Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Không thể ‘chết dưới tay Trung Quốc!’

Tíến sĩ Vũ Thị Phương Anh

Một ngày trước ngày Father’s Day 19/6/2011, cũng là ngày cộng đồng mạng Việt Nam chọn làm ngày biểu tình chống Trung Quốc lần thứ 3 liên tiếp
trong mấy tuần qua, báo Tuổi Trẻ đăng bài cuối cùng của loạt phóng sự về tình trạng báo động chảy máu nguyên liệu thô từ Việt Nam sang Trung Quốc.


Image
Khai thác mủ cao su ở Việt Nam. Mỗi năm Việt Nam xuất cảng hàng trăm ngàn tấn mủ cao su với mức thuế bằng 0%, chủ yếu là xuất sang Trung Quốc.
(Hình: TTXVN)
Như những bài khác trong loạt bài này, phóng sự “Ồ ạt xuất thô ‘vàng trắng’”cung cấp những thông tin khiến người đọc không thể không bức xúc. Việt Nam hiện đang xuất khẩu mỗi năm hàng trăm ngàn tấn mủ cao su với mức thuế bằng … 0%, chủ yếu là xuất sang Trung Quốc. Khi cần sử dụng trong sản xuất, các doanh nghiệp trong nước nhập cao su từ Thái Lan với mức thuế là … 5%. Nhưng không thể trách các doanh nghiệp xuất khẩu mủ cao su sang Trung Quốc, vì nếu họ bán trong nước họ sẽ phải chịu thuế giá trị gia tăng 5%!

Những chính sách kinh tế kỳ lạ như trên đang góp phần đẩy nền kinh tế Việt Nam đến chỗ kiệt quệ và có nguy cơ lệ thuộc hoàn toàn vào Trung Quốc. Nhưng kinh tế chỉ là một trong rất nhiều rủi ro trong quan hệ giữa Việt Nam với anh bạn “16 chữ vàng” to xác mà xấu tính này.

Chưa cần kể ra những sự kiện đang làm nóng dư luận Việt Nam và quốc tế trong thời gian qua – tham vọng độc chiếm biển Đông của Trung Quốc, đẩy Việt Nam vào tình trạng lãnh hải thường xuyên bị đe dọa, ngư trường bị thu hẹp bởi người “đồng chí tốt” của mình. Chỉ xét ngay trong cuộc sống đời thường, cũng đủ thấy người Việt đang bị rất nhiều tai họa về sức khỏe và sự an toàn tính mạng ngày đêm rình rập quanh mình.

Phóng sự với tựa đề “Tràn lan đồ chơi Trung Quốc độc hại” trên báo Thanh Niên Online ngày 14/6/2011 cho biết bất chấp những cảnh báo về đồ chơi độc hại của nhiều tổ chức trong và ngoài nước, đồ chơi Trung Quốc không rõ nguồn gốc vẫn đang được bày bán khắp nơi tại Sài Gòn với giá rất rẻ, từ vài ngàn đến vài chục ngàn. Theo bài báo, trong số những đồ chơi này, có khá nhiều loại trông giống các loại đã được báo chí Trung Quốc cảnh báo là có vấn đề về an toàn sức khỏe cho người sử dụng.

Phần kết của phóng sự này đưa ra nhận định: “Với tình trạng không quản nổi đầu vào và cũng không thu hồi nổi khi phát hiện sản phẩm có nhiễm độc như nói trên, đặc biệt là đối với hàng Trung Quốc, nhiều chuyên gia cảnh báo, VN có nguy cơ biến thành “bãi rác độc” của thế giới” [xin đọc là: “của Trung Quốc”].

Từ đồ chơi cho trẻ em chứa chất Phthalates gây ảnh hưởng đến gan, thận; những ly cốc, chén bát thủy tinh chứa cadimi - yếu tố chính gây ung thư tuyến tiền liệt, ung thư vú; đến các loại thực phẩm thông dụng có chứa chất độc như sữa bột nhiễm chất melanine gây suy thận, ớt bột chứa chất Rhodamine B, một loại phẩm màu công nghiệp có khả năng gây ngộ độc và ung thư, rồi trái cây chứa chất bảo quản độc hại có khả năng gây đột biến gien vv; rồi cả vải vóc, quần áo và hầu như hết thảy những gì có xuất xứ từ Trung Quốc, dường như đều có nguy cơ gây hại cho sức khỏe cho người Việt Nam.

Dường như mọi việc đã được sắp sẵn cho Việt Nam vào vai diễn viên chính trong vở kịch bi thảm mang tên “Chết dưới tay Trung Quốc”. Hệt như lời cảnh báo cho toàn thế giới của hai tác giả Peter Narvarro và Greg Autry trong cuốn sách cùng tên vừa ra mắt công chúng tại Mỹ vào đầu tháng 6 này.

Cuốn sách dài hơn 300 trang đang làm xôn xao dư luận thế giới nói trên dù chưa được đề cập trên các phương tiện truyền thông chính thức tại Việt Nam, nhưng đã nhanh chóng lan truyền rộng rãi trong giới trí thức. Gõ cụm từ tiếng Việt “chết dưới tay Trung Quốc” vào google search, ta nhận được trên 60,000 đường dẫn đến các bài giới thiệu và thảo luận bằng tiếng Việt về cuốn sách này. Từ đâu chẳng rõ, bản mềm bằng tiếng Anh của cuốn sách đã được đưa lên mạng. Địa chỉ truy cập của cuốn sách này được các blogger Việt giới thiệu với nhau để có thể tải về đọc, chỉ vài ngày sau khi cuốn sách ra mắt độc giả.

Viết về cuốn sách này, tờ báo mạng Petrotimes của Việt Nam ngày Thứ Sáu 16/6/2011 đã đăng bài một bài giới thiệu khá đầy đủ của tác giả Lê Đức, với một cái tựa gây “shock”: “Mỹ sẽ ‘chết dưới tay Trung Quốc’?”. Mục đích của cái tựa trên có lẽ là nhằm thu hút sự chú ý của độc giả, nhưng cũng có thể là để lách hệ thống kiểm duyệt báo chí gắt gao – một lời giải thích xem chừng hợp lý hơn trong tình trạng kiểm soát thông tin chặt chẽ hiện nay tại Việt Nam.

Bất chấp cái tựa có vẻ ca ngợi sức mạnh của Trung Quốc và chế diễu Mỹ, văn phong trong bài viết của Lê Đức lộ rõ vẻ thiếu thiện cảm với Trung Quốc ngay từ những giòng đầu tiên: “Giữa lúc những hành động được xem là bất thường của Trung Quốc (TQ) ở biển Đông gần đây làm cho nhiều người cảm thấy hoài nghi về tuyên bố "hòa bình quật khởi" của Bắc Kinh …”. Thái độ chống Trung Quốc càng thể hiện rõ hơn trong bài qua các từ ngữ như “cạnh tranh bất chính”, “con buôn thủ lợi”, “ngược đãi công nhân, biến họ thành lao nô”.

Một vài bạn đọc cho biết, bài viết của Lê Đức có những ý tưởng, chi tiết và cả từ ngữ mang đậm ảnh hưởng của loạt phóng sự của phóng viên Hà Giang trên tờ Người Việt viết về buổi ra mắt cuốn sách này tại Mỹ.

Tờ Người Việt được xem là tờ báo tiếng Việt lớn nhất bên ngoài Việt Nam. Trang mạng của tờ báo này cũng thường được những độc giả trong nước tìm đọc, mặc dù để vào trang này phải vượt qua tường lửa. Loạt bài của Hà Giang rõ ràng đã làm cho dư luận Việt Nam chú ý, vì nó được khá nhiều blogger Việt chia sẻ lại, ví dụ như Ngoclinhvugia’s Blog đã đưa bài này lên vào ngày 11/6/2011 (giờ Việt Nam), chỉ 2 ngày sau khi bài viết của Hà Giang được công bố.

“Mỹ sẽ ‘chết dưới tay Trung Quốc’?”, tựa bài viết nói trên của Lê Đức cũng là tên của một đề tài thảo luận sôi nổi trên trang “Web trẻ thơ” (webtretho.com), một trang web vốn dành cho các bà mẹ thảo luận về việc nuôi dạy con cái. Tương tự như các cộng đồng mạng khác, không khí chống Trung Quốc tràn ngập diễn đàn với này những nhận xét khá nóng, và thỉnh thoảng lại còn có đưa ra những lời hô hào, kêu gọi tẩy chay hàng Trung Quốc. Thật trùng hợp, tẩy chay hàng Trung Quốc cũng là một biện pháp quan trọng để khỏi chết dưới tay Trung Quốc mà hai tác giả Narvarro và Autry đã đưa ra trong chương kết luận của cuốn sách.

Tẩy chay hàng Trung Quốc còn là lời kêu gọi gần đây của cộng đồng mạng Việt Nam như một cách biểu thị lòng yêu nước mà ai cũng có thể thực hiện, không sợ chính quyền làm khó dễ như đi biểu tình. Trang Đọt chuối non (dotchuoinon.com), một trang mạng với phương châm “tư duy tích cực” do các nhà văn, nhà báo, nhà giáo và sinh viên Việt Nam lập ra với mục đích xây dựng xã hội, ngày 16/6/2011 đã đưa lên bài hiệu triệu “Người Việt quyết tẩy chay hàng Trung Quốc” để đáp trả lại “những chiêu bài có chủ ý của chính quyền Trung Quốc [ nhằm] thâu tóm các vùng biển của Việt Nam và đất nước Việt Nam sau này.”. Bài hiệu triệu trên cũng nêu rõ “mọi người dân Việt đều bức xúc, căm phẫn và hiểu rõ hành vi thâm độc này”, và nhắc rằng “Dân tộc Việt Nam có tinh thần chống Tàu đã mấy ngàn năm trước.”

Trong đoạn kết (epilogue) của cuốn “Chết dưới tay Trung Quốc”, các tác giả của cuốn sách đã nhắc lại bài học lịch sử cay đắng của nước Mỹ trong mối quan hệ với các nước trong thế kỷ trước, khi ngây thơ tin tưởng vào khả năng trỗi dậy hòa bình của các chế độ toàn trị, lúc ấy là chế độ Đức quốc xã và Liên Xô cũ. Bài học lịch sử đó đang được lập lại trong mối quan hệ với Trung Quốc hiện nay. Thông điệp của tác giả: Không bao giờ được tin tưởng và làm bạn với những chế độ độc tài toàn trị. Cần luôn luôn cảnh giác nếu không muốn bị lừa để đến nỗi phải đứng trước nguy cơ chết dưới tay chúng.

Thông điệp về một Trung Quốc luôn cần phải cảnh giác có lẽ không dân tộc nào hiểu rõ hơn Việt Nam với bốn ngàn năm làm láng giềng của anh chàng bạn to xác xấu tính này. Có lẽ đó chính là lý do tại sao dù nhỏ hơn, nhưng Việt Nam chưa bao giờ chịu khuất phục trước một nước láng giềng vĩ đại, hùng cường hơn mình rất nhiều và luôn có âm mưu ngàn đời xâm chiếm, khuất phục đất nước mình. Trước đây như thế nào thì bây giờ vẫn thế, và cả ngàn đời sau cũng vẫn mãi như thế.

Cho dù ở thời đại nào và chế độ nào, người Việt Nam vẫn sẽ không bao giờ để cho mình phải chết dưới tay Trung Quốc.

Ngày 18/6/2011
V.T.P.A

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Ngoại giao... tàng hình

(Nguồn: hieuminh.org)


Người Trung Quốc nổi tiếng với nền ngoại giao “gạo cội” như bóng bàn đã đưa hổ giấy (Mỹ) và hổ thật (Trung Quốc), từ kẻ thù không đợi trời chung thành bạn chiến lược vào năm 1972.

Image
Máy bay tàng hình J-20 của Trung Quốc. (Hình: bee.net.vn)

Mao Trạch Ðông tiếp Nixon tại Bắc Kinh bằng cái bắt tay đưa lên hạ xuống đúng 32 lần sau trận bóng bàn giao hữu giữa hai đội Mỹ-Trung.

Mấy chục năm sau, họ gửi gấu trúc sang ZOO bên DC để hàn gắn mối giao thương bị đứt đoạn, nên có nền ngoại giao... gấu trúc.

Người Bắc Triều tiên có tài dùng bom nguyên tử dọa thế giới nên trở thành tác giả của khái niệm ngoại giao “hạt nhân”.

Người Úc với bản quyền “ngoại giao phở” vì mấy năm trước có ông bộ trưởng ngoại giao xứ Kangaroo vào bếp của quán Phở 24 tại Hà Nội để nấu phở và tự thưởng thức.

Việt Nam cũng có nền ngoại giao riêng. Cuối thập kỷ 1960, hai ông Henry Kissinger và Lê Ðức Thọ đàm phán ở Paris mấy năm liền không đi tới đâu, mắng nhau “ngoại giao lái ngựa” và “ngoại giao lái trâu”.

Mấy hôm nay lại có chuyện ngoại giao tàng hình xuất xứ từ quê hương của nền ngoại giao bóng bàn.

Chả là Trung Quốc vừa thử nghiệm máy bay tàng hình. Báo chí nước này đăng tải những bức ảnh chiến đấu cơ J-20 có khả năng che mắt radar của Trung Quốc. Blog tràn ngập các hình ảnh J-20. Tin “vỉa hè” cho hay, J-20 đã bay khoảng 15 phút từ một sân bay ở thành phố Thành Ðô.

Chuyến bay thử này được tiết lộ đúng vào thời điểm Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Robert Gates đang có mặt tại Bắc Kinh. Ông Gates đang kêu gọi Trung Quốc minh bạch hơn về chương trình hiện đại hóa quân sự nhanh chóng.

Nước ta chi 2 tỷ đô la hàng năm để mua vũ khí. Trung Quốc dùng khoảng 80 tỷ và Mỹ chi 700 tỷ đôla cho quốc phòng. Dữ liệu trên đủ cho biết cán cân quyền lực quân sự đang thuộc về ai.

Dùng máy bay tàng hình để minh bạch chi tiêu quân sự thì quả là tài tình.

Chuyện không dừng ở đó. Theo VOA (11-1-2011), Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Robert Gates nêu câu hỏi về vụ thử bay “tàng hình” trong một cuộc họp với Chủ Tịch Hồ Cẩm Ðào thì ông Ðào “tẩu vi thượng sách” bằng cách thoái thác rằng, ông chẳng biết gì về vụ này.

Bác Hồ Cẩm Ðào là chủ tịch của Ủy ban Quân Sự Trung ương mà không biết gì về vụ bay thử thì thật lạ.

Bộ Trưởng Gates không đề cập đến sự “bất ngờ” của Chủ Tịch Hồ Cẩm Ðào. Nhưng ngài Gates (quen canh cổng trời) lại quan ngại về “sự tách biệt giữa các nhà lãnh đạo dân sự và quân sự của Trung Quốc, và khả năng quân đội Trung Quốc đôi khi hành động một cách độc lập”.

Nhớ mấy hôm trước có tin một nhà quân sự cao cấp TQ đề nghị quân đội nước này nên tranh thủ chiếm luôn Trường Sa của VN. Trên bảo dưới không nghe có thể như thế thật.

Ông Ðào giải thích, thời điểm cuộc thử nghiệm không liên quan gì đến đến chuyến thăm của ông Gates. Trong ngoại giao đó là điều cấm kỵ. Ai lại dọa nhau kiểu đó vì ông Ðào sắp sang Nhà Trắng gặp Obama.

Ông chủ Lầu Năm Góc còn nhiều lý do để lo hơn. Một hôm nào đó J-20 bay vào Mỹ mà radar không phát hiện được thì liệu ngài Gates có được canh cổng (gates) cho thế giới an toàn nữa hay không.

Giới trách Trung Quốc đã dùng chiến thuật tàng hình trong ngoại giao. Còn ông Gates thấy mình hiện lên màn hình radar của người phương Bắc.

Muốn nói gì thì nói, sau vụ này, chiến thuật tàng hình J-20 đã dọa được hổ giấy Mỹ.

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Tại sao Việt Nam muốn chúng ta quay lại?
36 năm sau khi đuổi người Mỹ khỏi Việt Nam, những nhà lãnh đạo cộng sản ở Hà Nội bây giờ lại muốn chúng ta (Mỹ) quay lại. Sự thay đổi kỳ cục này có nhiều khía cạnh đáng châmbiếm, nhưng nguyên nhân của nó thì đơn giản: Trung Quốc.

Bắc Kinh đã và đang gồng cơ bắp quân sự mới nhú cùng những tham vọng địa chính trị của họ, bất chấp sự hiện diện của các nước láng giềng. Cùng với các chiến dịch tấn công trên mạng toàn cầu, Trung Quốc bớt giống một siêu cường đang nổi lên mà lại có vẻ giống một kẻ hay bắt nạt và đang mất kiểm soát hơn.

Cuộc cãi cọ gần đây nhất với Việt Nam – một thời là đồng minh, bây giờ là kẻ thù không thay đổi của Trung Quốc – xoay quanh việc thăm dò dầu khí ở biển Nam Trung Hoa, nơi Trung Quốc yêu sách về chủ quyền duy nhất của họ, và là nơi Việt Nam vừa tiến hành tập trận hải quân bắn đạn thật để bảo vệ quyền của mình. Trung Quốc đã phản ứng bằng những cuộc tập trận riêng kéo dài suốt ba ngày đêm, mặc dù họ nói họ sẽ không “dùng đến vũ lực” để giải quyết tranh chấp. Tuy vậy, Việt Nam đã đưa ra một tuyên bố mạnh mẽ hoan nghênh sự trợ giúp của nước ngoài – một lời mời kín đáo nhưng rất rõ ràng đối với Mỹ và hải quân Mỹ.

Ở đây có một cơ hội cho chính sách của nước Mỹ, không chỉ để khép lại mọi tranh cãi xung quanh cuộc chiến tranh gây chia rẽ nhất trong lịch sử Mỹ, mà còn để tìm ra một cách mới, có tính thực tiễn hơn, trong việc đương đầu với những nhà cầm quyền ở Bắc Kinh. Đó là bởi vì đang có những vấn đề đang sắp xảy ra cho Trung Quốc – và không chỉ trong quan hệ với láng giềng.

Trong vài tuần qua, một đợt sóng bất ổn nghiêm trọng đã tràn qua các thành phố ở Trung Quốc. Bạo lực bùng nổ – thậm chí có cả những vụ nổ bom – chống lại chính quyền Bắc Kinh.

Không có dấu hiệu nào của một cuộc nổi dậy có tổ chức theo kiểu Mùa xuân Ả-rập. Nhưng số vụ việc mà chính quyền gọi là “sự cố đám đông” (mass incidents, có người dịch là “sự cố lớn”) đang gia tăng đều đều. Năm 2008 có tới 127.000 vụ. Những vụ như thế sẽ tồi tệ đi trước khi chúng tốt lên – và không chỉ là do chính quyền Bắc Kinh vẫn không làm sao mà dập tắt được những ý kiến bất đồng trên Internet.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế như một hiện tượng của Trung Quốc đang chựng lại. Giá dầu tăng cao cùng lạm phát dâng lên đang xóa sạch nhiều thành tựu kinh tế. Nếu nền kinh tế Mỹ – nguồn đầu ra chủ lực cho hàng xuất khẩu Trung Quốc – không sớm phục hồi, thì điều ấy có thể đe dọa kỷ lục tăng trưởng dài lâu, chưa từng bị gián đoạn của Trung Quốc, và từ đây sẽ tạo đà cho nhiều rắc rối hơn.

Vâng, chuyện này thách thức hình ảnh trên truyền thông của Trung Quốc, vốn được khắc họa như một thế lực hùng mạnh biết tuốt, làm được tuốt. Thậm chí nhiều người trong chính quyền Obama có vẻ nghĩ rằng Trung Quốc lớn và hùng mạnh quá đến nỗi chúng ta không dám cản trở hoặc xúc phạm họ – nhất là khi họ nắm giữ tất cả các khoản nợ của Mỹ. Nhưng người Mỹ có thói quen đánh giá quá cao các đối thủ. Trong Thế chiến II, truyền thông và thậm chí cả CIA cũng tin vào những lời tuyên truyền rằng kinh tế Xô Viết đang cạnh tranh với chúng ta – mãi cho đến những năm 1980 khi Liên Xô lộ ra là cũng chỉ là một nước chậm phát triển. (Nguyên văn: Third World basket, nghĩa là tập hợp các nước chậm phát triển, hoặc khối các nước không liên kết ở châu Phi và châu Á – ND).

Sau đó lại có nỗi lo sợ rằng công ty Nhật Bản sẽ mua Mỹ cùng với Trung tâm Rockefeller, cho tới tận những năm 90 khi những chiếc bánh xe văng khỏi cỗ máy tăng trưởng của Nhật Bản. Suốt hơn một thập niên, gói kích thích kinh tế kiểu Obama đã giữ cho Nhật Bản trụ được ở vị trí thứ hai.

Tăng trưởng của Trung Quốc thì là tăng trưởng thật sự, khoảng 6,1% GNP đầu người một năm trong thời gian 1978-2003 – mặc dù không ấn tượng lắm so với Nhật Bản (8,2%), Hàn Quốc (7,6%), và Đài Loan (7,1%) trong những giai đoạn cất cánh tương tự.

Nhưng điều ấy cũng tạo ra những vấn đề to lớn cho một chính quyền trung ương đang cố gắng kiểm soát nhân dân – những người dân mà, sau khi được hưởng quyền tự do kinh tế lớn hơn, đã bắt đầu muốn được tự quản đời sống của mình. Làn sóng bất ổn mới đây nhất đã cho thấy điều đó.

Nỗi sợ mất kiểm soát ở trong nước góp một phần vào việc nuôi sự phiêu lưu và hung hãn của Trung Quốc ở nước ngoài. Việt Nam chỉ là trường hợp mới đây nhất, và là lời đề nghị mở đối với Mỹ, xin sự giúp đỡ của Mỹ. Đề nghị này không nên bị bỏ qua.

Nhà Trắng dưới thời Obama đã mụ mị đi khi phải đối phó với Trung Quốc, chỉ trừ những lúc tung ra các bữa tiệc chiêu đãi khúm núm để tôn vinh các vị lãnh đạo của họ. Tuy nhiên, một lập trường mạnh mẽ, không vô nghĩa, sẽ được hoan nghênh bởi gần như mọi quốc gia khác, kể cả Ấn Độ, Nhật Bản, và toàn Tây Âu. Tin tặc Trung Quốc không chỉ theo sát Mỹ. Bọn họ đã làm đảo lộn các ngân hàng và doanh nghiệp ở Anh, và có tin rằng bọn họ còn thâm nhập cả vào máy tính của cả thủ tướng Đức lẫn thủ tướng Australia.

Cuối cùng thì, quả thật đứng dậy trước Trung Quốc có thể lại là điều tốt đẹp nhất cho chính người Trung Quốc.

Một nước Mỹ mạnh mẽ, quyết đoán, có thể khiến Bắc Kinh phải ngừng hành động bắt nạt nước khác và tập trung vào cải cách ở trong nước, trước khi nền kinh tế của chính họ trượt dốc và bất ổn bắt đầu lan tràn. Đó là điều Trung Quốc không muốn, và chúng ta không thể để như thế được.

Arthur Herman
Tác giả cuốn sách “Gandhi và Churchill”, giải Pulitzer năm 2009.

Người dịch: Đỗ Quyên

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Bạn hay Thù

Ngô Nhân Dụng

Ðối với mỗi cá nhân, các nền đạo lý đều khuyên chúng ta hãy coi mọi người khác như bạn. “Tứ hải chi nội giai huynh đệ” là lời Khổng Tử nói, hoặc Chúa Giêsu dạy ngay cả những kẻ đã “tát vào một bên má” của mình cũng không nỡ ghét bỏ.

Ðó là những châm ngôn rất đáng theo. Nhưng đối với các dân tộc thì sao? Một quốc gia có thể coi “mọi người như bạn” đối với một nước khác hay không?

Trong việc bang giao, có một quy tắc đã được nhắc tới nhiều lần: Một quốc gia không có kẻ thù và cũng không có bạn; giao thiệp với các nước khác chỉ cần biết đến quyền lợi của mình mà thôi. Các quyền lợi được chia sẻ theo những bản hiệp ước, sòng phẳng giống như các hợp đồng thương mại. Người kinh doanh thương thuyết với nhau về quyền lợi, không cần phải yêu nhau người ta mới ký các hợp đồng; những ai làm trái hợp đồng sẽ bị trừng phạt. Việc bang giao nên làm như theo lối đó.

Trong lịch sử nước ta, nước láng giềng lớn nhất là Trung Quốc. Nước Việt Nam thường coi Trung Hoa là bạn hay là kẻ thù? Hầu như Tổ tiên chúng ta không bao giờ chọn Trung Quốc làm bạn vàng; cũng không ai gọi họ là kẻ thù vĩnh viễn. Lúc nào người Việt Nam cũng sẵn sàng cư xử với họ, như bạn hoặc như thù, tùy theo hoàn cảnh. Bạn: Giống như các dân tộc Á Ðông khác, người Việt qua bao đời vẫn học hỏi phương pháp trị quốc, tổ chức giáo dục, và văn hóa Trung Hoa. Thù: người Việt không bao giờ quên đề phòng quân phương Bắc xâm lăng.

Mỗi lần đánh đuổi quân xâm lăng từ phương Bắc xong, các người lãnh đạo nước Việt Nam đều xin “giảng hòa,” vì biết chiến tranh sẽ chỉ làm chết dân. Không bao giờ người dân được nghe chính quyền gọi cả nước Trung Hoa là kẻ thù của nước mình. Lý Thường Kiệt khi mang quân sang đánh chiếm các vùng trên biên giới cũng không tuyên bố đi đánh một quốc gia láng giềng để “cho nó một bài học,” mà lại nêu chính nghĩa là đem quân giúp người dân phương Bắc hạch tội một chính quyền đang làm hại cho dân chúng của họ. Bản Bình Ngô Ðại Cáo nêu danh quân địch là “Cuồng Minh tứ ngược,” dùng tên hiệu nhà Minh, một chính quyền đang cai trị, chứ không gọi chung họ là “quân Hán.” Vua Trần Nhân Tông sau khi thắng trận đã khiêm tốn tự xưng là “vi thần” khi “dâng sớ” gửi tới vua nhà Nguyên. Lê Thái Tổ không những đã “xin hòa” theo lối xưa mà còn xin bồi thường thiệt hại nữa. Quang Trung thắng trận rồi, chịu thần phục và đưa một người giả làm mình đi sang chào kính. Vua nhà Trần đã cấp thuyền bè, lương thực cho tàn quân nhà Nguyên về nước. Lê Thái Tổ cũng vậy đối với quân Minh. Chỉ có một thời chính quyền Việt Nam nhất thiết coi Trung Quốc là “nước bạn” để dựa dẫm, là vào nửa cuối thế kỷ 19, khi nhà Nguyễn cố bám lấy “thiên triều” cầu mong họ giúp chống lại quân Pháp, rồi không thành. Và một lần nữa, từ giữa thế kỷ 20, khi chính quyền miền Bắc Việt Nam muốn nhân dân phải coi Trung Quốc là nước bạn quý, là đàn anh vĩ đại của nước mình; rồi sau đó có lúc lại coi họ là kẻ thù tuyệt đối, để mươi năm sau thì đổi ngược lại. Những sai lầm vì dốt nát hay vì nông nổi của một nhóm người lãnh đạo đều dẫn đến những hậu quả tai hại, các thế hệ sau còn phải chịu đựng.

Trung Quốc chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam năm 1974, trong lúc người dân miền Bắc đang phải hát bài ca ngợi Tình Bạn: “Việt Nam Trung Hoa núi liền núi sông liền sông.” Trung Quốc lại đánh chiếm thêm một số đảo ở Hoàng Sa năm 1988 trong lúc dân Việt được nghe chính quyền gọi họ là Kẻ Thù truyền kiếp! Các chính sách coi Trung Quốc là bạn hay là thù, đều đưa người Việt Nam đến chỗ bị thiệt thòi. Những cuộc thảo luận và điều đình về biên giới và hải phận đầu thập niên 1990 càng khiến cho người dân Việt thêm căm giận khi thấy nước mình bị lấn áp để mất mát nhiều quá. Những xung đột giữa Việt Nam và Trung Quốc đang biểu hiện rõ ràng sau những vụ tầu Trung Quốc cắt dây cáp của tầu thăm dò đáy biển của Việt Nam trong tháng 5 và tháng 6 năm 2011 khiến chúng ta nên suy ngẫm thêm một lần nữa để áp dụng một quy tắc trong mối bang giao với Trung Quốc: Không nên coi một quốc gia nào là kẻ thù hay là bạn! Thước đo duy nhất trong việc ngoại giao là quyền lợi quốc gia. Tại sao cứ phải nhắc lại quy tắc trên? Vì nó có hiệu quả, nghĩa là nó mang lại lợi ích thiết thực nhất khi biết áp dụng. Các quốc gia tồn tại được lâu đời lúc nào cũng cư xử theo quy tắc này.

Dân Mỹ đã đánh đuổi quân Anh để giành độc lập vào cuối thế kỷ 18; đến thời Nội Chiến Mỹ chính quyền Anh vẫn còn muốn can thiệp. Nhưng trong thế kỷ 20, ít có nước đồng minh nào gắn bó với nhau như Anh và Mỹ. Tuy vậy, các chính phủ này họ không hành động theo “tình bạn” mà chỉ theo quyền lợi quốc gia. Năm 1956, liên quân Anh Pháp tấn công Ai Cập, đến khi bị Mỹ đề nghị triệu tập đại hội đồng Liên Hiệp Quốc làm nghị quyết phản đối, và dùng cả IMF làm áp lực, Anh Pháp phải rút lui nhục nhã. Ngay trong Ðại Chiến Thứ Hai, hai nước chắc chắn là bạn nhưng quyền lợi vẫn khác nhau. Tháng 8 năm 1941, sau hai năm tìm cách thúc đẩy chính quyền Mỹ tuyên chiến với Ðức, Ý và Nhật mà không được, Thủ Tướng Anh Winston Churchill bí mật gặp Tổng Thống Mỹ Franklin Roosevelt ở ngoài khơi Canada trong Ðại Tây Dương. Hai người bắt đầu trở thành đôi bạn tâm đắc, họ đồng ý với nhau là phải ngăn cản những bước tiến của quân Ðức ở Nga và quân Nhật ở Á Châu. Nhưng khi trở về nói chuyện với dân Mỹ, các nhà báo hỏi, “Nước Mỹ có sắp tham chiến hay không?” Roosevelt trả lời: “Tôi nghĩ là không.” Churchill thấy bị ông bạn quý bỏ rơi!

Ðầu tháng 12 năm đó, Churchill gặp Ðại Sứ Mỹ John G. Winant ở London, hỏi: Ông có nghĩ là Nhật sẽ gây chiến hay không? Thưa thủ tướng, có! Churchill quả quyết: Nếu Nhật Bản tuyên chuyến với nước Mỹ, chúng tôi sẽ tuyên chiến với họ ngay lập tức, ông biết không? Dạ tôi biết, thủ tướng đã nói điều đó nhiều lần. Churchill: Nếu Nhật Bản tuyên chiến với nước Anh, thì chính phủ Mỹ có tuyên chiến với họ hay không? (Lúc đó Churchill đang lo Nhật, sau khi vào Việt Nam, sắp tấn công các thuộc địa Anh ở Hồng Kông, Singapore, Miến Ðiện, Mã Lai). Ðại sứ Mỹ đáp: Thưa thủ tướng tôi không thể trả lời được. Vì theo Hiến Pháp chỉ Quốc Hội Mỹ mới có quyền tuyên chiến!

Nỗi thắc mắc của Churchill sau được giải quyết, nhờ Nhật Bản. Ngày 7 tháng 12 năm 41, Nhật tấn công Pearl Habor, Quốc Hội Mỹ biểu quyết tham dự vào cuộc Ðại Chiến Thứ Hai - vì quyền lợi của nước họ, tuy nhiên vẫn có một phiếu chống!

Nhưng trong thời gian sau đó, chính phủ Mỹ luôn luôn tỏ ý muốn ngăn cản không cho nước Anh trở về thống trị các thuộc địa cũ. Họ tìm cách hạ thấp vai trò của Anh tại Thái Bình Dương. Bộ chỉ huy quân Mỹ ở không cho Hải quân Hoàng gia Anh tham dự các trận đánh Phi Luật Tân hay Okinawa, mặc dù Tướng Mountbatten ngỏ ý muốn giúp. Khi quân Nhật đảo chính Pháp ở Ðông Dương, Anh Quốc yêu cầu quân Mỹ giúp vũ khí cho mấy ngàn quân Pháp đang chạy qua trú ở Trung Quốc để họ quay về đánh Nhật. Bởi vì nếu để một xứ Việt Nam trở về tay chính quyền do người Việt Nam cầm đầu (chính phủ Trần Trọng Kim), thì sẽ có hại cho nền cai trị của Anh ở Miến Ðiện, Mã Lai sau này. Nhưng quân đội Mỹ, đang có mặt bên cạnh Tưởng Giới Thạch, đã từ chối không giúp tàn quân Pháp; ngược lại họ còn giúp các người Việt chống Pháp. Cố vấn chính trị của Tướng Mountbatten than rằng chính quyền Mỹ coi nước Anh như “tiểu bang thứ 49” của họ! Tại Paris, Tướng De Gaule than phiền với Ðại Sứ Mỹ Jefferson Caffery, “Tôi không hiểu các ông muốn cái gì! Các ông có muốn nước Pháp sẽ thành một nước trong Liên Bang Xô Viết hay không?” Ngày 19 tháng 3, hơn hai tuần sau cuộc đảo chính Nhật, Churchill đánh điện kêu gọi chính phủ Mỹ hãy giúp vũ khí cho tàn quân Pháp. Ngoại trưởng Mỹ chuyển qua cho Tướng Wedemeyer ở Trùng Khánh, nhưng quân Mỹ bất động, chỉ lo gửi hai máy bay qua Việt Nam cứu các điệp viên OSS của họ. Sau khi Nhật đầu hàng, quân Anh được phép vào miền Nam Việt Nam, nhưng khi họ để cho quân Pháp trở lại Sài Gòn thì đại diện quân đội Mỹ rút ra khỏi Ủy Ban Kiểm Soát, không tham dự vào đạo quân đồng minh ở đó nữa.

Hai nước Anh và Mỹ từ đầu đến cuối Ðại Chiến Thứ Hai vẫn là đồng minh, nhưng mỗi nước vẫn chỉ lo cho quyền lợi của chính mình. Mà không phải chỉ có hai nước đó. Nga và Ðức đã ký hiệp ước không đánh nhau trước khi Ðức tấn công Pháp (Bạn). Nhưng sau đó, Ðức đã đánh sang Nga (Thù). Nhật Bản và Nga đã kết bạn, ký thỏa ước bất tương xâm năm 1941, nhưng sau khi bom nguyên tử Mỹ đã thả xuống nước Nhật, Nga tuyên chiến và tiến quân vào Mãn Châu. Nếu không có Mỹ ngăn cản thì Nga đã tiến chiếm lấy đảo Hokkaido ở phía Bắc nước Nhật.

Trong việc ngoại giao, các quốc gia không thể coi một nước khác hoàn toàn là bạn, hay là kẻ thù. Chính quyền mỗi nước phải theo quy tắc đó, không nên bắt dân chúng tụng đọc mỗi ngày những bài tuyên truyền ca ngợi các nước bạn vĩ đại, hoặc phỉ nhổ nước khác là kẻ thù man rợ! Khi cả nước tỉnh táo, người ta không cần yêu quá mà cũng không ghét quá, thì lòng người không thù hận mà cũng sợ hãi.

Trong các cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc tháng 6 năm 2011 có một điều đáng mừng là người Việt Nam đi biểu tình ở khắp nơi chỉ hô hào chống lại những hành động sai trái cụ thể của chính phủ Bắc Kinh mà không bày tỏ lòng thù hận với người dân Trung Hoa ở lục địa. Thế giới sẽ nhìn vào thái độ đó mà kính trọng người Việt Nam, nước Việt Nam. Nhờ thế, chúng ta mới có thể kêu gọi các nước khác giúp nước ta tránh khỏi bị nước láng giềng tiếp tục lấn áp.

Các cuộc chiến thường xẩy ra giữa các nước khi chính quyền của một nước muốn gây chiến mà người dân không được quyền quyết định cũng như không biết những tai hại của chiến tranh. Các chính quyền độc tài thường sử dụng một khí cụ để gây chiến, là kích thích lòng ái quốc, thúc đẩy thù hận bằng lối tuyên truyền một chiều. Cuối cùng thì sau mỗi cuộc chiến tranh, người dân luôn luôn bị thiệt hại. Nếu được tự do chọn lựa, dân chúng các nước đều không muốn chiến tranh. Chỉ có thể giảm bớt chiến tranh khi người dân các quốc gia đều được thông tin đầy đủ. Khi nào hai quốc gia đều theo chế độ tự do dân chủ thì chính quyền khó nói dối người dân để đưa họ vào vòng chinh chiến.

Chỉ khi nào hai nước Việt Nam và Trung Hoa đều sống trong thể chế tự do dân chủ thì chúng ta mới hy vọng giảm bớt được những xung đột trên mặt biển hiện nay. Trong khi chờ đợi, người Việt Nam cứ phải luôn luôn bày tỏ thái độ kịch liệt phản đối những hành động lấn áp, có lúc tàn bạo, của chính quyền Trung Quốc, để chứng tỏ dân Việt Nam không chịu khuất phục.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy đã đến Mỹ tị nạn
SAN FRANCISCO (NV) – Nhà văn, nhà báo tự do Trần Khải Thanh Thủy được nhà cầm quyền Việt Nam phóng thích nhờ sự can thiệp của chính phủ Hoa Kỳ và Dân Biểu Loretta Sanchez và một số dân cử khác. Cũng nhờ sự vận động đó, bà Trần Khải Thanh Thủy đã được đến Mỹ định cư tị nạn cùng với cô con gái út 14 tuổi. Ông chồng là Ðỗ Bá Tân vẫn còn ở lại Việt Nam.
Theo bản thông cáo báo chí của văn phòng bà Dân Biểu Loretta Sanchez, bà nói rằng: “Tôi rất vui mừng khi được Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cho biết nhà văn Trần Khải Thanh Thủy đã được đoàn tụ an toàn với người con gái của bà tại thành phố San Francisco, California, nơi mà tiếng nói và niềm tin của bà sẽ được tôn trọng.”

Image
Bà Trần Khải Thanh Thủy bị người của công an hành hung vỡ đầu ngày 8 tháng 10, 2009 nhưng lại bị kết án tù vì “cố ý gây thương tích.”
(Hình do gia đình cung cấp)

“Tôi cũng muốn cùng với người dân Việt Nam và cộng đồng Việt Nam trên toàn thế giới nói lên mối quan tâm của họ trong vấn đề tranh chấp Biển Ðông của quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tôi kêu gọi nhà nước Việt Nam nên tôn trọng các quyền căn bản của tự do ngôn luận và hội họp vì mỗi người dân Việt Nam đều có quyền bày tỏ mối quan tâm của họ đối với vấn đề của đất nước.”

Cô Lyly Ngọc Hiếu Nguyễn, đại diện văn phòng bà Sanchez tại quận Cam California cho hay bà Thanh Thủy và con gái tới phi trường quốc tế San Francisco sáng ngày Thứ Năm, 23 tháng 6.

Bà Trần Khải Thanh Thủy, 50 tuổi, bị nhà cầm quyền Việt Nam dàn dựng một vụ đánh nhau trước nhà ở Hà Nội ngày 8 tháng 10, 2009 rồi bắt giam vì bà đã từ Hà Nội xuống Hải Phòng theo dõi vụ xử án nhóm 6 người chống Trung Quốc, chống tham nhũng đòi dân chủ ở Hải Phòng.

Bà bị đưa ra tòa kết án tù 3 năm rưỡi ngày 25 tháng 2, 2010.

Các luật sư biện hộ cho vợ chồng bà Thủy ở phiên tòa ở thẩm cũng như phúc thẩm ngày 16 tháng 4, 2010 đã trình bày cho thấy vợ chồng bà là nạn nhân của một vụ hành hung lại bị biến thành “hung thủ,” tính chất của một vụ dàn dựng rất vụng về. Các chứng cứ đưa ra đều bị bác, các chứng cớ ngụy tạo lại được chấp nhận.

Tháng 10 năm ngoái, ông Tân cho báo Người Việt hay là bà vợ ông đã bị đánh trong tù.

Nhờ các nỗ lực vận động của bà Dân Biểu Sanchez với bà Ngoại Trưởng Clinton suốt hơn một năm qua và Bộ Ngoại Giao Mỹ áp lực lại Hà Nội mà mẹ con bà Thanh Thủy mới được trả tự do và đi tị nạn. (TN)

Theo: Người Việt


Thông Cáo Báo Chí

Dân Biểu Loretta Sanchez
Địa Hạt Liên Bang 47th, California www.house.gov/sanchez


WASHINGTON, D.C. – Dân Biểu Liên Bang Loretta Sanchez (CA-47), Đồng Chủ tịch Nhóm Congressional Caucus on Việt Nam phát biểu trước sự tự do của nhà văn Trần Khải Thanh Thuỷ. Từ năm 2009 tới nay, Dân Biểu Sanchez đã nhiều lần kêu gọi tự do cho các tiếng nói lương tâm như Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy qua những lời phát biểu và các lá thư vận động tại Hạ Viện Hoa Kỳ. Dân Biểu Sanchez cũng đã gặp gia đình của Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy và công khai lên tiếng cho bà trong cuộc họp với Bộ Trưởng Ngoại Giao, Hillary Clinton.

"Cùng với cộng đồng người Mỹ gốc Việt, tôi hân hoan chào đón Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy về với tự do. Nhưng chúng ta hãy nhớ rằng sự giam giữ bất công của nhà tranh đấu dân chủ ôn hoà Trần Khải Thanh Thủy trong hai năm vừa qua không nên bao giờ xãy ra, khi bà phải đối đầu với những ngày tháng lao tù không có sự chăm sóc y tế cần thiết. Tôi kêu gọi nhà nước Việt Nam hãy tiếp tục trả tự do vô điều kiện cho tất cả các tù nhân lương tâm, gần đây nhất là Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đỗ Thị Minh Hạnh, Đoàn Huy Chương, Mục sư Dương Kim Khải, Trần Thị Thúy, Phạm Văn Thông, Cao Văn Tỉnh, Nguyễn Thành Tâm, Nguyễn Chí Thành, và Phạm Ngọc Hoa của Tỉnh Trà Vinh, Tiền Giang và Bến Tre trong các phiên toàn gần đây. Nhà nước Việt Nam nên tiếp tục có những nỗ lực cho thấy họ thật sự tôn trọng các quyền tự do báo chí, ngôn luận và tự do hội họp. "

"Tôi rất vui mừng khi được Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cho biết Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy đã được đoàn tụ an toàn với người con gái của bà tại thành phố San Francisco, California, nơi mà tiếng nói và niềm tin của bà sẽ được tôn trọng.”

"Tôi cũng muốn cùng với người dân Việt Nam và cộng đồng Việt Nam trên toàn thế giới nói lên mối quan tâm của họ trong vấn đề tranh chấp Biển Đông của quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tôi kêu gọi nhà nước Việt Nam nên tôn trọng các quyền căn bản của tự do ngôn luận và hội họp vì mỗi người dân Việt Nam đều có quyền bày tỏ mối quan tâm của họ đối với vấn đề của đất nước.”

Dân Biểu Liên Bang Hoa Kỳ Loretta Sanchez đại diện địa hạt 47, khu vực bao gồm thành phố Anaheim, Garden Grove, Santa Ana và Fullerton tại Quận Cam. Dân biểu Sanchez hiện thành viên cao cấp của Uỷ Ban An Ninh Quốc Nội; người nữ dân biểu giữ chức vụ cao nhất trong Uỷ Ban Quân Sự Hạ Viện; thành viên của Ủy Ban Kinh Tế Lưỡng Viện Quốc Hội xem xét các vấn đề liên quan đến nền kinh tế Hoa Kỳ. Bà cũng là đồng sáng lập viên Nhóm Việt Nam Congressional Caucus quan tâm đến vấn đề nhân quyền tại Việt Nam .



Lilly Ngoc Hieu Nguyen
Field Representative
Office of Congresswoman Loretta Sanchez
12397 Lewis Street, Suite 101
Garden Grove, CA 92840
714-621-0102 (O)
714-621-0401 (F)
lilly.nguyen@mail.house.gov
www.LorettaSanchez.house.gov

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Kinh tế Mỹ còn chưa lên

Ngô Nhân Dụng


Ngày hôm qua giá dầu thô trên thế giới đã giảm, nhưng đó không phải là một tin mừng. Giá dầu hạ thấp một phần vì có 60 triệu thùng dầu được lấy từ các kho dự trữ quốc tế được đưa ra thị trường.

Nhưng 60 triệu thùng dầu không đủ làm cho giá tụt xuống mất 4.4%. Nguyên nhân chính yếu và ảnh hưởng lâu dài là những nhà buôn dầu tiên đoán kinh tế thế giới sẽ giảm tốc độ tăng trưởng, do đó sẽ bớt sử dụng dầu; đặc biệt là hai nền kinh tế dùng nhiều năng lượng nhất là Mỹ và Trung Quốc.

Một ngày trước, Thứ Tư, 22 tháng 6, chủ tịch Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang Hoa Kỳ (tức Ngân Hàng Trung Ương Mỹ) báo tin chấm dứt chương trình Q2 kích thích kinh tế bằng tiền tệ; mặc dù ông cũng tiên đoán nỗi khó khăn kinh tế sẽ còn tiếp tục ít nhất qua năm 2012. Trong ba tháng qua, rất nhiều tin đáng lo, cả số tiêu thụ và các nhà sản xuất công nghiệp đều không gia tăng hoạt động như mọi người trông đợi. Hai triệu chứng xấu nhất là số nhà cửa mới xây bán được vẫn tiếp tục xuống và tỷ lệ người thất nghiệp vẫn nhấp nhỉnh ở mức 9%. Tại Trung Quốc, chính quyền cố kìm hãm khối lượng tiền tệ để giảm nhiệt độ lạm phát đã lên trên 5%; các ngân hàng bớt đổ tiền ra cho các xí nghiệp vay trong lúc việc xuất cảng cũng trì trệ; cả hai hiện tượng đó khiến cho trong tháng 6 số sản xuất công nghiệp không gia tăng được, một dấu hiệu rất đáng lo cho một nước còn đang phát triển với tình trạng lúc nào cũng có vài trăm triệu công nhân đi tìm việc.

Những tin tức kinh tế từ khu vực Âu Châu cũng không lạc quan, các nhà lãnh đạo đang báo trước sẽ giảm bớt chi tiêu và tăng lãi suất, đặc biệt là Hy Lạp phải tăng thuế để được cho vay thêm nợ. Trận động đất và sóng thần ở Nhật khiến cho sức sản xuất tê liệt cũng là một sức kéo kinh tế thế giới cùng xuống; tất cả cho thấy rất đáng lo ngại. Riêng tại Mỹ, đã có báo động về một hiện tượng kinh tế “Xuống Hai Lần,” theo hình chữ W có thể xẩy ra như những năm 1936, 37.

Kinh tế Mỹ thực sự suy thoái từ cuối năm 2007 khi tổng số sản xuất giảm chứ không tăng; nhưng đến tháng 6 năm 2009 đã chính thức chấm dứt; nghĩa là bắt đầu tăng lên. Nhưng đó chỉ các số thống kê; khi tổng số sản xuất trong nước tăng lên được 1% hay 2% thì coi như cơn suy thoái đã hết rồi. Nhưng trên thực tế, người dân không đọc các con số đó mà chỉ quan tâm đến công việc làm. Cho nên khi thấy trong tháng 5 cả nước Mỹ chỉ tăng thêm được 54,000 công việc làm mới (đáng lẽ phải tăng thêm 200 ngàn), con số này thấp hơn cả 2 tháng trước; đồng thời số người nộp đơn xin trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp lần đầu đã tăng lên; thì ai cũng lo lắng. Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang đã hạ thấp dự đoán tỷ lệ tăng trưởng cho cả năm 2011, kinh tế Mỹ sẽ chỉ tăng với nhịp độ từ 2.7 đến 2.9% chứ không phải trên 3% như tiên đoán lạc quan trước đây; và tỷ lệ thất nghiệp vào cuối năm nay sẽ vẫn giữ mức 8.9%.

Trong một chu kỳ kinh tế bình thường, một năm sau khi chấm dứt suy thoái thì kinh tế Mỹ đã phải tăng lên với tốc độ 3% trở lên để lấy lại cái đà đã mất. Theo kinh nghiệm, lúc suy thoái xuống càng sâu thì khi lên đà gia tăng càng mạnh. Nhưng điều này đã không xẩy ra trong chu kỳ này. Mặc dù kinh tế Mỹ đã xuống rất nặng nề trong năm 2008, nhưng cho đến nay vẫn chưa có đà lên đủ mạnh. Lý do chính là cuộc suy thoái vừa qua do một cuộc khủng hoảng tín dụng gây nên; không như những cuộc suy thoái phần lớn do chênh lệch cung cầu gây nên.

Phần lớn các vụ suy thoái kinh tế khởi sự khi số cung tăng lên quá so với số cầu, vì các nhà sản xuất hoạt động mạnh hơn trong khi giới tiêu thụ không tăng nhu cầu cùng một tốc độ. Cơn suy thoái bắt đầu khi một số nhà sản xuất phải ngưng hoạt động, gây ra cảnh thất nghiệp khiến giới tiêu thụ càng giảm số cầu xuống nữa. Suy thoái là một hiện tượng tự nhiên để bắt buộc nền kinh tế phải tự điều chỉnh.

Nhưng khi một cơn suy thoái lại do thị trường tín dụng gây ra thì tốc độ điều chỉnh rất chậm chạp. Hệ thống ngân hàng gây nên cơn khủng hoảng vì cho vay bừa bãi không đúng tiêu chuẩn đưa tới cảnh nhiều người vỡ nợ vì sau đó không đủ sức trả tiền lãi và vốn. Các ngân hàng đã tung tiền vào thị trường, và trong một thời gian gánh chịu hậu quả. Hiện tượng này đã diễn ra trong năm 2007, 2008 ở nước Mỹ; chính phủ Gorges W. Bush đã phải dùng 700 tỷ tạm cứu các ngân hàng lớn trên đà phá sản. Nhưng sau đó, hoạt động của cả hệ thống các ngân hàng rơi vào cảnh trì trệ. Những luật lệ mới đặt ra với mục đích buộc các ngân hàng phải làm ăn cẩn trọng hơn để tránh những cuộc khủng hoảng tương lai; nhưng vì thế mà chính các ngân hàng càng trở nên càng dè dặt hơn, không dám cho vay như trước nữa. Cùng trong thời gian này, hệ thống ngân hàng ở nước láng giềng Canada vẫn không bị khủng hoảng, chỉ vì họ theo những quy tắc bảo thủ và dè dặt khi cho vay nợ; nhờ thế cơn suy thoái ở Mỹ lần này không ảnh hưởng tới Canada như thường xẩy ra trong quá khứ.

Khi số tiền đổ vào nền kinh tế Mỹ bị ngưng trệ, không lưu hoạt và năng động nữa, thì cả nền sản xuất và hoạt động tiêu thụ cũng trì trệ. Trong những chu kỳ kinh tế bình thường, guồng máy sản xuất tự điều chỉnh nhanh hơn. Còn tốc độ tự điều chỉnh của hệ thống ngân hàng chậm hơn. Chúng ta có thể hiểu là việc thanh toán những kho hàng hóa ế không bán được tương đối dễ dàng hơn việc thanh toán những món nợ không đòi được! Năm 2000, tổng số nợ của dân chúng Mỹ lớn bằng 100% tổng số lợi tức kiếm được của họ trong năm đó; đến năm 2005, tỷ số Nợ trên Lợi tức tăng lên thành 120% và qua năm 2007 vượt lên gần 140%! Cho tới nay, tổng số nợ của dân Mỹ đã giảm xuống nhưng mới xuống tới tỷ số 120% như năm 2005!

Khi tổng số nợ của dân chúng giảm bớt, chính quyền liên bang và Ngân Hàng Trung Ương đã phải đứng ra đóng vai con nợ để thay thế, miễn sao cho đồng tiền tiếp tục lưu thông. Chính phủ Obama đã đưa vào nền kinh tế Mỹ khoảng 1,200 tỷ đô la với các chương trình kích thích kinh tế; Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang đã in thêm tiền để bơm vào hệ thống tài chánh tổng cộng 2,300 tỷ đô la, hiện đang chấm dứt chương trình gọi là Q2, mua 600 tỷ công trái từ các ngân hàng trong nửa đầu năm 2011.

Nhưng các nỗ lực “kích thích” của chính quyền Obama và Ngân Hàng Trung Ương Mỹ (độc lập với chính phủ) hiện vẫn chưa thúc đẩy được cho nền kinh tế chạy với một tốc độ nhanh hơn để thoát khỏi cảnh trì trệ. Nhiều người cho rằng đáng lẽ chính phủ Obama phải gia tăng chi tiêu để kích thích kinh tế ngay từ năm ngoái, thay vì giới hạn ở con số 700 tỷ. Tổng số người đang làm việc ở Mỹ đã giảm xuống rất nhanh trong những năm từ 2007 đến 2009; và cho tới nay vẫn chưa tăng lên được trên mức thấp nhất đó. Muốn giảm bớt tỷ lệ thất nghiệp thì phải thêm một chương trình kích thích kinh tế nữa! Nhiều người cũng chỉ trích ông Ben Bernanke, chủ tịch Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang, không mạnh dạn tiếp tục với một chương trình Q3 để thúc đẩy tiền tệ lưu hoạt hơn.

Tuy nhiên, trong đời sống kinh tế người ta luôn luôn phải lựa chọn, và phải lựa chọn trong khi không biết chắc chắn hậu quả của các chính sách mà mình theo đuổi.

Trong lúc chính quyền Mỹ có thể gia tăng số chi để kích thích kinh tế thì thế nào cũng phải đồng thời tăng số khiếm hụt ngân sách, tăng số nợ của quốc gia, cả hai sẽ khiến cho mức độ tín nhiệm của thế giới vào nền kinh tế Mỹ giảm bớt. Khi Ngân Hàng Trung Ương Mỹ in thêm tiền đẩy qua cho ngân hàng thì họ cũng biết một hậu quả có thể làm cho giá cả gia tăng, lạm phát sẽ khó tránh được. Khi lạm phát tăng, thí dụ từ 2% lên 4%, tức là toàn thể dân chúng bị “tăng thuế” thêm 2% một cách gián tiếp! Những người quyết định về kinh tế luôn luôn phải lựa chọn, giữa các giải pháp với các hậu quả đối nghịch với nhau. Hiện nay ông Bernanke không đồng ý với một chương trình Q3 nhưng cũng chưa hoàn toàn gạt bỏ đề nghị này.

Ðiều đáng lo là chương trình 700 tỷ kích thích kinh tế của Tổng Thống Barack Obama sẽ chấm dứt vào cuối năm nay và cả hành pháp và các nhà lập pháp Mỹ hiện vẫn chưa thỏa hiệp được về những việc cần làm tiếp. Ðảng Cộng Hòa kêu gọi phải chú ý giảm bớt khiếm hụt ngân sách; đảng Dân Chủ quan tâm đến nạn thất nghiệp hơn. Phó Tổng Thống Joe Biden đang họp bàn với sáu nghị sĩ thuộc cả hai đảng để quyết định việc nâng cao mức trần của tổng số nợ quốc gia lên trên con số 14,300 tỷ đô la. Cuộc mặc cả này là một cơ hội để hai đảng thỏa hiệp. Các đại biểu Quốc Hội cũng như ông tổng thống đều biết rằng sang năm 2012 cử tri sẽ đánh giá họ qua tình hình kinh tế, một thước đo khách quan và giản dị nhất, khi quyết định có bỏ phiếu cho họ nữa hay không.

Trong khi chờ đợi, người ta có thể thấy vài niềm hy vọng. Kinh tế thế giới sẽ không xuống nữa mà có thể vươn lên, khi giá dầu lửa giảm xuống; đồng thời nền kinh tế Nhật Bản sẽ hồi phục lại sau những ảnh hưởng nhất thời của cuộc động đất và sóng thần. Khi giá xăng dầu xuống thì người dân Mỹ thấy có thêm tiền tiêu thụ vào những sản phẩm và dịch vụ khác, thay vì đem tiền nộp cho các quốc gia sản xuất dầu lửa! Khi người tiêu thụ chịu chi tiền ra, tự nhiên các nhà sản xuất sẽ chạy theo, họ sẽ tuyển dụng công nhân, và tỷ lệ thất nghiệp sẽ thấp xuống. Bao giờ sẽ thấy cảnh đó? Theo ông Ben Bernanke nhìn, thì ít nhất chúng ta phải đợi tới nửa cuối năm 2012!

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Khi học giả quốc tế ‘chỉnh huấn’ Trung Quốc về biển Ðông

Hoàng Phương
(Nguồn: Thông Luận)

“Nghe phần trình bày của GS Tô Hạo, tôi mới thấy rõ một điều, Trung Quốc và ASEAN khác nhau về phong cách”,
TS Termsak Chalermpalanupap, giám đốc ban an ninh chính trị thuộc ban thư ký ASEAN nhận xét.

Image
Bản đồ biển Ðông và vị trí lúc tàu hải giám Trung Quốc cắt cáp tàu Bình Minh 02 của Việt Nam. (Hình: tuoitredatquang.com)

Dừng một chút, ông tấn công: “Các nước ASEAN thì nói và nói (talk and talk) còn Trung Quốc thì miệng nói và tay làm (talk and take)”.

Một phóng viên nước ngoài đã nhận xét, có lẽ vì vấn đề biển Ðông nên thu hút rất đông học giả và chính khách tên tuổi đến dự hội thảo về an ninh hàng hải tại biển Ðông do CSIS tổ chức. Căn phòng chật kín đến mức TS Termsak Chalermpalanupap phải ngạc nhiên và nghiệm ra độ nóng của vấn đề biển Ðông.

Ngày thảo luận đầu tiên 20 tháng 6 (giờ Washington) căng và nóng rẫy sau phần tham luận trình bày quan điểm và chủ trương của Trung Quốc ở biển Ðông của GS Tô Hạo đến từ ÐH Ngoại Giao Trung Quốc.

Chất vấn và chỉnh huấn, có vẻ đó là những gì các học giả và chính khánh quốc tế tại hội thảo đã làm với vị giáo sư Trung Quốc và những đồng sự của ông. Ðã có lúc, TS Tô Hạo phải kêu lên: “tôi không phải là người phát ngôn của Trung Quốc”.

Ai sợ ai?

Trong bài phát biểu của mình, GS Tô Hạo cho rằng, chính hành động của các nước trong khu vực đã làm cho Trung Quốc “sợ” (scared).

“Một vài nước nói rằng Trung Quốc những năm gần đây có thái độ quá mạnh đối với vấn đề biển Ðông, nhưng tôi tin là lý do Trung Quốc có thái độ quyết đoán như vậy bởi một vài nước đã có những phản ứng quá mạnh đối với những gì đang xảy ra chống lại Trung Quốc. Ðó là lý do làm cho Trung Quốc sợ và làm cho chúng tôi phải nói gì đó để bảo vệ chủ quyền đối với biển Ðông”.

Ðến từ Viện Nghiên Cứu Brookings, TS Tạ Tuấn đặt câu hỏi, “hành động nào của láng giềng khiến Trung Quốc sợ? Là hoạt động đánh bắt cá của ngư dân Việt Nam và Philippines trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý tính từ đường cơ sở được công nhận bởi Công ước Luật biển quốc tế 1982 của mỗi nước chăng? Là hoạt động thăm dò của công ty dầu khí cũng trong vùng đặc quyền kinh tế ấy mà Trung Quốc đã cho tàu hải giám (tàu quân sự cải hoán) cắt cáp chăng?

Không chỉ ra được hành động nào, vị GS Trung Quốc phân bua: “Không hẳn là sợ... Nhưng cá nhân tôi lo ngại. Rõ ràng, những năm trước, có rất nhiều hoạt động hợp tác giữa Trung Quốc và các nước ở biển Ðông. Một năm trở lại đây, căng thẳng gia tăng...

Vì sao căng thẳng gia tăng một năm trở lại đây? Câu hỏi của ông Tô Hạo đã được hầu hết các học giả tại diễn đàn này chỉ ra. Thỏa thuận về các nguyên tắc ứng xử trên biển Ðông đã không thể ngăn được leo thang tranh chấp, không ngăn được hành động gây hấn của Trung Quốc. Hơn nữa, như TNS Mỹ John McCain chỉ ra, các hành động này dựa trên “các quyền tự phong” của Trung Quốc.

Ðiều đáng nói, như TS Termsak Chalermpalanupap lưu ý, khi chiến hạm Mỹ đi qua đường chữ U để vào Ðà Nẵng thì Trung Quốc không lên tiếng phản đối, nhưng khi ngư dân Việt Nam hay các tàu của VietNamPetro hoạt động ở khu vực này thì gặp những phiền nhiễu do phía Trung Quốc gây nên.

“Nghe phần trình bày của GS Tô Hạo, tôi mới thấy rõ một điều, Trung Quốc và ASEAN khác nhau về phong cách”, TS Termsak Chalermpalanupap, giám đốc ban an ninh chính trị thuộc ban thư ký ASEAN nhận xét.

Dừng một chút, ông tấn công: “Các nước ASEAN thì nói và nói (talk and talk) còn Trung Quốc thì miệng nói và tay làm (talk and take)”.

Giáo sư Peter Dutton thuộc Ðại học Hải quân Mỹ chia sẻ, “nếu tôi là các nước ASEAN, tôi sẽ rất lo lắng”.

“Theo tôi biết, Trung Quốc đề xuất thương lượng với ASEAN, rằng cùng hợp tác, lo phát triển kinh tế, và chấp nhận yêu sách chủ quyền của Trung Quốc. Ðó là cuộc thương lượng tồi, bởi lẽ ASEAN sẽ phải hy sinh lợi ích lâu dài để đổi lại lợi ích thương mại ngắn hạn với Trung Quốc”.

“Tại sao Trung Quốc quyết tâm thực hiện kiểm soát biển Ðông và các nguồn tài nguyên của nó?”, TS Peter Dutton nêu câu hỏi trong khi chính học giả Trung Quốc lại thắc mắc với học giả Việt Nam, tại sao các sự kiện giữa tàu Trung Quốc và tàu thăm dò của Việt Nam lại xảy ra vào thời điểm này.

“Ðây cũng là câu hỏi của chúng tôi. Tại sao tàu Trung Quốc lại cắt cáp tàu thăm dò của Việt Nam vào thời điểm ngay trước khi diễn ra nhiều sự kiện quan trọng như Hội nghị Shangri-la”, TS Trần Trường Thủy, Học Viện Ngoại Giao Việt Nam đáp lời.

Bà Bonner Glaser, giám đốc Ban Trung Quốc của CSIS nhắc lại việc Trung Quốc vi phạm tuyên bố ứng xử của các bên ở biển Ðông (DOC) như dựng cột mốc chủ quyền trên các bãi đá ngầm ở Amy Douglas Bank thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Philippines và cắt dây cáp thăm dò dầu khí thuộc tàu Bình Minh 2 và tàu Viking của Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, khu vực trước đây chưa hề bị tranh chấp.

Theo bà, những diễn tiến xảy ra tại biển Ðông gắn chặt với các vấn đề nội bộ của Trung Quốc, nơi mà chủ nghĩa quốc gia đã đi hơi quá đà, đặt ra thách thức cho giới lãnh đạo Bắc Kinh trong thời điểm nhạy cảm khi Trung Quốc đang bước vào giai đoạn chuyển giao lãnh đạo.

Trước đó, dẫn lại lời của GS Tô Hạo, “chủ quyền là lợi ích quốc gia mà một chính thể không thể từ bỏ, nếu muốn tồn tại”, một học giả đến từ Philippines đưa ra nghi vấn, phải chăng, có quá nhiều vấn đề chính trị nội bộ của Trung Quốc trong vấn đề biển Ðông.

Hơn nữa, “Trung Quốc chưa thu được giọt dầu nào từ biển Ðông, trong khi nhiều nước ASEAN như Việt Nam, Philippines đã khai thác được dầu khí. Chúng tôi đòi chia sẻ lợi ích công bằng”, GS Tô Hạo nói.

“Ðường lưỡi bò - một yêu sách tham lam, thiếu căn cứ”

“Vấn đề là Trung Quốc yêu sách tất cả”, học giả đại diện cho ASEAN, TS Termsak Chalermpalanupap lên tiếng. “Vì yêu sách này, Trung Quốc đã tạo chồng lấn với các nước thành viên ASEAN, và đó là lý do Trung Quốc luôn muốn tiếp cận song phương”, ông nói.

Các học giả đều chia sẻ quan điểm rằng Trung Quốc đang “yêu sách tham lam, thiếu căn cứ” với bản đồ 9 đoạn hình chữ U mới được trình lên LHQ cách đây chưa lâu.

Với yêu sách đường chữ U, Trung Quốc thực sự đòi bao nhiêu trên biển Ðông? Tất cả biển Ðông chăng? Bản đồ 9 đoạn hình chữ U thực chất thể hiện điều gì, và dựa trên cơ sở nào, rất nhiều học giả nêu câu hỏi.

Khẳng định “không phải Trung Quốc đòi hỏi toàn bộ biển Ðông”, thế nhưng GS Tô Hạo cũng không lý giải được nguồn cơn của đường chữ U. “Ðây là vấn đề phức tạp.”

Ông đã viện dẫn “di sản lịch sử” để biện minh cho đường chữ U, rằng đó là di sản lịch sử sau Chiến tranh thế giới thứ 2, là di sản của thời Tống để lại...

Giám đốc Ủy Ban Pháp Quyền Ðại Dương của Mỹ, Caitlyn Antrim, khẳng định đường chữ U không có cơ sở theo luật quốc tế bởi cơ sở lịch sử là rất yếu và rất khó bảo vệ.

“Tôi không hiểu Trung Quốc tuyên bố cái gì trong đường chữ U đó. Nếu họ tuyên bố chủ quyền với các đảo do đường ấy bao quanh, thì câu hỏi đặt ra là họ có chứng minh được chủ quyền với các đảo đó hay không. Nếu Trung Quốc có tuyên bố chủ quyền với các đảo từ 500 năm trước, nhưng sau đó lại bỏ trống thì tuyên bố chủ quyền trở nên rất yếu. Ðối với các đảo không có cư dân sinh sống thì họ chỉ có thể tuyên bố lãnh hải, chứ không thể tính vùng đặc quyền kinh tế từ các đảo đó”, bà Caitlyn Antrim nói.

Không đồng tình với cách giải thích của Trung Quốc về ý nghĩa của đường lưỡi bò liên quan tới lịch sử, TS Peter Dutt nói: “Về quyền tài phán đối với các vùng biển, lịch sử không liên quan gì cả, mà phải tuân theo UNCLOS... Việc dùng lịch sử để giải thích chủ quyền làm xói mòn các quy tắc của UNCLOS”.

Giáo Sư Carl Thayer từ Học Viện Quốc Phòng Australia nói rằng việc học giả Trung Quốc sử dụng “di sản lịch sử” để giải thích về tuyên bố chủ quyền một lần nữa bộc lộ việc thiếu cơ sở pháp lý theo luật quốc tế trong tuyên bố chủ quyền này.

“Trung Quốc yêu sách đường chữ U nhưng lại không rõ thực ra đường chữ U thể hiện điều gì. Trung Quốc nói quan hệ bạn bè, thực ra cũng không biết có phải là bạn hay không. Giống như anh vừa giơ tay ra bắt, vừa cướp thức ăn trên tay bạn”, một học giả Philippines nói. “Nếu Trung Quốc đã tự tin như vậy về cơ sở cho yêu sách của mình, sao lại phản đối sự tham gia của bên thứ ba trong việc giải quyết vấn đề? Hiện có nhiều cơ chế theo UNCLOS hay ICJ...

Chia sẻ góc nhìn này, một học giả gốc Việt đang sống tại Mỹ nói, sao Trung Quốc lại khăng khăng đòi giải quyết song phương với các nước nhỏ? Ðể Trung Quốc dễ bề “chia rẽ các nước ASEAN, để các nước đối đầu với nhau” như nhận định của TNS John McCain chăng?

Hành xử trách nhiệm?

Học giả Trung Quốc luôn khẳng định, Trung Quốc “hành xử trách nhiệm”, “hành xử theo luật và các quy chuẩn quốc tế”, vì “hình ảnh quốc gia”. Trung Quốc luôn “cố gắng hạ nhiệt để giảm căng thẳng”, “sẵn sàng chia sẻ lợi ích trên biển Ðông”.

“Nghe Trung Quốc nói về chính sách, nước nào cũng thấy vui, nhưng hy vọng, Trung Quốc thực hành những gì mình nói”, TS Ðặng Ðình Quý, giám đốc Học Viện Ngoại Giao Việt Nam dẫn lại phát biểu của một quan chức ASEAN. Ðáng tiếc “vẫn tồn tại khoảng cách giữa lời nói và việc làm của Trung Quốc, và khoảng cách ấy đang lớn lên”.

Thiện chí hợp tác của Trung Quốc đến đâu, cứ nhìn quá trình chuyển từ tuyên bố về ứng xử của các bên trên biển Ðông DOC, mang tính cam kết chính trị, sang bộ quy tắc ứng xử trên biển Ðông COC mang tính ràng buộc pháp lý cao là thấy.

ASEAN đã rất nỗ lực để đạt đồng thuận trong vấn đề COC, TS Termsak Chalermpalanupap cho hay.

Gần 10 năm trước, khi bàn về DOC, chính các nước ASEAN đã không thể thống nhất được phạm vi điều chỉnh của các quy tắc ứng xử, đành chấp nhận một giải pháp tình thế, không nhắc đến trong văn bản.

“Lúc này, tất cả các thành viên ASEAN đã sẵn sàng thảo luận về phạm vi điều chỉnh của bộ quy tắc ứng xử trên biển Ðông COC”, vượt qua trở ngại cũ.

20 lần, các nước ASEAN đã thống nhất được đề nghị về COC để đưa ra bàn với Trung Quốc. Và cả 20 lần, Trung Quốc đều bác bỏ. Tuần qua, ASEAN lại vừa họp, và bản đề nghị thứ 21 đã hình thành.

“Trung Quốc đang gây khó khăn trong đàm phán về quy tắc ứng xử”, vị học giả đại diện cho ASEAN nói.

“Muốn giải quyết vấn đề biển Ðông, trước hết, Trung Quốc phải thay đổi quan điểm của mình”, một học giả nói.

Muốn “giữ hình ảnh quốc gia”, Trung Quốc sẽ không được quên, thế giới đang nhìn vào hành xử của nước này ở biển Ðông.

“Thái độ hành xử của Trung Quốc ở biển Ðông giúp Ấn Ðộ hiểu được thái độ và hành xử mà Trung Quốc có thể áp dụng với nước láng giềng Ấn Ðộ và với biển Ấn Ðộ Dương”, ông Amer Latif, thuộc Trung tâm nghiên cứu chiến lược quốc tế Ấn Ðộ nói.

Tại hội thảo, có học giả đã lạc quan hy vọng, GS Tô Hạo và các đồng nghiệp của ông sẽ “thay đổi cách nhìn về biển Ðông” bằng cách lắng nghe các nước. Và sự thay đổi nhận thức từ những học giả lớn của Trung Quốc sẽ lan tỏa đến chính sách.

Còn giám đốc Học Viện Ngoại Giao Việt Nam nhắn nhủ tới đồng nghiệp Trung Quốc, có lẽ, ông nên tới Hà Nội hay Manila, để nhìn chính sách của Trung Quốc theo cách khác.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

'Tranh chấp Biển Ðông có thể dẫn tới chiến tranh'
Tuesday, June 28, 2011 5:35:44 PM

Nhận định của giới nghiên cứu Úc


CANBERRA (Reuters) - Hiện đang có nguy hiểm ngày càng gia tăng là các vụ đụng chạm trên biển liên quan đến Trung Quốc có thể dẫn đến chiến tranh ở Á Châu,
kéo theo Mỹ và các cường quốc khác vào cuộc, theo một trung tâm nghiên cứu 'think tank' ở Úc cho hay hôm Thứ Ba.

Image
Một tàu ngầm Trung Quốc tham dự lễ kỷ niệm 60 năm thành lập Quân Ðội Nhân Dân Trung Hoa năm 2009.
Sự căng thẳng mới đây trong vùng Biển Ðông có nguy cơ bắt mồi cho một cuộc chiến tranh, theo một trung tâm nghiên cứu think tank của Úc.
(Hình: Photo by Guang Niu/AFP/Getty Images)


Trung tâm Lowy Institute cảnh cáo trong một bản nghiên cứu rằng thái độ làm càn của quân đội Trung Quốc ở Biển Ðông và các vùng biển lân cận, cùng với nhu cầu tài nguyên ngày càng tăng, khiến có thêm nguy cơ xảy ra chiến tranh.

“Hải lộ trong vùng Á Châu Thái Bình Dương ngày càng chật chội, có thêm các cuộc tranh giành và dễ xảy ra nổ súng. Hải quân và Không quân các quốc gia trong vùng đang được tăng cường giữa khi có sự chuyển đổi về sức mạnh kinh tế chiến lược,” theo hai tác giả của cuộc nghiên cứu là Rory Medcalf và Raoul Heinrichs.

“Sự tranh chấp của Trung Quốc với Mỹ, Nhật và Ấn Ðộ nhiều phần sẽ tiếp tục kéo dài và còn tăng cao. Khi con số các vụ chạm trán này trở nên nhiều hơn và thường xuyên hơn, sẽ có thêm khả năng xảy ra một vụ đối đầu võ trang, khủng hoảng ngoại giao và có thể đưa đến chiến tranh,” bản nghiên cứu cho hay.

Cuộc nghiên cứu được công bố trong khi Trung Quốc chuẩn bị đưa chiếc hàng không mẫu hạm đầu tiên của họ vào hoạt động, có thể chỉ trong tuần này, một điều tạo thêm lo ngại trong khu vực về sự bành trướng quân sự của Bắc Kinh.

Ian Storey, một chuyên gia về an ninh hàng hải ở Á Châu, cho hay bản nghiên cứu là sự nhận định có giá trị về nguy hiểm xảy ra đụng độ trong vùng Biển Ðông.

Medcalf và Heinrichs nói rằng các cuộc tuần tiễu trên biển và các cuộc do thám, tinh thần quốc gia chủ nghĩa và tranh chấp tài nguyên sẽ làm cho việc kềm chế trong các cuộc tranh chấp chủ quyền trên biển khó khăn hơn.

Hai tác giả cuộc nghiên cứu nói rằng cần phải có thêm nỗ lực tạo sự tin cậy trong vùng và Mỹ lẫn Nhật phải tiếp tục thảo luận với Trung Quốc về mặt quân sự. (V.Giang)

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Có cần sợ Trung Quốc hay không?

Ngô Nhân Dụng

Ngày Thứ Bẩy vừa qua, hai thứ trưởng Ngoại Giao Việt Nam và Trung Quốc đã gặp nhau.

Sau đó ông Hồ Xuân Sơn đã yết kiến Ủy viên Quốc vụ Ðới Bỉnh Quốc, người phụ trách các chính sách đối ngoại trong Ban Thường Vụ Bộ Chính Trị Cộng Sản Trung Quốc. Bản tin của nhà nước Cộng Sản Việt Nam viết rằng: “Hai bên cho rằng, quan hệ Việt-Trung phát triển lành mạnh, ổn định, đáp ứng nguyện vọng chung và lợi ích căn bản của nhân dân hai nước Việt-Trung. Hai bên nhấn mạnh cần kiên trì đưa quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc phát triển theo đúng phương châm 16 chữ ‘láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai’ và tinh thần 4 tốt ‘láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt.’”

Ðọc bản tin này người ta tưởng như đang nằm mơ. Quan hệ như thế nào thì gọi là “phát triển lành mạnh, ổn định?” Tầu cảnh sát trên biển (hải giám) của Trung Quốc đã cắt dây cáp của tàu thăm dò Việt Nam hai lần, mặc dù đã bị phản đối ngay sau lần thứ nhất. Dân chúng Việt Nam đã đi biểu tình ba cuối tuần liên tiếp để phản đối Trung Quốc lấn ép Việt Nam. Như vậy mà ông thứ trưởng Ngoại Giao lại nhận định là việc bang giao “lành mạnh, ổn định!” Và còn chính quyền Việt Nam vẫn còn nhắc lại những khẩu hiệu “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt!” Không phải chúng ta nằm mơ mà chính những người cầm quyền ở nước ta đang nằm mơ! Những khẩu hiệu “16 chữ vàng” và “4 tốt” mà hai đảng Cộng Sản vẫn đề cao hầu như không liên can gì tới thực tế trên mặt biển ở ngay ngoài khơi, trong vùng đặc quyền kinh tế của nước Việt Nam cả. Nó cũng không liên hệ gì tới lòng dân Việt Nam, như được phản ảnh trong một bài của một người ở Cần Thơ, ký tên Bạch Ðằng, với tựa đề: Hãy vứt “Mười sáu chữ vàng” vào mặt kẻ dối trá!

Bản tin về cuộc hội đàm giữa ông Hồ Xuân Sơn với các ông Ðới Bỉnh Quốc và Trương Chí Quân cũng hoàn toàn không liên can gì đến những lời ông Nguyễn Tấn Dũng nói rất hăng ở Nha Trang trước đó, với những hứa hẹn “quyết tâm bảo vệ chủ quyền” của nước Việt Nam trên đất và hải phận. Bản tin trên khiến người ta càng thấy rõ những lời ông Nguyễn Tấn Dũng nói chẳng qua chỉ là lời nói suông, cốt xoa dịu nỗi phẫn uất trong lòng dân, chứ không có ảnh hưởng nào trong việc đối đãi với chính quyền Trung Quốc.

Ông Ðới Bỉnh Quốc chính là người năm ngoái từng nói với nhiều nhân viên ngoại giao Mỹ, kể cả bà Hillary Clinton, ngoại trưởng Mỹ, rằng vùng biển Ðông Nam Á, tức biển Ðông của nước ta, là một vùng “quyền lợi cốt lõi” của Trung Quốc. Trước đó, chính quyền Bắc Kinh chỉ gọi Ðài Loan, Tây Tạng là những vùng thuộc vào “quyền lợi cốt lõi” mà thôi. Nói như vậy tức là Ðới Bỉnh Quốc muốn xác định Trung Quốc coi cả vùng biển Ðông cũng thuộc vào nước họ, giống như Ðài Loan và Tây Tạng. Một ý tưởng rõ ràng muốn chiếm lấy của người làm của mình như vậy, không thể gọi là “lành mạnh” được! Và sau những vụ cắt dây cáp tầu và những cuộc biểu tình sôi nổi trong nước Việt Nam, trong cuộc hội thảo quốc tế gần đây ở Washington, tất cả những người thuyết trình, ngoài phái đoàn Trung Quốc, đều chỉ rõ những hành động lấn chiếm và uy hiếp của Hải Quân Trung Hoa trong vùng biển Ðông. Một tình trạng sôi sục và uất hận như vậy cũng không thể gọi là “ổn định” được.

Bất cứ người Việt Nam nào cũng phải nổi giận khi người lãnh đạo một nước láng giềng mô tả tất cả vùng biển thuộc nước Việt Nam là của họ! Bất cứ người Việt Nam nào nếu có dịp gặp ông Ðới Bỉnh Quốc cũng phải lên tiếng nhắc nhở ông biết rằng quan niệm “quyền lợi cốt lõi” của ông bao trùm cả biển Ðông là sai, hoàn toàn sai lầm, và chúng tôi có đủ các chứng cớ lịch sử để chứng minh các quần đảo trong biển Ðông thuộc chủ quyền của nước Việt chúng tôi! Trong tình trạng như vậy, không ai gặp ông Ðới Bình Quốc lại có thể nói rằng mối bang giao là “lành mạnh” và “ổn định!” Nhưng ông Hồ Xuân Sơn đã cúi đầu đồng ý với ông Ðới Bỉnh Quốc; người mà cuối năm ngoái đã viết một bài 9,000 chữ trên mạng Bộ Ngoại Giao Trung Quốc trong đó ông khẳng định: “Nhìn lại lịch sử, Trung Quốc không có truyền thống chiếm bá quyền.”

Nếu ai tin được là lịch sử nước Trung Hoa chưa bao giờ có truyền thống bá quyền, thì có thể cũng tin như ông Hồ Xuân Sơn!

Một người đại diện ngoại giao cho nước Việt Nam không nhất thiết lúc nào cũng phải gây gổ với chính quyền Trung Quốc. Nhưng phải biết tỏ thái độ tự trọng. Trước những việc sai trái như cắt dây cáp tầu thăm dò đáy biển trong hải phận nước mình mà không chính thức lên tiếng phản đối, lại không dám ghi lời phản đối đó trên giấy trắng mực đen, tức là tự sỉ nhục mình và làm nhục cả quốc gia mà mình đóng vai đại diện. Trong các triều đại quân chủ ở nước ta, những sứ thần Việt Nam sang Trung Hoa cũng không bao giờ phải sợ hãi thiên triều như vậy.

Gần đây một học giả ở Học Viện Hoover nước Mỹ đã nhắc đến thời kỳ các nước Á Ðông phải thần phục triều đình Trung Quốc, và đưa ra một ý kiến rất sai lầm khi viết rằng: “Các hoàng đế Trung Hoa coi các nước thần phục theo lối giống như các vị vua Âu Châu coi các thuộc địa của họ.” (The Chinese emperors viewed their vassal kingdoms the same as the European monarchs viewed their colonies). Ðiều này sai, vì mối liên hệ giữa các hoàng đế Trung Hoa và các nước chung quanh như Việt Nam, Cao Ly, vân vân, chỉ gây cảnh bất bình đẳng trên danh nghĩa mà thôi. Mối tương quan đó mô phỏng liên hệ giữa thiên tử nhà Chu và các nước chư hầu đời Xuân Thu, Chiến Quốc. Vua các nước nhỏ chịu công nhận nhà Chu là bề trên của mình, nhưng họ hoàn toàn độc lập về mọi phương diện. Các vị vua Việt Nam đời xưa chỉ được xưng là Vương, dành cho ông vua Tầu xưng Ðế. Nhưng trong nước, người dân vẫn gọi vua mình là hoàng đế! Cũng như vua các nước Tề, nước Lỗ phải coi thiên tử nhà Chu trên danh nghĩa là vua của mình, vua nước nhỏ như Cao Ly, Việt Nam phải nhún mình, tự coi là phận dưới đối với vua nước Tầu. Nhưng họ chỉ có một bổn phận đối với vua nước Tầu là “cống tiến” một số phẩm vật, theo định kỳ, để bày tỏ mình ở địa vị thấp hơn. Sự thần phục trên danh nghĩa như thế không đưa tới các hậu quả như bóc lột về kinh tế, không có việc nước lớn xâm phạm chủ quyền các nước nhỏ về lãnh thổ, về ngoại giao, như thuộc địa của các nước Âu Châu phải chịu.

Nhưng chúng ta đang sống trong một thời đại khác hẳn những thời trước thế kỷ 19. Thời xưa, bên cạnh nước Việt Nam hay Cao Ly chỉ có một quốc gia lớn là Trung Hoa. Chịu nhún, xưng thần là một biện pháp ngoại giao, tránh không cho vua Tầu kiếm cớ xâm lăng nước mình; dù mình có đuổi được giặc đi thì dân cũng vẫn chịu khổ. Ngày nay, những nước nhỏ chung quanh nước Tầu không chịu cảnh cô đơn như vậy; vì quyền lợi các quốc gia trên thế giới đang liên hệ chồng chéo với nhau. Ðứng trước một nước Trung Hoa lớn gấp hàng chục lần, nhưng quốc gia láng giềng biết tự trọng vẫn không cần phải “thần phục!”

Bà Yuriko Koike, cựu bộ trưởng Quốc Phòng Nhật Bản, hiện đang là lãnh tụ đảng đối lập Tự Do Dân Chủ mới viết trên nhật báo Japan Times nhắc nhở mọi người Nhật rằng: “Việc bành trướng sức mạnh quân sự nhanh đến chóng mặt của Trung Quốc gần đây khiến nhiều người lo ngại. Nhưng dù ước tính ở mức cao nhất, thì hiện nay ngân sách quân sự của Trung Quốc cũng chỉ xấp xỉ bằng của Nhật Bản; mà còn rất thấp so với ngân sách quân sự của ba nước gần Trung Quốc là Nhật Bản, Ấn Ðộ và Nga, cả ba nước có chung biên giới với Trung Quốc. Ðó là chưa kể những nước láng giềng khác như Ðại Hàn, Indonesia, và một đảo Ðài Loan đang hiện đại hóa quân đội của họ.”

Bà Yuriko Koike viết tiếp: “Cho nên Trung Quốc không thách thức về mặt quân sự, mà là về chính trị và kinh tế. Nhưng chính thái độ ngoại giao hung hăng của Trung Quốc đã khiến các quốc gia Á Châu khác thấy cần phải liên kết trong một hệ thống đa quốc gia được Hoa Kỳ ủng hộ, thay vì chấp nhận một hệ thống trong đó Trung Quốc đóng vai trò dẫn đầu.”

Bà Yuriko Koike bác bỏ lý thuyết “ngăn chặn” (containment) Trung Quốc như thời xưa đã ngăn chặn Liên Bang Xô Viết. Chính sách bành trướng của Trung Quốc không có tính chất quân sự như Nga Xô ngày xưa. Bà nhắc lại binh thư Tôn Tử, khuyên “công tâm, công lương” hơn là “công thành.” Lấn áp về kinh tế, làm cho đối phương nản chí, sợ sệt, chứ không cần xâm chiếm lãnh thổ. Bà viết: “Cho tới gần đây, sự bành trướng bá quyền của Trung Quốc trong vùng vẫn theo đúng binh thư Tôn Tử.” Nhưng Trung Quốc cần phải thỏa hiệp với các nước chung quanh, chứ không thể gây sự, vì trong hơn một tỷ người Trung Quốc thì một nửa vẫn còn sống trong cảnh cực kỳ nghèo khó. Trung Quốc không thể cắt đứt những liên hệ kinh tế với thế giới được.

Nói đến kinh tế, người ta thường tỏ ý khiếp phục về tốc độ tăng trưởng, về cán cân mậu dịch thặng dư, về dự trữ ngoại tệ khổng lồ. Nhưng, như đã trình bày nhiều lần trong mục này, đằng sau những con số lớn lao đó là một nền kinh tế còn đang trên đà phát triển và mất thăng bằng.

Sức bành trướng kinh tế của Trung Quốc dựa trên cảnh bóc lột người lao động để làm hàng xuất cảng. Hiện nay chính phủ Ôn Gia Bảo đang chủ trương chuyển hướng nền kinh tế sang lãnh vực tiêu thụ nội địa, để bớt tùy thuộc vào hàng xuất cảng. Chính sách này sẽ giúp nền kinh tế Trung Quốc cân bằng hơn, và nâng cao mức sống của người dân ở nông thôn. Hiện nay tỷ lệ tiết kiệm của dân Trung Hoa lớn bằng 45% tổng sản lượng nội địa (GDP), vì họ bị “cưỡng bức tiết kiệm.” Việc thay đổi chính sách sẽ giúp dân được tiêu thụ nhiều hơn, và giảm bớt tỷ lệ tiết kiệm. Khi đó, cán cân mậu dịch của Trung Quốc sẽ thay đổi. Số thặng dư thương mại của nước Trung Hoa hiện nay là gần 320 tỷ đô la một năm, lớn bằng 6% GDP. Nếu tỷ lệ tiết kiệm giảm từ 45% xuống 39% GDP, tức là dân chúng có cơ hội tiêu thụ thêm 6% GDP nữa, thì con số thặng dư mậu dịch của Trung Quốc sẽ biến mất.

Chúng ta không có lý do nào phải khiếp sợ trước một Trung Quốc còn đang trên đường ngoi lên, về kinh tế cũng như về quân sự. Một chính quyền Việt Nam phải biết tự trọng, nếu thấy những việc khiến nhân dân bất bình thì phải nói lên, không khiếp nhược; nếu không thì làm nhục cả nước.

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Bắc Triều Tiên đóng cửa các trường đại học Bắc Triều Tiên quyết định hủy bỏ chương trình giảng dậy tại các trường cao đẳng và đại học cho đến tháng tư năm 2012. Các sinh viên sẽ phải đi lao động trong các nhà máy và trên các công trường xây dựng.

Hãng thông tấn Kyodo của Nhật Bản cho biết, các trường đại học sẽ được mở lại sau mười tháng nữa. Trong thời gian [10 tháng] đó, chỉ có các sinh viên sẽ tốt nghiệp vào năm tới tiếp tục được học tập, và tất nhiên cả những sinh viên đang theo học ở nước ngoài.

Những sinh viên còn lại phải làm việc vì sự “lớn mạnh và tươi đẹp của đất nước“- cái mà công tác tuyên truyền của chế độ Bắc Triều Tiên khẳng định là họ sẽ đạt được trong năm tới – đúng vào thời gian kỉ niệm 100 năm ngày sinh của người sáng lập nước Kim Nhật Thành và 70 năm ngày sinh của con trai ông ta là Kim Chính Nhật, người đang lãnh đạo Bắc Triều Tiên hiện nay.

Phần lớn các sinh viên được phân công vào lĩnh vực cải tạo các công trình cũ và xây dựng mới. Hai năm trước, chính quyền đã hứa rằng, vào năm 2012, sẽ có 100 nghìn căn hộ mới nhưng tới cuối năm ngoái, họ mới chỉ xây được có 500 căn. Dường như nguyên nhân của sự yếu kém này là do thiếu nguyên vật liệu xây dựng, thiếu năng lượng và nhân công.

- Chế độ cũng cảm thấy lo lắng trước những cuộc cách mạng ở các quốc gia Ả Rập. Do đó, bằng cách này, họ cố gắng tránh các cuộc biểu tình có thể xảy ra ở các trường đại học – Toshimitsu Shigemura, giáo sư của trường Đại học Waseda ở Tokyo nhận định.

Cách đây không lâu, Bình Nhưỡng đã nhập khẩu của Trung Quốc các thiết bị chống bạo động.

Phong trào lao động công ích khá phổ biến ở Bắc Triều Tiên, đặc biệt là vào mùa trồng cấy. Năm nay, cả nước bắt đầu đánh vật với nạn đói lớn nhất kể từ giữa thập niên 90, khi đó hàng trăm nghìn người đã chết vì đói.

Bà Katharina Zellweger, Giám đốc cơ quan viện trợ nhân đạo của chính phủ Thụy Sĩ ở Bình Nhưỡng cho biết, gần đây nhà chức trách đã cắt giảm khẩu phần lương thực tới 150 gram ngũ cốc/ ngày. Đây là khẩu phần cầm hơi vì 100g gạo chỉ cho 250-350 kcal, một người đàn ông trưởng thành cần gấp vài lần như thế.

Thậm chí ở thủ đô Bình Nhưỡng – nơi sinh sống của các công dân ưu tú và thành phần tin cậy của chế độ – cũng không được cung cấp nhiều hơn bao nhiêu. Những người không có thêm nguồn thu nhập nào dùng để mua thực phẩm trên thị trường, họ sẽ bị đói.

- Người ta có thể nhìn thấy nhiều người thu lượm rau dại hay thảo mộc trên các sườn đồi và cánh đồng – Zellweger nói. Ngày càng có nhiều nguồn tin rằng, ngay cả quân đội cũng bị bỏ đói.

Các nhà tài trợ nước ngoài không muốn gửi lương thực, thực phẩm đến Bắc Hàn vì Kim Chính Nhật không chịu từ bỏ chương trình vũ khí hạt nhân. Cũng không có gì đảm bảo rằng, viện trợ sẽ tới được tay dân nghèo, chứ không phải để nuôi gần một triệu quân lính. Theo báo cáo của một trường Đại học ở California, trong vài năm gần đây, một nửa số lương thực viện trợ gửi từ Nam Triều Tiên tới Bắc Triều Tiên được bày bán ở các chợ.

Mạc Việt Hồng chuyển ngữTheo: Gazeta Wyborcza,
© Đàn Chim Việt

Post Reply