Đại hội Thanh niên Công giáo Thế giới: Phạt thật nặng trangdenonline
Chính phủ New South Wales ra luật mới, theo đó những kẻ quấy phá Đại hội Thanh niên Công giáo Thế giới sẽ bọ phạt tới 5,500 Uùc kim. Trong khi đó thì cảnh sát được ban thêm những quyền hạn đặt biệt để gìn giữ trật tự cho đại hội, như trong tình thế khẩn cấp.
Phát biểu hôm thứ Ba, Thủ hiến Morris Iemma cho biết cảnh sát được nhiều quyền hành rộng rãi hơn để ngăn chận sự phá hoại của những người chống đối và phá phách. Luật mới này được công bố hôm thứ Ba làm dấy lên những lời tranh cãi. Các nhóm cấp tiến chê trách giáo hội và Ban tổ chức đại hội đã “đi đêm” với chính quyền NSW, điều mà giáo hội cực lực bác bỏ. Người ta cũng chỉ trích ông Iemma, một tín đồ Công giáo, là ban cho tôn giáo của mình một đặc ân quá lớn.
Một trong những hình thức quấy rối mà người ta dự trù trước là trò phát áo mưa (condom) cho giới trẻ, như là hình thức phản đối chính sách bảo thủ của Vatican về ngừa thai. Nếu ai dở trò này trong ngày đại hội họ có thể sẽ bị bắt và có thể bị phạt số tiền nói trên,
Hiện tại các tổ chức chống Giáo hội Vatican đã thành lập “Liên minh nói không với Giáo Hoàng”, gọi là “NoToPope Coalition” để tổ chức biểu tình chống Giáo hoàng. Các thành viên của liên minh này lo ngại rằng một vài việc chống đối bình thường như mang chiếc áo thun có khẩu hiệu bị coi là chống Công giáo cũng có thể bị đối phó bởi luật mới.
Phát ngôn viên của NoToPope, cô Rachel Evans, nói liên minh của cô đang xem xét các khía cạnh pháp lý của luật mới dành cho cảnh sát tuy nhiên nhóm của cô vẫn tiến hành chương trình biểu tình tại trung tâm CBD của Sydney vào ngày 19.7 kể cả việc phân phát áo mưa ngừa thai cho những người hành hương Đại hội Giới trẻ Thế giới.
Cô Evans tỏ ý hy vọng là cảnh sát sẽ để nhóm của cô phân phát áo mưa cho giới trẻ và trò chuyện với họ về đề tài nhân quyền, bởi nhóm của cô không phải là nhóm chống tôn giáo.
Trong khi đó Luật sư Anna Katzmann cho rằng không cần thiết phải đưa ra luật như thế. Theo bà thì một người đang mặc cái T-shirt” in khẩu hiệu chống đối “Tổ chức Đại hội Thanh niên Thế giới là hành động phí phạm công quỹ” và anh ta không chịu cởi ra khi bị cảnh sát yêu cầu thì theo luật mới họ có thể “phạm một tội hình sự”.
Tuy nhiên Tư lệnh cảnh sát NSW là Andrew Scipione không đồng ý. Theo ông thì nói quyền hạn này chẳng khác các quyền hạn được áp dụng trong các sân vận động hay trong những mít tinh, biểu tình.
Thủ hiến Iemma bác bỏ những cáo buộc về “đặc ân dành cho đạo nhà”. Theo ông thì mọi người có quyền biểu tình chừng nào họ làm trong hòa bình và đúng luật pháp.
Trong khi đó thì những con buôn lanh lẹ thừa cơ kiếm ăn. Giữa lúc các chính khách, luật gia, nhà hoạt động xã hội thì họ lặng lẽ in những cái T-shirt với nội dung chống Công giáo và bán chạy như tôm tươi. Thí dụ tiệm Ban-On T-Shirt ở Bondi Junction đã đăng quảng cáo “Tại đây có bán những T-shirt để phản đối Đại hội Thanh Niên Công giáp Thế giới”.
Chủ nhân cửa tiệm cho rằng Uùc là một nước tự do ngôn luận và có đầu óc hài hước, tiêm ông bán đầy những bức hình chế diễu Chúa, Giáo hoàng và Vatican.
Trách nhiệm của các thế hệ Việt Nam Tác giả: Trần Trung Đạo(Vài suy nghĩ sau khi đọc tiểu luận “Nhà văn Việt Nam: Đổi mới và Hội nhập” của nhà văn Tô Nhuận Vỹ và tự truyện Lạc đường của nhà văn Đào Hiếu)
Tháng 2 năm 2007, trên diễn đàn talawas, tôi có viết một bài để góp ý với ông Võ Văn Kiệt về “hòa giải dân tộc và khép lại quá khứ”. Thời gian ngắn sau đó, tôi nhận một email từ Việt Nam chuyển lời của ông Võ Văn Kiệt, rằng nhiều điểm góp ý của tôi có thể tranh luận nhưng cũng rất nhiều điểm ông thừa nhận là rất có lý. Ông cũng dặn với người đưa tin nếu tôi có dịp về thì đưa tôi đến nhà chơi để trao đổi với ông. Tôi trả lời, cũng qua trung gian người đưa tin, cám ơn ông về việc mời đến nhà nhưng quan trọng hơn tôi mong ông đáp lại những điều tôi đã nêu ra trong bài viết, nhất là những điểm ông cho rằng có thể tranh luận được, và phổ biến rộng rãi cho mọi người cùng đọc. Chuyện đất nước là chuyện chung chứ không phải là chuyện giữa ông và tôi. Các thế hệ Việt Nam mai sau trưởng thành từ những bài học, những kinh nghiệm của các thế hệ đi trước để lại. Không có kinh nghiệm lịch sử nào là nên bỏ qua và không có bài học lịch sử nào mà không đáng học. Có lần tôi đọc đâu đó, ông Võ Văn Kiệt dự tính viết một cuốn sách, tôi rất mừng và âm thầm chờ đợi một tác phẩm hay một hồi ký của ông.
Tôi không kỳ vọng ở hồi ký của ông Võ Văn Kiệt một con số đúng về bao nhiêu sĩ quan công chức chế độ Việt Nam Cộng hòa bị ông và Đảng của ông đày ra các vùng rừng sâu nước độc Tiên Lãnh, Hàm Tân, Hoàng Liên Sơn, Thanh Phong, Thanh Hóa. Tôi không kỳ vọng ở hồi ký của ông một con số bao nhiêu người dân Sài Gòn bị ông và Đảng của ông đuổi đi khắp các vùng kinh tế mới miền Đông, miền Tây Nam Bộ. Tôi không kỳ vọng qua hồi ký ông sẽ công bố đầy đủ danh sách những người bị Ủy ban Quân quản, do ông làm bí thư Đảng ủy đặc biệt, xếp vào thành phần tư sản mại bản; của cải, nhà cửa bị tịch thu, cha mẹ phải vào tù, con cái phải sống lang thang đầu đường cuối chợ. Tôi không kỳ vọng qua hồi ký ông sẽ giải thích nguyên nhân nào khiến hàng triệu người Việt đã bất chấp sóng to gió lớn để vượt biển tìm một con đường sống trong muôn ngàn đường chết. Tôi cũng không kỳ vọng qua hồi ký ông sẽ chính thức xin lỗi cùng nhân dân miền Nam nói riêng và cả nước nói chung, những sai lầm của Đảng do ông trực tiếp lãnh đạo đã gây ra. Và như tôi đã đọc tiểu sử, quá trình đấu tranh của ông và những mất mát của riêng bản thân ông, tôi cũng không nghĩ ông Võ Văn Kiệt sẽ thành lập một đảng hay một cánh đối lập, công khai thách thức vị trí lãnh đạo của Đảng Cộng sản để lót đường cho một cuộc vận động toàn dân, toàn diện nhằm tiến đến một xã hội mới, dân chủ, nhân bản và thịnh vượng như một số người đã bàn tán trước đây.
Ông Võ Văn Kiệt từ năm 1938 cho đến cuối đời vẫn là người cộng sản. Khác chăng so với những lãnh đạo cộng sản cùng thời, ông Võ Văn Kiệt sinh ra từ miền cây trái Vĩnh Long, phần lớn quãng đời đấu tranh của ông cũng từ ruộng đồng, sông nước miền Nam, gần gũi với nhân dân miền Nam và trong những ngày cuối đời nhìn lại đã có lúc chạnh lòng buông những câu nói như những lời an ủi muộn màng, rải rác đó đây trên vài cơ quan ngôn luận, trong những buổi nhậu, dành cho những người đã chịu đựng dưới bàn tay ông.
Dù sao tôi cũng mong ông viết, bởi vì hơn ai hết, ông Võ Văn Kiệt là người có thẩm quyền để viết. Giá trị trong tác phẩm của ông Võ Văn Kiệt không hẳn ở chỗ là sự thật mà là sự kiện, dù được nêu ra để biện hộ cho những sai trái của chính ông. Những Giọt nước trong biển cả của Hoàng Văn Hoan và Hồi ký của một Việt cộng của Trương Như Tảng vẫn có giá trị sự kiện nhất định và là những tác phẩm tham khảo cần thiết cho các sử gia và thế hệ mai sau. Hôm nay, ông Võ Văn Kiệt đã qua đời. Ông ra đi mang theo nhiều chi tiết quan trọng của những năm khó khăn nhất trong lịch sử dân tộc thời cận đại. Phần lớn những lời phân ưu dành cho ông đều chấm dứt bằng câu cầu mong hương linh ông được yên nghỉ, nhưng làm sao hương linh ông có thể yên nghỉ được khi vẫn còn nợ thế gian này một món nợ mà ông chưa trả hết.
Những chịu đựng của dân tộc Việt Nam nói chung và nhân dân miền Nam nói riêng dưới bàn tay ông Võ Văn Kiệt và Đảng của ông trong những năm ngay sau 1975, sẽ mãi mãi sẽ là một vết thương hằn sâu trong lịch sử. Máu và nước mắt của nhân dân miền Nam đổ xuống trong các trại tù, trên các khu kinh tế mới, dọc các vỉa hè Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn đã đóng thành băng trong ký ức của giống nòi. Không ai trách ông Võ Văn Kiệt tại sao bảy mươi năm trước đã tham gia Đảng Cộng sản nhưng chắc chắn các thế hệ Việt Nam mai sau sẽ trách ông đã không có những câu trả lời cho những thảm trạng mà đất nước đã trải qua trong suốt 22 năm dài (1975 - 1997), thời gian ông đã đóng vai trò quan trọng trong chính trị Việt Nam.
Ông Võ Văn Kiệt, giống như hầu hết những người cộng sản trong thế hệ Tân Trào, Pác Bó đã không làm được, đã không trả lời được những câu hỏi của phiên tòa lịch sử, nhưng tôi tin các thế hệ Viêt Nam tham gia Đảng Cộng sản sau ông, thế hệ “chống Mỹ cứu nước”, thế hệ “Tổng công kích Tết Mậu Thân” với một số khá đông vẫn còn đang sống, có thể trả lời và thậm chí phải trả lời trước khi các anh các chị xuôi tay nhắm mắt ra đi.
Điều đáng mừng là trong thời gian qua, một số hồi ký như Tôi bị bắt của nhà thơ Trần Vàng Sao, Tôi bày tỏ của nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự mà tôi đã có dịp góp ý trước đây, tiểu luận “Nhà văn Việt Nam: Đổi mới và Hội nhập” của nhà văn Tô Nhuận Vỹ, hay mới đây tự truyện Lạc đường của nhà văn Đào Hiếu đã nối tiếp nhau ra đời. Các anh viết vì bức xúc cá nhân hay từ nhận thức chính trị không phải là điều quan trọng, điều quan trọng nhất vẫn là viết ra. Tôi tin rằng với chiều hướng Việt Nam đang cố mở rộng các mối quan hệ với nước ngoài, những tấm màn sợ hãi sẽ được vén lên cao hơn, những biên giới cách ngăn sẽ dần dần thu hẹp, trong tương lai sẽ có nhiều tác phẩm như thế nữa.
Tôi vừa đọc hết tự truyện Lạc đường của nhà văn Đào Hiếu. Là một người trong thế hệ trẻ hơn, tôi cảm ơn anh đã kể lại những chặng đường anh đã đi qua, ghi lại những thao thức và trăn trở của anh và thế hệ anh. Ngay cả những việc chúng ta mới làm hôm qua, hôm nay có thể đã không còn đúng nữa và những câu nói mới vừa thoát ra khỏi cửa miệng nhiều khi biết mình nói sai rồi, huống hồ những việc đã làm 40 năm trước. Ai cũng có một thuở hai mươi và ai cũng trải qua một thời tuổi trẻ. Sinh ra và lớn lên trên quê hương chiến tranh, nghèo khó, chịu đựng cái nhục của một nước nhược tiểu bị các nước lớn khinh khi, coi rẻ, câu hỏi làm gì cho đất nước luôn là mối ám ảnh hàng ngày, hàng đêm trong ý thức của những người trẻ biết đau cái đau của đất nước.
Năm 1968, năm cao điểm của cuộc chiến Việt Nam, tôi lớn lên ở gần cửa biển Sơn Chà, quận 3, Đà Nẵng. Buổi chiều tôi thường ngồi trên cồn cát trắng ở xóm Cổ Mân nhìn những đoàn xe chở bom đạn nối đuôi nhau từ cảng Tiên Sa nhập vào các kho quân sự chung quanh thành phố để từ đó đi vào cuộc chiến. Tôi thầm nghĩ những bom đạn kia nay mai đây sẽ rơi xuống ở một nơi nào đó trên quê hương tôi. Đêm đêm trên đường Bạch Đằng dọc bờ sông Hàn những anh lính Mỹ đen, Mỹ trắng miệng sặc mùi bia rượu, tay ôm những cô gái Việt bằng tuổi chị tôi và cất tiếng cười khả ố. Niềm tự ái dân tộc trong lòng tôi dâng cao. Tôi cảm thấy bi xúc phạm. Họ xúc phạm không chỉ dân tộc Việt Nam, người con gái Việt Nam, mà dường như còn xúc phạm đến cả hàng phượng đỏ, hàng sao xanh trên con đường Bạch Đằng thơ mộng. Cách thành phố Đà Nẵng không xa là bãi rác Hòa Cầm rộng mênh mông. Nơi đó, mỗi buổi sáng, hàng trăm đứa bé mới ngoài mười tuổi như tôi bám theo những chiếc xe rác Mỹ để nhặt những miếng thịt thừa, những lon bơ bỏ dở và ngay cả từng chiếc bao nhựa dơ dáy. Ngày đó, tuy còn khá nhỏ tôi đã biết tủi thẹn cho số phận của một cây cổ thụ bốn ngàn năm đang biến thành dây chùm gởi, đồng thời tôi cũng tự hỏi, những điêu tàn đổ nát, những bất công phi lý của xã hội Việt Nam, trong đó có sự hiện diện của những người Mỹ đen Mỹ trắng kia phải phát xuất từ một hay nhiều nguyên nhân nào đó.
Hoàn cảnh đất nước và nhiệt tình tuổi trẻ đã buộc các anh chị chọn lựa cho mình một hướng đi, một lý tưởng sống, một dâng hiến dành cho quê hương mà các anh chị nghĩ là đúng nhất. Sự chọn lựa nào cũng kèm theo đó sự hy sinh, cũng mang tính lịch sử và lịch sử Việt Nam trước 1975 là một lịch sử đầy nhiễu nhương, đau thương và ngộ nhận. Nhìn lại tuổi hai mươi không phải để phê phán những việc làm thời đó đúng hay sai. Sai hay đúng là thái độ của hôm nay và về sau chứ không phải của quá khứ.
Bốn mươi năm trước, nếu có người cho rằng xã hội miền Bắc tốt đẹp hơn xã hội miền Nam có thể đã không gây ra nhiều tranh cãi bởi vì các tệ nạn tham nhũng, quan chức lộng hành quá phổ biến ở miền Nam trong khi chưa ai thật sự sống một ngày dưới chủ nghĩa xã hội; thế nhưng, hơn 30 năm sau mà những người đó vẫn còn tiếp tục luận điệu giống như thế thì đó chỉ là một cách nói liều.
Bốn mươi năm trước, vì giới hạn về tài liệu tham khảo, nếu có người nhận xét ông Hồ Chí Minh, ông Trường Chinh, ông Lê Duẩn về mặt đạo đức tốt hơn các ông Tổng thống miền Nam có thể còn thông cảm, nhưng sau 30 năm với tất cả tài liệu đã được tiết lộ, Cải cách Ruộng đất, Nhân văn - Giai phẩm, vụ án xét lại, Tổng công kích Mậu Thân, chuyên chính vô sản, độc tài đảng trị, mà có người sùng bái các lãnh tụ cộng sản trên thì thật là một niềm tin mù quáng.
Tôi cũng cám ơn nhà văn Tô Nhuận Vỹ đã phổ biến tiểu luận “Nhà văn Việt Nam: Đổi mới và Hội nhập”, kết quả của đề tài nghiên cứu mà anh tham gia với William Joiner Center (WJC) thuộc Đại học Massachusetts trong hai năm 2005 đến 2007. Vài điểm trong tiểu luận của anh có thể thảo luận như tôi sẽ làm dưới đây, nhưng về tổng quát tiểu luận này đã giúp cho tôi thêm những kiến thức về sinh hoạt văn học trong nước mà tôi không biết đến nhiều.
Nhắc đến WJC, tôi nhớ lại những chuyện xảy ra mười năm trước. Tôi sống ở Boston và không xa lạ gì các khóa hội thảo mùa hè của WJC. Trong hai năm 1998 và 1999, tôi đã cùng một số anh chị trong giới cầm bút đến nói chuyện tại các khóa hội thảo mùa hè của trung tâm này. Mặc dù không phải là nhà văn, nhà thơ có những tác phẩm văn chương đủ tầm vóc để đại diện cho văn nghệ sĩ hải ngoại, tôi vẫn được mời, đơn giản chỉ vì tôi sống ngay tại Boston, quen thuộc với sinh hoạt của cộng đồng người Việt và đã có thời học ở Đại học Massachusetts.
Tôi ủng hộ quan điểm và thái độ tích cực tham gia vào các khóa hội thảo mùa hè tại Đại học Massachusetts của tổ chức cộng đồng Việt Nam. Thay vì tập trung các sinh hoạt trong nội bộ người Việt, sự có mặt trong những buổi thảo luận về văn học Việt Nam, chiến tranh và hậu quả xã hội Việt Nam tại các diễn đàn rộng hơn, liên quan đến nhiều quốc gia là những việc nên làm và ngay cả phải làm. Chúng ta đang đấu tranh cho quyền tự do phát biểu của đồng bào trong nước thì không có lý do gì tự giới hạn quyền phát biểu của chính mình trong một xã hội tự do.
Trong chiến tranh, chế độ Việt Nam Cộng hòa không có nhiều cơ hội để nói lên tiếng nói chính nghĩa của mình. Miền Nam không phải của ông Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu hay Dương Văn Minh mà là miền Nam của hơn hai chục triệu người, trong đó có một triệu người lính đã phải chiến đấu trong những điều kiện hết sức khó khăn, vừa cô đơn và cũng vừa cô thế. Những vành khăn tang trắng của những người vợ lính, những đứa bé mồ côi vì cha vừa tử trận chỉ trắng trong các khu gia binh nghèo, trong những căn nhà tranh heo hắt chứ không trắng trên các màn ảnh truyền hình quốc tế. Và từ sau 1975, các nhà văn, nhà thơ từ các quốc gia khác cũng chỉ biết Việt Nam dưới chế độ cộng cản qua vở kịch do Đảng Cộng sản Việt Nam dàn dựng, qua các khẩu hiệu tuyên truyền của phe có quyền ăn nói, nhưng không biết đến một Việt Nam khác đang bị bịt miệng, đang bị đày ải trong tù ngục và bị tước đoạt những quyền căn bản của con người. Do đó, giống như việc thắp lên que diêm trong đêm tối trời, gióng lên được một tiếng nói của lương tâm dù ở đâu cũng là điều cần thiết.
Ngoại trừ tôi, hầu hết các nhà văn miền Nam tham dự các khóa hội thảo mùa hè do WJC tổ chức đều đã nhiều năm phục vụ trong quân đội và thời gian ở tù sau 1975 cũng không ngắn hơn bao nhiêu so với quãng đời lính tráng của họ. Trong số anh em chúng tôi, nhà văn Hoàng Ngọc Liên lớn tuổi nhất. Vào tháng 9 năm 1999 ông đã ngoài 70 tuổi. Là một cựu sĩ quan cao cấp trong quân đội Việt Nam Cộng hòa và bị giam 13 năm trong các nhà tù khắp miền bắc, thế nhưng, ông không dùng diễn đàn WJC để tố cáo tội ác cộng sản, để đòi Đảng Cộng sản phải đền nợ máu trước nhân dân, đòi giới lãnh đạo Đảng phải ở tù ít nhất bằng số năm ông đã từng phải ở. Không. Nhà văn Hoàng Ngọc Liên xem buổi hội thảo chỉ là cơ hội để kể lại những điều mắt thấy tai nghe trong năm tháng ông ở tù và quan trọng hơn, nhắn gởi những lời đầy hy vọng đến những người cầm bút Việt Nam thuộc thế hệ trẻ trong nước cũng như đang tham gia trong khóa hội thảo mùa hè năm đó. Trong bài viết “Những câu chuyện chưa kể” ông đọc ở hội thảo vào buổi chiều ngày 1 tháng 9 năm 1999 tại Đại học Massachusetts, Boston, nhà văn Hoàng Ngọc Liên kết luận: “Tôi nghĩ rằng lâu nay, nhất là từ năm 2000, tuổi trẻ Việt Nam là kỳ vọng của dân tộc Việt Nam, trong chiều hướng góp phần xây dựng đất nước chúng tôi, một đất nước bị chiến tranh tàn phá, sau 24 năm hòa bình, thống nhất, vẫn còn nghèo nàn, lạc hậu mà dân chúng hầu như xa lạ với những quyền Tự do căn bản của con người. Tôi, và những người như tôi, tin tưởng vào thế hệ trẻ, ủng hộ các bạn trẻ cầm bút, với văn phong mới mẻ hơn, súc tích hơn.”
Nếu câu nói trên do tôi nói ra thì chẳng có gì đáng để ý. Tôi trẻ hơn nhà văn Hoàng Ngọc Liên nhiều, chưa từng bị đánh đập, bị đày ải một ngày nào trong các trại tập trung Hoàng Liên Sơn, Thanh Phong, Vĩnh Phú, phát biểu hay ca ngợi lòng nhân ái là chuyện thường tình, nhưng nhà văn Hoàng Ngọc Liên thì khác, ông vừa mới thoát ra khỏi địa ngục trần gian cộng sản, sức khỏe chưa kịp phục hồi, thân thể còn đau nhức nhưng vẫn dựa lên các giá trị thiêng liêng của tình dân tộc và mục đích Tự do, Nhân bản cho các thế hệ Việt Nam hôm nay và mai sau để nói lên những lời tâm huyết của mình. Thật quý hóa và may mắn biết bao nhiêu. Không ai hòa giải với ông và ông cũng chẳng cần ai hòa giải. Ông đã tự hóa giải các xung đột bằng nhận thức và qua đó đã hòa giải được với chính mình. Dù bị tù 13 năm ông đã bước ra khỏi cổng trại như một người chiến thắng chứ không phải người thua trận. Ông trở về như sau một cuộc hành quân dài chứ không phải một người vừa được trao trả tự do, bởi vì lý tưởng Tự do Nhân bản vẫn còn là nguồn thôi thúc trong lòng nhà văn 70 tuổi và ông vững tin mục đích tốt đẹp đó một ngày sẽ đến với đất nước Việt Nam.
Đọc tiểu luận “Nhà văn Việt Nam: Đổi mới và Hội nhập”, tôi cũng tìm thấy trong nhà văn Tô Nhuận Vỹ một ước vọng ngày mai tươi sáng như nhà văn Hoàng Ngọc Liên. Đất nước phải vượt qua những bế tắc, văn học phải vượt qua những bế tắc, mỗi nhà văn nhà thơ cũng phải tìm mọi cách vượt qua những bế tắc của chính mình để đi lên và đưa đất nước đi lên. Tuy nhiên, khác với nhà văn Hoàng Ngọc Liên ở điều kiện tự do, nhà văn Tô Nhuận Vỹ cho rằng bước đầu tiên và cần thiết nhất để hội nhập văn học Việt Nam trong cũng như ngoài nước là hòa hợp hòa giải trong giới văn nghệ sĩ: “đội ngũ nhà văn Việt Nam sẽ đóng vai trò đi đầu, là chiếc cầu nối cho việc hoà giải, hoà hợp dân tộc, đặc biệt giữa cộng đồng người Việt ở nước ngoài với đồng bào trong nước, do hoàn cảnh lịch sử, đã để lại một hố sâu ngăn cách, dị biệt chua xót sau chiến tranh.”
Tôi không nghi ngờ thiện chí của nhà văn Tô Nhuận Vỹ nhưng thành thật mà nói, hòa giải hòa hợp chỉ là một chiếc bóng do Đảng vẽ ra mà những người Việt có lòng đang đuổi bắt như đã từng đuổi bắt con bồ câu hòa bình trước 1975.
Hình ảnh con bồ câu trắng hiền hòa trên bầu trời quê hương thân yêu đã đẩy bao nhiêu tuổi trẻ Việt Nam tự nguyện lao vào chỗ chết, đơn giản bởi vì “nếu là chim tôi sẽ làm một bồ câu trắng và nếu là người tôi sẽ chết cho quê hương”. Các thành phố lớn miền Nam như Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, đâu đâu cũng xuất hiện các phong trào đòi quyền sống, đòi hòa bình, đòi tự quyết. Các cuộc xuống đường diễn hành gần như mỗi ngày, mỗi tuần, nhiều đến nỗi làm cho dư luận quốc tế và cả những người hiểu biết giới hạn về chính trị có nhận xét trong các phe đang đánh nhau chỉ có chính quyền miền Nam mới là những kẻ hiếu chiến và đi ngược lại khát vọng hòa bình dân tộc.
Kỹ thuật tuyên truyền tinh vi của Đảng đã biến những người lính miền Nam đang ngày đêm đổ máu trong cuộc chiến mà không có quyền chọn lựa thành những kẻ sát nhân, trong lúc những kẻ ném lựu đạn vào nhà hàng Mỹ Cảnh, pháo kích vào trường tiểu học Cai Lậy, chôn sống đồng bào trên Bãi Dâu Huế, đặt mìn trên quốc lộ số một… lại trở thành những anh hùng dân tộc. Và sau 1975, mọi người đều biết tất cả các phong trào hòa bình giả tạo đó đều do Trung ương Đảng trực tiếp chỉ đạo, những con chim bồ câu trắng xinh xinh kia là do bàn tay Đảng vẽ ra, và những kẻ ném bom ngày nào cũng không ai khác hơn chính là những đảng viên biệt động thành trung kiên của Đảng.
Tôi cũng không nghĩ cần thiết phải có một nhu cầu hòa giải trong giới văn nghệ sĩ dù một thời đã phải đứng hai bên chuyến tuyến khác nhau. Tôi chưa gặp anh Tô Nhuận Vỹ chỉ vì chúng ta chưa có điều kiện gặp nhau chứ không phải tôi hận thù, oán trách gì anh mà không gặp. Tôi đi rất nhiều nơi và tiếp xúc với nhiều anh chị chú bác trong giới cầm bút nhưng rất hiếm khi gặp một nhà văn nhà thơ mang lòng thù hận các nhà văn nhà thơ trong nước. Một số khá đông không thích tham gia vào các tác phẩm viết chung giữa các nhà văn trong nước và hải ngoại bởi vì họ không muốn làm cái loa tuyền truyền giùm cho Đảng, vả lại những tác phẩm viết chung chẳng đem lại một lợi lạc gì cụ thể khi phần lớn chỉ phát hành tại hải ngoại chứ không phải trong nước, một nơi có 80 triệu người cần phải đọc. Sau 33 năm, hàng trăm tác phẩm được viết trước 1975 tại miền Nam vẫn chưa được tái bản, chưa được công nhận, nhà văn nhà thơ gốc Việt Nam Cộng hòa vẫn còn bị đối xử như một thứ công dân hạng hai, nói chi là các nhà văn nhà thơ vượt biên sau 1975 và tác phẩm của họ được viết ra tại hải ngoại. Nếu văn học là đời sống tinh thần của con người trong một thời đại nhất định thì văn học hải ngoại hẳn phải mang đậm nét của hành trình tìm tự do đầy gian khổ, đương nhiên những tác phẩm như thế sẽ không bao giờ có mặt trong một nhà sách nào ở Việt Nam khi chế độ cộng sản còn tồn tại.
Tình cảm giữa những người cầm bút dù bên này hay bên kia không xa cách nhiều như anh Tô Nhuận Vỹ lo lắng. Tôi còn nhớ mười năm trước, vài ngày trước khi đến WJC tham gia hội thảo, có người hỏi tôi, nếu gặp nhau trong buổi hội thảo, tôi sẽ làm gì, sẽ đối xử ra sao với những người được gọi là “văn nô cộng sản” từ Việt Nam sang. Tôi trả lời người đó rằng sau buổi hội thảo, tôi sẽ rủ các anh chị từ trong nước sang đi uống cà-phê. Mọi người ngồi chung quanh tôi hôm đó đều bật cười vì nghĩ rằng tôi nói chơi. Không, tôi nói thật. Tôi đã đi uống cà-phê với nhiều anh chị văn nghệ sĩ từ trong nước sang. Không giống như những năm đầu, thời anh Lê Lựu sang tham gia WJC trở về, viết những bài ký sự rẻ tiền được in trong hai tập ký Một thời lầm lỗi và Trở lại nước Mỹ, các anh chị đến những năm sau dễ thông cảm hơn nhiều. Gặp ai tôi cũng chỉ yêu cầu một điều, hãy viết về cuộc đời và đất nước như các anh các chị đã từng sống. Thời kỳ viết theo chỉ thị đã qua rồi, xin để lại cho các thế hệ mai sau những lời chân thật. Hơn bao giờ hết đất nước đang cần những người nói thật và sống thật.
Đối với các em sinh viên du học cũng thế. Tôi gặp họ rất sớm. Nhiều em mới sang còn đọc thơ Tố Hữu cho tôi nghe và còn nói về “Bác Hồ là vị cha chung, là sao Bắc Đẩu là vầng Thái Dương” của các em bằng một ánh mắt hồn nhiên và hãnh diện. Tôi kiên nhẫn nghe mà không phản đối bởi vì tôi hiểu đó là tất cả những gì em có. Thế giới tri thức của em từ lớp vỡ lòng đã được đóng khung trong những bài giảng đầy tính giáo điều cuồng tín. Một tuần lễ trước khi bị xử tử hình về tội diệt chủng, Nicolae Ceausescu vẫn còn được học sinh Rumani, giống như các em học sinh Việt Nam ngày nay, ca tụng là tinh hoa kết tụ từ dòng trường giang Danube. Tôi biết sau 4 năm đại học, các em sẽ thay đổi. Các em còn trẻ nên những thói hư tật xấu, mê tín dị đoan dễ đến nhưng rồi cũng sẽ dễ đi. Bệnh sùng bái cá nhân sẽ bớt dần, nhường chỗ cho ánh sáng khoa học thâm nhập vào tâm hồn trẻ trung của các em. Quá trình đổi mới nhận thức không diễn ra trong một sớm một chiều mà là một quá trình dài, từng bước và liên tục. Các em sẽ lớn lên và trưởng thành không phải chỉ ở tuổi tác mà cả về trí thức. Mỗi thế hệ có trách nhiệm riêng trong từng giai đoạn lịch sử. Các bậc cha chú dù đúng hay sai rồi cũng sẽ lần lượt xuống đất hay lên giàn hỏa và các em sẽ phải nghiêng vai gánh vác trách nhiệm lịch sử của thế hệ mình. Các em có quyền trách móc, đổ thừa nhưng không có quyền từ chối.
Cửa nhà tôi ngày đó giống như cửa chùa, ai đến cũng được, tôi chưa bao giờ hỏi lý lịch hay căn cước người nào. Cách nói và cách trả lời với từng người có thể khác, nhưng đều chuyên chở một quan điểm chính trị và niềm tin về tương lai đất nước giống nhau. Quan điểm chính trị của tôi rất rõ ràng và đơn giản. Với tôi, cả dân tộc Việt Nam từ Bắc đến Nam, từ nhà văn nhà thơ cho đến người chưa hề viết nổi một lá thư, từ các nhà trí thức học nhiều hiểu rộng cho đến các bác nông dân tay lấm chân bùn, từ các cha cho đến các thầy, từ những người đã chết sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập năm 1930 hay còn sống hôm nay, nói chung hơn 80 triệu người, đều là nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản.
Đảng Cộng sản thắng trong chiến tranh không phải vì họ có chính nghĩa, mà bởi vì họ đã kiên trì với mục đích nhuộm đỏ Việt Nam, được tổ chức một cách tinh vi từ trung ương Đảng cho đến tận tổ ba người và khai thác triệt để lòng yêu nước sâu đậm của người dân Việt Nam. Tôi cũng có một niềm tin rằng dân tộc Việt Nam với mật độ dân số trung bình không quá đông hay quá ít, với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, với lực lượng chuyên viên đông đảo trong các ngành khoa học đang có mặt trên khắp thế giới, với truyền thống yêu nước Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa vẫn chảy đầy trong huyết quản, nếu được chắp đôi cánh tự do, dân chủ, nhân bản, Việt Nam sẽ bay lên cao, sẽ thật sự trở thành một cường quốc kinh tế, cường quốc quân sự, sẽ đủ khả năng bảo vệ sự toàn vẹn vùng trời, vùng biển của tổ quốc thiêng liêng. Nếu không có tự do dân chủ, “khát vọng cất cánh” mà anh Tô Nhuận Vỹ nêu ra trong phần đầu tiểu luận chỉ là một giấc mơ tiên.
Có người cho rằng Đảng Cộng sản đã có một thời đồng hành với dân tộc, cùng hướng đến một mục tiêu như dân tộc Việt Nam, do đó vai trò lãnh đạo của Đảng ngày nay là hệ quả tất yếu của lịch sử. Tôi không đồng ý. Đó là lý luận của kẻ cướp. Với tôi, rất nhiều đảng viên Đảng Cộng sản tham gia chống Pháp phát xuất từ lòng yêu nước và đã chết cho đất nước như tôi đã nhiều lần viết trên diễn đàn này, nhưng bản thân Đảng Cộng sản như một tổ chức chính trị chưa bao giờ đồng hành với dân tộc. Việc giành lại nền độc lập và chủ quyền đất nước từ tay thực dân là mục tiêu, là bến bờ của dân tộc Việt Nam, trong khi đó đối với Đảng Cộng sản, độc lập dân tộc chỉ là phương tiện, một chiếc cầu, một chiếc ghe họ cần có để đi qua trên đường tiến tới cách mạng vô sản. Mục tiêu đó đã được khẳng định ngay trong “Luận cương chính trị” Đại hội Đảng Cộng sản Đông Dương do Trần Phú chủ trì năm 1930 và được Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương phê chuẩn vào tháng 4 cùng năm:”Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong cuộc cách mạng; hai giai đoạn cách mạng từ cách mạng tư sản dân quyền chống đế quốc và phong kiến nhằm thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và người cày có ruộng và sau đó chuyển sang làm cách mạng xã hội chủ nghĩa.”
Sau 1975, một số người từng xếp bút nghiên vào rừng “Chống Mỹ cứu nước” đã phẫn nộ, kết án giới lãnh đạo Đảng đi ngược lại quyền lợi dân tộc, phản bội lý tưởng, phản bội máu xương của đồng chí họ, đưa đất nước đi vào con đường nghèo đói, độc tài, đảng trị. Nghĩ cho đúng, đó là những lời kết án thiếu cơ sở lý luận lẫn thực tế. Thật là oan cho Đảng. Nếu họ chịu khó đọc các đề cương chính trị đại hội Đảng từ ngày thành lập 78 năm trước cho đến đại hội lần thứ X cách đây hai năm, sẽ thấy Đảng Cộng sản chưa bao giờ phản bội mục tiêu của mình. Mục tiêu cộng sản hóa toàn cõi Việt Nam và đặt dân tộc Việt Nam dưới quyền cai trị tuyệt đối của Đảng chưa bao giờ thay đổi. Vì một số điều kiện cách mạng và biến chuyển chính trị thế giới xảy ra ngoài tiên liệu, các chính sách của Đảng cũng phải theo đó mà áp dụng một cách thích nghi hơn, mềm dẻo hơn qua những chính sách gọi là “đổi mới”, “hội nhập” v.v…, nhưng mục đích của Đảng từ trước đến sau luôn nhất quán.
Có người đến nay vẫn nghĩ rằng việc họ hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng Cộng sản để đứng lên “Chống Mỹ cứu nước” là một lý tưởng cao đẹp của cuộc đời họ, nhưng không biết rằng câu đó chỉ là một trong hàng chục khẩu hiệu có tính giai đoạn mà Đảng đã dùng. Nếu Mỹ không qua Việt Nam thì Đảng có để yên cho nhân dân miền Nam xây dựng một xã hội tự do dân chủ không? Chắc chắn là không. Dĩ nhiên, Mỹ không qua sẽ không có khẩu hiệu “Chống Mỹ cứu nước”, nhưng Đảng có thừa chuyên viên truyên truyền chuyên nghiệp để nghĩ ra những khẩu hiệu khác không kém phần khích động.
Tôi đồng ý với nhà văn Tô Nhuận Vỹ rằng giữa các nhà văn nhà thơ trong và ngoài nước hay đã từng đứng trên chuyến tuyến khác nhau vẫn còn “một hố sâu ngăn cách, dị biệt chua xót”, nhưng nghĩ cho đúng, cái hố sâu đó chẳng phải do nhà văn nhà thơ nào đào ra. Đó không phải là hố sâu tình cảm mà là hố sâu ý thức hệ. Theo lẽ tự nhiên, ai đào ra thì người đó phải lấp lại. Trách nhiệm hòa giải hòa hợp dân tộc, xóa bỏ các cách ngăn về ý thức hệ là trách nhiệm của giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong suốt 33 năm qua với bao nhiêu cơ hội nhưng các lãnh đạo Đảng chẳng những không thể hiện một hành động nào cụ thể để chứng tỏ tinh thần hòa giải hòa hợp dân tộc mà càng đào sâu hơn những hố sâu ngăn cách, làm lở loét thêm những vết thương vẫn còn đang mưng mủ trên da thịt của nhiều triệu người Việt Nam. Việc yêu cầu chính quyền Nam Dương đập bỏ tấm bia tưởng niệm đồng bào chết trên Biển Đông hay việc tổ chức rầm rộ kỷ niệm 40 năm Mậu Thân trên nỗi đau câm nín của hàng ngàn đồng bào Huế là vài ví dụ điển hình.
Với đồng bào hải ngoại, những hành động xúc phạm hương linh của những em bé chết trôi, những bào thai ngột nước ngay lúc còn trong bụng mẹ, những oan hồn đang vất vưởng khắp Biển Đông như thế, làm sao lãnh đạo Đảng Cộng sản có thể vận động được đoàn kết trong ngoài, nhất là đối hơn hai triệu người Việt hải ngoại, để cùng đưa đất nước đi lên?
Với đồng bào trong nước, những chương trình ca nhạc rầm rộ mừng 40 năm chiến thắng Mậu Thân, trong lúc cùng thời điểm đó trên khắp ba miền đất nước, nhất là tại Huế, hàng trăm ngàn đồng bào đang khóc trong âm thần, trong tủi nhục, trong hờn căm u uất, thì làm sao lãnh đạo Đảng có thể phát huy được nội lực dân tộc?
Bất cứ một người Việt Nam nào với một trình độ nhận thức trung bình cũng biết những hành động vừa nêu của giới lãnh đạo Đảng là không cần thiết và quá đáng. Tôi tin ngay cả trong Bộ Chính trị và Trung ương Đảng cũng có người biết việc đó là phi nhân, lạc hậu, vụng về và quá đáng, nhưng họ không có chọn lựa nào khác ngoài việc phải làm, đơn giản bởi vì che đậy tội ác là phản ứng tự nhiên của những kẻ đã gây ra tội ác.
Chim bay cần đôi cánh nhưng không phải giống chim nào có cánh cũng có thể bay cao. Chim se sẻ chỉ biết bay quanh vườn, nhảy nhót trên những cành xoài, cành ổi, nhưng để có một hạm đội Việt Nam, một phi đoàn Việt Nam, một vệ tinh Việt Nam, một phi thuyền Việt Nam, đất nước phải cần có đôi cánh phượng hoàng, nói đúng hơn là đôi cánh dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam, với những mâu thuẫn đối kháng và bế tắc ngay từ bên trong cơ cấu độc tài đảng trị sẽ không có khả năng đưa đất nước lên ngang tầm với thời đại, và do đó, việc chọn lựa một con đường thay thế là trách nhiệm của các thế hệ Việt Nam trong và ngoài nước hôm nay.
Thư ngỏ gửi hội nghị trung ương 7 (đảng CSVN):
Những sự thật cần nhìn nhận cho thật rõ Tác giả: Bùi Tín
Cuộc hội nghị trung ương đảng cộng sản lần thứ 7 - khóa X đã bắt đầu sáng 9-7. Do đảng vẫn ôm chặt quyền lãnh đạo đất nước, trách nhiệm của ban chấp hành trung ương lúc này đặc biệt nặng nề.
Theo dõi chặt chẽ tình hình trong nước, tôi có những lời góp ý ngay thật và xây dựng dưới đây. Đây cũng là lời tâm huyết đối với nhân dân và đất nước của một người không có một tham vọng chính trị cá nhân nào. Mong các vị ủy viên trung ương thành tâm tiếp nhận.
1)- Đất nước ta hiện đã bước vào tình trạng khủng khoảng rồi. Lạm phát rất cao (gần 30%), nhu yếu phẩm tăng giá nhanh, tiền '' đồng'' tụt giá mạnh, nhập siêu mức kỷ lục, chứng khóan rơi 65% trong hơn 1 năm, cuộc sống viên chức, công nhân, bộ đội, học sinh, nông dân sa sút rõ, bất công xã hội khơi sâu, tiếng than vãn vang lên từng hang cùng ngỏ hẻm. Cần bình tĩnh nhìn thật rõ những sai lầm bất cập với tinh thần trách nhiệm cao để sửa gấp những sai lầm lưu cữu.
Cần từ bỏ chiều hướng đổ tại khách quan, tại khó khăn của kinh tế thế giới, tại giá dầu lên cao... Cần từ bỏ thói thổi phồng những thành tựu (như tỷ lệ phát triển vẫn đạt gần 7%, nguồn tài trợ và đầu tư từ ngoài vẫn tăng thêm) để cân bằng với những khó khăn và thất bại; tuy số tiền đầu tư tăng nhưng giải ngân ''nuốt trôi '' rất chậm, vì thiếu nhân lực nghiêm trọng, vì nền hành chính vẫn quan liêu nặng và tham nhũng khủng khiếp.
Cần lưu tâm tiếp nhận góp ý sâu sắc của các chuyên gia kinh tế-tài chính- đầu tư hàng đầu thế giới, nhất là của Đại học Harvard là : đã có khủng hỏang rồi, bắt nguồn từ cơ cấu nền kinh tế, từ các tập đoàn quốc doanh được nuông chiều quá đáng, bung ra vô tổ chức, đặc biệt là từ nền kinh tế ''lưỡng thể '', 2 thân, 2 gốc, thị trường không hẳn thị trường, xã hội không hẳn xã hội.
Các nhà đầu tư, các chuyên gia quốc tế đang nhìn vào cuộc họp này để đánh giá xem lãnh đạo đảng và chính phủ có dám hành động mạnh mẽ đúng hướng hay là vẫn nhập nhằng nửa vời, dùng xoa bóp, thuốc cảm cho căn bệnh đang hiểm nghèo thêm.
2)- Một đề tài hội nghị sẽ đề cập là Tam nông: Nông nghiệp, Nông dân, Nông thôn. Hơn 60 triệu nông dân đang trông chờ. Tín hiệu lớn nhất từ nông dân là: yêu cầu dứt khoát bỏ hẳn chuyện sửa đổi luật đất đai với 8 vấn đề và 60 khoản như đã được chuẩn bị theo kiểu chắp vá cải lương. Hãy trả lại cho Nông dân ngay quyền sở hữu tư nhân về ruộng đất vốn có từ ngàn xưa, được giữ nguyên dưới thời phong kiến rồi thực dân, bị đảng ngang nhiên tước đoạt sau cải cách ruộng đất bằng cưỡng bức hợp tác hóa. Trong Đổi mới, đảng đã trả lại quyền sở hữu tư nhân cho nhà buôn, cho nhà công nghiệp tư nhân, cho chủ dịch vụ tư nhân, trả lại cho họ quyền sở hữu tư nhân về cửa hàng, xưởng máy, kho hàng, nhà cửa, máy móc, sao không trả lại cho nông dân quyền sở hữu ruộng đất thiêng liêng hợp pháp, điều kiện sống của người nông dân cá thể. Đây là vấn đề sống còn của Nông dân, của Nông thôn và của Nông nghiệp hiện nay. Đặc biệt khi đã vào WTO, theo luật pháp quốc tế, việc này càng cấp bách và đúng đắn, không thể chậm trễ.
Hội nghị hãy biết lắng nghe ý kiến về cuộc sống bi thảm ở nông thôn hiện nay của nhà nghiên cứu xã hội học Tương Lai và lời khuyên của nhà văn Nguyên Ngọc trả lại sòng phẳng quyền sở hữu rừng và ruộng truyền thống cho các dân tộc anh em ở Tây nguyên và Việt bắc .
3)- Hội nghị sẽ bàn đến chính sách của đảng đối với thanh niên và trí thức. Tôi rất hoan nghênh việc làm của một trí thức có tâm huyết đã sao bài Tùy bút chính trị của nhà văn Nguyễn Khải viết trước khi từ biệt cuộc đời, có nhan đề '' Đi Tìm Cái Tôi Đã Mất'' và mang đến Văn phòng trung ương đảng CS, yêu cầu sao gửi cho mỗi uỷ viên trung ương để hiểu ý nghĩ của người trí thức thật sự lúc này là ra sao. Xin trích ra vài đoạn bản di chúc tâm huyết này:
...'' các buổi trả lời phỏng vấn báo chí, diễn văn tại các buổi lễ kỷ niệm, báo cáo của đảng, chính phủ, quốc hội, tất cả đều dùng các từ rất mơ hồ, ít cá tính và ít trách nhiệm nhất. Và nói dối, nói dối hiển nhiên, không cần che đậy... Nói dối lem lẻm, nói dối lỳ lợm, không biết xấu hổ...''
...'' một xã hội có hàng triệu cá nhân không được đếm xỉa, không được tôn trọng nhưng một nhúm cá nhân lại được tôn vinh hết mức và được hoàn toàn thỏa mãn trong mọi nhu cầu là cái xã hội gì đây, là xã hội kiểu mẫu cho nhân loại tương lai ư ? ! ''
...'' quả thật dân tộc Việt nam đã thắng lớn trong phong trào chiến tranh giải phóng nhưng lại thua đậm trong công cuộc xây dựng một xã hội tự do và dân chủ. Thoát ách nô lệ của thực dân lại tự nguyện tròng vào cổ cái ách của một học thuyết đã mất hết sức sống!''
Tiếng nói của trí tuệ, của tâm huyết sao mà sót sa, cay đắng. Trong hội nghị này, các ủy viên trung ương hãy bàn kỹ xem việc lật án vụ PMU 18 là đúng hay sai, việc bắt giam các nhà báo từng tố cáo mạnh mẽ tham nhũng là đúng hay sai, việc đàn áp bằng vũ lực thô bạo các nhà giáo, sinh viên đi biểu tình ôn hoà chống bọn bành trướng xâm chiếm lãnh thổ ta là đúng hay sai ? Xin trả lời cho dân, cho công luận, cho thanh niên, cho trí thức thật rõ ràng, dứt khoát.
Cũng cần trả lời cho rõ đảng có còn kêu gọi trí thức văn nghệ sỹ ''hãy tự trọng, đừng bẻ cong ngòi bút'', ''hãy tự cứu lấy mình'', ''không cho phép bất cứ ai xâm phạm quyền tự do sáng tạo của mình'' như hồi khởi đầu chính sách Đổi mới (1964-1988) nữa hay không ? Sao lại có chuyện trở cờ như vậy ?
Hội nghị trung ương hãy khẳng định xem việc cấm tư nhân ra báo và cấm lập hội, cấm tổ chức chính trị ngoài đảng cộng sản có vi phạm các điều khoản ghi rõ trong Hiến pháp về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập hội của mỗi người công dân hay không ? và xin trả lời hiến pháp có phải là cao hơn luật pháp hay không ? và có phải bất cứ luật nào vi hiến cũng không có giá trị hay không ?
4)- Cuối cùng, về nhân sự, mong các ủy viên trung ương chú ý đến bài viết ngắn, xúc tích của nhà văn Võ Thị Hảo rất có lòng với đất nước và đồng bào mình, có nhan đề '' Bên bờ vực thảm họa, Việt nam cần một Minh Trị ''.
Minh Trị đây tôi hiểu không phải là một ông vua, mà là một lớp lãnh đạo, một nhóm lãnh đạo có tài đức, trong sạch, có công tâm, say mê làm việc cho nhân dân, đất nước, không chút tư lợi, không mảy may vun vén cho cá nhân và gia đình mình. Nhà văn Võ Thị Hảo '' mơ ước sẽ không phải rơi nước mắt vì nhiều Thời Cơ Vàng đã bị bỏ qua '', '' mơ ước sẽ không còn cảnh ra đường là gặp tham nhũng và lưu manh'', '' cần có một sự lựa chọn đúng. Ngay lập tức. Vì đã quá muộn ''. Bài viết ra mắt vài ngày nay, cứ như để gửi thẳng cho cuộc họp trung ương thứ 7 khóa X này, vì vấn đề nhân sự đang trở nên nóng bỏng, cuộc khủng hoảng tài chính-kinh tế-văn hóa-chính trị đang ăn sâu, lan rộng từng ngày, cần một bản lĩnh lãnh đạo khác hẳn kiểu lãnh đạo thấp kém, nhập nhèm, thiếu minh bạch, thiếu công tâm, khá là hủ lậu so với thế giới văn minh.
Một dàn lãnh đạo bất cập, khi tổng bí thư được chính trong nội bộ đảng đánh giá là tài đức chỉ ở dưới mức trung bình trong số 181 ủy viên trung ương chính thức và dự khuyết, mà lại bị ''đôn'' lên do hoàn cảnh, thành nhân vật số 1 của chế độ, thì làm sao mà không nguy nan.
Thời Minh Trị bên Nhật ở vào thế kỷ 19. Gần ta hơn, về cả thời gian và không gian. Có Singapo và Đài loan. Ông Lý Quang Diệu ra tay triệt để chống tham nhũng có bài bản, để không ai dám tham (sẽ bị trị rất nặng), không ai tham nhũng nổi (vì mọi chi tiêu đều công khai, tỷ mỷ, có kiểm soát chặt chẽ), lại không ai cần tham nhũng (vì mức lương đủ tiêu dùng), kèm theo tuyên truyền đạo đức tiêu dùng ở mọi nơi (tiêu sài quá độ, đua đòi tiêu dùng là vô đạo đức, là vô duyên, là lạc lõng). Chỉ 3 năm là quét sạch về cơ bản.
Ở Đài Loan, ông Tưởng Kinh Quốc lên làm tổng thống tự quyết định ngay làm theo lời Cha ông là Tưởng Giới Thạch, tự làm gương sáng cho bộ máy chính quyền, sống thanh bạch, giảm tiệc tùng, chiêu đãi, ở nhà nhỏ, xe bình thường, chỉ nhận 1 phần 5 lương, còn lại hiến tất cho quỹ xã hội, từ thiện; khi ông chết, vợ ông không có tiền để về thăm cố hương bà ở nước Nga. Ông còn không cho em mình, con cháu mình làm quan dưới quyền mình; ông khuyên họ tự lo làm ăn ngoài bộ máy, vì lợi ích chung. Tự ông chỉ đạo thanh tra tài chính chặt chẽ. Tổng thống làm gương như vậy, cả hệ thống chính quyền từ chóp bu đến cơ sở răm rắp, có bộ trưởng nào, có tỉnh trưởng nào dám lơ mơ . Chỉ hơn 4 năm thu nhập của công dân tăng gấp đôi, có thực chất, điều hòa các ngành, các vùng, các cấp, ngành y tế công cộng và ngành giáo dục tiến nhanh và chắc nhất, làm nền cho các bước phát triển toàn diện bền vững kiểu Đông Bắc Á.
Hội nghị trung ương lần này hãy cố tìm kiếm cho ra một nhóm nhân tài kiệt suất như vậy, ở trong trung ương không có thì ở ngoài trung ương, trong nước và cả ngoài nước nếu cần. Hãy mời cả xã hội đề cử.
Chả lẽ vận nước suy vi, người tài đức như lá mùa thu, hay còn ẩn ở đâu đó. Lại thêm một tội nặng của đảng cầm quyền, làm cho đất nước lạc hậu, trì trệ, đến thui chột cạn kiệt cả nhân tài để cứu nước trong thời điểm hiểm ngèo hôm nay.
Xin kính trình toàn thể đồng bào bức thư ngỏ ngắn ngủi này để cùng theo dõi và đánh giá cuộc hội nghị đang diễn ra, bức thư cảnh báo nhóm lãnh đạo, do nặng tình nặng nghĩa với Quê hương Đất nước Thân yêu.
Viet Nam
Supreme Patriarch Thich Huyen Quang, a life committed to human rights Amnesty International
AMNESTY INTERNATIONAL
Public Statement
AI Index No. ASA 41/002/2008
Date: 10 July 2008
Viet Nam: Supreme Patriarch Thich Huyen Quang, a life committed to human rights
The Venerable Thich Huyen Quang, Supreme Patriarch of the Unified Buddhist Church of Viet Nam (UBCV), and a prisoner of conscience for many years, passed away on 5 July 2008. He was 87 years old and had been suffering from poor health for several months. He died at the Nguyen Thieu Monastery in Binh Dinh province, with his deputy Thich Quang Do and other senior Buddhist monks present.
The UBCV has announced that a funeral ceremony will be held on 11 July at the Nguyen Thieu Monastery, which Thich Huyen Quang founded. Amnesty International calls on the Viet Nam authorities to allow his funeral to take place according to the wishes of his followers and church, without hindrance and harassment of UBCV members by agents of the state.
Thich Huyen Quang spent more than 30 years in prison or under house arrest in internal exile because of his outspoken defence of human rights, in particular the right to practice religion freely. Since the late 1970s, the authorities relentlessly attempted to silence him and keep him in isolation from other members of the UBCV. Independent from the state-founded Viet Nam Buddhist Church, the UBCV is banned by the government.
First arrested in 1977 when he protested repressive actions against UBCV members, Thich Huyen Quang was given a suspended two year sentence. He challenged the authorities about persecution, human rights violations and state control over Buddhist institutions. Security forces arrested him again in 1982, and placed him under house arrest in a remote pagoda of Hoi Phuoc in Quang Ngai province in central Viet Nam. Local authorities stated that his presence in Ho Chi Minh City was “too dangerous for the safety and well-being of the people”.
In April 1992, Thich Huyen Quang became Supreme Patriarch, and continued, despite his house arrest, to openly criticise government policies and call for greater freedoms. In June that year he issued an open petition to the government, requesting that freedom of religion and other human rights be respected; calling for the release of Buddhist clergy, laymen, writers, journalists, and politicians detained without trial or after unfair trials; and the restoration of confiscated UBCV property. Then in November 1993, he issued a declaration which amongst other things, called for free and fair elections, a new constitution and an end to the supremacy of the Communist Party of Viet Nam.
While still under house arrest, he was again taken into custody in December 1994 when he went on hunger-strike to protest about the detention of five UBCV members who had tried to carry out a flood relief mission in the Mekong Delta. The authorities declined to put him on trial “because of his age and state of health” and instead moved him to another remote pagoda in Quang Ngai province, where conditions were harsh.
Although security police told him in November 1997 that he was officially released from house arrest, he did not receive the formal papers necessary to allow him to return to live at Nguyen Thieu monastery in Binh Dinh province. Instead, he remained under restriction at Quang Phuoc Pagoda in Quang Ngai province, and subject to interrogation, threats and harassment.
In 2003, the authorities finally allowed him to live at Nguyen Thieu Monastery because of his declining health and following persistent calls from the international community, including AI members and other civil society groups, politicians and religious organizations. However the authorities maintained his house arrest and isolation.
Background
The UBCV was formed in 1964, and under successive governments involved itself in social projects, such as opening schools and universities, running orphanages, day-care centres, and relief activities. The UBCV took part in demonstrations against the Viet Nam War and the presence of US troops, and criticized human rights violations by the Vietnamese authorities. After the end of the war in 1975, the new government tried to restrict its activities, arresting and imprisoning many members. Three decades on, the Vietnamese authorities have still not formally authorised the UBCV, but continue crackdowns against its members.
In November 1981 the Viet Nam Buddhist Church was established under the wing of the Viet Nam Fatherland Front, an official organization with authority over all mass membership organizations. Followers of this officially sanctioned Buddhist church are allowed to practice their religious activities unhindered, whereas agents of the state subject UBCV members to harassment, surveillance, arrest, and arbitrary detention. Thich Quang Do, the deputy to Thich Huyen Quang, another long-term prisoner of conscience, remains under de facto administrative detention at his pagoda in Ho Chi Minh City.
Khi còn trong nước trước năm 75, chúng ta thường nghe đến từ cộng đồng qua, cộng đồng người Hoa, sinh hoạt cộng đồng, trường tiểu học cộng đồng…nhưng không một ai quan tâm đến, vì bấy giờ cộng đồng chẳng có liên hệ và ảnh hưởng gì đến cuộc sống đời thừơng hằng ngày của mọi người. Từ cộng đồng chỉ thực sự được mọi người chú ý và quan tâm đến khi phải bỏ nước ra đi, không thể sống dưới chế độ cộng sản Hà Nội, để đến định cư tại một quốc gia mà ở đó, tất cả mọi thứ đều hoàn toàn xa lạ với mình. Vì nhu cầu sống còn cho cuộc sống mới trong một xã hội mới, tất cả mọi người cùng sống quây quần bên nhau thành một công đồng để nuơng tựa và giúp đở lẫn nhau và cũng để bảo tồn những sắc thái đặc thù của dân tộc khi ở xứ lạ, quê người. Do đó , cộng đồng ở đây chỉ là hình ảnh của xã hội cũ được hình thành trong một môi trường mới, hay nói khác đi cộng đồng là nơi tập hợp tất cả mọi thành phần của xã hội: tôn giáo, chính trị, nghề nghiệp, địa phương… có chung một ngôn ngữ, mội nền văn hóa và một phong tục, tập quán.
Nhưng một số người, vì không nắm vững ý nghĩa của cộng đồng nên khi thấy trong cộng đồng nở rộ lên nhiều hội đoàn, đoàn thể: hội Cựu Quân Nhân, hội Đồng Hương Quảng Ngãi, hội Tranh Đấu Cho Nhân Quyền, Ủy Ban Bảo Vệ Chính Nghĩa Quốc Gia, hội HO, hội Diên Hồng, hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Đà Lạt, hội Cảnh Sát, hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Thủ Đức…thì cho rằng, cộng đồng không có sự đoàn kết mới nẩy sinh ra sự thể như vậy, do đó, dù có thiện chí, đã bi quan nên không màng đến việc đóng góp cho cộng đồng. Không, nhiều hội đoàn trong cộng đồng không có nghĩa là thiếu sự đoàn kết, sự có mặt của họ chỉ để biểu hiện lên nét sắc thái đặc biệt riêng của nhóm mình trong cộng đồng, nhưng họ vẫn là thành viên của cộng động. Sự kết hợp các hội đoàn lại thành một khối là trách nhiệm của Cộng Đồng và nếu chưa thực hiện được sự đoàn kết, có thể thời gian chưa đủ để đi đến kết quả hay do sự thiếu sót của một vài cá nhân nào đó trong ban lãnh đạo cộng đồng hoặc chưa có chương trình hoạt động phù hợp với cộng đồng chăng? Nếu được, sẽ tạo nên một sức mạnh vô song, cụ thể qua biến cố Trần Trường và chiến dịch Làm Sáng Màu Cờ đã và đang diễn ra khắp nơi trên toàn nước Mỹ.
Nắm vững về ý nghĩa của cộng đồng chưa đủ, chúng ta cần phải ý thức thế nào là sự đóng góp (ăn cơm nhà, vác ngà voi) cho cộng đồng nếu không, đây là mầm mống tạo ra sự bất đồng. Việc đóng góp cho cộng đồng, tùy theo hoàn cảnh của mỗi người sẽ được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Người có điều kiện thuận tiện không vướng bận nhiều về gia đình thì năng nổ trực tiếp ra gánh vác việc cộng đồng nhưng không vì thế mà dèm pha những ai không dấn thân như mình là, trí thức trùm chăn, thiếu thiện chí, không có long hay ngại không về Việt Nam được…Họ không năng động dấn thân như mình, có thể vì hoàn cảnh gia đình chưa cho phép hay vì bản tính nhưng bù vào đó, họ đã cố gắng dạy dỗ con em trở thành niềm hãnh diện, niềm tự hào Vẻ Vang Dân Việt qua những Đinh Việt,Lữ Anh Thư,Lương Nguyệt Ánh, Trần thái Văn, Nguyễn Đạt….Như vậy sự dấn thân trực tiếp hay không trực tiếp không là điều quan trọng, điều quan trọng là kết quả của sự đóng góp.
Tránh được những điều trên chỉ là yếu tố cần nhưng chưa đủ cho việc kết hợp cộng đồng, để hội đủ điều kiện đủ, chúng ta nên tránh những sai sót vô tình hay cố ý sau:
Khi thấy cộng đồng, ngoài các công tác xã hội, đã và đang tham gia vào những buổi biểu tình chống văn hóa vận của cộng sản, đòi hỏi nhân quyền cho Việt Nam…một số người cho rằng ,cộng đồng làm chính trị, tôi không làm chính trị do đó tôi không muốn hoạt động với cộng đồng. Tại sao lại bảo mình không làm chính trị? Nếu không, sao không ở lại Việt Nam với cộng sản? Bỏ nơi chôn nhao, cắt rún ra đi (dù dưới hình thước nào) là, chúng ta đã bỏ phiếu bằng hai chân không chấp nhận chế độ công sản, đó là hành vi chính trị. Do đó khi lý luận tôi không tham gia vào những sinh hoạt cộng đồng vì cộng đồng làm chính trị không còn đứng vững nữa, vì đó chỉ là sự ngụy biện cho sự thiếu thiện chí hay không ý thức về câu nói của mình mà thôi.
Trong sinh hoạt cộng đồng đôi khi có nhiều vấn đề cần phải được đưa ra để thảo luận. Do thiện chí và sự hăng say của mọi người, buổi họp để thảo luận vấn đề càng lúc càng sôi nổi và gây cấn, bởi lẽ ai cũng muốn qua lý lẻ để binh vực cho ý kiến của mình là giải pháp đúng cho vấn đề, nếu được đem ra thi hành sau này. Rồi lời qua, tiếng lại đã làm sự bất đồng ý kiến càng lúc càng lớn lên mà chẳng ai chịu nhường ai để rồi đi đến tình trạng không thèm nhìn mặt nhau, đôi khi còn chụp mũ cho nhau nữa là đằng khác. Sự bất đồng không dừng tại đây, khi quyết định cuối cùng của đa số không đồng thuận với ý kiến của mình, thế là chẳng những không hợp tác mà còn phát biểu những điều linh tinh không mấy lợi cho cộng đồng hoặc tự đứng ra thành lập một hội đoàn khác để đối đầu. Đây là căn bệnh trầm kha của chúng ta: Cái Tôi, cái tôi là cái đáng thô bỉ (le Moi est haissable). Tại sao chúng ta không học hỏi tinh thần của các ứng cử viên của Mỹ? Trong lúc tranh cử họ đã tố lẫn nhau như mỗ bò, tưởng chừng như có thể giết nhau được nhưng đến hồi chung cuộc, kẻ bại đã chúc mừng và hứa sẽ hợp tác với kẻ thắng để phục vụ cho quyền lợi chung của đất nước.
Dấn thân vào sinh hoạt cộng đồng là để phục vụ cho lợi ích và quyền lợi của tập thể nhưng một vài cá nhân khi tham gia cộng đồng đã không vì mục tiêu chung nên khi nắm cộng đồng họ đã lợi dụng để phục vụ cho quyền lợi cá nhân hay phe nhóm. Tình trạng bè phái, phe nhóm này đã đẩy những người có thiện chí đã và đang tham gia xa dần với cộng đồng và đồng thời tạo nên một hình ảnh không mấy tốt đẹp về sự đoàn kết, thì còn uy tín đâu nữa để kêu gọi mọi người hổ trợ cộng đồng trong công cuộc đòi hỏi quyền lợi hay đấu tranh chống cộng ở tương lai.Hơn nữa ngoài vấn đề phe nhóm ra, khi hoạt động cộng đồng còn cần đến sự nhiệt tình nhưng sự nhiệt tình này cần phải được đặt đúng chỗ, nghĩa là người có nhiệt tình phải biết mình làm được gì và không làm đuợc gì để sau này nhận trách nhiệm phù hợp với khả năng của mình, nếu không ý thức được điều này, đôi khi đặt tự ái không đúng chỗ sẽ bị va chạm khi so sánh với những người đang có vai trò khác có vẽ trang trọng hơn rồi đâm ra chỉ trích và bất mãn để dẫn dần đến sự đỗ vỡ.
Là người Việt Nam tha phương đang sống ở xứ lạ quê người, ai lại không muốn cộng đồng của mình vững mạnh. Sự vững mạnh này sẽ tạo thế mạnh ở địa phương mình đang sinh sống. Từ thế mạnh đó, chúng ta sẽ đòi hỏi được những quyền lợi tất yếu cho cộng đồng Hãy nhìn lại, đã bao nhiêu năm qua, nếu so với quyền lợi của cộng đồng người Spanish nhận được từ phía chính quyền thì cộng đồng người Việt nhận chẳng bao nhiêu cả. Do đó, Cộng Đồng, Ông Là Ai chính là sức mạnh của sự đoàn kết cho nên những ai đã và đang có trách nhiệm với cộng đồng hãy bình tâm nhìn lại những sai sót của mình nếu có, rồi trong tinh thần chín bỏ làm mười để cùng ngồi lại với nhau trong tinh thần hài hòa , để tìm hiểu nhau thêm hầu tạo niềm thông cảm và gần gủi nhau hơn,để từ đó dẫn đến sự đoàn kết, vì ở chúng ta bất đồng nhưng không bất hòa. Nếu được như vậy, qua sức ép của lá phiếu bầu của chúng ta thì quyền lợi của cộng đồng sẽ không bị mất mát và cộng sản cũng như bọn tay sai nằm vùng sẽ không còn đất dụng võ nữa.
Aung San Suu Kyi: Tự Do Khỏi Nỗi Khiếp Sợ Aung San Suu Kyi
(VNC) Tiểu Luận “Tự do khỏi nỗi khiếp sợ” của Aung San Suu Kyi lần đầu được phổ biến để xuất bản với mục đích kỷ niệm Giải Thưởng Sakharov vì Tự Do Tư Tưởng mà Nghị Viện Âu Châu trao tặng. Lễ trao giải diễn ra tại Strasbourg vào ngày 10 tháng Sáu 1991 mà không có sự hiện diện của bà.
Không phải quyền lực làm cho tha hóa, mà chính là sự khiếp sợ. Sự khiếp sợ đánh mất quyền lực làm tha hóa những kẻ đang nắm trong tay quyền lực và sự khiếp sợ bị quyền lực trừng phạt làm tha hóa những người đang nằm dưới tay quyền lực. Đại đa số người Miến quen thuộc với bốn gati, bốn hình thức của tha hóa. Changda-gati (Tham), sự tha hóa bắt nguồn từ lòng ham muốn, là sự từ bỏ chính đạo để tìm kiếm tặng vật bất chính hay những thứ mình thèm khát. Dosa-gati (Sân) là việc đi vào lạc đạo nhằm trừng phạt những người mà mình ghét bỏ, Moga-gati (Si) là sự sai lầm do si đần. Nhưng có lẽ cái tồi tệ nhất trong bốn hình thức tha hóa là Bhaya-gati (Úy), không phải chỉ vì bhaya (sự khiếp sợ) làm tê cứng và dần phá hủy tất cả các cảm giác về đúng-sai, mà nó thường là nguồn cơn của ba hình thức tha hóa còn lại. Giống như Tham, khi không bắt nguồn từ tính hám lợi thuần túy thì có thể là sản phẩm của sự khiếp sợ cảnh nghèo túng hoặc sợ làm phật lòng những người mình yêu quí, sự khiếp sợ bị vượt qua, bị lăng nhục hoặc thương tổn theo cách nào đó có thể xô đẩy con người đến những ác ý. Cũng khó có thể xua tan u mê trừ phi có tự do theo đuổi chân lý và không bị trói buộc bởi sự khiếp sợ. Với quan hệ gần gũi đến thế giữa sự khiếp sợ và tha hóa, không có gì phải ngạc nhiên là ở bất kỳ xã hội nào, khi sự khiếp sợ lan tràn, tha hóa dưới mọi hình thức sẽ bám rễ sâu trong lòng xã hội.
Việc công chúng không hài lòng với những khó khăn kinh tế vẫn được nhìn nhận là nguyên nhân chính dẫn tới phong trào đòi dân chủ ở Miến, được châm ngòi bởi những cuộc biểu tình của sinh viên năm 1988. Đúng là nhiều năm với những chính sách thiếu ăn nhập, các giải pháp sai lạc của chính quyền, lạm phát leo thang và thu nhập thực tế tụt giảm đã đưa đất nước đến tình trạng khủng hoảng kinh tế. Nhưng không phải những khó khăn trong việc nâng cao hơn mức sống - ở mức gần như không thể chấp nhận được - là lý do duy nhất xói mòn lòng kiên trì của người dân vốn đôn hậu và hiền lành, mà còn do sự lăng nhục bởi một lối sống bị biến dạng bởi tha hóa và khiếp sợ.
Các sinh viên đã đấu tranh không phải thuần túy vì cái chết của các đồng chí, mà còn chống lại sự phủ nhận quyền được sống của họ bởi chính thể toàn trị - một chính thể đã tước đi sự hiện diện của lẽ phải và không đem đến bất kỳ một hi vọng nào cho tương lai. Và vì các cuộc tranh đấu của sinh viên đã truyền tải rõ ràng sự thất vọng của công chúng, những cuộc biểu tình này lan nhanh thành một phong trào toàn quốc. Một trong những người ủng hộ nhiệt thành nhất cho phong trào là các doanh gia, những người đã hình thành những kỹ năng và quan hệ cần thiết để không chỉ tồn tại mà còn giàu có trong hệ thống. Nhưng sự giàu có không đem đến cho họ cảm nhận thực sự về an ninh và thành đạt, và họ không thể không nhận thấy rằng nếu họ và đồng bào họ, bất kể địa vị kinh tế, muốn có được một sự sinh tồn khả dĩ thì một bộ máy nhà nước khả tín ít ra phải là điều kiện cần, nếu không phải là điều kiện đủ. Người dân Miến đã lo ngại về tình trạng bấp bênh của kẻ nằm dưới sự trị vì của người khác, khi mà thân phận họ “như nước ...
trong bụm tay” của những kẻ nắm quyền lực tối cao.
Chúng ta đẹp xanh như ngọc
Trên bụm tay người
Nhưng ôi, chúng ta cũng có khi là
Những vụn gương vỡ nát
Trên bụm tay người
Các vụn gương, những mảnh nhỏ nhất, óng ánh và sắc nhọn, có thể tự bảo vệ mình khỏi những bàn tay muốn nghiền nát chúng là một biểu trưng sống động của tinh thần can đảm, một phẩm chất cần thiết của những người muốn giải phóng mình khỏi sự kìm kẹp của bạo quyền. Bogyoke Aung San coi mình là một nhà giải phóng và không ngừng tìm kiếm câu trả lời cho những trở ngại mà Miến Điện gặp phải trong thời khắc thử thách của dân tộc. Ông hô hào đồng bào mình hãy can đảm hơn: “Hãy đừng lệ thuộc vào lòng can đảm và tinh thần dũng cảm của người khác, mỗi người trong các bạn hãy biết hi sinh để trở thành một anh hùng và tạo dựng sự dũng cảm và can đảm của chính mình. Chỉ đến khi đó chúng ta mới có thể cùng chung hưởng tự do thực sự”.
Nỗ lực cần thiết để tránh không bị tha hóa - trong một môi trường mà sự khiếp sợ là một phần máu thịt của sự tồn tại hàng ngày - không tức khắc rõ ràng với những người có may mắn sống trong những nhà nước có sự hiện diện của pháp quyền (rule of law). Luật pháp công minh không chỉ ngăn chặn sự tha hóa thông qua việc trừng phạt không thiên vị những kẻ phạm pháp. Luật pháp còn giúp tạo dựng một xã hội mà trong đó mọi người có thể thỏa mãn những yêu cầu căn bản-vốn thiết yếu cho việc bảo tồn nhân phẩm con người mà không cần phải cầu viện đến những hành vi tha hóa. Khi thiếu vắng luật pháp như thế, gánh nặng gìn giữ các nguyên tắc của công lý và sự đoan chính chuyển sang vai những con người bình thường. Chính hiệu ứng tích lũy những nỗ lực bền bỉ và sự nhẫn nại sẽ thay đổi một dân tộc - nơi lý trí và lương tri bị bóp méo bởi sự khiếp sợ - sang một xã hội mới- nơi luật pháp tồn tại là để đáp ứng khát vọng của con người về sự hòa hợp và công lý, trong khi giúp ngăn chặn những tính ác trong bản chất thiên bẩm của con người.
Trong một thời đại mà sự phát triển lớn lao của kỹ nghệ đã tạo ra những vũ khí chết người-những thứ có thể được, và đang được, những kẻ nắm quyền vô đạo dùng để thống trị kẻ yếu và không có khả năng tự vệ, có một đòi hỏi cấp thiết về mối quan hệ gần gũi hơn giữa chính trị và đạo đức, trên cả cấp độ dân tộc và quốc tế. Tuyên Ngôn Nhân Quyền Toàn Cầu của Liên Hợp Quốc khẳng định rằng tất cả mọi người và mọi hợp phần của xã hội phải đấu tranh nhằm thúc đẩy tự do và các quyền cơ bản mà theo đó mọi người, bất kể chủng tộc, quốc gia và tôn giáo đều được hưởng. Tuy nhiên, chừng nào còn tồn tại các chính quyền được thiết lập dựa trên sự áp bức thay vì sự chấp thuận của công chúng, chừng nào còn tồn tại các nhóm lợi ích chỉ biết đặt lợi ích trước mắt lên trên hòa bình và thịnh vượng lâu dài, thì hành động phối hợp quốc tế bảo vệ và phát huy quyền con người bất quá chỉ là một nửa cuộc đấu tranh. Vẫn sẽ có những đấu trường nơi các nạn nhân của bạo quyền phải tự dựa vào những nội lực của chính họ để bảo vệ các quyền bất khả nhượng với tư cách là những thành viên của gia đình nhân loại.
Cuộc cách mạng rốt ráo là cuộc cách mạng trong tinh thần, được khai sinh từ niềm tin trí tuệ về nhu cầu cần phải thay đổi các thái độ và các giá trị - những thứ định hình tiến trình phát triển của một dân tộc. Một cuộc cách mạng chỉ tập trung vào thay đổi các chính sách của nhà nước và các thể chế, với mục tiêu cải thiện các điều kiện vật chất, sẽ chỉ ...
có rất ít cơ hội thành công thực sự.
Thiếu vắng cuộc cách mạng trong tinh thần, nguồn gốc tạo ra cái vô đạo của trật tự cũ vẫn sẽ tiếp tục vận hành, gây ra một đe dọa thường trực cho quá trình cải cách và phục hồi. Sẽ không đủ nếu chỉ cổ súy cho tự do, dân chủ và các quyền con người. Cần có quyết tâm thống nhất nhằm duy trì cuộc đấu tranh, chấp nhận hi sinh vì chân lý vững bền, chống lại các ảnh hưởng tha hóa của lòng ham muốn, của ác ý, của si đần và sự khiếp sợ.
Người ta từng nói rằng các vị Thánh là những tội nhân luôn cố gắng [rửa sạch lỗi lầm của mình]. Vì thế, người tự do là những người bị áp bức luôn cố gắng và trong quá trình đó, chuyển hóa mình để thích hợp với việc gánh vác các trách nhiệm và gìn giữ các nguyên tắc cho một xã hội tự do. Trong số những sự tự do cơ bản mà con người mong ước nhằm tạo dựng một cuộc sống tràn đầy và không bị trói buộc, tự do khỏi khiếp sợ nổi lên là một phương tiện, đồng thời là mục đích. Một dân tộc muốn xây dựng một đất nước mà trong đó các thể chế dân chủ mạnh được xây dựng bền vững như là một bảo đảm chống lại sự lạm quyền của nhà nước thì trước hết phải học cách giải phóng tâm mình khỏi sự vô cảm và sự khiếp sợ.
Luôn là một người thực hành những gì mình kêu gọi, bản thân Aung San luôn chứng tỏ sự can đảm – không chỉ là những biểu hiện bên ngoài, mà còn là sự can đảm cho phép ông nói lên sự thật, giữ lời, chấp nhận phê bình, thừa nhận những lỗi lầm mình có và sửa chữa, tôn trọng đối lập, hòa đàm với kẻ thù và để dân chúng vào vị trí quan tòa phán xét sự xứng đáng của ông trong vai trò lãnh đạo. Chính vì sự dũng cảm đạo đức như thế mà ông luôn được kính yêu ở Miến – không chỉ với tư cách là một chiến binh anh hùng mà còn với tư cách là nguồn cảm hứng và lương tri cho cả dân tộc. Những từ ngữ do Jawaharlal Nehru sử dụng khi nói về Thánh Gandhi có thể áp dụng tốt trong trường hợp của Aung San:
“Tinh hoa trong các bài giảng của ngài là sự không khiếp sợ và sự thật, cùng với các hành động thống nhất với hai yếu tố này [trong khi vẫn] luôn quan tâm đến phúc lợi của đám đông”.
Gandhi, nhà truyền giáo vĩ đại của tư tưởng bất bạo động, và Aung San, người sáng lập quân đội quốc gia, là hai người có tính cách rất khác nhau, nhưng cũng giống như có sự tương đồng hiển nhiên trong những thách thức của chế độ toàn trị ở bất kỳ đâu, bất kỳ lúc nào, thì cũng có những tương đồng trong các phẩm chất vốn có ở những người đứng lên đối mặt với những thách thức ấy. Nehru, người nhìn nhận việc lan truyền lòng can đảm trong dân chúng Ấn là một trong những thành tựu vĩ đại nhất của Gandhi, là một nhà chính trị canh tân, nhưng khi ông tiếp cận với các đòi hỏi của phong trào đòi độc lập trong thế kỉ hai mươi, ông đã nhận thấy là mình quay trở về với triết học cổ điển Ấn: “Món quà lớn nhất cho một cá nhân hay một dân tộc… là Abhaya, không khiếp sợ, không thuần túy là sự can đảm bề ngoài, mà còn là sự vắng bóng sự khiếp sợ trong tâm”.
Sự can đảm có thể là một món quà, nhưng có lẽ còn quý giá hơn nếu can đảm được khơi lên từ sự nỗ lực, thứ can đảm đến từ việc gieo trồng thói quen không để sự khiếp sợ kiểm soát hành vi của mình, thứ can đảm có thể được miêu tả bằng “tự tại trước áp lực” – sự tự tại được làm mới liên tục ngay khi đối mặt với những áp lực căng thẳng và dai dẳng.
Trong một hệ thống chính trị luôn chối bỏ sự tồn tại của các quyền con người ...
cơ bản, sự khiếp sợ có vẻ như là thuộc tính nổi bật. Sợ tù đày, sợ tra tấn, sợ cái chết, sợ bị mất đi những bạn bè, gia đình, tài sản hay phương tiện sống, sợ đói nghèo, cô lập, trước thất bại. Hình thức quỷ quyệt nhất của sự khiếp sợ là hình thức ngụy trang dưới mặt nạ common sense (lẽ thường) hoặc thậm chí là sự thông thái, kết án những hành vi can đảm bé nhỏ thường nhật – những hành vi giúp bảo toàn niềm tự trọng và phẩm giá ẩn chứa trong mỗi con người – là [những hành vi] ngu ngốc, khinh suất, không đáng giá hoặc vô ích. Không dễ dàng để quần chúng đang khiếp sợ dưới sự cai trị hà khắc hiểu rằng họ có thể tự giải thoát mình khỏi bầu khí độc của sự khiếp sợ hãi đang làm họ kiệt sức. Ấy thế mà ngay cả khi dưới sự đàn áp của những bộ máy cai trị hà khắc nhất, tinh thần can đảm vẫn trỗi dậy hết lần này qua lần khác, vì sự khiếp sợ không phải là trạng thái tinh thần tự nhiên của một người văn minh.
Suối nguồn của lòng can đảm và sự vững vàng trước bạo quyền vô hạn độ thường là lòng tin son sắt vào các giá trị đạo đức thiêng liêng kết hợp với sự hiểu biết lịch sử rằng dù cho mọi khó khăn, lịch sử loài người được đặt trên một lộ trình duy nhất là sự tiến bộ cả về tinh thần lẫn vật chất. Chính khả năng tự cải biến và sửa sai là yếu tố quan trọng nhất phân biệt con người với con vật. Cội rễ của trách nhiệm người là khái niệm hoàn mỹ, sự khao khát đạt được nó, sự thông tuệ để tìm đường đến với nó, và sự sẵn lòng đi theo con đường đó cho tới đích cuối cùng, hoặc ít ra cũng đi được khoảng cách cần thiết để vượt lên trên các giới hạn cá nhân và các trở ngại của môi trường. Chính viễn kiến của con người về thế giới tương thích với nhân tính duy lý và văn minh đã dẫn chúng ta đến chỗ dám chịu đựng mất mát để xây dựng các xã hội tự do khỏi đói nghèo và khiếp sợ. Các khái niệm như sự thực, công lý và lòng trắc ẩn không thể bị loại trừ vì lặp đi lặp lại quá nhiều trong khi chúng thường là những bức tường thành duy nhất hiên ngang chống lại bạo quyền.
Đến nay chỉ còn hai ngày nữa là Đại Hội Giới Trẻ khai mạc tại Sydney, ngày 15/ tháng 7. Người công giáo Việt Nam tại Sydney nôn nóng chờ đợi Đức Giáo Hoàng bao nhiêu thì lại ái ngại cho Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn bấy nhiêu.
Mỗi ngày trên các báo điện tử nhan nhản những bài viết, bài góp ý, lên án lá thơ của Đức Hồng Y thóa mạ cờ vàng. Đặc biệt, những bài lên án có vẻ “nặng ký” nhất lại thường đến từ những hàng giáo phẩm và các con chiên ngoan đạo nhất. Đúng như lời ông Giang Văn Hoan, Chủ tịch Cộng Đồng Công Giáo NSW đã tâm tình trong buổi họp với Cộng Đồng Người Việt và các Hội Đoàn ngày 2/7 rằng: “Lá thư của Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn làm cho các bạn đau một thì đối với anh chị em công giáo chúng tôi, nỗi đau đó còn gia tăng gấp 10.”
Người dân Sydney cũng đã viết thơ thẳng đến Đức Hồng Y George Pell và Ban Tổ Chức World Youth Day trình bầy nội vụ. Câu trả lời của Ban Tổ Chức là:
“Hoan nghênh các bạn cầm lá cờ biểu tượng cho các cộng đồng sắc tộc tại Úc để chào mừng Đức Giáo Hoàng.”
Câu trả lời này cũng giống y như câu nhắn nhủ của Ban Tổ Chức đã loan báo ngay cả trước khi lá thư gây sóng gió trên xuất hiện. Câu nhắn nhủ ấy nội dung là: "Mọi tổ chức, mọi cộng đồng sắc tộc được khuyến khích dùng lá cờ, huy hiệu biểu dương tổ chức của mình để nói lên nền văn minh đa sắc tộc của nước Úc khi chào đón Đức Giáo Hoàng”.
Lá cờ biểu tượng cho người Việt tại Úc là lá cờ vàng ba sọc đỏ. Giản dị có vậy. Nước Úc nhận người Việt vào định cư dưới lá cờ này. Căn cước của người Việt tại Úc là lá cờ này. Người Việt nào không chấp nhận lá cờ này thì không nên sống ở Úc, một xứ sở của những người yêu tự do, dân chủ, nhân quyền, nhân bản, công bằng, những thứ “dị ứng” với cờ đỏ đang bị áp đặt tại Việt Nam thân yêu.
Cộng Đồng Người Việt Tự Do Úc Châu và NSW đã chính thức kêu gọi đồng bào Việt Nam biểu dương lá cờ vàng thân yêu vào ngày 20/7, lễ bế Mạc Đại Hội. Dự trù cũng phải vài ngàn người tham dự.
Những trạm dừng chân của Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn và những diễn biến gần đây đều được theo dõi kỹ càng. Đức Hồng Y “họp kín” tại Seattle thay vì dâng lễ đồng tế công khai. Đức Hồng Y “cáo bệnh” không ghé San Jose để dâng lễ trọng thể tại hai địa điểm đông người Việt cư ngụ. Người dân Sydney mừng lắm, lại càng thở phào nhẹ nhõm trước tin Đức Hồng Y sẽ bay thẳng từ Washington DC về Việt Nam.
Nhưng có gì thay đổi vào giờ chót không?
Mọi sự đã lên khuôn! Chỉ cần biết giờ đáp máy bay của Đức Hồng Y đến Sydney là sẽ có một rừng cờ vàng ra đón ngài ngay tại phi trường!! Chuyện này thì ... Cha con nhìn nhau .....ê càng lắm!!
Tôi tin rằng từ trong đáy lòng, các con chiên tại Sydney đều mong rằng Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn ĐỪNG sang Sydney tham dự Đại Hội Thanh Niên Công Giáo. Mong thay!
Ngô Nhân Dụng
Coi bài “phát biểu” của ông Nông Ðức Mạnh đọc trước hội nghị trung ương đảng ở Hà Nội hôm Thứ Tư vừa qua, những lời lẽ in đầy bốn trang giấy - chỉ toàn là khẩu hiệu, những khẩu hiệu trống rỗng, không thấy được một ý kiến thành thật hay một đề nghị cụ thể nào cả.
Bài diễn văn của một tổng bí thư đảng Cộng Sản đọc trước một hội nghị ban chấp hành trung ương đảng có tầm quan trọng ngang với những bản thông điệp về “Tình trạng Liên bang” mà các vị tổng thống Mỹ phải đọc trước Quốc Hội mỗi năm. Ðó là dịp để người nắm quyền cao nhất trong một nước trình bày những ý kiến, những chương trình, kế hoạch cho cả nước theo.
Ông Nông Ðức Mạnh chỉ hô những khẩu hiệu. Nội dung bài phát biểu của ông nêu lên bốn điểm, về thanh niên, về trí thức, về nông thôn và nông dân, và về tình hình kinh tế, xã hội trong năm. Nhưng ông chỉ nói chung chung, hùng hồn và rỗng tuếch, tuyệt nhiên không có một kế hoạch cụ thể nào cả. Ðó là một cách lảng tránh, trốn trách nhiệm. Những lời nói hoa hoét mĩ miều không chứa đựng nội dung nào đáng chú ý, đó chỉ là một hình thức nói dối.
Về thanh niên, ông Nông Ðức Mạnh nói những câu như “Một trong những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước do đảng ta khởi xướng và lãnh đạo là xây dựng một thế hệ thanh niên thời kỳ mới có đạo đức, có tri thức, sức khỏe và tư duy phát triển năng động; tiếp nối truyền thống hào hùng của dân tộc, của đảng...”
Các thanh niên ở Việt Nam đều biết rằng đảng Cộng Sản không hề “khởi xướng” việc đổi mới. Họ bị buộc phải thay đổi, nếu không thì đi theo số phận của Ceausescu ở Rumani. Trong thực tế thì đảng Cộng Sản đã thất bại trong việc giáo dục. Chưa có một quốc gia nào ở Á Châu bắt học sinh tiểu học phải đóng học phí, chỉ có ở Việt Nam. Ðầu năm nay, ông Nguyễn Thiện Nhân, phó thủ tướng kiêm bộ trưởng giáo dục vừa mới thú nhận rằng trong năm rồi có 100 ngàn học sinh phải bỏ học. Niên học 2003-04 có 580 ngàn học sinh bỏ học; niên học 2005-06 có 600 ngàn học sinh bỏ học. Còn về đạo đức, chưa bao giờ tình trạng gian lận thi cử, bằng giả, thi giả tung hoành như báo chí ở Việt Nam tường thuật gần đây. Chưa bao giờ nạn ma túy lan tràn đầu độc thanh niên, phụ nữ phải đi bán thân nhiều như trong chế độ Cộng Sản bây giờ. Ðọc những lời khoe khoang “công ơn đảng” như vậy mà không thấy xấu hổ hay sao?
Ông Nông Ðức Mạnh hô to: “Tương lai của thanh niên gắn liền với vận mệnh và tương lai của dân tộc...” thì điều này đứa trẻ con cũng biết. Nhưng ông nói câu đó để tiếp theo liền một đoạn khác “...vận mệnh và tương lai của dân tộc dưới sự lãnh đạo của đảng!” Nghe đến đó thì phải hãi hùng. Các ông còn muốn tiếp tục “lãnh đạo” cho đến bao giờ mới tha cho thanh niên, tha cho dân tộc?
Ðối với đề tài trí thức, ông Nông Ðức Mạnh cũng “khua chiếc thùng rỗng” y như vậy. Xin phép lạm dụng tính kiên nhẫn của quý vị để trích ra đây vài câu, quý vị có thể vừa đọc vừa cười để giải trí, như khi nghe các em bé nói những lời ngây ngô chúng ta cũng bật cười vậy. Ông Nông Ðức Mạnh nói về đội ngũ trí thức như thế này: “ ... trí thức ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển của đất nước và đang đứng trước những đòi hỏi cao và yêu cầu mới, cả thời cơ lớn và những thách thức gay gắt.” Có điều gì mới lạ hay không? Nhưng ông cũng không quên nói tiếp ngay: “Ðảng cần tiếp tục đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo đối với trí thức!”
Gần đây, đảng đã “nâng cao năng lực lãnh đạo” rồi! Ðảng đã bắt giam những luật sư, những nhà báo có ý kiến khác ý lãnh tụ, bắt luôn cả hai nhà báo nổi tiếng chống tham nhũng!
Ðọc vài đoạn như trên đủ thấy tất cả chỉ là những lời lẽ khuôn sáo, trống rỗng! Ðọc vài chữ cũng có thể đoán được cả câu sẽ viết như thế nào, trí óc người đọc và người nghe hoàn toàn không cần phải suy nghĩ! Nếu một học sinh trung học ở Việt Nam kiên nhẫn cắt các bài xã luận của nhật báo Nhân Dân về cùng một đề tài rồi ghép lại, thế nào cũng thành một bài diễn văn tương tự như ông tổng bí thư đảng mới đọc! Có thể còn hay hơn. Những vị phụ trách viết diễn văn cho ông Nông Ðức Mạnh thật sự là thiếu trí tưởng tượng. Hoặc là họ không thể viết điều gì sâu xa hơn, vì trình độ của ông tổng bí thư đảng Cộng Sản chỉ có thể đọc những thứ khẩu hiệu rỗng như vậy. Hoặc là họ cố ý không muốn cho ông nói gì hết, ngoài việc hô những khẩu hiệu quen thuộc, để chính họ được an toàn. Vì những người viết diễn văn không thể bịa ra những điều mà họ biết không chứa trong đầu ông tổng bí thư, cũng không chứa trong đầu trung ương đảng. Cho nên những người viết diễn văn cứ phải tiếp tục cho cậu học sinh lên diễn đàn “trả bài” một bài học thuộc lòng trống rỗng. Khi nói những lời trỗng rỗng như thế tức là nói những lời dối trá.
Nhà văn Nguyễn Khải, rất nổi tiếng trong quân đội miền Bắc với lối viết tiểu thuyết lúc nào cũng theo đúng chính sách của đảng Cộng Sản từng giai đoạn, trước khi từ biệt cuộc đời, đã hối tiếc vì phí phạm tài năng của mình cả đời phục vụ một chế độ dối trá. Ông viết một bài nhan đề “Ði Tìm Cái Tôi Ðã Mất,” trong đó ông nhận xét về ngôn ngữ của các lãnh tụ Cộng Sản như sau: “...các buổi trả lời phỏng vấn báo chí, diễn văn tại các buổi lễ kỷ niệm, báo cáo của đảng, chính phủ, Quốc Hội, tất cả đều dùng các từ rất mơ hồ, ít cá tính và ít trách nhiệm nhất.”
Nguyễn Khải đã nói thẳng, “Và nói dối, nói dối hiển nhiên, không cần che đậy... Nói dối lem lẻm, nói dối lỳ lợm, không biết xấu hổ...”
Nhấn mạnh đến căn bệnh dối trá nhưng Nguyễn Khải cũng đề cập tới một căn bệnh khác của các lãnh tụ Cộng Sản từ trên xuống dưới, là trốn tránh không nhận trách nhiệm cá nhân. Trong chế độ này, chỉ những lãnh tụ tối cao kiểu Stalin, Mao Trạch Ðông mới dám đứng trước công chúng nhận mình là người chịu trách nhiệm. Và không ai dám phê bình họ. Nhưng lãnh tụ cỡ nhỏ đều lấy nhãn hiệu “tập thể lãnh đạo” để lẩn trốn không chịu trách nhiệm cá nhân. Muốn khỏi chịu trách nhiệm, cứ nói những lời lẽ đại cương, mơ hồ, thời nào nghe cũng đúng, chỗ nào cũng dùng được thành khẩu hiệu đẹp đẽ. Nông Ðức Mạnh không có bản lĩnh được như những Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt, lại càng có lý do sợ hãi cúi đầu nấp đằng sau những khẩu hiệu rỗng, cho an toàn!
Nhưng trong tình thế Việt Nam hiện nay, khai mạc một cuộc họp ban chấp hành trung ương đảng với những khẩu hiệu chung chung, mơ hồ như thế, còn cho thấy tình trạng khô cạn về tư tưởng, khô cạn về ý kiến của toàn bộ giới lãnh đạo đảng Cộng Sản. Họ không còn gì để nói với nhau ngoài việc hô các khẩu hiệu. Họ cũng không nẩy ra một sáng kiến nào trước những khó khăn chồng chất do chính họ tạo ra.
Trong bốn trang bài phát biểu của ông Nông Ðức Mạnh không hề thấy nhắc đến chủ nghĩa Mác Lê nin, cũng không đả động tới cái gọi là “tư tưởng Hồ Chí Minh” nữa. Hai chữ được nhắc tới nhiều lần là “Ðổi Mới.” Mà ai cũng biết rằng “đổi mới” tức là đi ngược đường với chủ nghĩa Mác Lê và đường lối chính trị, kinh tế Cộng Sản. Ngoài cái khẩu hiệu “đổi mới” ra, những người lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam hiện giờ không còn một cái kim chỉ nam nào hết! Và họ biết chỉ còn một nhãn hiệu “đổi mới” có thể bán được, cho nên cứ bám lấy, dù chính họ không biết cái lối đổi mới nửa vời của họ đã dẫn tới những bế tắc, ngay trước mắt.
Vì ngay trong phạm vi chính sách để đối phó với các khó khăn chồng chất hiện nay, bài phát biểu của ông Nông Ðức Mạnh cũng không nói điều nào hết! Ông không hề nhắc đến nạn lạm phát gần 30% một năm; không nói tới tình trạng tê liệt của hệ thống ngân hàng, nỗi hoang mang của giới đầu tư quốc tế; không nói tới cảnh một nước xuất cảng gạo mà dân thiếu ăn; xuất cảng dầu lửa mà xe hàng phải nằm ụ không chạy vì thiếu xăng; không nói tới cảnh chênh lệch giầu nghèo làm cho chính những người tự mình tạo ra của cải trở nên giầu có họ cũng phải hổ thẹn khi nhìn thấy những đồng bào không may đang đói khổ bên mình. Chính các đảng viên Cộng Sản cũng phải hổ thẹn. Ðảng Cộng Sản bây giờ được gọi là “Ðảng của Hồ Chí Minh, Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Việt Tiến!”
Trong cả bài diễn văn ông Nông Ðức Mạnh không hề nói đến tình trạng tham nhũng và sự thoái hóa, giật lùi trong việc chống tham nhũng. Nhưng điều đáng thất vọng nhất là trong một phần ba bài nói đến nông thôn và nông dân ông Nông Ðức Mạnh không hề nhắc tới những nỗi oan ức mà nông dân Việt Nam đang phải chịu vì cường hào cướp đất tư và đất công để cung ứng cho tư bản trong nước và ngoại quốc.
Trong một bài đang trên báo Nông Thôn Ngày Nay ra ngày 1 Tháng Tư năm 2008 chúng ta thấy hình ảnh tiêu biểu ở ba thôn trong xã Phù Chẩn ở tỉnh Bắc Ninh, dân chúng đã dùng gạch đá đánh bọn cường hào. Dân ném gạch ngói vào nhà bí thư chi bộ xã, nhà của tất cả bọn lãnh đạo thôn, xóm đều bị dân kéo tới ném gạch. Cứ tối đến là người dân đánh kẻng tập trung lại, các phụ nữ lo tiếp tế gạch ngói vụn, học sinh cấp II và cấp III làm pháo thủ ném gạch. Cảnh sát huyện Từ Sơn phải đem 2 xe với các công an cơ động mặc áo giáp, vác lá chắn, đội mũ bảo hiểm đến tận nhà giải vây cho ông bí thư đảng xã.
Tại sao người nông dân lại nổi giận? Chỉ vì tham nhũng lộng hành. Khi thi hành lệnh giải tỏa ruộng đất của dân để trao cho công ty ViSip (Việt Nam-Singapore) khai thác, thay vì chỉ bán những ruộng đất trong khu thuộc dự án, các cán bộ đã nhân cơ hội giải tỏa hết, để có cớ cướp ruộng của dân. Không những thế, bọn cán bộ cầm đầu các thôn còn tìm ra những mảnh đất công rải rác, đất của thôn xã, nhưng chúng ghi tên các cán bộ làm chủ những mảnh đất đó, để khi bán cho liên doanh ViSip thì các cán bộ đương nhiên được “bồi thường” bỏ túi! Tổng cộng 23 mảnh đất công, diện tích lên tới hàng chục ngàn mét vuông đã được các cán bộ lãnh đạo thôn xã “ăn” hết!
Cảnh xẩy ra ở xã Phù Chẩn tiêu biểu cho cảnh tượng trên toàn quốc: Một nhóm người tự chiếm quyền lãnh đạo, thừa cơ “đổi mới” để bòn rút của cải chung, bỏ vào túi riêng cho mình và đồng đảng cùng hưởng trong khi tìm đường “hạ cánh an toàn” theo lối đồng chí Nguyễn Việt Tiến!
Chúng ta lại có dịp cảm thông với tâm sự của nhà văn Nguyễn Khải vào lúc cuối đời. Ông đã tham dự hai cuộc chiến tranh, đã góp công “xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội” ở miền Bắc rồi đem vào trong Nam. Nhưng lúc cuối đời ông cũng nhận thấy bao công lao của ông chỉ dẫn tới “...một xã hội có hàng triệu cá nhân không được đếm xỉa, không được tôn trọng; nhưng một nhúm cá nhân lại được tôn vinh hết mức và được hoàn toàn thỏa mãn trong mọi nhu cầu; là cái xã hội gì đây, là xã hội kiểu mẫu cho nhân loại tương lai ư?”
Những lời thành thật, chân tính trong câu hỏi đó có ai nghe hay không? Tất cả mọi người dân và tất cả các đảng viên đảng Cộng Sản Việt Nam có quyền và có bổn phận đặt câu hỏi đó gửi tới ông Nông Ðức Mạnh và tất cả nhóm người thuộc trung ương đảng Cộng Sản. Phải hét vào tai cho họ nghe thấy. Bảo họ phải chấm dứt cái tấn tuồng gian dối mà họ đang trình diễn trong cái hội nghị này và những hội nghị khác, chấm dứt càng sớm càng tốt.
Hoa Kỳ sẽ hậu thuẫn cho những người mưu tìm tự do tôn giáo Tác giả: VOA
Tổng thống Hoa Kỳ, George W. Bush cho biết ông sẽ tiếp tục nhấn mạnh đến vấn đề tự do tôn giáo với các nhà lãnh đạo trên thế giới, kể cả với Trung Quốc.
Tổng thống Bush nói rằng bất cứ nơi nào và bất cứ khi nào ông gặp lãnh đạo của các nước ông sẽ luôn nhắc họ đừng ngần ngại, mà nên đón nhận tôn giáo trong xã hội của họ.
Tổng thống Bush đã phát biểu như vừa nêu tại Tòa Bạch Ốc hôm thứ Hai vừa qua, đánh dấu kỷ niệm năm thứ 10 Đạo luật Tự do Tôn giáo Quốc tế của Hoa Kỳ, qui định việc thiết lập một ủy ban theo dõi tự do tôn giáo trên khắp thế giới.
Nhà lãnh đạo Hoa Kỳ, theo dự trù sẽ đi Trung Quốc dự lễ khai mạc Olympic vào tháng tới, nói rằng thông điệp của ông gởi đến Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào là bao giờ mà người dân sẵn lòng đấu tranh đòi tự do tôn giáo, thì Hoa Kỳ vẫn tiếp tục sát cánh với họ.
Tổng thống Bush đã chỉ trích thành tích tự do tôn giáo của các nước Iran, Eritrea, Sudan, Bắc Triều Tiên, Miến Điện, Uzbekistan, và Ả Rập Saudi. Ông nói chính sách bài Do Thái của Iran đã gây xúc phạm đối với cộng đồng quốc tế, còn tại Eritrea thì hiện nay có đến 3,000 tù nhân tôn giáo đang bị giam giữ.
Ngô Nhân Dụng
Ngày hôm qua, Tổng Thống Bush họp báo, đề mục chính là trấn an dân chúng rằng hệ thống tài chánh vững mạnh. Ông tổng thống lo, vì ngày hôm trước có cảnh hàng ngàn người ở thành phố Pasadena, California tới xếp hàng rút tiền từ ngân hàng IndyMac, sau khi chính phủ liên bang đã phải “lãnh” ngân hàng đang trên đà sụp đổ này từ hôm Thứ Sáu tuần trước. Nhưng quý vị có thể an tâm, vì những ai gửi tiền ở các ngân hàng đều được cơ quan FDIC của chính phủ bảo đảm ít nhất 100,000 Mỹ kim, không sợ mất nếu ngân hàng hết tiền. Những người có 100 ngàn đô la gửi ngân hàng không nhiều lắm vì ai có số tiền mặt lớn như vậy đã tìm cách đầu tư vào các chứng khoán hay nhà cửa, họ có thể mất tiền... vì lý do khác!
Nhưng mối lo của ông tổng thống không phải là chuyện một ngân hàng, mà lo dân không tin tưởng cả hệ thống tài chánh, huyết mạch của nền kinh tế Mỹ. Nếu dân không tin thì cả hệ thống sẽ sập, kéo theo nền kinh tế xuống. Giá cổ phần của các ngân hàng và công ty tài chánh khác đã tụt giảm nặng trong ngày Thứ Hai. Một ngân hàng lớn, Washington Mutual (gọi tắt là WaMu) đã phải long trọng thông báo họ vẫn còn trong nhà hàng tỷ đô la tiền mặt, sau khi giá cổ phiếu của họ mất hơn 99%, giảm từ 43 đô la đầu năm nay, xuống chỉ còn hơn 3 đô la! Phần lớn các ngân hàng bị ảnh hưởng trong ngày đầu tuần này, vì cổ phần của hai công ty Fannie Mae và Freddie Mac đã tụt mạnh trong suốt tuần qua, mất giá từ 27% đến 30%. Kể từ một năm nay, cổ phần của hai đại công ty này đã giảm mất trên 80%!
Quý vị có thể không nghe nói đến tên Fannie Mae và Freddie Mac bao giờ. Nhưng hai công y tài chánh này đóng vai trò rất quan trọng khi người Mỹ mua nhà và đi vay tiền. Nếu thị trường xây cất và mua bán nhà cửa bị sập thì kinh tế Mỹ cũng xuống theo. Vì vậy, cả cuối tuần vừa rồi những người lãnh đạo kinh tế, tài chánh Mỹ đã phải làm việc để lo cứu Fannie Mae và Freddie Mac! Và họ đã đưa ra những kế hoạch cứu nguy, nếu không may thì nhiều quý vị sẽ tốn tiền. Vì khi chính phủ Mỹ cứu, thì họ dùng công quỹ, tức là dùng tiền của mọi người dân Mỹ!
Fannie và Freddie đóng vai tài trợ cho gần một nửa những món nợ mà các ngân hàng cho người ta vay để mua nhà, họ đã mua các món nợ tổng cộng hơn 5 ngàn tỷ Mỹ kim. Nếu hai anh khổng lồ này mà ngưng hoạt động vì không đi vay được thêm tiền nữa, thì họ cũng không có tiền cho các ngân hàng khác vay để tài trợ địa ốc. Ngành xây cất và mua bán nhà cửa sẽ khủng hoảng lớn, chắc chắn sẽ kéo theo kinh tế nước Mỹ. Các nhà đầu tư quốc tế, trong đó có các chính phủ Trung Quốc, Nhật Bản, Sau đi, vân vân, sẽ mất tiền vì chính họ cũng cho hai công ty trên vay hàng chục đến hàng trăm tỷ Mỹ kim!
Hai đại công ty tài chánh này đóng một vai trò có vẻ “bất thường” trong hệ thống kinh tế tư bản kiểu Mỹ. Bất thường vì đó là những công ty tư nhân nhưng được chính phủ mặc nhiên bảo đảm. Nhờ vị thế này, họ phát triển, trở thành “quá lớn” đến nỗi không người nào trong chính phủ hay quốc hội dám quyết định để cho họ “sập tiệm,” chỉ lo sẽ gây nguy hại cho cả nền kinh tế! Khi dựng lên những công ty tài chánh này, và cho chúng những điều kiện thuận lợi, các nhà chính trị Mỹ chắc không ngờ chúng có ngày trở nên quá lớn như thế. Và cũng không ngờ có ngày chúng dễ bị suy yếu đến như tình trạng từ tuần qua, do ảnh hưởng của những món nợ địa ốc dưới tiêu chuẩn.
Fannie Mae lúc đầu là một cơ quan của chính phủ Mỹ - Federal National Mortgage Association, viết tắt FNMA, cho nên đọc là “Phan Ni Me” - lập ra năm 1938, vào lúc chính phủ muốn thoát khỏi cuộc đại khủng hoảng kinh tế. Nhiệm vụ của Fannie Mae là cho các ngân hàng vay với mức lãi nhẹ để họ cho những người vay mua nhà, vừa khuyến khích dân chúng có nhà vừa thúc đẩy cho kinh tế tăng trưởng. Chính sách khuyến khích mua nhà này có kết quả tốt. Ðến thập niên 1950 chính phủ Mỹ tính tư nhân hóa Fannie Mae và năm 1968 thì biến thành một công ty cổ phần, do tư nhân làm chủ. Hai năm sau, để tránh cảnh một công ty lớn chiếm độc quyền trong thị trường tài trợ địa ốc, công ty Freddie Mac của các ngân hàng tiết kiệm được thành lập, cũng làm cùng một việc tài trợ địa ốc. Hai công ty có ưu thế đặc biệt vì do quốc hội biểu quyết thành lập, không thuộc quyền các cơ quan giám sát về ngân hàng và tín dụng nhưng được một cơ quan riêng theo dõi với điều kiện tương đối không chặt chẽ như các ngân hàng khác. Ưu thế đó khiến giới đầu tư Mỹ và quốc tế có cảm tưởng đây là những “ngân hàng đặc biệt” được chính phủ Mỹ bảo đảm. Với vị thế nửa tư nửa công này, Fannie Mae và Freddie Mac có thể đi vay tiền với lãi suất rất thấp. Nhiều quỹ đầu tư của các chính phủ ngoại quốc đã mua trái phiếu “rủi ro nhẹ” của Fannie Mae và Freddie Mac, lãi suất chỉ cao mua công khố phiếu chính phủ Mỹ chút đỉnh. Chỉ trả cho giới đầu tư một mức lãi suất thấp, cho nên hai công ty cũng có thể cho các ngân hàng thương mại vay với lãi suất thấp, để họ cho người mua nhà vay nợ. Hai công ty sinh lợi nhờ mức sai biệt giữa tiền lãi họ phải trả các nhà đầu tư và tiền lãi họ được các ngân hàng khác trả. Với những món nợ lớn nhiều ngàn tỷ Mỹ kim, chỉ cần kiếm lời 1 phần tư của 1% cũng đủ kiếm lời nhiều tỷ đô la rồi.
Fannie Mae và Freddie Mac không trực tiếp cho người ta vay để mua nhà ở, nhưng cung cấp vốn các ngân hàng bằng cách mua lại những món nợ địa ốc của họ. Những món nợ đó thường không được lớn trên 400 ngàn Mỹ kim, vì nhiệm của hai công ty này là giúp giới trung lưu và người nghèo.
Trong thị trường tài chánh năng động ở Mỹ, những ngân hàng và công ty tài chánh cho vay rồi có thể bán lại các món nợ mà thu tiền về, có tiền lại cho vay tiếp. Ngân hàng chỉ cần kiếm một số lời nhỏ mỗi lần bán các “giấy nợ” đó, còn việc thu tiền lãi và tiền vốn để cho người mua giấy nợ từ đó lo. Cứ như thế, ngân hàng đóng vai trò cho vay được rảnh rang chỉ lo cho vay thôi, tin tưởng rằng có những nguồn tài trợ đứng đằng sau họ.
Có nhiều công ty tài chánh và ngân hàng đóng vai trò hỗ trợ này, trong đó có Fannie và Freddie, cùng với 12 Ngân Hàng Liên Bang Tín Dụng Ðịa Ốc (Federal Home Loan Bank) có hình thức hợp tác xã. Dân Mỹ đang nợ hơn 11,000 tỷ đô la vay để mua nhà. Riêng hai công ty Fannie và Freddie đã mua lại khoảng 5,300 tỷ đô la, tức là gần một nửa các món nợ “moọc ghết” trong cả nước Mỹ; phần còn lại khoảng 6,000 tỷ đô la do các công ty khác mua hoặc do các ngân hàng cho vay giữ lại không bán.
Mỗi công ty mua các giấy nợ mua nhà rồi sẽ đem gộp một số hợp đồng đó lại, phát hành các trái phiếu bán cho các nhà đầu tư Mỹ và ngoại quốc, mà tiền lãi được bảo đảm bằng những món nợ đó. Nếu các con nợ không trả được thì các công ty như Fannie và Freddie vẫn phải trả tiền cho chủ nhân các trái phiếu như thường. Có thể nói hai công ty này phát minh ra việc “chứng khoán hóa” các hợp đồng nợ địa ốc, mà trong dăm năm qua nhiều ngân hàng ở Mỹ đã làm theo, gây ra cảnh khủng hoảng vì quá nhiều con nợ “dưới tiêu chuẩn” đã phá sản.
Với những số nợ hàng ngàn tỷ Mỹ kim trong sổ sách như vậy, lúc nào các công ty Fannie và Freddie cũng có nhiều món nợ đáo hạn được trả hết vốn lãi; đồng thời cũng lại đi mua những hợp đồng vay nợ mới, công việc không bao giờ ngừng. Nhưng để tài trợ việc mua giấy nợ này, hai công ty phát hành những tín phiếu (notes) ngắn hạn, từ 3 đến 6 tháng. Những tín phiếu đó, vì ngắn hạn cho nên lại trả lãi suất thấp hơn trái phiếu dài hạn.
“Tai họa” xảy ra từ đầu năm nay khi chính hai công ty khổng lồ này cũng có quá nhiều những món nợ tiêu chuẩn thấp và không hoàn trả được. Cổ phần của các công ty xuống, Bộ Tài Chánh Mỹ phải báo động và Ngân Hàng Trung Ương Mỹ cũng lo đường chính phủ cứu. Vì nếu các nhà đầu tư không tin tưởng ở hai công ty tài chánh này thì họ sẽ không đi vay được nữa! Và như vậy họ cũng không đi mua các hợp đồng nợ địa ốc được nữa!
Giả thử bây giờ các công ty đó bỗng dưng khó vay tiền, không mua các món nợ địa ốc được nữa, thì sẽ có những tác động dây chuyền. Các ngân hàng chuyên cho người ta vay để mua nhà sẽ phải giảm bớt hoạt động vì thiếu tiền, hoặc có thể ngưng hẳn không cho vay nữa. Việc mua bán nhà cửa sẽ ngưng trệ, công nghệ xây cất sẽ chịu ảnh hưởng, và toàn thể nền kinh tế sẽ suy yếu theo. Ðó là lý do tại sao khi hai anh khổng lồ Fannie và Freddie gặp khó khăn thì cả chính phủ, Quốc Hội, và Ngân Hàng Trung Ương nước Mỹ phải lo cứu! Ngày Thứ Hai vừa qua có một tin mừng, khi Freddie mở cuộc đấu giá để vay 3 tỷ đô la nợ ngắn hạn, và giới đầu tư Mỹ và quốc tế vẫn đáp ứng rất đông, số tiền muốn cho vay cao hơn bình thường. Ðiều đó cho thấy người ta vẫn tin tưởng vào tương lai hai ngân hàng này và tin vào hệ thống tài chánh của Mỹ.
Kinh nghiệm qua vụ Fannie Mae và Freddie Mac cho thấy người ta nên tránh đừng để cho những xí nghiệp, ngân hàng hay công ty tài chánh lớn quá đến mức khuynh loát thị trường. Chính phủ và Quốc Hội Mỹ khi cho lập hai công ty Fannie và Freddie đã tạo ra một cái vòng luẩn quẩn: Dựa vào uy tín chính phủ cho nên những công ty này càng ngày càng lớn vì có thể đi vay với lãi suất thấp rồi đem cho vay lại. Trong khi đó họ vẫn là những công ty tư nhân có mục đích kiếm lời, cho nên càng tìm cách phát triển để kiếm lời nhiều hơn. Chính phủ Mỹ đã tạo ra những công ty quá mạnh, chỉ vì họ quá lớn, ảnh hưởng mạnh trên thị trường địa ốc. Và đó là một thứ “bẫy” chính việc thành lập hai công ty này đã trương sẵn ra từ 40 năm nay!
Ðến bay giờ cái bẫy sập xuống, chính phủ không dám để cho hai công ty lâm nạn. Khi nguy nan chính phủ, Quốc Hội và Ngân Hàng Trung Ương đều phải cứu. Nhưng họ sẽ cứu bằng tiền của những người dân Mỹ đóng thuế! Chính phủ George W. Bush xưa nay vẫn “không có thiện cảm” với Fannie và Freddie, nhưng bây giờ chính họ lại phải lo bảo vệ các công ty này. Vì chỉ có một cách khác là quốc hữu hóa hai công ty, mà như vậy thì còn tệ hại hơn nữa. Sau khi cứu được Fannie và Freddie rồi, chính phủ Bush sẽ dành để thay đổi luật lệ giám sát các loại ngân hàng và các công ty tài chánh ở Mỹ, với chiều hướng sẽ thắt chặt hơn! Ông Bush vốn là người vẫn đề cao vai trò của tư nhân trong nền kinh tế, và muốn tháo gỡ bớt các luật lệ trói buộc giới kinh doanh. Nhưng trong những tháng còn lại của nhiệm kỳ này, ông sẽ phải làm một công việc ngược lại với triết lý của mình! Ðúng là ghét của nào trời trao của ấy!