Bình Luận Thời Sự
Bão xuất phát từ Trung Hoa lục địa
Ngô Nhân Dụng
Một bản tin trên blog của một những người yêu nước đã đăng “Dự báo thời tiết” ngày Chủ Nhật 21 tháng 8 năm 2011: “Bão từ biển Ðông kéo mây đen khắp Hà Nội. Bão... xuất phát từ Trung Hoa lục địa.”
Quả nhiên, bão đã tới. Có thể nói, Ðại Sứ Quán Trung Quốc ở Hà Nội đã hết kiên nhẫn, sau khi Trung Tướng Nguyễn Ðức Nhanh - Giám đốc Công An Hà Nội - họp báo lỡ lời công nhận những người biểu tình trong mười tuần lễ qua đều là những người yêu nước! Nói như vậy không khác gì xác nhận một sự thật: Người yêu nước thì chống Trung Cộng. Cộng sản Trung Hoa chính là kẻ thù của nước Việt Nam!
Không ai ngạc nhiên khi Ðảng Cộng Sản Việt Nam cho “đàn chó săn” đi dẹp và bắt bớ những người yêu nước biểu tình vào Chủ Nhật vừa qua. Ðiều đáng ngạc nhiên là tại sao đến bây giờ, hơn 2 tháng rưỡi họ mới thẳng tay đàn áp. Không một chế độ độc tài nào lại để cho một phong trào của dân chúng thành hình và lớn lên. Không chế độ độc tài nào lại để cho một phong trào tự phát của nhân dân được phát triển hết tuần này sang tuần khác. Họ phải dập tắt càng sớm càng tốt. Phải mạnh tay đàn áp toàn diện và triệt để, nhổ cỏ phải nhổ tận rễ. Ra lệnh công an bắt người là việc rất dễ dàng, hàng ngàn người cũng dễ; tại sao họ để đến tuần lễ thứ 10 mới quyết định ra tay?
Dân Hà Nội đã thử đưa ra các giả thuyết để giải thích tình trạng chậm trễ này. Có thể vì tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang thấy chế độ vững như bàn thạch; không ngại gì lỏng tay cho dân được thỏa mãn, rồi ra tay dẹp tan lúc nào cũng được? Hay là họ cũng biết kính trọng tinh thần yêu nước của thanh niên, trí thức Hà Nội cho nên họ không thẳng tay trị từ những ngày đầu? Hay là họ cũng muốn lợi dụng một phong trào yêu nước của người dân, dung túng các cuộc biểu tình để chính họ có lý do xin Trung Nam Hải và Ðại Sứ Quán Trung Quốc đừng đòi hỏi nhiều điều khắt khe, khó theo quá? Hay là trong Bộ Chính Trị cũng có những người muốn chống lại Bắc Kinh, do đó muốn để yên cho dân được biểu tình?
Nhưng những giả thuyết đó đều có thể đúng, nhưng không đáng tin lắm. Giả thuyết vững chắc nhất để giải thích tình trạng chậm trễ trong việc đàn áp dân là: Họ sợ, sợ rất nhiều thứ, cho nên không dám quyết định. Không ai muốn lãnh trách nhiệm đưa ra quyết định đàn áp ngay sau cuộc biểu tình đầu tiên vào Tháng Sáu.
Chắc chắn ngay sau cuộc biểu tình đầu tiên, Ðại Sứ Quán Trung Quốc đã yêu cầu câu lạc bộ Ba Ðình phải ngăn cản, không cho phép dân biểu tình chửi Trung Quốc công khai như vậy. Nhưng trong đám 15 người của Bộ Chính Trị không ai dám đề nghị cho công an đàn áp. Họ sợ lãnh trách nhiệm cá nhân. Năm, ba năm nữa, sẽ đến lúc các nhà nghiên cứu tìm ra trong cuộc họp nào, trong Bộ Chính Trị ai là người chủ trương thẳng tay đàn áp những người dân biểu tình do lòng yêu nước thúc đẩy! Một người nào đó trong tập đoàn thống trị có thể sẽ viết hồi ký kể chi tiết các cuộc bàn cãi, trong đó ai nói gì, ai cứng, ai mềm, ai đóng vai ông thiện, ai làm ông ác! Lúc đó, danh tánh sẽ được đưa ra công khai cho người dân luận tội.
Họ mang nhiều nỗi sợ, nhưng chắc cũng không sợ sẽ bị lịch sử ghi tên với tội đập dân và bán nước. Vì chắc họ không suy nghĩ xa xôi đến thế. Nếu biết nghĩ tới hậu quả và lo sẽ ô danh ngàn năm thì họ đã không nuôi dưỡng và bảo vệ một guồng máy tham nhũng, tàn bạo và dối trá để bảo vệ quyền bính của mình; và họ cũng không đi bán rừng, bán biển, bán quặng mỏ cho ngoại bang suốt bao năm qua. Họ run sợ không ai dám ra lệnh đàn áp, chỉ vì không ai muốn sẽ làm một Mubarack! Ðó là một nỗi sợ. Họ đã thấy trước mắt cảnh tượng cựu tổng thống Ai Cập đang bị điều tra, bị đưa ra trước tòa án xét xử về những tội tham ô, trong đó có tội giết dân đi biểu tình. Thân có thể bị tù tội. Tài sản có thể bị tịch thu trước khi được tẩu tán hết ra nước ngoài. Chính mối lo đó đã khiến cho trong hai tháng qua trong Bộ Chính Trị người nọ đùn người kia; có thể ai cũng nói năng hùng hồn, nhưng chỉ hô những khẩu hiệu chung chung, không ai dám đề nghị thẳng tay bắt bớ ngay lập tức!
Một lý do khác khiến họ không dám đưa ra đề nghị đánh dẹp cụ thể, là anh nọ vẫn sợ anh kia nhân lúc có loạn sẽ tìm cớ hất cẳng mình; đó là nỗi sợ thứ hai. Chắc chắn không anh nào dám đề nghị đối thoại và thỏa hiệp với những người yêu nước. Vì họ không thể giúp cho phong trào quần chúng này lớn mạnh hơn. Cũng không anh nào dám đề nghị giải pháp Thiên An Môn. Vì sợ phản ứng của dân chúng; lòng phẫn uất của dân Hà Nội có thể bùng nổ không ngờ, đàn áp xong đợt này có thể sẽ còn những đợt khác! Ðề nghị đàn áp nhưng việc không thành thì không khác gì đưa con dao cho đứa khác trong Bộ Chính Trị nó cứa cổ mình! Tốt nhất là các đồng chí cứ dè dặt, canh chừng lẫn nhau; ăn nói theo lối ba phải, chờ đợi rồi lựa gió chiều nào xoay chiều đó. Theo dư luận người dân Hà Nội thì chính vì sợ mà các đồng chí trong Bộ Chính Trị phải giữ miếng với nhau, không ai dám quả quyết đánh!
Năm 1989, khi sinh viên và công nhân Bắc Kinh đi biểu tình kéo dài cả tháng, Bộ Chính Trị Cộng Sản Trung Hoa cũng phản ứng rất chậm trễ; mà họ thật sự bất đồng ý kiến. Lý Bằng muốn đàn áp biểu tình ngay, không cần bàn cãi. Triệu Tử Dương thì muốn nhân dịp đám thanh niên đòi hỏi sẽ đem thi hành một số biện pháp cải cách dân chủ hóa, cho nên ông ta chủ trương đối thoại và thỏa hiệp với sinh viên Bắc Kinh. Nhưng đằng sau những ý kiến bất đồng về chính sách đối phó, vẫn là cuộc tranh chấp quyền lực giữa hai cá nhân, một bên là thủ tướng, một bên là tổng bí thư. Khi hai người to đầu nhất không thể đồng ý với nhau, Bộ Chính Trị Cộng Sản Trung Quốc cũng không thể quyết định. Cuối cùng, phải đến thỉnh ý Ðặng Tiểu Bình, một người không có chức vụ nào chính thức ngoài vai trò chủ tịch Quân Ủy Trung Ương. Và sau cùng, chính Ðặng Tiểu Bình phải quyết định chấm dứt tình trạng lưỡng lự. Ông ta ra lệnh: Ðánh! Tả lớ!
Tại Hà Nội hiện nay không người nào trong Bộ Chính Trị có địa vị mạnh như Ðặng Tiểu Bình trong vụ Thiên An Môn năm 1989. Chỉ có tòa Ðại Sứ Quán Trung Quốc có thể đảm nhiệm vai trò đó! Trong hai tháng qua, lòng kiên nhẫn của Ðại Sứ Quán đã bị thử thách, đến lúc họ cũng thấy cần nhúng tay mới xong. Chính họ cũng lo bị bề trên ở Trung Nam Hải khiển trách. Cho nên, cuối cùng, guồng máy đàn áp đã chuyển động.
Phải đàn áp, nhưng cần che giấu bàn tay điều khiển, giật dây. Cho nên không thấy một quyết định nào chính thức rõ ràng. Chắc không có một cuộc biểu quyết nào trong Bộ Chính Trị; không ai ký một văn bản nào ra lệnh cho ai cả. Cách tốt nhất có lẽ là theo thói vô trách nhiệm xưa nay, dùng lệnh miệng, dịch từng câu từ tiếng phổ thông sang tiếng Việt. Ðưa từng việc cần làm, ra lệnh cho từng bộ phận thi hành từng bước. Không cần một quyết định chung đầy đủ và tổng quát. Rút kinh nghiệm Thiên An Môn, các đồng chí Trung Quốc không muốn có xe tăng tham dự. Cảnh đổ máu sẽ tạo hình ảnh xấu trên báo đài quốc tế, hơn 20 năm vẫn chưa hết. Cuộc bắt bớ ngày Chủ Nhật 21 Tháng Tám, cũng chỉ sử dụng công an mặc thường phục. Và những người bị bắt lên những chiếc xe mang hình ảnh dân sự, với các bảng quảng cáo mầu mè hai bên, chứ không phải xe công an bít bùng! Kinh nghiệm Thiên An Môn đã được học tập rất kỹ càng, và thi hành đầy đủ!
Các hành động có thể tuần tự diễn ra từng bước một, tốc độ nhanh hay chậm tùy theo sự thúc đẩy của các đồng chí anh em. Có những chi tiết không được kiểm soát và trù liệu trước, như cú đạp của bàn chân Ðại Úy Minh, hay cái miệng mau mắn lỡ lời của Trung Tướng Nguyễn Ðức Nhanh. Các diễn viên này không diễn đúng bài bản, chỉ vì thực sự không có bài bản. Họ không nhận được một chỉ thị chung tổng quát, cũng không biết những ai là bộ chỉ huy đầu não cho toàn bộ chiến dịch. Có thể một kịch bản đã được sơ thảo, nhưng người ta không muốn công bố. Chỉ cần lâu lâu dịch từng đoạn sang tiếng Việt để cho một bộ phận nào đó thi hành, trong khi những bộ phận khác không cần biết.
Bước đầu tiên, như chúng ta biết, là một bài trên báo Quân Ðội Nhân Dân chuẩn bị dư luận. Báo này rút kinh nghiệm các cuộc cách mạng ở Ðông Âu và Bắc Phi để báo động: “Các thế lực thù địch đặc biệt chú ý thúc đẩy sự hình thành và công khai hóa các tổ chức chính trị đối lập... Thông qua các tổ chức đối lập, các thế lực thù địch tập hợp quần chúng, tiến tới tạo dựng ‘ngọn cờ’ và lực lượng đối lập trong xã hội, làm nòng cốt để tiến hành ‘cách mạng đường phố’, nhằm thay đổi thể chế chính trị.” Bài báo rất lý thuyết này có thể coi như hành động của người đi săn huýt sáo chuẩn bị trước khi cho đàn chó săn xông ra. Ý tưởng chính là: Coi chừng diễn biến hòa bình!
Bước tiếp theo cụ thể hơn, là một thông cáo của chính quyền thành phố Hà Nội yêu cầu chấm dứt mọi hoạt động tụ tập, biểu tình, tuần hành tự phát trong thành phố với lời đe dọa mạnh hơn: “...lợi dụng tình cảm yêu nước của nhân dân, các thế lực chống đối nhà nước Việt Nam trong và ngoài nước đã và đang kêu gọi, kích động, hướng dẫn quần chúng biểu tình, tuần hành... tiềm ẩn các yếu tố gây mất ổn định chính trị; ...tác động tiêu cực tới việc thực hiện đường lối, quan hệ đối ngoại của Ðảng, Nhà nước ta... Âm mưu, ý đồ của họ là chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, kích động hằn thù dân tộc chia rẽ quan hệ Việt-Trung.”
Cuối cùng, hành động đàn áp xuất phát từ chính quyền một thành phố chứ không phải do các cấp trên! Theo Nghị Ðịnh 38/2005/CP của Nguyễn Tấn Dũng đã quy định thì Chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân có quyền cấp cho phép cho biểu tình và hủy bỏ việc tập trung đông người! Bộ Chính Trị không phải quyết định! Ðại Sứ Quán Trung Quốc cũng không có trách nhiệm!
Những nhà trí thức và thanh niên Hà Nội chắc đã biết trước kết quả này trước khi họ tham dự người cuộc biểu tình. Nhưng họ không sợ. Giống như những người dân biểu tình chống thuế ở Quảng Nam hay những thanh niên từ Hà Nội đến Sài Gòn đã đi biểu tình để tang Phan Châu Trinh trong thế kỷ trước. Việc đàn áp diễn ra ngày Chủ Nhật vừa qua, may mắn không gây đổ máu như ở Thiên An Môn năm 1989. Nhưng trong những tuần lễ tới, giới trí thức và thanh niên còn đủ lực lượng biểu tình tiếp hay không? Nếu tiếp tục biểu tình thì sẽ thực hiện với những hình thái nào? Chúng ta có thể chờ coi lịch sử sẽ diễn ra trước mắt người dân Hà Nội.
Ngô Nhân Dụng
Một bản tin trên blog của một những người yêu nước đã đăng “Dự báo thời tiết” ngày Chủ Nhật 21 tháng 8 năm 2011: “Bão từ biển Ðông kéo mây đen khắp Hà Nội. Bão... xuất phát từ Trung Hoa lục địa.”
Quả nhiên, bão đã tới. Có thể nói, Ðại Sứ Quán Trung Quốc ở Hà Nội đã hết kiên nhẫn, sau khi Trung Tướng Nguyễn Ðức Nhanh - Giám đốc Công An Hà Nội - họp báo lỡ lời công nhận những người biểu tình trong mười tuần lễ qua đều là những người yêu nước! Nói như vậy không khác gì xác nhận một sự thật: Người yêu nước thì chống Trung Cộng. Cộng sản Trung Hoa chính là kẻ thù của nước Việt Nam!
Không ai ngạc nhiên khi Ðảng Cộng Sản Việt Nam cho “đàn chó săn” đi dẹp và bắt bớ những người yêu nước biểu tình vào Chủ Nhật vừa qua. Ðiều đáng ngạc nhiên là tại sao đến bây giờ, hơn 2 tháng rưỡi họ mới thẳng tay đàn áp. Không một chế độ độc tài nào lại để cho một phong trào của dân chúng thành hình và lớn lên. Không chế độ độc tài nào lại để cho một phong trào tự phát của nhân dân được phát triển hết tuần này sang tuần khác. Họ phải dập tắt càng sớm càng tốt. Phải mạnh tay đàn áp toàn diện và triệt để, nhổ cỏ phải nhổ tận rễ. Ra lệnh công an bắt người là việc rất dễ dàng, hàng ngàn người cũng dễ; tại sao họ để đến tuần lễ thứ 10 mới quyết định ra tay?
Dân Hà Nội đã thử đưa ra các giả thuyết để giải thích tình trạng chậm trễ này. Có thể vì tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang thấy chế độ vững như bàn thạch; không ngại gì lỏng tay cho dân được thỏa mãn, rồi ra tay dẹp tan lúc nào cũng được? Hay là họ cũng biết kính trọng tinh thần yêu nước của thanh niên, trí thức Hà Nội cho nên họ không thẳng tay trị từ những ngày đầu? Hay là họ cũng muốn lợi dụng một phong trào yêu nước của người dân, dung túng các cuộc biểu tình để chính họ có lý do xin Trung Nam Hải và Ðại Sứ Quán Trung Quốc đừng đòi hỏi nhiều điều khắt khe, khó theo quá? Hay là trong Bộ Chính Trị cũng có những người muốn chống lại Bắc Kinh, do đó muốn để yên cho dân được biểu tình?
Nhưng những giả thuyết đó đều có thể đúng, nhưng không đáng tin lắm. Giả thuyết vững chắc nhất để giải thích tình trạng chậm trễ trong việc đàn áp dân là: Họ sợ, sợ rất nhiều thứ, cho nên không dám quyết định. Không ai muốn lãnh trách nhiệm đưa ra quyết định đàn áp ngay sau cuộc biểu tình đầu tiên vào Tháng Sáu.
Chắc chắn ngay sau cuộc biểu tình đầu tiên, Ðại Sứ Quán Trung Quốc đã yêu cầu câu lạc bộ Ba Ðình phải ngăn cản, không cho phép dân biểu tình chửi Trung Quốc công khai như vậy. Nhưng trong đám 15 người của Bộ Chính Trị không ai dám đề nghị cho công an đàn áp. Họ sợ lãnh trách nhiệm cá nhân. Năm, ba năm nữa, sẽ đến lúc các nhà nghiên cứu tìm ra trong cuộc họp nào, trong Bộ Chính Trị ai là người chủ trương thẳng tay đàn áp những người dân biểu tình do lòng yêu nước thúc đẩy! Một người nào đó trong tập đoàn thống trị có thể sẽ viết hồi ký kể chi tiết các cuộc bàn cãi, trong đó ai nói gì, ai cứng, ai mềm, ai đóng vai ông thiện, ai làm ông ác! Lúc đó, danh tánh sẽ được đưa ra công khai cho người dân luận tội.
Họ mang nhiều nỗi sợ, nhưng chắc cũng không sợ sẽ bị lịch sử ghi tên với tội đập dân và bán nước. Vì chắc họ không suy nghĩ xa xôi đến thế. Nếu biết nghĩ tới hậu quả và lo sẽ ô danh ngàn năm thì họ đã không nuôi dưỡng và bảo vệ một guồng máy tham nhũng, tàn bạo và dối trá để bảo vệ quyền bính của mình; và họ cũng không đi bán rừng, bán biển, bán quặng mỏ cho ngoại bang suốt bao năm qua. Họ run sợ không ai dám ra lệnh đàn áp, chỉ vì không ai muốn sẽ làm một Mubarack! Ðó là một nỗi sợ. Họ đã thấy trước mắt cảnh tượng cựu tổng thống Ai Cập đang bị điều tra, bị đưa ra trước tòa án xét xử về những tội tham ô, trong đó có tội giết dân đi biểu tình. Thân có thể bị tù tội. Tài sản có thể bị tịch thu trước khi được tẩu tán hết ra nước ngoài. Chính mối lo đó đã khiến cho trong hai tháng qua trong Bộ Chính Trị người nọ đùn người kia; có thể ai cũng nói năng hùng hồn, nhưng chỉ hô những khẩu hiệu chung chung, không ai dám đề nghị thẳng tay bắt bớ ngay lập tức!
Một lý do khác khiến họ không dám đưa ra đề nghị đánh dẹp cụ thể, là anh nọ vẫn sợ anh kia nhân lúc có loạn sẽ tìm cớ hất cẳng mình; đó là nỗi sợ thứ hai. Chắc chắn không anh nào dám đề nghị đối thoại và thỏa hiệp với những người yêu nước. Vì họ không thể giúp cho phong trào quần chúng này lớn mạnh hơn. Cũng không anh nào dám đề nghị giải pháp Thiên An Môn. Vì sợ phản ứng của dân chúng; lòng phẫn uất của dân Hà Nội có thể bùng nổ không ngờ, đàn áp xong đợt này có thể sẽ còn những đợt khác! Ðề nghị đàn áp nhưng việc không thành thì không khác gì đưa con dao cho đứa khác trong Bộ Chính Trị nó cứa cổ mình! Tốt nhất là các đồng chí cứ dè dặt, canh chừng lẫn nhau; ăn nói theo lối ba phải, chờ đợi rồi lựa gió chiều nào xoay chiều đó. Theo dư luận người dân Hà Nội thì chính vì sợ mà các đồng chí trong Bộ Chính Trị phải giữ miếng với nhau, không ai dám quả quyết đánh!
Năm 1989, khi sinh viên và công nhân Bắc Kinh đi biểu tình kéo dài cả tháng, Bộ Chính Trị Cộng Sản Trung Hoa cũng phản ứng rất chậm trễ; mà họ thật sự bất đồng ý kiến. Lý Bằng muốn đàn áp biểu tình ngay, không cần bàn cãi. Triệu Tử Dương thì muốn nhân dịp đám thanh niên đòi hỏi sẽ đem thi hành một số biện pháp cải cách dân chủ hóa, cho nên ông ta chủ trương đối thoại và thỏa hiệp với sinh viên Bắc Kinh. Nhưng đằng sau những ý kiến bất đồng về chính sách đối phó, vẫn là cuộc tranh chấp quyền lực giữa hai cá nhân, một bên là thủ tướng, một bên là tổng bí thư. Khi hai người to đầu nhất không thể đồng ý với nhau, Bộ Chính Trị Cộng Sản Trung Quốc cũng không thể quyết định. Cuối cùng, phải đến thỉnh ý Ðặng Tiểu Bình, một người không có chức vụ nào chính thức ngoài vai trò chủ tịch Quân Ủy Trung Ương. Và sau cùng, chính Ðặng Tiểu Bình phải quyết định chấm dứt tình trạng lưỡng lự. Ông ta ra lệnh: Ðánh! Tả lớ!
Tại Hà Nội hiện nay không người nào trong Bộ Chính Trị có địa vị mạnh như Ðặng Tiểu Bình trong vụ Thiên An Môn năm 1989. Chỉ có tòa Ðại Sứ Quán Trung Quốc có thể đảm nhiệm vai trò đó! Trong hai tháng qua, lòng kiên nhẫn của Ðại Sứ Quán đã bị thử thách, đến lúc họ cũng thấy cần nhúng tay mới xong. Chính họ cũng lo bị bề trên ở Trung Nam Hải khiển trách. Cho nên, cuối cùng, guồng máy đàn áp đã chuyển động.
Phải đàn áp, nhưng cần che giấu bàn tay điều khiển, giật dây. Cho nên không thấy một quyết định nào chính thức rõ ràng. Chắc không có một cuộc biểu quyết nào trong Bộ Chính Trị; không ai ký một văn bản nào ra lệnh cho ai cả. Cách tốt nhất có lẽ là theo thói vô trách nhiệm xưa nay, dùng lệnh miệng, dịch từng câu từ tiếng phổ thông sang tiếng Việt. Ðưa từng việc cần làm, ra lệnh cho từng bộ phận thi hành từng bước. Không cần một quyết định chung đầy đủ và tổng quát. Rút kinh nghiệm Thiên An Môn, các đồng chí Trung Quốc không muốn có xe tăng tham dự. Cảnh đổ máu sẽ tạo hình ảnh xấu trên báo đài quốc tế, hơn 20 năm vẫn chưa hết. Cuộc bắt bớ ngày Chủ Nhật 21 Tháng Tám, cũng chỉ sử dụng công an mặc thường phục. Và những người bị bắt lên những chiếc xe mang hình ảnh dân sự, với các bảng quảng cáo mầu mè hai bên, chứ không phải xe công an bít bùng! Kinh nghiệm Thiên An Môn đã được học tập rất kỹ càng, và thi hành đầy đủ!
Các hành động có thể tuần tự diễn ra từng bước một, tốc độ nhanh hay chậm tùy theo sự thúc đẩy của các đồng chí anh em. Có những chi tiết không được kiểm soát và trù liệu trước, như cú đạp của bàn chân Ðại Úy Minh, hay cái miệng mau mắn lỡ lời của Trung Tướng Nguyễn Ðức Nhanh. Các diễn viên này không diễn đúng bài bản, chỉ vì thực sự không có bài bản. Họ không nhận được một chỉ thị chung tổng quát, cũng không biết những ai là bộ chỉ huy đầu não cho toàn bộ chiến dịch. Có thể một kịch bản đã được sơ thảo, nhưng người ta không muốn công bố. Chỉ cần lâu lâu dịch từng đoạn sang tiếng Việt để cho một bộ phận nào đó thi hành, trong khi những bộ phận khác không cần biết.
Bước đầu tiên, như chúng ta biết, là một bài trên báo Quân Ðội Nhân Dân chuẩn bị dư luận. Báo này rút kinh nghiệm các cuộc cách mạng ở Ðông Âu và Bắc Phi để báo động: “Các thế lực thù địch đặc biệt chú ý thúc đẩy sự hình thành và công khai hóa các tổ chức chính trị đối lập... Thông qua các tổ chức đối lập, các thế lực thù địch tập hợp quần chúng, tiến tới tạo dựng ‘ngọn cờ’ và lực lượng đối lập trong xã hội, làm nòng cốt để tiến hành ‘cách mạng đường phố’, nhằm thay đổi thể chế chính trị.” Bài báo rất lý thuyết này có thể coi như hành động của người đi săn huýt sáo chuẩn bị trước khi cho đàn chó săn xông ra. Ý tưởng chính là: Coi chừng diễn biến hòa bình!
Bước tiếp theo cụ thể hơn, là một thông cáo của chính quyền thành phố Hà Nội yêu cầu chấm dứt mọi hoạt động tụ tập, biểu tình, tuần hành tự phát trong thành phố với lời đe dọa mạnh hơn: “...lợi dụng tình cảm yêu nước của nhân dân, các thế lực chống đối nhà nước Việt Nam trong và ngoài nước đã và đang kêu gọi, kích động, hướng dẫn quần chúng biểu tình, tuần hành... tiềm ẩn các yếu tố gây mất ổn định chính trị; ...tác động tiêu cực tới việc thực hiện đường lối, quan hệ đối ngoại của Ðảng, Nhà nước ta... Âm mưu, ý đồ của họ là chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, kích động hằn thù dân tộc chia rẽ quan hệ Việt-Trung.”
Cuối cùng, hành động đàn áp xuất phát từ chính quyền một thành phố chứ không phải do các cấp trên! Theo Nghị Ðịnh 38/2005/CP của Nguyễn Tấn Dũng đã quy định thì Chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân có quyền cấp cho phép cho biểu tình và hủy bỏ việc tập trung đông người! Bộ Chính Trị không phải quyết định! Ðại Sứ Quán Trung Quốc cũng không có trách nhiệm!
Những nhà trí thức và thanh niên Hà Nội chắc đã biết trước kết quả này trước khi họ tham dự người cuộc biểu tình. Nhưng họ không sợ. Giống như những người dân biểu tình chống thuế ở Quảng Nam hay những thanh niên từ Hà Nội đến Sài Gòn đã đi biểu tình để tang Phan Châu Trinh trong thế kỷ trước. Việc đàn áp diễn ra ngày Chủ Nhật vừa qua, may mắn không gây đổ máu như ở Thiên An Môn năm 1989. Nhưng trong những tuần lễ tới, giới trí thức và thanh niên còn đủ lực lượng biểu tình tiếp hay không? Nếu tiếp tục biểu tình thì sẽ thực hiện với những hình thái nào? Chúng ta có thể chờ coi lịch sử sẽ diễn ra trước mắt người dân Hà Nội.
Singapore : Bầu cử tổng thống thể hiện lòng khao khát dân chủ

Cựu Tony Tan trong cuộc vận động tranh cử ngày 24/08/2011 tại Singapore.
Reuters
Ngày mai, thứ bảy 27 tháng 8, Singapore sẽ tổ chức bầu Tổng thống. Liên quan đến sự kiện này, nhật báo Le Monde số ra hôm nay có bài nhận định « Xã hội Singapore âm thầm theo đuổi trào lưu dân chủ ». Bài báo cho biết, cuộc bỏ phiếu ngày mai có thể sẽ xác nhận cho các tiến triển chính trị hiện hành.
Kể từ khi bầu cử tổng thống đầu tiên được tổ chức năm 1993, lần đầu tiên bầu cử Tổng thống sẽ diễn ra với sự tranh tài giữa 4 ứng viên : ông Tony Tan, cựu thủ tướng và 3 ứng viên khác thuộc phe đối lập.
Le Monde cho biết, ông Tony Tan đã từng quản lý Tập đoàn Đầu tư Chính phủ Singapore, Quỹ tài sản lớn nhất của đảo quốc. Ông nhận được sự ủng hộ của Thủ tướng Lý Hiển Long và Tổng thống đương nhiệm Ramanathan, hai lần trúng cử khi không có đối thủ trong phe đối lập. Còn ba ứng viên còn lại thuộc các đảng đối lập, luôn chỉ trích Đảng Hành động Nhân dân (PAP), cầm quyền kể từ khi lập quốc 1959.
Theo Le Monde, sự kiện này cho thấy trên đảo quốc 5 triệu dân này, đang từ từ hình thành một « hướng suy nghĩ » nào đó, mong muốn bẻ gãy tính cứng nhắc của khế ước xã hội.
Trên thực tế, vị trí Tổng thống tại Singapore chỉ có vai trò hình thức. Le Monde cho rằng nếu như ứng viên Tony Tan trúng cử thì vai trò này sẽ không thay đổi. Còn trong trường hợp một trong ba ứng viên đối lập trúng cử, có thể họ sẽ đi đến việc sử dụng quyền phủ quyết, nhất là trong việc chặn đứng vài sự bổ nhiệm trong chính phủ.
Theo Le Monde, do phụ thuộc nhiều vào thế giới để kích thích tăng trưởng kinh tế, nên xã hội Singapore đang gặp một loạt các khó khăn : thách thức về dân số, sức mua của tầng lớp trung lưu giảm, bất bình đẳng kỷ kục giữa các giai tầng xã hội, sự mệt mỏi về hệ tư tưởng chủ nghĩa gia trưởng có hiệu lực kể từ giành độc lập năm 1965, quyền tự do ngôn luận bị tước đoạt.
Trong đợt bầu cử Quốc hội hồi tháng năm vừa qua, xã hội Singapour đã cho thấy sự khát khao đổi mới của họ. Lần đó, đảng PAP của Thủ tướng Lý Hiển Long chỉ đạt có 60% số phiếu bầu. Le Monde nhận xét, kết quả bầu cử đưa ra có lẽ sẽ thấy nực cười : phe đối lập chỉ đạt có 6 trên tổng số 87 ghế tại Quốc hội, thay vì là 2 ghế như trước. Tuy nhiên, nếu xem xét ở góc độ địa phương, lần đầu tiên đảng Lao Động « Workers’ Party », viết tắt là WP, đã chiếm được 5 ghế trong cùng một quận.
Ngay khi kết quả được công bố, ông Lý Hiển Long phải lập tức lên tiếng xin lỗi và cam kết sửa sai. Không những thế, ông Lý Quang Diệu, cha đẻ của nước Singapour hiện đại, và cũng là cha của thủ tướng Lý Hiển Long, đã phải tuyên bố từ chức « Bộ trưởng Cố vấn » để nhường cho giới trẻ.
Le Monde ghi nhận công lao to lớn của ông Lý Quang Diệu đã đưa Singapore thành một nước phồn vinh, với tốc độ tăng trưởng trung bình 9%/ năm, mức thu nhập quốc dân GDP trên đầu người đứng hàng thứ tư trên thế giới, Singapore là cảng biển lớn thứ hai sau Thượng Hải, thống trị lãnh vực công nghệ bán dẫn, ngành dược sinh học và có đến 15% người giàu.
Giờ đây, người dân Singapore bắt đầu cảm thấy mệt mỏi vì chủ nghĩa gia trưởng. Họ khao khát một nền dân chủ ở đó người dân sẽ được hưởng nhiều không gian rộng lớn hơn cho tự do ngôn luận.
Cuối cùng Le Monde trích dẫn lời nhận định của một cựu phóng viên : "Có lẽ đã đến lúc nhà nước nên đàm phán với xã hội dân sự".
Minh Anh

Cựu Tony Tan trong cuộc vận động tranh cử ngày 24/08/2011 tại Singapore.
Reuters
Ngày mai, thứ bảy 27 tháng 8, Singapore sẽ tổ chức bầu Tổng thống. Liên quan đến sự kiện này, nhật báo Le Monde số ra hôm nay có bài nhận định « Xã hội Singapore âm thầm theo đuổi trào lưu dân chủ ». Bài báo cho biết, cuộc bỏ phiếu ngày mai có thể sẽ xác nhận cho các tiến triển chính trị hiện hành.
Kể từ khi bầu cử tổng thống đầu tiên được tổ chức năm 1993, lần đầu tiên bầu cử Tổng thống sẽ diễn ra với sự tranh tài giữa 4 ứng viên : ông Tony Tan, cựu thủ tướng và 3 ứng viên khác thuộc phe đối lập.
Le Monde cho biết, ông Tony Tan đã từng quản lý Tập đoàn Đầu tư Chính phủ Singapore, Quỹ tài sản lớn nhất của đảo quốc. Ông nhận được sự ủng hộ của Thủ tướng Lý Hiển Long và Tổng thống đương nhiệm Ramanathan, hai lần trúng cử khi không có đối thủ trong phe đối lập. Còn ba ứng viên còn lại thuộc các đảng đối lập, luôn chỉ trích Đảng Hành động Nhân dân (PAP), cầm quyền kể từ khi lập quốc 1959.
Theo Le Monde, sự kiện này cho thấy trên đảo quốc 5 triệu dân này, đang từ từ hình thành một « hướng suy nghĩ » nào đó, mong muốn bẻ gãy tính cứng nhắc của khế ước xã hội.
Trên thực tế, vị trí Tổng thống tại Singapore chỉ có vai trò hình thức. Le Monde cho rằng nếu như ứng viên Tony Tan trúng cử thì vai trò này sẽ không thay đổi. Còn trong trường hợp một trong ba ứng viên đối lập trúng cử, có thể họ sẽ đi đến việc sử dụng quyền phủ quyết, nhất là trong việc chặn đứng vài sự bổ nhiệm trong chính phủ.
Theo Le Monde, do phụ thuộc nhiều vào thế giới để kích thích tăng trưởng kinh tế, nên xã hội Singapore đang gặp một loạt các khó khăn : thách thức về dân số, sức mua của tầng lớp trung lưu giảm, bất bình đẳng kỷ kục giữa các giai tầng xã hội, sự mệt mỏi về hệ tư tưởng chủ nghĩa gia trưởng có hiệu lực kể từ giành độc lập năm 1965, quyền tự do ngôn luận bị tước đoạt.
Trong đợt bầu cử Quốc hội hồi tháng năm vừa qua, xã hội Singapour đã cho thấy sự khát khao đổi mới của họ. Lần đó, đảng PAP của Thủ tướng Lý Hiển Long chỉ đạt có 60% số phiếu bầu. Le Monde nhận xét, kết quả bầu cử đưa ra có lẽ sẽ thấy nực cười : phe đối lập chỉ đạt có 6 trên tổng số 87 ghế tại Quốc hội, thay vì là 2 ghế như trước. Tuy nhiên, nếu xem xét ở góc độ địa phương, lần đầu tiên đảng Lao Động « Workers’ Party », viết tắt là WP, đã chiếm được 5 ghế trong cùng một quận.
Ngay khi kết quả được công bố, ông Lý Hiển Long phải lập tức lên tiếng xin lỗi và cam kết sửa sai. Không những thế, ông Lý Quang Diệu, cha đẻ của nước Singapour hiện đại, và cũng là cha của thủ tướng Lý Hiển Long, đã phải tuyên bố từ chức « Bộ trưởng Cố vấn » để nhường cho giới trẻ.
Le Monde ghi nhận công lao to lớn của ông Lý Quang Diệu đã đưa Singapore thành một nước phồn vinh, với tốc độ tăng trưởng trung bình 9%/ năm, mức thu nhập quốc dân GDP trên đầu người đứng hàng thứ tư trên thế giới, Singapore là cảng biển lớn thứ hai sau Thượng Hải, thống trị lãnh vực công nghệ bán dẫn, ngành dược sinh học và có đến 15% người giàu.
Giờ đây, người dân Singapore bắt đầu cảm thấy mệt mỏi vì chủ nghĩa gia trưởng. Họ khao khát một nền dân chủ ở đó người dân sẽ được hưởng nhiều không gian rộng lớn hơn cho tự do ngôn luận.
Cuối cùng Le Monde trích dẫn lời nhận định của một cựu phóng viên : "Có lẽ đã đến lúc nhà nước nên đàm phán với xã hội dân sự".
Minh Anh
Mỹ tiêu diệt chỉ huy Al-Qaeda tại Pakistan
Giới chức Mỹ hôm qua cho biết, họ mới tiêu diệt kẻ bị tình nghi là chỉ huy các chiến dịch của cả mạng khủng bố Al-Qaeda là Atiyah Abd al-Rahman tại Pakistan.

Aityah Abd al-Rahman. Ảnh: BBC. Theo nguồn tin Mỹ, Aityah là chiến binh người Libya bị tiêu diệt hôm 22/8 tại Waziristan, khu vực bất ổn của Pakistan. Giới chức Mỹ không cho biết rõ Aitiyah đã bị tiêu diệt như thế nào, nhưng một chiếc máy bay không người lái của CIA được ghi nhận đã hoạt động tại đây trong ngày chỉ huy Al-Qaeda bị hạ.
Nhật báo The News của Pakistan cho biết có 4 người bị tiêu diệt trong cuộc tấn công bằng máy bay không người lái của Mỹ hôm 22/8 tại vùng Bắc Waziristan, giáp biên giới Afghanistan. Một ngày sau vẫn có khoảng 8 chiếc máy bay do thám Mỹ quần đảo tại nhiều nơi trong khu vực này.
Sau khi Osama bin Laden bị tiêu diệt, an ninh Mỹ coi Atiyah là chỉ huy các chiến dịch của mạng Al-Qaeda. "Cái chết của Atiyah là tổn thất cực lớn đối với Al-Qaeda vì tân thủ lĩnh mạng là Ayman al-Zawahiri phụ thuộc nặng nề vào người này để hướng dẫn và điều hành mạng lưới, đặc biệt là kể từ sau cái chết của Bin Laden", BBC dẫn lời một quan chức Mỹ giấu tên hôm qua.
Đây là nghi phạm đứng thứ hai trong danh sách 5 chỉ huy khủng bố ở Afghanistan và Pakistan mà Washington và Islamabad đều muốn tiêu diệt hoặc bắt sống nhất. Hồi tháng 10/2010, giới chức Pakistan từng nghĩ rằng Atiyah đã bị tiêu diệt trong một vụ tấn công của máy bay không người lái Mỹ ở vùng Bắc Waziristan.
Atiyah năm nay khoảng 30 tuổi từng là thuộc hạ thân tín của Osama Bin Laden, kẻ bị đặc nhiệm Mỹ bắn chết trong vụ đột kích hôm 2/5 tại Abbottabad, Pakistan. Anh ta bắt đầu đi theo Bin Laden tại Afghanistan từ khi còn là một thiếu niên trong những năm 80 của thế kỷ trước. Sau đó Atiyah trở thành nhân vật quan trọng trong mạng lưới khủng bố Al-Qaeda với vai trò là chuyên gia về chất nổ.
Atiyah đã cùng với Bin Laden rút về khu vực biên giới giữa Afghanistan và Pakistan sau khi Mỹ phát động cuộc tấn công Afghanistan cuối năm 2001 và trở thành trung tâm kết nối giữa Al-Qaeda với các nhóm chiến binh Hồi giáo tại khu vực Trung Đông và Bắc Phi.
Tháng 6/2006, quân đội Mỹ đã thu được một bức thư do Atiyah viết gửi cho Abu Musab al-Zarqawi, chỉ huy khủng bố người Jordan đứng đầu chi nhánh Al-Qaeda tại Iraq, để điều phối các chiến dịch tấn công người Hồi giáo dòng Shiite tại đây. Sau đó Al-Zarqawi đã bị quân đội Mỹ tiêu diệt.
Đình Nguyễn
Giới chức Mỹ hôm qua cho biết, họ mới tiêu diệt kẻ bị tình nghi là chỉ huy các chiến dịch của cả mạng khủng bố Al-Qaeda là Atiyah Abd al-Rahman tại Pakistan.

Aityah Abd al-Rahman. Ảnh: BBC. Theo nguồn tin Mỹ, Aityah là chiến binh người Libya bị tiêu diệt hôm 22/8 tại Waziristan, khu vực bất ổn của Pakistan. Giới chức Mỹ không cho biết rõ Aitiyah đã bị tiêu diệt như thế nào, nhưng một chiếc máy bay không người lái của CIA được ghi nhận đã hoạt động tại đây trong ngày chỉ huy Al-Qaeda bị hạ.
Nhật báo The News của Pakistan cho biết có 4 người bị tiêu diệt trong cuộc tấn công bằng máy bay không người lái của Mỹ hôm 22/8 tại vùng Bắc Waziristan, giáp biên giới Afghanistan. Một ngày sau vẫn có khoảng 8 chiếc máy bay do thám Mỹ quần đảo tại nhiều nơi trong khu vực này.
Sau khi Osama bin Laden bị tiêu diệt, an ninh Mỹ coi Atiyah là chỉ huy các chiến dịch của mạng Al-Qaeda. "Cái chết của Atiyah là tổn thất cực lớn đối với Al-Qaeda vì tân thủ lĩnh mạng là Ayman al-Zawahiri phụ thuộc nặng nề vào người này để hướng dẫn và điều hành mạng lưới, đặc biệt là kể từ sau cái chết của Bin Laden", BBC dẫn lời một quan chức Mỹ giấu tên hôm qua.
Đây là nghi phạm đứng thứ hai trong danh sách 5 chỉ huy khủng bố ở Afghanistan và Pakistan mà Washington và Islamabad đều muốn tiêu diệt hoặc bắt sống nhất. Hồi tháng 10/2010, giới chức Pakistan từng nghĩ rằng Atiyah đã bị tiêu diệt trong một vụ tấn công của máy bay không người lái Mỹ ở vùng Bắc Waziristan.
Atiyah năm nay khoảng 30 tuổi từng là thuộc hạ thân tín của Osama Bin Laden, kẻ bị đặc nhiệm Mỹ bắn chết trong vụ đột kích hôm 2/5 tại Abbottabad, Pakistan. Anh ta bắt đầu đi theo Bin Laden tại Afghanistan từ khi còn là một thiếu niên trong những năm 80 của thế kỷ trước. Sau đó Atiyah trở thành nhân vật quan trọng trong mạng lưới khủng bố Al-Qaeda với vai trò là chuyên gia về chất nổ.
Atiyah đã cùng với Bin Laden rút về khu vực biên giới giữa Afghanistan và Pakistan sau khi Mỹ phát động cuộc tấn công Afghanistan cuối năm 2001 và trở thành trung tâm kết nối giữa Al-Qaeda với các nhóm chiến binh Hồi giáo tại khu vực Trung Đông và Bắc Phi.
Tháng 6/2006, quân đội Mỹ đã thu được một bức thư do Atiyah viết gửi cho Abu Musab al-Zarqawi, chỉ huy khủng bố người Jordan đứng đầu chi nhánh Al-Qaeda tại Iraq, để điều phối các chiến dịch tấn công người Hồi giáo dòng Shiite tại đây. Sau đó Al-Zarqawi đã bị quân đội Mỹ tiêu diệt.
Đình Nguyễn
Đại tướng Mỹ sang lãnh đạo CIA
Sau 37 năm chinh chiến, tướng bốn sao David Petraeus hôm nay xuất ngũ để chuẩn bị tiếp quản vị trí giám đốc Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA).
Tướng David Petraeus. Ảnh: Spacenews
Tướng Petraeus sẽ bắt đầu công việc lãnh đạo CIA vào ngày 6/9, tức là chưa đầy một tuần trước lễ kỷ niệm 10 năm vụ khủng bố 11/9, AP đưa tin. Ông sẽ thay thế cho cựu giám đốc Leon Panetta, người đã chuyển sang làm Bộ trưởng Quốc phòng.
Petraeus, 58 tuổi, từng được coi là ứng cử viên hàng đầu để trở thành Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ, sau khi đảm nhiệm 6 vị trí chỉ huy khác nhau, cũng như góp mặt trong 4 cuộc chiến của quân đội Mỹ. Trước khi xuất ngũ, ông là chỉ huy quân đội Mỹ tại Afghanistan, trước đó nữa là chỉ huy lực lượng đa quốc gia trong cuộc chiến Iraq.
Tuy nhiên, Tổng thống Mỹ Barack Obama lại quyết định trao cho Petraeus vai trò giám đốc thứ 20 của CIA, một phần trong kế hoạch thay máu các vị trí lãnh đạo hàng đầu của hệ thống an ninh quốc gia. "Tôi muốn làm công việc này", Petraeus nói với các thượng nghị sĩ trong phiên họp nhằm thông qua quyết định bổ nhiệm ông làm giám đốc CIA.
Tại CIA, vị tướng quê New York sẽ tiếp tục lãnh đạo cuộc chiến với mạng lưới khủng bố Al-Qaeda và nhiều tổ chức khủng bố khác, nhưng với một cách làm việc mới. Ông có thể vẫn mặc bộ quân phục quen thuộc tới nhiệm sở, nhưng sẽ phải tránh những điều có thể được coi là quân sự hóa mạng lưới tình báo Mỹ.
Từng được coi là ứng cử viên tổng thống tiềm năng của đảng Cộng hòa dù luôn phủ nhận mối quan tâm với chính trị, tướng Petraeus có được sự ghi nhận đặc biệt của dư luận Mỹ trong giai đoạn 2007-2008. Khi đó, ông đã thành công trong việc chặn đứng tình trạng bạo lực leo thang ở Iraq, sớm hơn hai năm so với tính toán của chính phủ Mỹ và Iraq.
Tướng Petraeus nhập ngũ từ năm 1974 và trải qua gần 4 thập kỷ liên tục đảm nhận nhiều vị trí trong quân đội Mỹ. Vị tướng 4 sao này đã được trao tặng nhiều huân chương chiến công và các giải thưởng khác nhau trong suốt 37 năm quân ngũ.
Nhật Nam
Sau 37 năm chinh chiến, tướng bốn sao David Petraeus hôm nay xuất ngũ để chuẩn bị tiếp quản vị trí giám đốc Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA).
Tướng David Petraeus. Ảnh: Spacenews
Tướng Petraeus sẽ bắt đầu công việc lãnh đạo CIA vào ngày 6/9, tức là chưa đầy một tuần trước lễ kỷ niệm 10 năm vụ khủng bố 11/9, AP đưa tin. Ông sẽ thay thế cho cựu giám đốc Leon Panetta, người đã chuyển sang làm Bộ trưởng Quốc phòng.
Petraeus, 58 tuổi, từng được coi là ứng cử viên hàng đầu để trở thành Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ, sau khi đảm nhiệm 6 vị trí chỉ huy khác nhau, cũng như góp mặt trong 4 cuộc chiến của quân đội Mỹ. Trước khi xuất ngũ, ông là chỉ huy quân đội Mỹ tại Afghanistan, trước đó nữa là chỉ huy lực lượng đa quốc gia trong cuộc chiến Iraq.
Tuy nhiên, Tổng thống Mỹ Barack Obama lại quyết định trao cho Petraeus vai trò giám đốc thứ 20 của CIA, một phần trong kế hoạch thay máu các vị trí lãnh đạo hàng đầu của hệ thống an ninh quốc gia. "Tôi muốn làm công việc này", Petraeus nói với các thượng nghị sĩ trong phiên họp nhằm thông qua quyết định bổ nhiệm ông làm giám đốc CIA.
Tại CIA, vị tướng quê New York sẽ tiếp tục lãnh đạo cuộc chiến với mạng lưới khủng bố Al-Qaeda và nhiều tổ chức khủng bố khác, nhưng với một cách làm việc mới. Ông có thể vẫn mặc bộ quân phục quen thuộc tới nhiệm sở, nhưng sẽ phải tránh những điều có thể được coi là quân sự hóa mạng lưới tình báo Mỹ.
Từng được coi là ứng cử viên tổng thống tiềm năng của đảng Cộng hòa dù luôn phủ nhận mối quan tâm với chính trị, tướng Petraeus có được sự ghi nhận đặc biệt của dư luận Mỹ trong giai đoạn 2007-2008. Khi đó, ông đã thành công trong việc chặn đứng tình trạng bạo lực leo thang ở Iraq, sớm hơn hai năm so với tính toán của chính phủ Mỹ và Iraq.
Tướng Petraeus nhập ngũ từ năm 1974 và trải qua gần 4 thập kỷ liên tục đảm nhận nhiều vị trí trong quân đội Mỹ. Vị tướng 4 sao này đã được trao tặng nhiều huân chương chiến công và các giải thưởng khác nhau trong suốt 37 năm quân ngũ.
Nhật Nam
Ðòi dân chủ cần minh bạch, công khai
Ngô Nhân Dụng
Trong cuốn tiểu thuyết Ðói (Sult) ấn hành năm 1899, nhà văn Knut Hamsun người Na Uy thuật một cảnh hai người đồng lõa nói dối lẫn nhau.
Nhân vật chính là một nhà báo trẻ đang không có việc làm thường xuyên; lại mới bị đuổi nhà vì không trả tiền thuê. Ngồi trong công viên, anh gặp một ông già ôm tờ báo cũ đến ngồi kế bên. Ông ta hỏi anh ta ở đâu. Không ai muốn tự giới thiệu mình vô gia cư, anh bịa ra một địa chỉ: Số 2, Khu Saint Olav. Trò chơi nói dối giữa hai người bắt đầu một cách vô hại như vậy.
- Số 2 hả? Ồ, tôi biết tất cả mọi người ở cái nhà đó. Này, cái anh chủ nhà tên là gì nhỉ?
- Happolati, anh ta lại bịa đại ra.
- À, cái thằng Happolati ấy!
Nhân vật kể chuyện tìm cách nói lảng sang chuyện khác nhưng ông già không tha, hỏi tiếp:
- Happolati, cha đó đi biển phải không nhỉ?
- Không, thằng em anh ấy mới đi biển. Anh này tên là Johann Arendt Happolati!
- Nghe tay đó giỏi lắm phải không?
Cuộc đối thoại toàn bịa đặt cứ thế tiếp tục, người kể chuyện khoe anh Happolati là một đại gia, buôn bán đủ thứ hàng, hàng da, giấy, lông vịt làm áo lạnh, mua từ bên Tầu, bên Nga, vân vân. Happolati còn sáng chế ra một loại máy điện để đọc được Kinh Thánh nữa. Có hồi anh ta làm đại sứ ở nước Ba Tư. Còn cô con gái anh ta thật đẹp mỹ miều, cô Ylajali, đẹp như một nàng công chúa. Còn bà vợ hắn thì béo ơi là béo. Ông già muốn chứng tỏ mình biết chuyện, góp thêm chi tiết:
- Cái anh Happolati này làm chủ nhiều nhà cửa lắm, tôi nghe nói vậy.
- Không, tôi không biết.
Hai người hào hứng trao đổi với nhau toàn những điều bịa đặt. Họ đồng lõa trong cuộc chơi giả dối này. Nhà báo thất nghiệp bịa một chuyện gì lại được ông già phụ họa. Cho tới lúc nhân vật chính chán quá, anh nói thẳng: Này, nói thật với ông, tôi bịa đấy! Toàn chuyện bịa cả. Cả ông nữa, ông cũng làm như cái thằng Happolati là có thật nữa! Tôi không quen bịa đặt dối trá như vậy bao giờ. Tôi chán lắm rồi!
Nói dối mãi chắc có lúc ai cũng thấy chán, dù chỉ là những lời nói dối vô hại. Nhưng nếu người ta phải tập nói dối mỗi ngày, ngày nào cũng nói đi nói lại những điều không có thật, những điều chính mình cũng không tin, thì chắc sống như vậy chán lắm! Vậy mà trên thế giới có những người phải nói dối suốt đời!
Một chế độ độc tài dựa trên một bộ máy đàn áp, nhưng luôn luôn phải có thêm một bộ máy dối trá đi kèm. Không những nhà nước nói dối, người dân cũng phải tập thói quen nói dối cho phù hợp, dễ sống trong chế độ. Dối trá trở thành một tập quán, một nét văn hóa đặc thù! Cứ như vậy, hai bên nhà nước và nhân dân đồng lõa nói dối lẫn nhau.
Nhiều người sống ở trong nước Việt Nam tới bây giờ mỗi ngày vẫn phải vừa sống vừa nói dối kiểu đó. Nhất là các nhà báo, các chuyên viên ngành truyền thông! Không nói dối không được! Ngay cả những người muốn xã hội sống thật hơn, sống lành hơn, đạo đức hơn, những người đang yêu cầu chế độ cộng sản phải thay đổi, có khi ra trước công chúng họ cũng phải đóng trò, không nói hết sự thật. Không phải họ nói xạo cho được yên thân, mà họ thành thật nghĩ rằng cần nói tránh, nói lảng, không nói hết các ý nghĩ của mình thì cuộc đấu tranh mới có hiệu quả
Gần đây khi các nhà trí thức và giới thanh niên ở Hà Nội và Sài Gòn đi biểu tình, họ phải nhắc đi nhắc lại, là họ không đòi chế độ thay đổi đường lối cai trị dân. Trước sau, chỉ hô một khẩu hiệu là phản đối chính sách xâm lược của chính quyền Trung Quốc mà thôi. Ðể khỏi bị đưa ra tòa buộc tội âm mưu lật đổ chế độ! Trong khi đó, ai cũng biết nhu cầu thật của nước ta là chế độ cần thay đổi một cách toàn diện; để tiến lên cho bằng thế giới chung quanh!
Làm cách nào chúng ta có thể chống một nước lớn đang lấn áp nước mình trong khi những người cầm quyền của nước mình cư xử rụt rè, yếu ớt, nhu nhược? Ngay cả khi tầu chiến của Trung Cộng đâm chìm tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam, báo đài nhà nước cũng chỉ gọi đó là những “tầu lạ!” Không được phép gọi tên thật ra! Báo chí của Nhà nước nói dối và dạy dân cách nói dối. Người dân chỉ dám thì thầm bảo nhau: Tầu lạ, tầu quen, tầu nào cũng là Tầu cả! Nhưng chỉ nói thì thầm thôi!
Muốn chấm dứt cảnh nước ta bị nước “đồng chí anh em” lấn áp thì đảng Cộng Sản Việt Nam phải thay đổi chính sách đối ngoại. Nếu không, thì người dân phải thay đổi những người đang cầm quyền. Những cuộc biểu tình gần đây không dám nói thẳng sự thật đó. Muốn có chính sách đối ngoại mới thì phải cho người dân được quyền lên tiếng trước vấn đề trọng đại này. Nghĩa là người dân phải có quyền tụ họp, phải có quyền biểu tình và lên tiếng nói để bày tỏ thái độ. Tóm lại, là đòi cho người dân Việt Nam có những quyền công dân căn bản: Tự do hội họp và tự do phát biểu!
Chúng ta có thể hiểu rằng trong thâm tâm, những người đi biểu tình đều biết rằng nhu cầu lớn nhất của dân tộc Việt Nam là tự do dân chủ. Ðiều số 2 trong Hiến Pháp hiện hành viết: “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân...” Chỉ khi nào người dân Việt Nam được tự do bỏ phiếu chọn người lãnh đạo nước mình, thì những người cai trị mới thực sự chịu trách nhiệm với dân, phải lắng nghe ý kiến của dân. Chính sách đối ngoại hiện nay chỉ do một nhóm người độc quyền quyết định. Chính sách đó thất bại, chúng ta đã thấy từ dân chài lưới đến tầu nghiên cứu của Việt Nam vẫn bị tấn công, hải phận Việt Nam vẫn bị xâm chiếm. Ðã đến lúc người Việt Nam không thể chỉ hô hào đả kích người cầm quyền bên Trung Quốc không thôi. Phải đòi hỏi chế độ chính trị ở Việt Nam thay đổi hoàn toàn, để nhà nước thực sự phản ảnh ý nguyện của người dân.
Giới trí thức và thanh niên, sinh viên Hà Nội đã biểu tình trong hai tháng qua đã nhẫn nhục tự giới hạn mục tiêu đấu tranh của mình. Không ai nói đến mục tiêu quan trọng hơn việc đả kích Trung Quốc, không ai nói đến điều kiện tiên quyết để thay đổi chính sách đối ngoại, là người dân Việt Nam phải có quyền tự do quyết định vận mệnh nước Việt Nam!
Cuối cùng, thì mặc dù những người đi biểu tình hết sức nhẫn nhục, họ vẫn bị đàn áp, bị bắt bớ! Họ vẫn bị vu cáo tội “tụ tập, biểu tình, tuần hành tự phát đã gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội,... tiềm ẩn các yếu tố gây mất ổn định chính trị,” theo thông cáo của chính quyền thành phố Hà Nội! Nghĩa là người ta vẫn đe dọa dân, họ vẫn không công nhận người dân có quyền yêu nước... nhiều hơn Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản!
Cuối tuần qua, Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, Giáo Sư Chu Hảo, Tiến Sĩ Nguyễn Quang A và Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Diện đã gặp gỡ các người cầm quyền tại thành phố Hà Nội để “làm việc.” Cuộc trò chuyện diễn ra gần ba tiếng đồng hồ, nhưng bản tin của blog Nguyễn Xuân Diện chỉ tường thuật ông này nói, rồi ông kia nói, mô tả đến chi tiết trước mặt mỗi người “đều có 1 đĩa nhỏ có 1 chùm nho và 2 chiếc bánh ngọt và một ly nước trà xanh liên tục được chế thêm nước nóng” nhưng không hề cho độc giả biết hai bên đã nói những chuyện gì cụ thể! Không nhắc đến nhu cầu tự do dân chủ của người dân mà chỉ nhắc nhở “vẫn còn một số vấn đề cần làm rõ” mà không nói rõ bất đồng ý kiến như thế nào.
Tất nhiên, những người họp mặt có thể đã đồng ý với nhau không tiết lộ những chi tiết về nội dung tranh luận, cho nên không kể hết. Nhưng, dù rất kính trọng quý vị đã đi họp, chúng ta cũng phải tự hỏi: Giữ im lặng như vậy để làm gì? Các cuộc biểu tình trong hai tháng qua là những hành động công khai, mục tiêu được minh bạch nêu lên trước cả thế giới. Có gì mà không dám nói thật, nói thẳng hết ra? Cụ Nguyễn Trọng Vĩnh, quý ông Chu Hảo, Nguyễn Quang A, Nguyễn Xuân Diện, đang mặc nhiên làm đại diện của một phong trào quần chúng. Người bi quan có thể lo ngại rằng khi giữ im lặng như vậy, quý vị đã “mắc mưu cộng sản!”
Ðảng Cộng Sản đang biến những cuộc biểu tình vì lòng yêu nước của hàng ngàn người dân thành một cuộc thảo luận giữa một nhóm nhà trí thức với chính quyền thành phố; mà lại thảo luận trong vòng bí mật! Họ cố ý biến những cuộc biểu tình mang tính chất toàn dân, toàn quốc, thành một biến cố địa phương trong thẩm quyền của một thành phố. Họ có thể đánh lạc hướng dư luận. Thay vì đặt ra vấn đề các quyền tự do căn bản của người dân, như quyền tự do hội họp, tự do phát biểu, họ sẽ dùng guồng máy tuyên truyền biến chúng thành một cuộc tranh luận có tính cách kỹ thuật về việc áp dụng Nghị định số 38/2005/NÐ-CP của ông Nguyễn Tấn Dũng!
Luật Sư Nguyễn Văn Ðài đã khẳng định: “Quyền biểu tình là vũ khí đấu tranh mạnh nhất và cuối cùng của nhân dân khi quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm sau khi tất cả các biện pháp giải quyết bằng thủ tục pháp lý khác không mang lại kết quả hài lòng cho nhân dân. Bởi ý nghĩa to lớn của quyền biểu tình và quyền biểu tình là quyền Hiến định nên nó không bị hạn chế bởi qui định của các văn bản dưới luật.”
Ðiều nguy hiểm là khi chọn lựa sự im lặng, không tường thuật đầy đủ và công khai các cuộc thảo luận với chính quyền, chúng ta đã bước vào đúng con đường mà đảng Cộng Sản muốn chọn. Sức mạnh của những người dân đi biểu tình trong hai tháng qua là tính chất minh bạch, công khai. Tự tước bỏ tính minh bạch công khai là “tự tước vũ khí của mình!”
Trong lúc đó, một nhu cầu lớn của dân tộc Việt Nam bây giờ chính là Sự Thật. Nhân vật của Knut Hamsun (Giải Nobel 1920) đã tự ý chấm dứt trò chơi bịa đặt, dối trá của anh ta, vì chán quá. Cả nước Việt Nam bây giờ cũng cần làm như vậy, vì lý do quan trọng hơn: Sống xứng đáng với phẩm giá con người. Cần nói sự thật: Chúng tôi muốn người dân Việt có quyền tham dự vào những quyết định lớn của quốc gia. Chúng tôi không chấp nhận để cho một nhóm người quyết định tất cả mọi việc, trong vòng bí mật của họ! Chúng tôi muốn các quyền tự do dân chủ phải được thi hành thật sự. Chúng tôi chấm dứt, không muốn đóng trò nữa! Nhiều khi, im lặng cũng là đồng lõa che giấu sự thật!
Ngô Nhân Dụng
Trong cuốn tiểu thuyết Ðói (Sult) ấn hành năm 1899, nhà văn Knut Hamsun người Na Uy thuật một cảnh hai người đồng lõa nói dối lẫn nhau.
Nhân vật chính là một nhà báo trẻ đang không có việc làm thường xuyên; lại mới bị đuổi nhà vì không trả tiền thuê. Ngồi trong công viên, anh gặp một ông già ôm tờ báo cũ đến ngồi kế bên. Ông ta hỏi anh ta ở đâu. Không ai muốn tự giới thiệu mình vô gia cư, anh bịa ra một địa chỉ: Số 2, Khu Saint Olav. Trò chơi nói dối giữa hai người bắt đầu một cách vô hại như vậy.
- Số 2 hả? Ồ, tôi biết tất cả mọi người ở cái nhà đó. Này, cái anh chủ nhà tên là gì nhỉ?
- Happolati, anh ta lại bịa đại ra.
- À, cái thằng Happolati ấy!
Nhân vật kể chuyện tìm cách nói lảng sang chuyện khác nhưng ông già không tha, hỏi tiếp:
- Happolati, cha đó đi biển phải không nhỉ?
- Không, thằng em anh ấy mới đi biển. Anh này tên là Johann Arendt Happolati!
- Nghe tay đó giỏi lắm phải không?
Cuộc đối thoại toàn bịa đặt cứ thế tiếp tục, người kể chuyện khoe anh Happolati là một đại gia, buôn bán đủ thứ hàng, hàng da, giấy, lông vịt làm áo lạnh, mua từ bên Tầu, bên Nga, vân vân. Happolati còn sáng chế ra một loại máy điện để đọc được Kinh Thánh nữa. Có hồi anh ta làm đại sứ ở nước Ba Tư. Còn cô con gái anh ta thật đẹp mỹ miều, cô Ylajali, đẹp như một nàng công chúa. Còn bà vợ hắn thì béo ơi là béo. Ông già muốn chứng tỏ mình biết chuyện, góp thêm chi tiết:
- Cái anh Happolati này làm chủ nhiều nhà cửa lắm, tôi nghe nói vậy.
- Không, tôi không biết.
Hai người hào hứng trao đổi với nhau toàn những điều bịa đặt. Họ đồng lõa trong cuộc chơi giả dối này. Nhà báo thất nghiệp bịa một chuyện gì lại được ông già phụ họa. Cho tới lúc nhân vật chính chán quá, anh nói thẳng: Này, nói thật với ông, tôi bịa đấy! Toàn chuyện bịa cả. Cả ông nữa, ông cũng làm như cái thằng Happolati là có thật nữa! Tôi không quen bịa đặt dối trá như vậy bao giờ. Tôi chán lắm rồi!
Nói dối mãi chắc có lúc ai cũng thấy chán, dù chỉ là những lời nói dối vô hại. Nhưng nếu người ta phải tập nói dối mỗi ngày, ngày nào cũng nói đi nói lại những điều không có thật, những điều chính mình cũng không tin, thì chắc sống như vậy chán lắm! Vậy mà trên thế giới có những người phải nói dối suốt đời!
Một chế độ độc tài dựa trên một bộ máy đàn áp, nhưng luôn luôn phải có thêm một bộ máy dối trá đi kèm. Không những nhà nước nói dối, người dân cũng phải tập thói quen nói dối cho phù hợp, dễ sống trong chế độ. Dối trá trở thành một tập quán, một nét văn hóa đặc thù! Cứ như vậy, hai bên nhà nước và nhân dân đồng lõa nói dối lẫn nhau.
Nhiều người sống ở trong nước Việt Nam tới bây giờ mỗi ngày vẫn phải vừa sống vừa nói dối kiểu đó. Nhất là các nhà báo, các chuyên viên ngành truyền thông! Không nói dối không được! Ngay cả những người muốn xã hội sống thật hơn, sống lành hơn, đạo đức hơn, những người đang yêu cầu chế độ cộng sản phải thay đổi, có khi ra trước công chúng họ cũng phải đóng trò, không nói hết sự thật. Không phải họ nói xạo cho được yên thân, mà họ thành thật nghĩ rằng cần nói tránh, nói lảng, không nói hết các ý nghĩ của mình thì cuộc đấu tranh mới có hiệu quả
Gần đây khi các nhà trí thức và giới thanh niên ở Hà Nội và Sài Gòn đi biểu tình, họ phải nhắc đi nhắc lại, là họ không đòi chế độ thay đổi đường lối cai trị dân. Trước sau, chỉ hô một khẩu hiệu là phản đối chính sách xâm lược của chính quyền Trung Quốc mà thôi. Ðể khỏi bị đưa ra tòa buộc tội âm mưu lật đổ chế độ! Trong khi đó, ai cũng biết nhu cầu thật của nước ta là chế độ cần thay đổi một cách toàn diện; để tiến lên cho bằng thế giới chung quanh!
Làm cách nào chúng ta có thể chống một nước lớn đang lấn áp nước mình trong khi những người cầm quyền của nước mình cư xử rụt rè, yếu ớt, nhu nhược? Ngay cả khi tầu chiến của Trung Cộng đâm chìm tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam, báo đài nhà nước cũng chỉ gọi đó là những “tầu lạ!” Không được phép gọi tên thật ra! Báo chí của Nhà nước nói dối và dạy dân cách nói dối. Người dân chỉ dám thì thầm bảo nhau: Tầu lạ, tầu quen, tầu nào cũng là Tầu cả! Nhưng chỉ nói thì thầm thôi!
Muốn chấm dứt cảnh nước ta bị nước “đồng chí anh em” lấn áp thì đảng Cộng Sản Việt Nam phải thay đổi chính sách đối ngoại. Nếu không, thì người dân phải thay đổi những người đang cầm quyền. Những cuộc biểu tình gần đây không dám nói thẳng sự thật đó. Muốn có chính sách đối ngoại mới thì phải cho người dân được quyền lên tiếng trước vấn đề trọng đại này. Nghĩa là người dân phải có quyền tụ họp, phải có quyền biểu tình và lên tiếng nói để bày tỏ thái độ. Tóm lại, là đòi cho người dân Việt Nam có những quyền công dân căn bản: Tự do hội họp và tự do phát biểu!
Chúng ta có thể hiểu rằng trong thâm tâm, những người đi biểu tình đều biết rằng nhu cầu lớn nhất của dân tộc Việt Nam là tự do dân chủ. Ðiều số 2 trong Hiến Pháp hiện hành viết: “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân...” Chỉ khi nào người dân Việt Nam được tự do bỏ phiếu chọn người lãnh đạo nước mình, thì những người cai trị mới thực sự chịu trách nhiệm với dân, phải lắng nghe ý kiến của dân. Chính sách đối ngoại hiện nay chỉ do một nhóm người độc quyền quyết định. Chính sách đó thất bại, chúng ta đã thấy từ dân chài lưới đến tầu nghiên cứu của Việt Nam vẫn bị tấn công, hải phận Việt Nam vẫn bị xâm chiếm. Ðã đến lúc người Việt Nam không thể chỉ hô hào đả kích người cầm quyền bên Trung Quốc không thôi. Phải đòi hỏi chế độ chính trị ở Việt Nam thay đổi hoàn toàn, để nhà nước thực sự phản ảnh ý nguyện của người dân.
Giới trí thức và thanh niên, sinh viên Hà Nội đã biểu tình trong hai tháng qua đã nhẫn nhục tự giới hạn mục tiêu đấu tranh của mình. Không ai nói đến mục tiêu quan trọng hơn việc đả kích Trung Quốc, không ai nói đến điều kiện tiên quyết để thay đổi chính sách đối ngoại, là người dân Việt Nam phải có quyền tự do quyết định vận mệnh nước Việt Nam!
Cuối cùng, thì mặc dù những người đi biểu tình hết sức nhẫn nhục, họ vẫn bị đàn áp, bị bắt bớ! Họ vẫn bị vu cáo tội “tụ tập, biểu tình, tuần hành tự phát đã gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội,... tiềm ẩn các yếu tố gây mất ổn định chính trị,” theo thông cáo của chính quyền thành phố Hà Nội! Nghĩa là người ta vẫn đe dọa dân, họ vẫn không công nhận người dân có quyền yêu nước... nhiều hơn Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản!
Cuối tuần qua, Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, Giáo Sư Chu Hảo, Tiến Sĩ Nguyễn Quang A và Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Diện đã gặp gỡ các người cầm quyền tại thành phố Hà Nội để “làm việc.” Cuộc trò chuyện diễn ra gần ba tiếng đồng hồ, nhưng bản tin của blog Nguyễn Xuân Diện chỉ tường thuật ông này nói, rồi ông kia nói, mô tả đến chi tiết trước mặt mỗi người “đều có 1 đĩa nhỏ có 1 chùm nho và 2 chiếc bánh ngọt và một ly nước trà xanh liên tục được chế thêm nước nóng” nhưng không hề cho độc giả biết hai bên đã nói những chuyện gì cụ thể! Không nhắc đến nhu cầu tự do dân chủ của người dân mà chỉ nhắc nhở “vẫn còn một số vấn đề cần làm rõ” mà không nói rõ bất đồng ý kiến như thế nào.
Tất nhiên, những người họp mặt có thể đã đồng ý với nhau không tiết lộ những chi tiết về nội dung tranh luận, cho nên không kể hết. Nhưng, dù rất kính trọng quý vị đã đi họp, chúng ta cũng phải tự hỏi: Giữ im lặng như vậy để làm gì? Các cuộc biểu tình trong hai tháng qua là những hành động công khai, mục tiêu được minh bạch nêu lên trước cả thế giới. Có gì mà không dám nói thật, nói thẳng hết ra? Cụ Nguyễn Trọng Vĩnh, quý ông Chu Hảo, Nguyễn Quang A, Nguyễn Xuân Diện, đang mặc nhiên làm đại diện của một phong trào quần chúng. Người bi quan có thể lo ngại rằng khi giữ im lặng như vậy, quý vị đã “mắc mưu cộng sản!”
Ðảng Cộng Sản đang biến những cuộc biểu tình vì lòng yêu nước của hàng ngàn người dân thành một cuộc thảo luận giữa một nhóm nhà trí thức với chính quyền thành phố; mà lại thảo luận trong vòng bí mật! Họ cố ý biến những cuộc biểu tình mang tính chất toàn dân, toàn quốc, thành một biến cố địa phương trong thẩm quyền của một thành phố. Họ có thể đánh lạc hướng dư luận. Thay vì đặt ra vấn đề các quyền tự do căn bản của người dân, như quyền tự do hội họp, tự do phát biểu, họ sẽ dùng guồng máy tuyên truyền biến chúng thành một cuộc tranh luận có tính cách kỹ thuật về việc áp dụng Nghị định số 38/2005/NÐ-CP của ông Nguyễn Tấn Dũng!
Luật Sư Nguyễn Văn Ðài đã khẳng định: “Quyền biểu tình là vũ khí đấu tranh mạnh nhất và cuối cùng của nhân dân khi quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm sau khi tất cả các biện pháp giải quyết bằng thủ tục pháp lý khác không mang lại kết quả hài lòng cho nhân dân. Bởi ý nghĩa to lớn của quyền biểu tình và quyền biểu tình là quyền Hiến định nên nó không bị hạn chế bởi qui định của các văn bản dưới luật.”
Ðiều nguy hiểm là khi chọn lựa sự im lặng, không tường thuật đầy đủ và công khai các cuộc thảo luận với chính quyền, chúng ta đã bước vào đúng con đường mà đảng Cộng Sản muốn chọn. Sức mạnh của những người dân đi biểu tình trong hai tháng qua là tính chất minh bạch, công khai. Tự tước bỏ tính minh bạch công khai là “tự tước vũ khí của mình!”
Trong lúc đó, một nhu cầu lớn của dân tộc Việt Nam bây giờ chính là Sự Thật. Nhân vật của Knut Hamsun (Giải Nobel 1920) đã tự ý chấm dứt trò chơi bịa đặt, dối trá của anh ta, vì chán quá. Cả nước Việt Nam bây giờ cũng cần làm như vậy, vì lý do quan trọng hơn: Sống xứng đáng với phẩm giá con người. Cần nói sự thật: Chúng tôi muốn người dân Việt có quyền tham dự vào những quyết định lớn của quốc gia. Chúng tôi không chấp nhận để cho một nhóm người quyết định tất cả mọi việc, trong vòng bí mật của họ! Chúng tôi muốn các quyền tự do dân chủ phải được thi hành thật sự. Chúng tôi chấm dứt, không muốn đóng trò nữa! Nhiều khi, im lặng cũng là đồng lõa che giấu sự thật!
Xâm lấn kinh tế mới nguy hiểm
Ngô Nhân Dụng
Tháng trước, nhiều báo, đài và mạng thông tin đã ồn ào về cuộc tập trận của quân đội Trung Cộng ở vùng giáp giới Việt Nam trong các tỉnh Quảng Ðông, Quảng Tây.
Nhưng dù Bắc Kinh cố ý biểu diễn sức mạnh quân sự sát biên giới nước ta thì người mình cũng không cần sợ.
Có nhiều lý do để người Việt Nam không sợ nạn Mã Viện, Thoát Hoan hay Vương Thông, Mộc Thạnh. Tất nhiên, lý do quan trọng nhất vẫn là những bài học lịch sử mà nước Trung Hoa đã học mỗi lần đánh Việt Nam. Khi lòng yêu nước bị khích động, dân Việt Nam sẽ rất khó bị chinh phục.
Nhưng ngay cả khi quân Trung Quốc dư sức “cho thêm một bài học” rồi rút tàn quân về, thì họ cũng không dại gì mà đánh. Từ vài chục năm nay đảng Cộng Sản Trung Hoa đang cố đeo cái mặt nạ hòa hiếu khắp thế giới, họ không dại gì tự lột mặt nạ. Hiện nay Trung Quốc đang mua bán với 220 xứ và lãnh thổ, thầu xây dựng hạ tầng cơ sở ở 180 xứ, và đầu tư vào 129 xứ! Họ muốn mang một bộ mặt ôn hòa, chỉ lo làm ăn chứ không tính xâm chiếm ai hết! Chỉ khi nào họ đã kiểm soát được, làm cho chính quyền một nước khác không cựa được, thì Bắc Kinh mới lộ mặt hung hăng mà không sợ gì cả!
Nhưng nếu Trung Quốc mà tấn công Việt Nam một cuộc chạy đua mua khí giới và tăng cường quân lực trong vùng Ðông và Nam Châu Á sẽ bắt đầu. Các nước Ấn Ðộ, Nhật Bản, Indonesia, Ðài Loan và Nam Hàn sẽ có lý do để tăng ngân sách quốc phòng, sẽ liên hết với Mỹ chặt chẽ hơn. Kỹ nghệ sản xuất vũ khí của các nước Nga, Mỹ sẽ có thêm khách hàng! Ðó là điều Cộng Sản Trung Hoa không muốn thấy!
Nhưng Cộng Sản Trung Hoa có cần phải đánh Việt Nam hay không? Họ thực sự không cần dùng sức mạnh quân sự cũng có thể đạt được những mục tiêu của họ bằng phương cách khác.
Sức mạnh của các quốc gia phải dựa trên kinh tế. Chúng ta đã chứng kiến một guồng máy quân sự khổng lồ của Liên Xô, có lúc đóng quân trên một nửa Âu Châu, nhưng cuối cùng cũng thành bất lực khi hệ thống kinh tế quốc doanh tê liệt rồi sụp đổ. Người Trung Hoa từ 30 năm qua đã chú trọng đến việc phát triển kinh tế nhiều hơn là quân sự. Nếu không xâm lăng bằng quân sự thì Trung Quốc có thể làm gì để ảnh hưởng tới vận mệnh Việt Nam? Con đường chắc chắn hơn là theo con đường kinh tế.
Năm ngoái, nền ngoại thương nước ta bị thâm thủng gần 12 tỷ đô la Mỹ đối với Trung Quốc. Ðó chỉ là cán cân mậu dịch chính thức, chưa kể đến những gánh hàng buôn lậu qua một biên giới hầu như không ai kiểm soát vì các quan chức địa phương rất dễ được hối lộ. Hàng hóa bên Tàu đổ sang bán với giá vốn có thể đè bẹp tất cả các cố gắng của các nhà sản xuất Việt Nam. Nhưng những chuyến hàng lậu cũng chỉ là chuyện vặt. Chính quyền Việt Nam hiện nay đang mở cửa cho Trung Quốc tấn công trên những trận địa lớn, mà người dân Việt bình thường có thể không mấy người để ý tới, vì không nhìn thấy trước mắt.
Một món hàng không ai nhìn thấy là điện từ Trung Quốc có thể được truyền sang Việt Nam trong những sợi dây mong manh. Theo công ty điện lực Việt Nam thì các tỉnh phía Bắc nước ta đang nhập cảng điện từ Trung Quốc, số lượng lên tới 6% tổng số điện tiêu thụ trên toàn quốc. Coi như một biên giới đã bỏ ngỏ cho điện chảy qua. Nếu nhà cung cấp bên Tàu cúp điện, vì “sự cố kỹ thuật” nào đó, thì hoạt động kinh tế ở mấy tỉnh phía Bắc sẽ ngưng trệ ngay.
Vào đầu tháng 7, ký giả Ben Bland viết trên nhật báo Financial Times một bài, “Nhu cầu điện sẽ khiến xung độ Bắc Kinh Hà Nội giảm bớt” (Electricity demands could limit Beijing-Hanoi rift); sau khi quan sát thị trường điện lực ông khẳng định: “Bắc Kinh ngày càng điều khiển kinh tế Việt Nam” (Beijing is increasingly driving Vietnam's economy). Ben Bland nhận xét Trung Quốc không quan tâm đầu tư, trong năm 2010, họ chỉ bỏ vô số tiền trị giá 365 triệu Mỹ kim vào Việt Nam, bằng một phần trăm tổng số các quốc gia đầu tư trực tiếp.
Không bỏ tiền đầu tư nhiều, nhưng Trung Quốc có đường khác để gây ảnh hưởng kinh tế, là cho vay. Và họ cho vay một cách dễ dàng hơn ngân hàng các nước khác, đặc biệt trong các công trình xây dựng nhà máy điện.
Ai cũng biết một nước đang bắt đầu phát triển thì nhu cầu điện lực rất lớn. Các quốc gia mới lên đều phải vay tiền ngoại quốc, gọi thầu các công ty ngoại quốc tới xây dựng nhà máy phát điện trong nước mình. Người Việt Nam có thể đi vay các ngân hàng quốc tế, có thể gọi các công ty quốc tế tới đấu thầu trong việc xây cất. Tại sao chính quyền Việt Nam không mở các cuộc “đấu giá” công khai để các ngân hàng quốc tế cạnh tranh nhau trong việc đem tiền tới cho vay, rồi các công ty quốc tế cạnh tranh đem máy móc, thiết bị tới xây dựng nhà máy điện, sử dụng các chuyên viên và công nhân Việt Nam? Tại sao chính quyền Cộng Sản Việt Nam lại chỉ vay các ngân hàng Trung Quốc mà không vay nước khác?
Tất nhiên, sau những vụ vay tiền rồi vỡ nợ kiểu Vinashin, Việt Nam rất khó đi vay tiền trên thế giới. Nhưng đó không phải là lý do chính. Các ngân hàng quốc doanh Trung Quốc sẵn sàng cho Việt Nam vay với lãi suất thấp hơn trên thị trường quốc tế. Ðổi lại, họ đặt thêm điều kiện khi cho vay, là Việt Nam phải cho các công ty Trung Quốc trúng thầu cung cấp thiết bị và xây dựng nhà máy. Các ngân hàng Trung Quốc khi cho vay đã yêu cầu chính quyền Việt Nam phải sửa đổi các điều kiện gọi đấu thầu, hạ thấp tiêu chuẩn các máy móc thiết bị xuống một mức thấp hơn, để các nhà thầu Trung Quốc đủ điều kiện tham dự! Và chính quyền Việt Nam rất dễ tính trong việc này. Thế là trong mỗi nhà máy điện được xây dựng, Trung Quốc sẽ có dịp xuất cảng các máy móc, các sản phẩm kỹ thuật. Chưa hết, họ sẽ xuất cảng cả những nhân lực dư thừa trong nước họ, bán sức lao động sang Việt Nam nữa!
Theo báo Thanh Niên ở Sài Gòn tại công trường nhà máy đạm thuộc dự án khí-điện-đạm Cà Mau có những công nhân Trung Quốc sang làm những “công việc thủ công” như “khiêng gạch, bẻ sắt” với tiền công mỗi ngày khoảng 100 nghìn đồng; mà không hề tìm thuê người Việt Nam nào vào làm.
Ðây là một chiến lược tấn công ba mặt, tài chánh, kỹ thuật và nhân dụng, mặt nào Trung Quốc cũng có lợi. Các công ty kỹ thuật Trung Quốc có thể “hiến giá” chấp nhận lấy giá rẻ hơn các công ty quốc tế khác. Vì trình độ kỹ thuật của họ thấp hơn, phẩm chất các máy móc của họ cũng thấp hơn. Và tất nhiên, lương các chuyên viên và nhân công của họ cũng thấp hơn tiêu chuẩn quốc tế!
Những ngân hàng và công ty kỹ thuật của Âu Châu, Ấn Ðộ hay Hàn Quốc, họ không có chính sách pha lẫn lợi ích kinh tế với mục tiêu chính trị, sẽ không thể cung cấp những “gói hàng” đủ mặt với giá thấp như vậy, tự nhiên bị gạt bỏ ra ngoài cuộc cạnh tranh! Các công ty Trung Quốc đang làm nhà máy điện khắp nước Việt Nam, từ Kontum, Quảng Ngãi, cho tới Sơn Tây. Trong cuộc gọi thầu làm nhà máy điện ở Cao Ngạn, chỉ có bốn công ty Trung Quốc tham dự; sau cùng công ty HPE của Trung Quốc đã trúng thầu! Từ năm 2003, công ty Ðông Phương đã phụ trách xây dựng các nhà máy điện ở Dak Mi, A Lưới, An Khê-Ka Nak, Bản Ve và Sông Ba Ha. Công ty Sơn Ðông của Trung Quốc không cần tranh thầu với ai trong dự án nhà máy điện Cẩm Phả 2, vì chính quyền Việt Nam được lệnh riêng của chính ông Nguyễn Tấn Dũng phải cho họ trúng thầu theo thủ tục đặc biệt, “vì lý do nhu cầu cấp bách!” Không biết ông Nguyễn Tấn Dũng có được lợi ích nào khi ra lệnh như vậy hay không.
Nhưng trong các cuộc trao đổi ba mặt như vậy, thì Việt Nam bị thiệt hại gì không? Thiệt hại trước tiên là Việt Nam phải chấp nhận những sản phẩm kỹ thuật với phẩm chất thấp hơn. Thiệt hại thứ hai là phải chấp nhận cho công nhân nước khác vào làm việc trong nước mình trong lúc nạn thất nghiệp trong nước mình cũng rất cao.
Trong khi đó, nhiều người Việt có trách nhiệm than nhà thầu Trung Quốc đã dùng các thiết bị phẩm chất kém tiến trình dự án bị chậm trễ khiến cho chi phí sau cùng lại cao hơn! Hầu hết các dự án bị kéo dài một tới hai năm, vì nhà thầu Trung Quốc không có kinh nghiệm. Họ chỉ quen với các tiêu chuẩn thô sơ và thấp ở các vùng quê Trung Quốc; chưa từng làm việc ở nước ngoài. Họ sử dụng thị trường Việt Nam như một nơi thí nghiệm khả năng của các kỹ sư và công nhân của họ trước khi bước vào thị trường thế giới! Khi một dự án bị trì hoãn thì tất nhiên Việt Nam sẽ phải vay thêm tiền của ngân hàng Trung Quốc, và phải trả tiền lãi nhiều hơn. Công việc trì hoãn cũng tăng thêm chi phí trả cho các kỹ sư làm công việc thiết kế lại! Giáo sư Bùi Huy Phương, thuộc Viện Khoa Học Ðiện Lực, đã cảnh cáo mối rủi ro về an toàn năng lượng khi để cho các công ty Trung Quốc gần như chiếm độc quyền trong việc xây dựng mạng lưới điện lực khắp nước Việt Nam! Khi so sánh hai nhà máy điện, một ở Na Dương sử dụng các kỹ thuật của Nhật Bản và các nước Tây phương, hai là ở Cao Ngạn dùng kỹ thuật Tàu, thiết bị Tàu, thì các chuyên gia đã thấy hiệu năng ở Cam Ngạn rất thấp so với Na Dương, và đã trục trặc nhiều lần.
Theo Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn, ngày 16 tháng 6 năm 2011 trên 90% gói thầu thuộc lĩnh vực khác nhau rơi vào tay Trung Quốc, thì việc “ngành năng lượng điện tại Việt Nam ngày một phụ thuộc vào Trung Quốc cũng không có gì làm lạ”. Phụ thuộc nghĩa là thế nào? Liệu có lúc nào các nhà máy điện do Trung Quốc xây có thể cùng ngưng chạy một lúc hay không? Chuyện rất khó xảy ra. Nhưng nếu người ta cố ý thì chuyện gì cũng có thể làm được cả!
Câu hỏi là nước Việt Nam có thể thản nhiên để cho một ngành quan trọng như điện lực trở thành phụ thuộc vào Trung Quốc hay không? Xem ra thì hiện nay người Việt Nam rất quan tâm đến những hòn đảo đã bị mất và có thể sắp mất ở Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng ít người để ý đến một cuộc xâm lấn kinh tế. Cuộc xâm lăng này lại được nhiều đồng lõa làm nội ứng. Cuộc xâm lăng nhẹ nhàng, chậm chạp mà chắc chắn; nếu không ngăn ngừa ngay thì sau này cũng rất khó tháo gỡ.
Ngô Nhân Dụng
Tháng trước, nhiều báo, đài và mạng thông tin đã ồn ào về cuộc tập trận của quân đội Trung Cộng ở vùng giáp giới Việt Nam trong các tỉnh Quảng Ðông, Quảng Tây.
Nhưng dù Bắc Kinh cố ý biểu diễn sức mạnh quân sự sát biên giới nước ta thì người mình cũng không cần sợ.
Có nhiều lý do để người Việt Nam không sợ nạn Mã Viện, Thoát Hoan hay Vương Thông, Mộc Thạnh. Tất nhiên, lý do quan trọng nhất vẫn là những bài học lịch sử mà nước Trung Hoa đã học mỗi lần đánh Việt Nam. Khi lòng yêu nước bị khích động, dân Việt Nam sẽ rất khó bị chinh phục.
Nhưng ngay cả khi quân Trung Quốc dư sức “cho thêm một bài học” rồi rút tàn quân về, thì họ cũng không dại gì mà đánh. Từ vài chục năm nay đảng Cộng Sản Trung Hoa đang cố đeo cái mặt nạ hòa hiếu khắp thế giới, họ không dại gì tự lột mặt nạ. Hiện nay Trung Quốc đang mua bán với 220 xứ và lãnh thổ, thầu xây dựng hạ tầng cơ sở ở 180 xứ, và đầu tư vào 129 xứ! Họ muốn mang một bộ mặt ôn hòa, chỉ lo làm ăn chứ không tính xâm chiếm ai hết! Chỉ khi nào họ đã kiểm soát được, làm cho chính quyền một nước khác không cựa được, thì Bắc Kinh mới lộ mặt hung hăng mà không sợ gì cả!
Nhưng nếu Trung Quốc mà tấn công Việt Nam một cuộc chạy đua mua khí giới và tăng cường quân lực trong vùng Ðông và Nam Châu Á sẽ bắt đầu. Các nước Ấn Ðộ, Nhật Bản, Indonesia, Ðài Loan và Nam Hàn sẽ có lý do để tăng ngân sách quốc phòng, sẽ liên hết với Mỹ chặt chẽ hơn. Kỹ nghệ sản xuất vũ khí của các nước Nga, Mỹ sẽ có thêm khách hàng! Ðó là điều Cộng Sản Trung Hoa không muốn thấy!
Nhưng Cộng Sản Trung Hoa có cần phải đánh Việt Nam hay không? Họ thực sự không cần dùng sức mạnh quân sự cũng có thể đạt được những mục tiêu của họ bằng phương cách khác.
Sức mạnh của các quốc gia phải dựa trên kinh tế. Chúng ta đã chứng kiến một guồng máy quân sự khổng lồ của Liên Xô, có lúc đóng quân trên một nửa Âu Châu, nhưng cuối cùng cũng thành bất lực khi hệ thống kinh tế quốc doanh tê liệt rồi sụp đổ. Người Trung Hoa từ 30 năm qua đã chú trọng đến việc phát triển kinh tế nhiều hơn là quân sự. Nếu không xâm lăng bằng quân sự thì Trung Quốc có thể làm gì để ảnh hưởng tới vận mệnh Việt Nam? Con đường chắc chắn hơn là theo con đường kinh tế.
Năm ngoái, nền ngoại thương nước ta bị thâm thủng gần 12 tỷ đô la Mỹ đối với Trung Quốc. Ðó chỉ là cán cân mậu dịch chính thức, chưa kể đến những gánh hàng buôn lậu qua một biên giới hầu như không ai kiểm soát vì các quan chức địa phương rất dễ được hối lộ. Hàng hóa bên Tàu đổ sang bán với giá vốn có thể đè bẹp tất cả các cố gắng của các nhà sản xuất Việt Nam. Nhưng những chuyến hàng lậu cũng chỉ là chuyện vặt. Chính quyền Việt Nam hiện nay đang mở cửa cho Trung Quốc tấn công trên những trận địa lớn, mà người dân Việt bình thường có thể không mấy người để ý tới, vì không nhìn thấy trước mắt.
Một món hàng không ai nhìn thấy là điện từ Trung Quốc có thể được truyền sang Việt Nam trong những sợi dây mong manh. Theo công ty điện lực Việt Nam thì các tỉnh phía Bắc nước ta đang nhập cảng điện từ Trung Quốc, số lượng lên tới 6% tổng số điện tiêu thụ trên toàn quốc. Coi như một biên giới đã bỏ ngỏ cho điện chảy qua. Nếu nhà cung cấp bên Tàu cúp điện, vì “sự cố kỹ thuật” nào đó, thì hoạt động kinh tế ở mấy tỉnh phía Bắc sẽ ngưng trệ ngay.
Vào đầu tháng 7, ký giả Ben Bland viết trên nhật báo Financial Times một bài, “Nhu cầu điện sẽ khiến xung độ Bắc Kinh Hà Nội giảm bớt” (Electricity demands could limit Beijing-Hanoi rift); sau khi quan sát thị trường điện lực ông khẳng định: “Bắc Kinh ngày càng điều khiển kinh tế Việt Nam” (Beijing is increasingly driving Vietnam's economy). Ben Bland nhận xét Trung Quốc không quan tâm đầu tư, trong năm 2010, họ chỉ bỏ vô số tiền trị giá 365 triệu Mỹ kim vào Việt Nam, bằng một phần trăm tổng số các quốc gia đầu tư trực tiếp.
Không bỏ tiền đầu tư nhiều, nhưng Trung Quốc có đường khác để gây ảnh hưởng kinh tế, là cho vay. Và họ cho vay một cách dễ dàng hơn ngân hàng các nước khác, đặc biệt trong các công trình xây dựng nhà máy điện.
Ai cũng biết một nước đang bắt đầu phát triển thì nhu cầu điện lực rất lớn. Các quốc gia mới lên đều phải vay tiền ngoại quốc, gọi thầu các công ty ngoại quốc tới xây dựng nhà máy phát điện trong nước mình. Người Việt Nam có thể đi vay các ngân hàng quốc tế, có thể gọi các công ty quốc tế tới đấu thầu trong việc xây cất. Tại sao chính quyền Việt Nam không mở các cuộc “đấu giá” công khai để các ngân hàng quốc tế cạnh tranh nhau trong việc đem tiền tới cho vay, rồi các công ty quốc tế cạnh tranh đem máy móc, thiết bị tới xây dựng nhà máy điện, sử dụng các chuyên viên và công nhân Việt Nam? Tại sao chính quyền Cộng Sản Việt Nam lại chỉ vay các ngân hàng Trung Quốc mà không vay nước khác?
Tất nhiên, sau những vụ vay tiền rồi vỡ nợ kiểu Vinashin, Việt Nam rất khó đi vay tiền trên thế giới. Nhưng đó không phải là lý do chính. Các ngân hàng quốc doanh Trung Quốc sẵn sàng cho Việt Nam vay với lãi suất thấp hơn trên thị trường quốc tế. Ðổi lại, họ đặt thêm điều kiện khi cho vay, là Việt Nam phải cho các công ty Trung Quốc trúng thầu cung cấp thiết bị và xây dựng nhà máy. Các ngân hàng Trung Quốc khi cho vay đã yêu cầu chính quyền Việt Nam phải sửa đổi các điều kiện gọi đấu thầu, hạ thấp tiêu chuẩn các máy móc thiết bị xuống một mức thấp hơn, để các nhà thầu Trung Quốc đủ điều kiện tham dự! Và chính quyền Việt Nam rất dễ tính trong việc này. Thế là trong mỗi nhà máy điện được xây dựng, Trung Quốc sẽ có dịp xuất cảng các máy móc, các sản phẩm kỹ thuật. Chưa hết, họ sẽ xuất cảng cả những nhân lực dư thừa trong nước họ, bán sức lao động sang Việt Nam nữa!
Theo báo Thanh Niên ở Sài Gòn tại công trường nhà máy đạm thuộc dự án khí-điện-đạm Cà Mau có những công nhân Trung Quốc sang làm những “công việc thủ công” như “khiêng gạch, bẻ sắt” với tiền công mỗi ngày khoảng 100 nghìn đồng; mà không hề tìm thuê người Việt Nam nào vào làm.
Ðây là một chiến lược tấn công ba mặt, tài chánh, kỹ thuật và nhân dụng, mặt nào Trung Quốc cũng có lợi. Các công ty kỹ thuật Trung Quốc có thể “hiến giá” chấp nhận lấy giá rẻ hơn các công ty quốc tế khác. Vì trình độ kỹ thuật của họ thấp hơn, phẩm chất các máy móc của họ cũng thấp hơn. Và tất nhiên, lương các chuyên viên và nhân công của họ cũng thấp hơn tiêu chuẩn quốc tế!
Những ngân hàng và công ty kỹ thuật của Âu Châu, Ấn Ðộ hay Hàn Quốc, họ không có chính sách pha lẫn lợi ích kinh tế với mục tiêu chính trị, sẽ không thể cung cấp những “gói hàng” đủ mặt với giá thấp như vậy, tự nhiên bị gạt bỏ ra ngoài cuộc cạnh tranh! Các công ty Trung Quốc đang làm nhà máy điện khắp nước Việt Nam, từ Kontum, Quảng Ngãi, cho tới Sơn Tây. Trong cuộc gọi thầu làm nhà máy điện ở Cao Ngạn, chỉ có bốn công ty Trung Quốc tham dự; sau cùng công ty HPE của Trung Quốc đã trúng thầu! Từ năm 2003, công ty Ðông Phương đã phụ trách xây dựng các nhà máy điện ở Dak Mi, A Lưới, An Khê-Ka Nak, Bản Ve và Sông Ba Ha. Công ty Sơn Ðông của Trung Quốc không cần tranh thầu với ai trong dự án nhà máy điện Cẩm Phả 2, vì chính quyền Việt Nam được lệnh riêng của chính ông Nguyễn Tấn Dũng phải cho họ trúng thầu theo thủ tục đặc biệt, “vì lý do nhu cầu cấp bách!” Không biết ông Nguyễn Tấn Dũng có được lợi ích nào khi ra lệnh như vậy hay không.
Nhưng trong các cuộc trao đổi ba mặt như vậy, thì Việt Nam bị thiệt hại gì không? Thiệt hại trước tiên là Việt Nam phải chấp nhận những sản phẩm kỹ thuật với phẩm chất thấp hơn. Thiệt hại thứ hai là phải chấp nhận cho công nhân nước khác vào làm việc trong nước mình trong lúc nạn thất nghiệp trong nước mình cũng rất cao.
Trong khi đó, nhiều người Việt có trách nhiệm than nhà thầu Trung Quốc đã dùng các thiết bị phẩm chất kém tiến trình dự án bị chậm trễ khiến cho chi phí sau cùng lại cao hơn! Hầu hết các dự án bị kéo dài một tới hai năm, vì nhà thầu Trung Quốc không có kinh nghiệm. Họ chỉ quen với các tiêu chuẩn thô sơ và thấp ở các vùng quê Trung Quốc; chưa từng làm việc ở nước ngoài. Họ sử dụng thị trường Việt Nam như một nơi thí nghiệm khả năng của các kỹ sư và công nhân của họ trước khi bước vào thị trường thế giới! Khi một dự án bị trì hoãn thì tất nhiên Việt Nam sẽ phải vay thêm tiền của ngân hàng Trung Quốc, và phải trả tiền lãi nhiều hơn. Công việc trì hoãn cũng tăng thêm chi phí trả cho các kỹ sư làm công việc thiết kế lại! Giáo sư Bùi Huy Phương, thuộc Viện Khoa Học Ðiện Lực, đã cảnh cáo mối rủi ro về an toàn năng lượng khi để cho các công ty Trung Quốc gần như chiếm độc quyền trong việc xây dựng mạng lưới điện lực khắp nước Việt Nam! Khi so sánh hai nhà máy điện, một ở Na Dương sử dụng các kỹ thuật của Nhật Bản và các nước Tây phương, hai là ở Cao Ngạn dùng kỹ thuật Tàu, thiết bị Tàu, thì các chuyên gia đã thấy hiệu năng ở Cam Ngạn rất thấp so với Na Dương, và đã trục trặc nhiều lần.
Theo Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn, ngày 16 tháng 6 năm 2011 trên 90% gói thầu thuộc lĩnh vực khác nhau rơi vào tay Trung Quốc, thì việc “ngành năng lượng điện tại Việt Nam ngày một phụ thuộc vào Trung Quốc cũng không có gì làm lạ”. Phụ thuộc nghĩa là thế nào? Liệu có lúc nào các nhà máy điện do Trung Quốc xây có thể cùng ngưng chạy một lúc hay không? Chuyện rất khó xảy ra. Nhưng nếu người ta cố ý thì chuyện gì cũng có thể làm được cả!
Câu hỏi là nước Việt Nam có thể thản nhiên để cho một ngành quan trọng như điện lực trở thành phụ thuộc vào Trung Quốc hay không? Xem ra thì hiện nay người Việt Nam rất quan tâm đến những hòn đảo đã bị mất và có thể sắp mất ở Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng ít người để ý đến một cuộc xâm lấn kinh tế. Cuộc xâm lăng này lại được nhiều đồng lõa làm nội ứng. Cuộc xâm lăng nhẹ nhàng, chậm chạp mà chắc chắn; nếu không ngăn ngừa ngay thì sau này cũng rất khó tháo gỡ.

Mùa Xuân Ðịa Trung Hải
Ngô Nhân Dụng
Một nước Libya Tự Do đang thành hình. Khi quân nổi dậy chiếm được thành phố Tripoli ký giả Al-Mustaqbal ở Lebanon mô tả đây là “Một Mùa Xuân Ðịa Trung Hải.” Người Libya gọi thủ đô Tripoli là “Vị hôn thê của Ðịa Trung Hải.” Arusat Al-Bahr - Người vợ chưa cưới - mới được giải phóng, thoát khỏi vòng tay anh đại tá độc tài “vũ phu” Muammar el-Qaddafi (cũng viết là Moammar Gadhafi hoặc Muammar Kadhafi; chúng tôi sẽ viết theo lối chung của nhật báo Người Việt là Gadhafi).
Mười ngày sau khi quân nổi dậy tiến chiếm Tripoli, điều khiến nhật báo Times ở London reo mừng là “Không xẩy ra một vụ Iraq!” Những mối lo ngại trước đây về một cảnh hỗn loạn vô chính phủ đã không diễn ra. Không có những người dân bình thường biến thành đám côn đồ đi hôi của! Không có cảnh giết chóc để trả thù những tay sai suốt 42 năm của chế độ Gadhafi. Một phần, đó là nhờ Ủy Ban Quốc Gia Chuyển Tiếp (NTC) đã dự phòng.
Trước khi chiến dịch đánh Tripoli bắt đầu, từ thành phố Benghazi, NTC thành lập một lực lượng cảnh sát, có từ 10 ngàn đến 15 ngàn dân vệ, để lo bảo vệ trật tự khi chiếm được thủ đô. Ông Mahmoud Jibril, chủ tịch ủy ban đã lên ti vi, phát hình từ vương quốc Á Rập Qatar trong vùng Vịnh, kêu gọi dân chúng thủ đô hãy kiềm chế không tự mình đi trả thù, hãy để mọi nỗi oán hờn cho công lý xét xử sau này. Khác với Iraq năm 2003, các cảnh sát, công an của chế độ cũ được kêu gọi trở lại nhiệm sở, cũng như các quân nhân không bị sa thải tức khắc, tạo nên một đạo binh thất nghiệp vừa sợ hãi vừa có súng trong tay như ở Iraq. Tại nhiều nơi, những ủy ban nhân dân tự động lập ra lo việc bảo vệ trật tự, an ninh trong khu phố mình. Ðiều đáng mừng không kém là các mỏ dầu lửa bắt đầu hoạt động và những ngân khoản ở ngoại quốc của chính quyền cũ được Liên Hiệp Quốc giải tỏa, tiền bắt đầu được tháo khoán cho chính quyền mới sử dụng!
Và chính quyền mới cần ngay rất nhiều tiền. Trong thành phố Tripoli nhiều nơi còn bị cúp điện, nước. Công chức khắp nước chưa được trả lương trong mấy tháng qua. Ðiều quan trọng nhất là chính phủ lâm thời, dưới cái tên Ủy Ban Quốc Gia Chuyển Tiếp cần phải có mặt ở thủ đô ngay, để tạo niềm tin rằng chế độ cũ đã chấm dứt thật sự. Và họ phải chứng tỏ đang nắm quyền quyết định. Ðể tránh cho Libya khỏi lâm vào cảnh nội chiến như ở Iraq sau năm 2003.
Một công trình của Ðại Học Columbia nghiên cứu 323 cuộc cách mạng lật đổ chế độ độc tài từ năm 1900 đến năm 2006 cho biết sau khi “cách mạng thành công” có 43% trường hợp đã đưa tới nội loạn. Lybia cũng giống Iraq, có đủ các mầm mống đưa tới nội chiến, vì họ không phải là một dân tộc có truyền thống thuần nhất và chưa có ý thức quốc gia theo nghĩa hiện đại của danh từ này. Người dân Lybia hướng lòng trung thành của họ vào các bộ lạc nhiều hơn là vào một thực thể quốc gia. Ngay những nhóm dân quân nổi dậy cũng không thuần nhất. Dân Berberes ở phía Tây đã nổi lên chống Gadhafi sau khi cuộc nổi dậy ở Benghazi tại miền Tây thắng thế. Những người Berberes đầy tinh thần độc lập và tự hào của dân du mục đóng vai trò thiết yếu trong trận đánh giải phóng thành phố Misrata, họ không hoàn toàn tuân phục Ủy Ban Quốc Gia Chuyển Tiếp. Ngay trước khi thắng thế, trong phe nổi dậy đã xẩy ra những rạn nứt lớn. Vào Tháng Bẩy, nhà chỉ huy quân sự Abdel Fatah Younès được triệu hồi từ mặt trận về Benghazi tham khảo; mấy ngày sau người ta thấy xác ông và hai cận vệ ở bên ngoài thành phố, thi hài có dấu vết bị tra tấn và bị đốt cháy. Phe nổi dậy nói ban ám sát của Kadhafi đã giết ông Younes, nhưng nhiều người không tin. Sau đó, ủy ban hành pháp, tức chính quyền lâm thời đã phải từ chức. Ông Younes thuộc bộ lạc Obeidi, bộ lạc này đã yêu cầu mở cuộc điều tra tìm thủ phạm. Những bất đồng như vậy sẽ gây nhiều trở ngại cho một nước Libya mới sắp ra đời!
Ủy ban NTC do ông Mustafa Abdel Jalil, một cựu bộ trưởng Tư Pháp cầm đầu. Ông đã tuyên bố trước là sẽ không giải giới quân đội và công an cảnh sát của chế độ cũ, để họ an lòng. Ông hứa sẽ thành lập một chính phủ lâm thời trong vòng 30 ngày sau khi cả nước được hoàn toàn giải phóng, chính phủ này sẽ bao gồm nhiều khuynh hướng chính trị và nhiều bộ lạc. Trong vòng 8 tháng sẽ tổ chức bầu cử tự do, để soạn một bản Hiến Pháp mới trong vòng 20 tháng.
Ðiều khó khăn nhất sẽ là làm cách nào giải thể các toán dân quân độc lập để họp lại thành một quân đội quốc gia chuyên nghiệp, đứng ngoài chính trị!
Ông Mustafa Abdel Jalil là viên chức chính phủ Gadhafi đầu tiên từ bỏ nhà độc tài để gia nhập dân quân nổi dậy, sau khi các sinh viên ở Bengahzi biểu tình ngày 15 Tháng Hai năm nay. Ông được nhiều người kính trọng vì ngay khi làm bộ trưởng đã can đảm chỉ trích nhiều chính sách đàn áp đối lập của Gadhafi. Nhưng Jalil không được coi là một lãnh tụ mạnh có khả năng khuất phục người khác. Sau ông Jalil, nhiều nhân vật trong chính quyền Kadhafi cũng kéo về thành phố Bengahzi thủ phủ tạm thời của phe nổi dậy, lấp vào khoảng trống chính trị của một phong trào quần chúng tự động bột phát. Trong số đó có ông Mahmoud Jibril, đang cầm đầu ủy ban hành pháp của phe nổi dậy, và ông Ali al-Essawi, đứng đầu về ngoại giao.
Jibril là một cựu sinh viên Ðại Học Pittsburgh ở Mỹ. Trong cuốn “Viễn Tượng Lybia 2025” ông đã vẽ ra hình ảnh một chế độ mới, trong đó các quyền tự do được tôn trọng, kinh tế thị trường mở cửa, và quyền hành của chính phủ được giới hạn trong đời sống xã hội. Người đóng vai trò bộ trưởng Tài Chánh trong phe nổi dậy là Ali Tarhouni, một giáo sư Ðại Học Washington, ông đã bỏ ngang nghề giáo sư ở Mỹ để về nước “làm cách mạng!”
Nhân vật trong phe nổi dậy có thể bị nghi ngờ chống Tây phương là Abdul Hakim Belhaj' người đang cầm đầu Ủy Ban Quân Sự Tripoli.
Abdul Hakim Belhaj có bí danh là Abu Abdullah al-Sadiq vốn là chỉ huy của một nhóm kháng chiến mang tên Ðạo Quân Hồi Giáo Lybia (Libyan Islamic Fighting Group - LIFG), đã tổ chức chống chính quyền Kadhafi từ năm 1990, ở miền Ðông Lybia. Ông Belhaj 45 tuổi, đã âm mưu ám sát Kadhafi hai lần không thành vào những năm 1995, 96. Nhóm Ðạo Quân Hồi Giáo Libya (LIFG) bị chính phủ Mỹ ghi trong danh sách các tổ chức khủng bố Hồi Giáo quá khích. Năm 2004 ông Belhaj đã bị bắt ở Mã Lai Á, sau đưa qua nhà giam của CIA tại Thái Lan, và ở đó ông đã bị tra tấn. Khi được trả tự do, ông được đưa trả cho chính quyền Gadhafi, bị giam giữ; mới được “ân xá” năm 2010.
Trong một cuộc phỏng vấn gần đây, Belhaj nói ông không thù hận nước Mỹ. Ông cũng nói đã từng chống lại tổ chức khủng bố Al Qaeda mà ông cho là cực đoan, không theo đúng giáo lý Hồi Giáo. Nhóm LIFG nay đã đổi tên thành Phong Trào Hồi Giáo Chuyển Hóa để biến thành một đảng chính trị.
Những tổ chức dân quân kháng chiến như LIFG có hy vọng thoát xác trở thành các đảng chính trị hay không? Người ta có thể hy vọng điều đó sẽ diễn ra, theo tấm gương của Nghị Hội Quốc Gia Nam Phi (Africa National Congress ANC). Sau khi được người da trắng ở đó trao quyền hành, ANC đã tự giải tán, gia nhập quân đội quốc gia. Một diễn trình tương tự đang thành hình ở Ai Cập, nơi các nhóm Hồi Giáo võ trang đông người hơn LIFG cũng đã tự giải tán và thành lập đảng chính trị Kiến Thiết và Phát Triển.
Các nước Tây phương đã giúp cho phe cách mạng thành công, nhờ những cuộc không tập và viện trợ vũ khí, gồm các nước Anh, Pháp và Mỹ. Ðiều này được cả nước Lybia biết ơn. Ðối với nước Mỹ, cuộc nổi dậy thành công ở Lybia là một tin mừng hiếm hoi, trong lúc thị trường chứng khoán đang xuống vì mối lo nạn thất nghiệp không giảm! Biến cố này đã tạo cho nước Mỹ một hình ảnh mới trong thế giới Á Rập. Một nhà báo Mỹ viết cho tờ New York Times hôm qua đã mô tả chuyến đi của ông từ biên giới Tunisie tới Tripoli, đi đâu cũng thấy mọi người hoan hô chính phủ Mỹ trong việc hỗ trợ quân nổi dậy.
Trong khi đi bộ trong thủ đô Tripoli, nhà báo được một người lái xe gọi lại cho đi nhờ, và nhắn: Cảm ơn người Mỹ! Một người khác nhận xét: Nếu không có nước Mỹ giúp, chúng tôi không có ngày hôm nay! Một người lính biên phòng biết nhà báo từ New York tới đã hỏi thăm về trận bão Irene đang tấn công New York, tỏ ý hỏi anh ta có thể làm gì để giúp người Mỹ hay không! Belgassim Ali, một kỹ sư dầu lửa nói: “Tôi muốn cảm ơn nước Mỹ đã giúp bảo vệ dân tôi. Nếu không có nước Mỹ thì chúng tôi không đang được mừng ngày thành công như thế này! Chắc chúng tôi đang nằm trong nghĩa địa!” Chàng thanh niên Abdul Hakim al-Hasadi, một quân thánh chiến cũ (jihadist) nói với nhà báo Mỹ: Thái độ của chúng tôi đã thay đổi. “Trước đây tôi ghét Mỹ 100%, hôm nay chỉ còn dưới 50%!”
Bài học có thể rút ra từ biến cố ở Libya là: Một chế độ độc tài có thể tan rã rất dễ dàng! Mùa Xuân Ðịa Trung Hải đã bắt đầu ở Tunisia từ đầu năm, lan sang Ai Cập và các nước Á Rập khác, nay đã tới Libya và có thể sẽ tràn tới Syria trong những ngày sắp tới. Nhà báo Ali-Mustaqbal ở Lebanon mới nhớ lại, trong thập niên 1970 cả vùng Ðịa Trung Hải toàn là những chế độ độc tài. Tito ngự trị ở Nam Tư, Enver Hodja ở Albania. Các ông đại tá nắm quyền ở Hy Lạp. Thổ Nhĩ Kỳ cũng nằm trong tay các ông tướng. Chế độ Franco ở Tây Ban Nha chỉ chấm dứt khi nhà độc tài này qua đời năm 1975. Chế độ độc tài ở Bồ Ðào Nha chấm dứt năm 1974 sau cuộc Cách Mạng Hoa Cẩm Chướng. Sáu nước phía Bắc Ðịa Trung Hải và tất cả các nước Á Rập ở phía Nam đều sống dưới chế độ độc tài trước đây 40 năm! Ngày nay, mùa Xuân đã tới miền Ðịa Trung Hải!
Quan hệ quốc phòng ngày càng chặt chẽ
giữa Việt Nam và Ấn Độ khiến Trung Quốc khó chịu Nếu sự kiện tàu Trung Quốc gây khó dễ đối với tàu đổ bộ INS Airavat của Ấn Độ được xác minh, thì đấy là lần đầu tiên sự cố nảy sinh giữa hải quân hai cường quốc này tại vùng Biển Đông. Giới phân tích đã gắn liền sự kiện này với thái độ ngày càng quyết đoán của Trung Quốc trong việc đòi hỏi chủ quyền trong khu vực, và với việc các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, đang khuyến khích New Delhi tăng cường quan hệ với khu vực hầu cân bằng thế lực của Bắc Kinh.
Đối với Trung Quốc, hơn 80% diện tích Biển Đông thuộc chủ quyền của họ, và trong những năm gần đây, hải quân Trung Quốc càng lúc càng gia tăng áp lực, nhằm khẳng định chủ quyền của Bắc Kinh trong khu vực. Các hành động nhiều khi rất hung hăng của Trung Quốc đã làm cho các nước Đông Nam Á có tranh chấp chủ quyền càng lúc càng lo ngại.

Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ Shri AK Antony duyệt hàng quân danh dự nhân Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng ngày 12/10/2010 tại Hà Nội.
Trong tình hình đó, để khỏi phải đơn độc đối phó với Trung Quốc, nhiều quốc gia Đông Nam Á, đi đầu là Việt Nam, đã đẩy mạnh chiến lược tăng cường quan hệ với các cường quốc bên ngoài khu vực, cũng quan tâm đến vấn đề Biển Đông, với hy vọng là giảm thiểu được sức ép của Bắc Kinh. Ngoài Hoa Kỳ, Ấn Độ là cường quốc thứ hai được chú ý trong tư cách là một đối tác đáng tin cậy, giúp cho Đông Nam Á bớt bị Trung Quốc chèn ép.
Về phần mình, New Delhi cũng ngày càng quan ngại trước tiềm lực quân sự gia tăng của Trung Quốc, đồng minh thân cận của Pakistan, đối thủ truyền thống của Ấn Độ. Trong khuôn khổ chính sách ‘’Đông tiến’’ (Look East) đề ra từ đầu thập niên 1990, New Delhi ngày càng muốn thắt chặt thêm quan hệ mọi mặt với vùng Đông Nam Á, trong đó có quan hệ quốc phòng.
Trong lãnh vực quân sự, New Delhi ngay từ đầu, đã có những quan hệ khá chặt chẽ với Việt Nam, nhất là trong vấn đề vũ khí vì lẽ Ấn Độ là quốc gia có rất nhiều kinh nghiệm trong lãnh vực sản xuất và bảo trì vũ khí, thiết bị quân sự do Liên Xô (và sau này là Nga) sản xuất, vốn đang được quân đội Việt Nam sử dụng.
Theo ghi nhận của giáo sư Carl Thayer, chuyên gia về Việt Nam và châu Á tại Học viện Quốc phòng Úc, vào năm 2000, hai bên đã ký kết một thỏa thuận hợp tác quốc phòng trong đó có cả việc Ấn Độ đồng ý giúp Việt Nam nâng cấp đội máy bay MiG-21 của mình, cũng như đội hộ tống hạm và tàu tấn công nhanh.
Qua năm 2007, Việt Nam và Ấn Độ đã nâng cấp quan hệ song phương lên thành quan hệ đối tác chiến lược, và ngay sau đó, Ấn Độ đã cung cấp cho Việt Nam một số lượng lớn phụ tùng thay thế để duy trì hoạt động của đội tàu có từ thời Liên Xô, đồng thời hiện đại hóa năng lực chống tàu ngầm của quân đội Việt Nam. Ngoài ra, tàu hải quân Ấn Độ bắt đầu ghé cảng Việt Nam thường xuyên hơn.
Theo nhận xét của giáo sư Thayer, hợp tác quốc phòng Việt Ấn thể hiện một sự tương đồng chiến lược, giúp cho hai bên mở rộng khả năng ứng phó với Trung Quốc và các cường quốc khác. Qua Việt Nam, Ấn Độ có thêm điều kiện tăng cường quan hệ với ASEAN và mở rộng ảnh hưởng trong khu vực Đông Á, còn nhờ Ấn Độ, Việt Nam tránh được việc bị lệ thuộc vào một cường quốc duy nhất.
Quan hệ quốc phòng được tăng cường giữa Việt Nam với Ấn Độ đương nhiên không làm cho Trung Quốc hài lòng. Ấn Độ đã từng có những mối liên lạc quốc phòng chặt chẽ với Singapore, Indonesia hay Malaysia, Thái Lan, những nước cùng chia sẻ quan tâm với họ về vùng biển Andaman, bên Ấn Độ Dương, hay eo biển Malacca, phía Nam Biển Đông.
Tuy nhiên, các quan hệ đó dường như không làm Bắc Kinh khó chịu bằng việc tàu chiến Ấn Độ lần ngược lên phía Bắc Biển Đông, trong khuôn khổ các thỏa thuận ký kết với Việt Nam. Hành động chưa từng thấy là chận đường xét hỏi chiếc INS Airavat có thể được xem là phương cách Trung Quốc biểu thị thái độ bực bội của mình.
Theo Trọng Nghĩa (RFI)
giữa Việt Nam và Ấn Độ khiến Trung Quốc khó chịu Nếu sự kiện tàu Trung Quốc gây khó dễ đối với tàu đổ bộ INS Airavat của Ấn Độ được xác minh, thì đấy là lần đầu tiên sự cố nảy sinh giữa hải quân hai cường quốc này tại vùng Biển Đông. Giới phân tích đã gắn liền sự kiện này với thái độ ngày càng quyết đoán của Trung Quốc trong việc đòi hỏi chủ quyền trong khu vực, và với việc các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, đang khuyến khích New Delhi tăng cường quan hệ với khu vực hầu cân bằng thế lực của Bắc Kinh.
Đối với Trung Quốc, hơn 80% diện tích Biển Đông thuộc chủ quyền của họ, và trong những năm gần đây, hải quân Trung Quốc càng lúc càng gia tăng áp lực, nhằm khẳng định chủ quyền của Bắc Kinh trong khu vực. Các hành động nhiều khi rất hung hăng của Trung Quốc đã làm cho các nước Đông Nam Á có tranh chấp chủ quyền càng lúc càng lo ngại.

Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ Shri AK Antony duyệt hàng quân danh dự nhân Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng ngày 12/10/2010 tại Hà Nội.
Trong tình hình đó, để khỏi phải đơn độc đối phó với Trung Quốc, nhiều quốc gia Đông Nam Á, đi đầu là Việt Nam, đã đẩy mạnh chiến lược tăng cường quan hệ với các cường quốc bên ngoài khu vực, cũng quan tâm đến vấn đề Biển Đông, với hy vọng là giảm thiểu được sức ép của Bắc Kinh. Ngoài Hoa Kỳ, Ấn Độ là cường quốc thứ hai được chú ý trong tư cách là một đối tác đáng tin cậy, giúp cho Đông Nam Á bớt bị Trung Quốc chèn ép.
Về phần mình, New Delhi cũng ngày càng quan ngại trước tiềm lực quân sự gia tăng của Trung Quốc, đồng minh thân cận của Pakistan, đối thủ truyền thống của Ấn Độ. Trong khuôn khổ chính sách ‘’Đông tiến’’ (Look East) đề ra từ đầu thập niên 1990, New Delhi ngày càng muốn thắt chặt thêm quan hệ mọi mặt với vùng Đông Nam Á, trong đó có quan hệ quốc phòng.
Trong lãnh vực quân sự, New Delhi ngay từ đầu, đã có những quan hệ khá chặt chẽ với Việt Nam, nhất là trong vấn đề vũ khí vì lẽ Ấn Độ là quốc gia có rất nhiều kinh nghiệm trong lãnh vực sản xuất và bảo trì vũ khí, thiết bị quân sự do Liên Xô (và sau này là Nga) sản xuất, vốn đang được quân đội Việt Nam sử dụng.
Theo ghi nhận của giáo sư Carl Thayer, chuyên gia về Việt Nam và châu Á tại Học viện Quốc phòng Úc, vào năm 2000, hai bên đã ký kết một thỏa thuận hợp tác quốc phòng trong đó có cả việc Ấn Độ đồng ý giúp Việt Nam nâng cấp đội máy bay MiG-21 của mình, cũng như đội hộ tống hạm và tàu tấn công nhanh.
Qua năm 2007, Việt Nam và Ấn Độ đã nâng cấp quan hệ song phương lên thành quan hệ đối tác chiến lược, và ngay sau đó, Ấn Độ đã cung cấp cho Việt Nam một số lượng lớn phụ tùng thay thế để duy trì hoạt động của đội tàu có từ thời Liên Xô, đồng thời hiện đại hóa năng lực chống tàu ngầm của quân đội Việt Nam. Ngoài ra, tàu hải quân Ấn Độ bắt đầu ghé cảng Việt Nam thường xuyên hơn.
Theo nhận xét của giáo sư Thayer, hợp tác quốc phòng Việt Ấn thể hiện một sự tương đồng chiến lược, giúp cho hai bên mở rộng khả năng ứng phó với Trung Quốc và các cường quốc khác. Qua Việt Nam, Ấn Độ có thêm điều kiện tăng cường quan hệ với ASEAN và mở rộng ảnh hưởng trong khu vực Đông Á, còn nhờ Ấn Độ, Việt Nam tránh được việc bị lệ thuộc vào một cường quốc duy nhất.
Quan hệ quốc phòng được tăng cường giữa Việt Nam với Ấn Độ đương nhiên không làm cho Trung Quốc hài lòng. Ấn Độ đã từng có những mối liên lạc quốc phòng chặt chẽ với Singapore, Indonesia hay Malaysia, Thái Lan, những nước cùng chia sẻ quan tâm với họ về vùng biển Andaman, bên Ấn Độ Dương, hay eo biển Malacca, phía Nam Biển Đông.
Tuy nhiên, các quan hệ đó dường như không làm Bắc Kinh khó chịu bằng việc tàu chiến Ấn Độ lần ngược lên phía Bắc Biển Đông, trong khuôn khổ các thỏa thuận ký kết với Việt Nam. Hành động chưa từng thấy là chận đường xét hỏi chiếc INS Airavat có thể được xem là phương cách Trung Quốc biểu thị thái độ bực bội của mình.
Theo Trọng Nghĩa (RFI)
Lễ Lao Ðộng ở một thành phố nhỏ
Ngô Nhân Dụng
Năm nay tình cờ tôi có cơ hội đi xem cuộc diễn hành nhân ngày lễ Lao Ðộng, mùng 5 tháng 9 tại một thành phố dưới 100,000 dân, trong tiểu bang Iowa thuộc miền Trung Tây nước Mỹ.
Ở đây họ tự coi nằm giữa trái tim của cả nước. Những năm có tranh cử tổng thống, báo chí lại kéo đến theo dõi coi kết quả những cuộc bầu cử sơ bộ ở Iowa. Không phải chỉ vì ở đây tổ chức bỏ phiếu sớm nhất; nhưng còn vì dân tình tiểu bang này thường tiêu biểu cho cả nước; khi đại đa số ủng hộ ứng cử viên nào thì người đó rất có hy vọng sẽ làm tổng thống!
Người Mỹ ở vùng Trung Tây thường tự coi họ là “dân Mỹ thứ thật”. Vì họ vẫn gìn giữ những nếp sống và giá trị cổ truyền của cha ông họ, những người gốc Ðức, Pháp, Ái Nhĩ Lan, Anh, Thụy Ðiển, vân vân, lập nghiệp ở đây từ hai ba thế kỷ. Ðời sống của họ không bị ảnh hưởng của những trào lưu văn hóa mà các di dân mới đem tới; phe mới phần lớn quy tụ tại hai vùng bờ biển phía Ðông và phía Tây lục địa Bắc Mỹ.
Diễn hành những cái gì trong ngày lễ Lao Ðộng? Dân Canada và Mỹ chọn này Thứ Hai đầu tiên trong tháng 9 để “vinh danh người lao động”. Lễ Lao Ðộng lớn đầu tiên được Công Ðoàn Trung Ương (Central Labor Union) ở New York tổ chức vào ngày 5 tháng 9 năm 1882. Họ bắt chước những ngày Lao Ðộng đã diễn ra trước đó ở Toronto, Canada. Năm 1894 thì ngày Lao Ðộng được chính phủ liên bang Mỹ chính thức công nhận, Quốc Hội đưa vào một đạo luật. Họ chọn một ngày đầu tháng 9 một phần cũng vì người Mỹ không muốn nó trùng với ngày Lao Ðộng Quốc Tế mùng 1 tháng 5 như các nước khác.
Nhưng trong cuộc diễn hành ngày lễ Lao Ðộng 5 tháng 9 năm nay ở thành phố Dubuque, nằm trên bờ sông Mississippi giữa ba tiểu bang Wisconsin, Iowa và Illinois, tôi không thấy một cuộc biểu dương lực lượng của giai cấp công nhân, như thường vẫn thấy ở các nước khác. Chắc chắn không đem biểu diễn các loại vũ khí, không phải là một này duyệt binh. Không có các quan chức đứng quan sát trên khán đài mà chỉ thấy người dân bắc ghế ngồi trên lề đường coi như coi xiệc! Ðây chỉ là một cuộc diễn của các công dân, một hoạt động dành cho xã hội công dân, nhà nước hoàn toàn đứng ngoài lo giúp giữ trật tự. Có mấy chiếc xe cảnh sát đậu ở vài góc đường, nhưng hình như không phải làm việc gì cả. Những người lao động, đáng lẽ đóng vai trò chính, lại chỉ là thiểu số trong cuộc diễn hành: Các công nhân trong các công đoàn lớn: Teamsters, AFL-CIO, đại diện bởi những nghiệp đoàn địa phương: Nghiệp đoàn công nhân kim loại, công nhân xe hơi, công nhân thuộc những công ty lớn cung cấp việc làm cho nhiều thế hệ trong vùng này, như Johns Deere, chế tạo các dụng cụ xây cất, nông cụ, máy móc lớn. Mấy chiếc máy gặt đeo tấm biển viết: “83 tuổi! Vẫn làm việc!” Vừa giới thiệu cái máy cũ bền bỉ, vừa giới thiệu ông cụ ngồi lái chiếc máy! Có nghiệp đoàn thợ mộc. Có các chủ nông trại tự làm lấy. Công ty IBM mới đến mở một trụ sở trong vùng, đem theo hàng ngàn kỹ sư, nhưng chắc họ không lập nghiệp đoàn lao động nên vắng mặt. IBM tới đây đã làm cho số người gốc Ấn Ðộ và gốc Trung Hoa tăng lên hàng chục lần! Một quán ăn đặc sản Ấn Ðộ mới mở cửa năm nay.
Ðối với nhiều người lao động, cuộc diễn hành cũng là một dịp cho gia đình sum họp vui chơi. Không ai hô những khẩu hiệu đấu tranh giai cấp. Cũng không thấy đòi tăng lương, giảm giờ làm việc, hay tăng số lần được đi vào phòng vệ sinh mỗi ngày, như nhu cầu của nhiều công nhân ở Việt Nam. Mấy ông tài xế Teamster lái những chiếc xe tải dài ngoẵng đi từ từ, mỗi ông ôm trên lòng những em bé năm sáu tuổi, có thể là con họ, hoặc đa số là các cháu nội, cháu ngoại. Mấy đứa trẻ hãnh diện vẫy tay chào những người đứng bên đường, lâu lâu lại nhấn còi, xen lẫn với tiếng nhạc khiến cuộc diễn hành rất ồn ào.
Nhưng giới công nhân chỉ là thiểu số. Ban nhạc của các trường trung học nổi bật lên! Các cô cậu học sinh có dịp mặc đồng phục đi biểu diễn ngoài đường, có ban nhạc dài đến trăm người, đánh trống, thổi kèn, chân bước đều, đầu nghểnh lên, điệu bộ rất nghiêm trọng. Trong một ban nhạc, có một nữ nhạc sĩ phải ngồi xe lăn, ôm chiếc kèn; cô được đồng bạn giúp đẩy xe đi, cũng tham dự cuộc diễn hành. Có Hội Phụ Nữ Cử Tri, đi cổ động đàn bà con gái tham gia việc bỏ phiếu. Một bà cụ tóc bạc phơ, chắc phải trên 90 tuổi, ngồi gọn trong một chiếc ghế bành đặt trên chiếc xe tải bỏ trống. Cụ ôm một tấm biển viết: Hãy đi bỏ phiếu (Vote!). Có cả những hội từ thiện diễn hành chung. Có Hội Cha Mẹ Nuôi. Ðông nhất là đoàn Hướng Ðạo, nam và nữ, mang theo một lá cờ Mỹ rộng gần ngập con đường, do mấy chục em khiêng đi. Lại có Hội Thanh Niên Nam Nữ khác. Có cả hội cựu quân nhân, mang theo biểu ngữ kêu gọi đừng ai quên các tù binh và lính mất tích (POW-MIA). Và hai đảng chính trị lớn đều có mặt, Cộng Hòa và Dân Chủ. Mỗi đảng đi qua nơi có nhiều người ủng hộ lại được họ vỗ tay ào ào; các ông bà dân cử kêu tên những người quen hai bên đường, chào hỏi nhau. Tea Party cũng đi phát truyền đơn. Có những ứng cử viên Quốc Hội, ứng cử viên hội đồng thành phố, ứng cử viên vào ủy ban giáo dục, đi phát giấy cổ động. Và tất nhiên, rất nhiều xí nghiệp cũng đưa công nhân của mình đi diễn hành ngày lễ Lao Ðộng, nhân dịp này quảng cáo cho mình: Lau cửa sổ, 50 năm kinh nghiệm (ba chiếc xe)! Câu xe và Sửa xe, 24 giờ! Thông khói, Sửa máy Sưởi, Máy Lạnh (5 chiếc xe van)!
Tức là cả xã hội công dân trong thành phố nhỏ này đều nhân ngày Lao Ðộng đều có mặt để tự giới thiệu mình. Chưa tới trưa thì cuộc diễn hành chấm dứt. Mỗi năm người ta tổ chức ít nhất hai cuộc trình diễn như vậy, lần trước là vào lễ Tưởng Niệm. Trong ngày đó, vẫn các hội hè, các đảng phái chính trị, các trường học, các doanh nghiệp và đoàn thể nam phụ lão ấu đều có mặt; nhưng chắc chắn là các cựu quân nhân tới diễn hành đông đảo hơn. Khi các quân nhân già nua, ngực đeo huân chương đi qua, nhiều người ngồi bên đường đứng dậy để tỏ lòng kính trọng. Ở các thành phố lớn miền Ðông hay phía Tây nước Mỹ người ta không có thói quen đó.
Ðời sống trong vùng Trung Tây theo một nền nếp rất xưa, và họ vẫn bảo vệ. Dubuque có tới 4 trường đại học; nhưng nếp sống ở đây cũng bình lặng, như một thị trấn nhỏ ở miền Ðồng Bằng Sông Cửu Long. Người dân sống hướng nội, cả về đạo đức lẫn chính trị. Bản tin lớn nhất trên tờ nhật báo không phải là chuyện quân nổi dậy đang chiến thắng ở Lybia hay tin thị trường chứng khoán thế giới tụt giảm vì tình trạng công việc làm ở nước Mỹ không khả quan. Chính trị, là chính trị địa phương, như một câu nói nổi tiếng vẫn nhắc nhở.
Một bản tin có lẽ tiêu biểu cho tinh thần người địa phương, là chuyện gia đình Bob Tannreuther ở làng Waterloo, cả khu vườn trồng cây phong nhà này bị bão tàn phá vào bữa Thứ Sáu. Cây cối gẫy đổ, cành gục xuống, nằm ngổn ngang! Sau cơn bão, bà chủ nhà được xe cấp cứu chở đi nhà thương, tuy không phải vì bão gây ra. Anh chủ nhà kể rằng chính bà nội anh đã trồng những cây phong cổ thụ này từ 140 năm trước đây, tức là trong thời Tổng Thống Ulysses Grant, khoảng 5, 6 năm sau khi Tổng Thống Abrahams Lincoln bị ám sát! Bây giờ anh phải vừa lo trông nom vợ bệnh nặng, vừa lo dọn dẹp đống cây đổ, trước mùa tuyết! Ðúng ngày lễ Lao Ðộng, bỗng có 70 người mang cưa, dìu, cuốc, xẻng, xe chuyên chở, đến nhà anh Bob. Hàng xóm và những người trong cùng một họ đạo đã gọi nhau, không ai nói cho anh biết trước. Trong một buổi họ dọn dẹp sạch đống cành, cây đổ, để lại cho gia đình Tannreuther mấy đống gỗ để làm củi sưởi Mùa Ðông sang năm!
Ðó là cách những người dân miền quê ăn ở với nhau, từ bao nhiêu đời nay rồi. Nếu ở đây lâu tôi e rằng khi trở lại quận Cam sẽ phải tập lại những thói quen đã mất. Như khi ra khỏi nhà nhớ khóa cửa, khi đậu xe cũng phải khóa, trước khi đổ xăng phải trả tiền, vân vân. Nếu bảo người dân ở đây tánh hiền lành, thật thà chất phác, giống như đồng bào Việt mình ở Cù Lao Ông Chưởng hay ở Ðảo Thổ Châu, chắc cũng đúng. Họ không khôn ngoan ranh mãnh như dân thành thị. Hãy coi cách người ta đối phó với cảnh sát khi bị phạt xe vì chạy quá tốc độ. Họ không biết hối lộ, như ở Việt Nam, cho nên tìm cách chối tội! Vào lúc 4 giờ sáng ngày Thứ Bẩy vừa rồi trên công lộ 218, cảnh sát nháy đèn gọi một chiếc xe chạy quá nhanh. Khi nhân viên nhà nước đến bên cạnh chiếc xe đã ngừng, thì thấy ghế tài xế hoàn toàn trống trơn. Xe không có người lái, chỉ có 2 “hành khách” ngồi ở ghế trước và sau xe. Hai người này khai: Tài xế nó sợ quá, nó chạy trốn rồi! Ông Sê Ríp bèn làm thám tử mở cuộc điều tra tại chỗ. Nhìn thấy ngay cái anh hành khách ngồi ghế sau có hai cái chân mà lại chỉ đi có mỗi một chiếc dép xăng đan. Còn chiếc xăng đan kia đâu? Nó lại nằm ở trước cái ghế tài xế ngồi, bên cạnh chỗ pê đan đạp, khi đem so thì thấy đúng là một đôi xăng đan! Anh Esteban Flores, 29 tuổi, bị biên phạt vì lái xe sau khi uống khá nhiều rượu! Ở đây báo chí không được phép cho biết người phạm luật thuộc sắc dân nào, nhưng quý vị có thể đoán được!
Ở cái xứ người ta sống rất chân chất và bảo thủ này, thế nào cũng có những người còn kỳ thị chủng tộc. Một bản tin đáng chú ý là chuyện có kẻ đột nhập nhà một gia đình người Mỹ “gốc Phi Châu” ở ngoại ô thành phố Dubuque vào lúc 6 giờ sáng trong khi mọi người trong nhà còn ngủ. Kẻ gian đốt cái bếp suýt làm cháy nhà, sau khi đã viết mấy câu có giọng kỳ thị màu da trên bức tường ngoài căn nhà! Cảnh sát và lính cứu hỏa đã tới ngay. Rồi nhân viên FBI đặc trách về các tội gây thù hận (Hate Crime unit) cũng tới. Hàng xóm là người da trắng, tỏ ra rất phẫn nộ. Một ông ở bên cạnh nhà đã 5 năm nay, nói với nhà báo: Chúng nó đừng hòng làm cho bà chủ nhà đó sợ! Bà ấy rất can đảm. Chúng ta phải làm cho ra nhẽ cái hành động nhơ bẩn này! Cảnh sát đã đặt 1,000 đô la làm tiền thưởng cho ai tố cáo thủ phạm!
Rồi những biến cố đó cũng qua đi. Báo chí lại loan các tin tầm thường như tai nạn xe cộ, tin ăn trộm vặt, lái xe làm đổ cột đèn khiến trường học đóng cửa vì mất điện, vân vân. Sau ngày lễ Lao Ðộng, mọi người lại... đi cày trở lại. Trẻ em lại đi học. Trong một thành phố nhỏ như ở tỉnh lị, cuộc sống không có nhiều màn hấp dẫn. Nhưng chính những người dân tầm thường ở các thị xã, làng mạc bình lặng này sẽ quyết định ai là những người cai trị nước Mỹ. Cứ hai năm, bốn năm họ lại đi bỏ phiếu một lần. Nhưng trong khoảng thời gian giữa các cuộc bầu cử, họ vẫn tham dự vào đời sống tập thể qua các tổ chức tư nhân tự nguyện: Hội Các Nữ Cử Tri; Tea Party; Công đoàn Thợ Xe Hơi; Hội Nông Trại Nhỏ, Nghiệp Ðoàn Thợ Mộc; Hội Thiện Công Giáo, Hội Thiện Tin Lành, Trung Tâm Hồi Giáo Ba Tiểu Bang; Hướng Ðạo, Hội Nam Nữ Thanh Niên; và hàng trăm tổ chức độc lập khác. Chính sinh hoạt của xã hội công dân này là nền tảng của chính trị tự do dân chủ ở nước Mỹ. Nó biểu hiện tinh thần tham dự của người dân vào cuộc sống công cộng. Nếu không có tinh thần này thì không có xã hội dân chủ.
Ngô Nhân Dụng
Năm nay tình cờ tôi có cơ hội đi xem cuộc diễn hành nhân ngày lễ Lao Ðộng, mùng 5 tháng 9 tại một thành phố dưới 100,000 dân, trong tiểu bang Iowa thuộc miền Trung Tây nước Mỹ.
Ở đây họ tự coi nằm giữa trái tim của cả nước. Những năm có tranh cử tổng thống, báo chí lại kéo đến theo dõi coi kết quả những cuộc bầu cử sơ bộ ở Iowa. Không phải chỉ vì ở đây tổ chức bỏ phiếu sớm nhất; nhưng còn vì dân tình tiểu bang này thường tiêu biểu cho cả nước; khi đại đa số ủng hộ ứng cử viên nào thì người đó rất có hy vọng sẽ làm tổng thống!
Người Mỹ ở vùng Trung Tây thường tự coi họ là “dân Mỹ thứ thật”. Vì họ vẫn gìn giữ những nếp sống và giá trị cổ truyền của cha ông họ, những người gốc Ðức, Pháp, Ái Nhĩ Lan, Anh, Thụy Ðiển, vân vân, lập nghiệp ở đây từ hai ba thế kỷ. Ðời sống của họ không bị ảnh hưởng của những trào lưu văn hóa mà các di dân mới đem tới; phe mới phần lớn quy tụ tại hai vùng bờ biển phía Ðông và phía Tây lục địa Bắc Mỹ.
Diễn hành những cái gì trong ngày lễ Lao Ðộng? Dân Canada và Mỹ chọn này Thứ Hai đầu tiên trong tháng 9 để “vinh danh người lao động”. Lễ Lao Ðộng lớn đầu tiên được Công Ðoàn Trung Ương (Central Labor Union) ở New York tổ chức vào ngày 5 tháng 9 năm 1882. Họ bắt chước những ngày Lao Ðộng đã diễn ra trước đó ở Toronto, Canada. Năm 1894 thì ngày Lao Ðộng được chính phủ liên bang Mỹ chính thức công nhận, Quốc Hội đưa vào một đạo luật. Họ chọn một ngày đầu tháng 9 một phần cũng vì người Mỹ không muốn nó trùng với ngày Lao Ðộng Quốc Tế mùng 1 tháng 5 như các nước khác.
Nhưng trong cuộc diễn hành ngày lễ Lao Ðộng 5 tháng 9 năm nay ở thành phố Dubuque, nằm trên bờ sông Mississippi giữa ba tiểu bang Wisconsin, Iowa và Illinois, tôi không thấy một cuộc biểu dương lực lượng của giai cấp công nhân, như thường vẫn thấy ở các nước khác. Chắc chắn không đem biểu diễn các loại vũ khí, không phải là một này duyệt binh. Không có các quan chức đứng quan sát trên khán đài mà chỉ thấy người dân bắc ghế ngồi trên lề đường coi như coi xiệc! Ðây chỉ là một cuộc diễn của các công dân, một hoạt động dành cho xã hội công dân, nhà nước hoàn toàn đứng ngoài lo giúp giữ trật tự. Có mấy chiếc xe cảnh sát đậu ở vài góc đường, nhưng hình như không phải làm việc gì cả. Những người lao động, đáng lẽ đóng vai trò chính, lại chỉ là thiểu số trong cuộc diễn hành: Các công nhân trong các công đoàn lớn: Teamsters, AFL-CIO, đại diện bởi những nghiệp đoàn địa phương: Nghiệp đoàn công nhân kim loại, công nhân xe hơi, công nhân thuộc những công ty lớn cung cấp việc làm cho nhiều thế hệ trong vùng này, như Johns Deere, chế tạo các dụng cụ xây cất, nông cụ, máy móc lớn. Mấy chiếc máy gặt đeo tấm biển viết: “83 tuổi! Vẫn làm việc!” Vừa giới thiệu cái máy cũ bền bỉ, vừa giới thiệu ông cụ ngồi lái chiếc máy! Có nghiệp đoàn thợ mộc. Có các chủ nông trại tự làm lấy. Công ty IBM mới đến mở một trụ sở trong vùng, đem theo hàng ngàn kỹ sư, nhưng chắc họ không lập nghiệp đoàn lao động nên vắng mặt. IBM tới đây đã làm cho số người gốc Ấn Ðộ và gốc Trung Hoa tăng lên hàng chục lần! Một quán ăn đặc sản Ấn Ðộ mới mở cửa năm nay.
Ðối với nhiều người lao động, cuộc diễn hành cũng là một dịp cho gia đình sum họp vui chơi. Không ai hô những khẩu hiệu đấu tranh giai cấp. Cũng không thấy đòi tăng lương, giảm giờ làm việc, hay tăng số lần được đi vào phòng vệ sinh mỗi ngày, như nhu cầu của nhiều công nhân ở Việt Nam. Mấy ông tài xế Teamster lái những chiếc xe tải dài ngoẵng đi từ từ, mỗi ông ôm trên lòng những em bé năm sáu tuổi, có thể là con họ, hoặc đa số là các cháu nội, cháu ngoại. Mấy đứa trẻ hãnh diện vẫy tay chào những người đứng bên đường, lâu lâu lại nhấn còi, xen lẫn với tiếng nhạc khiến cuộc diễn hành rất ồn ào.
Nhưng giới công nhân chỉ là thiểu số. Ban nhạc của các trường trung học nổi bật lên! Các cô cậu học sinh có dịp mặc đồng phục đi biểu diễn ngoài đường, có ban nhạc dài đến trăm người, đánh trống, thổi kèn, chân bước đều, đầu nghểnh lên, điệu bộ rất nghiêm trọng. Trong một ban nhạc, có một nữ nhạc sĩ phải ngồi xe lăn, ôm chiếc kèn; cô được đồng bạn giúp đẩy xe đi, cũng tham dự cuộc diễn hành. Có Hội Phụ Nữ Cử Tri, đi cổ động đàn bà con gái tham gia việc bỏ phiếu. Một bà cụ tóc bạc phơ, chắc phải trên 90 tuổi, ngồi gọn trong một chiếc ghế bành đặt trên chiếc xe tải bỏ trống. Cụ ôm một tấm biển viết: Hãy đi bỏ phiếu (Vote!). Có cả những hội từ thiện diễn hành chung. Có Hội Cha Mẹ Nuôi. Ðông nhất là đoàn Hướng Ðạo, nam và nữ, mang theo một lá cờ Mỹ rộng gần ngập con đường, do mấy chục em khiêng đi. Lại có Hội Thanh Niên Nam Nữ khác. Có cả hội cựu quân nhân, mang theo biểu ngữ kêu gọi đừng ai quên các tù binh và lính mất tích (POW-MIA). Và hai đảng chính trị lớn đều có mặt, Cộng Hòa và Dân Chủ. Mỗi đảng đi qua nơi có nhiều người ủng hộ lại được họ vỗ tay ào ào; các ông bà dân cử kêu tên những người quen hai bên đường, chào hỏi nhau. Tea Party cũng đi phát truyền đơn. Có những ứng cử viên Quốc Hội, ứng cử viên hội đồng thành phố, ứng cử viên vào ủy ban giáo dục, đi phát giấy cổ động. Và tất nhiên, rất nhiều xí nghiệp cũng đưa công nhân của mình đi diễn hành ngày lễ Lao Ðộng, nhân dịp này quảng cáo cho mình: Lau cửa sổ, 50 năm kinh nghiệm (ba chiếc xe)! Câu xe và Sửa xe, 24 giờ! Thông khói, Sửa máy Sưởi, Máy Lạnh (5 chiếc xe van)!
Tức là cả xã hội công dân trong thành phố nhỏ này đều nhân ngày Lao Ðộng đều có mặt để tự giới thiệu mình. Chưa tới trưa thì cuộc diễn hành chấm dứt. Mỗi năm người ta tổ chức ít nhất hai cuộc trình diễn như vậy, lần trước là vào lễ Tưởng Niệm. Trong ngày đó, vẫn các hội hè, các đảng phái chính trị, các trường học, các doanh nghiệp và đoàn thể nam phụ lão ấu đều có mặt; nhưng chắc chắn là các cựu quân nhân tới diễn hành đông đảo hơn. Khi các quân nhân già nua, ngực đeo huân chương đi qua, nhiều người ngồi bên đường đứng dậy để tỏ lòng kính trọng. Ở các thành phố lớn miền Ðông hay phía Tây nước Mỹ người ta không có thói quen đó.
Ðời sống trong vùng Trung Tây theo một nền nếp rất xưa, và họ vẫn bảo vệ. Dubuque có tới 4 trường đại học; nhưng nếp sống ở đây cũng bình lặng, như một thị trấn nhỏ ở miền Ðồng Bằng Sông Cửu Long. Người dân sống hướng nội, cả về đạo đức lẫn chính trị. Bản tin lớn nhất trên tờ nhật báo không phải là chuyện quân nổi dậy đang chiến thắng ở Lybia hay tin thị trường chứng khoán thế giới tụt giảm vì tình trạng công việc làm ở nước Mỹ không khả quan. Chính trị, là chính trị địa phương, như một câu nói nổi tiếng vẫn nhắc nhở.
Một bản tin có lẽ tiêu biểu cho tinh thần người địa phương, là chuyện gia đình Bob Tannreuther ở làng Waterloo, cả khu vườn trồng cây phong nhà này bị bão tàn phá vào bữa Thứ Sáu. Cây cối gẫy đổ, cành gục xuống, nằm ngổn ngang! Sau cơn bão, bà chủ nhà được xe cấp cứu chở đi nhà thương, tuy không phải vì bão gây ra. Anh chủ nhà kể rằng chính bà nội anh đã trồng những cây phong cổ thụ này từ 140 năm trước đây, tức là trong thời Tổng Thống Ulysses Grant, khoảng 5, 6 năm sau khi Tổng Thống Abrahams Lincoln bị ám sát! Bây giờ anh phải vừa lo trông nom vợ bệnh nặng, vừa lo dọn dẹp đống cây đổ, trước mùa tuyết! Ðúng ngày lễ Lao Ðộng, bỗng có 70 người mang cưa, dìu, cuốc, xẻng, xe chuyên chở, đến nhà anh Bob. Hàng xóm và những người trong cùng một họ đạo đã gọi nhau, không ai nói cho anh biết trước. Trong một buổi họ dọn dẹp sạch đống cành, cây đổ, để lại cho gia đình Tannreuther mấy đống gỗ để làm củi sưởi Mùa Ðông sang năm!
Ðó là cách những người dân miền quê ăn ở với nhau, từ bao nhiêu đời nay rồi. Nếu ở đây lâu tôi e rằng khi trở lại quận Cam sẽ phải tập lại những thói quen đã mất. Như khi ra khỏi nhà nhớ khóa cửa, khi đậu xe cũng phải khóa, trước khi đổ xăng phải trả tiền, vân vân. Nếu bảo người dân ở đây tánh hiền lành, thật thà chất phác, giống như đồng bào Việt mình ở Cù Lao Ông Chưởng hay ở Ðảo Thổ Châu, chắc cũng đúng. Họ không khôn ngoan ranh mãnh như dân thành thị. Hãy coi cách người ta đối phó với cảnh sát khi bị phạt xe vì chạy quá tốc độ. Họ không biết hối lộ, như ở Việt Nam, cho nên tìm cách chối tội! Vào lúc 4 giờ sáng ngày Thứ Bẩy vừa rồi trên công lộ 218, cảnh sát nháy đèn gọi một chiếc xe chạy quá nhanh. Khi nhân viên nhà nước đến bên cạnh chiếc xe đã ngừng, thì thấy ghế tài xế hoàn toàn trống trơn. Xe không có người lái, chỉ có 2 “hành khách” ngồi ở ghế trước và sau xe. Hai người này khai: Tài xế nó sợ quá, nó chạy trốn rồi! Ông Sê Ríp bèn làm thám tử mở cuộc điều tra tại chỗ. Nhìn thấy ngay cái anh hành khách ngồi ghế sau có hai cái chân mà lại chỉ đi có mỗi một chiếc dép xăng đan. Còn chiếc xăng đan kia đâu? Nó lại nằm ở trước cái ghế tài xế ngồi, bên cạnh chỗ pê đan đạp, khi đem so thì thấy đúng là một đôi xăng đan! Anh Esteban Flores, 29 tuổi, bị biên phạt vì lái xe sau khi uống khá nhiều rượu! Ở đây báo chí không được phép cho biết người phạm luật thuộc sắc dân nào, nhưng quý vị có thể đoán được!
Ở cái xứ người ta sống rất chân chất và bảo thủ này, thế nào cũng có những người còn kỳ thị chủng tộc. Một bản tin đáng chú ý là chuyện có kẻ đột nhập nhà một gia đình người Mỹ “gốc Phi Châu” ở ngoại ô thành phố Dubuque vào lúc 6 giờ sáng trong khi mọi người trong nhà còn ngủ. Kẻ gian đốt cái bếp suýt làm cháy nhà, sau khi đã viết mấy câu có giọng kỳ thị màu da trên bức tường ngoài căn nhà! Cảnh sát và lính cứu hỏa đã tới ngay. Rồi nhân viên FBI đặc trách về các tội gây thù hận (Hate Crime unit) cũng tới. Hàng xóm là người da trắng, tỏ ra rất phẫn nộ. Một ông ở bên cạnh nhà đã 5 năm nay, nói với nhà báo: Chúng nó đừng hòng làm cho bà chủ nhà đó sợ! Bà ấy rất can đảm. Chúng ta phải làm cho ra nhẽ cái hành động nhơ bẩn này! Cảnh sát đã đặt 1,000 đô la làm tiền thưởng cho ai tố cáo thủ phạm!
Rồi những biến cố đó cũng qua đi. Báo chí lại loan các tin tầm thường như tai nạn xe cộ, tin ăn trộm vặt, lái xe làm đổ cột đèn khiến trường học đóng cửa vì mất điện, vân vân. Sau ngày lễ Lao Ðộng, mọi người lại... đi cày trở lại. Trẻ em lại đi học. Trong một thành phố nhỏ như ở tỉnh lị, cuộc sống không có nhiều màn hấp dẫn. Nhưng chính những người dân tầm thường ở các thị xã, làng mạc bình lặng này sẽ quyết định ai là những người cai trị nước Mỹ. Cứ hai năm, bốn năm họ lại đi bỏ phiếu một lần. Nhưng trong khoảng thời gian giữa các cuộc bầu cử, họ vẫn tham dự vào đời sống tập thể qua các tổ chức tư nhân tự nguyện: Hội Các Nữ Cử Tri; Tea Party; Công đoàn Thợ Xe Hơi; Hội Nông Trại Nhỏ, Nghiệp Ðoàn Thợ Mộc; Hội Thiện Công Giáo, Hội Thiện Tin Lành, Trung Tâm Hồi Giáo Ba Tiểu Bang; Hướng Ðạo, Hội Nam Nữ Thanh Niên; và hàng trăm tổ chức độc lập khác. Chính sinh hoạt của xã hội công dân này là nền tảng của chính trị tự do dân chủ ở nước Mỹ. Nó biểu hiện tinh thần tham dự của người dân vào cuộc sống công cộng. Nếu không có tinh thần này thì không có xã hội dân chủ.
11/9/2001 Với 102 phút kinh hoàng làm thay đổi nước Mỹ
Vụ khủng bố liên hoàn ngày 11/9/2001 diễn ra trong vòng 102 phút, tính từ khi Trung tâm thương mại thế giới bị tấn công
cho đến lúc toà phía bắc của Tháp Đôi sụp đổ hoàn toàn. 102 phút kinh hoàng đã làm thay đổi nước Mỹ và thế giới.

5h45 sáng ngày 11/9/2001 tại sân bay quốc tế Portland tại bang Maine. 2 trong số 19 kẻ không tặc thực hiện loạt vụ tấn công ngày 11/9 đã bắt đầu khởi hành.
Camera an ninh đã ghi lại khoảnh khắc Abdulaziz al-Omari (giữa) và Mohammed Atta (phải)
đi qua cổng an ninh của sân bay trước khi bay tới Boston,
nơi chúng lên chuyến bay mang số hiệu 11 của hãng hàng không American Airlines - chiếc máy bay mà 2 tên này và 3 đồng bọn lên kế hoạch cướp.

7h18 tại sân bay quốc tế Dulles, ngoại ô Washington. Một tốp thứ 2 gồm 5 tên không tặc đã vượt qua vòng kiểm soát an ninh
để lên chuyến bay mang số hiệu 77 của American Airlines đi Los Angeles.
Hình ảnh này cho thấy 2 kẻ khủng bố Khalid al-Midhar và Nawaf al-Hazmi.
Vài ngày trước đó, 2 tên này đã bị đưa vào danh sách theo dõi, nhưng an ninh sân bay không hay biết.

102 phút kinh hoàng bắt đầu lúc 8h45 sáng ngày 11/9 khi chiếc máy bay mang số hiệu 11 của American Airlines
đâm xuyên toà phía bắc của Tháp Đôi thuộc Trung tâm thương mại thế giới.

Chuyến bay mang số hiệu 11 cất cánh từ Boston đi Los Angeles nhưng 5 tên không tặc đã cướp máy bay
và chuyển hướng tới thành phố New York.
Máy bay chở 92 người, bao gồm 5 kẻ tấn công.

9h03: Một chiếc máy bay chở khách mang số hiệu 175 của hãng hàng không United Airlines
đã đâm vào toà phía nam của Tháp Đôi thuộc Trung tâm thương mại thế giới.

Chuyến bay 175 rời Boston để tới Los Angeles, chở 65 người, trong đó có 5 kẻ không tặc.
Những kẻ tấn công đã cướp máy bay và chuyển hướng tới New York.

9h05: Tổng thống Mỹ George W. Bush, đang nói chuyện với các học sinh tại trường tiểu học Emma E. Booker ở Sarasota, Floria,
được Chánh văn phòng Nhà Trắng Andrew Card thông báo về chiếc máy bay thứ 2 đâm vào toà phía nam của Tháp Đôi.

9h13: Hai máy bay chiến đấu F-15 rời căn cứ không quân Otis tại Cape Cod để tới Manhattan.
Ít phút sau đó, Cục hàng không liên bang Mỹ (FAA)
ban lệnh cấm tất cả các chuyến bay cất cánh tới khu vực New York.

9h21: Tất cả các cây cầu và đường hầm vào Manhattan bị đóng cửa.
Người dân và các nhân viên văn phòng tại khu Manhattan hạ đổ ra đường để tránh khói bụi vẩn đặc trong không khí.

9h40: Chuyến bay mang số hiệu 77 của hãng hàng không American Airlines đã đâm vào mặt phía tây của Lầu Năm Góc,
làm toàn bộ 64 người trên khoang và 125 nhân viên tại trụ sở Bộ Quốc phòng Mỹ thiệt mạng.

Máy bay cất cánh từ sân bay quốc tế Dulles ở Washington để tới Los Angeles đã bị những kẻ không tặc chuyển hướng tới Lầu Năm Góc.
5 tên không tặc nằm trong số những hành khách trên chuyến bay.

9h4: Cánh phía tây của Nhà Trắng và toà nhà Quốc hội Mỹ được sơ tán và đóng cửa.

9h59: Toà tháp phía nam của Tháp Đôi sụp đổ.

10h03: Chiếc máy bay thứ 4 bị cướp - chuyến bay mang số hiệu 93 của hãng hàng không United Airlines -
đã đâm xuống gần Shanksville, bang Pennsylvania.

Tất cả 44 người trên khoang, trong đó có 4 tên không tặc, đã thiệt mạng.
Máy bay cất cánh từ Newark để tới San Francisco nhưng bị chuyển hướng đi Shanksville.

Vào lúc 10h28, tức là 102 phút kể từ khi toà tháp phía bắc của Tháp Đôi bị tấn công,
toà nhà cao hơn 100 tầng đã sụp đổ hoàn toàn, gần 30 phút sau toà tháp phía nam.

Vào khoảng 12h30, lần đầu tiên trong lịch sử, toàn bộ không phận Mỹ bị đóng cửa.
Tất cả các chuyến bay dân sự không khẩn cấp không được phép cất cánh.
Hàng chục nghìn hành khách đã bị mắc kẹt tại các sân bay trên khắp nước Mỹ.

18h54, Tổng thống Bush về tới Washington, hơn 9 giờ sau khi rời Florida.
Phần lớn thời gian trong ngày của ông Bush là di chuyển qua các địa điểm trú ẩn an toàn trên chiếc Không lực Một.

20h30, ông Bush có bài phát biểu trước toàn nước Mỹ được truyền hình trực tiếp từ Nhà Trắng
và tóm tắt một trong những ngày đen tối nhất trong lịch sử Mỹ.
Các thành viên quốc hội được thông báo rằng chính quyền Mỹ đã có đủ bằng chứng cho thấy Osama bin Laden
và mạng lưới khủng bố al-Qaeda chịu trách nhiệm về loạt vụ tấn công.
Tổng cộng, gần 3.000 người đã thiệt mạng vì vụ khủng bố liên hoàn.
Vụ khủng bố liên hoàn ngày 11/9/2001 diễn ra trong vòng 102 phút, tính từ khi Trung tâm thương mại thế giới bị tấn công
cho đến lúc toà phía bắc của Tháp Đôi sụp đổ hoàn toàn. 102 phút kinh hoàng đã làm thay đổi nước Mỹ và thế giới.

5h45 sáng ngày 11/9/2001 tại sân bay quốc tế Portland tại bang Maine. 2 trong số 19 kẻ không tặc thực hiện loạt vụ tấn công ngày 11/9 đã bắt đầu khởi hành.
Camera an ninh đã ghi lại khoảnh khắc Abdulaziz al-Omari (giữa) và Mohammed Atta (phải)
đi qua cổng an ninh của sân bay trước khi bay tới Boston,
nơi chúng lên chuyến bay mang số hiệu 11 của hãng hàng không American Airlines - chiếc máy bay mà 2 tên này và 3 đồng bọn lên kế hoạch cướp.

7h18 tại sân bay quốc tế Dulles, ngoại ô Washington. Một tốp thứ 2 gồm 5 tên không tặc đã vượt qua vòng kiểm soát an ninh
để lên chuyến bay mang số hiệu 77 của American Airlines đi Los Angeles.
Hình ảnh này cho thấy 2 kẻ khủng bố Khalid al-Midhar và Nawaf al-Hazmi.
Vài ngày trước đó, 2 tên này đã bị đưa vào danh sách theo dõi, nhưng an ninh sân bay không hay biết.

102 phút kinh hoàng bắt đầu lúc 8h45 sáng ngày 11/9 khi chiếc máy bay mang số hiệu 11 của American Airlines
đâm xuyên toà phía bắc của Tháp Đôi thuộc Trung tâm thương mại thế giới.

Chuyến bay mang số hiệu 11 cất cánh từ Boston đi Los Angeles nhưng 5 tên không tặc đã cướp máy bay
và chuyển hướng tới thành phố New York.
Máy bay chở 92 người, bao gồm 5 kẻ tấn công.

9h03: Một chiếc máy bay chở khách mang số hiệu 175 của hãng hàng không United Airlines
đã đâm vào toà phía nam của Tháp Đôi thuộc Trung tâm thương mại thế giới.

Chuyến bay 175 rời Boston để tới Los Angeles, chở 65 người, trong đó có 5 kẻ không tặc.
Những kẻ tấn công đã cướp máy bay và chuyển hướng tới New York.

9h05: Tổng thống Mỹ George W. Bush, đang nói chuyện với các học sinh tại trường tiểu học Emma E. Booker ở Sarasota, Floria,
được Chánh văn phòng Nhà Trắng Andrew Card thông báo về chiếc máy bay thứ 2 đâm vào toà phía nam của Tháp Đôi.

9h13: Hai máy bay chiến đấu F-15 rời căn cứ không quân Otis tại Cape Cod để tới Manhattan.
Ít phút sau đó, Cục hàng không liên bang Mỹ (FAA)
ban lệnh cấm tất cả các chuyến bay cất cánh tới khu vực New York.

9h21: Tất cả các cây cầu và đường hầm vào Manhattan bị đóng cửa.
Người dân và các nhân viên văn phòng tại khu Manhattan hạ đổ ra đường để tránh khói bụi vẩn đặc trong không khí.

9h40: Chuyến bay mang số hiệu 77 của hãng hàng không American Airlines đã đâm vào mặt phía tây của Lầu Năm Góc,
làm toàn bộ 64 người trên khoang và 125 nhân viên tại trụ sở Bộ Quốc phòng Mỹ thiệt mạng.

Máy bay cất cánh từ sân bay quốc tế Dulles ở Washington để tới Los Angeles đã bị những kẻ không tặc chuyển hướng tới Lầu Năm Góc.
5 tên không tặc nằm trong số những hành khách trên chuyến bay.

9h4: Cánh phía tây của Nhà Trắng và toà nhà Quốc hội Mỹ được sơ tán và đóng cửa.

9h59: Toà tháp phía nam của Tháp Đôi sụp đổ.

10h03: Chiếc máy bay thứ 4 bị cướp - chuyến bay mang số hiệu 93 của hãng hàng không United Airlines -
đã đâm xuống gần Shanksville, bang Pennsylvania.

Tất cả 44 người trên khoang, trong đó có 4 tên không tặc, đã thiệt mạng.
Máy bay cất cánh từ Newark để tới San Francisco nhưng bị chuyển hướng đi Shanksville.

Vào lúc 10h28, tức là 102 phút kể từ khi toà tháp phía bắc của Tháp Đôi bị tấn công,
toà nhà cao hơn 100 tầng đã sụp đổ hoàn toàn, gần 30 phút sau toà tháp phía nam.

Vào khoảng 12h30, lần đầu tiên trong lịch sử, toàn bộ không phận Mỹ bị đóng cửa.
Tất cả các chuyến bay dân sự không khẩn cấp không được phép cất cánh.
Hàng chục nghìn hành khách đã bị mắc kẹt tại các sân bay trên khắp nước Mỹ.

18h54, Tổng thống Bush về tới Washington, hơn 9 giờ sau khi rời Florida.
Phần lớn thời gian trong ngày của ông Bush là di chuyển qua các địa điểm trú ẩn an toàn trên chiếc Không lực Một.

20h30, ông Bush có bài phát biểu trước toàn nước Mỹ được truyền hình trực tiếp từ Nhà Trắng
và tóm tắt một trong những ngày đen tối nhất trong lịch sử Mỹ.
Các thành viên quốc hội được thông báo rằng chính quyền Mỹ đã có đủ bằng chứng cho thấy Osama bin Laden
và mạng lưới khủng bố al-Qaeda chịu trách nhiệm về loạt vụ tấn công.
Tổng cộng, gần 3.000 người đã thiệt mạng vì vụ khủng bố liên hoàn.

