Bình Luận Thời Sự
Mục ruỗng từ bên trong
Ngô Nhân Dụng
Bạn Paolo Nguyễn kể chuyện đi biểu tình chống quân Trung Quốc đè nén dân Việt Nam, bị bắt vào bót nghe anh công an khuyên can bằng những lời quen thuộc: “Ai cũng yêu nước, ai cũng bức xúc nhưng cứ yên tâm, có đảng lo rồi...!”
Một bà công an tên Oanh lại nhắc: “Mọi chuyện có nhà nước lo rồi, bọn em đừng làm mọi chuyện rối lên!”
Nhưng, chính cái đảng và nhà nước đó thực sự lại đang rối lên, rối đến nỗi phải la lên báo động với nhau! Tờ báo Quân Ðội Nhân Dân vừa mới cảnh giác các đảng viên cộng sản phải cùng nhau chống lại tình trạng “chế độ tự mục ruỗng từ bên trong;” và báo động là cảnh “mục ruỗng từ bên trong” đó sẽ “dẫn tới... sụp đổ.”
Ðể cho lời cảnh cáo này có trọng lượng, báo Quân Ðội Nhân Dân đã dẫn chứng cảnh sụp đổ của những chế độ độc tài trong 20 năm gần đây. Bắt đầu là những cuộc cách mạng “xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng Sản, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Ðông Âu bằng diễn biến hòa bình.” Những người bình thường và tỉnh táo ở khắp thế giới kể cả ở Việt Nam, khi nhắc đến các cuộc đổi đời trên thì hoan hỉ, mừng rỡ cho người dân các nước Nga và Ðông Âu, trong đó có cả các đảng viên cộng sản, được thoát cái họa độc tài và chậm tiến. Nhưng tờ báo Quân Ðội Nhân Dân thì ngược lại, lấy đó làm một dấu hiệu cần báo động!
Sau các biến cố ở Ðông Âu, báo Quân Ðội Nhân Dân nhấn mạnh đến các cuộc cách mạng ở các nước cũ thuộc Liên Xô: “...cuộc 'cách mạng đường phố' ở Nam Tư, 'cách mạng hoa hồng' ở Gru-di-a năm 2003, 'cách mạng cam' ở U-crai-na năm 2004, 'cách mạng tuy-líp vàng' ở Cư-rơ-gư-xtan năm 2005,...” rồi tiếp theo là những cuộc cách mạng hoa nhài ở Bắc Phi và Trung Ðông. Nhắc lại những cuộc cách mạng đó để làm gì? Chỉ cốt để hô hào các đảng viên cộng sản phải lo bảo vệ chế độ, đề phòng, chống lại cách mạng! Bao nhiêu năm đảng Cộng Sản vẫn lấy chiêu bài “Cách mạng” để mị dân, nhân danh hai chữ “Cách mạng” bắt mọi người hy sinh xương máu dựng lên một chế độ độc tài chuyên chế, rồi bảo vệ chế độ đó. Bây giờ chính cái đảng này đang hô hào đảng viên cùng đứng lên... phản cách mạng!
Mục tiêu của bài văn hô hào trên tờ Quân Ðội Nhân Dân là chống lại “các thế lực thù địch.” Các thế lực thù địch đó là ai, nó ở đâu? Họ lung túng, ấp úng như miệng ngậm hột thị, không cách nào kể ra được. Có lúc họ nói đến những “nước ngoài” khuyến khích các cuộc cách mạng ở những nước cựu cộng sản, hoặc thúc đẩy các cuộc cách mạng hoa nhài. Nhưng họ không dám công khai gọi tên đó là những nước nào cả, mà cũng không giải thích được là việc khuyến khích các cuộc cách mạng đó có ích lợi gì cho những “nước ngoài” đó hay là chỉ người dân các nước làm cách mạng đó được ích lợi. Một sự thật mà báo Quân Ðội Nhân Dân không dám nói ra, là chính người dân các nước trên, từ Ðông Âu đến Bắc Phi, đã đứng lên làm cách mạng lật đổ các chế độ độc tài, và họ đang sung sướng xây dựng chế độ tự do dân chủ cho mọi người dân cùng hưởng! Nói lăng nói nhăng như vậy chứng tỏ người viết bài trên tờ báo khinh thường trình độ hiểu biết của tất cả các độc giả, đặc biệt là các đảng viên cộng sản, đối tượng chính của họ!
Khinh thường độc giả, khinh thường các đảng viên cộng sản khác, cho nên tác giả bài báo trên Quân Ðội Nhân Dân mới đưa ra một lối lý luận rất lẩn quẩn khi giải thích tại sao có tình trạng “tự mục ruỗng từ bên trong” mà họ còn gọi tên là “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa.”
Hình ảnh “tự mục ruỗng từ bên trong” được tờ báo thuật lại, bao gồm tình trạng tham ô, tham nhũng, lối sống vô đạo đức của các cán bộ, đảng viên có chức có quyền, không cần nói ai cũng biết. Hậu quả của tình trạng chế độ tự mục ruỗng từ bên trong là không còn ai tin nữa. Nhưng nguyên nhân nào đã khiến cho chế độ “tự mục ruỗng” từ bên trong?
Ðối với những người bình thường và tỉnh táo, với cái đầu không đến nỗi ngu si thái quá, thì ai cũng biết tình trạng mục ruỗng đó là do chế độ độc tài chuyên chế. Khi một đảng nắm độc quyền cai trị hàng nửa thế kỷ mà không chấp nhận một định chế nào có khả năng cân bằng và kiểm soát, quyền hành của các cán bộ. quan chức không bị luật lệ nào ràng buộc và giới hạn, thì tham ô, nhũng lạm là hệ quả tất nhiên. Nhưng theo báo Quân Ðội Nhân Dân thì khác. Giống như bạn Paolo Nguyễn nghe các ông bà công an nói, báo Quân Ðội Nhân Dân cũng lập lại “những lời quen thuộc” lại đổ tội cho “thế lực thù địch!” Tờ báo này viết “các thế lực thù địch đặc biệt quan tâm” làm công việc gọi là “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa” đó. Vì tình trạng này “phù hợp với hướng tác động trong chiến lược ‘diễn biến hòa bình’ của các thế lực thù địch!” Chính các thế lực thù địch... “gia tăng các hoạt động tác động, chuyển hóa, làm cho chế độ ‘tự mục ruỗng’ từ bên trong, dẫn tới chệch hướng và sụp đổ!”
Người Việt Nam mình gọi lối nói đó là lý luận cù nhầy! Cứ hỏi các ông Huỳnh Ngọc Sỹ, Bùi Tiến Dũng, Sầm Ðức Xương, Nguyễn Trường Tô xem họ đã “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa” tự “diễn biến hòa bình” theo lời xúi giục của các thế lực thù địch ngoại quốc nào? Ðổ tội cho người ngoài để chạy tội cho mình, để lừa dối dân, gạt gẫm các đảng viên, đó vẫn là đường lối quen thuộc của đảng Cộng Sản từ thế kỷ trước cho tới bây giờ.
Nhưng tại sao người ta đem đem những lý luận cù nhầy, những lời lẽ lăng nhăng đó ra đăng trên báo Quân Ðội Nhân Dân vào lúc này?
Lý do chính là có những người trong đảng Cộng Sản Việt Nam đang lo sợ cuống cuồng, muốn ngăn chặn những phong trào tự phát trong giới trí thức và người dân Việt Nam đòi các quyền dân chủ tự do.
Những cuộc biểu tình chống Trung Quốc hống hách và đè nén người Việt Nam từ một tháng qua đang chuyển hóa, dần dần biến thành một phong trào đòi tự do dân chủ. Nhân danh quyền được tự do tập hợp và bày tỏ ý kiến trước các hành động xâm lược của Trung Quốc, các nhà trí thức và thanh niên nước ta đang thẳng thắn đòi các quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do bầu cử và ứng cử. Ðây là cảnh tượng đã diễn ra hàng chục năm trước những cuộc cách mạng ở Ðông Âu, đã diễn ra ở các nước Bắc Phi và Trung Ðông bây giờ.
Báo Quân Ðội Nhân Dân phân tích các phong trào đòi dân chủ đó để báo động những người thủ cựu trong đảng Cộng Sản hãy rút ra bài học ở Ðông Âu và Bắc Phi: “Các thế lực thù địch đặc biệt chú ý thúc đẩy sự hình thành và công khai hóa các tổ chức chính trị đối lập... Thông qua các tổ chức đối lập, các thế lực thù địch tập hợp quần chúng, tiến tới tạo dựng ‘ngọn cờ’ và lực lượng đối lập trong xã hội, làm nòng cốt để tiến hành ‘cách mạng đường phố,’ nhằm thay đổi thể chế chính trị.” Người đọc lại tự hỏi “các thế lực thù địch” đó là ai mà tác động được hàng triệu người dân tay trắng ở Ðông Âu và Bắc Phi, Trung Ðông đứng lên làm cách mạng đường phố? Ðó chính là những người dân thức tỉnh, những nhà trí thức có lương tâm, họ không cam chịu sống mãi trong kiếp nô lệ, hèn yếu và chậm tiến, họ không cam chịu bị mất quyền sống xứng đáng với phẩm giá con người!
Nhưng hiện nay, mối lo của đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn chưa phải là một phong trào đòi tự do dân chủ bùng lên. Hai mối lo chính của họ là sức ép của Trung Quốc từ trên xuống và lòng yêu nước sôi sục của người dân đẩy từ dưới lên. Guồng máy công an của đảng vẫn còn hiệu quả trong việc đàn áp dân, nhưng vô giá trị khi cần đối phó với các đồng chí Trung Quốc. Cho nên, trong hai mối lo kể trên, những người thủ cựu trong đảng Cộng Sản chủ trương trước hết phải làm yên một mối lo dễ đối phó hơn, đó là dân. Nếu dân Việt Nam chịu ngậm miệng không lên tiếng phản đối Trung Quốc nữa, thì đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ dễ ăn dễ nói với các đồng chí cộng sản đàn anh Trung Quốc!
Nhưng đàn áp dân không dễ. Phải làm sao giải thích được việc đàn áp đó không phải là bênh vực các đồng chí Trung Quốc, bảo vệ các đồng chí Trung Quốc? Bài trên báo Quân Ðội Nhân Dân đã hiến kế: Ðổ tội cho các “thế lực thù địch” muốn “diễn biến hòa bình;” các thế lực thù địch muốn “tập hợp quần chúng, tiến tới tạo dựng ngọn cờ đối lập” trong xã hội và thay đổi chế độ!
Ðăng bài này trên báo Quân Ðội Nhân Dân là tiếng kèn thúc đẩy những người cầm đầu đảng Cộng Sản Việt Nam phải ra tay hành động, phải đàn áp mạnh mẽ các cuộc biểu tình chống Trung Quốc! Bài báo trên tờ Quân Ðội Nhân Dân nhấn mạnh: Cần nhận thức và ứng xử đúng đắn đối với việc hình thành các tổ chức “độc lập,” kiên quyết không để các thế lực thù địch lợi dụng để tác động chuyển hóa! Nói như vậy là giúp đảng Cộng Sản sẵn một cách giải thích: Cấm biểu tình tức là chống diễn biến hòa bình, chứ không phải là bênh Trung Quốc! Có thể coi đây là một thủ đoạn do các đồng chí Trung Quốc mach kế, muốn đảng Cộng Sản Việt Nam phải cấm người Việt Nam đi biểu tình trong những ngày tháng tới.
Người Trung Quốc rất khôn ngoan. Khi một tờ báo chính thức của đảng Cộng Sản nhân danh sự tồn tại của chế độ mà đòi hành động, các lãnh tụ đảng sẽ khó lòng từ chối lý luận này. Họ sẽ phải đàn áp dân để chấm dứt các cuộc biểu tình. Còn tình trạng mục ruỗng từ bên trong thì sao? Nói theo kiểu các ông bà công an: Cứ để đó, từ từ đảng sẽ lo, dân Việt Nam cứ ngoan ngoãn nhắm mắt và ngậm miệng!
Bây giờ nước Việt Nam chỉ còn trông cậy vào những người như Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Diện, như Anh Ba Sàm, như anh bạn trẻ Paolo Nguyễn. Tin tưởng vào mục tiêu hành động của mình. Tổ tiên đang nhìn xuống các bạn. Tương lai con cháu nằm trong tay các bạn! “Ðứng vững không khuỵu chân - trên mảnh đất nghèo khổ,” như câu thơ Thanh Tâm Tuyền viết trong nhà tù 30 năm trước đây.
Ngô Nhân Dụng
Bạn Paolo Nguyễn kể chuyện đi biểu tình chống quân Trung Quốc đè nén dân Việt Nam, bị bắt vào bót nghe anh công an khuyên can bằng những lời quen thuộc: “Ai cũng yêu nước, ai cũng bức xúc nhưng cứ yên tâm, có đảng lo rồi...!”
Một bà công an tên Oanh lại nhắc: “Mọi chuyện có nhà nước lo rồi, bọn em đừng làm mọi chuyện rối lên!”
Nhưng, chính cái đảng và nhà nước đó thực sự lại đang rối lên, rối đến nỗi phải la lên báo động với nhau! Tờ báo Quân Ðội Nhân Dân vừa mới cảnh giác các đảng viên cộng sản phải cùng nhau chống lại tình trạng “chế độ tự mục ruỗng từ bên trong;” và báo động là cảnh “mục ruỗng từ bên trong” đó sẽ “dẫn tới... sụp đổ.”
Ðể cho lời cảnh cáo này có trọng lượng, báo Quân Ðội Nhân Dân đã dẫn chứng cảnh sụp đổ của những chế độ độc tài trong 20 năm gần đây. Bắt đầu là những cuộc cách mạng “xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng Sản, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Ðông Âu bằng diễn biến hòa bình.” Những người bình thường và tỉnh táo ở khắp thế giới kể cả ở Việt Nam, khi nhắc đến các cuộc đổi đời trên thì hoan hỉ, mừng rỡ cho người dân các nước Nga và Ðông Âu, trong đó có cả các đảng viên cộng sản, được thoát cái họa độc tài và chậm tiến. Nhưng tờ báo Quân Ðội Nhân Dân thì ngược lại, lấy đó làm một dấu hiệu cần báo động!
Sau các biến cố ở Ðông Âu, báo Quân Ðội Nhân Dân nhấn mạnh đến các cuộc cách mạng ở các nước cũ thuộc Liên Xô: “...cuộc 'cách mạng đường phố' ở Nam Tư, 'cách mạng hoa hồng' ở Gru-di-a năm 2003, 'cách mạng cam' ở U-crai-na năm 2004, 'cách mạng tuy-líp vàng' ở Cư-rơ-gư-xtan năm 2005,...” rồi tiếp theo là những cuộc cách mạng hoa nhài ở Bắc Phi và Trung Ðông. Nhắc lại những cuộc cách mạng đó để làm gì? Chỉ cốt để hô hào các đảng viên cộng sản phải lo bảo vệ chế độ, đề phòng, chống lại cách mạng! Bao nhiêu năm đảng Cộng Sản vẫn lấy chiêu bài “Cách mạng” để mị dân, nhân danh hai chữ “Cách mạng” bắt mọi người hy sinh xương máu dựng lên một chế độ độc tài chuyên chế, rồi bảo vệ chế độ đó. Bây giờ chính cái đảng này đang hô hào đảng viên cùng đứng lên... phản cách mạng!
Mục tiêu của bài văn hô hào trên tờ Quân Ðội Nhân Dân là chống lại “các thế lực thù địch.” Các thế lực thù địch đó là ai, nó ở đâu? Họ lung túng, ấp úng như miệng ngậm hột thị, không cách nào kể ra được. Có lúc họ nói đến những “nước ngoài” khuyến khích các cuộc cách mạng ở những nước cựu cộng sản, hoặc thúc đẩy các cuộc cách mạng hoa nhài. Nhưng họ không dám công khai gọi tên đó là những nước nào cả, mà cũng không giải thích được là việc khuyến khích các cuộc cách mạng đó có ích lợi gì cho những “nước ngoài” đó hay là chỉ người dân các nước làm cách mạng đó được ích lợi. Một sự thật mà báo Quân Ðội Nhân Dân không dám nói ra, là chính người dân các nước trên, từ Ðông Âu đến Bắc Phi, đã đứng lên làm cách mạng lật đổ các chế độ độc tài, và họ đang sung sướng xây dựng chế độ tự do dân chủ cho mọi người dân cùng hưởng! Nói lăng nói nhăng như vậy chứng tỏ người viết bài trên tờ báo khinh thường trình độ hiểu biết của tất cả các độc giả, đặc biệt là các đảng viên cộng sản, đối tượng chính của họ!
Khinh thường độc giả, khinh thường các đảng viên cộng sản khác, cho nên tác giả bài báo trên Quân Ðội Nhân Dân mới đưa ra một lối lý luận rất lẩn quẩn khi giải thích tại sao có tình trạng “tự mục ruỗng từ bên trong” mà họ còn gọi tên là “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa.”
Hình ảnh “tự mục ruỗng từ bên trong” được tờ báo thuật lại, bao gồm tình trạng tham ô, tham nhũng, lối sống vô đạo đức của các cán bộ, đảng viên có chức có quyền, không cần nói ai cũng biết. Hậu quả của tình trạng chế độ tự mục ruỗng từ bên trong là không còn ai tin nữa. Nhưng nguyên nhân nào đã khiến cho chế độ “tự mục ruỗng” từ bên trong?
Ðối với những người bình thường và tỉnh táo, với cái đầu không đến nỗi ngu si thái quá, thì ai cũng biết tình trạng mục ruỗng đó là do chế độ độc tài chuyên chế. Khi một đảng nắm độc quyền cai trị hàng nửa thế kỷ mà không chấp nhận một định chế nào có khả năng cân bằng và kiểm soát, quyền hành của các cán bộ. quan chức không bị luật lệ nào ràng buộc và giới hạn, thì tham ô, nhũng lạm là hệ quả tất nhiên. Nhưng theo báo Quân Ðội Nhân Dân thì khác. Giống như bạn Paolo Nguyễn nghe các ông bà công an nói, báo Quân Ðội Nhân Dân cũng lập lại “những lời quen thuộc” lại đổ tội cho “thế lực thù địch!” Tờ báo này viết “các thế lực thù địch đặc biệt quan tâm” làm công việc gọi là “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa” đó. Vì tình trạng này “phù hợp với hướng tác động trong chiến lược ‘diễn biến hòa bình’ của các thế lực thù địch!” Chính các thế lực thù địch... “gia tăng các hoạt động tác động, chuyển hóa, làm cho chế độ ‘tự mục ruỗng’ từ bên trong, dẫn tới chệch hướng và sụp đổ!”
Người Việt Nam mình gọi lối nói đó là lý luận cù nhầy! Cứ hỏi các ông Huỳnh Ngọc Sỹ, Bùi Tiến Dũng, Sầm Ðức Xương, Nguyễn Trường Tô xem họ đã “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa” tự “diễn biến hòa bình” theo lời xúi giục của các thế lực thù địch ngoại quốc nào? Ðổ tội cho người ngoài để chạy tội cho mình, để lừa dối dân, gạt gẫm các đảng viên, đó vẫn là đường lối quen thuộc của đảng Cộng Sản từ thế kỷ trước cho tới bây giờ.
Nhưng tại sao người ta đem đem những lý luận cù nhầy, những lời lẽ lăng nhăng đó ra đăng trên báo Quân Ðội Nhân Dân vào lúc này?
Lý do chính là có những người trong đảng Cộng Sản Việt Nam đang lo sợ cuống cuồng, muốn ngăn chặn những phong trào tự phát trong giới trí thức và người dân Việt Nam đòi các quyền dân chủ tự do.
Những cuộc biểu tình chống Trung Quốc hống hách và đè nén người Việt Nam từ một tháng qua đang chuyển hóa, dần dần biến thành một phong trào đòi tự do dân chủ. Nhân danh quyền được tự do tập hợp và bày tỏ ý kiến trước các hành động xâm lược của Trung Quốc, các nhà trí thức và thanh niên nước ta đang thẳng thắn đòi các quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do bầu cử và ứng cử. Ðây là cảnh tượng đã diễn ra hàng chục năm trước những cuộc cách mạng ở Ðông Âu, đã diễn ra ở các nước Bắc Phi và Trung Ðông bây giờ.
Báo Quân Ðội Nhân Dân phân tích các phong trào đòi dân chủ đó để báo động những người thủ cựu trong đảng Cộng Sản hãy rút ra bài học ở Ðông Âu và Bắc Phi: “Các thế lực thù địch đặc biệt chú ý thúc đẩy sự hình thành và công khai hóa các tổ chức chính trị đối lập... Thông qua các tổ chức đối lập, các thế lực thù địch tập hợp quần chúng, tiến tới tạo dựng ‘ngọn cờ’ và lực lượng đối lập trong xã hội, làm nòng cốt để tiến hành ‘cách mạng đường phố,’ nhằm thay đổi thể chế chính trị.” Người đọc lại tự hỏi “các thế lực thù địch” đó là ai mà tác động được hàng triệu người dân tay trắng ở Ðông Âu và Bắc Phi, Trung Ðông đứng lên làm cách mạng đường phố? Ðó chính là những người dân thức tỉnh, những nhà trí thức có lương tâm, họ không cam chịu sống mãi trong kiếp nô lệ, hèn yếu và chậm tiến, họ không cam chịu bị mất quyền sống xứng đáng với phẩm giá con người!
Nhưng hiện nay, mối lo của đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn chưa phải là một phong trào đòi tự do dân chủ bùng lên. Hai mối lo chính của họ là sức ép của Trung Quốc từ trên xuống và lòng yêu nước sôi sục của người dân đẩy từ dưới lên. Guồng máy công an của đảng vẫn còn hiệu quả trong việc đàn áp dân, nhưng vô giá trị khi cần đối phó với các đồng chí Trung Quốc. Cho nên, trong hai mối lo kể trên, những người thủ cựu trong đảng Cộng Sản chủ trương trước hết phải làm yên một mối lo dễ đối phó hơn, đó là dân. Nếu dân Việt Nam chịu ngậm miệng không lên tiếng phản đối Trung Quốc nữa, thì đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ dễ ăn dễ nói với các đồng chí cộng sản đàn anh Trung Quốc!
Nhưng đàn áp dân không dễ. Phải làm sao giải thích được việc đàn áp đó không phải là bênh vực các đồng chí Trung Quốc, bảo vệ các đồng chí Trung Quốc? Bài trên báo Quân Ðội Nhân Dân đã hiến kế: Ðổ tội cho các “thế lực thù địch” muốn “diễn biến hòa bình;” các thế lực thù địch muốn “tập hợp quần chúng, tiến tới tạo dựng ngọn cờ đối lập” trong xã hội và thay đổi chế độ!
Ðăng bài này trên báo Quân Ðội Nhân Dân là tiếng kèn thúc đẩy những người cầm đầu đảng Cộng Sản Việt Nam phải ra tay hành động, phải đàn áp mạnh mẽ các cuộc biểu tình chống Trung Quốc! Bài báo trên tờ Quân Ðội Nhân Dân nhấn mạnh: Cần nhận thức và ứng xử đúng đắn đối với việc hình thành các tổ chức “độc lập,” kiên quyết không để các thế lực thù địch lợi dụng để tác động chuyển hóa! Nói như vậy là giúp đảng Cộng Sản sẵn một cách giải thích: Cấm biểu tình tức là chống diễn biến hòa bình, chứ không phải là bênh Trung Quốc! Có thể coi đây là một thủ đoạn do các đồng chí Trung Quốc mach kế, muốn đảng Cộng Sản Việt Nam phải cấm người Việt Nam đi biểu tình trong những ngày tháng tới.
Người Trung Quốc rất khôn ngoan. Khi một tờ báo chính thức của đảng Cộng Sản nhân danh sự tồn tại của chế độ mà đòi hành động, các lãnh tụ đảng sẽ khó lòng từ chối lý luận này. Họ sẽ phải đàn áp dân để chấm dứt các cuộc biểu tình. Còn tình trạng mục ruỗng từ bên trong thì sao? Nói theo kiểu các ông bà công an: Cứ để đó, từ từ đảng sẽ lo, dân Việt Nam cứ ngoan ngoãn nhắm mắt và ngậm miệng!
Bây giờ nước Việt Nam chỉ còn trông cậy vào những người như Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Diện, như Anh Ba Sàm, như anh bạn trẻ Paolo Nguyễn. Tin tưởng vào mục tiêu hành động của mình. Tổ tiên đang nhìn xuống các bạn. Tương lai con cháu nằm trong tay các bạn! “Ðứng vững không khuỵu chân - trên mảnh đất nghèo khổ,” như câu thơ Thanh Tâm Tuyền viết trong nhà tù 30 năm trước đây.
Chính trị Mỹ trong vụ Giới hạn Công trái
Ngô Nhân Dụng
Nhà bình luận Nguyễn Văn Khanh mới đặt câu hỏi trên nhật báo Người Việt: Ai là sếp của đảng Cộng Hòa?
Ông Nguyễn Văn Khanh chỉ muốn trình bày một thực trạng: Trong cuộc tranh luận giữa Tổng Thống Barack Obama và các dân biểu Cộng Hòa về Mức Giới Hạn Công Trái (Debt Ceiling), không biết giữa hai Dân Biểu John Boehner và Eric Cantor, cộng thêm những nggg đang dự tính ứng cử tổng thống năm 2012, ai là người phát biểu “lập trường” của đảng Cộng Hòa? Không biết.
Nhưng điều này nằm trong bản chất chế độ dân chủ. Các đảng chính trị trong một nước tự do dân chủ không có “lãnh tụ vĩ đại” hay “lãnh tụ kính yêu” như trong các nước độc tài! Thời ông Gorges W. Bush làm tổng thống thì Nghị Sĩ John McCain là một tiếng nói “đối lập” trong nhiều vấn đề, từ cách điều hành hai cuộc chiến tranh đến việc cắt thuế má; mà cả hai đều thuộc đảng Cộng Hòa. Bây giờ ông Obama làm tổng thống cũng vậy, trong khi ông loay hoay tìm cách thỏa hiệp với các ông John Boehner và Eric Cantor thì cựu Tổng Thống Bill Clinton tuyên bố, theo ông, ai làm tổng thống thì cứ theo Hiến Pháp Mỹ mà đi vay nợ thêm, chẳng cần xin Quốc Hội nâng mức trần làm gì cho mất thời giờ! Vì Tu chính án số 14 đã nói không ai được làm cho công trái của chính phủ Mỹ bị nghi ngờ giá trị. Vị tổng thống nào cũng phải bảo vệ giá trị các công trái chính phủ Mỹ, do đó nếu cần vay thì phải đi vay để trả các món nợ cũ! Chính vì người ta quen sống trong một xã hội dân chủ cho nên ngay trong mỗi đảng chính trị cũng có những ý kiến khác nhau. Và bất cứ người nào cũng có quyền phát biểu ý kiến cho công chúng nghe. Nếu không thì làm sao gọi là chế độ tự do dân chủ được?
Nhưng tại sao các đại biểu Cộng Hòa lại có nhiều ý kiến khác nhau như vậy? Ðây không phải là một nhược điểm của đảng Cộng Hòa, hay của bất cứ đảng nào trong hệ thống chính trị nước Mỹ. Họ có ý kiến khác nhau vì những người dân đã bỏ phiếu cho họ có ý kiến khác nhau! Các nhà chính trị dân cử chịu trách nhiệm trước cử tri, mà họ mong còn tiếp tục ủng hộ họ trong cuộc bầu cử sắp tới. Tất cả các đại biểu Cộng Hòa trong Hạ Viện mới bỏ phiếu cho dự luật ngân sách vừa qua đều biết rằng dự luật đó sẽ không thể qua cửa ải Thượng Viện, đừng nói tới sẽ bị ông tổng thống phủ quyết. Nhiều đại biểu Cộng Hòa đang đề nghị phải tu chính Hiến Pháp Mỹ buộc chính phủ phải cân bằng ngân sách, rồi mới chịu nâng mức trần của các món nợ quốc gia. Họ cũng biết tu chính Hiến Pháp là một việc thiên nan vạn nan. Ngay trong thời Tổng Thống Bush, khi đảng Cộng Hòa chiếm đa số ở cả hai viện Quốc Hội và ngồi trong Tòa Bạch Ốc, cũng không ai đưa ra dự luật làm tu chính án đó. Nhưng tại sao nay vẫn có người muốn tu chính Hiến Pháp như vậy? Bởi vì từ đây đến năm 2012, họ sẽ phải tranh thủ để được đưa ra ứng cử lần nữa. Muốn sang năm được đưa ra tranh cử thì phải qua cửa ải “bầu sơ bộ,” trong đó các người trong mỗi đảng đi bỏ phiếu lựa chọn coi ai sẽ làm đại diện cho đảng mình.
Mà nhiều nhà chính trị Cộng Hòa biết rằng trong đơn vị mà họ đại diện có những cử tri hăng hái, tích cực nhất, chịu khó đi vận động và đi bỏ phiếu nhất, chính những người này, phần lớn thuộc phong trào Ðảng Tiệc Trà (Tea Party), đều là những người chống tăng thuế, chống chính phủ lớn, và muốn có tu chính án cân bằng ngân sách để cắt giảm chi tiêu! Những người tích cực trong phong trào này đang lên tiếng nhắc nhở rằng năm ngoái, 2010, chính phong trào Tea Party đã giúp đảng Cộng Hòa tăng thêm được 87 đại biểu trong Quốc Hội!
Trong đảng Dân Chủ cũng không khác. Phần lớn những cử tri tích cực, hăng hái nhất trong đảng Dân Chủ là đoàn viên các công đoàn, các hội bảo vệ người tiêu thụ hay bảo vệ môi trường. Nếu các nhà chính trị trong đảng bị các cử tri tích cực này chống đối đến cùng thì khó đi qua cửa ải “bầu sơ bộ” trong đảng.
Nếu không được chọn trong các cuộc bầu sơ bộ của đảng mình thì làm sao ra tranh cử với đảng khác? Vì vậy, các nhà chính trị đều phải nói lớn, làm mạnh, để trước hết không bị chính các người trong đảng mình chống đối.
Ngày xưa nước Mỹ không có phong tục “bầu sơ bộ,” cũng giống như hầu hết các nước dân chủ tự do ở Âu Châu bây giờ. Việc chọn một người ra ứng cử được diễn ra trong nội bộ mỗi đảng, với các người hoạt động mạnh và nắm các chức quan trọng nhất trong đảng. Những người này họp riêng với nhau, bỏ phiếu đi bỏ phiếu lại, giành giật, mặc cả, rồi chọn một ứng cử viên cho mỗi chức vụ sẽ được bầu. Trong những cuộc họp kín đáo đó, người ta rất dễ chịu ảnh hưởng của các thế lực kim tiền, rất dễ thực hiện những vụ trao đổi quyền lợi, nói theo lối Mỹ là “anh gãi lưng tôi, tôi sẽ gãi lưng anh!”
Nếu so sánh giữa hai lối chọn ứng cử viên, hoặc do các “lãnh tụ đảng” chọn, hoặc do tất cả các cử tri theo đảng cùng chọn, đằng nào phản ảnh đúng ý muốn của người dân hơn?
Một điều khiến các đại biểu Quốc Hội đảng Cộng Hòa phải tỏ ra cứng rắn, luôn miệng bác bỏ các đề nghị của Tổng Thống Obama, là vì họ sợ tới kỳ bầu sơ bộ sang năm họ sẽ phải đối diện với các cử tri đang được nhóm Tea Party vận động, kích thích bằng những lập trường “không khoan nhượng.” Vì vậy, có những lúc ông John Boehner, chủ tịch Hạ Viện đã tỏ ý sẵn sàng thỏa hiệp với Tòa Bạch Ốc, thì ông Eric Cantor, trưởng khối đa số trong Hạ Viện, lại lắc đầu. Và phần lớn các nhà chính trị đang chuẩn bị để sang năm ứng cử tổng thống cho đảng Cộng Hòa đều chống mọi việc thỏa hiệp, không ai chịu lui bước. Họ cũng sợ khó đi qua cửa ải bầu sơ bộ sang năm nếu bị các cử tri thuộc Tea Party chống đối! Trong số các “chuẩn ứng cử viên” này, ai lùi bước trước sẽ bị những người khác vạch mặt chỉ tên ngay! Hơn nữa, đằng nào thì họ cũng chưa làm tổng thống, họ sẽ không chịu trách nhiệm nếu chính phủ Mỹ không được vay nợ nữa, nếu điểm tín dụng của nước Mỹ bị xuống thấp làm kinh tế sẽ suy yếu! Ngược lại, nếu kinh tế yếu đi thì ông Obama sẽ yếu theo, sang năm nếu được đảng đưa ra tranh cử, họ sẽ dễ thắng hơn!
Tình trạng rắc rối đó là cái giá mà người Mỹ phải trả khi muốn sống theo các quy tắc dân chủ. Trong tương lai người ta có thể tìm cách sửa đổi những phương pháp bỏ phiếu sơ bộ, để những nhóm cực đoan không lấn át tất cả một đảng. Nhưng hiện giờ người ta chấp nhận cái giá phải trả đó. Cứ theo các quy tắc hiện hành mà tranh cử với nhau, cũng giống như nếu đá bóng thì phải chấp nhận luật chơi. Nhiều người Mỹ đang kêu trời rằng đội tuyển phụ nữ Mỹ đã lấn áp, dẫn trước đội tuyển Nhật suốt hai hiệp đấu, mà cuối cùng lại thua chỉ vì mấy quả đá trực tiếp sau khi Nhật gỡ huề vào những phút muộn màng! Nhưng luật chơi đá banh nó như vậy! Nếu hồi xưa cả thế giới đồng ý một luật chơi khác, thí dụ, khi hai đội bằng điểm nhau thì đội nào ghi bàn trước sẽ thắng, chắc năm nay đội tuyển Mỹ đã là vô địch! Nhưng luật chơi vẫn là luật chơi, ai cũng phải tôn trọng! Nếu có ai muốn đổi luật chăng nữa thì sau khi cả thế giới đồng ý đổi mới đem áp dụng được!
Trong cuộc chơi chính trị đang diễn ra về Giới Hạn Công Trái giữa Tổng Thống Obama và các đại biểu Hạ Viện, đảng Cộng Hòa có thể sẽ bị thiệt thòi vì găng quá. Trong khi lo làm sao vừa lòng các cử tri thuộc nhóm Tea Party, các nhà chính trị Cộng Hòa có thể sẽ bị các cử tri khác chán ghét, kể cả những người vẫn ủng hộ đảng Cộng Hòa.
Một cuộc nghiên cứu dư luận mới công bố ngày Thứ Hai, 18 Tháng Bẩy 2011, cho biết 68% các cử tri độc lập, không đảng phái, đồng ý một kế hoạch giảm bớt khiếm hụt ngân sách gồm cả việc cắt giảm chi tiêu lẫn tăng thêm thuế. Ðó cũng là con đường Tổng Thống Obama đang theo. Ðiều đặc biệt là 55% các cử tri xưa nay ủng hộ đảng Cộng Hòa cũng đồng ý với giải pháp này. Trong khi đó các đại biểu Hạ Viện Cộng Hòa thì vẫn khăng khăng không muốn nói chuyện tăng thuế, dù chỉ là bỏ bớt các lỗ hổng, trợ cấp vẫn giảm thuế cho các đại công ty hay những người giầu nhất nước.
Tổng Thống Barack Obama cũng phải bước qua một hàng rào trong đảng ông khi chấp nhận cắt giảm chi phí trong các chương trình y tế, xã hội. Ðã có nhiều lãnh tụ công đoàn và những người trong đảng Dân Chủ lên tiếng phản đối ông, dọa sang năm sẽ không ủng hộ ông nữa. Nhưng trong đảng Dân Chủ hiện nay chưa thấy ai có khả năng thay thế ông Obama. Trong khi đó, mỗi đại biểu Cộng Hòa đều biết có nhiều người đang lấp lé chờ họ nói lỡ một câu thì nhẩy vào giành lá phiếu trong đảng!
Ðiều khó nhất cho ông Obama là phải cắt giảm các chi phí xã hội và y tế cho người già và cho người nghèo, tất cả các chương trình đó đều do đảng Dân Chủ đưa ra từ thế kỷ trước. Ông để nghị cắt 3,000 tỷ đô la trong 10 năm, đổi lại sẽ yêu cầu đảng Cộng Hòa chấp nhận tăng số thu 1,000 tỷ đô la, tổng cộng sẽ giảm bớt 4,000 tỷ đô la khiếm hụt.
Nhưng ông Obama biết gói ghém các đề nghị cắt giảm để cho cử tri dễ nuốt hơn. Ðến năm 2036 mới tăng số tuổi được hưởng Medicare từ 65 lên 67. Ông cũng đề nghị tăng thêm số tiền mà người thụ hưởng phải trả cùng (co-pays) với chính phủ khi hưởng Medicare. Hiện nay điều kiện cùng trả này đã có sẵn, cho nên không phải là một thay đổi bất ngờ. Sẽ cắt bớt 200 tỷ chi phí trả cho các công ty chế thuốc, các bệnh viện và những nơi cung cấp dịch vụ y tế khác. Ông Obama sẽ không lo các cử tri ủng hộ ông bị ảnh hưởng ngay, vì không trực tiếp đụng tới quyền lợi của nhiều người đang thụ hưởng.
Về mặt tăng thuế các công ty và những người giầu nhất thì đa số cử tri Mỹ dễ chấp nhận. Hiện nay các công ty Mỹ đang phải đóng suất thuế thấp hơn các nước giầu khác trên thế giới. Mà suất thuế hiện hành ở Mỹ cũng thấp hơn so với trong quá khứ. Trong thập niên 1950 các xí nghiệp Mỹ đóng góp 28% trong tổng số thuế nhà nước thu vào, năm 2010 họ chỉ đóng góp 9%. Thuế lợi tức cá nhân của những người giầu nhất nước hiện nay cũng thấp nhất trong thời gian gần 70 năm qua.
Cho nên trong trận đá banh giữa Tòa Bạch Ốc về Giới Hạn Công Trái, ông Obama đang có thế lưỡng lợi. Nếu cuối cùng đảng Cộng Hòa nhượng bộ thì ông tổng thống sẽ được tiếng là người chịu nhượng bộ nhiều hơn, đã dám cắt các chương trình y tế và xã hội, giống như ông Clinton đã cắt giảm welfare. Nếu các đại biểu đảng Cộng Hòa nhất định chống đến cùng thì họ sẽ bị mang tiếng là cực đoan. Họ sẽ được Tea Party ủng hộ nhưng sang năm sẽ mất phiếu của các cử tri độc lập. Cho nên, các người đang thỏa hiệp như Nghị Sĩ Mitch McConnell và Dân Biểu John Boehner, cùng với nhóm sáu người “Lục nhân bang” có thể sẽ trở thành những người cứu vớt uy tín của đảng Cộng Hòa trong cuộc đấu võ hiện đang lâm vào bế tắc.
Ngô Nhân Dụng
Nhà bình luận Nguyễn Văn Khanh mới đặt câu hỏi trên nhật báo Người Việt: Ai là sếp của đảng Cộng Hòa?
Ông Nguyễn Văn Khanh chỉ muốn trình bày một thực trạng: Trong cuộc tranh luận giữa Tổng Thống Barack Obama và các dân biểu Cộng Hòa về Mức Giới Hạn Công Trái (Debt Ceiling), không biết giữa hai Dân Biểu John Boehner và Eric Cantor, cộng thêm những nggg đang dự tính ứng cử tổng thống năm 2012, ai là người phát biểu “lập trường” của đảng Cộng Hòa? Không biết.
Nhưng điều này nằm trong bản chất chế độ dân chủ. Các đảng chính trị trong một nước tự do dân chủ không có “lãnh tụ vĩ đại” hay “lãnh tụ kính yêu” như trong các nước độc tài! Thời ông Gorges W. Bush làm tổng thống thì Nghị Sĩ John McCain là một tiếng nói “đối lập” trong nhiều vấn đề, từ cách điều hành hai cuộc chiến tranh đến việc cắt thuế má; mà cả hai đều thuộc đảng Cộng Hòa. Bây giờ ông Obama làm tổng thống cũng vậy, trong khi ông loay hoay tìm cách thỏa hiệp với các ông John Boehner và Eric Cantor thì cựu Tổng Thống Bill Clinton tuyên bố, theo ông, ai làm tổng thống thì cứ theo Hiến Pháp Mỹ mà đi vay nợ thêm, chẳng cần xin Quốc Hội nâng mức trần làm gì cho mất thời giờ! Vì Tu chính án số 14 đã nói không ai được làm cho công trái của chính phủ Mỹ bị nghi ngờ giá trị. Vị tổng thống nào cũng phải bảo vệ giá trị các công trái chính phủ Mỹ, do đó nếu cần vay thì phải đi vay để trả các món nợ cũ! Chính vì người ta quen sống trong một xã hội dân chủ cho nên ngay trong mỗi đảng chính trị cũng có những ý kiến khác nhau. Và bất cứ người nào cũng có quyền phát biểu ý kiến cho công chúng nghe. Nếu không thì làm sao gọi là chế độ tự do dân chủ được?
Nhưng tại sao các đại biểu Cộng Hòa lại có nhiều ý kiến khác nhau như vậy? Ðây không phải là một nhược điểm của đảng Cộng Hòa, hay của bất cứ đảng nào trong hệ thống chính trị nước Mỹ. Họ có ý kiến khác nhau vì những người dân đã bỏ phiếu cho họ có ý kiến khác nhau! Các nhà chính trị dân cử chịu trách nhiệm trước cử tri, mà họ mong còn tiếp tục ủng hộ họ trong cuộc bầu cử sắp tới. Tất cả các đại biểu Cộng Hòa trong Hạ Viện mới bỏ phiếu cho dự luật ngân sách vừa qua đều biết rằng dự luật đó sẽ không thể qua cửa ải Thượng Viện, đừng nói tới sẽ bị ông tổng thống phủ quyết. Nhiều đại biểu Cộng Hòa đang đề nghị phải tu chính Hiến Pháp Mỹ buộc chính phủ phải cân bằng ngân sách, rồi mới chịu nâng mức trần của các món nợ quốc gia. Họ cũng biết tu chính Hiến Pháp là một việc thiên nan vạn nan. Ngay trong thời Tổng Thống Bush, khi đảng Cộng Hòa chiếm đa số ở cả hai viện Quốc Hội và ngồi trong Tòa Bạch Ốc, cũng không ai đưa ra dự luật làm tu chính án đó. Nhưng tại sao nay vẫn có người muốn tu chính Hiến Pháp như vậy? Bởi vì từ đây đến năm 2012, họ sẽ phải tranh thủ để được đưa ra ứng cử lần nữa. Muốn sang năm được đưa ra tranh cử thì phải qua cửa ải “bầu sơ bộ,” trong đó các người trong mỗi đảng đi bỏ phiếu lựa chọn coi ai sẽ làm đại diện cho đảng mình.
Mà nhiều nhà chính trị Cộng Hòa biết rằng trong đơn vị mà họ đại diện có những cử tri hăng hái, tích cực nhất, chịu khó đi vận động và đi bỏ phiếu nhất, chính những người này, phần lớn thuộc phong trào Ðảng Tiệc Trà (Tea Party), đều là những người chống tăng thuế, chống chính phủ lớn, và muốn có tu chính án cân bằng ngân sách để cắt giảm chi tiêu! Những người tích cực trong phong trào này đang lên tiếng nhắc nhở rằng năm ngoái, 2010, chính phong trào Tea Party đã giúp đảng Cộng Hòa tăng thêm được 87 đại biểu trong Quốc Hội!
Trong đảng Dân Chủ cũng không khác. Phần lớn những cử tri tích cực, hăng hái nhất trong đảng Dân Chủ là đoàn viên các công đoàn, các hội bảo vệ người tiêu thụ hay bảo vệ môi trường. Nếu các nhà chính trị trong đảng bị các cử tri tích cực này chống đối đến cùng thì khó đi qua cửa ải “bầu sơ bộ” trong đảng.
Nếu không được chọn trong các cuộc bầu sơ bộ của đảng mình thì làm sao ra tranh cử với đảng khác? Vì vậy, các nhà chính trị đều phải nói lớn, làm mạnh, để trước hết không bị chính các người trong đảng mình chống đối.
Ngày xưa nước Mỹ không có phong tục “bầu sơ bộ,” cũng giống như hầu hết các nước dân chủ tự do ở Âu Châu bây giờ. Việc chọn một người ra ứng cử được diễn ra trong nội bộ mỗi đảng, với các người hoạt động mạnh và nắm các chức quan trọng nhất trong đảng. Những người này họp riêng với nhau, bỏ phiếu đi bỏ phiếu lại, giành giật, mặc cả, rồi chọn một ứng cử viên cho mỗi chức vụ sẽ được bầu. Trong những cuộc họp kín đáo đó, người ta rất dễ chịu ảnh hưởng của các thế lực kim tiền, rất dễ thực hiện những vụ trao đổi quyền lợi, nói theo lối Mỹ là “anh gãi lưng tôi, tôi sẽ gãi lưng anh!”
Nếu so sánh giữa hai lối chọn ứng cử viên, hoặc do các “lãnh tụ đảng” chọn, hoặc do tất cả các cử tri theo đảng cùng chọn, đằng nào phản ảnh đúng ý muốn của người dân hơn?
Một điều khiến các đại biểu Quốc Hội đảng Cộng Hòa phải tỏ ra cứng rắn, luôn miệng bác bỏ các đề nghị của Tổng Thống Obama, là vì họ sợ tới kỳ bầu sơ bộ sang năm họ sẽ phải đối diện với các cử tri đang được nhóm Tea Party vận động, kích thích bằng những lập trường “không khoan nhượng.” Vì vậy, có những lúc ông John Boehner, chủ tịch Hạ Viện đã tỏ ý sẵn sàng thỏa hiệp với Tòa Bạch Ốc, thì ông Eric Cantor, trưởng khối đa số trong Hạ Viện, lại lắc đầu. Và phần lớn các nhà chính trị đang chuẩn bị để sang năm ứng cử tổng thống cho đảng Cộng Hòa đều chống mọi việc thỏa hiệp, không ai chịu lui bước. Họ cũng sợ khó đi qua cửa ải bầu sơ bộ sang năm nếu bị các cử tri thuộc Tea Party chống đối! Trong số các “chuẩn ứng cử viên” này, ai lùi bước trước sẽ bị những người khác vạch mặt chỉ tên ngay! Hơn nữa, đằng nào thì họ cũng chưa làm tổng thống, họ sẽ không chịu trách nhiệm nếu chính phủ Mỹ không được vay nợ nữa, nếu điểm tín dụng của nước Mỹ bị xuống thấp làm kinh tế sẽ suy yếu! Ngược lại, nếu kinh tế yếu đi thì ông Obama sẽ yếu theo, sang năm nếu được đảng đưa ra tranh cử, họ sẽ dễ thắng hơn!
Tình trạng rắc rối đó là cái giá mà người Mỹ phải trả khi muốn sống theo các quy tắc dân chủ. Trong tương lai người ta có thể tìm cách sửa đổi những phương pháp bỏ phiếu sơ bộ, để những nhóm cực đoan không lấn át tất cả một đảng. Nhưng hiện giờ người ta chấp nhận cái giá phải trả đó. Cứ theo các quy tắc hiện hành mà tranh cử với nhau, cũng giống như nếu đá bóng thì phải chấp nhận luật chơi. Nhiều người Mỹ đang kêu trời rằng đội tuyển phụ nữ Mỹ đã lấn áp, dẫn trước đội tuyển Nhật suốt hai hiệp đấu, mà cuối cùng lại thua chỉ vì mấy quả đá trực tiếp sau khi Nhật gỡ huề vào những phút muộn màng! Nhưng luật chơi đá banh nó như vậy! Nếu hồi xưa cả thế giới đồng ý một luật chơi khác, thí dụ, khi hai đội bằng điểm nhau thì đội nào ghi bàn trước sẽ thắng, chắc năm nay đội tuyển Mỹ đã là vô địch! Nhưng luật chơi vẫn là luật chơi, ai cũng phải tôn trọng! Nếu có ai muốn đổi luật chăng nữa thì sau khi cả thế giới đồng ý đổi mới đem áp dụng được!
Trong cuộc chơi chính trị đang diễn ra về Giới Hạn Công Trái giữa Tổng Thống Obama và các đại biểu Hạ Viện, đảng Cộng Hòa có thể sẽ bị thiệt thòi vì găng quá. Trong khi lo làm sao vừa lòng các cử tri thuộc nhóm Tea Party, các nhà chính trị Cộng Hòa có thể sẽ bị các cử tri khác chán ghét, kể cả những người vẫn ủng hộ đảng Cộng Hòa.
Một cuộc nghiên cứu dư luận mới công bố ngày Thứ Hai, 18 Tháng Bẩy 2011, cho biết 68% các cử tri độc lập, không đảng phái, đồng ý một kế hoạch giảm bớt khiếm hụt ngân sách gồm cả việc cắt giảm chi tiêu lẫn tăng thêm thuế. Ðó cũng là con đường Tổng Thống Obama đang theo. Ðiều đặc biệt là 55% các cử tri xưa nay ủng hộ đảng Cộng Hòa cũng đồng ý với giải pháp này. Trong khi đó các đại biểu Hạ Viện Cộng Hòa thì vẫn khăng khăng không muốn nói chuyện tăng thuế, dù chỉ là bỏ bớt các lỗ hổng, trợ cấp vẫn giảm thuế cho các đại công ty hay những người giầu nhất nước.
Tổng Thống Barack Obama cũng phải bước qua một hàng rào trong đảng ông khi chấp nhận cắt giảm chi phí trong các chương trình y tế, xã hội. Ðã có nhiều lãnh tụ công đoàn và những người trong đảng Dân Chủ lên tiếng phản đối ông, dọa sang năm sẽ không ủng hộ ông nữa. Nhưng trong đảng Dân Chủ hiện nay chưa thấy ai có khả năng thay thế ông Obama. Trong khi đó, mỗi đại biểu Cộng Hòa đều biết có nhiều người đang lấp lé chờ họ nói lỡ một câu thì nhẩy vào giành lá phiếu trong đảng!
Ðiều khó nhất cho ông Obama là phải cắt giảm các chi phí xã hội và y tế cho người già và cho người nghèo, tất cả các chương trình đó đều do đảng Dân Chủ đưa ra từ thế kỷ trước. Ông để nghị cắt 3,000 tỷ đô la trong 10 năm, đổi lại sẽ yêu cầu đảng Cộng Hòa chấp nhận tăng số thu 1,000 tỷ đô la, tổng cộng sẽ giảm bớt 4,000 tỷ đô la khiếm hụt.
Nhưng ông Obama biết gói ghém các đề nghị cắt giảm để cho cử tri dễ nuốt hơn. Ðến năm 2036 mới tăng số tuổi được hưởng Medicare từ 65 lên 67. Ông cũng đề nghị tăng thêm số tiền mà người thụ hưởng phải trả cùng (co-pays) với chính phủ khi hưởng Medicare. Hiện nay điều kiện cùng trả này đã có sẵn, cho nên không phải là một thay đổi bất ngờ. Sẽ cắt bớt 200 tỷ chi phí trả cho các công ty chế thuốc, các bệnh viện và những nơi cung cấp dịch vụ y tế khác. Ông Obama sẽ không lo các cử tri ủng hộ ông bị ảnh hưởng ngay, vì không trực tiếp đụng tới quyền lợi của nhiều người đang thụ hưởng.
Về mặt tăng thuế các công ty và những người giầu nhất thì đa số cử tri Mỹ dễ chấp nhận. Hiện nay các công ty Mỹ đang phải đóng suất thuế thấp hơn các nước giầu khác trên thế giới. Mà suất thuế hiện hành ở Mỹ cũng thấp hơn so với trong quá khứ. Trong thập niên 1950 các xí nghiệp Mỹ đóng góp 28% trong tổng số thuế nhà nước thu vào, năm 2010 họ chỉ đóng góp 9%. Thuế lợi tức cá nhân của những người giầu nhất nước hiện nay cũng thấp nhất trong thời gian gần 70 năm qua.
Cho nên trong trận đá banh giữa Tòa Bạch Ốc về Giới Hạn Công Trái, ông Obama đang có thế lưỡng lợi. Nếu cuối cùng đảng Cộng Hòa nhượng bộ thì ông tổng thống sẽ được tiếng là người chịu nhượng bộ nhiều hơn, đã dám cắt các chương trình y tế và xã hội, giống như ông Clinton đã cắt giảm welfare. Nếu các đại biểu đảng Cộng Hòa nhất định chống đến cùng thì họ sẽ bị mang tiếng là cực đoan. Họ sẽ được Tea Party ủng hộ nhưng sang năm sẽ mất phiếu của các cử tri độc lập. Cho nên, các người đang thỏa hiệp như Nghị Sĩ Mitch McConnell và Dân Biểu John Boehner, cùng với nhóm sáu người “Lục nhân bang” có thể sẽ trở thành những người cứu vớt uy tín của đảng Cộng Hòa trong cuộc đấu võ hiện đang lâm vào bế tắc.
Tại sao trời không sập?
Ngô Nhân Dụng
Ðầu tháng trước, ông Lý Ðạo Quỳ (Li Daokui), cố vấn Ngân Hàng Trung Ương Trung Quốc đã cảnh cáo nếu cuộc thương thuyết ở Quốc Hội Mỹ bế tắc, nước Mỹ có nguy cơ vỡ nợ, đồng đô la sẽ xuống giá, làm thiệt hại đến nhà nước Trung Quốc, vì họ đang cầm trong tay những giấy nợ của Mỹ trị giá hơn một ngàn tỷ đô la!
Ngày hôm qua, bà Christine Lagarde, tân chính trị Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế và cựu bộ trưởng Tài Chánh Pháp cũng lên tiếng cảnh cáo rằng nếu chính phủ Mỹ “vỡ nợ” hoặc điểm tín dụng bị hạ xuống thấp thì cả thế giới sẽ bị vạ lây! Cuối tuần qua, cả Tổng Thống Barack Obama lẫn Chủ Tịch Hạ Viện John Boehner đều nói rằng họ sẽ cố đạt được một thỏa thuận trong chiều Chủ Nhật, trước khi các thị trường chứng khoán Á Châu mở cửa, để tránh cảnh người ta đổ xô đi bán các cổ phiếu vì lo!
Nhưng sau đó hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ vẫn chưa đạt được thỏa hiệp nào hết; mà các thị trường ở Á Châu vẫn mua bán thản nhiên! Trong lúc đó thì tại thị trường chứng khoán New York Chỉ số Dow Jones chỉ xuống chút đỉnh, hôm Thứ Hai mất 50 điểm, Thứ Ba mất 90 điểm. Mức sụt giảm nhỏ như vậy thường xẩy ra như khi mức lời của một vài công ty lớn thấp hơn mong đợi.
Thường khi một công ty hay một chính phủ có nguy cơ vỡ nợ thì những trái phiếu của họ bị sụt giá, vì với mức rủi ro lớn hơn mọi người muốn phải đạt được một mức tiền lãi cao hơn mới bõ công bỏ tiền mua. Nhưng trong mấy ngày qua các công trái 10 năm của chính phủ Mỹ vẫn vững giá, dân đầu tư chấp nhận chỉ được lãi 3% cũng thỏa mãn rồi! Tức là người ta hoàn toàn tin tưởng rằng cứ cho chính phủ Mỹ vay đi, thế nào cũng được hoàn trả! Các công ty Moody hay S&P dọa sẽ hạ thấp điểm tín dụng của chính phủ Mỹ? Nhưng các công ty thẩm lượng tín dụng chưa bao giờ hạ điểm của một xí nghiệp hay một chính phủ nào khi thị trường vẫn còn tín nhiệm khiến họ có thể đi vay với mức lãi suất chỉ có 3%!
Một con nợ mà chậm trả tiền lãi trong một hai ngày là coi như vỡ nợ rồi (hỏi công ty Vinashin thì biết). Nhớ lại cuối năm 2008, Ngân hàng Lehman Brothers phá sản, chính phủ Georges W. Bush muốn có 700 tỷ Mỹ kim để cứu các ngân hàng. Ðề nghị này bị Quốc Hội bác bỏ, thị trường chứng khoán khắp nơi sụt giảm mạnh, thế là cả hai đảng phải chấp thuận ngay món tiền cựu trợ đó. Vậy mà tới hôm nay hai đảng vẫn còn găng nhau, cò kè bàn cãi từng trăm tỷ đô la một, trong khi thị trường chứng khoán coi như chỉ lắc đầu, nhún vai chờ đợi!
Không lẽ hàng triệu nhà đầu tư khắp thế giới lại dửng dưng không lo lắng gì trước viễn cảnh quốc gia giầu mạnh này có nguy cơ vỡ nợ khiến kinh tế cả thế giới bị suy trầm?
Câu trả lời giản dị là: Người ta không tin chuyện đó sẽ xẩy ra! Lo lắng nước Mỹ sắp vỡ nợ cũng không khác gì chuyện “Người nước Kỷ lo trời sập” trong Cổ Học Tinh Hoa. Chắc trời sẽ không sập đâu! Chúng ta sẽ thấy khi nhìn vào các con số.
Hiện nay nhà nước liên bang Mỹ mang nợ hơn 14,000 tỷ đô la. Mỗi tháng Bộ Tài Chánh Mỹ phải trả tiền lãi cho các “chủ nợ” cũ, tức những người đang cầm các trái phiếu của chính phủ, số tiền phải thanh toán trung bình 15 đến 20 tỷ đô la. Trong Tháng Tám này sẽ phải trả 29 tỷ, Tháng Chín chỉ dưới 10 tỷ thôi. Trong khi đó, nhà nước vẫn thu tiền vào (đừng quên, dân Mỹ vẫn tiếp tục đóng thuế dù trời có sập hay không), trung bình mỗi tháng nhà nước Mỹ thu khoảng 200 tỷ Mỹ kim. Do đó, thế nào chính phủ cũng có tiền trả lãi. Còn tiền vốn đáo hạn phải trả thì sao? Bộ Tài Chánh sẽ dùng số tiền thu trong số 200 tỷ trên để hoàn lại chủ nợ cũ. Nhưng ngay sau khi trả nợ rồi thì tổng số nợ xuống dưới mức trần, họ có quyền đi vay đúng số tiền đó để bù vào ngân sách! Mỗi tuần chính phủ Mỹ vẫn cứ trả nợ rồi lại đi vay bao nhiêu lần chưa hề ngưng.
Vấn đề của chính phủ Mỹ không phải là vỡ nợ, mà là sẽ “thiếu tiền tiêu!” Một tổ chức độc lập, Bipartisan Policy Center (BPC) đã tính trong khoảng ngày 2 đến ngày 9 Tháng Tám, tổng số công trái (giấy nợ của quốc gia) sẽ lên tới mức 14,300 tỷ, tức là đụng trần. Nếu không được vay thêm nợ, thì chính phủ sẽ phải cắt giảm các món chi tiêu khác. BPC tính trong Tháng Tám này, chính phủ Mỹ sẽ thu được 172 tỷ đô la; trong khi theo ngân sách đã được Quốc Hội chấp thuận từ trước thì sẽ phải chi ra 307 tỷ.
Theo BPC, số tiền 172 tỷ đó dư để trả tiền lãi các món nợ cũ (29 tỷ), tiền Hưu Bổng Xã Hội (Social Security, hay SS, 49 tỷ), Medicare và Medicaid (50 tỷ), lương binh sĩ (3 tỷ), cựu chiến binh (3 tỷ). Còn lại chưa tới 40 tỷ để chi cho các mục khác.
Bây giờ chính phủ Obama sẽ phải quyết định đặt ưu tiên dùng món tiền 40 tỷ đó như thế nào! Thí dụ, có thể đem chi cho các món trợ cấp thất nghiệp (13 tỷ); trả lại dân số tiền thuế nộp dư (IRS refunds 4 tỷ); trả tiền cho các công ty cung cấp cho bộ Quốc Phòng (32 tỷ); trợ cấp xã hội trong đó có phiếu thực phẩm Food stamps (9 tỷ); chi cho bộ Giáo Dục (20 tỷ); cùng các cơ quan chính phủ khác. Tổng cộng sẽ thiếu 135 tỷ. Nếu không được vay nợ mới, chính phủ sẽ phải cắt các món chi tiêu khoảng 135 tỷ, tức là cắt 44%. Cắt món nào, cắt của ai? Dưới thời cựu Tổng Thống Clinton (Dân Chủ), đã có lúc chính phủ bị thiếu tiền giống như vậy; không phải vì đụng trần nợ mà vì Quốc Hội (Cộng Hòa) không chịu biểu quyết ngân sách như ông tổng thống muốn. Lúc đó, ông Clinton dọa sẽ không còn tiền trả lương hưu SS khiến Quốc Hội đã phải biểu quyết một ngân sách riêng cho món này!
Bây giờ cảnh đó có thể tái diễn, nhưng có nhiều cách để bộ Tài Chánh Mỹ vẫn có thêm tiền tiêu, ngay cả sau khi đụng trần giới hạn công trái.
Trong số hơn 14 ngàn tỷ nợ nần đó thực các chủ nợ là ai. Tới ngày cuối Tháng Ba năm 2011, tổng số nợ của chính phủ Mỹ là $14,270.1 tỷ (đô la Mỹ). Trong số đó, công chúng làm chủ $9,656.6 tỷ tiền nợ, Công chúng (public) gồm có các nhà đầu tư trong nước Mỹ và ngoại quốc, các chính phủ và ngân hàng trung ương các nước khác mà Ngân Hàng Trung Ương Mỹ (Federal Reserve system) làm chủ nhiều nhất, $1,427.4 tỷ. Ngân Hàng Trung Ương Trung Quốc đứng hạng nhì ($1,100 tỷ) rồi đến Nhật Bản ($900 tỷ). Những giấy nợ mà “công chúng” cầm, họ có quyền đem bán trên thị trường (marketable), một thị trường rất năng động vì ai cũng tin rằng cho chính phủ Mỹ vay là an toàn nhất!
Ngoài số nợ với “công chúng” kể trên, các con nợ khác của chính phủ Mỹ là “người nhà,” gồm những cơ quan trong chính phủ có ngân sách riêng của họ. Tiền quý vị đi làm đóng cho những quỹ như Quỹ Hưu Bổng Xã Hội và Medicare, vân vân, tiền các ngân hàng góp để bảo hiểm các trương mục, các công chức liên bang góp tiền hưu riêng, đều được giữ trong những Quỹ Tín Thác (Trust funds). Các vị quản lý những quỹ này cũng đi mua công trái của chính phủ để sinh lời, tức là các quỹ của nhà nước Mỹ trở thành chủ nợ của nhà nước! Giống như ông nhà nước rút tiền trong cái túi áo cho cái túi quần vay nợ vậy!
Tổng cộng số tiền do các “chủ nợ trong nhà” cho chính phủ vay, vào cuối Tháng Ba năm 2011 là $4,613.5 tỷ; trong số đó có khoảng $500 tỷ không được phép đem bán lại trên thị trường (nonmarketable), giống như sổ tiết kiệm vậy! Số chủ nợ trong nhà này rất lớn: Social Security trust funds là chủ nợ của $2,606.6 tỷ; Quỹ Bảo Hiểm Tai Nạn Nghề Nghiệp (Disability) có $173.1 tỷ; Quỹ Hưu Bổng Công Chức Liên Bang (Federal employees retirement funds) là chủ $782.7 tỷ, Quỹ Y Tế Medicare đã cho chính phủ vay $337.3 tỷ; Bảo hiểm các trương mục ngân hàng (Deposit insurance funds) là chủ nợ của $38.3 tỷ, vân vân.
Bây giờ chúng ta có thể thấy chính phủ Mỹ có thể “xoay sở” với các món nợ “trong nhà” để tiếp tục có tiền tiêu mà chưa cần Quốc Hội cho phép nâng mức trần nợ lên. Khi các Quỹ Tín Thác đem tiền của Social Security hoặc Medicare mua những công trái không được phép bán trên thị trường (nonmarketable) thì tổng số nợ tăng lên, tức là tiến gần mức trần hơn. Hành động đó khiến khả năng phát hành công trái bán ra ngoài (marketable) bị giảm. Bây giờ, muốn cho tổng số nợ khỏi đụng mức trần, bộ Tài Chánh có thể ngưng không phát hành thêm các công trái “nonmarketable” đó nữa, trong khi những công trái“nonmarketable” nào đáo hạn thì tạm khoan không thanh toán vội. Hậu quả là tổng số nợ tự động giảm xuống, dưới mức trần; nhà nước lại được đi vay thêm!
Họ có quyền làm như vậy hay không? Không có sách nào cấm cả, ít nhất là chưa có! Trong thực tế, quỹ hưu bổng của các công chức liên bang đã được đối xử như vậy một lần rồi! Họ cứ chờ sẽ đến lúc chính phủ có dư tiền, sẽ đem tiền đến trả. Giống như nhà nước rút tiền trong cái túi áo trả vào cái túi quần vậy!
Tóm lại, viễn tượng chính phủ Mỹ vỡ nợ rất khó xẩy ra. Từ năm 1962, Quốc Hội Mỹ đã biểu quyết nâng mức trần nợ lên 74 lần, riêng trong 8 năm thời Tổng Thống Reagan mức trần đã được tăng lên 17 lần, thời ông Clinton 4 lần, thời ông Bush trẻ 7 lần. Nhưng vấn đề của nước Mỹ không phải là mức trần công trái, mà là ngân sách khiếm hụt!
Vì chính phủ cứ được phép vay nợ đều đều nên cứ việc chi tiêu rộng rãi; ngân sách vì thế ngày càng thâm thủng. Chính phủ Mỹ bây giờ cứ thu được 6 đồng thì chi 10 đồng, tỷ lệ thâm thủng là 40% Không một quốc gia nào có thể cứ tiếp tục chi nhiều hơn thu, rồi đi vay nợ để bù vào như vậy mãi mãi được! Ðây là một vấn đề người Mỹ phải giải quyết, càng sớm càng tốt. Tổng Thống Obama vào ngồi ở Tòa Bạch Ốc đúng lúc mối lo lắng đó nổ bùng lên (tất nhiên các đối thủ chính trị của ông góp phần chọn thời điểm cho nó nổ). Vì thế, một quyết định giản dị là tăng mức trần nợ biến thành một cuộc tranh luận về ưu tiên trong ngân sách! Việc tăng mức trần nợ không ảnh hưởng gì tói kinh tế quốc gia.
Việc cắt giảm chi tiêu của nhà nước cũng như việc tăng thuế vào lúc kinh tế đang trì trệ sẽ khiến kinh tế khó hồi phục hơn. Nếu hai đảng có đồng ý với nhau trong mấy ngày tới, chắc chắn họ cũng đặt một thời hạn dài, trong 10 năm, để các khoản cắt hay tăng sẽ chỉ được thi hành trong thời hạn 2, 3 năm nữa.
Nếu kinh tế Mỹ hồi phục rồi tăng trưởng mạnh, thì lúc đó số tiền thuế thu được sẽ tự động tăng lên. Như đã xẩy ra thời ông Clinton, ông đã cắt giảm nhiều chương trình xã hội giúp cho ngân sách cân bằng rồi thặng dư, đến thời ông Bush trẻ mới biến thành khiếm hụt.
Vụ khủng hoảng tài chánh từ năm 2007 khiến số chi tiêu của chính phủ phải tăng thêm và số thuế thu được giảm xuống! Nhưng ở Mỹ cứ một đảng nào cầm quyền thì đảng đối lập cũng hô hoán về ngân sách khiếm hụt, để bắt nhà nước giảm chi! Vì vậy, chúng ta được chứng kiến cảnh hai đảng tranh cãi và những lời báo động nếu họ còn cãi nhau mãi thì nước Mỹ sẽ ‘vỡ nợ!”
Tuy nhiên, đến ngày 2 Tháng Tám này mà hai đảng vẫn không thỏa hiệp được với nhau về mức trần công trái, thì quý vị cứ an tâm. Nước Mỹ sẽ không vỡ nợ đâu!
Ngô Nhân Dụng
Ðầu tháng trước, ông Lý Ðạo Quỳ (Li Daokui), cố vấn Ngân Hàng Trung Ương Trung Quốc đã cảnh cáo nếu cuộc thương thuyết ở Quốc Hội Mỹ bế tắc, nước Mỹ có nguy cơ vỡ nợ, đồng đô la sẽ xuống giá, làm thiệt hại đến nhà nước Trung Quốc, vì họ đang cầm trong tay những giấy nợ của Mỹ trị giá hơn một ngàn tỷ đô la!
Ngày hôm qua, bà Christine Lagarde, tân chính trị Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế và cựu bộ trưởng Tài Chánh Pháp cũng lên tiếng cảnh cáo rằng nếu chính phủ Mỹ “vỡ nợ” hoặc điểm tín dụng bị hạ xuống thấp thì cả thế giới sẽ bị vạ lây! Cuối tuần qua, cả Tổng Thống Barack Obama lẫn Chủ Tịch Hạ Viện John Boehner đều nói rằng họ sẽ cố đạt được một thỏa thuận trong chiều Chủ Nhật, trước khi các thị trường chứng khoán Á Châu mở cửa, để tránh cảnh người ta đổ xô đi bán các cổ phiếu vì lo!
Nhưng sau đó hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ vẫn chưa đạt được thỏa hiệp nào hết; mà các thị trường ở Á Châu vẫn mua bán thản nhiên! Trong lúc đó thì tại thị trường chứng khoán New York Chỉ số Dow Jones chỉ xuống chút đỉnh, hôm Thứ Hai mất 50 điểm, Thứ Ba mất 90 điểm. Mức sụt giảm nhỏ như vậy thường xẩy ra như khi mức lời của một vài công ty lớn thấp hơn mong đợi.
Thường khi một công ty hay một chính phủ có nguy cơ vỡ nợ thì những trái phiếu của họ bị sụt giá, vì với mức rủi ro lớn hơn mọi người muốn phải đạt được một mức tiền lãi cao hơn mới bõ công bỏ tiền mua. Nhưng trong mấy ngày qua các công trái 10 năm của chính phủ Mỹ vẫn vững giá, dân đầu tư chấp nhận chỉ được lãi 3% cũng thỏa mãn rồi! Tức là người ta hoàn toàn tin tưởng rằng cứ cho chính phủ Mỹ vay đi, thế nào cũng được hoàn trả! Các công ty Moody hay S&P dọa sẽ hạ thấp điểm tín dụng của chính phủ Mỹ? Nhưng các công ty thẩm lượng tín dụng chưa bao giờ hạ điểm của một xí nghiệp hay một chính phủ nào khi thị trường vẫn còn tín nhiệm khiến họ có thể đi vay với mức lãi suất chỉ có 3%!
Một con nợ mà chậm trả tiền lãi trong một hai ngày là coi như vỡ nợ rồi (hỏi công ty Vinashin thì biết). Nhớ lại cuối năm 2008, Ngân hàng Lehman Brothers phá sản, chính phủ Georges W. Bush muốn có 700 tỷ Mỹ kim để cứu các ngân hàng. Ðề nghị này bị Quốc Hội bác bỏ, thị trường chứng khoán khắp nơi sụt giảm mạnh, thế là cả hai đảng phải chấp thuận ngay món tiền cựu trợ đó. Vậy mà tới hôm nay hai đảng vẫn còn găng nhau, cò kè bàn cãi từng trăm tỷ đô la một, trong khi thị trường chứng khoán coi như chỉ lắc đầu, nhún vai chờ đợi!
Không lẽ hàng triệu nhà đầu tư khắp thế giới lại dửng dưng không lo lắng gì trước viễn cảnh quốc gia giầu mạnh này có nguy cơ vỡ nợ khiến kinh tế cả thế giới bị suy trầm?
Câu trả lời giản dị là: Người ta không tin chuyện đó sẽ xẩy ra! Lo lắng nước Mỹ sắp vỡ nợ cũng không khác gì chuyện “Người nước Kỷ lo trời sập” trong Cổ Học Tinh Hoa. Chắc trời sẽ không sập đâu! Chúng ta sẽ thấy khi nhìn vào các con số.
Hiện nay nhà nước liên bang Mỹ mang nợ hơn 14,000 tỷ đô la. Mỗi tháng Bộ Tài Chánh Mỹ phải trả tiền lãi cho các “chủ nợ” cũ, tức những người đang cầm các trái phiếu của chính phủ, số tiền phải thanh toán trung bình 15 đến 20 tỷ đô la. Trong Tháng Tám này sẽ phải trả 29 tỷ, Tháng Chín chỉ dưới 10 tỷ thôi. Trong khi đó, nhà nước vẫn thu tiền vào (đừng quên, dân Mỹ vẫn tiếp tục đóng thuế dù trời có sập hay không), trung bình mỗi tháng nhà nước Mỹ thu khoảng 200 tỷ Mỹ kim. Do đó, thế nào chính phủ cũng có tiền trả lãi. Còn tiền vốn đáo hạn phải trả thì sao? Bộ Tài Chánh sẽ dùng số tiền thu trong số 200 tỷ trên để hoàn lại chủ nợ cũ. Nhưng ngay sau khi trả nợ rồi thì tổng số nợ xuống dưới mức trần, họ có quyền đi vay đúng số tiền đó để bù vào ngân sách! Mỗi tuần chính phủ Mỹ vẫn cứ trả nợ rồi lại đi vay bao nhiêu lần chưa hề ngưng.
Vấn đề của chính phủ Mỹ không phải là vỡ nợ, mà là sẽ “thiếu tiền tiêu!” Một tổ chức độc lập, Bipartisan Policy Center (BPC) đã tính trong khoảng ngày 2 đến ngày 9 Tháng Tám, tổng số công trái (giấy nợ của quốc gia) sẽ lên tới mức 14,300 tỷ, tức là đụng trần. Nếu không được vay thêm nợ, thì chính phủ sẽ phải cắt giảm các món chi tiêu khác. BPC tính trong Tháng Tám này, chính phủ Mỹ sẽ thu được 172 tỷ đô la; trong khi theo ngân sách đã được Quốc Hội chấp thuận từ trước thì sẽ phải chi ra 307 tỷ.
Theo BPC, số tiền 172 tỷ đó dư để trả tiền lãi các món nợ cũ (29 tỷ), tiền Hưu Bổng Xã Hội (Social Security, hay SS, 49 tỷ), Medicare và Medicaid (50 tỷ), lương binh sĩ (3 tỷ), cựu chiến binh (3 tỷ). Còn lại chưa tới 40 tỷ để chi cho các mục khác.
Bây giờ chính phủ Obama sẽ phải quyết định đặt ưu tiên dùng món tiền 40 tỷ đó như thế nào! Thí dụ, có thể đem chi cho các món trợ cấp thất nghiệp (13 tỷ); trả lại dân số tiền thuế nộp dư (IRS refunds 4 tỷ); trả tiền cho các công ty cung cấp cho bộ Quốc Phòng (32 tỷ); trợ cấp xã hội trong đó có phiếu thực phẩm Food stamps (9 tỷ); chi cho bộ Giáo Dục (20 tỷ); cùng các cơ quan chính phủ khác. Tổng cộng sẽ thiếu 135 tỷ. Nếu không được vay nợ mới, chính phủ sẽ phải cắt các món chi tiêu khoảng 135 tỷ, tức là cắt 44%. Cắt món nào, cắt của ai? Dưới thời cựu Tổng Thống Clinton (Dân Chủ), đã có lúc chính phủ bị thiếu tiền giống như vậy; không phải vì đụng trần nợ mà vì Quốc Hội (Cộng Hòa) không chịu biểu quyết ngân sách như ông tổng thống muốn. Lúc đó, ông Clinton dọa sẽ không còn tiền trả lương hưu SS khiến Quốc Hội đã phải biểu quyết một ngân sách riêng cho món này!
Bây giờ cảnh đó có thể tái diễn, nhưng có nhiều cách để bộ Tài Chánh Mỹ vẫn có thêm tiền tiêu, ngay cả sau khi đụng trần giới hạn công trái.
Trong số hơn 14 ngàn tỷ nợ nần đó thực các chủ nợ là ai. Tới ngày cuối Tháng Ba năm 2011, tổng số nợ của chính phủ Mỹ là $14,270.1 tỷ (đô la Mỹ). Trong số đó, công chúng làm chủ $9,656.6 tỷ tiền nợ, Công chúng (public) gồm có các nhà đầu tư trong nước Mỹ và ngoại quốc, các chính phủ và ngân hàng trung ương các nước khác mà Ngân Hàng Trung Ương Mỹ (Federal Reserve system) làm chủ nhiều nhất, $1,427.4 tỷ. Ngân Hàng Trung Ương Trung Quốc đứng hạng nhì ($1,100 tỷ) rồi đến Nhật Bản ($900 tỷ). Những giấy nợ mà “công chúng” cầm, họ có quyền đem bán trên thị trường (marketable), một thị trường rất năng động vì ai cũng tin rằng cho chính phủ Mỹ vay là an toàn nhất!
Ngoài số nợ với “công chúng” kể trên, các con nợ khác của chính phủ Mỹ là “người nhà,” gồm những cơ quan trong chính phủ có ngân sách riêng của họ. Tiền quý vị đi làm đóng cho những quỹ như Quỹ Hưu Bổng Xã Hội và Medicare, vân vân, tiền các ngân hàng góp để bảo hiểm các trương mục, các công chức liên bang góp tiền hưu riêng, đều được giữ trong những Quỹ Tín Thác (Trust funds). Các vị quản lý những quỹ này cũng đi mua công trái của chính phủ để sinh lời, tức là các quỹ của nhà nước Mỹ trở thành chủ nợ của nhà nước! Giống như ông nhà nước rút tiền trong cái túi áo cho cái túi quần vay nợ vậy!
Tổng cộng số tiền do các “chủ nợ trong nhà” cho chính phủ vay, vào cuối Tháng Ba năm 2011 là $4,613.5 tỷ; trong số đó có khoảng $500 tỷ không được phép đem bán lại trên thị trường (nonmarketable), giống như sổ tiết kiệm vậy! Số chủ nợ trong nhà này rất lớn: Social Security trust funds là chủ nợ của $2,606.6 tỷ; Quỹ Bảo Hiểm Tai Nạn Nghề Nghiệp (Disability) có $173.1 tỷ; Quỹ Hưu Bổng Công Chức Liên Bang (Federal employees retirement funds) là chủ $782.7 tỷ, Quỹ Y Tế Medicare đã cho chính phủ vay $337.3 tỷ; Bảo hiểm các trương mục ngân hàng (Deposit insurance funds) là chủ nợ của $38.3 tỷ, vân vân.
Bây giờ chúng ta có thể thấy chính phủ Mỹ có thể “xoay sở” với các món nợ “trong nhà” để tiếp tục có tiền tiêu mà chưa cần Quốc Hội cho phép nâng mức trần nợ lên. Khi các Quỹ Tín Thác đem tiền của Social Security hoặc Medicare mua những công trái không được phép bán trên thị trường (nonmarketable) thì tổng số nợ tăng lên, tức là tiến gần mức trần hơn. Hành động đó khiến khả năng phát hành công trái bán ra ngoài (marketable) bị giảm. Bây giờ, muốn cho tổng số nợ khỏi đụng mức trần, bộ Tài Chánh có thể ngưng không phát hành thêm các công trái “nonmarketable” đó nữa, trong khi những công trái“nonmarketable” nào đáo hạn thì tạm khoan không thanh toán vội. Hậu quả là tổng số nợ tự động giảm xuống, dưới mức trần; nhà nước lại được đi vay thêm!
Họ có quyền làm như vậy hay không? Không có sách nào cấm cả, ít nhất là chưa có! Trong thực tế, quỹ hưu bổng của các công chức liên bang đã được đối xử như vậy một lần rồi! Họ cứ chờ sẽ đến lúc chính phủ có dư tiền, sẽ đem tiền đến trả. Giống như nhà nước rút tiền trong cái túi áo trả vào cái túi quần vậy!
Tóm lại, viễn tượng chính phủ Mỹ vỡ nợ rất khó xẩy ra. Từ năm 1962, Quốc Hội Mỹ đã biểu quyết nâng mức trần nợ lên 74 lần, riêng trong 8 năm thời Tổng Thống Reagan mức trần đã được tăng lên 17 lần, thời ông Clinton 4 lần, thời ông Bush trẻ 7 lần. Nhưng vấn đề của nước Mỹ không phải là mức trần công trái, mà là ngân sách khiếm hụt!
Vì chính phủ cứ được phép vay nợ đều đều nên cứ việc chi tiêu rộng rãi; ngân sách vì thế ngày càng thâm thủng. Chính phủ Mỹ bây giờ cứ thu được 6 đồng thì chi 10 đồng, tỷ lệ thâm thủng là 40% Không một quốc gia nào có thể cứ tiếp tục chi nhiều hơn thu, rồi đi vay nợ để bù vào như vậy mãi mãi được! Ðây là một vấn đề người Mỹ phải giải quyết, càng sớm càng tốt. Tổng Thống Obama vào ngồi ở Tòa Bạch Ốc đúng lúc mối lo lắng đó nổ bùng lên (tất nhiên các đối thủ chính trị của ông góp phần chọn thời điểm cho nó nổ). Vì thế, một quyết định giản dị là tăng mức trần nợ biến thành một cuộc tranh luận về ưu tiên trong ngân sách! Việc tăng mức trần nợ không ảnh hưởng gì tói kinh tế quốc gia.
Việc cắt giảm chi tiêu của nhà nước cũng như việc tăng thuế vào lúc kinh tế đang trì trệ sẽ khiến kinh tế khó hồi phục hơn. Nếu hai đảng có đồng ý với nhau trong mấy ngày tới, chắc chắn họ cũng đặt một thời hạn dài, trong 10 năm, để các khoản cắt hay tăng sẽ chỉ được thi hành trong thời hạn 2, 3 năm nữa.
Nếu kinh tế Mỹ hồi phục rồi tăng trưởng mạnh, thì lúc đó số tiền thuế thu được sẽ tự động tăng lên. Như đã xẩy ra thời ông Clinton, ông đã cắt giảm nhiều chương trình xã hội giúp cho ngân sách cân bằng rồi thặng dư, đến thời ông Bush trẻ mới biến thành khiếm hụt.
Vụ khủng hoảng tài chánh từ năm 2007 khiến số chi tiêu của chính phủ phải tăng thêm và số thuế thu được giảm xuống! Nhưng ở Mỹ cứ một đảng nào cầm quyền thì đảng đối lập cũng hô hoán về ngân sách khiếm hụt, để bắt nhà nước giảm chi! Vì vậy, chúng ta được chứng kiến cảnh hai đảng tranh cãi và những lời báo động nếu họ còn cãi nhau mãi thì nước Mỹ sẽ ‘vỡ nợ!”
Tuy nhiên, đến ngày 2 Tháng Tám này mà hai đảng vẫn không thỏa hiệp được với nhau về mức trần công trái, thì quý vị cứ an tâm. Nước Mỹ sẽ không vỡ nợ đâu!
Quyền biểu tình
Luật sư Nguyễn Văn Đài
Quyền biểu tình được qui định tại điều 69 Hiến pháp Việt Nam 1992.
Phần I: Ý nghĩa và mục đích của quyền biểu tình.
Quyền biểu tình là quyền Hiến định để nhân dân thể hiện quyền lực của mình như qui định tại điều 2 Hiến pháp 1992 “…Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân,..”. Quyền biểu tình cũng là phương tiện để nhân dân bày tỏ ý trí, nguyện vọng và đòi hỏi của mình trước thực trạng kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng của đất nước. Quyền biểu tình còn là vũ khí đấu tranh mạnh nhất và cuối cùng của nhân dân khi quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm sau khi tất cả các biện pháp giải quyết bằng thủ tục pháp lý khác không mang lại kết quả hài lòng cho nhân dân. Bởi ý nghĩa to lớn của quyền biểu tình và quyền biểu tình là quyền Hiến định nên nó không bị hạn chế bởi qui định của các văn bản dưới luật. Quyền biểu tình chỉ có thể bị hạn chế trong thời gian tình trạng khẩn cấp được công bố chính thức, đe dọa sự sống còn của quốc gia. Và luật về tình trạng khẩn cấp phải do Quốc hội ban hành.
Biểu tình chống Trung Quốc bá quyền ở Hà Nội. (Hình: Blog Anh Ba Sàm)
Mục đích của quyền biểu tình:
1/ Nhân dân thực thi quyền lực của mình:
“…Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân…” thể hiện ở chỗ nhân dân có quyền bầu ra Quốc hội, Quốc hội bầu ra chính phủ. Nhân dân cũng có quyền thực thi các công cụ pháp lý để giải tán Quốc hội và chính phủ.
Theo Hiến pháp Việt Nam 1992, nhân dân có hai công cụ pháp lý để thực hiện quyền lực của mình. Thứ nhất, quyền bầu cử được qui định tại điều 54. Thông qua việc bầu cử, nhân dân có quyền lựa chọn người đại diện cho mình tại Quốc hội.
Công cụ pháp lý thứ hai là quyền biểu tình được qui định tại điều 69. Tại sao khi nhân dân thực hiện quyền biểu tình là thực thi quyền lực của mình? Bởi sau khi nhân dân bầu ra Quốc hội và Quốc hội bầu ra chính phủ để điều hành công việc của đất nước. Và trong suốt 5 năm nhiệm kỳ của mình chưa chắc là Quốc hội và chính phủ đã thực hiện đúng với những gì mà họ đã hứa hẹn với nhân dân. Có thể là họ đã ban hành những đạo luật hay thực hiện những chính sách kinh tế xã hội, đối nội, đối ngoại gây thiệt hại cho lợi ích của nhân dân và lợi ích của quốc gia, đồng thời gây ra bất bình cho nhân dân. Khi đó nhân dân sẽ thực hiện quyền biểu tình để phản đối những đạo luật hay những chính sách bất hợp lý đó của Quốc hội và chính phủ, buộc Quốc hội và chính phủ phải sửa đổi hoặc hủy bỏ các đạo luật hay chính sách đó. Nếu như yêu cầu đó của nhân dân không được đáp ứng, thì những cuộc biểu tình của nhân dân sẽ kéo dài đến khi Quốc hội và chính phủ đó phải bị giải tán. Nhân dân sẽ thực hiện quyền bầu cử của mình để bầu ra Quốc hội và chính phủ mới phù hợp với ý trí và nguyện vọng của nhân dân. Thực hiện quyền biểu tình để giải tán Quốc hội và chính phủ đó là nhân dân thực thi quyền lực của mình và đó mới thực sự là mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân.
2/ Quyền biểu tình là phương tiện để nhân dân đòi hỏi, bày tỏ ý trí, nguyện vọng của mình trước thực trạng kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng của đất nước.
- Khi nền kinh tế rơi vào lạm phát, giá cả hàng hóa tiêu dùng, thực phẩm, xăng dầu tăng cao làm ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc đến đời sống của nhân dân, trong khi chính phủ không có giải pháp hoặc có giải pháp nhưng không hiệu quả mà nguyên nhân có thể do lãnh đạo chính phủ quan liêu, yếu kém về năng lực. Bởi vậy nhân dân sẽ thực hiện quyền biểu tình để đòi hỏi sự thay đổi, trừng phạt những quan chức quan liêu, năng lực yếu kém và buộc họ phải từ chức để cho những người có tâm huyết và năng lực thực sự lãnh đạo.
- Khi nền kinh tế được đổi mới và phát triển nhanh chóng, trong khi thể chế chính trị không được đổi mới và cải cách cho phù hợp. Những quyền chính trị căn bản của nhân dân chưa được tôn trọng và thực hiện trên thực tế. Nhân dân sẽ thực hiện quyền biểu tình để đòi hỏi đổi mới và cải cách chính trị, thực hiện dân chủ hóa xã hội.
- Tham nhũng, đạo đức xã hội bị suy thoái đều là những vấn nạn xã hội nghiêm trọng. Và để thúc đẩy và tạo động lực mạnh mẽ trong việc chống tham nhũng, nhân dân có thể thực hiện quyền biểu tình nhằm vào những quan chức đã bị tố cáo tham nhũng, hoặc biểu tình ủng hộ cho những chiến dịch chống tham nhũng.
- Khi chủ quyền, an ninh quốc gia bị ngoại bang đe dọa, xâm chiếm. Nhân dân thực hiện quyền biểu tình để bày tỏ lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết của cả dân tộc trong việc phản đối và chống lại sự đe dọa, xâm chiếm của ngoại bang.
3/ Quyền biểu tình là vũ khí đấu tranh của nhân dân khi quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm:
Trong quá trình ban hành và thực thi các chính sách kinh tế xã hội của chính phủ hay của các chính quyền địa phương sẽ có những chính sách kinh tế xã hội như thu hồi và đền bù đất đai không phù hợp với thực tế, dẫn đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân bị thiệt hại. Nhân dân sẽ thực thi các công cụ pháp lý như quyền khiếu nại, tố cáo để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Nhưng trên thực tế đa số các trường hợp khiếu nại, tố cáo của nhân dân không đạt được kết quả mong muốn. Lúc đó việc nhân dân thực hiện quyền biểu tình được qui định trong Hiến pháp là giải pháp cuối cùng và cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Phần II. Thực thi quyền biểu tình
1/ Quyền biểu tình qui định tại điều 69 Hiến pháp 1992 và các đạo luật liên quan:
Để đảm bảo quyền biểu tình của công dân được thực hiện một cách đúng đắn, thông thường trong hệ thống pháp luật của các nước trên thế giới, Quốc hội của họ ban hành luật về biểu tình để qui định trình tự, thủ tục cho người dân đăng ký biểu tình. Đồng thời họ cũng ban hành luật về tình trạng khẩn cấp hoặc luật an ninh để qui định trong trường nào thì quyền biểu tình bị hạn chế một phần hoặc toàn bộ.
Ở Việt Nam, cho đến thời điểm hiện tại, Quốc hội chưa ban hành luật biểu tình và các đạo luật khác có liên quan đến quyền biểu tình. Bởi vậy mọi công dân Việt Nam được tự do thực hiện quyền biểu tình mà không cần phải xin phép hay đăng ký. Quyền biểu tình của công dân Việt Nam không bị giàng buộc hoặc hạn chế bởi bất cứ một đạo luật nào đang có hiệu lực.
2/ Thực trạng của việc thực hiện quyền biểu tình ở Việt Nam:
Hiến pháp năm 1946 chỉ qui định công dân Việt Nam có quyền tự do tổ chức và hội họp. Nhưng từ Hiến pháp 1959, 1980 và 1992 đều qui định công dân Việt Nam có quyền biểu tình.
Trong thực tế, từ năm 1975 hầu như nhân dân ít thực hiện quyền biểu tình của mình, ngoại trừ những cuộc biểu tình tự phát, qui mô nhỏ ở các địa phương khi có tranh chấp với chính quyền trong việc đền bù, thu hồi đất. Cho đến năm 2008 khi Trung Quốc bắt đầu gây hấn ở biển Đông thì nhân dân bắt đầu ý thức được quyền biểu tình của mình để bày tỏ lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc và để phản đối Trung Quốc vi phạm chủ quyền lãnh hải của Việt Nam. Đặc biệt từ đầu tháng 6 năm 2011 tới nay, các tầng lớp thanh niên, sinh viên, trí thức, hưu trí… đã tổ chức các cuộc biểu tình ở Hà Nội và Sài Gòn vào ngày Chủ nhật hàng tuần để phản đối Trung Quốc vi phạm chủ quyền lãnh hải, và phá hoại tài sản của Việt Nam.
Những cuộc biểu tình này chưa thực sự thu hút được nhiều người dân tham gia, nhưng nó lại mang ý nghĩa hết sức quan trọng. Đó là nhận thức và hiểu biết của nhân dân về quyền biểu tình đã được nâng cao và những người đã, đang và sẽ tham gia biểu tình thực sự là những con người có bản lĩnh và lòng dũng cảm. Họ đã thể hiện lòng yêu nước của mình, tinh thần đoàn kết dân tộc khi kẻ thù xâm phạm đến chủ quyền lãnh hải quốc gia. Ngoài ra những cuộc biểu tình này còn có ý nghĩa tập dượt và tích lũy kinh nghiệm cho cuộc đấu tranh dân chủ hóa đất nước trong tương lai gần.
Thật đáng tiếc, hai tuần gần đây khi chính quyền ra tay đàn áp và giải tán các cuộc biểu tình, những người tham gia biểu tình đã bị bắt giữ, nhiều người bị đánh dã man. Lúc này lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc của nhân dân đã bị chính quyền xúc phạm và làm tổn thương.
3/ Những người ra lệnh và những người thực hiện lệnh giải tán và trấn áp biểu tình phạm tội gì?
Điều 71 Hiến pháp qui định: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm.
Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật…”
Do đó trước hết phải khẳng định ngay những người ra lệnh và thực hiện mệnh lệnh đã vi phạm nghiêm trọng Hiến pháp Việt Nam năm 1992 khi họ giải tán, trấn áp và bắt giữ những công dân Việt Nam đang thực thi quyền biểu tình theo điều 69 Hiến pháp. Đồng thời người ra lệnh và người thực thi mệnh lệnh giải tán và trấn áp biểu tình đều là đồng phạm trong các trường hợp sau đây:
- Gây hậu quả chết người tham gia biểu tình: Họ có thể phạm tội giết người theo điều 93 Bộ luật hình sự(BLHS); hoặc tội làm chết người trong khi thi hành công vụ theo điều 97 BLHS.
- Gây thương tích cho người tham gia biểu tình: Họ có thể phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác theo điều 104 BLHS; hoặc tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác trong khi thi hành công vụ theo điều 107 BLHS.
- Khi họ bắt và giam giữ những người biểu tình thì họ có thể phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật theo điều 123 BLHS.
- Trong trường hợp làm hư hỏng tài sản của người tham gia biểu tình, người thi hành công vụ có thể phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản theo qui định tại điều 143 BLHS.
Như vậy, những người ra lệnh và thực hiện lệnh trấn áp biểu tình là họ vi phạm Hiến pháp, pháp luật và đang chống lại nhân dân.
4/ Vận động các tầng lớp nhân dân tham gia biểu tình.
Đây là không chỉ là thời điểm hết sức quan trọng trong việc phản đối và chống lại Trung Quốc xâm phạm chủ quyền lãnh hải và phá hoại tài sản quốc gia của Việt Nam. Mà còn là thời điểm đấu tranh chống giặc nội xâm( tham nhũng ) và đấu tranh cho quá trình dân chủ hóa đất nước.
Thực thi quyền biểu tình là thể hiện truyền thống anh hùng bất khuất của cha ông chúng ta trong việc chống giặc ngoại xâm và những kẻ đang có mưu đồ bán rẻ chủ quyền lãnh hải quốc gia.
Thực thi quyền biểu tình sẽ thúc đẩy quá trình dân chủ hóa đất nước và tiến bộ xã hội.
Bởi vậy tất cả mọi người dân Việt Nam lúc này cần phải thực thi quyền biểu tình để thể hiện tinh thần trách nhiệm với đất nước, thể hiện bản lĩnh và lòng dũng cảm, thể hiện lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc.
Hà nội, ngày 20 tháng 7 năm 2011
Luật sư Nguyễn Văn Đài
Quyền biểu tình được qui định tại điều 69 Hiến pháp Việt Nam 1992.
Phần I: Ý nghĩa và mục đích của quyền biểu tình.
Quyền biểu tình là quyền Hiến định để nhân dân thể hiện quyền lực của mình như qui định tại điều 2 Hiến pháp 1992 “…Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân,..”. Quyền biểu tình cũng là phương tiện để nhân dân bày tỏ ý trí, nguyện vọng và đòi hỏi của mình trước thực trạng kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng của đất nước. Quyền biểu tình còn là vũ khí đấu tranh mạnh nhất và cuối cùng của nhân dân khi quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm sau khi tất cả các biện pháp giải quyết bằng thủ tục pháp lý khác không mang lại kết quả hài lòng cho nhân dân. Bởi ý nghĩa to lớn của quyền biểu tình và quyền biểu tình là quyền Hiến định nên nó không bị hạn chế bởi qui định của các văn bản dưới luật. Quyền biểu tình chỉ có thể bị hạn chế trong thời gian tình trạng khẩn cấp được công bố chính thức, đe dọa sự sống còn của quốc gia. Và luật về tình trạng khẩn cấp phải do Quốc hội ban hành.
Biểu tình chống Trung Quốc bá quyền ở Hà Nội. (Hình: Blog Anh Ba Sàm)
Mục đích của quyền biểu tình:
1/ Nhân dân thực thi quyền lực của mình:
“…Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân…” thể hiện ở chỗ nhân dân có quyền bầu ra Quốc hội, Quốc hội bầu ra chính phủ. Nhân dân cũng có quyền thực thi các công cụ pháp lý để giải tán Quốc hội và chính phủ.
Theo Hiến pháp Việt Nam 1992, nhân dân có hai công cụ pháp lý để thực hiện quyền lực của mình. Thứ nhất, quyền bầu cử được qui định tại điều 54. Thông qua việc bầu cử, nhân dân có quyền lựa chọn người đại diện cho mình tại Quốc hội.
Công cụ pháp lý thứ hai là quyền biểu tình được qui định tại điều 69. Tại sao khi nhân dân thực hiện quyền biểu tình là thực thi quyền lực của mình? Bởi sau khi nhân dân bầu ra Quốc hội và Quốc hội bầu ra chính phủ để điều hành công việc của đất nước. Và trong suốt 5 năm nhiệm kỳ của mình chưa chắc là Quốc hội và chính phủ đã thực hiện đúng với những gì mà họ đã hứa hẹn với nhân dân. Có thể là họ đã ban hành những đạo luật hay thực hiện những chính sách kinh tế xã hội, đối nội, đối ngoại gây thiệt hại cho lợi ích của nhân dân và lợi ích của quốc gia, đồng thời gây ra bất bình cho nhân dân. Khi đó nhân dân sẽ thực hiện quyền biểu tình để phản đối những đạo luật hay những chính sách bất hợp lý đó của Quốc hội và chính phủ, buộc Quốc hội và chính phủ phải sửa đổi hoặc hủy bỏ các đạo luật hay chính sách đó. Nếu như yêu cầu đó của nhân dân không được đáp ứng, thì những cuộc biểu tình của nhân dân sẽ kéo dài đến khi Quốc hội và chính phủ đó phải bị giải tán. Nhân dân sẽ thực hiện quyền bầu cử của mình để bầu ra Quốc hội và chính phủ mới phù hợp với ý trí và nguyện vọng của nhân dân. Thực hiện quyền biểu tình để giải tán Quốc hội và chính phủ đó là nhân dân thực thi quyền lực của mình và đó mới thực sự là mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân.
2/ Quyền biểu tình là phương tiện để nhân dân đòi hỏi, bày tỏ ý trí, nguyện vọng của mình trước thực trạng kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng của đất nước.
- Khi nền kinh tế rơi vào lạm phát, giá cả hàng hóa tiêu dùng, thực phẩm, xăng dầu tăng cao làm ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc đến đời sống của nhân dân, trong khi chính phủ không có giải pháp hoặc có giải pháp nhưng không hiệu quả mà nguyên nhân có thể do lãnh đạo chính phủ quan liêu, yếu kém về năng lực. Bởi vậy nhân dân sẽ thực hiện quyền biểu tình để đòi hỏi sự thay đổi, trừng phạt những quan chức quan liêu, năng lực yếu kém và buộc họ phải từ chức để cho những người có tâm huyết và năng lực thực sự lãnh đạo.
- Khi nền kinh tế được đổi mới và phát triển nhanh chóng, trong khi thể chế chính trị không được đổi mới và cải cách cho phù hợp. Những quyền chính trị căn bản của nhân dân chưa được tôn trọng và thực hiện trên thực tế. Nhân dân sẽ thực hiện quyền biểu tình để đòi hỏi đổi mới và cải cách chính trị, thực hiện dân chủ hóa xã hội.
- Tham nhũng, đạo đức xã hội bị suy thoái đều là những vấn nạn xã hội nghiêm trọng. Và để thúc đẩy và tạo động lực mạnh mẽ trong việc chống tham nhũng, nhân dân có thể thực hiện quyền biểu tình nhằm vào những quan chức đã bị tố cáo tham nhũng, hoặc biểu tình ủng hộ cho những chiến dịch chống tham nhũng.
- Khi chủ quyền, an ninh quốc gia bị ngoại bang đe dọa, xâm chiếm. Nhân dân thực hiện quyền biểu tình để bày tỏ lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết của cả dân tộc trong việc phản đối và chống lại sự đe dọa, xâm chiếm của ngoại bang.
3/ Quyền biểu tình là vũ khí đấu tranh của nhân dân khi quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm:
Trong quá trình ban hành và thực thi các chính sách kinh tế xã hội của chính phủ hay của các chính quyền địa phương sẽ có những chính sách kinh tế xã hội như thu hồi và đền bù đất đai không phù hợp với thực tế, dẫn đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân bị thiệt hại. Nhân dân sẽ thực thi các công cụ pháp lý như quyền khiếu nại, tố cáo để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Nhưng trên thực tế đa số các trường hợp khiếu nại, tố cáo của nhân dân không đạt được kết quả mong muốn. Lúc đó việc nhân dân thực hiện quyền biểu tình được qui định trong Hiến pháp là giải pháp cuối cùng và cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Phần II. Thực thi quyền biểu tình
1/ Quyền biểu tình qui định tại điều 69 Hiến pháp 1992 và các đạo luật liên quan:
Để đảm bảo quyền biểu tình của công dân được thực hiện một cách đúng đắn, thông thường trong hệ thống pháp luật của các nước trên thế giới, Quốc hội của họ ban hành luật về biểu tình để qui định trình tự, thủ tục cho người dân đăng ký biểu tình. Đồng thời họ cũng ban hành luật về tình trạng khẩn cấp hoặc luật an ninh để qui định trong trường nào thì quyền biểu tình bị hạn chế một phần hoặc toàn bộ.
Ở Việt Nam, cho đến thời điểm hiện tại, Quốc hội chưa ban hành luật biểu tình và các đạo luật khác có liên quan đến quyền biểu tình. Bởi vậy mọi công dân Việt Nam được tự do thực hiện quyền biểu tình mà không cần phải xin phép hay đăng ký. Quyền biểu tình của công dân Việt Nam không bị giàng buộc hoặc hạn chế bởi bất cứ một đạo luật nào đang có hiệu lực.
2/ Thực trạng của việc thực hiện quyền biểu tình ở Việt Nam:
Hiến pháp năm 1946 chỉ qui định công dân Việt Nam có quyền tự do tổ chức và hội họp. Nhưng từ Hiến pháp 1959, 1980 và 1992 đều qui định công dân Việt Nam có quyền biểu tình.
Trong thực tế, từ năm 1975 hầu như nhân dân ít thực hiện quyền biểu tình của mình, ngoại trừ những cuộc biểu tình tự phát, qui mô nhỏ ở các địa phương khi có tranh chấp với chính quyền trong việc đền bù, thu hồi đất. Cho đến năm 2008 khi Trung Quốc bắt đầu gây hấn ở biển Đông thì nhân dân bắt đầu ý thức được quyền biểu tình của mình để bày tỏ lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc và để phản đối Trung Quốc vi phạm chủ quyền lãnh hải của Việt Nam. Đặc biệt từ đầu tháng 6 năm 2011 tới nay, các tầng lớp thanh niên, sinh viên, trí thức, hưu trí… đã tổ chức các cuộc biểu tình ở Hà Nội và Sài Gòn vào ngày Chủ nhật hàng tuần để phản đối Trung Quốc vi phạm chủ quyền lãnh hải, và phá hoại tài sản của Việt Nam.
Những cuộc biểu tình này chưa thực sự thu hút được nhiều người dân tham gia, nhưng nó lại mang ý nghĩa hết sức quan trọng. Đó là nhận thức và hiểu biết của nhân dân về quyền biểu tình đã được nâng cao và những người đã, đang và sẽ tham gia biểu tình thực sự là những con người có bản lĩnh và lòng dũng cảm. Họ đã thể hiện lòng yêu nước của mình, tinh thần đoàn kết dân tộc khi kẻ thù xâm phạm đến chủ quyền lãnh hải quốc gia. Ngoài ra những cuộc biểu tình này còn có ý nghĩa tập dượt và tích lũy kinh nghiệm cho cuộc đấu tranh dân chủ hóa đất nước trong tương lai gần.
Thật đáng tiếc, hai tuần gần đây khi chính quyền ra tay đàn áp và giải tán các cuộc biểu tình, những người tham gia biểu tình đã bị bắt giữ, nhiều người bị đánh dã man. Lúc này lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc của nhân dân đã bị chính quyền xúc phạm và làm tổn thương.
3/ Những người ra lệnh và những người thực hiện lệnh giải tán và trấn áp biểu tình phạm tội gì?
Điều 71 Hiến pháp qui định: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm.
Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật…”
Do đó trước hết phải khẳng định ngay những người ra lệnh và thực hiện mệnh lệnh đã vi phạm nghiêm trọng Hiến pháp Việt Nam năm 1992 khi họ giải tán, trấn áp và bắt giữ những công dân Việt Nam đang thực thi quyền biểu tình theo điều 69 Hiến pháp. Đồng thời người ra lệnh và người thực thi mệnh lệnh giải tán và trấn áp biểu tình đều là đồng phạm trong các trường hợp sau đây:
- Gây hậu quả chết người tham gia biểu tình: Họ có thể phạm tội giết người theo điều 93 Bộ luật hình sự(BLHS); hoặc tội làm chết người trong khi thi hành công vụ theo điều 97 BLHS.
- Gây thương tích cho người tham gia biểu tình: Họ có thể phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác theo điều 104 BLHS; hoặc tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác trong khi thi hành công vụ theo điều 107 BLHS.
- Khi họ bắt và giam giữ những người biểu tình thì họ có thể phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật theo điều 123 BLHS.
- Trong trường hợp làm hư hỏng tài sản của người tham gia biểu tình, người thi hành công vụ có thể phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản theo qui định tại điều 143 BLHS.
Như vậy, những người ra lệnh và thực hiện lệnh trấn áp biểu tình là họ vi phạm Hiến pháp, pháp luật và đang chống lại nhân dân.
4/ Vận động các tầng lớp nhân dân tham gia biểu tình.
Đây là không chỉ là thời điểm hết sức quan trọng trong việc phản đối và chống lại Trung Quốc xâm phạm chủ quyền lãnh hải và phá hoại tài sản quốc gia của Việt Nam. Mà còn là thời điểm đấu tranh chống giặc nội xâm( tham nhũng ) và đấu tranh cho quá trình dân chủ hóa đất nước.
Thực thi quyền biểu tình là thể hiện truyền thống anh hùng bất khuất của cha ông chúng ta trong việc chống giặc ngoại xâm và những kẻ đang có mưu đồ bán rẻ chủ quyền lãnh hải quốc gia.
Thực thi quyền biểu tình sẽ thúc đẩy quá trình dân chủ hóa đất nước và tiến bộ xã hội.
Bởi vậy tất cả mọi người dân Việt Nam lúc này cần phải thực thi quyền biểu tình để thể hiện tinh thần trách nhiệm với đất nước, thể hiện bản lĩnh và lòng dũng cảm, thể hiện lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc.
Hà nội, ngày 20 tháng 7 năm 2011
Khủng bố ở Na Uy có thể đến từ nhiều hướng
Wednesday, July 27, 2011 7:22:37 PM
HÀ TƯỜNG CÁT/Người Việt
Từ lâu, nói đến khủng bố, người ta chỉ nghĩ rằng đó là hành động của al-Qaeda hay những nhóm Hồi giáo quá khích.

Một bông hồng đỏ trong hàng ngàn bông hoa đặt phía trước nhà thờ chánh tòa ở thủ đô Oslo, Na Uy hôm 27 Tháng Bảy,
tưởng nhớ 76 người thiệt mạng trong hai vụ thảm sát hôm 22 Tháng Bảy. (Hình: Jonathan Nackstrand/AFP/Getty Images)
Ít ai nghĩ là có những nhóm cực đoan khác có thể gây nên những hành động khủng khiếp không kém dù chưa có mạng lưới tổ chức quy mô.
Hãy nhìn lại trường hợp vụ nổ bom tàn phá tòa nhà chính quyền ở trung tâm thành phố Oklahoma năm 1995 làm 168 người chết và 680 người bị thương, tổn thất vật chất cho những kiến trúc lân cận và xe cộ trên đường phố ước lượng $650 triệu. Tại Hoa Kỳ, tầm mức tàn hại của vụ nổ bom Oklahoma chỉ kém cuộc tấn công khủng bố tấn công ngày 11 tháng 9 năm 2001.
Hai can phạm Timothy McVeigh và Terry Nichols cùng 2 đồng lõa lần lượt bị bắt giữ sau đó. Những cuộc điều tra rất sâu rộng cho thấy đây là những phần tử chống đối trật tự xã hội và có khuynh hướng cực đoan về tín ngưỡng. Ðộng lực hành động của nhóm này là trả thù cho vụ chính quyền liên bang vây hãm trang trại của giáo phái Branch Davidian ở Waco Texas trong 50 ngày và kết thúc bất ngờ bằng một vụ hỏa hoạn đưa đến cái chết cho hơn 70 người.
Vụ khủng bố ở Na Uy vừa qua khiến người ta phải chú ý trở lại các tổ chức, nhóm hay cá nhân được gọi là chung là “quá khích cực hữu,” mặc dầu cách định nghĩa này không diễn tả đầy đủ tính chất, nội dung và đường hướng hành động phức tạp rất khó giải thích của những thành phần ấy trong xã hội.
Cho đến bây giờ người ta biết rằng cuộc nổ bom khủng khiếp đánh phá các cơ sở chính phủ giữa thủ đô Na Uy và vụ tấn công tàn sát thanh thiếu niên ở một trại Hè trên hòn đảo nhỏ giữa hồ nước cách Oslo 20 dặm vài giờ sau đó đều chỉ do một thủ phạm. Nghi can Anders Behring Breivik 32 tuổi, là một công dân Na Uy mặc dầu chào đời tại Anh năm 1979 vì ông bố khi ấy là nhân viên sứ quán Na Uy ở London. Như vậy xuất xứ của Breivik chẳng phải là một người ngoại quốc có hận thù gì với Na Uy, một nước chủ trì giải Nobel và đã từng đóng góp trợ lực cho nhiều nỗ lực hòa đàm trên thế giới, một xứ sở sống bình yên từ trên nửa thế kỷ nay và cảnh sát thường không cần mang súng.
Vậy thì Breivik phải là một cá nhân có đầu óc bất bình thường và người ta coi là thuộc vào những phần tử quá khích cực hữu. Cuộc điều tra về những mối liên hệ quốc tế của Breivik còn đang được khởi đầu và chưa tìm ra nhiều manh mối. Theo những tin tức của những cơ quan truyền thông quốc tế thì Breivik đã khai là có hai tổ chức khủng bố quốc tế khác sẵn sàng tham dự nỗ lực giết người của đương sự. Chưa biết đó là tổ chức nào, nhưng có dấu hiệu đương sự liên hệ với các nhóm cực hữu và quá khích ở Anh.
Theo hồ sơ cảnh sát thì từ tháng 3, tên của Breivik đã nằm trên hồ sơ những cá nhân bị lưu ý. Bộ phận an ninh của cảnh sát Na Uy (Politiets sikkerhetstjeneste) hôm Thứ Hai xác nhận là Breivik bị chú ý vì có tên trong danh sách những người mua nhiều hóa chất của một hãng Ba Lan, tuy nhiên những kiểm tra sau đó không cho thấy có điều gì đáng nghi ngại nên không có biện pháp nào được đưa ra. Ðây có thể là một trong những sơ xuất lớn của cơ quan an ninh Na Uy.
Anders Breivik không phủ nhận mục tiêu hành động của mình. Bản “tuyên ngôn” dài 1,500 trang được đưa lên mạng lưới điện toán ngày thực hiện cuộc tấn công khủng bố, ký một tên giả là “Andrew Berwick,” mang tên “A European Declaration of Independence” (Tuyên ngôn độc lập cho Âu Châu), được khai là đã viết tại Anh. Tuy nhiên nhiều ngụy danh được đề cập đến trong bản văn này chưa hẳn đã là nói đến các cá nhân hay tổ chức cụ thể mà có thể chỉ là xuất phát từ những suy luận tối tăm hoang tưởng của Breivik.
Có một điều chắc chắn, Breivik thuộc trong số những người thù ghét Hồi Giáo và chống di dân. Cuộc “cách mạng” đề cập trong bản tuyên ngôn chủ ý là chống đường lối đa văn hóa mà đương sự tin rằng sẽ hủy hoại truyền thống của Âu Châu. Theo một định nghĩa tổng quát “Chủ trương của thành phần cực hữu là duy trì trật tự xã hội và bảo vệ di sản cố cựu” thi rõ ràng Anders Breivik là một phần tử như vậy và là phần tử quá khích với một tâm trạng bất bình thường. Tâm trạng này có thể do từ quá khứ phức tạp trong lý lịch cá nhân của đương sự.
Anders Behring Breivik sinh ở London ngáy 13 tháng 2 năm 1979, ông bố là Jens David Breivik, nhân viên ngoại giao làm việc trong sứ quán Na Uy ở London và sau đó qua Paris. Bà mẹ là Wenche Behring, nữ y tá. Khi Brevik được 1 tuổi, bố mẹ ly dị, bà mẹ mang Breivik về Na Uy và sau đó lấy một sĩ quan quân đội, Breivik sống với một người em cùng mẹ khác cha ở Oslo. Mặc dầu ông bố không giành được quyền giữ con nhưng Breivik thường xuyên được qua thăm bố và bà mẹ kế, cũng là một nhà ngoại giao, ở Paris, cho đến khi hai người này ly dị năm Breivik 12 tuổi.
Breivik đã học hết bậc trung học ở Oslo và sau đó vào trường thương mại. Bạn bè cho biết anh là một sinh viên thông minh và thích bênh vực cho những người bị bắt nạt, Nhưng từ khi đến tuổi trưởng thành Breivik là một thanh niên quậy phá và tham gia băng đảng. Trong “bản tuyên ngôn,” Breivik kể lại là sau một lần bị bắt vì vẽ bậy lên tường (graffiti), ông bố ngừng liên hệ với mình.
Ông bố Breivik bây giờ nghỉ hưu ở miền Nam nước Pháp và nói là từ 1995 không biết con mình làm gì. Sau này Breivik đi làm cho một hãng tư và đổi việc nhiều lần. Theo lời khai của đương sự để thực hiện vụ khủng bố, đã chi hết 317,000 Euros, một phần bằng tiền dành dụm và một phần bằng tiền kiếm ra không hợp pháp. Năm 2009, Breivik đã qua Tiệp Khắc có ý định mua vũ khí nhưng âm mưu không thành. Ðầu năm nay, Breivik về một vùng quê cách Oslo khảng 80 dặm về phía Ðông Nam và lập một nông trại để có lý do mua một số lượng lớn phân bón chế tạo chất nổ.
Breivik xây dựng những tư tưởng quá khích qua nhiều năm và người ta chưa thể hiểu rõ về quá trình này. Trong “bản tuyên ngôn,” đương sự có viết một chi tiết là bố mẹ ủng hộ chính sách của đảng Lao Ðộng Na Uy, đảng của Thủ Tướng Jens Stoltenberg, còn Breivik thì “không chấp nhận khuynh hướng quá cấp tiến của đảng ấy.” Trại Hè thanh thiếu niên mà Breivik đã tấn công tàn sát do đảng Lao Ðộng Na Uy bảo trợ tổ chức.
Một điều rõ ràng là một trong những yếu tố phát triển của tư tưởng cực hữu ở Âu Châu trong những năm gần đây là vấn đề di dân. Tại một số nước Bắc Âu, các đảng phái chính trị khai thác tâm lý lo ngại của quần chúng đối với di dân đã làm tình trạng kinh tế sút kém và cuộc sống khó khăn hơn, Thêm vào đó những vụ khủng bố của những tổ chức Hồi Giáo khiến người ta nghi ngờ những di dân mới nhập cư.
Thủ Tướng Anh David Cameron, Thủ Tướng Ðức Angela Merkel và Tổng Thống Pháp Nicolas Sarkozy gần đây đều đồng ý là nỗ lực xây dựng một xã hội đa văn hóa không thành công, mặc dầu di dân đem đến những đóng góp cống hiến đáng kể cho xứ sở tạm dung. Những nhóm cực đoan về tín ngưỡng ở nhiều nước Âu Châu lập luận là Hồi Giáo không phù hợp với các giá trị truyền thống của Âu Châu.
Nhưng chống đối những hành động được coi là thiếu nhân bản bằng phản kháng tàn bạo hơn là một đường hướng mà chắc chắn không ai cho là hữu lý hay có hiệu quả. Dù sao vụ khủng bố thê thảm tại Na Uy là một bài học đắt giá để cho các chính trị gia phải suy nghĩ và cân nhắc trong mọi chủ trương hoạt động ở thời đại thế giới toàn cầu hóa này. (HC)
Wednesday, July 27, 2011 7:22:37 PM
HÀ TƯỜNG CÁT/Người Việt
Từ lâu, nói đến khủng bố, người ta chỉ nghĩ rằng đó là hành động của al-Qaeda hay những nhóm Hồi giáo quá khích.

Một bông hồng đỏ trong hàng ngàn bông hoa đặt phía trước nhà thờ chánh tòa ở thủ đô Oslo, Na Uy hôm 27 Tháng Bảy,
tưởng nhớ 76 người thiệt mạng trong hai vụ thảm sát hôm 22 Tháng Bảy. (Hình: Jonathan Nackstrand/AFP/Getty Images)
Ít ai nghĩ là có những nhóm cực đoan khác có thể gây nên những hành động khủng khiếp không kém dù chưa có mạng lưới tổ chức quy mô.
Hãy nhìn lại trường hợp vụ nổ bom tàn phá tòa nhà chính quyền ở trung tâm thành phố Oklahoma năm 1995 làm 168 người chết và 680 người bị thương, tổn thất vật chất cho những kiến trúc lân cận và xe cộ trên đường phố ước lượng $650 triệu. Tại Hoa Kỳ, tầm mức tàn hại của vụ nổ bom Oklahoma chỉ kém cuộc tấn công khủng bố tấn công ngày 11 tháng 9 năm 2001.
Hai can phạm Timothy McVeigh và Terry Nichols cùng 2 đồng lõa lần lượt bị bắt giữ sau đó. Những cuộc điều tra rất sâu rộng cho thấy đây là những phần tử chống đối trật tự xã hội và có khuynh hướng cực đoan về tín ngưỡng. Ðộng lực hành động của nhóm này là trả thù cho vụ chính quyền liên bang vây hãm trang trại của giáo phái Branch Davidian ở Waco Texas trong 50 ngày và kết thúc bất ngờ bằng một vụ hỏa hoạn đưa đến cái chết cho hơn 70 người.
Vụ khủng bố ở Na Uy vừa qua khiến người ta phải chú ý trở lại các tổ chức, nhóm hay cá nhân được gọi là chung là “quá khích cực hữu,” mặc dầu cách định nghĩa này không diễn tả đầy đủ tính chất, nội dung và đường hướng hành động phức tạp rất khó giải thích của những thành phần ấy trong xã hội.
Cho đến bây giờ người ta biết rằng cuộc nổ bom khủng khiếp đánh phá các cơ sở chính phủ giữa thủ đô Na Uy và vụ tấn công tàn sát thanh thiếu niên ở một trại Hè trên hòn đảo nhỏ giữa hồ nước cách Oslo 20 dặm vài giờ sau đó đều chỉ do một thủ phạm. Nghi can Anders Behring Breivik 32 tuổi, là một công dân Na Uy mặc dầu chào đời tại Anh năm 1979 vì ông bố khi ấy là nhân viên sứ quán Na Uy ở London. Như vậy xuất xứ của Breivik chẳng phải là một người ngoại quốc có hận thù gì với Na Uy, một nước chủ trì giải Nobel và đã từng đóng góp trợ lực cho nhiều nỗ lực hòa đàm trên thế giới, một xứ sở sống bình yên từ trên nửa thế kỷ nay và cảnh sát thường không cần mang súng.
Vậy thì Breivik phải là một cá nhân có đầu óc bất bình thường và người ta coi là thuộc vào những phần tử quá khích cực hữu. Cuộc điều tra về những mối liên hệ quốc tế của Breivik còn đang được khởi đầu và chưa tìm ra nhiều manh mối. Theo những tin tức của những cơ quan truyền thông quốc tế thì Breivik đã khai là có hai tổ chức khủng bố quốc tế khác sẵn sàng tham dự nỗ lực giết người của đương sự. Chưa biết đó là tổ chức nào, nhưng có dấu hiệu đương sự liên hệ với các nhóm cực hữu và quá khích ở Anh.
Theo hồ sơ cảnh sát thì từ tháng 3, tên của Breivik đã nằm trên hồ sơ những cá nhân bị lưu ý. Bộ phận an ninh của cảnh sát Na Uy (Politiets sikkerhetstjeneste) hôm Thứ Hai xác nhận là Breivik bị chú ý vì có tên trong danh sách những người mua nhiều hóa chất của một hãng Ba Lan, tuy nhiên những kiểm tra sau đó không cho thấy có điều gì đáng nghi ngại nên không có biện pháp nào được đưa ra. Ðây có thể là một trong những sơ xuất lớn của cơ quan an ninh Na Uy.
Anders Breivik không phủ nhận mục tiêu hành động của mình. Bản “tuyên ngôn” dài 1,500 trang được đưa lên mạng lưới điện toán ngày thực hiện cuộc tấn công khủng bố, ký một tên giả là “Andrew Berwick,” mang tên “A European Declaration of Independence” (Tuyên ngôn độc lập cho Âu Châu), được khai là đã viết tại Anh. Tuy nhiên nhiều ngụy danh được đề cập đến trong bản văn này chưa hẳn đã là nói đến các cá nhân hay tổ chức cụ thể mà có thể chỉ là xuất phát từ những suy luận tối tăm hoang tưởng của Breivik.
Có một điều chắc chắn, Breivik thuộc trong số những người thù ghét Hồi Giáo và chống di dân. Cuộc “cách mạng” đề cập trong bản tuyên ngôn chủ ý là chống đường lối đa văn hóa mà đương sự tin rằng sẽ hủy hoại truyền thống của Âu Châu. Theo một định nghĩa tổng quát “Chủ trương của thành phần cực hữu là duy trì trật tự xã hội và bảo vệ di sản cố cựu” thi rõ ràng Anders Breivik là một phần tử như vậy và là phần tử quá khích với một tâm trạng bất bình thường. Tâm trạng này có thể do từ quá khứ phức tạp trong lý lịch cá nhân của đương sự.
Anders Behring Breivik sinh ở London ngáy 13 tháng 2 năm 1979, ông bố là Jens David Breivik, nhân viên ngoại giao làm việc trong sứ quán Na Uy ở London và sau đó qua Paris. Bà mẹ là Wenche Behring, nữ y tá. Khi Brevik được 1 tuổi, bố mẹ ly dị, bà mẹ mang Breivik về Na Uy và sau đó lấy một sĩ quan quân đội, Breivik sống với một người em cùng mẹ khác cha ở Oslo. Mặc dầu ông bố không giành được quyền giữ con nhưng Breivik thường xuyên được qua thăm bố và bà mẹ kế, cũng là một nhà ngoại giao, ở Paris, cho đến khi hai người này ly dị năm Breivik 12 tuổi.
Breivik đã học hết bậc trung học ở Oslo và sau đó vào trường thương mại. Bạn bè cho biết anh là một sinh viên thông minh và thích bênh vực cho những người bị bắt nạt, Nhưng từ khi đến tuổi trưởng thành Breivik là một thanh niên quậy phá và tham gia băng đảng. Trong “bản tuyên ngôn,” Breivik kể lại là sau một lần bị bắt vì vẽ bậy lên tường (graffiti), ông bố ngừng liên hệ với mình.
Ông bố Breivik bây giờ nghỉ hưu ở miền Nam nước Pháp và nói là từ 1995 không biết con mình làm gì. Sau này Breivik đi làm cho một hãng tư và đổi việc nhiều lần. Theo lời khai của đương sự để thực hiện vụ khủng bố, đã chi hết 317,000 Euros, một phần bằng tiền dành dụm và một phần bằng tiền kiếm ra không hợp pháp. Năm 2009, Breivik đã qua Tiệp Khắc có ý định mua vũ khí nhưng âm mưu không thành. Ðầu năm nay, Breivik về một vùng quê cách Oslo khảng 80 dặm về phía Ðông Nam và lập một nông trại để có lý do mua một số lượng lớn phân bón chế tạo chất nổ.
Breivik xây dựng những tư tưởng quá khích qua nhiều năm và người ta chưa thể hiểu rõ về quá trình này. Trong “bản tuyên ngôn,” đương sự có viết một chi tiết là bố mẹ ủng hộ chính sách của đảng Lao Ðộng Na Uy, đảng của Thủ Tướng Jens Stoltenberg, còn Breivik thì “không chấp nhận khuynh hướng quá cấp tiến của đảng ấy.” Trại Hè thanh thiếu niên mà Breivik đã tấn công tàn sát do đảng Lao Ðộng Na Uy bảo trợ tổ chức.
Một điều rõ ràng là một trong những yếu tố phát triển của tư tưởng cực hữu ở Âu Châu trong những năm gần đây là vấn đề di dân. Tại một số nước Bắc Âu, các đảng phái chính trị khai thác tâm lý lo ngại của quần chúng đối với di dân đã làm tình trạng kinh tế sút kém và cuộc sống khó khăn hơn, Thêm vào đó những vụ khủng bố của những tổ chức Hồi Giáo khiến người ta nghi ngờ những di dân mới nhập cư.
Thủ Tướng Anh David Cameron, Thủ Tướng Ðức Angela Merkel và Tổng Thống Pháp Nicolas Sarkozy gần đây đều đồng ý là nỗ lực xây dựng một xã hội đa văn hóa không thành công, mặc dầu di dân đem đến những đóng góp cống hiến đáng kể cho xứ sở tạm dung. Những nhóm cực đoan về tín ngưỡng ở nhiều nước Âu Châu lập luận là Hồi Giáo không phù hợp với các giá trị truyền thống của Âu Châu.
Nhưng chống đối những hành động được coi là thiếu nhân bản bằng phản kháng tàn bạo hơn là một đường hướng mà chắc chắn không ai cho là hữu lý hay có hiệu quả. Dù sao vụ khủng bố thê thảm tại Na Uy là một bài học đắt giá để cho các chính trị gia phải suy nghĩ và cân nhắc trong mọi chủ trương hoạt động ở thời đại thế giới toàn cầu hóa này. (HC)
Dân là người đóng thuế
Ngô Nhân Dụng
Cuộc tranh luận ở Mỹ để quyết định “cho nhà nước đi vay thêm nợ” đã kéo dài trong không khí gay gắt trong mấy tháng nay.
Tổng thống Mỹ và các đại biểu Quốc Hội họp với nhau không biết bao nhiêu lần rồi. Ở Thượng Viện có ba dự án khác nhau, chưa được đem bàn. Riêng ở Hạ Viện đảng Cộng Hòa đã lần lượt đưa ra hai dự luật trong hai tuần liên tiếp! Dự luật thứ nhất được thông qua nhưng không hy vọng được Thượng Viện thảo luận. Dự luật thứ nhì ngày hôm qua lại không đủ túc số vì một số đại biểu Cộng Hòa cũng bác bỏ sau khi bà Sarah Palin cảnh cáo rằng họ đừng quên chính Tea Party đã đưa họ vào Quốc Hội. Ðây là lần thứ nhì ông John Boehner, chủ tịch Hạ Viện, bị các bạn cùng đảng bỏ rơi, vì một dự luật khác của ông về vấn đề này đã bị chung số phận đó hôm 31 Tháng Năm vừa qua!
Các ông bà đại biểu Quốc Hội có vẻ không sợ hãi gì trước những lời “hăm dọa” nước Mỹ sẽ vỡ nợ! Tại sao họ phải tranh luận gay cấn đến như vậy, về một quyết định bình thường, là đi vay thêm nợ cho đủ công quỹ? Lý do rất hiển nhiên: Vì họ đang cãi nhau về Tiền! Nói rõ hơn: Tiền chi ra và tiền thu vào của chính phủ Mỹ. Ở nước Mỹ, Quốc Hội kiểm soát cái túi tiền, Quốc Hội cho bao nhiêu ông chính phủ được xài bấy nhiêu. Mỗi năm các đại biểu Quốc Hội biểu quyết ngân sách thu, chi một lần; lâu lâu có dịp họ lại thi hành quyền đó thêm lần nữa!
Tranh luận về ngân sách thu, chi là một điểm nổi bật trong đời sống chính trị ở Mỹ, một dân tộc nổi tiếng về tinh thần thực dụng. Hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa thường không đem các chủ nghĩa hay lý thuyết to lớn nào ra lòe nhau cả. Họ thường bàn những chương trình chi và thu, họ vận động dân chúng để xin phiếu trên căn bản các khoản chi và thu trong ngân sách quốc gia. Ở Mỹ cũng có nhiều giáo sư đại học, các nhà bình luận nghiên cứu và tranh luận về triết lý chính trị; có rất nhiều chuyên gia bàn về chính sách trị quốc, bình thiên hạ, vân vân. Nhưng đối với người dân thì mọi tư tưởng, mọi chủ thuyết phải được diễn tả một cách cụ thể. Cụ thể như là: Chính phủ sẽ thu bao nhiêu tiền của dân? Ai đóng thuế nhiều, ai đóng ít? Chính phủ sẽ chi tiền cho những ai được hưởng? Món chi tiêu nào là ưu tiên, món nào thứ yếu, món nào phí phạm, đáng bỏ? Có nhiều cử tri Mỹ cũng bỏ phiếu dựa trên các nguyên tắc chính trị hay luân lý mà họ tin tưởng; hoặc vì những lý do tình cảm, vì đạo giáo, có khi dựa vào óc địa phương. Nhưng phần lớn các cử tri bỏ phiếu sẽ lựa chọn các ứng cử viên vì biết họ chủ trương guồng máy nhà nước sẽ thu và chi như thế nào.
Ðặc điểm của hệ thống chính trị Mỹ có thể thấy ngay trong ngôn ngữ, ngôn ngữ thể hiện cách suy nghĩ của người ta. Các nhà chính trị Mỹ ít khi dùng đến chữ “Nhân Dân” (The People). Danh từ đó trừu tượng quá, không có gì chính xác, cụ thể cả. Cho nên nó rất dễ bị lạm dụng, dễ bị đem dùng trong các khẩu hiệu mị dân. Viết trong các tuyên ngôn thì được; đem ra vận động tranh cử, người nghe lắc đầu, nghi ngờ! Khi các nhà chính trị cần nói đến “Nhân Dân,” hay khi người dân tự nói về mình, ở Mỹ người ta thường dùng một danh hiệu cụ thể, và dính dáng đến túi tiền! Ðó là “Những người đóng thuế” (Tax Payers).
Tên gọi “Những người đóng thuế” bao hàm một ý tưởng: Dân nuôi guồng máy nhà nước! Tiền bạc mà nhà nước đem chi tiêu là do “người dân chúng tôi” đóng góp. Có lẽ ở quốc gia nào người dân cũng biết sự thật sơ đẳng này. Không có dân đóng thuế, nhà nước lấy tiền đâu mà tiêu? Nhưng không phải ở nước nào dân chúng cũng được gọi là “Những người Trả thuế” như ở Mỹ. Xin chú ý đến động từ Trả tiền (Pay), giống như khi người tiêu thụ trả tiền mua một món hàng (thí dụ, cái áo) hay một dịch vụ (thí dụ, đi xe buýt). Tôi đã sống ở Montréal hơn 20 năm, ở đó mọi người thường dùng hai thứ tiếng, Anh ngữ và Pháp ngữ. Ngôn ngữ chính trị ở Canada cũng hay dùng từ “Những người đóng thuế.” Nhưng trong hai ngôn ngữ nó nặng nhẹ khác nhau.
Người nói tiếng Anh ở Canada thì dùng chữ Tax Payers, còn khi dùng tiếng Pháp người ta gọi là Người đóng thuế là Contribuables. Ðộng từ Pay có nghĩa là Trả tiền, nghe thấy ý trao đổi. Còn động từ Contribuer có thể dịch là Ðóng góp. Coi chữ dùng trong hai ngôn ngữ thì thấy người nói tiếng Anh (chịu ảnh hưởng Mỹ) và người nói tiếng Pháp suy nghĩ hơi khác nhau. Chúng ta có thể Ðóng góp (Contribuer) vào một quỹ của nhà thờ, nhà chùa; có thể đóng góp khi giúp một công tác từ thiện. Góp tiền đi nhậu cũng là đóng góp, contribuer. Nhưng khi Trả tiền, Pay, chúng ta chờ đợi người nhận tiền phải cung cấp một dịch vụ (đi xe buýt) hay một hàng hóa (cái áo). Ðúng là “Tiền trao cháo múc.” Còn khi Ðóng góp, có khi chúng ta không chờ đợi nhận được cái gì cả, chắc chỉ có một tờ giấy biên nhận hoặc thêm bản báo cáo tài chánh cuối năm mà ít người có thời giờ đọc. Ðóng góp rồi, sau đó người nhận tiền chi tiêu thế nào mình cũng chẳng quan tâm!
Phân biệt như trên rất quan trọng. Vì có khi người dân đóng thuế cũng chểnh mảng, coi đồng tiền đóng thuế của mình giống như là “đóng góp”; chứ không phải là trả tiền để mua các dịch vụ mà guồng máy nhà nước có trách nhiệm cung cấp cho dân: an ninh, trật tự, đường sá, trường học, vân vân. Ðiều nguy hiểm là nhà nước, là những người được quyền sử dụng số tiền của thập phương bá tánh đóng góp qua việc trả thuế, nhận được tiền của dân rồi họ cũng tự tiện tiêu xài như Tiêu Tiền Chùa!
Cho nên, tốt nhất người dân một nước nên tự gọi mình là “Những người đóng thuế” chứ không nên tự xưng mình là Nhân Dân. Nên ý thức vai trò “người trả tiền” của mình. Dân là người đóng thuế để nuôi guồng máy nhà nước, chứ không phải ông nhà nước tự đẻ ra tiền mà trả lương công chức, cán bộ, xây cầu hay sửa ống cống, phúc đức ban ân huệ cho dân. Phải xác định vai trò của mình và tương quan giữa người trả tiền với người dùng tiền. Nên nghi ngờ các nhà chính trị hay sử dụng những tiếng Nhân Dân. Nó trừu tượng và nói mãi sẽ trở thành huênh hoang rỗng tuếch. Nó chẳng gợi nên một tương quan nào có tính cách trao đổi: Dân góp tiền cho nhà nước để được hưởng những dịch vụ mà nhà nước phải cung cấp. Nếu các ông bà cầm đầu nhà nước mà không làm đủ trách nhiệm đó, dân sẽ truất phế, thay bằng người khác.
Phải tránh một ngộ nhận: Nghĩ rằng có những người dân không phải đóng thuế bao giờ cả. Như vậy họ có quyền đòi hỏi gì đối với chính quyền hay không? Nghĩ như vậy là sai. Thực ra ai cũng đóng thuế hết, trực tiếp hoặc gián tiếp, ngay cả những người sống bằng trợ cấp của xã hội. Mỗi lần quý vị đổ xăng, quý vị đã đóng thuế. Vì ngay mình khi trả tiền, ông nhà nước đã lượm ngay một số trong đó rồi! Quý vị mua vé xe buýt, cũng đang trả thuế. Vì công ty chuyên chở lấy một phần tiền đó mà đóng thuế, đủ các thứ thuế họ phải đóng. Chúng ta còn sống trong xã hội, còn đi mua áo, còn mua kẹo cho con cháu, mỗi lần trả tiền đều đóng thuế cả. Ðó là cái nghiệp của mọi chúng sinh sống trong xã hội. Một người nông dân nghèo ở Quảng Bình không bao giờ đi lên chợ cả, cũng vẫn thường xuyên đóng thuế cho nhà nước. Vì khi vợ ông ta mua vải, tự may lấy may áo cho gia đình, nhà nước đã thu tiền thuế của công ty dệt vải hay nhập cảng vải, trong đó có phần ông đóng góp! Mua một cái chén ăn cơm hay một con dao cũng vậy! Khi làm giấy giá thú hay khai sinh cho con cũng phải đóng tiền, cái đó chắc chắn là một thứ thuế, dù họ gọi bằng tên khác! Tất cả mọi người dân đều có thể tự xưng mình là Người đóng thuế!
Còn một thứ thuế gián tiếp hơn nữa mà ông nhà nước thường xuyên lấy của dân, mặc dù người dân không bỏ ra đồng nào cả. Ðó là khi nhà nước sử dụng những tài nguyên chung của quốc gia. Nhà tôi ở gần một cái xa lộ, cách 15 phút lại có một cái phi trường. Tất cả những tiếng động, ồn ào, bụi bậm gây ra, làm mất không khí yên tĩnh, mát mẻ đáng lẽ tôi được hưởng, cũng là một thứ thuế tôi phải đóng góp. Ðất là của chung toàn dân. Bầu khí quyển cũng vậy. Việc sử dụng các tài nguyên đó vào việc gì cũng giống như bắt người dân phải đóng góp, vì họ bớt được hưởng các tài nguyên chung.
Khi nghĩ mình như những người dân đóng thuế, chúng ta có thể giải thích được tại sao có suất thuế khác biệt khi người dân “trả tiền” mua các dịch vụ của nhà nước. Vì có người dùng nhiều, người dùng ít. Nếu tôi không lái xe, không hay đi ra xa lộ, hoặc cả đời không đi máy bay, tức là ông nhà nước đã “thu thuế” của tôi, cho nhiều người khác hưởng. Với tư cách một người đóng thuế, tôi có quyền hỏi những người “nghèo” như tôi được đối xử công bằng hay không? Tại sao tôi phải đóng cùng một thứ thuế để nuôi guồng máy cảnh sát, mà họ thì “phục vụ” phạt xe những người lái xe trên xa lộ hoặc canh gác giữ an ninh cho những người dùng phi trường nhiều hơn tôi? Guồng máy tư pháp một nước bảo vệ mọi người dân, trong đó có việc bảo vệ tài sản và công việc làm ăn của dân. Như vậy thì những người có tài sản lớn, làm việc kinh doanh lớn, họ được phục vụ nhiều hơn những người không có đất cắm dùi! Ở các nước tiến bộ, những người giầu phải đóng suất thuế cao hơn người nghèo, cũng là để trong xã hội việc đóng góp, “trả tiền mua dịch vụ” tùy theo mức thụ hưởng, được công bằng hơn!
Mỗi khi tài nguyên chung của quốc gia được sử dụng, mọi người dân đã bắt buộc phải đóng góp. Họ phải được hỏi ý kiến. Việc bầu cử Quốc Hội để cho Quốc Hội quyết định ngân sách quốc gia là một cách cho dân bày tỏ ý kiến. Vậy thì khi ông nhà nước ở Việt Nam đem rừng cho ngoại quốc thuê, đem mỏ bô xít cho người ta khai thác, tất cả mọi người Việt Nam đều đã “đóng thuế” một cách gián tiếp! Vì các tài nguyên đó là của chung tất cả mọi người, chứ không phải tài sản riêng của ông nhà nước! Với tư cách những người đóng thuế, dân Việt Nam có quyền thảo luận, phê phán, trước khi những việc cho thuê khai thác tài nguyên quốc gia được thực hiện.
Cho nên đừng thấy các đại biểu Quốc Hội Mỹ tranh cãi gay gắt và kéo dài lằng nhằng về chuyện chi thu của nhà nước mà nghĩ rằng họ chỉ làm phí thời giờ, không ai lo “làm việc nước.” Thu tiền của dân thế nào, chi tiêu vào những việc gì, đó chính là việc nước!
Tiền Chùa: Xin lỗi quý vị Phật tử, tôi chỉ dùng một từ rất thông dụng để nói về những người được quyền tiêu tiền chung mà không chịu trách nhiệm nào cả. Ngày nay, chính tại các nhà chùa hay nhà thờ, cũng như các hội thiện, sau mỗi đợt quyên góp cũng làm bản báo cáo tài chánh cho các đại chúng biết đã thu được bao nhiêu và chi tiêu ra sao; chứng tỏ tinh thần trách nhiệm rất cao!
Ngô Nhân Dụng
Cuộc tranh luận ở Mỹ để quyết định “cho nhà nước đi vay thêm nợ” đã kéo dài trong không khí gay gắt trong mấy tháng nay.
Tổng thống Mỹ và các đại biểu Quốc Hội họp với nhau không biết bao nhiêu lần rồi. Ở Thượng Viện có ba dự án khác nhau, chưa được đem bàn. Riêng ở Hạ Viện đảng Cộng Hòa đã lần lượt đưa ra hai dự luật trong hai tuần liên tiếp! Dự luật thứ nhất được thông qua nhưng không hy vọng được Thượng Viện thảo luận. Dự luật thứ nhì ngày hôm qua lại không đủ túc số vì một số đại biểu Cộng Hòa cũng bác bỏ sau khi bà Sarah Palin cảnh cáo rằng họ đừng quên chính Tea Party đã đưa họ vào Quốc Hội. Ðây là lần thứ nhì ông John Boehner, chủ tịch Hạ Viện, bị các bạn cùng đảng bỏ rơi, vì một dự luật khác của ông về vấn đề này đã bị chung số phận đó hôm 31 Tháng Năm vừa qua!
Các ông bà đại biểu Quốc Hội có vẻ không sợ hãi gì trước những lời “hăm dọa” nước Mỹ sẽ vỡ nợ! Tại sao họ phải tranh luận gay cấn đến như vậy, về một quyết định bình thường, là đi vay thêm nợ cho đủ công quỹ? Lý do rất hiển nhiên: Vì họ đang cãi nhau về Tiền! Nói rõ hơn: Tiền chi ra và tiền thu vào của chính phủ Mỹ. Ở nước Mỹ, Quốc Hội kiểm soát cái túi tiền, Quốc Hội cho bao nhiêu ông chính phủ được xài bấy nhiêu. Mỗi năm các đại biểu Quốc Hội biểu quyết ngân sách thu, chi một lần; lâu lâu có dịp họ lại thi hành quyền đó thêm lần nữa!
Tranh luận về ngân sách thu, chi là một điểm nổi bật trong đời sống chính trị ở Mỹ, một dân tộc nổi tiếng về tinh thần thực dụng. Hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa thường không đem các chủ nghĩa hay lý thuyết to lớn nào ra lòe nhau cả. Họ thường bàn những chương trình chi và thu, họ vận động dân chúng để xin phiếu trên căn bản các khoản chi và thu trong ngân sách quốc gia. Ở Mỹ cũng có nhiều giáo sư đại học, các nhà bình luận nghiên cứu và tranh luận về triết lý chính trị; có rất nhiều chuyên gia bàn về chính sách trị quốc, bình thiên hạ, vân vân. Nhưng đối với người dân thì mọi tư tưởng, mọi chủ thuyết phải được diễn tả một cách cụ thể. Cụ thể như là: Chính phủ sẽ thu bao nhiêu tiền của dân? Ai đóng thuế nhiều, ai đóng ít? Chính phủ sẽ chi tiền cho những ai được hưởng? Món chi tiêu nào là ưu tiên, món nào thứ yếu, món nào phí phạm, đáng bỏ? Có nhiều cử tri Mỹ cũng bỏ phiếu dựa trên các nguyên tắc chính trị hay luân lý mà họ tin tưởng; hoặc vì những lý do tình cảm, vì đạo giáo, có khi dựa vào óc địa phương. Nhưng phần lớn các cử tri bỏ phiếu sẽ lựa chọn các ứng cử viên vì biết họ chủ trương guồng máy nhà nước sẽ thu và chi như thế nào.
Ðặc điểm của hệ thống chính trị Mỹ có thể thấy ngay trong ngôn ngữ, ngôn ngữ thể hiện cách suy nghĩ của người ta. Các nhà chính trị Mỹ ít khi dùng đến chữ “Nhân Dân” (The People). Danh từ đó trừu tượng quá, không có gì chính xác, cụ thể cả. Cho nên nó rất dễ bị lạm dụng, dễ bị đem dùng trong các khẩu hiệu mị dân. Viết trong các tuyên ngôn thì được; đem ra vận động tranh cử, người nghe lắc đầu, nghi ngờ! Khi các nhà chính trị cần nói đến “Nhân Dân,” hay khi người dân tự nói về mình, ở Mỹ người ta thường dùng một danh hiệu cụ thể, và dính dáng đến túi tiền! Ðó là “Những người đóng thuế” (Tax Payers).
Tên gọi “Những người đóng thuế” bao hàm một ý tưởng: Dân nuôi guồng máy nhà nước! Tiền bạc mà nhà nước đem chi tiêu là do “người dân chúng tôi” đóng góp. Có lẽ ở quốc gia nào người dân cũng biết sự thật sơ đẳng này. Không có dân đóng thuế, nhà nước lấy tiền đâu mà tiêu? Nhưng không phải ở nước nào dân chúng cũng được gọi là “Những người Trả thuế” như ở Mỹ. Xin chú ý đến động từ Trả tiền (Pay), giống như khi người tiêu thụ trả tiền mua một món hàng (thí dụ, cái áo) hay một dịch vụ (thí dụ, đi xe buýt). Tôi đã sống ở Montréal hơn 20 năm, ở đó mọi người thường dùng hai thứ tiếng, Anh ngữ và Pháp ngữ. Ngôn ngữ chính trị ở Canada cũng hay dùng từ “Những người đóng thuế.” Nhưng trong hai ngôn ngữ nó nặng nhẹ khác nhau.
Người nói tiếng Anh ở Canada thì dùng chữ Tax Payers, còn khi dùng tiếng Pháp người ta gọi là Người đóng thuế là Contribuables. Ðộng từ Pay có nghĩa là Trả tiền, nghe thấy ý trao đổi. Còn động từ Contribuer có thể dịch là Ðóng góp. Coi chữ dùng trong hai ngôn ngữ thì thấy người nói tiếng Anh (chịu ảnh hưởng Mỹ) và người nói tiếng Pháp suy nghĩ hơi khác nhau. Chúng ta có thể Ðóng góp (Contribuer) vào một quỹ của nhà thờ, nhà chùa; có thể đóng góp khi giúp một công tác từ thiện. Góp tiền đi nhậu cũng là đóng góp, contribuer. Nhưng khi Trả tiền, Pay, chúng ta chờ đợi người nhận tiền phải cung cấp một dịch vụ (đi xe buýt) hay một hàng hóa (cái áo). Ðúng là “Tiền trao cháo múc.” Còn khi Ðóng góp, có khi chúng ta không chờ đợi nhận được cái gì cả, chắc chỉ có một tờ giấy biên nhận hoặc thêm bản báo cáo tài chánh cuối năm mà ít người có thời giờ đọc. Ðóng góp rồi, sau đó người nhận tiền chi tiêu thế nào mình cũng chẳng quan tâm!
Phân biệt như trên rất quan trọng. Vì có khi người dân đóng thuế cũng chểnh mảng, coi đồng tiền đóng thuế của mình giống như là “đóng góp”; chứ không phải là trả tiền để mua các dịch vụ mà guồng máy nhà nước có trách nhiệm cung cấp cho dân: an ninh, trật tự, đường sá, trường học, vân vân. Ðiều nguy hiểm là nhà nước, là những người được quyền sử dụng số tiền của thập phương bá tánh đóng góp qua việc trả thuế, nhận được tiền của dân rồi họ cũng tự tiện tiêu xài như Tiêu Tiền Chùa!
Cho nên, tốt nhất người dân một nước nên tự gọi mình là “Những người đóng thuế” chứ không nên tự xưng mình là Nhân Dân. Nên ý thức vai trò “người trả tiền” của mình. Dân là người đóng thuế để nuôi guồng máy nhà nước, chứ không phải ông nhà nước tự đẻ ra tiền mà trả lương công chức, cán bộ, xây cầu hay sửa ống cống, phúc đức ban ân huệ cho dân. Phải xác định vai trò của mình và tương quan giữa người trả tiền với người dùng tiền. Nên nghi ngờ các nhà chính trị hay sử dụng những tiếng Nhân Dân. Nó trừu tượng và nói mãi sẽ trở thành huênh hoang rỗng tuếch. Nó chẳng gợi nên một tương quan nào có tính cách trao đổi: Dân góp tiền cho nhà nước để được hưởng những dịch vụ mà nhà nước phải cung cấp. Nếu các ông bà cầm đầu nhà nước mà không làm đủ trách nhiệm đó, dân sẽ truất phế, thay bằng người khác.
Phải tránh một ngộ nhận: Nghĩ rằng có những người dân không phải đóng thuế bao giờ cả. Như vậy họ có quyền đòi hỏi gì đối với chính quyền hay không? Nghĩ như vậy là sai. Thực ra ai cũng đóng thuế hết, trực tiếp hoặc gián tiếp, ngay cả những người sống bằng trợ cấp của xã hội. Mỗi lần quý vị đổ xăng, quý vị đã đóng thuế. Vì ngay mình khi trả tiền, ông nhà nước đã lượm ngay một số trong đó rồi! Quý vị mua vé xe buýt, cũng đang trả thuế. Vì công ty chuyên chở lấy một phần tiền đó mà đóng thuế, đủ các thứ thuế họ phải đóng. Chúng ta còn sống trong xã hội, còn đi mua áo, còn mua kẹo cho con cháu, mỗi lần trả tiền đều đóng thuế cả. Ðó là cái nghiệp của mọi chúng sinh sống trong xã hội. Một người nông dân nghèo ở Quảng Bình không bao giờ đi lên chợ cả, cũng vẫn thường xuyên đóng thuế cho nhà nước. Vì khi vợ ông ta mua vải, tự may lấy may áo cho gia đình, nhà nước đã thu tiền thuế của công ty dệt vải hay nhập cảng vải, trong đó có phần ông đóng góp! Mua một cái chén ăn cơm hay một con dao cũng vậy! Khi làm giấy giá thú hay khai sinh cho con cũng phải đóng tiền, cái đó chắc chắn là một thứ thuế, dù họ gọi bằng tên khác! Tất cả mọi người dân đều có thể tự xưng mình là Người đóng thuế!
Còn một thứ thuế gián tiếp hơn nữa mà ông nhà nước thường xuyên lấy của dân, mặc dù người dân không bỏ ra đồng nào cả. Ðó là khi nhà nước sử dụng những tài nguyên chung của quốc gia. Nhà tôi ở gần một cái xa lộ, cách 15 phút lại có một cái phi trường. Tất cả những tiếng động, ồn ào, bụi bậm gây ra, làm mất không khí yên tĩnh, mát mẻ đáng lẽ tôi được hưởng, cũng là một thứ thuế tôi phải đóng góp. Ðất là của chung toàn dân. Bầu khí quyển cũng vậy. Việc sử dụng các tài nguyên đó vào việc gì cũng giống như bắt người dân phải đóng góp, vì họ bớt được hưởng các tài nguyên chung.
Khi nghĩ mình như những người dân đóng thuế, chúng ta có thể giải thích được tại sao có suất thuế khác biệt khi người dân “trả tiền” mua các dịch vụ của nhà nước. Vì có người dùng nhiều, người dùng ít. Nếu tôi không lái xe, không hay đi ra xa lộ, hoặc cả đời không đi máy bay, tức là ông nhà nước đã “thu thuế” của tôi, cho nhiều người khác hưởng. Với tư cách một người đóng thuế, tôi có quyền hỏi những người “nghèo” như tôi được đối xử công bằng hay không? Tại sao tôi phải đóng cùng một thứ thuế để nuôi guồng máy cảnh sát, mà họ thì “phục vụ” phạt xe những người lái xe trên xa lộ hoặc canh gác giữ an ninh cho những người dùng phi trường nhiều hơn tôi? Guồng máy tư pháp một nước bảo vệ mọi người dân, trong đó có việc bảo vệ tài sản và công việc làm ăn của dân. Như vậy thì những người có tài sản lớn, làm việc kinh doanh lớn, họ được phục vụ nhiều hơn những người không có đất cắm dùi! Ở các nước tiến bộ, những người giầu phải đóng suất thuế cao hơn người nghèo, cũng là để trong xã hội việc đóng góp, “trả tiền mua dịch vụ” tùy theo mức thụ hưởng, được công bằng hơn!
Mỗi khi tài nguyên chung của quốc gia được sử dụng, mọi người dân đã bắt buộc phải đóng góp. Họ phải được hỏi ý kiến. Việc bầu cử Quốc Hội để cho Quốc Hội quyết định ngân sách quốc gia là một cách cho dân bày tỏ ý kiến. Vậy thì khi ông nhà nước ở Việt Nam đem rừng cho ngoại quốc thuê, đem mỏ bô xít cho người ta khai thác, tất cả mọi người Việt Nam đều đã “đóng thuế” một cách gián tiếp! Vì các tài nguyên đó là của chung tất cả mọi người, chứ không phải tài sản riêng của ông nhà nước! Với tư cách những người đóng thuế, dân Việt Nam có quyền thảo luận, phê phán, trước khi những việc cho thuê khai thác tài nguyên quốc gia được thực hiện.
Cho nên đừng thấy các đại biểu Quốc Hội Mỹ tranh cãi gay gắt và kéo dài lằng nhằng về chuyện chi thu của nhà nước mà nghĩ rằng họ chỉ làm phí thời giờ, không ai lo “làm việc nước.” Thu tiền của dân thế nào, chi tiêu vào những việc gì, đó chính là việc nước!
Tiền Chùa: Xin lỗi quý vị Phật tử, tôi chỉ dùng một từ rất thông dụng để nói về những người được quyền tiêu tiền chung mà không chịu trách nhiệm nào cả. Ngày nay, chính tại các nhà chùa hay nhà thờ, cũng như các hội thiện, sau mỗi đợt quyên góp cũng làm bản báo cáo tài chánh cho các đại chúng biết đã thu được bao nhiêu và chi tiêu ra sao; chứng tỏ tinh thần trách nhiệm rất cao!
-
nguyennam619
- Posts: 238
- Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am
Những người Sơn Tây
Giao Chỉ, San Jose.
Hai mươi dặm về phía tây bắc Hà Nội là đất Sơn Tây, nơi có con sông Đáy, có núi Ba Vì. Cũng tại đất Sơn Tây, cùng thời với chúng tôi có chàng thi sĩ, có anh nhạc sĩ, có vị tướng công và có ông chính khách. Nhà thơ Quang Dũng, người viết nhạc Phạm Đình Chương, thiếu tướng Lê Nguyên Vỹ và chính khách Nguyễn Cao Kỳ. Những nghệ sĩ làm cuộc sống thăng hoa, tướng công làm ta hãnh diện và chính khách làm ta xấu hổ. Họ đều là những người Sơn Tây.

Đôi mắt người Sơn Tây. Đêm hôm đó là một buổi tối mà cả phòng trà ai cũng muốn được là người đất Sơn Tây. Phòng trà Đêm mầu Hồng, Saigon có chương trình ca nhạc phổ thơ Quang Dũng nên đầy khán giả. Ban hợp ca Thăng Long gần đủ mặt. Hoài Trung lên nói về thi sĩ Quang Dũng, người cán bộ tuyên huấn của trung đoàn Tây Tiến, sinh năm 1921 đã có những vần thơ trác tuyệt. Quang Dũng vốn là nhà thơ của đất Sơn Tây. Người đã đưa Sơn Tây qua đất Lào, lên Việt Bắc, về Hà Nội, vào Saigon và giờ đây thơ của ông được phổ nhạc gửi đi khắp bốn phương.“Đôi mắt người Sơn Tây, u uẩn chiều luân lạc, buồn viễn xứ khôn khuây”. Nhạc sĩ Phạm Đình Chương sinh năm 1929 khi phổ nhạc thơ Quang Dũng, cũng nhân danh là người con của Sơn Tây. Quê ngoại.
Tay cầm ly rượu, tay cầm micro Hoài Bắc Phạm Đình Chương hát những bài ông phổ thơ Quang Dũng. Nhạc sĩ hát để tặng cho một người.
Đó là người hùng Sơn Tây, Nguyễn Cao Kỳ cùng với vợ mới cưới ngồi trong số những khán giả hiện diện. Ông đang là tư lệnh không quân, Tư lệnh đi phòng trà, lính gác từ trong ra ngoài. Khán giả may mắn vào được Đêm màu Hồng ngay từ buổi chiều, mê Sơn Tây quá nên ai cũng muốn là người đất Sơn Tây. Khổ cho tôi chưa, lúc đó còn là một sĩ quan vô danh ngồi một góc, tôi cũng ao ước trở thành người hùng đất Sơn Tây như Kỳ. Bụng bảo dạ, thằng cha này chỉ hơn mình có mấy tuổi mà sao ngon lành quá thể.
Cùng lúc đó, giữa biên giới gần Tây Ninh, có một chàng trai Sơn Tây khác, chưa bao giờ nếm mùi trà đình tửu điếm Saigon. Trung tá Lê nguyên Vỹ sinh năm 1933 trung đoàn trưởng bộ binh đang dò bản đồ, gọi máy xem các đơn vị đã vào được vị trí chưa. Đất Sơn Tây, cùng một lúc sinh ra những người con khác biệt biết chừng nào.




Quang Dũng , Ng. Cao Kỳ , Lê Nguyên Vỹ , Hoài Bắc Giữa chàng thi sĩ, nhạc sĩ và người chiến sĩ thì anh chàng lãng tử giang hồ Nguyễn cao Kỳ lại là người nổi nhất.
Thiếu Tá Ngọc của San Jose là người thân thiết với ông Kỳ từ ngày ở Hà Nội, rồi đến Saigon và ngay bây giờ tại Hoa Kỳ.
Anh em ngồi bên cạnh Ngọc “Toét” và Hùng “Xùi” thì chuyện ông Kỳ kể hàng năm không hết. Cùng với anh Kỳ, chúng tôi xuất thân là dân Càn khu Chả cá, Hà Nội. Ông Ngọc nói như thế. Bây giờ cuộc sống vô thường. Đời là một sân khấu. Ngọc Toét của tôi buông nhẹ câu triết lý.
Quả thực như thế, cùng khóa tư với Hùng Xùi và Ngô Quang Trưởng lại thân thiết với Nguyễn Cao Kỳ mà khi qua Mỹ ông Ngọc vẫn giữ lon thiếu tá, cũng là chuyện lạ.
Quả thực cuộc đời là một hý trường, dù hay dù dở, dù xấu dù tốt, Kỳ vẫn luôn luôn là một ngôi sao sáng lên mọc từ đất Sơn Tây.
Sinh năm 1930 thuở nhỏ theo kháng chiến rồi về Thành. Động viên vào lớp sĩ quan Nam Định, sang Pháp học bay. Về nước ông lần lượt bước dần lên bực thang danh vọng. Giữa cơn binh biến từ 63 đến 65, Nguyễn Cao Kỳ trở thành người hùng trong quân đội với chức tư lệnh không quân VNCH. Từ 65 đến 67. Từ giã quân đội, Nguyễn Cao Kỳ trở thành thủ tướng và sau cùng là phó tổng thống của đệ nhị Cộng Hòa.
Sau 4 năm của nhiệm kỳ đầu, bị ông Thiệu bỏ rơi, Kỳ về làm nông trại tại Khánh Dương. Cùng thời đó ngoài Bắc thi sĩ Quang Dũng đất Sơn Tây đã chịu biết bao nhiêu trầm luân gian khổ từ sau vụ Nhân văn Giai phẩm.
Tháng 4-1975 người chiến sĩ xuất thân đất Sơn Tây là thiếu tướng Lê nguyên Vỹ tự tử tại tổng hành dinh Sư đoàn 5 Bộ binh. Bài vị được đem về thờ tại làng cũ đất Sơn Tây ghi danh là tư lệnh binh đoàn Lai Khê. Khi Sài Gòn có lệnh đầu hàng, ông bình tĩnh ăn ba chén cơm. Nói anh em liệu tìm đường thoát thân. Trung tá Đỗ đình Vượng còn nhìn thấy nụ cười của tư lệnh trước khi ông quay vào phòng nổ súng.
Còn người hùng không quân đất Sơn Tây nói chuyện quyết tâm chiến đấu cứ như đinh đóng cột tại trường Chỉ huy Tham mưu Long Bình. Anh em sĩ quan cao cấp trong khóa học lòng dạ đang tan nát vì gia đình bị kẹt ở miền Trung, bỗng tưởng như thấy lại trời xanh. Ông Kỳ lại tiếp tục hô hào thêm một lần nữa tại họ đạo Tân sa Châu. Dân di cư công giáo nghĩ rằng phen này gặp được người anh hùng xoay lại thời thế.
Nhưng sau cùng, nhạc sĩ Phạm đình Chương và thiếu tướng Nguyễn cao Kỳ cùng sống những ngày còn lại tại Hoa Kỳ. Nhạc sĩ tiếp tục phổ thơ, những tác phẩm bất hủ kể lể nỗi niềm về Đêm nhớ Trăng Saigon.
Ông thiếu tướng cũng di tản kịp thời qua Mỹ và tiếp tục là người tạo tin tức thời sự trong cộng đồng Việt Nam hải ngoại.
Những chàng trai đất Sơn Tây lần lượt ra đi. Từ chiến sĩ Lê nguyên Vỹ tự sát 1975 trong Nam, thi sĩ Quang Dũng chết trong hiu quạnh 1988 ngoài Bắc, đến nhạc sĩ Phạm đình Chương qua đời trong thương tiếc năm 1991 tại Hoa Kỳ. Bây giờ đến lượt nhà chính khách ồn ào Nguyễn cao Kỳ người đất Sơn Tây ra đi sau cùng 2011
Định mệnh đã có những cơ duyên lạ lùng. Người đất Sơn Tây chết tại Hà Nội, chết tại Saigon, chết tại Hoa Kỳ. Riêng mình ông sống không giống ai, đến khi ông chết tang lễ cử hành tại Mã Lai.
Nguyễn cao Kỳ dưới mắt Hoa Kỳ.
Tờ New York Time số vừa qua viết về ông cựu phó tổng thống miền Nam có thể được coi là phản ảnh dư luận Mỹ.
Ký giả Mỹ viết rằng từ một tay chơi ông Kỳ trở thành tư lệnh không quân miền Nam và thủ tướng tại Saigon thời kỳ 65-67.
Cháu của ông là Peter Phan nói với AP là ông Kỳ qua đời tuần vừa qua tại Kuala Lumpur, Mã lai hưởng thọ 81 tuổi. Dựa theo hồi ký củachính ông Kỳ, báo Mỹ viết rằng Kỳ đã từng phục vụ cho cộng sản và quân đội thực dân Pháp. Trên thực tế thời toàn quốc kháng chiến ông Kỳ mới là một thiếu niên cho đến khi trưởng thành bị động viên vào khóa sĩ quan tại Nam Định. Tuổi trẻ chưa hề có ý niệm gì về quốc cộng và hoàn toàn bị lôi cuốn vào dòng đời theo hoàn cảnh.
Dưới mắt báo chí Hoa Kỳ, vị thủ tướng Việt Nam một thời đóng vai chính khách huê dạng, ông làm chính trường thành kịch trường và tự biến mình thành một kép hát. Cả 2 vợ chồng đều mặc đồ bay, áo liền quần màu đen, khăn tím, kính dâm, tóc dài. Tướng Kỳ đeo súng lục xệ bên hông.
Trong sách Stanley Karnow tả ông Kỳ như là một tay thổi kèn saxophone ở hộp đêm hạng nhì. Chính ông Kỳ cũng nhắc lại như vậy. Ông tự xưng là con Phật đứng lên chiến đấu để cứu Việt Nam.
Thời kỳ ông thủ tướng “cao bồi” của Việt Nam cầm quyền, đến dự lễ duyệt binh với phu nhân Tuyết Mai. Cả khán đài quan khách Việt-Mỹ đứng lên đón chào theo lời của xướng ngôn viên buổi lễ. Anh hùng và giai nhân cặp kè như các diễn viên trên sân khấu. Quan khách ngoại quốc và ngoại giao đoàn mở to mắt nhìn hoạt cảnh có một không hai trên chính trường miền Nam.
Đứng bên cạnh khán đài, đại úy tùy viên của tướng Westermoreland nói nhỏ với tôi. Ông Kỳ là chủ nhân của Saigon hoa lệ và cũng là chủ nhân của bông hoa đẹp nhất Saigon. Tôi cũng không biết là anh này nói thực lòng hay mỉa mai.
Không ngồi trên khán đài, đại tá Loan, xếp xòng an ninh của ông Kỳ chân đi dép, áo trận bỏ ngoài quần, đầu không đội mũ, bên hông đeo súng lục, lẹp xẹp đi tới đi lui, đích thân kiểm soát an ninh tại khán đài.
Với những hình ảnh đó, Hà Nội luôn luôn tuyên truyền rằng chính phủ miền Nam là bù nhìn của Mỹ, và là những con rối tệ hại nhất.

Danh tiếng kỳ cục.
Cuộc đời của ông Kỳ là một chuỗi dài những tin tức, những danh tiếng ồn ào và kỳ cục. Ông là tay ăn chơi ngông nghênh nhất hạng. Lấy vợ, bỏ vợ, rồi lấy vợ, rồi bỏ vợ. Một thời nổi danh là Lady Killer. Ông theo Mỹ rồi chống Mỹ. Ông quyết liệt chống cộng rồi lại lên tiếng bênh vực chính quyền Hà Nội.

Ông từ chối ra đi, kêu gọi mọi người ở lại chiến đấu, nhưng sau cùng ông lại ra đi.
Ông tham gia các phong trào vận động phục quốc, nhưng đánh trống bỏ dùi, ông quay lại hô hào hòa giải dân tộc. Ông có khả năng hùng biện và luôn luôn nói lời tâm huyết, vì nước vì dân. Ông tự coi là người yêu nước chân thực và nồng nàn. Nhưng thực sự Nguyễn cao Kỳ không hề yêu ai cả. Ông chỉ yêu có Nguyễn cao Kỳ.Từ trong nước ra đến hải ngoại, trong hay ngoài quân đội, trước hay sau 75, ông luôn leo lên đầu lên cổ anh em để múa gậy vườn hoang. Ông dậy dỗ hải ngoại đoàn kết dân tộc. Ông dậy dỗ trong nước chống Mỹ, chống Tàu.
Từ khi xuất thân là dân càn Hà Nội, cậu Kỳ chỉ muốn chơi trội. Cậu chỉ muốn suốt đời là cái đinh của vũ trụ, cái rốn của địa cầu. Dù trái hay phải, dù xấu hay tốt, dù suôi chiều hay ngược lối, dù lẫm liệt hay cúi đầu nhục nhã, dù đóng vai chính nhân hay phản diện, luôn luôn cậu phải là ngôi sao sáng của chính trường. Cậu là con cầu tự. Con Trời con Phật. Thiên hạ phải đứng chung quanh vỗ tay.
Nhưng đau thương là ở phần chúng ta, bởi vì chúng ta không phải là khán giả của một vở kịch đời, xem qua rồi bỏ. Chúng ta là dân của một nước đã mất vì người lãnh đạo một thời được so sánh với anh thổi kèn saxophone cho một phòng trà hạng bét. Người ta nói rằng, dân tộc thời nào thì có lãnh đạo thời đó. Khổ thân tôi chưa. Tôi lại chính là người dân Việt Nam của thời kỳ đó.
Bây giờ còn biết nói năng chi.
Dù hết sức kính trọng tướng Lê Nguyên Vỹ, dù cảm phục tài hoa thi sĩ Quang Dũng, dù rất say mê nhạc Phạm Đình Chương, nhưng tôi không còn tha thiết ước mong là người Sơn Tây như thủa xưa ngồi ở Đêm Mầu Hồng. Ước mơ gì kỳ cục. Tôi xin trở về làm dân Nam Định hiền lành như mọi người.
Ngưòi chính khách cuối cùng đã đi rồi, đem theo cả tiếng bấc tiếng chì. Dân Càn chả cá Hà Nội bây giờ chẳng còn ai. Ngọc Ghẻ chết từ khuya, chỉ còn bác Ngọc Toét ngồi cười ruồi với bác Hùng Xùi ở San Jose. Hai bác đang bàn nhau suôi Nam đón tro cốt anh Kỳ.
Nghĩa tử vẫn là nghĩa sau cùng.
Giao Chỉ, San Jose
Giao Chỉ, San Jose.
Hai mươi dặm về phía tây bắc Hà Nội là đất Sơn Tây, nơi có con sông Đáy, có núi Ba Vì. Cũng tại đất Sơn Tây, cùng thời với chúng tôi có chàng thi sĩ, có anh nhạc sĩ, có vị tướng công và có ông chính khách. Nhà thơ Quang Dũng, người viết nhạc Phạm Đình Chương, thiếu tướng Lê Nguyên Vỹ và chính khách Nguyễn Cao Kỳ. Những nghệ sĩ làm cuộc sống thăng hoa, tướng công làm ta hãnh diện và chính khách làm ta xấu hổ. Họ đều là những người Sơn Tây.

Đôi mắt người Sơn Tây. Đêm hôm đó là một buổi tối mà cả phòng trà ai cũng muốn được là người đất Sơn Tây. Phòng trà Đêm mầu Hồng, Saigon có chương trình ca nhạc phổ thơ Quang Dũng nên đầy khán giả. Ban hợp ca Thăng Long gần đủ mặt. Hoài Trung lên nói về thi sĩ Quang Dũng, người cán bộ tuyên huấn của trung đoàn Tây Tiến, sinh năm 1921 đã có những vần thơ trác tuyệt. Quang Dũng vốn là nhà thơ của đất Sơn Tây. Người đã đưa Sơn Tây qua đất Lào, lên Việt Bắc, về Hà Nội, vào Saigon và giờ đây thơ của ông được phổ nhạc gửi đi khắp bốn phương.“Đôi mắt người Sơn Tây, u uẩn chiều luân lạc, buồn viễn xứ khôn khuây”. Nhạc sĩ Phạm Đình Chương sinh năm 1929 khi phổ nhạc thơ Quang Dũng, cũng nhân danh là người con của Sơn Tây. Quê ngoại.
Tay cầm ly rượu, tay cầm micro Hoài Bắc Phạm Đình Chương hát những bài ông phổ thơ Quang Dũng. Nhạc sĩ hát để tặng cho một người.
Đó là người hùng Sơn Tây, Nguyễn Cao Kỳ cùng với vợ mới cưới ngồi trong số những khán giả hiện diện. Ông đang là tư lệnh không quân, Tư lệnh đi phòng trà, lính gác từ trong ra ngoài. Khán giả may mắn vào được Đêm màu Hồng ngay từ buổi chiều, mê Sơn Tây quá nên ai cũng muốn là người đất Sơn Tây. Khổ cho tôi chưa, lúc đó còn là một sĩ quan vô danh ngồi một góc, tôi cũng ao ước trở thành người hùng đất Sơn Tây như Kỳ. Bụng bảo dạ, thằng cha này chỉ hơn mình có mấy tuổi mà sao ngon lành quá thể.
Cùng lúc đó, giữa biên giới gần Tây Ninh, có một chàng trai Sơn Tây khác, chưa bao giờ nếm mùi trà đình tửu điếm Saigon. Trung tá Lê nguyên Vỹ sinh năm 1933 trung đoàn trưởng bộ binh đang dò bản đồ, gọi máy xem các đơn vị đã vào được vị trí chưa. Đất Sơn Tây, cùng một lúc sinh ra những người con khác biệt biết chừng nào.




Quang Dũng , Ng. Cao Kỳ , Lê Nguyên Vỹ , Hoài Bắc Giữa chàng thi sĩ, nhạc sĩ và người chiến sĩ thì anh chàng lãng tử giang hồ Nguyễn cao Kỳ lại là người nổi nhất.
Thiếu Tá Ngọc của San Jose là người thân thiết với ông Kỳ từ ngày ở Hà Nội, rồi đến Saigon và ngay bây giờ tại Hoa Kỳ.
Anh em ngồi bên cạnh Ngọc “Toét” và Hùng “Xùi” thì chuyện ông Kỳ kể hàng năm không hết. Cùng với anh Kỳ, chúng tôi xuất thân là dân Càn khu Chả cá, Hà Nội. Ông Ngọc nói như thế. Bây giờ cuộc sống vô thường. Đời là một sân khấu. Ngọc Toét của tôi buông nhẹ câu triết lý.
Quả thực như thế, cùng khóa tư với Hùng Xùi và Ngô Quang Trưởng lại thân thiết với Nguyễn Cao Kỳ mà khi qua Mỹ ông Ngọc vẫn giữ lon thiếu tá, cũng là chuyện lạ.
Quả thực cuộc đời là một hý trường, dù hay dù dở, dù xấu dù tốt, Kỳ vẫn luôn luôn là một ngôi sao sáng lên mọc từ đất Sơn Tây.
Sinh năm 1930 thuở nhỏ theo kháng chiến rồi về Thành. Động viên vào lớp sĩ quan Nam Định, sang Pháp học bay. Về nước ông lần lượt bước dần lên bực thang danh vọng. Giữa cơn binh biến từ 63 đến 65, Nguyễn Cao Kỳ trở thành người hùng trong quân đội với chức tư lệnh không quân VNCH. Từ 65 đến 67. Từ giã quân đội, Nguyễn Cao Kỳ trở thành thủ tướng và sau cùng là phó tổng thống của đệ nhị Cộng Hòa.
Sau 4 năm của nhiệm kỳ đầu, bị ông Thiệu bỏ rơi, Kỳ về làm nông trại tại Khánh Dương. Cùng thời đó ngoài Bắc thi sĩ Quang Dũng đất Sơn Tây đã chịu biết bao nhiêu trầm luân gian khổ từ sau vụ Nhân văn Giai phẩm.
Tháng 4-1975 người chiến sĩ xuất thân đất Sơn Tây là thiếu tướng Lê nguyên Vỹ tự tử tại tổng hành dinh Sư đoàn 5 Bộ binh. Bài vị được đem về thờ tại làng cũ đất Sơn Tây ghi danh là tư lệnh binh đoàn Lai Khê. Khi Sài Gòn có lệnh đầu hàng, ông bình tĩnh ăn ba chén cơm. Nói anh em liệu tìm đường thoát thân. Trung tá Đỗ đình Vượng còn nhìn thấy nụ cười của tư lệnh trước khi ông quay vào phòng nổ súng.
Còn người hùng không quân đất Sơn Tây nói chuyện quyết tâm chiến đấu cứ như đinh đóng cột tại trường Chỉ huy Tham mưu Long Bình. Anh em sĩ quan cao cấp trong khóa học lòng dạ đang tan nát vì gia đình bị kẹt ở miền Trung, bỗng tưởng như thấy lại trời xanh. Ông Kỳ lại tiếp tục hô hào thêm một lần nữa tại họ đạo Tân sa Châu. Dân di cư công giáo nghĩ rằng phen này gặp được người anh hùng xoay lại thời thế.
Nhưng sau cùng, nhạc sĩ Phạm đình Chương và thiếu tướng Nguyễn cao Kỳ cùng sống những ngày còn lại tại Hoa Kỳ. Nhạc sĩ tiếp tục phổ thơ, những tác phẩm bất hủ kể lể nỗi niềm về Đêm nhớ Trăng Saigon.
Ông thiếu tướng cũng di tản kịp thời qua Mỹ và tiếp tục là người tạo tin tức thời sự trong cộng đồng Việt Nam hải ngoại.
Những chàng trai đất Sơn Tây lần lượt ra đi. Từ chiến sĩ Lê nguyên Vỹ tự sát 1975 trong Nam, thi sĩ Quang Dũng chết trong hiu quạnh 1988 ngoài Bắc, đến nhạc sĩ Phạm đình Chương qua đời trong thương tiếc năm 1991 tại Hoa Kỳ. Bây giờ đến lượt nhà chính khách ồn ào Nguyễn cao Kỳ người đất Sơn Tây ra đi sau cùng 2011
Định mệnh đã có những cơ duyên lạ lùng. Người đất Sơn Tây chết tại Hà Nội, chết tại Saigon, chết tại Hoa Kỳ. Riêng mình ông sống không giống ai, đến khi ông chết tang lễ cử hành tại Mã Lai.
Nguyễn cao Kỳ dưới mắt Hoa Kỳ.
Tờ New York Time số vừa qua viết về ông cựu phó tổng thống miền Nam có thể được coi là phản ảnh dư luận Mỹ.
Ký giả Mỹ viết rằng từ một tay chơi ông Kỳ trở thành tư lệnh không quân miền Nam và thủ tướng tại Saigon thời kỳ 65-67.
Cháu của ông là Peter Phan nói với AP là ông Kỳ qua đời tuần vừa qua tại Kuala Lumpur, Mã lai hưởng thọ 81 tuổi. Dựa theo hồi ký củachính ông Kỳ, báo Mỹ viết rằng Kỳ đã từng phục vụ cho cộng sản và quân đội thực dân Pháp. Trên thực tế thời toàn quốc kháng chiến ông Kỳ mới là một thiếu niên cho đến khi trưởng thành bị động viên vào khóa sĩ quan tại Nam Định. Tuổi trẻ chưa hề có ý niệm gì về quốc cộng và hoàn toàn bị lôi cuốn vào dòng đời theo hoàn cảnh.
Dưới mắt báo chí Hoa Kỳ, vị thủ tướng Việt Nam một thời đóng vai chính khách huê dạng, ông làm chính trường thành kịch trường và tự biến mình thành một kép hát. Cả 2 vợ chồng đều mặc đồ bay, áo liền quần màu đen, khăn tím, kính dâm, tóc dài. Tướng Kỳ đeo súng lục xệ bên hông.
Trong sách Stanley Karnow tả ông Kỳ như là một tay thổi kèn saxophone ở hộp đêm hạng nhì. Chính ông Kỳ cũng nhắc lại như vậy. Ông tự xưng là con Phật đứng lên chiến đấu để cứu Việt Nam.
Thời kỳ ông thủ tướng “cao bồi” của Việt Nam cầm quyền, đến dự lễ duyệt binh với phu nhân Tuyết Mai. Cả khán đài quan khách Việt-Mỹ đứng lên đón chào theo lời của xướng ngôn viên buổi lễ. Anh hùng và giai nhân cặp kè như các diễn viên trên sân khấu. Quan khách ngoại quốc và ngoại giao đoàn mở to mắt nhìn hoạt cảnh có một không hai trên chính trường miền Nam.
Đứng bên cạnh khán đài, đại úy tùy viên của tướng Westermoreland nói nhỏ với tôi. Ông Kỳ là chủ nhân của Saigon hoa lệ và cũng là chủ nhân của bông hoa đẹp nhất Saigon. Tôi cũng không biết là anh này nói thực lòng hay mỉa mai.
Không ngồi trên khán đài, đại tá Loan, xếp xòng an ninh của ông Kỳ chân đi dép, áo trận bỏ ngoài quần, đầu không đội mũ, bên hông đeo súng lục, lẹp xẹp đi tới đi lui, đích thân kiểm soát an ninh tại khán đài.
Với những hình ảnh đó, Hà Nội luôn luôn tuyên truyền rằng chính phủ miền Nam là bù nhìn của Mỹ, và là những con rối tệ hại nhất.

Danh tiếng kỳ cục. Cuộc đời của ông Kỳ là một chuỗi dài những tin tức, những danh tiếng ồn ào và kỳ cục. Ông là tay ăn chơi ngông nghênh nhất hạng. Lấy vợ, bỏ vợ, rồi lấy vợ, rồi bỏ vợ. Một thời nổi danh là Lady Killer. Ông theo Mỹ rồi chống Mỹ. Ông quyết liệt chống cộng rồi lại lên tiếng bênh vực chính quyền Hà Nội.

Ông từ chối ra đi, kêu gọi mọi người ở lại chiến đấu, nhưng sau cùng ông lại ra đi.
Ông tham gia các phong trào vận động phục quốc, nhưng đánh trống bỏ dùi, ông quay lại hô hào hòa giải dân tộc. Ông có khả năng hùng biện và luôn luôn nói lời tâm huyết, vì nước vì dân. Ông tự coi là người yêu nước chân thực và nồng nàn. Nhưng thực sự Nguyễn cao Kỳ không hề yêu ai cả. Ông chỉ yêu có Nguyễn cao Kỳ.Từ trong nước ra đến hải ngoại, trong hay ngoài quân đội, trước hay sau 75, ông luôn leo lên đầu lên cổ anh em để múa gậy vườn hoang. Ông dậy dỗ hải ngoại đoàn kết dân tộc. Ông dậy dỗ trong nước chống Mỹ, chống Tàu.
Từ khi xuất thân là dân càn Hà Nội, cậu Kỳ chỉ muốn chơi trội. Cậu chỉ muốn suốt đời là cái đinh của vũ trụ, cái rốn của địa cầu. Dù trái hay phải, dù xấu hay tốt, dù suôi chiều hay ngược lối, dù lẫm liệt hay cúi đầu nhục nhã, dù đóng vai chính nhân hay phản diện, luôn luôn cậu phải là ngôi sao sáng của chính trường. Cậu là con cầu tự. Con Trời con Phật. Thiên hạ phải đứng chung quanh vỗ tay.
Nhưng đau thương là ở phần chúng ta, bởi vì chúng ta không phải là khán giả của một vở kịch đời, xem qua rồi bỏ. Chúng ta là dân của một nước đã mất vì người lãnh đạo một thời được so sánh với anh thổi kèn saxophone cho một phòng trà hạng bét. Người ta nói rằng, dân tộc thời nào thì có lãnh đạo thời đó. Khổ thân tôi chưa. Tôi lại chính là người dân Việt Nam của thời kỳ đó.
Bây giờ còn biết nói năng chi.
Dù hết sức kính trọng tướng Lê Nguyên Vỹ, dù cảm phục tài hoa thi sĩ Quang Dũng, dù rất say mê nhạc Phạm Đình Chương, nhưng tôi không còn tha thiết ước mong là người Sơn Tây như thủa xưa ngồi ở Đêm Mầu Hồng. Ước mơ gì kỳ cục. Tôi xin trở về làm dân Nam Định hiền lành như mọi người.
Ngưòi chính khách cuối cùng đã đi rồi, đem theo cả tiếng bấc tiếng chì. Dân Càn chả cá Hà Nội bây giờ chẳng còn ai. Ngọc Ghẻ chết từ khuya, chỉ còn bác Ngọc Toét ngồi cười ruồi với bác Hùng Xùi ở San Jose. Hai bác đang bàn nhau suôi Nam đón tro cốt anh Kỳ.
Nghĩa tử vẫn là nghĩa sau cùng.
Giao Chỉ, San Jose
Chúng ta chắc chắn sẽ mất nước!
Song Chi
Chúng ta chắc chắn sẽ mất nước, nếu nhìn vào tấm hình những người đi biểu tình yêu nước bị công an VC -là những con người cùng chung máu đỏ da vàng, cùng ngôn ngữ, cùng chung sống trên một lãnh thổ đất mẹ cong cong hình chữ S- đánh đập, đối xử thô bạo như với kẻ thù hay tội phạm loại nặng. Nào vác trên vai như khiêng con vật giữa phố, nào kéo lê xềnh xệch giang hai tay hai chân giữa đường, nào bị đạp thẳng vào mặt, ngực, bị quẳng quật trên xe...Những bức hình chụp, video clip còn đầy đó trên mạng, thời buổi này có cái gì che dấu được dưới ánh sáng mặt trời?
Chúng ta chắc chắc sẽ mất nước khi đa số đội ngũ công an chìm nổi, cảnh sát cơ động cho tới dân quân trật tự...còn tin rằng những người đi biểu tình ôn hòa xuất phát từ lòng yêu nước -là những kẻ bị bọn xấu lợi dụng, sẽ trở thành có hại cho chế độ, cho cách mạng, cần phải trấn áp. Hoặc họ được các thế lực thù địch nào đó cho tiền, chỉ với 50.000/đồng, để xuống đường gây rối!
Chúng ta chắc chắn sẽ mất nước bởi con số những người dũng cảm đi biểu tình để cất lên tiếng nói phản đối những hành vi ngang ngược, gây hấn của nhà cầm quyền Trung Cộng còn quá ít nếu so sánh với những con người thờ ơ, bàng quan, vô cảm trước vận mệnh đất nước. Còn quá nhiều những người tin rằng cái bọn xuống đường kia là bọn phản động hoặc rỗi hơi, muốn chơi nổi. Rằng không nên dính dáng đến chính trị, chuyện lớn đã có nhà nước lo, đảng lo. Rằng biển Đông vẫn yên tĩnh!! quan hệ giữa hai nước vẫn tốt đẹp!! chỉ có những kẻ có cái nhìn bi quan, tiêu cực là hay làm lớn chuyện mà thôi!!
Chúng ta chắc chắn sẽ mất nước bởi ngay trong những ngày một con tàu thăm dò dầu khí của VN bị tàu Trung Cộng cắt cáp, và sự căm phẫn của người dân đang đốt nóng các diễn đàn, báo chí, thì một ông Phó Thủ tướng (Hoàng Trung Hải) lại ra lệnh tích cực triển khai xây dựng Cung Hữu Nghị Việt Trung (một dự án được xây dựng từ nguồn vốn viện trợ không hoàn lại của nhà nước Trung Cộng dành cho nhà nước Việt Nam!). Trong những ngày tháng 6, khi người dân đang sục sôi xuống đường biểu tình thì đoàn Mặt trận Tổ quốc VN (một tổ chức mang tiếng là đại diện cho nhân dân) lại đang đi thăm Trung Cộng để khẳng định Việt Nam rất coi trọng mối quan hệ với Trung Cộng (lời của Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Trần Hoàng Thám). Những ngày tháng 7, khi ngư dân VN tiếp tục bị tàu quân sự Trung Cộng với các binh lính có vũ trang đánh đập tàn tệ thì đoàn lãnh đạo các cơ quan báo chí-Hội nhà báo VN lại đang hồ hởi đi thăm Trung Cộng v.v...
Chúng ta chắc chắn sẽ mất nước bởi giữa lúc cả thế giới, trong đó có Hoa Kỳ, đều lên tiếng bênh vực VN, lên án hành động ngày càng leo thang gây hấn của Trung Cộng trên biển Đông và sẵn sàng chìa bàn tay cho VN. Thì ngay sau đó, từ ông Bộ trưởng Bộ quốc phòng Đại tướng Phùng Quang Thanh cho đến ông Thứ trưởng ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn lại tiếp tục ca bài ca Việt Nam luôn coi trọng quan hệ đoàn kết, hữu nghị, "đối tác hợp tác chiến lược toàn diện" với Trung Cộng; tiếp tục trân trọng 16 chữ vàng lừa mỵ. Và ông Thứ trưởng ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn lại thân hành sang tận Bắc Kinh, chấp nhận con đường đàm phán song phương với Trung Cộng!
Chúng ta chắc chắn sẽ mất nước bởi là một nước nhỏ, yếu hơn Trung Cộng nhiều lần nhưng những người lãnh đạo VN lại khước từ mọi lợi thế chính nghĩa mà VN đang có trên hồ sơ biển Đông, khước từ sự hỗ trợ của bạn bè quốc tế, khước từ mọi sự đàm phán đa phương, dựa cậy vào luật pháp quốc tế...Từ ông Thứ trưởng Bộ quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh cho đến ông Chuẩn đô đốc Phạm Ngọc Minh, Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng quân chủng hải quân, mạnh miệng tuyên bố VN không liên minh liên kết quân sự với bất cứ nước nào, không cần đến bất cứ ai, tự mình cúi đầu đi thẳng đến cái bẫy đàm phán song phương của kẻ thù!
Chúng ta chắc chắn sẽ mất nước bởi đường lối ngoại giao sai lầm của đảng và nhà nước cộng sản VN, chọn kẻ thù lâu dài của dân tộc làm đồng minh, bạn bè, sợ hãi làm bạn với các quốc gia dân chủ tiến bộ. Một đường lối ngoại giao không rõ ràng, nước đôi nước ba, lúc thế này lúc thế khác, làm mất lòng tin của nhân dân và cả thế giới!
Chúng ta chắc chắn sẽ mất nước với một nhà nước mang tâm lý khiếp nhược sợ hãi nước khác quá nặng. Một nhà nước không dám và cũng không thể bảo vệ được người dân của mình trên biển và cả trên bờ. Một nhà nước không dám đứng về phía nhân dân, thiếu lòng tin vào nhân dân, luôn luôn đặt quyền lợi và sự tồn vong của đảng, của chế độ lên trên quyền lợi của đất nước và dân tộc. Một nhà nước không bao giờ công khai minh bạch việc nước trước quốc dân, chỉ chăm chăm đi đêm, hết ký hiệp ước này lại đến thỏa thuận kia. Đất đai biển cả cứ ngày càng hẹp dần, mất dần.
Chúng ta chắc chắn sẽ mất nước bởi ngay chính những người dân, kể cả tầng lớp trí thức nhân sĩ, dù đã hiểu ra cái họa mất nước là từ phương Bắc, nhưng vẫn chưa nhìn ra hoặc chưa dám thừa nhận gốc rễ của cái họa mất nước chính từ những kẻ bán nước đang ngồi trên đẩu trên cổ dân tộc, từ sự lựa chọn, con đường đi mà họ đang dẫn dắt cả dân tộc phải theo! Nên chỉ kêu gọi đảng sửa đổi, cải cách mà không dám nghĩ đến chuyện phải thay đổi luôn cả cái đảng ấy, cả mô hình thể chế chính trị này.
Chúng ta chắc chắn sẽ mất nước bởi trong từng người dân Việt, vẫn là cái tâm lý ích kỷ cộng với tầm nhìn ngắn, chỉ thấy cái lợi trước mắt mà không thấy cái hại lâu dài, chỉ nghĩ đến cái lợi cho bản thân mà không nghĩ đến cái lợi chung của đất nước, của cả cộng đồng.
Chúng ta chắc chắn sẽ mất nước bởi muôn vàn cái thực tế hiển nhiên đang bày ra trước mắt như thế.
Nhưng thực sự thì, chúng ta đã mất nước chưa?
VN có còn là một quốc gia hoàn toàn độc lập, toàn vẹn về lãnh thổ lãnh hải?
Câu trả lời đau đớn là chúng ta đã mất nước rồi, mất dần dần, mất toàn diện về mọi mặt mà chúng ta nhiều người vẫn chưa ý thức hết.
Chúng ta đã mất nước rồi khi nhìn lại trên dải đất VN này, người nước lạ muốn làm gì thì làm, vào ra nước ta như chỗ không người, vơ vét tài nguyên, nguyên liệu, thực phẩm chất lượng cao mang về nước vả đổi lại những hàng hóa thực phẩm kém chất lượng, hàng độc hại. Thuê đất thuê rừng của ta, đưa người sang làm việc rồi cắm rễ lâu dài trên quê hương ta. Những công trình kinh tế trọng điểm đều trao vào tay người nước lạ. Trong những công trường, nhà máy... của nước lạ, người nước lạ tràn ngập, nếu có chuyện gì xảy ra, khác nào kịch bản Con ngựa thành Troy sẽ xảy ra?
Chúng ta đã mất nước rồi khi báo chí phê phán chỉ trích Trung Cộng thì bị Bắc Kinh cao giọng mắng nhà cầm quyền VN phải biết định hướng dư luận, phải về dạy dỗ lại nhân dân! Nhất cử nhất động của đảng, của nhà nước VN đều "được" sự quan tâm chỉ đạo kèm cặp của Bắc Kinh. Và ngay trong những cuộc biểu tình của người VN, cũng có bóng dáng người Trung Cộng đứng quan sát, theo dõi, chỉ thị...
Chúng ta đã mất nước từ lâu, từ trong sự lệ thuộc về tư tưởng, khi sao chép của Trung Cộng từ mô hình thể chế chính trị, kinh tế... cho đến cách ứng xử với nhân dân, học theo làm theo từ cải cách ruộng đất, đánh tư sản mại bản cho đến mẫu trang phục quân đội! Từ trong sự lệ thuộc về kinh tế ngày càng nặng nề, mà lệ thuộc kinh tế tất yếu đưa đến sự lệ thuộc vể chính trị. Lệ thuộc về văn hóa, lệ thuộc về tinh thần.
Đâu cần phải đợi đến khi chiến tranh xảy ra, chúng ta mới thực sự mất nước?
Song Chi
Song Chi
Chúng ta chắc chắn sẽ mất nước, nếu nhìn vào tấm hình những người đi biểu tình yêu nước bị công an VC -là những con người cùng chung máu đỏ da vàng, cùng ngôn ngữ, cùng chung sống trên một lãnh thổ đất mẹ cong cong hình chữ S- đánh đập, đối xử thô bạo như với kẻ thù hay tội phạm loại nặng. Nào vác trên vai như khiêng con vật giữa phố, nào kéo lê xềnh xệch giang hai tay hai chân giữa đường, nào bị đạp thẳng vào mặt, ngực, bị quẳng quật trên xe...Những bức hình chụp, video clip còn đầy đó trên mạng, thời buổi này có cái gì che dấu được dưới ánh sáng mặt trời?
Chúng ta chắc chắc sẽ mất nước khi đa số đội ngũ công an chìm nổi, cảnh sát cơ động cho tới dân quân trật tự...còn tin rằng những người đi biểu tình ôn hòa xuất phát từ lòng yêu nước -là những kẻ bị bọn xấu lợi dụng, sẽ trở thành có hại cho chế độ, cho cách mạng, cần phải trấn áp. Hoặc họ được các thế lực thù địch nào đó cho tiền, chỉ với 50.000/đồng, để xuống đường gây rối!
Chúng ta chắc chắn sẽ mất nước bởi con số những người dũng cảm đi biểu tình để cất lên tiếng nói phản đối những hành vi ngang ngược, gây hấn của nhà cầm quyền Trung Cộng còn quá ít nếu so sánh với những con người thờ ơ, bàng quan, vô cảm trước vận mệnh đất nước. Còn quá nhiều những người tin rằng cái bọn xuống đường kia là bọn phản động hoặc rỗi hơi, muốn chơi nổi. Rằng không nên dính dáng đến chính trị, chuyện lớn đã có nhà nước lo, đảng lo. Rằng biển Đông vẫn yên tĩnh!! quan hệ giữa hai nước vẫn tốt đẹp!! chỉ có những kẻ có cái nhìn bi quan, tiêu cực là hay làm lớn chuyện mà thôi!!
Chúng ta chắc chắn sẽ mất nước bởi ngay trong những ngày một con tàu thăm dò dầu khí của VN bị tàu Trung Cộng cắt cáp, và sự căm phẫn của người dân đang đốt nóng các diễn đàn, báo chí, thì một ông Phó Thủ tướng (Hoàng Trung Hải) lại ra lệnh tích cực triển khai xây dựng Cung Hữu Nghị Việt Trung (một dự án được xây dựng từ nguồn vốn viện trợ không hoàn lại của nhà nước Trung Cộng dành cho nhà nước Việt Nam!). Trong những ngày tháng 6, khi người dân đang sục sôi xuống đường biểu tình thì đoàn Mặt trận Tổ quốc VN (một tổ chức mang tiếng là đại diện cho nhân dân) lại đang đi thăm Trung Cộng để khẳng định Việt Nam rất coi trọng mối quan hệ với Trung Cộng (lời của Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Trần Hoàng Thám). Những ngày tháng 7, khi ngư dân VN tiếp tục bị tàu quân sự Trung Cộng với các binh lính có vũ trang đánh đập tàn tệ thì đoàn lãnh đạo các cơ quan báo chí-Hội nhà báo VN lại đang hồ hởi đi thăm Trung Cộng v.v...
Chúng ta chắc chắn sẽ mất nước bởi giữa lúc cả thế giới, trong đó có Hoa Kỳ, đều lên tiếng bênh vực VN, lên án hành động ngày càng leo thang gây hấn của Trung Cộng trên biển Đông và sẵn sàng chìa bàn tay cho VN. Thì ngay sau đó, từ ông Bộ trưởng Bộ quốc phòng Đại tướng Phùng Quang Thanh cho đến ông Thứ trưởng ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn lại tiếp tục ca bài ca Việt Nam luôn coi trọng quan hệ đoàn kết, hữu nghị, "đối tác hợp tác chiến lược toàn diện" với Trung Cộng; tiếp tục trân trọng 16 chữ vàng lừa mỵ. Và ông Thứ trưởng ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn lại thân hành sang tận Bắc Kinh, chấp nhận con đường đàm phán song phương với Trung Cộng!
Chúng ta chắc chắn sẽ mất nước bởi là một nước nhỏ, yếu hơn Trung Cộng nhiều lần nhưng những người lãnh đạo VN lại khước từ mọi lợi thế chính nghĩa mà VN đang có trên hồ sơ biển Đông, khước từ sự hỗ trợ của bạn bè quốc tế, khước từ mọi sự đàm phán đa phương, dựa cậy vào luật pháp quốc tế...Từ ông Thứ trưởng Bộ quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh cho đến ông Chuẩn đô đốc Phạm Ngọc Minh, Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng quân chủng hải quân, mạnh miệng tuyên bố VN không liên minh liên kết quân sự với bất cứ nước nào, không cần đến bất cứ ai, tự mình cúi đầu đi thẳng đến cái bẫy đàm phán song phương của kẻ thù!
Chúng ta chắc chắn sẽ mất nước bởi đường lối ngoại giao sai lầm của đảng và nhà nước cộng sản VN, chọn kẻ thù lâu dài của dân tộc làm đồng minh, bạn bè, sợ hãi làm bạn với các quốc gia dân chủ tiến bộ. Một đường lối ngoại giao không rõ ràng, nước đôi nước ba, lúc thế này lúc thế khác, làm mất lòng tin của nhân dân và cả thế giới!
Chúng ta chắc chắn sẽ mất nước với một nhà nước mang tâm lý khiếp nhược sợ hãi nước khác quá nặng. Một nhà nước không dám và cũng không thể bảo vệ được người dân của mình trên biển và cả trên bờ. Một nhà nước không dám đứng về phía nhân dân, thiếu lòng tin vào nhân dân, luôn luôn đặt quyền lợi và sự tồn vong của đảng, của chế độ lên trên quyền lợi của đất nước và dân tộc. Một nhà nước không bao giờ công khai minh bạch việc nước trước quốc dân, chỉ chăm chăm đi đêm, hết ký hiệp ước này lại đến thỏa thuận kia. Đất đai biển cả cứ ngày càng hẹp dần, mất dần.
Chúng ta chắc chắn sẽ mất nước bởi ngay chính những người dân, kể cả tầng lớp trí thức nhân sĩ, dù đã hiểu ra cái họa mất nước là từ phương Bắc, nhưng vẫn chưa nhìn ra hoặc chưa dám thừa nhận gốc rễ của cái họa mất nước chính từ những kẻ bán nước đang ngồi trên đẩu trên cổ dân tộc, từ sự lựa chọn, con đường đi mà họ đang dẫn dắt cả dân tộc phải theo! Nên chỉ kêu gọi đảng sửa đổi, cải cách mà không dám nghĩ đến chuyện phải thay đổi luôn cả cái đảng ấy, cả mô hình thể chế chính trị này.
Chúng ta chắc chắn sẽ mất nước bởi trong từng người dân Việt, vẫn là cái tâm lý ích kỷ cộng với tầm nhìn ngắn, chỉ thấy cái lợi trước mắt mà không thấy cái hại lâu dài, chỉ nghĩ đến cái lợi cho bản thân mà không nghĩ đến cái lợi chung của đất nước, của cả cộng đồng.
Chúng ta chắc chắn sẽ mất nước bởi muôn vàn cái thực tế hiển nhiên đang bày ra trước mắt như thế.
Nhưng thực sự thì, chúng ta đã mất nước chưa?
VN có còn là một quốc gia hoàn toàn độc lập, toàn vẹn về lãnh thổ lãnh hải?
Câu trả lời đau đớn là chúng ta đã mất nước rồi, mất dần dần, mất toàn diện về mọi mặt mà chúng ta nhiều người vẫn chưa ý thức hết.
Chúng ta đã mất nước rồi khi nhìn lại trên dải đất VN này, người nước lạ muốn làm gì thì làm, vào ra nước ta như chỗ không người, vơ vét tài nguyên, nguyên liệu, thực phẩm chất lượng cao mang về nước vả đổi lại những hàng hóa thực phẩm kém chất lượng, hàng độc hại. Thuê đất thuê rừng của ta, đưa người sang làm việc rồi cắm rễ lâu dài trên quê hương ta. Những công trình kinh tế trọng điểm đều trao vào tay người nước lạ. Trong những công trường, nhà máy... của nước lạ, người nước lạ tràn ngập, nếu có chuyện gì xảy ra, khác nào kịch bản Con ngựa thành Troy sẽ xảy ra?
Chúng ta đã mất nước rồi khi báo chí phê phán chỉ trích Trung Cộng thì bị Bắc Kinh cao giọng mắng nhà cầm quyền VN phải biết định hướng dư luận, phải về dạy dỗ lại nhân dân! Nhất cử nhất động của đảng, của nhà nước VN đều "được" sự quan tâm chỉ đạo kèm cặp của Bắc Kinh. Và ngay trong những cuộc biểu tình của người VN, cũng có bóng dáng người Trung Cộng đứng quan sát, theo dõi, chỉ thị...
Chúng ta đã mất nước từ lâu, từ trong sự lệ thuộc về tư tưởng, khi sao chép của Trung Cộng từ mô hình thể chế chính trị, kinh tế... cho đến cách ứng xử với nhân dân, học theo làm theo từ cải cách ruộng đất, đánh tư sản mại bản cho đến mẫu trang phục quân đội! Từ trong sự lệ thuộc về kinh tế ngày càng nặng nề, mà lệ thuộc kinh tế tất yếu đưa đến sự lệ thuộc vể chính trị. Lệ thuộc về văn hóa, lệ thuộc về tinh thần.
Đâu cần phải đợi đến khi chiến tranh xảy ra, chúng ta mới thực sự mất nước?
Song Chi
-
nguyennam619
- Posts: 238
- Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am
Nghĩa tử là nghĩa “vô” tận!
- Nguyễn Duy Ân -
-Ông thầy nghĩ sao về tin đồn tướng Kỳ về lập chiến khu để chống Cộng?
-Thế cậu có tin không?
-Không tin, cũng chẳng hiểu vì sao lại có tin đồn như thế!
-Có gì đâu mà chẳng hiểu! Tin nầy dù phát xuất từ bên ngoài (dân) hay trong trại (tù) nầy thì có thể do bọn chúng nó (cai tù) tung ra để dò phản ứng bọn mình, hoặc do anh em bịa ra để trấn an tinh thần nhiều người đang quá bi quan tuyệt vọng.
-Theo ông thầy thì tình thế có hy vọng gì không, sao tôi thấy u ám quá!
-Đối với đất nước thì tôi không rõ tình hình đen tối kéo dài bao lâu, có lẽ là lâu. Riêng cộng nghiệp của bọn mình chỉ có chừng vài thập niên đại hạn là cùng. Cứ bình tĩnh đừng vọng động, vô ích.
-Vài thập niên? Ông thầy có đùa không đó, như vậy e bỏ xác nơi nầy hết!
-Tớ còn chưa lo, cậu còn trẻ sợ gì!
-Ông thầy nghĩ sao về tướng Kỳ, nghe nói ông ta có Thái Dương cư Ngọ, sao ông ta nói và làm nhiều chuyện khó coi , liệu ông ta còn ngo ngoe đưọc gì nữa không ông thầy?
Vị niên trưởng đưa bàn tay trái lên, ngón cái bấm lên các cung tương ứng Thiên bàn Tử vi:
- Tuổi Canh Ngọ, giờ… ngày… tháng…Thái Dương cư Ngọ của Kỳ ngộ Triệt coi như mặt trời bị mây che! Thế nhưng Kỳ ngoi lên tới đó kể như là quá lắm rồi, đó là nhờ bộ Tứ linh, Tả- Hữu, Tam Hóa… cứu vãn. Mặt trời giữa ngọ mà bị mây che dù có le lói được một lúc ban trưa thì xế bóng sẽ đi dần vào tăm tối. Người biết số mệnh thì thúc thủ mai danh, nếu còn tham vọng thì chỉ thân bại, danh liệt mà thôi. Cung nô bộc của Kỳ tiền vận tốt nhưng hậu vận nhiều người xa lánh, rất ít kẻ trung thành. Cung tật ách những hung tinh (Kình Đà ngộ Thiên Không…) ít tai nạn tật bệnh thể xác nhưng lại xấu về mặt tinh thần, tai tiếng, thị phi, ngôn bất cập kỳ hành! Cung thê của Kỳ cũng rất kém!
-Kém gì nữa ông thầy, bỏ vợ già, được vợ trẻ đẹp không lẽ …?
-Không biết nhưng căn cứ vào hậu vận (Thân cư…), tật ách và thê thiếp thì thấy như thế, hy vọng cậu còn sống đến đó để nhớ mà chiêm nghiệm đúng, sai.
* * *
Trên đây là mẫu đối thoại giữa người viết và một vị niên trưởng lớn hơn vài giáp, ở K3, Tân Hiệp, Suối Máu những ngày đầu năm 1976, mới chuyển lên từ Long Giao. Rồi lăn trầm mỗi người mỗi ngã, gian nan, khốn khó trên bước đường lưu đày, vùng kinh tế mới, bỏ xứ lìa quê. Vị niên trưởng không một lần gặp lại, nếu còn tại thế ông cũng đã ngoài 80.
Câu chuyện với vị đàn anh cứ như mới hôm qua, mỗi khi có chuyện liên quan đến tướng Kỳ. Vì thế người viết cũng không mấy ngạc nhiên về những phát ngôn và hành động của Kỳ: tất cả gần như đã được đóng khung trong 12 cung Thiên bàn định mệnh!
Quả thật với cương vị của Nguyễn Cao Kỳ thì phải thấy rõ tình huống những ngày tháng Tư 75 để không huênh hoang tuyên bố những lời vung vít “tử thủ” trước khi đào thoát vội vàng. Dù trách cứ cũng không một quân nhân nào muốn Kỳ phải “kẹt” lại để bị Cộng thù hành hạ!
Chuyện được đàn em cưu mang đem về nhà ở rồi cuỗm luôn vợ của gia chủ là điều trái đạo mà một người tự nhận là “Con (của) Phật” không thể hành xử như thế. Phải là “con của oan khiên nghiệp chướng!”
Trước Kỳ đã có biết bao nhiêu người kêu gọi “hòa giải hòa hợp” với Việt Cộng, chiêu nầy lại do chính chúng nó tung ra. Kỳ tự tin mình có uy thế có thể thuyết phục được bọn đầu sỏ VC nghe theo.
Dù rất ngu hèn nhưng bọn chúng “cáo” hơn Kỳ tới mấy cái đầu. Xúi chúng nó “bỏ Tầu theo Mỹ” mà Kỳ không đem kế sách gì để tháo gỡ những sợi dây xích chó trên cổ của chúng. Bỏ Tầu sao được khi mà bọn tình báo gián điệp đã chui sâu trèo cao từ trung ương đến địa phương, từ công an tới quân đội, từ chính trị đến kinh tế!
Nam Hàn, Đài Loan, Nhật Bản… giữ được nưóc là dựa vào sức mạnh dân chúng ở những nước đó, Mỹ chỉ là yếu tố phụ. Không cần về ở Việt Nam cũng biết đảng CSVN là kẻ thù của tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam. Kỳ về VN nhìn thấy nhà cao cửa rộng của bọn cán bộ đảng viên và gia nhân thuộc hạ của chúng để nịnh hót kết luận “đất nước phát triển” giàu mạnh mà không nhìn thấy hàng triệu cảnh đời cơ cực, hàng triệu thanh niên nam nữ phải đi lao nô khắp cùng các nước, người dân bị cướp bóc, đàn áp khủng bố dạ man hơn dưới thời Pháp thuộc.
Chỉ cần khuyến cáo VC hãy triệt để hòa giải với tất cả thành phần dân chúng, hòa hợp với tất cả các đồng bào sắc tộc trong nước thì sẽ tự động hóa giải dần dần sức chống đối ở bên ngoài, chứ không phải đàn áp khủng bố bên trong, xâm nhập, mua chuộc, đánh phá bên ngoài mà kêu gào đoàn kết, hòa giải… được. Không cần phải về nước để đấm ngực “Chúng tôi là những kẻ đánh thuê…là những kẻ phản quốc” và ca tụng lũ bán nước “có công thống nhất!” Và xúi chúng “bỏ Tầu thờ Mỹ” thờ Mỹ thì phải dân chủ hóa đất nước, nước có dân chủ thì đảng mất quyền, là tử huyệt, là tuyệt lộ của đảng!
Để lấy lòng chúng nó, Kỳ đã làm nhiều việc rất khó coi: mua rượu biếu qua công an.
Có đứa thấy rượu thì uống bất kể ai cho, nhưng cũng có đứa khinh, khinh kẻ thù cũ dù nay đã về quy hàng:
“Rượu của Nguyễn Cao Kỳ
Vị thiếu tướng công an cầm chai rượu ra bàn
-"Ông Nguyễn Cao Kỳ mới về gửi tặng".
Mọi người đang vui, gật gù bảo "uống"
Nhưng một người bảo "Không!".
Vì sao không ? Rượu cứ ngon là rượu!
Whisky Mỹ hay Vodka Nga, giờ có mặc cảm gì,
Chiến tranh lạnh qua rồi, ba mươi năm sau chống Mỹ
Đây là chén rượu thăm quê của tướng Nguyễn Cao Kỳ!
Nhưng vẫn có một người không chịu uống!” (Bằng Việt)
Võ Văn Kiệt chết, Kỳ mang vòng hoa to đến phúng điếu nhưng không được lên phát biểu câu nào như những lần đến trình diện Phan Văn Khải, Nguyễn Minh Triết.
Mấy trăm tờ báo đảng cũng không có một câu nào nói đến sự có mặt của Kỳ nơi quàn Kiệt. Theo tin tức, Võ Văn Kiệt chết lúc 6 giờ 40 ngày 11/6/08 tại Singapore có nghi vấn là Kiệt bị tình báo Tầu Cộng ám sát.
“…Hàng thần lơ láo…!”
(Bó thân về với triều đình
Hàng thần lơ láo phận mình ra đâu!
Truyện Kiều, Nguyễn Du)
Tiễn Kiệt ra đi có cụ Kỳ
Không người tiếp đón đứng sầu bi
Tưởng đâu thế giá như vàng ngọc
Lửa mới nung lên rõ sắt chì
Dại dột quy tà không xấu thẹn
Xun xoe chủ mới cố chai lì
Lân la kề cận quân cường đạo
Tới chỗ sao rơi kiếm chác gì ?
Lần nầy Kỳ chết, VC thấy cũng không còn “tận dụng” thêm được gì trên xác chết nữa nên thôi, phủi tay! Theo một bài báo trong nước viết:
“Dự kiến, thi hài tướng Nguyễn Cao Kỳ được mang về an táng tại quê nhà, như ước nguyện của ông lúc còn sống.”
Thế nhưng nay theo tin tức thì gia đình sẽ đem tro cốt về Mỹ? Như vậy có thể VC đã ngăn cấm việc đưa xác Kỳ về VN theo nguyện vọng của người chết, sợ gây phiền toái, hay là gia đình đã làm trái “nguyện ước” của người thân! Như chuyện phủ cờ, không biết Kỳ có di chúc gì về việc nầy mà gia đình trùm lên quan tài Kỳ một lúc 3 lá cờ VNCH, cờ Mỹ và cờ Mã Lai, rất bôi bác!
“Nghĩa tử là nghĩa tận…dụng!”Ngoài năm, bảy anh ngu trung vẫn thần thánh Kỳ như một bậc anh hùng, như một vị bồ tá(c) và mắng nhiếc bất cứ ai không cùng quan điểm.
Vài ba tên Việt gian cs ở hải ngoại cũng “tận dụng” cái chết của Kỳ để giành “chính nghĩa” cho tập đoàn bán nước Hồ Chí Minh. Việt gian Trần Chung Ngọc cho rằng “Kỳ đã giải nghiệp!” có người phản bác, thật ra thì Vg TCN nói đúng: “chánh nghiệp” của Kỳ quá mỏng nay lại giải đi để theo “nghiệp tà”
Ở trong nước, sử nô Dương Trung Quốc, tên bù nhìn giảo hoạt nhất nên vẫn được ngồi mãi ở nhà hát “Đảng hội” nhiều kỳ, mới có bài viết rất xách mé chen lẫn “khen ngợi Nguyễn Cao Kỳ”, Quốc viết:
“Ông là chính khách và thủ lĩnh “phía bên kia” thường được “phía bên này” coi là... “ngụy”. Và vì ông từng mang hàm cấp tướng lại còn làm đến chức Thủ tướng, Phó Tổng thống nên ông thuộc loại cả “nguỵ quân” lẫn “nguỵ quyền”.
Vai trò của sử nô DTQ và ý đồ của Việt gian CS khi chiêu dụ Kỳ trở về, Quốc tiết lộ:
“Tôi tham gia cùng Hội Liên lạc những người Việt Nam ở nước ngoài tổ chức tiếp một vị Việt kiều đặc biệt với tâm trạng thăm dò xem việc một chính khách “bự” như ông hồi hương có mang theo thông điệp hay ý đồ gì không và tìm cách hướng việc ông về vào chủ trương “hoà giải” mà nhà nước đang nói nhiều”
Luôn “tận dụng” để tuyên truyền cho “chính nghĩa” chống Mỹ cứu nước, Quốc viết:
“…như có lần ông (Kỳ) nhắc đến việc Tướng Loan cầm súng bắn vào đầu một “Việt Cộng” hồi Mậu Thân. Bức ảnh đã làm cả thế giới xúc động về sự tàn bạo của chiến tranh, đã làm cho người dân Mỹ bàng hoàng nhận thức về cuộc chiến tranh và vị thế của nước Mỹ tiến hành như đồng minh của kẻ có hành vi tàn bạo như vậy.
Ông Kỳ nói rằng, trong cuộc sống bình thường, ông Loan không phải là người như thế và về cuối đời ông ta đã phải trả giá rất đắt bằng cả sự đối xử của nhiều người và bằng cả cách tự xử của chính mình v.v... Ông muốn nói rằng ký ức của những người cùng thời được trao truyền, tựa như cả bia đá lẫn bia miệng sẽ làm cho lịch sử trở nên khắt khe hơn cả những gì mà khi hành xử mỗi người nghĩ tới.”
Sử nô Dương Trung Quốc mập mờ, xuyên tạc lời nói của Nguyễn Cao Kỳ, hay chính Kỳ đã nhục mạ Tướng Nguyễn Ngọc Loan qua đoạn văn vừa trích? Nhắc tới Mậu Thân sao thằng sử nô không dám nói tới mấy ngàn người dân Huế bị giặc Hồ chôn sống? Lại đem Tướng Loan ra rồi mượn mồm mép Nguyễn Cao Kỳ để sỉ nhục một cách láo lếu?
Nói về sự xu nĩnh, rất ấu trĩ chính trị của Kỳ, sử nô viết:
“ Có lần ông thắc mắc rằng cái khẩu hiệu “Tổ quốc trên hết” ra đời cùng với cuộc cách mạng của người cộng sản, hồi Cách mạng 1945 mới thành công thấy hay sử dụng câu khẩu hiệu này lắm, tại sao nay không thấy dùng nữa ?”
Không thấy Quốc trả lời thắc mắc nầy của Kỳ, nhưng câu trả lời thì đã quá rõ ràng:
Đối với giặc Hồ “Đảng trên hết!” thì “Tổ quốc” là sọt rác, ai mà dùng nữa! Chỉ có Kỳ ngây ngô không biết!
Dương Trung Quốc kết luận vừa ngạo mạn vừa khinh bỉ ngầm:
“Thế mới càng thấy ông Nguyễn Cao Kỳ là người biết sống. Nay ông vừa nằm xuống. Tôi viết những lời này như một lời chào tiễn ông. Chưa rõ gia đình ông sẽ thu xếp phần thể xác của ông sẽ nằm nơi nào? Nhưng chắc chắn rằng phần hồn của ông sẽ về với xứ Đoài vốn hay sinh ra những người có tính cách khác thường trong lịch sử.”
Dù sao thì chuyện “trở về” của Nguyễn Cao Kỳ cũng có những điểm tích cực:
Chứng minh thêm cho rõ rằng bản chất gian manh, quỷ quyệt của Việt gian cs là bất di bất dịch, chiêu bài “hòa giải hòa hợp” vĩnh viễn là chiếc bẫy sập chúng giương lên để tóm cổ đủ mọi loại “chim người” lớn nhỏ vì tính tham danh, hám lợi hoặc ngu đần dại dột, không hơn không kém. Vì vậy Kỳ chết hay sống vẫn không ảnh hưởng gì đến công cuộc đấu tranh của người dân VN để loại bỏ bọn Việt gian cs bán nước, trái lại có thể cảnh giác cho những ai còn mơ hồ, kêu gọi, van xin chúng thay đổi!
2/8/2011
Nguyễn duy Ân
- Nguyễn Duy Ân -
-Ông thầy nghĩ sao về tin đồn tướng Kỳ về lập chiến khu để chống Cộng?
-Thế cậu có tin không?
-Không tin, cũng chẳng hiểu vì sao lại có tin đồn như thế!
-Có gì đâu mà chẳng hiểu! Tin nầy dù phát xuất từ bên ngoài (dân) hay trong trại (tù) nầy thì có thể do bọn chúng nó (cai tù) tung ra để dò phản ứng bọn mình, hoặc do anh em bịa ra để trấn an tinh thần nhiều người đang quá bi quan tuyệt vọng.
-Theo ông thầy thì tình thế có hy vọng gì không, sao tôi thấy u ám quá!
-Đối với đất nước thì tôi không rõ tình hình đen tối kéo dài bao lâu, có lẽ là lâu. Riêng cộng nghiệp của bọn mình chỉ có chừng vài thập niên đại hạn là cùng. Cứ bình tĩnh đừng vọng động, vô ích.
-Vài thập niên? Ông thầy có đùa không đó, như vậy e bỏ xác nơi nầy hết!
-Tớ còn chưa lo, cậu còn trẻ sợ gì!
-Ông thầy nghĩ sao về tướng Kỳ, nghe nói ông ta có Thái Dương cư Ngọ, sao ông ta nói và làm nhiều chuyện khó coi , liệu ông ta còn ngo ngoe đưọc gì nữa không ông thầy?
Vị niên trưởng đưa bàn tay trái lên, ngón cái bấm lên các cung tương ứng Thiên bàn Tử vi:
- Tuổi Canh Ngọ, giờ… ngày… tháng…Thái Dương cư Ngọ của Kỳ ngộ Triệt coi như mặt trời bị mây che! Thế nhưng Kỳ ngoi lên tới đó kể như là quá lắm rồi, đó là nhờ bộ Tứ linh, Tả- Hữu, Tam Hóa… cứu vãn. Mặt trời giữa ngọ mà bị mây che dù có le lói được một lúc ban trưa thì xế bóng sẽ đi dần vào tăm tối. Người biết số mệnh thì thúc thủ mai danh, nếu còn tham vọng thì chỉ thân bại, danh liệt mà thôi. Cung nô bộc của Kỳ tiền vận tốt nhưng hậu vận nhiều người xa lánh, rất ít kẻ trung thành. Cung tật ách những hung tinh (Kình Đà ngộ Thiên Không…) ít tai nạn tật bệnh thể xác nhưng lại xấu về mặt tinh thần, tai tiếng, thị phi, ngôn bất cập kỳ hành! Cung thê của Kỳ cũng rất kém!
-Kém gì nữa ông thầy, bỏ vợ già, được vợ trẻ đẹp không lẽ …?
-Không biết nhưng căn cứ vào hậu vận (Thân cư…), tật ách và thê thiếp thì thấy như thế, hy vọng cậu còn sống đến đó để nhớ mà chiêm nghiệm đúng, sai.
* * *
Trên đây là mẫu đối thoại giữa người viết và một vị niên trưởng lớn hơn vài giáp, ở K3, Tân Hiệp, Suối Máu những ngày đầu năm 1976, mới chuyển lên từ Long Giao. Rồi lăn trầm mỗi người mỗi ngã, gian nan, khốn khó trên bước đường lưu đày, vùng kinh tế mới, bỏ xứ lìa quê. Vị niên trưởng không một lần gặp lại, nếu còn tại thế ông cũng đã ngoài 80.
Câu chuyện với vị đàn anh cứ như mới hôm qua, mỗi khi có chuyện liên quan đến tướng Kỳ. Vì thế người viết cũng không mấy ngạc nhiên về những phát ngôn và hành động của Kỳ: tất cả gần như đã được đóng khung trong 12 cung Thiên bàn định mệnh!
Quả thật với cương vị của Nguyễn Cao Kỳ thì phải thấy rõ tình huống những ngày tháng Tư 75 để không huênh hoang tuyên bố những lời vung vít “tử thủ” trước khi đào thoát vội vàng. Dù trách cứ cũng không một quân nhân nào muốn Kỳ phải “kẹt” lại để bị Cộng thù hành hạ!
Chuyện được đàn em cưu mang đem về nhà ở rồi cuỗm luôn vợ của gia chủ là điều trái đạo mà một người tự nhận là “Con (của) Phật” không thể hành xử như thế. Phải là “con của oan khiên nghiệp chướng!”
Trước Kỳ đã có biết bao nhiêu người kêu gọi “hòa giải hòa hợp” với Việt Cộng, chiêu nầy lại do chính chúng nó tung ra. Kỳ tự tin mình có uy thế có thể thuyết phục được bọn đầu sỏ VC nghe theo.
Dù rất ngu hèn nhưng bọn chúng “cáo” hơn Kỳ tới mấy cái đầu. Xúi chúng nó “bỏ Tầu theo Mỹ” mà Kỳ không đem kế sách gì để tháo gỡ những sợi dây xích chó trên cổ của chúng. Bỏ Tầu sao được khi mà bọn tình báo gián điệp đã chui sâu trèo cao từ trung ương đến địa phương, từ công an tới quân đội, từ chính trị đến kinh tế!
Nam Hàn, Đài Loan, Nhật Bản… giữ được nưóc là dựa vào sức mạnh dân chúng ở những nước đó, Mỹ chỉ là yếu tố phụ. Không cần về ở Việt Nam cũng biết đảng CSVN là kẻ thù của tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam. Kỳ về VN nhìn thấy nhà cao cửa rộng của bọn cán bộ đảng viên và gia nhân thuộc hạ của chúng để nịnh hót kết luận “đất nước phát triển” giàu mạnh mà không nhìn thấy hàng triệu cảnh đời cơ cực, hàng triệu thanh niên nam nữ phải đi lao nô khắp cùng các nước, người dân bị cướp bóc, đàn áp khủng bố dạ man hơn dưới thời Pháp thuộc.
Chỉ cần khuyến cáo VC hãy triệt để hòa giải với tất cả thành phần dân chúng, hòa hợp với tất cả các đồng bào sắc tộc trong nước thì sẽ tự động hóa giải dần dần sức chống đối ở bên ngoài, chứ không phải đàn áp khủng bố bên trong, xâm nhập, mua chuộc, đánh phá bên ngoài mà kêu gào đoàn kết, hòa giải… được. Không cần phải về nước để đấm ngực “Chúng tôi là những kẻ đánh thuê…là những kẻ phản quốc” và ca tụng lũ bán nước “có công thống nhất!” Và xúi chúng “bỏ Tầu thờ Mỹ” thờ Mỹ thì phải dân chủ hóa đất nước, nước có dân chủ thì đảng mất quyền, là tử huyệt, là tuyệt lộ của đảng!
Để lấy lòng chúng nó, Kỳ đã làm nhiều việc rất khó coi: mua rượu biếu qua công an.
Có đứa thấy rượu thì uống bất kể ai cho, nhưng cũng có đứa khinh, khinh kẻ thù cũ dù nay đã về quy hàng:
“Rượu của Nguyễn Cao Kỳ
Vị thiếu tướng công an cầm chai rượu ra bàn
-"Ông Nguyễn Cao Kỳ mới về gửi tặng".
Mọi người đang vui, gật gù bảo "uống"
Nhưng một người bảo "Không!".
Vì sao không ? Rượu cứ ngon là rượu!
Whisky Mỹ hay Vodka Nga, giờ có mặc cảm gì,
Chiến tranh lạnh qua rồi, ba mươi năm sau chống Mỹ
Đây là chén rượu thăm quê của tướng Nguyễn Cao Kỳ!
Nhưng vẫn có một người không chịu uống!” (Bằng Việt)
Võ Văn Kiệt chết, Kỳ mang vòng hoa to đến phúng điếu nhưng không được lên phát biểu câu nào như những lần đến trình diện Phan Văn Khải, Nguyễn Minh Triết.
Mấy trăm tờ báo đảng cũng không có một câu nào nói đến sự có mặt của Kỳ nơi quàn Kiệt. Theo tin tức, Võ Văn Kiệt chết lúc 6 giờ 40 ngày 11/6/08 tại Singapore có nghi vấn là Kiệt bị tình báo Tầu Cộng ám sát.
“…Hàng thần lơ láo…!”
(Bó thân về với triều đình
Hàng thần lơ láo phận mình ra đâu!
Truyện Kiều, Nguyễn Du)
Tiễn Kiệt ra đi có cụ Kỳ
Không người tiếp đón đứng sầu bi
Tưởng đâu thế giá như vàng ngọc
Lửa mới nung lên rõ sắt chì
Dại dột quy tà không xấu thẹn
Xun xoe chủ mới cố chai lì
Lân la kề cận quân cường đạo
Tới chỗ sao rơi kiếm chác gì ?
Lần nầy Kỳ chết, VC thấy cũng không còn “tận dụng” thêm được gì trên xác chết nữa nên thôi, phủi tay! Theo một bài báo trong nước viết:
“Dự kiến, thi hài tướng Nguyễn Cao Kỳ được mang về an táng tại quê nhà, như ước nguyện của ông lúc còn sống.”
Thế nhưng nay theo tin tức thì gia đình sẽ đem tro cốt về Mỹ? Như vậy có thể VC đã ngăn cấm việc đưa xác Kỳ về VN theo nguyện vọng của người chết, sợ gây phiền toái, hay là gia đình đã làm trái “nguyện ước” của người thân! Như chuyện phủ cờ, không biết Kỳ có di chúc gì về việc nầy mà gia đình trùm lên quan tài Kỳ một lúc 3 lá cờ VNCH, cờ Mỹ và cờ Mã Lai, rất bôi bác!
“Nghĩa tử là nghĩa tận…dụng!”Ngoài năm, bảy anh ngu trung vẫn thần thánh Kỳ như một bậc anh hùng, như một vị bồ tá(c) và mắng nhiếc bất cứ ai không cùng quan điểm.
Vài ba tên Việt gian cs ở hải ngoại cũng “tận dụng” cái chết của Kỳ để giành “chính nghĩa” cho tập đoàn bán nước Hồ Chí Minh. Việt gian Trần Chung Ngọc cho rằng “Kỳ đã giải nghiệp!” có người phản bác, thật ra thì Vg TCN nói đúng: “chánh nghiệp” của Kỳ quá mỏng nay lại giải đi để theo “nghiệp tà”
Ở trong nước, sử nô Dương Trung Quốc, tên bù nhìn giảo hoạt nhất nên vẫn được ngồi mãi ở nhà hát “Đảng hội” nhiều kỳ, mới có bài viết rất xách mé chen lẫn “khen ngợi Nguyễn Cao Kỳ”, Quốc viết:
“Ông là chính khách và thủ lĩnh “phía bên kia” thường được “phía bên này” coi là... “ngụy”. Và vì ông từng mang hàm cấp tướng lại còn làm đến chức Thủ tướng, Phó Tổng thống nên ông thuộc loại cả “nguỵ quân” lẫn “nguỵ quyền”.
Vai trò của sử nô DTQ và ý đồ của Việt gian CS khi chiêu dụ Kỳ trở về, Quốc tiết lộ:
“Tôi tham gia cùng Hội Liên lạc những người Việt Nam ở nước ngoài tổ chức tiếp một vị Việt kiều đặc biệt với tâm trạng thăm dò xem việc một chính khách “bự” như ông hồi hương có mang theo thông điệp hay ý đồ gì không và tìm cách hướng việc ông về vào chủ trương “hoà giải” mà nhà nước đang nói nhiều”
Luôn “tận dụng” để tuyên truyền cho “chính nghĩa” chống Mỹ cứu nước, Quốc viết:
“…như có lần ông (Kỳ) nhắc đến việc Tướng Loan cầm súng bắn vào đầu một “Việt Cộng” hồi Mậu Thân. Bức ảnh đã làm cả thế giới xúc động về sự tàn bạo của chiến tranh, đã làm cho người dân Mỹ bàng hoàng nhận thức về cuộc chiến tranh và vị thế của nước Mỹ tiến hành như đồng minh của kẻ có hành vi tàn bạo như vậy.
Ông Kỳ nói rằng, trong cuộc sống bình thường, ông Loan không phải là người như thế và về cuối đời ông ta đã phải trả giá rất đắt bằng cả sự đối xử của nhiều người và bằng cả cách tự xử của chính mình v.v... Ông muốn nói rằng ký ức của những người cùng thời được trao truyền, tựa như cả bia đá lẫn bia miệng sẽ làm cho lịch sử trở nên khắt khe hơn cả những gì mà khi hành xử mỗi người nghĩ tới.”
Sử nô Dương Trung Quốc mập mờ, xuyên tạc lời nói của Nguyễn Cao Kỳ, hay chính Kỳ đã nhục mạ Tướng Nguyễn Ngọc Loan qua đoạn văn vừa trích? Nhắc tới Mậu Thân sao thằng sử nô không dám nói tới mấy ngàn người dân Huế bị giặc Hồ chôn sống? Lại đem Tướng Loan ra rồi mượn mồm mép Nguyễn Cao Kỳ để sỉ nhục một cách láo lếu?
Nói về sự xu nĩnh, rất ấu trĩ chính trị của Kỳ, sử nô viết:
“ Có lần ông thắc mắc rằng cái khẩu hiệu “Tổ quốc trên hết” ra đời cùng với cuộc cách mạng của người cộng sản, hồi Cách mạng 1945 mới thành công thấy hay sử dụng câu khẩu hiệu này lắm, tại sao nay không thấy dùng nữa ?”
Không thấy Quốc trả lời thắc mắc nầy của Kỳ, nhưng câu trả lời thì đã quá rõ ràng:
Đối với giặc Hồ “Đảng trên hết!” thì “Tổ quốc” là sọt rác, ai mà dùng nữa! Chỉ có Kỳ ngây ngô không biết!
Dương Trung Quốc kết luận vừa ngạo mạn vừa khinh bỉ ngầm:
“Thế mới càng thấy ông Nguyễn Cao Kỳ là người biết sống. Nay ông vừa nằm xuống. Tôi viết những lời này như một lời chào tiễn ông. Chưa rõ gia đình ông sẽ thu xếp phần thể xác của ông sẽ nằm nơi nào? Nhưng chắc chắn rằng phần hồn của ông sẽ về với xứ Đoài vốn hay sinh ra những người có tính cách khác thường trong lịch sử.”
Dù sao thì chuyện “trở về” của Nguyễn Cao Kỳ cũng có những điểm tích cực:
Chứng minh thêm cho rõ rằng bản chất gian manh, quỷ quyệt của Việt gian cs là bất di bất dịch, chiêu bài “hòa giải hòa hợp” vĩnh viễn là chiếc bẫy sập chúng giương lên để tóm cổ đủ mọi loại “chim người” lớn nhỏ vì tính tham danh, hám lợi hoặc ngu đần dại dột, không hơn không kém. Vì vậy Kỳ chết hay sống vẫn không ảnh hưởng gì đến công cuộc đấu tranh của người dân VN để loại bỏ bọn Việt gian cs bán nước, trái lại có thể cảnh giác cho những ai còn mơ hồ, kêu gọi, van xin chúng thay đổi!
2/8/2011
Nguyễn duy Ân
Hòa hợp hòa giải
(Khong ro tac gia)
Tại hải ngoại đã có biết bao nhiêu người kêu gọi “hòa giải hòa hợp” với Việt Cộng, chiêu nầy lại do chính chúng nó Việt Cộng tung ra.
Bọn chính trị gia SALON hải ngoại tự tin mình có uy thế có thể thuyết phục được bọn đầu sỏ Việt Cộng nghe theo.
Dù rất ngu hèn nhưng bọn chúng Việt Cộng “cáo” hơn các nhà đấu tranh hải ngoại tới mấy cái đầu. Xúi chúng nó “bỏ Tầu theo Mỹ” mà không đem kế sách gì để tháo gỡ những sợi dây xích chó trên cổ của chúng. Bỏ Tầu sao được khi mà bọn tình báo gián điệp đã chui sâu trèo cao từ trung ương đến địa phương, từ công an tới quân đội, từ chính trị đến kinh tế!
Nam Hàn, Đài Loan, Nhật Bản… giữ được nưóc là dựa vào sức mạnh dân chúng ở những nước đó, Mỹ chỉ là yếu tố phụ.
Không cần về ở Việt Nam cũng biết đảng CSVN là kẻ thù của tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam. Các nhà đấu tranh dỏm về VN nhìn thấy nhà cao cửa rộng của bọn cán bộ đảng viên và gia nhân thuộc hạ của chúng, để nịnh hót kết luận “đất nước phát triển” giàu mạnh mà không nhìn thấy hàng triệu cảnh đời cơ cực, hàng triệu thanh niên nam nữ phải đi lao nô khắp cùng các nước, người dân bị cướp bóc, đàn áp khủng bố dạ man hơn dưới thời Pháp thuộc.
Chỉ cần khuyến cáo Việt Cộng hãy triệt để hòa giải với tất cả thành phần dân chúng, hòa hợp với tất cả các đồng bào sắc tộc trong nước thì sẽ tự động hóa giải dần dần sức chống đối ở bên ngoài, chứ không phải đàn áp khủng bố bên trong, xâm nhập, mua chuộc, đánh phá bên ngoài mà kêu gào đoàn kết, hòa giải… được.
Không cần phải về nước để ca tụng lũ bán nước “có công!” Và xúi chúng “bỏ Tầu thờ Mỹ” thờ Mỹ thì phải dân chủ hóa đất nước, nước có dân chủ thì đảng mất quyền, là tử huyệt, là tuyệt lộ của đảng!
Bản chất gian manh, quỷ quyệt của Việt gian Cong San là bất di bất dịch, chiêu bài “hòa giải hòa hợp” vĩnh viễn là chiếc bẫy sập chúng giương lên để tóm cổ đủ mọi loại “chim người” lớn nhỏ vì tính tham danh, hám lợi hoặc ngu đần dại dột, không hơn không kém. Vì vậy, người dân Viet Nam và các nhà đấu tranh dỏm dân chủ hải ngoại nên cảnh giác khi mơ hồ, kêu gọi, van xin chúng thay đổi!
(Khong ro tac gia)
Tại hải ngoại đã có biết bao nhiêu người kêu gọi “hòa giải hòa hợp” với Việt Cộng, chiêu nầy lại do chính chúng nó Việt Cộng tung ra.
Bọn chính trị gia SALON hải ngoại tự tin mình có uy thế có thể thuyết phục được bọn đầu sỏ Việt Cộng nghe theo.
Dù rất ngu hèn nhưng bọn chúng Việt Cộng “cáo” hơn các nhà đấu tranh hải ngoại tới mấy cái đầu. Xúi chúng nó “bỏ Tầu theo Mỹ” mà không đem kế sách gì để tháo gỡ những sợi dây xích chó trên cổ của chúng. Bỏ Tầu sao được khi mà bọn tình báo gián điệp đã chui sâu trèo cao từ trung ương đến địa phương, từ công an tới quân đội, từ chính trị đến kinh tế!
Nam Hàn, Đài Loan, Nhật Bản… giữ được nưóc là dựa vào sức mạnh dân chúng ở những nước đó, Mỹ chỉ là yếu tố phụ.
Không cần về ở Việt Nam cũng biết đảng CSVN là kẻ thù của tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam. Các nhà đấu tranh dỏm về VN nhìn thấy nhà cao cửa rộng của bọn cán bộ đảng viên và gia nhân thuộc hạ của chúng, để nịnh hót kết luận “đất nước phát triển” giàu mạnh mà không nhìn thấy hàng triệu cảnh đời cơ cực, hàng triệu thanh niên nam nữ phải đi lao nô khắp cùng các nước, người dân bị cướp bóc, đàn áp khủng bố dạ man hơn dưới thời Pháp thuộc.
Chỉ cần khuyến cáo Việt Cộng hãy triệt để hòa giải với tất cả thành phần dân chúng, hòa hợp với tất cả các đồng bào sắc tộc trong nước thì sẽ tự động hóa giải dần dần sức chống đối ở bên ngoài, chứ không phải đàn áp khủng bố bên trong, xâm nhập, mua chuộc, đánh phá bên ngoài mà kêu gào đoàn kết, hòa giải… được.
Không cần phải về nước để ca tụng lũ bán nước “có công!” Và xúi chúng “bỏ Tầu thờ Mỹ” thờ Mỹ thì phải dân chủ hóa đất nước, nước có dân chủ thì đảng mất quyền, là tử huyệt, là tuyệt lộ của đảng!
Bản chất gian manh, quỷ quyệt của Việt gian Cong San là bất di bất dịch, chiêu bài “hòa giải hòa hợp” vĩnh viễn là chiếc bẫy sập chúng giương lên để tóm cổ đủ mọi loại “chim người” lớn nhỏ vì tính tham danh, hám lợi hoặc ngu đần dại dột, không hơn không kém. Vì vậy, người dân Viet Nam và các nhà đấu tranh dỏm dân chủ hải ngoại nên cảnh giác khi mơ hồ, kêu gọi, van xin chúng thay đổi!

