Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Giá trị của lòng bạo dạn

Tổng thống đã can đảm chọn việc tấn công vào Osama bin Laden. Liệu ông sẽ hành động như thế vì dân chúng Libya trong bước kế tới hay không?

Nguyên bản Anh ngữ: Paul Wolfowitz/Newsweek
Chuyển ngữ: Vann Phan/Người Việt


Biểu tượng rất quan trọng, và biểu tượng trong cái chết của Osama bin Laden đã không đúng như những gì các thuộc hạ kỳ vọng ở ông ta. Cái chết của bin Laden không phải là cái chết vinh quang.


Image
Thanh thiếu niên tại Benghazi học tập quân sự để chiến đấu chống nhà độc tài Gaddafi, giành tự do, dân chủ cho đất nước Libya.
(Hình: Saeed Khan/AFP/Getty Images)

Không phải vì người ta thiếu cố gắng mà bin Laden đã không bị hạ sát hoặc bắt sống sớm hơn nhiều. Nhưng, trong một ý nghĩa nào đó, cũng là điều tốt để cho ông ta sống lâu đến thế - đủ lâu để thấy sự tiêu tan của biết bao nhiêu giấc mộng tàn ác của ông ta bị thảm bại. Quan trọng hơn hết, vẫn có cái nền công lý sâu xa trong sự thể là trước khi chết ông ta đã có cơ hội chứng kiến sự sụp đổ của nhiều nhà độc tài Ả Rập, bị lật đổ không phải dưới tay các thuộc hạ của ông ta mà là do những người đàn ông và những người phụ nữ yêu chuộng tự do (và trang mạng Facebook).

Một trong những khía cạnh lạ thường nhất trong những cuộc biểu tình phản kháng từng quét ngang qua thế giới Hồi Giáo là lòng can đảm của những người biểu tình. Lòng can đảm vô biên của người dân Tunisia và người dân Ai Cập đã bị lòng can đảm của người dân Libya và Syria vượt qua, trong khi đó Bashar al-Assad và Muammar Gaddafi đã được liệt vào hàng bin Laden về tội ác giết hại người dân không có vũ khí tự vệ.

Một trong số các thủ hạ của bin Laden đã viết rằng khuyết điểm của nền dân chủ là nó khuyến khích dân chúng yêu thương cuộc đời quá mức đến độ sợ chết và rồi tiến tới chỗ không muốn tử vì đạo nữa. Ðiều mà bin Laden và kẻ viết câu đó không chịu hiểu là vẫn có những người thương yêu cuộc sống, nhưng lại yêu chuộng tự do hơn và sẵn lòng liều mạng sống để có được tự do. Chính lòng yêu thương cuộc đời theo kiểu đó - chứ không phải chỉ là lòng hy vọng về một cõi thiên đàng - là động lực thúc đẩy dân chúng Mỹ quả cảm từng bảo vệ đất nước họ qua bao thế hệ. Và ngày nay, chúng ta cũng đang chứng kiến lòng yêu chuộng tự do một cách dũng cảm được hàng nghìn người dân Ả Rập biểu lộ.

Khi Mahdi Ziu, một viên chức ngành dầu mỏ 48 tuổi của Libya và cũng là người cha của hai cô con gái, chất đầy chiếc xe hơi bằng những bình ga rồi tự cho nổ tung mọi thứ lên thì không phải là ông đã hành động để sát hại những người dân vô tội mà là để cứu lấy mạng sống con người nhờ việc cho nổ tung các cánh cổng của trại lính Katiba ở Benghazi để yểm trợ cho quân nổi dậy chống Gaddafi trong thành phố đó. Người con gái của ông, tên là Zuhur, phát biểu: “Bố tôi nói rằng mọi người có nhiệm vụ phải chiến đấu cho cuộc cách mạng. Ông không phải là một kẻ quá khích. Ông không thích chính trị. Nhưng ông sẵn lòng làm một việc gì đó. Chúng tôi không biết đó lại là việc làm kia.” Chẳng giống như bin Laden, ông Ziu đã chết như một vị anh hùng, cũng giống như rất nhiều người khác tại những nơi như Misrata và Deraa vậy.

Hiện còn quá sớm để có thể nói những thay đổi tràn qua thế giới Ả Rập sẽ đi về đâu. Nhưng nếu người ta phải lựa ra một “con ngựa chiến” (dùng chính từ ngữ bóng bẩy của bin Laden) thì kẻ đó chính là những người Ả Rập chiến đấu cho tự do, chứ không phải là những kẻ tuẫn đạo [kiểu Hồi Giáo quá khích].

Quyết định của Tổng Thống Obama ra lệnh tấn công vào bin Laden cũng đòi hỏi phải có lòng can đảm. Ðó không phải là cái gan dạ trên chiến trường mà là cái can đảm chấp nhận sống với các hậu quả của một quyết định liều lĩnh. Và vì sứ mạng đó tiến hành tốt đẹp cho nên ông xứng đáng được ca ngợi, đồng thời tư thế chính trị của ông cũng được nâng cao. Nhưng không hề có bảo đảm nào rằng cái sứ mạng loại này không dẫn tới sai lầm thảm hại. Chúng ta thảy đều là kẻ thừa hưởng lợi ích do quyết định của Tổng Thống Obama, nhưng, cuối cùng, thì trách nhiệm lại chỉ nằm trên bàn giấy của một người mà thôi.

Vì một số lý do nào đó, cho tới nay, tổng thống đã không chịu đưa ra những quyết định không đòi hỏi phải liều mạng sống của người Mỹ mà lại có khả năng cứu mạng dân chúng Libya, là những kẻ mà chúng ta đã cam kết bảo vệ - như là quyết định công nhận chính phủ lâm thời tại Benghazi, cung cấp cho họ viện trợ quân sự, đóng cửa bộ máy tuyên truyền của chế độ Gaddafi. Không có bất cứ hành động nào trong số đó sẽ bảo đảm cho sự chiến thắng của đối thủ nhưng lại sẽ giảm thiểu nguy cơ kéo dài tình trạng bế tắc làm tiêu hao thêm sinh mạng của nhiều người dân Libya và gia tăng những rủi ro trong việc người Mỹ, sau cùng, lại bị lôi cuốn sâu hơn vào cuộc diện một cách không cần thiết. Vì sự sống còn của dân chúng Libya và vì uy tín của người Mỹ trong thế giới Ả Rập, người ta trông đợi Tổng Thống Obama nhận chân được cái giá trị của lòng bạo dạn.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Lính đánh thuê trên mạng

* Nguyễn Hưng Quốc
(Nguồn: VOA)
Sau khi viết xong bài “Tự do phát biểu và sân chơi dân chủ,” tôi đọc được một số bản tin rất thú vị trên báo chí tiếng Anh về hiện tượng Trung Quốc bỏ tiền thuê một lực lượng nhân viên đông đảo chỉ để làm mỗi một việc là viết các ý kiến phản hồi bênh vực cho đảng và chính phủ trên Internet (1). Tôi gọi đó là lực lượng lính đánh thuê trên mạng.

Trước, nhiều quốc gia, kể cả một số cường quốc Tây phương, có một lực lượng quân đội đặc biệt, gồm những tên lính đánh thuê, chủ yếu được sử dụng trong việc chinh phạt các thuộc địa. Người Việt Nam vốn có rất nhiều kinh nghiệm cay đắng về những tên lính đánh thuê ấy: Tên của chúng, từ tiếng Pháp, légionnaire, đã được Việt hóa thành “lê dương.” Ðó là những người nước ngoài, phần lớn thuộc thành phần hoặc nghèo đói hoặc bất hảo, tự nguyện đánh thuê cho Pháp. Một đội quân lê dương, gồm 600 tên, ngày 18 tháng 11 năm 1883, đã đổ bộ vào miền Bắc Việt Nam, đánh chiếm các tỉnh Sơn Tây, Bắc Ninh, Tuyên Quang và Lạng Sơn. Sau đó, trong suốt mấy chục năm đô hộ Việt Nam, trong hàng ngũ lính Pháp, bao giờ bọn lính lê dương cũng có mặt. Và cũng gieo rắc không biết bao nhiêu là kinh hoàng cho dân chúng.

Bây giờ, trong đội ngũ những người trung thành với Moammar Gadhafi ở Libya, cũng có khá nhiều lính đánh thuê, chủ yếu đến từ Mali, Nigeria, Chad, Sudan và Bosnia, được gọi là Lê dương Hồi giáo.

Dù mang tên gì, ở đâu, bản chất của những tên lính đánh thuê ấy cũng giống nhau: vì tiền. Vì tiền, chủ bảo đánh đâu, chúng đánh đó. Không có chuyện lý tưởng gì cả. Tất cả chỉ vì tiền.

Một loại lính đánh thuê như vậy, dưới hình thức mới, đã được ra đời trong một không gian hoàn toàn mới: Internet. Chúng không có quân phục; không có huy hiệu hay súng ống. Chúng chỉ có bàn phím và con chuột. Ngồi trước computer, chúng cũng xông xáo và hung hăng không kém gì những tên lính lê dương của Pháp ở Việt Nam trước đây hay những tên lính lê dương Hồi giáo tại Libya hiện nay.

Những tên lính đánh thuê trên mạng được thế giới biết đến đầu tiên mang một quốc tịch chung: Trung Quốc.

Nên biết là ở Trung Quốc hiện nay có khoảng gần nửa tỉ người sử dụng Internet và hơn một nửa trong số đó thường xuyên tham gia vào các blog hoặc với tư cách người viết, hoặc với tư cách “còm sĩ,” hoặc, nhiều hơn, với tư cách người đọc. Cái khối lượng người đồ sộ ấy hàng ngày chuyền cho nhau không biết cơ man nào là thông tin và ý kiến. Dĩ nhiên, có không hiếm những thông tin và ý kiến hoàn toàn trái ý của nhà nước: chúng vạch trần bộ mặt tham nhũng và tàn bạo của giới cầm quyền; chúng hô hào cho tự do, dân chủ và quyền làm người. Ðối diện với làn sóng dư luận độc lập ấy, chính phủ Trung Quốc đã sử dụng nhiều biện pháp ngăn chận khác nhau. Hai biện pháp chủ yếu là: kiểm duyệt và tin tặc. Kiểm duyệt có nhiều hình thức, từ việc dựng tường lửa đến việc kiểm soát gắt gao các tiệm Internet-Cafe. Khi không kiểm duyệt thì họ, hoặc sai công an đến bắt, hoặc tung lực lượng tin tặc ra đánh phá.

Cả hai biện pháp ấy đều có tính chất tự vệ và thụ động. Gần đây (ghi nhận sớm nhất là từ năm 2004), Trung Quốc tiến hành một biện pháp thứ ba, tích cực và chủ động hơn: thành lập đội ngũ lính đánh thuê trên mạng.

Theo blogger Li Ming, ở Trung Quốc hiện nay, có ít nhất vài chục ngàn lính đánh thuê trên mạng như vậy. Malik Fareed, trong bài “China joins a turf war” đăng trên The Guardian số ra ngày 22 tháng 9 năm 2008, đoán con số đó có thể lên đến 300 ngàn người. (2)

Nhưng chúng là ai? Jeremy Goldkorn, chủ bút tờ báo mạng Danwei.org cho biết: “Ðó là một sự bí ẩn. Những người này không bao giờ nói chuyện với giới truyền thông cả. Người ta chỉ đoán mò thôi.”

Với từng cá nhân thì khó biết. Nhưng với tư cách tập thể thì người ta có thể nhận diện được: Phần lớn các tên lính đánh thuê trên mạng ấy là cán bộ nhà nước và sinh viên muốn có thu nhập thêm. Ngoài ra, cũng có một số là những người hưu trí còn trung thành với chế độ. Rất nhiều người được trả lương để làm việc toàn thời. Ví dụ, tháng 6 năm 2007, thành phố Tiêu Tác (Jiaozuo) thuộc tỉnh Hà Nam (Henan) tuyển 35 nhân viên chuyên viết bình luận trên Internet (ở Trung Quốc gọi là “võng lạc bình luận viên”)

Họ cũng chọn hơn 120 công an có năng khiếu viết lách để tham gia vào việc viết bình luận trên Internet (3). Theo tờ Global Times, riêng tỉnh Cam Túc (Gansu), trong năm 2010, đã thuê 650 nhân viên làm việc toàn thời với nhiệm vụ “hướng dẫn dư luận trước những vấn đề gây nhiều tranh cãi” (4). Vào đầu năm nay, ở tỉnh Sơn Tây (Shanxi), người ta còn tung ra chiến dịch “Võng lạc hồng thiếu binh” (Internet Red Scout) với nội dung chính là khuyến khích các đoàn viên Ðoàn Thanh Niên thi đua viết ý kiến khen ngợi đảng để tung lên các blog. Chỉ tiêu là mỗi đoàn viên phải viết ít nhất 2 ý kiến một tuần. Các ý kiến ấy được giữ lại để nộp lên ban tổ chức đoàn. (5)

Công việc của các “bình luận viên” này, theo Renaud de Spens, một chuyên gia về Internet có trụ sở tại Bắc Kinh, cực kỳ đơn giản: cắt và dán. Họ cắt nơi này và dán vào nơi khác. Có điều hầu hết những gì được chúng cắt dán chỉ là các khẩu hiệu tuyên truyền rẻ tiền của đảng và chính phủ. Ðại khái, lúc nào cũng “Ðảng vĩ đại,” “lãnh tụ anh minh,” v.v... Sau, thấy lối tuyên truyền như vẹt ấy không có tác dụng, họ phát triển một chiến lược khác, tinh tế hơn, cũng ra vẻ hiểu biết một chút. Cũng lý luận. Cũng tranh luận. Cũng, thỉnh thoảng, ra vẻ như trí thức và công tâm. Nhưng mục đích cuối cùng vẫn là một: tuyên truyền cho chế độ.

Các “bình luận viên” - thực chất là lính đánh thuê - này “được trả tiền theo số lượng ý kiến phản hồi được đăng tải. Nếu ý kiến của họ được đọc nhiều, họ có thể được hưởng một số tiền thưởng thêm.” Ông Li Ming cho biết như vậy. Có điều, số tiền chắc là chả nhiều nhặng gì. Người ta đoán chỉ khoảng 50 xu. Bởi vậy, ở Trung Quốc, người ta gọi đó là đám “ngũ mao đảng” (wumao dang; trong tiếng Anh, người ta dịch là “The 50 Cent Party,” đảng 50 xu).

Giới quan sát quốc tế ghi nhận trong nhiều trường hợp, biện pháp sử dụng lính đánh thuê mạng này tỏ ra có hiệu quả. Chẳng hạn, vào ngày 10 tháng 8 năm 2007, nhân một vụ cãi cọ trên đường phố, một người dân ở thành phố Tiêu Tác viết một ý kiến ngắn phê phán công an một cách gay gắt và gửi đăng trên một diễn đàn mạng. Chỉ mười phút sau, công an đọc được; họ liền vận động hơn 120 nhân viên tham gia phản công. Hai mươi phút sau, ý kiến phê phán người nọ và bênh vực công an tràn ngập diễn đàn. Trước áp lực ấy, một số công dân mạng (netizen) yếu vía, quay sang tố giác và lên án người lên tiếng chỉ trích công an nọ. “Trận” ấy coi như công an thành phố Tiêu Tác toàn thắng. (3)

De Spens quan sát thấy rất nhiều trường hợp như thế: Vào blog hoặc website, chung quanh các đề tài nóng bỏng đang thu hút sự chú ý của đông đảo quần chúng, người ta chỉ thấy, trong nhiều ngày liên tiếp, toàn ý kiến bênh vực chế độ do đám lính đánh thuê mạng này thực hiện. Ðiều đó dễ gợi ấn tượng sai lầm là phe ủng hộ chế độ chiếm đa số, là chế độ được lòng dân, là tính hợp pháp của chế độ vẫn còn rất bền vững, v.v...

Tuy nhiên, nhiều người cho đó chỉ là một thành công tạm thời. Khi người đọc biết tỏng các ý kiến phản hồi ấy chỉ là trò lừa bịp của đám lính đánh thuê, người ta sẽ mất hẳn niềm tin. Sau đó, nghe ai nói theo khẩu khí hao hao như vậy, người ta sẽ tẩy chay ngay tức khắc.

Dù sao, ở trên, cũng là chuyện của Trung Quốc.

Vấn đề quan trọng hơn, với chúng ta, là: Ở Việt Nam thì sao?

Hiện nay, tôi không có tài liệu gì về vấn đề này cả. Không biết có bạn nào có không. Nếu có, xin cùng chia sẻ với mọi người. Nếu không thì chúng ta tạm thời tự đóng vai điều tra viên vậy. Công việc điều tra ấy cũng đơn giản thôi: Thử nhìn vào phần Ý kiến trên các blog tiếng Việt, xem có ai có khả năng là “bình luận viên 50 xu” không nhé?

***

Chú thích:

1. Ví dụ bài “China pays internet users to flood web forums with pro-government propaganda” trên http://www.news.com.au/technology/chine ... z1MezDGnwr. Các số liệu và trích dẫn không ghi xuất xứ trong bài viết của tôi đều được lấy từ bài này.

2. http://www.guardian.co.uk/media/2008/se ... etingandpr

3. http://chinadigitaltimes.net/2008/05/ch ... ent-party/

4. http://special.globaltimes.cn/2010-02/503820.html

5. http://blog.theepochtimes.com/1/china/2 ... ropaganda/

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

TT Obama viếng thăm quê tổ ở Ireland

DUBLIN (Reuters) - Tổng Thống Barack Obama khẳng định tình đoàn kết giữa Mỹ và quốc gia Ireland đang gặp khó khăn trầm trọng về kinh tế
qua một ngụm bia và bài diễn văn hùng hồn, nói với đám đông ở Dublin hôm Thứ Hai rằng: “Những ngày tươi đẹp nhất của các bạn sẽ tới.”

Image
Tổng Thống Barack Obama và Ðệ Nhất Phu Nhân Michelle Obama tới trung tâm Dublin và được hàng ngàn người tiếp đón hôm Thứ Hai.
Tổng Thống Obama mở đầu chuyến công du Châu Âu 6 ngày với chuyến ghé qua Ireland vừa để thăm quê tổ bên ngoại
vừa biểu lộ sự ủng hộ với một quốc gia còn đang phục hồi sau cơn khủng hoảng tài chánh. (Hình: AP Photo, Pool)
Khởi sự chuyến viếng thăm bốn quốc gia Âu Châu với chặng dừng chân ở Ireland để viếng thăm quê ngoại, ông Obama được dân chúng nơi đây đón tiếp vô cùng nồng hậu.

Ðông đảo dân chúng tụ tập trên các con đường để lắng nghe bài diễn văn của ông ở Dublin và chuyến viếng thăm ngôi làng nhỏ bé ở Moneygall, nơi tổ tiên của ông Obama từng sống trước khi di dân sang Mỹ.

Sau lời giới thiệu của Thủ Tướng Ireland Enda Kenny là “Giấc Mơ Mỹ Quốc về lại cố hương,” ông Obama nói với đám đông ở Dublin rằng: “Tên tôi là Barack Obama, của những người dòng tộc Obama ở Moneygall.”

Ðối với quốc gia Ireland, chuyến viếng thăm của ông Obama và chuyến viếng thăm của Nữ Hoàng Anh Elizabeth Ðệ Nhị tuần qua, đã giúp họ quên đi những lo lắng về tình hình tài chánh khó khăn và nỗ lực vay tiền thế giới để thoát ra hoàn cảnh này.

Ông Obama cũng sẽ viếng thăm Anh, Pháp và Ba Lan trong chuyến công du để bàn về những vấn đề như Afghanistan và Pakistan sau khi hạ sát Osama bin Laden, nền kinh tế thế giới, và cuộc nổi dậy của dân chúng trong các quốc gia thuộc thế giới Ả Rập.

Ở ngôi làng Moneygall, với khoảng 300 dân, người trong làng và hàng ngàn người từ nơi khác tới, đứng dưới cơn mưa tầm tã để đón chào ông bà Obama. Ðây là nơi ông tổ bốn đời phía bên ngoại ông Obama, ông Falmouth Kearney, một người thợ giày, ra đi năm 1850 để sang Mỹ lập đời sống mới. Ðiều này khiến ông Obama, cha gốc Kenya và mẹ là người Mỹ gốc Ireland, có thể cùng với khoảng 37 triệu người dân Mỹ khác nhận mình cũng thuộc giòng dõi Ireland.

Trong quán rượu ở làng, ông bà Obama nếm thử loại bia Guiness đặc biệt được chế tạo cho dịp này cùng với những người dân khác.

Ông Obama phải lên đường đi London vào tối Thứ Hai thay vì Thứ Ba như đã dự trù vì có tro núi lửa bay tới từ Iceland. (V.Giang)

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Cơn nhức đầu 100 năm

Ngô Nhân Dụng

Ba năm trước khi nước Israel được thành lập, Tổng Thống Harry Truman đã yêu cầu chính phủ Anh Quốc phải cho thêm 100,000 người Do Thái được trở về định cư ở vùng Palestine, theo một đòi hỏi của những người gốc Do Thái ở Âu Châu; và cuối cùng chính phủ Anh đã nhượng bộ.

Chính phủ Truman đã công nhận ngay quốc gia Israel sau khi nước này thành lập năm 1948. Cho nên, khi ông Truman nói vấn đề Israel là cơn nhức đầu 100 năm của nước Mỹ, chúng ta có thể tin là ông không chống người Da Thái. Có lẽ người Mỹ chỉ mong rằng ông tiên đoán đúng sự thật, 100 năm chỉ là 100 năm. Nếu cơn nhức đầu này chấm dứt trước năm 2050, thì may mắn cho các vị tổng thống Mỹ. Nhưng không chắc điều đó sẽ xẩy ra!

Chắc cũng biết mối liên hệ với Israel là một cơn nhức đầu, cho nên cựu Tổng Thống Gorges W. Bush đã né rất kỹ trong 2 nhiệm kỳ của ông. Ông ủng hộ Israel hầu như vô điều kiện; và cũng được họ ủng hộ hết mình. Tổng Thống Bush đã tiêu diệt chế độ Saddam Hussein, chấm dứt một cơn nhức đầu của người Israel. Ông Bush phong tỏa và cô lập Iran, một mối lo khác của Israel. Chính quyền Palestine gần như bị bỏ rơi không được ngó tới. Mối bang giao Israel-Mỹ rất chặt chẽ.

Hình như Tổng Thống Barack Obama không chịu học tấm gương đó. Trong hơn 2 năm ngồi ở Tòa Bạch Ốc, ông Obama đã hai lần công khai xích mích với Thủ Tướng Israel Benjamin (Bibi) Netanyahu. Không những ông làm cho ông Netanyahu nổi giận và trả đũa, ông còn khiến những người Mỹ gốc Do Thái bất bình. Trong lịch sử Mỹ, người gốc Do Thái đã là những cử tri trung thành của đảng Dân Chủ, kể từ trước đầu thế kỷ 20, khi số di dân Do Thái từ Âu Châu qua ngày càng đông, mặc dù có lúc chính phủ Mỹ đã hạn chế. Chính ông Truman đã công nhận nếu không có người Do Thái ở New York ủng hộ thì ông khó đắc cử thị trưởng, khó đắc cử dân biểu, và đắc cử tổng thống năm 1948.

Nay, ông Barack Obama chỉ cần nói mấy câu đã làm cho ông Ed Koch, một tỷ phú gốc Do Thái và cựu thị trưởng New York, đang bày tỏ lòng bất mãn. Ông Kock chỉ trích ông Obama đã gây khó khăn cho chính phủ Israel trong các cuộc đàm phán với chính quyền Palestine sắp tới. Ông Koch tuyên bố với hãng Reuters rằng ông có thể sẽ ủng hộ một ứng cử viên tổng thống của đảng Cộng Hòa nếu có lập trường ủng hộ Israel mạnh hơn ông Obama.

Ông Obama làm chính phủ Israel bất bình, là khi ông nói, hôm Thứ Năm trước, rằng một thỏa hiệp hòa bình giữa nước Israel và người Palestine phải dựa trên căn bản biên giới của Israel năm 1967, với sự trao đổi đất đai.

Từ khi nước Israel tự thành lập năm 1947, hàng triệu người Palestine thuộc giống dân Á Rập đã phải di cư và cho tới nay vẫn chưa thành lập được một quốc gia của họ; trong khi chính phủ các nước Á Rập chung quanh thì không công nhận quốc gia Israel. Liên Hiệp Quốc và các nước lớn đều đồng ý miền đất này phải lập ra hai quốc gia riêng biệt, Israel cho người Do Thái và Palestine cho người Á Rập.

Trong cuộc chiến tranh 6 ngày, sau ngày 4 tháng 6 năm 1967 quân đội Israel đã chiếm một vùng đất rộng lớn trước thuộc nước Jordanie, nơi có hàng triệu người Palestine tị nạn. Sau đó, các chính phủ Israel đã cho dân tới vùng đất gọi là Tây Ngạn (sông Jordan) đó lập trại định cư, mặc nhiên biến các nơi này thành một tình trạng đã rồi trước khi có những thỏa hiệp phân chia địa giới tạo hòa bình lâu dài. Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc đã làm nghị quyết yêu cầu Israel ngưng hành động trái với luật pháp quốc tế này, nhưng các chính phủ Israel thường làm ngơ. Israel đã trả lại bán đảo Sinai cho Ai Cập, trừ miền Gaza không trả lại mà để cho người Palestine sinh sống. Nhưng việc thành lập một quốc gia Palestine gồm cả vùng Tây Ngạn và dải Gaza là một vấn đề Israel muốn thương lượng, để họ đạt được những đòi hỏi của họ.

Trước đây, các chính phủ Mỹ, cũng như các vị tổng thống Mỹ đều khuyến khích chính phủ Israel và các nhà lãnh đạo Palestine đàm phán để thiết lập một quốc gia Palestine. Các cuộc đàm phán đều tranh cãi về biên giới Israel đối với vùng Tây Ngạn. Các cuộc mặc cả giữa Palestine và Israel xoay quanh vấn đề Israel được giữ những vùng định cư nào ngoài biên giới năm 1967. Nhưng chưa vị tổng thống Mỹ nào công khai nhắc đến căn bản về “biên giới Israel trước năm 1967,” một điều các chính phủ Israel không muốn ai nhắc tới! Ông Obama là vị tổng thống đầu tiên nói đến những chữ “nhậy cảm” đó, nói công khai những lời mà mọi người chỉ nói trong chỗ kín đáo! Và chính phủ Mỹ không báo trước cho Thủ Tướng Netanyahu rằng ông Obama sẽ nói tới vấn đề “nhậy cảm” này. Ðúng là ông Obama đã tự mình mua lấy một cơn thịnh nộ của một chính phủ đồng minh!

Có thể ông Obama đã đáp lễ một hành động của ông Netanyahu vào năm ngoái. Giữa tháng 3 năm 2010, đúng lúc Phó Tổng Thống Mỹ Joe Biden đến Jerusalem, chính phủ Israel công bố một chương trình xây thêm 1,600 đơn vị gia cư cho một nơi định cư mới của người Do Thái tại miền Ðông Jerusalem, xây giữa một khu sinh sống của người Á Rập. Ông Biden phản đối ngay, nói rằng khu định cư mới này gây trở ngại cho việc đàm phán hòa bình. Ngoại Trưởng Hillary Clinton tuyên bố hành động của Israel có tính cách cố tình hạ nhục (insult) chính phủ Mỹ. Ít khi có một nhân viên chính phủ Mỹ nói những lời lẽ nặng nề như vậy với một chính phủ Israel. Sau đó Thủ Tướng Netanyahu lập tức ngỏ lời xin lỗi phó tổng thống Mỹ, đổ tội cho ông bộ trưởng Nội Vụ công bố việc lập khu đình cư không đúng lúc, mà không hề hỏi ý chính phủ. Nhưng khu định cư mới vẫn tiếp tục tiến hành.

Năm nay, đến lượt ông Netanyahu bày tỏ lòng giận dữ. Hội kiến ông Obama vào ngày Thứ Sáu, thủ tướng Israel đã lớn tiếng lên lớp tổng thống Mỹ về lịch sử dân tộc Do Thái, với 4000 năm lịch sử, với những tai ách phải chịu trong mấy ngàn năm đó. Trước ống kính các đài truyền hình, hai ông Netanyahu và Obama bày tỏ những bộ mặt không thân thiện cho cả thế giới trông thấy!

Một ký giả gốc Do Thái ở Mỹ, ông Jeffrey Goldberg, đã bực mình với ông thủ tướng Israel, viết trên blog của mình để nhắc nhở với một tựa đề: “Ông Netanyahu thân mến, Xin Ðừng Nói Với Tổng Thống Của Tôi Như Thế!” (Dear Mr Netanyahu, Please Don't Speak to My President That Way).

Ngày Chủ Nhật, ông tổng thống Mỹ đã tự mình “vào hang cọp.” Ông Obama đến diễn thuyết trước một hội nghị của Aipac, Ủy Hội Mỹ Israel, một tổ chức vận động của người gốc Do Thái ở Mỹ, thuộc loại diều hâu nhất và mạnh nhất. Trước cử tọa 10,000 người, ông Barack Obama thản nhiên nhắc lại một lần nữa, là việc thỏa hiệp hòa bình giữa quốc gia Israel và người Palestine sẽ dựa trên căn bản biên giới trước năm 1967!

Tuy nhiên, ông Obama cũng nhân cơ hội giải thích thêm những lời ông nói ngày Thứ Năm. Ông chỉ nhắc lại lập trường của các chính phủ Mỹ từ trước đến nay: phải công nhận những thực thể về cư dân mới ngoài biên giới năm 1967 (ý nói, các vùng định cư của người Israel). Cho nên, ông Obama công nhận cuộc đàm phán Israel Palestine sẽ đưa tới một biên giới khác năm 1967. Nhưng ông Obama không bày tỏ một lời nói hay cử chỉ nào chứng tỏ ông ân hận đã vì làm cho ôn thủ tướng Israel nổi giận. Nhiều người Mỹ gốc Do Thái đã khen ngợi bài diễn văn hôm Thứ Năm của ông Obama, trong đó ông đã đề cập tới nhiều vấn đề cơ bản ở vùng Trung Ðông, ca ngợi những người dân Tunisie và Ai Cập, lên án các chính phủ Barhain và Syria, và đặt hy vọng vào các cuộc đàm phán Israel và Palestine. Năm 2008, chính một vị thủ tướng Israel, ông Ehud Olmert, đã từng đề nghị một thỏa hiệp dựa trên đường biên giới trước năm 1967, với lãnh tụ Palestine Mahmoud Abbas. Bởi vì lúc đó cựu Tổng Thống Gorges W. Bush sắp mãn nhiệm mà ông Olmert thì cũng sắp phải rời ghế thủ tướng, ông muốn đưa một nhượng bộ chót để tiến tới một thỏa hiệp, may ra có thể được dân bầu trở lại! Ông Daniel Levy, một cựu nhân viên ngoại giao Israel, bênh vực ông Obama: “Trên căn bản, ông ấy chỉ muốn nói với chính phủ Israel rằng, 'Chúng tôi sẽ bảo vệ các anh đến cùng, nhưng nếu anh không đưa ra một cái gì để tiến tới hòa bình, thì nước Mỹ cũng không giúp gì được các anh hết!'”

Vậy tại sao ông Netanyahu lại tỏ ra giận dữ với một ông tổng thống Mỹ như thế? Vì bàn cờ chính trị trong nước ông. Ðây là một cơ hội để ông củng cố uy tín đối với đảng ông và các đảng liên minh trong chính phủ ông. Sau khi tỏ ra mình cứng rắn, dám đương đầu với một ông tổng thống đồng minh đang lên (sau vụ giết Osama bin Laden), chắc chắn ông Netanyhu khi trở về nước sẽ được hoan hô!

Nhưng ông Obama đi mua lấy cơn nhức đầu như vậy để làm gì?

Ai cũng biết rằng trong cuộc bầu cử sang năm, ông sẽ cần lá phiếu và tiền ủng hộ của người Mỹ gốc Do Thái. Nhiều người ủng hộ ông lo rằng sang năm người Mỹ gốc Do Thái sẽ bỏ rơi ông. Chuyện này có thể xẩy ra, mặc dù các cố vấn chính trị chung quanh ông rất nhiều người gốc Do Thái. Trước đây ông Obama đã từng nói những điều làm người Do Thái ở Mỹ bất bình rồi. Trong cuộc tranh cử năm 2008, ông Obama đã than, “Chưa dân tộc nào chịu thống khổ như người Palestine!” Chưa hết, lúc đó ông còn nói sẽ sẵn sàng nói chuyện với chính phủ Iran, không điều kiện tiên quyết! Mà ai cũng biết ông tổng thống Iran là người luôn miệng hô hào tiêu diệt nước Israel! Cuối cùng, năm đó có 78% cử tri gốc Do Thái bỏ phiếu cho ông Obama thay vì Nghị Sĩ John McCain.

Người ta sẽ chờ coi trong cuộc tranh cử năm 2012 vấn đề Israel và Palestine có trở thành một đề tài tranh cử hay không. Các nhà chính trị Mỹ sẽ còn phải đối phó với cơn nhức đầu 100 năm này trong nửa thế kỷ nữa, mà chưa chắc đã hết!

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Tướng Ratko Mladic bị bắt sau 16 năm truy lùng

BELGRAD, Serbia (Reuters) - Tướng Ratko Mladic, cựu tham mưu trưởng quân đội Cộng Hòa Srpska (tức là Bosnia dân Serb)
trong cuộc nội chiến Bosnia 1992-1995, sau 16 năm lẩn trốn, đã bị lực lượng an ninh Serbia bắt hôm Thứ Năm, 26 tháng 5, tại Lazarevo, Serbia.


Image
Cựu tư lệnh quân đội Bosnia dân Serb, Tướng Ratko Mladic, bị truy tố về tội ác chiến tranh. (Hình: AP)

Ông là người đã bị truy tầm gắt gao nhất ở Âu Châu với tội danh phạm nhân chiến tranh và giải thưởng được treo là $5 triệu cho ai cung cấp tin tức giúp việc bắt giữ.

Theo lời ông Marco Prelec, giám đốc chương trình Balkans thuộc cơ quan nghiên cứu những cuộc khủng hoảng quốc tế: “Trong quá khứ chính quyền Serbia vẫn tìm cách che chở cho Mladic nhưng ngày nay chế độ của Tổng Thống Tadic đã tích cực tối đa trong việc tầm nã. Vụ bắt giữ này là một thành công của Tổng Thống Tadic và của cả Châu Âu.” Ông nói tiếp: “Ðể có thể tiến tới, Serbia bắt buộc phải chịu nuốt một viên thuốc đắng.”

Thăm dò dư luận do nhật báo Vecernji ở Croatia thực hiện cho biết 51% dân Serb phản đối việc đưa Tướng Mladic ra trước tòa án và 40% vẫn coi ông là một anh hùng dân tộc.

Liên Hiệp Âu Châu (EU) đòi hỏi Serbia không những dẫn độ Mladic mà còn phải “hoàn toàn hợp tác” trong việc điều tra và xét xử. Ðiều này có thể đưa tới những nghi vấn phức tạp cần giải đáp như bằng cách gì Mladic đã có thể ẩn náu an toàn qua một thời gian dài như vậy tại một nơi chỉ cách thủ đô Belgrade 60 dặm.

Mladic là tư lệnh quân đội Bosnia dân Serb từ 1992 đến 1996 và bị tòa án quốc tế truy tố về 15 tội danh phạm nhân chiến tranh. Vụ tai tiếng nhất của ông là có trách nhiệm về hành động của quân đội dưới quyền đã tàn sát 8,000 dân Bosnia Hồi Giáo ở Srebrenica. Ngoài ra ông còn là người chỉ huy cuộc bao vây Sarajevo 1,400 ngày làm 10,000 thường dân chết và 50,000 người bị thương. Ông bị tố cáo là đã ra lệnh pháo kích vào thành phố để xua đuổi dân chúng chạy ra và sau đó phục kích nổ súng vào họ. (HC)

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Nhà tù Cali và bỏ phiếu ở New York

Ngô Nhân Dụng

Chính trị là việc lựa chọn. Những lựa chọn chung cho một đám đông cùng sống trong một nước, một tỉnh, hay một làng. Không phải chỉ là lựa chọn giữa thiện và ác, giữa cái tốt và cái xấu. Phần lớn các vấn đề chính trị là lựa chọn giữa nhiều thứ cùng tốt cả.

Thí dụ tiểu bang California nước Mỹ được lệnh của Tòa án Tối cao phải giảm bớt số tội phạm trong các nhà tù, vì họ đang sống chật chội quá. Tiểu bang phải chọn, hoặc xây thêm phòng cho tù nhân, hoặc phải thả họ ra.

Thẩm phán Tối cao Anthony Kennedy đã đưa ra quyết định trên nhân danh Hiến Pháp Mỹ và ông thống đốc California sẽ phải tuân theo lệnh quan tòa. Hiện nay các nhà giam ở California giữ 142,000 tù nhân. Ba vị quan tòa kháng án liên bang đã ra lệnh phải giảm xuống còn 110,000 trong hai năm tới, và bị kháng án lên tòa trên. Nay Tòa án Tối cao Liên bang chấp thuận quyết định của tòa dưới, yêu cầu tiểu bang phải giảm bớt trên 30,000 tù nhân; vì tình trạng nhà tù hiện nay thiếu những điều kiện tối thiểu để các tù nhân sống xứng đáng với phẩm giá con người mà bản Hiến Pháp Hoa Kỳ nói rõ ràng cần phải bảo vệ. Các Thẩm phán Tối cao đã được coi ba tấm hình cho thấy những cảnh trong nhà tù rất chật chội: Có nơi chưa đủ giường ngủ phải nhốt riêng một người tù trong cái chòi ổ chuột. Có nơi 200 tù nhân chỉ có vài người lính gác. Có tù nhân bị bệnh tâm thần đứng giữa bãi nước tiểu của mình. Ðối với người Mỹ, khi chính quyền để cho một người dân, dù là tội phạm, sống trong cảnh như vậy, là vi phạm Hiến Pháp.

Nhưng California không thể xây thêm nhà tù vì ngân sách đang thiếu hụt. Các chương trình cải huấn các can phạm cũng sẽ tốn tiền, có khi tốn hơn là giữ họ trong nhà tù. Có quận nào muốn lãnh thêm tù nhân về nhà giam nhỏ của mình không? Tiền đâu ra? Mỗi năm California chi tiêu khoảng 10 tỷ đô la trong việc giam giữ các tù nhân (trung bình giam mỗi người tù tốn trên 70,000 đô la một năm). Vậy thì phải thả họ ra sớm hơn? Người dân sẽ lo lắng nhà mất trộm, mất xe, an ninh không được bảo đảm!

Tại sao California nhiều người bị tù như vậy? Một phần vì luật lệ rất gắt gao. Mà luật gắt gao không phải vì nhà nước khó tính, mà vì dân chúng muốn như vậy. Thí dụ, dân California đã bỏ phiếu ủng hộ một đề án “Quá tam ba bận,” theo đó thì ai phạm tội đến lần thứ ba là nhốt luôn, không còn hy vọng ân xá nữa. Ý kiến này hay quá, nhiều tiểu bang đã bắt chước làm theo. Nhưng khi thi hành luật này thì một người phạm một tội nhỏ ba lần, thí dụ ăn cắp vặt hay bị bắt với một chút ma túy nhỏ, cũng có thể bị giam giữ suốt đời. Luật lệ tiểu bang về tạm tha cũng rất gắt gao, một vi phạm nhỏ trong thời gian “parole” là trở lại nhà tù chờ ngày xét xử lại.

Sự thể đưa tới tất câu chuyện này là do những lựa chọn của người dân California từ nhiều năm trước. Một mặt họ bỏ phiếu cho những luật lệ nghiêm khắc để ngăn ngừa tội phạm, đó là một ý kiến rất tốt. Ðồng thời, ai cũng muốn các tù nhân phải được đối xử như xứng đáng với phẩm giá con người, một ý rất tốt nữa. Ở một xứ tự do dân chủ người ta không thể đem hàng trăm ngàn người bỏ lên rừng mặc cho sống chết sao cũng được! Nhưng nếu bây giờ California muốn thực hiện cả hai thiện ý trên thì phải tăng thuế. Mà người dân ở đâu cũng vậy, ai cũng muốn giảm bớt gánh nặng thuế má, đó là một ý tốt khác. Khi lựa chọn giữa cái tốt và cái xấu, chúng ta nhờ đạo đức, tôn giáo chỉ đường. Nhưng ở đời chúng ta cũng hay phải lựa chọn giữa nhiều cái tốt như nhau; khi lựa chọn có tính chất tập thể thì gọi là chính trị!

Một biến cố chính trị khác mới diễn ra ở Mỹ cũng đặt ra trước người dân những lựa chọn khó khăn. Hôm Thứ Ba vừa rồi, bà Kathy Hochul (Dân Chủ) đã thắng bà Jane Corwin (Cộng Hòa) trong một cuộc bầu cử điền khuyết một ghế dân biểu trống ở đơn vị bầu cử số 26, tiểu bang New York (viết tắt là NY 26). Bà Kathy Hochul được 47.1% số phiếu, bà Jane Corwin được 42.5%, người về thứ ba là ông Jack Davis được 9.2% số phiếu, ông này trước thuộc đảng Dân Chủ năm nay ứng cử với tư cách “Ðảng Tiệc Trà,” Tea Party. Tin tức về cuộc bỏ phiếu này chắc không được quý vị chú ý lắm, nhưng đã gây một cơn sóng gió trên các diễn đàn chính trị. Vì đơn vị NY 26 trong 58 năm qua luôn luôn bầu cho các ứng cử viên Cộng Hòa. Các ông Tổng Thống Georges W. Bush, Nghị Sĩ John McCain đều đã được dân ở đây ủng hộ (năm 2008 McCain hơn Obama 6 điểm ở vùng này).

Nhưng lý do chính khiến mọi người bàn luận sôi nổi về cuộc bỏ phiếu nhỏ này là vì họ không đồng ý nó đang báo trước, hay sẽ ảnh hưởng đến cuộc bầu cử tổng thống và Quốc Hội sang năm như thế nào. Bên đảng Dân Chủ thì vui mừng tuyên bố là kết quả cuộc bỏ phiếu ở NY 26 chứng tỏ nhiều cử tri độc lập đang chống lại chính sách của đảng Cộng Hòa về vấn đề Medicare. Phía Cộng Hòa thì nhún vai vạch ra rằng ứng cử viên Davis thuộc Tea Party đã chiếm mất nhiều phiếu bảo thủ đáng lẽ đã bỏ cho bà Jane Corwin.

Chúng tôi sẽ không tham dự vào cuộc tranh luận trên mà chỉ muốn nêu ra một điểm lựa chọn căn bản trong đó. Sở dĩ vấn đề Medicare, y tế cho các người về hưu ở Mỹ, trở thành quan trọng trong cuộc bỏ phiếu này vì Hạ Viện Mỹ đã thông qua một bản ngân sách do Dân Biểu Paul Ryan đề nghị. Trong dự thảo ngân sách này, ông Paul Ryan chủ trương trong tương lai sẽ thay thế chương trình Medicare hiện nay, bằng cách phát cho mỗi người về hưu một số phiếu (vouchers) để trả các chi phí chữa bệnh. Ðây là một hình thức tư nhân hóa, vì mọi người có thể dùng vouchers trực tiếp trả cho các công ty bảo hiểm hoặc cung cấp dịch vụ y tế, không còn do chính phủ chi trả như hiện nay nữa. Bản ngân sách Paul Ryan cũng đề nghị giảm thuế cho những người giầu nhất nước Mỹ, từ 36% xuống 25%.

Dự thảo ngân sách Paul Ryan đã cẩn thận chỉ áp dụng sự thay đổi về Medicare cho những người từ 54 tuổi trở xuống mà thôi, để tránh cho các người đang hoặc sắp được hưởng Medicare không bị thay đổi. Nhưng trong dư luận người ta vẫn lo sợ, những người tuổi 40 cũng lo ngại. Bởi vì người ta không biết khi họ đến tuổi về hưu thì chi phí y tế ở Mỹ sẽ tăng lên như thế nào, và số tem phiếu mà chính phủ sẽ phát cho họ có tăng lên kịp với tốc độ của chi phí hay không. Vì biết ông Paul Ryan đang gây ra mối lo đó, nhiều lãnh tụ đảng Cộng Hòa cũng lên tiếng phản đối dự thảo ngân sách của ông, như Nghị Sĩ Scott Brown tiểu bang Massachusetts, và ông Newt Gingrich, cựu chủ tịch Hạ Viện và có thể sẽ tranh cử tổng thống sang năm.

Tại đơn vị NY 26, bà Jane Corwin đã ủng hộ Dự thảo ngân sách Paul Ryan, trong khi bà Kathy Hochul thì kịch liệt chống lại, và nêu vấn đề Medicare làm đề tài tranh cử chính. Trong đơn vị này, cứ 4 cử tri độc lập thì có một người coi vấn đề Medicare là yếu tố quyết định việc bỏ phiếu. Ðảng Cộng Hòa đã nhìn thấy mối nguy bị thua trong đơn vị trung thành cố hữu này, đã giúp 400 ngàn đô la cho quỹ tranh cử của bà Corwin. Tổ chức chính trị của ông Karl Rove, cố vấn chính trị của Tổng Thống Bush đã góp thêm 700 ngàn đô la. Nhưng cuối cùng bà Jane Corwin đã thua. Sau đó 2 ngày, Thượng Viện Mỹ đã bác bỏ Dự thảo ngân sách của Hạ Viện với số phiếu 57-40. Một số nghị sĩ Cộng Hòa đã bỏ phiếu giống các đồng viện Dân Chủ, như các bà Olympia Snowe và Susan Collins, tiểu bang Maine, Scott Brown của Massachusetts và Lisa Murkowski thuộc Alaska, một người đã bị bà Sarah Palin chống nhưng vẫn đắc cử.

Chúng tôi không bàn về những đề nghị thay đổi của ông Paul Ryan về Medicare mà chỉ chú ý đến vai trò của nó trên kết quả cuộc bầu cử ở đơn vị NY 26. Rõ ràng, nếu không có Ngân sách Ryan thì chưa chắc đảng Dân Chủ đã thắng ở đó. Cử tri tại NY 26 đứng trước một lựa chọn: có muốn thay đổi chương trình Medicare theo đề nghị của Ngân sách Paul Ryan hay không?

Nhưng nói như vậy là quá giản dị. Bởi vì các đề nghị của Ngân sách Paul Ryan có những lý do sâu xa, không thể chỉ tóm tắt trong một câu được. Chương trình Medicare sẽ phá sản nếu cứ tiếp tục chi tiêu như tốc độ hiện nay, thế nào cũng phải thay đổi. Ngân sách Paul Ryan có một thiếu sót là không bảo đảm các tem phiếu y tế phát cho người về hưu đuổi theo kịp chi phí y tế leo thang; cũng không đưa ra những biện pháp để giảm tốc độ các chi phí đó. Ðưa ra một biện pháp làm giới trung lưu lo sợ sẽ bị thiệt hại trong khi lại muốn bớt thuế cho giới giầu có, đó cũng là một điều khiến nhiều cử tri bất bình. Nhưng cuối cùng, nước Mỹ sẽ phải đối diện với vấn đề chương trình Medicare (cùng nhiều chương trình khác như An Sinh Xã hội, MediCal-Medicaid, vân vân). Bảo vệ sức khỏe và lợi tức của người về hưu, đó là một bổn phận của cả xã hội. Nhưng làm cách nào thực hiện được điều đó trong khi không ai muốn tăng thuế? Một mặt dân Mỹ muốn thu nhỏ vai trò của chính phủ lại để bớt phải đóng thuế, mặt khác lại muốn chính phủ phải lo bảo vệ những người già và người yếu kém. Cử tri bỏ phiếu ở đơn vị NY 26, cũng như Thượng Viện Mỹ, chỉ trì hoãn chưa thay đổi chương trình Medicare, chứ không giải quyết gì cả trong những lựa chọn lớn như trên!

Cũng như các cử tri ở California trong mấy chục năm qua. Họ biết có vấn đề các nhà tù chật chội, nhưng vẫn muốn luật pháp phải nghiêm khắc để bảo vệ an toàn cho đời sống. Bây giờ Tòa án Tối cao đã ra lệnh tiểu bang phải giải quyết.

Cuối cùng, các vấn đề chính trị trên đều đặt ra trên những lựa chọn tập thể. Tăng thuế hay không? Bảo vệ sức khỏe người già như thế nào? Ai sẽ đóng góp, cho ai hưởng? Mọi vấn đề chính trị đều là những lựa chọn kiểu đó. Ở các nước tự do dân chủ thì chính người dân đứng ra lựa chọn, qua lá phiếu. Chúng ta biết lựa chọn nào cũng có thể lầm lẫn, hoặc có thể đúng trong một thời gian rồi lại sai khi hoàn cảnh thay đổi, kể cả những lựa chọn tập thể. Vì thế chế độ dân chủ tự do đặt ra những “luật chơi” cho việc lựa chọn tập thể; nếu có sai thì tất cả cùng chịu trách nhiệm. Dù sao cũng hơn là phải sống trong chế độ độc tài, mọi lựa chọn đều do một nhóm người quyết định, không một người dân nào được quyền tham dự.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Ðiểm mặt các ngôi sao đảng Cộng Hòa

Philip Elliott & April Castro/AP
Chuyển ngữ: Văn Giang/Người Việt


WASHINGTON (AP) - Cuộc vận động để đại diện đảng Cộng Hòa tranh cử năm 2012 để lật Tổng Thống Barack Obama hiện chưa ngã ngũ nhưng đột nhiên sôi động hẳn lên.

Image
Cựu Thống Ðốc Mitt Romney tiểu bang Massachussetts trở ra xe sau buổi nói chuyện tại Des Moines, Iowa hôm Thứ Sáu.
Với đương kim Thống Ðốc Texas Rick Perry lấp ló muốn tranh cử tổng thống, chính trường đảng Cộng Hòa đang im ắng bỗng náo nhiệt hẳn lên.
(Hình: AP Photo/Charlie Neibergall)

Sau nhiều tháng bác bỏ các lời kêu gọi tham gia vào cuộc vận động, thống đốc tiểu bang Texas, ông Rick Perry, hôm Thứ Sáu nói rằng ông sẽ xem xét điều này. Quyết định của ông Perry có thể làm thay đổi cục diện các ứng viên phía Cộng Hòa vì nay có sự tham dự của một đương kim thống đốc, người chưa hề thua một cuộc bầu cử nào.


Cựu thống đốc Alaska, bà Sarah Palin, cũng làm chấn động các giới chức trong đảng Cộng Hòa với lời tuyên bố sẽ có một chuyến đi “thăm dân cho biết sự tình” bằng xe buýt dọc theo bờ biển miền Ðông. Bà là người mới nhất trong số những người có thể ra tranh cử sau khi Thống Ðốc Mitch Daniels của tiểu bang Indiana loan báo cuối tuần qua rằng ông sẽ không tham dự vào cuộc vận động.

Và cựu thị trưởng thành phố New York, ông Rudy Giuliani, hiện cũng đang dự trù đến tiểu bang New Hampshire tuần tới, tạo thêm các lời đồn đại cho rằng ông sẽ bước vào vòng tranh cử.

Ông Perry, hiện là thống đốc tại chức lâu năm nhất trong lịch sử tiểu bang Texas, sẽ mang đến một lập trường bảo thủ vững chắc, một bộ máy vận động tài chánh vững vàng và một tiếng nói mới. Ngay cả trong khi các cố vấn thân cận cho hay ông không có ý định tham gia tranh cử, Thống Ðốc Perry đã thấy xuất hiện ở nhiều nơi, tạo thêm tin đồn là ông sẽ vào cuộc.

“Tôi sẽ nghĩ về việc này,” ông Perry cho hay hôm Thứ Sáu. “Tôi cần phải nghĩ về rất nhiều điều.”

Chỉ một lời tuyên bố đó thôi cũng đủ tạo nên các tin đồn cho rằng ông sẽ bước vào cuộc vận động hiện đang thiếu một nhân vật có thế vượt trội. Cánh bảo thủ xã hội trong đảng Cộng Hòa hiện vẫn chưa tìm ra ứng viên ưng ý. Các nhân vật tranh đấu trong phong trào Tea Party chưa có người của mình. Thành phần thế lực lâu năm trong đảng Cộng Hòa hiện vẫn chưa đồng ý được với nhau về ai sẽ là người đại diện đảng.

Ông Mitt Romney, cựu thống đốc tiểu bang Massachusetts, có vẻ là người sáng giá nhất hiện nay. Cũng giống như ông Giuliani, ông ra tranh cử để đại diện đảng năm 2008 nhưng thua nghị sĩ tiểu bang Arizona John McCain.

Ông Romney sẽ chính thức khai mạc cuộc vận động tranh cử của ông tại tiểu bang New Hampshire vào Thứ Năm tuần tới, cùng ngày ông Giuliani dự trù đến để tham dự một cuộc gây quỹ cho đảng bộ Cộng Hòa tại tiểu bang và dùng bữa trưa với một số giới chức Cộng Hòa. (V.Giang)


Dưới đây là một số những nhân vật được cho là (hoặc đang được đảng viên Cộng Hòa hy vọng là) sẽ ra tranh cử tổng thống năm 2012.


Cựu Thống Ðốc Sarah Palin tiểu bang Alaska, từng là ứng cử viên phó tổng thống năm 2008: Gần như chắc chắn sẽ tranh cử, hiện đang chuẩn bị cho một vòng vận động suốt dọc miền Ðông Hoa Kỳ.

Cựu Thống Ðốc Mitt Romney tiểu bang Massachusetts, từng tranh cử năm 2008: Sẽ chính thức loan báo tranh cử tại New Hampshire tuần tới. New Hampshire là tiểu bang có cuộc bầu cử sơ bộ đầu tiên. Thống Ðốc Romney từng thông qua cuộc cải tổ bảo hiểm y tế tại tiểu bang Massachussetts nhưng nay bị cho là làm như vậy là giống cải tổ của Tổng Thống Obama.
Cựu Thị Trưởng New York Rudy Giuliani, người từng được xem là anh hùng của thành phố này sau vụ 11 tháng 9, từng tranh cử năm 2008.

Cựu Thống Ðốc Utah Jon Huntsman, một chuyên gia ngoại thương. Ông được Tổng Thống Obama cử làm đại sứ Hoa Kỳ tại Trung Quốc năm 2009, và rời chức vụ này năm 2011. Trước đó, ông từng là đại sứ trẻ nhất của nước Mỹ trong 100 năm, phục vụ tại Singapore.

Cựu Chủ Tịch Hạ Viện Newt Gingrich, người giành lại phần đa số cho đảng Cộng Hòa tại Hạ Viện năm 1994 sau 40 năm trong tay đảng Dân Chủ. Tuy nhiên, đời tư ông Gingrich với hai lần ly dị làm giới Thiên Chúa Giáo bảo thủ không vừa lòng.

Thống Ðốc Texas Rick Perry, tuy chưa tuyên bố chính thức, nhưng mới đây nói với báo chí ông “sẽ suy nghĩ về việc này,” làm sôi nổi chính trường đảng Cộng Hòa. Nếu tranh cử, ông sẽ là ứng cử viên duy nhất đang tại chức trong chính quyền, khác với một loạt các “cựu” viên chức.

Một số nhân vật sáng giá khác tuyên bố sẽ không tranh cử: Thống Ðốc Indiana Mitch Daniels, Thống Ðốc Mississippi Haley Barbour, và tỷ phú Donald Trump.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

MỘT MẦM “GORBACHEV VIỆT NAM” BỊ DIỆT
Cách hành xử của đảng CSVN đối với ông Trần Xuân Bách làm cho hầu hết những ai quan tâm đến chính trường không khỏi sững sờ. Giáo sư Carl Thayer – một chuyên gia Úc uyên thâm về nền chính trị Việt Nam hiện đại – trong buổi phỏng vấn của đài BBC, khi được hỏi: “Ông có ngạc nhiên trước cách thức người ta đối xử với ông Bách hay không? Từ một lãnh đạo cao cấp, sau đó bị đưa ra ngoài rìa mà chẳng có sự giải thích gì cả?”, đã nói:

“Điều làm cho nhiều người giật mình khi đọc qua thông cáo của Đảng thì ông này bị cách chức và sa thải ngay lập tức. Tuy nhiên nếu nhìn lại có lẽ chúng ta không thấy ngạc nhiên vì cũng có một số nhân vật lãnh đạo khác tại Việt Nam như Võ Nguyên Giáp và Nguyễn Cơ Thạch cũng đã bị cho về vườn theo kiểu như vậy” .

Trường hợp tướng Võ Nguyên Giáp ( 1 ), dư luận cho rằng ông bị Lê Duẩn “triệt hạ” để loại bỏ một người mà uy tín và tài năng có thể lấn át mình. Đây là một nỗi éo le đau đớn, làm ảnh hưởng xấu đến cách mạng Việt Nam ( 2 ).

Trần Xuân Bách thì bị sát thủ Đào Duy Tùng cầm đầu bọn giáo điều, thần phục Trung Quốc phang đòn chí mạng ( 3 ).

Không thể không khinh bỉ, căm giận bọn gian thần. Hãy bình tâm thẩm xét lại để thấy: Trần Xuân Bách không những không chống ĐCSVN mà không chống chủ nghĩa Marx, không chống chủ nghĩa xã hội, cũng chưa hề đòi đa đảng.

Chẳng những thế, ông thành kính tạ tội: “Ta phải nhận lỗi trước Mác vì đã làm méo mó chủ nghĩa Mác”. Ông viết: “Lịch sử đang thay đổi mạnh. Mác trao cho chúng ta vũ khí biện chứng duy vật và biện chứng lịch sử, chớ không phải trao ta Kinh Thánh! Việc vận dụng những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản phải căn cứ vào hoàn cảnh lịch sử đương thời như Mác nói."

Mác sống thời chủ nghĩa tư bản cổ điển, ngày nay là chủ nghĩa tư bản hiện đại, có nhiều cái khác với thời Mác. Ngay thời Lê-nin, khi đề ra chính sách kinh tế mới (NEP), cũng đã đổi khác. Phải có tư duy khoa học. Tụng từng câu “Kinh Thánh“ trong sách Mác không bảo vệ được chủ nghĩa Mác đâu” ( 4 ).

Ông tìm cách cứu chủ nghĩa xã hội và tìm đường xây dựng một thứ CNXH hiện đại, nhân ái: “Cho đến nay ta thấy có nhiều kiểu chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa xã hội kiểu Staline, chủ nghĩa xã hội kiểu Mao Trạch Đông, kiểu Pôn Pốt. Bây giờ đang có nhiều ý kiến khác nhau về chủ nghĩa xã hội. Những dòng ý kiến khác nhau là quá trình trưởng thành, không sợ gì cả. Ở Liên Xô, người ta đang tranh luận Liên Xô ở vào thời kỳ nào của chủ nghĩa xã hội, và khái niệm chủ nghĩa xã hội phát triển bị bác bỏ vì nó được dùng để che đậy cho tình trạng trì trệ.
Vấn đề của mọi vấn đề hiện nay là tư duy khoa học. Đại hội 6 đã khởi động theo hướng này và phải tiếp tục hoàn thiện thêm. Đại hội 6 đúc kết bốn bài học có tính lý luận, tuy mới ở dạng sơ chế, lấy dân làm gốc, nắm vững quy luật khách quan, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Đảng phải ngang tầm nhiệm vụ lịch sử. Bản thân Đảng phải trở thành trí tuệ tiên phong của cả dân tộc, muốn thế phải có lý luận tiên phong.
Những gì đang diễn ra ở thế giới chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa là tất yếu khách quan, là sự phát triển tiến bộ, là thời kỳ thai nghén chủ nghĩa xã hội đích thực (dân chủ, khoa học, nhân đạo, hiện đại)” ( 4 ).

Ông hướng theo con đường cải tổ của Gorbachev: “Ở Liên Xô, Gocbachốp coi cải tổ là cuộc cách mạng với các thành phần và các nhân tố khác nhau, đan xen nhau, thống nhất với nhau và độ dài của cải tổ có thể là hàng chục năm. Đồng chí Gocbachốp nêu lên ba vấn đề chính của cải tổ dân chủ hóa, hạch toán kinh tế và cải tổ Đảng, cải tổ để có chủ nghĩa xã hội nhiều hơn. Đặt vấn đề như vậy là đúng chứ không sai. Kinh tế Liên Xô năm 1989 phát triển chậm. Nhưng theo Rưgiơcốp, mặc dù căng thẳng, song không thể quay lại con đường cũ, vì đó là ngõ cụt. Năm 1989 là năm khó khăn nhất của Liên Xô, nhưng rồi sẽ trở lại bình thường. Liên Xô rất thận trọng trong vấn đề xử lý giá và tỉ giá, vì đây là một nước rất lớn” ( 4 ).

Và nghi ngờ tư duy bảo thủ, giáo điều của Trung Quốc: ”Ở Trung Quốc, Giang Trạch Dân đọc diễn văn coi là đã giải quyết được cơ bản vấn đề ăn no mặc ấm. Tôi rất nghi ngờ điều đó, Giang lại nêu lên độc lập tự chủ, tự lực cánh sinh, kế hoạch hóa tập trung và tư tưởng Mao Trạch Đông. Cuộc cải cách của Trung quốc như vậy là đi theo chu kỳ vòng tròn, không phải theo đường xoáy trôn ốc. Sau vụ đàn áp Thiên An Môn, Trung Quốc không tuyên truyền về cải tổ ở Liên Xô nữa” ( 4 ).
Tội lớn của Trần Xuân Bách đối với Đảng chỉ là do ông đã hô hào phải đổi mới chính trị:

“ …vấn đề quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là thế nào? Có nước tự cho mình không cần đổi mới, đã bị bục vỡ. Có nước coi đổi mới kinh tế phải làm nhanh, còn đổi mới chính trị thì chầm chậm cũng bục chuyện. Có nước chỉ đổi mới kinh tế, không đổi mới chính trị, đã bục to. Có nước làm cả hai, nhưng không nhịp nhàng, gặp khó khăn. Hai lãnh vực này phải nhịp nhàng, không chân trước chân sau, không tấp tểnh đi một chân” ( 4 ).

“Vấn đề đặt ra lúc này là phải đổi mới đồng bộ, tổng thể, cả cơ chế kinh tế lẫn cơ chế chính trị. Hai vấn đề chủ yếu của cơ chế kinh tế là vấn đề sở hữu và vấn đề thị trường (luận đề: Kế hoạch nằm trong chứ không nằm ngoài và đứng trên thị trường). Hai vấn đề chính của cơ chế chính trị là: quản lý nhà nước và quản lý kinh doanh, vai trò lãnh đạo của Đảng và quyền lực của nhân dân (luận đề: Đảng nằm trong chứ không nằm ngoài và đứng trên xã hội )” ( 4 ).

Tội càng nặng hơn khi ông cổ súy dân chủ rất mạnh mẽ:

“Dân chủ không phải là ban ơn, không phải là mở rộng dân chủ (mở rộng). Đó là quyền của dân, với tư cách là người làm nên lịch sử, không phải là ban phát, do tấm lòng của người lãnh đạo này hay người lãnh đạo kia. Thực chất của dân chủ hóa là khơi động trí tuệ của toàn dân tộc để tháo gỡ khó khăn và đưa đất nước đi lên kịp thời đại” ( 4 ).

Ông đòi phải để nhân dân tham gia quyết đinh vận mệnh dân tộc, chứ không chỉ mình ĐCSVN:

“Chỉ còn 10 năm nữa là bước sang thế kỷ XXI, dân tộc nào bị tụt hậu vào giữa thế kỷ XXI là nguy hiểm vô cùng, vì đây là thời đại của cách mạng khoa học kỹ thuật, của bùng nổ thông tin và giao lưu quốc tế.

Xử lý vấn đề này không thể một nhóm, một người nào làm được. Cả dân tộc phải chuẩn bị và làm công việc này” ( 4 ).

Bài viết này thắp một nén hương thơm kính viếng hương hồn ông nhân tưởng niệm 87 năm sinh của ông vì lẽ đó.

Trần Xuân Bách tên thật là Vũ Thiện Tuấn, sinh ngày 23 tháng 5 năm 1924 tại xã Nam Ninh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định ( ông cùng tuổi Tý nhưng hơn tôi một giáp), đã từng giữ các chức vụ: Phó Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình, Giám đốc Công an Khu III, Chánh Văn phòng Liên khu ủy III, Bí thư Tỉnh ủy các tỉnh: Nam Định, Sơn Tây, Nam Hà, Trưởng Ban Tôn giáo vận Trung ương, Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng. Trong chiến dịch tấn công Campuchia năm 1979 ông tham gia Bộ chỉ huy tối cao với tư cách là Phó Chính ủy, sau đó ông ở lại làm trưởng Ban B68 của Đảng Cộng sản Việt Nam, chỉ đạo bộ máy hành chính của Campuchia.

Ông là Bí thư Trung ương Đảng từ khóa V (1982). Tại Đại hội VI (1986), ông được bầu làm ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng và được giao nhiệm vụ nghiên cứu về lý luận.
Do lâm bệnh nặng, ông đã mất hồi 15 giờ 34 phút, ngày 1 tháng 1 năm 2006. Thọ 82 tuổi.

Trong tang lễ, Hà Sỹ Phu đã viếng đôi câu đối:
° Đường XUÂN đã hướng đa nguyên, sao để ước mơ về Chín suối?°
Chiếc BÁCH giữa dòng đơn độc, âu đành duyên nợ với Ba sinh!

Có một thời, Trần Xuân Bách làm bí thư tỉnh ủy Hà Nam Ninh (gồm ba tỉnh ghép lại: Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình). Với hai giáo phận nổi tiếng: Bùi Chu ở Nam Định và Phát Diệm ở Ninh Bình, cùng với những giáo xứ trải dài ở các huyện duyên hải: Kim Sơn, Vụ Bản, Nghĩa Hưng, Hải Hậu, Xuân Trường, Giao Thủy, vùng đất này được mệnh danh là thủ đô của công giáo miền Bắc.

Lúc đó sự xung đột giữa công giáo và chính quyền xảy ra thường xuyên ở khắp nơi. Nhưng riêng ở Hà Nam Ninh, dưới sự lãnh đạo mềm mỏng, khôn khéo, và khoáng đạt của Trần Xuân Bách, đường làm ăn tương đối thông thoáng, giá trị tinh thần của các tôn giáo tương đối được tôn trọng hơn các nơi khác nên không có cuộc va chạm đáng tiếc nào xẩy ra.
Trình độ của ông nổi trội hơn hẳn đại đa số ủy viên Bộ Chính trị và Ban Bí thư cùng nhiệm kỳ. Ngay thời đó, vợ tôi trong cương vị Chánh Văn phòng Trung ương Liên hiệp Hội Phụ nữ Việt Nam, sau các buổi giao ban ở Trung ương về đã đánh giá cao và rất ca ngợi Trần Xuân Bách.

Ông có tiếng là giản dị, trong sạch, thành thạo tiếng Anh, tiếng Pháp và rất tôn trọng trí thức.
Năm 1987, trong không khí hồ hởi của Đổi mới, tôi gửi một bản kiến nghị 12 điểm lên một số nhà lãnh đạo (Nguyễn Văn Linh, Trần Xuân Bách, Võ văn Kiệt, Võ Chí Công, Phạm Thế Duyệt, Nguyễn Khánh). Thư hồi âm duy nhất tôi nhận được là của Trần Xuân Bách. Cuối 1999, người dẫn tôi đến nhà Trần Xuân Bách lần đầu là lão thành cách mạng Phạm Hiện, người đã từng là cận thần của Trần Xuân Bách trong cương vị Chánh Văn phòng Ban B68 của Đảng tại Campuchia. Từ bấy có thể nói chúng tôi đã trở nên khá thân thiết. Trần Xuân Bách cùng phu nhân đã từng nhận lời mời đến ăn cơm ở nhà tôi. Khi nhạc phụ Trần Xuân Bách qua đời, tôi có được báo tin và đã cùng Trần Dũng Tiến sang tận Gia Lâm dự tang lễ. Mỗi khi tôi đến nhà, Trần Xuân Bách thường ngồi sát vào tôi (ông hơi nặng tai). Một đôi khi tôi quá sôi nổi, ông nắm tay tôi rất nhẹ. Cho đến giờ tôi vẫn không khẳng định được đấy là cử chỉ tán thưởng hay sự nhắc nhở cần chừng mực. Có điều là hôm nào ông cũng tiễn tôi ra tận cổng. Có lần còn níu tôi lại, đi một vòng quanh sân để nói chuyện thêm. Thỉnh thoảng ông gửi đến tôi một bài thơ mời họa, qua bưu điện; phong bì do ông cắt dán cầu kỳ, tẩn mẩn.

Cuối 1989, trong quá trình chuẩn bị Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam Trần Xuân Bách tập hợp một nhóm nghiên cứu gồm 5 người: Lê Hồng Tâm, nhà kinh tế, tên thật là Phó Bá Doanh, em ruột của giáo sư Phó Bá Long (Ông Phó Bá Long trước 1975 là Hiệu trưởng Trường Chình trị Kinh doanh, Đại học Đà Lạt, sau là giáo sư Đại học Georges Town, Hoa Kỳ); Vũ Cao Đàm, viện trưởng Viện nghiên cứu Chính sách thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ; Bùi Thế Vĩnh, viện trưởng Viện Hành Chính học, Học viện Hành chính Quốc gia; Nguyễn Mạnh Tôn, chuyên viên Ngân hàng Ngoại thương và Nguyễn Thanh Sơn, chuyên viên Ban Công nghiệp Trung ương ĐCSVN.

Từ những kết quả tư vấn của nhóm này, ông đã rút ra những kết luận cơ bản:

Một là, cần mạnh dạn thực hành chính sách kinh tế theo kiểu chính sách kinh tế mới của Lênin, và gọi tên là “kinh tế thị trường”, với sự tham gia của mọi thành phần xã hội;


Hai là, theo kinh tế quyết định luận của Marx, đã đa thành phần kinh tế, tức là “đa nguyên kinh tế”, thì tất yếu sẽ dẫn đến “đa thành phần” trong xu hướng chính trị, tức là “đa nguyên chính trị”.


Ba là, khẳng định rằng: “Thị trường và đa nguyên là những thành tựu nổi bật của nhân loại”.


Bốn là, cần quan tâm thực sự đến vấn đề hàn gắn vết thương dân tộc. Đấu tranh cho công bằng xã hội là lý tưởng cao cả của người Cộng sản, nhưng đáng tiếc, cải cách ruộng đất và cải tạo tư sản lại là hai cuộc vận động đã mắc những sai lầm dẫn tới sự chia rẽ dân tộc lớn nhất trong lịch sử nước nhà.


Năm nhà nghiên cứu này về sau đã ghi lại những ấn tượng rất tốt đẹp trong bài viết “ Ông Trần Xuân Bách – Một tấm lòng son”:

“Trong suốt những ngày làm việc với anh Bách, chúng tôi học được ở anh tấm gương làm việc nghiêm túc. Anh đọc và trao đổi ý kiến rất tỉ mỉ về tất cả những công trình của các nhà nghiên cứu trong nước và ngoài nước mà chúng tôi giúp anh sưu tầm. Anh rất thích những tài liệu nguyên gốc bằng tiếng Pháp … Anh luôn luôn tự viết tất cả những bài anh cần phát biểu trên các diễn đàn.

… Tuy là những người có nhiều cơ hội làm việc với các nhà lãnh đạo, nhưng chúng tôi vẫn không khỏi ngỡ ngàng vì cách làm việc của anh: khi anh cần gặp riêng một người nào đó trong chúng tôi, anh hầu như không cho thư ký gọi chúng tôi lên văn phòng, mà chính anh đến tận nơi chúng tôi làm việc, với chiếc xe Peugeot 404 đã cũ, không có bảo vệ và cần vụ đi cùng (cần vụ là cách gọi những người phục vụ sinh hoạt cho các nhà lãnh đạo), mặc dầu khi đó anh đã là nhà lãnh đạo rất cao cấp của ĐCSVN. Những lần làm việc như thế, thường khi anh ngồi riêng với chúng tôi cả buổi, cũng không có thư ký, không có bảo vệ và cần vụ, chỉ một mình anh. Có lần ngồi quá trưa, chúng tôi lo anh đói, hỏi anh có muốn ăn chút gì không, và anh đã rất hào hứng ăn nắm xôi gói lá dong riềng mà các chị trong cơ quan chúng tôi ra phố mua ở các quán bán xôi dành cho dân nghèo.

… Trong số những kỷ niệm còn lưu đọng mãi trong chúng tôi, là hồi tết nguyên đán năm 1990, anh chị mời chúng tôi đến biệt thự mà anh chị được Văn phòng Trung ương Đảng bố trí trên phố Phan Đình Phùng (thời Pháp có tên là phố Carnot, một trong những phố đẹp nhất của Hà Nội hiện nay). Chúng tôi vô cùng sững sờ: Trong căn biệt thự sang trọng, chúng tôi nhận ra toàn một loại đồ gỗ tồi tàn, mà thời đó được gọi là bàn ghế “tài chính”, tủ “tài chính”, giường “tài chính”, nghĩa là những đồ gỗ do Bộ Tài chính đóng hàng loạt bằng gỗ tạp để phân phát đồng loạt cho cán bộ nhà nước các cấp từ khi vào tiếp quản các thành phố lớn, năm 1954. Chúng tôi nhìn quanh bàn làm việc của anh, thấy dán chi chít những bài thơ mộc mạc với nét chữ nắn nót mực tím của các cháu viết tặng bố mẹ. Chúng tôi được anh chị tiếp đón với những món mứt đơn sơ truyền thống, nhưng thật ấm áp như những người trong nhà. Tuy là vợ một nhà lãnh đạo cao cấp, nhưng chị xử sự thật khiêm nhường, chị giản dị xưng “em” với chúng tôi, không thể hiện chút gì là cao xa theo kiểu các mệnh phụ phu nhân”.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image

Tàu cộng hăm doạ đánh Việt Nam
Mời các Anh Chị đọc bài dưới đây trên mạng "Trung Quốc Binh khí Đại toàn", . Toàn lời lẽ khích động, hô hào chuẩn bị chiến tranh với VN.


Quần đảo Nam Sa (Việt Nam gọi là Trường Sa) vốn dĩ là chuỗi ngọc trai lấp lánh của đất mẹ Trung Hoa, nhưng lại bị nhiều kẻ trộm cắp, muốn chiếm đoạt, giành giật, việc này chỉ làm phân tán đi ánh hào quang của chuỗi ngọc trai mà thôi. Trong số các đảo bị các nước chiếm đoạt, bọn Việt Nam kiêu ngạo, vong ơn bội nghĩa đã ráo riết chiếm đóng quần đảo với số lượng nhiều nhất.
Nghĩ lại mà xem, Việt Nam vốn xưa là phiên thuộc của nước ta. Năm 1885, theo Thỏa ước Pháp – Thanh, Việt Nam đã bị nhượng lại cho Pháp, dần trở thành thuộc địa của Pháp. Sau hai cuộc chiến tranh, Trung Quốc đã giúp Việt Nam đánh đuổi thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, hai miền Nam Bắc đã được thống nhất. Nhưng thật không ngờ bọn Việt Nam không những không biết ơn Trung Quốc, mà trái lại đã lấy oán báo ân, tự vỗ ngực xem mình là nước có tiềm lực quân sự lớn thứ ba thế giới, liên tiếp khiêu khích Trung Quốc. Mặc dù qua hai bài học, là cuộc chiến tranh biên giới Trung – Việt và chiến tranh Bãi đá ngầm, nhưng Việt Nam vẫn không nhận ra được bài học, càng ra sức chiếm đoạt nhiều đảo hơn.
Do bọn Việt Nam bắt tay thực hiện khai thác đảo sớm nên điều kiện chiếm cứ thuận lợi hơn, hơn nữa lại có nguồn nước ngọt nên bọn chúng có thể thi công trên đảo, xây dựng sân bay, kiến tạo hạ tầng kỹ thuật thông tin di động, di dân ra đảo, tổ chức du lịch quốc tế, thiết lập phân chia ranh giới khu hành chính cấp huyện hòng vĩnh cửu hóa, thực tế hóa, quốc tế hóa, hợp pháp hóa hành vi bá chiếm. Tiếp đó các nước khác cũng lần lượt theo đuôi Việt Nam, như Philipin, Malaysia, Indonesia, Bruney… xâu xé vùng biển Nam Sa của Trung Quốc, xây dựng căn cứ quân sự hoặc khoan dầu mỏ. Tất cả bọn chúng đều không coi Trung Quốc ra gì.
Các nước xung quanh xâm chiếm quần đảo Nam Sa đúng vào thời kỳ đất nước Trung Quốc chúng ta tiến hành cải cách mở cửa, thực hiện chiến lược đối ngoại hòa bình, tập trung xây dựng kinh tế trong nước, duy trì hòa bình phát triển với bên ngoài. Cùng là những nước đang phát triển đáng ra Việt Nam và các nước lân cận phải có thiện ý giải quyết hài hòa những tranh chấp. Đất nước chúng ta đề xướng ra mục tiêu “gác lại chiến tranh, cùng nhau phát triển”.
Tuy nhiên, 30 năm qua, lòng tốt của chúng ta lại không hề được báo đáp, mà trái lại các nước còn không ngừng tăng cường lấn chiếm khu vực biển của nước ta, ngang nhiên chiếm lãnh hải, lãnh thổ nước ta. Không khó khăn lắm, chúng ta cũng có thể nhận ra rằng, lòng tốt của chúng ta không được báo đáp tử tế; danh dự, lãnh thổ và lãnh hải quốc gia nếu chỉ dựa vào giao thiệp hòa bình thì khó mà giữ gìn, bảo vệ được. Ủy ban thềm lục địa của Liên Hiệp Quốc quy định, 12/5/2009 là kỳ hạn cuối cùng cho các quốc gia có liên quan phải hoàn thành việc gửi những bản giải trình các luận cứ khoa học về chủ quyền thềm lục địa và khu kinh tế đặc quyền.
Tình hình phát triển còn làm phức tạp hóa vấn đề, sự xoay chuyển của thời gian sẽ làm cho chúng ta càng thêm bất lợi, nếu cứ tiếp tục kéo dài sự khoan dung của chúng ta thì kẻ khác sẽ cho rằng chúng ta đã chấp nhận, bằng lòng với việc đó. Vì thế, biện pháp có hiệu quả là phải dùng lực lượng quân sự chiếm đoạt lại Nam Sa, và phải đưa việc này vào chương trình nghị sự.
Chúng ta phải thấy một thực tế rằng, mức độ xâm phạm của các nước có liên quan đối với lợi ích của nước ta là khác nhau, do điều kiện môi trường và địa vị quốc tế khác nhau nên sẽ có những phản ứng khác nhau đối với hoạt động quân sự của nước ta, vì vậy mà chúng ta cần phải có những cách đối xử khác nhau, giải quyết tốt những mâu thuẫn chủ yếu, thúc đẩy giải quyết những mâu thuẫn thứ yếu. Không còn nghi ngờ gì nữa, mục tiêu tấn công chủ yếu của chúng ta phải là Việt Nam.
Chúng ta có đầy đủ lý do để tấn công Việt Nam, Việt Nam cũng có đầy đủ điều kiện để trở thành vật tế của trận chiến thu hồi Nam Sa:
1. Việt Nam xâm chiếm nhiều đảo nhất, có nguy hại lớn nhất, hơn nữa có thái độ kiêu ngạo nhất, ảnh hưởng xấu nhất. Trước tiên ta thu hồi lại những đảo mà Việt Nam chiếm đóng là có thể thu hồi lại hầu hết các đảo bị chiếm, khống chế được toàn bộ. Lấy gương xua đuổi thành công quân Việt Nam để răn đe các nước khác buộc chúng phải tự mình rút lui.
2. Trước đây, Việt Nam đã nhất nhất thừa nhận Tây Sa và Nam Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Những bài phát biểu của các quan chức, bản đồ quân sự, tài liệu địa lý đều là những bằng chứng xác thực, cho đến sau khi thống nhất đất nước thì Việt Nam có những thái độ bất thường, có yêu cầu về lãnh thổ lãnh hải đối với Tây Sa và Nam Sa. Việt Nam ngấm ngầm thọc lưng Trung Quốc, tiền hậu bất nhất, đã làm mất đi cái đạo nghĩa cơ bản, khiến quân đội của chúng ta phải ra tay, với lý do đó để lấy lại những vùng biển đảo đã mất.
3. Việt Nam có lực lượng quân sự lớn nhất Đông Nam Á. Hơn nữa lại đang tăng cường phát triển lực lượng hải quân, không quân để đối đầu với ta. Quân đội của ta có thể phát động cuộc chiến Nam Sa, cho dù quân đội Việt Nam đã có chuẩn bị. Với chiến thắng trong cuộc chiến này, hoàn toàn có thể làm cho các nước khác thua chạy, không đánh mà lui. Đây là cách để loại trừ Việt Nam, làm cho Việt Nam ngày càng lụn bại.
4. Hai nước Trung – Việt xích mích đã lâu, đã từng nảy sinh tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải, lần này lại xảy ra xung đột quân sự. Đây là điều mà thế giới đã dự đoán và đã sớm nghe quen tai với việc này, chắc chắn phản ứng sẽ nhẹ nhàng hơn. Trái lại, nếu tấn công vào các nước như Philipin thì phản ứng quốc tế nhất định sẽ rất mạnh mẽ.
5. Các nước khác tuy cùng trong khối ASEAN nhưng chế độ xã hội và ý thức hệ khác với Việt Nam, các nước khác lại ủng hộ Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, thời gian đó đã sinh ra những khúc mắc. Là liên minh ASEAN, khi chúng ta phát động chiến tranh thu hồi lại Nam Sa ắt sẽ gặp phải sự phản đối của ASEAN, nhưng hậu quả của cuộc tấn công Việt Nam sẽ tương đối nhỏ, vì Việt Nam đã từng có ý đồ thiết lập bá chủ khu vực, việc này đã làm cho các nước láng giềng có tinh thần cảnh giác, việc làm suy yếu lực lượng quân sự của Việt Nam cũng là điều tốt cho các nước ASEAN.
6. Tình hình quốc tế gần đây có lợi cho việc giải quyết vấn đề Nam Sa. Quan hệ Trung – Mỹ ; Trung – Nga đang ở thời kỳ tốt nhất, không phải vì thế mà dẫn đến sự đối đầu về quân sự giữa các nước lớn. Quân đội Mỹ đang sa lầy vào chiến trường Afganistan, Iraq và vẫn phải chuẩn bị ứng phó với chiến tranh có thể xảy ra với Iran, chưa rảnh tay để quan tâm tới chiến sự Nam Sa. Hơn nữa tranh chấp đảo giữa Nhật Bản và Hàn Quốc, tranh chấp giữa Campuchia và Thái lan đều sẽ làm phân tán sự chú ý của cộng đồng quốc tế.
7. Quần đảo Nam Sa là một vị trí chiến lược không thể thiếu của Trung Quốc trên trận tuyến kéo dài từ Trung Đông đến Viễn Đông, tuy eo biển Malacca là con đường yết hầu nhưng quần đảo Nam Sa không phải là không có vị trí chiến lược. Có được Nam Sa sẽ uy hiếp được Malacca, yểm trợ các đường ống dẫn dầu, Nam Sa là một trong những vùng hiểm yếu, Trung Quốc quyết không ngần ngại chiến đấu để thu hồi Nam Sa.
8. Lấy chiến tranh để luyện tập quân đội, lấy việc thực hiện chiến tranh để kiểm nghiệm và nâng cao năng lực chiến đấu của quân ta, tình hình phát triển của hai bờ Đài Loan – Hải Nam có thể đảm bảo để hai bên bờ sẽ không xảy ra chiến tranh trong tương lai gần, giải quyết triệt để vấn đề Nam Hải, trong khi thực hiện chiến tranh trên biển phải khảo sát những thiếu sót của hải quân, không quân đảo Trung Quốc để kịp thời nhận diện những khiếm khuyết, cải thiện, nâng cấp, nhằm phát triển càng nhanh càng tốt lực lượng hải quân không quân của ta, để chứng tỏ rằng quân đội ta là lực lượng quân đội theo mô hình mới, có kinh nghiệm chiến đấu hiện đại, chuẩn bị sẵn sàng cho chiến sự Đài Loan – Hải Nam hoặc để đối phó với những thách thức khác có thể phát sinh. Lực lượng hải quân, không quân của Việt Nam không thể xem là quá mạnh cũng không thể xem là quá yếu, chúng phù hợp với việc luyện tập quân đội của ta.
9. Việc thiết lập hợp tác quân đội với Đài Loan có thể còn nhiều khó khăn, sự bất đồng giữa hai bờ Đài Loan – Hải Nam có thể tồn tại, nhưng việc thu hồi Nam Sa thì hai bên lại có chung một lập trường. Mặc dù không thể mời quân đội Đài Loan cùng tham chiến nhưng trước và sau trận chiến đều cùng nhau tiến hành các hoạt động như: cung cấp nguyên vật liệu, thiết bị bảo trì, nhân viên xử lý, máy bay, tàu chiến do nhu cầu cần thiết hạ cánh hoặc cập bến trong chiến tranh, chắc chắn rằng sự phối hợp hai quân đội sẽ góp phần vào đoàn kết, thống nhất quốc gia.
10. Việt Nam là bọn tham lam, kiêu ngạo, vô lễ, tuyệt đối không thể thông qua đàm phán để chiếm lại quần đảo Nam Sa, không chiến đấu thì không thể thu hồi lại biên cương quốc thổ. Như vậy, cuộc chiến Nam Sa là không thể tránh khỏi, đánh muộn không bằng đánh sớm, bị động ứng phó không bằng chủ động tấn công.
Vẫn còn rất nhiều lý do nhưng không tiện để nêu ra cụ thể từng lý do được.
Mặc dù nói chúng ta đánh Việt Nam như đánh bạc nhưng việc thu hồi Nam Sa quả thực không phải chuyện nhỏ. Hải quân và không quân Việt Nam cũng đang dần hiện đại hóa cho nên ta quyết không đánh giá thấp đối phương, bắt buộc phải làm tốt công tác chuẩn bị, không đánh thì thôi, đã đánh là phải thắng nhanh. Trong khi bàn việc lấy lại Nam Sa vấn đề không phải là xét xem có thể thành công hay không mà phải xét xem thắng lợi có triệt để hay không, những tổn thất, rủi ro có phải là nhỏ nhất hay không và kết quả cuối cùng có phải là tốt đẹp nhất không… Vì thế cần phải xác định 4 mục tiêu rõ ràng. Đó phải là, xuất một đường quyền đẹp mắt về chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao.
Trên lĩnh vực quân sự, đáng tiếc rằng Việt Nam đã làm những việc gây phản ứng mãnh liệt như xâm chiếm nhiều đảo mới, giam giữ ngư dân và tàu đánh cá Trung Quốc. Ta tuyên bố rằng lãnh thổ lãnh hải nước ta không dễ dàng xâm chiếm, bắt buộc Việt Nam trả lại những đảo đã xâm chiếm, nhanh chóng hoàn thành việc triển khai quân sự tại Nam Hải. Nếu quân đội Việt Nam không chịu thì Trung Quốc sẽ tiến hành tấn công xua đuổi, kẻ nào dám phản kháng ta kiên quyết diệt trừ, nếu tăng viện trợ máy bay tàu chiến cho Việt Nam thì sẽ bắn hạ, bắn chìm hết. Quân đội Việt Nam đã trang bị một số lượng nhất định máy bay, tàu chiến và tên lửa tiên tiến do Nga sản xuất. Quân đội của ta sẽ huy động tiềm lực hải quân, không quân để phong tỏa những căn cứ hải quân, không quân của chúng. Quân đoàn pháo binh thứ hai cần làm tốt việc che giấu những cứ điểm chiến lược hiểm yếu, không quân và chiến hạm cần làm tốt công tác dự báo; cung cấp nhiên liệu cho kế hoạch tấn công lâu dài ở căn cứ phía Nam. Lực lượng trên mặt đất phải luôn luôn sẵn sàng ứng phó với các cuộc tấn công quấy nhiễu của quân đội Việt Nam ở khu vực biên giới bất kỳ lúc nào; phải thực hiện phá hủy các căn cứ hải quân không quân ở miền Bắc. Tóm lại, ta sẽ lấy việc tấn công Việt Nam như là cuộc diễn tập để giải phóng Đài Loan, một khi tình hình đã lan rộng thì sẽ triệt để phá hủy lực lượng hải quân, không quân Việt Nam.
Trên lĩnh vực chính trị, vạch trần việc các nước như Việt Nam xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải nước ta, nhắc lại rằng nước ta muốn duy trì phương châm hòa bình, nhưng chúng ta không thể hòa bình với những kẻ xâm hại đất nước ta. Cho dù xảy ra rồi thì chúng ta không mong nhìn thấy xung đột quân sự. Trung Quốc hy vọng rằng các bên liên quan nên ngồi lại tiến hành đàm phán hòa bình để nhanh chóng kết thúc chiến tranh. Nếu như các nước như Việt Nam chịu khuất phục trước sức ép quân sự to lớn của nước ta thì nước ta sẽ không sử dụng biện pháp vũ lực nữa, sẽ mở rộng tiếng nói quốc tế của nước ta.

Trên lĩnh vực ngoại giao, một khi chiến sự xảy ra, cộng đồng thế giới chắc chắn sẽ đưa ra bốn chữ “phê phán, phản đối”. Chúng ta cần nhanh chóng tranh thủ sự thông cảm của Mỹ, Nga, Liên minh Châu Âu, nhiệm vụ quan trọng nhất của hoạt động ngoại giao là nắm được mục tiêu của các nước ASEAN, cố gắng bình tĩnh trước sự phẫn nộ và hoảng hốt của họ, khiến họ tin tưởng rằng Trung Quốc vô cùng coi trọng quan hệ với ASEAN, tuyệt đối không làm tổn hại đến lợi ích của các quốc gia ASEAN ngoại trừ Việt Nam, Trung Quốc sẽ làm cho mức độ phản ứng của họ giảm xuống mức tối thiểu.
Trên lĩnh vực kinh tế, để chung sống hòa bình cần thực hiên chiến lược “Dùng đất đai đổi lấy hòa bình”. Để hòa bình phát triển thì cần thực hiện chiến lược “Dùng tiền bạc đổi lấy đất đai”. Đối với quần đảo Nam Sa thì lại phải thực hiện phương châm “chủ quyền thuộc về tôi, cùng nhau phát triển, thỏa hiệp hòa bình, chia sẻ lợi ích” thiết lập một số khu vực cùng phát triển ở giáp giới các nước ASEAN gần quần đảo Nam Sa. Lấy nước ta làm chủ, lần lượt cùng hợp tác phát triển với Philipin, Malaysia, Bruney..giúp các đối tác cùng có lợi. Mục đích của các nước này muốn chiếm đảo là vì muốn đạt được lợi nhuận dầu mỏ, giúp cho họ kiếm được tiền mà họ muốn, làm cho nó dễ dàng đồng ý chủ quyền Trung Quốc. Nếu Việt Nam đồng ý với chính sách này thì có thể cũng nhận được một phần nào đó.

Với ý đồ lấy phương thức hòa bình để giải quyết tranh chấp Nam Sa thì kết quả cuối cùng Nam Sa quần đảo ắt bị chia cắt. Tất cả những đảo bị chiếm giữ là do ban đầu lực lượng quân đội của nước ta không đủ, khi có đủ năng lực thì không cần phải do dự mà không quyết định, việc sử dụng vũ lực chắc chắn sẽ dẫn đến có sự phản đối. Cùng năm đó, Anh ra sức tranh đoạt đảo Falklands cũng đã bị lên án chỉ trích nhiều, nhưng khi đảo Falklands đã nằm trong tay nước Anh, ai đã có thể làm gì họ . Nếu Việt Nam nguyện làm đầu têu thì phải đánh cho chúng không kịp trở tay.
Hãy giết chết bọn giặc Việt Nam để làm vật tế cờ cho trận chiến Nam Sa. Nguyên bản tiếng Trung Quốc trên trang mạng “Trung Quốc Binh khí Đại toàn” http://www.cnweapon/ .com/html/ news/2010- 01/news14304

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Phản kháng suông sẽ hóa bùn

Ngô Nhân Dụng

Trên diễn đàn mạng trong nước đang có lời kêu gọi người Việt Nam đi biểu tình tuần hành ôn hòa vào sáng ngày Chủ Nhật, 5 tháng 6 sắp tới, trước tòa Ðại Sứ Trung Quốc ở Hà Nội và tòa tổng lãnh sự tại Sài Gòn, để phản đối việc tầu Trung Quốc xâm nhập hải phận Việt Nam, cắt đứt dây cáp của tầu Bình Minh 02 của Tập Ðoàn Dầu Khí Việt Nam.

Nhiều người đã hứa sẽ tới biểu tình, dù chính quyền có cho phép hay không. Một độc giả của mạng Mẹ Nấm đọc lời kêu gọi trên xong đã gửi lời căn dặn: “Mẹ Nấm đi biểu tình nhớ mang hình chị Phương Nga theo nhé, bọn Tầu nó sợ lắm đấy... he he!” Hai tiếng cười “he he” này cho thấy người dân Việt Nam đã khinh thường thái độ khiếp nhược của chính quyền cộng sản như thế nào!

Vậy bà Nguyễn Phương Nga là ai mà bị người dân chế nhạo như thế? Bà là “người phát ngôn” của bộ Ngoại Giao Cộng Sản Việt Nam. Mấy hôm trước bà đã nói “...Hải Quân Việt Nam sẽ làm mọi việc cần thiết để bảo vệ vững chắc hòa bình, độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam!” Nếu muốn chứng tỏ mình có can đảm thì ngày Chủ Nhật này bà Nguyễn Phương Nga hãy đi biểu tình cùng với đồng bào coi! Nếu không, thì những lời tuyên bố hung hồn của bà sẽ chất đống đó, lâu ngày sẽ biến thành bùn hết!

Một độc giả mạng khác nêu ý kiến: “Ba triệu đảng viên cộng sản phải xung phong trước” trong cuộc biểu tình này! Nhưng không biết có bao nhiêu người can đảm như nhạc sĩ Tô Hải, dám bỏ đảng vì yêu nước? Chúng tôi tin rằng vì vụ cắt dây cáp này nó trắng trợn quá, rất nhiều đảng viên cộng sản sẽ noi gương Tô Hải.

Các vụ xâm phạm hải phận Việt Nam của Trung Quốc đã xẩy ra nhiều lần từ mấy chục năm qua, nhưng vụ cắt dây cáp tầu Bình Minh 02, con tầu thăm dò địa chấn, là một bước leo thang mới, nằm trong cả một chiến lược có tính toán của Trung Quốc mở đường tiến xuống biển Ðông. Vùng biển xẩy ra vụ cắt dây cáp này hoàn toàn thuộc quyền chủ quyền ven biển của Việt Nam, không liên quan gì tới quần đảo bị tranh chấp từ trước tới nay. Giờ đây Trung Quốc vẫn còn nể nang các nước Philippines hay Indonesia, mỗi lần bị các nước này phản đối vì tới gần bờ biển của họ quá, họ đưa máy bay và tầu chiến ra đương đầu, thì tầu Trung Quốc rút lui và xin hòa ngay. Hiện nay Bắc Kinh chỉ nhắm lấn chân Việt Nam, từng bước một, để cho “Vùng Lưỡi Bò” của họ trên thực tế được vững chắc trên một phần biển gần nước ta trước đã. Khi nào cả vùng biển Việt Nam đương nhiên thuộc vào Trung Quốc, họ muốn làm gì thì làm không trở ngại, họ sẽ tính việc lấn áp các nước Ðông Nam Á khác sau!

Ðối với Việt Nam, Bắc Kinh có thể tính rằng cứ mỗi ngày lấn một bước, năm này qua năm khác, mỗi bước lại đặt mọi người trước một sự đã rồi, nhiều bước nhỏ sẽ góp thành một bước lớn. Cứ để cho “người phát ngôn” của Cộng Sản Việt Nam tha hồ “nói phét,” miễn là tầu thăm dò thềm lục địa của Việt Nam “tạm ngưng” hoạt động, tầu đánh cá Việt Nam không dám đi xa kiếm ăn nữa, miễn là đừng để xẩy ra cảnh hải quân đương đầu nhau trên mặt biển, dần dần chính người Việt Nam quên lãng đi. Sau nhiều lần nghe đảng “nói phét” mà không làm gì khác cả, dân Việt sẽ nghe quen tai và không còn thấy chướng nữa. Không những thế, dư luận thế giới cũng sẽ nghe quen những lời phản đối lấy lệ của bà Nguyễn Phương Nga. Nếu không ai nghe tiếng súng, nếu không nhìn thấy cảnh tầu chiến hầm hè đối điện ngoài biển, lâu ngày các nhà báo nghe bà Nguyễn Phương Nga nói mãi cũng thành nhàm, báo chí quốc tế cũng chẳng thấy cần đăng tin nữa! Chiến lược này người Tầu gọi tên là “Tàm Thực,” nghĩa là Tằm Ăn Dâu, còn người Việt ta dùng hình ảnh mộc mạc hơn, qua câu tục ngữ “Ðể lâu cứt trâu hóa bùn!”

Trong thời gian chờ đợi những lời phản kháng của bà Nguyễn Phương Nga tích lại lâu ngày hóa thành bùn hết, Bắc Kinh sẽ luôn luôn thân thiện với các lãnh tụ đảng ở Hà Nội. Nay mời một quan sang du lịch, mai lại gửi một quan chức Thiên triều qua thăm viếng; lần nào gặp nhau cũng ca ngợi tình đồng chí, anh em, nhắc đi nhắc lại 16 chữ vàng, hợp tác chiến lược toàn diện, vân vân. Cứ như vậy, Bắc Kinh hy vọng lâu ngày dân Việt Nam sẽ quen, coi Trung Quốc đúng là nước anh em của mình, không khác gì mình cả! Lâu ngày là bao nhiêu lâu? Ðối với người Trung Hoa, một thế kỷ cũng chỉ là một khoảng thời gian ngắn!

Trước đây Trung Quốc đã đơn phương ban hành “lệnh cấm đánh bắt cá trong biển Ðông” có hiệu lực từ ngày 16 tháng 5 đến ngày 1 tháng 8 năm 2011, trên vùng biển thuộc chủ quyền nước ta. Cũng như những lần “tầu lạ” đâm vào tầu Việt Nam, “tầu lạ” cướp thuyền đánh cá ta, “tầu lạ” bắt cóc ngư dân, tịch thu máy móc, trước đây, chính quyền cộng sản đều cho bà Nguyễn Phương Nga phản đối lấy lệ, người dân đi đánh cá phải lo tự bảo vệ lấy thân. Trong lịch sử Việt Nam đã từng nói đến “Tầu khách” khi có những đợt “thuyền nhân” Trung Hoa sang Việt Nam tị nạn sau mỗi lần ngai vàng đổi chủ; nhưng đến thế kỷ 20 mới xuất hiện hai chữ “Tầu lạ!” Lâu ngày lạ cũng thành quen, đó là do công trạng của đảng Cộng Sản Việt Nam!

Trước vụ tấn công tàu Bình Minh 02 vào ngày 26 tháng 5, Bộ Trưởng Quốc Phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt đã đi thăm các nước Singapore, Indonesia và Philippines và Tham Mưu Trưởng Trung Quốc Trần Bỉnh Ðức qua thăm Mỹ. Tấn công tầu Bình Minh 02 cùng thời gian có những chuyến công du đó, họ muốn cho thế giới và người Việt Nam thấy rằng vụ cắt dây cáp của tàu Việt Nam chỉ là một công việc bình thường có tính cách “nội bộ,” giống như công việc của cảnh sát đi bắt trộm, không ai cần quan tâm cả!

Chính vì vậy, người dân Việt Nam phải chứng tỏ cho cả thế giới thấy đây không phải là chuyện bình thường! Ít nhất, một lần này, phải nói lớn: “Chúng tôi phản đối!”

Cuộc biểu tình ngày Chủ Nhật 5 tháng 6 sắp tới là một cơ hội để thực hiện mục tiêu đó! Người Việt Nam càng đi biểu tình đông thì dư luận thế giới càng phải chú ý. Nếu chính quyền cộng sản đàn áp, như họ đã từng làm trước đây, thì báo chí thế giới càng chú ý nhiều hơn. Cuộc biểu tình ngày 5 tháng 6 sắp tới là một cơ hội cho dư luận quốc tế biết việc tấn công tầu Bình Minh 02 là một vụ vi phạm hết sức ngang ngược, trắng trợn của một nước lớn đối với một quốc gia láng giềng!

Cuộc biểu tình này nên biến thành một phong trào, kéo dài, tổ chức liên tiếp trong các ngày Chủ Nhật sau, cho đến khi nào hai chính quyền cộng sản phải giải quyết những đòi hỏi của người dân Việt Nam. Ngay từ bây giờ người Việt ở nước ngoài cũng nên tổ chức các cuộc biểu tình song song với người trong nước. Người Việt khắp thế giới cùng kéo đến trước các tòa đại sứ và lãnh sự Trung Quốc ở khắp nơi, trương cao khẩu hiệu và phát các tài liệu chứng minh Trung Quốc đã vi phạm chủ quyền của nước Việt Nam bao nhiêu lần, bắt đầu với cuộc tấn công chiếm Hoàng Sa năm 1974, và chiếm Trường Sa năm 1988. Các cuộc biểu tình ở các nước Ðông Nam Á phải vận động báo chí địa phương, kêu gọi người bản xứ tham dự! Ðề tài chính trong các cuộc biểu tình này là công bố trước dư luận quốc tế việc Trung Quốc đã vi phạm Công ước về Luật biển 1982 mà Trung Quốc và Việt Nam đều đã ký kết.

Song song với các cuộc biểu tình, nếu chính quyền Cộng Sản Việt Nam không làm thì người Việt khắp thế giới phải gửi những bản lưu chiểu tới Liên Hiệp Quốc, công bố bằng chứng những vụ Trung Quốc vi phạm chủ quyền trên biển của người Việt Nam cho cả thế giới biết; phải kêu gọi các tổ chức phi chính phủ trong vùng Ðông Nam Á ủng hộ mình. Với một phong trào như vậy thì sau cùng chính quyền cộng sản sẽ phải làm theo, họ sẽ phải đưa nội vụ ra trước các cơ quan tài phán quốc tế, trước tòa án về luật biển của Liên Hiệp Quốc.

Trên tạp chí Dân Chủ và Phát Triển, Tiến Sĩ Âu Dương Thệ đã đặt hết trách nhiệm về vụ Trung Quốc lấn chân trên biển này cho Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản, đặc biệt là hai người: Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng, kiêm bí thư Quân Ủy Trung Ương, và Bộ Trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh, phó bí thư QUTU. Ông Âu Dương Thệ kể lại, vào giữa tháng 4 vừa qua Trung Quốc đã cho Thượng Tướng Quách Bá Hùng, ủy viên Bộ Chính Trị và phó chủ tịch Quân Ủy Trung Ương Cộng Sản Trung Quốc, sang Việt Nam, đưa ra yêu sách ba điểm với Nguyễn Phú Trọng và Phùng Quang Thanh. Các yêu sách đó nhấn mạnh hai đảng Cộng Sản phải “(1) tăng cường tiếp xúc chiến lược, nắm vững định hướng đúng đắn phát triển quan hệ Trung-Việt; (2) coi trọng tuyên truyền hướng dẫn, tích cực tạo bầu không khí hữu nghị, đoàn kết, hợp tác Trung-Việt; (3) làm phong phú nội dung giao lưu, nỗ lực nâng cao trình độ hợp tác thiết thực giữa quân đội hai nước.”

Ông Âu Dương Thệ nhận xét: “Trong biến cố ngày 26 tháng 5 đã cho thấy, cả ba yêu sách trên của Bắc kinh đã được Nguyễn Phú Trọng và Phùng Quang Thanh thực hiện tốt: (1) Họ đã ra lệnh không cho các đơn vị Hải Quân và Không Quân Việt Nam ngăn chặn ba tầu tuần thám của Trung Quốc xâm phạm hải phận Việt Nam và tấn công tầu Bình Minh 02 - đó là nắm vững định hướng đúng đắn. (2) họ đã ra lệnh cho bóc ngay hai bài trên tạp chí Cộng Sản ngày 27 tháng 5; và không cho phép các báo Nhân Dân và Quân Ðội Nhân Dân được tường thuật với những hình ảnh tấn công ngang ngược của ba tầu Hải Quân Trung Quốc ngày 26 tháng 5! Chỉ còn một tờ báo điện tử của Cộng Sản Việt Nam còn đăng tin về vụ này (đó là tuyên truyền hướng dẫn).

Ngày Thứ Ba, 31 tháng 5, người phát ngôn bộ Ngoại Giao Trung Quốc Khương Du nói với các nhà báo tại Bắc Kinh rằng: “Chúng tôi yêu cầu phía Việt Nam dừng ngay các hoạt động của họ và không gây thêm rắc rối.” Không biết ai gây ra rắc rối? Chắc chỉ có hai ông Nguyễn Phú Trọng và Phùng Quang Thanh và Trung Ương Ðảng Cộng sản là muốn “không rắc rối!”

Còn tất cả mọi người Việt Nam yêu nước đều muốn phải làm cho ra nhẽ. Không thể để cho công lao bảo vệ non sông của bao thế hệ tổ tiên bị đảng Cộng Sản để cho biến thành bùn tất cả!

Post Reply