Bình Luận Thời Sự
Tường Berlin chặn người, tường Việt Nam chặn dư luận
Ngô Nhân Dụng
Ngày hôm nay, 13 Tháng Tám năm 2011, người Ðức kỷ niệm 50 năm ngày Bức Tường Berlin được dựng lên để ngăn cản làn sóng tị nạn của người dân Ðông Ðức sang phía Tây Berlin.
Nhớ lại, ngày 13 Tháng Tám năm 1961, những người cùng tuổi tôi sống ở miền Nam đã sững sờ khi nghe tin một bức tường bê tông được xây xong trong một đêm với mục đích phân cách “vĩnh viễn” hai phần một thành phố. Nhiều người Ðức sáng tỉnh dậy thấy mình và nhà hàng xóm bỗng phải sống trong hai thế giới cách biệt!
Thế giới đã từng sững sờ kinh ngạc trước các cuộc nổi dậy ở Poznan, Ba Lan, và ở Budapest, Hungary, năm 1956. Nhưng Bức Tường Berlin càng giúp nhiều người ở miền Nam Việt Nam suy nghĩ và tỉnh táo hơn về chế độ cộng sản khi thấy một nước giầu nhất trong khối Cộng đã phải cấm cản chính người dân nước mình không cho chạy trốn! Mười bẩy triệu người Ðông Ðức đã sống trong nỗi nhục nhã đó, đã chịu đựng chế độ cộng sản hơn 40 năm, cho tới ngày bức tường sụp đổ cuối năm 1989. May mắn cho các dân tộc ở Ðông Âu là cuộc cách mạng đã được thực hiện qua những diễn biến nhanh chóng, hòa bình, không đổ máu vô ích!
Năm 1989 nghe tin biên giới được mở cửa ở trạm Boesebruecke, bà Angela Merkel còn là một giáo sư hóa học, một người dân bình thường ở Ðông Berlin. Bà nghe tin nhưng vẫn đi tắm hơi với một cô bạn, như thói quen thường ngày. Sau đó, hai bà đi uống bia, rồi Angela Merkel bình thản đi bộ từ Quận Prenzlauer Berg ở phía Ðông bước sang Quận Wedding ở phía Tây. Bà ghé vào một gia đình hoàn toàn xa lạ, và được chủ nhân mời uống trà. Chén trà tự do đầu tiên, đánh dấu sự thay đổi cuộc đời một con người và một dân tộc. Bây giờ bà Merkel đang làm thủ tướng nước Ðức thống nhất.
Bức Tường Berlin cho thấy không có gì ngăn cản được khát vọng tự do của con người. Chế độ cộng sản đã sụp đổ khi những người dân Ðông Âu và người Ðức vượt qua được nỗi sợ hãi đối với công an mật vụ, họ phục hồi được tinh thần dũng cảm vẫn tiềm tàng trong dòng máu! Chế độ độc tài đảng trị lúc đó cũng đang tự “mục ruỗng từ bên trong,” như một hình ảnh mới được báo Quân Ðội Nhân Dân ở Việt Nam nêu ra. Cảnh mục ruỗng từ bên trong thể hiện trong nền kinh tế bế tắc, cảnh nô lệ nước đàn anh Liên Xô làm mọi người Ðông Âu phẫn uất; cho đến chính những đảng viên cộng sản cũng hết tin tưởng vào lý thuyết mà họ vẫn được nhồi nhét, ai cũng chỉ tìm đường giải thoát cho chính bản thân. Các người lãnh đạo cộng sản ở Ðông Âu hoàn toàn bất lực không biết làm sao thoát cảnh trì trệ, bế tắc, mặc dù miệng vẫn hô những khẩu hiệu ròn rã!
Cảnh “mục ruỗng từ bên trong” cũng đang diễn ra ở Việt Nam. Kinh tế xuống dốc; lòng dân phẫn uất vì lạm phát; căm giận vì biển, đảo, đất đai bị Trung Cộng lấn chiếm; và dân Việt Nam đã hết sợ công an mật vụ! Ðông Ðức ngày xưa lệ thuộc Liên Xô. Cộng sản Việt Nam đã lệ thuộc Trung Quốc từ hai chục năm nay giờ cũng không dám đàn áp các cuộc biểu tình, chính họ run sợ trước lòng yêu nước sôi sục của các thanh niên, trí thức ở Hà Nội, Sài Gòn. Như Luật Sư Lê Quốc Quân ở Việt Nam mới viết: “Ðảng cộng sản không thể cầm quyền mãi được và ‘nền chính trị ngoại tình’ này đến lúc phải chấm dứt.”
Như nhà báo Huy Ðức mới nhận xét: “Việt Nam, xét về bản chất, không còn là một quốc gia cộng sản mà chỉ là quốc gia độc đảng.” Tuy nhiên, chế độ Nguyễn Tấn Dũng ở Việt Nam bây giờ cũng sử dụng một guồng máy đàn áp không khác gì chế độ ở Ðông Ðức trước năm 1998. Bọn học trò ở Việt Nam bây giờ chỉ khôn ngoan hơn các vị thầy ở Nga Xô và Ðông Ðức ngày xưa trong kỹ thuật bóc lột. Họ dùng kinh tế thị trường để tận dụng sức lao động của người dân, làm giầu cho chính bản thân và băng đảng một cách tinh vi hơn!
Bế tắc về kinh tế đã kéo dài mấy năm liền. Bế tắc làm khổ dân, không làm cho các người lãnh đạo đảng cộng sản thay đổi. Lạm phát là hiện tượng dễ thấy nhất. Nhà báo Huy Ðức mới nhắc nhở: “Nhớ cái Tết 2006, mấy tháng trước khi ông (Dũng) nhậm chức, tô phở 15,000 đồng đã bị báo chí la làng (là đắt quá). Bây giờ tô phở cùng loại đã là 50,000 đồng.” Ở một nước tự do dân chủ thì giá tô phở tăng như vậy đủ lật đổ vài ông thủ tướng!
Báo Dân Trí than: “Giá thực phẩm tăng vọt từng ngày.” Một mạng lưới về kinh tế viết: “Hầu hết các loại thực phẩm tươi sống đều tăng giá cao ngất ngưởng trong thời gian qua, đặc biệt giá thịt lợn đã vượt quá sức chịu đựng của người tiêu dùng.”
Giá thực phẩm đã tăng gần gấp đôi trong một năm, từ tháng 6 năm ngoái. Ðối với các quan chức nhà nước và các nhà tư bản đỏ thì tiền mua thực phẩm chỉ đáng 2%, 3% lợi tức, thu nhập của họ, chẳng đáng là bao. Nhưng đối với 70 triệu người dân thường thì tiền mua thức ăn chiếm đến 80% lương bổng của họ. Lạm phát chính là một phương pháp “phân phối lại lợi tức và tài sản” từ tay toàn dân sang tay một nhóm người được ưu đãi.
Cuốn sách Danh Từ Kinh Tế, do nhà xuất bản Sự Thật in năm 1986, ở trang 194 giải thích “Lạm phát” là một “hiện tượng không lành mạnh của nền kinh tế... nó là phương tiện để phân phối lại thu nhập quốc dân và của cải xã hội có lợi cho giai cấp thống trị, là phương pháp để tư bản tăng cường bóc lột lao động... Do lạm phát mà giai cấp công nhân bị thiệt hại hơn cả, vì khi tiền giấy bị mất giá, giá cả hàng tiêu dùng tăng nhanh hơn tiền lương...” Trong một năm giá thực phẩm tăng 100% nhưng lương trung bình của người lao động chỉ được phép tăng theo lạm phát, nếu đình công tranh đấu. Mà số thống kê của nhà nước báo tin lạm phát chỉ là 20.82%, cho nên lương tăng lên nhiều nhất cũng chỉ được 21%! Trong khi đó trong đời sống thật của người dân thì tỷ lệ lạm phát thật sự cao gấp ba, bốn lần. Khi nhà nước dùng một con số nhỏ để che đậy cơn sốt lạm phát, họ đã tiếp tay với các nhà tư bản, trong nước và nước ngoài, để bắt dân lao động chỉ được tăng mức lương nhiều nhất là 21%! Ðó là hệ thống kinh tế mà chính quyền Nguyễn Tấn Dũng hiện nay đang sử dụng từ mấy năm nay. Họ bóc lột người lao động từ năm này sang năm khác và nâng cao địa vị của giai cấp thống trị, trong đó có các công ty ngoại quốc. Tất cả hệ thống ngân hàng được dùng để bóc lột dân chúng. Người dân gửi tiền vào ngân hàng được trả lãi chỉ bằng nửa tỷ lệ lạm phát thật hay chỉ bằng một phần ba! Gửi 100 đồng, năm sau được trả 10 đồng nhưng nếu lạm phát trên 30% thì giá trị của 110 đồng năm nay chỉ mua được những hàng tiêu dùng trị giá 80 đồng năm trước; tức là người dân đã bị nhà nước cướp mất 20 đồng! Cuối cùng, Ðổi Mới Kinh Tế chính là đổi mới phương pháp bóc lột, có hệ thống tinh vi hơn thời cộng sản cũ! Trong khi toàn dân đang lo lạm phát thì các quan chức lớn và các nhà tư bản đỏ vẫn chuyển tiền ra ngoại quốc, vẫn đi đánh bài ở casino bên Campuchia. Và nền sản xuất trong nước vẫn đang bị hàng nhập cảng lậu từ Trung Quốc sang đè bẹp.
Nhà báo Huy Ðức nhấn mạnh: “Trong cái chính thể do Ðảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo, Nguyễn Tấn Dũng là vị thủ tướng có nhiều quyền lực nhất.” Ðiều này người dân cũng biết. Chính Nguyễn Tấn Dũng đã thu góp tất cả các doanh nghiệp nhà nước vào trong tay mình, sau khi dùng danh từ mới cho giống thuật ngữ Trung Hoa là “tập đoàn kinh tế.” Một tập đoàn như Vinashin đã làm thất thoát hàng tỷ Mỹ kim, nhưng địa vị của Dũng vẫn không ai lay chuyển được. Sau kỳ bầu bán trong đại hội đảng Cộng Sản năm ngoái, Nguyễn Tấn Dũng đã củng cố quyền lực đặt được bốn năm người cùng băng đảng vào trong Bộ Chính Trị; đem thêm bốn người vào trong nội các mới; và cái chính phủ mới vẫn loay hoay không tìm được con đường nào mới cho kinh tế quốc dân. Vì họ phải bám lấy kinh tế quốc doanh để bảo vệ băng đảng. Vì họ không thoát được sự khống chế của Trung Cộng trong Huy Ðức mô tả: “Kinh tế quốc doanh vì thế đã tiếp tục được bú bầu sữa từ độc quyền khai thác tài nguyên, độc quyền các thương quyền, đến được ưu đãi hơn về tín dụng.”
Dân Ðông Ðức đã nhịn nhục 40 năm trước khi Bức Tường Berlin bị phá đổ. Hiện nay đảng Cộng Sản Việt Nam cũng đang sử dụng một Bức Tường Berlin khác. Ðó là những phương pháp bịt kín dư luận, bao vây các nhà báo (tự do hay không được tự do), ngăn chặn các mạng lưới thông tin. Chính các nhà báo Việt Nam đang bị đảng Cộng Sản nắm đầu, bị chỉ đạo hàng ngày, phải tìm cách xé rào, phá vỡ, giật đổ cái bức tường này thì dân tộc mới được tự do như người dân ở Ðông Ðức trước đây! Phải cứu đồng bào thoát khỏi bức tường vô hình đang kiểm soát đầu óc của 83 triệu con người!
Nhà báo Vũ Ðông Hà mới viết trên Blog Dân làm Báo: “Tội ác lớn nhất của một triều đại không hẳn là đốt sách, giết người hay làm cho đất nước trở nên nghèo khó, mà là làm cho cả một dân tộc trở nên hèn nhát, ích kỷ và mê muội.” Người Việt Nam không thể chấp nhận một triều đại như vậy tiếp tục đè đầu cưỡi cổ toàn dân sau khi dân đã phải chịu đựng suốt bao nhiêu năm nay!
Ngô Nhân Dụng
Ngày hôm nay, 13 Tháng Tám năm 2011, người Ðức kỷ niệm 50 năm ngày Bức Tường Berlin được dựng lên để ngăn cản làn sóng tị nạn của người dân Ðông Ðức sang phía Tây Berlin.
Nhớ lại, ngày 13 Tháng Tám năm 1961, những người cùng tuổi tôi sống ở miền Nam đã sững sờ khi nghe tin một bức tường bê tông được xây xong trong một đêm với mục đích phân cách “vĩnh viễn” hai phần một thành phố. Nhiều người Ðức sáng tỉnh dậy thấy mình và nhà hàng xóm bỗng phải sống trong hai thế giới cách biệt!
Thế giới đã từng sững sờ kinh ngạc trước các cuộc nổi dậy ở Poznan, Ba Lan, và ở Budapest, Hungary, năm 1956. Nhưng Bức Tường Berlin càng giúp nhiều người ở miền Nam Việt Nam suy nghĩ và tỉnh táo hơn về chế độ cộng sản khi thấy một nước giầu nhất trong khối Cộng đã phải cấm cản chính người dân nước mình không cho chạy trốn! Mười bẩy triệu người Ðông Ðức đã sống trong nỗi nhục nhã đó, đã chịu đựng chế độ cộng sản hơn 40 năm, cho tới ngày bức tường sụp đổ cuối năm 1989. May mắn cho các dân tộc ở Ðông Âu là cuộc cách mạng đã được thực hiện qua những diễn biến nhanh chóng, hòa bình, không đổ máu vô ích!
Năm 1989 nghe tin biên giới được mở cửa ở trạm Boesebruecke, bà Angela Merkel còn là một giáo sư hóa học, một người dân bình thường ở Ðông Berlin. Bà nghe tin nhưng vẫn đi tắm hơi với một cô bạn, như thói quen thường ngày. Sau đó, hai bà đi uống bia, rồi Angela Merkel bình thản đi bộ từ Quận Prenzlauer Berg ở phía Ðông bước sang Quận Wedding ở phía Tây. Bà ghé vào một gia đình hoàn toàn xa lạ, và được chủ nhân mời uống trà. Chén trà tự do đầu tiên, đánh dấu sự thay đổi cuộc đời một con người và một dân tộc. Bây giờ bà Merkel đang làm thủ tướng nước Ðức thống nhất.
Bức Tường Berlin cho thấy không có gì ngăn cản được khát vọng tự do của con người. Chế độ cộng sản đã sụp đổ khi những người dân Ðông Âu và người Ðức vượt qua được nỗi sợ hãi đối với công an mật vụ, họ phục hồi được tinh thần dũng cảm vẫn tiềm tàng trong dòng máu! Chế độ độc tài đảng trị lúc đó cũng đang tự “mục ruỗng từ bên trong,” như một hình ảnh mới được báo Quân Ðội Nhân Dân ở Việt Nam nêu ra. Cảnh mục ruỗng từ bên trong thể hiện trong nền kinh tế bế tắc, cảnh nô lệ nước đàn anh Liên Xô làm mọi người Ðông Âu phẫn uất; cho đến chính những đảng viên cộng sản cũng hết tin tưởng vào lý thuyết mà họ vẫn được nhồi nhét, ai cũng chỉ tìm đường giải thoát cho chính bản thân. Các người lãnh đạo cộng sản ở Ðông Âu hoàn toàn bất lực không biết làm sao thoát cảnh trì trệ, bế tắc, mặc dù miệng vẫn hô những khẩu hiệu ròn rã!
Cảnh “mục ruỗng từ bên trong” cũng đang diễn ra ở Việt Nam. Kinh tế xuống dốc; lòng dân phẫn uất vì lạm phát; căm giận vì biển, đảo, đất đai bị Trung Cộng lấn chiếm; và dân Việt Nam đã hết sợ công an mật vụ! Ðông Ðức ngày xưa lệ thuộc Liên Xô. Cộng sản Việt Nam đã lệ thuộc Trung Quốc từ hai chục năm nay giờ cũng không dám đàn áp các cuộc biểu tình, chính họ run sợ trước lòng yêu nước sôi sục của các thanh niên, trí thức ở Hà Nội, Sài Gòn. Như Luật Sư Lê Quốc Quân ở Việt Nam mới viết: “Ðảng cộng sản không thể cầm quyền mãi được và ‘nền chính trị ngoại tình’ này đến lúc phải chấm dứt.”
Như nhà báo Huy Ðức mới nhận xét: “Việt Nam, xét về bản chất, không còn là một quốc gia cộng sản mà chỉ là quốc gia độc đảng.” Tuy nhiên, chế độ Nguyễn Tấn Dũng ở Việt Nam bây giờ cũng sử dụng một guồng máy đàn áp không khác gì chế độ ở Ðông Ðức trước năm 1998. Bọn học trò ở Việt Nam bây giờ chỉ khôn ngoan hơn các vị thầy ở Nga Xô và Ðông Ðức ngày xưa trong kỹ thuật bóc lột. Họ dùng kinh tế thị trường để tận dụng sức lao động của người dân, làm giầu cho chính bản thân và băng đảng một cách tinh vi hơn!
Bế tắc về kinh tế đã kéo dài mấy năm liền. Bế tắc làm khổ dân, không làm cho các người lãnh đạo đảng cộng sản thay đổi. Lạm phát là hiện tượng dễ thấy nhất. Nhà báo Huy Ðức mới nhắc nhở: “Nhớ cái Tết 2006, mấy tháng trước khi ông (Dũng) nhậm chức, tô phở 15,000 đồng đã bị báo chí la làng (là đắt quá). Bây giờ tô phở cùng loại đã là 50,000 đồng.” Ở một nước tự do dân chủ thì giá tô phở tăng như vậy đủ lật đổ vài ông thủ tướng!
Báo Dân Trí than: “Giá thực phẩm tăng vọt từng ngày.” Một mạng lưới về kinh tế viết: “Hầu hết các loại thực phẩm tươi sống đều tăng giá cao ngất ngưởng trong thời gian qua, đặc biệt giá thịt lợn đã vượt quá sức chịu đựng của người tiêu dùng.”
Giá thực phẩm đã tăng gần gấp đôi trong một năm, từ tháng 6 năm ngoái. Ðối với các quan chức nhà nước và các nhà tư bản đỏ thì tiền mua thực phẩm chỉ đáng 2%, 3% lợi tức, thu nhập của họ, chẳng đáng là bao. Nhưng đối với 70 triệu người dân thường thì tiền mua thức ăn chiếm đến 80% lương bổng của họ. Lạm phát chính là một phương pháp “phân phối lại lợi tức và tài sản” từ tay toàn dân sang tay một nhóm người được ưu đãi.
Cuốn sách Danh Từ Kinh Tế, do nhà xuất bản Sự Thật in năm 1986, ở trang 194 giải thích “Lạm phát” là một “hiện tượng không lành mạnh của nền kinh tế... nó là phương tiện để phân phối lại thu nhập quốc dân và của cải xã hội có lợi cho giai cấp thống trị, là phương pháp để tư bản tăng cường bóc lột lao động... Do lạm phát mà giai cấp công nhân bị thiệt hại hơn cả, vì khi tiền giấy bị mất giá, giá cả hàng tiêu dùng tăng nhanh hơn tiền lương...” Trong một năm giá thực phẩm tăng 100% nhưng lương trung bình của người lao động chỉ được phép tăng theo lạm phát, nếu đình công tranh đấu. Mà số thống kê của nhà nước báo tin lạm phát chỉ là 20.82%, cho nên lương tăng lên nhiều nhất cũng chỉ được 21%! Trong khi đó trong đời sống thật của người dân thì tỷ lệ lạm phát thật sự cao gấp ba, bốn lần. Khi nhà nước dùng một con số nhỏ để che đậy cơn sốt lạm phát, họ đã tiếp tay với các nhà tư bản, trong nước và nước ngoài, để bắt dân lao động chỉ được tăng mức lương nhiều nhất là 21%! Ðó là hệ thống kinh tế mà chính quyền Nguyễn Tấn Dũng hiện nay đang sử dụng từ mấy năm nay. Họ bóc lột người lao động từ năm này sang năm khác và nâng cao địa vị của giai cấp thống trị, trong đó có các công ty ngoại quốc. Tất cả hệ thống ngân hàng được dùng để bóc lột dân chúng. Người dân gửi tiền vào ngân hàng được trả lãi chỉ bằng nửa tỷ lệ lạm phát thật hay chỉ bằng một phần ba! Gửi 100 đồng, năm sau được trả 10 đồng nhưng nếu lạm phát trên 30% thì giá trị của 110 đồng năm nay chỉ mua được những hàng tiêu dùng trị giá 80 đồng năm trước; tức là người dân đã bị nhà nước cướp mất 20 đồng! Cuối cùng, Ðổi Mới Kinh Tế chính là đổi mới phương pháp bóc lột, có hệ thống tinh vi hơn thời cộng sản cũ! Trong khi toàn dân đang lo lạm phát thì các quan chức lớn và các nhà tư bản đỏ vẫn chuyển tiền ra ngoại quốc, vẫn đi đánh bài ở casino bên Campuchia. Và nền sản xuất trong nước vẫn đang bị hàng nhập cảng lậu từ Trung Quốc sang đè bẹp.
Nhà báo Huy Ðức nhấn mạnh: “Trong cái chính thể do Ðảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo, Nguyễn Tấn Dũng là vị thủ tướng có nhiều quyền lực nhất.” Ðiều này người dân cũng biết. Chính Nguyễn Tấn Dũng đã thu góp tất cả các doanh nghiệp nhà nước vào trong tay mình, sau khi dùng danh từ mới cho giống thuật ngữ Trung Hoa là “tập đoàn kinh tế.” Một tập đoàn như Vinashin đã làm thất thoát hàng tỷ Mỹ kim, nhưng địa vị của Dũng vẫn không ai lay chuyển được. Sau kỳ bầu bán trong đại hội đảng Cộng Sản năm ngoái, Nguyễn Tấn Dũng đã củng cố quyền lực đặt được bốn năm người cùng băng đảng vào trong Bộ Chính Trị; đem thêm bốn người vào trong nội các mới; và cái chính phủ mới vẫn loay hoay không tìm được con đường nào mới cho kinh tế quốc dân. Vì họ phải bám lấy kinh tế quốc doanh để bảo vệ băng đảng. Vì họ không thoát được sự khống chế của Trung Cộng trong Huy Ðức mô tả: “Kinh tế quốc doanh vì thế đã tiếp tục được bú bầu sữa từ độc quyền khai thác tài nguyên, độc quyền các thương quyền, đến được ưu đãi hơn về tín dụng.”
Dân Ðông Ðức đã nhịn nhục 40 năm trước khi Bức Tường Berlin bị phá đổ. Hiện nay đảng Cộng Sản Việt Nam cũng đang sử dụng một Bức Tường Berlin khác. Ðó là những phương pháp bịt kín dư luận, bao vây các nhà báo (tự do hay không được tự do), ngăn chặn các mạng lưới thông tin. Chính các nhà báo Việt Nam đang bị đảng Cộng Sản nắm đầu, bị chỉ đạo hàng ngày, phải tìm cách xé rào, phá vỡ, giật đổ cái bức tường này thì dân tộc mới được tự do như người dân ở Ðông Ðức trước đây! Phải cứu đồng bào thoát khỏi bức tường vô hình đang kiểm soát đầu óc của 83 triệu con người!
Nhà báo Vũ Ðông Hà mới viết trên Blog Dân làm Báo: “Tội ác lớn nhất của một triều đại không hẳn là đốt sách, giết người hay làm cho đất nước trở nên nghèo khó, mà là làm cho cả một dân tộc trở nên hèn nhát, ích kỷ và mê muội.” Người Việt Nam không thể chấp nhận một triều đại như vậy tiếp tục đè đầu cưỡi cổ toàn dân sau khi dân đã phải chịu đựng suốt bao nhiêu năm nay!
Xã hội dân sự lừng lững tiến bước
Bùi Tín
(Nguồn: VOA)
Ðã qua 9 Chủ Nhật, xã hội Việt Nam đã quen dần với những cuộc biểu tình định kỳ. Xưa kia đã có những cuộc biểu tình lớn,
do đảng và nhà nước chủ trương, già trẻ lớn bé đi là bắt buộc.

Biểu tình tại Hà Nội chống Trung Quốc xâm lược biển đảo Việt Nam, ngày 7 Tháng Tám. (Hình: Blog Nguyễn Xuân Diện)
Nay là biểu tình, tuần hành của công dân, của những người yêu nước, khi tổ quốc lâm nguy, nêu cao ý chí bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của đất nước.
Trải qua 9 cuộc đấu tranh, rõ ràng xã hội dân sự nước ta đang lừng lững bước tới - theo cách nói của nhà văn hóa Nguyên Ngọc - với xu hướng phát triển từng bước. Từ những con số 200, 400, số người tham gia đã có lúc lên đến 1,000 rồi hơn 2,000, nếu kể cả những người tham gia tuần hành từ đầu đến cuối, cộng với những người tham gia từng đoạn, từng nơi tập trung. Nếu kể cả người dân phố hai bên đường vẫy tay, vỗ tay, hô khẩu hiệu hưởng ứng, con số còn lớn hơn.
Khí thế tuần hành cũng có xu thế cao dần, các cờ, khẩu hiệu nhiều hơn, sát thực tế hơn, to đẹp hơn. Các bài hát đồng ca cũng nhiều hơn, truyền cảm hơn, vang động hơn.
Hình ảnh truyền đi thật hấp dẫn. Những cô gái mặc áo dài duyên dáng, nét mặt cương nghị, có cụ bà 90 tuổi, cụ ông 90 tuổi bên các cháu nhỏ kháu khỉnh, có người cha công kênh con nhỏ trên vai, hai vợ chồng sát cánh nhau, có lão nghệ sỹ kéo đàn bên anh thanh niên gảy nhịp ghi-ta, có các bạn từ Sài Gòn, Nha Trang, Huế, Hải Phòng đến dự; có các cô gái hàng Ðào ra tặng hoa, có chàng trai hàng Bài mang từng két nước ra mời và chung lời hô khẩu hiệu, có cảnh đưa tặng hoa sen cho anh công an, làm cho không khí êm dịu, chan hòa.
Bên cạnh những trí thức, giáo sư, luật sư, nhà văn, nhà thơ, nhà báo có uy tín xã hội, là đông đảo sinh viên, học sinh, thanh niên, bên cạnh đảng viên CS lâu năm là đảng viên trẻ, là đoàn viên thanh niên, sát cánh cùng người ngoài đảng, làm cho các cuộc biểu tình tuần hành thêm đa dạng, tiêu biểu cho mọi tầng lớp xã hội.
Những người chung sức nhen nhóm các cuộc biểu tình yêu nước đang chuẩn bị cho cuộc biểu tình thứ X vào Chủ Nhật 14 tháng 8 tới đây.
Từ trong nước đã có nhiều góp ý xây dựng cho cuộc xuống đường này, do đó bà con ta trong và ngoài nước có thể hy vọng rằng cuộc biểu tình thứ X sẽ diễn ra vượt trội tất cả các cuộc tập trung trước đây. Các blog có uy tín nhất trong nước như blog Dân Làm Báo -Có 2 vạn độc giả vào xem trong một ngày - vừa thông tin cho biết:
- Cuộc biểu tình lần thứ X sẽ nêu bật nguy cơ khẩn cấp, báo động đỏ: Phía Trung Quốc đang tập trung bộ binh quy mô lớn áp sát biên giới Việt-Trung ở phía Bắc; họ đang đưa dàn khoan dầu khổng lồ vào vùng biển Hoàng Sa, Trường Sa; họ chính thức báo tin trong tháng 8 này, sẽ đưa tàu sân bay Tinh Lang của họ vào vùng biển Ðông. Họ đang nắn gân chính quyền và nhân dân ta. Cuộc biểu tình lớn 14-8 sẽ trả lời thách thức nghiêm trọng ấy.
-Hàng vạn áo in hình No - U cắt lưỡi bò sẽ được mặc và phát rộng rãi, tặng cả các quan chức và ngành công an;
-Hàng triệu truyền đơn yêu nước in đẹp, nhiều khổ lớn nhỏ sẽ được tán phát, đặc biệt những bài viết đặc sắc của các nhà văn, nhà thơ, nhà văn hóa như Nguyên Ngọc, Võ Thị Hảo, Thùy Linh, Ðỗ Trung Quân... về các cuộc biểu tình yêu nước sẽ được tán phát rộng. Những bài của Người Buôn Gió trong Ðại Việt Chí Dị liên quan đến các cuộc biểu tình yêu nước sẽ được tán phát trong dịp này.
Sẽ có thể có một số cựu chiến binh và công an tham dự.
Nhân dịp này, các mạng thông tin yêu nước nhấn mạnh lời tuyên bố danh dự của giám đốc công an thủ đô là không có chủ trương đàn áp, đánh đập những người biểu tình yêu nước, và biểu dương đại biểu Quốc Hội Dương Trung Quốc đã nói rõ trước Quốc Hội là các cuộc biểu tình yêu nước là rất cần thiết và chính đáng.
Lần biểu tình thứ X này, nhiều ý kiến yêu cầu người biểu tình báo trước hành trình và thời gian cụ thể của cuộc tuần hành để yêu cầu công an và cảnh sát giao thông bảo vệ đoàn dân biểu tình sẽ đàng hoàng đi xuống lòng đường, đúng như tập quán đã thành nề nếp ở các nước văn minh như Hoa Kỳ, Pháp, Ý, Ðức, hay như ở Thái Lan, Philippines ở gần ta. Không có lý do gì các cuộc biểu tình lớn đầy chính nghĩa, đàng hoàng của những công dân yêu nước lại bị dẹp lên vỉa hè.
Ngay sau cuộc biểu tình lần thứ X, sẽ có đại diện công dân yêu nước đưa kiến nghị đến các cơ quan, bộ, ngành liên quan, yêu cầu Bộ Ðầu Tư và Bộ Công Thương xem xét trong hoàn cảnh chính trị hiện nay, để cho một công ty lớn quốc doanh Trung Quốc trúng thầu xây dựng nhà máy nhiệt điện Trà Vinh trị giá 1.3 tỷ đôla có phù hợp hay không? Kiến nghị này cũng sẽ yêu cầu Bộ Lao Ðộng cho biết đã giải quyết đến đâu việc hàng vạn lao động phổ thông, không chuyên nghiệp Trung Quốc, đến đầy các công trường địa phương, không có giấy tờ hợp pháp giữa lúc dân ta không có công ăn việc làm.
Xã hội dân sự Việt Nam đang lừng lững, đĩnh đạc bước tới phía trước, trong sự thức tỉnh của toàn dân, trong sự quan sát có nhiều thiện cảm của thế giới tiến bộ, trong sự khuyến khích quý mến của cộng đồng Việt Nam ở khắp nơi.
Các cuộc đấu tranh vài chục người dễ bị dập tắt. Lên đến hàng trăm, vài ba trăm, bộ máy đàn áp có thể chia cắt rồi dập tắt. Nhưng khi lên đến 700, 800 công dân sát cánh, đầy khí thế, bộ máy đàn áp đã cảm thấy đuối sức và e ngại. Khi lên đến hàng ngàn, rồi là có thể lên đến vài ngàn, sức mạnh tinh thần của những người có tâm huyết, chỉ có biểu ngữ, truyền đơn yêu nước, bó hoa trong tay, sẽ trở nên tất thắng.
Tháng Tám Mùa Thu, hoa phượng đỏ rực khắp thủ đô Thăng Long-Hà Nội, từ ngoài Bắc vào trong Nam, mùa nghỉ hè rỗi rãi của học sinh, sinh viên, nhà giáo, sau 9 cuộc tập dượt biểu tình bền bỉ, định kỳ, xin chân thành chúc cuộc xuống đường lần thứ X đưa xã hội dân sự Việt Nam trưởng thành lên một nấc mới.
Vận nước bĩ rồi lại thái là thế. Hồn thiêng sông núi luôn phù hộ những người con quý yêu là thế. Cục diện quê hương thế cùng tất biến cũng là thế.
Tự do không ai cho không, không tự do mà có - Freedom is not free, câu châm ngôn hay. Xin biết ơn các bạn đang nô nức chuẩn bị xuống đường ngày 14 tháng 8 này.
Xã hội dân sự Việt Nam vượt qua mọi thách thức đang lừng lững bước tới phía trước.
Bùi Tín
(Nguồn: VOA)
Ðã qua 9 Chủ Nhật, xã hội Việt Nam đã quen dần với những cuộc biểu tình định kỳ. Xưa kia đã có những cuộc biểu tình lớn,
do đảng và nhà nước chủ trương, già trẻ lớn bé đi là bắt buộc.

Biểu tình tại Hà Nội chống Trung Quốc xâm lược biển đảo Việt Nam, ngày 7 Tháng Tám. (Hình: Blog Nguyễn Xuân Diện)
Nay là biểu tình, tuần hành của công dân, của những người yêu nước, khi tổ quốc lâm nguy, nêu cao ý chí bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của đất nước.
Trải qua 9 cuộc đấu tranh, rõ ràng xã hội dân sự nước ta đang lừng lững bước tới - theo cách nói của nhà văn hóa Nguyên Ngọc - với xu hướng phát triển từng bước. Từ những con số 200, 400, số người tham gia đã có lúc lên đến 1,000 rồi hơn 2,000, nếu kể cả những người tham gia tuần hành từ đầu đến cuối, cộng với những người tham gia từng đoạn, từng nơi tập trung. Nếu kể cả người dân phố hai bên đường vẫy tay, vỗ tay, hô khẩu hiệu hưởng ứng, con số còn lớn hơn.
Khí thế tuần hành cũng có xu thế cao dần, các cờ, khẩu hiệu nhiều hơn, sát thực tế hơn, to đẹp hơn. Các bài hát đồng ca cũng nhiều hơn, truyền cảm hơn, vang động hơn.
Hình ảnh truyền đi thật hấp dẫn. Những cô gái mặc áo dài duyên dáng, nét mặt cương nghị, có cụ bà 90 tuổi, cụ ông 90 tuổi bên các cháu nhỏ kháu khỉnh, có người cha công kênh con nhỏ trên vai, hai vợ chồng sát cánh nhau, có lão nghệ sỹ kéo đàn bên anh thanh niên gảy nhịp ghi-ta, có các bạn từ Sài Gòn, Nha Trang, Huế, Hải Phòng đến dự; có các cô gái hàng Ðào ra tặng hoa, có chàng trai hàng Bài mang từng két nước ra mời và chung lời hô khẩu hiệu, có cảnh đưa tặng hoa sen cho anh công an, làm cho không khí êm dịu, chan hòa.
Bên cạnh những trí thức, giáo sư, luật sư, nhà văn, nhà thơ, nhà báo có uy tín xã hội, là đông đảo sinh viên, học sinh, thanh niên, bên cạnh đảng viên CS lâu năm là đảng viên trẻ, là đoàn viên thanh niên, sát cánh cùng người ngoài đảng, làm cho các cuộc biểu tình tuần hành thêm đa dạng, tiêu biểu cho mọi tầng lớp xã hội.
Những người chung sức nhen nhóm các cuộc biểu tình yêu nước đang chuẩn bị cho cuộc biểu tình thứ X vào Chủ Nhật 14 tháng 8 tới đây.
Từ trong nước đã có nhiều góp ý xây dựng cho cuộc xuống đường này, do đó bà con ta trong và ngoài nước có thể hy vọng rằng cuộc biểu tình thứ X sẽ diễn ra vượt trội tất cả các cuộc tập trung trước đây. Các blog có uy tín nhất trong nước như blog Dân Làm Báo -Có 2 vạn độc giả vào xem trong một ngày - vừa thông tin cho biết:
- Cuộc biểu tình lần thứ X sẽ nêu bật nguy cơ khẩn cấp, báo động đỏ: Phía Trung Quốc đang tập trung bộ binh quy mô lớn áp sát biên giới Việt-Trung ở phía Bắc; họ đang đưa dàn khoan dầu khổng lồ vào vùng biển Hoàng Sa, Trường Sa; họ chính thức báo tin trong tháng 8 này, sẽ đưa tàu sân bay Tinh Lang của họ vào vùng biển Ðông. Họ đang nắn gân chính quyền và nhân dân ta. Cuộc biểu tình lớn 14-8 sẽ trả lời thách thức nghiêm trọng ấy.
-Hàng vạn áo in hình No - U cắt lưỡi bò sẽ được mặc và phát rộng rãi, tặng cả các quan chức và ngành công an;
-Hàng triệu truyền đơn yêu nước in đẹp, nhiều khổ lớn nhỏ sẽ được tán phát, đặc biệt những bài viết đặc sắc của các nhà văn, nhà thơ, nhà văn hóa như Nguyên Ngọc, Võ Thị Hảo, Thùy Linh, Ðỗ Trung Quân... về các cuộc biểu tình yêu nước sẽ được tán phát rộng. Những bài của Người Buôn Gió trong Ðại Việt Chí Dị liên quan đến các cuộc biểu tình yêu nước sẽ được tán phát trong dịp này.
Sẽ có thể có một số cựu chiến binh và công an tham dự.
Nhân dịp này, các mạng thông tin yêu nước nhấn mạnh lời tuyên bố danh dự của giám đốc công an thủ đô là không có chủ trương đàn áp, đánh đập những người biểu tình yêu nước, và biểu dương đại biểu Quốc Hội Dương Trung Quốc đã nói rõ trước Quốc Hội là các cuộc biểu tình yêu nước là rất cần thiết và chính đáng.
Lần biểu tình thứ X này, nhiều ý kiến yêu cầu người biểu tình báo trước hành trình và thời gian cụ thể của cuộc tuần hành để yêu cầu công an và cảnh sát giao thông bảo vệ đoàn dân biểu tình sẽ đàng hoàng đi xuống lòng đường, đúng như tập quán đã thành nề nếp ở các nước văn minh như Hoa Kỳ, Pháp, Ý, Ðức, hay như ở Thái Lan, Philippines ở gần ta. Không có lý do gì các cuộc biểu tình lớn đầy chính nghĩa, đàng hoàng của những công dân yêu nước lại bị dẹp lên vỉa hè.
Ngay sau cuộc biểu tình lần thứ X, sẽ có đại diện công dân yêu nước đưa kiến nghị đến các cơ quan, bộ, ngành liên quan, yêu cầu Bộ Ðầu Tư và Bộ Công Thương xem xét trong hoàn cảnh chính trị hiện nay, để cho một công ty lớn quốc doanh Trung Quốc trúng thầu xây dựng nhà máy nhiệt điện Trà Vinh trị giá 1.3 tỷ đôla có phù hợp hay không? Kiến nghị này cũng sẽ yêu cầu Bộ Lao Ðộng cho biết đã giải quyết đến đâu việc hàng vạn lao động phổ thông, không chuyên nghiệp Trung Quốc, đến đầy các công trường địa phương, không có giấy tờ hợp pháp giữa lúc dân ta không có công ăn việc làm.
Xã hội dân sự Việt Nam đang lừng lững, đĩnh đạc bước tới phía trước, trong sự thức tỉnh của toàn dân, trong sự quan sát có nhiều thiện cảm của thế giới tiến bộ, trong sự khuyến khích quý mến của cộng đồng Việt Nam ở khắp nơi.
Các cuộc đấu tranh vài chục người dễ bị dập tắt. Lên đến hàng trăm, vài ba trăm, bộ máy đàn áp có thể chia cắt rồi dập tắt. Nhưng khi lên đến 700, 800 công dân sát cánh, đầy khí thế, bộ máy đàn áp đã cảm thấy đuối sức và e ngại. Khi lên đến hàng ngàn, rồi là có thể lên đến vài ngàn, sức mạnh tinh thần của những người có tâm huyết, chỉ có biểu ngữ, truyền đơn yêu nước, bó hoa trong tay, sẽ trở nên tất thắng.
Tháng Tám Mùa Thu, hoa phượng đỏ rực khắp thủ đô Thăng Long-Hà Nội, từ ngoài Bắc vào trong Nam, mùa nghỉ hè rỗi rãi của học sinh, sinh viên, nhà giáo, sau 9 cuộc tập dượt biểu tình bền bỉ, định kỳ, xin chân thành chúc cuộc xuống đường lần thứ X đưa xã hội dân sự Việt Nam trưởng thành lên một nấc mới.
Vận nước bĩ rồi lại thái là thế. Hồn thiêng sông núi luôn phù hộ những người con quý yêu là thế. Cục diện quê hương thế cùng tất biến cũng là thế.
Tự do không ai cho không, không tự do mà có - Freedom is not free, câu châm ngôn hay. Xin biết ơn các bạn đang nô nức chuẩn bị xuống đường ngày 14 tháng 8 này.
Xã hội dân sự Việt Nam vượt qua mọi thách thức đang lừng lững bước tới phía trước.

Nhớ Thầy Nguyễn Ngọc Huy
Lần giỗ thứ 21, tại San Jose,
ngày 6 tháng 8, năm 2011.
Trưa ngày thứ Bảy, 06 tháng 8, 2011 hội trường của Trung Tâm Văn Hóa Việt Mỹ, tọa lạc tại 2290 Tully Road, San Jose, đầy ắp quan khách tham dự. Đảng Tân Đại Việt do bác sĩ Mã Xái lãnh đạo, cùng các tổ chức bạn như Đại Gia Đình Nguyễn Ngọc Huy, Nguyễn Ngọc Huy Foundation, Đại Việt Quốc Dân Đảng, Liên Minh Dân Chủ Việt Nam, Ủy Ban Hoàng Sa, Liên Đoàn Cử Tri Bắc Cali và Hội Cao Niên Diên Hồng đã tổ chức Lễ Tưởng Niệm Cố Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy thật trọng thể, cùng một hội luận chính trị sau đó, trong bài viết Thư Cho Con, Giáo sư Trần Minh Xuân ghi nhận những chi tiết về buổi lễ này. Tôi xin trích đoạn mà ông đã viết như sau:
"...nghi thức tưởng niệm lần thứ 21 cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy qua đời được bắt đầu với phần niệm hương trước bàn thờ Tổ Quốc có thiết đặt di ảnh người quá cố và ông Hoài Sơn Ung Ngọc Nghĩa [xem hình] được mời lên diễn đàn kể lại cuộc đời và sự nghiệp đấu tranh cho một nước Việt Nam Ðộc lập, Tự do, Dân chủ Hiến định và Pháp trị của cố Giáo sư. Ðược biết ông Hoài Sơn là người bạn sát cánh đấu tranh với cố Giáo sư kể từ ngày đầu hai người tham gia Ðảng Ðại Việt do Ðảng trưởng Trương Tử Anh lãnh đạo. Ông nói:
“Giáo Sư Huy sanh năm 1924, mất năm 1990, thọ 66 tuổi. Trong 66 năm của cuộc đời, ông đã tranh đấu liên tiếp không ngừng trong 45 năm trời, từ năm 1945 đến năm 1990, năm ông lìa đời. Vì ông là người có tài, có đức, có chí lớn, lại tranh đấu lâu năm như vậy nên các đồng chí và các môn sinh của ông rất đổi kính phục ông. Vì đó, năm nào đến ngày giỗ của ông, họ cũng đều làm lễ tưởng niệm rất trọng thể, không những tại trong nước, tại Hoa Kỳ, tại Canada, tại Âu Châu, mà cả tại Úc Châu nữa”..."
Thật vậy, Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy là một nhà ái quốc, một chí sĩ suốt đời phục vụ những lý tưởng cho dân tộc Việt Nam, những điều tốt về ông đã được các học giả, các sử gia, các bình luận gia hay các đồng chí của ông đề cập khá nhiều. Bài viết này nhằm tổng hợp đôi nét chính do các tác giả Trần Nguyên, Nhữ Đình Hùng, Trần Minh Xuân, Mai Thanh Truyết và Phan Văn Song đã nhận định về ông.
Tôi có dịp học môn chính trị học do Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy diễn giảng tại đại học Kinh Tế và Thương Mại Minh Đức, cảm nhận lãng vãng trong trí nhớ của tôi về người thầy cũ này là ông có nụ cười hiền hòa, là một nhà hùng biện với kiến thức uyên thâm, say mê diễn giảng rất suôn sẽ những bài giảng, những sinh viên chúng tôi im lặng chăm chú nghe ông nói, ông có trí nhớ dai, những sự kiện về chính trị Việt Nam và thế giới, ông am tường như bộ nhớ của máy điện toán, khi chúng tôi trò chuyện hay nêu lên những thắc mắc, ông thân thiện giải đáp hay thảo luận rất cởi mở. Năm 1990 Giáo Sư Huy qua đời ở Pháp khi sang tham dự buổi họp quan trọng của Liên Minh Dân Chủ Việt Nam do ông thành lập, năm nay nhân lễ kỷ niệm lần thứ 21, tôi cùng các bạn đồng môn Cao Thái Hải và Lưu Tấn Xuân tham dự lễ giỗ tại Bắc Cali và thắp nhang để tưởng nhớ đến vị thầy khả kính, người đã cống hiến trọn cuộc đời cho quốc gia và dân tộc Việt Nam. Điểm cần nêu lên thầy Huy còn là một nhà văn biên khảo, viết khảo luận về những chủ đề chính trị, luật pháp, xã hội,... và làm thơ dưới thi hiệu Đằng Phương. Thầy Huy tham gia chính trị năm 21 tuổi, thơ ông nói lên bầu nhiệt huyết vì quê hương, những khát vọng như lẽ sống của tuổi trẻ đấu tranh cho sự tự do, nhân quyền và dân chủ cho nước nhà, thơ rằng:
"Tranh đấu cho dân tộc sống còn,
Liều mình để phục vụ giang sơn !
Đó là lẽ sống người trai Việt,
Muôn thuở không sờn dạ sắt son"
Bốn câu thơ trên trong bài Lẽ sống, được trích ra từ Tập thơ Hồn Việt. Trong cùng thi tập này ông cho những dòng thơ gởi các bạn đồng lý tưởng, ông kêu gọi mọi người hãy chung tay vì đại cuộc:
“Hỡi những bạn đồng hành chung lý tưởng,
Chung nguyện thề, chung ước vọng cùng nhau,
Hồn mân mê một mục đích cao sâu,
Lòng dào dạt một mối tình sông núi"
Tham khảo bài viết "Nhân tài xứ bưởi Biên Hòa: Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy" của tác giả Trần Nguyên cho phần tiểu sử của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy như sau:
"Ông sanh vào ngày 2 tháng 11 năm 1924, quê tại Mỹ Lộc, quận Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa.
Văn bằng:
- 1963: Tiến Sĩ Chánh Trị Học, Trường Đại Học Luật Khoa & Kinh Tế Paris. Luận án: “Đề tài người ưu tú trong tư tưởng chánh trị Trung Quốc cổ thời”
- 1960: Cao Học Chánh Trị, Trường Đại Học Luật Khoa & Kinh Tế Paris.
- 1959: Cử Nhơn Luật Khoa và Kinh Tế, Viện Đại Học Paris.
- Tốt nghiệp Viện Nghiên Cứu Chánh Trị Đại Học Paris.
- Tự học thi đậu bằng Tú Tài.
- Học sinh trường Pétrus Trương Vĩnh Ký, thi đậu bằng Trung Học. Một trong học sinh đậu xuất sắc nhứt tại Đông Dương (xem phim tài liệu về Thân Thế & Sự Nghiệp Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy / Câu Lạc Bộ Đằng Phương thực hiện năm 2007).
Chức vụ:
* Trong Ngành Giảng Huấn:
- Từ 1976: Phụ Khảo tại Trường Đại Học Luật Khoa Harvard (Hoa Kỳ).
- 1965-1975: Giáo Sư Chánh Trị Học và Luật Hiến Pháp ở Học Viện Quốc Gia Hành Chánh tại Sài Gòn, Trường Đại Học Luật Khoa và Khoa Học Xã Hội tại Cần Thơ, Trường Đại Học Sư Phạm tại Sài Gòn, Trường Đại Học Luật Khoa tại Huế. Ngoài ra còn giảng dạy tại các Trường Đại Học Đà Lạt, Vạn Hạnh, Minh Đức, Minh Trí... và ở Trường Cao Đẳng Quốc Phòng, Trường Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp, Trường Đại Học Chiến Tranh Chánh Trị.
- 1967-1968: Khoa Trưởng Luật Khoa và Khoa Học Xã Hội tại Cần Thơ.
Trong Chánh Quyền:
- 1973 và 1968-1970: Nhơn viên phái đoàn tham dự thương thuyết Hòa Đàm Paris.
- 1967: Hội Viên Hội Đồng Dân Quân.
- 1964: Đổng Lý Văn Phòng Phủ Phó Thủ Tướng Đặc Trách Bình Định.
Hoạt Động Chánh Trị:
- Từ 1986: Hội Viên Ủy Ban Danh Dự của Ủy Ban Quốc Tế Yểm Trợ VN Tự Do.
- Từ 1981: Chủ Tịch Ủy Ban Chấp Hành Trung Ương Liên Minh Dân Chủ Việt Nam.
- 1973-1975: Đồng Chủ Tịch Liên Minh Quốc Gia Dân Chủ Xã Hội (gồm 6 đảng).
- 1969-1975: Tổng Thơ Ký Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến.
- 1964-1990: Thành lập đảng Tân Đại Việt và là lãnh đạo đảng cho đến năm 1990.
- 1945-1964: Đảng viên Đại Việt Quốc Dân Đảng và tham dự Ủy Ban Chấp Hành Trung Ương năm 1948.
Tưởng Lục:
- WHO'S WHO đông bộ Hoa Kỳ, ấn bản lần thứ 18, 1981-1982.
- Giải thưởng của Viện Đại Học Paris trao luận án Tiến sĩ xuất sắc nhất trong năm.
Chuyên Môn:
- Luật Hiến Pháp, Tư Tưởng Chánh Trị, Định Chế Chánh Trị, Bang Giao Quốc Tế.
- Thông thạo ngôn ngữ Việt, Pháp, Anh và Hán văn.
Tác phẩm:
* Tiếng Việt:
1. HỒN VIỆT, thơ, Sài Gòn, 1950, tái bản ở Paris năm 1984.
2. QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT (Quyển A), Việt Publisher, Canada, 1990.
3. DÂN TỘC SINH TỒN, chủ thuyết của Đại Việt Quốc Dân Đảng, được bổ túc, phong phú hóa và thâu nhận các nguyên tắc tự do dân chủ, (2 quyển), Sài Gòn, 1964.
4. DÂN TỘC HAY GIAI CẤP ?
5. BIỆN CHỨNG DUY XẠO LUẬN (Trào phúng).
6. CÁC ẨN SỐ CHÁNH TRỊ TRONG TIỂU THUYẾT VÕ HIỆP KIM DUNG, Thanh Phương Thư Quán, San Jose, Hoa Kỳ, 1986.
7. HÀN PHI TỬ: bản dịch ra Việt ngữ tác phẩm của Hàn Phi, nhà lý thuyết trứ danh của học phái Pháp Gia Trung Quốc, (2 quyển), Lửa Thiêng, Sài Gòn, 1974.
8. LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT CHÁNH TRỊ, Cấp Tiến, Sài Gòn, 1970-1971.
9. ĐỀ TÀI NGƯỜI ƯU TÚ TRONG TƯ TƯỞNG CHÁNH TRỊ TRUNG QUỐC CỔ THỜI, bản dịch Luận án Tiến sĩ viết bằng tiếng Pháp, Cấp Tiến, Sài Gòn, 1969.
10. Tên Họ Người Việt Nam . Mekong-Tỵnạn, California, USA
- Cùng viết với Gs Trần Minh Xuân (2 cuốn 11 và 12 trong danh sách này):
11. Hiệu đính và chú thích LỤC SÚC TRANH CÔNG. Đi tìm tác giả và dụng ý chánh trị trong tác phẩm. Mekong-Tỵnạn, California, USA, 1991.
12. HỒ CHÍ MINH: TỘI PHẠM NHƠN QUYỀN VIỆT NAM. Mekong-Tỵnạn, USA, 1992.
* Tiếng Pháp:
13. POUR UNE NOUVELLE STRATÉGIE DE DÉFENSE DU MONDE LIBRE CONTRE L'EXPANSION COMMUNISTE, Alliance Pour La Démocratie Au Vietnam, Paris, 1985.
* Tiếng Anh:
14. THE LÊ CODE: LAW IN TRADITIONAL VIETNAM, bản dịch ra tiếng Anh và chú thích bộ QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT, tục danh LUẬT HỒNG ĐỨC của nhà Lê (1428-1788), Ohio University Press, Hoa Kỳ, 1987 - cùng viết với Gs Tạ Văn Tài và Gs Trần Văn Liêm -
15. A NEW STRATEGY TO DEFEND THE FREE WORLD AGAINST COMMUNIST EXPANSION, Alliance For Democracy In Vietnam, 1985.
16. PERESTROIKA OR THE REVENGE OF MARXISM OVER LENINISM, Việt Publisher, Canada, 1990.
Cùng viết với Gs Stephen B. Young (2 cuốn 16 và 17 trong danh sách này)
17. UNDERSTANDING VIETNAM, do T.D.T. Thomason xuất bản, The Displaced Persons Center Information Service, Bussum, The Netherlands.
18. THE TRADITION OF HUMAN RIGHTS IN CHINA AND VIETNAM, Yale Southeast Asia Studies, The LẠC VIỆT Series, New Haven, CT, USA, 1990.
Bài Đăng Báo:
* Tiếng Việt:
- 1947-1990: Bài nhận định Tình Hình Thế Giới Trong Tháng Vừa Qua cùng nhiều bài báo về văn hóa & chánh trị Việt Nam trên nhiều tờ báo tiếng Việt ở trong và ngoài nước, như TỰ DO DÂN BẢN, ĐƯỜNG MỚI, MEKONG-TỴNẠN, SAIGON, THẰNG MÕ, HỒN VIÊT, HƯỚNG VIỆT, DIỄN ĐÀN VIỆT NAM, CẤP TIẾN, DÂN QUYỀN, LỬA THIÊNG, QUỐC PHÒNG, ĐUỐC VIỆT, THANH NIÊN ...
* Tiếng Pháp:
- LA FRANCE ET LE VIETNAMIEN PARTISAN DE LA DÉMOCRATIE LIBÉRALE, trong ĐƯỜNG MỚI, Pháp Quốc, số 4, 1985.
- LE CODE DES LÊ, nhận xét về bản dịch bộ luật nhà Lê ra tiếng Pháp của Ông Deloustal và về niên biểu ấn hành của bộ luật này, trong BULLETIN DE L'ÉCOLE FRANCAISE D'EXTRÊME ORIENT, Quyển LXVII, Pháp Quốc, 1980.
* Tiếng Anh:
- Cùng viết với Gs Tạ Văn Tài: THE VIETNAMESE LEGAL TEXTS, trong THE LAW OF SOUTH-EAST ASIA, Quyển 1, THE PRE-MODERN TEXTS, do M.B. Hooker xuất bản, Butterworth & Co, 1986.
- LIMITS ON STATE POWER IN TRADITIONAL CHINA AND VIETNAM, trong THE VIETNAM FORUM, Ban Nghiên Cứu Đông Nam Á Châu của Đại Học Yale, Hoa Kỳ, số 6, Hè-Thu 1985.
- THE MING CODE IN VIETNAMESE LEGAL HISTORY: ITS INFLUENCE ON THE VIETNAMESE CODES AND OTHER LEGAL DOCUMENTS, trong MING STUDIES, số 19, Thu 1984.
- ON THE PROCESS OF CODIFICATION OF THE NATIONAL DYNASTÝS PENAL LAWS, trong THE VIETNAM FORUM, Ban Nghiên Cứu Đông Nam Á Châu của Đại Học Yale, Hoa Kỳ, số 1, Đông-Xuân 1983.
- THE PENAL CODE OF VIETNAM'S LÊ DYNASTY, trong STATE AND LAW IN EAST ASIA, để kỷ niệm ngày Ông Karl Bunger trí sĩ, do Dieter Eikemeier và Herber Franke xuất bản, Otto Harrassowitz, Weisbaden, 1981. "
Trong bài viết của tác giả Nhữ Đình Hùng mang tựa "Tưởng Niệm Cố Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy" ghi nhận là về sau vì những quan điểm dị biệt nên trong nội bộ của tổ chức Đại Việt, Giáo Sư Huy đã cùng với xứ bộ miền Nam thành lập Tân Đại Việt. Kết hợp nhiều nhân sĩ, Giáo Sư Huy đã cho thành lập Phong Trào Quốc Gia CấpTiến mà lập trường của Phong Trào là ủng hộ chánh phủ quốc gia Việt Nam Cộng Hòa trong mọi nỗ lực chống Cộng Sản, tuy Phong Trào không tham chánh, nhưng có những đóng góp xây dựng và đòi hỏi chánh phủ phải thực thi dân chủ và bài trừ nạn tham nhũng, nạn bè phái trong guồng máy chánh quyền. Rồi từ năm 1965, ông làm giáo sư cho Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, phụ trách dạy môn Chánh Trị Học và Luật Hiến Pháp. Ông còn là giảng viên cho nhiều viện đại học khác như Đại Học Đà Lạt, Huế, Cần Thơ, Vạn Hạnh, Minh Đức và Đại học Sư Phạm Sài Gòn. Ông cũng được mời làm giảng viên chánh trị cho các trường quân sự như Trường Cao Đẳng Quốc Phòng, Trường Tham Mưu Cao Cấp, và Trường Đại học Chiến Tranh Chính Trị; Ông làm Khoa trưởng Trường Đại học Luật Khoa và Khoa Học Xã Hội Cần Thơ vào năm 1967, tham dự phái đoàn hoà đàm Paris 1968 và 1973. Sau khi VNCH mất, từ năm 1975 ông làm chuyên gia khảo cứu cho Viện Đại Học Harvard, tham dự việc dịch bộ luật Hồng Đức ra anh ngữ và lo việc chú thích bộ luật này. Trong khi đó, ông vẫn tiếp tục việc tranh đấu tích cực chống Cộng Sản, liên kết với các nhân sĩ, cựu đồng chí, môn đệ và những người yêu nước để thành lập Liên Minh Dân Chủ Việt Nam từ năm 1981 và liên tục hoạt động cho đến khi từ trần vào ngày thứ bảy 28/7/90 vào lúc 9giờ 30 tối tại nhà một đồng chí ở Paris, trong lúc ông đang chuẩn bị tham dự Đại hội LMDCVN thế giới kỳ I.
Những nhà đấu tranh thường bôn ba lưu lạc đó đây như Phan Bội Châu, Tạ Thu Thâu, Nguyễn An Ninh hay Trương Tử Anh, Thầy Huy cũng rầy đây mai đó, ông cổ xúy cho những nguyên tắc tự do và dân chủ hợp hiến, tránh nạn độc tài và thể chế trọng việc đề cao lãnh tụ, cá nhân ông xác định rõ lập trường không tham chính tìm kiếm địa vị, chức tước hay quyền thế trong chính quyền, theo một cách nhìn nào đó nếu ông có làm được điều gì thì như một chiến sĩ vô danh mà thôi, ông sống với cái lý tưởng cao cả của mình, hãy nghe ông tâm sự trong thơ:
“Tranh đấu cho dân tộc sống còn,
Liều mình để phục vụ giang sơn,
Đó là lẽ sống người trai Việt,
Muôn thuở không sờn dạ sắt son"
Mỗi công dân trong xã hội lựa chọn cho mình những hướng đi riêng, những lý tưởng sống riêng, Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy trưởng thành trong tấm lòng nồng nàn với quê hương, một tình yêu chân chất cho Tổ Quốc hay cho Mẹ Việt Nam theo nghĩa rộng. Những bài tham luận ưu tư về nước nhà, những vần thơ đầy ắp tình quê hương, đầy rung động với hồn Việt Nam đã được ông ký thác nỗi lòng. Cái thua thiệt của những tâm hồn hy sinh vì đại sự, khi tổ quốc đè nặng bờ vai, có thể tâm thức họ bị ray rứt phải xa lìa mẹ cha, xa xăm vợ con hay xa vắng chồng con, xa cách gia đình dù là nhỏ hay lớn, cái tình yêu nhỏ của lứa đôi phải nhường cho tình yêu lớn của quốc gia, của đại nghĩa mà bao anh hùng liệt nữ của dân tộc hay những chiến binh Việt Nam Cộng Hòa phải chấp nhận một nguyên tắc chung, dù nó tiềm ẩn từ sự chọn lựa bị ràng buộc bởi nội tâm, một qui luật bất thành văn của tình yêu quê hương đất nước. Thầy Huy của tôi làm thơ tạ lỗi với mẹ già vì phải lặn lội ly hương vì đất nước mà đã không làm tròn được chữ hiếu, hiếu đạo không tròn khiến cho con người trở nên đau khổ:
"Đời cách mạng tự bao lâu bôn tẩu,
Để mẹ già sống cực nhọc lầm than,
Trước những giòng lệ ngọc ứa chan chan,
Lòng con há dửng dưng không cảm xúc,
Nhưng cũng đã trót làm cho mẹ khóc”
Thầy Huy bộc bạch ý tưởng tiếp trong "Lời nguyện cầu của những kẻ làm cho Mẹ khóc":
“Và con sẽ phải làm cho mẹ khóc,
Hỡi quê hương, hỡi đất nước thân yêu,
Dầu gian truân khổ cực bao nhiêu,
Chúng tôi vẫn sẵn sàng nhận lấy,"
Tình mẫu tử này xin dành cho tình yêu non sông gấm vóc để ngày mai toàn dân Việt Nam được hưởng quang cảnh thái bình:
"Chỉ mong ước một ngày mai được thấy,
Cả non sông giống Việt hết điêu linh,
Cả toàn dân giống Việt được thanh bình,
Và chỉ dẫu một ngày hay một buổi."
Lời thơ như khẩn thiết van xin người hãy thứ lỗi cho người con nhất nguyện chốn dương trần mang lại tự do, công bình và bác ái, những lý tưởng mà Mẹ Việt Nam có lẽ đã thấu hiểu và thông cảm hơn ai hết:
"Dẫu một phút hay một giây ngắn ngủi
Được như lời nhất nguyện chốn dương trần,
Còn có cơ quì dưới gối từ thân,
Để khẩn thiết cúi xin người thứ lỗi"
GS. Phan Văn Song
Tôi xem bài viết của Giáo Sư Phan Văn Song gởi đi từ Pháp trong bài "Tháng Bảy, nhớ Chú Ba", thân phụ của Giáo Sư Song là một đồng chí chí thân với Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy, nên trong sự gần gủi đó Giáo Sư Song ghi nhận:
"Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy là nhà thơ, một nhà văn, một nhà nghiên cứu khoa học chánh trị, một nhà bình luận chánh trị, và ông cũng là một nhà giáo, và một nhà mô phạm lớn. Ngoài tài đức của một nhà mô phạm, ông lại là một lãnh đạo chánh trị biểu hiện được đức tín của người xưa.
Chính cái đạo đức, tư cách, tấm lòng, nếp sống của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy đã tạo cho các người lãnh đạo Đảng ngày nay một tấm gương sáng, để trông vào gương là cấp dưới tuân thủ mà không cần đến nghiêm lịnh.
Ngoài cái đức theo nghĩa đạo lý kia. Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy còn hội đủ những đức tánh theo quan niệm đạo lý chánh trị thời xưa: lập Đức, lập Ngôn, lập Công. Tôi đã nhiều lần nói đến đức tánh ấy của Giáo Sư. Hôm nay tôi xin lặp lại để quý đồng chí, quý chiến hữu nhớ và trông vào cái gương sáng của Người.
Lập Đức, có lẽ không một ai hoài nghi về đức độ và lòng bao dung của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy đối với chiến hữu, với bạn bè và cả với mọi người anh em quen biết xa gần.
Lập Ngôn, hay lập Thuyết phải nói đến nền tảng của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy là Dân chủ. Mà Dân chủ nào? Ông không bao giờ nói đến Dân chủ đa nguyên. Dân chủ đương nhiên là đa nguyên rồi. Dân Chủ mà ông khai triển để lập chánh thuyết cho đoàn thể của ông từ trước năm 1975 ở Việt Nam là Dân chủ Pháp trị và Dân chủ dân bản.
Còn nói về lập Công, nếu ngày trước, Đại Việt Quốc Dân Đảng đã tin tưởng và giao cho ông những chức vụ then chốt để cuối cùng ông trở thành vị lãnh đạo, thì sau ngày ra hải ngoại, ông ráo riết xây dựng một dư luận chánh trị Việt Nam cho cuộc đấu tranh giải phóng quê hương. Ông có cái nhìn tổng hợp, theo định hướng thực hiện ba yếu tố, mà người ta gọi đó là công án hay phương trình Nguyễn Ngọc Huy: hải ngoại – quốc tế – quốc nội."
Kế đến, Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết, một thành viên cốt cán trong Đại Việt Quốc Dân Đảng, đã viết bài tham luận "Kỷ niệm về Anh Ba năm 2011". Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy là người con thứ ba trong gia đình nên trong tình thân, những đàn em ông gọi ông là "anh Ba Huy". Tiến Sĩ Truyết đề cập về đảng Đại Việt và Con đường đang đi. Đại Việt nguyên thủy là mẫu số chung trước khi mẫu số chung này được chia ra 3 tổ chức, mà có thể được hiểu như sự tế phân ra 3 "hệ phái" là Đại Việt Quốc Dân Đảng, Tân Đại Việt và Đại Việt Cách Mạng Đảng.
Nếu như trên bước đường tranh đấu, vì chủ trương hay phương pháp khác nhau mà tách ra, Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy vẫn luôn luôn tôn trọng các bạn đồng hành theo đuổi chung một mục tiêu chính yếu là chống chế độ Cộng sản độc tài và cùng các đoàn thể anh em phụng sự những lợi ích chung cho quê hương dân tộc. Bài đường thi Hai Ngã trong thi tập Hồn Việt, trang 83, Thầy Huy cho thấy dù đi khác nẻo đường, khác phương thức, tình anh em cùng một Mẹ Việt Nam, vẫn chia sẻ điểm chung là phục vụ quê hương:
“Ví dẫu đang đi khác nẻo đường,
Ta cùng lo phụng sự quê hương,
Ngày mai mới biết trong hai ngã,
Đâu đã đem về được ánh dương !
Em cứ đường em, anh nẻo anh,
Miễn sao chung một ý chơn thành,
Ta cùng bền chí lo tranh đấu,
Đến lúc san hà rạng vẻ thanh”
Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết ghi nhận tiếp sự kiện của quá khứ khi Cố Đảng Trưởng Trương Tử Anh khai sáng và xây dựng Đại Việt khi Người vừa mới 25 tuổi, nhưng đã có khả năng tạo lập thuyết "Dân Tộc Sinh Tồn" (DTST) mang ý nghĩa:
"(a) để làm khung cho nền tảng lý luận,
(b) để điều hướng hoạt động đấu tranh vững mạnh cho các mục tiêu chiến lược lâu dài, và
(d) để tạo điều kiện cho Đại Việt trường tồn đến ngày nay.
Trên trận tuyến đấu tranh chống CSVN hiện tại, Đại Việt có thể giương cao ngọn cờ DTST, đặt trên căn bản đầy tình tự dân tộc và nhân bản, làm đối lực đương đầu với chủ nghĩa CS vô thần, mị dân, với ảo tưởng dựng nên một nước VN xã hội chủ nghĩa mà ngay cả những người đề xướng ra cũng không xác định được xã hội chủ nghĩa cụ thể là gì.
Mỗi người trong chúng ta, dù có những suy nghĩ nào dị biệt đi nữa, cũng khó có thể phủ nhận được tính cách mạng đầy nhân bản của chủ thuyết DTST. Chính chủ thuyết nầy, theo quan điểm của riêng tôi, cho đến ngày hôm nay, vẫn còn là một đối trọng vững chắc, đối với ý thức hệ của chủ thuyết Cộng sản, để từ đó áp dụng vào các điều kiện thực tế Việt Nam, hầu thúc đẩy nhanh hơn tiến trình dân chủ hóa Việt Nam.
Đó là một xác quyết.
Chúng tôi muốn lập lại một lần nữa, trước tiến trình t0àn cầu hóa hiện nay, cùng với vai trò của từng quốc gia trên thế giới, dù muốn dù không, Việt Nam cần phải hội nhập vào cộng đồng nhân loại, trong đó chủ thuyết DTST có khả năng không phải để chuyển hóa, nhưng để xóa tan chủ nghĩa CS hiện đang cai trị Việt Nam."
Theo tiến trình biến hóa của sự chuyển hướng của thế giới, sự sắp xếp mới của trật tự toàn cầu hóa hậu chiến tranh lạnh, tổ chức cần có những sự đổi thay cho thích ứng mới, Tiến Sĩ Truyết cho biết tiếp:
"Thuyết Dân Tộc Sinh Tồn (DTST) là một sự chuyển hướng lớn về luận thuyết của Đại Việt. Tên tuổi của GS Huy đã đựợc nằm trong danh sách những người khai sáng và tiếp nối truyền
thống Đại Việt. GS Huy còn đã đưa ra một số điều kiện cho sự sinh tồn trong luận thuyết biến cải cùng 2 hình thức tranh đấu dựa theo hai nguyên tắc đối nội và đối ngoại. Đó là hai hình thức tranh đấu bên ngoài thân và tranh đấu bên trong, với chính nôị tâm của mình.
(a) Từ suy nghĩ trên, công cuộc tranh đấu của GS Huy được thể hiện dưới hình thức ôn hòa hay bạo động tuỳ theo trường hợp và tùy theo diễn biến của hòan cảnh chính trị quốc gia trong từng thời điểm vừa nói.
(b) Từ sự nhận định những khả năng tranh đấu vừa nói, GS Huy đã khai triển thêm thành ba bước khác nhau như 3 định luật, để rồi căn cứ theo đó mà hành xử, tuỳ theo tình huống đang xảy ra. Đó là luật sức mạnh, luật biến cải, luật hợp quần và giáo dục.
1. Luật sức mạnh, đứng trước thế phân cực mới trên thế giới, quả thật sức mạnh ngày hôm nay không còn căn cứ theo khả năng quân sự nữa, mà khả năng kinh tế mới là thước đo quyền lực tòan cầu. Thí dụ như TC với khả năng kinh tế vừa vượt qua Nhựt Bổn chiếm vị trí thứ hai sau Hoa Kỳ.
2. Luật biến cải, cũng được GS giải thích là khả năng thích nghi theo hòan cảnh và điều kiện trong tình trạng xã hội lúc bấy giờ. Trước tình thế mới ngày hôm nay, cần phải vận dụng trí óc để thẩm định tình hình, để biến cải mọi hợp tác quốc gia, thì phải dựa theo quan điểm đồng thuận và đồng lợi cho đôi bên cùng có lợi (win-win situation) mà vẫn giữ được tính chất độc lập dân tộc.
3. Luật hợp quần và giáo dục. Đây là một yếu tố nhập môn rất sơ đẳng, đã được giảng dạy từ những ngày đầu tiên của trẻ con miền Nam, trong chương trình giáo dục tiểu học, qua những câu chuyện ngụ ngôn trong sách quốc văn giáo khoa thư. Nhưng để thực hiện và áp dụng luật trên không phải dễ. Nhìn lại chính chúng ta, hiện tại bao nhiêu hệ phái của Đại Việt, đã thực sự làm suy yếu tiềm lực lớn lao của một Đảng, đã có quá trình tranh đấu lâu dài, và một thời đã được sự ngưỡng mộ và ủng hộ của đại khối dân tộc Việt Nam."
Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy cho ấn hành tập thơ Hồn Việt, người thầy tôi sáng tác những bài thơ gởi gấm tâm sự lòng về vợ con, như trong thơ văn được xem như là thơ về tình yêu gia đình, hiền nội của thầy có nhủ danh là Dương Thị Thu, biệt hiệu Ngọc Ðiệp, đã qua đời vào năm 1974 trong một tai nạn tại bãi biển Vũng Tàu. Khi Cô Huy qua đời, mặc dù lúc đó Thầy còn ở tuổi trung niên đầy danh vọng và tài hoa, nhưng Thầy vẫn ở vậy nuôi con tôn thờ hình ảnh của người vợ hiền cho đến chết. Sự thủy chung nhỏ đến sự thủy chung lớn, giữa tình yêu đôi lứa và tình yêu quê hương, thầy đã chu toàn ý nguyện của mình.
"Ví phỏng đường đời có mấy ai
Hiền thê giả biệt bởi chẳng may
Trung niên khép kín vì đạo nghĩa
Thử hỏi trần gian có mấy tay?"
(VHLA, Nén hương lòng kính thầy)
Ngạn ngữ tây phương vẫn đề cao bóng hình người đàn bà hỗ trợ cho sự thành công của người đàn ông, với Thầy Huy ắt phải là sự cô đơn trong những năm tháng dài sống bất định, bề bộn chính sự rầy đó mai đây. Trong bài thơ “Nhớ Thu”:
“Đành phải từ đây chỉ một mình,
Trên đường nhiệm vụ rộng mênh mông,
Một mình nếm hết mùi cay đắng,
Trải hết vui buồn với nhục vinh”
Trên bước đường tranh đấu bôn ba nơi hải ngoại, Thầy đa đoan công việc và không có nhiều thì giờ dành cho người con, bài thơ gởi con dường như chất chứa sự dầy xéo tâm tư như sau:
“Đức bạc tài sơ trí thấp hèn,
Nhưng đường tranh-đấu phải bon chen,
Vì Ba không thể nhìn dân tộc,
Khổ sở điêu linh dưới bạo quyền.
Việc nước đa đoan bỏ việc nhà,
Trong khi lưu lạc cõi trời xa,
Để Con đau khổ trong cô độc,
Cha đã không tròn nhiệm vụ Cha”
Nhưng rồi người con trai ấy của Thầy đã mãn phần ở Hoa-Kỳ, cùng khi ấy Thầy đã mắc chứng bệnh ung thư ngặt nghèo. Cuộc đời bề bộn quốc sự khiến Thầy không được tĩnh dưỡng đúng mức, trong những giây phút thầm kín, Thầy cho thấy qua thơ, đêm đêm cầu nguyện cho vợ, cho con:
"Và cứ đêm đêm lại nguyện cầu,
Hồn em siêu thoát cõi tiên châu,
Đợi Anh đến lúc tròn công quả,
Tìm đón Anh về tái hội nhau"
Và nhắn với người con trai cô đơn đã vắn số:
"Ba lại ngày đêm mãi khấn nguyền,
Cho Con cùng Má ở non tiên,
Hoàn toàn siêu thoát và thanh thản,
Ngày tháng tiêu dao hết não phiền.
Rồi khi Ba dứt nợ trần hoàn,
Với Má, Con về lại thế gian,
Để đón Ba đi miền cực lạc,
Cùng nhau đoàn tụ hưởng thanh nhàn"
Lo cho gia đình, lo cho quê hương, những ý nghĩ hẳn làm cho Thầy Huy mỏi mệt. Điều tôi lưu ý trong tâm thức của thầy là lo lắng về vấn nạn chia rẻ, kỳ thị tôn giáo, địa phương, chủng tộc... khiến cho tập thể chúng ta khó chống chọi với sự quỷ quyệt của CSVN, kẻ thù nguy hiểm mãi u mê quyền lực khiến đất nước càng ngày càng tụt hậu, suy đồi. Bài thơ "Việt Nam Thống Nhất" trong thi tập Hồn Việt biểu lộ niềm ưu tư của Thầy. Giống nòi Việt Nam phải đoàn kết với nhau trong công cuộc đấu tranh cam go, diệt giặc trong, chống giặc ngoài:
“Mặc những âm mưu rẽ giống nòi,
Mà người cố dựng mãi không nguôi,
Người dân nước Việt luôn kiên quyết,
Nắm chặt tay nhau chẳng để rời!
Cùng một non sông một giống dòng,
Sao đành chia rẽ Bắc, Nam, Trung,
Muốn dân tộc Việt sinh tồn được,
Phải để hòa chung máu Lạc Hồng”
Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy, hay Thi Sĩ Đằng Phương nói với tuổi trẻ qua bài thơ Thanh Niên Việt Nam:
"Trong lịch sử bốn nghìn năm chiến đấu
Bốn nhìn năm lấy máu đắp giang sơn,
Bốn nghìn năm hoạt động để sinh tồn
Nòi giống Việt vẫn luôn luôn khẳng khái:
Không khuất phục kẻ thù khi thất bại,
Không kiêu căng khinh địch lúc thành công,
Trước khó khăn nguy hiểm chẳng sờn lòng,
Trong sung sướng chẳng cho tàn lữa dũng.
Trải bao luợt đương đầu cùng bão sóng,
Sau mấy lần hưng thịnh tiếp suy vong,
Sống luôn luôn mạnh mẽ, giống Tiên Rồng
Đã nổi tiếng kiêu hùng trên đất Á.
Người dân Việt với tinh thần sắt đá
Không bao giờ quên tổ quốc thiêng liêng,
Lớp này suy, lớp khác tiến ngay lên
Giữ hàng ngũ đấu tranh luôn chặt chẽ.
Trong trận đánh muôn đời không lúc nghỉ
Của giống nòi Hồng Lạc, hạng thanh niên..."
Những người trẻ, thanh niên Việt Nam hãy đứng lên đáp lời sông núi, bao thế hệ đã âm thầm luôn luôn cố gắng, đem máu xương tô điểm non sông, và nâng cao danh dự giống Tiên Rồng, hãy kiêu hãnh những trang sử Lạc Hồng:
"Từ trước đã âm thầm luôn cố gắng
Đem máu xương tô điểm cảnh non sông
Và nâng cao danh dự giống Tiên Rồng.
Thanh niên Việt từ nghìn xưa dũng mãnh
Đã xây đắp cho nước nhà cường thạnh
Đỡ giang sơn trong những lúc khuynh nguỵ
Sử Lạc Hồng từ trước đã từng ghi:
Thanh niên Việt là trụ đồng nước Việt."
Ðằng Phương Nguyễn Ngọc Huy giữ tình nghĩa thâm sâu với mọi cộng sự viên, ông được mến mộ và kính nể sau bao năm rời cõi dương thế, người người vẫn luyến tiếc, nhắc nhở ông từ tài danh đến đức độ, ông là người của quần chúng. Bút mực vẫn dành cho ông những lời trang trọng về con người của tâm đạo, của gương hy sinh cho nước nhà, của những trí tuệ uyên thâm và của những tư tưởng vì đại nghĩa, những suy tư vì tiền đồ của dân tộc:
“Suốt mấy nghìn năm giống Lạc Hồng
Đã cùng hợp sức đắp non sông,
Đã cùng chung sống trong thân ái
Và phải chung mưa nắng bão bùng”
Hiểm họa Đại Hán từ ngàn năm vẫn đe dọa chúng ta, chống giặc ngoại xâm phương bắc được nhắc nhở trong thơ:
“Dưới ách Trung Hoa mấy bạo tàn,
Tinh thần cố kết vẫn không tan,
Toàn dân hợp lực lo tranh đấu,
Cho đến khi ca khúc khải hoàn”
Những dòng cuối nói về người thầy của tôi, Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy đã suốt đời tận tụy phụng sự quốc gia, lo lắng cho sự tồn vong hay sinh tồn của dân tộc. Những ngày cuối đời Thầy vẫn chưa gác kiếm nghỉ ngơi, dù rằng cơn bệnh ung thư hoành hành đau đớn, Thầy Huy mang tâm niệm kết hợp tập thể tranh đấu cho quê hương:
"Lúc bước chân vào nẻo đấu tranh,
Trên đầu mái tóc hãy còn xanh,
Nửa đời nếm đủ mùi cay đắng,
Giấc mộng ngày xưa vẫn chửa thành"
Cho đến lúc sức yếu hơi tàn, niềm tin trong ông vẫn lạc quan cho một ngày mai Việt Nam tươi sáng, một ngày mai ca khúc khải hoàn quang phục quê hương:
"Ta hãy cười lên đón ánh dương,
Ngày mai sẽ chói rạng quê hương,
Lòng ta đã thoáng nghe văng vẳng,
Tiếng khải hoàn ca đậy phố phường"
Lời kết:
Những nhà cách mạng, những chí sĩ chọn nghiệp tranh đấu cho quê hương, vì giang sơn, vì tổ quốc, như chí sĩ Phan Bội Châu sáng lập Duy Tân Hội, và phát động Phong Trào Duy Tân chống thực dân Pháp, khi bị bắt bỏ tù, Người làm thơ chữ Nôm "Vào ngục Quảng Châu", vẫn ngạo nghễ đầy nét dí dỏm:
"Vẫn là hào kiệt vẫn phong lưu,
Chạy mỏi chân thì hãy ở tù.
Ðã khách không nhà trong bốn biển,
Lại người có tội giữa năm châu
Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế,
Mở miệng cười tan cuộc oán thù.
Thân nọ vẫn còn, còn sự nghiệp,
Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu."
Và như Đảng Trưởng Nguyễn Thái Học của Việt Nam Quốc Dân Đảng lãnh đạo cuộc Khởi nghĩa Yên Bái năm 1930. Cuộc khởi nghĩa bất thành, nhưng người hùng nước Nam cho mọi thời đại, dõng dạc kết luận những hành vi của mình không hối tiếc: "Không thành công cũng thành nhân".
Đôi dòng kết luận này như nén hương lòng kính gởi Thầy Nguyễn Ngọc Huy. Xin cám ơn Thầy, biểu tượng cho một tấm gương sáng ngời vì đại nghĩa và một tinh thần sĩ khí xả thân vì đại cuộc. Ngày 28 tháng 7 năm 1990 Thầy đã ra đi tại Paris, Pháp Quốc, Tổng Thống Hoa Kỳ George H.W. Bush đã gởi thơ chia buồn kể về Thầy: "...để lại phía sau một cuộc đời phục vụ tận tụy cho dân tộc Việt Nam... xứng đáng làm gương cho các thế hệ mai sau".
Thật vậy, Thầy là một tấm gương cho các thế hệ mai sau.
Trần Việt Hải
MỸ CHUYỂN TRỌNG TÂM CHIẾN LƯỢC VỀ Á CHÂU
VIỆT NAM NẰM Ở ĐẦU SÓNG NGỌN GIÓ
Phát biểu về quan điểm của chính quyền Obama, trợ lý ngoại trưởng Mỹ đặc trách về Châu Á Thái Bình Dương, ông Kurt Campbell, trong khuôn khổ cuộc ‘Đối Thoại Lãnh Đạo Mỹ - Úc’ vào cuối tuần qua, ngày 15/08/2011, tại Perth, đã nói rằng: “Một trong những thách thức quan trọng nhất của chính sách đối ngoại của Hoakỳ là phải tập trung nỗ lực thiết lập chính sách lâu dài tại Á Châu, thay vì chỉ lo đối đầu với những cản lực tại Trung Đông”. Ông giải thích: “Hoakỳ không chủ trương ‘xem nhẹ’ Trung Đông, nhưng quan điểm chiếm đa số hiện nay tại Washington là Hoakỳ quyết tâm dấn thân vào vùng châu Á”. Trong bối cảnh đó ông nói: “Hoakỳ đã tăng cường đối thoại với Trungquốc, nhưng không phải chỉ quan hệ với Bắckinh là quan trọng nhất”. Ông nhấn mạnh đến: “chiến lược củng cố hợp tác mật thiết với đồng minh chiến lược Úc, phục hồi quan hệ với Hiệp Hội Asean và các quốc gia thành viên chủ chốt của Đông Nam Á như Indonesia, Singapore và Việtnam cũng như Philippines”. Ông cũng bác bỏ ý kiến cho rằng Hoakỳ đang suy thoái. Cuối cùng ông nhận định về: “Các vụ Trungquốc uy hiếp tàu thuyền các nước trong khu vực trong đó có Nhậtbản, Việtnam, và cả tàu Mỹ”. Trợ lý ngoại trưởng, Kurt Campbell cho đây là: “Chính sách đối ngoại áp đặt quyền lực của Trungquốc không thể chối cãi, mà mọi người đều thấy Bắckinh thực hiện tại Biển Đông, cũng như tại nhiều nơi khác trên thế giới”.
Từ tổng thống, ngoại trưởng, bộ trường quốc phòng Mỹ, 2 năm trở lại đây, đã luân phiên khẳng định “Hoakỳ đã trở lại Á châu”, nay, đến trợ lý ngoại trưởng đặc trách về Đông Á và Thái Bình Dương, nhân vật trực tiếp thi hành chính sách của chánh phủ Mỹ tại khu vực đã nói rõ về: “quan điểm chiếm đa số hiện nay của Washington quyết tâm dấn thân vào vùng Á châu”. Trong khi đó Tầucộng thực hiện một cuộc tập trận lớn trên bộ, vào ngày 10/08/11, chưa biết ngày kết thúc, tại khu vực tự trị dân tôc Choang ở Quảng Tây, nằm sát biên giới Việtnam. Một số diễn đàn của Việtnam lấy tin từ các blogger Tầucộng về cuộc ‘di chuyển binh lính’ tới tỉnh Quảng Tây giáp ranh với Việtnam đã diễn ra từ hôm 04/08/11, với khối lượng binh lính khổng lồ bao gồm, pháo binh, bộ binh, xe thiết giáp thuộc nhiều quân khu. Các blogger Tầucộng nói tới ‘kế hoạch tấn công Việtnam’ vào cuối năm 2011. Thậm chí còn nói đây là lệnh của bộ trưởng quốc phòng Trungquốc, Lê Quang Liệt, thuộc trường phái cứng rắn đã ký. Ngày 11/08/11, bộ tư lệnh Biên Phòng Việcộng, trung tướng Trần Hoa, đã họp với 12 tỉnh biên giới phía Bắc nhằm thúc đẩy công tác bảo vệ chủ quyền biên giới.
Tầucộng thấy việc ‘dương oai diễu võ’ trên Biển Đông đã để cho thế giới nhìn rõ ‘bản mặt’ cậy mạnh hiếp yếu, cưỡng tình, đoạt lý, bất chấp công ước LHQ, chỉ làm lợi cho Hoakỳ danh chính, ngôn thuận trở lại Á châu, khiến cho các nước Đông Nam Á và Á châu, cùng toàn dư luận thế giới đều đứng về phía Mỹ. Ngay tên đồng chí đàn em Việtcộng vốn tỏ ra tận tụy với kế hoạch ‘tàm thực’ Việtnam của Tầu, cũng chuẩn bị quay gót chạy theo Mỹ. Cụ thể là báo chí ‘lề phải’ của Việtcộng đang rộ lên phong trào tố cáo tình trạng công nhân Tầu đang làm việc không giấy phép ở nhiều công trình do các hãng thầu Trungcộng tại Việtnam. Trương Tấn Sang tân chủ tịch nhà nước Việtcộng, khẳng định “Việtnam không chủ trương cho Trungquốc khai thác bôxít ở Tây Nguyên”. “Khi công trình xây dựng hoàn tất, công nhân Trungquốc sẽ rút về nước”. “và việc để cho lao động Trungquốc làm việc trái phép ở Việtnam là do cơ quan quản lý điạ phương lỏng lẻo trong kiểm tra và kiểm soát”. Thực tế thì điạ phương không dám đụng tới lông chân của các vị ‘con trời’ này. Vì từ tổng bí thư, đến bộ chính trị, chính phủ, trung ương đảng Việtcộng đều đã quỳ mọp dưới chân các lãnh tụ Bắckinh, luôn miệng hô lớn 16 chữ vàng, 4 tốt, thì cấp dưới kẻ nào dám dại dột kiểm tra, kiểm soát các vị ‘chúa Tầu’ nữa. Nhưng cuộc biểu tình của người dân Hànội ngày 14/08/11 vừa qua đã xuất hiện nhiều khẩu hiệu mới như: “Yêu nước là quyền thiêng liêng của mọi người Việtnam”. “Tổ quốc Việtnam là của 90 triệu người Việtnam, không riêng của bất kỳ ai, bất cứ nhóm người nào”. “Nhân dân có quyền được biết, được bàn về việc nước”. Phản đối Trungquốc đặt giàn khoan tại Biển Đông”. Đặc biệt hơn hết, đánh thẳng vào tử huyệt của kế hoạch ‘tằm ăn dâu’ của Tầucộng là đòi: “Trục xuất lao động bất hợp pháp Trungquốc - hiện đang có 1.3 triệu lao động Trungquốc tại Việtnam”. Đây mới chính là tiết lộ động trời gây kinh ngạc cho toàn dân và toàn thế giới về âm mưu ‘đồng hoá Việtnam của người Tầu’, phải do chính nội bộ Việtcộng xì ra thì người biểu tình mới biết. Đây mới chính là lý cớ Tầucộng phải động binh trên đất liền nhằm đe dọa đánh Việtnam một lần nữa.
Vây liệu Tầucộng có đánh Việtnam trong dịp này hay không? Nếu Tầucộng quyết đánh Việtnam là vi phạm Hiệp Ước Thượng Hải Mỹ-Tầu 1972, ký giữa tổng thống Mỹ, Richard Nixon và Chu Ân Lai, thủ tướng Trungquốc ngày 28/02/1972. Trong đó Trungquốc cam kết: “Tất cả các quốc gia lớn hay nhỏ phải được đối xử bình đẳng”. “Những quốc gia lớn không được gây tổn thương đau khổ cho những nước nhỏ”. Trungquốc không bao giờ là một siêu cường”. “Trungquốc chống lại quyền lực bá chủ và quyền chính trị dưới bất cứ hình thức nào”. Nay mà Tầucộng đánh Việtnam là trắng trợn gây tổn thương đau khổ cho một nước nhỏ. Tức là vi phạm hiệp ước ký với Mỹ. Chính phủ và Quốc Hội Hoakỳ không thể làm ngơ. Sở dĩ năm 1979, Đặng Tiểu Bình xua quân tràn sang biên giới Việtnam, chỉ dám tuyên bố “dậy cho Việtnam một bài học” trong vòng 1 tháng, mà trước đó họ Đặng đã phải sang Mỹ thăm dò phản ứng của chính giới Hoakỳ. Lúc bấy giờ, Việtcộng đang là đàn em của Liênxô, kẻ địch của Mỹ, nên phía Mỹ không tỏ dấu hiệu phản đối. Nay thì ngược lại ngày 05/08/11, Mỹ đã lập tức phái Tư Lệnh Hạm Đội 7, phó đô đốc Scott Van Buskirk đến thăm Hànội trong 2 ngày. Rồi cho hàng không mẫu hạm nguyên tử khổng lồ USS George Washington vào vùng lãnh hải quốc tế, ngoài khơi Việtnam. Ngày 13/08/11 mời quan chức Việtcộng lên thăm, nhằm trấn an Việtcộng trước sự hù dọa của Tầucộng. Trước đó một ngày 12/08, chiếc hàng không mẫu hạm nguyên tử khổng lồ khác, USS Ronald Reagan đã ghé thăm cảng Hồngkông, giữa lúc Tầucộng cho chạy thử chiếc hàng không mẫu hạm tân trang cuả họ. Đây là cơ hội cho mọi người có dịp so sánh, giữa 2 loại hàng không mẫu hạm của Mỹ với Tầu. Và cũng để nhắn với Tầucộng là đừng có chơi dại, đụng đầu với Mỹ trong lúc này. Nhất là đừng theo vết xe đổ của quân phiệt Nhật hồi 1941, tiến quân vào Đông Dương, rồi bị Mỹ hủy bỏ quy chế tối huệ quốc để rơi vào chiến tranh Mỹ-Nhật, đưa tới thảm bại về phía Quân Phiệt Nhật. Chắc Hồ Cẩm Đào sắp mãn nhiệm, họ Hồ chẳng dại gì đụng đầu với Mỹ, nên phó tổng thống Mỹ, Joe Biden đang có chuyến viếng thăm Trungcộng, cố tình gặp Tập Cận Bình, người kế nhiệm Hồ Cẩm Đào để xem nhân vật này có còn trung thành với Hiệp Ước Thượng Hải 1972 nữa hay không? Nhưng cho dù Tầu chống, hay hoà với Mỹ, thì Vìệtnam vẫn bị nằm ở vị thế ‘đầu sóng, ngọn gió’. Nếu Việtnam không sớm có Dân Chủ thực sự để huy động nội lực dân tộc của toàn dân, tạo thế chủ động tương tác với quốc tế, thì vẫn chỉ là quân bài thí của các thế lực quốc tế mà thôi.
LÝ ĐẠI NGUYÊN –
Little Saigon ngày 16/08/2011.
VIỆT NAM NẰM Ở ĐẦU SÓNG NGỌN GIÓ
Phát biểu về quan điểm của chính quyền Obama, trợ lý ngoại trưởng Mỹ đặc trách về Châu Á Thái Bình Dương, ông Kurt Campbell, trong khuôn khổ cuộc ‘Đối Thoại Lãnh Đạo Mỹ - Úc’ vào cuối tuần qua, ngày 15/08/2011, tại Perth, đã nói rằng: “Một trong những thách thức quan trọng nhất của chính sách đối ngoại của Hoakỳ là phải tập trung nỗ lực thiết lập chính sách lâu dài tại Á Châu, thay vì chỉ lo đối đầu với những cản lực tại Trung Đông”. Ông giải thích: “Hoakỳ không chủ trương ‘xem nhẹ’ Trung Đông, nhưng quan điểm chiếm đa số hiện nay tại Washington là Hoakỳ quyết tâm dấn thân vào vùng châu Á”. Trong bối cảnh đó ông nói: “Hoakỳ đã tăng cường đối thoại với Trungquốc, nhưng không phải chỉ quan hệ với Bắckinh là quan trọng nhất”. Ông nhấn mạnh đến: “chiến lược củng cố hợp tác mật thiết với đồng minh chiến lược Úc, phục hồi quan hệ với Hiệp Hội Asean và các quốc gia thành viên chủ chốt của Đông Nam Á như Indonesia, Singapore và Việtnam cũng như Philippines”. Ông cũng bác bỏ ý kiến cho rằng Hoakỳ đang suy thoái. Cuối cùng ông nhận định về: “Các vụ Trungquốc uy hiếp tàu thuyền các nước trong khu vực trong đó có Nhậtbản, Việtnam, và cả tàu Mỹ”. Trợ lý ngoại trưởng, Kurt Campbell cho đây là: “Chính sách đối ngoại áp đặt quyền lực của Trungquốc không thể chối cãi, mà mọi người đều thấy Bắckinh thực hiện tại Biển Đông, cũng như tại nhiều nơi khác trên thế giới”.
Từ tổng thống, ngoại trưởng, bộ trường quốc phòng Mỹ, 2 năm trở lại đây, đã luân phiên khẳng định “Hoakỳ đã trở lại Á châu”, nay, đến trợ lý ngoại trưởng đặc trách về Đông Á và Thái Bình Dương, nhân vật trực tiếp thi hành chính sách của chánh phủ Mỹ tại khu vực đã nói rõ về: “quan điểm chiếm đa số hiện nay của Washington quyết tâm dấn thân vào vùng Á châu”. Trong khi đó Tầucộng thực hiện một cuộc tập trận lớn trên bộ, vào ngày 10/08/11, chưa biết ngày kết thúc, tại khu vực tự trị dân tôc Choang ở Quảng Tây, nằm sát biên giới Việtnam. Một số diễn đàn của Việtnam lấy tin từ các blogger Tầucộng về cuộc ‘di chuyển binh lính’ tới tỉnh Quảng Tây giáp ranh với Việtnam đã diễn ra từ hôm 04/08/11, với khối lượng binh lính khổng lồ bao gồm, pháo binh, bộ binh, xe thiết giáp thuộc nhiều quân khu. Các blogger Tầucộng nói tới ‘kế hoạch tấn công Việtnam’ vào cuối năm 2011. Thậm chí còn nói đây là lệnh của bộ trưởng quốc phòng Trungquốc, Lê Quang Liệt, thuộc trường phái cứng rắn đã ký. Ngày 11/08/11, bộ tư lệnh Biên Phòng Việcộng, trung tướng Trần Hoa, đã họp với 12 tỉnh biên giới phía Bắc nhằm thúc đẩy công tác bảo vệ chủ quyền biên giới.
Tầucộng thấy việc ‘dương oai diễu võ’ trên Biển Đông đã để cho thế giới nhìn rõ ‘bản mặt’ cậy mạnh hiếp yếu, cưỡng tình, đoạt lý, bất chấp công ước LHQ, chỉ làm lợi cho Hoakỳ danh chính, ngôn thuận trở lại Á châu, khiến cho các nước Đông Nam Á và Á châu, cùng toàn dư luận thế giới đều đứng về phía Mỹ. Ngay tên đồng chí đàn em Việtcộng vốn tỏ ra tận tụy với kế hoạch ‘tàm thực’ Việtnam của Tầu, cũng chuẩn bị quay gót chạy theo Mỹ. Cụ thể là báo chí ‘lề phải’ của Việtcộng đang rộ lên phong trào tố cáo tình trạng công nhân Tầu đang làm việc không giấy phép ở nhiều công trình do các hãng thầu Trungcộng tại Việtnam. Trương Tấn Sang tân chủ tịch nhà nước Việtcộng, khẳng định “Việtnam không chủ trương cho Trungquốc khai thác bôxít ở Tây Nguyên”. “Khi công trình xây dựng hoàn tất, công nhân Trungquốc sẽ rút về nước”. “và việc để cho lao động Trungquốc làm việc trái phép ở Việtnam là do cơ quan quản lý điạ phương lỏng lẻo trong kiểm tra và kiểm soát”. Thực tế thì điạ phương không dám đụng tới lông chân của các vị ‘con trời’ này. Vì từ tổng bí thư, đến bộ chính trị, chính phủ, trung ương đảng Việtcộng đều đã quỳ mọp dưới chân các lãnh tụ Bắckinh, luôn miệng hô lớn 16 chữ vàng, 4 tốt, thì cấp dưới kẻ nào dám dại dột kiểm tra, kiểm soát các vị ‘chúa Tầu’ nữa. Nhưng cuộc biểu tình của người dân Hànội ngày 14/08/11 vừa qua đã xuất hiện nhiều khẩu hiệu mới như: “Yêu nước là quyền thiêng liêng của mọi người Việtnam”. “Tổ quốc Việtnam là của 90 triệu người Việtnam, không riêng của bất kỳ ai, bất cứ nhóm người nào”. “Nhân dân có quyền được biết, được bàn về việc nước”. Phản đối Trungquốc đặt giàn khoan tại Biển Đông”. Đặc biệt hơn hết, đánh thẳng vào tử huyệt của kế hoạch ‘tằm ăn dâu’ của Tầucộng là đòi: “Trục xuất lao động bất hợp pháp Trungquốc - hiện đang có 1.3 triệu lao động Trungquốc tại Việtnam”. Đây mới chính là tiết lộ động trời gây kinh ngạc cho toàn dân và toàn thế giới về âm mưu ‘đồng hoá Việtnam của người Tầu’, phải do chính nội bộ Việtcộng xì ra thì người biểu tình mới biết. Đây mới chính là lý cớ Tầucộng phải động binh trên đất liền nhằm đe dọa đánh Việtnam một lần nữa.
Vây liệu Tầucộng có đánh Việtnam trong dịp này hay không? Nếu Tầucộng quyết đánh Việtnam là vi phạm Hiệp Ước Thượng Hải Mỹ-Tầu 1972, ký giữa tổng thống Mỹ, Richard Nixon và Chu Ân Lai, thủ tướng Trungquốc ngày 28/02/1972. Trong đó Trungquốc cam kết: “Tất cả các quốc gia lớn hay nhỏ phải được đối xử bình đẳng”. “Những quốc gia lớn không được gây tổn thương đau khổ cho những nước nhỏ”. Trungquốc không bao giờ là một siêu cường”. “Trungquốc chống lại quyền lực bá chủ và quyền chính trị dưới bất cứ hình thức nào”. Nay mà Tầucộng đánh Việtnam là trắng trợn gây tổn thương đau khổ cho một nước nhỏ. Tức là vi phạm hiệp ước ký với Mỹ. Chính phủ và Quốc Hội Hoakỳ không thể làm ngơ. Sở dĩ năm 1979, Đặng Tiểu Bình xua quân tràn sang biên giới Việtnam, chỉ dám tuyên bố “dậy cho Việtnam một bài học” trong vòng 1 tháng, mà trước đó họ Đặng đã phải sang Mỹ thăm dò phản ứng của chính giới Hoakỳ. Lúc bấy giờ, Việtcộng đang là đàn em của Liênxô, kẻ địch của Mỹ, nên phía Mỹ không tỏ dấu hiệu phản đối. Nay thì ngược lại ngày 05/08/11, Mỹ đã lập tức phái Tư Lệnh Hạm Đội 7, phó đô đốc Scott Van Buskirk đến thăm Hànội trong 2 ngày. Rồi cho hàng không mẫu hạm nguyên tử khổng lồ USS George Washington vào vùng lãnh hải quốc tế, ngoài khơi Việtnam. Ngày 13/08/11 mời quan chức Việtcộng lên thăm, nhằm trấn an Việtcộng trước sự hù dọa của Tầucộng. Trước đó một ngày 12/08, chiếc hàng không mẫu hạm nguyên tử khổng lồ khác, USS Ronald Reagan đã ghé thăm cảng Hồngkông, giữa lúc Tầucộng cho chạy thử chiếc hàng không mẫu hạm tân trang cuả họ. Đây là cơ hội cho mọi người có dịp so sánh, giữa 2 loại hàng không mẫu hạm của Mỹ với Tầu. Và cũng để nhắn với Tầucộng là đừng có chơi dại, đụng đầu với Mỹ trong lúc này. Nhất là đừng theo vết xe đổ của quân phiệt Nhật hồi 1941, tiến quân vào Đông Dương, rồi bị Mỹ hủy bỏ quy chế tối huệ quốc để rơi vào chiến tranh Mỹ-Nhật, đưa tới thảm bại về phía Quân Phiệt Nhật. Chắc Hồ Cẩm Đào sắp mãn nhiệm, họ Hồ chẳng dại gì đụng đầu với Mỹ, nên phó tổng thống Mỹ, Joe Biden đang có chuyến viếng thăm Trungcộng, cố tình gặp Tập Cận Bình, người kế nhiệm Hồ Cẩm Đào để xem nhân vật này có còn trung thành với Hiệp Ước Thượng Hải 1972 nữa hay không? Nhưng cho dù Tầu chống, hay hoà với Mỹ, thì Vìệtnam vẫn bị nằm ở vị thế ‘đầu sóng, ngọn gió’. Nếu Việtnam không sớm có Dân Chủ thực sự để huy động nội lực dân tộc của toàn dân, tạo thế chủ động tương tác với quốc tế, thì vẫn chỉ là quân bài thí của các thế lực quốc tế mà thôi.
LÝ ĐẠI NGUYÊN –
Little Saigon ngày 16/08/2011.
Chế độ Gadhafi bị dồn đến bờ vực
Phiến quân đang chiếm dần các thành phố và khép chặt vòng vây thủ đô Tripoli,
những người nước ngoài cuối cùng ồ ạt di tản khỏi Libya và phương Tây hối hả bàn về những bước đi tại Libya thời hậu Gadhafi.

Phiến quân Libya đang chiến đấu để kiểm soát Zawiyah, gần Tripoli. Ảnh: AFP. Giới lãnh đạo phương Tây đêm qua đã thảo luận về các kế hoạch cho việc chế độ Gadhafi sụp đổ tại Libya. Khả năng này được cho là sẽ xảy ra trong ít ngày tới vì những diễn biến nhanh chóng trên chiến trường những ngày qua. Telegraph cho biết, Thủ tướng Anh David Cameron gọi điện cho Mustafa Abdul Jalil, lãnh đạo cao nhất của phe phiến quân, bàn về các kế hoạch khi chế độ Gadhafi chấm dứt.
Ông Cameron cũng điện đàm với Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy để bàn về các bước đi tiếp theo tại Libya. Động thái này được thực hiện khi lực lượng phiến quân đang dồn ép phe ủng hộ Gadhafi và chiếm hai thành phố biển chiến lược ngày hôm qua là Zawiyah và Zlitan, chỉ cách Tripoli từ 30 đến 160 km.
Zawiyah và Zlitan không chỉ là cửa ngõ tiến vào Tripoli mà còn là nơi có các nhà máy lọc dầu, đóng vai trò huyết mạch trong việc cung cấp nhiên liệu cho lực lượng ủng hộ Gadhafi. Hiện chưa có nguồn tin độc lập để khẳng định những thành phố này nằm trong tay lực lượng nào, nhưng nếu kiểm soát được chúng, phe phiến quân sẽ bao gây Tripoli từ mọi hướng.
Trong khi đó, liên quân quốc tế do NATO chỉ huy kiểm soát toàn bộ đường biển dẫn tới Tripoli, đẩy lực lượng của Gadhafi đến chân tường tại thủ đô. Liên quân còn liên tục oanh tạc các vị trí thuộc phe Gadhafi để tạo điều kiện cho phe phiến quân Libya tiến chiếm các vị trí. Một điểm trúng bom NATO đêm qua là khu nhà của Abdullah al-Senussi, em rể Gadhafi và là giám đốc cơ quan tình báo Libya.
Lực lượng NATO còn rải truyền đơn khắp Tripoli kêu gọi người dân nổi dậy chống chế độ Gadhafi. Tuy nhiên, đang có lo ngại về cảnh đẫm máu khi phe phiến quân tiến đến được Tripoli. Nguyên nhân vì chế độ Gadhafi tuyên bố chiến đấu đến giọt máu cuối cùng và họ đã phân phát vũ khí cho những dân thường trung thành, nên việc Tripoli biến thành chiến trường ác liệt là điều dễ xảy ra.
Trong bối cảnh số phận Libya sắp được định đoạt, các nhân viên cứu trợ quốc tế đang chuẩn bị cho cuộc di tản quy mô lớn khỏi Tripoli và tổ chức di dân quốc tế (IOM) lên kế hoạch đưa những người này rời Libya bằng tàu biển trong tuần tới. Đa phần những người nước ngoài còn ở Libya là công dân Ai Cập, Ấn Độ và các quốc gia châu Phi thuộc tiểu vùng Sahara.
Các thông tin về việc lưu vong của cá nhân đại tá Gadhafi và gia đình cũng dồn dập xuất hiện trong những ngày qua. Hôm 18/8, một nguồn tin quân đội Libya cho biết Gadhafi đã sẵn sàng giao lại quyền lực cho Bộ trưởng Tư pháp Muhammad Alqamoda để đi lưu vong với điều kiện NATO chấm dứt hành động quân sự.
Đài phát thanh Tunisia hôm qua khẳng định một máy bay của Venezuela đã tới Djerba của Tunisia để đợi các thành viên gia đình Gadhafi di tản sang để đưa đi lưu vong. Trong một diễn biến khác, cựu thủ tướng Libya Abdessalam Jalloud từng thân tín với Gadhafi đã trốn khỏi Tripoli đào tẩu sang phe đối lập.
Bản đồ chiến sự tại Libya. Đồ hoạ: BBC. Cuộc nổi dậy của người dân tại Libya chống chế độ Gadhafi nổ ra từ giữa tháng 2 và khiến hàng nghìn người thiệt mạng. Sau đó Liên Hợp Quốc thông qua nghị quyết mở đường cho một chiến dịch quân sự quốc tế nhằm "bảo vệ dân thường" tại Libya, bắt đầu từ ngày 19/3. Theo kế hoạch, hoạt động quân sự này sẽ kéo dài cho đến cuối tháng 9.
Hầu hết các nước lớn trong Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc như Mỹ, Pháp... đều đã công nhận chính quyền của phe nổi dậy là đại diện hợp pháp của nhân dân Libya. Họ cũng coi chế độ Gadhafi không còn tính hợp pháp tại quốc gia Bắc Phi này. Danh nghĩa quốc tế của chính quyền từng tồn tại nhiều thập kỷ tại Libya gần như đã bằng con số không.
Đình Nguyễn
Phiến quân đang chiếm dần các thành phố và khép chặt vòng vây thủ đô Tripoli,
những người nước ngoài cuối cùng ồ ạt di tản khỏi Libya và phương Tây hối hả bàn về những bước đi tại Libya thời hậu Gadhafi.

Phiến quân Libya đang chiến đấu để kiểm soát Zawiyah, gần Tripoli. Ảnh: AFP. Giới lãnh đạo phương Tây đêm qua đã thảo luận về các kế hoạch cho việc chế độ Gadhafi sụp đổ tại Libya. Khả năng này được cho là sẽ xảy ra trong ít ngày tới vì những diễn biến nhanh chóng trên chiến trường những ngày qua. Telegraph cho biết, Thủ tướng Anh David Cameron gọi điện cho Mustafa Abdul Jalil, lãnh đạo cao nhất của phe phiến quân, bàn về các kế hoạch khi chế độ Gadhafi chấm dứt.
Ông Cameron cũng điện đàm với Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy để bàn về các bước đi tiếp theo tại Libya. Động thái này được thực hiện khi lực lượng phiến quân đang dồn ép phe ủng hộ Gadhafi và chiếm hai thành phố biển chiến lược ngày hôm qua là Zawiyah và Zlitan, chỉ cách Tripoli từ 30 đến 160 km.
Zawiyah và Zlitan không chỉ là cửa ngõ tiến vào Tripoli mà còn là nơi có các nhà máy lọc dầu, đóng vai trò huyết mạch trong việc cung cấp nhiên liệu cho lực lượng ủng hộ Gadhafi. Hiện chưa có nguồn tin độc lập để khẳng định những thành phố này nằm trong tay lực lượng nào, nhưng nếu kiểm soát được chúng, phe phiến quân sẽ bao gây Tripoli từ mọi hướng.
Trong khi đó, liên quân quốc tế do NATO chỉ huy kiểm soát toàn bộ đường biển dẫn tới Tripoli, đẩy lực lượng của Gadhafi đến chân tường tại thủ đô. Liên quân còn liên tục oanh tạc các vị trí thuộc phe Gadhafi để tạo điều kiện cho phe phiến quân Libya tiến chiếm các vị trí. Một điểm trúng bom NATO đêm qua là khu nhà của Abdullah al-Senussi, em rể Gadhafi và là giám đốc cơ quan tình báo Libya.
Lực lượng NATO còn rải truyền đơn khắp Tripoli kêu gọi người dân nổi dậy chống chế độ Gadhafi. Tuy nhiên, đang có lo ngại về cảnh đẫm máu khi phe phiến quân tiến đến được Tripoli. Nguyên nhân vì chế độ Gadhafi tuyên bố chiến đấu đến giọt máu cuối cùng và họ đã phân phát vũ khí cho những dân thường trung thành, nên việc Tripoli biến thành chiến trường ác liệt là điều dễ xảy ra.
Trong bối cảnh số phận Libya sắp được định đoạt, các nhân viên cứu trợ quốc tế đang chuẩn bị cho cuộc di tản quy mô lớn khỏi Tripoli và tổ chức di dân quốc tế (IOM) lên kế hoạch đưa những người này rời Libya bằng tàu biển trong tuần tới. Đa phần những người nước ngoài còn ở Libya là công dân Ai Cập, Ấn Độ và các quốc gia châu Phi thuộc tiểu vùng Sahara.
Các thông tin về việc lưu vong của cá nhân đại tá Gadhafi và gia đình cũng dồn dập xuất hiện trong những ngày qua. Hôm 18/8, một nguồn tin quân đội Libya cho biết Gadhafi đã sẵn sàng giao lại quyền lực cho Bộ trưởng Tư pháp Muhammad Alqamoda để đi lưu vong với điều kiện NATO chấm dứt hành động quân sự.
Đài phát thanh Tunisia hôm qua khẳng định một máy bay của Venezuela đã tới Djerba của Tunisia để đợi các thành viên gia đình Gadhafi di tản sang để đưa đi lưu vong. Trong một diễn biến khác, cựu thủ tướng Libya Abdessalam Jalloud từng thân tín với Gadhafi đã trốn khỏi Tripoli đào tẩu sang phe đối lập.
Bản đồ chiến sự tại Libya. Đồ hoạ: BBC. Cuộc nổi dậy của người dân tại Libya chống chế độ Gadhafi nổ ra từ giữa tháng 2 và khiến hàng nghìn người thiệt mạng. Sau đó Liên Hợp Quốc thông qua nghị quyết mở đường cho một chiến dịch quân sự quốc tế nhằm "bảo vệ dân thường" tại Libya, bắt đầu từ ngày 19/3. Theo kế hoạch, hoạt động quân sự này sẽ kéo dài cho đến cuối tháng 9.
Hầu hết các nước lớn trong Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc như Mỹ, Pháp... đều đã công nhận chính quyền của phe nổi dậy là đại diện hợp pháp của nhân dân Libya. Họ cũng coi chế độ Gadhafi không còn tính hợp pháp tại quốc gia Bắc Phi này. Danh nghĩa quốc tế của chính quyền từng tồn tại nhiều thập kỷ tại Libya gần như đã bằng con số không.
Đình Nguyễn
Một chế độ bắt mọi người ăn ớt
Ngô Nhân Dụng
Ðến Mátx-cơ-va vào buổi trưa, lúc 2 giờ chiều tôi đi tìm đến ngôi nhà cũ của Boris Pasternak nơi ông viết những ngày chót trong đời.
Ðể được nhìn những hàng cây, khu vườn, quanh ngôi nhà nơi ông đã sống, đặt chân lên mặt đất, bước trên những con đường mà ông thường đi bộ. Tôi đã xúc động và suy nghĩ về những bài thơ, về cuốn tiểu thuyết Bác Sĩ Zhivago trước đây nửa thế kỷ; và cảm thấy mang nợ ông từ thời đó. Sau khi Pasternak được trao giải Nobel năm 1958, hai dịch giả Văn Tự và Mậu Hải đã cho in bản tiếng Việt ở Sài Gòn. Bản dịch vẽ ngoài bìa hình ảnh một cánh đồng tuyết mênh mang dưới bầu trời xám nhạt và chân trời mầu tím, cũng là hình vẽ bìa cuốn sách in tiếng Ý, ấn bản đầu tiên được công bố trong thời gian đó.
Trên con đường đi bộ từ nhà ga xe lửa Peredelkino tới dacha (biệt thự miền quê) của nhà văn, trong đầu tôi chợt nhớ câu nói của một nhân vật trong Bác Sĩ Zhivago, “Con người ta sinh ra để sống, chứ không phải để chuẩn bị sống.” Ý tưởng này đã len vào đầu tôi từ nửa thế kỷ nay; càng sống và ngẫm nghĩ càng thấm thía. Hồi 20 tuổi, khi đọc tới câu đó tôi nghĩ đến những khẩu hiệu kêu gọi “xây dựng một thế giới mới,” những bài thơ ca ngợi một “ngày mai tươi sáng,” mà thế hệ cha anh cho đến thế hệ tôi đã được nghe. Chính Pasternak chắc đã cảm thấy chán ngán với những khẩu hiệu “chuẩn bị sống” như vậy trong nhiều năm, trước khi đặt bút viết.
Nhân vật Bác Sĩ Zhivago đã cảm thấy “Cuộc cách mạng không mang lại ánh sáng mà họ mong đợi.” Họ thấy loài người không thể cứ tiếp tục “chuẩn bị sống” suốt thế hệ này sang thế hệ khác. Nhất là suốt ngày cứ phải nghe máy phóng thanh đầu phố thúc giục “chuẩn bị sống,” hy sinh hôm nay cho một ngày mai càng ngày càng xa vời! Chính tâm trạng chán ngán lan trong toàn thể xã hội đã khiến người dân thờ ơ, lãnh đạm với cuộc sống thật, đưa tới cảnh trì trệ kinh tế trong chế độ Xô viết sau này.
Pasternak không phải một nhà phê bình chính trị. Ông đóng vai trò một thi sĩ. Thi sĩ sống và rung động cùng một nhịp với những xúc cảm của đồng bào chung quanh họ. Ðiều khiến các thi sĩ chán nản nhất là những lời nói được lập đi lập lại, bắt buộc phải nghe mãi sẽ thấy chúng trở thành trống rỗng. Pasternak cũng như nhân vật Zhivago thuộc thế hệ lớn lên trong cuộc cách mạng 1917 ở Nga, khi họ cảm thấy xã hội cần phải thay đổi toàn diện, tận gốc rễ. Ðó là lúc Pasternak nhìn thấy chung quanh ông, cảnh vật vô tình như những hàng cây cũng đang lên tiếng nói, những tảng đá cũng muốn biểu tình! Nhưng cuối cùng người ta cũng nhìn ra cuộc cách mạng lôi cuốn đầy những kẻ hoạt đầu trong vai trò lãnh đạo và cán bộ tuyên huấn. Họ khai thác, lợi dụng khát vọng thay đổi cuộc đời của mọi người chung quanh, để chiếm đoạt quyền hành. Rồi sau đó họ bám chặt lấy quyền bính, nhân danh lịch sử và nhân danh tương lai để chấp nhận bất cứ hành động tàn ác nào cũng làm được. Khi đã nhân danh một “chân lý duy nhất,” nhân danh tương lai của cả loài người, thì người ta không ngại gì phạm những tội ác lớn nhất. Họ phải bám lấy quyền bính, rồi biện minh quyền bính đó bằng cách lập đi lập lại những khẩu hiệu trừu tượng, cũ kỹ, sáo mòn, trống rỗng. Rồi nhét vào miệng mọi người buộc họ phải nuốt như những khẩu hiệu khô cứng đó như món ăn hàng ngày. Sống trong cảnh đó, những người biết rung động và biết suy nghĩ không thể nào chịu đựng nổi.
Trong một màn đối thoại vào lúc nước Nga đang lên cơn sốt cách mạng, sau khi chế độ vô sản chuyên chính đã thiết lập, có hai nhà trí thức Nga tranh luận với nhau. Một người lắc đầu nói: Những điều anh vừa bàn toàn là triết lý không à. Nhưng triết lý chỉ là những gia vị cho cuộc sống. Con người ta không thể sống bằng triết lý mà thôi, cũng như người ta không thể chỉ ăn ớt mà sống!
Vào những năm 1950, 60 ở Sài Gòn, lớp thanh niên chúng tôi cũng chuyền tay nhau đọc bản Tuyên ngôn Cộng sản do nhà xuất bản Thợ Thuyền ở Paris in bằng tiếng Pháp, cùng những cuốn sách mỏng ký tên Stalin, về Duy Vật Biện Chứng, về Duy Vật Lịch Sử, vân vân. Như một nhà văn Pháp sau này cảnh cáo: Chủ nghĩa Marx là một thứ ma túy của giới trí thức. Max cống hiến một cách nhìn thế giới và lịch sử như một bộ máy đồng hồ, một hệ thống sơ đẳng, máy móc. Pasternak là một thi sĩ, tiếp nối một dòng văn nghệ của nước Nga, với mối quan tâm sâu xa về ý nghĩa của lịch sử. Cả hai đều chịu ảnh hưởng tôn giáo. Pasternak thấm nhuần một cách nhìn thế giới như một hệ thống sinh học, mà có lẽ chính ông chưa bao giờ đọc về lý thuyết hệ thống.
Pasternak nhìn thế giới và lịch sử loài người như một huyền nhiệm, không thể dùng mô hình máy móc mà mô tả để hiểu được. Không có chánh kiến thì sẽ không thành cách mạng. Nhìn sai sẽ đưa tới những hành động sai lầm. Tệ nhất, là sẽ giết người, sẽ giết rất nhiều người! Pasterak viết: “Người ta không trông thấy lịch sử, cũng như không ai nhìn thấy cỏ mọc, không ai thấy rừng lá đang đổi mầu!” Khi đọc Pasternak vào những năm đầu 1960, tự nhiên chúng tôi nhận ra cuộc cách mạng vô sản là một ảo vọng, ở chính nước Nga nó đã không có thật. Và thế giới loài người không thể sống với những thứ triết lý máy móc như vậy. Nhiều người trong thế hệ chúng tôi ở miền Nam Việt Nam đã thoát khỏi ảo vọng của chủ nghĩa Marx chính là nhờ đọc Pasternak.
Những nhân vật trong cuốn Bác Sĩ Zhivago như Komarovsky và Strelnikov, mỗi người đều gây ra những khổ đau cho người khác theo cách riêng của họ. Nhưng những người này chỉ tác hại tạm thời, cá biệt. Mối họa lớn nhất gây ra tại nước Nga dưới chế độ cộng sản còn rộng lớn và sâu xa hơn, chắc chắn tác hại lâu dài hơn. Nhưng vào thời Pasternak đang viết cuốn Bác Sĩ Zhivago, ông chưa được chứng kiến những tai hại lâu dài khác mà chế độ cộng sản đã để lại, cả sau khi chính chế độ đó sụp đổ.
Một chế độ bắt mọi người dân chỉ được đọc một thứ báo, nghe một thứ đài, báo đài chỉ tuyên truyền một chiều, thì sẽ tước bỏ của mọi người một khả năng cần thiết để sống như những con người, là thói quen suy nghĩ độc lập. Một chính quyền bắt dân phải học tập căm thù, nghi ngờ, soi mói, rình mò, tố giác và sợ hãi lẫn nhau, thì sẽ phá nát nền móng của cả đạo lý lẫn nền tảng của thị trường kinh tế tự do. Một xã hội được tổ chức như một guồng máy, tất cả trông lên chờ nghe lệnh “ở trên” và chờ được “ở trên” ban phát ân huệ, thì sẽ không tập được thói quen tự lập, tự cường; mất luôn cả khả năng nhận trách nhiệm và chịu trách nhiệm về hậu quả những việc mình làm. Khi mọi sinh hoạt trong xã hội đều được chính trị hóa, những người cầm quyền không cần dùng luật pháp, cũng không cần đến đạo lý, thì nền tảng của xã hội bị phá vỡ và hủy hoại. Ðó là tình trạng Mạnh Tử gọi là “Thượng vô đạo pháp, hạ vô pháp thủ.”
Hậu quả của những tác hại đó là sau khi chế độ cộng sản sụp đổ ở nước Nga, tham nhũng đã hoành hành rộng hơn trước. Ngày xưa các công chức chỉ đi mua bóng đèn hư “cháy tóc” đem tới sở thay để lấy cái bóng đèn tốt mang về nhà. Ngày nay kinh tế đã phát triển hơn, đồ tiêu dùng nhiều hơn mà nhu cầu cũng nhiều hơn, các các quan chức cũng nhiều mánh khóe làm tiền hơn. Họ không đủ khả năng kinh doanh làm giầu, thì họ đem bán một thứ bán được, là quyền quyết định, là chữ ký, là con dấu, bằng mọi thứ mưu mẹo. Quan chức không có thói quen chịu trách nhiệm, mà cũng chưa bao giờ sống trong một hệ thống cai trị có luật lệ nào rõ ràng để căn cứ vào đó mà ấn định trách nhiệm. Tự do đối với họ có nghĩa là tự do sử dụng quyền hành để bắt chẹt người dân, bán lẻ quyền hành bắt dân phải mua. Họ chưa bao giờ được tập tành thói quen nghĩ rằng quyền hành nào cũng có giới hạn. Chính người dân cũng chưa có thói quen sống tự do, chưa có thói quen tự lo liệu những việc liên can đến cuộc sống công, bởi vì họ đã quen ỷ lại vào guồng máy bao cấp. Người ta dửng dưng, lạnh nhạt, thờ ơ với các lợi ích chung của cả xã hội, vì đã bị nghe nói dối nhiều quá. Nhiều người sợ tự do, ghét tự do, vì bị mất cảm giác lười biếng, an phận trong thời bao cấp! Cũng giống như cả một xã hội bị bắt ăn ớt mãi, đến khi được ăn cơm không biết cơm là ngon nữa!
Những tác hại của chế độ cộng sản trên đất nước Nga còn nhiều mặt phức tạp nữa. Và ở Việt Nam cũng vậy. Như một người mới nhận xét trên Blog Dân làm Báo. Ông Vũ Ðông Hà nhìn thấy “Gia tài lớn nhất để lại cho con” là “Lòng sợ hãi!” Ông viết: “Tội ác lớn nhất của một triều đại không hẳn là đốt sách, giết người hay làm cho đất nước trở nên nghèo khó, mà là làm cho cả một dân tộc trở nên hèn nhát, ích kỷ và mê muội...”
Người Việt Nam xưa kia có bổn tính sợ hãi, hèn nhát, ích kỷ và mê muội hay không? Chắc chắn là không. Tổ tiên chúng ta không mắc chứng bệnh tập thể đó. Người Nga vốn sẵn bổn tính tham nhũng và sợ hãi các tham quan hay không? Chắc không đến nỗi như thế. Pasternak nằm dưới mặt đất ở Peredelkino có thể coi là may mắn không phải chứng kiến những tác hại mà chế độ cộng sản để lại như một gia tài cho dân Nga, ngay cả sau khi chế độ đó đã sập. Các chứng hư tật xấu đã được gieo mầm trong 70 năm sống dưới chế độ độc tài toàn trị, khi được tự do có ngay cơ hội để bùng nổ. Nhưng khi đọc các bài thơ và theo dõi các nhân vật tiểu thuyết của ông, chúng ta có thể tin rằng dân tộc Nga vốn có một tâm hồn lớn. Tự do đã tạo cơ hội cho các tham quan, nhũng lại và bọn gian thương hoành hành. Nhưng tự do cũng sẽ giúp cho con người tập lối sống chịu trách nhiệm và tự gắng sức bảo vệ các quyền tự do của mình. Không phải nước nào chuyển hóa từ chế độ cộng sản sang một thể chế tự do hơn cũng biến chứng trở thành thoái hóa như nước Nga. Như Giáo Sư Nguyễn Minh Cần nêu ra làm thí dụ: “Ở các nước Ba Lan, Tiệp, họ đã dân chủ hóa thực sự, đã tập được lối sống dân chủ với tinh thần trọng pháp rất cao. Chúng ta biết, hàng chục năm trước khi bức tường Berlin đổ, giới trí thức ở Tiệp, giới công nhân ở Ba Lan đã mạnh dạn đứng lên tổ chức và tranh đấu cho các quyền tự do của họ. Chính những hoạt động đó đã gieo mầm cho một xã hội công dân, tạo nền tảng cho chế độ dân chủ tự do.”
Ngô Nhân Dụng
Ðến Mátx-cơ-va vào buổi trưa, lúc 2 giờ chiều tôi đi tìm đến ngôi nhà cũ của Boris Pasternak nơi ông viết những ngày chót trong đời.
Ðể được nhìn những hàng cây, khu vườn, quanh ngôi nhà nơi ông đã sống, đặt chân lên mặt đất, bước trên những con đường mà ông thường đi bộ. Tôi đã xúc động và suy nghĩ về những bài thơ, về cuốn tiểu thuyết Bác Sĩ Zhivago trước đây nửa thế kỷ; và cảm thấy mang nợ ông từ thời đó. Sau khi Pasternak được trao giải Nobel năm 1958, hai dịch giả Văn Tự và Mậu Hải đã cho in bản tiếng Việt ở Sài Gòn. Bản dịch vẽ ngoài bìa hình ảnh một cánh đồng tuyết mênh mang dưới bầu trời xám nhạt và chân trời mầu tím, cũng là hình vẽ bìa cuốn sách in tiếng Ý, ấn bản đầu tiên được công bố trong thời gian đó.
Trên con đường đi bộ từ nhà ga xe lửa Peredelkino tới dacha (biệt thự miền quê) của nhà văn, trong đầu tôi chợt nhớ câu nói của một nhân vật trong Bác Sĩ Zhivago, “Con người ta sinh ra để sống, chứ không phải để chuẩn bị sống.” Ý tưởng này đã len vào đầu tôi từ nửa thế kỷ nay; càng sống và ngẫm nghĩ càng thấm thía. Hồi 20 tuổi, khi đọc tới câu đó tôi nghĩ đến những khẩu hiệu kêu gọi “xây dựng một thế giới mới,” những bài thơ ca ngợi một “ngày mai tươi sáng,” mà thế hệ cha anh cho đến thế hệ tôi đã được nghe. Chính Pasternak chắc đã cảm thấy chán ngán với những khẩu hiệu “chuẩn bị sống” như vậy trong nhiều năm, trước khi đặt bút viết.
Nhân vật Bác Sĩ Zhivago đã cảm thấy “Cuộc cách mạng không mang lại ánh sáng mà họ mong đợi.” Họ thấy loài người không thể cứ tiếp tục “chuẩn bị sống” suốt thế hệ này sang thế hệ khác. Nhất là suốt ngày cứ phải nghe máy phóng thanh đầu phố thúc giục “chuẩn bị sống,” hy sinh hôm nay cho một ngày mai càng ngày càng xa vời! Chính tâm trạng chán ngán lan trong toàn thể xã hội đã khiến người dân thờ ơ, lãnh đạm với cuộc sống thật, đưa tới cảnh trì trệ kinh tế trong chế độ Xô viết sau này.
Pasternak không phải một nhà phê bình chính trị. Ông đóng vai trò một thi sĩ. Thi sĩ sống và rung động cùng một nhịp với những xúc cảm của đồng bào chung quanh họ. Ðiều khiến các thi sĩ chán nản nhất là những lời nói được lập đi lập lại, bắt buộc phải nghe mãi sẽ thấy chúng trở thành trống rỗng. Pasternak cũng như nhân vật Zhivago thuộc thế hệ lớn lên trong cuộc cách mạng 1917 ở Nga, khi họ cảm thấy xã hội cần phải thay đổi toàn diện, tận gốc rễ. Ðó là lúc Pasternak nhìn thấy chung quanh ông, cảnh vật vô tình như những hàng cây cũng đang lên tiếng nói, những tảng đá cũng muốn biểu tình! Nhưng cuối cùng người ta cũng nhìn ra cuộc cách mạng lôi cuốn đầy những kẻ hoạt đầu trong vai trò lãnh đạo và cán bộ tuyên huấn. Họ khai thác, lợi dụng khát vọng thay đổi cuộc đời của mọi người chung quanh, để chiếm đoạt quyền hành. Rồi sau đó họ bám chặt lấy quyền bính, nhân danh lịch sử và nhân danh tương lai để chấp nhận bất cứ hành động tàn ác nào cũng làm được. Khi đã nhân danh một “chân lý duy nhất,” nhân danh tương lai của cả loài người, thì người ta không ngại gì phạm những tội ác lớn nhất. Họ phải bám lấy quyền bính, rồi biện minh quyền bính đó bằng cách lập đi lập lại những khẩu hiệu trừu tượng, cũ kỹ, sáo mòn, trống rỗng. Rồi nhét vào miệng mọi người buộc họ phải nuốt như những khẩu hiệu khô cứng đó như món ăn hàng ngày. Sống trong cảnh đó, những người biết rung động và biết suy nghĩ không thể nào chịu đựng nổi.
Trong một màn đối thoại vào lúc nước Nga đang lên cơn sốt cách mạng, sau khi chế độ vô sản chuyên chính đã thiết lập, có hai nhà trí thức Nga tranh luận với nhau. Một người lắc đầu nói: Những điều anh vừa bàn toàn là triết lý không à. Nhưng triết lý chỉ là những gia vị cho cuộc sống. Con người ta không thể sống bằng triết lý mà thôi, cũng như người ta không thể chỉ ăn ớt mà sống!
Vào những năm 1950, 60 ở Sài Gòn, lớp thanh niên chúng tôi cũng chuyền tay nhau đọc bản Tuyên ngôn Cộng sản do nhà xuất bản Thợ Thuyền ở Paris in bằng tiếng Pháp, cùng những cuốn sách mỏng ký tên Stalin, về Duy Vật Biện Chứng, về Duy Vật Lịch Sử, vân vân. Như một nhà văn Pháp sau này cảnh cáo: Chủ nghĩa Marx là một thứ ma túy của giới trí thức. Max cống hiến một cách nhìn thế giới và lịch sử như một bộ máy đồng hồ, một hệ thống sơ đẳng, máy móc. Pasternak là một thi sĩ, tiếp nối một dòng văn nghệ của nước Nga, với mối quan tâm sâu xa về ý nghĩa của lịch sử. Cả hai đều chịu ảnh hưởng tôn giáo. Pasternak thấm nhuần một cách nhìn thế giới như một hệ thống sinh học, mà có lẽ chính ông chưa bao giờ đọc về lý thuyết hệ thống.
Pasternak nhìn thế giới và lịch sử loài người như một huyền nhiệm, không thể dùng mô hình máy móc mà mô tả để hiểu được. Không có chánh kiến thì sẽ không thành cách mạng. Nhìn sai sẽ đưa tới những hành động sai lầm. Tệ nhất, là sẽ giết người, sẽ giết rất nhiều người! Pasterak viết: “Người ta không trông thấy lịch sử, cũng như không ai nhìn thấy cỏ mọc, không ai thấy rừng lá đang đổi mầu!” Khi đọc Pasternak vào những năm đầu 1960, tự nhiên chúng tôi nhận ra cuộc cách mạng vô sản là một ảo vọng, ở chính nước Nga nó đã không có thật. Và thế giới loài người không thể sống với những thứ triết lý máy móc như vậy. Nhiều người trong thế hệ chúng tôi ở miền Nam Việt Nam đã thoát khỏi ảo vọng của chủ nghĩa Marx chính là nhờ đọc Pasternak.
Những nhân vật trong cuốn Bác Sĩ Zhivago như Komarovsky và Strelnikov, mỗi người đều gây ra những khổ đau cho người khác theo cách riêng của họ. Nhưng những người này chỉ tác hại tạm thời, cá biệt. Mối họa lớn nhất gây ra tại nước Nga dưới chế độ cộng sản còn rộng lớn và sâu xa hơn, chắc chắn tác hại lâu dài hơn. Nhưng vào thời Pasternak đang viết cuốn Bác Sĩ Zhivago, ông chưa được chứng kiến những tai hại lâu dài khác mà chế độ cộng sản đã để lại, cả sau khi chính chế độ đó sụp đổ.
Một chế độ bắt mọi người dân chỉ được đọc một thứ báo, nghe một thứ đài, báo đài chỉ tuyên truyền một chiều, thì sẽ tước bỏ của mọi người một khả năng cần thiết để sống như những con người, là thói quen suy nghĩ độc lập. Một chính quyền bắt dân phải học tập căm thù, nghi ngờ, soi mói, rình mò, tố giác và sợ hãi lẫn nhau, thì sẽ phá nát nền móng của cả đạo lý lẫn nền tảng của thị trường kinh tế tự do. Một xã hội được tổ chức như một guồng máy, tất cả trông lên chờ nghe lệnh “ở trên” và chờ được “ở trên” ban phát ân huệ, thì sẽ không tập được thói quen tự lập, tự cường; mất luôn cả khả năng nhận trách nhiệm và chịu trách nhiệm về hậu quả những việc mình làm. Khi mọi sinh hoạt trong xã hội đều được chính trị hóa, những người cầm quyền không cần dùng luật pháp, cũng không cần đến đạo lý, thì nền tảng của xã hội bị phá vỡ và hủy hoại. Ðó là tình trạng Mạnh Tử gọi là “Thượng vô đạo pháp, hạ vô pháp thủ.”
Hậu quả của những tác hại đó là sau khi chế độ cộng sản sụp đổ ở nước Nga, tham nhũng đã hoành hành rộng hơn trước. Ngày xưa các công chức chỉ đi mua bóng đèn hư “cháy tóc” đem tới sở thay để lấy cái bóng đèn tốt mang về nhà. Ngày nay kinh tế đã phát triển hơn, đồ tiêu dùng nhiều hơn mà nhu cầu cũng nhiều hơn, các các quan chức cũng nhiều mánh khóe làm tiền hơn. Họ không đủ khả năng kinh doanh làm giầu, thì họ đem bán một thứ bán được, là quyền quyết định, là chữ ký, là con dấu, bằng mọi thứ mưu mẹo. Quan chức không có thói quen chịu trách nhiệm, mà cũng chưa bao giờ sống trong một hệ thống cai trị có luật lệ nào rõ ràng để căn cứ vào đó mà ấn định trách nhiệm. Tự do đối với họ có nghĩa là tự do sử dụng quyền hành để bắt chẹt người dân, bán lẻ quyền hành bắt dân phải mua. Họ chưa bao giờ được tập tành thói quen nghĩ rằng quyền hành nào cũng có giới hạn. Chính người dân cũng chưa có thói quen sống tự do, chưa có thói quen tự lo liệu những việc liên can đến cuộc sống công, bởi vì họ đã quen ỷ lại vào guồng máy bao cấp. Người ta dửng dưng, lạnh nhạt, thờ ơ với các lợi ích chung của cả xã hội, vì đã bị nghe nói dối nhiều quá. Nhiều người sợ tự do, ghét tự do, vì bị mất cảm giác lười biếng, an phận trong thời bao cấp! Cũng giống như cả một xã hội bị bắt ăn ớt mãi, đến khi được ăn cơm không biết cơm là ngon nữa!
Những tác hại của chế độ cộng sản trên đất nước Nga còn nhiều mặt phức tạp nữa. Và ở Việt Nam cũng vậy. Như một người mới nhận xét trên Blog Dân làm Báo. Ông Vũ Ðông Hà nhìn thấy “Gia tài lớn nhất để lại cho con” là “Lòng sợ hãi!” Ông viết: “Tội ác lớn nhất của một triều đại không hẳn là đốt sách, giết người hay làm cho đất nước trở nên nghèo khó, mà là làm cho cả một dân tộc trở nên hèn nhát, ích kỷ và mê muội...”
Người Việt Nam xưa kia có bổn tính sợ hãi, hèn nhát, ích kỷ và mê muội hay không? Chắc chắn là không. Tổ tiên chúng ta không mắc chứng bệnh tập thể đó. Người Nga vốn sẵn bổn tính tham nhũng và sợ hãi các tham quan hay không? Chắc không đến nỗi như thế. Pasternak nằm dưới mặt đất ở Peredelkino có thể coi là may mắn không phải chứng kiến những tác hại mà chế độ cộng sản để lại như một gia tài cho dân Nga, ngay cả sau khi chế độ đó đã sập. Các chứng hư tật xấu đã được gieo mầm trong 70 năm sống dưới chế độ độc tài toàn trị, khi được tự do có ngay cơ hội để bùng nổ. Nhưng khi đọc các bài thơ và theo dõi các nhân vật tiểu thuyết của ông, chúng ta có thể tin rằng dân tộc Nga vốn có một tâm hồn lớn. Tự do đã tạo cơ hội cho các tham quan, nhũng lại và bọn gian thương hoành hành. Nhưng tự do cũng sẽ giúp cho con người tập lối sống chịu trách nhiệm và tự gắng sức bảo vệ các quyền tự do của mình. Không phải nước nào chuyển hóa từ chế độ cộng sản sang một thể chế tự do hơn cũng biến chứng trở thành thoái hóa như nước Nga. Như Giáo Sư Nguyễn Minh Cần nêu ra làm thí dụ: “Ở các nước Ba Lan, Tiệp, họ đã dân chủ hóa thực sự, đã tập được lối sống dân chủ với tinh thần trọng pháp rất cao. Chúng ta biết, hàng chục năm trước khi bức tường Berlin đổ, giới trí thức ở Tiệp, giới công nhân ở Ba Lan đã mạnh dạn đứng lên tổ chức và tranh đấu cho các quyền tự do của họ. Chính những hoạt động đó đã gieo mầm cho một xã hội công dân, tạo nền tảng cho chế độ dân chủ tự do.”
Phe nổi dậy bắt sống hai con trai Gadhafi
Lực lượng đối lập tại Libya đang tràn vào trung tâm thủ đô Tripoli từ sớm nay trong lúc chiến sự tiếp diễn ở nhiều nơi trong thành phố
và bắt giữ hai con trai của Gadhafi, đánh dấu chế độ này sắp đến hồi kết.

Các chiến binh đối lập tiến về phía thủ đô Tripoli hôm 21/8. Ảnh: AP. BBC đưa tin người dân Tripoli đổ ra đường chào đón đoàn xe của phe đối lập tiến vào trung tâm. Các đám đông ủng hộ phe nổi dậy cũng đổ về quảng trường Xanh ở trung tâm thành phố để bày tỏ sự vui mừng. Quảng trường Xanh là một nơi có ý nghĩa biểu tượng đối với chính quyền Muammar Gadhafi, bởi trong suốt 6 tháng qua những người ủng hộ ông tập trung ở đây để bày tỏ sự đoàn kết với chính phủ.
Phe đối lập thông báo họ đã bắt được Saif al-Islam Gadhafi và Muhammad Gadhafi, hai con trai của tổng thống Libya. Ông Luis Moreno-Ocampo, trưởng công tố viên của Tòa án Hình sự Quốc tế, xác nhận rằng ông đã biết tin Saif al-Islam bị bắt.
Trong khi đó, giao tranh vẫn tiếp diễn ở nhiều nơi khác tại Tripoli. Một cánh quân của phe đối lập đánh vào trung tâm thành phố từ hướng tây, còn một cánh khác đã lập các trạm kiểm soát ở các khu vực ngoại ô phía đông.
Bộ trưởng thông tin Libya, ông Moussa Ibrahim, tuyên bố 1.300 người chết và 5.000 người bị thương vì chiến sự tại Tripoli. Tối qua ông Ibrahim nói chính phủ Libya đã sẵn sàng đàm phán với phe đối lập. Nhưng ngay sau đó đại tá Gadhafi kêu gọi những người ủng hộ ông “quét sạch kẻ thù” tại Tripoli.
“Tại sao các bạn để thủ đô Tripoli bị chiếm đóng một lần nữa. Những kẻ phản bội đang dọn đường cho những lực lượng chiếm đóng vào Tripoli”, đại tá Gadhafi nói.
Ảnh chiến sự tại Tripoli
Mustafa Mohammed Abdul Jalil, người đứng đầu phe đối lập, tuyên bố các chiến binh của ông sẽ ngừng cuộc chiến tại Tripoli nếu đại tá Gadhafi tuyên bố ra đi. Phe đối lập sẽ tạo điều kiện để Gadhafi và các con rời Libya an toàn.
Chính phủ Anh tuyên bố ngày tàn của chế độ Gadhafi tại Libya đã cận kề. “Những gì mà chúng ta chứng kiến tại Tripoli cho thấy chế độ của Gadhafi sắp sụp đổ. Ông ta đã gây nên những tội ác ghê gớm đối với người dân Libya và phải từ bỏ quyền lực ngay lập tức nếu không muốn kéo dài nỗi thống khổ của người dân”, BBC dẫn lời chính phủ Anh.
Cuộc nổi dậy của người dân tại Libya chống chế độ Gadhafi nổ ra từ giữa tháng 2 và khiến hàng nghìn người thiệt mạng. Sau đó Liên Hợp Quốc thông qua nghị quyết mở đường cho một chiến dịch quân sự quốc tế nhằm "bảo vệ dân thường" tại Libya, bắt đầu từ ngày 19/3.
Hầu hết các nước lớn trong Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc đều đã công nhận chính quyền của phe nổi dậy là đại diện hợp pháp của nhân dân Libya. Họ cũng coi chế độ Gadhafi không còn tính hợp pháp tại quốc gia Bắc Phi này. Danh nghĩa quốc tế của chính quyền từng tồn tại nhiều thập kỷ tại Libya bằng con số không.
Minh Long
Lực lượng đối lập tại Libya đang tràn vào trung tâm thủ đô Tripoli từ sớm nay trong lúc chiến sự tiếp diễn ở nhiều nơi trong thành phố
và bắt giữ hai con trai của Gadhafi, đánh dấu chế độ này sắp đến hồi kết.

Các chiến binh đối lập tiến về phía thủ đô Tripoli hôm 21/8. Ảnh: AP. BBC đưa tin người dân Tripoli đổ ra đường chào đón đoàn xe của phe đối lập tiến vào trung tâm. Các đám đông ủng hộ phe nổi dậy cũng đổ về quảng trường Xanh ở trung tâm thành phố để bày tỏ sự vui mừng. Quảng trường Xanh là một nơi có ý nghĩa biểu tượng đối với chính quyền Muammar Gadhafi, bởi trong suốt 6 tháng qua những người ủng hộ ông tập trung ở đây để bày tỏ sự đoàn kết với chính phủ.
Phe đối lập thông báo họ đã bắt được Saif al-Islam Gadhafi và Muhammad Gadhafi, hai con trai của tổng thống Libya. Ông Luis Moreno-Ocampo, trưởng công tố viên của Tòa án Hình sự Quốc tế, xác nhận rằng ông đã biết tin Saif al-Islam bị bắt.
Trong khi đó, giao tranh vẫn tiếp diễn ở nhiều nơi khác tại Tripoli. Một cánh quân của phe đối lập đánh vào trung tâm thành phố từ hướng tây, còn một cánh khác đã lập các trạm kiểm soát ở các khu vực ngoại ô phía đông.
Bộ trưởng thông tin Libya, ông Moussa Ibrahim, tuyên bố 1.300 người chết và 5.000 người bị thương vì chiến sự tại Tripoli. Tối qua ông Ibrahim nói chính phủ Libya đã sẵn sàng đàm phán với phe đối lập. Nhưng ngay sau đó đại tá Gadhafi kêu gọi những người ủng hộ ông “quét sạch kẻ thù” tại Tripoli.
“Tại sao các bạn để thủ đô Tripoli bị chiếm đóng một lần nữa. Những kẻ phản bội đang dọn đường cho những lực lượng chiếm đóng vào Tripoli”, đại tá Gadhafi nói.
Ảnh chiến sự tại Tripoli
Mustafa Mohammed Abdul Jalil, người đứng đầu phe đối lập, tuyên bố các chiến binh của ông sẽ ngừng cuộc chiến tại Tripoli nếu đại tá Gadhafi tuyên bố ra đi. Phe đối lập sẽ tạo điều kiện để Gadhafi và các con rời Libya an toàn.
Chính phủ Anh tuyên bố ngày tàn của chế độ Gadhafi tại Libya đã cận kề. “Những gì mà chúng ta chứng kiến tại Tripoli cho thấy chế độ của Gadhafi sắp sụp đổ. Ông ta đã gây nên những tội ác ghê gớm đối với người dân Libya và phải từ bỏ quyền lực ngay lập tức nếu không muốn kéo dài nỗi thống khổ của người dân”, BBC dẫn lời chính phủ Anh.
Cuộc nổi dậy của người dân tại Libya chống chế độ Gadhafi nổ ra từ giữa tháng 2 và khiến hàng nghìn người thiệt mạng. Sau đó Liên Hợp Quốc thông qua nghị quyết mở đường cho một chiến dịch quân sự quốc tế nhằm "bảo vệ dân thường" tại Libya, bắt đầu từ ngày 19/3.
Hầu hết các nước lớn trong Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc đều đã công nhận chính quyền của phe nổi dậy là đại diện hợp pháp của nhân dân Libya. Họ cũng coi chế độ Gadhafi không còn tính hợp pháp tại quốc gia Bắc Phi này. Danh nghĩa quốc tế của chính quyền từng tồn tại nhiều thập kỷ tại Libya bằng con số không.
Minh Long
Nỗi khát dầu ghê gớm của Trung Quốc
khiến chỉ cần Việt Nam ‘sai phạm nhỏ’ là chiến tranh bùng nổ
Cali Today News - Giới truyền thông trên thế giới dồn dập đưa tin và nhận định về tình hình ‘nóng cực độ’ ở Biển Đông vài ngày qua và giới chuyên gia về TQ bắt đầu lên tiếng.
Họ nhận định là TQ đã ‘tuyệt vọng đi tìm nguồn dầu từ các vùng xa xôi như châu Phi, Nam Mỹ và Trung Đông.
Bây giờ họ công bố ước lượng là số dầu hỏa của Biển Đông có thể lên tới 80% sản lượng của tất cả các quốc gia Ả Rập cộng lại’

Lực lượng hải quân Việt Nam trên đảo Trường Sa. Photo courtesy: AFP
Yanzhong Hang, một chuyên gia của TQ về bang giao quốc tế của Hội Đồng CFR, nhận định: “Tôi nghĩ chiến tranh có thể xảy ra giữa VN và TQ, nếu VN phạm ‘vài sai lầm ngu xuẩn’ như kiểu của Ấn Độ năm 1962 thì thế nào TQ cũng ra tay trả đũa”
Một số khác nhận định là ‘tuy chiến tranh có thể không nổ ra, liên hệ giữa VN và TQ không sao hữu hảo được nữa rồi’
Frederick Z. Brown, giáo sư môn Đông Nam Á của đại học John Hopkins, cho hay: “Tôi không nghĩ tình hình sắp phát cháy tới nơi, nhưng coi bộ căng thẳng quá rồi, mặc dù vùng này có bao giờ yên ắng từ năm 1988 đến nay đâu”
Sau vụ tàu Viking 2 bị cắt giây cáp, giới quan sát nhận thấy ngôn từ của bà Nguyễn Phương Nga, đại diện Bộ Ngoại Giao VN, đã cứng cỏi hơn trước thấy rõ. Trước đây VN đã cố làm hòa dịu các va chạm cũng rất rõ, kể cả cái cách họ tường thuật ‘các cuộc tuần hành tự phát ở Hà Nội và Saigon’
Nhưng rõ ràng có cái gì không ổn từ phía TQ vì Bộ Trưởng TQ cách đây 1 tuần ở Singapore đã ‘long trọng tuyên bố’ là ‘quân đội TQ không dính dáng gì đến cái gọi là mối hăm dọa sự ổn định của khu vực’
Giờ đây ông Liang Guanglie sẽ ăn nói ra sao với ông Bộ Trưởng Phùng Quang Thanh khi tàu mang cờ xứ ông gây chuyện lần thứ hai?
John D. Ciorciari, thuộc tổ chức Asia Society, nhận xét: “Chiến tranh thì có lợi gì cho ai đâu? Các xứ Đông Nam Á có lợi gì khi đánh nhau với ông khổng lồ, còn ông khổng lồ mà đi choảng nhau với mấy anh nhỏ trong vùng thì còn ra cái thể thống siêu cường thế giới gì nữa”
Một blogger ký tên John đã viết: “Này các bồ, có thấy gã khổng lồ Trung Quốc xấu xa ra sao không? Cái anh này là ác mộng của thế giới đó”
khiến chỉ cần Việt Nam ‘sai phạm nhỏ’ là chiến tranh bùng nổ
Cali Today News - Giới truyền thông trên thế giới dồn dập đưa tin và nhận định về tình hình ‘nóng cực độ’ ở Biển Đông vài ngày qua và giới chuyên gia về TQ bắt đầu lên tiếng.
Họ nhận định là TQ đã ‘tuyệt vọng đi tìm nguồn dầu từ các vùng xa xôi như châu Phi, Nam Mỹ và Trung Đông.
Bây giờ họ công bố ước lượng là số dầu hỏa của Biển Đông có thể lên tới 80% sản lượng của tất cả các quốc gia Ả Rập cộng lại’

Lực lượng hải quân Việt Nam trên đảo Trường Sa. Photo courtesy: AFP
Yanzhong Hang, một chuyên gia của TQ về bang giao quốc tế của Hội Đồng CFR, nhận định: “Tôi nghĩ chiến tranh có thể xảy ra giữa VN và TQ, nếu VN phạm ‘vài sai lầm ngu xuẩn’ như kiểu của Ấn Độ năm 1962 thì thế nào TQ cũng ra tay trả đũa”
Một số khác nhận định là ‘tuy chiến tranh có thể không nổ ra, liên hệ giữa VN và TQ không sao hữu hảo được nữa rồi’
Frederick Z. Brown, giáo sư môn Đông Nam Á của đại học John Hopkins, cho hay: “Tôi không nghĩ tình hình sắp phát cháy tới nơi, nhưng coi bộ căng thẳng quá rồi, mặc dù vùng này có bao giờ yên ắng từ năm 1988 đến nay đâu”
Sau vụ tàu Viking 2 bị cắt giây cáp, giới quan sát nhận thấy ngôn từ của bà Nguyễn Phương Nga, đại diện Bộ Ngoại Giao VN, đã cứng cỏi hơn trước thấy rõ. Trước đây VN đã cố làm hòa dịu các va chạm cũng rất rõ, kể cả cái cách họ tường thuật ‘các cuộc tuần hành tự phát ở Hà Nội và Saigon’
Nhưng rõ ràng có cái gì không ổn từ phía TQ vì Bộ Trưởng TQ cách đây 1 tuần ở Singapore đã ‘long trọng tuyên bố’ là ‘quân đội TQ không dính dáng gì đến cái gọi là mối hăm dọa sự ổn định của khu vực’
Giờ đây ông Liang Guanglie sẽ ăn nói ra sao với ông Bộ Trưởng Phùng Quang Thanh khi tàu mang cờ xứ ông gây chuyện lần thứ hai?
John D. Ciorciari, thuộc tổ chức Asia Society, nhận xét: “Chiến tranh thì có lợi gì cho ai đâu? Các xứ Đông Nam Á có lợi gì khi đánh nhau với ông khổng lồ, còn ông khổng lồ mà đi choảng nhau với mấy anh nhỏ trong vùng thì còn ra cái thể thống siêu cường thế giới gì nữa”
Một blogger ký tên John đã viết: “Này các bồ, có thấy gã khổng lồ Trung Quốc xấu xa ra sao không? Cái anh này là ác mộng của thế giới đó”
Trung Quốc đừng coi thường sức mạnh Mỹ
CHENGDU, Trung Quốc (Reuters) - Phó Tổng Thống Mỹ Joe Biden hôm Chủ Nhật bác bỏ quan điểm cho rằng sức mạnh Mỹ đang bị suy yếu
và khẳng định là Washington sẽ không bao giờ để xảy ra tình trạng vỡ nợ, khi chấm dứt cuộc viếng thăm nhằm giảm thiểu sự căng thẳng giữa hai quốc gia có nền kinh tế lớn nhất thế giới.

Phó Tổng Thống Joe Biden (trái) nói chuyện với học sinh ở Thành Ðô, trước sự chứng kiến của Phó Chủ Tịch Trung Quốc Xi Jinping.
(Hình: AP Photo/Ng Han Guan, Pool)
“Chúng tôi vẫn là nơi an toàn nhất trên thế giới để đầu tư,” ông Biden nói với cử tọa gồm các sinh viên đại học tại Chengdu, thủ phủ tỉnh Sichuan, tỉnh nằm ở vùng Tây Nam Trung Quốc, tỉnh thứ nhì và cũng là nơi sau cùng ông đến thăm trong chuyến công du Trung Quốc.
“Xin hãy nhớ rằng không ai quan tâm đến vấn đề này hơn là chúng tôi, vì người dân Mỹ làm chủ 87% tài sản tài chánh của chúng tôi và 69% công khố phiếu của nước Mỹ,” ông Biden nói khi trả lời câu hỏi về nợ nần của Mỹ.
“Do đó ý muốn của chúng tôi không chỉ là bảo vệ đầu tư Trung Quốc. Chúng tôi có quyền lợi của mình trong việc bảo vệ đầu tư, và nước Mỹ chưa bao giờ và sẽ không bao giờ vỡ nợ.”
“Tiền bạc của quý vị vẫn an toàn,” ông nói thêm.
Ông Biden cũng dùng bài diễn văn của mình để lập lại các kêu gọi của Mỹ là Bắc Kinh cần phải có nhiều nỗ lực hơn nữa để buộc Bắc Hàn và Iran phải chấm dứt việc nghiên cứu và chế tạo võ khí nguyên tử.
“Sự thật là Trung Quốc và Mỹ cùng phải đối diện với nhiều đe dọa và chia sẻ nhiều mục tiêu và trách nhiệm,” ông nói.
Tuy nhiên, điều chính ông muốn nêu ra trong suốt chuyến viếng thăm kéo dài năm ngày là Mỹ có thể thay đổi tình trạng nợ nần và trì trệ phát triển kinh tế, và Trung Quốc có thể góp phần cải thiện bằng cách mua thêm hàng hóa và dịch vụ của Mỹ.
CHENGDU, Trung Quốc (Reuters) - Phó Tổng Thống Mỹ Joe Biden hôm Chủ Nhật bác bỏ quan điểm cho rằng sức mạnh Mỹ đang bị suy yếu
và khẳng định là Washington sẽ không bao giờ để xảy ra tình trạng vỡ nợ, khi chấm dứt cuộc viếng thăm nhằm giảm thiểu sự căng thẳng giữa hai quốc gia có nền kinh tế lớn nhất thế giới.

Phó Tổng Thống Joe Biden (trái) nói chuyện với học sinh ở Thành Ðô, trước sự chứng kiến của Phó Chủ Tịch Trung Quốc Xi Jinping.
(Hình: AP Photo/Ng Han Guan, Pool)
“Chúng tôi vẫn là nơi an toàn nhất trên thế giới để đầu tư,” ông Biden nói với cử tọa gồm các sinh viên đại học tại Chengdu, thủ phủ tỉnh Sichuan, tỉnh nằm ở vùng Tây Nam Trung Quốc, tỉnh thứ nhì và cũng là nơi sau cùng ông đến thăm trong chuyến công du Trung Quốc.
“Xin hãy nhớ rằng không ai quan tâm đến vấn đề này hơn là chúng tôi, vì người dân Mỹ làm chủ 87% tài sản tài chánh của chúng tôi và 69% công khố phiếu của nước Mỹ,” ông Biden nói khi trả lời câu hỏi về nợ nần của Mỹ.
“Do đó ý muốn của chúng tôi không chỉ là bảo vệ đầu tư Trung Quốc. Chúng tôi có quyền lợi của mình trong việc bảo vệ đầu tư, và nước Mỹ chưa bao giờ và sẽ không bao giờ vỡ nợ.”
“Tiền bạc của quý vị vẫn an toàn,” ông nói thêm.
Ông Biden cũng dùng bài diễn văn của mình để lập lại các kêu gọi của Mỹ là Bắc Kinh cần phải có nhiều nỗ lực hơn nữa để buộc Bắc Hàn và Iran phải chấm dứt việc nghiên cứu và chế tạo võ khí nguyên tử.
“Sự thật là Trung Quốc và Mỹ cùng phải đối diện với nhiều đe dọa và chia sẻ nhiều mục tiêu và trách nhiệm,” ông nói.
Tuy nhiên, điều chính ông muốn nêu ra trong suốt chuyến viếng thăm kéo dài năm ngày là Mỹ có thể thay đổi tình trạng nợ nần và trì trệ phát triển kinh tế, và Trung Quốc có thể góp phần cải thiện bằng cách mua thêm hàng hóa và dịch vụ của Mỹ.
Gadhafi, giờ này ông ở đâu?
Wednesday, August 24, 2011 6:49:27 PM
Triệu Phong/Người Việt (tổng hợp)
Thủ đô Tripoli có thể thất thủ, chính quyền chuyên chế Libya có thể sụp đổ. Nhưng phe nổi dậy nói họ chưa ăn yên ngủ yên,
ngày nào nhà độc tài Moammar Gadhafi chưa bị bắt hoặc giết chết.

Một tấm hình của nhà độc tài Gadhafi bị quân nổi dậy đốt tại tổng hành dinh Bab al-Aziziya của ông ở Tripoli. (Hình: Patrick Baz/AFP/Getty Images)
Còn phải chờ đến bao lâu mới được hưởng giây phút khải hoàn, điều này có vẻ không có gì chắc chắn.
Tùy viên báo chí Tòa Bạch Ốc, Josh Earnest, trong cuộc họp báo ngắn ngủi sáng hôm Thứ Tư ở Martha's Vineyard, nơi Tổng Thống Barack Obama đang nghỉ hè, đặt vấn đề nhà độc tài Moammar Gadhafi hiện đang ở đâu. Ông Earnest nói: “Không có chứng cớ nào cho thấy ông ta đã trốn ra khỏi nước.”
Ðại Tá Dave Lapan, phát ngôn viên quân sự Hoa Kỳ nói với các nhà báo: “Phải công bằng mà nói, chúng tôi tin là ông ta hiện vẫn còn ở trong nước vì chưa có thông tin nào chứng minh ông ta đã ra đi.” Ông tiếp rằng Gadhafi hiện ở đâu thì vẫn chưa rõ.
Phát ngôn viên quân sự của phe nổi dậy, Ðại Tá Ahmed Bani nói: “Nay chúng tôi đã hoàn toàn kiểm soát khu dinh thự Bab al-Azizya. Ông Gadhafi và mấy người con trai không còn ở đây, không có ai cả. Không ai biết họ đi đâu.”
Ði đến đâu Gadhafi tuồng như cũng muốn bắn tiếng bằng một thông điệp. Trong một bản văn công bố vào sớm Thứ Tư qua trang mạng đài truyền hình do người con trai là Seif al-Islam cai quản, ông Gadhafi tuyên bố ông “di tản chiến thuật” khỏi khu dinh thự sau khi bị NATO tấn công làm hư hại. Ông Gadhafi nói:
“Bab al-Azizya nay chỉ còn là đống gạch vụn sau khi nó trở thành mục tiêu của 64 hỏa tiễn của NATO. Chúng tôi rút khỏi nơi đây chỉ vì lý do chiến thuật.” Tuy nhiên bài diễn văn của ông không nhắc gì đến việc ông đã rút đi đâu.
Trong bản văn ông phát biểu sau đó qua đài truyền hình Arrai Oruba đặt ở Syria, ông Gadhafi thúc giục “dân chúng, các bộ tộc, các bô lão hãy xuống đường... và dọn sạch Tripoli cho hết chuột bọ” - ý muốn ám chỉ quân nổi dậy.
Ông Gadhafi còn nói ông đi ra ngoài đường phố Tripoli mà không ai nhận ra: “Tôi đi mà không ai trông thấy và tôi chứng kiến các thanh niên đang sẵn sàng bảo vệ thành phố của mình.”
Sau khi tiến vào Tripoli, dân chúng thủ đô ăn mừng suốt đêm. Vào sáng sớm Thứ Tư, các đường phố trở nên trống trải một cách ghê rợn, trong khi quân nổi dậy và quân trung thành với Gadhafi vờn nhau như mèo chuột ở mọi góc phố và nỗi sợ bị các tay bắn sẻ của Gadhafi ẩn trên các nóc nhà làm tiêu tan các cuộc vui.
Trong cuộc phỏng vấn của đài truyền hình Pháp, France 24, Abdel Jalil, chủ tịch Hội Ðồng Chuyển Tiếp Quốc Gia của phe nổi dậy, cho biết có bắt được 600 tay súng trung thành với ông Gadhafi và cuộc chiến chưa kết thúc chừng nào Gadhafi chưa là tù nhân.
Phe nổi dậy nói quân trung thành của ông Gadhafi ở thành phố Sirte, nơi sinh quán của ông và cũng là thành trì chính còn lại, đã bắn hỏa tiễn vào thành phố Misrata của phe nổi dậy, chỉ vài giờ sau khi bắt đầu có cuộc thương lượng đầu hàng của thành phố Sirte.
Ở mặt trận miền Ðông, quân nổi dậy tràn ngập tụ điểm dầu khí Ras Lanuf, trên đường tiến đến Sirte.
Tổng Thống Nga Dmitry Medvedev đồng thời tuyên bố, ở Libya vẫn có hai lực lượng mặc dù phe nổi dậy đang thắng thế, và ông kêu gọi thương thuyết để giải quyết vấn đề.
Suốt nhiều tuần ông Gadhafi không xuất hiện nơi công cộng, trong khi nhiều đồn đoán cho rằng ông đang ẩn trốn trong khu dinh thự của mình.
Gadhafi và gia đình đang ở đâu, vẫn là một bí mật. Phe nổi dậy nói họ không tìm thấy dấu vết nào của ông ta khi họ xông vào khu dinh thự của ông hôm Thứ Ba.
John Burns, phóng viên báo New York Times đang làm tường thuật ở Tripoli, cho rằng con người mà phe nổi dậy đang săn lùng là một người kỳ dị, tính khí bất thường, mà người ta chỉ có thể đánh giá được qua hành động, khiến khó có thể tiên liệu về các nước cờ của ông ta. Ông Burns nói: “Ðó là một bí mật. Tất cả chúng ta chỉ biết suy đoán, suy đoán về một người không thể tiên đoán.”
Quân nổi dậy đã chiếm được Tripoli, đáng kể nhất là khu dinh thự của Gadhafi. Người ta tràn ra đường nổ súng bắn mừng reo vui, khiến gợi nhớ đến một thủ đô Ả Rập bị chiếm cách đây bảy năm, đó là Baghdad.
Hồi năm 2003, nhà độc tài Saddam Hussein, cũng như Gadhafi đã thề sát cánh với dân chúng. Nhưng cuối cùng thì cả hai đều biến đi đâu mất.
Nhà báo John Burns, người tường trình về Hussein và cuộc chiến ở Iraq, gọi Gadhafi và Hussein đều là “kẻ sát nhân,” tuy nhiên cho rằng ông Hussein là người có tính toán hơn, trong khi ông Gadhafi đang đánh mất dần yếu tố hợp lý. Ông Burns nói: “Theo tôi ông này mang chứng ảo tưởng trong suốt nhiều năm và rằng cơn ảo tưởng càng trầm trọng hơn, khi màn chung cục đối với ông ta đang gần kề.”
Nhà báo Nic Robertson của CNN, người cũng phụ trách việc tường thuật thời gian cuối cùng của Hussein nói, thời của ông Gadhafi chỉ còn rất giới hạn, rằng ông này không thể kéo dài được lâu như Saddam Hussein.
Khác với Iraq, nơi ông Hussein bị liên quân lật đổ, Gadhifi bị lực lượng dân quân nổi dậy Libya thực hiện. Ông Hussein có thể tìm nơi ẩn dật trong đất nước phân chia bởi nhiều hệ phái, còn ông Gadhafi không có được chọn lựa đó. Nhà báo Robertson nói: “Cả nước Libya đều muốn ông Gadhafi phải ra đi, tuy nhiên dù vậy cũng phải chờ đến vài tuần nữa.”
Abubaker Saad, cựu cố vấn của ông Gadhafi miêu tả đến một hệ thống hầm trú ẩn kiên cố bên dưới khu dinh thự của Gadhafi, nơi ông này có thể tạm trú. Nhưng những chỗ này đã bị các cuộc không tập của NATO san bằng, Gadhafin không thể nào còn ẩn trốn nơi đó được.
Có tin ông Gadhafi đang trốn trong một nông trại nằm gần phi trường, để chờ cơ hội tẩu thoát. Thuyết này có vẻ hợp lý sau khi Gadhafi cho truyền thanh một thông điệp hôm Thứ Tư, người ta có thể nghe thấy vang vọng tiếng gì giống như tiếng gà vịt kêu ở phía sau.
Theo điện văn ngoại giao mật của Mỹ do WikiLeaks tiết lộ hồi năm ngoái, Gadhafi là người sợ đi máy bay qua một biển nước và vô cùng ghét sinh hoạt ở các tầng trên của một tòa nhà. Do vậy ông ta chỉ có thể tìm cách trốn đi bằng tàu biển từ một hải cảng mà thôi.
Cũng có lời bàn rằng ông Gadhafi có thể được một số nước chấp nhận sang tị nạn như Venezuela, Chad và Algeria.
Fouad Ajami, một học giả thâm niên ở viện Hoover Institute, thuộc trường Ðại Học Stanford, suy luận: “Giờ này có thể ông ta đang ở biên giới với Algeria.” Libya tiếp giáp với Tunisia, Ai Cập, Algeria, Chad, Sudan và Niger. “Một bên là Tunisia, bên kia là Ai Cập, duy chỉ có dân Algeria là sẵn sàng chấp nhận Gadhafi mà thôi. Ông ta có nhiều chọn lựa, như có thể chạy qua Chad, nơi ông ta bỏ ra hằng tấn tiền bạc để mua chuộc các nhà lãnh đạo ở đó.”
Charles O. Cecil, một cựu đại sứ Mỹ ở Niger và cũng đã từng làm tham vụ ngoại giao ở Libya trong hai năm 2006 và 2007, cho rằng nhiều quốc gia ở Phi Châu vẫn còn mang ơn mắc nợ với Gadhafi vì ông từng viện trợ giúp đỡ họ. Ông Gadhafi cũng từng giúp thương thảo một hiệp ước hòa bình cho nước Cộng Hòa Trung Phi.
Về cá nhân Gadhafi, ông Cecil tin Gadhafi có thể vẫn giữ đúng lời thề ở lại trong nước. Theo ông Cecil, Gadhafi có thể tìm chốn dung thân ở vùng quê quán Sirte của ông, nơi người trong bộ tộc này được hưởng ơn mưa móc của ông nhiều nhất.
Hussein cũng từng làm tương tự ở Iraq. Ông ta trốn về quê nhà ở Tikrit và sống sót được nhiều tháng.
Chủ tịch Liên Ðoàn Cờ Tướng Quốc Tế, Kirsan Ilyumzhinov, người từng đến Libya để vận động phong trào chơi cờ Tây ở các nhà trường hồi Tháng Sáu, cho hãng thông tấn Interfax của Nga biết, ông có nói chuyện bằng điện thoại với Gadhafi hôm Thứ Ba và rằng ông Gadhafi “đang sống mạnh khỏe ở Tripoli và sẽ không rời khỏi Libya.”
Nhà báo New York Times, John Burns, ghi nhận việc ông Gadhafi ngồi đánh cờ với vị khách người Nga trong khi bên ngoài NATO đang oanh tạc tơi bời, là một ví dụ về chứng ảo tưởng của ông Gadhafi.
Có lẽ tay cờ người Nga biết được sự thật hiện ông Gadhafi đang ở đâu.
Cựu Ðại Sứ Cecil nhận định: “Ðây là cá tính của ông ta. Dưới cái nhìn của ông ta, ông ta chọn lựa đường đi của một kẻ tuẫn đạo.”
Wednesday, August 24, 2011 6:49:27 PM
Triệu Phong/Người Việt (tổng hợp)
Thủ đô Tripoli có thể thất thủ, chính quyền chuyên chế Libya có thể sụp đổ. Nhưng phe nổi dậy nói họ chưa ăn yên ngủ yên,
ngày nào nhà độc tài Moammar Gadhafi chưa bị bắt hoặc giết chết.

Một tấm hình của nhà độc tài Gadhafi bị quân nổi dậy đốt tại tổng hành dinh Bab al-Aziziya của ông ở Tripoli. (Hình: Patrick Baz/AFP/Getty Images)
Còn phải chờ đến bao lâu mới được hưởng giây phút khải hoàn, điều này có vẻ không có gì chắc chắn.
Tùy viên báo chí Tòa Bạch Ốc, Josh Earnest, trong cuộc họp báo ngắn ngủi sáng hôm Thứ Tư ở Martha's Vineyard, nơi Tổng Thống Barack Obama đang nghỉ hè, đặt vấn đề nhà độc tài Moammar Gadhafi hiện đang ở đâu. Ông Earnest nói: “Không có chứng cớ nào cho thấy ông ta đã trốn ra khỏi nước.”
Ðại Tá Dave Lapan, phát ngôn viên quân sự Hoa Kỳ nói với các nhà báo: “Phải công bằng mà nói, chúng tôi tin là ông ta hiện vẫn còn ở trong nước vì chưa có thông tin nào chứng minh ông ta đã ra đi.” Ông tiếp rằng Gadhafi hiện ở đâu thì vẫn chưa rõ.
Phát ngôn viên quân sự của phe nổi dậy, Ðại Tá Ahmed Bani nói: “Nay chúng tôi đã hoàn toàn kiểm soát khu dinh thự Bab al-Azizya. Ông Gadhafi và mấy người con trai không còn ở đây, không có ai cả. Không ai biết họ đi đâu.”
Ði đến đâu Gadhafi tuồng như cũng muốn bắn tiếng bằng một thông điệp. Trong một bản văn công bố vào sớm Thứ Tư qua trang mạng đài truyền hình do người con trai là Seif al-Islam cai quản, ông Gadhafi tuyên bố ông “di tản chiến thuật” khỏi khu dinh thự sau khi bị NATO tấn công làm hư hại. Ông Gadhafi nói:
“Bab al-Azizya nay chỉ còn là đống gạch vụn sau khi nó trở thành mục tiêu của 64 hỏa tiễn của NATO. Chúng tôi rút khỏi nơi đây chỉ vì lý do chiến thuật.” Tuy nhiên bài diễn văn của ông không nhắc gì đến việc ông đã rút đi đâu.
Trong bản văn ông phát biểu sau đó qua đài truyền hình Arrai Oruba đặt ở Syria, ông Gadhafi thúc giục “dân chúng, các bộ tộc, các bô lão hãy xuống đường... và dọn sạch Tripoli cho hết chuột bọ” - ý muốn ám chỉ quân nổi dậy.
Ông Gadhafi còn nói ông đi ra ngoài đường phố Tripoli mà không ai nhận ra: “Tôi đi mà không ai trông thấy và tôi chứng kiến các thanh niên đang sẵn sàng bảo vệ thành phố của mình.”
Sau khi tiến vào Tripoli, dân chúng thủ đô ăn mừng suốt đêm. Vào sáng sớm Thứ Tư, các đường phố trở nên trống trải một cách ghê rợn, trong khi quân nổi dậy và quân trung thành với Gadhafi vờn nhau như mèo chuột ở mọi góc phố và nỗi sợ bị các tay bắn sẻ của Gadhafi ẩn trên các nóc nhà làm tiêu tan các cuộc vui.
Trong cuộc phỏng vấn của đài truyền hình Pháp, France 24, Abdel Jalil, chủ tịch Hội Ðồng Chuyển Tiếp Quốc Gia của phe nổi dậy, cho biết có bắt được 600 tay súng trung thành với ông Gadhafi và cuộc chiến chưa kết thúc chừng nào Gadhafi chưa là tù nhân.
Phe nổi dậy nói quân trung thành của ông Gadhafi ở thành phố Sirte, nơi sinh quán của ông và cũng là thành trì chính còn lại, đã bắn hỏa tiễn vào thành phố Misrata của phe nổi dậy, chỉ vài giờ sau khi bắt đầu có cuộc thương lượng đầu hàng của thành phố Sirte.
Ở mặt trận miền Ðông, quân nổi dậy tràn ngập tụ điểm dầu khí Ras Lanuf, trên đường tiến đến Sirte.
Tổng Thống Nga Dmitry Medvedev đồng thời tuyên bố, ở Libya vẫn có hai lực lượng mặc dù phe nổi dậy đang thắng thế, và ông kêu gọi thương thuyết để giải quyết vấn đề.
Suốt nhiều tuần ông Gadhafi không xuất hiện nơi công cộng, trong khi nhiều đồn đoán cho rằng ông đang ẩn trốn trong khu dinh thự của mình.
Gadhafi và gia đình đang ở đâu, vẫn là một bí mật. Phe nổi dậy nói họ không tìm thấy dấu vết nào của ông ta khi họ xông vào khu dinh thự của ông hôm Thứ Ba.
John Burns, phóng viên báo New York Times đang làm tường thuật ở Tripoli, cho rằng con người mà phe nổi dậy đang săn lùng là một người kỳ dị, tính khí bất thường, mà người ta chỉ có thể đánh giá được qua hành động, khiến khó có thể tiên liệu về các nước cờ của ông ta. Ông Burns nói: “Ðó là một bí mật. Tất cả chúng ta chỉ biết suy đoán, suy đoán về một người không thể tiên đoán.”
Quân nổi dậy đã chiếm được Tripoli, đáng kể nhất là khu dinh thự của Gadhafi. Người ta tràn ra đường nổ súng bắn mừng reo vui, khiến gợi nhớ đến một thủ đô Ả Rập bị chiếm cách đây bảy năm, đó là Baghdad.
Hồi năm 2003, nhà độc tài Saddam Hussein, cũng như Gadhafi đã thề sát cánh với dân chúng. Nhưng cuối cùng thì cả hai đều biến đi đâu mất.
Nhà báo John Burns, người tường trình về Hussein và cuộc chiến ở Iraq, gọi Gadhafi và Hussein đều là “kẻ sát nhân,” tuy nhiên cho rằng ông Hussein là người có tính toán hơn, trong khi ông Gadhafi đang đánh mất dần yếu tố hợp lý. Ông Burns nói: “Theo tôi ông này mang chứng ảo tưởng trong suốt nhiều năm và rằng cơn ảo tưởng càng trầm trọng hơn, khi màn chung cục đối với ông ta đang gần kề.”
Nhà báo Nic Robertson của CNN, người cũng phụ trách việc tường thuật thời gian cuối cùng của Hussein nói, thời của ông Gadhafi chỉ còn rất giới hạn, rằng ông này không thể kéo dài được lâu như Saddam Hussein.
Khác với Iraq, nơi ông Hussein bị liên quân lật đổ, Gadhifi bị lực lượng dân quân nổi dậy Libya thực hiện. Ông Hussein có thể tìm nơi ẩn dật trong đất nước phân chia bởi nhiều hệ phái, còn ông Gadhafi không có được chọn lựa đó. Nhà báo Robertson nói: “Cả nước Libya đều muốn ông Gadhafi phải ra đi, tuy nhiên dù vậy cũng phải chờ đến vài tuần nữa.”
Abubaker Saad, cựu cố vấn của ông Gadhafi miêu tả đến một hệ thống hầm trú ẩn kiên cố bên dưới khu dinh thự của Gadhafi, nơi ông này có thể tạm trú. Nhưng những chỗ này đã bị các cuộc không tập của NATO san bằng, Gadhafin không thể nào còn ẩn trốn nơi đó được.
Có tin ông Gadhafi đang trốn trong một nông trại nằm gần phi trường, để chờ cơ hội tẩu thoát. Thuyết này có vẻ hợp lý sau khi Gadhafi cho truyền thanh một thông điệp hôm Thứ Tư, người ta có thể nghe thấy vang vọng tiếng gì giống như tiếng gà vịt kêu ở phía sau.
Theo điện văn ngoại giao mật của Mỹ do WikiLeaks tiết lộ hồi năm ngoái, Gadhafi là người sợ đi máy bay qua một biển nước và vô cùng ghét sinh hoạt ở các tầng trên của một tòa nhà. Do vậy ông ta chỉ có thể tìm cách trốn đi bằng tàu biển từ một hải cảng mà thôi.
Cũng có lời bàn rằng ông Gadhafi có thể được một số nước chấp nhận sang tị nạn như Venezuela, Chad và Algeria.
Fouad Ajami, một học giả thâm niên ở viện Hoover Institute, thuộc trường Ðại Học Stanford, suy luận: “Giờ này có thể ông ta đang ở biên giới với Algeria.” Libya tiếp giáp với Tunisia, Ai Cập, Algeria, Chad, Sudan và Niger. “Một bên là Tunisia, bên kia là Ai Cập, duy chỉ có dân Algeria là sẵn sàng chấp nhận Gadhafi mà thôi. Ông ta có nhiều chọn lựa, như có thể chạy qua Chad, nơi ông ta bỏ ra hằng tấn tiền bạc để mua chuộc các nhà lãnh đạo ở đó.”
Charles O. Cecil, một cựu đại sứ Mỹ ở Niger và cũng đã từng làm tham vụ ngoại giao ở Libya trong hai năm 2006 và 2007, cho rằng nhiều quốc gia ở Phi Châu vẫn còn mang ơn mắc nợ với Gadhafi vì ông từng viện trợ giúp đỡ họ. Ông Gadhafi cũng từng giúp thương thảo một hiệp ước hòa bình cho nước Cộng Hòa Trung Phi.
Về cá nhân Gadhafi, ông Cecil tin Gadhafi có thể vẫn giữ đúng lời thề ở lại trong nước. Theo ông Cecil, Gadhafi có thể tìm chốn dung thân ở vùng quê quán Sirte của ông, nơi người trong bộ tộc này được hưởng ơn mưa móc của ông nhiều nhất.
Hussein cũng từng làm tương tự ở Iraq. Ông ta trốn về quê nhà ở Tikrit và sống sót được nhiều tháng.
Chủ tịch Liên Ðoàn Cờ Tướng Quốc Tế, Kirsan Ilyumzhinov, người từng đến Libya để vận động phong trào chơi cờ Tây ở các nhà trường hồi Tháng Sáu, cho hãng thông tấn Interfax của Nga biết, ông có nói chuyện bằng điện thoại với Gadhafi hôm Thứ Ba và rằng ông Gadhafi “đang sống mạnh khỏe ở Tripoli và sẽ không rời khỏi Libya.”
Nhà báo New York Times, John Burns, ghi nhận việc ông Gadhafi ngồi đánh cờ với vị khách người Nga trong khi bên ngoài NATO đang oanh tạc tơi bời, là một ví dụ về chứng ảo tưởng của ông Gadhafi.
Có lẽ tay cờ người Nga biết được sự thật hiện ông Gadhafi đang ở đâu.
Cựu Ðại Sứ Cecil nhận định: “Ðây là cá tính của ông ta. Dưới cái nhìn của ông ta, ông ta chọn lựa đường đi của một kẻ tuẫn đạo.”

