Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

30 năm trước: Câu hỏi ai thắng ai
Tác giả: Hoàng Ngọc Nguyên



Trong cuộc chiến tranh Việt Nam dài đăng đẳng hơn 15 năm, ngoài năm 1975 không thể nào quên, năm 1968 là một năm không thể nào không nhớ. Sau năm 1975, trong mười năm “cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội”, ngoài năm 1975 vẫn còn đậm nét trong ký ức mọi người, bốn năm năm sau đó cũng là những năm tháng không thể nào quên. Vào thời đó, người ta hay nói về đấu tranh giữa hai con đường, và “thực chất của cuộc đấu tranh cách mạng” là giải quyết vấn đề “ai thắng ai”. Những người ở miền nam dù sao cũng đã may mắn hơn những người miền bắc. Ở miền bắc, người ta chỉ biết có độc đạo. Ở miền nam, họ biết rõ cả hai con đường, một con đường trước 1975 và một con đường hun hút thời hậu chiến. Nhưng khi Đảng Cộng Sản Việt Nam phải tiến hành Đại hội VI để ban hành đường lối “đổi mới kinh tế”, ít nhất là một phần của câu hỏi “ai thắng ai” đã được trả lời một cách căn bản. Phần còn lại, lịch sử đòi hỏi thời gian. Điều an ủi, nếu không phải là tự hào, của những người miền Nam trong những “năm tháng không thể nào quên” này là không những cuộc sống của miền nam đã có sức mạnh của chân lý, mà cả những người miền nam đã đóng vai trò soi sáng những sự thật đó.
Image
Chung cư Thăng Long ở Hà Nội, hình trái và cảnh bên sông Sàigòn,hình chụp tháng 5, 2008.Photo Frank Zeller/ Hoàng Đình Nam /Getty Image.
Có ai còn nhớ?

Người dân Saigon nói riêng và người dân miền nam nói chung có sự bén nhậy mà không bộ máy tuyên truyền nào có thể làm cho người ta lạc hướng. Khi tưởng niệm ông Võ Văn Kiệt trong lễ tang ông tuần trước, đảng, chính quyền và báo chí không nói rõ vai trò độc đáo của ông trong công cuộc vận động đổi mới. Nhưng sự đưa tiễn khá đông đảo mà người dân dành cho ông đã chỉ ra một điều: nhiều người vẫn tin rằng ông hầu như là người lãnh đạo duy nhất ở Saigon thời đó biết rất sớm sự tai hại của mô hình kinh tế “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” từ ngoài bắc áp đặt lên miền nam và hiểu rằng phải hành động để thay đổi một chế độ kinh tế sai lầm, một cơ chế lạc hậu.
Trong những năm đó, nhiều người phải đi “học tập cải tạo”, nhưng đi hay không đi thì tâm trạng của người ở trong và người ở ngoài chẳng khác nhau: sự nôn nao, bất định, chờ đợi một cách mông lung. Ở trong thì “hết ngày dài lại đến đêm thâu”. Những người ở ngoài chẳng muốn làm ăn gì, và cũng chẳng biết làm ăn gì, mặc dù người ta ai cũng phải sống. Người nông dân thì quen dùng phân, dùng thuốc sát trùng, dùng điện… Bây giờ thì cả lúa giống cũng thiếu. Làm ra lúa thì phải bán cho nhà nước, phải cho cán bộ thương nghiệp trưng thu… với giá của nhà nước. Ở các xí nghiệp, vật tư nguyên liệu đều cạn, hoạt động sản xuất tất cả đều theo kế hoạch một đầu: đầu ra thì nhà nước nắm, nhưng đầu vào thì nhà nước không bảo đảm. Không có vào thì làm sao ra để giao nộp cho Nhà nước. Dù cho sản xuất có thế nào, thì chẳng ai chịu trách nhiệm, cuối tháng tài chánh vẫn phát lương – có điều giá nào, lương nấy; giá của nhà nước thì hàng không có, lương của nhà nước thì sống chưa được một tuần.
Kinh tế xã hội chủ nghĩa có hai khu vực chính: bên trong là quốc doanh và hợp tác, bên ngoài là tư nhân, cá thể (ở giữa có công tư hợp doanh)… Chân trong thì được mua gạo theo tiêu chuẩn giá 40 xu một ký, được mua “nhu yếu phẩm” như nước mắm, nước tương, bột ngọt, mì gói, thịt trứng, rau cải, vải vóc… Người đi học tập vẫn được những lá thư “động viên” của vợ: “Anh đừng lo, em làm cho nhà nước khỏe lắm, được mua đủ thứ cả!”. Đó chỉ là sự thực một nửa sự thực. Đúng là khỏe lắm, chẳng có việc gì làm, nhưng nửa kia của sự thực là nhà nước chẳng có gì để bán, chẳng có gạo, chẳng có “mì chín”, chẳng có nước tương, chẳng có vải vóc gì cả. Những cái nhà nước không có ở những cửa hàng quốc doanh trong chức năng “phân phối lưu thông” lại không thiếu ở thị trường bên ngoài, ngay cả những hàng do nhà nước sản xuất được “tuồn ra bên ngoài”. Ngay cả tiền mặt của nhà nước in ra. Trong lúc đó, thì ngân hàng không có tiền để trả lương cho nhân viên nhà nước, đừng nói đến “tín dụng” tức là những khoản tiền vay để “tái sản xuất” tức để cho nhà máy chạy được bình thường, đối lại với “tái sản xuất mở rộng” tức là đầu tư để tăng sản lượng. Tương đối thì không có gì thiếu ở “thị trường vô tổ chức” (người ta không dùng chữ “chợ đen” vì nó hoạt động công khai giữa ban ngày ban mặt). Đó là thời người người đi buôn, nhà nhà đi buôn. Dù cho ông Đỗ Mười có “ngăn sông cấm chợ”, phụ nữ nào cũng có thể là con buôn đường dài nối liền giang sơn một cõi. Mang tiếng là vô tổ chức, nhưng hàng hóa từ nhà nhà tuôn ra phong phú, dồi dào, đa dạng… đến độ người miền bắc cứ tìm cách nam tiến một chuyến cũng chỉ vì cái “chợ trời” hấp dẫn đó.
Thời đó, người ta hay học tập câu “cái khó ló cái khôn” để kích thích người dân biết sống “vượt qua hoàn cảnh”. Trong thực tế, cái khôn ló ra ở đây chính là “bản năng cơ bản xã hội chủ nghĩa”, tinh thần “du kích” trong kinh doanh, được tóm gọn ở hai chữ “mánh mung”. Người ta thấy đến độ quen thuộc mà chẳng cần phân tích là “hiện tượng” hay “bản chất” sự phổ biến của một văn hóa kinh doanh gian dối, lừa phỉnh, nét đặc thù nhất của đạo đức kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Trong xã hội này, người nào làm cho nhà nước, bác sĩ, thầy giáo, công chức… thì ngày càng bệ rạc, người làm “nghề tự do” thì ngày càng “chợ trời”, rốt cuộc không làm sao “đi hết biển” được để viết “chuyện tử tế”.

Miền Nam đi trước
Ông Nguyễn Văn Linh, một người miền bắc gốc Hải Hưng nhưng hoạt động lâu năm trong nam, là một trong những người lãnh đạo hàng đầu của Cộng Sản ở phía nam, chỉ kém Lê Đức Thọ nhưng chẳng dưới ai, kể cả Phạm Hùng. Ông là bí thư Thành ủy của Thành phố Hồ Chí Minh cho đến năm 1978, sau đó là trưởng ban cải tạo ở phía nam. Khi nghe bài hát của Giải phóng miền nam có câu “Lòng hận thù ngất trời…” thì ông biết công cuộc cải tạo không xong và đề nghị với trung ương chậm lại trong công cuộc cải tạo nông nghiệp, cải tạo công thương nghiệp, cải tạo tư sản ở miền nam. Kết quả của thỉnh nguyện này là ông Linh bay ra khỏi chức trưởng ban cải tạo, bay luôn chức ủy viên Bộ Chính trị, và hung thần xuất hiện ở miền nam: ông Đỗ Mười.
Thay ông Linh là ông Kiệt, từ Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố được đưa lên làm bí thư. Ông Kiệt, người Vĩnh Long, dân Nam bộ, đã hoạt động ở vùng đồng bằng sông Cửu Long và khu Saigon-Gia Định trong thời chiến tranh cho nên có nhiều điều kiện hiểu được dân tình và cách sống. Ông còn được gọi là anh Sáu Dân hay chú Sáu Dân, vì ai cũng muốn gọi thế để có cảm tưởng mình là chỗ quen biết, thân tình với “anh Sáu”, “chú Sáu”. Từ Phó chủ tịch, ông lên làm chủ tịch rồi bí thư thành phố. Ông có tiếng “đi sâu, đi sát” với mọi tầng lớp quần chúng, từ thanh niên xung phong, bộ đội, đến các cơ sở sản xuất, tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp, nói chuyện với giới quản lý, với công nhân… Đối với giới trí thức, chuyên viên kinh tế, khoa học tại chỗ, người ta cũng thấy ông có thái độ khác với những người đang nắm đảng, nắm chính quyền bây giờ. “Chú Sáu” chỉ là ủy viên Bộ Chính trị dự khuyết, nhưng còn được người ta biết nhiều hơn “anh Mười” (Mười Cúc, tên gọi của ông Nguyễn Văn Linh) thời đó. Ngoài ông Kiệt ra, có thể kể đến tên ai khác ở chính quyền, ở thành ủy là người sẵn sàng “chia sẻ nỗi đau” của hàng triệu người ở Saigon – như cách nói của ông Kiệt?
Ông Kiệt là người “cách mạng”, muốn thay đổi, nhưng ông vẫn là người của chế độ, phải tùng phục “cơ chế”. Thời đó, người ta hay nói đến “vòng kim cô” của Trung ương. Ở nơi này có đến hai vòng kim cô, là ông Lê Duẩn, tổng bí thư, và Lê Đức Thọ, giáo chủ Richelieu ở chốn cung đình – chưa kể đến ông Trường Chinh, vừa giáo điều vừa Maoist. Sau lưng mỗi ông là cả một đám cận thần đang tranh giành quyền lực để mở rộng thế lực địa phương. Cho nên vấn đề của ông Kiệt không phải đơn giản: phải làm gì để tạo động lực cho kinh tế, và tìm sự ủng hộ đối với những thay đổi.
Đến năm 1979, ở Trung ương với Hội nghị lần thứ sáu của Đại hội IV đã có sự nhìn nhận về sự bế tắc của cơ chế kế hoạch “quan liêu bao cấp” và quyết định miền nam phải đi đầu trong những thử nghiệm cải cách. Ở Trung ương có Nghị quyết 6, Thành phố có Nghị quyết 9, về quyền chủ động kinh doanh và tự chủ tài chánh của cơ sở. Nhưng rõ rệt, các “kinh tế gia” ở Trung ương chẳng có gì để đóng góp cho việc tìm kiếm những thử nghiệm. Từ bao lâu nay, những nhà lý luận kinh điển ở Hà Nội chỉ có học kinh tế Mác Lê-nin như đọc kinh Koran. Tại những hội nghị “khoa học” về triết học hay kinh tế Mac Lênin tại Moscow hay Leningrad, thông thường người Việt chỉ đến để trả bài. Vì bản tính thực tiễn nên chẳng ai mất thì giờ để làm nhà tư tưởng cả. Trong thành phố, Ban kinh tế Thành ủy, và Viện Kinh tế cũng có hàng loạt phó tiến sĩ học ở Nga về, nhưng vì họ không đọc được tiếng Nga cho nên cũng chẳng có ích gì cho việc tăng cường hiệu lực kinh tế kế hoạch xã hội chủ nghĩa. Huống gì là phải vận dụng những qui luật kinh tế tư bản chủ nghĩa để tăng cường cho kinh tế xã hội chủ nghĩa…
Tháo gỡ, cởi trói
Bởi vậy vào thời đó người ta hay đề cao tinh thần “dám nghĩ dám làm”. Nghĩa là cứ làm đại. Ngứa đâu, gãi đó. Tắc đâu, khai đó. Đối với người dân miền nam, người ta không sợ thử thách, vì khi khuyến khích việc tìm cách tháo gỡ, người ta nói “có sai có sửa”. Chính sách tháo gỡ dần dần trở thành cởi trói. Bắt đầu từ những đơn vị cơ sở. Ví dụ như chuyện ba kế hoạch và ba lợi ích. Các đơn vị có kế hoạch A sản xuất cho nhà nước khi được “rót” vật tư, nguyên liệu, cũng có kế hoạch B làm theo kế hoạch nhưng không được cân đối đầy đủ vật tư nguyên liệu do đó phải tự lo nhập lượng, và kế hoạch C tự lo liệu vật tư nhưng cũng có quyền tham gia vào thị trường, vừa để tận dụng công suất nhà máy vừa để cải thiện đời sống của công nhân, mà người ta gọi là “ba lợi ích”. Ông Võ Văn Kiệt đến với những xưởng dệt, xưởng lắp ráp xe đạp, xí nghiệp cơ khí, và ông “tháo gỡ” bằng cách bảo “các đồng chí cứ làm. Tôi chịu”.
Từ nhu cầu kiếm nguồn vốn và kiếm vật tư nguyên liệu, các đơn vị sản xuất kinh doanh được cho phép một cách “bán chính thức” việc tự huy động vốn – được làm ngơ là vì ngân hàng với chức năng huy động vốn lại chẵng huy động được tiết kiệm của dân, trong khi đó các cơ sở cứ đưa ra những lãi suất hấp dẫn, 5-10% một tháng, để dụ người ta gởi tiền, gởi vàng… Hoạt động thương mãi liên kết trong nước và ngoài nước bắt đầu nổi lên dưới dạng “hàng đổi hàng”. Trong tình hình cấm vận, các Việt kiều có “thành tích yêu nước” nô nức lập công ty để tìm cách đưa hàng “nghĩa địa” chủ yếu từ Nhật về để đổi lấy hàng nông sản chế biến, thủy hải sản… Các công ty ở thành phố muốn có hàng xuất thì phải mua nguyên liệu từ các tỉnh, bằng cách đưa hàng ngoại nhập về, hoặc qua các công ty Việt kiều, hoặc qua thân nhân Việt kiều nhận kiều hối hay quà… Từ đó mà các công ty xuất nhập khẩu ngày càng mọc như nấm. Bắt đầu chỉ là Imexco, Ficonimex (của Ban Liên lạc Công thương của Mặt trận), Generalimex (của Công ty xuất khẩu chế biến thủy hải sản dựa trên thế lực người Hoa Ba Toàn), Cholimex (của quận 5, Chợ Lớn, nhóm Nghiêu Kế Thuật, Phan Chánh Dưỡng), Pharimex (xuất nhập khẩu được phẩm, của Dược sĩ Trần Văn Nhiều). Một “mô hình” nổi bật là công ty Kinh doanh Lương thực của bà Ba Thi, tức Nguyễn Thị Ráo. Bà được phép vượt qua những cơ chế về thu mua lương thực để giải quyết nạn đói ở thành phố, thương mãi hóa ngành kinh doanh này và phá vỡ thế “chia cắt” phân mảnh lâu đời theo kế hoạch trung ương. Khi ông Kiệt khuyến khích việc “cởi trói” cho hoạt động ngân hàng, tín dụng, nội thương, ngoại thương… cho giá cả, tiền lương, dù chỉ là để thử nghiệm, ông tham khảo chặt chẽ với những chuyên viên kinh tế tại chỗ của ông như các ông Nguyễn Xuân Oánh, Nguyễn Văn Diệp…và mạnh dạn nghe họ. Có thể nói rằng ông ít đọc dù cho báo chí trong nước đưa ra tấm hình ông ôm cuốn sách đứng trước một kệ sách lớn ngay hàng thẳng lối như từ lâu chưa có ai đụng đến. Nhưng ông là người rất chịu nghe, không mang bệnh 4 D kinh niên mãn tính thường thấy ở cán bộ (nói dai, nói dài, nói dóc, nói dở).

Khi người ta làm như đánh võ tự do, mạnh ai nấy làm, mà luật lệ, định chế, cơ chế không theo kịp, thì hỗn loạn là chuyện đương nhiên. Người ta làm ồ ạt đến Trung ương phát sợ. Đến các ngành quản lý, thường nằm trong tay cán bộ người bắc, thấy ngợp. Họ được “chi viện vào nam”, nhưng điều tâm niệm lớn nhất của họ chỉ là thu vén cá nhân. Như ông Kiệt có nói: “anh em cán bộ miền bắc thì chẳng hiểu gì, cán bộ ta ở trong nam thì thiếu và ít được đào tạo căn bản”. Cho nên Trung ương Bộ Chính trị phải ra Nghị Quyết 1 để “uốn nắn” những lệch lạc trong công cuộc cải cách cơ chế kinh tế. Nhưng những cửa đê đã mở, nước đã tràn vào từ biển không cách gì ngăn chận được. Người ta bắt đầu nói đến chế độ khoán nông nghiệp ngoài bắc, chế độ bù giá vào lương ở Long An. Tình trạng này ngoài bắc gọi là “trăm hoa đua nở”. Dẫn đến tai họa “Giá Lương Tiền” của hai ông Tố Hữu – Trần Phương năm 1985.

Đó chính là “Đêm trước của Đổi mới”. Đại hội VI của Đảng năm 1986 sẽ khó là một Đại hội mở đầu cho công cuộc đổi mới nếu trong năm sáu năm trước đó, người miền nam đã không khẳng định được lịch sử đổi mới là của họ, và bởi họ, dù không phải chỉ cho họ. (HNN)

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Vì sao sau một ngàn năm đô hộ,
bá quyền Trung Quốc vẫn không Hán hoá được Việt Nam?


Tác giả: Phong Uyên


Từ thượng cổ, người Trung Hoa đã tự tạo cho mình niềm tin rằng vua chúa của họ là “Thiên tử” (con Trời), được ban cho “thiên mệnh” trị vì bàn dân thiên hạ. Từ khi vị hoàng đế đầu tiên (Tần Thủy Hoàng đế) thống nhất các nước nằm trong lưu vực sông Hoàng, nơi này được gọi là Trung Quốc – hàm ý quốc gia ở trung tâm toàn cõi đất.


Trăm họ tộc Hoa người Trung quốc được coi là thần dân. Những dân tộc không cùng dòng giống với người Hoa sống ở những khoảng đất chung quanh đều bị coi là man di như Hung Nô phía Bắc, Bách Việt phía Nam. Sau nhà Tần, các triều đại nhà Hán vẫn lấy danh nghĩa làm theo “mệnh trời”, tiếp tục chính sách bành trướng của Tần Thủy Hoàng chiếm hữu đất đai của các dân tộc này sáp nhập vào Trung Quốc. Còn tinh vi hơn, đàn bà con gái của các dân tộc này bị ép lấy người Hán, để rồi con cái họ trở thành người Hán vì mang huyết thống cha theo chế độ phụ hệ một chiều của người Tàu; bằng cách này, chỉ sau vài trăm năm, các dân tộc này đều bị tuyệt giống. Thật ra, đó là cách duy nhất để cung cấp nhân công cho một nền kinh tế có căn bản là nông nghiệp, khi người Hán chỉ là thiểu số so với toàn thể số dân đại lục Trung Hoa thời đó (vào khoảng 50 triệu, bằng dân số đế quốc La Mã cùng thời). Trong khoảng một ngàn năm gần như toàn thể các tộc Bách Việt sống ở phía Nam sông Dương Tử đều đã bị Hán hoá và tuyệt chủng. Chỉ còn lại duy nhất một dân tộc thoát được nạn này là dân tộc Lạc Việt, tổ tiên chủ yếu của dân tộc Việt Nam sau này: không những không bị đồng hoá mà, kỳ diệu hơn, còn giành được độc lập, giữ được một phần đất phía Bắc và tiếp tục bành trướng về phía Nam để tạo thành một quốc gia riêng, biệt lập với Trung Quốc, điều đã khiến cho cuộc Nam tiến của người Hán xuống cực Nam của vùng Đông Nam Á bị khựng lại từ hơn một ngàn năm nay.


Tôi đã thử tìm hiểu vì sao lại có được cái phép lạ đó. Theo tôi suy nghĩ, đó là nhờ ở bốn nhân tố:




Ý thức quốc gia của người Lạc Việt đã rất sớm nẩy nở, đủ sức chống lại ý thức bá quyền Đại Hán ngay từ khởi đầu.
Tinh thần dân tộc của người Lạc Việt đã vượt qua được giới hạn bộ tộc để đủ sức đương đầu với chủng tộc Đại Hán.
Truyền thống mẫu hệ của người Lạc Việt đã vô hiệu hoá phương thức đồng hoá bằng hôn nhân của người Hán theo chế độ phụ hệ, giúp cho dân Việt Nam bảo tồn được giống nòi.
Thể chế lạc tướng - lạc hầu được tồn lưu dưới hình thức cơ chế làng xã đã giúp dân Việt bảo vệ được nền tự chủ của mình.

Tôi cũng xin nói cho rõ hơn là cái nghĩa của từ “quốc gia” tôi bàn luận ở đây không cùng nghĩa với từ “quốc gia” bây giờ, và cũng không đồng nghĩa với chữ “quốc” trong “liệt quốc” thời Chiến quốc, mà có nghĩa “quốc gia Nam Việt” đối lập với “Trung Quốc” nhà Hán.


Theo tôi, chính Triệu Đà, để phục vụ tham vọng của mình, đã là người tạo cho dân Việt ý thức quốc gia và tinh thần dân tộc theo cái nghĩa đó. Trong lịch sử nhân loại có nhiều trường hợp như vậy: Alexandre Đại đế người Macédoine làm dạng danh nước Hi Lạp. Guillaume le Conquérant người Pháp lập ra nước Anh, trong quá khứ luôn luôn thù địch với Pháp. Napoléon người Corse đã đưa nước Pháp tới tột đỉnh vinh quang. Không kể những hung thần như Thành Cát Tư Hãn người Mông Cổ lập ra nhà Nguyên, Staline người Georgie, Hitler người Áo v.v...


Ý thức quốc gia


Khi Tần Thủy Hoàng mất, Triệu Đà chỉ là một viên lệnh úy tầm thường gốc người nước Ngụy thuộc tộc Hoa, nhưng là người có chí khí, đã biết lợi dụng thời thế hợp quần một số tộc Việt để xưng đế lập ra nước Nam Việt cùng thời với Trung Quốc của Hán Cao Tổ. Theo các nhà sử học phương Tây, sở dĩ nước Tần thắng được các nước khác, không phải vì có Tần Thủy Hoàng mà vì nước Tần là nước có thể chế, có hành chính qui củ, có quân đội mạnh, vũ khí tân tiến hơn các nước khác thời bấy giờ. Từng là một viên tiểu lại của nhà Tần, Triệu Đà đã lấy kinh nghiệm nước Tần để gây dựng nước Nam Viêt thành một quốc gia tân tiến ngang, nếu không nói là hơn Trung Quốc của nhà Hán thời sơ khai, nhất là về quân sự (đánh chiếm Trường Sa). Có thể nói trên lục điạ Trung Hoa và gần như cả Đông Nam Á thời đó, chỉ có hai quốc gia ngang sức đương đầu với nhau là Trung Quốc và Nam Việt. Cả hai đều có cơ cấu phỏng theo nước Tần. Nhờ vậy người Bách Việt trong nước Nam Việt của Triệu Đà có ý thức quốc gia rất sớm và sau một ngàn năm bị đô hộ vẫn giữ được ý thức đó để tái lập lại nước Việt sau này. Người Hán cho đó là khi quân, một thế giới không thể có hai nước, một điều phạm đến “thiên mệnh” của Trung Quốc, nên dùng đủ mọi phương kế kể cả phương kế bỉ ổi nhất là mỹ nhân kế Cù thị để xoá bỏ cho bằng được nước Nam Việt. Khi tiêu diệt được nhà Triệu, nước Nam Việt bị đổi thành Giao Chỉ bộ và bị chia nhỏ thành 9 quận cho mất tang tích một quốc gia đã dám đương đầu với Trung Quốc. Tuy vậy người Trung Hoa cho tới ngày nay vẫn luôn luôn bị ám ảnh bởi một quốc gia đã dám chống đối mình ngay từ sơ khởi, nên không có gì lạ khi nhà Thanh vì mặc cảm đã bắt Gia Long phải đổi quốc hiệu mà ông dự kiến “Nam Việt” thành “Việt Nam”. Trong thâm tâm, người Tàu vẫn coi Việt Nam là Giao Chỉ quận hay An Nam đô hộ phủ. Chứng cớ là khi người Pháp mới đặt chân xuống miền Nam, hỏi mấy chú Chệt tên nước này là gì, mấy chú vẫn nói tên là “Giao Chỉ”. Tây nghe âm Tàu đọc trại là “Cochin”. Lại sợ lầm với tên đất Cochin bên Ấn Độ, nên đặt lại là “Cochinchine” để phân biệt (từ tố “-chine” có nghĩa là “Trung Quốc”).


Tinh thần dân tộc

Là một nhà chính trị khôn ngoan, Triệu Đà đưa ra chủ trương liên kết mọi tộc Việt trong nước Nam Việt với nhau (như trong câu “người trong một nước phải thương nhau cùng”), điều đã khiến cho mọi tộc Việt vượt qua được giới hạn bộ tộc của mình, đi đến một ý niệm cao hơn là ý niệm về dân tộc Việt. Tinh thần dân tộc lại càng thêm vững mạnh khi Triệu Đà đem lại cho dân tộc Việt vinh quang đầu tiên bằng chiến công đánh chiếm Trường Sa [1] của Trung Quốc. Hơn một ngàn năm sau Lý Thường Kiệt noi gương đem quân tràn qua Tàu đánh phá các châu Khâm, Liêm. Rồi lại gần 1000 năm sau nữa, sau trận Đống Đa làm nhà Thanh khiếp đảm, Thanh đế Càn Long sợ Quang Trung sang đánh và đòi đất, phải vội vàng hứa gả con gái cho và hứa trả lại Lưỡng Quảng (Quảng Đông và Quảng Tây).


Chế độ mẫu hệ và truyền thống lạc tướng - lạc hầu

Khi lập Văn vương [2] , cháu đích tôn con Mị Nương và Trọng Thủy, lên kế nghiệp mình, Triệu Đà có ý muốn nương theo chế độ mẫu hệ của người Lạc Việt để Việt hoá dòng giống mình, ngõ hầu triều đại nhà Triệu trở thành triều đại quy mô đầu tiên của dân Việt và sau này có thể dựa vào dân tộc Việt chống lại được sự bành trướng của Trung quốc. Trong lịch sử nhân loại, những dân tộc yếu muốn bảo vê được sự sống còn của nòi giống mình trước những dân tộc mạnh hơn đều chỉ có cách là duy trì liên hệ gia đình theo mẫu hệ. Thí dụ điển hình nhất là dân tộc Do Thái, 2000 năm mất nước, phải di tản đến mọi nơi trên thế giới, trước đó đã bao lần bị lưu đầy qua nhiều nước khác mà vẫn bảo tồn được dân tộc (cùng truyền thống văn hoá) của mình nhờ – không cần biết cha là thuộc dòng giống nào – tự coi mình là người Do Thái nếu mẹ là người Do Thái. Người Hán cũng biết vậy nên đã mưu tính đưa Cù thị vào làm vợ lẽ Anh Tề để con của Cù thị (có với tình nhân của thị là Thiếu Quý) là thái tử Hưng máu Tàu 100% sau này lên ngôi đem đất nước dâng lại cho nhà Hán. Quả nhiên là như vậy: khi Minh vương Anh Tề mất, Hưng lên ngôi (tức Ai vương) tính cùng mẹ đem nước dâng cho nhà Hán. Khi tể tướng Lữ Gia biết, giết mẹ con Cù thị và sứ giả nhà Hán, đưa Dương vương có mẹ người Việt lên thay thì đã quá muộn. Lại gặp tướng giỏi nhà Hán là Phục Ba tướng quân nên dân Việt đành chịu thua. Một ngàn năm sau, khi phản công lại Lý Thường Kiệt ở Khâm châu và Liêm châu, nhà Tống lại đem tích “Cù thị vị quốc hi sinh” như một Chiêu quân cống Hồ ra ca tụng nhằm cổ võ quân sĩ. Đủ biết là sự hiện hữu của nước Nam Việt đối lập với Trung Quốc vẫn là một mối hận trong tâm thức người Tàu.

Cũng có lẽ nhờ giữ được truyền thống mẫu hệ trong phong tục nên đã có những cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng và Bà Triệu. Noi gương Triệu Đà, nhiều quan lại, sĩ tử người Hán, được cử qua “Hán hoá” dân Giao Chỉ, đã lấy vợ Việt không chịu trở về Trung quốc và con cháu không những đều trở thành người Việt mà còn nổi lên chống lại người Hán như trường hợp Sĩ Nhiếp, hoặc trường hợp Vạn Xuân vương Lý Bôn... Ngoài ra, nhiều tăng thống gốc Việt hay mẹ Việt như Tăng Khương Hội còn trở về Trung Quốc thuyết giảng đạo Phật theo văn hoá và tư tưởng Việt. Có thể suy luận là trong 1000 năm bị đô hộ, sở dĩ dân Việt Nam không bị đồng hoá là vì chính sách Hán hoá “lấy vợ Việt để đẻ con Hán” lại có hậu quả ngược lại, “gậy ông đập lưng ông”, là các con cháu có “mẹ Việt” đều trở thành người Việt, giữ gìn huyết thống Giao Chỉ và truyền thống văn hoá Việt, nhờ vậy đã không những không bị Hán hoá mà ngược lại, còn “Việt hoá” người Tàu qua đô hộ. Khả năng “Việt hoá” mạnh mẽ đó không những đã giúp dân Việt bảo vệ được nòi giống của mình trước người phương Bắc mà còn có thể, trong cuộc bành trướng về phương Nam, đồng hoá những dân tộc khác từng một thời hưng thịnh như Chiêm Thành, Chân Lạp, cũng như sau này đã “Việt hoá” những người Tàu Minh Hương để mở mang miền Nam.

Truyền thống lạc tướng - lạc hầu ẩn mình dưới những cơ chế làng xã cũng đã giúp cho dân Việt bảo tồn được nền tự chủ của mình trong suốt thời kỳ bị đô hộ, vì “phép vua thua lệ làng”: phép tắc của các quan thái thú Tàu cũng không thể vượt qua được lũy tre làng. Nhờ vậy mà “ý thức quốc gia” vẫn tiếp tục trường tồn tuy bị thu hẹp trong ý thức “làng nước”: làng chỉ là nước được thu nhỏ lại, và vị Thần Hoàng được thờ ở đình làng như những anh hùng dân tộc, những bậc thánh linh thiêng sẽ phù hộ cho người dân giữ làng giữ nước; còn làng là còn nước, bảo vệ làng là bảo vệ nước.


Để kết luận

Trong lịch sử thế giới từ cổ chí kim, từ Đông qua Tây, không một dân tộc nào như dân tộc Việt Nam, sau một ngàn năm bị đô hộ bởi một nước lớn và mạnh như Trung Quốc, không những vẫn bảo tồn được nòi giống mà còn vẫn giữ được cơ cấu quốc gia, và lại tiếp tục duy trì nền tự chủ của mình trong suốt thời gian một ngàn năm nữa. Đó là nhờ ở những nhân tố mà tôi đã nêu ở trên, cũng như nhờ ở sự khôn khéo của ông cha ta đã biết lúc cương lúc nhu, lúc tiến lúc lùi, tuy giữ hình thức triều cống ba năm một lần nhưng vẫn luôn luôn cảnh giác, coi phương Bắc là giặc, là kẻ thù, không bao giờ coi là bạn cả.

Chỉ có gần đây, trong khoảng thời gian 30 năm từ 1949 đến 1979, vì ý thức hệ, vì muốn độc tôn chiếm hữu quyền hành, giới cầm quyền Việt Nam mới coi kẻ thù truyền kiếp là huynh trưởng, là ân nhân, để rồi tự nguyện trở thành tên lính tiền phong, đem xương máu của chính đồng bào mình bảo vệ “ân nhân” vốn là kẻ thù đó. Khi bị người “anh em” dạy cho một bài học biên giới mới tỉnh ngộ thì đã muộn: chủ nghĩa bành trướng Đại Hán cũng vẫn y nguyên như 2000 năm về trước, cho dù được che giấu dưới chiêu bài “chủ nghĩa quốc tế vô sản”, “môi hở răng lạnh”; kế sách “Cù thị” vẫn tái diễn mà trong đó, [các lãnh tụ] Đảng Cộng sản Việt Nam không khác nào một thứ “thái tử Hưng”. Tuy nhiên, lần này, bá quyền Trung Quốc có nhiều hi vọng thành công: họ đang sử dụng ưu thế kinh tế, chính trị, quân sự của mình để tạo ra một sợi dây xích trói chặt Việt Nam bốn bề từ biên giới phía Bắc bọc qua Hoàng Sa - Trường Sa phía Đông, dọc theo sông Mê Kông từ Tây Tạng tới những nước đã bị khống chế như Lào, Cam Bốt phía Tây. Việt Nam hiện nay đã như cá nằm trong rọ. Bành trướng Đại Hán có thể tiếp tục thực hiện âm mưu làm bá chủ Đông Nam Á và Biển Đông mà gần như không còn chướng ngại vật Việt Nam.

Làm thế nào thoát được vòng cương toả của Trung Quốc để tạ lỗi với tổ tiên, với đất nước? Dù sớm hay muộn, chính quyền cộng sản Việt Nam cũng sẽ phải trả lời câu hỏi này.




[1]Địa danh Trường Sa ở đây là thành phố cổ hiện đang là thủ phủ của tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Còn “Trường Sa” với tư cách là tên gọi quần đảo trên biển Đông thuộc chủ quyền Việt Nam, Trung Quốc gọi là “Nam Sa”. Đời Hán, thành Trường Sa là kinh đô của “Trường Sa quốc”, một trong số chư hầu của nhà Hán. Theo sử sách, vào khoảng sau năm 195 TrCN, Nam Việt vương Triệu Đà đã từng tấn công Trường Sa quốc, chiếm đất của nước này. Đây là hành động chủ yếu mang tính tự vệ, vì nhà Hán (sau khi Hán Cao tổ Lưu Bang đã chết, Lữ hậu thâu tóm chính sự) khi đó bộc lộ tham vọng thôn tính Nam Việt, mà Trường Sa là ngả tiến quân thuận tiện nhất. (Các chú thích đều của talawas.)
[2]Để độc giả tiện theo dõi đoạn trích dẫn sử liệu này của tác giả Phong Uyên, talawas xin tóm lược dòng chính lưu của cây phả hệ nhà Triệu (gồm cả thảy 5 đời vua) đã cai trị Nam Việt quốc, như sau: Triệu Vũ vương (tức Triệu Đà, trị vì từ 207 TrCN đến 137 TrCN), Triệu Văn vương (tức Hồ, cháu đích tôn của Vũ vương và cháu ngoại của An Dương vương Thục Phán nước Âu Lạc; 137 TrCN – 125 TrCN), Triệu Minh vương (tức Anh Tề, 125 TrCN – 113 TrCN), Triệu Ai vương (tức Hưng, 113 TrCN – 112 TrCN; thực ra Hưng là con của Cù thị [vợ lẽ Minh vương] với Thiếu Quý, tình nhân của Cù thị – cả Cù thị lẫn Quý đều là người Hán), và Triệu Dương vương (con của Minh vương với quý phi người Việt; 112 TrCN – 111 TrCN). Đến đây (năm 111 TrCN), nhà Triệu mất nước Nam Việt vào tay nhà Hán.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

LS Lê Thị Công Nhân Từ Chối Đi Mỹ
Luật sư Lê Thị Công Nhân, một nhà đấu tranh cho dân chủ VN đang bị CSVN giam cầm ở nhà tù số 5 tỉnh Thanh Hóa, vừa cho biết là đã vừa từ chối đề nghị của cán bộ công an Cục A 42 (thuộc Tổng Cục An Ninh CSVN) rằng "nếu muốn đi Mỹ thì họ sẽ trả tự do cho cô để đi sang Hoa Kỳ".

Luật sư Công Nhân đã nói với cán bộ CSVN là cô "sinh ra ở Việt Nam, có một mục đích là đóng góp vào công cuộc vận động dân chủ hóa đất nước".

Cô đã cho mẹ là Bà Trần Thị Lệ biết sự việc này trong dịp thăm nuôi vào ngày 21-6 vừa qua. Bà Lệ đã kể lại với một số cơ quan truyền nước ngoài sau chuyến thăm nuôi.

Theo lời Bà Lệ, Luật sư Công Nhân đã cho bà biết vào ngày 11-6 vừa rồi có những người trên Bộ Công An, cục A 42, xuống làm việc với Công Nhân, họ hỏi Công Nhân có đồng ý đi Mỹ thì chính quyền đồng ý trả tự do cho Công Nhân đi sang bên đó. Công Nhân trả lời là cô không đi với tính cách tỵ nạn, tức bị nhà nước trục xuất, và Ls. Công Nhân nói là cô sinh ra ở Việt Nam thì trong ý nghĩa nào đó muốn đấu tranh cho dân chủ của Việt Nam. Còn đối với một đất nước dân chủ như Mỹ thì Công Nhân cũng yêu quí và muốn đến nhưng với tính cách là du khách hay học hỏi để mở mang kiến thức; chứ nếu phải đi qua luôn bên đó thì Công Nhân không đi.

Khi công an không thuyết phục được Công Nhân về điều này thì đã dọa rằng "như thế nếu cô không đi Mỹ thì trại giam này sẽ là địa chỉ trường trực của cô".

Tuy nhiên, theo Bà Trần Thị Lệ, những lời đe dọa đã không tác dụng đối với Luật Sư Lê Thị Công Nhân, vì cô đã chuẩn bị tinh thần từ trước để vào tù vì biết hành động đòi hỏi tự do dân chủ và nhân quyền thật sự của mình sẽ không được các kẻ cai trị độc tài chấp nhận. "Đó là tính cách của Công Nhân" Bà nói "Từ khi đi vào con đường đấu tranh thì Công Nhân có xác quyết phải chung vai sát cánh với những nhà đấu tranh trong nước. Tôi không ngạc nhiên về quyết định của Công Nhân". Bà cũng cho biết là Luật sư Công Nhân rất kiên định, không viết đơn xin khoan hồng cũng không nhìn nhận mình có tội gì, và Lsư Công Nhân đã nói với bà Bà là "đến Chúa còn bị đóng đinh trên thánh giá, còn Nhân bị tù ở đây cũng là một sự thử thách nhân cách và định lực của con người".

Được biết, qua cuộc "đối thoại" về nhân quyền với phái đoàn Hoa Kỳ mới đây ở Hà Nội, do nhiều áp lực từ công luận, công an CSVN đã bắn tiếng cho biết sẽ trả tự do cho những nhà dân chủ được Hoa Kỳ đề c6ạp, trong đó có nữ Luật Lê Thị Công Nhân, nếu những nguời này chấp nhận phải sang Hoa Kỳ sinh sống. Và cũng theo yêu cầu và áp lực của Hoa Kỳ và cộng đồng quốc tế, vừa qua Hà Nội đã thả một số tù nhân lương tâm tại Việt Nam. Mới nhất là trường hợp nữ luật sư Bùi Thị Kim Thành được cho ra khỏi bệnh viện tâm thần và được tiến hành thủ tục đưa đi Mỹ định cư.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Việt Nam: Chủ nghĩa cộng sản đã chết nhưng bóng ma vẫn còn

Phạm Văn Trội

Trước kia tôi còn học trong trường đại học của Việt Nam thì được rất nhiều thầy giáo dạy tôi về chủ nghĩa cộng sản, để có được chủ nghĩa cộng sản thì phải đi qua nhiều hình thái kính tế xã hội: nào là nguyên thủy - chiếm hữu nô lệ - Phong kiến - chủ nghĩa tư bản - chủ nghĩa xã hội - chủ nghĩa cộng sản và sau đó có thể là chủ nghĩa thiên đường mù ở trần gian... Tôi đọc mãi, đọc mãi các tập sách của ông Mac và Anghen sau đó là tuyển tập của Lê Nin và tôi cố gắng tìm xem các ông này viết về chủ nghĩa xã hội có đoạn nào có cụm từ “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” hay không. Tôi đi tìm cụm từ đó mà không thấy, sau đó tôi tra từ điển cũng không có, vậy tôi không hiểu các nhà tư tưởng của Việt Nam lấy ra từ đâu... và sau này tôi mới hiểu ra rằng đó là sự chắp vá cho một thể chế chính trị bằng cách đổi mới kinh tế và giữ chặt độc quyền về lãnh đạo chính trị.

-Về kinh tế: khi đã là thị trường thì nó phải theo những nguyên tắc cơ bản của thị trường, những người cộng sản ở Việt Nam muốn cầm lái nền kinh tế, làm theo ý của mình, trong khi đó kiến thức về thị trường lại quá ít ỏi, kinh nghiệm thì nghèo nàn, trình độ quả lý xã hội của cán bộ các cấp non yếu, tệ quan liêu ỉ lại, hách dịch với nhân dân tồn dư quá nhiều và ngày còn ra tăng... đó là chướng ngại vật cho con đường phát triển của kinh tế thị trường, trong khi đó những qui luật của thị trường không được tuân thủ vận hành đúng với bản chất của nó, vì đã có bàn tay của định hướng xã hội chủ nghĩa, trong khi Việt Nam ra nhập WTO thì mọi sự chuẩn bị về con người, trang thiết bị kỹ thuật để bảo vệ mình và cạnh tranh phần còn lại của thế giới là quá yếu kém, vì vậy nền kinh tế Việt Nam luôn bị chao đảo và sẽ còn tiếp tục bị chao đảo cho đến khi nào đi theo đúng qui luật của thị trường và phải biết chấp nhận một nền kinh tế đã và đang yếu kém và phải xây dựng lại từ nền móng vững chắc, đi lên có các nền tảng căn bản.

-Về chính trị: Ðảng Cộng Sản Việt Nam muốn giữ vai trò độc tôn, độc quyền rồi độc đoán, tự cho mình là tài giỏi không trưng cầu dân ý các vấn đề lớn của quốc gia mà tự cho mình cái quyền quyết định vận mệnh dân tộc và cuộc sống của người dân bị phụ thuộc vào nhà nước, khi một số người không chấp nhận với nền chính trị và cung cách quản lý nhà nước thế này, họ nên tiếng thì nhà nước sẵn sàng đàn áp bắt bớ bỏ tù những người có tiếng nói khác biệt. Nhà nước tìm mọi các để quản lý chặt người dân, tìm mọi biện pháp để thu thuế, trong khi các nước dân chủ thì họ đang cố gắng cơi nới cho người dân được phát huy cái quyền vốn có và động viên người dân tham gia quản lý nhà nước. Chúng ta biết là nhà nước sinh ra để phục vụ nhân dân, chứ không phải nhà nước sinh ra để đè đầu cưỡi cổ người dân, và ngược lại nhân dân có trách nhiệm đóng góp xây dựng nhà nước đó để nhằm mục đích bảo vệ các quyền của mình mà không bị ai xâm phạm.

Nguyên tắc đất nước dân chủ khi đi theo kinh tế thị trường, thì nhiệm vụ nhà nước phải phát triển kinh tế và phát huy tối đa dân chủ của người dân nhằm kiểm soát quá trình tăng trưởng kinh tế và các vấn đề an ninh quốc phòng, thắt chặt cơ chế kiểm soát bộ máy nhà nước hoạt động có hiệu quả hay không. Cơ chế đó là: xây dựng nhà nước pháp quyền, các đảng phái (tổ chức chính trị) kiểm soát lẫn nhau, phát huy tối đa dân chủ (nhân dân) và các tổ chức độc lập đánh giá.

Nếu nhà nước sinh ra mà không còn mang lại quyền lợi cho người dân và các quyền căn bản thì nhân dân có thể đập bỏ bộ máy nhà nước đó đi, xây dựng lại một nhà nước phục vụ các quyền lợi của mình.

Khi phát triển kinh tế mà người dân không có quyền làm chủ (dân chủ) để kiểm soát và được biết tình trạng quốc gia mình như thế nào, những người lãnh đạo đó làm được những gì và không làm được gì, quốc gia nợ hay không nợ nước ngoài... tất cả những thông tin đó người dân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước giải trình và trình bày với nhân dân. Nhưng trên thực tế người dân Việt Nam hoàn toàn không hề biết mọi chuyện gì đang xảy ra trên đất nước mình, qui chế “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” chỉ là bịp bợm.

Khi tôi phát hiện ra “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” tôi lại nhớ tới người thầy giáo tôi có kể một câu chuyện có tiêu đề sáng tạo bánh xe thứ 3: “khi một cuộc đua xa đạp thì ban tổ chức đã chuẩn bị cho các vận động viên của mình một chiếc xe hai bánh, khi cuộc đua bắt đầu thì các vận động viên lên xe và cứ thế đạp, riêng duy nhất còn một người vận động viên ngồi lại hì hục lắp thêm một bánh xe nữa và nghĩ rằng sẽ đi nhanh hơn và an toàn hơn, không ngờ rằng khi nghiên cứu và lắp xong bánh xe thứ 3 thì trên đường đua các vận động viên khác đã về đích còn riêng vận động viên này đạp xe một mình một lối đi, cuối cùng không theo được cuộc đua.”

Chúng ta thấy xe 3 bánh chỉ rành cho những người khuyết tật, có nghĩa là người què cụt, và người què cụt như vậy chỉ đua với những người què cụt khác, làm sao có thể đua với một vận động viên bình thường và cũng rất khó khi vượt đèo.

Với cụm từ “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” phải chăng là sự chắp vá như những người cụt phải đi chiếc xe do mình tự sáng tạo ra để trở cả dân tộc này phải ngồi vào chiếc xe đó?, nền kinh tế Việt Nam sẽ ra sao với cụm từ này? ai là người hưởng lợi khi “định hướng xa hội chủ nghĩa” quyền sinh, quyền sát, quyền tham nhũng...

Tôi cũng khá khen thay cho ai là người nghĩ ra được cụm từ đó để chèo chống, líu kéo sự tồn tại của một thể chế độc tài.Với tôi thì đó chỉ là sự bịp bợm mà thôi, vì bản chất nền kinh tế Việt Nam hôm nay đã đi theo con đường tư bản, chủ nghĩa cộng sản đã chết, bóng ma chuyên chính vẫn còn.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Ở CHỖ TẬN CÙNG CON NGƯỜI ĐÁNH MẤT LÝ TRÍ

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
Mấy tuần nay, câu chuyện HY Phạm Minh Mẫn, TGM Saigon, ra chỉ thị triệt lá Cờ Vàng làm ngỡ ngàng và gây sửng sốt cho mọi người. Sóng gió nổi lên và vấn đề trở thành sôi nổi hơn bao giờ hết. Ông bị dư luận lên án gắt gao. Người không cùng tín ngưỡng tấn công. Con chiên phê phán cũng dữ dội không kém. Có người uất ức chịu không nổi chửi vung xích chó, chửi từ trên chửi xuống: Giáo Hội, Giáo Hoàng, Hồng Y, Giám Mục. Cả đến Thiên Chúa cũng không từ, bị chửi tuốt luốt hết. Sự thể đau lòng này từ trước tới nay chưa từng xẩy ra, có thể gọi là một thảm kịch, chỗ tận cùng của việc con người đánh mất lý trí.

Kẻ đánh mất lý trí trước hết là HY Phạm Minh Mẫn. Nếu tôi phạm thượng, xin “Đức” Hồng Y tha lỗi cho. Tôi chỉ nói sự thật. Ngày xưa, Galileo bị kết án về luận điểm khoa học của ông: trái đất xoay vòng chung quanh mặt trời. Sau khi chịu khuất phục trong phòng luận tôi của Giáo Hội, bước ra ngoài ông vẫn khẳng định: “Dù thế nào đi nữa thì trái đất vẫn xoay chung quanh mặt trời”. Galileo không nói khác sự thật được. Tôi kính phục tài bác học của ông, nhưng còn kính phục hơn nữa tính trung thực của ông, và xin học đòi ông ở điểm này. Ông HY đã xúc phạm trầm trọng đến lý tưởng và lẽ sống của tập thể cộng đồng tỵ nạn CS. Vì thế ông đã gây ra cái cớ cho người khác xúc phạm đến Đấng Tối Cao người công giáo tôn thờ. Đây là lý do tôi nói HY Mẫn đánh mất lý trí, và là điểm bài viết này nhấn mạnh. Những việc xưa nay ông hồng y Mẫn làm hay nói ra gây dị nghị thì nhiều lắm. Chỉ là dị nghị thôi. Vì vụ triệt cờ này, người ta mới chửi tưới hột sen một cách thê thảm, chửi lên tới tận thiên đình. Tôi dùng chữ “chửi” với nghĩa đen ngòm của nó chứ không phải ngoa ngôn đâu. Xin tạm kể ra mấy việc của ông Hồng Y bị dị nghị làm món ăn chơi mời bà con đọc trước cho biết.

Việc 1 - Năm 2001, Đức Thánh Cha Jean Paul II triệu thỉnh toàn thể các giám mục VN về Roma theo thông lệ Ad Limina. Ngài khuyên các giám mục hãy mạnh dạn ra khơi, can đảm theo gương các tổ tiên tử đạo của mình, và hành động theo phương châm lấy từ trong Kinh Thánh: Của Caesar trả cho Caesar, của Thiên Chúa trả cho Thiên Chúa. Đức Giáo Hoàng chỉ có thể nói đến như thế thôi, và đây nên hiểu là một lệnh hành động và cách thức Hội Đồng Giám Mục VN nên áp dụng để đối phó với CS. Hồng y Phạm Minh Mẫn làm trưởng phái đoàn, khi về tất có nhiệm vụ truyền đạt lời dậy bảo của người cha chung cho đoàn chiên của Giáo Hội VN. Nhưng ông lờ tịt đi, coi như không có gì. Vì bận rộn, vì già yếu, hay vì lý do gì khiến ông phải dấu béng đi như thế? Nhưng thôi, cũng chẳng nên trăm dâu đổ đầu tằm. Còn có Hội Đồng Giám Mục nữa chứ.

Việc 2 - cả mấy chục “người con gái VN da vàng” lõa lồ đứng bầy hàng cho bọn Hàn, Hán rửa mắt. Chúng sờ, chúng mó, chúng nắn, chúng bóp để chọn hàng. Hình ảnh đó ịn nguyên con trên báo chí khắp thế giới. Đàn ông con trai “Mít” trông thấy chẩy nước miếng và phát ghen với bọn ngoại quốc, nhưng đồng thời cũng cảm thấy đau nhói tim can. Bọn ngoại có tiền, chỉ mấy trăm đô thôi. Mình không có đành chịu. Chuyện xẩy ra ngay tại Saigon. Ông Hồng Y sợ tội không dám liếc mắt vào những thứ tục tĩu dễ thèm đó, hay ông không có thì giờ đọc báo nên không biết. Có phải cho rằng đây là nếp sống văn minh văn hóa mới xã hội chủ nghĩa của ông nên ông thấy không cần phải ngăn chặn. Hoặc ông cho rằng người ngoại quốc lựa vợ kỹ lưỡng như thế để khỏi bị lầm của giả là điều tốt nên cứ để mặc. Có nên truyền bá cách chọn vợ kiểu này cho con chiên bổn đạo của ngài không, thưa Hồng Y?

Việc 3 – Linh mục Phan Khắc Từ đêm đêm ôm vợ, sáng ra nhà thờ tế lễ Thiên Chúa. Có phải ngài Hồng Y cho rằng “cha” Từ như thế mới là điển hình tiên tiến của sứ vụ linh mục thời Giáo Hội được định hướng: vừa làm trọn thánh vụ tư tế, vừa gia tăng sản xuất baby cho Giáo Hội? Một công đôi ba việc. Bổn đạo hỏi nhau “cha” Từ phải hay không phải. Có kẻ trả lời, nếu không phải thì “Đức” Hồng Y đã đá đít “cha” Từ đi chỗ khác chơi từ khuya rồi chứ đâu còn để coi xứ Vườn Xoài Nam nữa? “Đức” Hồng Y xử lý công việc của Chúa ở địa phương ngài như rứa ắt là phải đúng thánh ý Chúa rồi. Cứ nhắm mắt vâng lời là bảo đảm. Chống ngài là chống Chúa, chết sa hỏa ngục.

Việc 4 - Cha Lý bị bắt và bị bỏ tù. Ông Hồng Y bảo: ở xa làm sao tôi hiểu được những nghịch lý trong đời sống của linh mục Lý. Đứa xấu mồm thắc mắc tại sao người lãnh đạo chóp bu như ông Hồng Y mà lại không biết được cái nghịch lý của nhân viên dưới quyền. Chuyện này không phải là nghịch lý sao? Nhưng dù sao nói đi thì cũng phải có nói lại. Thứ nhất, vì ở quá xa, lại ở trong môi trường thông tin bị bưng bít như VN thì ông HY không biết được cái nghịch lý của cha Lý là điều có thể hiểu được. Thứ hai, đức ngài tu hành trong vòng 4 bức tường gạch kiên cố và nhiều lớp “tường thịt” kín mít gió thổi không lọt thì làm sao mà nghe được chuyện thế gian. Ông HY nói có lý quá đi ấy chứ.

Thôi thì cứ cho là những chuyện khác của ông Hồng Y đều là chuyện nhỏ, và đều có lý do để biện bạch. Nhưng chuyện ông định triệt lá Cờ Vàng thì xem ra không thể. Người dân tỵ nạn gìn giữ lá cờ như người công giáo giữ linh hồn của mình vậy. Còn hơn bọn CS ác ôn gìn giữ con ngươi trong con mắt (lời già Hồ) của chúng nữa. Họ tôn trọng và bảo vệ lá cờ như giữ mồ mả tổ tiên. Chuyện đó ông Hồng Y không thể không biết, vì ông ra hải ngoại làm mục vụ xin tiền như cơm bữa. Ông đã đậu PhD về giáo dục của Mỹ, nghĩa là phải giỏi khoa tâm lý lắm. Làm sao nói ông không nắm được tâm lý người tỵ nạn? Hơn nữa lá Cờ Vàng có cái gì không tốt? Chế độ mà lá cờ đó biểu tượng không tốt hơn chế độ hiện tại sao? Hơn hàng vạn lần ấy chứ. Ông Hồng Y đã sống cả hai chế độ. Lương tâm ông có dám phủ nhận sự thật đó không? Vậy thì tại sao ông lại phải triệt hạ lá cờ? Hơn nữa, ông còn miệt thị lá cờ là một thói đời mang tính đối kháng. Thói đời!!! Lời lẽ của nhũng bọn hạ cấp mà được nói ra từ của miệng một vị Hồng Y Giáo Chủ là quá đáng lắm rồi đấy. Ông thử nghĩ xem. Ông đã là đỉnh cao của trí tuệ (có bằng PhD), chẳng lẽ ông không biết người tỵ nạn bảo vệ lá Cờ Vàng và giữ cho nó được tự do tung bay tại những nơi họ sinh sống là có lý do của họ sao? Đâu phải là một thói đời mang tính đối kháng như ông tưởng. Bao lâu lá cờ còn, về mặt chính trị và nhân đạo, người tỵ nạn còn được thế giới biết đến và công nhận là người-Việt-Nam-tỵ-nạn-cộng-sản. Và cũng từ đó, thế giới mới biết và lịch sử mới ghi lại tường tận CSVN là một chế độ thô bạo, tàn ác, và phi nhân tính như thế nào. Nếu lá cờ mất đi, họ sẽ trở thành Việt kiều, tức là người Việt Nam của chế độ chó đẻ (xin mượn tạm chữ của cụ Nghị Sỹ Nguyễn Văn Chúc) cờ đỏ sao vàng sinh sống ở ngoài nước, là thần dân của bọn bán nước tại Bắc Bộ Phủ Hànội. Cái “mark Việt kiều” người tỵ nạn có chết cũng không thèm. Lũ phỉ quyền bán nước xưa nay ra sức tròng vào cổ họ nhưng đừng hòng.

Vấn đề là ở chỗ đó. Thế mà ông HY đáng kính của chúng ta không hiểu hay không muốn hiểu. Nhưng đã muộn rồi. Dù hiểu hay không muốn hiểu, ông đã bước xuống tới chỗ tận cùng của việc đánh mất lý trí rồi. Ông phỉ báng cái biểu tượng cao quí và thiêng liêng nhất của một tập thể, và dùng quyền của một vị chủ chăn tối cao để giết chết nó là một hành động mang tính cách bạo chúa (tyrannic). Tập thể này ngày xưa bị gìm xuống đáy vực thẳm ông HY lúc đó ở đâu. Bây giờ bỗng ông nhẩy xổ ra để làm mục vụ mục viếc gì đó rồi phóng đi cái thơ quái gở kia? Ông có biết không, những kẻ bất hạnh chúng tôi từ cái hố thẳm chỉ còn biết nhìn vào ngọn cờ, chống chọi với mọi thứ kẻ thù để cố gắng sống còn và vươn lên? Ông đã tạo ra một lý do gian trá để triệt hạ một biểu tương nhân bản của những con người cùng khổ nhưng lại rất lương thiện. Làm việc này, ngoài bọn CS phi nhân ra chỉ có ông là người duy nhất, không ai ngu dại làm như thế cả. Môt con người bình thường, có trí khôn bình thường đã đủ hiểu biết để thấy cái lý lẽ sơ đẳng là đụng chạm đến danh dự và lý tưởng của một tập thể đã bị chà đạp và bị đẩy vào bước đường cùng là không nên. Vụ tờ nhật báo Người Việt ở Nam Cali, vụ Trần Trường cũng ở nam Cali tưởng đủ để dậy cho bất cứ ai một bài học kinh nghiệm. Ông HY ắt hẳn phải hơn người bình thường chứ. Những nhà lãnh đạo mang kiếng cận nên thay loại kiếng viễn thị mà mang vào. Triệt lá cờ (mà chắc gì đã triệt được), hiệp thông thì chưa thấy đâu, nhưng trước mắt thì đầy rẫy xào xáo, chia rẽ, đổ vỡ, tan nát, và xúc phạm quá đáng. Hệ quả bi thảm nhất của việc làm của ông là tạo ra tình trạng mất lý trí tồi tệ hơn ông đối với một số người: sự lăng nhục và thóa mạ Thiên Chúa.

Đến đây thì coi như tôi đã có thể có được kết luận về “Đức” HY Phạm Minh Mẫn khả kính của chúng ta rồi. Tôi kết luận như tế này:

* Thứ nhất, không phải một sớm một chiều HY Phạm Minh Mẫn bốc đồng đưa ra quyết định triệt lá Cờ Vàng. Đây chỉ là cơ hội ông cho là thuận tiện để thi hành ý định đã có sẵn. Chiều dài thời gian trong chức vụ lãnh đạo GH của ông đã nói lên điều đó. Cuộc ra quân đầu tiên triệt Cờ Vàng của ông nghe đâu đã thắng lớn. Trong Đại Hội Đức Mẹ La Vang tại Washington DC tháng 6 vừa qua do ông chủ xị đã không có lấy một bóng Cờ Vàng. HY Mẫn mặc áo đỏ “made in Vatican, not made in Hànội”. Con chiên nào dám bảo ông HY thi hành Nghị Quyết 36. Cái chiêu cáo đội lốt dê này của ông thật là thần sầu quỉ khốc. Chúa hẳn cũng phải phục ông.

* Thứ hai, ông đã quên rằng lá Cờ Vàng không phải là của riêng của người công giáo tỵ nạn, mà là của toàn khối người Việt tỵ nạn gồm đủ mọi tôn giáo. Ông lầm lớn rồi.

* Thứ ba, ông vẫn còn ngây thơ tưởng rằng giáo dân tỵ nạn làm bò cho ông vắt sữa thì cũng sẽ dễ dàng làm ngựa cho ông cưỡi. Ông tưởng chỉ cần một lá thư, ông bắt con chiên hạ cờ là con chiên phải hạ cái rụp. Ông ngây thơ quá.

* Thứ bốn, ông đã phạm phải tội đại kỵ là đụng vào chuyện không thể đụng. Thật vậy, triệt lá Cờ vàng là công tác đầu của VGCS trong mưu toan nhuộm đỏ khối người Việt tỵ nạn. Hơn nữa, cờ là linh hồn của khối người này. Hồn mất, cái xác còn sống được sao? Ông triệt nổi sao?

* Thứ năm, ông lãnh đạo mà không tiên liệu phản ứng của dư luận. Ông làm mọi người phẫn uất quạt lại ông, có người quạt lây sang cả Chúa. Tất cả đều do ông mà ra. Có người nói ông bất trí. Tôi nói không. Ông đã học tới tờ cuối cùng của sách thánh hiền phần đời và Phúc Âm phần đạo thì làm sao bảo ông bất trí được. Tôi bảo ông là người đã đánh mất lý trí. Đây là câu kết luận cuối cùng của tôi về ông.

Sau khi kết thúc phần viết về HY Phạm Minh Mẫn để mời ông đọc chơi nhân dịp ông tới làm “mục nát cộng đồng tỵ nạn” ở San Jose, thành phố tôi cư ngụ, tôi xin có vài lời tâm tình gởi tới quí vị tác giả của các bài báo có tính cách lăng nhục Thiên Chúa và với quí độc giả quan tâm. Các bài viết này có bài phê phán Giáo Hội Công Giáo, có bài, thật đáng buồn, báng bổ (blaspheme) cả Thiên Chúa. Nhưng tôi cảm thấy tốt hơn không nên nêu tên tác giả và trích đăng vào đây. Tôi xin lỗi bạn đọc.

Đây là điều khó cho tôi vì phải đụng chạm đến quyền tự do ngôn luận của người khác. Tôi tin rằng nếu tác giả của những bài viết kia đọc bài này, quí vị sẽ thông cảm chuyện bất đắc dĩ này của tôi. Tôi muốn nói với quí vị đó rằng chỉ vì một việc làm sai quấy của một người mà quí vị đã xúc phạm trầm trọng đến tín ngưỡng của nhiều người khác, trong đó có tôi, là chuyện không nên. Tôi xin nói thực tình, tôi không có gì phiền trách quí vị cả. Quí vị viết gì tôi không có quyền cấm cản. Tôi không phản bác, không tranh luận, cũng không biện bạch, mà chỉ muốn chia sẻ một vài ý kiến thô thiển với quí vị và với công luận nói chung trong tinh thần hòa đồng tôn giáo hầu mong giữ được tình đoàn kết trong cộng đồng trước mối lo chung là kẻ thù VGCS. Thù nghịch tôn giáo hoặc chiến tranh tôn giáo là điều đáng sợ nhất không phải cho riêng tôi. Tôi tin rằng dù quí vị không tin Chúa Giêsu nhưng quí vị cũng chẳng thù ghét gì Ngài. Vì thế tôi thiết nghĩ quí vị đã mắc một điểm sai lầm về nhận thức. Đó là quí vị đã đồng hóa Ngài với người đại diên của Ngài ở trần thế. Thiên Chúa vô hình tượng, con người không cảm giác được. Chúa Giêsu là Thiên Chúa làm người để chuộc tội muôn dân, người không có đức tin như chúng tôi thật khó cảm nhận được điều đó. Quí vị bôi bác và báng bổ Ngài dù sao cũng là điều không nên. Quí vị chỉ thấy hình bóng Thiên Chúa qua những tấm áo chùng đen, chùng đỏ. Từ lối nhìn phiến diện đó, khi thấy HY Mẫn làm bậy, quí vị kết tội Thiên Chúa. Đó là điều tôi thiết nghĩ không nên. Những vị sáng lập tôn giáo về mặt nhân sinh đều là những người thượng trí và đức hạnh, người trần như chúng ta nên tôn kính. Tôi là người công giáo nhưng tôi vẫn thường cúi đầu bái Phật mỗi khi đi ngang qua tượng Đức Phật.

Tôi biết ngoài CS ra, còn có một loại người chuyên thù ghét Thiên Chúa. Loại người này ở bên Mỹ không thiếu. Tôi không tin quí vị là loại người này. Thỉnh thoảng tôi nhận được e-mail của một vài tổ chức CG Mỹ cho hay có vụ blasphemy. Họ yêu cầu tôi tham gia phản đối hoặc cầu nguyện. Mới đây thôi, ngày 26-6-2008 tôi nhận được e-mail như thế này: Dear Mr. Ha, the production is called Jerry Springer-The Opera in Concert and it will run from June 26-August 3 at the New Stage Collective in Cincinnati. The so-called opera will also be showing at The Studio Theatre in Washington D.C. from July 16-Aug. 10. Please send your e-protest to both theaters right away … (Ông Hà thân mến, tác phẩm có tên là Jerry Springer-- một vở nhạc kịch, sẽ được trình diễn từ 26-6 đến 3-8 trên sân khấu công cộng mới tại Cincinnati. Vở nhạc kịch này cũng sẽ được trình diễn tại hý viện có thâu hình ở Washington DC từ 16-7 đến 10-8. Xin mời ông gởi e-mail phản đối tới hai rạp hát trên ngay …). Phần dưới của e-mail cho biết vở kịch có những scene như chế diễu tượng Thánh Giá, chà đạp Bánh Thánh, mô tả Chúa Giêsu là đứa con giả hình của một tên bạo chúa phát xít trên thiên đình v.v. Đây là sự chống báng tôn giáo do căn tính, tính thù nghịch Thiên Chúa. Vấn đề này tôi không đề cập tới. Tôi chỉ nói đến sự bôi bác và phỉ báng tín ngưỡng bắt nguồn từ vụ triệt hạ lá Cờ Vàng của HY Phạm Minh Mẫn của quí vị.

Tôi đồng ý với quí vị về việc phê bình GHCG, nhưng hoàn toàn phản đối việc quí vị báng bổ Đấng Tối Cao của Thiên Chúa Giáo. Về chuyện tôn giáo, tôi phân biệt rạch ròi lắm. Tôn giáo nào cũng có hai phần là phần đạo và phần giáo hội. Nói theo thầy Nguyễn Đăng Thục là Hình Nhi Thượng và Hình Nhi Hạ. Đạo hay Hình Nhi Thượng ở đây là phần giáo lý và những nguyên tắc hành đạo. Phần này bên nhà Phật gọi là Pháp, thường là những gì rất cao thâm, có khi người trần không hiểu nổi. Việc hành đạo có khi rất khó khăn, khó tập luyện được. Tôi thấp trí và lười biếng nên chỉ đi tìm những cái gì dễ để học và để làm. Tôi theo đạo Chúa là vì con đường tu đạo của Ngài tương đối dễ đối với tôi. Ngài dậy: Muốn theo ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá của mình mỗi ngày mà theo ta. Chỉ có thế thôi. Tôi cho đó là cách dễ dàng nhất đối với tôi để thực hành một tôn giáo. Lý do dễ hiểu thôi. Thập giá của mình mình không vác thì cũng chẳng đẩy cho ai được. Tôi đành phải vui vẻ mà vác. Vì thế tôi theo Chúa. Nếu chỉ nhìn vào giáo hội của Ngài ở trần gian thì có lẽ tôi đã chẳng theo Ngài. Giáo hội chỉ là cái cơ chế để điều hành việc trong tôn giáo. GHCG trong một số giai đoạn lịch sử đã trở nên cường quyền và phát xít. Quí vị nêu lên Sắc Chỉ (Papal Bull) Romanus Pontifex để chứng minh. Vâng đúng, quí vị còn quên, cả Sắc Chỉ Dum Diversas June 18,1452 trước nữa cũng của Giáo Hoàng Nicolas V viết gởi cho vua Alfonso Bồ Đào Nha đều mang tính cường quyền và phát xít. Giáo Hoàng cho phép vua một nước đi thôn tính các nước khác và chinh phục các dân đạo Hồi, dân ngoại đạo và những người không tin (unbelievers) bắt làm nô lệ truyền đời (hereditary). Đáng lên án lắm chứ. Hoàng đế Trung Hoa tự xung là thiên tử được quyền “quân xử thần tử thần bất tử bất trung”. Khi tiếp nhận chiếu chỉ tru di cửu tộc, cả họ vẫn còn quì lậy “tạ ơn vạn tuế”. Lạ không! Khổng Tử truyền bá cái đạo vua-tôi này. Thời phong kiến, việc như thế được cho là tự nhiên và hợp lý. Ngày nay chẳng ai cho là hợp lý, nhưng vẫn không ai lên án Đức Khổng. “Thời nào kỷ cương đó” là luật tiến hóa của vũ trụ vạn vật. Giáo Hoàng thời xưa với danh hiệu “Successor of the key-bearer of the heavenly kingdom and vicar of Jesus Christ” (kẻ kế vị người mang chìa khóa nước trời và là người đại diện của Chúa), nhiều ông cũng cường quyền như thiên tử Trung Hoa vậy. Nhưng giáo hoàng bị lên án bởi vì giáo hoàng là giáo chủ của một tôn giáo và Giáo Hoàng Nicolas V đã hành động trái với giáolý Phúc Âm của nền đạo được gọi là đạo bác ái. Sự thể cho thấy việc sai lầm lớn nhất của GH Roma là tự biến tôn giáo thành đế chế và làm cho giáo hội trở thành một đế quốc. Hơn thế nữa, triều đình Vatican có lúc còn trở nên tha hóa, sa đọa, và tranh dành quyền lực khó có thể tưởng tượng được. Đại đa số người công giáo không am hiểu bởi vì họ không được học lịch sử của GH nên không biết. Về khía cạnh này, nếu nói rằng GH xử dụng chính sách ngu dân đối với các tín hữu, tôi nghĩ cũng không sai. Ngay Giáo Hội VN cũng chẳng khá gì hơn. Giáo quyền nhiều khi cũng phe đảng. Giáo sĩ vụng trộm càng không thiếu. Truớc kia, trong khi dân quê VN đại đa số nghèo nàn đói khổ thì có thể nói phần lớn các nhà thờ trở thành địa chủ. Mầm mống chia rẽ lương giáo là ở chỗ đó. Thánh Gandhi là người hiểu đạo Chúa rất rõ và kính mến đấng Christ, nhưng tâm trạng của ông cho thấy thế nào, ông nói: “I like your Christ, I do not like your Christians. Your Christians are so unlike your Christ (Tôi mến đức Kitô, nhưng tôi không thích người Kitô giáo, bởi vì họ không giống đức Kitô.)

Tuy nhiên nếu chỉ nhìn vào những mặt tiêu cực đó để phủ nhận tất cả thì không nên. GHCG có những mặt tiêu cực, nhưng những đóng góp của GH về các mặt văn hóa nghệ thuật, hòa bình, xã hội, và nhất là gương sáng đạo đức thì không thể nào nói hết được. Đặc biệt về mặt xã hội và đạo đức, có thể nói không thời nào không có những gương sáng của các con cái của Giáo Hội. Ngay thời đại chúng ta đây, tôi nêu danh tánh Jean Paul II và Mẹ Theresa Calcutta có ai cho là không xứng đáng? Ở VN, nếu HY Phạm Minh Mẫn chạy theo VGCS bán nước thì cũng có TGM Nguyễn Kim Điền chết dưới bàn tay VGCS. Có lũ bốn tên chính ủy Minh, Cần, Từ, Bích thì cũng có nhóm linh mục Nguyễn Kim Điền: Lý, Lợi, Giải, Chân Tín. Tại hải ngoại, có Trần Công Nghị quốc doanh tha hóa thì cũng có cố tuyên úy Vũ Ngọc Đáng chống cộng hết mình mà tất cả mọi giáo dân Bắc Cali, nhất là các anh em nhẩy dù bất kể lương giáo đều yêu mến. Đàng khác cũng nên lưu ý điều này. Những sai lầm của GH trong quá khứ, Đức Giáo Hoàng Jean Paul II đã khiêm nhường xám hối trước mặt Thiên Chúa và xin nhân loại thứ tha. Ông cha ta nói: đánh kẻ chạy đi chứ không ai đánh người chạy lại. Điều đáng tiếc là riêng Giáo Hội VN thì chẳng có dấu hiệu gì tỏ ra xám hối, mà còn càng ngày càng đi sâu vào sai lầm. Và tôi cũng xin mượn lời thánh Gandhi sau đây để kết luận về tình trạng đáng tiếc này: 'God did not bear the cross only 1900 years ago but he bears it today. He dies and is resurrected from day to day.' p 108. The book of Hebrews emphasizes the fact that Jesus died 'once for all. (Chúa không chỉ vác Thánh Giá 1900 trước đây, nhưng ngày nay Ngài vẫn còn phải vác. Ngài chết và sống lại ngày nọ qua ngày kia. “trang 108. Sách Dân Do Thái nhấn mạnh sự kiện là đức Giêsu đã chết một lần cho tất cả”).

Tôi xin kết thúc tâm tình của tôi ở đây với quí vị tác giả của các bài viết tôi đề cập tới và với cộng đồng, và xin đề nghị một vài ý kiến đơn giản như thế này với tất cả: Thứ nhất, tín ngưỡng không thuộc lãnh vực thực nghiêm, không nên tranh luận để tìm đúng sai, hơn thua. Thứ hai, mối tương giao với Thượng Đế, Thần Phật nên nghe lời Khổng Tử dậy: kính nhi viễn chi là hơn. Và thứ ba, đối với các giáo hội (bất cứ tôn giáo nào) nên phê bình sửa sai (nếu thấy sai) mà không nên đạp đổ. Tôi có dậy các con tôi thế này: nếu quả thật không có Thượng Đế thì cũng nên tạo ra Thượng Đế để mà thờ. Bởi vì nếu không có Thượng Đế, con người sẽ trở thành thượng đế. Như thế nguy hiểm lắm. CS là một thí dụ trước mắt, các con đã nhìn thấy rõ ràng.

San Jose, July 2, 2008
Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Mừng ngày Ðộc Lập Hoa Kỳ 4 tháng 7


Dù cho vật đổi sao dời hay thiên hạ có nói gì chăng nữa, thì tới nay Hoa Kỳ cũng vẫn là quốc gia vĩ đại nhất về đủ mọi phương diện kể cả mức thu nhập bình quân đầu người trên 40.000 USD bỏ xa Thụy Sĩ (33.800) , Úc (30.700), Anh (29.600), Nhật (29.400), Ðức và Pháp (28.700)..
Căn cứ vào tác phẩm nổi tiếng ‘ Un Jour De La Vie De L’Amerique ‘ do nhà xuất bản Robert Laffont tại Pháp ấn hành,

tổng hợp từ bài viết của hơn 200 ký giả ngoại quốc và trên 250.000 tấm ảnh độc đáo vô cùng giá trị. Nhờ vậy chúng ta mới có cơ hội hiểu được phần nào về ‘ Một đất nước trong một lục địa ‘ có lảnh thổ rộng lớn tới 9.629.091 km2 (chỉ thua Nga, Canada, Trung Cộng) với tổng sản lượng quốc gia gấp trăm ngàn lần nhiều nước khác trên thế giới. Hiện dân số Mỹ 295.734 triệụ người, đông nhất vẫn là da trắng (chiếm 77% ), da đen (12 %) , gốc La Tin như Y Pha Nho, Bồ Ðào Nha (8%) .. còn lại là thiểu số người gốc Châu Á, Polynésien và Da Ðỏ . Có hơn 73,5% người Mỹ sống tại các đô thị lớn nhỏ . Los Angeles nằm trong tiểu bang California, là một trong những siêu đô thị hiện nay của Hoa Kỳ, xuất phát từ cái tên do người Mễ đặt ‘ El Pueblo De Nuestra Senora Le Reina De Los Angeles De Porcianculal ‘ , hiện có trên 12 triệu dân nói lẫn lộn tiếng Tây Ban Nha và Anh Ngữ. Trong khi đó New York lại là thành phố lớn nhất của Mỹ, cũng là đô thị có nhiều người Do Thái sinh sống nhất trên thế giới, sử dụng tiếng Yiddish (Israel) , loại cổ ngữ chỉ còn xài ở Trung Ðông mà thôi.

Toàn quốc có 15.132 phi trường lớn nhỏ, trong đó Chicago và Dallas Fort Worth được coi là lớn nhất thế giới, cứ 14 giây là có một phi cơ hạ hay cất cánh nhưng có điều kỳ lạ là người Mỹ không thích xuất ngoại bằng máy bay, nên trung bình hằng năm có chừng 15 triệu người ra nước ngoài. Về phương tiện giao thông, Hoa Kỳ đứng đầu thế giới với 6 triệu cây số xa lộ , 150 triệu xe ô tô đủ loại và 30 triệu xe vận tải hạng nặng, xuôi ngược khắp nước hàng ngày, qua vận tốc ấn định từ 88-105 km/giờ.

Kỹ nghệ sản xuất xe hơi của Mỹ vẫn đứng đầu thế giới cho dù mọi người xài cả xe Nhật lẫn Châu Âu. Thủ đô ô tô của Mỹ là Detroit thuộc tiểu bang Michigan nằm kế Ngủ Ðại Hồ. Một người di dân Pháp tên Antoine De La Mothe Cadillac đã lập ra thành phố này. Vì vậy để tưởng nhớ tới ông, các công ty sản xuất xe hơi của Mỹ, mới đặt tên cho một loại xe đắt tiền nhất do Hoa Kỳ chế tạo là ‘ Cadillac ‘.Tới nay ba đại công ty Géneral Motors, Ford và Chryslev vẫn đứng đầu cả nước và thế giới về mức sản xuất xe, qua sự hổ trợ của nhiều công ty nhỏ . Ngoài ra Hoa Kỳ còn là cường quốc dẫn đầu thế giới về điện nguyên tử, máy bay, máy điện toán, thuốc lá, bắp, thịt bò, than đá..

Tuy người Mỹ sống rất thực tế nhưng hầu hết đều tham gia các công tác từ thiện với số tiền góp và tậng phẩm hằng năm gần 100 tỷ mỹ kim. Tóm lại không có ai dám nói rằng mình biết hết chuyện nước Mỹ vì đời sống ở đây gần như thay đổi từng giây từng phút, khó lòng dự đoán được. Với Người Việt Tị Nạn Cộng Sản qua 33 năm lưu vong, nay đã để lại một dấu ấn tốt đẹp và đậm nét trong những trang sử của Hoa Kỳ. Ðó là sự hình thành các cộng đồng Người Việt Quốc Gia mà biểu tượng là ‘ Lá Cờ Vàng Ba Sọc Ðỏ ‘ đã được nhiều Tiểu Bang công nhận, tại các thành phố lớn như San José, Los Angeles, Houston, Wasington DC, New York.. và nhất là Little Sài Gòn, thủ đô của Người Việt Hải Ngoại..

Tóm lại, người Mỹ không cần biết tới đời tư của bất cứ cá nhân nào khi họ dấn thân vào con đường chính trị, miễn sao các cấp lãnh đạo, mang cho dân chúng có đủ cơm ăn áo mặc, đất nước thanh bình, uy tín của Hoa Kỳ được tôn trong khắp thế giới là đủ rồi.

Ngoài các vấn đề trên, đối với người Mỹ cho dù là người địa phương hay di dân, trong thâm tâm bất cứ ai cũng đều mang một sự hãnh diện với thế giới, qua các công trình kiến tạo của tiền nhân suốt 200 năm lập quốc : phố xá khang trang, nhà cửa đồ sộ, thư viện đầy ắp báo chí sách vở, chợ búa sạch ngon, bến tàu phi trường tấp nập rộn rịp về cảnh sắc lẩn tình người. Nói chung, dù dân tộc Hoa Kỳ chỉ mới lập quốc nhưng hầu hết đều có lễ nghĩa đạo đức, lương thiện và chan hòa tình thương không biên giới (trong đó sự cưu mang hơn 3 triệu người VN Tị Nạn Cộng Sản, từ tháng 5-1975 tới nay), nên đã nhanh chóng thu phục được nhân tâm và đứng đầu thế giới về mọi mặt.

Người Việt tị nạn CS chúng ta may mắn được sống hạnh phúc trên đất Mỹ, với đầy đủ các quyền lợi đã qui định từ Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập và Nhân Quyền, mà đâu mấy ai hiểu rõ là Tiền Nhân đã đổi lấy nó bằng máu và mạng sống trước bạo lực. Bởi vậy để đền đáp phần nào tấm lòng nhân đạo mà Hoa Kỳ đã rộng mở , chúng ta phải biết ‘ nhập gia tuỳ tục ‘, làm tốt bổn phận công dân và cố gắng phát huy truyền thống tinh hoa của Dân Tộc Việt, để không hổ danh là con Hồng Cháu Lạc dù đã có quốc tịch Mỹ hay đang sống tạm nơi xứ người.

1 - Ý NGHĨA NGÀY ÐỘC LẬP HOA KỲ 4 THÁNG 7 :

Sau thời gian dài chiến đấu đẳm máu với thực dân Anh. Cuối cùng 13 Tiểu Bang trong Liên Hiệp Anh ly khai, cũng đã dành được Ðộc Lập cho xứ sở, mà ngày nay chúng ta trang trọng đón mừng hằng năm. Ðó là ngày 4-7-1776 , lần đầu tiên ‘ BẢNG TUYÊN NGÔN NHÂN QUYỀN ‘được công bố trước quốc dân đồng bào..

Cũng từ đó, ách nô lệ của Anh tại đây chấm dứt. Ðể tạo nên niềm tự hào của một dân tộc có độc lập và tự do thật sự, năm 1789 Webster Noah là người đầu tiên ấn hành quyển Tự Ðiển Tiếng Mỹ, nói lên ngôn ngữ riêng của dân tộc mình. Cùng lúc Benjamin Franklin cũng đã phát minh ra những mẫu tự đơn giản. Nhận thức được tương lai của đất nước, sẽ mở rộng bờ cỏi và đón nhận nhiều sắc dân tới lập nghiệp tại Hiệp Chũng Quốc với nhiều nền văn hóa khác nhau. Bởi vậy Noah Webster càng chú trọng rất nhiều tới ngôn ngữ học bằng cách phát hành nhiều loại sách giáo khoa, giảng dạy về ngữ pháp, chính tả.. tới nay vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm trong dời sống người Mỹ.

Sau này có M.Guffey hợp tác với Noah, đã bộc lộ tinh thần ái quốc và đạo đức, qua các tác phẩm được phổ biến, làm cho mọi người cảm động và càng ý thức rõ hơn bổn phận trách nhiệm của một công dân đối với xã hội và quốc gia của mình. Tuy ngày nay theo bánh xe văn minh của nhân loại, những công trình của các bậc tiền nhân đã bị lỗi thời với thời gian nhưng tên tuổi của ông vẫn còn nguyên vẹn. Thật vậy, đối với lịch sử Hoa Kỳ, chính Noah Webster đã có công tạo nên Ngôn Ngữ riêng cho người Mỹ, dù nó có nguồn gốc từ tiếng Anh mà thật sự không phải là tiếng Anh nguyên thủy. Trường hợp này cũng tương tự như Ngôn ngữ Việt Nam, có nguồn gốc từ Hán Tự và La Tinh nhưng không phải là chữ Hán hay La Tinh gốc.

Cùng với chiều hướng Ðộc Lập trên, Tổng Thống đầu tiên của Hoa Kỳ là Washington đã phát biểu ‘ Hiệp Chũng Quốc bắt nguồn từ 13 thuộc địa của Anh nhưng Nay Là Quốc Gia Ðộc Lập. Vậy tai sao chúng ta cần gì phải quay về với Châu Âu hay Luân Ðôn để bắt chước họ ? qua đợi chờ xin xõ phê chuẩn. Trong đó, sự học hỏi trên, xét cho cùng, cũng chỉ là sự quê mùa, lỗi thời ‘.Hởi ôi nếu các nhà lãnh đạo VN bao đời, có được một phần tư tưởng độc lập như TT Mỹ, thì chắc chắn đất nước chúng ta ngày nay đâu phải đắm chìm trong vũng bùn ô nhục tồi tệ và thua kém nhân loại.

Ðể đổi lấy nền Ðộc lập cho đất nước Hoa Kỳ ngày nay, nhiều đại biểu của 13 Tiểu Bang ly khai đã gục ngả trước súng đạn của thực dân Anh. Thomas Jefferson được đề cử soạn thảo Bảng Tuyên Ngôn Nhân Quyền cho Hiệp Chũng Quốc, trong lúc cuộc chiến vẫn đang tiếp diễn giữa Anh-Mỹ. Thế rồi sau ba ngày tranh luận gay gắt, giữa các đại biểu trong phòng họp, cuối cùng hội nghị cũng đã bỏ phiếu, thông qua và chấp thuận Bảng Tuyên Ngôn Ðộc Lập trên, vào ngày 2-7-1776.

Ðiều bi thảm mà tới nay con cháu ít ai biết tới. Ðó là vào ngày 4-7-1776 công bố nền độc lập của Hoa Kỳ, được diễn ra trong thầm lặng, chết chóc, máu lệ khổ đau. Bởi thực dân Anh đâu có để yên cho những người chủ xướng, nên ra tay triệt hạ tất cả ai lúc đó dám nói tói Ðộc Lập cho Hoa Kỳ. Theo sử liệu, có 56 người đã ký vào Bảng Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Ðộc Lập Mỹ. Tất cả đều là sĩ phu trí thức đương thời, biết trước hậu quả về hành động của mình nhưng bất chấp mạng sống cá nhân8 và gia đình, chấp nhận hy sinh cho đại nghĩa dân tộc, đất nước.. Trong số này có Francis Hopkinson quê New Jersey là một tài hoa hiếm có. Ông chính là tác giả của Lá Quốc Kỳ Mỹ được lưu hành và tồn tại tới ngày nay. Tóm lại tất cả những người trong cuộc đều có gia đình, lớn tuổi nhất là Benjamin Franklin (70 tuổi) và ba người chỉ mới 20 tuổi.

Ngay khi phát giác được Bảng Tuyên Ngôn Ðộc Lập, Thực dân Anh lồng lộn điên cuồng, ra lệnh truy tìm và hạ sát những người có tên trong đó. Ngoài ra còn treo giá 500 Bảng Anh cho ai chỉ điểm, phát giác họ. Cuối cùng Anh tuyên bố Treo Cổ Tất Cả. Do sự khủng bố trên, nên hầu hết những người liên hệ tới Bảng Tuyên Ngôn, lớp chết, lớp ở tù. Nhiều người bị thương tật khốn khổ vì sự tra tấn đánh đập dã man của kẻ thù, khiến cho nhà tan cửa nát, gia đình ly tán. Trong số ít ỏi sống sót sau này,hai người đã trở thành Tổng Thống Mỹ là John Adams và Thomas Jefferson.

Cái giá độc lập của Hoa Kỳ là thế đó, mà những người khai sinh ra nó, phải đổi bằng mạng sống, máu lệ đem về. Cho nên các thế hệ sau ai nấy đều vô cùng cảm kích và trang trọng noi theo truyền thống yêu nước của tổ tiên mọi thời. Ðó là kết quả của quốc gia Hoa Kỳ ngày nay, một miền đất tạp chũng nhất trên thế giới,lại là đệ nhất siêu cường, một xứ sở tự do cá nhân nhưng ai cũng biết dừng lại trước giới hạn của mình, đối với quyền lợi chung của Tổ Quốc. Cho nên đừng phân biệt Dân Chủ hay Cộng Hoà, Tất cả tuy hai mà một vì ai cũng chỉ biết có quyền lợi của dân tộc và đất nước Hoa Kỳ mà thôi.

2 - SIÊU CƯỜNG HOA KỲ TRONG THẾ KỶ XXI :

+ Chuyện Dài Súng Ðạn Tại Mỹ ,

Ðến giờ, nước Mỹ vẫn điên đầu về chuyện súng đạn gần như vô phương giải quyết. Súng đạn đã làm ba vị Tổng Thống Hoa Kỳ thiệt mạng. Súng đã giết tập thể nhiều nam nữ học sinh, sinh viên và thầy cô ngay tại nhà trường. Cũng vì súng mà nhiều thanh thiếu niên đã vướng vào con đường tội lỗi mất hết tương lai. Thê nhưng chính quyền tiểu bang lẫn liên bang vẫn bất lực và người Mỹ cứ tiếp tục là nạn nhân của súng.

Ðây là vấn đề được bàn cải nhiều năm qua câu hỏi đặt ra là ‘ từ thuở lập quốc ông cha ta có thích súng hay không ? ‘ Nhiều người đã trả lời là có khi dẫn chứng lời của ông Richard Henry Lee, đã viết vào Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập Hoa Kỳ ‘ Ðể bảo vệ tự do, điều cần thiết là tất cả mọi người phải luôn giữ vũ khí và được dạy cách sử dụng ngay khi còn trẻ ‘.Nhưng theo nhận xét của giáo sư Michael Bellesiles tại Ðại học Emory thuộc thành phố Atlanta, cho rằng người xưa đâu có thích giữ súng đạn, khi ông dựa vào 1000 hồ sơ lưu trữ từ 1765-1850, phân tích qua các bản di chúc phân chia tài sản đã không thấy ai nhắc tới vũ khí như gươm giáo súng đạn vào thời đó.

Còn các tài liệu liên quan tới lịch sử Hoa Kỳ, có nhắc tới những vụ kiểm kê tại tiểu bang Massachusetts là một trong hai trung tâm sản xuất vũ khí của Mỹ vào năm 1840, cho thấy chỉ có 11% dân số có giữ súng đạn. Ðiều này cho thấy người Mỹ thuở lập quốc không mấy người giữ súng đạn trong nhà. Thật ra thời đó súng đạn rất đắt, chỉ riêng tiền mua một khẩu súng trường Mousqueton, tương đương với tiền kiếm được của một nông dân cả năm. Sỡ dĩ súng quá đắt vì lúc đó Mỹ phải nhập cảng từ Anh, Pháp, Ðức. Ngoài ra còn phải tốn tiền bảo trì súng làm bắng sắt nên mau hoen rĩ không xài được. Do đó chỉ có giới trung lưu trở lên mối có tiền sắm súng riêng mà thôi.

Trước khi xảy ra cuộc nội chiến, Hoa Kỳ chỉ có hai lò sản xuất súng đạn tại Harpers Ferry (Virginia) và Springfield (Massachusetts) nhưng không đủ trang bị cho quân đội. Vì vậy năm 1793 quốc hội Mỹ phải mua 7000 khẩu súng trường và năm sau chỉ còn tiền nhập thêm 400 khẩu nữa mà thôi, để trang bị cho quân chính qui. Với các lực lượng dân quân lại càng thiếu thốn, nên phải dùng gươm giáo thay thế. Năm 1808 liên bang đã cấp súng đạn cho dân da trắng khi họ tình nguyện vào đơn vị dân quân tự vệ. Tuy nhiên đó cũng chỉ là lý thuyết vì mãi tới năm 1839, chỉ có các đơn vị ở Massachusetts mới được trang bị vũ khí đầy đủ mà thôi.

Tóm lại việc phát triển súng đạn tại Mỹ bắt đầu từ cuộc nội chiến Nam Bắc (1861-1865) cũng là thời kỳ đất nước bắt đầu kỹ nghệ hóa. Do đó chỉ trong năm 1864, riêng lò Springfield đã sản xuất tới 600.000 khẩu súng trường, bằng số súng cả nước Mỹ gộp lại trong 70 năm trở về trước. Ngân sách quốc phòng của Bắc quân cũng tăng tới 179 triệu USD (bằng 2,5 tỷ hiện nay) nên tha hồ mua sắm hay sản xuất súng đạn. Nam quân cũng đâu chịu thua, thế là hai phe tha hồ chạy đua phát triển quân sự để dành chiến thắng.

Năm 1865 cuộc nội chiến chấm dứt nhưng chính quyền vẫn không ban hành lệnh thu hồi số súng đạn đã cấp phát . Bởi vậy hầu hết binh sĩ khi được lệnh giải ngũ đã đem vũ khí cá nhân về cất giữ tại nhà. Ðó là lần đại vũ trang cho toàn dân Mỹ với số lượng lên đến vài triệu khẩu, mở đầu cho làn sóng tội lỗi bừng phát vào thời kỳ hậu chiến, mà nạn nhân quan trọng nhất đầu tiên hứng chiu là Tổng Thống Abraham Lincoln. Còn Samuel Colt là tên lái súng đầu tiên của Mỹ trong ngành mua bán vũ khí, dùng tiền bạc hối lộ chính quyền để được luật hợp thức hoá. Ðương sự cũng là nhân vật đã phát sinh nghề vận động hành lang (lobby) của giới buôn bán súng. Tuy vậy việc cho sử dụng súng từ 1870-1880 kể cả vùng Viễn Tây Hoang Dã vẫn chưa chính thức như các cảnh thấy trong phim cao bồi chỉ là thêu dệt quảng cáo. Căn cứ vào các tài liệu còn lưu trữ , thì bạo lực súng đạn đã xảy ra nhiều nhất tại các thành phố lớn ở miền đông, hơn là tại các trang trại đồng cỏ của giới chăn bò. New York mới chính là thiên đường của những tên sát nhân vì là hang ổ của các tập đoàn Mafia Ý lúc đó chuyên buôn lậu rượu, súng đạn và kỷ nghệ gái điếm.

Tới cuối thế kỷ XIX, Hoa Kỳ ngày càng có nhiều người giữ súng vì quá rẽ và các điều kiện mua thật dễ dàng, qua nhiều hảng sản xuất vũ khí cũng như sự thay đổi của Hiệp hội súng trường Mỹ (National Rifle Association ố NRA), được thành lập vào năm 1872 và quyết định của quốc hội cho phép quảng bá việc sử dụng súng trường vào năm 1903. Sau đó chính phủ còn đem số súng sản xuất thặng dư tặng cho các câu lạc bộ súng được NRA đở đầu.

Tháng 11- 1963 Tổng thống John F Kenedy bị ám sát bằng súng khiến cho quốc hội phải thông qua luật kiểm soát vũ khí (Gun Control Act) đồng thời cấm mua bán súng qua đường bưu điện. Luật trên được NRA ủng hộ nhưng sau đó lại bị một vài thành viên phản đối như Hanlon Carter (Texas) và cuối cùng đã xóa sổ tổ chức NRA cũ để lập một hội buôn bán vũ khí mới, mà số hội viên vào năm 2000 đã lên tới 2,5 triệu người. Từ đó NRA ngoài việc chống sự kiểm soát việc sử dụng súng đạn của dân Mỹ, mà còn là một đảng phái chính trị, gây nhức nhối cho chính quyền kể cả các vụ ám sát bằng súng mà nạn nhân là tổng thống Reagan và thượng nghị sỉ Brady, tuy cả hai chỉ bị thương không mất mạng.

+ Từ Chuyện In Tiền Tới Hai Vụ Khủng Hoảng Tài Chánh Lớn Nhất Của Mỹ .

Ai cũng biết các đại công ty của Mỹ lừng danh trên thế giới như Coca Cola, Citibank, Ford, Macintosh.. đã làm ra nhiều tiền của cho quốc gia Hoa Kỳ. Nhưng chính Cơ Quan In Tiền (Bureau of Engraving and Printing) viết tắt là BEP , thuộc Bộ Tài Chánh của Liên Bang Hiệp Chủng Quốc, mới là nơi hằng ngày đã in hằng triệu đô la cho khắp thế giới sử dụng.

Nhà in tiền này qua cái tên The Money Factory, tọa lạc tại đường 14 thủ đô Hoa thịnh Ðốn (Washington DC) , mở cửa hằng ngày cho phép mọi người vào tìm hiểu sinh hoạt của BEP, hoàn toàn miễn phí và rất giản dị trong thủ tục kiểm soát an ninh với mọi người. Khách bị ngăn cách bên trong bằng bức tường kính dày và cao đến tận trần nhà. Tóm lại để hoàn thành tờ giấy bạc, nhà in tiền phải trải qua 65 công tác in ấn từ giai đoạn bản kẻm cho tới khi bạc được xếp thành từng bó 100 tờ để phát hành. Theo tài liệu cho thấy nhà in hoạt động từ tháng 8-1862 tới nay chưa hề xảy ra một trường hợp mất mác nào đáng tiếc, tuy các công nhân viên đang ở giữa núi tiền. Tất cả các loại giấy bạc của Hoa Kỳ đều đuợc in tại đây từ năm 1863 và tới nay chỉ còn 6 loại tiền giấy từ 1 ố 100 USD thông dụng mà thôi.

Về việc chọn in chân dung các nhân vật trên tờ giấy bạc do bộ trưởng tài chánh quyết định. Theo đó tờ thấy tờ 1 đồng in hình Tổng thống đầu tiên của Mỹ là George Washington. Kế tiếp là TT Thomas Jefferson tờ 2 đồng, TT Abraham Lincoln tờ 5 đồng, Bộ trưởng tài chánh Alexander Hamilton tờ 10 đồng, TT Andrew Jackson tờ 20 đồng, TT Ulysses Grant tờ 50 đồng và cuối cùng là TT Benjamin Franklin tờ 100 đồng có giá trị cao nhất. Ðồng đô la đã gắn liền với đời sống của người dân Mỹ. Ðó là một chân lý như nhận xét của thi hào kiêm triết gia nổi tiếng của Mỹ ‘ Dân Hoa Kỳ rất ít có đức tin , họ chỉ tin vào sức mạnh của đồng đô la mà thôi ‘.

Thứ ba ngày 29-10-1929 có thể nói là ngày đen tối nhất của người Mỹ đối với nền kinh tế đang trong cơn khủng hoảng, nhất là với thị trường chứng khoán. Ngày đó không người Mỹ nào quên được, đã xảy ra lúc 10 giờ sáng thời gian mà thị trường cổ phiếu tại New York mở cửa với tin sét đánh khi chỉ số Dow Jones tụt xuống một cách khủng khiếp: 368-298, giảm 22% . Và ngày đó được gọi là ‘ Ngày Thứ Ba Ðen Tối ‘, làm cho nền kinh tế của Mỹ và thế giới tụt giốc thê thảm, kéo dài hơn 10 năm tới Thế chiến 2 bắt đầu (1939) mới tạm chấm dứt cơn ác mộng. Cũng từ đó tới năm 1954, thị trường chứng khoán Mỹ lại đạt được mức kỷ lục như năm 1929 nhưng sự lo lắng hải hùng của ngày thứ ba đen vẫn luôn ám ảnh đời sống người dân Mỹ

Ngày 19-10-1987 lần nữa sự đen tối lại đến với thị trường chứng khoán Hoa Kỳ. Ngày đó, chỉ số Dow Jones tụt 508,32 điểm làm cho cổ phiếu Mỹ rơi vào tình trạng hổn loạn đóng băng, gieo màu tang trắng lên khắp khu phố Wall (New York) , kéo theo sự sụp đổ hàng loạt các thị trường chứng khoán London, Tokyo, Sydney, HongKong, Singapore. Tai họa năm 1929 thật sự đã trở lại với mọi người, chỉ trong chốc lát tỷ phú biến thành kẻ trắng tay như Sam Wolton mất trắng 2,1 tỷ USD và tất cả bất động sản. Tuy nhiên nhờ lúc đó kinh tế Mỹ còn đang phát triển mạnh nên sớm vươn mình trở lại sau cú sốc chết người.

Mới đây 2-7-2008 lần nữa thị trường chứng khoán tại New York cũng đột nhiên sụt điểm thê thảm chưa từng thấy, báo hiệu kinh tế Hoa Kỳ đang đứng trên bờ vực thẳm khủng hoảng vì giá dầu có tăng mà không thấy giảm.Tuy nhiên kẻ thiệt hại duy nhất không phải chỉ có Hoa Kỳ mà còn thêm siêu cường Trung Cộng vì bao nhiêu vốn liếng đều đầu tư vào cổ phiếu Mỹ ngay từ thời kỳ đổi mới kinh tế.

+ BOEING DREAMLINER : Máy Bay Mỹ Bán Chạy Nhất Thế Giới Trong Thế Kỷ XXI

Ngày 8-7-2007 công ty Boeing của Mỹ đã cho trình diện trước công chúng tại tiêu bang Washington kiểu máy bay mới nhất ‘ 787 Dreamliner ‘ qua các kiểu 787-3, 787-8, 787-9 và 787-10. Giá mỗi chiếc hiện nay từ 146 ố 200 triệu USD, công ty dự kiến sẽ sản xuất 2000 chiếc theo đơn đặt hàng trong vòng hai thập kỷ tới.

Ðây là loại máy bay thương mại, có khả năng chở được từ 210-330 hành khách, bay xa hơn 15.000 km. Thân phi cơ được chế tạo bằng sợi carbon composite (50%) và titanium (15%) , coi như loại máy bay chuyên chở hạng trung, tối tân nhất trong thế kỷ 21. Bởi vậy đã có trên 40 công ty hàng không quốc tế đặt mua 642 chiếc thuộc các kiểu 787 , trong số này có hảng Qantas của Úc sử dụng tới 115 chiếc B-787. Ðặc biệt có công ty Air Berlin của Ðức đặt mua 25 chiếc, trị giá hơn 4 tỷ USD.

Ðây là loại máy bay tối tân và ít tốn nhiên liệu nhất so với các loại phi cơ chuyên chở khác. Vì được chế tạo bằng vật liệu nhẹ như sợi carbon composite, aluminium vừa bền lại làm giảm trọng lượng thân máy bay, nên tiết kiệm tới 20% nhiên liệu sử dụng. Nhưng trên hết, B-787 đã đạt được đòi hỏi của ngành hàng không là Giảm Nhiên Liệu và Giảm Bớt Tác Hại Khí Thải Trong Bầu Khí Quyển. Ngoài ra B-787 còn được sử dụng lâu hơn các loại máy bay khác từ 20-30 năm. Về tiện nghi, phòng dành cho hành khách cũng lớn hơn, kể cả ghế ngồi, hành lang di chuyển, cửa sổ, phòng vệ sinh và áp suất trong cabin.. mọi thứ đều vượt xa các loại máy bay khác.

B-787 sử dụng hai động cơ Trent 1000 có trọng lượng 11.900 lb/1c, giúp phi cơ đạt được vận tốc gần 1500 km/h với lực đẩy 150.000 pounds, tương đương với sức mạnh của 1500 chiếc xe hơi 4 máy. Loại động cơ này được công ty Rolls-Royce của Anh đặc chế cho Boeing. Hiện B-787 đã cất cánh với chiếc đầu tiên do hảng máy bay ANA vào tháng 5-2008.

+ Hoa Kỳ : Siêu Cường Quốc Thế Giới Về Sản Xuất Ðiện Nguyên Tử

Tính đến nay, Hoa Kỳ vẫn đứng đầu thế giới về mức sản xuất điện nguyên tử , qua 113 lò phản ứng (LPU) mà một 1/2 số lượng uranium đang sử dụng trong các nhà máy đều được mua từ các lò phản ứng của các nước cộng hòa cũ của Liên Bang Sô Viết sau khi sụp đổ vào năm 1991. Tuy số lượng nhà máy LPU được giảm từ 111-103 nhưng điện năng sản xuất lại tăng hơn 20%. Hiện chính phủ đang xây dựng các nhà máy mới và sẽ tiêu hủy những nhà máy đã lổi thời trong một nghĩa địa đặc biệt dành nhốt các chất phế thải độc hại.

Là quốc gia tiền tiến, nên từ năm 1960 Mỷ đã xây được nhà máy điện nguyên tử đầu tiên và sử dụng vào năm 1962. So với các nước tiên phong trong lãnh vực này (Liên Xô 1954, Anh 1956, Phap 1956), thì Hoa Kỳ tới sau nhưng lại là nước có nhiều LPU nhất thế giới 113/441 nhà máy, tổng công suất 98.054/369.374 MW toàn cầu. Những nhà máy điện Nguyên Tử của Hoa Kỳ đều sử dụng hai loại PWR (nước áp lực) và BWR (nước sôi). Tính đến cuối năm 2005, các nhà máy trên thuộc quyền sở hửu của 10 công ty lớn của tư nhân (68%), phần còn lại của chính phủ. Sự thành công lớn nhất trong kỷ nghệ sản xuất điện nguyên tử của Hoa Kỳ, là nâng cao được hiệu suất điều hành các lò phản ứng, cũng như sự bảo dưỡng tuyệt đối tránh được sự thất thoát các chất độc hại giết người, như đã từng xảy ra tại Liên Xô và Nhật vào mấy năm trước. Nhờ vậy điện nguyên tử đã cung ứng được 19% nhu cầu cả nước với điện lực sản xuất năm 2005 lên tới 780,5 tỷ KWH.

Bộ năng lượng Hoa Kỳ là cơ quan tối cao nhất của chính phủ liên bang, điều hành và quản trị LPU. Bộ này cũng phụ trách công tác nghiên cứu để phát triển kỷ nghệ điện nguyên tử tại các phòng thí nghiệm quốc gia Idaho và Argone Tây với số nhân viên trên 6000 người, qua mục đích phát triển các nhà máy điện nguyên tử thế hệ IV của Hoa Kỳ và thế giới. Ngoài ra Mỹ cũng là quốc gia đang sở hửu nhiều vũ khí nguyên tử nhất thế giới. Hoa Kỳ cũng đã tham gia vào chương trình nguyên tử của LHQ để giúp Liên Bang Nga trong công tác pha loảng độ cao của chất uranium chứa trong 9000 đầu đạn nguyên tử, trở thành độ thấp (LEU) làm nhiên liệu để chạy các nhà máy điện nguyên tử tại nước này

Theo tài liệu mới nhất của Ủy Ban Nguyên Tử Thế Giới (WNA) cho biết Mỹ đang xây dựng thêm 13 LPU với tổng công suất 17.000 MW, do công ty AREWA(Pháp) hợp tác với một công ty Mỹ thực hiện theo kiểu nước áp lực cải tiến của Châu Âu. Về vấn đề tiêu hủy các chất phế thải tại cac nhà máy điện nguyên tử, Hoa Kỳ cũng đã ban hành luật cấm tái tạo các nhiên liệu nguyên tử đã sử dụng và mọi chất phế thải có độ phóng xạ cao. Tất cả được di chuyển đến địa điểm ân định để chôn vào lòng đất vĩnh viễn. Ðể thực hiện công tác này, các công ty điện nguyên tử đã đóng góp hơn 24 tỷ USD. Vào năm 2001 qua quyết định của lưỡng viện quốc hội, chọn khu núi Yucca thuộc tiểu bang Nevada làm nghĩa địa vĩnh viễn để chôn 70.000 tấn chất phế thải nguyên tử hiện có và sẽ tiếp tục vì khả năng thật sự của khu này lên tới 682.000 tấn.

+ HARVARD, Lò Ðào Tạo Nhân Tài Cho Thế Giới.

Là một trong hàng trăm viện đại học nổi tiếng lâu đời của Hoa Kỳ. Ðây là nơi đã sản sinh cho nước Mỹ 6 vị tổng thống, 35 nhà bác học nhận giải Nobel, 30 người được giải Pulitzer và hàng trăm nhân vật lảnh đạo đủ phương diện khắp thế giới. Trường được thành lập bởi nhóm di dân Thanh Giáo tại thành phố Cambridge tiểu bang Massachusetts vào năm 1636 với mục đích ban đầu là đào tạo các linh mục và luật sư cho cộng đồng giáo dân tại địa phương

Năm 1708 khi John Leverett trở thành viện trưởng trường đại học Harvard mới bắt đầu thêm vào chương trình giảng dạy những môn học ngoài tôn giáo. Trường mang tên một linh mục John Harvard (1607-1638) vì ông đã hiến cho nhà trường nữa phần gia tài khi qua đời.Tính đến nay, trường được 372 tuổi và luôn được người Mỹ gọi là ngôi trường của giới cấp tiến với thành quả đạt được qua mọi lĩnh vực khoa học, kinh tế và chính trị. Các vị tổng thống Hoa Kỳ như Theodore Roosevelt, Franklin D Roosevelt, John F Kennedy.. đều xuất thân từ đây.

Ngoài ra còn các nhân vật khác nổi tiếng của nước Mỹ như Bill Gates, Algore, Henry Kissinger, các nhà văn nổi tiếng Norman Mailer, John Updike.. cũng đều là cựu sinh viên của trường. Nhờ có ngân quỷ khổng lồ trên 11 tỷ đô la, được dùng làm vốn đầu tư cổ phiếu và bất động sản, đem về tiền lời hằng năm cả trăm triệu đô la. Số tiền này nhà trường dùng để nghiên cứu khoa học, chi phí điều hành và trả lương cho các vị giáo sư có tiếng tăm khắp thế giới được mời về giảng dạy cho sinh viên theo học.

Do trên chi phí theo học tại đại học Harvard rất cao so với các đại học khác trên đất Mỹ với số tiền 40.000 USD/1 năm về khoảng học phí, bảo hiểm y tế và ăn ở. Tuy nhiên với các sinh nghèo được miễn học phí lại còn thêm phần học bổng. Vì uy tín của nhà trường quá cao, nên hầu như khắp thế giới nếu có điều kiện, ai cũng muốn có được tấm bằng của Harvard để kiến công lập nghiệp. Hiện trường có hơn 20.000 sinh viên theo học đủ các bộ môn, trong số này luật khoa đã chiếm tới 1/10 sĩ số.

Hơn ba thế kỷ qua mặc cho vật đổi sao dời nhưng nguyên tắc giảng dạy tại đại học này vẫn không thay đổi, bất chấp lợi nhuận vẫn không ảnh hưởng đến nhà trường. Ðiển hình nhất là vụ đạo diễn nổi tiếng của Hollywood Steven Spielberg đã bị từ chối khi muốn mượn trường làm bối cảnh để quay cuốn phim lịch sử về tổng thống Mỹ John Quincy Adams từng xuất thân ở đây, với lý do trở ngại việc học hành của sinh viên. Năm 1998 Harvard xếp hàng đầu trong 10 trường đại học nổi tiếng nhất của Mỹ.

3 - MỘT VÒNG NƯỚC MỸ NHÂN NGÀY ÐỘC LẬP HOA KỲ 4 THÁNG 7 :

Là một quốc gia rộng lớn có diện tích bao trùm từ bờ Thái Bình Dương sang Ðại Tây Dương mênh mông vô tận. Sông Mississippi cùng với hai hợp lưu là sông Missouri và Red Rock dài 3741 ml hay 6019 km, đứng thứ 4 trên thế giới, sau sông Nile (Bắc Phi-6671 km), Amazon (Nam Mỹ-6300km) và Dương Tử (Trung Cộng-6276km) . Sông chảy từ bắc xuống nam phân chia nước Mỹ làm hai phần, phù sa bồi đắp tạo nên hai tiểu bang mang tên của nó ‘ Mississippi và Missouri ‘.Gọi Hoa Kỳ là một quốc gia trong một lục địa, thật không ngoa chút nào vì sự đa dạng của nó. Nhiều làng xóm khu phố được thiết kế gần như đất tổ của di dân, chẳng hạn như thành phố Quincy (50.000 dân) có nhiều biệt thự kiến trúc theo kiểu Ðức nằm giữa những vườn cây cổ kính. Trong lúc đó ở Alexandria là thành phố nằm cạnh sông Potomac, kế thủ đô Washington thì xây cất theo lối Anh Cát Lợi với tường gạch màu huyết dụ

Ðối với các tổng thống Mỹ khi còn tại chức thì sống trong tòa Bạch Ốc tại Hoa Thịnh Ðốn. Ðây là một tòa nhà đồ sộ có tới 132 phòng, 35 nhà vệ sinh, 3 tháng máy và tất cả những tiện nghi vật chất dành cho các bậc đế vương. Nhưng khi mãn nhiệm thì mạnh ai lo nấy, chẳng hạn như cựu TT Jimmy Carter về sống tại căn nhà riêng của mình mua trả góp từ năm 1960. Nhà của ông nằm kế thị trấn Plaince, tiểu bang Georgia. Ông sống đời giản dị, trong nhà không sắm đồ gì quý báu xa xỉ, còn những vật dụng thường nhật thì tự tay mình làm. Tuy tuổi tác đã cao nhưng TT Carter vẫn hoạt động xã hội không ngừng, để giúp cho những người nghèo, già và tàn tật bất hạnh.

Ðối với TT Ronald Reagan lúc còn sinh tiền, khi tại chức Thống đốc CA và Tổng thống, ông sống trong công thự. Năm 1989 mản nhiệm kỳ ông mua một căn nhà tại thành phố thượng lưu Bel Air thuộc tiểu bang California. Ngôi nhà là một dinh thự nhưng cất theo kiểu thôn quê với 3 phòng ngủ, 4 lò sưởi, 5 nhà vệ sinh và một hồ tắm. Còn TT Bush cha thì về lại cố hương ở Kennebunkport thuộc tiểu bang Maine nằm trên bờ Ðại Tây Dương. Ðây là căn nhà của tổ phụ đã xây dựng từ năm 1902 và được xây dựng thêm nhiều công trình như hồ tắm, sân golf, sân tennis, nhà dành riêng cho khách và một cây cầu nhỏ bắc trên bờ biển. Thú vui của TT Bush là câu cá, đánh golf, lái cano và cầu nguyện trong thánh đường.

Nhưng tệ nhất là cựu TT Bill Clinton. Khi còn tại chức thống đốc Arkansas và TT thì sống trong công thự. Năm 2001 về hưu sống tại ngôi nhà trị giá 1,7 triệu USD tại thành phố Chappaquq tiểu bang New York. Nhà này xây từ năm 1889 có 5 phòng ngủ, 4 phòng tắm, hồ bơi và chuồng ngựa.. Tháng 2-2001 vụ bê bối của Clinton bị bật mí và được báo chí khai thác tùm lum. Thế là bà vợ nổi tam bành, đã quăng hết đồ đạc và đuổi cựu tổng thống hào hoa ra khỏi nhà. Năm 2008 bà Clinton ra ứng cử tổng thống nên hai vợ chồng lại làm lành như trước.

Du hành nước Mỹ, trước hết phải nói tới chốn thần tiên cực lạc không đâu bằng. Ðó là đảo quốc Hạ Uy Di, tiểu bang thứ 50 của Hiệp Chủng Quốc từ năm 1959. Ða số người Mỹ hay du khách ngoại quốc đều ao ước tới Honolulu để nghĩ hè, tắm biển hay hưởng tuần trăng mật, cho dù đây là địa phương có giá sinh hoạt đắt đỏ nhất nước. Tới Honolulu để thăm lại di tích lịch sử về trận hải chiến giữa Mỹ-Nhật ngày 7-12-1941 tại Pearl Harbor mà xác của chiến hạm Arizona vẫn còn nằm yên trong vùng biển Thái Bình Dương, như là nhân chứng của thảm họa chiến tranh, qua cái chết của gần 4000 chiến sĩ đã hy sinh vì nước. Người Việt tị nạn Việt Cộng đã có mặt tại đảo quốc sau tháng 5-1975 khi VNCH bị sụp đổ. Ða số sống bằng nghề lái taxi, làm công nhân khách sạn và buôn bán đủ ngành. Ở đây dời sống thật giản dị hiền hòa, du khách lẫn ngưởi bản địa ai cũng thoải mái trong cách ăn mặc, theo truyền thống Hawaii.

Tháng bảy ở California hình như mặt trời không muốn lặn. Thủ đô điện ảnh Mỹ Hollywood cho tới đầu thế kỷ XXI vẫn nguyên vẹn với nét lập dị thời thượng. Ðó là sự hiện diện của khu rừng trồng toàn một loại cây có gai tên Holly và khắp via hè dọc theo đại lộ Hoàng Hôn, đâu đâu cũng khắc đầy những ngôi sao năm cánh mang tên tuổi của những tài danh nổi tiếng trên màn bạc, sân khấu hay các đạo diễn phim trường. Los Angeles nay là thành phố lớn thứ nhì của Mỹ sau New York. Thành phố nổi tiếng với các vùng phụ cận như Hollywood, Beverly Hill, Chinese Theatre.. và nhất là khu giải trí lừng danh Disneyland, vương quốc của vua phim hoạt hình Walt Disney với nhiều khu giải trí riêng biệt dành cho mọi lứa tuổi.

San Jose là một thành phố nhỏ có nhiều người Việt trú ngụ. Vùng này khí hậu gần giống như Ðà Lạt tạo nên nếp sống thanh bình êm ả nên ai cũng thích, tuy rằng sinh hoạt không náo nhiệt như thủ đô của người Việt ở Little Sài Gòn, miền nam Cali nắng ấm. Kế cạnh San Jose là thành phố San Francisco có hơn 8 triệu dân, nổi tiếng với biển sạch và xanh mát, nơi đã bảo thủ được những chiếc tàu điện của hơn trăm năm trước, chạy bằng dây cáp và đường ray, lại có tiếng chuông khua leng keng mỗi khi tới một nhà ga nào đó

California còn là vùng đất học, vì trong tổng số 12 viện đại học danh tiếng nhất hoàn cầu, thì Hoa Kỳ đã chiếm 8, trong số này có hai của Tiểu bang Cali. Ðiều này cũng dể hiểu vì miền đất này đông dân nhất Hợp Chũng Quốc, với hơn 30 triệu người sinh sống tại đây, lại có một nền kinh tế cao và sung túc, cho nên hệ thống giáo dục được phát triển mạnh nhất nước. Ðó là hai dại học công lập Universite of Calif-Berkeley, thường được viết tắt là UC Berkeley, cùng với đại học tư Stanford, cả hai đều lớn mạnh. Hiện nay UC Berkeley có tới 1500 giáo sư giảng dạy và 30.000 sinh viên + nghiên cứu sinh đang theo học. Tường thành lập từ năm 1868, qua thời gian đã tạo được một bề dầy thành tích, qua hai lãnh vực trí thức và chuyên nghiệp, nhát là sự nghiên cứu khoa học, đã mang về cho trường các giải Nobel danh tiếng về Nguyên tử và tin học.

UC Berkeley còn có lò phản ứng nguyên tử, do chính tiến sĩ J.R.Oppenheimer thực hiện, vì ông chính là cha dẻ cuả quả bom đầu tiên mà Mỹ chế tạo được vào năm 1945. Calif còn có 8 viện đại học khác, cùng có trình độ và tầm vóc ngang hàng với UC Berkeley, họp thành University of Calif (UC ) công lập, do một hội đồng quản trị và điều hành (Regent), đứng đầu là một chủ tịch và nhiều thành viên, trong đó có Thống đốc tiểu bang, cùng với các viện trưởng đại học liên hệ. UC đào tạo đủ trình độ như cử nhân ( Bachelor ố 4 năm), cao học (Master), tiến sĩ (Doctor).. có giá trị văn bằng, chẳng những tại Mỹ mà còn khắp thế giới. Ðiều này đối với các đại học khác tại Calif như UC San Diego, UC Los Angeles, UC Riverside, UC San Francisco, .. cũng không có gì khác biệt, tuy mỗi trường có riêng chuyên môn của mình.

Song song hệ thống đại học công lập của liên bang, còn có hệ thống đại học của tiểu bang Calif (CSU), rãi rác từ nam lên bắc có 23 viện như Humbold, Hayward, Stanislaus, Monrerey Bay, San Diego.. chỉ đào tạo hai ngãch cử nhân và cao học mà thôi, tuy rằng trình độ giảng dạy, giữa hai viên đại học liên bang (UC) và tiểu bang (USC) đều giống nhau. Còn phải kể tới các đại học chuyên môn (College) và cộng đồng (Community College), đều thuộc hệ thống công lập hạng ba.

Trong khi đó các đại học tư nhân được phát triển tự do, bao gồm 30 đại học hổn hợp (University) và Chuyên môn (College), trong số này có 10 trường của các giáo hội Thiên Chúa, Tin Lành và Thanh Giáo như đại học Sacramento, Los Angeles, đại học quốc tế.. nhưng nổi tiếng nhất của hệ thống này, vẫn là đại học Stanford. Viện thành lập năm 1891, hiện có 1400 giảng sư , 14000 sinh viên, 7 phân khoa, được xếp hạng trong 5 viện đại học danh tiếng nhất của nước Mỹ : Harvard, Berkeley, Cal Tech và Massachusetts Institute of Technology (MIT). Viện chuyên đào tạo giáo sư các ngành , giảng dạy tại các trường phổ thông của Mỹ. Tóm lại,trong hệ thống đại học tại tiểu bang Calif, 90% sinh viên là người địa phương, số còn lại từ các tiểu bang khác và ngoại quốc. Người gốc Châu Á theo học chưa tới 3% nhưng chiếm 8% là sinh viên giỏi, trong số này đứng đầu vẫn là người Việt tị nạn, Trung Hoa, Nhât Bản và Nam Hàn.

Về hướng đông Cali là thành phố Las Vagas mệnh danh khắp thế giới ‘ kinh đô của thần đổ bác’. Las Vagas chỉ mới chuyển mình chừng 30 năm trở lại, từ một thị trấn hoang vu nằm giữa sa mạc Nevada cằn khô gíó cháy, chỉ có đá sỏi và tơ trời. Thế mà mà qua bàn tay xây dựng của con người, ngày nay Las Vegas là kinh đô của cờ bạc, giải trí mọi vấn đề tuỳ theo túi tiền ném qua cửa sổ để thử thời vận, sau những ngày làm việc vất vả.

Kế Nevada là tiểu bang Wyoming nổi tiếng với khu bảo tồn đầu tiên của nước Mỹ được thành lập từ năm 1906. Tại đây có ngọn Black Hill với hai hang lớn là ‘ Hang Gió và Hang Ðá Quý’, nhiều mõ vàng nên đã thu hút rất nhiều người khắp nước Mỹ tới đây tìm cơ hội ‘ đổi đời ‘ mà cao điểm là năm 1880. Xa hơn một chút là ngọn núi Tháp Quỷ với huyền thoại về một kho tàng trong lòng núi.

Nằm trong trung tâm khu bảo tồn, núi Ðá Quỷ có hình dáng giống như một gốc cây mục khổng lồ đứng giữa vùng thung lũng sông Bella Fourche. Ðây là một ngọn núi lửa kỳ dị, đã xuất hiện cách đây hơn 100 triệu năm, do khoáng chất phonolite porphyry màu xám đỏ, hòa với đá lửa, pha lê và và đá felspar tạo thành. Vì trải qua thời gian dài bị mưa gió xâm thực nên núi càng ngày càng thấp dần.

Từ xưa địa phương đã xem ngọn núi Tháp Quỹ như một chốn thiêng liêng nên không ai dám léo hánh tới. Tình trạng này đến ngày 4-7-1893 mới có hai người chủ trang trại kế cận tên William Roger và Willard Ripley dùng thang leo lên đỉnh núi và trở thành người đầu tiên chinh phục ngọn núi này. Sau đó nhiều người tới leo núi bằng dây thừng càng lúc càng đông suốt năm, ngoại trừ tháng 6 có lễ hội cúng thần núi.

Theo huyền thoại từ ngàn năm trước, thì trong lòng núi có chứa một kho báu vô giá. Ðối với bộ tộc người da đỏ Kiowa sống gần núi, thường hay nhắc tới câu chuyện bảy cô gái vào rừng hái nấm thì gặp phải đàn gấu săn đuổi. Cuối cùng họ leo lên một hòn đá gần đấy và cầu nguyện thần núi giúp đở mới thoát được tai nạn và biến thành những ngôi sao. Bởi vậy núi mới có tên là ‘ Túp lều của gấu (Bear Lodge) ‘.Về chuyện kho báu cũng phát xuất từ câu chuyện ba người da đỏ từ xa đến đây săn bắn vì không để ý nên lạc đường vào tận chân núi Quỷ . Do đó họ đã vô tình phát hiện được một lối đi ngoằn nghèo dẩn sâu vào một hang động chứa đầy xác người. Cuối hang là một hồ nước mà xung quanh đầy đá và vàng. Ba người trên thu nhặt một phần số vàng và đem dấu kín cho đến khi qua đời mới thố lộ cho những người khác trong bộ tộc. Tuy nhiên vì lòng mê tín sợ thần núi nên cũng chẳng ai dám đá động đến kho vàng trong hang núi Quỷ.

Khi người da trắng đến đây biết được câu chuyện về kho vàng trong lòng núi, đã nhiều lần tổ chức tìm kiếm nhưng không thấy gì và bí ẩn về kho báu trên tới nay vẫn còn là nan đề kể cả khoa học cũng không giải thích được.

Về thành phố Dallas của Tiểu bang Texas để chiêm ngưởng một công trình vĩ đại vô tiền khoáng hậu lớn nhất thế giới của Ðiêu khắc gia kiêm họa sĩ nổi tiếng Robert Summers, sinh năm 1940 tại thị trấn Glen Rose.. Ai cũng biết tiểu bang Texas giàu có hôm nay nhờ hai nguồn lợi ‘ Bò và Dầu Hoả ‘.Bởi vậy không ai ngạc nhiên khi đến thăm Khu Công Viên Quốc Gia Pioneer Plaza rộng chừng 4,2 mẫu Anh, tại trung tâm thành phố, đối diện với Tòa thị chính. Nơi này về trước là vùng đất mang tên Shawnee Cattle Trail là một con đường qua lại của các chàng Cao Bồi Texas và đàn bò của họ từ khi người da trắng đến khai thác miền viễn tây vào năm 1854. Trong công viên có tất cả 39 con bò đúc bằng đồng đen sẩm to lớn như thật. Ngoài ra còn có tượng các chàng chăn bò đang phi ngựa với đầy đủ nón rộng vành, súng đạn, dây nhợ .. mà ta thường thấy trên màn ảnh.

Dallas cũng là nơi mà TT John F Kennedy đã bị ám sát vào tháng 11-1963 tại Dealey Plaza, nơi chốn đã đi vào những trang sử cận đại của Hoa Kỳ. Tháng 6-2008 vừa qua, tiểu bang Texas càng nổi tiếng hơn khi hàng ngàn người Việt Tị Nạn Việt Cộng đã biểu tình phản đối tẩy chay và tố cáo tội ác của tên Việt gian Nguyễn tấn Dũng và đồng bọn khi mon men tới nơi này để tiếp tục lường bịp người và dư luận, hầu tiếp tục duy trì dảng cướp Mafia đỏ đang đô hộ đất nước và dân tộc Việt.

Trước năm 1974, New York có Tòa nhà cao nhất thế giới. Ðó là Empire State Building với 102 tầng, cao 443m, nằm trên Ðại lộ thứ 5 , giữa khu thương mai Manhattan. Ðược hoàn thành bởi các kiến trúc sư Shreve, Lamb và Harnon, thiết kế theo kiểu cách Art-Déco năm 1930. Những bộ phim ghê rợn loại King Kong được thực hiện tại đây.

Từ sau khi Hai Tháp của Tòa Nhà World Trade Center bị 19 tên khủng bố Hồi giáo cực đoan dánh bom tự sát bằng máy bay, vào ngày 11-9-2001, làm chết gần 7000 người và sụp đổ toàn diện, thì Empire State Building lại trở thành tòa nhà cao nhất nước Mỹ. Ðây là nơi thu hút du khách trong và ngoài nước, khi tới thăm viếng thủ đô tài chánh vủa Hoa Kỳ, với những cảm giác mạnh , khi đứng trên hai đài quan sát tại tầng số 86 và 102., với hệ thống thang máy chuyển động rất nhanh. Ðài quan sát có song sắt bảo vệ ở phía ngoài,để tránh những tai nạn đáng tiếc. Nơi này cũng cấm hôn hít với lý do là nụ hôn sẽ tạo nên hiện tượng điện giật làm chết người. Từ đây du khach có thể chiêm ngưởng được toàn cảnh thành phố, trong phạm vi 120 km khi trời tốt, bằng không từ trên nhìn xuống chỉ thấy mây trắng mịt mùng, khói sương lãng đảng, khiến cho ta có cải cảm giác như đang sống trong ở cõi trên, quên đời quên tất cả.

Theo thống kê, tính từ ngày được khánh thành vào năm 1931 tới nay, đã có hơn 80 triệu du khách tới thăm viếng tòa nhà nổi tiếng này, được xếp vào kỳ quan thứ 8 của thế giới,tốn hết 60.000 tấn thép, 1860 bậc thang dẫn từ dưới đất lên tới đỉnh ở tầng 102, hơn 5000 km đường dây điện thoại, 96 km đường ống dẫn nước và 6500 cửa kính, được lau chùi thường xuyên.

New York có Rockerfeller Center , gồm 19 tòa cao ốc của tỷ phú Rockerfeler chuyên về thương mại, giải trí và buôn bán bất động sản. Ở đây còn có Viện Bảo Tàng Guggenheim là công trình xây dựng của Kiến trúc sư nổi tiếng nhất nước Mỹ và thế giới là Frank Lloyd Wright. Còn có Trung tâm tài chánh chứng khoán thế giới Wall Street, nằm trong một dãy phố hẹp, cổ kính New York Stock Exchange (Thị trường chứng khoán NY), được hình thành từ năm 1792, từ 24 Hội viên lên tới 1300 ngày nay. Trên Ðại lộ Broadway náo nhiêt, còn có Trung tâm kịch nghệ nỗi tiếng, thường trình diễn những tác phẩm nổi tiếng của thế giới. Trụ sở Liên Hiệp Quốc một trong những điểm thăm viếng của du khach, nay cũng được hạn chế tối đa để đề phòng khủng bố , sau ngày 9-11-2001

Nhưng niềm tự hào của người dân New York nói riêng và nước Mỹ, vẫn là Tượng Nữ Thần Tự Do, tay cầm ngọn đuốc sáng, để soi đường dẫn lối , cho các đoàn tàu vượt Ðại Tây Dương vào Hải Cảng New York.

Ðây là một trong những biểu tượng vĩ đại nhất của nước Mỹ, được đặt trên Ðảo Bedloe còn gọi là Liberty Island, bên bờ biển New York. Tượng tượng trưng cho sự tự do, liêm chính và lòng nhân ái của người Mỹ khi lập quốc. Với chiều cao từ nền tới bó đuốc là 92,97m và trọng lượng 325 tấn, do Ðiêu khắc gia lừng danh người Pháp trong thế kỷ XIX là Augusste Bartholdiv thực hiện. Ðây là món quà quý giá của nước Pháp , tặng cho người dân Mỹ, , để kỷ niệm Ngày Ðộc Lập Hoa Kỳ 4-7. Nhưng vì lúc đó Pháp đang có chiến tranh với Phổ, nên phải giao việc thực hiện tượng cho các hội từ thiện đãm trách.

Vì công trình quá vĩ đại mà ngân khoản của chính phủ trợ cấp có giới hạn, nên công tác phải gián đoạn nhiều lần cũng như mất nhiều thời ginn để tiết kiệm tiền.Vì vậy tới ngày 12-8-1876 chỉ mới hoàn thành xong cánh tay cầm ngọn đuốc của Nữ thần. Ðể tranh thủ thời gian cho kịp, nhà điêu khắc phải đóng thùng gửi trước sang Mỹ, trong lúc tiếp tục những phần còn lại, mãi cho tới tháng 5-1884 mới xong.

Tại Mỹ, dân chúng đã quyên góp được 250.000 USD để xây chiệc bệ đặt Tượng Nữ thần trên đảo Bedloe. Một buổi lễ trọng thể được tổ chức ngày 28-10-1886, để khánh thành pho tượng với sự tham sự đông đảo của đồng bào và các quan chức Chính phủ. Dịp này Ủy Ban Quốc Hội đã để một chiếc hộp màu đỏ, tượng trưng cho niềm tin, được niêm kín, trong đó có Bản Hến Pháp và Tuyên Ngôn Ðộc Lập của Hoa Kỳ, dưới chân Nữ Thần Tự Do, như một nhân chứng lịch sử. Tên tuổi của Nhà Ðiêu khắc Pháp ‘ Auguste Bartholdiv được vinh danh. Từ năm 1931, Tượng lại được bảo trì cẩn mật và tô bồi thêm cho xứng đáng với ý nghĩa thiêng liêng. Riêng Bó đuốc trong tay Nử thần, luôn luôn cháy sáng, nhờ một hệ thống ống dẫn dầu cung cấp liên tục.

Hằng năm Tượng Nữ thần đã thu hút du khách muôn phương tới đây chiêm ngưởng. Ði tàu từ đất liền ra đảo và sắp hàng để được thang máy đưa lên tận Vương Miện của Tượng, tha hồ chụp hình, ngắm cảnh. Nếu không muốn chờ đợi, thì tự leo 22 bậc thang để tới chân tượng Nữ thần, để mua những kỷ vật hay vào thăm khu bảo tàng trưng bày những hình ảnh liên hệ tới lịch sử của nước Mỹ.

Mừng ngày Ðộc Lập Hoa Kỳ 4 tháng 7 năm nay, cũng như nghiêng mình biết ơn Các đấng Tiền Nhân đã xả thân vì nước, xin có bài thơ gởi tới bạn bè :

Xuân như đã cùng ta đang trẩy hội
Ngày vui chung trên xứ đẹp quê xa
Cõi thần tiên mật ngọt chảy muôn nhà
Làm ai cũng tưởng đầu thai trở lại

Ta tới đây trong hình hài điên dại
Ðêm hải kinh hốt hoảng những âm thừa
Người săn người đang ngả ngựa chào thua
Người gục trước lưởi lê và mũi súng

Ta tới đây hồn xanh xao chết sửng
Tai vẫn vang tiếng chém giết kêu gào
Mắt vẫn đầy khẩu hiệu máu đỏ au
Ðèn phố thị ngỡ hỏa châu rợp sáng

Ta tới đây phận hèn đời tị nạn
Giải khăn sô theo lệ hận chan hòa
Khóc đồng bào gục chết giữa rừng xa
Thương đồng đội phơi thây nơi tù ngục

Ta đến đây cổi già thân gổ mục
Làm lá xanh vàng trước tuổi niên thì
Ngực căng đầy những vết tích âm ty
Da vẫn mặn miền đất quê biển gió

Ta đến đây trong hành trang nổi nhớ
Mang theo em, xóm nhỏ với sân trường
Con sông buồn, lầu nước, cõi quê hương
Và bãi vắng bờ hoang dăm mái rạ

Ta đến đây hồn Việt Nam tơi tả
Bởi hoan hô đã đảo hận miên trường
Bao chục năm non nước ngập máu xương
Nay vẫn đó, nổi nhục hờn huyết hận

Ta đến đây với hai bàn tay trắng
Nhưng không quên những lối bước chân đời
Tết Mậu Thân thây co quắp muôn nơi
Trời Ðại lộ kinh hoàng mùi tử khí

Ta đến đây làm tên hèn mọi Mỹ
Nên bâng quơ say tỉnh khắp hiên người
Bỏ nhà đi vừa tuối chớm bốn mươi
Nay bạc tóc vẫn đầu đường xó chợ

Ngày Ðộc Lập làm ta thêm bở ngỡ
Nhớ quê xa thương nấm mộ mẹ hiền
Xót nồi người trong đói lạnh triền miên
Chuyện buồn kể chắc không ai còn nhớ ..

Xóm Cồn Ha Uy Di
Tháng 7-2008
Mường Giang

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Bên bờ vực thảm họa, Việt Nam cần một Minh Trị
Tác giả: Võ Thị Hảo


Tôi là con dân nước Việt. Tôi và đồng bào tôi cần một "Minh Trị".

Cần một sự lựa chọn đúng. Ngay lập tức . Vì đã quá muộn.

Đã phải trả giá quá nhiều.

Đừng để trái tim chúng ta phải thoi thóp quá lâu và cứ phải lịm chết đi để thương khóc những Thời cơ Vàng bị ám sát bởi những bàn tay ích kỷ và bảo thủ.

Tôi mơ đến ngày một kẻ con dân nước Việt như tôi thoát khỏi thân phận một nước nghèo nàn và lạc hậu. Thoát khỏi việc phải là con dân của một nước bị nhiều người trên thế giới coi là một nước độc tài và thường niên bị đưa ra bàn luận như một trong những nước mất nhân quyền và nhân quyền và tự do ngôn luận.

Tôi mơ ước không phải rơi nước mắt vì liên tục để mất những Thời cơ Vàng. Vâng. Luận về Thời cơ Vàng, một con dân của nước tôi đã nói: đất nước chưa nắm được Thời cơ Vàng. Mà chỉ có bọn tham nhũng nắm được Thời cơ Vàng mà thôi.

Thật nhục nhã, khi mà ngày ngày tôi phải sống dưới sự bẩn thỉu của đám tham nhũng. Ra đường gặp tham nhũng và lưu manh. Và để đối phí với sự lưu manh, những người dân thấp cổ bé họng cũng phải bị lưu manh hóa. Và lưu manh hóa toàn thể là một điều hết sức khó cưỡng nổi.

Tôi đã nỗ lực rất nhiều. Nhiều con dân nước Việt còn nỗ lực hơn tôi. Những giọt mồ hôi nước mắt và cả máu rơi quá nhiều trên đất Việt. Mà sao chúng ta cứ phải khổ mãi. Những hy vọng khấp khởi về cải cách, đổi mới, về Thời cơ Vàng, cứ phập phù thoi thót trong lồng ngực con dân Việt. Đập khắc khoải như một trái tim chỉ còn thoi thóp. Dội lên. Rộn ràng vài tiếng khi niềm hy vọng đến. Rồi lại lịm đi, khi thấy những hy vọng của mình và những lời cam kết bị bội phản một cách trắng trợn.

Và bây giờ, trước khủng hoảng , mà nếu không có biện pháp cấp bách cứu, thì bản thân con dân nước Việt đang phải đứng bên bờ vực thảm họa.

Cái nước Việt mang hình một người mẹ già gầy guộc còng lưng ngóng ra biển cả của tôi anh hùng lắm. Nhưng tôi cần một Minh Trị. Bao giờ Việt Nam có một Minh Trị như Nhật bản?

Người Nhật đã khốn khổ suốt hàng trăm năm trong trì trệ và bảo thủ, độc tài. Trước tình hình khủng hoảng, thời điểm giữa thế kỷ XIX, Nhật Bản đứng trước miệng vực thẳm. Họ có thể lựa chọn một trong hai con đường: tiếp tục duy trì chế độ lạc hậu để thế lực thống trị (Mạc phủ) cố sống cố chết giữ quyền lực và bội phản dân chúng, với nguy cơ trở thành một nước thuộc địa hoặc đi theo con đường cải cách đất nước với cơ hội trở thành một cường quốc như các nước phương Tây.

Và may mắn thay cho con dân Nhật, khi vào những năm 1860, một nhóm nhà cải cách thời Minh Trị - đã quyết định từ bỏ vị thế độc tài của mình, tìm đến các quốc gia hàng đầu của phương Tây để học những thành tựu đã giúp phương Tây phát triển vượt bậc. Và chỉ trong ba năm, từ 1866 đến 1869, cuộc Cách mạng Minh Trị, hay còng gọi là Minh Trị Duy Tân, đã tạo được những thay đổi thần kỳ, là nền móng cơ bản nhất đưa Nhật bản trở thành một trong những cường quốc trên thế giới.

Chỉ ba năm thôi, chứ không phải là ba mươi năm, đã có thể đưa một đất nước từ "địa ngục" lên tận "thiên đường" nếu những người lãnh đạo đất nước nghĩ đến dân chúng và có sự lựa chọn đúng. Nếu không, bản thân họ, sẽ là những người phạm tội chống lại dân tộc, đất nước của mình, nếu vì sự tham quyền cố vị, sự ích kỷ, mà lựa chọn sai, cố đeo bám quyền lực, dìm đất nước và con dân mình vào nghèo nàn và lạc hậu

Để minh chứng cho sự thay đổi thần kỳ của sự lựa chọn đúng, là trường hợp Thâm Quyến của Trung quốc.

Thâm Quyến còn là một làng chài nghèo, khi Đặng Tiểu Bình phát động cuộc cải cách kinh tế vào năm 1979.

Từ 1980-2005, dân số của Thâm Quyến đã tăng từ 30.000 lên 11 triệu. Theo thống kê của Hãng tư vấn Enright, Scott & Associates có trụ sở tại Hong Kong, kinh tế Thâm Quyến đã tăng trưởng theo tốc độ bình quân là 28% năm. Nói chung, kinh tế Thâm Quyến đã tăng 126 lần!

Tôi là con dân nước Việt. Tôi và đồng bào tôi cần một "Minh Trị".

Cần một sự lựa chọn đúng. Ngay lập tức . Vì đã quá muộn.

Đã phải trả giá quá nhiều.

Đừng để trái tim chúng ta phải thoi thóp quá lâu và cứ phải lịm chết đi để thương khóc những Thời cơ Vàng bị ám sát bởi những bàn tay ích kỷ và bảo thủ.

Nhà văn Võ Thị Hảo

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Xấu và tệ


Nguyễn Ðạt Thịnh

Trên nấc thang chê bai, người Mỹ có 3 chữ bad (xấu), worse (tệ), và worst (quá tệ), và cũng theo người Mỹ thì ông Robert Mugabe là một nguyên thủ quốc gia Phi Châu xấu.

Cái xấu thứ nhất của Mugabe là ông ta không biết bước xuống ngai vàng tổng thống nước Zimbabwe, mặc dù ông đã ngồi đó suốt 5 nhiệm kỳ, tổng cộng 28 năm, và đã 84 tuổi.

Lãnh tụ đối lập, ông Morgan Tsvangirai, nói, “Mugabe quyết tâm nắm chính quyền cho đến lúc chết, và sau ngày chết vẫn còn ngồi trên ngai tổng thống, ông ta còn muốn nắm giữ quyền chức này cho đảng viên ZANU-PF của ông ta.”

Ngày 29 tháng Ba 2008 Tsvangirai ra ứng cử tranh chức tổng thống của Mugabe, ông được 48% tổng số phiếu, Mugabe được 43%; Mugabe nói sự chênh lệch này chưa đạt được mức đa số tuyệt đối và tổ chức bầu lại vòng thứ nhì.

Lần này, cái xấu thứ nhì của Mugabe là tung bọn xã hội đen đi “hỏi thăm sức khỏe” những cán bộ tranh cử của Tsvangirai, đánh chết 89 người, đáng què tay gẫy chân vài ngàn người khác. Tsvangirai sợ nguy hiểm đến tính mạng vội chạy vào tòa đại sứ Hòa Lan tại Zimbabwe xin tị nạn, và tuyên bố rút tên ra khỏi danh sách ứng cử viên.

Mugabe Tsvangirai

Vòng bầu cử thứ nhì, với Tsvangirai, ứng cử viên đối thủ, không có mặt, tị nạn trong toà đại sứ ngoại quốc, và với cán bộ trong bộ máy tranh cử của Tsvangirai bị tê liệt, Mugabe đắc cử với trên 85% tổng số phiếu hợp lệ.

Cái xấu thứ ba là Mugabe lật đật tổ chức lễ tuyên thệ nhậm chức ngay tại dinh tổng thống và ngay sau cuộc bầu cử vòng nhì; ông triệu dụng chánh án tối cao Godfrey Chidyausiku đến chủ tọa lễ tấn phong tại gia.

Dư luận thế giới ồn ào phản đối. Marwick Khumalo, trưởng đoàn quan sát Phi Châu, gồm 14 quốc gia, nói không ai phủ nhận được việc Mugabe thắng cử bằng bạo lực. Ông khẳng định, “kết quả bầu cử không phản ánh ý muốn của người Zimbabwe.”

Tổng trưởng thể thao của Angola, ông Jose Marcos Barrica, người cầm đầu đoàn quan sát viên 400 người, cũng xác nhận “thời gian tiền bầu cử đầy dẫy những cuộc hành hung, bạo lực, bắt nhốt, đầy biệt xứ, hăm dọa, …”

Phát ngôn viên của đảng đối lập MDC, ông Nelson Chamisa nói với hãng thông tấn Pháp AFP, “Cả cuộc tái bầu cử lẫn lễ tấn phong đều là những trò nỡm, nói lên thế tuyệt vọng của chính phủ Mugabe.”

Việt Cộng cũng đang diễn ra những trò nỡm, nói lên thế tuyệt vọng của chúng, cuộc “Mỹ du không lú ra khỏi phòng khách sạn” của Nguyễn Tấn Dũng, và những cuộc vui đang được tưng bừng tổ chức trong nước, cho giới giầu có thụ hưởng trong lúc dân nghèo sống bằng 1 mỹ kim tiền chợ mỗi ngày cho một gia đình trung bình 4 người.

Trong cuộc Mỹ du này, Dũng tìm đến ông Alan Greenspan, chuyên viên kinh tế tài chính lỗi lạc của Hoa Kỳ để vấn kế, tìm cách giải quyết nạn lạm phát đang tạo bất ổn kinh tế và xã hội tại Việt Nam.

Greenspan bảo Dũng tuyệt đối giảm số tiền tay mặt cho tay trái vay, đưa Ngân hàng Trung ương vào một sinh hoạt đứng đắn hơn, nâng cao khả năng cạnh tranh với các lân quốc bằng năng suất thay vì bằng nhân công rẻ, và mạnh tay siết chặt các tập đoàn kinh tế nhà nước.

Ðiều này có nghĩa là đừng tài trợ quá đáng cho những cơ sở quốc doanh như việc cho công ty đóng tầu Vinashin vay 3 tỉ mỹ kim để mở cơ sở tài chánh, giao dịch chứng khoán, và mở hãng sản xuất rượu bia; cho công ty dầu hỏa Petro Việt Nam, vay hàng tỉ mỹ kim khác để khuyếch trương một trú khu tại Hà Nội dành cho người nước ngoài và người giầu có trong nước, với một khách sạn 5 sao, sang trọng hơn khách sạn Mỹ; hoặc cho công ty điện lực vay một tỉ mỹ kim để phát triển khu nghỉ mát hoành tráng nhất Việt Nam tại một bờ biển.


Tệ hơn chế độ độc tài Mugabe là chế độ Việt Cộng, vì Mugabe sẽ chết trong, hoặc sau nhiệm kỳ thứ 6 làm tổng thống, nhưng chế độ độc đảng Việt Cộng đã ngồi trên lưng người Việt Nam từ 54 năm nay rồi, và chưa ai nhìn thấy ngày chúng bước xuống ngai thống trị.

Và “quá tệ” tệ hơn cả chế độ Việt Cộng là chế độ này mặc áo tư bản, cái áo giúp chúng vay mượn tứ tung, biến tiền công thành tiền tư để tha hồ phung phí, mua máy bay riêng, mua xe hơi trị giá vài trăm ngàn mỹ kim.

Mugabe chỉ bad, Việt Cộng mới thật là worst, không kiếm được thứ gì dị hình, dị hợm hơn.

Nguyễn Ðạt Thịnh

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Sao đi mà không bảo gì nhau?
Tác giả: Nguyễn Xuân Nghĩa

Cầm cân nảy mực là Saudi Arabia

Thế giới đang đứng trước nguy cơ khủng hoảng kinh tế.
Đây không là lời cảnh báo của một ứng viên tranh cử tổng thống Hoa Kỳ. Dù có ba hoa hứa hẹn đến mấy, sau khi dọa nạt cử tri là nếu không bầu cho mình thì thế giới sẽ loạn to, Tổng thống Hoa Kỳ cũng không thể làm ra phép lạ kinh tế. Quyền lực của ông – xin lỗi Hillary và hẹn kỳ sau – bị giới hạn bởi thị trường, Ngân hàng Trung ương và Quốc hội Mỹ.
Image
Thủ tướng Anh Gordon Brown, trái, gặp gỡ Vua Ả Rập Saudi Abdullah Bin Aziz tại Jedah,ngày 22 tháng 6, 2008 bàn về giá dầu. CARL DE SOUZA/GETTY IMAGES
Thế giới đang bị nguy cơ khủng hoảng vì thương phẩm lên giá, nhiều nền kinh tế bị đe dọa suy trầm trong lạm phát. Nhìn trên đại thể, bức tranh toàn cầu có nhiều màu xám hơn màu hồng. Mối lo đáng kể nhất là dầu thô đang ở trên đỉnh cao lịch sử và cổ phiếu Mỹ đã tuột giá 20% để chính thức đi vào chu kỳ suy thoái của thị trường cổ phiếu, gọi là “bear market”.
Nhưng đấy mới chỉ là hai dầu hiệu nổi bật ở trên. Chìm sâu bên dưới là nhiều mối nguy khác của cả thế giới khiến Ngân hàng Thanh toán Quốc tế BIS (một phòng giao hoán của hệ thống ngân hàng toàn cầu) vừa cảnh báo hôm Thứ Hai 30 tháng Sáu, rằng kinh tế thế giới có thể bị suy trầm nặng.
Á châu là một đại lục địa phức tạp có rất nhiều khác biệt, nhưng cùng chia sẻ một chiến lược phát triển là dồn sức mua bán với nhau theo lợi thế tương đối của từng quốc gia. Mà mua bán trong một đại lục bát ngát như vậy là phải có chuyển vận. Từ Thượng Hải tới Singapore cũng xa như từ New York qua London. Khi dầu thô lên giá, mọi tính toán về phí tổn đều đảo lộn và đa số các nước sẽ bị suy trầm trong đà gia tăng vật giá. Trung Quốc là nơi đã có dấu hiệu hụt hơi và mở màn suy trầm trong cảnh vừa đói ăn vừa khát dầu.
Âu châu là nơi mà vật giá vừa được thông báo là đã lên tới 4% tính ra toàn năm. So với mức lạm phát 27% của Việt Nam thì 4% là ước mơ, mà vẫn là tỷ lệ lạm phát cao nhất từ khi Liên hiệp Âu châu thống nhất tiền tệ và lập ra Ngân hàng Trung ương Âu châu. Đã thế, thị trường gia cư Âu châu bắt đầu suy sụp và khủng hoảng tín dụng loại thứ cấp (sub-prime) đang là mối lo mới, còn nặng nề hơn vụ khủng hoảng tại Mỹ.
Và dù dân chúng Hoa Kỳ đang lo sốt vó về chuyện xăng dầu và nhà cửa, tình hình kinh tế tại Mỹ vẫn là... ít tệ nhất trong ba khối kinh tế đầu máy của thế giới, là Mỹ, Nhật, Âu. Nhưng, nghịch lý ở đây là sự chuyển vận nghịch chiều giữa hai khối kinh tế ở hai bờ Đại tây dương.
Hệ thống Ngân hàng Trung ương Mỹ là định chế độc lập, có chức năng được quy định khá rộng rãi là đảm bảo ổn định vật giá để thúc đẩy tăng trưởng. Vì độc lập, Hội đồng Dự trữ Liên bang ít bị chính trị chi phối dù là trong một năm tranh cử. Vì có trách nhiệm rộng lớn, định chế này toàn quyền quyết định về ưu tiên, là ngừa lạm phát hay đẩy mạnh tăng trưởng sản xuất. Từ năm ngoái tới nay, Ngân hàng Trung ương Mỹ đã liên tục giảm lãi suất và chỉ ngừng tay vào phiên họp tuần qua của Ủy ban Tiền tệ FOMC.
Ngược lại, Ngân hàng Trung ương Âu châu, gọi tắt là ECB, chỉ có một nhiệm vụ là kiểm soát vật giá – cho tới khi có thay đổi hiến định – mà lại phải đạt được quan điểm thống nhất của 15 quốc gia hội viên. Với lạm phát đã lên tới 4%, ECB phải tập trung vào mục tiêu kiểm soát vật giá nên nhiều phần phải tăng lãi suất bất kể tới phí tổn. Mà phí tổn đáng sợ nhất hiện nay là dầu thô đã vượt giá 142 đồng một thùng!
Chúng ta nhìn lại toàn cảnh Âu-Mỹ thì thấy ra sự xoay chuyển ngược chiều của nay mai:
Khi lãi suất tăng tại Âu châu, đồng Euro sẽ lên giá và ngược lại, đô la mất giá so với tiển Âu. Mỹ kim mà tuột giá thì xăng dầu càng lên giá và càng đẩy thêm lạm phát vì phí tổn. Mà hai định chế tiền tệ của hai khối Âu Mỹ lại theo đuổi mục tiêu trái ngược và khó phối hợp được một chánh sách thống nhất. Hãy nghĩ đến hai bánh xe nằm ngang là kinh tế Nhật Bản và Trung Quốc, và hai bánh xe xoay vần trái chiều là kinh tế Hoa Kỳ và Âu châu!
Khi ấy, không còn ai có thể ra tay nghĩa hiệp để kéo kinh tế toàn cầu ra khỏi kịch bản u ám của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế BIS.
Từ rất xa, một quốc gia đang theo dõi việc đó vì nhớ lại chuyện xưa.
Chuyện xưa là tháng Bảy năm 1997, khủng hoảng hối đoái bất ngờ bùng nổ tại Thái Lan, lây lan thành khủng hoảng kinh tế Đông Nam Á rồi Đông Bắc Á và gây khủng hoảng cho Liên bang Nga rồi Brazil rồi dội về Hoa Kỳ. Kinh tế Đông Á bị suy trầm vì khủng hoảng, số cầu về dầu thô giảm mất 10%, nhưng giá dầu vì đó đã sụt tới 75%, xuống tới 10 đô la một thùng, làm các nước bán dầu bị méo mặt. Khi ấy, các nước trong Hiệp hội OPEC chỉ mơ ước là dầu thô lên giá trong khoảng 18 tới 22 đồng một thùng là mãn nguyện!
Hiệp hội OPEC tất nhiên nhớ tới kinh nghiệm đó, và cũng không quên rằng các xứ Á Rập đã từng dùng dầu thô làm võ khi khi phong toả việc cung cấp vào các năm 1972-1973. Hậu quả là xang dầu lên giá làm kinh tế thế giới suy trầm và thúc giục các nước tiêu thụ của Tây phương đẩy mạnh kỹ thuật khai thác hầu nâng cao sản lượng và hiệu năng tiêu thụ.
Bây giờ, vì nạn dầu thô lên giá, lần đầu tiên kể từ 1980 đến nay, đa số dân Mỹ ủng hộ việc nâng số cung bằng cách cho đào thêm dầu trong lãnh thổ và lãnh hải Hoa Kỳ và nơi nơi đều nói tới việc tìm kiếm các nguồn năng lượng điền thế. Đồng thời, các nước bán dầu đều được biết, trước tiên, là số cầu về dầu khí trên thế giới đã bắt đầu giảm….
Viễn ảnh số cầu sút giảm sẽ kéo giá dầu xuống thật thấp là một chuyện không vui cho các nước hội viên OPEC, trong đó, có trữ lượng cao nhất và sức bán mạnh nhất là Saudi Arabia.

Việc dầu thô lên giá khi mà cả thế giới khắc khoải là mối lợi trước mắt của Hoàng gia Saudi, nhưng sẽ là mối họa lâu dài nếu họ già néo đứt dây! Một là kinh tế suy trầm sẽ đánh sụt giá dầu như chuyện 1999, hai là trong lâu dài hơn, dầu thô lên giá quá cao và quá lâu thì sẽ được thay thế bằng nguồn năng lượng khác. Đỉnh cao có thể dẫn tới gãy đổ là từ 140 tới 150 đồng một thùng, tức là hiện tại (xin xem bài “Hý trường của Dầu khí” trên cột báo này, số ra ngày 30 tháng Năm, 2008).
Trong ngần ấy quốc gia xuất cảng, Saudi Arabia là nước duy nhất có thể mở ống khoá và bơm thêm dầu cho thị trường. Hôm 22 vừa rồi, họ đã thông báo việc đó để khỏi bị thiên hạ cằn nhằn. Nhưng, nói rồi có làm hay không?
Nhiều phần là có, vì Saudi Arabia ở vào tư thế hiếm hoi là có thể cứu giúp Âu châu, đồng thời bảo vệ được quyền lợi lâu dài của mình. Saudi mà nhúc nhích thì giá dầu sẽ giảm và càng giảm mạnh khi các nhà đầu tư trên thị trường thương phẩm phải bán tháo để khỏi lỗ. Cho nên, giữa hai hướng xoay trở trái ngược của Ngân hàng Trung Ương Hoa Kỳ và Âu châu khiến Âu châu đang như tắc thở, Saudi Arabia lại cầm hòn cân.

Hãy chờ xem Saudi sẽ nghiêng về hướng nào… và bao giờ cơn sốt dầu thô sẽ thuyên giảm. (NXN)

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Syria “sẽ đoạn giao với Iran” nếu được sự hỗ trợ của Hoa Kỳ.
Tác giả: Carolynne Wheeler, Khúc Hạ lược dịch



Syria sẵn sàng cắt đứt mối thâm tình với Iran nếu Hoa Kỳ bằng lòng hỗ trợ quốc gia này về mặt quân sự và tài chánh, một cựu viên chức ngoại giao của Israeli liên quan đến những cuộc thương thuyết hòa bình không chính thức đã cho tờ báo Sunday Telegrap biết điều này.


Theo viên chức này, một người đã từng tham gia nhiều cuộc thảo luận kín đáo với các đại diện của Syrian trong nhiều tháng qua, thì Tổng Thống Syria, ông Bashar Assad ngày càng sẵn sàng cho một thỏa thuận có thể làm suy yếu đi ảnh hưởng của người Iran trong vùng.


Ông Liel Alon, một cựu giám đốc của bộ ngoại giao Israel nói rằng viễn ảnh của một thỏa ước hòa bình ngày càng rõ nét, tuy nhiên, có thể phải đợi sau khi Hoa Kỳ có một Tổng Thống mới thì thỏa thuận mới được hoàn tất.

Những hỗ trợ của Syria cho các nhóm quá khích như Palestinian Hamas và Lebanese Hizbollar, cũng được hỗ trợ bởi Iran, đã đóng một phần lớn trong việc tạo nên những bất ổn tại Trung Đông…

Syria "Would Break Links With Iran" If America Steps In To Help It


The Telegraph | July 6, 2008 | By Carolynne Wheeler


Syria is ready to break off its close links with Iran if America gives it financial and military backing, a former Israeli diplomat involved in unofficial peace talks has revealed to The Sunday Telegraph.




According to the offical, who has been engaged in low-key "second track" discussions with Syrian representatives for many months, Syria's President Bashar Assad is increasingly open to a deal which would greatly weaken Iranian influence in the region.

Alon Liel, a former director of Israel's foreign ministry, said the prospect of a peace agreement with Syria was growing, though it might require a new American president before a deal could be agreed. Syria's support for radical groups including Palestinian Hamas and Lebanese Hizbollah, both also backed by Iran, has played a large part in fomenting trouble in the Middle East...

Post Reply