày càng đông hơn. Sinh viên Lê Minh Phiếu, người đang du học ở Bordeaux và được hãng Sam Sung cử ra cầm đuốc thế vận cho họ, đã trở về Sài Gòn và bị công an hỏi cung ngay. Anh là người Việt Nam đầu tiên viết thư gửi tổ chức Thế Vận quốc tế phản đối chính quyền Bắc Kinh lợi dụng những tấm bản đồ quảng cáo Thế Vận Hội 2008 và cuộc rước đuốc Thế Vận để chính thức hóa việc họ chiếm các đảo Hoàng Sa và Trường Sa của nước ta. Công an của ông Nguyễn Tấn Dũng chắc sẽ hỏi thăm anh Lê Trung Thành, một sinh viên Việt Nam đang ở Ðài Loan. Anh Thành đã bay sang Bangkock một mình đi tham dự biểu tình cùng những người Tây Tạng, người Thái Lan, để nhân dịp này trưng ra biểu ngữ đòi Hoàng Sa và Trường Sa trả về Việt Nam!
Nhưng ngày 29 Tháng Tư sắp tới, ông Nguyễn Tấn Dũng đã ra lệnh phải “triển khai tổ chức cuộc lễ rước đuốc một cách trọng thị và an toàn.” An toàn thì tương đối dễ. Công an Trung Quốc và công an người Việt sẽ tạo thành hàng rào dầy đặc bảo vệ cho ngọn đuốc an toàn. Nhưng làm sao để cho nó “trọng thị”? Hai chữ này, nói lối tiếng Việt Nam thì ta nói là “long trọng.” Khi ông thủ tướng nước Việt Nam dùng hai chữ “trọng thị” thì ta hiểu là hai chữ đó đã được dùng trong chỉ thị từ Bắc Kinh. Dùng nguyên những tiếng mà “đồng chí vĩ đại” sử dụng, cũng là một cách tỏ lòng tôn kính. Vừa long trọng lại vừa kính cẩn, như vậy mới thật là trọng thị.
Muốn cho cuộc rước đuốc “trọng thị,” thì ngày 29 Tháng Tư này, ở thành phố Sài Gòn, không ai được nhổ nước bọt ngoài đường. Trẻ em không được mặc quần hổng đít. Phụ nữ phải đeo sú chiêng. Ăn mày phải sơ tán, nếu ở lại thành phố thì không được mặc áo rách. Ðàn ông không được đứng gốc cây mà tiểu tiện. Ðó là những chỉ thị đã được đưa ra cho áp dụng ở Bắc Kinh, Sài Gòn cứ thế mà noi theo.
Nếu các chỉ thị đó được áp dụng đầy đủ ở Việt Nam, các chiến sĩ công an sẵn sàng hy sinh vì tổ quốc (Trung Hoa) và quyết lập công dâng lên Ðảng (Cộng Sản Trung Quốc), thì chắc chắn ngày 29 này cuộc lễ rước đuốc sẽ trọng thị và an toàn! Sài Gòn theo sau Bình Nhưỡng, sẽ là những thành phố gương mẫu, được khen thưởng với tình hữu nghị đặc biệt! Sau khi các lực lượng cảnh sát công an hoàn tất nhiệm vụ lịch sử mà Ðảng (như trên) và nhà nước (cũng như trên) giao phó, ngày hôm sau Tòa Ðại Sứ Trung Quốc ở Hà Nội sẽ đãi tiệc ăn mừng thắng lợi. Ông Nguyễn Tấn Dũng có thể cao hứng nâng ly rượu cất tiếng hát to: “Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng!” Bác Hồ Cẩm Ðào không có mặt vì đang mắc bận ở Bắc Kinh, nhưng chắc chắn bác sẽ ghi công, và sẽ có thưởng!
Ngô Nhân Dụng
Chỉ có vài chục ngàn người ở thành phố Salt Lake, tiểu bang Utah. Nhưng cộng đồng người Việt tại đây cũng đứng chung với các nhóm người Miến Ðiện, Tây Tạng, Sudan và các môn đồ Pháp Luân Công tổ chức một cuộc biểu tình đón “Ngọn Ðuốc Nhân Quyền” tới tiểu bang Utah trong ngày Chúa Nhật 20 Tháng Tư vừa qua.
Cuộc rước Ðuốc Nhân Quyền được tổ chức song song với cuộc rước đuốc Thế Vận Hội Bắc Kinh 2008 trong cả tháng qua, nhằm tố cáo tội diệt chủng của chính quyền Cộng Sản Trung Quốc và âm mưu của họ lợi dụng Thế Vận Hội cho mục đích chính trị. Ðuốc Thế Vận chỉ đi qua San Francisco, nhưng Ðuốc Nhân Quyền còn được đưa qua các thành phố khác ở Mỹ. Vì vậy, cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản ở Utah, các hội cựu quân nhân, cựu tù nhân chính trị, các nhóm thanh niên, sinh viên người Việt đã hợp tác với những sắc dân khác tổ chức rước đuốc. Vì tất cả đều là nạn nhân của chế độ Cộng Sản Trung Quốc. Nhiều người Mỹ đã tới dự cuộc biểu tình vì ủng hộ nhân dân Tây Tạng.
Trong một ngày giá lạnh, nhiệt độ thấp hơn độ nước đóng băng, khoảng dưới 30 độ F, đứng cho các trận gió thổi quất vào mặt, có gần 200 người đã tham dự cuộc biểu dương giá trị nhân quyền. Ông chủ tịch cộng đồng người Việt ở Utah và một phụ nữ Việt gốc Hoa đã được mời lên diễn đàn đọc những bài diễn văn ngắn trình bày tội ác của chế độ Cộng Sản Trung Quốc. Cờ Việt Nam Cộng Hòa phất phới giữa một rừng cờ Tây Tạng.
Trong lúc đó, các du học sinh Trung Quốc, được hội sinh viên của họ huy động, cũng tổ chức “chống biểu tình!”. Họ mang theo một lá cờ Trung Quốc màu đỏ rộng lớn, nhằm tạo nên hình ảnh lá cờ vĩ đại của họ khống chế tất cả những lá cờ khác.
Thành phố Salt Lake đã cho phép tổ chức cả hai cuộc biểu tình trong cùng ngày, họ đã yêu cầu hai bên đứng ở hai địa điểm cách nhau một quãng ngắn, và xếp đặt giờ khai mạc chênh lệch nhau. Nhưng cuối cùng hai nhóm, biểu tình và chống biểu tình, vẫn có dịp đứng hai bên đường nhìn nhau và cùng hô khẩu hiệu! Ðám sinh viên Trung Cộng có lúc định đem lá cờ lớn của họ sang đứng cùng những người biểu tình chống Bắc Kinh, cho ngọn cờ máu vĩ đại vượt lên cao hơn cờ nước khác. Hàng trăm cảnh sát viên của thành phố đã tạo một hàng rào ngăn giữa hai nhóm.
Có tới 200 sinh viên Trung Quốc tới phất cờ, hô khẩu hiệu chống biểu tình. Có lẽ họ đã lôi kéo được tất cả các du học sinh Trung Quốc ở thành phố này. Vì ai không đi dự “chống biểu tình” thì cha mẹ họ ở trong nước có thể sẽ bị công an mời đi “làm việc!”. Cha mẹ họ sẽ bị lối xóm phê bình, bị sách nhiễu, có thể bị mất việc làm! Chỉ có một người vắng mặt, không tới dự nhưng có lý do chính đáng, là ông Nguyễn Tấn Dũng.
Ðáng lẽ ông Nguyễn Tấn Dũng phải hiện diện ở khắp những nơi nào có biểu tình chống đuốc Thế Vận Bắc Kinh 2008. Nhưng, ai cũng biết ông Nguyễn Tấn Dũng đang bận lo bảo vệ cuộc rước đuốc Thế Vận đi qua Sài Gòn “một cách trọng thị và an toàn.” Cho nên ông Dũng được miễn chấp, không cần phải đi chống tất cả các vụ biểu tình khác. Ông Dũng đã bày tỏ lòng trung thành tận tụy, quyết tâm phấn đấu lập công với Ðảng và Ðất Nước trong lúc khó khăn này. Ðảng, ở đây, là Ðảng Cộng Sản Trung Quốc, còn Ðất Nước ở đây là nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa.
Trong lúc các sinh viên Trung Cộng đi chống biểu tình ở Utah, nước Mỹ, thì hôm Chủ Nhật vừa qua ông Nguyễn Tấn Dũng đang “chủ trì” một cuộc họp bàn chuyện “chống biểu tình” để bảo vệ ngọn đuốc thế vận của Trung Quốc. Cuộc họp gồm nhiều bộ, nhiều ngành nằm trong chính phủ Hà Nội, toàn thể cấp lãnh đạo thành phố Sài Gòn cũng được gọi ra báo cáo và nghe chỉ thị. Cuộc họp này không cần thông dịch viên, vì ai cũng biết nói tiếng Việt! Mặc dù tấm lòng mọi người đều hướng tới Bắc Kinh.
Hiện nay, chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã huy động tối đa các lực lượng công an, cảnh sát, an ninh, bảo vệ, mật vụ, thanh niên xung phong, và hàng trăm tổ chức khác đi lùng bắt mấy trăm người trong sổ đen, vì đã họ đã đi biểu tình chống Trung Quốc chiếm Hoàng Sa trong tháng 12 năm ngoái và Tháng Giêng năm nay, 2008. Chỉ tiêu được ông Nguyễn Tấn Dũng đề ra là cứ mỗi người đã biểu tình hoặc có khả năng sẽ biểu tình phải có 12 nhân viên an ninh “bảo vệ.” Câu lạc bộ Nhà Báo Tự Do đang loan tin đầy đủ những cuộc bắt bớ, hỏi cung, đe dọa những “đối tượng” này. Ông Nguyễn Tấn Dũng gọi họ là những “đối tượng xấu.” Ông dùng hai chữ “đối tượng” theo đúng lối văn công an, trong những bản báo cáo công việc làm. Gọi người ta là “đối tượng” tức là biến họ thành một vật thể, không còn phải quan tâm đến tư cách con người của họ nữa. Không coi người ta là con người thì muốn làm chi cũng được, giơ gậy lên đánh vỡ đầu cũng không thấy gớm tay, và khỏi thắc mắc về chuyện nhân quyền!
Cho nên, trong vụ công an đánh biểu tình trước cửa Tòa Tổng Lãnh Sự Trung Quốc ba tháng trước, có một sinh viên Việt Nam bị công an đánh đập, không cho anh đi biểu tình đòi các đảo Hoàng Sa, anh sinh viên đã ngạc nhiên hỏi anh công an rằng: “Anh không biết ngượng à?”. Tất nhiên, anh công an cũng ngạc nhiên không kém, Tại sao lại phải ngượng? Ðảng và nhà nước bảo đánh các đối tượng là ta đánh, sao lại ngượng?
Những nhà báo tự do như anh Hoàng Hải, tức Ðiếu Cầy, đã phải bỏ trốn khỏi Sài Gòn, nhưng vẫn bị bắt ở Ðà Lạt. Công an đe dọa những người đang thuê nhà của gia đình anh Ðiếu Cầy, bảo họ bỏ đi, để gia đình anh mất nguồn lợi tức đủ sống. Những thành viên của trang mạng lưới x-cafevn đã bị công an gọi lên thẩm vấn, máy vi tính bị tịch thu, bắt ký tên giấy cam kết không cộng tác với mạng lưới của các bạn trẻ dũng cảm này! Một blogger (người mở mạng lưới blog riêng) là Luật Sư Phan Thanh Hải thì đi thuê nhà ở đâu cũng bị chủ nhà xé hợp đồng, vì chính các chủ nhà bị công an đe dọa. Các chủ nhà được báo cho biết anh Hải là “đối tượng phản động bị theo dõi đặc biệt!”
Nhà thơ Bùi Chát cũng bị chủ nhà dọa đuổi đi, vì đã viết trên các mạng lưới bày tỏ ý kiến khác với lập trường của Bắc Kinh. Bà mẹ của blogger khác là Uyên Vũ, mặc dù đã 80 tuổi và mắt lòa, vẫn bị công an đến dọa nạt và “dạy” cho cụ bà một bài học về cách dạy con ngoan ngoãn với Ðảng và nhà nước, nước Trung Hoa cũng như nước Việt Nam. Trong khi đó, ông Nguyễn Tấn Dũng vẫn lên đài BBC tuyên bố ở nước Việt Nam không có người nào đối lập, vì chỉ có các “đối tượng” thôi!
Nhưng công an sẽ còn phải đối phó với những “đối tượng” khác, ngày càng đông hơn. Sinh viên Lê Minh Phiếu, người đang du học ở Bordeaux và được hãng Sam Sung cử ra cầm đuốc thế vận cho họ, đã trở về Sài Gòn và bị công an hỏi cung ngay. Anh là người Việt Nam đầu tiên viết thư gửi tổ chức Thế Vận quốc tế phản đối chính quyền Bắc Kinh lợi dụng những tấm bản đồ quảng cáo Thế Vận Hội 2008 và cuộc rước đuốc Thế Vận để chính thức hóa việc họ chiếm các đảo Hoàng Sa và Trường Sa của nước ta. Công an của ông Nguyễn Tấn Dũng chắc sẽ hỏi thăm anh Lê Trung Thành, một sinh viên Việt Nam đang ở Ðài Loan. Anh Thành đã bay sang Bangkock một mình đi tham dự biểu tình cùng những người Tây Tạng, người Thái Lan, để nhân dịp này trưng ra biểu ngữ đòi Hoàng Sa và Trường Sa trả về Việt Nam!
Nhưng ngày 29 Tháng Tư sắp tới, ông Nguyễn Tấn Dũng đã ra lệnh phải “triển khai tổ chức cuộc lễ rước đuốc một cách trọng thị và an toàn.” An toàn thì tương đối dễ. Công an Trung Quốc và công an người Việt sẽ tạo thành hàng rào dầy đặc bảo vệ cho ngọn đuốc an toàn. Nhưng làm sao để cho nó “trọng thị”? Hai chữ này, nói lối tiếng Việt Nam thì ta nói là “long trọng.” Khi ông thủ tướng nước Việt Nam dùng hai chữ “trọng thị” thì ta hiểu là hai chữ đó đã được dùng trong chỉ thị từ Bắc Kinh. Dùng nguyên những tiếng mà “đồng chí vĩ đại” sử dụng, cũng là một cách tỏ lòng tôn kính. Vừa long trọng lại vừa kính cẩn, như vậy mới thật là trọng thị.
Muốn cho cuộc rước đuốc “trọng thị,” thì ngày 29 Tháng Tư này, ở thành phố Sài Gòn, không ai được nhổ nước bọt ngoài đường. Trẻ em không được mặc quần hổng đít. Phụ nữ phải đeo sú chiêng. Ăn mày phải sơ tán, nếu ở lại thành phố thì không được mặc áo rách. Ðàn ông không được đứng gốc cây mà tiểu tiện. Ðó là những chỉ thị đã được đưa ra cho áp dụng ở Bắc Kinh, Sài Gòn cứ thế mà noi theo.
Nếu các chỉ thị đó được áp dụng đầy đủ ở Việt Nam, các chiến sĩ công an sẵn sàng hy sinh vì tổ quốc (Trung Hoa) và quyết lập công dâng lên Ðảng (Cộng Sản Trung Quốc), thì chắc chắn ngày 29 này cuộc lễ rước đuốc sẽ trọng thị và an toàn! Sài Gòn theo sau Bình Nhưỡng, sẽ là những thành phố gương mẫu, được khen thưởng với tình hữu nghị đặc biệt! Sau khi các lực lượng cảnh sát công an hoàn tất nhiệm vụ lịch sử mà Ðảng (như trên) và nhà nước (cũng như trên) giao phó, ngày hôm sau Tòa Ðại Sứ Trung Quốc ở Hà Nội sẽ đãi tiệc ăn mừng thắng lợi. Ông Nguyễn Tấn Dũng có thể cao hứng nâng ly rượu cất tiếng hát to: “Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng!” Bác Hồ Cẩm Ðào không có mặt vì đang mắc bận ở Bắc Kinh, nhưng chắc chắn bác sẽ ghi công, và sẽ có thưởng!
Trung Tướng Dư Quốc Ðống
Tướng Dư Quốc Đống sinh Tháng 12 năm 1932 tại Minh Lương tỉnh Rạch Giá, Khi còn nhỏ theo học tại trường Tư thục Võ Thành Trứ về sau lên Sài Gòn học tại tư thục Guillerault trên đường Chasseloup Laubat ( Hồng Thập Tự )
Gia nhâp quân đội khóa 5 Hoàng Diệu, Trường Vỏ Bị Quốc Gia Việt Nam khai giảng vào tháng 7/1951 và mãn khóa ngày 24/4/1952. Sau khi tốt nghiệp Ông được đưa về phục vụ tại Tiểu Đoàn 4 Vệ Binh Sơn Cước tai Pleiku đến một năm sau mới tình nguyện thuyên chuyển về Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù.
Khi về Nhảy Dù, Thiếu Úy Dư Quốc Đống giữ chức vụ Trung Đội Trưởng Tiểu Đoàn 1 ND dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tá Vũ Quang Tài, Tiểu Đoàn Trưởng.
Năm 1954, Ông được thăng cấp Trung Úy và giữ chức vụ Đại Đội Trưởng khi tham gia chiến dịch càn quét lực lượng Binh Xuyên ra khỏi Đô Thành Sài Gòn năm 1955. Sau trận nầy Ông được thăng cấp đặc cách Đại Úy nhiệm chức.
Cũng trong năm nầy, Thiếu Tá Vũ Quang Tài giao quyền chỉ huy Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù cho Đại Úy Trần Văn Đô làm Tiểu Đoàn Trưởng, Ông được chỉ định làm Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù. Trong lúc nầy có một khoảng thời gian ngắn ông được chỉ định xử lý thường vụ Tiểu Đoàn Trưởng TĐ6ND trước khi Đại Úy Đổ Kế Giai về nhiệm chức Tiểu Đoàn Trưởng TĐ6ND.
Năm 1957, Ông được Đại Tá Nguyễn Chánh Thi Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhảy Dù chỉ định làm Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm huấn luyện đào tạo Hạ Sĩ Quan Nhảy Dù với các bằng CC1, CC2 (Chứng Chỉ năng lực tác chiến). Đến năm 1959 ông được đề cử giữ chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng TĐ1ND.
Năm 1958 ông được bổ nhiệm chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù .
Đến năm 1959 ông thuyên chuyển về giữ chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng TĐ1ND. Ngày đảo chánh Tổng Thống Ngô Đình Diệm 11/11/1960 do nhóm Vương Văn Đông chủ trương ông không có mặt tại Tiểu Đoàn.
Tháng 6 / 1961, sau chiến thắng Kiến Phong ( trận Ấp Mỹ Qúi ) tất cả quân nhân của TĐ1ND đều được đặc cách thăng một cấp và ông được thăng cắp Thiếu Tá tại mặt trận.
Đến năm 1962, chiến cuộc ngày càng gia tăng, và theo nhu cầu phát triển của Quân Đội, Lữ Đoàn Nhảy Dù thành lập hai Chiến Đoàn 1 và Chiến Đoàn 2; ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Chiến Đoàn Trưởng đầu tiên của Chiền Đoàn 1 Nhảy Dù và cũng là tiền thân của Lữ Đoàn 1 thuộc Sư Đoàn Nhảy Dù sau nầy.
Sau chiến thắng trận Tân Châu Hồng Ngự, Thiếu Tướng Cao Văn Viên Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhảy Dù được đề bạt làm Tham Mưu Trưởng Liên Quân tại Bộ TTM/QLVNCH. Trong buổi lể bàn giao, Thiếu Tướng Viên đã trao gắng cấp bậc Đại Tá và trao Quyền Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhảy Dù lại cho ông vào ngày 19/6/1964.
Đầu tháng 11/1964, ông được vinh thăng Chuẩn Tướng, chính thức nhậm chức Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhảy Dù. Ngày Quân Lực 19 tháng 6/1966, ông được vinh thăng Thiếu tướng, và đến Tháng 7 năm 1970, ông được thăng cấp Trung Tướng.
Tướng Dư Quốc Đông có vóc dáng uy nghi, mày rậm, mắt to, cử chỉ hiên ngang. Ông là một sĩ quan can đảm, tài ba, đã từng trải qua nhiều trận chiến ác liệt trên khắp bốn Vùng Chiến Thuật. Ngoài tài hành quân tác chiến, Tướng Đống còn là một người rất nghĩa khí.
Có lần trong cuộc họp Đại Hội Đồng Quân Lực ngày 10/3/1966 dưới sự chủ tọa của Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ Tịch Ủy Ban Lảnh Đạo Quốc Gia để bầu phiếu buộc tội Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi về việc dung túng những thành phần quá khích ở Vùng I Chiến Thuật, họ biểu tình phản kháng lại Chính Phủ Trung Ương. Hầu hết Tướng lãnh đều bỏ phiếu thuận, chỉ có một phiếu trắng; Trung Tướng Nguyễn Hữu Có đẩy ghế đứng dậy lên tiếng :
-Trong phòng họp nầy, Chúng ta là những người có trách nhiệm trong Đại Hội Đồng với tư cách thay mặt toàn quân, bỏ phiếu thuận hay không thuận, bỏ phiếu trắng trong trường hợp nầy là “lưng chừng” không dứt khoát lập trường. Vậy ai là người bỏ phiếu trắng nên giải thích cho anh em rõ.
Chuẩn Tướng Dư Quốc Đống đứng lên nói:
- Kính thưa Trung Tướng Chủ Tịch Ủy Ban Lảnh Đạo Quốc Gia, kính thưa qúy vị, tôi là người bỏ phiếu trắng đó. Trung Tướng Thi đã một thời là cấp chỉ huy của tôi trong binh chủng Nhảy Dù nên tôi không thể hành động chống lại Trung Tướng Thi, tôi vẫn biết rằng hành động của tôi không làm thay đổi được quyết định chung cuộc, nhưng tôi vẫn làm vì lẻ đó. Và nếu sau nầy có điều gì xảy ra với Trung Tướng Viên tôi vẫn hành động như tôi vừa làm. Và bây giờ qúi vị toàn quyền quyết định về tôi : “ở hay ra khỏi Nhảy Dù, tôi thi hành ngay” xin cảm ơn qúy vị.
Các tướng lãnh, trong đó có Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Trung Tướng Cao Văn Viên, Trung Tướng Nguyễn Hữu Có ,,, nghe lời nói khí khái hùng hồn của ông ai cũng mến phục (Tướng Thi, Tướng Viên nguyên là Tư Lệnh tiền nhiệm của Sư Đoàn Dù).
Tướng Đống rất thương yêu binh sĩ, nhưng ông lại rất khắt khe với các sĩ quan cao cấp, các vị Tư Lệnh Phó, Lữ Đoàn Trưởng, Trưởng Phòng, Tiểu Đoàn Trưởng rất nể sợ ông. Các sĩ quan cấp tá trở lên mới bị Tướng Đống quở trách, đối với cấp Úy thì ông không nói gì. Nhưng với anh em binh sĩ, ông hết sức nhỏ nhẹ, cặp mắt luôn luôn nhìn họ một cách hiền từ, trìu mến. Ông nghĩ họ là thành phần cực khổ và chịu nguy hiểm nhiều nhất, ông muốn yểm trợ giúp đỡ thật nhiều cho binh sĩ và gia đình họ, giống như người cha lo lắng cho đứa con thân yêu của mình vậy.
Tướng Đống là Tư Lệnh thứ tư của Sư Đoàn Nhảy Dù (từ 1964-1972, sau Đại Tướng Đỗ Cao Trí, Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi, Đại Tướng Cao Văn Viên). Trong binh chủng Dù, ông phục vụ lâu năm nhất, chỉ huy từ cấp Trung Đội Trưởng và không hề có thời gian gián đoạn chỉ huy so với các Tư Lệnh khác.
Thời gian ông chỉ huy SĐND là lúc chiến tranh Việt Nam lên tới cực điểm khốc liệt nhất, những trận đánh dữ dội không giản dị như thời còn quân đội Pháp. Nhiều trận giao tranh ở cấp Sư đoàn và phối hợp hành quân tác chiến với các quân binh chủng khác. Dưới quyền lãnh đạo của Tướng Đống, lực lượng Nhảy Dù đã không những mang lại nhiều chiến thắng mà còn làm cho quân lực Đồng Minh phải ngưỡng mộ. Đại Tướng Lindsay, nguyên là cựu cố vấn TĐ8ND đã nói: "Những chiến thắng gần đây ở Grenada và kinh đào Panama do Nhảy Dù Mỹ đem lại chính là chúng tôi đã học hỏi nhiều kinh nghiệm tác chiến của Nhảy Dù Việt Nam..."
Dưới quyền Tướng Đống, binh chủng Dù từ cấp Lữ Đoàn đã trở thành cấp Sư Đoàn, với quân số trên dưới 12.700 gồm 9 tiểu đoàn tác chiến và ba tiểu đoàn pháo binh. Cũng như vị tiền nhiệm là Đại Tướng Trí, người chỉ huy Dù dẹp loạn Bình Xuyên, lúc Thủ Tướng Diệm mới cầm quyền, Tướng Đống chỉ huy SĐND lập nhiều công lớn trong Tết Mậu Thân, trận Ia Drang, Đồi 1416 ở Dakto, cuộc tiến quân sang Kampuchia, trận Hạ Lào, trận An Lộc...
Sau khi bàn giao chức vụ Tư Lệnh Nhảy Dù lại cho Tướng Lê Quang Lưỡng vào cuối năm 1972, ông được Tổng Thống Thiệu đề cử làm Trưởng đoàn thương thuyết trong Ủy Ban Liên Hơp Quân Sự bốn bên thay thế Tướng Ngô Dzu vào ngày 2/2/1973.
Tháng 11 năm 1973 ông nhận chức vụ Chỉ Huy Trưởng Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế Nha Trang.
Tháng 11 năm 1974, Trung Tướng Dư Quốc Đống được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cử giữ chức Tư Lệnh Quân Ðoàn 3/Quân Khu 3 thay thế Trung Tướng Phạm Quốc Thuần được hoán nhiệm chức vụ để giữ chức chỉ huy trưởng Trường Hạ Sĩ quan Nha Trang mà tướng Đống đảm nhiệm .
Ba tháng sau đó, ông đã xin từ nhiệm, sau khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu bác bỏ lời yêu cầu của ông gởi quân tăng viện đến mặt trận Phước Long là cửa ngõ dẫn vào tới Sài Gòn, mà sau đó đã bị quân Cộng Sản Bắc Việt tràn ngập.
Tướng Ðống không còn giữ chức vụ nào nữa cho đến khi ông phải rời Sài Gòn vào ngày 29 Tháng Tư, sau khi nhận thức rằng miền Nam Việt Nam khó có thể đối phó được với cuộc tổng tấn công xâm lược của quân Cộng Sản Bắc Việt, và Sài Gòn đã thất thủ một ngày sau đó.
Sau khi đến định cư tại Hoa Kỳ, Tướng Ðống đã có một cuộc sống kín đáo, giản dị, ít khi xuất hiện trước đám đông, và ngay trong gia đình ông cũng ít kể lại chuyện chiến tranh, những chiến công của ông.
Trung Tướng Dư Quốc Ðống qua đời vào lúc 3 giờ chiều ngày Thứ Ba 22/4/2008 tại Huntington Beach California hưởng thọ 76 tuổi.
Tài liệu tham khảo :
- Tướng Đống Bàn về Tình Hình Quân Sự Tháng Giêng Năm 1975 tại QĐIII (Thông Tin Tình Báo CIA)tre6n trang nhà /www.generalhieu.com
- Đôi dòng ghi nhớ hồi ký của Phạm Bá Hoa.
- Ph ỏng vấn các Niên Trưởng Tạ Thái Bình, Nguyễn Phẫm Bường, Nguyễn Tự Bảo, Lê Văn Phát, Đàm Trọng Toàn…
- Một Cánh Hoa Dù của. Trương Dưỡng
- Phỏng vấn trực tiếp các chiến hữu trong SĐND.
Võ Trung Tín & Nguyễn Hữu Viên
Tướng Dư Quốc Đống sinh Tháng 12 năm 1932 tại Minh Lương tỉnh Rạch Giá, Khi còn nhỏ theo học tại trường Tư thục Võ Thành Trứ về sau lên Sài Gòn học tại tư thục Guillerault trên đường Chasseloup Laubat ( Hồng Thập Tự )
Gia nhâp quân đội khóa 5 Hoàng Diệu, Trường Vỏ Bị Quốc Gia Việt Nam khai giảng vào tháng 7/1951 và mãn khóa ngày 24/4/1952. Sau khi tốt nghiệp Ông được đưa về phục vụ tại Tiểu Đoàn 4 Vệ Binh Sơn Cước tai Pleiku đến một năm sau mới tình nguyện thuyên chuyển về Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù.
Khi về Nhảy Dù, Thiếu Úy Dư Quốc Đống giữ chức vụ Trung Đội Trưởng Tiểu Đoàn 1 ND dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tá Vũ Quang Tài, Tiểu Đoàn Trưởng.
Năm 1954, Ông được thăng cấp Trung Úy và giữ chức vụ Đại Đội Trưởng khi tham gia chiến dịch càn quét lực lượng Binh Xuyên ra khỏi Đô Thành Sài Gòn năm 1955. Sau trận nầy Ông được thăng cấp đặc cách Đại Úy nhiệm chức.
Cũng trong năm nầy, Thiếu Tá Vũ Quang Tài giao quyền chỉ huy Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù cho Đại Úy Trần Văn Đô làm Tiểu Đoàn Trưởng, Ông được chỉ định làm Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù. Trong lúc nầy có một khoảng thời gian ngắn ông được chỉ định xử lý thường vụ Tiểu Đoàn Trưởng TĐ6ND trước khi Đại Úy Đổ Kế Giai về nhiệm chức Tiểu Đoàn Trưởng TĐ6ND.
Năm 1957, Ông được Đại Tá Nguyễn Chánh Thi Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhảy Dù chỉ định làm Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm huấn luyện đào tạo Hạ Sĩ Quan Nhảy Dù với các bằng CC1, CC2 (Chứng Chỉ năng lực tác chiến). Đến năm 1959 ông được đề cử giữ chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng TĐ1ND.
Năm 1958 ông được bổ nhiệm chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù .
Đến năm 1959 ông thuyên chuyển về giữ chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng TĐ1ND. Ngày đảo chánh Tổng Thống Ngô Đình Diệm 11/11/1960 do nhóm Vương Văn Đông chủ trương ông không có mặt tại Tiểu Đoàn.
Tháng 6 / 1961, sau chiến thắng Kiến Phong ( trận Ấp Mỹ Qúi ) tất cả quân nhân của TĐ1ND đều được đặc cách thăng một cấp và ông được thăng cắp Thiếu Tá tại mặt trận.
Đến năm 1962, chiến cuộc ngày càng gia tăng, và theo nhu cầu phát triển của Quân Đội, Lữ Đoàn Nhảy Dù thành lập hai Chiến Đoàn 1 và Chiến Đoàn 2; ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Chiến Đoàn Trưởng đầu tiên của Chiền Đoàn 1 Nhảy Dù và cũng là tiền thân của Lữ Đoàn 1 thuộc Sư Đoàn Nhảy Dù sau nầy.
Sau chiến thắng trận Tân Châu Hồng Ngự, Thiếu Tướng Cao Văn Viên Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhảy Dù được đề bạt làm Tham Mưu Trưởng Liên Quân tại Bộ TTM/QLVNCH. Trong buổi lể bàn giao, Thiếu Tướng Viên đã trao gắng cấp bậc Đại Tá và trao Quyền Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhảy Dù lại cho ông vào ngày 19/6/1964.
Đầu tháng 11/1964, ông được vinh thăng Chuẩn Tướng, chính thức nhậm chức Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhảy Dù. Ngày Quân Lực 19 tháng 6/1966, ông được vinh thăng Thiếu tướng, và đến Tháng 7 năm 1970, ông được thăng cấp Trung Tướng.
Tướng Dư Quốc Đông có vóc dáng uy nghi, mày rậm, mắt to, cử chỉ hiên ngang. Ông là một sĩ quan can đảm, tài ba, đã từng trải qua nhiều trận chiến ác liệt trên khắp bốn Vùng Chiến Thuật. Ngoài tài hành quân tác chiến, Tướng Đống còn là một người rất nghĩa khí.
Có lần trong cuộc họp Đại Hội Đồng Quân Lực ngày 10/3/1966 dưới sự chủ tọa của Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ Tịch Ủy Ban Lảnh Đạo Quốc Gia để bầu phiếu buộc tội Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi về việc dung túng những thành phần quá khích ở Vùng I Chiến Thuật, họ biểu tình phản kháng lại Chính Phủ Trung Ương. Hầu hết Tướng lãnh đều bỏ phiếu thuận, chỉ có một phiếu trắng; Trung Tướng Nguyễn Hữu Có đẩy ghế đứng dậy lên tiếng :
-Trong phòng họp nầy, Chúng ta là những người có trách nhiệm trong Đại Hội Đồng với tư cách thay mặt toàn quân, bỏ phiếu thuận hay không thuận, bỏ phiếu trắng trong trường hợp nầy là “lưng chừng” không dứt khoát lập trường. Vậy ai là người bỏ phiếu trắng nên giải thích cho anh em rõ.
Chuẩn Tướng Dư Quốc Đống đứng lên nói:
- Kính thưa Trung Tướng Chủ Tịch Ủy Ban Lảnh Đạo Quốc Gia, kính thưa qúy vị, tôi là người bỏ phiếu trắng đó. Trung Tướng Thi đã một thời là cấp chỉ huy của tôi trong binh chủng Nhảy Dù nên tôi không thể hành động chống lại Trung Tướng Thi, tôi vẫn biết rằng hành động của tôi không làm thay đổi được quyết định chung cuộc, nhưng tôi vẫn làm vì lẻ đó. Và nếu sau nầy có điều gì xảy ra với Trung Tướng Viên tôi vẫn hành động như tôi vừa làm. Và bây giờ qúi vị toàn quyền quyết định về tôi : “ở hay ra khỏi Nhảy Dù, tôi thi hành ngay” xin cảm ơn qúy vị.
Các tướng lãnh, trong đó có Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Trung Tướng Cao Văn Viên, Trung Tướng Nguyễn Hữu Có ,,, nghe lời nói khí khái hùng hồn của ông ai cũng mến phục (Tướng Thi, Tướng Viên nguyên là Tư Lệnh tiền nhiệm của Sư Đoàn Dù).
Tướng Đống rất thương yêu binh sĩ, nhưng ông lại rất khắt khe với các sĩ quan cao cấp, các vị Tư Lệnh Phó, Lữ Đoàn Trưởng, Trưởng Phòng, Tiểu Đoàn Trưởng rất nể sợ ông. Các sĩ quan cấp tá trở lên mới bị Tướng Đống quở trách, đối với cấp Úy thì ông không nói gì. Nhưng với anh em binh sĩ, ông hết sức nhỏ nhẹ, cặp mắt luôn luôn nhìn họ một cách hiền từ, trìu mến. Ông nghĩ họ là thành phần cực khổ và chịu nguy hiểm nhiều nhất, ông muốn yểm trợ giúp đỡ thật nhiều cho binh sĩ và gia đình họ, giống như người cha lo lắng cho đứa con thân yêu của mình vậy.
Tướng Đống là Tư Lệnh thứ tư của Sư Đoàn Nhảy Dù (từ 1964-1972, sau Đại Tướng Đỗ Cao Trí, Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi, Đại Tướng Cao Văn Viên). Trong binh chủng Dù, ông phục vụ lâu năm nhất, chỉ huy từ cấp Trung Đội Trưởng và không hề có thời gian gián đoạn chỉ huy so với các Tư Lệnh khác.
Thời gian ông chỉ huy SĐND là lúc chiến tranh Việt Nam lên tới cực điểm khốc liệt nhất, những trận đánh dữ dội không giản dị như thời còn quân đội Pháp. Nhiều trận giao tranh ở cấp Sư đoàn và phối hợp hành quân tác chiến với các quân binh chủng khác. Dưới quyền lãnh đạo của Tướng Đống, lực lượng Nhảy Dù đã không những mang lại nhiều chiến thắng mà còn làm cho quân lực Đồng Minh phải ngưỡng mộ. Đại Tướng Lindsay, nguyên là cựu cố vấn TĐ8ND đã nói: "Những chiến thắng gần đây ở Grenada và kinh đào Panama do Nhảy Dù Mỹ đem lại chính là chúng tôi đã học hỏi nhiều kinh nghiệm tác chiến của Nhảy Dù Việt Nam..."
Dưới quyền Tướng Đống, binh chủng Dù từ cấp Lữ Đoàn đã trở thành cấp Sư Đoàn, với quân số trên dưới 12.700 gồm 9 tiểu đoàn tác chiến và ba tiểu đoàn pháo binh. Cũng như vị tiền nhiệm là Đại Tướng Trí, người chỉ huy Dù dẹp loạn Bình Xuyên, lúc Thủ Tướng Diệm mới cầm quyền, Tướng Đống chỉ huy SĐND lập nhiều công lớn trong Tết Mậu Thân, trận Ia Drang, Đồi 1416 ở Dakto, cuộc tiến quân sang Kampuchia, trận Hạ Lào, trận An Lộc...
Sau khi bàn giao chức vụ Tư Lệnh Nhảy Dù lại cho Tướng Lê Quang Lưỡng vào cuối năm 1972, ông được Tổng Thống Thiệu đề cử làm Trưởng đoàn thương thuyết trong Ủy Ban Liên Hơp Quân Sự bốn bên thay thế Tướng Ngô Dzu vào ngày 2/2/1973.
Tháng 11 năm 1973 ông nhận chức vụ Chỉ Huy Trưởng Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế Nha Trang.
Tháng 11 năm 1974, Trung Tướng Dư Quốc Đống được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cử giữ chức Tư Lệnh Quân Ðoàn 3/Quân Khu 3 thay thế Trung Tướng Phạm Quốc Thuần được hoán nhiệm chức vụ để giữ chức chỉ huy trưởng Trường Hạ Sĩ quan Nha Trang mà tướng Đống đảm nhiệm .
Ba tháng sau đó, ông đã xin từ nhiệm, sau khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu bác bỏ lời yêu cầu của ông gởi quân tăng viện đến mặt trận Phước Long là cửa ngõ dẫn vào tới Sài Gòn, mà sau đó đã bị quân Cộng Sản Bắc Việt tràn ngập.
Tướng Ðống không còn giữ chức vụ nào nữa cho đến khi ông phải rời Sài Gòn vào ngày 29 Tháng Tư, sau khi nhận thức rằng miền Nam Việt Nam khó có thể đối phó được với cuộc tổng tấn công xâm lược của quân Cộng Sản Bắc Việt, và Sài Gòn đã thất thủ một ngày sau đó.
Sau khi đến định cư tại Hoa Kỳ, Tướng Ðống đã có một cuộc sống kín đáo, giản dị, ít khi xuất hiện trước đám đông, và ngay trong gia đình ông cũng ít kể lại chuyện chiến tranh, những chiến công của ông.
Trung Tướng Dư Quốc Ðống qua đời vào lúc 3 giờ chiều ngày Thứ Ba 22/4/2008 tại Huntington Beach California hưởng thọ 76 tuổi.
Tài liệu tham khảo :
- Tướng Đống Bàn về Tình Hình Quân Sự Tháng Giêng Năm 1975 tại QĐIII (Thông Tin Tình Báo CIA)tre6n trang nhà /www.generalhieu.com
- Đôi dòng ghi nhớ hồi ký của Phạm Bá Hoa.
- Ph ỏng vấn các Niên Trưởng Tạ Thái Bình, Nguyễn Phẫm Bường, Nguyễn Tự Bảo, Lê Văn Phát, Đàm Trọng Toàn…
- Một Cánh Hoa Dù của. Trương Dưỡng
- Phỏng vấn trực tiếp các chiến hữu trong SĐND.
Võ Trung Tín & Nguyễn Hữu Viên


Nhân Vụ Chống Đối Cuộc Rước Đuốc Thế Vận
Hội Bắc Kinh: Những Ngọn Cờ Chính Nghĩa
Minh Thu Nhà cầm quyền Trung Cộng đang cay cú vì phải lo đối phó với nhiều vụ chống đối xảy ra khắp nơi trong những tháng ngày trước ngày Thế Vận Hội được khai mạc vào ngày 8 tháng 8 năm nay. Cay cú là vì họ đã chờ đợi cái giây phút vinh quang này để đánh bóng cho thành tựu của chế độ, để "rửa mặt" cho khoảng hơn 1,3 tỷ người trong nước được thoả mãn tự ái dân tộc, nhưng rồi cuối cùng lại bị công luận khắp nơi trên thế giới thi nhau phản đối, và chỉ trích về nhiều thành tích tệ hại và phi nhân tàn ác của chính quyền này.
Chuyện chống đối lộ liễu nhất đã được tường thuật rất rộng rãi trên khắp các diễn đàn truyền thông trong vài tuần qua chung quanh vụ rước ngọn đuốc Thế Vận đi xuyên qua các thành phố lớn trên thế giới, trên một chặng đường dài xuyên khắp năm châu trước khi trở về địa điểm tổ chức kỳ Thế Vận Hội năm nay. Đáng lý ra, nó là dịp để cho ban tổ chức -- gồm có Uỷ Hội Thế Vận Quốc Tế (IOC) và quốc gia chủ nhà tổ chức tức Trung Cộng -- được dịp xiển dương tinh thần hợp tác và phát triển thể thao lành mạnh, đồng thời cũng muốn khoe về nỗ lực tạo được một kỳ đại hội thể thao to lớn, quy mô và tốn kém nhất trong lịch sử. Nó có thể được coi như là một món hàng làm quà và tiếp thị để quảng cáo cho sự vươn mình vượt bực của Trung Cộng, chỉ trong một thời gian ngắn, đã làm một bước nhảy vọt từ một quốc gia nghèo khó và thua kém để rồi có thể trở thành một cường quốc lớn trên bàn cờ thế giới.
Thế nhưng, cuối cùng các vụ rước đuốc này đã có tác dụng phản ngược lại vì nó đã là một dịp giúp cho nhiều nhóm người, nhiều tổ chức tư nhân cũng như nhiều giới chức hữu trách và các chính quyền khắp nơi, lên tiếng chống đối hay chỉ trích về nhiều thành tích vi phạm nhân quyền và tàn ác phi nhân của giới cầm quyền tại Bắc Kinh. Và phản ứng ngoan cố xen lẫn cay cú, thay vì mềm dẻo một cách ngoại giao để hoá giải những xung khắc, từ phía các tay đầu sỏ của nhà cầm quyền Trung Cộng càng khiến cho tinh thần nghi kỵ hay "bài Hoa" càng dễ bùng nổ lớn hơn, giữa lúc mà quốc gia này đang bị thế giới đặc biệt chú ý tới gần đây với một cái nhìn không mấy thiện cảm. Thật vậy, cho dù là đạt được một thành quả đáng nể về mặt tăng trưởng kinh tế ở mức kỷ lục liên tiếp trong vài thập niên dài vừa qua, Trung Cộng vẫn chưa đạt được sự hậu thuẫn rộng rãi, nếu không muốn nói là còn gặp nhiều sự chỉ trích nặng nề trên nhiều lãnh vực, từ việc bóc lột sức lao động cho đến thái độ thiếu trách nhiệm làm ô nhiễm môi sinh trầm trọng, cũng như cẩu thả trong quy trình sản xuất để rồi xuất cảng ra đầy đủ các mặt hàng tiêu thụ không bảo đảm về phẩm chất hoặc thiếu an toàn.
Song song với cao trào chống đối lộ liễu trên, giới lãnh đạo ở Bắc Kinh cũng còn đang phải lo đối phó với nhiều vụ chống đối âm thầm khác đang diễn ra trong nội địa, tuy bị che giấu để không được tường thuật rộng rãi nhưng cũng có cơ nguy tiếp tục âm ỉ hay bùng nổ lớn hơn bất cứ lúc nào giữa lúc mà cả thế giới, với hàng chục ngàn phóng viên khắp nơi, đang chuẩn bị đổ dồn mọi chú ý về quốc gia này. Đó là các vụ xuống đường hay nổi loạn tiếp tục xảy ra, tuy lẻ tẻ, tại Tây Tạng cho dù là nhà nước đã đưa một lực lượng quân đội to lớn đến để đè bẹp một cách thô bạo các cuộc nổi loạn tại đây chỉ vài tuần trước đó. Theo tin riêng của các nhóm người Tây Tạng lưu vong và nhiều tổ chức tranh đấu cho tự do và nhân quyền khác, được thuật lại trong một bài viết của nhà báo Simon Elegant trên tuần san Time, đề ngày 06-04 vừa qua, thì cảnh sát dã chiến đã nổ súng vào các nhà sư tại tu viện Tongkor ở thành phố Can Tư (GanZi) thuộc tỉnh Tứ Xuyên (SiChuan) giáp giới với Tây Tạng, gây thiệt mạng cho một số người. Bản tin của Tân Hoa Xã, cơ quan thông tấn chính thức của nhà nước, cũng đã xác nhận những vụ đụng độ tại đây nhưng không đưa ra những con số về các nạn nhân. Tuy nhiên, điều đáng lo ngại hơn cho các giới chức lãnh đạo ở Bắc Kinh, là dường như các vụ nổi loạn đang có cơ nguy lan tràn sang đến nhiều vùng khác, đặc biệt là ở tỉnh Tân Cương (XinJiang) ở miền cực tây, nơi mà đa số người dân cư ngụ lại theo đạo Hồi. Nói chung, do sự kiểm soát chặt chẽ của Trung Cộng không cho giới truyền thông ngoại quốc được tự do đi lại, nên những tin tức tại đây vẫn chưa được kiểm chứng một cách trung thực, mặc dù rằng tin của nhà nước một bên, và tin của phe các nhà tranh đấu đối kháng thường bao giờ cũng gần như trái ngược.
Câu hỏi khó hiểu là liệu những tay đầu sỏ trong Bộ Chính Trị của Đảng Cộng Sản Trung Hoa ở Bắc Kinh đang nghĩ gì trước cao trào những vụ chống đối diễn ra khắp nơi như vậy? Sự bực tức, hay không hài lòng, là chuyện dĩ nhiên khi một chính quyền gặp chỉ trích hay chống đối, nhất là khi chính quyền này lại đã quen với thói hành xử độc quyền và độc đoán từ bấy lâu nay, khó có thể chấp nhận đối thoại hay hoà hoãn với những tiếng nói đối lập. Tuy nhiên, thái độ cương quyết cứng rắn đến thành như ngoan cố, cộng với những lời lẽ thiếu khôn ngoan nếu không muốn nói là thô lỗ đến gần như là ngu xuẩn và cộc cằn, xuyên qua những lời kết tội cho những vụ chống đối là một âm mưu của "bè lũ Đạt Lai" (Dalai clique) cấu kết hay thông đồng với các thế lực ngoại bang. Rõ ràng đúng là văn phong hay tác phong của một tập đoàn độc tài và cô lập với thế giới bên ngoài, và vẫn chưa học hỏi được cung cách hành xử hợp lý và đứng đắn của một chính quyền trong một thế giới tự do rộng lớn trên toàn cầu. Những lời nói cứng rắn của các viên chức cao cấp, từ Thủ tướng Ôn Gia Bảo (Wen Jiabao) cho tới các bí thư tỉnh uỷ hoặc các viên chức trách nhiệm trong Uỷ Ban Tổ chức Thế Vận tại địa phương, cho thấy một thái độ ù lì, cứng ngắc, thích đổ tội cho kẻ chống đối là phá hoại thay vì hoà hoãn để tìm hiểu vấn đề hay để xoa dịu cho tình hình bớt căng thẳng và trầm trọng thêm.
Điều nghịch lý là dường như các nhân vật cầm quyền hiện nay ở Bắc Kinh, được coi như là thuộc thế hệ cởi mở và cấp tiến nhất, có học thức rộng rãi nhất trong tầng lớp lãnh đạo đảng Cộng Sản từ trước tới nay, vẫn còn có những cung cách hành xử đầy giáo điều, không khác gì những lãnh tụ độc tài cỡ như Mao Trạch Đông, mặc dù rằng Trung Cộng đã có tiếp xúc và giao thương rộng rãi với thế giới phương Tây từ vài thập niên qua. Theo ông Perry Link, một giáo sư chuyên nghiên cứu về Trung Hoa tại trường Đại học Princeton, thì thái độ "chúi đầu xuống cát như đà điểu" hiện nay của giới lãnh đạo ở Bắc Kinh có thể được giải thích bằng một hệ thống cầm quyền và hành chính cứng ngắc, trong đó mọi thành viên đều lo sợ và lúc nào cũng mong bảo vệ cho quyền lợi riêng của cá nhân mình. Đảng Cộng Sản là một tổ chức riêng biệt và kín đáo, bí mật nhất, với cả một hệ thống hành chánh nặng nề có mục đích duy nhất là củng cố quyền lực cho Đảng. Trong đó, mỗi đảng viên chỉ đeo đuổi một mục đích duy nhất là tìm cách leo lên những bậc thang quyền lực trong khi vẫn lo sợ có thể bị thanh trừng hay tấn công trong nội bộ nếu như lấy những quyết định có thể bị xem là làm phương hại đến quyền lợi chung của Đảng. Vì những nhu cầu tự tồn để bảo vệ đặc quyền riêng tư đó, tất cả các đảng viên, từ địa phương cho tới trung ương và lên tới Chính Trị Bộ, đều luôn có thái độ như một phản xạ là lập lại những lời lẽ khuôn sáo đầy giáo điều để đối phó với bất cứ một vấn đề gì. Trong một thế giới rập khuôn đó, không một nhân vật nào, cho dù là lãnh tụ cao cấp như Tổng bí thư đảng, dám đơn phương lấy những quyết định có tính cách táo bạo hay uyển chuyển, trước khi biết chắc rằng đa số trong Đảng đều đồng thanh có cùng lựa chọn.
Cũng theo lời của giáo sư Link thì ngay như lãnh tụ tối cao hiện nay là Chủ tịch Nhà nước kiêm Tổng Bí thư Đảng là ông Hồ Cẩm Đào (Hu Jintao), cũng nằm trong một thế hệ các đảng viên được đào tạo từ những lò giáo huấn theo mô hình Sô-viết từ thời thập niên 50. Do đó, họ không đủ khả năng, kiến thức hay suy nghĩ để có những quyết định táo bạo và sáng suốt. Tất cả các đảng viên đều hoạt động theo một đường lối trung ương tập quyền một cách cứng ngắc, trong đó mọi quyết định đều phải được bàn thảo và nhất trí thông qua. Tinh thần làm việc kiểu này không cho phép họ dám lấy những quyết định uyển chuyển để thích ứng trước những đổi thay bất ngờ của tình thế. Tất cả những viên chức cao cấp trong Đảng đều lo sợ cho vị thế và quyền lực riêng của mình, và không ai muốn vấp phải những quyết định sai lầm, hoặc có thể bị chỉ trích là sai lầm, nhất là những sai lầm vì đã nhẹ tay với các thành phần đối lập. Bài học của những lãnh tụ cao cấp như Hồ Diệu Bang (cựu tổng bí thư) và Triệu Tử Dương (cựu chủ tịch nhà nước) bị thất sủng trước đây vào cuối thập niên 80, vì đã không cứng rắn mạnh mẽ trước những phong trào chống đối của sinh viên trong các vụ xuống đường ở Quảng trường Thiên An Môn vào năm 1989, chắc chắn phải là cái gương mà các lãnh tụ hiện nay trong Chính Trị Bộ đều phải học nằm lòng và không muốn đi vào vết xe cũ. Chính Hồ Cẩm Đào phải là người hiểu rõ kinh nghiệm này hơn ai hết, vì chính y là người đã leo lên được chức vụ tối cao ngày hôm nay cũng nhờ ở thái độ cứng rắn, trong cương vị là bí thư tỉnh uỷ vùng Tây Tạng, trong vụ đàn áp cuộc nổi dậy của người dân tại đây hồi năm 1989. Chính nhờ vụ đàn áp tàn bạo và đẫm máu này, kèm theo chính sách áp đặt tình trạng thiết quân luật kéo dài sau đó trong 14 tháng để dẹp tan tất cả mọi khả năng chống đối, đã khiến cho Hồ Cẩm Đào được lãnh tụ Đặng Tiểu Bình lúc bấy giờ để ý đến và tìm cách cất nhấc đưa vào Chính Trị Bộ sau đó.
Thật ra thì các vụ chống đối của người dân Tây Tạng đã bắt đầu kể từ năm 1950 khi Hồng quân của Mao Trạch Đông tiến chiếm xứ sở này sau ngày toàn thắng trên lục địa và đẩy đạo quân của Tưởng Giới Thạch phải rút ra đảo quốc Đài Loan. Nhưng cuộc nổi dậy lớn nhất của quân dân Tây Tạng đã xảy ra vào năm 1959, và đã bị đàn áp một cách dã man và tàn bạo với hàng ngàn người bị thiệt mạng, dẫn đến cuộc di cư vĩ đại của Đức Đạt Lai Lạt Ma và một chính quyền lưu vong với trên 100 ngàn dân bồng bế sang lánh nạn tại thành phố Dharamsala bên Ấn Độ. Từ gần 50 năm qua, cuộc chiến đấu của chính quyền lưu vong này rất khổ sở, lẻ loi và đơn độc, cho dù rằng vị lãnh tụ của họ được cả thế giới kính nể vì uy tín và đạo đức, cùng với tính khiêm cung, chủ trương bất bạo động của ngài. Cái chính quyền lưu vong đó cho đến nay cũng không được bất cứ một quốc gia nào khác trên thế giới công nhận. Và có lúc nó còn có cơ nguy bị hăm doạ hay làm khó dễ, nhất là sau ngày Ấn Độ bắt tay hoà hoãn với Trung Cộng trong một thế hợp tác chiến lược. Thế nhưng cuối cùng thì lá cờ của chính quyền và dân tộc đó -- một lá cờ khá sặc sỡ với nhiều màu sắc và hình mặt trời với đôi sư tử trắng -- lại trở thành thân quen, được cả thế giới chú ý nhiều đến kể từ vài tuần qua, và có nhiều triển vọng sẽ trở thành một hình ảnh thân quen từ đây cho đến ngày khai mạc Thế Vận Hội vào đầu tháng Tám sắp tới.
Phải chăng đó là một trong hậu quả tai hại không lường trước được (unintended consequences) do bởi chính sách muốn lợi dụng một đại hội thể thao truyền thống và uy tín nhất thế giới cho những mưu đồ muốn đánh bóng chế độ của nhà cầm quyền Trung Cộng, xuyên qua công trình tổ chức một cuộc rước đuốc quy mô và tốn kém nhất trong lịch sử?
Khởi đi từ thủ đô Athens ở Hy Lạp, rồi chuyển sang Bắc Kinh để từ đó đi chu du trên hàng chục quốc gia khác nhau, xuyên qua một chặng đường dài khoảng 135 ngàn cây số, cuộc rước đuốc đầy tốn kém này và được sửa soạn chu đáo bởi Trung Cộng, đã gặp sự chống đối dữ dội tại ba thành phố nổi tiếng của ba cường quốc là Luân Đôn (Anh), Ba Lê (Pháp) và Cựu Kim Sơn (San Francisco, Hoa Kỳ). Nó đã trở thành một điểm thu hút tất cả các phong trào chống đối Trung Cộng trên nhiều địa hạt đa dạng, cùng nhau quy tụ về nơi xảy ra cuộc rước đuốc để phản đối bằng nhiều hình thức. Hậu quả là cuộc rước đuốc đã phải bị thay đổi dưới nhiều hình thức, thậm chí có lúc đã xém bị nhiều người chống đối tìm cách dập tắt mặc dù được bảo vệ bởi một lực lượng hùng hậu cả ngàn cảnh sát viên giữ gìn an ninh và trật tự, và trong nhiều trường hợp đã phải bị tạm thời dập tắt để đưa vào trong các toa xe buýt để bảo đảm an toàn (như tại Pháp); hoặc phải bị đem như trốn chui trốn nhủi xa lánh những nơi đã được dự trù rước qua như tại San Francisco, đi qua những con đường vắng vẻ để tránh gặp phải những đoàn người chống đối. Hình ảnh này khiến nhiều người trong chúng ta buồn cười nhớ lại cái hoạt cảnh ngày nào mấy anh cán bộ trong các phái đoàn của Việt Cộng sang viếng thăm các thành phố lớn ở Mỹ có đông người Việt tị nạn thường phải tìm cách đi vào cổng hậu vì sợ ăn trứng thối và cà chua của đám đông đang đứng chờ sẵn ở cổng chính.
Tệ hại hơn nữa là về mặt tâm lý và tình cảm, các vụ rước đuốc này càng khiến cho số người bất mãn hay chống đối với Trung Cộng càng ngày càng gia tăng, mà nguyên nhân chính, trớ trêu thay, lại do thái độ hành xử của phía Trung Cộng. Ngoài lực lượng cảnh sát của địa phương giữ gìn an ninh, ngọn đuốc này cũng được bảo vệ bởi một đội ngũ các tay "công an đầu gấu" của Trung Cộng được biệt phái để luôn luôn túc trực bảo vệ ngọn đuốc. Đội ngũ này, quy tụ những chuyên viên được tuyển mộ kỹ lưỡng để lựa chọn ra những tay xuất sắc về sức lực và võ thuật, được huấn luyện đủ loại kỹ thuật và nhiều ngôn ngữ khác nhau, và được quảng cáo rầm rộ vào năm ngoái với cái tên là "Đội Hộ Pháp Đuốc Thiêng Thế Vận". Hình ảnh mà thế giới biết được về những anh lực sĩ hộ pháp này là đồng phục hai màu xanh và trắng, lúc nào cũng bao vây ngọn đuốc một cách chặt chẽ, không cho bất kỳ một người lạ nào được bén mãng đến gần. Do đó trong lúc hoạt động tại xứ người, nhóm hộ tống này đã tạo ra một hình ảnh của những tay "đầu gấu" sẵn sàng xô đạp tất cả mọi chướng ngại, gây bất mãn không ít cho nhiều người vì không biết rõ nhiệm vụ của họ là ai. Chẳng trách nào mà ông Sebastien Coe, cựu lực sĩ điền kinh nổi tiếng và cũng là Chủ tịch Uỷ Ban Tổ Chức Thế Vận của Anh cho năm 2012, đã gọi những tay hộ pháp này là "một bọn côn đồ" (thugs). Trong cuộc rước đuốc tại Anh, những cuộc xô xát xảy ra khắp suốt đoạn đường khiến cho cảnh sát đã phải bắt giữ hàng chục người.
Rời khỏi Anh Quốc để tiến sang nước Pháp, thì cuộc rước đuốc càng gặp sự chống đối nặng nề hơn nữa, và lần này thì uy tín của Trung Cộng càng bị tụt giảm thê thảm hơn. Ở ngay địa điểm khởi hành là Tháp Eiffel, phe chống đối đã tìm cách treo được tấm biểu ngữ to có hình 5 vòng tròn quyện vào nhau, biểu tượng duy nhất của Thế Vận Hội. Thế nhưng có một chi tiết hơi khác là 5 vòng tròn có hình giống như là 5 cái còng, biểu tượng cho một thể chế cùm kẹp tại Trung Cộng. Đoạn đường dài khoảng 30 cây số chạy dọc theo hai bờ của sông Seine, đi qua những thắng cảnh nổi tiếng như Khải Hoàn Môn, xuyên theo đại lộ Champs-Elyseés, trước khi chấm dứt ở sân vận động Charléty ở ngoại ô thủ đô Ba Lê. Thế nhưng, dọc theo đoạn đường, số người chống đối đã quá đông, cộng với một lực lượng hùng hậu của cảnh sát giữ gìn an ninh, khiến cho người ta không còn thấy những lực sĩ cầm đuốc trong cuộc chạy đua tiếp sức này nữa, mà chỉ thấy toàn một bọn hộ pháp bao chung quanh ngọn đuốc này. Thế nhưng, ngọn đuốc cũng đã phải bị dập tắt nhiều lần để được hộ tống vào bên trong xe buýt cho được an toàn hơn, rồi sau đó lại chuyển xuống để chạy bộ tiếp. Tệ hơn nữa là khi tiến đến Toà Đô Chính Ba Lê, một tấm biểu ngữ to lớn đã được treo với dòng chữ: "Paris tôn trọng việc tranh đấu cho nhân quyền". Rõ ràng là một lời chỉ trích không khoan nhượng của chính quyền thành phố này đối với thành tích chà đạp nhân quyền của nước chủ nhà tổ chức Thế Vận Hội. Phải chăng vì bị bẽ mặt một cách không nể nang như thế nên cuối cùng Trung Cộng đã trả đũa một cách trẻ con bằng cách huỷ bỏ một bữa tiệc tiếp tân tại Toà Đô Chính? Trong khi đó thì bên ngoài toà nhà Quốc Hội Pháp, có khoảng 35 vị dân biểu cùng hô to những khẩu hiệu "Tự Do cho Tây Tạng" để phản đối Trung Cộng.
Chính những hình ảnh chống đối dữ dội này đã khiến cho ông Jacques Rogge, Chủ tịch Uỷ Hội Thế Vận Quốc Tế, đã phải đưa ra những lời cảnh cáo xa gần rằng có thể tổ chức này sẽ rút ngắn lại chặng đường như dự trù lúc ban đầu, cũng như có thể xét lại kế hoạch tổ chức các cuộc rước đuốc trong tương lai. Sau đó, ông Rogge cũng đã có những cuộc thảo luận thẳng thắn với giới chức lãnh đạo ở Bắc Kinh về những ưu tư của ông cũng như của IOC, bởi vì theo như Trung Quốc đã hứa từ lúc ban đầu khi ghi tên để mong được tổ chức Thế Vận Hội là sẽ tìm cách làm cải thiện tình hình về nhân quyền và tự do tại nước này. Và do đó, ông Rogge cho rằng việc Trung Cộng phải tôn trọng các giá trị nhân quyền trong nước là một bổn phận tinh thần cần phải tôn trọng.
Hai vụ xuống đường dữ dội tại Ba Lê và Luân Đôn đã khiến cho nhiều người chờ đợi và chú ý nhiều hơn nữa về chặng đường rước đuốc sau đó tại San Francisco. Đây là thành phố có đông người Hoa cư ngụ nhất, và do đó đã được vinh dự để tổ chức cuộc rước đuốc này, một phần giúp đem lại niềm tự hào cho cộng đồng người Hoa tại đây. Thế nhưng, những vụ chống đối cũng đã được sửa soạn kỹ lưỡng khiến cảnh sát tại đây đã phải dùng nhiều biện pháp gắt gao để bảo vệ an ninh, kể cả việc đem giấu ngọn đuốc ở những nơi bí mật thay vì đáng lý ra phải được đem ra trình diễn cho đông đảo quần chúng chiêm ngưỡng; và trong ngày rước đuốc đã phải thay đổi lộ trình mà không thông báo cho mọi người biết, hầu tránh đi ngang những nơi mà đã có đông người chống đối chờ đợi sẵn. Trước đó một ngày, phe chống đối cũng đã làm một hành động ngoạn mục bằng cách leo lên cây cầu treo nổi tiếng Golden Gate để treo hai lá cờ của Tây Tạng và tấm biểu ngữ có dòng chữ "One World, One Dream: Free Tibet". Bốn chữ đầu là khẩu hiệu ưng ý nhất của ban tổ chức và nhà cầm quyền Trung Cộng, ngầm nói lên niềm tự hào của họ là cả thế giới sẽ quy tụ về một mối vào đầu tháng Tám sắp tới để nhìn dân tộc Trung Hoa thực hiện được giấc mơ vươn mình thành một cường quốc, qua hình ảnh của một Thế Vận Hội hùng tráng và to lớn nhất trong lịch sử. Thế nhưng khẩu hiệu này đã trở thành một chiêu thức "gậy ông đập lưng ông" khi những người chống đối thêm vào hai chữ "Free Tibet". "Giải phóng Tây Tạng" có nghĩa là nhắc nhở cho mọi người biết đến một chế độ độc tài và bạo quyền có nhiều tham vọng muốn chiếm đoạt đất đai của nhiều nước nhỏ bé khác, như Tây Tạng, hoặc Việt Nam, với việc thiết lập huyện Tân Sa bằng cách chiếm đoạt Hoàng Sa và Trường Sa mà nhà cầm quyền Việt Cộng đã hèn nhát nên không dám lên tiếng phản đối.
Năm xưa, nhà độc tài Adolf Hitler đã âm mưu chính trị hoá Thế Vận Hội, dùng thể thao cho mục tiêu chính trị, bằng cách tổ chức cuộc rước đuốc Thế Vận để chuẩn bị cho kỳ tổ chức vào năm 1936. Mục đích của Hitler lúc bấy giờ là muốn khoe khoang về sức mạnh vô địch của giống dân da trắng Aryans, dọn đường cho cuộc xâm lăng của Đức Quốc Xã lên các quốc gia lân cận, mở màn cho cuộc Đệ Nhị Thế Chiến. Thế nhưng, thiên bất dung gian, trong kỳ Thế Vận Hội năm đó, một anh lực sĩ da đen của Hoa Kỳ mang tên là Jesse Owens -- lúc bấy giờ dân da đen vẫn bị coi là một hạng người bần hèn không thể nào cự lại dân da trắng -- lại đoạt được một lúc 4 huy chương vàng ở bộ môn điền kinh, thắng xa trên tất cả các lực sĩ da trắng khác. Vụ này làm bẽ mặt không ít cho nhà độc tài Hitler.
Phải chăng ngày nay lịch sử lại tái diễn khi Trung Cộng muốn lợi dụng Thế Vận Hội để đánh bóng cho chế độ, nhất là ở thời điểm quốc gia đông dân nhất trên thế giới này đã tạo được một sức mạnh kinh tế đáng nể trong một thời gian kỷ lục, cùng lúc với nhiều tiến bộ vượt bực khác về quân sự và kỹ thuật không gian? Để rồi cuối cùng, trời không thuận lòng người gian, cho nên một vùng đất sa mạc cằn cỗi -- với một vị lãnh tụ tôn giáo hiền hoà, trong tay không có tấc sắt mà chỉ có nụ cười hiền hoà với chủ trương bất bạo động, đã chinh phục lòng cảm mến khắp nơi -- có thể trở thành một cơn ác mộng cho giới lãnh đạo ở Bắc Kinh nếu như tình hình tại Tây Tạng có thể trở thành tồi tệ hơn từ đây cho đến tháng Tám. Hơn nữa, thái độ và phản ứng của Trung Cộng có nhiều cơ nguy khiến cho nhiều người, kể cả các vị nguyên thủ quốc gia, có thể thay đổi thái độ và sẽ không ngần ngại lên tiếng chống đối hay có thể tẩy chay, như trường hợp của các thủ tướng Angela Merkel của Đức, Gordon Brown của Anh, hoặc như Tổng thống Nicolas Sarkozy của Pháp.
Trước khi kết thúc bài này, tưởng cũng nên giành vài hàng để ghi công những người Việt tranh đấu tại Pháp, đã biết cùng nhau đoàn kết để đến Công trường Trocadéro ở cạnh Tháp Eiffel, góp sức trong rừng người chống đối Trung Cộng. Dĩ nhiên, mục tiêu của người Việt tại Pháp là lên tiếng chống đối việc Trung Cộng xâm chiếm Hoàng Sa và Trường Sa. Trong những tháng trước đó, cuộc chống đối này chỉ đơn lẻ có vài trăm người Việt. Nhưng lần này, họ đã góp mặt với hàng ngàn người khác trong một khí thế hào hứng và vinh hạnh chưa từng thấy. Những hình ảnh của các phóng viên ngoại quốc chụp những lá cờ vàng ba sọc đỏ đứng cạnh với lá cờ của Tây Tạng đã được truyền đi khắp nơi trên thế giới. Lá cờ tiêu biểu của một quốc gia đã bị xoá sổ vào ngày 30-04-1975 vẫn tiếp tục được giương cao một cách hùng dũng và oai nghi hơn bao giờ hết, trước một cử toạ rộng lớn trên khắp toàn cầu.
Vì thế cho nên chúng ta có quyền hãnh diện với những lá cờ chính nghĩa đó là vậy.
Minh Thu - Houston, Texas

QUỐC HẬN 2008
NỔI BẤT HẠNH CỦA QLVNCH
Như Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu (1967-1975) từng nói ‘ Ðất nước còn thì còn tất cả ‘.Bởi vậy sau ngày 1-5-1975, đồng bào Miền Nam đã mất hết mọi thứ kể cả quyền làm dân, khi chính phủ và quân lực VNCH không còn tồn tại, để gánh vác và bảo vệ họ như hồi Tết Mậu Thân 1968, Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972 và trăm ngàn chiến cuộc, khắp mọi nẽo đường đất nước, cho tới ngay 30-4-1975 bị rã ngủ theo lệnh buông súng đầu hàng.
Tự ngàn xưa, quân đội Việt Nam luôn nổi tiếng kiêu hùng, nên đã đạt được nhiều chiến công hiển hách, trong suốt dòng lịch sử dựng và giữ nước của dân tộc, qua các cuộc bình Chiêm, phá Tống-Nguyện-Minh-Thanh, khiến các nước lân bang Lào, Miên và cả Xiêm La phải kinh hồn bạt vía.
Là con cháu của Tổ Tiên Hồng-Lac, chúng ta dù được sinh vào thế hệ nào chăng nửa, ra đời trong nước hay nơi hải ngoại, vẫn luôn ngưỡng mộ và hãnh diện, về công đức vĩ đại của tiền nhân, trong đó miên viễn vẫn là quân đội bao đời,
Với ý nghĩa thiêng liêng và cao quý trên, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, được hình thành trong giai đoạn đất nước tạm chia (1955-1975), chống lại cuộc xâm lăng bằng quân sự, của khối cọng sản đệ tam quốc tế, do Việt Cộng Bắc Việt đảm nhận. ÐÂY LÀ MỘT CUỘC CHIẾN SINH-TỬ, của quân đội MIỀN NAM, chống lại cuộc xâm lăng của bộ đội MIỀN BẮC, để giữ lại phân nửa gấm vóc giang sơn của Tiền-Nhân, không lọt vào gông cùm nô lệ của giặc đỏ.
Cho nên, đây không phải là một cuộc chiến giữa CỘNG SẢN BẮC VIỆT VÀ NGƯỜI MỸ, như giới truyền thông phương Tây, thời đó và ngay cả bây giờ, đã bóp méo sự thật, mục đích đầu độc dư luận thế giới, làm giảm uy tín của QLVNCH. Có như thế, Cộng Sản và phe ta trốn quân dịch, mới vừa chửi Mỹ , vừa tô son vẽ mặt cho đạo quân tiền phong cong sản tại Ðông Nam Á, tức Bắc Việt có một chính nghĩa lý tưởng, đánh đuổi Mỹ-Ngụy cứu nước.
Ðây cũng chính là nổi thảm thê chất ngất của người Lính Miền Nam, trong hai mươi năm khói lửa. Vì định kiến, vì buông xuôi, vì thủ đoạn con buôn quốc tế, tất cả đã dồn ép QLVNCH vào chân tường, trong cuộc chiến đấu đơn độc, không hậu phương, không một chút tình quân-dân, cá-nước
Hai mươi năm chiến đấu, đời lính buồn ơi là buồn, trước mặt phải trực diện với một kẻ thù gian xảo độc ác, mất hết thiên lương nhân tính vì đã bị chủ nghĩa nhồi sọ, cho nên chỉ biết có giết người để đạt mục đích được khắc sâu trong da thịt. Còn sau lưng bị thọc bởi hậu phương vô tình bạc bẽo và cuối cùng trên đầu là đồng minh với đại bàng, luôn rình rập để phản bội và bán đứng. Mới đây có Nguyễn Thuỳ và Vũ Ngọc Tiến, đã dùng bút vẽ lên bức tranh vân cẩu của cuộc chiến vừa qua, cho ta thấy chỉ có Bộ Ðội Bắc Việt hay Việt Cộng, vì thèm khát đàn bà, nên chỉ có chúng mới hãm hiếp phụ nử, chứ người lính VNCH đâu có lý do gì, để mà cuồng dẩm cả xác chết của nử cán bộ VC ?
Cảm nhận đựợc thân phận nhược tiểu của đất nước và sự bất hạnh của dân tộc, nên người lính chấp nhận hy sinh đời trai, để làm tròn bổn phận cùng trách nhiệm của một con người có tim óc, cho tới trưa ngày 30-4-1975, khi TT.Dương Văn Minh bắt buông súng đầu hàng.
Sau đó, cọng sản Hà Nội thẳng tay cướp bóc, chẳng những mọi chiến lợi phẩm của chính phủ VNCH từ công ốc, ngân khố, quân trang dụng, trong đó có mười sáu tấn vàng y, của quốc gia, được Nguyễn văn Hảo giữ lại để nạp dâng công cho Bắc Bộ Phủ. Tệ nhất là VC táng tận lương tâm, cướp luôn tài sản mồ hôi nước mắt của đồng bào, mà trong số này, có nhiều mẹ chiến sỉ, đã từng nuôi dấu cán binh bộ đội, ủng hộ vàng bạc lúa gạo cho chúng, trong suốt thời gian chiến tranh.
Ngoài việc cầy mồ người chết để trả thù bị thua VNCH trên chiến trường, VC còn hành hạ những phế binh, cô nhi tử sĩ bị kẹt trong nước, với đủ thủ đoạn học được từ KGB, mà mới nhất là chiến dịch ‘ đuổi tận, giết tuyệt ‘ các thành phần trên, đang sống tại các chòi, dựng trong Nghĩa Ðịa Phước Bình, Sài Gòn.
Thì ra cách mạng bảy mươi năm, để giải phóng đất nước, mục đích cũng chỉ có thế thôi, nên từ đó theo thời gian, hằng ngàn huyền thoại về ‘ Người Bộ Ðội Miền Bắc, Vượt Trường Sơn Vào Nam Ðánh Mỹ Cứu Nước ‘, đã theo lớp son phấn đảng tham nhũng, tham tàn, tham địa vị, tan biến theo lớp sóng phế hưng của cuộc đổi đời mạt lộ.
Ba mươi ba năm tan hàng rã ngũ, quân-dân Miền Nam đã lần lượt đồng hành, qua hết chín tầng địa ngục trần gian nơi thiên đàng xã nghĩa. Nhưng người lính Miền Nam, sinh ra trong khói lửa, trưởng thành chốn chiến trường, nên thễ xác dù đã bị bầm giập tan nát, tinh thần cuả người lính vẫn nguyên vẹn và không ai có thể thay đổi hay ngăn cản lý tưởng của họ.
‘ dấu binh lửa nước non như cũ
kẽ hành nhân qua đó chạnh thương
phận trai già rủi chiến trường
chàng Siêu, tóc đã điểm sương mới về .’
(Chinh Phụ Ngâm Khúc )
NHỚ ƠN ANH : NGƯỜI LÍNH BẤT HẠNH VNCH
Hai mươi năm chinh chiến, người Lính VNCH đã có 250.000 gục ngã trước đạn thù và nửa triệu thương binh chịu đời bất hạnh vì một phần cơ thể đã gửi lại sa trường. Hiện nay Chính Phủ cũng như QLVNCH không còn nửa, nhưng trong tâm tư của mọi người được sống sót qua cuộc đổi đời mạt kiếp, thì lý tưởng và danh dự của Người Lính , càng được sáng tỏ, trong niềm hãnh diện chung của quân-dân Miền Nam.
Lịch sử của một quốc gia là những gì trung thực , mà người dân của nước đó đã ghi chép không hề thêm bớt. Nhờ vậy ta mới biết được về cuộc nội chiến của Hoa Kỳ , xảy ra từ năm 1861-1865, cùng với thái độ của dân chúng và chính quyền nước Mỹ tại Miền Bắc là kẻ thắng trận, đã không hề lên án, bỏ tù hay trả thù những người Miền Nam bại trận. Ðã vậy, Hoa Kỳ còn ghi ơn tất cả những chiến sĩ của hai miền vừa nằm xuống trong cuộc chiến, vì lý tưởng riêng của họ.
Thế chiến 2 kết thúc, Tòa Án quốc tế Nuremburg, chỉ kết tội những Ðầu Sỏ trong phe Trục, mà không hề bắt bớ hay gây khó khăn cho quân nhân các nước Ðức-Ý-Nhật.. Năm 1920, Lãnh tụ kháng chiến quân Libya là Tướng Mukhta, bị người Ý bắt và tử hình. Nhưng chính Tổng Tư Lệnh Ý tại Bắc Phi , là người đã ở lại pháp trường, để lo lắng hậu sự cho vị anh hùng dân tộc Libya, vốn là kẻ thù của người Ý lúc đó.
Tại VN, khi thực dân Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền tây Nam Phần năm 1867, sau đó là thành Hà Nội năm 1873. Các tướng lãnh thủ thành đương thời là Phan Thanh Giản, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu.. đã oanh liệt tử tiết theo thành mất và được kẻ thù là người Pháp, tôn kính mặc niệm như chính các tướng lãnh của họ. Sau rốt là số phận của 500.000 quân nhân Mỹ đã tham chiến tại VN, trong số này hơn 50.000 người tử trận. Ngày nay các chiến sĩ trên đã được quốc dân Hoa Kỳ trả lại công lý và danh dự, để họ hiên ngang ưỡn ngực, cũng như an giấc nghìn thu, bên cạnh ông cha, một đời liệt sĩ. Tất cả đã chết cho lý tưởng quốc gia, sống vinh quang và yên nghỉ trong danh dự.
Người lính VNCH trong suốt hai mươi năm binh lửa cũng vậy, đã phơi gan trải mật để bảo vệ cho đất nước và mạng sống của đồng bào, bị cọng sản quốc tế Bắc Việt xâm lăng giết hại. Tóm lại gần hết cuộc chiến, ở đâu có cọng sản khủng bố cướp bóc giết hại dân lành, là ở đó có sự diện của người lính Miền Nam. Ở đâu có bóng cờ vàng ba sọc đỏ, là ở đó người dân trong vùng chiến nạn, tìm đủ mọi cách trốn thoát sự kềm kẹp của giặc cộng, để trở về vùng quốc gia, nhờ che chở đùm bọc. Ai có làm lính tác chiến hay người cán bộ áo đen Bình Ðịnh Nông Thôn, Cán Bộ Xã Hội.. mới biết được thế nào là nổi thống khổ, trên đe dưới búa, cá nằm giữa dao thớt, người dân tay không hứng hai lằn đạn bạn thù, của người VN trong thời ly loạn. Có là người dân bị kẹt trong vùng xôi đậu, lửa khói bom đạn, mới thấu hiểu đời người lính gian khổ chết chóc muôn trùng. Có là người dân quèn, nghèo sống đời cay cực, mới thương xót cho cảnh ba đồng, ba cộc, của kiếp lính Miền Nam.
Trong nổi chịu đựng hy sinh âm thầm nhưng thảm nhất là người lính đã không bao giờ được một lời an ủi tử tế của hậu phương, để yên tâm tiếp tục cầm súng giết giặc bảo vệ cho người dân. Trái lại họ còn bị muôn ngàn bất hạnh đeo đuổi suốt cuộc chiến. Thật vậy, khi cầm súng thì cô đơn, nửa đường bị hậu phương, đồng minh và lãnh đạo phản bội bán đứng. Ngày trở về thì bị giặc trả thù đầy đoạ, rồi chết thầm trong đói nghèo tủi nhục.
Tiếp tay với những tâm hồn thác loạn, ăn cơm quốc gia thờ ma cọng sản, là bọn báo chí quốc tế bất tài, a dua, xu thời. Nhờ vậy mà cọng sản Bắc Việt, mới có cơ hội tung hoành một mình một cõi, thao túng vẽ vời huyền thoại, bóp méo lịch sử, để đầu độc các thế hệ VN đang sống trong sự kềm kẹp của chế độ bạo tàn, độc đảng. Nhưng rồi gieo gió thì phải gặt bảo, chính sự khoắc lác dại khờ trên, đã đưa toàn bộ đảng cọng sản VN chìm trong cái vũng bùn ô nhục, khi bí mật lịch sử lần lượt được mọi phe phái bật mí và hồi tưởng.
Nhưng người lính VNCH từ trước tới nay chỉ biết có cầm súng để chiến đấu giữ nước và bảo vệ sinh mạng cho người khác, chứ không quen viết lịch sử để ca tụng một chiều. Cho nên nếu có được một tiếng cảm ơn hay sự hồi phục danh dự, thì đó cũng chỉ là sự phản tỉnh của thế giới tự do khi đã biết được sự thật cùng ý nghĩa của cuộc chiến mà người Miền Nam phải bán mạng để chống ngăn giặc Bắc xâm lăng tới giờ phút cuối cùng. Ngoài ra còn có sự tưởng tiếc muộn màng của đồng bào hậu phương, đối với người chiến sĩ VNCH, khi chính bản thân và gia đình người dân, qua cuộc đổi đời, cũng đã trở thành nạn nhân tận tuyệt, của một chế độ bạo tàn, của những con người không có nhân tính, mà hôm qua chính người dân coi như thần thành, nên đã công khai giúp và theo chúng, đâm sau lưng đồng đội, đồng bào mình.
NGƯỜI LÍNH VNCH BỊ TRÍ THỨC THIÊN TẢ ÐÂM SAU LƯNG :
Trong lúc đất nước đang lâm nguy vì giặc xâm lăng phương Bắc, trong lúc gần hết thanh niên nam nữ thuộc mọi tầng lớp của xã hội miền Nam, không phân biệt sang hèn, kinh thượng, bỏ nhà, bỏ lớp, bỏ hết tương lai của tuổi trẻ và đời người để lên đường ra biên cương chống giặc thù. Giữa lúc đất nước lầm than, muôn người khốn khổ vì chiến tranh do Hồ Chí Minh và cọng sản mang từ Liên Xô-Trung Cộng vào để dầy xéo non sông tổ quốc, thì tại hậu phương Miền Nam có một số người tự nhận mình là trí thức, giáo sư, tu sĩ, hầu hết đều đang độ xuân thì, mập mạnh nhưng lại tìm cách đứng bên lề cuộc chiến bằng đủ mọi lý do để được hoãn dịch, trốn nghĩa vụ làm trai trong thời tao loạn. Nếu vì sợ chết mà trốn đi lính, thì cũng còn có thể tha thứ nhưng những hạng người này, không bao giờ chịu để yên cho đồng bào và đất nước mình, đang trăn trở trong cơn đau bom đạn, hận thù, đói nghèo và ly biệt. Họ hoàn toàn không thông cảm cho ai hết, ngoài cái lý tưởng đã thu lượm được, qua sách báo tây phương phản chiến và các kinh điển nhật tụng của thiên đàng xã hội chủ nghĩa, trong lúc được sống ở hậu phương, thừa mứa vật chất, gái tình và thời gian để đâm thọt, phá hoại.
Ngày nay ai cũng biết, cuộc chiến Ðông Dương lần thứ hai (1955-1975) rất đa dạng, phức tạp, khó có thể định nghĩa cho trọn vẹn. Nói chung tùy theo lý tưởng,ai muốn gọi thế nào cũng đều có ý nghĩa riêng với người trong cuộc. Cho nên với người Miền Nam VN, thì đây là một cuộc chiến đấu chống xâm lăng. Cuộc chiến này hoàn toàn khác biệt với cuộc phân tranh của hai họ Trịnh Nguyễn vào thế kỷ thứ 17, lúc đó chỉ là cuộc tương tàn nồi da xáo thịt để tranh giành quyền lãnh đạo của đất nước. Trái lại cuộc chiến lần này, người Miền Nam chiến đấu, vừa để tự vệ, vừa bảo vệ phân nửa mảnh đất VN, để khỏi bị Bắc Việt nhuộm đỏ bằng chủ thuyết cọng sản. Nhưng với bọn trí thức thiên tả, phản chiến nằm vùng lúc đó, lại trắng trợn phỉ báng, gọi QLVNCH là lính đánh thuê cho Mỹ.
Chính bọn trí thức thiên tả này, đã lợi dụng tự do báo chí ngôn luận của VNCH, để viết lách, sáng tác nhạc nhụa bôi nhọ, xuyên tạc, tuyên truyền phá nát hậu phương, đâm sau lưng chiến sĩ tuyền tuyến, đang liều chết để bảo vệ đồng bào, trong đó có cả sinh mạng ký sinh của chúng.
MỸ BÁN ÐỨNG VNCH CHO CỘNG SẢN :
Bắt đầu từ ngày 13-5-1968, Mỹ và Bắc Việt đã lén lút đi đêm với nhau tại Paris, để tìm cách đổi chác trên thân xác của VNCH. Nhưng kẻ cắp gặp bà già, nên dù hằng tuần có gặp nhau, Kissinger và Lê Ðức Thọ vẫn không đạt được một thỏa thuận nào. Theo tiết lộ mới đây của Kissinger, trong hồi ký ‘ The Kissinger Transcripts ‘, trong đó đã ghi chép đầy đủ về mọi mánh lới, thủ thuật của Mỹ để ve vãn Trung Cộng, chống lại Liên Xô vào tháng 1-1972. Cũng theo sách dẫn chứng trên, thì Kissinger đã làm đủ mọi thủ đoạn, để đạt cho được mục đích. Trong cuộc, VNCH là con vật tế thần, mà cặp Nixon và Kissinger đã xử dụng, nên cuối cùng dẫn tới sự chấp nhận những điều kiện phi lý, mà Hoa Kỳ dùng bùa viện trợ, ép buộc VNCH phải ký kết trong bản hiệp định ngưng bắn năm 1973. Riêng đối với Bắc Việt, mặt thật cũng đâu có hãnh diện gì hơn VNCH, trong cuơng vị làm đầy tớ Nga-Tàu. Bởi vậy, khi Liên Xô thấy Mỹ và Trung Cộng đã liên kết với nhau, chắc chắn Tàu Cộng sẽ theo Mỹ, bắt VC ngưng bắn có điều kiện. Bởi vậy, một mặt LX viện trợ tối đa cho Hà Nội, đồng thời ra lệnh cho VC mở hết mặt trận này tới chiến dịch khác, mà lần cuối cùng là ngày quốc hận 30-4-1975, đưa cả nước VN trong ba mươi ba năm đắm chìm trong cảnh nghèo đói, lầm than, hận thù vì vũng bùn ô uế của cái gọi là thiên đàng xã hội chủ nghĩa.
Người Mỹ đã ký kết hiệp định ngưng bắn Ba Lê, chỉ với mục đích rút quân và đem tù binh về nước, để Nixon đắc cử thêm một nhiệm kỳ tổng thống Mỹ và Kissinger tiếp tục giữ chức lớn trong chính quyền Hoa Kỳ. Ngoài mục đích trên, người Mỹ không cần đếm xỉa gì tới tương lai cũng như số phận của người Việt, nước Việt.
Sau này, khi VNCH đã sụp đổ, nhiều nhân vật quốc tế liên quan tới cuộc chiến VN, đều phê bình sự tắc trách của Hoa Kỳ, khi dựng lên cái quái thai hiệp định ngưng bắn, để bán đứng đồng minh của mình. Chính TT. Nixon cũng đã xác nhận lỗi lầm của mình trong tác phẩm ‘ No More VietNam’ rằng tôi đã thấy những vấn đề nan giải của hiệp định Ba Lê nhưng quan trọng nhất trong thỏa ứơc này là đã không bắt buộc Hà Nội rút hết bộ đội đã xâm nhập về Bắc. Còn M. Gauvin , đại sứ Canada tại Hy Lap, nguyên chủ tịch uỷ hội kiểm soát quốc tế (CICCS) tại VN, đã tuyên bố ‘ VNCH bi sụp đổ hoàn toàn do quyết tâm bỏ rơi của Hoa Kỳ. Riêng cái hiệp định ngưng bắn ký kết tại Ba Lê năm 1973, đã không phản ảnh được ý muốn và nguyện vọng của người dân Miền Nam, là muốn sống hòa bình và không bao giờ chấp nhận chủ nghĩa cọng sản, nên ngay từ năm 1954, họ đã phải bỏ miền bắc để vào Nam, chạy trốn VC’. Nhưng phê bình một cách thẳng thắn, là Sir R.Thompson ‘ Sự sống còn của Nam VN, đã bị người Mỹ tước đoạt hay nói thẳng là bán đứng. Có làm như vậy, Hoa Kỳ mới tránh cho nước mình bị khỏi bị sâu xé tan nát. Một điều nghịch lý khác là cọng sản Bắc Việt, bị bó buộc tới bàn hội nghị, không phải để cứu họ, mà là cứu nước Mỹ. Nên dĩ nhiên Mỹ phải đem đồng minh VNCH ra bán đứng, để đền ơn cứu mạng ‘.
Ngoài vấn đề phủi tay tại Nam VN sau khi đã đem được tù binh và hài cốt quân Mỹ về, quốc hội Hoa Kỳ còn bội ước, khi liên tục biểu quyết các đạo luật ngăn cấm can thiệp bằng quân sự của Mỹ tại Nam VN, cắt giảm dần quân viện, không chịu hoán đổi quân trang quân dụng, như các thỏa ước đã ký kết Sự bất công vô lý, đến đổi Tuỳ Viên Quân Sự (DAO), tại Nam VN, đã phải viết ‘ Người Lính VNCH do đó, đã phải chấp nhận sống với những nhu cầu, dưới mức bình thường, làm cho tinh thần người chiến sĩ xuống thấp, vì bị hạn chế các phương tiên ngăn chống giặc ‘.Chỉ có Robert S McNamara, cựu bộ trưởng quốc phòng thời TT.John Kenedy, thì vẫn ngoan cố để chạy tội, quên hết trách nhiệm của mình, trong tác phẩm ‘ In Retrospect : The Tragedy and Lessons Of VN ‘, bêu xấu và đổ hết trách nhiệm làm mất nước cho QLVNCH.
Sự thật, khi viết về Quân Lực VNCH, hầu hết các nhà quân sử trên thế giới cũng như các Sử Gia hiện tại của VN như Nguyễn Khắc Ngữ, Chánh Ðao, Phan Nhật Nam, Ttần Ðại Sỹ, Phạm Huấn, Nguyễn Ðức Phương, Phạm Phong Dinh, Trần Gia Phụng, Nguyễn Lý Tưởng, Vi Anh, Phạm Trần, Huy Phương.. kể cả Trung Tâm Ca Nhạc Kich Hải Ngoại ASIA do các con chim đầu đàn Trúc Hồ, Nam Lộc, Việt Dũng điều khiển, đều đứng chung trên quan điểm ca tụng tinh thần hy sinh và trách nhiệm của người lính VNCH, đối với đất nước và đồng bào.
Nhờ thiện chiến, có kỷ luật nghiêm minh, biết bổn phận, nên trong suốt cuộc chiến hai mươi năm, dù lúc nào VNCH cũng bị Bắc Việt tấn công lén như Tết Mậu Thân 1968, Mùa Hè 1972.. nhưng Họ đã can trường lật ngược hoàn cảnh, để chuyển thắng thành bại. Hầu hết lính và các cấp chỉ huy ngoài chiến trường, đã quyết tử trong giờ thứ 25, tới khi được lệnh bắt buông súng của Dương Văn Minh, mới chịu rã ngủ.
Mới đây có nhiều tác phẩm được công bố như The Pategon Papers, Fires In The Lake của Frances Fitzgeral, The Best and The Brightest của Halberstam và nhất là các hồi ký của Kissinger.. đều cho thấy từ khởi đầu cuộc chiền, đến khi tàn cuộc, cho thấy người Mỹ luôn luôn là đạo diễn chính trong thảm kịch VN. Trong lúc cọng sản Bắc Việt, được Tập Ðoàn Cọng Sản Quốc Tế cả Liên Hiệp Quốc, viện trợ quân sự thả dàn, thì QLVNCH bị Hoo Kỳ qua Viện Trợ, chèn ép bắt bó tay, nên phải chiến đấu trong nghiệt ngã để sinh tồn.
Theo Harry H Noyes, qua tác phẩm ‘ Herdic Allies’, với tư cach là một sĩ quan cao cấp của Mỹ , đã chiến đấu nhiều năm ngoài mặt trận, bên cạnh QLVNCH, nên đã có những nhận định rất thẳng thắn, trái ngược với mồm mép mệng lưỡi bọn nhà báo và chính trị con buôn Mỹ và tây phương. Theo tác giả trên, thì thái độ bêu xấu hay bóp méo sự thật, nhắm vào QLVNCH, chẳng qua chỉ là sự kỳ thị chủng tộc thường thấy của bọn da trắng, lúc nào cũng tự xem mình là văn minh, đứng trên các dân tộc khác. Một điều quan trọng khác, là suốt cuộc chiến đẫm máu tại Nam VN, đa số dân tây phương và Hoa Kỳ, đã bị điệp viên của khối cọng sản, củng như KGB của Liên Xô, mua chuộc hay tuyên truyền. Do đó lúc nào họ cũng có cảm tình với Bắc Việt, nên cứ bóp méo sự thật, để khinh bỉ VNCH.
Bảo rằng QLVNCH không chịu chiến đấu, trốn trách nhiệm, chỉ muốn khoán trắng cho quân đội Mỹ, kể cả sự oanh tạc Miền Bắc, là một ngang ngược và phi lý. Ðể trả lời, nhiều người đã hỏi ngược lại người Mỹ rằng ‘ vậy thì từ năm 1955-1965 và cuối năm 1971-4/1975, khoảng thời gian đó, người Mỹ hoặc chưa tới hay đã rời VN, vậy ai đã chiến đấu với bộ đội Bắc Việt ?’. Còn về vấn đề oanh tạc Miền Bắc, từ đầu tới cuối có khi nào Hoa Kỳ giao trách nhiệm cho Không Quân VNCH, cũng như chịu cung cấp cho họ các loại phi cơ chiến đấu tối tân, để chiến đấu cho có hiệu quả. Một bí mật khác, là người Mỹ dành độc quyền oanh tạc Miền Bắc, để thi hành lệnh của Hoa Thịnh Ðốn, là đem gần hết số bom đổ xuống biển hay núi rừng không phải là mục tiêu quân sự cần tiêu diệt. Bởi vậy làm sao dám giao nhiệm cho KQ.VNCH ?
Còn trong thời gian Mỹ tham chiến tại VN, mở các cuộc hành quân tiêu diệt cọng sản. Tất cả đều là HÀNH QUÂN HỖN HỢP, giữa quân ÐồngMinh-Hoa Kỳ và VNCH, tiêu biểu như HQ Cedar Faces tại Vùng Tam Giác Sắt (Bình Dương-Hậu Nghĩa), đầu tháng 1-1967, tiếp theo là HQ Toledo, mục đích càn quét Chiến Khu C và Cục R, do Lực Lượng hỗn hợp, gồm Lữ Ðoàn 173 Nhảy Dù-Hoa Kỳ cùng 2 Tiểu Ðoàn 33-35/Biệt Ðộng Quân/VNCH đảm trách. Ðặc biệt tại Ðiện Biên Phủ KHE SANH cuối năm 1967, vẫn có quân VNCH tham dư, đó là TD37- BDQ, thuộc Liên Ðoàn 1/BDQ của Quân Ðoàn I.
Sau cuộc chiến, để chạy tội bán đứng đồng minh, cũng như phản bội Tổ Quốc và đồng bào mình, Hoa Kỳ và bọn khoa bảng-trí thức thân cộng Miền Nam, những người muôn năm trong dòng sử Việt, được bia đời phong cho danh hiệu là ‘ TRÍ THỨC CHỒN LÙI’, còn các lãnh tụ cộng sản như Stalin, Mao Trạch Ðông, kể cả Hồ Chí Minh, coi rẻ hơn CỤC PHÂN NGƯỜI vì suốt kiếp chẳng làm được một điều gì tốt hay ích lợi, để giúp cho đất nước và đồng bào. Bọn trí thức này ôm chân níu áo Người Việt tị nạn khắp các nẻo đường hải ngoại, trong lúc vẫn sống cao sang quyền thế như lúc còn trà trộn trong các Ðại Học, Chùa-Nhà Thờ, Tòa Báo,sân khấu, phòng trà.. và trên các trang sách-thơ cuối tuần, vẫn chứng nào tật nấy, không hề thay đổi lương tâm một chút gì, dù phong trần đã nếm, vinh nhục bề bề và trên hết là vẩn bám vào Người Việt Tị Nạn Cộng Sản để mà ra báo, làm báo và sinh tồn, dù rằng chúng đã nói là ÐÃ ÐI HẾT BIỂN NAY PHẢI VỀ NGUỒN nhưng lại không dám bán nhà, bán chùa, bỏ sở và cuộc sống thừa mứa tại Mỹ, để về sống với Việt Cộng, đạo pháp để hưởng Vinh Hoa Phú Quý, Tự Do Dân Chủ, tự do tôn giáo, tự do quyên tiền cúng dường của khách thập phương.. trong Xã Nghĩa Thiên Ðàng, như chúng hằng ca tụng.
Chính người Mỹ và bọn trí thức-khoa bảng thân cộng này, trước sau vẫn đổ trách nhiệm làm sụp đổ Miền Nam cho các cấp lãnh đạo của VNCH. Riêng sự bảo rằng VNCH không có lãnh đạo xứng đáng, ngang cơ để đối đầu với cáo già Hồ Chí Minh của Bắc Việt, sau khi TT Ngô Ðình Diệm bị hạ sát vào ngày 1-11-1963, là điều suy nghĩ quá đáng và đâu có khác gì việc Mỹ nói QLVNCH không chiến đấu, mà chỉ giao hết cho quân đội Hoa Kỳ.
Nhưng mai mĩa nhất vẫn là lời xác nhận của Kissinger , khi cho bạch hóa các tài liệu cũ liên quan tới chiến cuộc Ðông Dương lần thứ 2 (1960-1975 ) ‘ Mỹ đã chơi với Trung Cộng từ năm 1972, vậy thì bán Miền Nam VNCH cho Cộng Sản Quốc Tế Bắc Việt, qua Hiệp Ðịnh Paris 1973, cũng đâu có gì lạ ? ‘
Sự thật, QLVNCH từ 1960-1975, đã có rất nhiều cấp chỉ huy tài ba lẫn đạo đức, văn võ vẹn toàn. Họ được đào tạo từ các quân trường nổi tiếng nhất vùng Ðông Nam Á thời đó như Trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt, Trường Bộ Binh Thủ Ðức, Trường Ðại Học Chiến Tranh Chính Trị, Các Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân và Hải Quân, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh và Cảnh Sát.. cũng như Trường Ðại Học Quân Sự.
Ngày xưa người Lính VN, chiến đấu trong vinh quang, khi trở về cũng thật hiên ngang, giữa cảnh phu phụ trùng phùng, nồng ấm kết lại mối tình xưa :
‘..xin vì chàng, xếp bào cỡi giáp
xin vì chàng giũ lớp phong sương
vì chàng tay chuốc chén vàng
vì chàng điểm phấn đeo hương não nùng.. ’
( Chinh Phụ Ngâm ố Ðặng Trần Côn và Ðoàn Thị Ðiểm)
Ngày nay người chiến sĩ VNCH không có cái diễm phúc trên, vì suốt cuộc chiến hai mươi năm, ngoài mặt trận thì chống trả với kẻ thù trong nổi cô độc. Khi trở về lại bị kẻ thù đọa đầy, tù ngục và chết trong uất hận nghẹn ngào.
Thử hỏi trong cõi đời này, có quân đội nào bất hạnh hơn QLVNCH ? Trong lúc đã có không biết bao nhiêu người hiện nay, đang sống thản nhiên khắp các nẻo đường hải ngoại, mà hầu hết bản thân họ hay con cháu, hôm qua vẫn sống nhờ sự bảo bọc của lính. Trong số này có rất nhiều người đang dấn thân lo chuyện non nước. Không biết trong tâm tư của họ, có một giây phút nào, do lương tâm xao động, khiến họ chợt nghĩ tới những người xưa đã VỊ QUỐC VONG THÂN ? Cũng may hầu hết người Miền Nam, xưa nay vẫn biết ơn người lính năm nào, nhất là sau ba mươi năm qua, đã biết hết cảnh đổi đời oan nghiệt.
Xưa NGƯỜI LÍNH chiến đấu anh dũng trong khói lửa để bảo quốc an dân. Nay những người lính già còn sót lại sau cuộc chiến và lớp hậu duệ của lính năm nào, đã và đang tiếp tục tranh đấu không ngừng, cho một ngày về QUANG PHỤC QUÊ HƯƠNG được sống thật với tự do và no ấm, như chúng ta hiện nay đang hưởng tại quê người.
‘..tội nghiệp, đời trai chưa thỏa chí
sa trường dung ruổi đã phơi thây
đoàn quân hùng liệt nay về đất
hồn vẫn quanh co giẫm lối gầy
chiều chiều đứng ngóng ngàn mây nổi
mà khóc quê hương khuất bến bờ
nhớ lúc hát rừng nơi chiến địa
mộng hoàng hoa, khép giữa hư vô.. ’
Hồ Đinh
Mùa Quốc Hận Tháng 4-2008.
Seal Beach Ca USA

Hai Mươi Sáu Năm Lưu Đày
Trần Việt Hải Cuốn sách Hai Mươi Sáu Năm Lưu Đày là một bản cáo trạng nói đến tội ác của chế độ CSVN trước lương tâm nhân loại. Người CS áp dụng chủ thuyết Tam Vô, mà trong đó 3 yếu tố cấm kỵ của họ là Vô Tổ Quốc, Vô Gia Đình và Vô Tôn Giáo. Yếu tố thứ ba đã ảnh hưởng trực tiếp đến tác giả Huỳnh Văn Ba, tức Thượng tọa Thích Thiện Minh.
Tác phẩm Hai Mươi Sáu Năm Lưu Đày trình bày những án tù cực hình, dã man mà người tu sĩ bất khuất chịu đựng. Ông mất ngôi chùa nơi thờ phượng, hành đạo, ông mất quê hương trong 26 năm lưu đày xa xứ, ông mất quyền làm người với nhân vị xứng đáng của một nhà tu hành.
Xin hãy lắng nghe tiếng lòng của ngài Thiện Minh để thấy rằng đức tính bi trí dũng của người con Phật vẫn sáng ngời trước những đàn áp của bạo lực. (Việt Hải)
“26 Năm Lưu Đày”
của Thượng tọa Thích Thiện Minh Tôi hân hạnh được cô Trâm Oanh bên Đức Quốc gửi biếu cuốn "26 Năm Lưu Đày" của Thượng tọa Thích Thiện Minh. Tôi như bị thôi miên nhìn vào cái đề tựa. Hai mươi sáu năm là một khoảng thời gian quá dài, thời gian mà vị tu sĩ chịu đựng bao nhiêu nỗi nhục nhằn bị tra tấn, những cực hình lên tinh thần và thể xác. Tôi đọc 12 chương sách hay xuyên suốt 270 trang giấy, mà mỗi chương chuyên chở tiếng lòng bất khuất của vị tù nhân lương tâm đáng kính này.
Thượng Tọa Thích Thiện Minh có thế danh là Huỳnh Văn Ba, sinh trưởng tại tỉnh Bạc Liêu. Trong chương 1 của sách, ngài cho biết là thân phụ là một tín hữu Cao Đài: "Cha tôi có tấm lòng nhân hậu, tính tình rộng rãi hay giúp người. Mẹ tôi là một người đàn bà hiền thục, mẫu mực vất vả quanh năm vì chồnng con.” (Tr. 8 ) Có lúc gia đình phải tha hương cầu thực tại Vĩnh Bình (Trà Vinh). Chính tại nơi đây cậu bé Hùynh Văn Ba đã có duyên với cửa Thiền và được cha mẹ cho phép xuất gia. Năm 17 tuổi (1972) tác giả thọ giới Sa Di và năm 22 tuổi (1977) thọ Cụ Túc Giới do Hòa Thượng Thích Trí Thủ, rồi sau này được cử về trụ trì tại một ngôi chùa tại Vĩnh Bình và đã được đồng bào Phật tử tại đây gọi thân mật bằng các tên “ông đạo, huynh, cậu và thậm chí bằng con, bằng cháu nữa""
Chương 2 kể về biến cố đau thương 30 Tháng 4 xảy đến như một cơn đại hồng thủy mà dùng hai cụm từ ngữ là "Ách Vận Đại Biến" hay "Hắc Ám Nhật Tử" (Ngày Đen Tối). Sự hống hách của các cán bộ Việt Cộng sau khi xâm chiếm miền Nam, với tinh thần Tam vô chủ nghĩa: vô gia đình, vô tổ quốc và vô tôn giáo. Tên cán bộ Hai Thổ, xã đội trưởng du kích, ngang ngược chỉ vào tượng Đức Phật Đản Sinh, cười khinh khỉnh tuyên bố xấc xượt: "Thằng Phật nhỏ xíu này nó không có công làm cách mạng để đánh đuổi Đế Quốc, tại sao phải thờ nó? Nó ngồi một chỗ, để chờ người ta đem quà lại dâng cúng. Nó là thành phần giai cấp bóc lột mà!”. Đoạn y bước lên Chánh Điện lấy tay sờ vào tượng Phật Thích Ca Mâu Ni và nói: "Thằng Phật nầy ăn gì mà mập quá vậy!". Một lần khác sau khi Thượng Tọa bị bắt, Hai Thồ vào chùa chỉ tay tượng Phật nói: "Thằng Thiện Minh đã bị bắt giam rồi, còn mấy thằng Phật xi măng nầy cũng sẽ áp giải đi luôn". Theo chủ trương tiêu diệt ảnh hưởng của tôn giáo bằng cách khống chế và tịch thu mọi phương và tài sản của các tôn giáo, ngôi chùa Vĩnh Bình của ngài bị chiếm cứ bởi bạo lực của giới cầm quyền, mà đến nay Cộng Sản vẫn chưa trả lại tài sản này cho ngài.
Chương 3 và 4 thầy Thiện Minh mô tả cảnh tù tội. Thầy có kiến thức về thuốc nam cũng như châm cứu và biết võ thiếu lâm. Thầy làm công tác từ thiện, phụ trách mở thêm một phòng thuốc nam, châm cứu từ thiện tại chùa Từ Quang, ngoài phòng thuốc tại chùa Vĩnh Bình, khi gặp một đứa bé đau nặng gần chết vì cơn bệnh hô hấp, thầy ra tay cứu chữa cho bé. Đứa bé khỏi bệnh, người cha đến cám ơn thầy. Anh này là một kháng chiến quân phục quốc. Duyên thời cuộc đưa đẩy thầy vào Mặt Trận Nghĩa Quân Cứu quốc, Việt Nam Dân quốc. Khi bị bại lộ, thầy đứng ra nhận tội chỉ huy để tình nguyện hy sinh, vì càc anh em khác có vợ con. Thời buổi ban đầu khi CS chiếm được miền Nam, họ cai trị bằng nanh vuốt độc ác. Tội chống phá "Cách Mạng" lãnh án tử hình dễ dàng.
Tác giả của sách "26 Năm Lưu Dày" rất thích văn thơ, bằng chứng là nhiều trang sách đã được đăng thơ. Bốn câu thơ sau đây cho thấy tâm hồn thích thi phú của thầy:
"Tu sĩ quyết chùa am bế cửa
Tuốt gươm vàng lên ngựa xông pha
Đền xong nợ nước thù nhà
Thiền môn trở gót phật đà Nam Mô..."
Tác giả thuật lại vì tin người nên âm mưu trốn trại tù bị bại lộ, đưa tới một số người bị bắt, trong đó có người em ruột của thầy, Huỳnh Hữu Thọ, vì mang theo vũ khí yểm trợ cho cuộc vượt ngục tại trại giam huyện Vĩnh Lợi. Thầy Minh và các đồng chí được chuyển sang trại tù Minh Hải. Đây là nơi giam giữ những người mới bị bắt với nhiều tội trạng khác nhau, giam vào đây là để điều tra khai thác vì nơi này có đủ mọi biện pháp được áp dụng khắt khe trong công tác tra hỏi. Tại đây, từ việc đánh đập bằng tay chân, bằng gậy gộc, bằng dùi cui, bằng báng súng cho đến cùm, quyện, giam vào phòng giam riêng là điều xảy ra hàng giờ hàng buổi. Trại giam có đủ mọi cán bộ, công an từ Bắc vào Nam, kể cả kháng chiến lâu năm cho đến những tên công an loại mới vào ngành mà dân gian thừơng gọi là bọn “công an 30/4”. Họ đều có những ngón nghề độc đáo để điều tra, nào là đánh túi bụi, đánh kiểu trên đao dưới búa, còng tay đứng, còng chéo tay sau lưng, còng ngồi đan chéo hai tay. Họ dùng nhục hình để điều tra, bản thân thầy khi giam giữ tại đây, cũng không tránh khỏi những nhục hình này. Hàng ngày hai chân thầy luôn ở trong cùm, bị cùm suốt ngày đêm, suốt tháng quanh năm. Hai chân bị cùm quyện tại chỗ, không thể đứng thẳng được nên dần dần bị tê liệt. Còn tiểu tiện thì trong một cái hũ, mỗi khi đi vệ sinh phải nhờ người khiêng hũ lại dùm. Hũ vệ sinh vừa có phân, vừa có nước tiểu. Mỗi ngày công an cho người đem đổ. Có khi đến 2-3 ngày mới đổ nên phân và nước tiểu tràn ra ngoài ướt cả chỗ nằm bốc mùi hôi thối! Sau khi đổ hũ, công an ra lệnh tù nhân phải vào ngay thật nhanh cho nên chiếc hũ chỉ rửa sơ sài, sau đó họ múc nước ngay chỗ rửa hũ mang vào cho những người đang bị cùm trong quyện như thầy để tắm. Mỗi người trong cùm chỉ được vài ca nước. Ca múc nước tắm cũng là ca đựng cơm ăn hàng bữa…Chiếc hũ luôn luôn còn sót lại phân người, nhất là phân cao lương loại lương thực rất cứng ăn vào khó tiêu, loại này dùng để ăn độn thay thế cơm. Khi tắm phân dính cả vào mặt, vào đầu đó là chuyện thường ngày. Phòng giam kỷ luật rất chật hẹp khoảng hơn 3m2 mà nhốt có khi lên đến 20 người, chỉ ngồi cũng không đủ chỗ làm gì có khoảng trống để nằm.
Trong vòng lao lý tác giả xót xa cho gia đình, nghĩ về hoàn cảnh của mình, là người anh lớn vì thời cuộc oan khiên: "Vì hoàn cảnh quá khổ nghèo do thảm trạng xã hội, nên gia đình thầy gồm: Em thứ 7 của thầy tên Nghĩa phải nghỉ học để đi bán bánh mì dạo nuôi gia đình. Em thứ 6 tên Nhiều phải đạp xe vua, loại xe phải đạp bằng 2 chân, phía sau có gắn cái thùng để chở thêm được vài người. -Em thứ 5 mới lập gia đình hơn 1 năm, vừa sinh được một bé gái, bị nghi ngờ có liên quan vụ án nên đã bị tù . Em gái thứ Tư bán mía, khoai, cóc, ổi,...trước nhà. Hãy đọc tiếp:
“Mẹ tôi tuổi cao sức yếu lại bị bệnh thường xuyên vóc người mỗi ngày một gầy mòn, thân hình tiều tuỵ lo buồn vì chồng, vì con, tức cha tôi vừa qua đời cách đây mấy tháng, nay đến tôi và đứa em trai thứ Năm đều bị tù tội. Một điều xót xa là các em tôi còn thơ ngây nhỏ dại đang trong lứa tuổi cắp sách đến trường, tuổi chỉ biết ăn, biết học, biết chơi. Nay đành từ giã mái trường để tìm kế sinh nhai, vừa nuôi mẹ già đang đau yếu, vừa dành dụm ít tiền hàng tháng để đi thăm nuôi 2 người anh đang ở tù tận mũi Cà Mau... Em trai tôi là một học sinh hiền lành ngoan ngoãn, học rất giỏi, không những lễ phép với thầy cô mà còn rất có tình có nghĩa với bạn học cùng lớp và rất mực hiếu thảo với mẹ cha. Em học luôn đứng nhất, nhì trong lớp lại được bầu làm trưởng lớp nữa! Nhưng vì hoàn cảnh… nên lỡ dỡ việc học hành. Có những buổi đi bán bánh mì ngang qua trường cũ, em cố đi qua thật nhanh, và kéo chiếc nón sụp khỏi vành tai để cho các bạn đừng nhìn thấy. Thật ra trong lòng em rất tiếc nuối và rạo rực trào dâng một nỗi niềm nữa vui nữa buồn khôn tả. Em hình dung lại hình ảnh của thầy cô, của bạn bè … đôi chân em dường như muốn chùn lại, nước mắt lưng tròng."
Văn phong của tác giả trung thực trong nỗi chua xót trong tâm can của tôi. Là một tăng sĩ, một sĩ phu không khuất phục bạo lực. Tôi đọc đoạn thầy đấu khẩu với tên Nguyễn Ngọc Cơ tự là Sáu Búa, Viện trưởng viện kiểm sat nhân dân tỉnh Minh Hải. Lý do mà ông ta có biệt danh là Sáu Búa vì thời kỳ còn hoạt động trong rừng rú ông này phụ trách thi hành án tử hình. Một hôm nọ, tòa án xử tử hình một bà lão trên 70 tuổi, tuổi đã gần đất xa trời, cụ bà bị khép vào tội "làm điềm" tức là chỉ điểm viên cho quân đội VNCH. Đáng lý ra ông ta thi hành án xử tử bằng mã tấu, nhưng đây là phiên tòa nhân dân lưu động đặc biệt, nên khi xử xong là thi hành án ngay. Hôm đó ông không đem theo mã tấu bên mình, nên đành tạm mượn 1 chiếc búa của dân làng. Ông phải vất vã đập đầu bà cụ đúng 6 nhát búa thì bà mới tắt thở. Người chứng kiến sự kiện man rợ trên cho rằng cụ bà bị hàm oan nên khi chết đôi mắt cứ mở trao tráo, mà không chịu nhắm nghiền lại.
Ra tòa xét xử, thầy Thiện Minh bị Sáu Búa hỏi vặn như răn đe:
- Anh có sợ chết không?
Thầy trả lời: "Mọi người trên đời này chỉ chết có một lần, nhưng ai ai cũng muốn sống, và cũng chẳng có ai sống mãi trên đời, nhưng sống hay chết như thế nào để có ý nghĩa, có ích cho đời đó mới là điều quan trọng bởi vì "Tử đắc kỳ sở". Tôi làm việc này để đồng bào được sống đúng ý nghĩa của con người, đúng với Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền theo nghị quyết 217A ngày 10-12-1948".
Sáu Búa hỏi tiếp:
- Sống đúng với ý nghĩa của Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền là như thế nào ?
Thầy trả lời: "Phải có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Dân quyền không bị tước đoạt, giá trị nhân phẩm của con người không bị chà đạp, mưu cầu hạnh phúc bằng sự chân chính chứ không phải tóm thâu của kẻ khác đem về cho mình làm chủ"
Ông ta lại nói tiếp:
- Nhưng, nếu chúng tôi đem anh xét xử với tội chết thì anh nghĩ thế nào ?
Thầy trả lời:
- Nếu cần phải sống cho sự nghiệp và lý tưởng được sống mãi ta phải cố sống và nếu cần phải chết cho sự nghiệp và lý tưởng được sống mãi, đôi lúc ta cũng vui vẻ chết, đó là sự dũng cãm hy sinh để trở thành bất tử, đối với nhà tu là thánh hóa linh hồn.
Sáu Búa lắng nghe. Thầy tiếp lời:
- Vả lại ông biết rồi đạo Phật chúng tôi chết là giải thoát.
Ông ta nói:
- Thôi đừng giảng đạo ở đây nữa, chừng nào về chùa cứ mà giảng đạo, sợ không chịu nổi nửa mức án, chứ làm gì có thể về chùa.
Thời gian "làm việc" hơn nửa giờ đồng hồ, hai bên cứ đấu lý qua lại vẫn chưa đi đến đâu. Sáu Búa lườm nguýt tỏ vẻ khó chịu và hỏi thẳng vào nguyên nhân "làm loạn, phản động":
- Anh cho biết ai là người đứng đầu tổ chức Trung ương của anh ?
Thầy Minh trả lời:
- Ở Trung ương có Thượng Tướng Trần Văn Trà và Bà Nguyễn Thị Bình.
Ông ta đổi sắc mặt lấy tay đập bàn và nói một cách hằn hộc:
- Tại sao anh lại dám khai hai đồng chí cao cấp của tôi, trong khi hai đồng chí này có mấy chục năm tuổi Đảng, đã đóng góp nhiều cho cách mạng để đem đến sự thành công vẻ vang như ngày hôm nay, mà anh cho rằng phản động như anh vậy à! Tại Sao anh không khai cả tôi luôn đi, tôi tên là Nguyễn Ngọc Cơ tức Sáu Búa nè !
Khi nghe xong câu thách đố, thầy tỏ thái độ khó chịu và nhìn Sáu Búa nói thêm:
- Xin lỗi ông tôi không phải là quan, chứ nếu tôi là quan thì tướng mạo của ông xin làm lính tôi, tôi cũng không nhận, thì khai ông làm gì?
Có lẽ bị cú sốc bất ngờ như xối gáo nước lạnh vào mặt, Sáu Búa nổi nóng liền vói tay chụp lấy cái bình trà để trên bàn và dự định ném vào người thầy. Theo sự tường thuật, thầy điềm nhiên phát biểu:
- Tư cách một ông Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, mà có hành vi thất sách đối với người tù chính trị tôn giáo như tôi à!
Sáu Búa bỗng dừng tay lại và quát to:
- Đồ ngoan cố, mầy là tên phản động, chuyên khuấy đục và bôi bẩn Đảng, mầy về đi!
Chúng ta thấy rằng giới luật pháp tuân lệnh Đảng CS u mê chỉ là bọn vô lại, côn đố tiếp tay cho tội ác để đàn áp nhân dân mà thôi.
Một trường hợp thương tâm khác khi thầy kể lại trong chương 5 là:
"Tôi còn nhớ chỉ sau ngày 30-4-1975 vài hôm, thì ông xã trưởng chính quyền cũ thường được gọi là ( ông xã Điểm) ông xã này trước kia thường bắt nhiều Việt Cộng ban đêm bò ra gài mìn phá đường, phá lộ giựt sập cầu và rãi truyền đơn v.v… Đến khi Sài Gòn đổi chủ, Việt Cộng tiếp quản chính quyền thì ông xã Điểm bị đem xử tử tại xã. Trước khi xử bắn họ tập họp dân lại để kể tội ông, dân theo Việt Cộng dùng cây, kẻ dùng đá, đòn gánh đánh đập túi bụi, đầu cổ ông bị giập nát, mình đầy máu me, máu tuôn chảy đầm đìa lênh láng mà họ còn không buông tha. Trong khi hai tay bị trói chặt, miệng nhét đầy giẻ và thêm một trái chanh rồi bịt miệng bằng một chiếc khăn đen, đã vậy mà hai ba người còn dùng mấy cục đá thật to chạy đến đập vào đầu ông xã Điểm một lần nữa, trước khi lôi kéo thân ông đến một gốc cây họ buộc thật chặt và bắn ba phát súng. Khi nạn nhân ngã qụy tên trưởng toán đến bên xác nắm tóc lên và nả vào màng tang một viên đạn gọi là “ân huệ sau cùng” trước khi kéo xác lấp vào hố."
Khi được chuyển sang trại cải tạo Cây Gừa lại âm mưu vượt trại và rồi bị thất bại. Năm bạn đồng tù toa rập đào lổ thoát thân, khi nội vụ bất thành, một người bị xử tử, bốn người còn lại bị đày ra miền trung, giam vào trại tù Xuân Phước, nằm trong một thung lủng tử thần, nơi rừng thiên nước độc. Nơi đây tác giả sau cùng lại gặp nhiều tù nhân của càc tôn giáo được giải về đây. Xuân Phước khét tiếng với khu kỷ luật gồm 3 loại cùm, loại khoen tròn, loại khoen chữ V và loại khoen chữ V có khía hình răng cưa. Tùy theo thái độ của người tù mà họ ứng xử, hoặc phát cơm chan ngập nước muối, ăn vào mặn đắng không tài nào nuốt nổi. Đặc biệt trại tù xử dụng những tên gọi là Trật tự để trù dập, đánh đập, bớt nước uống, bớt cơm của tù nhân. Ở trại K1 có tên Tân mang tội hình sự là bộ đội CS, đã từng ăn gan người ở Campuchia, nên đôi mắt lúc nào cũng đỏ ngầu trông phát khiếp. Tại nhà tù Xuân Phước sự ngược đãi tù nhân rất tàn tệ, người tù sống trong cảnh thiếu thốn mọi bề, vô cùng nghiệt ngã. Nhiều tù nhân bị kiệt sức vì bị cưỡng bức lao động khổ sai hoặc bị đánh đập tàn bạo man rợ, tính trung bình thì tháng nào cũng có vài người chết. Có khi chết liên tục một tháng 3 đến 5 người, đây là chuyện thường xảy ra và thầy đã ra câu thơ:
«Trông thấy người khác chết
Trong lòng rất xót xa
Nửa thương xót kẻ chết
Nửa nghĩ tới phiên ta...!»
Ở hoàn cảnh cùng kẹt không lối thoát người tù đâm ra ù lì liều lĩnh. Một khi chí đã quyết nên phải ra tay, từ đó thầy Thiện Minh cùng với một số bạn đồng tù thân quen trong trại đứng ra tổ chức cướp trại giải thoát cho tù nhân bạn, âm mưu là định giải cứu đem đi 700 người trong số hơn 1000 người của trại. Tất cả sẽ cùng nhau hoạt động trong rừng và hợp tác đấu tranh. Nhưng sự việc bị bại lộ cho nên tù nhân nổi loạn bị bắt và bị cùm quyện tay chân ngày đêm hơn 3 năm.
Trong thời gian điều tra thầy bị đánh đập dã man, đặc biệt những trận đòn hội đồng, bị đánh tập thể gồm có các tên cán bộ an ninh của trung tâm. Chúng đánh bằng báng súng, bằng tay chân và 100 roi điện. Trong một buổi điều tra để khai thác cung để bắt thêm người, các tên đao phủ an ninh trại đánh thầy bằng tay chân tới tấp vào thân thể, đầu, mặt. Phía sau có một tên cán bộ khác dùng họng súng dài, thúc mạnh vào lưng trúng ngay lá phổi làm thầy bị trọng thương té ngất xỉu, máu tuôn ướt đẫm cả áo quần. Sau khi tỉnh dậy, những tên hung thần nầy không cho thầy thay quần áo, thầy đành mặc áo dính máu luôn cho đến khi rách nát. Hậu quả, vết thương lá phổi của thầy đến giờ này cũng còn dây dưa chưa dứt hẳn, nó thường đau buốt và ho liên tục mỗi khi trái gió trở trời. Đánh đấm bằng chân tay và bá súng chưa đủ, chúng đánh tiếp thầy 99 roi điện chỉ vì đếm lộn một roi. Đến khi kết thúc điều tra vụ án trốn trại các tên nầy lập hồ sơ quy kết thầy tổ chức “chống phá trại giam".
Một bài thơ kỷ niệm được thầy cảm tác như sau:
«TU TÙ...!
Thêm dấu chữ Tu biến chữ Tù
Chung thân hai án ở thiên thu
Tay còng, chân quyện nơi u tối
Cửa sắt, tường cao chốn mịt mù
Thân thể hình hài trông yếu kém
Tinh thần, trí tuệ sáng trăng thu
Thiên đàng, địa ngục phân hai nẻo
Nửa kiếp thầy tu nữa kiếp tù...!
Nửa kiếp Thầy tu nửa kiếp tù
Thiền môn giã biệt bước chân du
Từ bi trí tuệ tình thương gọi
Bác ái nghĩa nhân xóa hận thù...
Y chiến ngày đêm luôn mặc giữ
Nâu sòng kinh kệ gác công phu
Nước non đáp trả tròn xong nợ
Tín, Hạnh, Nguyện, thành vẹn kiếp tu...!”
Trong trại tù thầy gặp những bạn đồng tù của các tôn giáo bạn như: Ông Phan Đức Trọng, 72 tuổi, là Giáo hội trưởng giáo hội "Hòa bình chung sống" ở Tây Ninh, ông là con nuôi của Trung tướng Trần Quang Vinh, Tổng Tư lệnh quân đội Cao Đài. Ông Trần Văn Nhành, một tín đồ thuần thành của đạo Hòa Hảo thuần tuý. Quý Linh Mục Nguyễn Văn Vàng thuộc dòng Chúa Cứu Thế, Linh Mục Nguyễn Quang Minh thuộc nhà thờ Vinh Sơn, Linh Mục Nguyễn Luân, thuộc giáo xứ Phan Rang, Linh Mục Nguyễn Tấn Chức, và nhiều nữa. Sống trong trại, tù nhân bị bạc đãi, quần áo bị mục nát, quần đùi không còn đủ để che thân. Linh Mục Vàng bị ghẻ mủ khắp thân thể, ngoại trừ trên mặt thì không có, ghẻ mủ dầy như dề cơm cháy khét đen, còn Linh Mục Nguyễn Quang Minh thì bị đánh trọng thương, đánh ho ra hộc máu miệng, và cả hậu môn, chỉ vì đem vào trại vài chiếc bánh “thánh" để rồi qua đời sau đó mấy ngày. Riêng Linh Mục Nguyễn Luân bị bệnh phổi nặng, vì chứng ung thư phổi. Do nhiều năm trong kỷ luật bị tra tấn, đánh đập, thầy Thiện Minh bị chứng viêm phổi nặng. Những lúc gần đây tôi được biết thầy thường ho ra máu.
Tình cảm liên tôn khi Phật giáo và Công giáo chia sẻ những khổ đau vì tai ách giặc Cộng. Cha Nguyễn Luân có biệt hiệu là ông Ba Không. Lý do những tên giám ngục thấy giam hãm ngài nơi kỷ luật quá lâu nên mời ngài lên "làm việc". Họ chỉ cần yêu cầu Linh Mục viết tiêu đề là:
"Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
và ký tên vào thôi! thì chúng sẽ cho Ngài ra khỏi hình phạt kỷ luật ngay. Thế nhưng Linh mục Luân lúc nào cũng viết như sau:
"Cộng Hoà Xã Hội chủ Nghĩa Việt Nam
Không độc lập - Không tự do - Không hạnh phúc".
Những tâm tình giữa Thượng Tọa Thích Thiện Minh và Linh Mục Nguyễn Luân "Ba Không" là khi xứ sở thật sự có tự do nhân quyền, thì một ngôi Chùa và một ngôi Giáo đường được xây kế bên nhau để lễ Giáng Sinh hay lễ Vu Lan thì Con chiên bên Công giáo và Phật tử được thong thả viêng thăm nhau như tinh thần hòa đồng tôn giáo, một ý niệm vô cùng cao đẹp, nhưng nay Linh mục Nguyễn Luân không còn nữa.
Thượng Tọa Thích Thiện Minh trong những chương cuối đế cập những gặp gỡ hay những kỷ niệm khi liên lạc với các bạn đồng tù của chế độ CSVN như Thượng Tọa Thích Không Tánh. Năm 1998, hai thầy gặp nhau trong dịp tiếp kiến phái đoàn Nhân Quyền của LHQ do Ông Abdel Rattah Amor hướng dẫn sang Viêt Nam. CS khuyến khích quý thầy sang Pháp định cư. Tuy nhiên, thầy Thiện Minh khẳng khái đề nghị 4 điểm với phái đoàn LHQ là CS phải:
- Thả tất cả tù nhân chính trị, tù nhân lương tâm, tôn giáo đang bị giam giữ trong nhà tù CS vô điều kiện.
- Đòi trả lại tài sản của các tôn giáo và phục hồi quyền tự do tôn giáo một cách hoàn toàn trong đó có việc phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý của GHPGVNTN.
- Xóa bỏ điều 4 hiến pháp của nước CHXHCNVN để thực hiện một chế độ đa đảng, đa nguyên và bình đẳng giữa các đảng phái.
- Tổng tuyển cử tự do với sự giám sát của LHQ, đôi bên đồng bộ chủ trương tình thương nhân đạo và hóa giải hận thù.
Trong nhà tù CS, thầy Thiện Minh có dịp Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế, một nhân vật bất đồng chính kiến chế độ CSVN, và là Chủ Tịch của Cao Trào Nhân Bản Việt Nam, ông chia sẻ những viên thuốc bổ, thức ăn chay được nhét vào lổ thông hơi như tiếp tế cho sức khoẻ của thầy, ông thể hiện những tình cảm tốt của người bạn đồng tù. Vì thức ăn chay làm giống món thịt như thức ăn mặn nên thầy trả lại qua lổ thông hơi suýt bị bọn cai tù bắt được. Khi BS Quế được phóng thích nhưng ông vẫn cương quyết giữ tinh thần bất khuất và chủ trương dứt khoát đòi hỏi tự do và nhân quyền cho Việt Nam, điều này khiến thầy dành nhiều thiện cảm với vị bác sĩ này.
Một tù nhân đặc biệt khác là GS Doãn Quốc Sỹ, ông bị bắt vì đã gởi ra hải ngoại những truyện đả phá chế độ CS. Hậu quả GS Sỹ bị bắt trong vụ án nổi danh là "Biệt Kích Cầm Bút" và ông được xem như thủ lãnh củs nhóm nhà văn "phản động". Gặp nhau tại khám Chí Hòa, GS Sỹ sáng tác bài thơ ngắn kỷ niệm để tặng thầy, đại ý bài thơ về chú gà mổ những hạt gạo rơi vung vãi dưới đất (trang 223):
“Chú gà mà đi ăn đêm
Thấy hạt cơm mềm vung vãi đâu đây
Đêm khuya tội nghiệp cho mầy
Vất vả cành chầy một bóng thành hai.”
Tôi có nhắc GS Sỹ về bài thơ này ngày xưa, ông nói trong những ngày bị đọa đầy như vậy, những tù nhân nuôi lý tưởng khao khát tự do, họ trao đổi những chuyện trong tù và ngoài đời. GS Sỹ cũng nói thầy Minh có tính cương trực và thẳng thắn, rất đáng quý.
Tác giả kể tên nhiều vị gặp trong tù nữa. phần kết luận ở chương 12. Thầy Thiện Minh xác nhận mình là một thành viên của GHPGVNTN, đã bị chế độ CS giam cầm liên tục 26 năm, so với chiều dài lịch sử của dân tộc không là bao, nhưng so với một đời người quả là khủng khiếp. Thầy dành những lời đầy ân tình như khi GHPGVNTN được lãnh đạo bởi Đại Lão Hòa Thượng Tăng Thống Thích Huyền Quang và Hòa Thượng Viện Trưởng Thích Quảng Độ.
Thầy xác định lập trường của Giáo Hội là phục vụ dân tộc và chúng sanh. Do đó, dù ở đâu hay trong hoàn cảnh nào, Phật Giáo Việt Nam muôn đời vẫn là Phật Giáo Việt Nam, và muôn đời vẫn là của dân tộc Vịêt Nam. Đề cập về Hòa Thượng Viện Trưởng Thích Quảng Độ khi phát biểu về thái độ chính trị phải có của một công dân. Trên phạm vi tu hành, sự tham gia vào đời sống chính trị không có nghĩa là ra tranh chức vụ thế quyền, như ứng cử chức vụ dân biểu, hoặc lập đảng phái này nọ, mà là ý thức được trách nhiệm của mình đối với Tổ Quốc. Cho nên khi mọi người dân có quyền suy nghĩ về chính trị, phát biểu về chính trị và hành xử về chính trị thì đó là chúng ta biết xử dụng quyền công dân. Hãy cân nhắc lá phiếu của mình để chọn người xứng đáng đại diện cho mình hay bầu người cầm vận mệnh quốc gia thì dù muốn dù không cũng đã tham dự vào đời sống chính trị rồi.
Tôi nghe thầy nói trên đài phát thanh về Linh Mục Nguyễn Luân của xứ đạo Phan Rang đã có những khát vọng riêng tư trước khi mất. Ngài tâm sự là:
"Nếu được ra tù hai anh em mình cải cách mối liên hệ tôn giáo theo hướng mới chẳng hạn như: trước nhà thờ, hay bên cạnh Thánh đường thờ Chúa, có ngôi Chùa thờ Phật. Tín đồ Phật tử đi lễ nhà thờ cầu nguyện Chúa và ngược lại Con chiên của Chúa đến Chùa lạy Phật ngày Rằm, bởi các đấng xuất thế luôn chủ trương yêu thương mà người đời thường hay cố chấp. Một khi tinh thần hòa hợp chung thì thể chất mới kết hợp được cho nên nếu các Tôn giáo Đại đoàn kết tạo thành một khối vững chắc đi đầu, thì các tổ chức xã hội mới noi gương... Tôn giáo và nhân quyền là sức mạnh chính làm chuyển hóa chế độ bạo quyền này".
Tôi xót xa khi nghe thầy Thiện Minh nói on air về cái chết của Linh Mục Nguyễn Luân, tôi ngậm ngùi khi đọc những khát vọng của một cha xứ đáng kính nơi cuối trang 243 của sách "26 Năm Lưu Đày".
Như GS Doãn Quốc Sỹ nhận xét về sự cương trực và thẳng thắn của Thượng Tọa Thiện Minh, ngài đã trả một cái giá rất đắt là 26 năm tù tội chỉ vì muốn sống đúng với nhân vị, ngài không chùn bước trước bạo lực. 26 năm tù tội để tranh đấu cho quyền làm người. Nhà tranh đấu cho nhân quyền nổi tiếng tại Nam Phi là Nelson Mandela đã lớn tiếng phê phán, chỉ trích nạn kỳ thị màu da khi nhà cầm quyền thiểu số người da trắng đã bóc lột và đè đầu cởi cổ dân đa số dân da đen, để rồi Nelson Mandela chịu đựng 27 năm tù, loại tù chung thân biệt giam tại hòn đảo Robben Island, họ đánh đập trả thù cá tính ươn ngạnh bất phục tùng của ông. Thượng Tọa Thiện Minh không càch xa người lãnh giải Nobel hòa bình này của năm 1993 là bao, vì cả hai chấp nhận ngồi tù gần 3 thập niên cho giá trị cao quý của quyền làm người, cái quyền bẩm sinh của trời đất, nhân quyền không thể van nài hay xin xỏ để được ban phát mới có được.
Văn hào Aleksandr Isayevich Solzhenitsyn được biết nhiều qua những tác phẩm nổi danh như Tầng Đầu Địa Ngục (The First Circle, truyện kể về trại tù khắt nghiệt Marfino, ngoại ô của Moskova) và Một Ngày trong Đời của Ivan Denisovich (One Day in the Life of Ivan Denisovich), và The Gulag Archipelago (Quần Đảo Ngục Tù), được tuyên bố trúng giải Nobel năm 1970 vì quá khứ cho thấy ông chống báng kịch liệt chế độ độc tài của Liên Sô. Tháng 7 năm 1945 ông bị kết án tù 8 năm tại các trại lao động khổ sai như là gulags cộng thêm 4 năm lưu đày sau đó, vì một bức thư ông viết gửi các bạn bày tỏ quan điểm chống lại chủ nghĩa áp bức người dân của hung thần Josef Stalin. Năm 1965 các tác phẩm của ông bị cấm lưu hành ở Liên Sô. Được phiên dịch và xuất bản ở nước ngoài, các tác phẩm này lại khiến ông bị bắt giữ năm 1974, bị tước bỏ quyền công dân và bị trục xuất ra xứ ngoài. Tác phẩm của Solzhenitsyn là những bản cáo trạng tố cáo tội lỗi của đảng CS Liên Sô, "26 Năm Lưu Đày" của Thượng Tọa Thiện Minh cũng đã trình bày những nỗi ô nhục, những vết nhơ đày đọa nhân dânViệt Nam, thử tượng cảnh tên Sáu Búa đập đầu bà lão đến chết bằng búa, chỉ vì nghi ngờ bà làm điềm chỉ viên cho bên quân đội VNCH. Bao nỗi oan khiên cho dân tộc Việt Nam phải hứng chịu ách Cộng Sản cai trị quê hương oan khiên của chúng ta.
Đọc tác phẩn "26 Năm Lưu Đày" để thấu hiểu những chuổi ngày dài tù tội, để cảm thông với tác giả về những kinh hoàng trên thân xác, những đọa dày về tinh thần. Đọc tác phẩn "26 Năm Lưu Đày" để hiểu rằng những khổ đau của thế giới từ Nelson Mandela đến Aleksandr Isayevich Solzhenitsyn, tôi xin đề nghị hãy kể thêm những khổ đau của tăng sĩ Thích Thiện Minh hay kẻ sĩ Huỳnh Văn Ba. Tôi cho là vậy: Người chiến sĩ nhân quyền thật đáng kính trọng.
Trần Việt Hải,
Mùa Xuân 2008.

Những Anh Hùng Tuẩn Tiết ngày 30/4 Ðất nước Việt Nam anh hùng hào kiệt đời nào cũng có. Những đấng tiền nhân tiên liệt đã chiến đấu và viết nên những trang sử chống xâm lược chói lọi nhất trong lịch sử nhân loại. Giở lại những trang sử chiến đấu dũng mãnh và hào hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, nhân tưởng niệm ngày 30-04, chúng tôi muốn kể lại cho các bạn trẻ Việt Nam công nghiệp chiến đấu và những giây phút chói chang cuối cùng của những vị thần tướng làm rạng danh nước Nam trên trường quốc tế: Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Thiếu Tướng Lê Văn Hưng, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ. Những người anh hùng của dân tộc Việt Nam, những chiến sĩ dũng mãnh của QL Việt Nam Cộng Hòa, suốt đời tận tụy với nước non, đã hiến dâng cho tổ quốc những giọt máu đỏ thắm tinh khôi cuối cùng của mình. Tên tuổi và tấm gương chiến đấu của những vị thần tướng ấy mãi mãi lưu lại trong sử sách Việt Nam và được dân tộc Việt Nam ngàn đời phụng thờ hương khói...
Giở lại những trang sử chiến đấu dũng mãnh và hào hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, nhân tưởng niệm ngày 30-04, là ngày nước Việt Nam Cộng Hòa thôi tồn tại, chúng tôi muốn kể lại cho các bạn trẻ Việt Nam công nghiệp chiến đấu và những giây phút chói chang cuối cùng của những vị thần tướng làm rạng danh nước Nam trên trường quốc tế:
Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Thiếu Tướng Lê Văn Hưng, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ
Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam là hậu duệ của dòng họ Nguyễn Khoa danh tiếng ở đất Thần Kinh Huế mà các cụ tổ từ đời này sang đời nối tiếp đều có công trạng giúp Chúa Nguyễn mở mang bờ cõi về phương Nam, mà điểm dừng là mũi Cà Mau. Ðược hun đúc từ truyền thống ấy, Thiếu Tướng Nam thuở còn ở tuổi học sinh siêng năng chăm học, rất hiếu thảo với cha mẹ, ông thường nghiền ngẫm kinh Phật, sách triết học và Nho học. Người cũng rất say mê hội họa, âm nhạc và giỏi về nhạc lý. Sau này khi đã trở thành vị tướng Tư Lệnh Sư Ðoàn 7 Bộ Binh và rồi lên Tư Lệnh Quân Ðoàn IV Quân Khu IV người nổi tiếng là vị tướng từ ái, thương lính yêu dân, rất được quân và dân Miền Tây kính trọng và yêu thương. Mỗi lần Thiếu Tướng Nam bay đến các tiểu khu (tỉnh) hay các đơn vị chiến trường nào, ông cũng đều không muốn làm phiền thuộc cấp vì chuyện ăn uống. Lắm lúc ông chỉ cần vài trái bắp luộc là đã xong cho một bữa trưa. Nếu ở Bộ Tư Lệnh thì người luôn luôn xuống Câu Lạc Bộ cùng dùng cơm với các sĩ quan, có gì ăn nấy. Là một Phật tử thuần thành, Thiếu Tướng Nam ăn chay 15 ngày mỗi tháng, cố gắng tôn trọng những giới cấm, tránh sát giới nhưng vẫn chu toàn bổn phận của một người lính chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Bà con thân hữu đến thăm ông thì được, nhưng để xin ân huệ hay nhờ vả đều nhận được sự từ chối thẳng thắn. Cuộc sống của người quá giản dị, không vợ con, không nhu cầu vật chất xa hoa, không gì hết, đơn giản đến mức trở thành huyền thoại.
Tướng Dương Văn Minh, người được Quốc Hội Việt Nam Cộng Hòa bỏ phiếu đa số chấp thuận lên nắm quyến Tổng Thống vỏn vẹn mới có ba ngày đã vội vã ra lệnh toàn Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa buông súng thôi chiến đấu từ 10 giờ sáng ngày 30.04.1975.
Dưới Quân Khu IV (Miền Tây) các tướng lãnh của quân ta nào đâu chịu đầu hàng một cách nhục nhã như vậy. Ðại cuộc không thành, thành mất thì tướng phải tuẫn tiết theo thành. Thiếu Tướng Nam lên xe đi vào Quân Y Viện Phan Thanh Giản Cần Thơ thăm những chiến hữu thương binh của người lần cuối cùng. Mối thương cảm vận nước đến hồi đen tối, chiến hữu gãy súng và thương phế binh chắc chắn sẽ bị quân địch tàn nhẫn đuổi ra nằm lê la trên hè phố bụi đất với những vết thương còn lở lói và rướm máu, đã làm cho đôi mắt của người sưng húp lên. Ðến tối Thiếu Tướng Nam quay trở về dinh Tư Lệnh nằm bên bờ con sông Cái Khế và nhận được tin Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó quân Khu IV đã nổ súng tuẫn tiết trong văn phòng tại trại Lê Lợi. Ðến nửa đêm, Thiếu Tướng Nam trân trọng vận bộ lễ phục trắng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, với ngù vai, dây biểu chương, huy chương các loại gắn trên ngực áo, nghiêm chỉnh ngồi ngay ngắn trên chiếc ghế sau bàn Tư Lệnh. Rồi người đưa khẩu Browning lên bắn vào màng tang, đầu người gục xuống về phía trái. Ngày hôm sau, các sĩ quan còn ở lại Bộ Tư Lệnh đã đứng nghiêm chào người anh hùng rồi an táng thi thể người trong Nghĩa Trang Quân Ðội Cần Thơ. Trong đầu năm 1994, thân nhân của Thiếu Tướng Nam đã xuống Cần Thơ bốc mộ, hỏa thiêu và mang tro cốt đem về thờ trong chùa Gia Lâm trên đường Lê Quang Ðịnh, quận Gò Vấp, Sài Gòn.
Chuẫn tướng Lê Văn Hưng Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó Quân Ðoàn IV & Quân Khu IV đã tự sát trong văn phòng Tư Lệnh Phó tại Trại Lê Lợi nằm trên đường Hòa Bỉnh, Cần Thơ, trước Thiếu Tướng Nam vài tiếng đồng hồ. Tên tuổi của Chuẩn Tướng Hưng được biết đến từ khi ông còn là một sĩ quan chiến đấu trên chiến trường Miền Tây và được xưng tụng là một trong những con mãnh hổ dũng cảm nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Từ chức vụ Ðại Tá Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 31 thuộc Sư Ðoàn 21 Bộ Binh, ông được điều động lên Quân Khu III làm Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh và được vinh thăng Chuẩn Tướng chỉ vài tháng trước khi chiến trận Mùa Hè Ðỏ Lửa nổ lớn tại An Lộc trong năm 1972. Ðịnh mệnh đã chọn Chuẩn Tướng Hưng làm người tử thủ An Lộc và đánh thắng đến bốn sư đoàn địch, vang danh quân sử Việt Nam và chiến sử thế giới. Hình ảnh dũng cảm và quen thuộc mà chiến sĩ tử thủ An Lộc ngưỡng mộ người Tư Lệnh của họ, là chiến sĩ Lê Văn Hưng đầu đội nón sắt, quần lính, áo thun màu ô liu, tay xách cây M16 như bất cứ một người lính khinh binh nào, làm việc 24/24 giờ một ngày bên chiếc đèn vàng mù mờ ánh sáng, hay ra chiến hào khích lệ tinh thần binh sĩ và tỉ mỉ giảng giải cách sử dụng súng chống chiến xa M72 để bắn xe tăng địch.
Dưới sự chăm sóc và chỉ huy của Thiếu Tướng Nam và Chuẩn Tướng Hưng, Quân Ðoàn IV gồm các Sư Ðoàn 7, 9 và 21 Bộ Binh đã đem lại những ngày an bình cho người dân Miền Tây. Hai vị Tướng đã là một cặp chiến binh kiệt xuất tạo nên bức tường thành vững chắc cho Quân Khu IV. Cho đến cái ngày oan nghiệt 30.04.1975, hai vị Tướng nhiều lần nhận được lời đề nghị khẩn thiết của người Mỹ muốn giúp hai vị và gia đình di tản sang Hoa Kỳ, nhưng cả hai vị Tướng đã khẳng khái từ chối. Cho đến 4 giờ chiều cùng ngày, hai vị Thiếu Tướng còn cố liên lạc với các đơn vị hỏi xem có nhận được lệnh hành quân và phóng đồ bố trí chiến đấu chưa. Tất cả đều trả lời không. Hóa ra viên đại tá được giao trọng trách chuyển lệnh đã bỏ trốn mất. Hai vị Tướng tức uất thở than cho vận nước. Danh từ đầu hàng từ đầu cho đến tàn cuộc chiến rất xa lạ với người chiến sĩ QLVNCH. Chuẩn Tướng Hưng vẫn với bộ quân phục tác chiến bộ binh màu ô liu trở lại văn phòng Tư Lệnh Phó gặp lại vợ con nói lời vĩnh biệt và ân cần khuyên nhủ bà Chuẩn Tướng phu nhân gắng cắn răng sống nuôi con, dạy dỗ con nên người, nói cho chúng biết về người cha đã chết như thế nào cho tổ quốc. Người cũng trân trọng từ biệt các chiến hữu:
Tôi không bỏ các anh để đưa vợ con ra ngoại quốc. Tôi cũng không thể chịu nhục đầu hàng. Các anh đã từng cộng tác với tôi, những lúc các anh lầm lỗi tôi có rầy la. Xin các anh tha thứ cho tôi những lỗi lầm nếu có.
Những người lính ôm lấy lá cờ vàng và cây súng thân thương vào lòng khóc nức nở. Họ biết giây phút vĩnh biệt người chủ tướng đã điểm. Chuẩn Tướng Hưng cố xô đẩy đuổi mọi người ra ngoài, bình thản đóng kín cửa văn phòng lại. Có tiếng súng nổ chát chúa từ bên trong vọng ra. Bà Hưng và các chiến hữu phá cửa xông vào. Chuẩn Tướng Hưng nằm ngã người tựa vào giường nửa trên nửa dưới, hai cánh tay dang ra và giật mạnh, toàn thân run rẩy từng cơn, đôi mắt còn mở to uất hờn. Người đã bắn vào tim để tỏ rõ tiết tháo một người Tướng lãnh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Máu từ trong tim người thấm ướt mảng áo ngực và loang ra đỏ thắm tấm drap trắng. Thời điểm người anh hùng thăng thiên đúng 8 giờ 45 tối ngày 30.04.1975. Khoảng 11 giờ khuya, Thiếu Tướng Nam gọi điện qua chia buồn. Bà Thiếu Tướng Hưng nghe rõ tiếng thở dài của người Tư Lệnh phía bên kia đầu dây.
Thiếu tướng Phạm Văn Phú Trong cái ngày đau buồn ấy, tại bệnh viện Grall (Ðồn Ðất) Sài Gòn, người ta đưa vào thi hài của Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Ðoàn II & Quân Khu II, một chiến binh mà các cấp bậc đi lên đều được trao gắn vinh thăng tại mặt trận. Thiếu Tướng Phú đã uống thuốc độc chết cùng với vận nước. Từ cái ngày người bị trọng thương và sa vào tay giặc ở Ðiện Biên Phủ tháng 05.1954, rồi được trả về cho Việt Nam Cộng Hòa sau ngày ký Hiệp Ðịnh Geneva 20.07.1954, Thiếu Tướng Phú đã thề với lòng là người thà chết chứ không chịu nhục nhã lọt vào tay giặc một lần nữa. Lời thề ấy người đã giữ trọn, người chết đi mang theo một nỗi hận mất nước và một nỗi oan khuất về cuộc triệt thoái Quân Khu II không mong muốn. Còn nhớ tại trận Ðiện Biên Phủ, toàn tiểu đoàn của Ðại Úy Phú chỉ còn có 100 tay súng mà phải ngăn chống một số lượng quân địch đông gấp hai mươi lần, ông dẫn quân lên đánh cận chiến với địch và giành lại được hơn 100 thước chiến hào. Ðại Úy Phú và một số các sĩ quan chỉ huy tiểu đoàn đều bị đạn địch quật ngã và một vài giờ sau đó bị sa vào tay giặc. Trong thời gian bị giặc bắt làm tù binh, bệnh phổi của Ðại Úy Phú tái phát và ông mang bệnh lao. Ðịnh mệnh vẫn còn muốn cho người anh hùng được sống, để tiếp tục chiến đấu cống hiến nhiều hơn nữa cho nền tự do của tổ quốc, sau tháng 07.1954 Ðại Úy Phú được trả về cho Việt Nam Cộng Hòa. Vị Tướng mảnh khảnh người, khuôn mặt xương nhưng có cái bắt tay mềm mại ấm áp ấy đã nhanh chóng trở thành một trong những vị Tướng xuất sắc nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, lần lượt đảm nhiệm những chức vụ quan trọng:
Tư Lệnh Lực Lượng Ðặc Biệt, Tư Lệnh Biệt Khu 44 thuộc Miền Tây, Tư Lệnh Sư Ðoàn 1 Bộ Binh, và sau hết Tư Lệnh Quân Ðoàn II & Quân Khu II. Chính là ở vị thế cực kỳ khó khăn này, Thiếu Tướng Phú phải đương đầu với nhiều vấn đề sinh tử có tầm vóc quốc gia, mà đã vượt ra khỏi quyền hạn nhỏ bé của ông. Người ta cho rằng việc thất thủ Ban Mê Thuột là do lỗi thiếu phán đoán của Thiếu Tướng Phú. Người ta chỉ có thể dùng quân luật và quân lệnh để bắt buộc Thiếu Tướng Phú thi hành lệnh rút quân, thậm chí đặt ông vào tình trạng bất khiển dụng vì lý do sức khỏe ngay trong ngày 14.03.1975, hai ngày trước khi Quân Ðoàn II rút quân ra khỏi cao nguyên. Thiếu Tướng Phú đau lòng theo dõi các mũi tiến quân của địch, như những vết dầu loang nhanh chóng thấm đỏ hết hai phần ba lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Người biết cái sinh mạng nhỏ bé của mình cũng co ngắn lại cùng với số mệnh của đất nước. Rồi khi những chiếc khăn rằn và những chiếc áo màu xanh rêu mốc đã tràn ngập khắp phố phường Sài Gòn trong ngày 30.04.1975, người chọn cái chết lưu danh thanh sử bằng cách uống độc dược, để tỏ rõ ý chí bất khuất của người làm Tướng và chứng tỏ cho đối phương biết rằng họ có thể chiếm được đất nhưng không có thể quy phục được tiết tháo của những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Chuẫn tướng Lê Nguyên Vỹ Một trong những hồi ức rất đẹp và rất hào hùng mà Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ còn để lại trong chiến sử Việt Nam, là lúc ông cầm khẩu súng chống chiến xa M72 nhoài người lên khỏi hầm chỉ huy của Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng tại An Lộc bắn cháy một chiếc T54 chạy lần quầng sát một bên, trong lúc Chuẩn Tướng Hưng đã thủ sẵn một trái lựu đạn trong tay để cùng chết với quân địch. Ðại Tá Vỹ đích thực là một khuôn mặt lừng lẫy của Miền Ðông khi ông về phục vụ dưới cờ của Sư Ðoàn 5 Bộ Binh từ năm 1968. Ðại Tá Vỹ nổi danh là một chiến binh quả cảm, một sĩ quan mẫn cán, năng nổ, có tài tham mưu và chỉ huy. Sau chiến thắng An Lộc, Ðại Tá Vỹ được đề bạt lên làm Tư Lệnh Phó Sư Ðoàn 21 Bộ Binh, cho đến gần cuối năm 1974, sau một khóa học Chỉ Huy và Tham Mưu Cao Cấp bên Hoa Kỳ về, cái ghế và văn phòng Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh đang chờ đợi ông, cùng với chiếc lon mới Chuẩn Tướng. Chuẩn Tướng Vỹ dưới con mắt nể trọng của chiến sĩ Sư Ðoàn 5 Bộ Binh, là một vị chỉ huy siêng năng và đáng kính. Người nổi tiếng thanh liêm và chống tham nhũng, bản tính của người bộc trực và dễ nổi nóng trước cái ác và cái xấu. Một số sĩ quan trong sư đoàn làm chuyện càn quấy, ăn chận trên xương máu của chiến sĩ đều bị người trừng trị thẳng cánh. Chuẩn Tướng Vỹ là một trong những vị Tướng hiếm hoi có tinh thần tự trọng cao độ, không bao giờ ỷ lại vào mọi sự trợ giúp từ phía Hoa Kỳ. Người ta nhìn thấy ở ông một tinh thần tự lực cánh sinh và có nhiều sáng kiến khi phải đương đầu với những vấn đề khó khăn. Về mặt quân sự, người có một tầm nhìn chiến lược rất bao quát và thường hay bày tỏ với các sĩ quan tham mưu:
Tôi nghi ngờ chúng nó không đánh mình ngoài này mà sẽ tìm cách len lỏi đi thẳng về Sài Gòn .
Sự phán đoán đó về sau đã hoàn toàn đúng. Một quân đoàn Bắc Việt không giao chiến với Sư Ðoàn 5 Bộ Binh, tìm cách len lỏi xuyên qua những điểm bố trí của sư đoàn, hối hả tiến về Sài Gòn để dứt điểm Tướng Dương Văn Minh. Sáng ngày 30.4.1975 họp tham mưu sư đoàn xong, Chuẩn Tướng Vỹ và toàn ban sĩ quan ngồi bên chiếc máy thu thanh chờ nghe Tướng Minh đọc nhật lệnh quan trọng. Trong thâm tâm Chuẩn Tướng Vỹ, người cứ tưởng là Tướng Minh sẽ kêu gọi toàn quân chiến đấu đến cùng, hoặc di tản về Miền Tây tiếp tục đánh. Thực chất chỉ là một bản nhật lệnh ngắn ngủi, khô khan, kêu gọi chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa các cấp buông súng, ai ở đâu thì ở đó và chờ binh đội cộng quân đến bàn giao.
Chuẩn Tướng Vỹ nghiến răng miễn cưỡng ra lệnh cho binh sĩ treo cờ trắng trước cổng căn cứ và cho thuộc cấp giải tán. Trước khi chia tay, Chuẩn Tướng Vỹ đã mời các sĩ quan cùng ăn một bữa cơm cuối cùng với ông. Nhìn khuôn mặt trầm buồn và ánh mắt u uất của vị Tư Lệnh, các sĩ quan đoán chắc thế nào ông cũng tử tiết để bảo toàn danh dự người làm Tướng, nên họ đã khéo léo giấu hết súng. Bữa cơm vĩnh biệt được dọn ra, những hạt cơm trắng ngần trong khoảnh khắc đó dường như có vị mặn của máu và cứng ngắc như những hạt sỏi. Mọi người còn đang dùng cơm thì Chuẩn Tướng Vỹ bỗng bỏ ra ngoài đi nhanh về hướng chiếc trailer dùng làm văn phòng tạm cho Tư Lệnh. Các sĩ quan kinh hoàng nghe hai tiếng nổ đanh gọn phát ra từ chiếc trailer. Mọi người hối hả chạy ùa tới mở cửa thì thấy Chuẩn Tướng Vỹ nằm trên vũng máu và người đã thực sự ra đi, trên tay còn cầm khẩu Beretta 6.35 mà mọi người không nhớ là nó còn nằm trong chiếc trailer. Chuẩn Tướng Vỹ đã bắn vào phía dưới cằm, đạn đi trổ lên đầu. Khi các sĩ quan và binh đội cộng sản vào tiếp quản doanh trại sĩ quan sư đoàn cao cấp của địch đã nghiêng mình kính phục khí tiết của Chuẩn Tướng Vỹ và nói:
Ðây mới xứng đáng là con nhà Tướng.
Các chiến sĩ sư đoàn chuyển thi thể vị chủ tướng ra an táng trong rừng cao su gần doanh trại Bộ Tư Lệnh. Ít lâu sau, thi thể Chuẩn Tướng Vỹ lại được thân nhân bốc lên đem về cải táng ở Hạnh Thông Tây, Gò Vấp, Sài Gòn. Năm 1987, bà cụ thân mẫu của Chuẩn Tướng Vỹ lặn lội vào Nam hỏa thiêu hài cốt của người con anh hùng và đem về thờ ở từ đường họ Lê Nguyên tại quê nhà ở tỉnh Sơn Tây.
Chuẩn Tướng Trần Văn Hai Cũng với tấm lòng của những người mẹ thương con bao la mênh mông như đại dương, bà cụ thân mẫu của Chuẩn Tướng Trần Văn Hai tuổi già tấm lưng còng còm cõi với thời gian, đã mưu trí gạt được quân cộng đang tràn ngập trong căn cứ Ðồng Tâm, Mỹ Tho, nơi đặt Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 7 Bộ Binh đem được thi thể vị Tư Lệnh về Gò Vấp mai táng. Bà rưng rưng nước mắt nghẹn ngào nhận gói di vật của con bà từ tay một vị Trung U¨y thuộc cấp, trong đó có một vài vật dụng cá nhân và số tiền hai tháng lương khiêm nhường của Chuẩn Tướng là 70.000 đồng. Là một người con hiếu thảo, trước khi ra đi người còn cố gửi về cho mẹ số tiền nhỏ bé đó. Lúc còn sống Chuẩn Tướng Hai nổi tiếng là vị Tướng thanh liêm, cuộc đời thanh đạm không có của cải vật chất gì đáng kể, ngoài chiếc xe Jeep của quân đội cấp cho, thì khi người ra đi, người chỉ để lại cho hậu thế thanh danh thần tướng cùng tấm lòng sắt son đối với dân tộc và tổ quốc.
Tài năng của Chuẩn Tướng Hai được xác định bằng những chức vụ quan trọng trong hệ thống quốc gia như Tỉnh Trưởng Phú Yên, Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân, Tư Lệnh
Phó Quân Ðoàn II & Quân Khu II, Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia và sau cùng là Tư Lệnh Sư Ðoàn 7 Bộ Binh. Ðảm nhiệm những chức vụ cao tột như vậy mà người vẫn sống một cuộc sống bình dị, nghiền ngẫm kinh Phật, trên tay lúc nào cũng thấy những loại sách học hỏi khác nhau. Chuẩn Tướng Hai cũng nổi tiếng là vị Tướng thương yêu và chăm lo cho đời sống chiến binh các cấp dưới quyền hết mực, thậm chí coi thường cả mạng sống. Như câu chuyện đã trở thành huyền thoại về Ðại Tá Hai, Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân, đầu năm 1968 đã cùng vài sĩ quan đáp phi cơ C123 ra tận chiến trường Khe Sanh và nhảy xuống, lặn lội ra tận từng chiến hào tiền tuyến thăm hỏi khích lệ chiến sĩ Tiểu Ðoàn 37 Biệt Ðộng Quân, dưới những cơn mưa pháo rền trời của địch.
Năm 1974 định mệnh đã đưa Chuẩn Tướng Hai về làm Tư Lệnh Sư Ðoàn 7 Bộ Binh để tên tuổi của người lưu tại nghìn thu trong sử sách, bằng cái chết hào hùng mà đã làm địch quân kinh hoàng. Trước ngày 30.04.1975 chừng hơn một tuần, đích thân Tổng Thống Thiệu cho máy bay riêng xuống rước Chuẩn Tướng Hai di tản, mặc dù Chuẩn Tướng Hai không phải là người thân cận hay thuộc phe phái của ông Thiệu, điều đó cho thấy uy tín của người rất lớn. Chuẩn Tướng Hai thẳng thắn từ chối và cương quyết ở lại sống chết với chiến hữu của ông. Chuẩn Tướng Hai trong ngày cuối cùng vẫn tươm tất uy nghi trong bộ quân phục tác chiến ngồi trong văn phòng Tư Lệnh chờ quân địch đến.
Người ôn tồn khuyên bảo sĩ quan và chiến binh thuộc cấp trở về với gia đình, nhưng có một số vẫn nhất quyết ở lại bảo vệ vị chủ tướng của họ. Vì họ biết Chuẩn Tướng Hai sẽ không bàn giao căn cứ Ðồng Tâm, hoặc nếu có bàn giao thì cái phương thức ông làm sẽ không phải là phương thức kiểu đầu hàng. Một con người đã từng chiến đấu bảo vệ đất nước hơn hai mươi năm, không lý do gì người giao lại cho địch một cách dễ dàng. Khoảng xế trưa, một đơn vị cộng quân thận trọng tiến vào Ðồng Tâm và nhỏ nhẹ đề nghị xin được tiếp quản căn cứ. Chuẩn Tướng Hai ngồi ngay ngắn sau chiếc bàn, bên trên có hai cái đế nhỏ gắn lá Cờ Vàng Việt Nam và lá cờ Tướng một sao, nghiêm nghị đòi hỏi một viên sĩ quan sư đoàn trưởng đến gặp ông. Ngoài điều kiện đó, ông không muốn bàn chuyện nào khác. Tình hình rất căng thẳng, hai bên giương súng ghìm nhau. Mãi lâu sau mới có một người gõ của xin vào rụt rè tự nhận là sư đoàn trưởng. Chuẩn Tướng Hai bất ngờ rút súng lục ra nổ mấy phát vào viên sĩ quan địch. Với khoảng cách rất gần đó, ông có thể giết chết đối phương dễ dàng, nhưng ông chỉ bắn ông này bị thương nhẹ phải bỏ chạy ra ngoài. Ðể cho địch biết, rằng muốn chiếm được nước Nam thì họ phải trả một cái giá nào đó. Chiều tối cùng ngày, Chuẩn Tướng Hai đã uống thuốc độc tự sát trong văn phòng Tư Lệnh.
Những người anh hùng của dân tộc Việt Nam, những chiến sĩ dũng mãnh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, suốt đời tận tụy với nước non, đã hiến dâng cho tổ quốc những giọt máu đỏ thắm tinh khôi cuối cùng của mình.
Tên tuổi và tấm gương chiến đấu của những vị thần tướng ấy mãi mãi lưu lại trong sử sách Việt Nam và được dân tộc Việt Nam ngàn đời phụng thờ hương khói.
Phạm Phong Dinh
-
Nguyễn_Sydney
- Posts: 2581
- Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
- Been thanked: 1 time
Úc Châu biểu tình tưởng niệm ngày 30 tháng 4
Sáng ngày 27 tháng 4 gần 1000 đồng hương cư ngụ các Tiểu bang NSW , Queensland,Victoria , Adelei,West ,ACT đã kéo nhau về thủ đô Canberra để biểu tình trước Toà sứ VC để tưởng niệm ngày 30 tháng 4.

Bác sĩ Nguyễn mạnh Tiến chủ tịch Cộng đồng Người Việt Tự Do liên bang Úc châu đọc Diễn văn khai mạc

Giới trẻ sinh viên tham dự biểu tình

Lễ đặt Vòng Hoa trước đài Tưởng niệm Úc - Việt.
Sáng ngày 27 tháng 4 gần 1000 đồng hương cư ngụ các Tiểu bang NSW , Queensland,Victoria , Adelei,West ,ACT đã kéo nhau về thủ đô Canberra để biểu tình trước Toà sứ VC để tưởng niệm ngày 30 tháng 4.

Bác sĩ Nguyễn mạnh Tiến chủ tịch Cộng đồng Người Việt Tự Do liên bang Úc châu đọc Diễn văn khai mạc

Giới trẻ sinh viên tham dự biểu tình

Lễ đặt Vòng Hoa trước đài Tưởng niệm Úc - Việt.

Khi Bài Hát Trở Về
Trần Trung Ðạo Nếu phải xếp hạng những bài hát được sinh ra và lớn lên cùng với thăng trầm của đất nước, với thao thức của thanh niên, sinh viên, học sinh, với tâm trạng của những người lính trẻ trong cuộc chiến tranh tự vệ đầy gian khổ ở miền Nam trước đây, tôi tin, Việt Nam quê hương ngạo nghễ của nhạc sĩ du ca Nguyễn Ðức Quang sẽ là một trong những bài ca được xếp hàng đầu.
Không giống như một số hành khúc quen thuộc trong giới trẻ trước 1975 như Dậy mà đi của Nguyễn Xuân Tân, Tổ quốc ơi ta đã nghe của La Hữu Vang thiết tha, mạnh mẽ nhưng chỉ giới hạn trong các phong trào sinh viên tranh đấu và ngay khi ra đời đã bị Ðảng sử dụng cho mục đích tuyên truyền trong các trường đại học, các đô thị miền Nam, hay Việt Nam Việt Nam của Phạm Duy chan chứa tình dân tộc, kêu gọi người người thương mến nhau nhưng thiếu đi cái hùng khí, sôi nổi của tuổi trẻ, Việt Nam quê hương ngạo nghễ của Nguyễn Ðức Quang không dừng lại ở nỗi đau của đất nước mà còn nói lên cả những bi thương, công phẫn, thách đố của tuổi trẻ Việt Nam trước những tàn phá của chiến tranh và tham vọng của con người.
Trong vườn hoa âm nhạc Việt Nam, Việt Nam quê hương ngạo nghễ nổi bật lên như một biểu tượng cho khát vọng của một dân tộc đã vượt qua bao nhiêu gian nan khốn khó để tồn tại và vươn lên cùng các dân tộc khác trên mặt đất nầy.
Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn
Ðường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang
Lê sau bàn chân gông xiềng của thời xa xăm
Ðôi mắt ta rực sáng theo nhịp xích kêu loang xoang.
Lời nhạc của Việt Nam quê hương ngạo nghễ tương đối khó nhớ nhưng nhờ cách sử dụng ngôn ngữ trẻ trung, mạnh mẽ, tượng thanh, tượng hình như “tiếng cười ngạo nghễ”, “xích kêu loang xoang”, “trên bàn chông hát cười đùa vang vang” hay “Da chan mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng gân tươi” đã làm cho Việt Nam quê hương ngạo nghễ trở thành độc đáo, không giống như những bài ca yêu nước khác với những ý tưởng quen thuộc và lời ca phần lớn là lập lại nhau.
Việt Nam quê hương ngạo nghễ đẹp tự nhiên như một đoá lan rừng, không mang màu sắc chính trị, không nhằm cổ võ hay biện minh cho một chủ nghĩa nào, không cơ quan nhà nước nào chỉ đạo thanh niên sinh viên học sinh phải hát và bài hát cũng chẳng nhằm phục vụ lợi ích riêng của chính quyền, tôn giáo hay đảng phái chính trị nào. Trước 1975, từ thành phố đến thôn quê, từ các trường trung học tỉnh lẻ đến đại học lớn như Huế, Sài Gòn, từ các phong trào Hướng đạo, Du ca đến các tổ chức trẻ của các tôn giáo như Thanh niên Công giáo, Gia đình Phật tử, từ các quân trường Ðà Lạt, Thủ Ðức, Quang Trung, Nha Trang đến các tổ chức, đoàn thể xã hội từ thiện đều hát Việt Nam quê hương ngạo nghễ.
Sau 1975, bài hát theo chân hàng trăm ngàn sĩ quan và viên chức miền Nam đi vào tù.
Nhiều hồi ký, bút ký kể lại Việt Nam quê hương ngạo nghễ đã được hát lên, kín đáo hoặc cả công khai, ở nhiều trại tù khắp ba miền đất nước. Trong tận cùng của đói khát, khổ nhục, đớn đau, Việt Nam quê hương ngạo nghễ đã hoá thành những hạt cơm trắng, hạt nếp thơm nuôi sống tinh thần những người lính miền Nam sa cơ thất thế.
Những năm sau đó, bài hát, như tác giả của nó và hàng triệu người Việt khác lên đường ra biển tìm tự do. Việt Nam quê hương ngạo nghễ lại được hát lên giữa Thái bình dương giông bão, hát lên ở các trại tỵ nạn Palawan, Paula Bidong, Panat Nikhom trong nỗi nhớ nhà, hát lên ở Sungai Besi, White Head trong những ngày chống cưỡng bách hồi hương, hát lên ở San Jose, Santa Ana, Boston, Paris, Oslo, Sydney trong những cuộc biểu tình cho tự do dân chủ Việt Nam, hát lên ở các trại hè, trại họp bạn Hướng đạo, các tổng hội sinh viên Việt Nam tại hải ngoại.
Nhạc sĩ Nguyễn Ðức Quang, trong buổi phỏng vấn dành cho chương trình Tiếng Nói Trẻ đã kể lại câu chuyện ra đời của Việt Nam quê hương ngạo nghễ trong âm nhạc Việt Nam: “&Thế bài Việt Nam quê hương ngạo nghễ cũng vậy, nó không phải là một bài ca tôi nghĩ là quá lớn, nhưng lúc bấy giờ khi tôi kết thúc tập Trường Ca vào năm 1965, cuối 1965 hay đầu 1966 gì đó, khoảng thời gian đó, 10 bài trường ca, những bài như Nỗi buồn nhược tiểu, Tiếng rống đàn bò, Lìa nhau, Thảm kịch khó nói v.v. những bài nói về đất nước của mình rất là khổ sở, tôi nghĩ nên kết nó bằng một bài hát có tiếng gọi hùng tráng và tha thiết hơn. Thành ra tôi viết bài Việt Nam quê hương ngạo nghễ một cách rất là dễ dàng. Tất cả những ý đó tôi đem vào hết trong bài hát đó để nó vượt qua cái khốn khó, vượt qua cái quê hương nhỏ bé, nhược tiểu mà trở thành một nước to lớn, và lòng người cực kỳ dũng mãnh. Viết xong bài đó tôi nghĩ chỉ kết thúc tập Trường Ca mà thôi, không ngờ về sau càng ngày đi các nơi càng thấy nhiều người ưa thích bài đó, có lẽ đáp được ước vọng của nhiều người, tôi nghĩ tiếng gọi đáp ứng đúng được tiếng của nhiều người, không riêng gì giới trẻ đâu, cả người lớn tuổi ở các hội đoàn về sau này, rồi đi vào trong quân đội, đi rất nhiều nơi. Thành ra, tôi cho đó là một bài hát tự nó trưởng thành nhưng khi viết tôi chỉ đúc kết cho tập Trường Ca lúc đó mà thôi.”
Thật đơn giản và tự nhiên như thế. Không một ông Bộ trưởng Bộ Chiêu hồi nào đặt hàng hay một ông Tổng ủy trưởng Dân vận nào chỉ thị anh phải viết. Anh viết không phải để thi đua sáng tác hay mong mang về giải thưởng, huân chương. Trong tâm hồn của một nghệ sĩ chân chính, tình yêu nước bao giờ cũng là sự thôi thúc tự nguyện. Anh viết Việt Nam quê hương ngạo nghễ để kết thúc tập trường ca của riêng anh nhưng cũng nối tiếp tập trường ca lớn hơn của đất nước. Sau ba mươi năm, nhiều nhạc sĩ, ca sĩ đã trở về qua nhiều ngả, trong nhiều tư cách khác nhau, một số tình ca sáng tác trước 1975 đã được nghe lại trong nước, nhưng đây là lần đầu tiên một bài hát đã về lại quê hương qua ngả của trái tim, trở về trong vòng tay nồng ấm của tuổi trẻ Việt Nam.
Bất ngờ và cảm động, một buổi sáng tuần trước, khi đi dạo một vòng qua các blog Việt ngữ, tôi bắt gặp không chỉ những mẩu tin nóng viết vội vàng trên đường phố, những đoạn phim biểu tình vừa mới đưa lên YouTube, những tấm hình ghi lại cảnh xô xát giữa đồng bào, sinh viên với công an, nhưng còn được nghe lại bài hát quen thuộc Việt Nam quê hương ngạo nghễ. Tôi cảm nhận qua lần gặp gỡ đó một niềm vui chung khi có một bản nhạc mà các em sinh viên Việt Nam ở California, Washington DC, Oslo, Paris, Hà Nội, Sài Gòn cùng hăng say hát trong những cuộc biểu tình chống Trung Quốc bành trướng bá quyền mà không cảm thấy ngần ngại, nghi ngờ, xa cách.
Ta khua xích kêu vang dậy trước mặt mọi người
Nụ cười muôn đời là một nụ cười không tươi
Nụ cười xa vời nụ cười của lòng hờn sôi
Bước tiến ta tràn tới tung xiềng vào mặt nhân gian.
Trong số một trăm em đang hát trong nước hôm nay có thể hơn chín mươi em chưa hề nghe đến tên Nguyễn Ðức Quang lần nào, và nếu có nghe, có đọc qua bộ máy tuyên truyền của Ðảng, cũng chỉ là một “nhạc sĩ ngụy đã theo chân đế quốc”. Biết hay không biết, nghe hay không nghe không phải là điều quan trọng. Ðiều quan trọng là bài hát đã đáp ứng được ước vọng về tương lai và tình yêu tổ quốc của tuổi trẻ. Tổ quốc, vâng, không có gì lớn hơn tổ quốc. Văn hoá không phải chỉ là đời sống của một dân tộc mà còn là những gì giữ lại được sau những tàn phá, lãng quên. Việt Nam quê hương ngạo nghễ sau 30 tháng Tư 1975 hẳn đã nằm trong danh sách các tác phẩm “văn hoá đồi trụy” mà Ðảng tìm mọi cách để xóa bỏ, tận diệt. Thế nhưng, như giọt nước rỉ ra từ kẽ đá và như bông hoa mọc giữa rừng gai, bài hát đã sống sót, đã ra đi và đã trở về. Ðể tồn tại, một bài thơ, một bản nhạc cũng phải trải qua những gạn lọc, những cuộc bỏ phiếu công bằng không chỉ của người nghe, người đọc dưới một chế độ chính trị nào đó mà còn của cả lịch sử lâu dài. Bài hát phát xuất từ tình yêu nước trong sáng như Việt Nam quê hương ngạo nghễ sẽ ở lại rất lâu trong lòng tuổi trẻ Việt Nam hôm nay và nhiều thế hệ mai sau. Là một người thích tham gia các sinh hoạt văn nghệ cộng đồng, bài hát mang tôi về thời trẻ tuổi của mình.
Tôi còn nhớ, mùa hè 1973, khi còn là sinh viên năm thứ nhất, Việt Nam quê hương ngạo nghễ cũng là nhạc sinh hoạt chính của trại hè sinh viên toàn quốc quy tụ đại diện sinh viên các trường đại học và cả sinh viên du học về nghỉ hè, do Bộ Giáo dục và Thanh niên tổ chức lần đầu và có lẽ cũng là lần cuối tại trường Thiếu Sinh Quân, Vũng Tàu. Ðêm trước ngày chia tay, chúng tôi không ai ngủ được. Ngày mai sẽ mỗi người mỗi ngả, chị về Huế, anh về Ðà Lạt, em về Cần Thơ và đa số chúng tôi sẽ trở lại Sài Gòn. Cùng một thế hệ chiến tranh như nhau, khi chia tay biết bao giờ còn gặp lại. Những ngày tháng đó, cuộc chiến vẫn còn trong cao điểm. Mỹ đã rút quân nên máu chảy trên ruộng đồng Việt Nam chỉ còn là máu Việt Nam. Thảm cảnh của “mùa hè đỏ lửa” chưa qua hết. Trên khắp miền Nam, đâu đâu cũng có đánh nhau, đâu đâu cũng có người chạy giặc. Mơ ước của tuổi trẻ chúng tôi là được thấy một ngày đất nước hoà bình, một ngày quê hương không còn nghe tiếng súng. Ðêm cuối trại hè, chúng tôi ngồi quây quần thành một vòng tròn rộng quanh cột cờ trường Thiếu Sinh Quân và hát nhạc cộng đồng như để vơi đi những vương vấn, lo âu đang trĩu nặng trong lòng. Bài hát được hát nhiều nhất trong đêm đó là Việt Nam quê hương ngạo nghễ, và khi điệp khúc cất lên cũng là khi chúng tôi hát trong nước mắt:
Máu ta từ thành Văn Lang dồn lại
Xương da thịt này cha ông miệt mài
Từng giờ qua
Cười ngạo nghễ đi trong đau nhức không nguôi.
Chúng ta thành một đoàn người hiên ngang
Trên bàn chông hát cười đùa vang vang
Còn Việt Nam
Triệu con tim này còn triệu khối kiêu hùng.
Những giọt nước mắt của tuổi sinh viên nhỏ xuống xót thương cho dân tộc mình. Tại sao có chiến tranh và tại sao chiến tranh đã xảy ra trên đất nước chúng tôi mà không phải tại một quốc gia nào khác? Mấy tháng sau, tháng Giêng năm 1974, bài hát Việt Nam quê hương ngạo nghễ đã được hát vang trên đường phố Huế, Ðà Nẵng, Sài Gòn, Cần Thơ sau khi Hoàng Sa rơi vào tay Trung Quốc. Những bản tin đánh đi từ Ðà Nẵng, danh sách những người hy sinh được đọc trên các đài phát thanh làm rơi nước mắt.
Và hôm nay, ba mươi ba năm sau, trong cái lạnh mùa đông trên xứ người, những lời nhạc Việt Nam quê hương ngạo nghễ từ YouTube phát ra như xoáy vào tim. Tôi lại nghĩ đến các anh, những người đã hy sinh ở Hoàng Sa tháng Giêng năm 1974, ở Trường Sa tháng Ba năm 1988. Các anh khác nhau ở chiếc áo nhưng cùng một mái tóc đen, một màu máu đỏ, một giống da vàng, cùng ăn hạt gạo thơm, hạt muối mặn, cùng lớn lên bằng giòng sữa mẹ Việt Nam, và cùng chết dưới bàn tay hải quân Trung Quốc xâm lăng. Việt Nam, sau ba mươi ba năm “độc lập, tự do” vẫn chưa thoát ra khỏi số phận nhược tiểu bị xâm lược, vẫn chưa tháo được cái vòng kim cô Trung Quốc trên đầu. Việt Nam có một lãnh hải dài trên ba ngàn cây số nhưng thực tế không còn có biển. Cả hành lang Ðông hải rộng bao la từ Hải Nam đến Hoàng Sa và xuống tận Trường Sa đã bị Trung Quốc chiếm. Nếu vẽ một đường cung dọc theo lãnh hải đó, ngư dân Việt Nam chỉ còn có thể đi câu cá ven bờ chứ không thể đánh cá như ngư dân Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan hay các quốc gia khác trong vùng biển Ðông. Phía sau tấm bảng in đậm “mười sáu chữ vàng” hữu nghị thắm thiết giữa hai Ðảng Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc là thân xác của ngư dân Việt Nam trôi bềnh bồng dọc các hải đảo của tổ tiên mình để lại.
Trong suốt dòng lịch sử, hoạ xâm lăng từ phương Bắc vẫn là mối đe doạ thường xuyên. Khác với các thời đại trước đây, cái bất hạnh của Việt Nam ngày nay không phải chỉ là mất đất nhưng mất đất mà không đòi lại được ngay. Cuộc kháng Nguyên lần thứ nhất trong hàng vương tước nhà Trần chỉ có mỗi Trần Nhật Hiệu chủ trương “Nhập Tống” và lần thứ hai chỉ có Trần Ích Tắc và đám hầu tước Trần Kiện, Trần Văn Lộng, Trần Tú Viên chủ trương “Hàng Nguyên” nhưng ngày nay, về mặt lập trường quan điểm, Việt Nam có đến 14 Trần Ích Tắc và 160 Trần Kiện. Trận đụng độ giữa Việt Nam và Trung Quốc diễn ra tại Trường Sa năm 1988 theo tác giả Daniel J. Dzurek trong biên khảo Xung Ðột Trường Sa: Ai có mặt trước? (The Spratly Islands Dispute: Who’s on First?) chỉ kéo dài vỏn vẹn 28 phút và Việt Nam chịu đựng hầu hết thương vong. Với một giới lãnh đạo tham quyền cố vị và sự chênh lệch quá xa về kỹ thuật chiến tranh như thế, cuộc đấu tranh giành lại hai quần đảo sẽ vô cùng khó khăn.
Dù sao, tuổi trẻ Việt Nam, khác với các thế hệ Tân Trào, Pác Bó trước đây, thế hệ Hoàng Sa, Trường Sa ngày nay có nhiều cơ hội tiếp xúc, học hỏi và so sánh giữa chế độ các em đang sống với các tư tưởng tự do dân chủ, khoa học kỹ thuật tiên tiến, nhờ đó, hy vọng các em sẽ có những chọn lựa đúng cho mình và cho đất nước phù hợp với dòng chảy của văn minh nhân loại.
Trong cuộc chiến Việt Nam dài mấy mươi năm Ðảng đã sản xuất ra không biết bao nhiêu bài hát, bài thơ kích động lòng yêu nước nhưng tại sao các em không đọc, không hát nữa? Như một độc giả trong nước đã trả lời, đơn giản chỉ vì chúng nhạt nhẽo. Ý thức sâu sắc đó đã được thể hiện không chỉ trong khẩu hiệu các em hô mà ngay cả trong những bài hát các em hát. Sau những Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng, Dậy mà đi, Nối vòng tay lớn của những ngày đầu phong trào, các bạn trẻ trong nước đã đi tìm những nhạc phẩm nói lên lòng yêu nước trong sáng, tích cực, không bị ô nhiễm, chưa từng bị lợi dụng và họ đã tìm được Việt Nam quê hương ngạo nghễ.
Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng
Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm
Da chan mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng gân tươi
Ôm vết thương rỉ máu ta cười dưới ánh mặt trời.
Mỗi khi nhắc đến những khó khăn đất nước, chúng ta thường nghe đến những “bất hạnh”, “nỗi đau”, “tính tự ti mặc cảm”, vâng đó là một thực tế hôm nay, thế nhưng dân tộc Việt Nam “vốn xưng nền văn hiến đã lâu, nước non bờ cõi đã chia, phong tục Bắc Nam cũng khác” như Nguyễn Trãi khẳng định, không phải chỉ biết đau, biết tự ti mặc cảm mà thôi nhưng từ những nỗi đau đã biết lớn lên bằng tự hào và kiêu hãnh làm người Việt Nam. Chỗ dựa tinh thần của tuổi trẻ Việt Nam hôm nay không có gì khác hơn là lịch sử. Không thể làm nên lịch sử mà không cần học lịch sử. Lịch sử sẽ là vũ khí, là hành trang trong hành trình tranh đấu cho một nước Việt Nam mới, cũng như để xây dựng một Việt Nam tươi đẹp sau nầy.
Ta khuyên cháu con ta còn tiếp tục làm người
Làm người huy hoàng phải chọn làm người dân Nam
Làm người ngang tàng điểm mặt mày của trần gian
Hỡi những ai gục xuống ngoi dậy hùng cường đi lên.
Việt Nam quê hương ngạo nghễ như giọt nước mắt bi tráng của tuổi trẻ Việt Nam ngày nào nhỏ xuống trên quê hương chiến tranh khốn khổ, đã bốc thành hơi, tụ thành mây và sau bao năm vần vũ khắp góc bể chân trời đã trở về quê hương qua ánh mắt của em, qua nụ cười của chị, qua tiếng hát của anh, hồn nhiên và trong sáng.
Từ “vết thương rỉ máu” của một dân tộc đã từng bị nhiều đế quốc thay phiên bóc lột, lợi dụng và hôm nay còn đang chịu đựng trong áp bức của độc tài đảng trị, Việt Nam quê hương ngạo nghễ cất lên như một lời khuyên, hãy sống và hãy vững tin vào lịch sử, sẽ có một ngày, sẽ có một ngày.
Trần Trung Ðạo
Seoul: Ngọn Đuốc Thế Vận Gặp Bạo Động
Hàng ngàn người của hai phía ủng hộ lẫn phản đối Trung Quốc đã có mặt tại cuộc rước đuốc Thế vận Bắc Kinh tại thủ đô Hán Thành của Nam Hàn vào trưa hôm Chủ Nhật 27 tháng 4 năm 2008.

An ninh dày đặc quanh người cầm đuốc. Một người tỵ nạn Bắc Hàn đã toan tính tự thiêu để làm gián đoạn cuộc rước đuốc, trong khi hàng ngàn nhân viên cảnh sát canh gác bảo vệ ngọn đuốc trước sự chống đối của những người biểu tình phản đối sự đối xử bất nhân của Bắc Kinh đối với người tỵ nạn Bắc Hàn.
Hàng ngàn cổ động viên – con số cảnh sát ước lượng là 6000 - đã trương cờ đỏ Trung Quốc để đón mừng ngọn đuốc, và ném đá vào những người chống đối Bắc Kinh. Cảnh sát cỡi ngựa, đi bằng xe đạp và chạy bộ dọc theo để bảo vệ ngọn đuốc đi qua trung tâm Hán Thành, là thành phố đã tổ chức Thế vận hội năm 1988.
Ngọn đuốc đã trở thành một cây gậy lửa cho những người chống đối giới cầm quyền Trung Quốc. Ở các chặng đường trước đây, thì vấn đề Trung Quốc đàn áp tại Tây Tạng là trọng tâm cho các cuộc biểu tình, nhưng tại Nam Hàn, thì vấn đề đối xử vô nhân đạo của nhà cầm quyền Bắc Kinh đối với những người tỵ nạn trốn thoát chế độ độc tài Bắc Hàn là nguyên nhân cho cuộc biểu tình phản đối ngọn đuốc Thế vận.
Hàng ngàn người Bắc Hàn, từ bỏ cuộc sống tại một quốc gia ngăn cấm tất cả các quyền tự do dân sự, để trốn thoát qua vùng biên giới Trung Quốc được canh gác lỏng lẻo, thay vì đi xuống phía Nam với hàng rào quân sự dày đặc. Nhiều người lẩn trốn ở bên trong lục địa Trung Hoa, nếu rủi ro bị bắt thì sẽ bị trục xuất trở lại Bắc Hàn và đối diện với một cuộc đời tù đày khổ sai rất khắc nghiệt không có ngày về, hoặc trong vài trường hợp, bị tử hình.
Các nhà tranh đấu nhân quyền nói rằng Trung Quốc đã gia tăng việc trục xuất những người tỵ nạn về Bắc Hàn trước khi Thế vận hội bắt đầu, và tăng thêm tiền thưởng cho những người chỉ điểm. Rất nhiều người tỵ nạn Bắc Hàn đã có mặt trong cuộc biểu tình.
Người đàn ông có toan tính tự thiêu là ông Son Jong Hoon 45 tuổi, đã vận động nhưng không thành công để cứu mạng cho người anh ruột bị tử hình ở Bắc Hàn, vì bị buộc tội làm gián điệp, sau khi hai anh em ông bí mật gặp nhau ở Trung Quốc. Sau khi cuộc rước đuốc bắt đầu được một tiếng đồng hồ, thì ông Hoon tự đổ dầu lên người và châm lửa nhưng bị cảnh sát nhanh tay ngăn chặn ngay lập tức.
Lúc khởi đầu cuộc rước đuốc, một người đã chạy đến phía ngọn đuốc và trương ra một biểu ngữ kêu gọi Trung Quốc hãy tôn trọng quyền được tỵ nạn của người Bắc Hàn. Hàng chục cảnh sát bao quanh ngọn đuốc đã nhanh chóng lôi anh ta ra khỏi nơi đó. Khi ngọn đuốc tiến đến trung tâm thành phố, một người tỵ nạn Bắc Hàn khác đã cố xen lấn vào đường chạy của người cầm đuốc và bị cảnh sát bắt giữ.
Khoảng từ 8000 đến 10000 cảnh sát và nhân viên an ninh đã được huy động đến thủ đô Hán Thành để canh gác ngọn đuốc trong lộ trình dài 18 cây số, bắt đầu từ vận động trường Seoul Olympic và kết thúc ở City Hall.
Người rước đuốc đầu tiên là chủ tịch Uỷ ban Thế vận Nam Hàn Kim Jung-kil, rước ngọn đuốc ra khỏi nơi khai mạc, được bao quanh bởi các nhân viên cảnh sát chạy bộ, cưỡi ngựa, đi xe đạp và theo sau trên xe bus.

Cổ động viên Trung Quốc tấn công người biểu tình.
Hàng trăm cổ động viên Trung Quốc chạy theo ngọn đuốc với những lá cờ đỏ lớn quá khổ, và la lớn “Hoan hô Trung Quốc, hoan hô Olympic”. Có xô xát xảy ra gần nơi khai mạc ở khu vực sân vận động, giữa 500 cổ động viên Trung Quốc và 50 người biểu tình. Nhóm cổ động viên của Trung Quốc, vì đông nhiều gấp bội nên dễ dàng áp đảo những người phản đối, đã ném đá và các chai nước cùng các vật dụng linh tinh vào nhóm biểu tình trong khi 2500 cảnh sát phải cố ngăn cản cô lập riêng hai bên ra.
Một ký giả đã bị đá ném trúng vào đầu, ngoài ra được biết là không có ai bị thương nặng. Cảnh sát xác nhận là ít nhất có hai cổ động viên Trung Quốc bị bắt vì ném đá, một người khác bị bắt trong người có mang theo một con dao.
Hán Thành là một trong những chặng đường cuối cùng của cuộc rước đuốc Thế vận Bắc Kinh vòng quanh thế giới, sẽ chấm dứt vào Thứ Năm 30/4 tại Hồng Kông. Vào hôm Chủ Nhật, ba nhà hoạt động nhân quyền trong đó có điêu khắc gia người Ðan Mạch Jens Galschiot đã bị cấm nhập cảnh vào Hồng Kông vì theo báo chí địa phương thì họ có dự định biểu tình phản đối trong cuộc rước đuốc tại đây. Cả ba đã bị lưu giữ hàng giờ đồng hồ tại phi trường khi vừa đến, và sau đó được đưa trở lại máy bay để rời khỏi Hồng Kông, là một lãnh thổ tự trị thuộc Trung Quốc.
Sau Hán Thành, ngọn đuốc sẽ đến thủ đô Bình Nhưỡng tại Bắc Hàn. Không một ai tiên đoán là sẽ có biểu tình phản đối tại quốc gia khép kín này vì nhà cầm quyền tại đây không nhân nhượng với các thành phần biểu tình, dù là về bất cứ mục đích gì.
Riêng tại Việt Nam, vào ngày 29/4 ngọn đuốc sẽ đến Sài Gòn, là nơi các nhà tranh đấu đã kêu gọi cho một cuộc xuống đường phản đối vì Trung Quốc xâm lăng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên biển Ðông.
Lực lượng an ninh Trung Quốc đã đi theo bảo vệ ngọn đuốc trong các chặng đường trước đây, nhưng sẽ không dính dáng vào ở chặng đường ở TPHCM, mà rất nhiều người vẫn thường gọi là Sài Gòn. Theo ông Nguyễn Hoàng Năng, phó chủ tịch uỷ ban tổ chức cuộc rước đuốc tại đây thì, “chỉ có lực lượng an ninh Việt Nam bảo đảm trật tự và an toàn cho những người tham dự, và chúng tôi đã điều động các lực lượng an ninh cần thiết cho mục đích này”.
Nhưng theo nhiều nguồn tin địa phương thì công an Trung Quốc đã có mặt tại Sài Gòn nhiều ngày trước đây, và sẽ cải trang thành các nhân viên an ninh Việt Nam để giữ gìn an ninh trật tự, bảo vệ ngọn đuốc và ngăn ngừa không cho những hỗn loạn có thể xảy ra như tại các đoạn đường trước đây.
Trung Quốc nguyên là một quốc gia láng giềng đã tích cực yểm trợ Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống Mỹ chấm dứt vào năm 1975. Nhưng quan hệ giữa hai nước đã có nhiều sóng gió trong quá khứ qua các cuộc chiến biên giới phía Bắc hồi cuối thập niên 1970s, khi Việt Nam xâm lăng Cam Bốt. Nhưng từ khi Liên Xô và khối Ðông Âu xụp đổ thì Việt Nam đã cải thiện quan hệ với Trung Quốc, hiện nay là một đối tác kinh tế và ngoại giao quan trọng của Việt Nam. Trong khi hầu hết cả thế giới đều chỉ trích Trung Quốc đàn áp tại Tây Tạng thì nhà nước Việt Nam lại tuyên bố ủng hộ cách hành xử của Bắc Kinh tại đó.

Cổ động viên Trung Quốc tấn công người biểu tình. Nhiều tổ chức của người Việt hải ngoại đã kêu gọi biểu tình phản đối cuộc rước đuốc tại Sài Gòn, vì sau đó ngọn đuốc sẽ được đưa ra hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, một hình thức xâm phạm chủ quyền của Việt Nam, mà nhà nước cộng sản tại đây thường tuyên bố trên hai quần đảo này.
Tối Thứ Năm vừa qua, Việt Nam đã trục xuất một người Mỹ gốc Việt tên Vương Hoàng Minh, cáo buộc người này là có toan tính “trà trộn vào những người ủng hộ cuộc rước đuốc, tìm cách cướp đuốc. Nếu không thành, Minh sẽ mặc áo thun có in hình xuyên tạc Thế vận hội, biểu tình trước Lãnh sự quán Trung Quốc”.
Theo các viên chức nhà nước Việt Nam thì ngọn đuốc sẽ đến Sài Gòn vào đêm Thứ Hai, được bảo vệ chặt chẽ cho đến ngày rước đuốc sáng Thứ Ba. Cuộc rước đuốc sẽ kéo dài 4 giờ đồng hồ tại trung tâm thành phố, bao gồm 60 người cầm đuốc qua một lộ trình dài từ 10 đến 13 cây số và kết thúc tại một sân vận động của quân đội.
Khánh Ðăng tổng hợp
Hàng ngàn người của hai phía ủng hộ lẫn phản đối Trung Quốc đã có mặt tại cuộc rước đuốc Thế vận Bắc Kinh tại thủ đô Hán Thành của Nam Hàn vào trưa hôm Chủ Nhật 27 tháng 4 năm 2008.

An ninh dày đặc quanh người cầm đuốc. Một người tỵ nạn Bắc Hàn đã toan tính tự thiêu để làm gián đoạn cuộc rước đuốc, trong khi hàng ngàn nhân viên cảnh sát canh gác bảo vệ ngọn đuốc trước sự chống đối của những người biểu tình phản đối sự đối xử bất nhân của Bắc Kinh đối với người tỵ nạn Bắc Hàn.
Hàng ngàn cổ động viên – con số cảnh sát ước lượng là 6000 - đã trương cờ đỏ Trung Quốc để đón mừng ngọn đuốc, và ném đá vào những người chống đối Bắc Kinh. Cảnh sát cỡi ngựa, đi bằng xe đạp và chạy bộ dọc theo để bảo vệ ngọn đuốc đi qua trung tâm Hán Thành, là thành phố đã tổ chức Thế vận hội năm 1988.
Ngọn đuốc đã trở thành một cây gậy lửa cho những người chống đối giới cầm quyền Trung Quốc. Ở các chặng đường trước đây, thì vấn đề Trung Quốc đàn áp tại Tây Tạng là trọng tâm cho các cuộc biểu tình, nhưng tại Nam Hàn, thì vấn đề đối xử vô nhân đạo của nhà cầm quyền Bắc Kinh đối với những người tỵ nạn trốn thoát chế độ độc tài Bắc Hàn là nguyên nhân cho cuộc biểu tình phản đối ngọn đuốc Thế vận.
Hàng ngàn người Bắc Hàn, từ bỏ cuộc sống tại một quốc gia ngăn cấm tất cả các quyền tự do dân sự, để trốn thoát qua vùng biên giới Trung Quốc được canh gác lỏng lẻo, thay vì đi xuống phía Nam với hàng rào quân sự dày đặc. Nhiều người lẩn trốn ở bên trong lục địa Trung Hoa, nếu rủi ro bị bắt thì sẽ bị trục xuất trở lại Bắc Hàn và đối diện với một cuộc đời tù đày khổ sai rất khắc nghiệt không có ngày về, hoặc trong vài trường hợp, bị tử hình.
Các nhà tranh đấu nhân quyền nói rằng Trung Quốc đã gia tăng việc trục xuất những người tỵ nạn về Bắc Hàn trước khi Thế vận hội bắt đầu, và tăng thêm tiền thưởng cho những người chỉ điểm. Rất nhiều người tỵ nạn Bắc Hàn đã có mặt trong cuộc biểu tình.
Người đàn ông có toan tính tự thiêu là ông Son Jong Hoon 45 tuổi, đã vận động nhưng không thành công để cứu mạng cho người anh ruột bị tử hình ở Bắc Hàn, vì bị buộc tội làm gián điệp, sau khi hai anh em ông bí mật gặp nhau ở Trung Quốc. Sau khi cuộc rước đuốc bắt đầu được một tiếng đồng hồ, thì ông Hoon tự đổ dầu lên người và châm lửa nhưng bị cảnh sát nhanh tay ngăn chặn ngay lập tức.
Lúc khởi đầu cuộc rước đuốc, một người đã chạy đến phía ngọn đuốc và trương ra một biểu ngữ kêu gọi Trung Quốc hãy tôn trọng quyền được tỵ nạn của người Bắc Hàn. Hàng chục cảnh sát bao quanh ngọn đuốc đã nhanh chóng lôi anh ta ra khỏi nơi đó. Khi ngọn đuốc tiến đến trung tâm thành phố, một người tỵ nạn Bắc Hàn khác đã cố xen lấn vào đường chạy của người cầm đuốc và bị cảnh sát bắt giữ.
Khoảng từ 8000 đến 10000 cảnh sát và nhân viên an ninh đã được huy động đến thủ đô Hán Thành để canh gác ngọn đuốc trong lộ trình dài 18 cây số, bắt đầu từ vận động trường Seoul Olympic và kết thúc ở City Hall.
Người rước đuốc đầu tiên là chủ tịch Uỷ ban Thế vận Nam Hàn Kim Jung-kil, rước ngọn đuốc ra khỏi nơi khai mạc, được bao quanh bởi các nhân viên cảnh sát chạy bộ, cưỡi ngựa, đi xe đạp và theo sau trên xe bus.

Cổ động viên Trung Quốc tấn công người biểu tình.
Hàng trăm cổ động viên Trung Quốc chạy theo ngọn đuốc với những lá cờ đỏ lớn quá khổ, và la lớn “Hoan hô Trung Quốc, hoan hô Olympic”. Có xô xát xảy ra gần nơi khai mạc ở khu vực sân vận động, giữa 500 cổ động viên Trung Quốc và 50 người biểu tình. Nhóm cổ động viên của Trung Quốc, vì đông nhiều gấp bội nên dễ dàng áp đảo những người phản đối, đã ném đá và các chai nước cùng các vật dụng linh tinh vào nhóm biểu tình trong khi 2500 cảnh sát phải cố ngăn cản cô lập riêng hai bên ra.
Một ký giả đã bị đá ném trúng vào đầu, ngoài ra được biết là không có ai bị thương nặng. Cảnh sát xác nhận là ít nhất có hai cổ động viên Trung Quốc bị bắt vì ném đá, một người khác bị bắt trong người có mang theo một con dao.
Hán Thành là một trong những chặng đường cuối cùng của cuộc rước đuốc Thế vận Bắc Kinh vòng quanh thế giới, sẽ chấm dứt vào Thứ Năm 30/4 tại Hồng Kông. Vào hôm Chủ Nhật, ba nhà hoạt động nhân quyền trong đó có điêu khắc gia người Ðan Mạch Jens Galschiot đã bị cấm nhập cảnh vào Hồng Kông vì theo báo chí địa phương thì họ có dự định biểu tình phản đối trong cuộc rước đuốc tại đây. Cả ba đã bị lưu giữ hàng giờ đồng hồ tại phi trường khi vừa đến, và sau đó được đưa trở lại máy bay để rời khỏi Hồng Kông, là một lãnh thổ tự trị thuộc Trung Quốc.
Sau Hán Thành, ngọn đuốc sẽ đến thủ đô Bình Nhưỡng tại Bắc Hàn. Không một ai tiên đoán là sẽ có biểu tình phản đối tại quốc gia khép kín này vì nhà cầm quyền tại đây không nhân nhượng với các thành phần biểu tình, dù là về bất cứ mục đích gì.
Riêng tại Việt Nam, vào ngày 29/4 ngọn đuốc sẽ đến Sài Gòn, là nơi các nhà tranh đấu đã kêu gọi cho một cuộc xuống đường phản đối vì Trung Quốc xâm lăng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên biển Ðông.
Lực lượng an ninh Trung Quốc đã đi theo bảo vệ ngọn đuốc trong các chặng đường trước đây, nhưng sẽ không dính dáng vào ở chặng đường ở TPHCM, mà rất nhiều người vẫn thường gọi là Sài Gòn. Theo ông Nguyễn Hoàng Năng, phó chủ tịch uỷ ban tổ chức cuộc rước đuốc tại đây thì, “chỉ có lực lượng an ninh Việt Nam bảo đảm trật tự và an toàn cho những người tham dự, và chúng tôi đã điều động các lực lượng an ninh cần thiết cho mục đích này”.
Nhưng theo nhiều nguồn tin địa phương thì công an Trung Quốc đã có mặt tại Sài Gòn nhiều ngày trước đây, và sẽ cải trang thành các nhân viên an ninh Việt Nam để giữ gìn an ninh trật tự, bảo vệ ngọn đuốc và ngăn ngừa không cho những hỗn loạn có thể xảy ra như tại các đoạn đường trước đây.
Trung Quốc nguyên là một quốc gia láng giềng đã tích cực yểm trợ Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống Mỹ chấm dứt vào năm 1975. Nhưng quan hệ giữa hai nước đã có nhiều sóng gió trong quá khứ qua các cuộc chiến biên giới phía Bắc hồi cuối thập niên 1970s, khi Việt Nam xâm lăng Cam Bốt. Nhưng từ khi Liên Xô và khối Ðông Âu xụp đổ thì Việt Nam đã cải thiện quan hệ với Trung Quốc, hiện nay là một đối tác kinh tế và ngoại giao quan trọng của Việt Nam. Trong khi hầu hết cả thế giới đều chỉ trích Trung Quốc đàn áp tại Tây Tạng thì nhà nước Việt Nam lại tuyên bố ủng hộ cách hành xử của Bắc Kinh tại đó.

Cổ động viên Trung Quốc tấn công người biểu tình. Nhiều tổ chức của người Việt hải ngoại đã kêu gọi biểu tình phản đối cuộc rước đuốc tại Sài Gòn, vì sau đó ngọn đuốc sẽ được đưa ra hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, một hình thức xâm phạm chủ quyền của Việt Nam, mà nhà nước cộng sản tại đây thường tuyên bố trên hai quần đảo này.
Tối Thứ Năm vừa qua, Việt Nam đã trục xuất một người Mỹ gốc Việt tên Vương Hoàng Minh, cáo buộc người này là có toan tính “trà trộn vào những người ủng hộ cuộc rước đuốc, tìm cách cướp đuốc. Nếu không thành, Minh sẽ mặc áo thun có in hình xuyên tạc Thế vận hội, biểu tình trước Lãnh sự quán Trung Quốc”.
Theo các viên chức nhà nước Việt Nam thì ngọn đuốc sẽ đến Sài Gòn vào đêm Thứ Hai, được bảo vệ chặt chẽ cho đến ngày rước đuốc sáng Thứ Ba. Cuộc rước đuốc sẽ kéo dài 4 giờ đồng hồ tại trung tâm thành phố, bao gồm 60 người cầm đuốc qua một lộ trình dài từ 10 đến 13 cây số và kết thúc tại một sân vận động của quân đội.
Khánh Ðăng tổng hợp
Ngày Cuối Cùng Của Việt Nam Cộng Hoà: Tháng Ba Đen! Tháng Tư Đen!

BS Tôn Thất Sang
LTS. Bác sĩ Tôn Thất Sang, hiện là cư dân Sacramento, là tác giả bài viết "Đi Nhận Xác Thầy", kể lại việc ông và các đồng môn đi nhận thi hài những giáo sư người Đức tại Đại Học Y Khoa Huế bị Cộng Sản tàn sát. Cuối tháng Ba vừa qua, ông là đã đại diện Hội Ái Hữu Y Khoa Huế phát biểu trong hai ngày Tưởng Niệm Tết Mậu Thân do Việt Báo tổ chức.
"Đà Nẵng mất vào ngày 29-3-75... Saigon và toàn miền Nam có tháng Tư đen, riêng miền Trung có tháng Ba đen." Đó là nội dung bài viết sống động và xúc động của Bác sĩ Tôn Thất Sang. Việt Báo trân trọng giới thiệu với bạn đọc.
*
Tuấn xem lại ổ đạn, cẩn thận đóng chốt an toàn của cây colt 45, xóc lại chiếc áo giáp nặng nề, kiểm soát mọi người, và sau đó chàng mới dìu vợ lên chiếc xe jeep nhà binh bây giờ đã quá đầy người. Vợ chàng đang mang thai đứa con đầu lòng được gần 6 tháng. Nhìn nàng bụng mang dạ chửa mà đất nước đang hồi dầu sôi lửa bỏng, bất giác Tuấn thở dài thương cảm!
Đà Nẵng đang ở vào cảnh hỗn loạn cùng cực của một bầy cá đủ loại đang bị lúng túng trong chiếc rọ khổng lồ. Ngoài đường, binh lính thuộc mọi quân binh chủng như rắn không đầu vì không có cấp chỉ huy, lang thang, hỗn loạn, vô trật tự. Có nơi đã xảy ra một vài vụ cướp! Bây giờ là ngày 29-3-75, ngày cuối cùng của thành phố lớn thứ hai của miền Nam trước khi lọt vào tay CS! Đêm qua VC đã pháo kích phi trường Đà Nẵng, căn cứ Hải Quân Tiên Sa. Đã có nhiều trái đạn lạc vào nhà dân ở Phước Tường và bãi biển Nam Thọ gây tử thương cho nhiều gia đình. Quân CS đang, vượt qua đèo Hải Vân trên đường tiến quân vào Đà Nẵng. Tuấn biết điều đó, nhưng lúc nào chàng cũng trọng trách nhiệm và muốn liên lạc chặt chẽ với đơn vị nên chàng vội vàng mang vợ và gia đình lên Liên đoàn Công Binh Chiến Đấu đồn trú tại Hòa Khánh gần vùng biển Nam ô. Chàng đã cho tài xế nghỉ sáng nay để anh ta thu xếp gia đình.
Tuấn lái xa cẩn thận dọc đường Thống Nhất, gần đến ngã ba Cây Lan, chàng nghe tiếng đạn nổ giòn xen lẫn với nhiều tiếng la hét quát tháo. Nhìn về phía kho gạo ở phía trái, gần ngã ba vào Tổng Y Viện Duy Tân, Tuấn thấy dân chúng và lính tráng đông như kiến đang chen lấn giành nhau vào kho gạo mà cửa đã bị phá ra thật lớn. Thỉnh thoảng những tràng đạn chỉ thiên lại vang lên từng nhịp làm mái tôn như rung lên với những lỗ vở ra toang hoác ở mái. Cũng may là lính tráng chỉ bắn chỉ thiên để hù dọa nên không có ai bị thương! Tuấn thở dài, nhìn dân chúng và lính tráng đẩy từng xe cải tiến đầy gạo được chuyển từ kho ra. Chợt Tuấn cảm thấy chua xót khi thấy anh em binh sĩ, mới ngày nào đây là những chiến binh gan dạ, xông pha trận mạc, giữ gìn từng tất đất, không hề lùi bước trước quân thù. Nay, vì sự phản phúc bội ước của ngoại bang.. vì sự bất tài của chóp bu và do sự ngã giá theo điệu con buôn của tập đoàn tư bản và tập đoàn CS quốc tế, đồng minh với Việt cọng, mà miền Nam Việt Nam phải chịu muôn vàn đắng cay tủi nhục, hy sinh cả một quân đội hùng mạnh đứng hàng thứ tư trên thế giới! Tuấn chua xót nhìn anh em trong cảnh sẩy đàn tan nghe,Ô đang tan ra từng mãn nhỏ, đang tự hủy dần vì cái ngu dốt của cấp lãnh đạo với quân lệnh "Di tản chiến thuật" cũng gần đồng nghĩa với " Chưa đánh đã chạy"! Giờ đây, cấp chỉ huy không còn, vợ con ly tán, nhà cửa thất lạc nên anh em rất dễ bức xúc làm càng!
Giao thông như tắc nghẽn, vì hầu như dân chúng đều đỗ ra đường, lao xao như gà mất mẹ, kẻ xuôi, người ngược gọi nhau inh ỏi, hoang mang cùng cực. Dòng xe ngược chiều từ Hòa Khánh đổ về như khựng lại, trên trần xe, thúng mủng, nồi niêu xoong chảo, con nít, người lớn đeo la liệt. Họ nói trong vẻ hốt hoảng là CS đã vượt đèo Hải Vân, gần đến ngã ba Hòa Mỹ rồi, họ kêu gào, khóc lóc, tất cả đều mang vẻ hốt hoảng, hoang mang của ngày tận thế!
Đang miên man suy nghĩ, chợt Tuấn như chợt tỉnh vì tiếng ai gọi lớn:
-Bác sĩ, bác sĩ đi dâu đó?
Định thần nhìn lại, chàng thấy Trung Úy Thủy, phó ban Tài chánh Liên Đoàn, đang nhảy vội xuống xe lam đến bên Tuấn.
-Chào anh Thủy, đang định lên Liên Đoàn đây, Tuấn trả lời.
Thủy cười như mếu, trách nhẹ:
-Cái ông này, Liên Đoàn di tản lúc 2 giờ sáng hồi hôm rồi. Đại tá Liên Đoàn trưởng cùng đi với các đại đội trưởng Cầu Nổi, Cầu Ghép, Công Sự Nhẹ, Chỉ huy công vụ và Khai Quang rồi.
-Bằng phương tiện gì?-Tuấn hỏi.
-Lên phà do Đại đội Cầu nổi và Cầu Ghép thiết kế. Tất cả lên pha,ợ ra tàu lớn đậu ngoài vùng biển khơi Nam ô. Thôi BS trở lại Đà Nẵng đi, VC về đến Nam Ô rồi. Tuấn cảm ỏn Trung Úy Thủy và chúc anh bình an. Thủy chào chàng và vội vàng chạy đeo lại chiếc xe lam hồi nãy vẫn còn nhích tường bước như rùa bò.
Tuấn tìm cách trở xe lại. Chàng đi ngược lại phía đường Nguyễn Hoàng vì lối này tương đối ít người hơn. Nhìn sân Ga vắng ngắt chợt Tuấn có cảm giác rờn rợn. Một toán TQLC không có cấp chỉ huy đang từ sân ga tràn ra đường. Để ý Tuấn an lòng vì thấy họ không có vũ khí, tuy nhiên thấy anh nào cũng thủ tay trong áo trận, không biết trong ấy có lựu đạn hay không! Hai ba anh tiến đến xe Tuấn với thái độ hung hãn, toan chận lại, nhưng chàng bình tĩnh ứng xử nên không có gì đáng tiếc xảy ra. Nhìn các anh lính đằng đằng sát khí, chàng thở dài tiên đoán rồi thành phố sẽ có những cảnh cướp giật xảy ra trong cảnh hỗn quan hỗn quân này!
Tuấn nhớ lai ba ngày trước: 26-3-75, cố đô Huế thân yêu của chàng cũng đã lọt vào tay Cọng quân, cũng do lệnh Di tản chiến thuật của từ chóp bu đưa xuống, lại thêm có vài chỉ huy trưởng thiếu trách nhiệm tìm cách chạy lấy thân, đem con bỏ chợ làm cho nhiều binh đoàn bộ binh không có kế hoạch rút quân hoàn chỉnh đến nỗi tất cả các đơn vị hầu như đều rút về cửa Tư Hiền, kể cả các Tiểu Đoàn TQLC 3, 4, 5, 7 , Tất cả đều tập trung quân ở một vị trí mà phía sau là mé biển Đông,, có lẽ các chỉ huy trưởng muốn bắt chước Hàn Tín lập "Bối Thủy Trận"để quân sĩ hết đường thoát mà chiến đấu đến cùng chăng?! Tuy nhiên cũng vì phơi mình ra khơi khơi không có vị trí che chở phòng vệ nên anh em binh sĩ đã bị thiệt mạng rất nhiều dưới những tràng đạn đại liên cũng như súng cối của CS! Tuấn cũng nghe những binh sĩ đã thoát được từ vùng biển chết ở cửa Tư Hiền từ Huế vào kể cho nghe những vụ bắn giết nhau trên chiếc hạm to lớn 801 giữa TQLC và bộ binh mà phần thiệt hại cho bộ binh rất nhiều.(Sau nầy khi đến Mỹ, đọc lại hồi ký " Tháng ba gãy súng" của Đại Đội phó đại đội 4, tiểu Đoàn 4 TQLC - Cao Xuân Huy - kể lại những cảnh kinh hoàng trên bãi biển cửa Tư Hiền của những toán quân không còn cấp chỉ huy, cùng những cảnh TQLC bắn người trên vận tải hạm 801 và những cảnh tự sát tập thể đầy oai hùng của anh em binh sĩ thề không quyết sa vào tay giặc, Tuấn không khỏi bùi ngùi thương cảm cho số phận những quân nhân của giờ thứ 25! )
Trở về nhà, ở tòa Đặc Ủy Giám Sát vùng I ở góc đường Độc Lập và Thống Nhất, Tuấn thay vội bộ quân phục. Nhìn Khu Giám Sát Viện với người đi kẽ ở vội vã,, nét hooang mang hiện trên nét mặt mọi người,, Tuấn thấy lòng như trùng xuống, hoang mang trước cảnh đổi thay của đất nước!. Nhìn ra phía bờ sông Hàn, phía tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ, chàng thấy những cuộn khói đen mịt mù bay lên xen lẫn với những tiếng nổ nhỏ, chàng biết các nhân viên sở Mỹ đang hủy hồ sơ. Trên không hai chiếc trực thăng HU1B đang vần vũ tìm cách di tản những người Mỹ còn sót lại. Tự nhiên Tuấn cảm thấy một nỗi tức giận không kiềm chế được mà chàng ước gì có trong tay một khẩu đại liên thì -chàng cũng không ngại bắn vào một trong hai chiếc đó, rồi ra sao thì ra! Đó là nổi tức giận đầy cảm tính của những người trong cuộc chơi bị kẻ đồng hành phản bội, cuộc cờ chưa tàn mà đã vội hy sinh sĩ tốt, xe pháo của mình để chạy lấy thân, sống chết mặc bây! (Sau nầy khi ở tù trại Kỳ Sơn, Tuấn cũng đã nhiều lần hỏi cảm tưởng của các bạn tù từng phục vụ ở các đơn vị tác chiến. Chàng còn nhờ Đại Úy Giản, đại Đội trưởng đại đội dù đóng ở cầu Phan Thanh Giản cũng đã tức giận trả lời là anh suýt ra lệnh xạ thủ đại liên bắn vào các trực thăng Mỹ đang tìm cách di tản những người Mỹ và những ông to bà lớn trên các cao ốc gần đó, tuy nhiên anh đã kìm hàm kịp thời nên cuối cũng không có việc gì đáng tiết xảy ra. Sau nầy chàng hiểu ra rằng kết quả của cuộc chiến Việt Nam chỉ là hệ quả của cuộc mua bán đổi chác vì quyền lợi của tập đoàn Tư Bản và của tập đoàn phù thủy Cọng Sản quốc tế mà CS Việt Nam cũng chỉ là một thành viên, một con cờ mà thôi!
Tuấn chua xót, nhìn vơ,ỳ bụng mang dạ chửa đang loay hoay lôi hết những bộ quân phục của chàng đem ra đốt, nàng cũng cẩn thận đem luôn tất cả giấy tờ, hình ảnh kỷ niệm trong thời quân ngũ! Chàng chợt nực cười khi thấy nàng loay hoay cố đốt cháy cho hết những hình Playboy hấp dẫn mà chàng đã có công cất giấu trong hộc tủ tử bấy lâu nay. Vừa đốt, nàng vừa phì cười đay nghiến:
-Bọn VC vào mà thấy những hình yêu quỉ nầy thì chúng cho ở tù mút mùa!
Tuấn chợt vui vẻ bảo vợ:
-Em đừng lo, bọn VC mà thấy những của nợ nầy thì chúng sẽ thu dấu để đêm tối đem ra xem cho sướng mắt mà trầm trồ : "sao cái món gì của Tư Bản cũng to và thơm thế!"
Vợ chàng lại cằn nhằn:
-Anh còn cất những thư từ gì nữa không? anh có những chỗ bí mật mà buổi nay em mới biết!
Trong khoảng khắc chàng chợt khám phá ra rằng lòng ghen tuông của đàn bà nhiều khi lại đáng sợ hơn Việt Cọng nữa! và chàng cảm thấy may mấn là trước đó đã đốt kịp những bức thư tình của những người "tình lỡ" trước khi nàng lục đến, nên vô tình tránh được những màng vấn đáp đến "nhức xương"!
Nhìn ngọn lửa tàn lụi dần, Tuấn có cảm giác chua xót như cuộc đời bình yên của chàng, gia đình chàng, Tổ Quốc chàng rồi cũng phôi pha dần theo năm tháng dưới chế độ hà khắc của CS và quãng đường tiếp theo, chỉ là những cơn bão tố phũ phàng...
Chàng nhớ lại, mới vài tháng trước đây, chàng và vợ đã xem phim Docteur Jivago ở rạp Kim Châu ở đường Độc Lập. Chàng cảm thương cho số phận người Bác Sĩ không may, đã sinh ra trong thời nhiễu nhương bị Cọng Sản cướp chính quyền, ăn không đủ no, lạnh không đủ cũi để sưởi ấm đến nỗi phải đi tìm, đánh cắp những khung cửa sổ để làm cũi, nhóm lửa. Chàng đã ghê sợ những trại tập trung lao động khổ sai dưới cái lạnh cắt người của vùng Tây Bá Lợi Á...Chàng cũng thương cho mối tình lãng mạng của Lara và Jivago và nhất là bài tình ca bất hủ " Chanson de Lara" mà cũng là bản nhạc nền cho phim... Chàng nhớ sau khi xem cuốn phim xong, có nhiều người đã khóc, chàng nhìn lên đôi mắt vợ, thấy long lanh. Tuấn xúc động, hỏi nhỏ:
-Nếu lở mai sau miền Nam cũng chịu cảnh VC xâm chiếm thì em có sợ không?
-Nàng rùng mình nắm chặt tay chàng nói nhỏ hơn:
-Đừng nói gở anh, em sợ lắm!
Trong mơ hồ, chàng chợt có linh cảm rồi cuộc đời mình sau nầy cũng sẽ có những nỗi khổ tương đồng với Jivago!
Tiếng kêu của con mèo Luna làm Tuấn trở về thực tại. Vợ chàng vội vàng trộn đồ ăn cho cả bầy bảy con mèo của chàng. Nhìn nàng đang trìu mến vuốt ve từng con vừa khóc vừa nói nhỏ với chúng những lời từ giã, lòng Tuấn như se thắt lại. Chàng biết rồi đây vợ chàng và chàng sẽ vĩnh biệt bầy mèo cưng yêu quí này, vì ngay cả số phận của cả hai người cũng chưa biết trôi dạt nơi nao trong khi từng binh đoàn VC đang ồ ạt tiến vào thành phố!
Bầy mèo là niềm yêu thương của cả hai người., Vợ chàng đặt cho mỗi đứa một tên: Luna -con mèo mẹ dịu hiền hai màu đen trắng, lông mướt như nhung- là thủy tổ của bầy mèo mà nàng đang nuôi-, mang trên cỗ chiếc ribbon màu đỏ. Kế đó là Nu, Ni,Bi, Bốp, Lu, La. Sáu con sau nầy đực cái đều có và đủ màu kể cả tam thể. Theo thứ tự đẻ trước sau, nàng đeo ribbon có các màu cam. vàng, xanh, lam, chàm, tím theo hiện tượng tán sắc bảy màu của mống trời, tượng trưng cho niềm vui và hạnh phúc. Bầy mèo là niềm thương nổi nhớ, là niềm kiêu hãnh là nguồn vui của cả hai người; thế mà giờ đây nàng sắp phải xa lìa chúng; còn nỗi khổ nào hơn!! Không dừng được, Tuấn cũng vội ôm lấy con Bốp, con mèo đực to nhất, hai màu đen trắng mà chàng thương mến nhất vì nó có đôi nét giống chàng là có rất nhiều đào! Nó vội dụi đầu vào má chàng cất tiếng rù nho nhỏ nũng nịu, tự nhiên Tuấn thấy mình muốn khóc...
Những nhà trong khu Giám sát viện cũng đã trống vắng nhiều. Nhìn những đống tro tàn còn ngún lửa, chàng thấy tuồng như trong những sợi khói mỏng manh đó còn vấn vương ấm áp tâm sự của những kỷ niệm vàng son mới ngày nào, những kỷ niệm mà chàng biết sau nầy khó có thể mà gặp lại một khi đã bị cai trị dưới chế độ CS!
Khoảng quá trưa thì VC xuất hiện ở dường Thống Nhất, họ di chuyển bằng xe Molotova còn mang cả cành lá ngụy trang đã khô héo. Dòng xe di chuyển chậm, những cán binh còn quá nhỏ ngồi hai bên thành xe ôm súng ở tư thế chiến đấu. Đoàn xe đi chậm như diễn hành . Nét mặt họ còn mang nặng nỗi nhọc mệt và hoang mang ngạc nhiên trước cảnh bỏ ngõ và sự thịnh vượng giàu sang của thành phố. Chính họ cũng không tưởng cái chiến thắng không ngờ của họ thật ra đã được dàn xếp từ những tập đoàn tư bản chóp bu, những tay lái buôn súng đạn, đã phản bội ngay cả thân xác của những đồng đội mình để cuốn theo vòng quỹ đạo của tập đoàn CS quốc te,ả chuyên môn buôn thân xác của các đồng chí ngây thơ - sinh Bắc tử Nam - kích thích chuyên chính vô sản bằng bạo lực, hủy diệt nhân mạng cả mấy triệu đồng bào cả hai miền và ngay cả sinh mạng các cán binh còn vương nét ngây thơ. Chúng quyết tâm củng cố cho được quyền lực của đảng và của chính mình bằng cái triết thuyết Cọng Sản tàn bạo, phi quốc gia và không tưởng của chúng!
*
Tháng Ba 75 là tháng thọ đại nạn của miền Trung!! Khởi đấu là sự thất thủ Ban Mươi Thuộc kể từ sáng ngày 11-3-75 do sự đánh giá quờ quạng của viên tư lệnh chiến trường không biết đâu là điểm, đâu là diện, cuối cùng đã trúng kế dương đông kích tây của địch!
Quyết định Cam Ranh đơn phương của Nguyễn văn Thiệu vào ngày 14-3-75 cho cuộc triệt thoái Cao nguyên, rút bỏ Quân Đoàn II và mặc cho số phận của hơn 100.000 dân hai tỉnh Pleiku, Kontum và gia đình binh sĩ, là một ván bài thấu cáy với chính quyền Mỹ để mong vớt lại viện trợ . Than ôi ván bài xả láng đã thua hết vốn! Lệnh bỏ Quân Đoàn II đã gây nên hậu quả dây chuyền , rối loạn quân tình và làm sụp đổ theo cả những Quân Đoàn còn lại và cuối cùng toàn miền Nam đã rơi vào tay CS!
Ngày 17-3-75 rút bỏ Quân Đoàn II cũng là ngày Trung Đoàn 53 Bộ Binh bị tràn ngập vị trí phòng thủ ở Phước An sau hơn một tuần chiến đấu cô đơn! Họ đóng chốt tử thủ và đã hy sinh đến người lính cuối cùng - chữ Tử Thủ đúng nghĩa của những Anh Hùng, da ngựa bọc thây- chứ không phải từ miệng của những viên tướng điếm đàng, miệng hô tử thủ trong khi một chân đã ở trên sàn máy bay!!
Ngày 26-3-75, lệnh "Di tản chiến thuật" tiếp theo làm mất tiêu xứ Huế ngàn năm văn vật và cũng đã làm thiệt mạng không biết bao nhiêu quân và dân trên đoạn đường vượt thoát bằng đường biển từ Thuận An, Tư Hiền (nhất là Tư Hiền ) vào Đà Nẵng!
Đà Nẵng mất vào ngày 29-3-75, cái thế môi hở răng lạnh đương nhiên khi Huế đã không còn nữa!
Saigon và toàn miền Nam có tháng Tư đen, riêng miền Trung có tháng Ba đen. Ba đen, Tư đen hay Năm đen nói chung là nỗi nhục mất nước của con dân chúng ta. Chúng ta không cần ai giải phóng, chúng ta chỉ muốn có Hòa Bình, Độc Lập và nhất là phải có Tự Do trên mọi lãnh vực.
Hôm nay, ngoảnh nhìn lại cũng đã qua hơn 30 rồi tháng Ba đen, Tư đen!
CS nói quê hương đổi mới đã nhiều. Thế nhưng chỉ đổi mới cái võ bên ngoài của một vài thành phố, có cao ốc hào nhoáng hơn, có khách sạn lộng lẫy hơn, có khiêu vũ trường rộn rịp hơn...
Tuy nhiên "xét vấn đề đừng nên xét hiện tượng mà phải xét bản chất".Khách sạn, vũ trường chỉ là những "hiện tượng" dễ làm mọi người võ đoán!, "bản chất" là ở đoàn hành khất phải lìa bỏ xứ lên Saigon và các thành phố lớn kiếm ăn, bản chất là ở dân chúng giàu nghèo càng ngày càng cách biệt; tư bản đỏ sống như đế vương, trong lúc đám dân đen còn quá lầm than khổ cực, cơm độn ăn không đủ no! Nạn buông hương bán phấn lan tràn khắp mơi nơi, bản chất là xuất cảng các em gái ngây thơ qua các nước làm nô lệ tình dục để kiếm ngoại tệ, bản chất là đem giang sơn hoa gấm dâng cho tàu cọng để mua bả vinh hoa, củng cố thế lực đảng để cai trị được trường tồn... vân vân và vân vân..
Đó mới là bản chất, mới là "cốt lõi" của vấn đề..!
Cầu xin ơn trên gia hộ cho Dân tộc Việt Nam chóng hưởng được tự do hoà bình hạnh phúc.
Tôn Thất Sang

BS Tôn Thất Sang
LTS. Bác sĩ Tôn Thất Sang, hiện là cư dân Sacramento, là tác giả bài viết "Đi Nhận Xác Thầy", kể lại việc ông và các đồng môn đi nhận thi hài những giáo sư người Đức tại Đại Học Y Khoa Huế bị Cộng Sản tàn sát. Cuối tháng Ba vừa qua, ông là đã đại diện Hội Ái Hữu Y Khoa Huế phát biểu trong hai ngày Tưởng Niệm Tết Mậu Thân do Việt Báo tổ chức.
"Đà Nẵng mất vào ngày 29-3-75... Saigon và toàn miền Nam có tháng Tư đen, riêng miền Trung có tháng Ba đen." Đó là nội dung bài viết sống động và xúc động của Bác sĩ Tôn Thất Sang. Việt Báo trân trọng giới thiệu với bạn đọc.
*
Tuấn xem lại ổ đạn, cẩn thận đóng chốt an toàn của cây colt 45, xóc lại chiếc áo giáp nặng nề, kiểm soát mọi người, và sau đó chàng mới dìu vợ lên chiếc xe jeep nhà binh bây giờ đã quá đầy người. Vợ chàng đang mang thai đứa con đầu lòng được gần 6 tháng. Nhìn nàng bụng mang dạ chửa mà đất nước đang hồi dầu sôi lửa bỏng, bất giác Tuấn thở dài thương cảm!
Đà Nẵng đang ở vào cảnh hỗn loạn cùng cực của một bầy cá đủ loại đang bị lúng túng trong chiếc rọ khổng lồ. Ngoài đường, binh lính thuộc mọi quân binh chủng như rắn không đầu vì không có cấp chỉ huy, lang thang, hỗn loạn, vô trật tự. Có nơi đã xảy ra một vài vụ cướp! Bây giờ là ngày 29-3-75, ngày cuối cùng của thành phố lớn thứ hai của miền Nam trước khi lọt vào tay CS! Đêm qua VC đã pháo kích phi trường Đà Nẵng, căn cứ Hải Quân Tiên Sa. Đã có nhiều trái đạn lạc vào nhà dân ở Phước Tường và bãi biển Nam Thọ gây tử thương cho nhiều gia đình. Quân CS đang, vượt qua đèo Hải Vân trên đường tiến quân vào Đà Nẵng. Tuấn biết điều đó, nhưng lúc nào chàng cũng trọng trách nhiệm và muốn liên lạc chặt chẽ với đơn vị nên chàng vội vàng mang vợ và gia đình lên Liên đoàn Công Binh Chiến Đấu đồn trú tại Hòa Khánh gần vùng biển Nam ô. Chàng đã cho tài xế nghỉ sáng nay để anh ta thu xếp gia đình.
Tuấn lái xa cẩn thận dọc đường Thống Nhất, gần đến ngã ba Cây Lan, chàng nghe tiếng đạn nổ giòn xen lẫn với nhiều tiếng la hét quát tháo. Nhìn về phía kho gạo ở phía trái, gần ngã ba vào Tổng Y Viện Duy Tân, Tuấn thấy dân chúng và lính tráng đông như kiến đang chen lấn giành nhau vào kho gạo mà cửa đã bị phá ra thật lớn. Thỉnh thoảng những tràng đạn chỉ thiên lại vang lên từng nhịp làm mái tôn như rung lên với những lỗ vở ra toang hoác ở mái. Cũng may là lính tráng chỉ bắn chỉ thiên để hù dọa nên không có ai bị thương! Tuấn thở dài, nhìn dân chúng và lính tráng đẩy từng xe cải tiến đầy gạo được chuyển từ kho ra. Chợt Tuấn cảm thấy chua xót khi thấy anh em binh sĩ, mới ngày nào đây là những chiến binh gan dạ, xông pha trận mạc, giữ gìn từng tất đất, không hề lùi bước trước quân thù. Nay, vì sự phản phúc bội ước của ngoại bang.. vì sự bất tài của chóp bu và do sự ngã giá theo điệu con buôn của tập đoàn tư bản và tập đoàn CS quốc tế, đồng minh với Việt cọng, mà miền Nam Việt Nam phải chịu muôn vàn đắng cay tủi nhục, hy sinh cả một quân đội hùng mạnh đứng hàng thứ tư trên thế giới! Tuấn chua xót nhìn anh em trong cảnh sẩy đàn tan nghe,Ô đang tan ra từng mãn nhỏ, đang tự hủy dần vì cái ngu dốt của cấp lãnh đạo với quân lệnh "Di tản chiến thuật" cũng gần đồng nghĩa với " Chưa đánh đã chạy"! Giờ đây, cấp chỉ huy không còn, vợ con ly tán, nhà cửa thất lạc nên anh em rất dễ bức xúc làm càng!
Giao thông như tắc nghẽn, vì hầu như dân chúng đều đỗ ra đường, lao xao như gà mất mẹ, kẻ xuôi, người ngược gọi nhau inh ỏi, hoang mang cùng cực. Dòng xe ngược chiều từ Hòa Khánh đổ về như khựng lại, trên trần xe, thúng mủng, nồi niêu xoong chảo, con nít, người lớn đeo la liệt. Họ nói trong vẻ hốt hoảng là CS đã vượt đèo Hải Vân, gần đến ngã ba Hòa Mỹ rồi, họ kêu gào, khóc lóc, tất cả đều mang vẻ hốt hoảng, hoang mang của ngày tận thế!
Đang miên man suy nghĩ, chợt Tuấn như chợt tỉnh vì tiếng ai gọi lớn:
-Bác sĩ, bác sĩ đi dâu đó?
Định thần nhìn lại, chàng thấy Trung Úy Thủy, phó ban Tài chánh Liên Đoàn, đang nhảy vội xuống xe lam đến bên Tuấn.
-Chào anh Thủy, đang định lên Liên Đoàn đây, Tuấn trả lời.
Thủy cười như mếu, trách nhẹ:
-Cái ông này, Liên Đoàn di tản lúc 2 giờ sáng hồi hôm rồi. Đại tá Liên Đoàn trưởng cùng đi với các đại đội trưởng Cầu Nổi, Cầu Ghép, Công Sự Nhẹ, Chỉ huy công vụ và Khai Quang rồi.
-Bằng phương tiện gì?-Tuấn hỏi.
-Lên phà do Đại đội Cầu nổi và Cầu Ghép thiết kế. Tất cả lên pha,ợ ra tàu lớn đậu ngoài vùng biển khơi Nam ô. Thôi BS trở lại Đà Nẵng đi, VC về đến Nam Ô rồi. Tuấn cảm ỏn Trung Úy Thủy và chúc anh bình an. Thủy chào chàng và vội vàng chạy đeo lại chiếc xe lam hồi nãy vẫn còn nhích tường bước như rùa bò.
Tuấn tìm cách trở xe lại. Chàng đi ngược lại phía đường Nguyễn Hoàng vì lối này tương đối ít người hơn. Nhìn sân Ga vắng ngắt chợt Tuấn có cảm giác rờn rợn. Một toán TQLC không có cấp chỉ huy đang từ sân ga tràn ra đường. Để ý Tuấn an lòng vì thấy họ không có vũ khí, tuy nhiên thấy anh nào cũng thủ tay trong áo trận, không biết trong ấy có lựu đạn hay không! Hai ba anh tiến đến xe Tuấn với thái độ hung hãn, toan chận lại, nhưng chàng bình tĩnh ứng xử nên không có gì đáng tiếc xảy ra. Nhìn các anh lính đằng đằng sát khí, chàng thở dài tiên đoán rồi thành phố sẽ có những cảnh cướp giật xảy ra trong cảnh hỗn quan hỗn quân này!
Tuấn nhớ lai ba ngày trước: 26-3-75, cố đô Huế thân yêu của chàng cũng đã lọt vào tay Cọng quân, cũng do lệnh Di tản chiến thuật của từ chóp bu đưa xuống, lại thêm có vài chỉ huy trưởng thiếu trách nhiệm tìm cách chạy lấy thân, đem con bỏ chợ làm cho nhiều binh đoàn bộ binh không có kế hoạch rút quân hoàn chỉnh đến nỗi tất cả các đơn vị hầu như đều rút về cửa Tư Hiền, kể cả các Tiểu Đoàn TQLC 3, 4, 5, 7 , Tất cả đều tập trung quân ở một vị trí mà phía sau là mé biển Đông,, có lẽ các chỉ huy trưởng muốn bắt chước Hàn Tín lập "Bối Thủy Trận"để quân sĩ hết đường thoát mà chiến đấu đến cùng chăng?! Tuy nhiên cũng vì phơi mình ra khơi khơi không có vị trí che chở phòng vệ nên anh em binh sĩ đã bị thiệt mạng rất nhiều dưới những tràng đạn đại liên cũng như súng cối của CS! Tuấn cũng nghe những binh sĩ đã thoát được từ vùng biển chết ở cửa Tư Hiền từ Huế vào kể cho nghe những vụ bắn giết nhau trên chiếc hạm to lớn 801 giữa TQLC và bộ binh mà phần thiệt hại cho bộ binh rất nhiều.(Sau nầy khi đến Mỹ, đọc lại hồi ký " Tháng ba gãy súng" của Đại Đội phó đại đội 4, tiểu Đoàn 4 TQLC - Cao Xuân Huy - kể lại những cảnh kinh hoàng trên bãi biển cửa Tư Hiền của những toán quân không còn cấp chỉ huy, cùng những cảnh TQLC bắn người trên vận tải hạm 801 và những cảnh tự sát tập thể đầy oai hùng của anh em binh sĩ thề không quyết sa vào tay giặc, Tuấn không khỏi bùi ngùi thương cảm cho số phận những quân nhân của giờ thứ 25! )
Trở về nhà, ở tòa Đặc Ủy Giám Sát vùng I ở góc đường Độc Lập và Thống Nhất, Tuấn thay vội bộ quân phục. Nhìn Khu Giám Sát Viện với người đi kẽ ở vội vã,, nét hooang mang hiện trên nét mặt mọi người,, Tuấn thấy lòng như trùng xuống, hoang mang trước cảnh đổi thay của đất nước!. Nhìn ra phía bờ sông Hàn, phía tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ, chàng thấy những cuộn khói đen mịt mù bay lên xen lẫn với những tiếng nổ nhỏ, chàng biết các nhân viên sở Mỹ đang hủy hồ sơ. Trên không hai chiếc trực thăng HU1B đang vần vũ tìm cách di tản những người Mỹ còn sót lại. Tự nhiên Tuấn cảm thấy một nỗi tức giận không kiềm chế được mà chàng ước gì có trong tay một khẩu đại liên thì -chàng cũng không ngại bắn vào một trong hai chiếc đó, rồi ra sao thì ra! Đó là nổi tức giận đầy cảm tính của những người trong cuộc chơi bị kẻ đồng hành phản bội, cuộc cờ chưa tàn mà đã vội hy sinh sĩ tốt, xe pháo của mình để chạy lấy thân, sống chết mặc bây! (Sau nầy khi ở tù trại Kỳ Sơn, Tuấn cũng đã nhiều lần hỏi cảm tưởng của các bạn tù từng phục vụ ở các đơn vị tác chiến. Chàng còn nhờ Đại Úy Giản, đại Đội trưởng đại đội dù đóng ở cầu Phan Thanh Giản cũng đã tức giận trả lời là anh suýt ra lệnh xạ thủ đại liên bắn vào các trực thăng Mỹ đang tìm cách di tản những người Mỹ và những ông to bà lớn trên các cao ốc gần đó, tuy nhiên anh đã kìm hàm kịp thời nên cuối cũng không có việc gì đáng tiết xảy ra. Sau nầy chàng hiểu ra rằng kết quả của cuộc chiến Việt Nam chỉ là hệ quả của cuộc mua bán đổi chác vì quyền lợi của tập đoàn Tư Bản và của tập đoàn phù thủy Cọng Sản quốc tế mà CS Việt Nam cũng chỉ là một thành viên, một con cờ mà thôi!
Tuấn chua xót, nhìn vơ,ỳ bụng mang dạ chửa đang loay hoay lôi hết những bộ quân phục của chàng đem ra đốt, nàng cũng cẩn thận đem luôn tất cả giấy tờ, hình ảnh kỷ niệm trong thời quân ngũ! Chàng chợt nực cười khi thấy nàng loay hoay cố đốt cháy cho hết những hình Playboy hấp dẫn mà chàng đã có công cất giấu trong hộc tủ tử bấy lâu nay. Vừa đốt, nàng vừa phì cười đay nghiến:
-Bọn VC vào mà thấy những hình yêu quỉ nầy thì chúng cho ở tù mút mùa!
Tuấn chợt vui vẻ bảo vợ:
-Em đừng lo, bọn VC mà thấy những của nợ nầy thì chúng sẽ thu dấu để đêm tối đem ra xem cho sướng mắt mà trầm trồ : "sao cái món gì của Tư Bản cũng to và thơm thế!"
Vợ chàng lại cằn nhằn:
-Anh còn cất những thư từ gì nữa không? anh có những chỗ bí mật mà buổi nay em mới biết!
Trong khoảng khắc chàng chợt khám phá ra rằng lòng ghen tuông của đàn bà nhiều khi lại đáng sợ hơn Việt Cọng nữa! và chàng cảm thấy may mấn là trước đó đã đốt kịp những bức thư tình của những người "tình lỡ" trước khi nàng lục đến, nên vô tình tránh được những màng vấn đáp đến "nhức xương"!
Nhìn ngọn lửa tàn lụi dần, Tuấn có cảm giác chua xót như cuộc đời bình yên của chàng, gia đình chàng, Tổ Quốc chàng rồi cũng phôi pha dần theo năm tháng dưới chế độ hà khắc của CS và quãng đường tiếp theo, chỉ là những cơn bão tố phũ phàng...
Chàng nhớ lại, mới vài tháng trước đây, chàng và vợ đã xem phim Docteur Jivago ở rạp Kim Châu ở đường Độc Lập. Chàng cảm thương cho số phận người Bác Sĩ không may, đã sinh ra trong thời nhiễu nhương bị Cọng Sản cướp chính quyền, ăn không đủ no, lạnh không đủ cũi để sưởi ấm đến nỗi phải đi tìm, đánh cắp những khung cửa sổ để làm cũi, nhóm lửa. Chàng đã ghê sợ những trại tập trung lao động khổ sai dưới cái lạnh cắt người của vùng Tây Bá Lợi Á...Chàng cũng thương cho mối tình lãng mạng của Lara và Jivago và nhất là bài tình ca bất hủ " Chanson de Lara" mà cũng là bản nhạc nền cho phim... Chàng nhớ sau khi xem cuốn phim xong, có nhiều người đã khóc, chàng nhìn lên đôi mắt vợ, thấy long lanh. Tuấn xúc động, hỏi nhỏ:
-Nếu lở mai sau miền Nam cũng chịu cảnh VC xâm chiếm thì em có sợ không?
-Nàng rùng mình nắm chặt tay chàng nói nhỏ hơn:
-Đừng nói gở anh, em sợ lắm!
Trong mơ hồ, chàng chợt có linh cảm rồi cuộc đời mình sau nầy cũng sẽ có những nỗi khổ tương đồng với Jivago!
Tiếng kêu của con mèo Luna làm Tuấn trở về thực tại. Vợ chàng vội vàng trộn đồ ăn cho cả bầy bảy con mèo của chàng. Nhìn nàng đang trìu mến vuốt ve từng con vừa khóc vừa nói nhỏ với chúng những lời từ giã, lòng Tuấn như se thắt lại. Chàng biết rồi đây vợ chàng và chàng sẽ vĩnh biệt bầy mèo cưng yêu quí này, vì ngay cả số phận của cả hai người cũng chưa biết trôi dạt nơi nao trong khi từng binh đoàn VC đang ồ ạt tiến vào thành phố!
Bầy mèo là niềm yêu thương của cả hai người., Vợ chàng đặt cho mỗi đứa một tên: Luna -con mèo mẹ dịu hiền hai màu đen trắng, lông mướt như nhung- là thủy tổ của bầy mèo mà nàng đang nuôi-, mang trên cỗ chiếc ribbon màu đỏ. Kế đó là Nu, Ni,Bi, Bốp, Lu, La. Sáu con sau nầy đực cái đều có và đủ màu kể cả tam thể. Theo thứ tự đẻ trước sau, nàng đeo ribbon có các màu cam. vàng, xanh, lam, chàm, tím theo hiện tượng tán sắc bảy màu của mống trời, tượng trưng cho niềm vui và hạnh phúc. Bầy mèo là niềm thương nổi nhớ, là niềm kiêu hãnh là nguồn vui của cả hai người; thế mà giờ đây nàng sắp phải xa lìa chúng; còn nỗi khổ nào hơn!! Không dừng được, Tuấn cũng vội ôm lấy con Bốp, con mèo đực to nhất, hai màu đen trắng mà chàng thương mến nhất vì nó có đôi nét giống chàng là có rất nhiều đào! Nó vội dụi đầu vào má chàng cất tiếng rù nho nhỏ nũng nịu, tự nhiên Tuấn thấy mình muốn khóc...
Những nhà trong khu Giám sát viện cũng đã trống vắng nhiều. Nhìn những đống tro tàn còn ngún lửa, chàng thấy tuồng như trong những sợi khói mỏng manh đó còn vấn vương ấm áp tâm sự của những kỷ niệm vàng son mới ngày nào, những kỷ niệm mà chàng biết sau nầy khó có thể mà gặp lại một khi đã bị cai trị dưới chế độ CS!
Khoảng quá trưa thì VC xuất hiện ở dường Thống Nhất, họ di chuyển bằng xe Molotova còn mang cả cành lá ngụy trang đã khô héo. Dòng xe di chuyển chậm, những cán binh còn quá nhỏ ngồi hai bên thành xe ôm súng ở tư thế chiến đấu. Đoàn xe đi chậm như diễn hành . Nét mặt họ còn mang nặng nỗi nhọc mệt và hoang mang ngạc nhiên trước cảnh bỏ ngõ và sự thịnh vượng giàu sang của thành phố. Chính họ cũng không tưởng cái chiến thắng không ngờ của họ thật ra đã được dàn xếp từ những tập đoàn tư bản chóp bu, những tay lái buôn súng đạn, đã phản bội ngay cả thân xác của những đồng đội mình để cuốn theo vòng quỹ đạo của tập đoàn CS quốc te,ả chuyên môn buôn thân xác của các đồng chí ngây thơ - sinh Bắc tử Nam - kích thích chuyên chính vô sản bằng bạo lực, hủy diệt nhân mạng cả mấy triệu đồng bào cả hai miền và ngay cả sinh mạng các cán binh còn vương nét ngây thơ. Chúng quyết tâm củng cố cho được quyền lực của đảng và của chính mình bằng cái triết thuyết Cọng Sản tàn bạo, phi quốc gia và không tưởng của chúng!
*
Tháng Ba 75 là tháng thọ đại nạn của miền Trung!! Khởi đấu là sự thất thủ Ban Mươi Thuộc kể từ sáng ngày 11-3-75 do sự đánh giá quờ quạng của viên tư lệnh chiến trường không biết đâu là điểm, đâu là diện, cuối cùng đã trúng kế dương đông kích tây của địch!
Quyết định Cam Ranh đơn phương của Nguyễn văn Thiệu vào ngày 14-3-75 cho cuộc triệt thoái Cao nguyên, rút bỏ Quân Đoàn II và mặc cho số phận của hơn 100.000 dân hai tỉnh Pleiku, Kontum và gia đình binh sĩ, là một ván bài thấu cáy với chính quyền Mỹ để mong vớt lại viện trợ . Than ôi ván bài xả láng đã thua hết vốn! Lệnh bỏ Quân Đoàn II đã gây nên hậu quả dây chuyền , rối loạn quân tình và làm sụp đổ theo cả những Quân Đoàn còn lại và cuối cùng toàn miền Nam đã rơi vào tay CS!
Ngày 17-3-75 rút bỏ Quân Đoàn II cũng là ngày Trung Đoàn 53 Bộ Binh bị tràn ngập vị trí phòng thủ ở Phước An sau hơn một tuần chiến đấu cô đơn! Họ đóng chốt tử thủ và đã hy sinh đến người lính cuối cùng - chữ Tử Thủ đúng nghĩa của những Anh Hùng, da ngựa bọc thây- chứ không phải từ miệng của những viên tướng điếm đàng, miệng hô tử thủ trong khi một chân đã ở trên sàn máy bay!!
Ngày 26-3-75, lệnh "Di tản chiến thuật" tiếp theo làm mất tiêu xứ Huế ngàn năm văn vật và cũng đã làm thiệt mạng không biết bao nhiêu quân và dân trên đoạn đường vượt thoát bằng đường biển từ Thuận An, Tư Hiền (nhất là Tư Hiền ) vào Đà Nẵng!
Đà Nẵng mất vào ngày 29-3-75, cái thế môi hở răng lạnh đương nhiên khi Huế đã không còn nữa!
Saigon và toàn miền Nam có tháng Tư đen, riêng miền Trung có tháng Ba đen. Ba đen, Tư đen hay Năm đen nói chung là nỗi nhục mất nước của con dân chúng ta. Chúng ta không cần ai giải phóng, chúng ta chỉ muốn có Hòa Bình, Độc Lập và nhất là phải có Tự Do trên mọi lãnh vực.
Hôm nay, ngoảnh nhìn lại cũng đã qua hơn 30 rồi tháng Ba đen, Tư đen!
CS nói quê hương đổi mới đã nhiều. Thế nhưng chỉ đổi mới cái võ bên ngoài của một vài thành phố, có cao ốc hào nhoáng hơn, có khách sạn lộng lẫy hơn, có khiêu vũ trường rộn rịp hơn...
Tuy nhiên "xét vấn đề đừng nên xét hiện tượng mà phải xét bản chất".Khách sạn, vũ trường chỉ là những "hiện tượng" dễ làm mọi người võ đoán!, "bản chất" là ở đoàn hành khất phải lìa bỏ xứ lên Saigon và các thành phố lớn kiếm ăn, bản chất là ở dân chúng giàu nghèo càng ngày càng cách biệt; tư bản đỏ sống như đế vương, trong lúc đám dân đen còn quá lầm than khổ cực, cơm độn ăn không đủ no! Nạn buông hương bán phấn lan tràn khắp mơi nơi, bản chất là xuất cảng các em gái ngây thơ qua các nước làm nô lệ tình dục để kiếm ngoại tệ, bản chất là đem giang sơn hoa gấm dâng cho tàu cọng để mua bả vinh hoa, củng cố thế lực đảng để cai trị được trường tồn... vân vân và vân vân..
Đó mới là bản chất, mới là "cốt lõi" của vấn đề..!
Cầu xin ơn trên gia hộ cho Dân tộc Việt Nam chóng hưởng được tự do hoà bình hạnh phúc.
Tôn Thất Sang

