Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Image

LS Nguyễn Văn Đài trả lời phỏng vấn RFA ngay sau khi ra tù
Sunday, 06 March 2011


LS Nguyễn Văn Đài: Sáng sớm ngày hôm nay, (05-03-2011) lúc 6 giờ, Bộ Công an đã cử người xuống trại giam Nam Hà để đón và đưa tôi về đến phường Bách Khoa, Hà Nội lúc 7: 30 AM để làm thủ tục tiếp tục quản chế tôi 4 năm theo như bản án (mà tòa đã y án trong phúc thẩm ngày 27-11-2007 với 4 năm tù giam và 4 năm quản chế tại địa phương) và tôi trở về nhà vào lúc 8 giờ sáng nay theo giờ Hà Nội ( Xem Youtube của HNPD )

Lên tiếng trong cuộc trả lời phỏng vấn với Đài Á Châu Tự Do ngay sau khi ra khỏi nhà tù, luật sư Nguyễn Văn Đài khẳng định ông không vi phạm luật pháp Việt Nam”.
Image
Luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân tại phiên toà ở Hà Nội 11-5-2007.
Do đâu mà luật sư Nguyễn Văn Đài nói như vậy? Trong câu chuyện dành cho Việt Hùng của Ban Việt Ngữ, từ Hà Nội, luật sư Nguyễn Văn Đài phát biểu.

LS Nguyễn Văn Đài: Sáng sớm ngày hôm nay, (05-03-2011) lúc 6 giờ, Bộ Công an đã cử người xuống trại giam Nam Hà để đón và đưa tôi về đến phường Bách Khoa, Hà Nội lúc 7: 30 AM để làm thủ tục tiếp tục quản chế tôi 4 năm theo như bản án (mà tòa đã y án trong phúc thẩm ngày 27-11-2007 với 4 năm tù giam và 4 năm quản chế tại địa phương) và tôi trở về nhà vào lúc 8 giờ sáng nay theo giờ Hà Nội. Từ lúc trở về đến nay, cảm xúc của tôi ngập tràn vui mừng vì sau 4 năm xa cách gia đình nay được trở về. Cảm tưởng lúc này, thưa rất khó tả…

Việt Hùng: Tình trạng sức khỏe lúc này của luật sư như thế nào?

LS Nguyễn Văn Đài: Trong 4 năm tôi bị cầm tù, chia làm hai giai đoạn.

Giai đoạn thứ nhất là thời gian tạm giam 9 tháng, điều kiện sống lúc đó rất khắc nghiệt, vì điều kiện ăn uống, nước, cho đến tất cả mọi thứ…đều rất khắc nghiệt khiến sức khỏe của tôi lúc đó rất yếu và đồng thời tôi lại bị bệnh nữa nên gặp rất nhiều trở ngại. Họ có cho gia đình tôi gửi thuốc vào nhưng đó chỉ là thuốc dùng khi sức khỏe của mình tốt thôi, nhưng nếu sức khỏe của mình không tốt thì cũng không có hiệu quả nhiều.

Giai đoạn thứ hai là họ đưa tôi xuống trại giam Nam Hà, khi xuống đó thì điều kiện sinh hoạt có đỡ hơn, sức khỏe của tôi dần phục hồi trở lại. Trong trại giam, tôi luyện tập sức khỏe nên cho đến nay sức khỏe của tôi cũng khá lên nhiều. Trong những ngày ở trại giam, khi tôi có nhu cầu về y tế thì họ cũng cho mình khám bệnh và cấp thuốc cho tôi.

Chỗ dựa tinh thần

Việt Hùng: Điều gì đã làm luật sư có thể giữ được…

LS Nguyễn Văn Đài: Vâng, trước hết là tôi có một hậu phương, đó là người vợ của tôi đã luôn động viên về tinh thần và đã giúp đỡ cho tôi rất nhiều. Điều thứ hai là mình luôn đặt niềm tin vào con đường mình đã lựa chọn là đúng, chính nghĩa, chứ không phải làm vì lợi ích cá nhân mà mình làm vì lợi ích chung cho đất nước, cho xã hội. Và điều thứ ba, tôi được sống chung với tất cả anh em ở Tây Nguyên, họ cũng bị buộc vào những tội như tôi. Họ là những người cũng có tư tưởng đấu tranh như tôi và điều quan trọng là họ có cùng niềm tin vào Đức Chúa Trời như tôi, cho nên suốt trong thời gian đó tôi sống cùng với họ, chia sẻ lời Chúa cùng với họ, cho nên những năm tháng vừa qua đối với tôi cũng vui vẻ và chan hòa cùng những người anh em của tôi ở Tây Nguyên.

Việt Hùng: Ý luật sư muốn nói tới những người bạn tù sắc tộc thiểu số ở cao nguyên Trung Phần?

LS Nguyễn Văn Đài: Vâng, họ là những người thuộc dân tộc Ba-na, Ê-đê, Gia-rai và H`mông. Họ bị bắt khi tham gia những cuộc biểu tình đòi quyền tự do tôn giáo, tự do dân chủ và quyền về đất đai. Họ bị bắt vào những năm 2001 và 2004. Sau đó chính quyền có bắt thêm một số người nữa vào những năm từ 2006 – 2008.

Việt Hùng: Trong số những người sắc tộc ở vùng cao nguyên Trung Phần mà luật sư vừa đề cập đến, theo chỗ chúng tôi ghi nhận, phần đông trong số họ là những người theo đạo Tin Lành?

LS Nguyễn Văn Đài: Chỉ có một vài người theo đạo Công Giáo còn đa phần là theo đạo Tin Lành.

Việt Hùng: Số bị bắt đó theo ước chừng của luật sư khoảng bao nhiêu người?

Điều thứ hai là mình luôn đặt niềm tin vào con đường mình đã lựa chọn là đúng, chính nghĩa, chứ không phải làm vì lợi ích cá nhân mà mình làm vì lợi ích chung cho đất nước, cho xã hội.

LS Nguyễn Văn Đài: Lúc tôi mới đến thì tại trại giam Nam Hà có 4 phòng giam, riêng phân trại 1 của tôi có 3 phòng giam. Lúc tôi vào thì có khoảng gần 200 người (từ Tây Nguyên). Bên phân trại C có 1 phòng giam, lúc đó có khoảng hơn 40 người. Tính cho đến thời điểm tôi được về thì còn khoảng 81 người bị giam ở phòng 1, 2 và 6. Còn bên khu C còn bao nhiêu thì tôi không rõ. Đó là những người án rất nặng, thường là từ 10 năm trở lên.

Việt Hùng: Theo luật sư ghi nhận, án từ 10 năm trở lên thường là bị buộc vào những “tội” gì?

LS Nguyễn Văn Đài: Có 3 “tội” mà thường họ mắc phải. Nhiều nhất là bị buộc vào tội phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc. Tội thứ hai là tội trốn đi nước ngoài nhằm chống chính quyền và tội thứ ba là tội phá rối an ninh. Có những người bị kết án cả 3 tội, có người bị kết án 2 tội, người thì 1 tội…

Việt Hùng: …tức là ngày mà luật sư vào trại có khoảng 250 người sắc tộc thiểu số từ cao nguyên Trung Phần bị bắt giam? Hiện bây giờ còn khoảng hơn 80 người?

LS Nguyễn Văn Đài: Nếu tính cả khu C nữa thì hiện nay còn khoảng hơn 100 người.

Tôi không vi phạm luật pháp Việt Nam

Việt Hùng: Theo chỗ chúng tôi ghi nhận, trong thời gian luật sư thụ án ở trong tù, không ít lần các viên chức ngoại giao Hoa Kỳ đã vào trại thăm luật sư? Những tin tức mà chúng tôi ghi nhận, thực hư như thế nào…

LS Nguyễn Văn Đài: Vâng, trong thời gian tôi bị bắt, tạm giam ở Hà Nội, vào tháng 10-2007, có được phái đoàn của Ủy ban Hoa Kỳ về Tự do Tôn giáo Quốc tế vào thăm. Sau đó, sau phiên xử phúc thẩm (27-11-2007) tôi được chuyển xuống trại giam Nam Hà thì ông Michael Michalak, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam có vào thăm tôi vào tháng 10-2008.

...bởi vì tôi là một luật sư nên những việc mình đã làm thì mình đều vận dụng sự hiểu biết pháp luật của mình để tin rằng những điều mình làm không vi phạm pháp luật ...

LS Nguyễn Văn Đài : Sau đó vào tháng 4 năm 2009 phái đoàn Ủy ban Hoa Kỳ về Tự do Tôn giáo Quốc tế có vào trại thăm tôi lần thứ hai. Cuối năm đó (2009) có phái đoàn của Bộ Ngoại giao Úc có đến thăm tôi. Và gần đây nhất có phái đoàn của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và đại diện Văn phòng Tổng Thống Hoa Kỳ có tới thăm tôi tại trại giam Nam Hà vào tháng 10-2010 vừa qua.

Việt Hùng: Theo chỗ chúng tôi ghi nhận, không ít lần cơ quan an ninh đã làm việc với luật sư ở trong trại, có ý muốn luật sư nhận phần “lỗi” về mình thì luật sư có thể được phóng thích sớm hơn so với đúng 4 năm, thời hạn của bản án…

LS Nguyễn Văn Đài: Vâng, ngay từ khi tôi mới đến trại giam Nam Hà, có nhiều lần cơ quan an ninh và kể cả cán bộ ở trại khuyên tôi nên nhận tội thì sẽ được thả tự do sớm. Và bên an ninh Bộ Công an cũng nhiều lần xuống, bằng cách nào đó…thuyết phục tôi nhận tội thì họ sẽ trả tự do cho tôi sớm hơn bình thường, chỉ có thể khoảng 2 năm thôi...

Thế nhưng, bởi vì tôi là một luật sư nên những việc mình đã làm thì mình đều vận dụng sự hiểu biết pháp luật của mình để tin rằng những điều mình làm không vi phạm pháp luật mà mình làm chỉ với mong muốn của bản thân cũng như khát vọng tự do dân chủ chung của tất cả người dân tại Việt Nam. Không bao giờ mình coi những việc làm tốt đó là có tội cả, cho nên tôi không thể nào nhận tội được! Điều đó khiến tôi phải ở trại giam Nam Hà cho đúng đến hết 4 năm. Tôi không được giảm án ngày nào và cũng không được đặc xá.

Việt Hùng: Tức là luật sư phải chịu đúng 4 năm tù theo bản án và cho đến bây giờ dù mãn hạn tù nhưng luật sư phải chịu thêm 4 năm quản chế tại địa phương?

Thêm 4 năm quản chế

LS Nguyễn Văn Đài: Buổi sáng hôm nay trước khi họ đưa tôi về với gia đình, họ đã đưa tôi ra phường Bách Khoa, Hà Nội, làm thủ tục 4 năm quản chế tiếp theo. Theo như họ nói thì thời gian 4 năm quản chế tới đây sẽ không dễ chịu chút nào, sẽ rất khắc nghiệt. Nói chung trong những năm tháng tiếp theo sẽ là những năm tháng khó khăn trong việc đi lại của tôi.

Việt Hùng: Vừa rồi luật sư có nói, những việc mà luật sư đã làm trước đây là hoàn toàn đúng…

LS Nguyễn Văn Đài: Bởi vì quá trình dân chủ hóa của một quốc gia là một quá trình tự nhiên chứ không phải là sự lựa chọn hay áp đặt. Mình thấy rõ ràng là Việt Nam phải đi đến quá trình dân chủ hóa đấy để mà mình tin vào con đường mình đã chọn là con đường chính nghĩa. Cho nên khi mình đã có niềm tin vào đó rồi thì mình cho rằng mình đúng và luôn giữ đúng niềm tin ấy chứ không có gì để mà thay đổi cả. Bởi vì khát vọng của bản thân tôi, tôi biết rằng, đa số người dân Việt Nam đều mong muốn có dân chủ, chỉ có điều họ có bày tỏ ra hay không mà thôi. Theo tôi bất kỳ một người dân đều khao khát tự do dân chủ.

Cảm ơn

Việt Hùng: Trước khi chia tay quý vị thính giả của Đài RFA, luật sư có điều gì muốn chia sẻ?

LS Nguyễn Văn Đài: Trước khi chia tay quý thính giả, qua Đài Á Châu Tự Do tôi muốn gửi lời cảm ơn đến tất cả chính phủ các nước, trong đó có chính phủ Hoa Kỳ và chính phủ Úc đã gửi phái đoàn đến thăm tôi khi tôi còn ở trong trại giam. Tôi xim cảm ơn tất cả các Tổ chức bảo vệ Nhân quyền Quốc tế đã lên tiếng bênh vực cho tôi trong suốt những năm tháng vừa qua khi lên tiếng kêu gọi, yêu cầu chính phủ Việt Nam trả tự do cho tôi.

Tôi cũng xin bày tỏ sự cảm ơn tới tất cả quý vị thính giả đã quan tâm đến trường hợp của tôi trong những năm qua. Điều đó đã khích lệ tôi, động viên cho tôi giữ vững được niềm tin vào con đường mà mình đã lựa chọn. Xin cám ơn tất cả quý vị.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Chuyện Thuyền nhân, từ Kên Kên đến Phượng Hoàng
Giao Chỉ

Nếu anh không nói, ai nói?
Bây giờ không nói, bao giờ?
Mở đầu

Tháng trước, tôi có dịp điểm một cuốn sách. Tác phẩm Boat People của cô Carina Hoàng. Tôi viết với tất cả sự xúc động ban đầu vì nội dung và cũng vì hình thức của tác phẩm. Ngay sau đó, có người lên án tác giả và gọi cô là kên kên, một loại chim chuyên ăn xác chết. Xác của thú vật và xác của con người. Và lên án tác giả là tay sai của cộng sản.

Tôi thực may mắn không biết về chuyện tác giả đang bị thù nghịch nên đã điểm sách hoàn toàn vì tác phẩm. Nếu biết cô bị đánh phá, có thể tôi cũng không dám lên tiếng. Từ trong tâm khảm tôi biết, đôi khi mình cũng hèn. Sợ thiên hạ chửi bới. Nhưng may mắn là tôi đã viết xong. Hoàn toàn vì tác phẩm. Gần 80 tuổi mà vì sợ bị chửi bậy bạ nên không dám nói lên điều mình nghĩ thì quả là hèn thật. Dù tác giả xấu nhưng tác phẩm tốt, vẫn phải công bằng với tác phẩm. Bây giờ xin tìm hiểu về tác giả.

Kể lại từ đầu

Đầu tháng 2 năm 2011 luật sư Thu Hương San Jose gọi điện thoại để giới thiệu Carina với sách Boat People. Cô Hương là con gái của đại tá tỉnh trưởng Hậu Nghĩa. Trước 1975, một buổi sáng cô nghe tin cha bị phục kích chết ngay trên đường về Củ Chi, nơi cộng sản gọi là thành đồng của tổ quốc. Sau đó mỗi năm đến 30 tháng 4, cô Hương vẫn còn giữ mãi kỷ niệm đau thương, khi thấy anh trai của cô, dùng cây súng của cha tự tử chết ngay trước mặt cô bé.

Vì vậy, khi luật sư Hương giới thiệu bạn của cô là tác giả Boat People, bác Giao Chỉ không có gì phải do dự.

Tôi gặp cháu Carina tại viện Bảo Tàng còn đang bừa bãi vì chuẩn bị cho cuộc triển lãm Hội Tết Tân Mão. Dù bận rộn và hấp tấp, nhưng hình thức đặc biệt của tác phẩm đã làm tôi hết sức chú ý. Và tôi có một chút ghen tức. Nhân danh là giám đốc sáng lập viện bảo tàng Thuyền nhân đầu tiên trên thế giới mà không làm được một cuốn sách như thế này bằng Anh ngữ thì quả thực đáng xấu hổ.

Tôi đem cuốn sách về đọc và viết bài điểm sách với tất cả tấm lòng.

Có thể tôi đã ca tụng quá lời hay không tìm ra những chỗ còn khiếm khuyết, nhưng quả thực tôi rất hài lòng. Nếu quý vị có tác phẩm trong tay, quí vị sẽ hiểu rõ và câu chuyện có thể chấm dứt ở đây. Nhưng, quí vị chưa nhìn thấy sản phẩm nên không thể thông cảm…

Niềm vui đã nằm trong thiên tai

Chuyện tiếp theo là những bất hạnh. Carina ra mắt sách tại tòa báo Người Việt, một địa điểm đang bị thiên hạ thù nghịch nên trở thành vấn nạn đầu tiên. Thêm bản tin của một cô gái tại Nam Cali phổ biến trên Internet gọi tác giả là kên kên và đưa ra các tin tức lên án Carina là tay sai cộng sản, thi hành nghị quyết 36. Tố cáo tác giả về nước làm ăn với cộng sản, đã được báo Saigon phỏng vấn để tuyên truyền cho chế độ. Tất cả đều ghi trên giấy trắng mực đen.Tiếp theo dư luận xưa nay vẫn tích cực chống cộng trên diễn đàn Internet đóng góp thêm những lời chửi bới. Các thân hữu của tôi vội vàng báo tin và khuyên bảo ông Giao Chỉ nên xem lại kẻo rồi lại mang vạ vào thân. Các tay thù nghịch thì chửi bới người điểm sách thậm tệ. Còn những người nhẹ nhàng nhất thì phán rằng: Đại tá Giao Chỉ,Vũ Văn Lộc điên rồi sao mà lại tiếp sức với tay sai của cộng sản. Một số các diễn đàn chống Cộng không hề biết đến tác phẩm hăng hái phổ biến tin lên án Kên kên để rộng đường dư luận. Riêng tôi cảm động khi nhận được thư của bác sĩ Hoàng Cơ Lân từ bên Pháp viết rằng vẫn một lòng tin tưởng yểm trợ.

Tìm hiểu tác giả

Một buổi họp mặt đã được tổ chức, tôi và một vài thân hữu có dịp nói chuyện trực tiếp với tác giả. Mọi uẩn khúc phải được giải bày. Trước hết nội dung của tác phẩm, theo tôi là một bản cáo trạng lên án chế độ, dù rằng không có một lời nào hô hào trực tiếp đả đảo cộng sản. Còn về bài trình bày hình chiếu của tác giả với những lời dẫn giải giới thiệu tác phẩm hoàn toàn chứa đựng những lời lẽ lên án cộng sản vì đây là nguyên do bỏ nước ra đi.

Carina (Oanh Oanh) Hoàng làm MC cho một buổi sinh hoạt cộng đồng tại Úc Châu

Image

Riêng trong đoạn mở đầu về chiến tranh Việt Nam có hình cô bé Kim Phúc chạy bom. Chúng tôi nói rằng cháu nên bỏ hình này đi vì chẳng ăn nhập gì đến Boat People lại thêm hiểu lầm. Carina hoàn toàn đồng ý nói là sẽ không dùng hình này nữa. Hỏi rằng người ta nói cháu có dùng tấm hình tướng Loan xử tử Việt cộng, đúng không. Trả lời chuyện này hoàn toàn không có. Cháu có gia nhập tổ chức doanh gia thân cộng không. Trả lời tuyệt đối không. Ngược lại cháu có hoạt động chung với tổ chức Văn khố Thuyền nhân tại Úc một thời gian. Lúc này đã có người nói về chuyện báo Sài Gòn phỏng vấn cháu nhưng anh em bên Văn khố không đặt thành vấn đề. Ngoài ra tác giả có trình bày cho chúng tôi một bản tiểu sử đầy đủ suốt cuộc đời của Carina từ lúc còn nhỏ, cha đi tù, con vượt biên, đến Hoa kỳ, học hành và làm việc tại California. Về làm tại công ty Mỹ tại Việt Nam, rồi làm cho lãnh sự Mỹ tại Saigon. Gặp bạn trai người Úc làm chung công ty. Theo chồng về Úc, làm cho lãnh sự Mỹ tại Úc, chuẩn bị luận án tiến sĩ và viết sách. Thời gian sống tại Saigon có được báo chí phỏng vấn, có một lần đi họp với chính quyền với tư cách là một Việt kiều kinh doanh. Tất cả những chuyện này xảy ra từ trước năm 2006.

Năm 2006 tác giả đã bán một công ty nhỏ sản xuất vật dụng First Aid để rồi cùng gia đình về sống tại Úc Châu. Carina cũng nói rằng cô đã hai lần làm việc cho tòa lãnh sự Mỹ tại Saigon (2001) và tại Úc (2009). Trước khi vào làm lần đầu, cô đã trải qua gần một năm mới hoàn tất thủ tục sưu tra an ninh. Cô nói thêm là phải nhìn lại toàn diện Bio của cháu mới biết được. Nếu trích ra từng đoạn thì chỉ thấy hình ảnh của một Việt kiều đi đi về về từ 96 đến 2005. Thực ra cháu về Việt Nam lần đầu là làm cho hãng Mỹ. Mình là người Việt nên hãng cử về làm đại diện cho văn phòng tại Việt Nam.

Cháu hỏi bác Giao Chỉ tài liệu chứng minh như vậy đủ chưa. Bác trả lời chưa đủ. Bây giờ cháu đang bị gọi là Kên Kên. Bác muốn gặp Phượng Hoàng.

Phượng Hoàng là ai. Người đó là ba cháu. Tôi xin cô Hoàng Oanh Oanh tức Carina Hoàng mời thân phụ của cô xuống San Jose thăm viện Bảo Tàng để chúng tôi có dịp nói chuyện.

Một thời oanh liệt

Từ Sacramento, con Kên Kên Carina Hoàng đem được thân phụ cô là Phượng Hoàng 74 tuổi tên là Hoàng Tích Hữu Ái xuống núi. Ngày xưa sinh viên sĩ quan họ Hoàng thuộc khóa 5 trừ bị Vì Dân, học tại Đà Lạt. Cùng khóa với đại tá Nguyễn Mạnh Tường. Anh thanh niên Hà Nội dòng họ Hoàng Tích mang cấp bậc trung tá QLVNCH vào những năm 70 làm cảnh sát trưởng Hậu Nghĩa, Bình Long, rồi cuối cùng là Tây Ninh. Các bạn chắc có nghe đến chiến dịch Phượng Hoàng đã được coi là kẻ thù số một của cộng sản. Trưởng ty cảnh sát Tây Ninh lại là nơi trực diện cùng địa bàn hoạt động với cục R. Đây là lần đầu tiên tôi gặp trung tá Hoàng. Ông người cao lớn và xem ra tính tình cũng cao ngạo. Trải qua 14 năm tù, nhưng lưng vẫn thẳng. Dù chống gậy đi chậm chạp nhưng tiếng nói mạnh mẽ. Tóc bạc trắng, mặt rất có hồn với đôi mắt tinh anh. Tôi tưởng rằng ông có thể vào vai Thành Cát Tư Hãn trong kịch của Vũ khắc Khoan. Chúng tôi ngồi nói chuyện binh đoàn, chuyện núi Bà Đen, chuyện bị cộng sản bắt, chuyện tù đày và sau cùng là chuyện con kên kên.

Ông kể rằng vào những ngày cuối, cảnh sát Tây Ninh tan hàng. Trung tá quân đội trở về với lính trung đoàn tại địa phương. Tiếp tục chiến đấu. Tìm đường chạy qua Cam bốt nhưng không thoát, khi bị bắt vẫn còn vũ khí. Ông bị giam riêng ở cục R. Chuyện chấp pháp hỏi cung ông vẫn còn nhớ như mới xảy ra hôm qua.

Cán bộ chỉ xuống bàn chân tật nguyền của chính anh ta mà hỏi rằng:

- Chân này ai bắn anh có biết không ?

Trung tá cảnh sát đáp rằng:

- Tôi bắn chứ ai.

- Ngon, muốn làm anh hùng?

- Không, đó chỉ là bổn phận thôi.

- Anh đi lính Sài Gòn bao lâu ?

- Lâu lắm, 20 năm.

- Đánh bao nhiêu trận, càn bao nhiêu lần ?

- Nhiều lắm không nhớ hết.

- Được bao nhiêu huy chương?

- Nhiều lắm không nhớ hết. Chiến thương năm sáu lần, anh dũng mười mấy cái.

- Anh giết bao nhiêu chiến sĩ cách mạng?

- Nhiều lắm, không nhớ hết, thanh toán toàn cán bộ.

Phượng Hoàng độc thoại

Rồi chuyện gì đã xảy ra? Còn chuyện gì nữa. Chúng nó đập cho tơi tả. Thương tích đầy người. Một bên tai điếc hoàn toàn. Một bên chỉ còn nghe được 20%. Đầu óc cũng thương tích. Rồi đem ra bắn.

Phượng Hoàng bắt đầu độc thoại. Ông nói một mình. Con kên kên ngồi nghe nhưng có vẻ lo lắng sợ ông bố kể chuyện lang bang. Ông tiếp tục nói: Hôm tôi bị đem ra bắn nhưng không phải một mình. Chừng năm sáu anh em. Chẳng biết bao nhiêu. Bịt mắt từ trong tù. Đầu óc tôi chưa tỉnh. Có đọc bản án từng người. Rất dài. Bắn được hai người. Chưa đến người thứ ba thì chợt có lệnh ngưng. Tôi là trung tá ác ôn nhất nên sẽ bắn sau cùng. Vì thế nên chưa đến lượt. Ông nói sao? Nó bắn mình có nghe tiếng súng chứ. Tiếng đạn tác chiến khác. Đạn này bắn rất gần xuyên ngay vào thịt. Vẫn bịt mắt, chúng dẫn về trại tù. Giam giữ thêm hai năm tại R. Bị đánh đập thẩm vấn nhiều lần rồi mới đưa ra Bắc.

Ông muốn biết gia phả họ Hoàng? Ông biết cánh Hoàng Cơ Minh, Hoàng Cơ Lân không? Hoàng Cơ là chi trên, Hoàng Tích là chi dưới. Tôi ở chi dưới nhưng lại là hàng trên. Tôi gọi Hoàng Cơ Bình là chú. Cánh nhà tôi quen biết với Lý Bá Sơ khá nhiều. Ông tôi, bác tôi đều bị cộng sản cắt cổ.

Ông hỏi chuyện ở tù ngoài Bắc ra sao? Tôi không kêu than đói rét. Cả nước đều đói rét cả, có gì mà than. Tôi buồn vì không có tổ quốc. Không còn Saigon. Mc.Cain bị tù, nhưng còn cả nước Mỹ. Ra tù vẫn còn nguyên tổ quốc. Tù miền Nam ra tù không còn tổ quốc.

Muốn nói chuyện thơ văn, cho ông biết tôi cũng làm thơ tù. Ca ngợi chế độ đấy nhé. Đỉnh cao trí tuệ uyên thâm. Khi vươn cao thì vừa bàn tay với, khi thâm sâu thì ngang mắt cá chân. Khi anh em chôn tù chết, những năm đầu còn gỗ tạp đóng quan tài nhỏ bé. Cũng làm thơ tiễn biệt anh em. Gặp thằng cao thì xác chết co chân. Đứa to ngang cho nó nằm nghiêng. Một thằng tù chết, mất bốn thằng khiêng. Chết tù không tiếc, tiếc bốn ngày công.

Ông biết không, Tạ Tỵ nằm cùng buồng nói rằng: Thằng Phượng Hoàng gẫy cánh, mày đừng làm thơ nữa. Thơ mày làm như nứa cứa vào da, tao chịu không nổi.

Đó thơ văn như vậy. Nghe được không ?

Ông hỏi trong tù có kỷ niệm nào đặc biệt, có đấy chứ. Một lần cán bộ gọi lên nói chuyện. Địa phương báo cáo con gái Hoàng Oanh của mày cực kỳ phản động ngoan cố. Trả lời rằng nó còn bé làm gì mà phản động. Được nói rằng con gái bị cô giáo báo cáo phản động. Xin cán bộ cho nó vào tù để tôi dạy dỗ nó. Cán bộ lắc đầu bảo rằng nó vượt biển rồi.

Đó là ngày vui nhất của tôi.

Đến khi ra tù sau 13 hay 14 năm gì đó, tôi cũng tìm đường ra đi. Lại bị bắt thêm vài năm tù trong Nam. Rồi bây giờ ngồi ở đây. Tổ quốc ở đâu.

Ông muốn hỏi thêm chuyện gì nữa. Ông có biết chúng xử bắn bằng súng gì không. Tôi bị bịt mắt, làm sao biết được nhưng bắn gần lắm. Phát súng đầu tiên cũng là phát súng ân huệ cuối cùng. Nó bắn bằng súng lục.Tôi không bị bắn nhưng sao bây giờ dường như vẫn có viên đạn trong đầu.

Bây giờ muốn nói chuyện con Oanh Oanh, nói chuyện Thuyền nhân hay sao. Con gái tôi mới hơn 10 tuổi, cha đã đi tù. Ở nhà anh em nó vượt biên. Chuyện tù đày là chuyện của tôi. Chúng nó không cứu được tôi. Chuyện vượt biên là chuyện của các con. Tôi không cứu được chúng nó. Con tôi tôi biết, nếu nó là cộng sản tôi sẽ xử nó. Không khiến đến anh em. Nếu nó không phải là cộng sản, anh em tính sao với tôi đây. Tôi là thằng tù bị bắn không chết. Một thằng tù chết, bốn thằng tù khiêng. Tù chết không tiếc, tiếc bốn ngày công. Tôi là chiến binh tôi thương chiến binh. Tôi là thằng tù. Tôi thương thằng tù. Con tôi nó là thuyền nhân nó thương thuyền nhân. Nó là người đầu tiên về lại biển Đông tìm mộ thuyền nhân. Nó không phải là con kên kên tìm về ăn thịt xác chết. Nó là con tôi, tôi phải biết. Nó chỉ đi tìm ngôi mộ của thằng anh nó chôn ở hoang đảo Mã Lai. Đó là mộ thằng con trai tôi. Trong 40 câu chuyện thuyền nhân, chỉ có một chuyện mà nó không kể ra. Đó là chuyện đi tìm mộ thằng anh của nó. Con tôi, tôi biết, nó giỏi lắm ông ạ. Cha mẹ sinh ra nhưng không nuôi dưỡng các con. Nó thân lập thân, một mình xoay trở để thành người. Nó không phải là kên kên. Nó là cộng sản tôi sẽ xử nó. Không đến lượt các ông. Cha nó ở tù, không nuôi con được một ngày cơm. Nhưng nó chịu khó học hành. Đậu đủ các bằng cấp. Làm cho hãng Mỹ. Làm cho hãng Úc. Làm cho lãnh sự Mỹ. Chế ra túi cấp cứu để bán cho dân Sài Gòn. Nó cộng sản ở chỗ nào. Sao lại bảo nó là kên kên. Rồi hô hào đi bắn kên kên. Ông biết chúng nó bắn tôi bằng súng gì không. Súng lục đấy. Nó tha tôi mà sao vẫn còn viên đạn trong đầu. Chẳng còn tỉnh táo đâu. Trong lúc ở tù tôi nghĩ đã có lúc nằm trong quan tài. Chúng nó khiêng tôi, bốn người không nổi. Tôi phải co chân nằm nghiêng. Cần phải sáu người. Tù chết không tiếc, tiếc sáu ngày công. Đó là cộng sản.

Ông có muốn xem tờ giấy ra trại của tôi không. Tên trung tá Ngụy cực kỳ phản động, cực kỳ ác ôn. Không thể cải tạo được.

Cộng sản độc tài gọi cha là Phượng Hoàng nợ máu nhân dân, cộng hòa tự do gọi con là Kên Kên ăn thịt thuyền nhân. Tôi thật tiếc cho các ông.

Trung tá Hoàng Tích Hữu Ái đứng lên từ biệt. Tay cầm gậy, mũ đội trên đầu, lưng thẳng. Ông nói thêm: Thưa niên trưởng, chuyện thuyền nhân để cháu nó lo được rồi. Mình là lính bại trận, bây giờ mấy thằng trốn lính nó nói sao cũng có người tin. Chiến hữu rơi rụng cả rồi. Chiều nay tôi lại đi thêm một đám nữa. Chào Colonel để cháu đưa tôi về.

© Giao Chỉ
© Đàn Chim Việt

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Vì sao Bắc Kinh sợ Hoa Nhài?

Ngô Nhân Dụng


Hai tuần trước, mục này đã đặt câu hỏi: Cuộc cách mạng 2011 ở Tunisia, Ai Cập sẽ diễn biến thế nào? Sẽ lan mạnh như ở Ðông Âu năm 1989, hay biến chất như Iran năm 1979? Cho tới nay, câu trả lời có vẻ nghiêng về các sự kiện năm 1989.

Cuộc Cách Mạng Hoa Nhài mà dân Tunisia và Ai Cập phát khởi lật đổ những chính quyền tham nhũng thối nát đã gây cảm hứng cho dân chúng Bahrain, Libya nổi dậy và cho tới này họ vẫn kiên trì, đứng vững không khuỵu chân, mặc dù bị đàn áp đẫm máu. Thanh niên, sinh viên, công nhân các nước Yemen, Algeria cũng không chịu ngồi yên. Cách mạng như một cơn sóng trào qua các nước Á Rập, không khác gì trận động đất năm 1989 đã lan qua những thành phố Leibzig, Dresden, Berlin, Praha, Budapest, Warzava, Bucarest, vân vân, làm sụp đổ các chế độ cộng sản Ðông Âu.

Ðiều bất ngờ là làn sóng cách mạng năm 2011 lan rất xa, cuối tuần qua đã mon men tới cả lục địa Trung Hoa, mặc dù cơn sóng có vẻ còn rất yếu. Tuy rất yếu, nhưng không thể coi thường được. Chính quyền Cộng Sản Trung Quốc đã chứng tỏ họ không dám coi thường. Vì những biến cố như năm 1989 hay 2011 này, người ta không thể đoán trước được. Giống như những biến chuyển trong thế giới thực vật. Nhà văn Boris Pasternak đã dùng hình ảnh thế giới sinh học để diễn tả lịch sử. Chúng ta không bao giờ trông thấy cỏ cây đang mọc, nhưng một buổi sớm mùa Xuân, mở cửa sổ ra chúng ta bỗng thấy rừng cây xanh um bát ngát ở chân trời.

Không thể coi thường được; vì những biến cố như năm 1989 ở Ðông Âu, 2011 ở các nước Á Rập không phải tự dưng sinh ra. Tất cả đều đã tự âm thầm chuẩn bị, được nung nấu với những nỗi phẫn uất bị đè nén, dồn ép tự lâu đời, chỉ chờ cơ hội là bùng nổ lên. Các chế độ cộng sản ở Ðông Âu thời 1989 và những chính quyền Á Rập thời 2011 có những điểm giống nhau. Họ đều không cho người dân cơ hội phát biểu những điều trái ý nhà nước. Những uất hận tích tụ lại, ngày càng nặng nề hơn. Không có báo chí tự do để cho người dân có cơ hội than thở. Không đảng phái đối lập nào được phép hoạt động tự do vì đảng cầm quyền đã dùng sức mạnh của tiền bạc hay bạo lực đè nén những người không đồng ý. Cuối cùng, người dân, nhất là giới trẻ, thấy chỉ còn một lối thoát ra cảnh bế tắc trong xã hội cũng như trong cuộc đời của mình: Làm Cách Mạng!

Tình trạng các nước cộng sản hiện còn tồn tại cũng không khác gì. Tuy bộ máy công an mật vụ của chính quyền Bắc Kinh, Hà Nội, Bình Nhưỡng được tổ chức chặt chẽ hơn ở các nước Ai Cập, Tunisia, nhưng họ cũng không quên rằng guồng máy công an mật vụ ở Ðông Ðức, Rumania đều đáng bậc thầy của công an Việt Nam, Bắc Hàn. Chuyện gì cũng có thể xẩy ra, không thể coi thường được. Chính phủ Bắc Kinh không dám coi thường cho nên đã phản ứng mạnh mẽ mặc dù chỉ có những lời kêu gọi rất mơ hồ về việc biểu tình ủng hộ cuộc Cách Mạng Hoa Nhài ở Bắc Phi Châu. Một mạng lưới ở nước ngoài đã loan tin tổ chức các cuộc biểu tình ở Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu, Thẩm Quyến, và mươi thành phố khác. Không biết ai tổ chức, mà cũng không có dấu hiệu nào để những người tham dự nhận ra nhau mà cùng đi biểu tình.

Chính quyền Bắc Kinh đã sợ thật. Nếu không sợ, họ đã không tìm cách đối phó một cách mạnh mẽ như thế. Hàng trăm công an cảnh sát nổi và chìm kéo đến một tiệm ăn McDonald ở Bắc Kinh, chỉ vì lời kêu gọi biểu tình trên mạng đã hẹn lấy nơi đó là điểm hẹn. Cảnh sát công an kéo tới, các nhà báo ngoại quốc kéo tới, dân chúng đi qua thấy vậy, tưởng có một ca sĩ hay tài tử nổi tiếng nào xuất hiện, cũng muốn tụ lại coi. Tất cả chỉ vì một lời kêu gọi biểu tình trên mạng. Phản ứng của công an cộng sản Trung Quốc trong vụ này cũng không khác gì công an cộng sản Việt Nam lo ngăn chặn những thanh niên mặc áo trắng sau khi có tin Linh Mục Nguyễn Văn Lý kêu gọi mọi người cùng mặc áo trắng đi biểu tình đòi tự do dân chủ.

Mấy trăm công an, mật vụ kéo đến giữa khu trung tâm thủ đô Bắc Kinh chỉ vì một bản in “không biết xuất phát từ đâu” nói đến biểu tình ở tiệm ăn rất được giới trẻ hâm mộ. Cuối cùng họ chỉ thấy một thanh niên 25 tuổi, đặt bông hoa nhài trắng lên chậu cây kiểng ngoài cửa tiệm, rối lấy máy điện thoại ra - hình như định chụp hình. Cả toán công an ào tới túm lấy anh này. Anh kêu lên: Tại sao lại bắt tôi? Tôi chỉ là một công dân bình thường. Tôi đặt một bông hoa ở đây thì có tội gì?

Cuối cùng đám công an phải thả anh ta vì bao nhiêu nhà báo ngoại quốc xúm lại chụp hình, quay phim. Nhà báo ngoại quốc còn thấy một cụ già ăn mặc lôi thôi đang bị công an lôi kéo, vừa cãi vừa chửi rủa. Không biết ông cụ vô tình đi qua hay tính biểu tình? Nếu có người nghe theo bản tin trên mạng mà tới đó biểu tình, chắc con số cũng chưa bằng một phần mười số công an được cử tới đàn áp. Ba người bị bắt trước một tiệm cà phê Starbucks ở Thượng Hải. Hàng trăm người vẫn nằm trong sổ đen của chính quyền đã bị bắt khắp nước. Ðặc biệt là tại thành phố Kashgar trong tỉnh Tân Cương, công an mang xe cứu hỏa tới trấn đóng bên một giáo đường Hồi Giáo, chực sẵn để phun nước nếu có biểu tình. Người Uighurs ở đây có thể cảm thấy họ gần gũi dân Ai Cập vì chung một tôn giáo. Chính quyền Bắc Kinh cương quyết không để ai châm ngòi một cuộc cách mạng, theo lối Tunisia, Ai Cập!

Giới lãnh đạo Cộng Sản Trung Quốc đang sợ. Không phải vì họ sợ một lực lượng đối lập sẽ thành hình công khai. Hiện nay, họ có thể biết, một lực lượng công khai đối lập với đảng Cộng sản chưa thể nào xuất hiện được; nếu có ra đời thì cũng còn rất yếu. Vậy thì họ lo sợ cái gì?

Họ sợ lịch sử. Họ biết lịch sử đang tiến tới. Bánh xe lịch sử có thể đè nghiến họ. Năm 1989 họ đã chứng kiến những họng súng của mật vụ Ðông Ðức buông xuống khi những người dân ở Leipzig kéo nhau từ nhà thờ Thánh Nicolas đi ra, tay cầm nến, miệng đòi tự do, tuần hành qua các con đường. Khi bức tường Berlin sụp đổ, ngay cả những người lính Ðông Ðức canh gác được lệnh sẵn sàng bắn dân vượt biên, cũng hớn hở vui mừng buông súng. Năm 2011, những người lính Ai Cập vẫn lãnh lương của ông Mubarak cũng chĩa súng lên trời, không bắn vào đồng bào họ đi biểu tình chống chế độ. Nhũng hình ảnh đó cho thấy: Lịch sử đang sang trang mới.

Những người Mác Xít đã được đào tạo trong một giáo điều để nhìn lịch sử như một thứ thần linh. Trước năm 1989, phần lớn những người Mác Xít ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam vẫn còn tin tưởng nồng nhiệt rằng lịch sử đứng về phía họ. Lịch sử sẽ kết thúc bằng sự toàn thắng của Cách Mạng Vô Sản Toàn Cầu. Một cán bộ cấp quận ở Long Xuyên cũng biết mắng một thanh niên vượt biên hụt đáng tuổi cháu mình rằng: Mày tưởng mày chạy trốn sang Thái Lan, sang Mỹ là thoát sao? Rồi bánh xe lịch sử sẽ lăn tới Thái Lan, lăn sang tới Mỹ, rồi mày chạy đi đâu? Chàng thanh niên 17 tuổi cúi đầu không dám cãi, nhưng sau đó lại vượt biên, và thoát. Hai chục năm sau thằng cháu Việt kiều về thăm nhà, bỏ tiền ra hối lộ để lấy lại nhà cửa cho bố mẹ. Ông chú họ thì quên luôn cả những lời ông đã mắng nó ngày xưa. Nhưng ông biết, lịch sử vẫn tiến bước, nhưng tiến theo lối khác, đã đổi chiều, hoàn toàn đi ngược lại với những bài học tập mà ông đã được nhồi nhét vào đầu 50 năm trước!

Giới lãnh đạo Cộng Sản ở Trung Quốc cũng như Bắc Hàn, Việt Nam, vẫn còn nghĩ đến lịch sử như một thứ thần linh, họ nhìn vào những cuộc Cách Mạng Hoa Nhài ở Ai Cập, Tunisia, họ phải thấy sợ. Lịch sử quả thật đang tiến bước. Họ có thể đang chờ bị bánh xe lịch sử đè bẹp. Họ sợ. Bởi vì họ biết rõ những nỗi uất ức của người dân đang bị dồn nén, chất chứa, không khác gì dân Ai Cập hay Bahrain. Họ cũng biết, biết rõ hơn người bình thường không được thông tin đầy đủ, rằng những phẫn uất của người dân có thể nổ bùng lên bất cứ lúc nào, khi được khích động và hướng dẫn bằng các phương tiện truyền thông mới nhất: Instant Message, Facebook, Twitter, vân vân.

Các chế độ độc tài rất giỏi trong việc che giấu những khó khăn xã hội. Nhưng cũng vì vậy, họ sợ hãi những biến cố bất ngờ, không đoán trước được. Giới cầm quyền ở Bắc Kinh đã phản ứng rất mạnh vì họ biết lòng dân chứa chất những phẫn uất như thế nào. Mang lưới điện toán đang tác động trên giới trẻ Trung Hoa rất mạnh, đó là một con dao hai lưỡi, nhiều lưỡi, có thể quay đầu chặt tay chặt chân, có thể chặt cả đầu chế độ. Hai tuần trước, báo chí ở Trung Quốc loan tin một người đàn ông đã tìm đứa con bị bắt cóc từ mấy năm trước, nhờ mạng lưới Internet. Vợ chồng anh thương nhớ con, đưa hình cháu bé lên mạng xin nhờ ai thấy đứa trẻ nào giống cháu thì báo tin. Anh ghi lại số điện thoại và email. Sau hai năm cố gắng không nghỉ, cuối cùng có người đã báo tin thấy một đứa trẻ trạc cùng tuổi và khuôn mặt giống con anh, và chỉ cho anh tìm tới một nơi cách xa hàng ngàn cây số để anh tìm lại được đứa con mình.

Với khoảng 400 triệu người dùng Internet, nước Trung Hoa hiện nay có số “công dân mạng” đông nhất thế giới. Trong mấy năm qua, họ đã tạo ra những biến cố. Chính các công dân mạng đã khám phá và truyền bá khắp nơi thảm cảnh của những trẻ em chết trong trận động đất lớn ở Tứ Xuyên; vì các ngôi trường sụp đổ trong khi các ngôi nhà ở chung quanh vẫn đứng vững. Lý do duy nhất, là các ngôi trường đã bị “rút ruột” trong khi xây dựng. Bao nhiêu học sinh chết oan chỉ vì cán bộ tham nhũng cùng bọn nhà thầu làm giầu. Một làn sóng phẫn nộ bùng lên khiến các quan chức trung ương và địa phương phải mở cuộc điều tra.

Giới lãnh đạo ở Bắc Kinh biết rằng những lời kêu gọi biểu tình mang tên Cách Mạng Hoa Nhài nói đúng những gì người dân Trung Hoa đang khát khao. Những người xướng xuất yêu cầu ai đi biểu tình hãy hô các khẩu hiệu: Chúng tôi cần cơm áo! Cần việc làm! Chúng tôi yêu cầu có công lý! Dân chủ muôn năm!

Dân Chủ, Công Lý, Việc Làm, Cơm Áo. Ðó toàn là những lời mà một tỷ người dân Trung Hoa sẵn sàng hô to lên, nếu có ai đứng ra đề xướng. Ðảng Cộng Sản Trung Quốc đang tìm cách ngăn không cho ai được lớn tiếng nói lên những khát vọng này. Không biết được bao lâu? Vì những bước chân của lịch sử vẫn đang bước tới.

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Cái gì gây ra lạm phát ở Việt Nam?

Ngô Nhân Dụng

Tình trạng kinh tế ở Việt Nam được diễn tả trong một bài ca dao đang phổ biến như sau:

Ðau đầu vì điện
Ðiên đầu vì đô (đô la)
Ngây ngô vì vàng
Ngỡ ngàng vì đất


Ðiện không biết lúc nào bị cúp; ngay một khách sạn quốc tế ở giữa thủ đô cái máy pha cà phê cũng ngưng chạy vì cúp điện. Giá đô la Mỹ trên thị trường chợ đen lúc nào cũng chạy vọt lên nhanh hơn giá do nhà nước chính thức quy định. Nhà nước vừa mới phá giá đồng tiền Việt Nam xuống thêm hơn 8%, phá giá lần thứ ba trong vòng 12 tháng. Ðây là lần phá giá tiền thứ sáu kể từ hai năm rưỡi nay; nhưng vẫn như các lần trước, giá chính thức vừa được công bố thì giá mua đô la trong các cửa hàng vàng Hà Nội đã vươn lên qua mặt nữa rồi.

Vì dân chúng không tin tưởng vào đồng tiền, những người có tiền trong tay tìm cách tống khứ cái khuôn mặt in trên đó đi càng nhanh càng tốt, bằng cách đổi lấy đô la Mỹ hay mua vàng. Vàng thì nặng, khó giữ và khó chuyển ra ngoài, cho nên giới quan chức lớn và doanh nhân có tiền thật đều tích trữ đô la. Tại sao người ta chuộng những tờ giấy 100 đô la mới, sẵn sàng trả giá cao hơn? Vì khi đem hối lộ, được hoan nghênh hơn! Quí quan cũng biết rằng đem đô la đi lại nó nhẹ nhàng hơn vàng nhiều.

Trong khi giới có quyền và có tiền điên đầu vì đô la và vàng, thì những nông dân lại “ngỡ ngàng vì đất.” Ðồng bào tỉnh Hà Nam đã kéo nhau lên tận Hà Nội biểu tình đòi đền bù đất xứng đáng, nhưng chưa ai tổ chức tập hợp được tất cả các đoàn nông dân mất đất cùng đi khiếu kiện một lúc!

Sau phần “Ngỡ ngàng vì đất” bài ca dao đọc tiếp:
Ngất vì tỷ giá
Ngã vì lãi suất
Uất vì giá xăng
Cả ba hiện tượng: Tỷ giá đô la so với đồng tiền Việt Nam, lãi suất, và giá xăng quy tụ vào một điểm là “lạm phát phi mã.” Trong tuần rồi, giá xăng đã tăng vọt lên hơn 17%, gần 20,000 đồng một lít; và giá diesel tăng 24%,lên hơn 18,000 đồng. Giá xăng lên là một phần trong cảnh vật giá leo thang, tức là lạm phát. Ngày 25 tháng Hai vừa rồi, nhật báo Wall Street Á Châu loan tin đặc biệt về lạm phát ở Việt Nam, cho biết tỷ lệ giá sinh hoạt (CPI) tăng là 12.31%; nhắc nhở rằng đây là tỷ lệ lạm phát cao nhất ở Á Châu. Hai món chính tăng giá là thực phẩm và nhà cửa, trong đó có giá vật liệu xây cất. Ðó là hai nhu cầu thiết yếu của dân, đặc biệt là dân nghèo thì hầu hết đồng tiền kiếm được chỉ đổ vào chuyện ăn với ở!

Nhưng không ai tin rằng mức lạm phát sẽ dừng chân ở vị trí 12%. “Ngất vì tỷ giá” là một lý do. Ðồng đô la Mỹ lên giá sẽ thúc lạm phát lên cao nữa. Vì mọi thứ hàng nhập cảng, khi mua phải trả bằng đô la, sẽ đắt hơn khi tính ra tiền Việt Nam. Ngoài ra, còn “Uất vì giá xăng.” Giá xăng dầu vừa mới lên sẽ khiến cho tất cả những thứ hàng hóa và dịch vụ cần dùng đến xăng dầu phải tăng giá theo (Có món nào không cần chuyên chở bằng xe tầu chạy xăng không?) Riêng hai thứ đô la và xăng thôi cũng đủ khiến cho giá cả nhiều món hàng bắt buộc tăng giá trong thời gian tới. Cho nên nhà kinh tế Matt Hildebrandt thuộc công ty tài chánh JP Morgan đoán rằng trong mấy tháng tới tỷ lệ lạm phát ở nước ta sẽ lên 14%, và giữ mức đó cho cả năm 2011. Nhiều người lo ngại lạm phát sẽ lên tới 15%. Trong khin đó, nhà nước cộng sản Việt Nam vẫn không thay đổi chỉ tiêu của họ là giữ lạm phát ở mức 7% cho năm nay. Ðúng là họ sống trong một thế giới ảo, khác đám chúng sinh đang đi lại ở ngoài đường.

Trước tình hình lạm phát đe dọa đó, dân đang “Ngã vì lãi suất” vì Ngân Hàng Nhà Nước phải cho tăng lãi suất nhiều lần để giảm bớt số lượng tiền lưu hành. Như nhận xét của Tiến Sĩ Trần Du Lịch, thành viên Hội Ðồng Tư Vấn Chính Sách Tài Chính Tiền Tệ Quốc Gia, trong một bài đăng trên mạng lưới của nhà nước, Việt Nam đang lâm vào một thế bí, là phải lo chống lạm phát trong lúc lãi suất đang rất cao.

Bình thường, khi muốn ngăn chặn lạm phát thì người ta phải tăng lãi suất. Lãi suất tăng sẽ khiến dân bớt tiêu thụ đi và các xí nghiệp cũng bớt đầu tư; do đó số cầu giảm và giá cả các món hàng sẽ hạ bớt. Nhưng khi lãi suất đã cao lắm rồi, thì khó ai dám tăng lãi suất nữa. Tức là Ngân Hàng Nhà Nước mất một thứ dụng cụ để giảm bớt lạm phát. Cho nên ông Trần Du Lịch nói thẳng về viễn tượng kinh tế Việt Nam: “Qua 2 tháng đầu năm 2011, có thể thấy tình hình kinh tế vĩ mô gặp khó khăn hơn năm 2010 và nghiêm trọng hơn chúng ta dự đoán.” Cho đăng những nhận xét của ông trên mạng lưới nhà nước, cho thấy đảng Cộng Sản Việt Nam muốn báo trước cho toàn thể mọi người biết cả nước sắp vất vả! Mặt khác, họ cũng muốn chối tội về những biện pháp mới thi hành: tăng giá xăng và phá giá đồng bạc. Bởi vì, đó chính là những điều mà Tiến Sĩ Trần Du Lịch đưa ra đề nghị phải làm ngay “cả gói!” Nếu dân phải chịu khổ, hãy trút tội lên các chuyên gia kinh tế đưa ý kiến, đừng buộc tội đảng và nhà nước!

Nhưng cuối cùng, chính nhà nước và đảng Cộng Sản đã gây ra cái cảnh lạm phát phi mã hiện nay, không thể nào đổ tội cho ai được!

Cái tội chính đã được ghi trong cương lĩnh, chính sách của những kỳ đại hội đảng từ mấy lần rồi. Ðó là “Lấy kinh tế quốc doanh làm chủ đạo.”

Tại sao có lạm phát? Vì tiền đổ ra nhiều quá mà sức sản xuất hàng hóa không tăng theo kịp. Tại sao lại đổ ra nhiều tiền như vậy? Vì các ngân hàng của nhà nước đưa tiền cho các xí nghiệp nhà nước tha hồ tiêu xài. Trong năm 2010, số tiền do các ngân hàng cho vay đã tăng thêm 28%, lên tới con số vay nợ lớn bằng 140% Tổng Sản Lượng Nội Ðịa (GDP). Nên biết, năm 1997, ngay trước khi Thái Lan bị khủng hoảng tài chánh, tổng số nợ của họ cũng chỉ lớn bằng 130% GDP! Hiện nay mỗi năm Việt Nam phải dùng 30% của Tổng Sản Lượng Nội Ðịa chỉ để trả tiền lãi và trả góp vốn các món nợ vay của người nước ngoài. Tại sao cần nhiều tiền đến như vậy? Vì có khi nhà nước đứng ra vay đô la từ nước ngoài, tức là đem tài sản cả nước ra làm vật thế chấp, rồi đưa tiền đó cho doanh nghiệp nhà nước sử dụng. Ðó là câu chuyện Vinashin đi vay 750 triệu đô la, ai cũng biết.

Những doanh nghiệp nhà nước làm ăn bết bát thế nào ai cũng biết. Nhưng chính sách của đảng Cộng Sản vẫn là đem tiền của toàn dân cho các cán bộ kinh tế của đảng tha hồ tiêu pha lãng phí. Tiến Sĩ Nguyễn Quang A năm ngoái đã viết một bài phân tích tường tận về cái lỗ thủng khổng lồ, cái thùng không đáy là các doanh nghiệp nhà nuớc.

Hiện nay cán cân mậu dịch của Việt Nam bị thâm thủng trên một tỷ đô la mỗi tháng. Trong các nước Ðông Nam Á, nước nào mua bán với Trung Quốc cũng thặng dư, tức là bán nhiều hơn mua; trừ Việt Nam là chịu thâm thủng, tiền ra nhiều hơn tiền vào! Ai gây ra cái nạn thâm thủng đó? Ông Nguyễn Quang A tính có 3 lãnh vực, các công ty ngoại quốc đầu tư ở Việt Nam thì bao giờ cũng đem tiền vào Việt Nam nhiều hơn là đem ra. Các xí nghiệp tư nhân trong nước thường cũng như vậy, ít nhất là không bị thâm thủng. Chính các doanh nghiệp nhà nuớc là nguồn gốc gây ra cảnh thâm thủng!

Các doanh nghiệp nhà nuớc được chính quyền ưu đãi, hưởng chế độ ưu đãi khi đi vay tiền của các ngân hàng, cũng do cán bộ điều khiển. Nhưng nó lại đóng góp rất ít vào kinh tế quốc dân. Ông Nguyễn Quang A cho biết: “số lao động làm việc trong doanh nghiệp tư nhân trong nước đã tăng hơn 3 lần trong những năm 2000-2006, từ hơn 1 triệu lên hơn 3 triệu người. Tương tự, số lao động làm việc trong các doanh nghiệp FDI (ngoại quốc đầu tư ở Việt Nam) đã tăng hơn 3 lần, từ hơn 407 ngàn người năm 2000 đã tăng lên hơn 1,4 triệu người năm 2006. Số lao động làm việc trong các DNNN chỉ còn chiếm 28% tổng số lao động trong doanh nghiệp; giảm hơn một nửa (59,1%) so với năm 2000.”

Còn phần đóng góp của các doanh nghiệp nhà nuớc vào ngân sách quốc gia thì sao? Tiến Sĩ Nguyễn Quang A ghi nhận các doanh nghiệp nhà nuớc chỉ góp trên 10% vào tổng số thu của nhà nước, còn 88.65% là do các doanh nghiệp khác, tư nhân trong nước và nước ngoài đóng góp!

Với những thành tích của các doanh nghiệp nhà nuớc như thế, đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn bảo vệ các doanh nghiệp nhà nuớc! Họ đem tiền của dân cho đám cán bộ sử dụng dù không có hiệu quả. Vì đó doanh nghiệp nhà nuớc là nơi họ nuôi các cán bộ đảng!

Khi tiền nhiều quá, sinh lạm phát, thì toàn dân phải chịu!

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Giám đốc CIA:
Có phần chắc Gadhafi sẽ chặn được quân nổi dậy


Giới chức cao cấp nhất của tình báo Hoa Kỳ nói rằng nhà lãnh đạo Libya Moammar Gadhafi có phần chắc sẽ cầm cự được trước những nỗ lực của phe nổi dậy muốn lật đổ ông ta. Theo tường trình của thông tín viên Gary Thomas của đài thì hôm thứ Năm giám đốc tình báo cho biết ông Gadhafi không hề có ý định rời bỏ quyền bính. Giám đốc tình báo Quốc gia Hoa Kỳ CIA, ông James Clapper nói rằng xét đến tính vượt trội về vũ khí và quân lực thì ông Moammar Gadhafi có phần chắc sẽ đánh bại quân nổi dậy đang tìm cách lật đổ ông. Ông nói: "Quân đội Lybia, lực lượng được trang bị hùng hậu nhất với thiết bị của Nga gồm các thiết bị phòng không, trọng pháo, xe thiết giáp và các thiết bị cơ giới, và dường như họ rất có kỷ luật trong việc gìn giữ và sửa chữa những trang thiết bị đó. Vì thế tôi chỉ suy nghĩ trên quan điểm tiêu hao rằng theo với thời gian, tuy hiện thời hai bên còn đang giằng co trong các cuộc giao tranh, chế độ này sẽ sống còn."

Xuất hiện trước Ủy Ban Quân Vụ Thượng Viện, giám đốc CIA, ông Clapper bác bỏ ý kiến cho rằng ông Gadhafi sẵn sàng rời bỏ quyền bính hoặc tiến tới một thỏa thuận với phe nổi dậy. Ông nói thêm: "Chúng tôi tin rằng từ lâu nay ông Gadhafi vẫn thế. Tôi không nghĩ là ông ta có bất cứ một ý định gì, mặc dù là có một vài tờ báo đồn đoán ngược hẳn lại, là ông ta sẽ ra đi. Căn cứ trên tất cả mọi chứng cứ mà chúng tôi thu thập được, những tài liệu mà tôi đã chuẩn bị để thảo luận trong một phiên họp kín, dường như ông ta đang nhất định lỳ lợm thi gan."

Thượng tướng lục quân Ronald Burgess, chỉ huy Cơ quan Tình báo Quốc phòng, đồng ý với đánh giá của ông Clapper, nói rằng ông Moammar Gadhafi "đang duy trì được sức mạnh." Ông nói quân nổi dậy đã có được khí thế lúc ban đầu, nhưng đang tiêu hao. Ông đưa ý kiến: "Theo tôi thì báo chí đã đúng hiểu theo nghĩa lúc ban đầu khi đà tiến còn đang ở phía bên kia. Tình thế hiện nay đang biến chuyển. Không biết là nó có hoàn toàn chuyển sự thắng thế sang phía ông Gadhafi hay không vào lúc này. Nhưng giờ đây chúng ta thấy có một sự quân bình, trong đó, thế công, thực sự đang ở về phía chế độ vào lúc này. Nhưng trong những ngày này chúng tôi đang theo dõi rất sát".

Image
Hình: AP
Giám đốc tình báo Quốc gia Hoa Kỳ CIA James Clapper
Theo đánh giá của Viện Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế trụ sở tại London, phe nổi dậy thiếu tổ chức, thiếu huấn luyện đầy đủ và chỉ được trang bị hầu hết bằng các vũ khí nhỏ như súng trường tự động, súng máy và súng phòng không đặt trên các xe tải nhỏ.

Giám đốc CIA Clapper nói rằng quân nổi dậy gặp nguy cơ bị máy bay Libya tấn công nhưng ông nói thêm rằng cho đến giờ này thì số thương vong của họ trong các vụ oanh kích và tấn công của máy bay và trực thăng không nhiều.

Hai giới chức tình báo này phải trực diện với những câu hỏi của các thượng nghị sỹ muốn chính quyền của Tổng thống Obama có hành động để giúp quân nổi dậy, như thiết lập vùng cấm bay và đưa ra một hình thức nào đó để công nhận về mặt ngoại giao đối với chính phủ lâm thời tự phát của phe nổi dậy. Thiết lập một vùng cấm bay không phải là điều đơn giản. Ông gọi mối đe dọa của hệ thống phòng không Libya là "nặng ký", khi nêu lên rằng Libya có hệ thống radar dưới đất để bảo vệ các khu vực duyên hải, là nơi 80% cư dân sinh sống, với khoảng 30 địa điểm đặt phi đạn địa đối không cũng như những phi đạn địa đối không di động. ( VOA)

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Quân Đội Nhân Dân đứng đâu khi Nhân Dân đứng lên?

Việt Xuân
Thế là cuộc cách mạng đòi dân chủ và công bằng xã hội đã tràn qua Trung Đông và Bắc Phi với tất cả những bất ngờ và ngạc nhiên cho bao nhiêu người.

Tại thời điểm hiện nay tuy làn sóng này chưa quét sạch được hết những thể chế độc tài bạo ngược và tham lam trong khu vực, nó cũng sẽ đưa Trung Đông và Bắc Phi vào một thời kỳ mới, với nhiều niềm tin tưởng là sẽ tốt đẹp và nhân bản hơn. Lịch sử đã sang trang, và lịch sử sẽ đưa làn gió mát dân chủ tới những nơi còn lại của Địa cầu.

Sự thành công tại hai nước khởi đầu là Tuy-Ni-Di và Ai Cập chỉ sau thời gian rất ngắn chỉ vài tuần, sau những năm trường đè nén đã đem lại niềm vui và phấn khích đến ngỡ ngàng với những ai quan tâm đến vấn đề nhân quyền và dân chủ, và ngược lại, sự lo lắng hoảng loạn với những kẻ còn đang cố dùng cường quyền để bám giữ quyền lực ở những nước còn lại trên thế giới.

Hãy tạm chưa bàn tới các yếu tố nhỏ hơn hay ít hiển hiện hơn khác thì nhìn vào sự khởi đầu, tiến trình cũng như tính chất của các cuộc đấu tranh, chỉ cần nhìn từ góc rộng ai ai cũng đã thấy rõ hai yếu tố quan trọng:

Thứ nhất là số đông, tại tất cả các nơi đang xảy ra cách mạng, phong trào dân chủ đã tập hợp được số lượng lớn quần chúng tham gia, số lượng lớn đến ngạc nhiên, ngay cả trong điều kiện áp chế, bưng bít, cắt đứt thông tin liên lạc. Khi nói đến số đông còn phải nhắc đến việc các phong trào dân chủ tại đây đã nhanh chóng kết hợp mở rộng thành phần tham dự, ban đầu chỉ là giới thanh niên trí thức, sau đã nhanh chóng chuyển tới cả giới nhân dân thành thị, đặc biệt là công nhân, và rồi cuối cùng cả những thành phần trong bộ máy công quyền chế độ. Thứ hai, cũng hết sức quan trọng và hiển hiện là vai trò của quân đội các nước này trong việc đưa lại kết quả tốt đẹp của làn sóng xuống đường. Tại hai nước Tuy-Ni-Di và Ai Cập, quân đội đã chuyển từ chỗ trung lập, án binh bất động cuối cùng đã nghiêng hẳn về phía nhân dân, tôn trọng hoài bão của họ. Tại Libya, cho đến nay cũng đã có nhiều mảng lớn từ thành phần quân đội hạ súng hay quay súng đào tị và bất tuân lệnh, và lại được tự coi mình là một phần của dân tộc. Với đà tiến triển hiện nay, tình hình Libya cũng rất khả quan. Tại Bahrain, quân đội cũng đang ở trong vị thế khá trung dung.

Một cách tổng quan, cả hai yếu tố trên là hai mặt không thể tách rời và tương hỗ cho nhau trong công cuộc giải phóng và khó có thể thiếu được một trong hai. Nhìn từ lăng kính thông thường thì có thể đánh giá các cuộc cách mạng này là các cuộc cách mạng nhân dân do số đông quần chúng đã vượt qua nỗi sợ, đứng lên đối mặt với cường quyền, và được sự hỗ trợ của quân đội. Có những cái nhìn đặc biệt hơn lại cho rằng đây là những cuộc đảo chính quân sự “bất bạo động” – cũng thật đúng. Cái nhìn thứ hai có nhiều điểm lý thú và đi kèm nhiều nhận định khá chính xác, nhưng cần nhớ rằng để thành công, cuộc “đảo chính” này phải có vế không thể thiếu, đó lại chính là số đông của người dân nổi dậy - và đây phải nói là yếu tố tiền đề.

Bây giờ xin đi sâu hơn về cách nhìn thứ hai với các yếu tố lý thú của nó, và về quân đội. Nếu xét về mức độ khái quát hóa của các cuộc cách mạng dân chủ - hay đấu tranh bằng số đông quần chúng, thì ngoài việc dựa trên cơ sở người dân vượt qua được nỗi sợ để tập hợp lại với nhau, thì phương thức cơ bản để triển khai các bước khác là sự bất tuân dân sự, tương đương với đối đầu bất bạo động. Cụ thể hơn: Sinh viên học sinh bãi khóa, công nhân đình công, người thị dân cứ tụ tập bất kể cấm đoán, người theo đạo hay tu hành cứ thờ phượng theo niềm tin của mình, cán bộ nhân viên lãn việc, nhân dân đến kỳ bầu cử tẩy chay bỏ phiếu, không treo cờ, treo ảnh lãnh tụ độc tài - Tức là trong phận sự của mình, người người, nhà nhà không làm lợi cho chế độ, hay không làm theo những gì chế độ muốn. Thực tế trong các trường hợp thành công kể trên, quân đội đã lãn công, hay bất tuân dân sự trong phần vụ của họ! Và như vậy cho dù có thói quen vốn đã ăn sâu vào tâm thức nhiều người rằng quân đội chỉ là quân đội, họ lại đã hành động như nhân dân đấu tranh, và chính là một phần của nhân dân đấu tranh. Như thế lý thuyết về đấu tranh bất bạo động lại đã được chứng minh cụ thể hơn, và ở tầm rộng hơn.

Với những biến chuyển lịch sử như vậy tại Trung Đông và Bắc Phi đi kèm với vai trò và vị thế hành xử của giới quân đội tại những nơi đó, câu hỏi tất yếu, và cũng vốn đã được nhiều người đặt ra, là “Vậy liệu nếu một ngày nào đó người dân Việt Nam cũng xuống đường đòi những quyền của mình được tôn trọng, và đòi được sống trong một đất nước không còn cảnh tham nhũng bất công tràn ngập, thì quân đội Việt Nam sẽ làm gì?”

Có người đã lo lắng nghĩ đến những viễn cảnh tăm tối là những chiếc T-54 tràn ngập và xích sắt nhuốm máu dân thường như đã xảy ra ở Thiên An Môn 22 năm trước đây, đó là mối quan tâm chính đáng, nhưng thế giới ngày nay đã khác, cách hành xử và vị trí khách quan của quân đội kể các nước còn độc tài đảng trị như Việt Nam, nay cũng đã khác. Từ phía chế độ, việc nhận thức được sự đe dọa của phong trào dân chủ, hay cái mà họ hay gọi là “diễn biến hòa bình” cùng với vai trò của quân đội, là rõ ràng. Chính vì thế, trong những năm gần đây, giới chóp bu lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã cố công tận lực để củng cố và neo giữ sự ủng hộ của quân đội thông qua hai việc là cố gắng chia chác lợi ích quốc gia và quyền lực chính trị cho các thành phần quân đội, cụ thể là cố gắng tăng ngân sách giành cho quân đội, cho phép quân đội kinh doanh lớn và nhỏ, và tăng số lượng nhân sự quân đội trong chóp bu lãnh đạo, ví dụ như việc tăng số Ủy viên Trung ương đảng sau vụ bầu bán Đại hội vừa qua.

Lẽ tất nhiên với những cố gắng đó, chế độ đã mua thêm được ủng hộ của một thành phần quân đội, nhưng thực chất chỉ ở thượng tầng chính trị quân đội mà thôi.

Quân đội ở đâu cũng vậy, ở Việt Nam cũng vậy, là một phần được “biên chế hóa” từ khối nhân dân, và do đó thành phần và cấu trúc cũng “trải dài” như cấu trúc xã hội, tức là thượng tầng quyền lực cho đến hạ tầng quần chúng thực thi ở dưới. Thượng tầng gồm các thành phần - tất nhiên là tướng lĩnh, nắm các quyền chính trị, có mặt trong các cơ cấu chóp bu của Đảng, nắm các quân khu về mặt hành chính chính sách, kế đó là các tướng tá cao cấp nhưng ở mức độ thực hiện tác chiến, chỉ huy các cơ cấu chiến đấu như quân đoàn, sư đoàn, quân binh chủng… rồi mới xuống đến các chỉ huy trung cấp, và cuối cùng là chỉ huy cấp nhỏ và bộ đội. Sự cách biệt giàu nghèo trong thực thể quân đội hoàn toàn giống sự cách biệt giàu nghèo do tệ nạn tham nhũng và phân chia lợi ích hiện hữu trong xã hội hiện nay. Các thành phần chóp bu quân đội thì tất nhiên cũng giàu có thừa mứa, tham nhũng, lạm quyền, nhưng kể từ trung cấp trở xuống, thì cũng trong tình trạng như bất cứ cán bộ bình thường hay công nhân viên nhà nước, tức là tầng lớp không được hưởng các lợi ích xã hội một cách công bằng.

Nói một cách khác, thất bại Đảng và Nhà nước trong việc đem lại một cuộc sống tốt hơn cho đại khối nhân dân Việt Nam cũng chính là thất bại trong việc nâng cao đời sống của các thành phần quân đội từ trung cấp trở xuống. Thực tế là họ có các cố gắng tăng ngân sách, tăng hệ số lương, trợ cấp lương cho các lực lượng vũ trang nhưng cũng không nằm ngoài được bài toán tổng thể là nền kinh tế tiếp tục èo uột và nạn đục khoét nguồn lực quốc gia tràn lan. Ngay cả một số thành phần tương đối cao cấp, có thể nói là tướng tá, đặc biệt ở các nghạch tác chiến vất vả, ít “màu”, từ tư lệnh quân binh chủng, quân sư đoàn, xuống thấp hơn, tuy có được hưởng thu nhập từ chính sách khá hơn cách đây khoảng 10 năm rất nhiều, thì cuộc sống vẫn phải nói là đạm bạc, hay đơn giản, không thể so được với các đại gia chóp bu hay số ít quân đội làm kinh tế.

Điểm qua tình hình lương bổng của quân nhân một vài cấp:

- Cấp Tá: Lương cứng 5-8 triệu.

- Cấp Úy: Lương cứng 2-4 triệu.

- Lính: Lương cứng dưới 2 triệu.

- Tiền an dưỡng theo chế độ giành cho quân nhân cấp thấp là khoảng 50 ngàn đồng/ngày khi sức khỏe không đảm bảo.

Đó cũng chính là “số đông” trong lực lượng quân đội, với những thu nhập thực tế như thế, họ vốn đã và đang có khó khăn trong đời sống thường nhật, chưa kể là cũng sẽ cùng đại khối quần chúng phải đối mặt với các cơn bão giá đang tràn tới, và họ rõ ràng cũng đã bị phản bội bởi chế độ.

Về tinh thần, trừ một số nhỏ thuộc thành phần ăn trên ngồi chốc siêu tư bản trong quân đội, ngay cả một số tầng lớp tương đối cao cấp, một lần nữa, đặc biệt là phía tác chiến, còn rất nhiều người có suy tư về đất nước và nhân dân, bản thân họ cũng còn coi mình là một bộ phận của dân, và chưa mất hết các mối quan tâm ràng buộc với người dân hay người lính bình thường. Do vậy sự ủng hộ, hay trung thành với chế độ, đã và đang bị soi mòn sâu sắc.

Tất nhiên khi nhìn vấn đề một cách toàn diện và đầy đủ, thì cho dù là những người còn quan tâm hay thậm chí không bằng lòng hoặc bất mãn với chế độ, phần lớn các thành phần quân đội sẽ không phải là những người chủ động tham gia các phong trào đấu tranh đòi dân chủ hay công bằng xã hội ngay từ ban đầu, nhưng việc không tham gia với việc chĩa súng vào những người xuống đường đấu tranh, lại là hai việc hoàn toàn khác xa, thậm chí trái ngược.

Vậy, giả sử một ngày kia khi có một vài kẻ điên rồ ra lệnh từ trên xuống rằng người lính Quân đội Nhân dân Việt Nam phải chĩa vào những người dân xuống đường, thì có thể kết luận tương đối chắc chắn rằng, những người lính đó, ít nhất là từ trung tầng trở xuống, sẽ tuân theo “lệnh” của lương tâm mình, và quay súng để đứng về phía nhân dân!

Nếu bạn, một người lính Quân đội Nhân dân Việt Nam, vì một lý do nào đó, khi đọc được những dòng trên, mà vẫn nghĩ rằng mình, có một ngày gần, sẽ vẫn sẵn sàng ra lệnh, hay chĩa súng bóp cò trong trường hợp đó, thì hãy bình tâm tự vấn liệu rằng chữ Nhân Dân có còn nên nằm kèm trong cái danh hiệu “Quân đội Nhân dân Việt Nam” nữa hay không, hay mình có đang là con ốc đang cố gắng ngăn chiều xoay của bánh xe lịch sử vĩ đại đang quay ngày một nhanh hơn, hay không!

Việt Xuân - cựu Thiếu úy QĐNDVN[/size

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

Chỉ cần không biết sợ

Nguyễn Hưng Quốc
Chung quanh các cuộc nổi dậy đã thành công cũng như chưa thành công ở một số quốc gia thuộc Trung Đông và Bắc Phi gần đây, chúng ta có thể rút ra nhiều bài học, trong đó, theo tôi, bài học này là quan trọng nhất: Không biết sợ.Khi được các phóng viên hỏi, những người xuống đường biểu tình ở Tunisia, Ai Cập, Bahrain, Yemen, Iran và Libya thường nói một câu giống nhau: Họ không còn thấy sợ nữa.


Mà thật, nhìn mặt họ, trên tivi, chúng ta cũng không thấy có chút sợ hãi nào cả. Nếu không hò hét thì họ cũng bình thản đứng yên trên đường phố. Riêng ở Tunisia và Ai Cập, xe thiết giáp của quân đội đến, họ cũng vẫn đứng yên. Thậm chí, nhiều người còn vẫy chào, có khi tặng hoa cho lính đang ngồi trên xe. Ở Libya thì người ta chống trả kịch liệt khi bị phe thân Đại tá Muammar el-Qaddafi tấn công.
Có thể nói chính việc không-biết-sợ ấy vừa là nguyên nhân hình thành các cuộc nổi dậy và cũng đồng thời là nguyên nhân dẫn đến sự thành công của các cuộc nổi dậy ấy.

Không phải chỉ bây giờ dân chúng các quốc gia ở Trung Đông và Bắc Phi mới bị đối xử một cách bất công và tồi tệ. Ách độc tài và nạn tham nhũng đã đày đọa họ từ cả mấy chục năm nay. Thế nhưng, trong chừng ấy năm, họ vẫn câm lặng chịu đựng. Bị áp bức: họ cắn răng chịu. Bị nghèo đói: họ ra đường buôn bán lặt vặt hay thậm chí, ăn xin, ăn cắp để sống qua ngày. Nhìn giới cầm quyền sống giàu có và xa hoa một cách bất chính: họ vẫn im lặng. Rất hiếm, cực kỳ hiếm những người đủ can đảm lên tiếng kêu gọi hay tranh đấu cho một sự thay đổi theo hướng tốt lành và bình đẳng hơn. Hầu hết người dân, tuyệt đại đa số người dân, đều tiếp tục chịu đựng chỉ vì một lý do duy nhất: khiếp sợ.

Mà các nhà độc tài thì rất lão luyện trong việc củng cố những nỗi khiếp sợ ấy. Bằng tuyên truyền: lúc nào cũng đề cao sức mạnh của họ. Và bằng bạo lực: mật vụ, công an và cảnh sát có mặt hầu như khắp nơi để theo dõi mọi người, sẵn sàng ra tay trấn áp bất cứ ai bày tỏ chút phản đối nào đối với chính quyền.

Ai cũng tưởng sự khiếp sợ như vậy sẽ kéo dài mãi. Giới cầm quyền độc tài lại càng tưởng như thế. Chắc chắn trước khi dân chúng đổ xô xuống đường, Tổng thống Zine El Abidine Ben Ali của Tunisia và Tổng thống Hosni Mubarak của Ai Cập không thể tưởng tượng được là người dân của họ lại có ngày không còn sợ như vậy. Đại tá Qaddafi, sau đó, cũng không tưởng tượng được. Ngay cả khi dân chúng đã xuống đường, đã giành quyền kiểm soát khá nhiều địa phương trong cả nước, trong một cuộc phỏng vấn của các ký giả phương Tây, Qaddafi vẫn còn dõng dạc tuyên bố: “Không ai xuống đường cả!”, “Dân chúng cả nước đều yêu mến tôi!”

Tôi tin là ngay chính dân chúng, những người đã hoặc đang xuống đường đòi tự do và dân chủ ở các nước ấy, trước đó, cũng không thể tưởng tượng nổi là có ngày họ lại không còn biết sợ.

Nói cho đúng, theo tôi, suốt cả mấy chục năm trước: họ sợ. Một ngày trước khi đổ xô xuống đường: chắc họ cũng sợ. Có lẽ chỉ một hai giờ trước khi xuống đường họ mới bớt sợ. Bớt chứ không phải là hết. Tôi tin họ chỉ không còn thấy sợ nữa khi chung quanh họ đã có trùng trùng điệp điệp những người cùng cảnh ngộ và cùng lý tưởng quyết tâm chống lại độc tài.

Sự phẫn nộ trước họa độc tài và tham nhũng khiến người ta bất chấp sợ hãi chứ bản thân sự phẫn nộ không đủ làm tiêu tan hẳn mọi sự sợ hãi. Yếu tố làm cho sự sợ hãi ấy biến mất nằm ở chỗ khác: đám đông.

Khi người ta đứng một mình, ngay cả lúc ở trong nhà của mình: sợ. Túm tụm với nhau vài ba chục hoặc vài ba trăm người: sợ. Nhưng khi đứng giữa đám đông gồm cả hàng ngàn, hàng chục ngàn người, nỗi sợ hãi sẽ tự nhiên biến mất. Lúc ấy, kẻ sợ không còn là những người biểu tình. Mà là giới cầm quyền. Cuối cùng, chính những kẻ từng thét ra lửa ấy đã bỏ chạy.

Dĩ nhiên, vẫn có những kẻ không sợ, vẫn ra lệnh bắn sả vào đám đông. Chuyện ấy đã từng xảy ra ở Thiên An Môn hơn hai chục năm về trước. Nhưng một chuyện như vậy có lẽ sẽ không thể xảy ra vào lúc này.

Nếu biến cố Thiên An Môn xảy ra ở thời điểm hiện nay, con số mấy chục ngàn sinh viên đổ xô xuống đường sẽ trở thành một lực lượng lớn hơn gấp bội, cả hàng chục hay thậm chí, hàng trăm, hàng ngàn lần, nhờ một yếu tố: truyền thông. Đã đành mọi diễn biến ở Thiên An Môn năm 1989 đều được các cơ quan truyền thông trên thế giới theo dõi và loan tải. Nhưng thời ấy chỉ có báo in, truyền hình và truyền thanh. Bây giờ thì có vô số các phương tiện khác. Không những đa dạng hơn mà còn phổ biến hơn và nhất là, nhanh chóng hơn. Bây giờ, mọi chiếc điện thoại di động đều có thể trở thành vũ khí: chúng không những được dùng để liên lạc mà còn dùng để chụp ảnh và những bức ảnh ấy dễ dàng được gửi đi khắp nơi. Nếu mỗi người chỉ gửi đi một bức ảnh và một tin nhắn, sự hiện diện của số người trên đường phố sẽ được nhân lên gấp cả hàng chục lần. Và họ có cả thế giới đứng sau lưng họ. Ủng hộ họ.

Tuy nhiên, ở đây, tôi không đi sâu vào những sự khác biệt giữa thời của Thiên An Môn và thời bây giờ. Tôi chỉ muốn trở lại với luận điểm nêu ở trên: Dân chúng ở các nước Trung Đông và Bắc Phi chỉ bớt sợ ở thời điểm quyết định và chỉ hết sợ khi họ đã thực sự xuống đường. Khi họ hết sợ cũng là lúc họ thành công.

Cần phân biệt mức độ bớt sợ và hết sợ ở các nước Trung Đông và Bắc Phi: chúng khác nhau. Những sự phân tích ở trên có lẽ chỉ đúng với hai quốc gia đầu tiên bùng nổ cách mạng dân chủ: Tunisia và Ai Cập. Ở các quốc gia khác, sau đó, kể cả ở Libya hiện nay, cảm giác bớt sợ có lẽ xuất hiện sớm hơn và với mức độ cao hơn nhờ những sự thành công vang dội của dân chúng các nước lân cận. Những sự thành công ấy cho thấy ý định nổi dậy của họ không còn là một cuộc phiêu lưu liều lĩnh hay dại dột và cũng không còn là một ước mơ viển vông nữa.

Người ta thường nói: đối với một người, không có gì giúp cho người ta thành công nhanh bằng chính sự thành công. Thành công nuôi dưỡng sự tự tin. Tự tin giúp người ta dám quyết định và dám đương đầu với thử thách. Có quyết định và có đương đầu thì mới có những thành công liên tiếp được. Với một cộng đồng, cũng vậy. Những sự thành công của dân chúng ở Trung Đông và Bắc Phi giúp người dân ở vô số các quốc gia đang chịu đựng nạn độc tài khác thấy được một điều: Chỉ cần bớt sợ, dù chỉ một chút, người ta có thể dấn thân; và khi đã dấn thân vào cuộc tranh đấu thì tự nhiên những nỗi sợ hãi sẽ không còn nữa.

Và khi họ không còn sợ hãi nữa thì đến lượt bọn độc tài sẽ khiếp sợ. ( VOA)

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Bà ngoại trưởng Pháp bị ‘thương vong’ ra sao trên chiến trường Bắc Phi

* Bùi Tín
(Nguồn: VOA)

Chiều Chủ Nhật, 27 tháng 2, 2011, Tổng Thống Pháp Nicolas Sarkozy đã thực hiện một cuộc cải tổ nội các, trong đó quan trọng nhất là việc
“cách chức” ngoại trưởng của bà Michèle Alliot Marie, thường được báo chí Pháp gọi là MAM một cách thân mật, gần với chữ Maman, là người mẹ.

Image
Ngoại Trưởng Michele Alliot-Marie (phải) và người kế nhiệm bà là Alain Juppe (trái). (Hình: AP Photo/Michel Euler)


Bà MAM là một nữ chính khách Pháp nổi bật, năm nay 65 tuổi, là bộ trưởng lâu năm nhất của Pháp trong 50 năm gần đây. Bà lần lượt giữ những bộ quan trọng nhất của chính phủ, bộ trưởng Tư Pháp, bộ trưởng Nội Vụ, rồi bộ trưởng Quốc Phòng, gần đây nhất là bộ trưởng Ngoại Giao. Ở Pháp xưa nay chưa từng có phụ nữ giữ chức bộ trưởng Nội Vụ, Quốc Phòng và Ngoại Giao; việc lãnh đạo các ngành này gần như là độc quyền của nam giới.

MAM được coi là người phụ nữ số 1 của chính trường Pháp hiện nay, được dự đoán sẽ là ứng cử viên tổng thống Pháp sáng giá vào năm 2012 tới của UMP, tức là đảng cầm quyền hiện nay, khi uy tín của Tổng Thống Sarkozy xuống thấp, chỉ còn chừng 30%. Uy tín và uy thế của MAM đang lên cao, thì những biến cố lịch sử ở Bắc Phi diễn ra, và bà ngoại trưởng Pháp đã bị “thương vong,” bị loại trong trận chiến nổi dậy hòa bình nhưng quyết liệt này.

Trong đơn xin từ chức vẻn vẹn có 3 dòng đưa tận tay Tổng Thống Sarkozy ngày Chủ Nhật, 27 tháng 2 vừa qua, bà MAM chỉ nói xin từ chức mà không nêu rõ lý do, lại còn khẳng định “tôi không có một thiếu sót gì trong công vụ.”

Tất cả các báo Pháp đều nói khác. Các báo dùng tít lớn: MAM bị mất chức, bị thải loại, MAM ra đi, MAM được thay thế bởi Alain Jupé cũng từng là ngoại trưởng, MAM phải lên bờ

(“débarquer” - ngụ ý phải rời con tàu quyền lực), với nhiều lời bình luận nghiêm khắc.

Báo le Monde phê phán nền ngoại giao Pháp được chèo lái tùy tiện, không có nguyên tắc. Báo Libération cho rằng bà ngoại trưởng nói dối, càng chống chế càng lòi đuôi dối trá. Báo le Point cho rằng MAM phạm sai lầm lớn, vụng về chống chế, đã trở nên gánh nặng cho nội các Francois Fillon, và yêu cầu Thủ Tướng Fillon cũng phải ra đi luôn, vì khi Bắc Phi đã bắt đầu nổi dậy, thủ tướng Pháp còn nhận lời mời của Tổng Thống Hosni Mubarak sang Ai Cập nghỉ mát miễn phí cùng gia đình.

Quả thật bà MAM đã nói dối như cuội, khi trần tình trước Quốc Hội cũng như khi trả lời phỏng vấn của báo chí. Bà ngoại trưởng cùng chồng - cũng là bộ trưởng - có nhiệm vụ quan hệ với Quốc Hội đã 2 lần dùng máy bay riêng của một nhà kinh doanh thân cận với nguyên Tổng Thống Tunisia Ben Ali. Bà cũng từng nói chuyện qua điện thoại với Ben Ali khi ông này đang nguy khốn. Bố mẹ của bà còn ký hợp đồng mua bán bất động sản với nhà kinh doanh thân Ben Ali nói trên trong chuyến đi nghỉ mát này.

Vậy mà bà vẫn thanh minh rằng tất cả là do sự trùng hợp ngẫu nhiên, không hề biết gì về việc mua bán bất động sản của bố mẹ bà, đó là chuyện riêng tư, không ai được đụng đến.

Cho đến khi đài phát thanh TF2 cho chiếu đi chiếu lại buổi điều trần của bà MAM trước Quốc Hội sau khi cuộc đấu tranh của nhân dân đã bùng nổ ở Tunisia được 4 ngày. Bà nói: “Chúng ta có thể nghĩ đến việc cử lực lượng cảnh sát chống bạo loạn nổi tiếng có hiệu quả của chúng ta sang đó tham gia việc lập lại trật tự.” Vậy là bà ngoại trưởng đứng về phía nào? Nguyên tắc ở đâu? Có hớ hênh không? Có phải bà ngoại trưởng chủ trương tiếp sức cho chế độ độc tài đàn áp nhân dân Tunisia không? Và lại còn định gửi cảnh sát đặc biệt chống bạo loạn sang Tunisia đàn áp dân chúng nhằm bảo vệ thế lực độc tài tham nhũng gia đình trị!

Trong bài nói chuyện trên đài truyền hình chiều Chủ Nhật, 27 tháng 2, Tổng Thống Sarkozy nói về cải tổ nội các mà lại không hề nhắc đến tên bà MAM, tránh không nói gì về công hay tội, sai lầm, khuyết điểm của bà MAM. Ông để phần lớn thời gian ca ngợi cuộc nổi dậy lịch sử của nhân dân Bắc Phi và Trung Ðông, xác định mạnh mẽ sự ủng hộ của nước Pháp đối với cuộc cách mạng đòi tự do nhân quyền của nhân dân đang quật đổ các chế độ độc đoán hung bạo. Dụng ý của ông là chữa cháy, khôi phục uy tín trên mặt trận ngoại giao.

Tình thế bắt buộc các nước phương Tây xem xét kỹ lại, từ bỏ đường lối đối ngoại vụ lợi, nặng về thực tiễn, liên minh một cách thiển cận vô nguyên tắc với một số nước độc đoán nhằm mua bán vũ khí và dầu mỏ kiếm lời, ngăn chặn thế lực Hồi Giáo cực đoan, đặt rất thấp nguyên tắc ủng hộ khát vọng tự do dân chủ nhân quyền của đông đảo nhân dân.

Ðó chính là chủ trương đúng đắn mà chính quyền của Tổng Thống Barack Obama sớm nhận ra và đề xướng, và bà Ngoại Trưởng Hillary Clinton đang triển khai có hệ thống nhằm ủng hộ thiết thực, có hiệu quả mọi khát vọng tự do dân chủ của quần chúng bị áp bức, bất cứ ở nơi nào, lúc nào trên hành tinh này, trước hết là ở Bắc Phi và Cận Ðông hiện nay.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

CẢNH SÁT NHẬT, GỐC VIỆT HÀ MINH THÀNH ĐANG CỨU NẠN TẠI VÙNG FUKUSHIMA,
TRAO ĐỔI THÔNG TIN VỚI BLOG PHAMVIETDAONV

Blog Phamvietdaonv:
Anh Hà Minh Thành là người Việt Nam hiện đang công tác trong lực lượng cảnh sát Nhật Bản; Hiện anh Hà Minh Thành đang tham gia cứu nạn động đất tại vùng Fukushima…Hôm trước anh Hà Minh Thành có thông tin trên blog Phamvietdaonv địa chỉ email và điện thoại cá nhân của anh, bà con nào là người Việt Nam đang gặp khó khăn tại Nhật cần giúp đỡ thì liên hệ với anh. Xin ghi lại địa chỉ của anh Hà Minh Thành:

minhthanhjp@yahoo.com; điện thoại 09085381634…


Cách đây vài hôm, một độc giả đã liên hệ với số điện thoại trên nhưng đã gặp tiếng nói của một phụ nữ. Tôi đã email cho anh Hà Minh Thành thì anh Thành cho biết: Điện thoại hiện anh đang giao cho con gái lớn của anh đang tham gia cứu nạn với bố; Có thể do con gái anh Hà Minh Thành không sõi tiếng Việt nên có thể bị hiểu nhầm…Bà con nào cần giúp đỡ xin cứ liên hệ với số điện thoại và địa chỉ email trên…

Hôm qua, Báo Tuổi trẻ đã liên hệ với Blog Phamvietdaonv muốn tìm hiểu thêm về sự giúp đỡ thiện nguyện của anh Hà Minh Thành, tôi đã thông tin với anh Hà Minh Thành và anh đã đồng ý đăng địa chỉ điện thoại và email cá nhân của anh lên báo Tuổi trẻ để sẵn sàng hỗ trợ những bà con người Việt Nam nào đang gặp khó khăn hoạn nạn ở Nhật …
Sau đây là bức thư mới nhất của anh Hà Minh Thành kể về công việc mà anh đang tham gia tại vùng Fukushima…

Xin chào anh Đào

Em là Minh Thành đây. Anh và gia đình khỏe không ? Mấy ngày nay mọi sự đều quay cuồng lên cả. Mở mắt cũng thấy xác chết, nhắm mắt cũng thấy xác chết. Mỗi thằng tụi em mỗi đứa phải trực 20h/một ngày. Ước gì thời gian dài 48 tiếng một ngày để mà còn đi tìm cứu người. Điện nước không , thực phẩm gần như số không ? Di tản dân chưa xong thì lại có lệnh đưa dân đi di tản tiếp.

Em đang ở Fukushima, cách nhà máy điện Fukushima 1 khoảng cách 25km, có rất nhiều chuyện có thể viết nên thành sách về tình người trong hoạn nạn.

Ngày hôm kia em đã tìm thấy và cứu được một người VN. Anh ta tên là Toàn đến từ Mỹ, kỹ sư nguyên tử lực làm việc tại nhà máy điện hạt nhân Fukushima 1, anh ta bị tai nạn ngay cơn động đất đầu tiên, mọi thứ hỗn loạn nên chẳng ai giúp anh ta liên lạc cả.

Tình cờ biết được em đã liên lạc với Đại sứ quán Mỹ và phải công nhận tụi Mỹ nó nhanh, ngay lập tức trực thăng của quân đội Mý đến bệnh viện bốc anh ta đưa thẳng ra hạm đội 7.

Còn lại một số tu nghiệp sinh VN ở trong vùng này thì em đang tìm vẫn chưa có thông tin rõ ràng. Nếu có thông tin chính xác tên tuổi, nơi làm việc của họ thì dễ tìm kiếm hơn. Ở Nhật cảnh sát không có quản lý gắt gao về hộ tịch như ở VN và luật bảo hộ thông tin cũng khiến cho việc tìm thông tin của họ cũng khó. Em gặp một phụ nữ Nhật có làm việc chung với 7 cô gái đến từ VN làm việc với tư cách tu nghiệp sinh, chỗ họ làm cách bờ biển khoảng 3km, bà ta nói rằng họ không biết tiếng Nhật và lúc chạy loạn thì họ chạy theo bà ta, nhưng sau đó thì không biết chạy đi đâu còn sống hay là chết.Trong đó bà ta chỉ nhớ tên một cô gái tên là Nguyễn Thị Huyền (Có thể tên là Hiền) vì làm việc chung nhau.

Nhân viên Đại sứ quán và chính phủ VN vẫn chưa thấy xuất hiện ở đây, dù đọc trên báo mạng của VN thấy họ nói lo lắng cho dân VN rất tốt, toàn xạo cả.

Ngay cả cảnh sát tụi em còn đói khát tả tơi thì huống chi tới mấy đứa nhỏ tu nghiệp sinh VN. Nỗi khổ nhất ở vùng này bây giờ là Lạnh, Đói, Khát, không có điện, thiếu thông tin. Dân chúng thì vẫn bình tĩnh, lòng tự trọng và luân lý của họ tốt nên chưa đến nỗi loạn nhưng nếu tình hình này kéo dài thêm chừng 1 tuần nữa thì có khả năng tình hình an ninh không thể kiểm soát nổi. Họ cũng là con người mà, khi cơn đói khát đã vượt quá lòng tự trọng và nhân cách thì cái gì cũng phải làm thôi. Chính phủ đang lập cầu không vận thực phẩm và thuốc men vào vùng này nhưng chỉ như muối bỏ biển.

Có nhiều chuyện muốn kể cho anh nghe để đăng trang tin của anh nhưng mà nhiều đến độ bây giờ em cũng chẳng biết gì mà viết nữa.

Có một câu chuyện cảm động ngày hôm qua một đứa bé Nhật đã dạy cho một người lớn như em một bài học làm người.


Tối hôm qua em được phái tới một trường tiểu học phụ giúp hội tự trị ở đó để phân phát thực phẩm cho các người bị nạn. Trong cái hàng rồng rắn những người xếp hàng em chú ý đến một đứa nhỏ chừng 9 tuổi, trên người chỉ có chiếc ao thun và quần đùi. Trời rất lạnh mà nó lại xếp hàng cuối cùng, em sợ đến phiên của nó thì chắc chẳng còn thức ăn. Nên mới lại hỏi thăm.Nó kể nó đang học ở trường trong giờ thể dục thì động đất và sóng thần đến, cha của nó làm việc gần đó đã chạy đến trường, từ ban công lầu 3 của trường nó nhiìn thấy chiếc xe và cha nó bị nước cuốn trôi, 100% khả năng chắc là chết rồi. Hỏi mẹ nó đâu, nó nói nhà nó nằm ngay bờ biển, mẹ và em của nó chắc cũng không chạy kịp. Thằng nhỏ quay người lau vội dòng nước mắt khi nghe em hỏi đến thân nhân. Nhìn thấy nó lạnh em mới cởi cái áo khoác cảnh sát trùm lên người nó. Vô tình bao lương khô khẩu phần ăn tối của em bị rơi ra ngoài, em nhặt lên đưa cho nó và nói: " Đợi tới phiên của con chắc hết thức ăn, khẩu phần của chú đó, chú ăn rồi, con ăn đi cho đỡ đói".

Thằng bé nhận túi lương khô của em, khom người cảm ơn. Em tưởng nó sẽ ăn ngấu nghiến ngay lúc đó nhưng không phải, nó ôm bao lương khô đi thẳng lên chỗ những người đang phát thực phẩm và để bao lương khô vào thùng thực phẩm đang phân phát rồi lại quay lại xếp hàng.Ngạc nhiên vô cùng , em hỏi nó tại sao con không ăn mà lại đem bỏ vào đó. Nỏ trả lời: " Bởi vì còn có nhiều người chắc đói hơn con. Bỏ vào đó để các cô chú phát chung cho công bằng chú ạ".


Em nghe xong vội quay mặt đi chỗ khác để khóc để mọi người không nhìn thấy. Thật cảm động. Không ngờ một đứa nhỏ 9 tuổi mới học lớp 3 đã có thể dạy em một bài học làm người trong lúc khốn khó nhất. Một bài học vô cùng cảm động về sự hy sinh.

Một dân tộc với những đứa trẻ 9 tuổi đã biết nhẫn nại, chịu gian khổ và chấp nhận hy sinh cho người khác chắc chắn là một dân tộc vĩ đại. Đất nước này đang đứng ở trong những giờ phút nguy cấp nhất của sự điêu tàn, nhưng chắc chắn nó sẽ hồi sinh mạnh hơn nhờ những công dân biết hy sinh bản thân ngay từ tuổi niên thiếu.

Nghĩ lại câu nói của ông già Fuwa nguyên chủ tịch Đảng CS Nhật giáo sư dạy em về Tư bản luận đã nói rằng " Nếu Mac sống lại, ông ta sẽ thêm một câu vào trong cuốn Tư bản luận đó là " Chủ nghĩa CS chỉ thành công trên đất Nhật".
Vài dòng gửi cho anh, chúc anh khỏe .Tới giờ em vào phiên trực nữa rồi.
Chúc anh và gia đình vạn sự an khang.

Hà Minh Thành

Tái bút:
À, quên. Số điện thoại em ghi là số điện thoại cá nhân của em, hiện tại con gái lớn của em mới tốt nghiệp y tá và cháu đang tham gia công tác cứu trợ thiện nguyện trong vùng này, em đưa cho cháu dùng điện thoại của em cho tiện liên lạc. Cháu không rành tiếng VN nên chắc bị hiểu lầm như vậy.
Được đăng bởi Phạm Viết Đào-Nhà văn vào lúc 09:58
Gửi Email Bài đăng Này BlogThis!Chia sẻ lên TwitterChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Google Buzz
2 nhận xét:

Việt gốcnói...
Có ý nghĩa thế này mà người ta lại chặn blog Phạm Viết Đào nhỉ
10:32 Ngày 16 tháng 3 năm 2011

Hà Minh Thành nói...
Nho anh Dao dang tiep gium . Cach day 1h , em da tim va lien lac duoc voi 1 co gai nguoi Viet ten la Duong Le Thanh Thao du hoc sinh VN o trong vung Fukushima. Xin nho anh thong bao gium tren trang cua anh de neu than nhan cua co ta neu co doc duoc cho ho an tam.

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Image

Thế giới lo lắng cùng Nhật Bản
Ngô Nhân Dụng


Thế giới xúc động trước ba thảm kịch đến với người Nhật: Động đất, sóng thần tsunami, rồi phóng xạ nguyên tử đang đe dọa. Nhưng không ai nói mình thương hại dân Nhật; như trước đây nghe tin động đất ở Haiti hoặc bão lụt ở Miến Điện. Nhật Bản là một dân tộc được kính trọng, không chờ đợi được ai mở lòng thương hại. Họ sẽ cắn răng nhẫn nhục, đứng dậy ngay để xây dựng lại giữa cảnh tàn phá. Trong tinh thần kỷ luật, đức tự tin, chia sẻ, đùm bọc nhau, và trên dưới một lòng.

Cũng giống như năm 1945, người Nhật đã cho cả thế giới thấy câu “không lấy thành bại mà luận anh hùng” rất đúng. Chưa đầy dăm bẩy năm sau khi thua trận, vua và dân nước Nhật đã nghiêm chỉnh thi hành bản hiến pháp dân chủ hóa, xó bỏ chế độ quân chủ cổ truyền. Xe Honda bắt đầu được xuất cảng. Akira Kurosawa lại làm phim khiến cả thế giới kinh ngạc; Kawabata vẫn ngồi viết những tiểu thuyết rồi được tặng Giải Nobel.

Bây giờ, Nhật Bản lo sẽ gặp rất nhiều khó khăn kinh tế trong vài năm sắp tới. Nhưng cả thế giới cũng lo ngại. Vì khi guồng máy cường quốc kinh tế thứ ba này tạm ngưng chạy một thời gian thì kinh tế toàn cầu sẽ bị ngưng trệ. Trong bài này chúng tôi sẽ chú ý đến những mối lo lắng đó.

Mối lo biểu lộ qua thị trường chứng khoán: Chỉ số Nikkei của thị trường Tokyo ngày Thứ Hai mở ra lần đầu sau trận động đất đã mất hơn 6%, ngày hôm sau lại tụt giảm hơn 10% khi nghe tin về phóng xạ nguyên tử. Trong hai ngày thị trường Tokyo đã xóa đi khoảng 620 tỷ đô la Mỹ tổng cộng giá trị cổ phần của các công ty, lớn hơn 6 lần Tổng sản lượng nội địa của Việt Nam trong năm 2010.

Ảnh hưởng trên thế giới thấy rõ ràng khi giá dầu lửa sụt giảm. Giá xuống 97 đô la một thùng, mà tuần trước có lúc đã lên tới 105 đô la Mỹ. Cùng với dầu lửa, các kim loại như vàng, bạc, đồng đều xuống giá vì mọi người chờ đợi các xí nghiệp sẽ bớt hoạt động và người ta bớt tiêu thụ ở khắp nơi. Các thị trường Thượng Hải ở Trung Quốc, Hang Seng ở Hồng Kông, DAX ở Đức đều xuống từ một rưỡi đến 3%. Tại Mỹ, Chỉ số Dow Jones mất 51 điểm trong ngày Thứ Hai, sáng Thứ Ba khi mới mở cửa đã sụt 300 điểm rồi lên lại, sau cùng chỉ mất 138 điểm; trong 2 ngày đã giảm hơn 1%. Chỉ có thị trường Bolsa ở Mexico giảm rất nhẹ, nửa phần trăm.

Hậu quả kinh tế trực tiếp, tính trên những thiệt hại vật chất do sự tàn phá của động đất và sóng thần sẽ lên tới 73 tỷ mỹ kim. Cộng thêm những thiệt hại do các tai họa trên gây ra vì hoạt động kinh tế cả nước Nhật bị ngưng trệ thì tổng số có thể lên tới 183 tỷ mỹ kim, bằng hơn 3% GDP nước Nhật. Có thể so sánh với với trận động đất ở Kobe trước đây, khi đó tổng số thiệt hại kinh tế vào khoảng 100 tỷ. (Trận bão Katrina ở Mỹ đã gây thiệt hại kinh tế khoảng 45 tỷ đô la, nhưng chỉ bằng 3 phần mười của một trăm GDP của Mỹ). Kobe là một hải cảng nằm tại trung tâm các vùng công nghiệp của Nhật Bản cho nên ảnh hưởng trên thiệt hại kinh tế rất nặng trong khi lần này động đất xẩy ra tại Fukushima, một vùng chỉ đóng góp khoảng 6% vào Tổng sản lượng nội địa Nhật Bản. Tuy nhiên, số thiệt hại về nhân mạng lớn hơn lần trước: Năm 1995 động đất ở Kobe làm chết 6,000 người; lần này đã kể tới con số 10 ngàn người chết và hàng chục ngàn người khác mất tích, với nửa triệu người mất nhà cửa.

Ngay sau khi có tin động đất, giới đầu tư quốc tế đã “bỏ chạy” khỏi thị trường Nhật Bản vì biết kinh tế nước này sẽ giảm sụt tức khắc. Nhiều người rút tiền ra, bán các chứng khoán rồi đua nhau đổi đồng yên lấy đô la Mỹ, khiến cho giá đồng yen giảm xuống nhanh. Nhưng ngay sau đó, dòng tiên tệ đã đổi chiều. Nước Nhật cần tiền, các công ty và chính phủ Nhật Bản phải rút tiền đầu tư ở nước ngoài về; họ cũng bán các chứng khoán rồi đổi tiền euro hay mỹ kim lấy yên. Giá đồng yen lại tăng lên.

Trước trân động đất này, người Nhật đang giữ trong tay 882 tỷ đô la các trái khoán và công trái của Mỹ, gần 10% tổng số nợ của nước Mỹ. Khi cần tiền người ta đem bán các công trái sớm nhất, vì đó là thứ chứng khoán có thị trường lưu hoạt, tức là dễ bán, bán được nhanh nhất. Năm 1995 sau trận động đất Kobe, các công ty bảo hiểm Nhật Bản đã đem bán công trái ngắn hạn của Mỹ vì họ cần tiền bồi thường các thân chủ. Năm nay, số tiền bồi thường sẽ còn lớn hơn nữa.

Nhiều người có thể lo rằng khi người Nhật đua nhau rút tiền về nước thì giá công trái Mỹ và trái khoán nói chung sẽ sụt giảm. Trong thị trường trái khoán (giấy nợ), khi giá giảm xuống tức là lãi suất thật tự động tăng lên. Nhưng trong ngày hôm qua, điều đáng chú ý là giá các công trái của chính phủ Mỹ lại lên cao; tức là lãi suất, luôn đi ngược chiều, đã giảm. Lý do chính vì thị trường cổ phiếu trên cả thế giới đang tụt xuống. Khi thấy tương lai việc đầu tư vào các cổ phiếu có vẻ ít lời vì kinh tế yếu đi, giới có tiền đã bán bớt cổ phiếu để đi tìm nơi “trú ẩn an toàn.” Và cho tới nay vẫn không món đầu tư nào được coi là an toàn hơn là giấy nợ của chính phủ Mỹ.

Ảnh hưởng của động đất trên nền công nghiệp của nước Nhật sẽ rất nặng, đặc biệt là xe hơi. Những công ty Nhật nổi tiếng như Toyota, Honda, và cả Sony đều phải tạm ngưng sản xuất. Các nhà máy của Toyota, Honda không bị thiệt hại bao nhiêu nhưng hệ thống sản xuất các món đồ để ráp thành chiếc xe hơi bị ngưng trệ. Một chiếc xe hơi cần có từ 20 ngàn đến 25 ngàn món phụ tùng để ráp thành; chỉ cần một phần nhỏ trong số đó ngừng không cung cấp là cả hệ thống phải đứng lại. Các công ty xe hơi Nhật đã phân tản việc sản xuất ra khắp thế giới nên ảnh hưởng được giảm nhẹ. (Thị trường xe hơi ở Mỹ chắc không thấy ảnh hưởng quan trọng, vì các nhà bán xe ở Mỹ thường giữ đủ số xe bán trong 30 ngày. Không ai lo các hãng xe và phụ tùng xe ở Nhật Bản xẽ phải đóng cửa cả tháng).

Nói chung, tài sản của nhiều xí nghiệp và tư nhân Nhật Bản đã bị mất mát nặng. Người ta lo số tiêu thụ vốn rất thấp của dân Nhật sẽ còn giảm nữa. Nhu cầu kích thích kinh tế rất gay gắt. Ngân hàng trung ương Nhật Bản không thể giảm bớt lãi suất nhiều nữa; vì hiện đã ở mức gần số không. Nhưng họ đã phản ứng nhanh chóng bằng cách bơm thêm tiền vào nền kinh tế, qua hệ thống ngân hàng thương mại, để kích thích tiêu thụ và sản xuất. Ngày Thứ Hai họ đã mua 15 ngàn tỷ yen các chứng phiếu ngắn hạn, khoảng 184 tỷ đô la. Ngày Thứ Ba lại đổ thêm 8 ngàn tỷ yen, 98 tỷ đô la nữa, vào thị trường tiền tệ.

Một điều mọi người lo ngại là tinh thần kinh doanh của dân Nhật sẽ bị ảnh hưởng. Vì trước một thiên tai lớn lao, trông thấy con người nhỏ bé trước thiên nhiên, ai cũng sinh lòng dè dặt và e ngại trước các mối rủi ro khác. Một sức mạnh của kinh tế thị trường là óc mạo hiểm của người đầu tư. Nếu người ta sợ rủi ro hơn trước thì công cuộc phục hồi kinh tế sẽ chậm trễ.

Mọi người có thể làm an lòng là trong cơn nguy khó, chính phủ Nhật đã chứng tỏ họ có khả năng đứng mũi chịu sào. Ông Thủ tướng Naoto Kan đã có mặt tại những nơi nguy hiểm và xuất hiện trên ti vi nhiều lần để trấn an dân chúng. Chính phủ của ông đang ở thế yếu, sau khi ông bộ trưởng ngoại giao từ chức vì xì căng đan, và tuần trước ông vẫn bị báo chí cũng như phe đối lập chỉ trích nặng nề. Nhưng khi có động đất thì tất cả người Nhật đã bỏ qua những bất đồng ý kiến để cùng nhau xây dựng lại. Chính phủ Naoto Kan có thể đứng vững thêm nhiều tháng nữa.

Thử thách của ông Kan là việc phục hưng kinh tế; nhưng ông có thể làm nhiều hơn thế nữa. Nhiều người thấy trận động đất mới này có thể là một cơ hội để “câu điện” cho bộ máy Nhật Bản chạy lại (jump-start). Trong khi đó, người lãnh đạo Nhật có thể thay đổi cơ cấu nền kinh tế mà không lo bị các phe nhóm quyền lợi ngăn cản.

Kinh tế Nhật đã trì trệ từ hơn hai chục năm nay, vì cơ cấu nặng nề cổ lỗ. Nước Nhật chỉ chú trọng đến xuất cảng, việc tiêu thụ trong nước bị coi nhẹ. Từ năm 2008 đến nay Nhật Bản vẫn sống trong khung cảnh kinh tế trì trệ, giá cả bị đe dọa với mối nguy giảm phát (khiến mọi người ngưng tiêu thụ để chờ giá xuống sẽ mua); tình trạng lương bổng ngưng không lên (một nguyên do nữa khiến số tiêu thụ giảm) và chính phủ càng ngày càng mang nợ nhiều hơn (số nợ lớn gấp đôi GDP, nhưng may mắn đa số chủ nợ là người Nhật Bản chứ không phải nước ngoài). Các đại công ty, ngân hàng và bộ máy hành chánh của nhà nước cùng lo bảo vệ quyền lợi của nhau, không chịu thay đổi nhanh chóng. Nước Nhật Bản cần những luật lệ mới để kích thích cạnh tranh trong thị trường nội địa, thay đổi các thủ tục hành chánh để giảm bớt quyền giới thư lại, tăng quyền tự do cho giới kinh doanh.

Đối với người Đông phương, các thiên tai thường là điềm xấu, cho thấy những người đang cầm quyền đang làm phật lòng “trời đất.” Năm 1855 một trận động đất lớn xẩy ra trước khi chính quyền Mạc Phủ Tokugawa sụp đổ. Sau trận động đất năm 1923, giới quân phiệt ở Nhật bắt đầu lên, tiến tới giai đoạn xâm lăng xưng bá xưng hùng, rồi gây ra cuộc đại chiến đưa tới bại trận.

Nhưng trong nghề bói toán người ta có thể giải thích các hiện tượng trên theo cách khác. Có thể nói trận động đất năm 1855 thay đổi chính trị để chuẩn bị công cuộc duy tân của thời Minh Trị Thiên Hoàng. Cũng có thể nói trận động đất năm 1923 mở đầu công cuộc kỹ nghệ hóa nước Nhật.

Việc tái thiết nước Nhật sau trận động đất năm nay sau cùng có thể là một cơ hội để đưa nền kinh tế Nhật Bản lên cao, chứ không phải chỉ chịu cảnh tàn phá. Bao nhiêu vốn liếng được hồi hương để đầu tư. Bao nhiêu người sẽ có việc làm thêm vì công việc nhiều quá, riêng việc xây cất không thôi đã đủ kích thích kinh tế hàng chục năm. Thủ tục, luật lệ sẽ phải được nới lỏng cho thị trường chạy nhanh hơn, thay vì phải chờ các bàn giấy nhà nước từ từ cứu xét rồi mới đóng con dấu. Tất cả sẽ thúc đẩy kinh tế lên nhanh. Người Nhật Bản cũng nhìn thấy đây là một cơ hội để thay đổi mạnh và lâu dài.

Nếu ông Thủ tướng Naoto Kan đủ đảm lược ông có thể đưa ra những biện pháp cải tổ mạnh mẽ để thay đổi cơ cấu tài chánh và hành chánh nước Nhật, mở đầu một thời kỳ thịnh vượng mới. Muốn vậy, ông phải vượt qua những chướng ngại do những nhóm có quyền lợi riêng bầy đặt ra, từ hai chục năm nay. Các ngân hàng rất ngần ngại không muốn cải tổ. Giới quan chức thư lại không muốn giảm bớt quyền. Đảng Dân Chủ Tư Do đã nắm quyền nửa thế kỷ từ sau Đại Chiến, họ có những quyền lợi tương đồng với hai giới trên. Ông Naoto Kan phải thuyết phục được dân chúng Nhật để “đổi mới kinh tế!” Vì hơn 20 năm trì trệ kể từ sau trận động đất Kobe đã quá dài. Nếu không thì ông đáng được dân Nhật cho về nghỉ hưu sớm nội trong năm nay.

Post Reply