Bình Luận Thời Sự
Khuynh hướng ‘liberal’ là gì tại Hoa Kỳ?
Hùng Tâm/Người Việt Cùng một chữ mà có nhiều nghĩa trái ngược
Trong chính trường Hoa Kỳ, trước và sau cuộc bầu cử, có một chữ một từ thường được báo chí sử dụng, đó là “liberal” hay “liberalism.” Người ta hiểu từ này và dịch sát nguyên ngữ là “tự do” hoặc “chủ nghĩa tự do.” Nhưng nếu để nói về một khuynh hướng chính trị thì sự thể sẽ hơi khác.
Tại Hoa Kỳ, đấy là trào lưu thiên tả, cấp tiến hay xã hội, tức là trái ngược với xu hướng bảo thủ hay hữu khuynh. Chứ tại Âu Châu và hầu hết các nước khác trên thế giới thì “liberal” lại là khuynh hướng bảo thủ. “Hồ Sơ Người-Việt” sẽ tìm hiểu về nghịch lý ấy để chúng ta cùng thận trọng khi lọc tin, dịch tin hoặc khi đọc báo về cuộc bầu cử năm nay của nước Mỹ.
Những định nghĩa của “liberalism”
Theo bộ Stanford Encyclopedia of Philosophy thì “liberalism” có thể gồm ba nghĩa khác nhau. Một là trào lưu chính trị; hai là triết lý chính trị; và ba là một trào lưu tư tưởng triết học bao hàm 1) lý luận về giá trị xấu hay tốt, 2) nhân sinh quan về cá nhân trong xã hội, và 3) lý luận về đạo đức lẫn triết lý về chính trị. Nghĩa là chỉ một từ đã có nhiều nghĩa khác biệt.
Khi hiểu “liberalism” là “trào lưu chính trị” hay chủ nghĩa tự do thì mỗi nơi lại có một định nghĩa khác.
Tại Anh quốc, có lẽ là cái nôi chủ nghĩa này, chủ nghĩa tự do về chính trị hàm ý hòa đồng tôn giáo, tôn trọng pháp quyền do người dân lập ra và đề cao quyền tự do cá nhân lẫn tự do kinh tế của công dân. Dân Pháp thì tin rằng họ mới phát minh ra chủ nghĩa này và hàm ý đề cao quyền lực thế tục đối lập với giáo quyền (chủ yếu là của Tòa Thánh Vatican) và tự do kinh tế đối lập với sự can thiệp của nhà nước. Tại nước Úc, do ảnh hưởng của Anh, chủ nghĩa tự do hàm ý đề cao chủ nghĩa tư bản, nhưng người ta dè dặt hơn với đòi hỏi về dân quyền của cánh tả.
Ngược lại và đây là chi tiết đáng chú ý, tại Hoa Kỳ, chủ nghĩa tự do lại có ý đề cao quyền tự do của người dân và có ác cảm hoặc nghi ngờ chủ nghĩa tư bản. Cho nên, riêng ở tại Mỹ, “liberalism” hay chủ nghĩa tự do có ý nghĩa là trào lưu giới hạn quyền tự do kinh tế của chủ nghĩa tư bản, của kinh tế thị trường, và vì vậy mới được gọi là thiên tả, khuynh tả hay cấp tiến...
Trong khi ấy, khuynh hướng tự do như ta hiểu ở Âu Châu thì tại Mỹ lại được gọi là “libertarian,” hoặc trào lưu tư tưởng tự do tuyệt đối, một trào lưu đối lập với cả hai xu hướng tả và hữu trên chính trường. Sở dĩ rắc rối như vậy là vì chủ nghĩa tự do còn là một triết lý chính trị.
Nội dung và kích thước của tự do
Vì là một triết lý chính trị, sự khác biệt về nội dung tự do không chỉ có tính cách khách quan, (như tôi gọi màu này là màu xanh, màu kia là màu đỏ) mà còn hàm nghĩa chủ quan (vì màu xanh của tôi lại khác với màu xanh của bạn). “Hồ Sơ Người-Việt” xin nói theo lối khó hiểu để độc giả suy ngẫm thêm: cái chủ thể là người xét đoán lại chi phối khách thể là đối tượng được xét đoán. Người tự gán cho mình chữ tự do có khi đề cao một số khía cạnh hoặc tiêu chuẩn họ cho là quan trọng nhất trong ý niệm tự do, dù rằng quan niệm đó của họ lại khác với quan niệm chung.
Ðể hiểu rõ những kích thước khác biệt của tự do như một triết lý chính trị (đặc biệt tại Hoa Kỳ là nơi chúng ta sinh sống và là xuất xứ của nhiều tin tức nói tới từ “liberal”), ta cần nhắc lại lịch sử lập quốc Hoa Kỳ: Thời đó, các di dân đầu tiên đã rời bỏ Âu Châu vì thiếu tự do và bị bách hại nên tự phát triển trên một lục địa bát ngát, có khi đi trước chính quyền, với sức mạnh tinh thần là ý chí tìm tự do, với lòng tự tin và sự sùng tín tôn giáo. Từ nguyên thủy, tinh thần tôn giáo chi phối xã hội Mỹ nhiều hơn những gì chúng ta nghĩ sau này, trong thế kỷ 20. Trên tờ giấy bạc, một biểu tượng của kinh tế hay vật chất, ta thấy câu “In God We Trust,” tiêu biểu cho tâm linh.
Có lẽ, cả hai xu hướng tả và hữu của nước Mỹ đều công nhận quyền tự do và vì vậy đều có thể tự xưng là “liberal” trong ý nghĩa giải thoát khỏi sự độc đoán của chính quyền thuộc địa là Ðế Quốc Anh và của chính quyền liên bang về sau.
Nhưng thật ra đấy chỉ là quyền tự do trong các địa hạt mà hai khuynh hướng đó không coi là quan trọng nhất. Còn lại, chủ yếu và quan trọng nhất chính là quyền tự do kinh tế và tự do luân lý nên “Hồ Sơ Người-Việt” mới tìm hiểu thêm.
Tự do kinh tế và tự do luân lý
Ðầu tiên, cánh hữu tại Hoa Kỳ vốn coi luân lý và tôn giáo là quan trọng - họ là những người duy tâm - chủ trương là nhà nước phải tôn trọng quyền tự do kinh tế của công dân, nhưng chính họ lại muốn đặt để ra một số tiêu chuẩn về đạo lý. Họ chống phá thai, không đồng ý với chế độ hôn nhân giữa những người cùng tính phái, ủng hộ quyền kiểm soát thông tin để ngăn ngừa nạn phổ biến tác phẩm khiêu dâm cho trẻ em và đề cao việc cầu nguyện trong học đường. Rất vô vi phóng túng về kinh tế, họ lại cổ xúy kỷ cương luân lý trong gia đình và xã hội.
Trào lưu đó chủ trương tự do kinh tế, cũng tương tự như phe “liberal” tại Âu Châu nên họ được gọi là “classical liberal” về kinh tế. Nhưng lại bảo thủ về đạo đức xã hội nên được gọi là “social conservative” và đôi khi cực đoan về tôn giáo nên được gọi là “fundamentalist,” “integrist” hoặc đơn giản là “extremist” như phe tả vẫn gán cho các hệ phái thủ cựu của Thiên Chúa Giáo.
Từ mấy chục năm nay, khi xuất hiện trào lưu Hồi Giáo cực đoan với hành vi khủng bố, người ta gọi trào lưu quá khích đó là “fundamentalist” - chủ trương đề cao giáo lý nguyên thủy. Nhiều nhà báo thiên tả Hoa Kỳ nhân đó phiên dịch với hàm ý là phe thủ cựu của Thiên Chúa Giáo cũng cực đoan như vậy. Chúng ta nên thận trọng vì sự thật thì các mục sư hay giám mục Thiên Chúa Giáo bảo thủ tại Mỹ cũng chưa hẳn là nghiệt ngã như một số giáo chủ Hồi Giáo, loại Ayatollah Khomeini của xứ Iran!
Có một tiêu chuẩn dễ hiểu và dễ nhớ: cánh hữu tại Hoa Kỳ chủ trương là phải cho người dân được tự do trong loại vấn đề mà họ không đem xuống mồ được. Ðó là tài sản, là quyền tự do kinh tế. Nhưng xu hướng này lại quan tâm đến loại vấn đề tâm linh và luân lý.
Ngược lại, cánh tả tại Hoa Kỳ chẳng mấy quan tâm đến đức tin hay luân lý cá nhân mà họ cho là thuộc quyền tự do của từng người và chính quyền không được hạn chế hay xâm phạm. Nhưng họ lại coi trọng công bằng xã hội mà họ đánh giá như một luân lý xã hội, khác biệt với luân lý tôn giáo. Cho nên họ vừa chủ trương quyền tự do tuyệt đối của cá nhân (đến độ bị phe bảo thủ công kích là phóng túng buông thả) và vừa đòi hỏi giới hạn quyền tự do kinh tế bằng cách tăng cường vai trò của nhà nước, tăng cường ngân sách xã hội và giới hạn tác động của thị trường.
Cũng vì quan điểm kinh tế này mà họ được coi là gần với xu hướng xã hội cổ điển (như đảng Xã Hội tại Pháp hay đảng Lao Ðộng tại Anh và Úc) và trái ngược với xu hướng tự do của Âu Châu.
Xét như vậy, ý niệm tự do cứ tưởng là dễ hiểu và phổ biến lại cần được xác định trong tinh thần đối lập với vài ý niệm quan trọng khác, như Thượng Ðế, Chính quyền, cá nhân, thị trường và xã hội. Và chủ trương tự do cần được hiểu ít nhất từ hai hướng là tự do kinh tế và tự do luân lý. Tại Hoa Kỳ, từ “liberal” được dành cho khuynh hướng bảo vệ tự do cá nhân, trong khi xu hướng bảo vệ tự do kinh tế lại được gọi là “bảo thủ.”
Mà chữ “bảo thủ” hay “thủ cựu” này không có ý nghĩa tiêu cực xấu xa như đa số thường nghĩ - và nhiều nhà báo thường dịch - do ảnh hưởng của văn hóa chính trị Âu Châu.
Hậu quả cụ thể của sự khác biệt
Từ phương pháp bổ dọc khái niệm tự do trên lằn ranh kinh tế và luân lý, người ta suy ra nhiều sự khác biệt trong hai triết lý tả hữu của chính trị Hoa Kỳ.
Nhưng trước hết, xin hãy nêu câu hỏi sơ đẳng tại sao lại có hai chữ “tả” và “hữu” đó?
Trong cuộc Cách Mạng Pháp năm 1789, loại “Quốc Hội” (États Généraux hay Estates-General) đầu tiên đã thành hình gồm ba phe đại diện cho ba thành phần xã hội và chính trị khi đó là tăng lữ, quý tộc và quần chúng. Ðại biểu cho quần chúng (được gọi là Tiers État, Ðệ tam Ðẳng cấp hay Nghị hội) gồm thành phần tư sản và dân lao động thì ngồi ở bên trái. Họ chủ trương phải thay đổi theo hướng cách mạng để thiết lập một chế độ mới, với nội dung công bằng và bình đẳng hơn. Phe thủ cựu, muốn duy trì quyền lực quý tộc trong chế độ cũ, thì ngồi ở bên phải.
Từ đó, hai hướng trái phải trở thành cách phân biệt giữa hai hướng tiến bộ và bảo thủ, với hàm ý phê phán xấu tốt: trái là tiến bộ, cấp tiến, là hợp với trào lưu lịch sử và phải là phản động, lạc hậu, chậm tiến. Thế giới đã quen với cách nhìn đó, chúng ta cũng vậy.
Nhưng báo chí thì không nên mà quên rằng cuộc Cách Mạng Pháp đã thủ tiêu chế độ quân chủ, chặt đầu vua Louis XVI rồi dựng lên đế chế còn tập quyền hơn của Hoàng Ðế Napoléon và đế quốc Pháp mở ra mấy chục năm đại chiến tại Âu Châu. Người ta cũng đã quên nhiều thành tích “cách mạng” của cánh tả, tại Nga Xô, Trung Quốc hay Việt Nam cùng nhiều xứ cộng sản khác.
Quan trọng nhất, người ta còn quên rằng chế độ Ðức Quốc Xã của Adolf Hitler cũng khởi đi từ khái niệm “xã hội chủ nghĩa” cấp tiến và rồi tiến quá xa về cánh tả mà trở thành cực hữu chẳng khác gì chế độ của Stalin và Mao Trạch Ðông. “Hồ Sơ Người-Việt” sẽ còn trở lại chuyện phân biệt này vì khá cần thiết cho nhận thức của chúng ta khi phân biệt bốn hướng phát triển của ý niệm tự do.
Xin trở lại vài chuyện cụ thể tại Hoa Kỳ.
Cánh hữu chủ trương phát huy quyền tự do của công dân đối lập với nhà nước và đòi thu hẹp vai trò của nhà nước, từ đó mới tranh đấu cho quyền tự do kinh tế, giảm thuế và giản lược hóa luật lệ hành chánh. Cánh tả nhân danh một thứ tự do khác, không chỉ là quyền tự do tích cực (như quyền được làm việc này việc khác, “to be free to”) mà còn là tự do tiêu cực (thí dụ như quyền được bảo vệ khỏi sự chèn ép thúc bách chỉ vì đói khổ, “to be free from”). Vì vậy họ đòi hỏi công bằng xã hội và hạn chế tự do thị trường, nhiều khi đối lập với chủ nghĩa tư bản, còn cánh hữu thì tin vào quy luật thị trường và quyền tư hữu và giảm thiểu vai trò ôm đồm của nhà nước.
Nhưng chủ nghĩa tự do ấy không chỉ thu hẹp trong lãnh vực nội chính bên trong nước Mỹ. Xin hãy nói riêng và rất ngắn về đối ngoại.
Trong thời Chiến Tranh Lạnh, phe tả nhân danh dân chủ và nhân quyền mà đẩy mạnh việc be bờ ngăn chặn cộng sản bành trướng và có chủ trương chống Cộng mãnh liệt y như cánh hữu. Nhiều tổ chức nghiệp đoàn (theo định nghĩa là tả khuynh) sẵn sàng hợp tác với cơ quan CIA để yểm trợ các chính quyền chống cộng trong Ðệ Tam Thế Giới, các nước nghèo đang bị khối cộng sản khuynh đảo. Tất cả đều nhân danh lý tưởng tự do.
Ngay trong nội bộ hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa đều có sự khác biệt tả/hữu đó. Thí dụ có ảnh hưởng nhất từ xa xưa và cho đến sau này là chủ trương đối ngoại cứng rắn đầy chất hữu khuynh của Nghị Sĩ Henry “Scoop” Jackson trong đảng Dân Chủ. Chủ trương này được sự ủng hộ của nhiều nhân vật Cộng Hòa. Nhiều thành phần trí thức Dân Chủ của phe này đã bỏ đảng mà ngả theo đảng Cộng Hòa. Sau này, ngày nay, họ còn được gọi là “Tân Bảo Thủ” với chủ trương phát huy quyền tự do và dân chủ trên toàn cầu để bảo vệ quyền lợi của nước Mỹ. Họ đều là các nhà lý luận xuất chúng từ cánh tả, và đề cao chủ nghĩa tự do theo định nghĩa riêng.
Và bảo rằng đảng Cộng Hòa thì hiếu chiến hoặc đảng Dân Chủ lại chủ hòa là... chưa hiểu gì cả!
Kết luận gì?
Hoa Kỳ là một quốc gia rộng lớn có một xã hội độc đáo và phức tạp với những đặc tính riêng, có thể nói là “không giống ai.”
Khi theo dõi, nhận xét hoặc tường thuật cái thực tế Hoa Kỳ đó, chúng ta dùng kiến thức đã thu nhận chủ yếu từ Âu Châu. Kiến thức đó cũng hàm ý thành kiến.
“Chủ nghĩa tự do” là khái niệm khá tiêu biểu cho cái đặc tính độc đáo và khác biệt của nước Mỹ. Nếu tìm hiểu thêm, độc giả có thể thấy ra nhiều điều hữu ích và hấp dẫn khi theo dõi tin tức về cuộc bầu cử năm nay của Hoa Kỳ.
Hùng Tâm/Người Việt Cùng một chữ mà có nhiều nghĩa trái ngược
Trong chính trường Hoa Kỳ, trước và sau cuộc bầu cử, có một chữ một từ thường được báo chí sử dụng, đó là “liberal” hay “liberalism.” Người ta hiểu từ này và dịch sát nguyên ngữ là “tự do” hoặc “chủ nghĩa tự do.” Nhưng nếu để nói về một khuynh hướng chính trị thì sự thể sẽ hơi khác.
Tại Hoa Kỳ, đấy là trào lưu thiên tả, cấp tiến hay xã hội, tức là trái ngược với xu hướng bảo thủ hay hữu khuynh. Chứ tại Âu Châu và hầu hết các nước khác trên thế giới thì “liberal” lại là khuynh hướng bảo thủ. “Hồ Sơ Người-Việt” sẽ tìm hiểu về nghịch lý ấy để chúng ta cùng thận trọng khi lọc tin, dịch tin hoặc khi đọc báo về cuộc bầu cử năm nay của nước Mỹ.
Những định nghĩa của “liberalism”
Theo bộ Stanford Encyclopedia of Philosophy thì “liberalism” có thể gồm ba nghĩa khác nhau. Một là trào lưu chính trị; hai là triết lý chính trị; và ba là một trào lưu tư tưởng triết học bao hàm 1) lý luận về giá trị xấu hay tốt, 2) nhân sinh quan về cá nhân trong xã hội, và 3) lý luận về đạo đức lẫn triết lý về chính trị. Nghĩa là chỉ một từ đã có nhiều nghĩa khác biệt.
Khi hiểu “liberalism” là “trào lưu chính trị” hay chủ nghĩa tự do thì mỗi nơi lại có một định nghĩa khác.
Tại Anh quốc, có lẽ là cái nôi chủ nghĩa này, chủ nghĩa tự do về chính trị hàm ý hòa đồng tôn giáo, tôn trọng pháp quyền do người dân lập ra và đề cao quyền tự do cá nhân lẫn tự do kinh tế của công dân. Dân Pháp thì tin rằng họ mới phát minh ra chủ nghĩa này và hàm ý đề cao quyền lực thế tục đối lập với giáo quyền (chủ yếu là của Tòa Thánh Vatican) và tự do kinh tế đối lập với sự can thiệp của nhà nước. Tại nước Úc, do ảnh hưởng của Anh, chủ nghĩa tự do hàm ý đề cao chủ nghĩa tư bản, nhưng người ta dè dặt hơn với đòi hỏi về dân quyền của cánh tả.
Ngược lại và đây là chi tiết đáng chú ý, tại Hoa Kỳ, chủ nghĩa tự do lại có ý đề cao quyền tự do của người dân và có ác cảm hoặc nghi ngờ chủ nghĩa tư bản. Cho nên, riêng ở tại Mỹ, “liberalism” hay chủ nghĩa tự do có ý nghĩa là trào lưu giới hạn quyền tự do kinh tế của chủ nghĩa tư bản, của kinh tế thị trường, và vì vậy mới được gọi là thiên tả, khuynh tả hay cấp tiến...
Trong khi ấy, khuynh hướng tự do như ta hiểu ở Âu Châu thì tại Mỹ lại được gọi là “libertarian,” hoặc trào lưu tư tưởng tự do tuyệt đối, một trào lưu đối lập với cả hai xu hướng tả và hữu trên chính trường. Sở dĩ rắc rối như vậy là vì chủ nghĩa tự do còn là một triết lý chính trị.
Nội dung và kích thước của tự do
Vì là một triết lý chính trị, sự khác biệt về nội dung tự do không chỉ có tính cách khách quan, (như tôi gọi màu này là màu xanh, màu kia là màu đỏ) mà còn hàm nghĩa chủ quan (vì màu xanh của tôi lại khác với màu xanh của bạn). “Hồ Sơ Người-Việt” xin nói theo lối khó hiểu để độc giả suy ngẫm thêm: cái chủ thể là người xét đoán lại chi phối khách thể là đối tượng được xét đoán. Người tự gán cho mình chữ tự do có khi đề cao một số khía cạnh hoặc tiêu chuẩn họ cho là quan trọng nhất trong ý niệm tự do, dù rằng quan niệm đó của họ lại khác với quan niệm chung.
Ðể hiểu rõ những kích thước khác biệt của tự do như một triết lý chính trị (đặc biệt tại Hoa Kỳ là nơi chúng ta sinh sống và là xuất xứ của nhiều tin tức nói tới từ “liberal”), ta cần nhắc lại lịch sử lập quốc Hoa Kỳ: Thời đó, các di dân đầu tiên đã rời bỏ Âu Châu vì thiếu tự do và bị bách hại nên tự phát triển trên một lục địa bát ngát, có khi đi trước chính quyền, với sức mạnh tinh thần là ý chí tìm tự do, với lòng tự tin và sự sùng tín tôn giáo. Từ nguyên thủy, tinh thần tôn giáo chi phối xã hội Mỹ nhiều hơn những gì chúng ta nghĩ sau này, trong thế kỷ 20. Trên tờ giấy bạc, một biểu tượng của kinh tế hay vật chất, ta thấy câu “In God We Trust,” tiêu biểu cho tâm linh.
Có lẽ, cả hai xu hướng tả và hữu của nước Mỹ đều công nhận quyền tự do và vì vậy đều có thể tự xưng là “liberal” trong ý nghĩa giải thoát khỏi sự độc đoán của chính quyền thuộc địa là Ðế Quốc Anh và của chính quyền liên bang về sau.
Nhưng thật ra đấy chỉ là quyền tự do trong các địa hạt mà hai khuynh hướng đó không coi là quan trọng nhất. Còn lại, chủ yếu và quan trọng nhất chính là quyền tự do kinh tế và tự do luân lý nên “Hồ Sơ Người-Việt” mới tìm hiểu thêm.
Tự do kinh tế và tự do luân lý
Ðầu tiên, cánh hữu tại Hoa Kỳ vốn coi luân lý và tôn giáo là quan trọng - họ là những người duy tâm - chủ trương là nhà nước phải tôn trọng quyền tự do kinh tế của công dân, nhưng chính họ lại muốn đặt để ra một số tiêu chuẩn về đạo lý. Họ chống phá thai, không đồng ý với chế độ hôn nhân giữa những người cùng tính phái, ủng hộ quyền kiểm soát thông tin để ngăn ngừa nạn phổ biến tác phẩm khiêu dâm cho trẻ em và đề cao việc cầu nguyện trong học đường. Rất vô vi phóng túng về kinh tế, họ lại cổ xúy kỷ cương luân lý trong gia đình và xã hội.
Trào lưu đó chủ trương tự do kinh tế, cũng tương tự như phe “liberal” tại Âu Châu nên họ được gọi là “classical liberal” về kinh tế. Nhưng lại bảo thủ về đạo đức xã hội nên được gọi là “social conservative” và đôi khi cực đoan về tôn giáo nên được gọi là “fundamentalist,” “integrist” hoặc đơn giản là “extremist” như phe tả vẫn gán cho các hệ phái thủ cựu của Thiên Chúa Giáo.
Từ mấy chục năm nay, khi xuất hiện trào lưu Hồi Giáo cực đoan với hành vi khủng bố, người ta gọi trào lưu quá khích đó là “fundamentalist” - chủ trương đề cao giáo lý nguyên thủy. Nhiều nhà báo thiên tả Hoa Kỳ nhân đó phiên dịch với hàm ý là phe thủ cựu của Thiên Chúa Giáo cũng cực đoan như vậy. Chúng ta nên thận trọng vì sự thật thì các mục sư hay giám mục Thiên Chúa Giáo bảo thủ tại Mỹ cũng chưa hẳn là nghiệt ngã như một số giáo chủ Hồi Giáo, loại Ayatollah Khomeini của xứ Iran!
Có một tiêu chuẩn dễ hiểu và dễ nhớ: cánh hữu tại Hoa Kỳ chủ trương là phải cho người dân được tự do trong loại vấn đề mà họ không đem xuống mồ được. Ðó là tài sản, là quyền tự do kinh tế. Nhưng xu hướng này lại quan tâm đến loại vấn đề tâm linh và luân lý.
Ngược lại, cánh tả tại Hoa Kỳ chẳng mấy quan tâm đến đức tin hay luân lý cá nhân mà họ cho là thuộc quyền tự do của từng người và chính quyền không được hạn chế hay xâm phạm. Nhưng họ lại coi trọng công bằng xã hội mà họ đánh giá như một luân lý xã hội, khác biệt với luân lý tôn giáo. Cho nên họ vừa chủ trương quyền tự do tuyệt đối của cá nhân (đến độ bị phe bảo thủ công kích là phóng túng buông thả) và vừa đòi hỏi giới hạn quyền tự do kinh tế bằng cách tăng cường vai trò của nhà nước, tăng cường ngân sách xã hội và giới hạn tác động của thị trường.
Cũng vì quan điểm kinh tế này mà họ được coi là gần với xu hướng xã hội cổ điển (như đảng Xã Hội tại Pháp hay đảng Lao Ðộng tại Anh và Úc) và trái ngược với xu hướng tự do của Âu Châu.
Xét như vậy, ý niệm tự do cứ tưởng là dễ hiểu và phổ biến lại cần được xác định trong tinh thần đối lập với vài ý niệm quan trọng khác, như Thượng Ðế, Chính quyền, cá nhân, thị trường và xã hội. Và chủ trương tự do cần được hiểu ít nhất từ hai hướng là tự do kinh tế và tự do luân lý. Tại Hoa Kỳ, từ “liberal” được dành cho khuynh hướng bảo vệ tự do cá nhân, trong khi xu hướng bảo vệ tự do kinh tế lại được gọi là “bảo thủ.”
Mà chữ “bảo thủ” hay “thủ cựu” này không có ý nghĩa tiêu cực xấu xa như đa số thường nghĩ - và nhiều nhà báo thường dịch - do ảnh hưởng của văn hóa chính trị Âu Châu.
Hậu quả cụ thể của sự khác biệt
Từ phương pháp bổ dọc khái niệm tự do trên lằn ranh kinh tế và luân lý, người ta suy ra nhiều sự khác biệt trong hai triết lý tả hữu của chính trị Hoa Kỳ.
Nhưng trước hết, xin hãy nêu câu hỏi sơ đẳng tại sao lại có hai chữ “tả” và “hữu” đó?
Trong cuộc Cách Mạng Pháp năm 1789, loại “Quốc Hội” (États Généraux hay Estates-General) đầu tiên đã thành hình gồm ba phe đại diện cho ba thành phần xã hội và chính trị khi đó là tăng lữ, quý tộc và quần chúng. Ðại biểu cho quần chúng (được gọi là Tiers État, Ðệ tam Ðẳng cấp hay Nghị hội) gồm thành phần tư sản và dân lao động thì ngồi ở bên trái. Họ chủ trương phải thay đổi theo hướng cách mạng để thiết lập một chế độ mới, với nội dung công bằng và bình đẳng hơn. Phe thủ cựu, muốn duy trì quyền lực quý tộc trong chế độ cũ, thì ngồi ở bên phải.
Từ đó, hai hướng trái phải trở thành cách phân biệt giữa hai hướng tiến bộ và bảo thủ, với hàm ý phê phán xấu tốt: trái là tiến bộ, cấp tiến, là hợp với trào lưu lịch sử và phải là phản động, lạc hậu, chậm tiến. Thế giới đã quen với cách nhìn đó, chúng ta cũng vậy.
Nhưng báo chí thì không nên mà quên rằng cuộc Cách Mạng Pháp đã thủ tiêu chế độ quân chủ, chặt đầu vua Louis XVI rồi dựng lên đế chế còn tập quyền hơn của Hoàng Ðế Napoléon và đế quốc Pháp mở ra mấy chục năm đại chiến tại Âu Châu. Người ta cũng đã quên nhiều thành tích “cách mạng” của cánh tả, tại Nga Xô, Trung Quốc hay Việt Nam cùng nhiều xứ cộng sản khác.
Quan trọng nhất, người ta còn quên rằng chế độ Ðức Quốc Xã của Adolf Hitler cũng khởi đi từ khái niệm “xã hội chủ nghĩa” cấp tiến và rồi tiến quá xa về cánh tả mà trở thành cực hữu chẳng khác gì chế độ của Stalin và Mao Trạch Ðông. “Hồ Sơ Người-Việt” sẽ còn trở lại chuyện phân biệt này vì khá cần thiết cho nhận thức của chúng ta khi phân biệt bốn hướng phát triển của ý niệm tự do.
Xin trở lại vài chuyện cụ thể tại Hoa Kỳ.
Cánh hữu chủ trương phát huy quyền tự do của công dân đối lập với nhà nước và đòi thu hẹp vai trò của nhà nước, từ đó mới tranh đấu cho quyền tự do kinh tế, giảm thuế và giản lược hóa luật lệ hành chánh. Cánh tả nhân danh một thứ tự do khác, không chỉ là quyền tự do tích cực (như quyền được làm việc này việc khác, “to be free to”) mà còn là tự do tiêu cực (thí dụ như quyền được bảo vệ khỏi sự chèn ép thúc bách chỉ vì đói khổ, “to be free from”). Vì vậy họ đòi hỏi công bằng xã hội và hạn chế tự do thị trường, nhiều khi đối lập với chủ nghĩa tư bản, còn cánh hữu thì tin vào quy luật thị trường và quyền tư hữu và giảm thiểu vai trò ôm đồm của nhà nước.
Nhưng chủ nghĩa tự do ấy không chỉ thu hẹp trong lãnh vực nội chính bên trong nước Mỹ. Xin hãy nói riêng và rất ngắn về đối ngoại.
Trong thời Chiến Tranh Lạnh, phe tả nhân danh dân chủ và nhân quyền mà đẩy mạnh việc be bờ ngăn chặn cộng sản bành trướng và có chủ trương chống Cộng mãnh liệt y như cánh hữu. Nhiều tổ chức nghiệp đoàn (theo định nghĩa là tả khuynh) sẵn sàng hợp tác với cơ quan CIA để yểm trợ các chính quyền chống cộng trong Ðệ Tam Thế Giới, các nước nghèo đang bị khối cộng sản khuynh đảo. Tất cả đều nhân danh lý tưởng tự do.
Ngay trong nội bộ hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa đều có sự khác biệt tả/hữu đó. Thí dụ có ảnh hưởng nhất từ xa xưa và cho đến sau này là chủ trương đối ngoại cứng rắn đầy chất hữu khuynh của Nghị Sĩ Henry “Scoop” Jackson trong đảng Dân Chủ. Chủ trương này được sự ủng hộ của nhiều nhân vật Cộng Hòa. Nhiều thành phần trí thức Dân Chủ của phe này đã bỏ đảng mà ngả theo đảng Cộng Hòa. Sau này, ngày nay, họ còn được gọi là “Tân Bảo Thủ” với chủ trương phát huy quyền tự do và dân chủ trên toàn cầu để bảo vệ quyền lợi của nước Mỹ. Họ đều là các nhà lý luận xuất chúng từ cánh tả, và đề cao chủ nghĩa tự do theo định nghĩa riêng.
Và bảo rằng đảng Cộng Hòa thì hiếu chiến hoặc đảng Dân Chủ lại chủ hòa là... chưa hiểu gì cả!
Kết luận gì?
Hoa Kỳ là một quốc gia rộng lớn có một xã hội độc đáo và phức tạp với những đặc tính riêng, có thể nói là “không giống ai.”
Khi theo dõi, nhận xét hoặc tường thuật cái thực tế Hoa Kỳ đó, chúng ta dùng kiến thức đã thu nhận chủ yếu từ Âu Châu. Kiến thức đó cũng hàm ý thành kiến.
“Chủ nghĩa tự do” là khái niệm khá tiêu biểu cho cái đặc tính độc đáo và khác biệt của nước Mỹ. Nếu tìm hiểu thêm, độc giả có thể thấy ra nhiều điều hữu ích và hấp dẫn khi theo dõi tin tức về cuộc bầu cử năm nay của Hoa Kỳ.
Nhập cảng cái ác của Mao
Ngô Nhân Dụng
Khi loan báo việc Hàn Lâm Viện Thụy Ðiển trao giải Nobel Văn Chương cho nhà văn Trung Hoa Mạc Ngôn, các bản tin quốc tế thường nhắc đến những tiểu thuyết nổi tiếng tiêu biểu của ông như Báu Vật Của Ðời, Cây Tỏi Nổi Giận (tên đặt cho bản dịch tiếng Việt, khác tên gốc).
Nhưng nếu nói đến Mạc Ngôn, cuốn truyện gây ấn tượng mạnh nhất khiến cho người đọc không thể nào quên được chắc là cuốn Ðàn Hương Hình (Hành hình bằng gỗ đàn hương).
Trong tiểu thuyết Ðàn Hương Hình, Mạc Ngôn kể rất nhiều kỹ thuật độc đáo trong lịch sử Trung Quốc khi người ta muốn tra khảo người và giết người cách nào để nạn nhân đau đớn nhất; những người giầu tình cảm, dễ xúc động không nên coi. Ðọc cuốn truyện đó, phải khâm phục trí tưởng tượng của nhà văn, khi ông vẽ ra đủ các phương pháp tra tấn, cách hành hình độc đáo. Những “kỹ thuật” và “phong cách” trong việc xử tử của các vua chúa nước mình chưa bao giờ đạt tới những sáng kiến phong phú như bên Trung Quốc.
Chắc Mạc Ngôn cũng không tưởng tượng ra được hết các chi tiết trong truyện mà phải rút kinh nghiệm từ những chuyện có thật ghi trong lịch sử nước ông. Nhưng đọc ông thì người ta phải nghĩ ngay đến những kỹ thuật hành hạ con người vào thời đại Mao Trạch Ðông còn tiến bộ hơn nữa. Tiểu thuyết gia phải kể chuyện đời xưa để ám chỉ đời nay.
Ðời Võ Hậu nhà Ðường, ông quan Tố Nguyên Lễ đã sáng chế ra các khí cụ và phương pháp tra tấn gọi tên là Lồng Sắt và Phơi Cánh.
Không thấy tài liệu nào mô tả các hình cụ ra sao, nhưng sử còn chép là các quan trong triều chỉ nghe đến các tên hình phạt đó đã “thấy rùng mình.” Nguyên tắc của Tố Nguyên Lễ là hễ bắt một người rồi thì phải tra khảo sao cho hắn ta phải khai ra hàng chục người khác. Tố Nguyên Lễ đã dùng lối bắt bớ dây chuyền này mà xử tử cả ngàn người. Sau này, phương pháp đấu tố, truy tầm phản động của Mao cũng theo quy tắc đó; và số nạn nhân cao gấp hàng vạn lần.
Một người kế vị Tố Nguyên Lễ là Lai Tuấn Thần, đã phát minh ra những cách tra tấn kỳ diệu hơn và giết được nhiều người hơn nữa. Khi Tuấn Thần bị Thái Bình Công Chúa bắt đem giết, những người thù oán ông ta khắp nơi mừng rỡ. Họ tụ họp quanh giảo đài, chờ sẵn trước giờ hành hình, để được băm vằm cái xác người chết. Họ còn “tranh nhau róc thịt, chốc lát thi thể chẳng còn gì nữa.” Những chữ “chốc lát” và “chẳng còn gì nữa” nghe thật ngắn gọn, chỉ sử gia Trung Quốc mới nghĩ ra cách hành văn xuất thần như thế.
Việt Nam mình không có những hình quan nổi tiếng giết nhiều người như bên Trung Quốc. Có thể nói, cách biểu lộ tính ác cũng mỗi nơi mỗi khác. Thêm một điều nữa chứng tỏ văn hóa nước mình khác với Trung Hoa. Nếu bắt chước Lev Tosltoi thì nói rằng: “Những người hiền thì ai cũng lành như nhau, nhưng những kẻ ác có rất nhiều cách ác khác nhau” (nhại theo câu mở đầu Anna Karenina). Người Việt Nam thua xa người Hán về mặt biểu diễn cái ác; ít nhất cho tới thời Cải Cách Ruộng Ðất.
Các vị vua đầu tiên ở nước ta đặt hình luật cũng mô phỏng lối bên Trung Hoa. Ðời Ðường đặt ra năm thứ hình phạt “suy, trượng, đồ, lưu, tử;” đời nhà Ðinh bên mình cũng đặt ra năm hình phạt. Tội nặng nhất là tử hình, lại chia ra nhiều cách giết người, tùy theo sáng kiến của hình quan. Nổi tiếng ác như Lê Long Ðĩnh cũng chỉ hành hạ một ít người chứ không giết dây chuyền như các lãnh tụ nước Tầu. Ở nước mình cái gì cũng nhỏ, mà đó cũng là điều may. Nước mình không có Vạn Lý Trường Thành, dân đỡ phải phục dịch. Một bạo chúa đời Lê mạt dựng một cái nhà lầu bằng gỗ cao có mấy chục thước mà đã bị sử sách chê là xa xỉ, viên kiến trúc sư xây lầu cũng bị đời sau sỉ vả. Ở bên Tầu thì khác. Không phải họ ác hơn người mình, nhưng vì đất nước, lịch sử của hai dân tộc khác hẳn nhau.
Giữa thế kỷ 20, người Việt mình cũng được học và áp dụng cách giết người rất tàn bạo nhờ các cố vấn do ông Mao Trạch Ðông cử sang. Thí dụ, trong cuộc Cải Cách Ruộng Ðất, nhiều người Việt cũng đem chôn sống đồng bào mình, chôn đứng chỉ để hở cái đầu, rồi cho trâu kéo cầy đi qua lại nhiều lần, đến lúc nạn nhân chết mới thôi.
Khi đọc tin Mạc Ngôn được giải Nobel, tôi kể cho anh Sơn, ông bạn đang cùng ngồi uống cà phê về cuốn Ðàn Hương Hình và mấy cách hành hình trong đó - tôi không dám kể đến phương pháp hành hình sau cùng.
Anh bèn kể cho tôi nghe một cảnh chính anh đã chứng kiến. Ông bác anh đã bị tố là địa chủ, dù chỉ có mấy mẫu ruộng thừa tự. Cụ bị hành hạ bằng cách chôn xuống đất, chỉ để cái đầu ngoi lên, nhìn thấy cái lưỡi cầy từ phía trước đang tiến tới cứa cổ mình. Tôi ngây thơ hỏi: “Thế sao ông không nhắm mắt?” “Nhắm mắt sao được? Chúng nó đập cho, bắt phải mở mắt ra chứ!” “Nó cầy mấy lần thì cụ chết?” “Không cho chết, thế mới là tố khổ. Nó bắt người ta phải nhìn cái lưỡi cầy sắc bén trườn trên mặt đất, ngang tầm mắt mình, như con dao lừng lững tiến tới sắp cứa cổ mình! Rồi lại chờ cái lưỡi cầy quay một vòng, rồi lại nhắm đầu mình tiến một tới lần nữa! Mỗi lần nó chỉ cứa đứt một mảng thịt thôi, cho tới lúc ông cụ kiệt lực ngất xỉu chúng mới ngưng. Vì giết một người đã xỉu rồi thì chúng không được hưởng cái thú hành hạ người ta nữa.” Ông bác anh bạn tôi sau đó còn tiếp tục sống mấy tháng trước khi chết, vì bị bỏ đói. Trong ba tháng sau cùng cuộc đời ông, ông phải sống với hình ảnh cái lưỡi cầy đang tiến tới trước mặt.
Nhiều người nghe thuật lại những chuyện trên chắc không tin là chuyện đó có thật. Thi sĩ Hữu Loan, tác giả bài thơ Mầu Tím Hoa Sim đích thân kể trong một hồi ký, đọc ông thì phải tin. Thời kháng chiến bắt đầu năm 1947, hai cụ song thân bà Hữu Loan từng được phong làm địa chủ cứu quốc. Nhiều lần họ đã chở gạo nuôi bộ đội sư đoàn 304 của Hữu Loan cho nên thi sĩ rất biết ơn. Ðến thời Cải Cách Ruộng Ðất, các cụ bị tố là địa chủ, bị hành hình bằng lưỡi cầy.
Phương pháp chôn đứng người ta rồi giết bằng lưỡi cầy, chắc phải do các cố vấn Trung Cộng giúp đỡ, hướng dẫn và chỉ đạo trong thời Cải Cách Ruộng Ðất. Người Việt mình khó có ai lại nẩy ra được những sáng kiến như thế. Giết một mạng người cũng ghê tay quá rồi; chớ đừng nói trước khi giết còn hành hạ, tra tấn người ta bằng lưỡi cầy! Ðồng bào với nhau, ai nỡ giết nhau như vậy. Cho nên chỉ có các cố vấn Trung Cộng mới bày ra được các phương pháp đó, theo truyền thống Ðàn Hương Hình.
Ông Mao Trạch Ðông đã để lại một di sản đẫm máu trong lịch sử Trung Hoa nhưng ông không phải là người Trung Hoa tiêu biểu, ông ta cũng không là một ông hoàng đế tiêu biểu. Nhiều người Trung Hoa rất tốt, như ông Khổng Tử, hay thi sĩ Ðỗ Phủ chẳng hạn. Ông Mao chỉ là hình ảnh tiêu biểu của một bạo chúa Trung Hoa. Vì ông sống trong nền văn hóa Trung Hoa cho nên ông cũng đi tới một chỗ cùng cực của tội ác, mà lịch sử Trung Hoa sau này sẽ kết án.
Một nhà kinh tế cùng họ, ông Mao Vu Thức (Mao Yushi, sinh 1929), đã nhận xét rằng: “Trong ba tay giết người tập thể lớn của thế kỷ 20, Hitler, Stalin, và Mao Trạch Ðông thì Mao đã giết nhiều người nhất. Chính sách kinh tế tập thể, “Bước Nhẩy Vọt” của ông làm 30 triệu người chết đói.” Mao Trạch Ðông dùng lý thuyết đấu tranh giai cấp để chiếm đoạt quyền hành; nhưng Mao Vu Thức nhận thấy, “Ông ta cả đời chỉ lo củng cố quyền cho mình. Chẳng liên can gì tới đấu tranh giai cấp cả.” Vu Thức viết: “Không những Mao Trạch Ðông gây đau khổ cho người Trung Hoa, ông còn xuất khẩu để cả thế giới được chia phần sự tàn bạo của ông ta. Học trò giỏi nhất của ông là Pol Pot, kẻ giết người nhẫn tâm nhất.”
Trong thời Bước Nhẩy Vọt, Mao đã làm 30 triệu dân Tàu chết đói, chết bệnh. Ở huyện Tỉnh Nghiên, Tứ Xuyên, năm 1959, vào lúc đói kém nhất, cứ 8 người dân, có một người chết đói.
Khi các địa phương báo lên sản lượng lương thực không những không tăng mà còn giảm, Mao bèn kết tội dân cả nước “giấu bớt lương thực.” Hiểu ý của Mao, khu ủy huyện Tín Dương, tỉnh Hà Nam tập họp 6,000 người để đấu tố 60 người về tội “giấu bớt lương thực” không nộp cho nhà nước. Ðể chứng tỏ ông Mao bao giờ cũng nói đúng. Nhưng trong cuộc đấu tố này, chính những người đi dự hôm ấy cũng đang gần chết đói; một người chết đói tại chỗ, 19 người chết trên đường về nhà. Tỉnh Hà Nam dù chỉ có được dưới 10 triệu tấn ngũ cốc, vẫn báo cáo lên là thu hoạch hơn 22 triệu tấn, để chứng tỏ bác Mao giỏi. Năm 1959, trên toàn quốc, theo báo cáo 270 triệu tấn lương thực, thực tế chỉ có 170 triệu tấn; năm 1960 giảm xuống chỉ còn 143 triệu tấn. Nạn đói tràn lan, nhưng Bí thư Khu ủy Tín Dương vẫn lên giọng: “Vấn đề không phải là thiếu lương thực! Tới 90% là vấn đề tư tưởng!” Khu ủy Tín Dương sau đó phong tỏa, không cho dân chúng ra khỏi làng, sợ họ mang thây ma đói đi ăn mày nơi khác. Theo tài liệu do Bộ Chính Trị Trung Quốc “giải mật” sau này, những năm ấy Tín Dương có hơn một triệu người chết đói. Trịnh Ðại Quân, một cán bộ Ban Công Tác Nông Thôn huyện Sùng Khánh kể rằng, một đội sản xuất có 82 hộ gia đình, chỉ trong một năm, từ tháng 12 năm 1959 đến tháng 11 năm 1960 trong số 55 bé gái bẩy tuổi trở xuống cùng độ tuổi có 48 em bị người lớn làm thịt.
Ðối với ông Mao, đó chỉ là những con số thống kê vô nghĩa, mà ông cũng không đọc các con số đó bao giờ. Khi đọc Ðàn Hương Hình của Mạc Ngôn, chúng ta phải thấy ông dùng ngòi bút kể chuyện xưa để bắt độc giả người Trung Quốc phải nghĩ tới hình ảnh cái ác vào thời nay. Ðó là lối quen thuộc của các tác giả Trung Hoa thời xưa. Những chuyện Liêu Trai Chí Dị (mà Mạc Ngôn nói đã ảnh hưởng tới ông) kể chuyện ma, nhưng cốt để nói đến xã hội người sống. Khi các nhà văn nước ta như Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Bình Phương tả cái ác thản nhiên trong đời sống hàng ngày của con người thời nay, họ cũng nhắc mọi người về nguyên nhân gây nên cái ác.
Vì nước ta cũng được chia phần, nhập cảng nhiều di sản mà Mao Trạch Ðông. Ðặc biệt là những phương pháp hành hạ người ta bằng cái đói; các phương pháp kiểm soát tư tưởng từ thường dân đến cán bộ; các kỹ thuật đấu tranh để tiêu diệt những người mình ghét ở trong làng, trong nước, và ngay đối với các đồng chí cùng đảng có thể tranh quyền với mình.
Theo kiểu vua chúa Trung Hoa, giết người chưa đủ, còn phải hành hạ, hành hạ trước đám đông cho sỉ nhục, rồi bắt ôm nỗi nhục đó sống mòn héo suốt đời cho tới lúc chết. Cùng một phương pháp đó đã được áp dụng từ cấp trung ương cho tới từng thôn xóm. Trong việc nhập khẩu một phương pháp giết người, con số người chết lớn nhỏ không quan trọng bằng những hậu quả tâm lý xã hội. Hậu quả đó là: Hành động giết người tàn nhẫn sẽ thay đổi cách người ta sống và cư xử với nhau.
Sau khi được chứng kiến những phương pháp giết tróc mới thi hành ngày này qua ngày khác, thì tâm lý con người phải đổi khác. Cách người ta đánh giá một con người, quan niệm về mạng sống một cá nhân, ngay cả cách nhìn người bên cạnh như các con người hay chỉ là những “đối tượng,” tất cả cái đầu con người thay đổi. Trước đây trông vào mặt ai vẫn cũng thấy nhau như những người hàng xóm, bà con, đồng bào máu mủ. Nhưng sau khi được tập cho quen với việc giết những người vô tội, người ta nhìn lẫn nhau không còn thấy đó là những người làng, hàng xóm, anh em bà con nữa. Ðược học tập, huấn luyện rồi, chỉ còn nhìn thấy những đối tượng đấu tranh và căm thù. Nhiều người đã hãnh diện vì biết lột xác, không để những cảm tình nhân đạo vụn vặt làm vướng ý thức giai cấp, tinh thần đấu tranh giai cấp của họ. Con tố cáo cha, vợ đấu tố chồng, đó là những nền nếp văn hóa mới từ Trung Quốc truyền sang. Sau khi được huấn luyện theo chủ trương của Mao, xã hội nước mình có thay đổi thật. Cả một đội ngũ văn nghệ sĩ đi làm thơ dạy bảo người Việt Nam, “Chưa biết căm thù thì chưa biết yêu thương.” Ý kiến đó trái ngược hẳn với những lời dạy của của Lý Nhân Tông, Trần Thái Tông, Nguyễn Trãi: “Ðem đại nghĩa để thắng hung tàn.” Người ta không thể dùng Ác để làm việc Thiện; chỉ có điều thiện mới giúp nảy sinh ra điều thiện. Khi đem nhập cảng cái ác của Mao Trạch Ðông vào nước ta, tức là đã chấp nhận suy nghĩ như ông Mao.
Ðó là một vấn đề văn hóa. Cứ hỏi tại sao nền nếp đạo lý của nước mình bây giờ bị tàn hoại, trẻ em cũng biết ăn cắp, biết trấn lột lẫn nhau. Nhiều người lớn đã chấp nhận văn hóa kiểu mới từ hơn nửa thế kỷ rồi. Các các tai họa đó được người Việt nhìn ra ngay, và có thay đổi. Chúng ta vẫn còn là người Việt Nam; không thể nào bị Mao hóa mãi mãi! Tuy nhiên, như Lưu Quang Vũ viết: “Có những cái sai không thể đổi được! Giết người rồi thì không làm cho người ta sống lại!” Nhưng khi đọc Mạc Ngôn, chúng ta phải thấy dân tộc mình may mắn, không trở thành một tỉnh của Trung Quốc!
Ngô Nhân Dụng
Khi loan báo việc Hàn Lâm Viện Thụy Ðiển trao giải Nobel Văn Chương cho nhà văn Trung Hoa Mạc Ngôn, các bản tin quốc tế thường nhắc đến những tiểu thuyết nổi tiếng tiêu biểu của ông như Báu Vật Của Ðời, Cây Tỏi Nổi Giận (tên đặt cho bản dịch tiếng Việt, khác tên gốc).
Nhưng nếu nói đến Mạc Ngôn, cuốn truyện gây ấn tượng mạnh nhất khiến cho người đọc không thể nào quên được chắc là cuốn Ðàn Hương Hình (Hành hình bằng gỗ đàn hương).
Trong tiểu thuyết Ðàn Hương Hình, Mạc Ngôn kể rất nhiều kỹ thuật độc đáo trong lịch sử Trung Quốc khi người ta muốn tra khảo người và giết người cách nào để nạn nhân đau đớn nhất; những người giầu tình cảm, dễ xúc động không nên coi. Ðọc cuốn truyện đó, phải khâm phục trí tưởng tượng của nhà văn, khi ông vẽ ra đủ các phương pháp tra tấn, cách hành hình độc đáo. Những “kỹ thuật” và “phong cách” trong việc xử tử của các vua chúa nước mình chưa bao giờ đạt tới những sáng kiến phong phú như bên Trung Quốc.
Chắc Mạc Ngôn cũng không tưởng tượng ra được hết các chi tiết trong truyện mà phải rút kinh nghiệm từ những chuyện có thật ghi trong lịch sử nước ông. Nhưng đọc ông thì người ta phải nghĩ ngay đến những kỹ thuật hành hạ con người vào thời đại Mao Trạch Ðông còn tiến bộ hơn nữa. Tiểu thuyết gia phải kể chuyện đời xưa để ám chỉ đời nay.
Ðời Võ Hậu nhà Ðường, ông quan Tố Nguyên Lễ đã sáng chế ra các khí cụ và phương pháp tra tấn gọi tên là Lồng Sắt và Phơi Cánh.
Không thấy tài liệu nào mô tả các hình cụ ra sao, nhưng sử còn chép là các quan trong triều chỉ nghe đến các tên hình phạt đó đã “thấy rùng mình.” Nguyên tắc của Tố Nguyên Lễ là hễ bắt một người rồi thì phải tra khảo sao cho hắn ta phải khai ra hàng chục người khác. Tố Nguyên Lễ đã dùng lối bắt bớ dây chuyền này mà xử tử cả ngàn người. Sau này, phương pháp đấu tố, truy tầm phản động của Mao cũng theo quy tắc đó; và số nạn nhân cao gấp hàng vạn lần.
Một người kế vị Tố Nguyên Lễ là Lai Tuấn Thần, đã phát minh ra những cách tra tấn kỳ diệu hơn và giết được nhiều người hơn nữa. Khi Tuấn Thần bị Thái Bình Công Chúa bắt đem giết, những người thù oán ông ta khắp nơi mừng rỡ. Họ tụ họp quanh giảo đài, chờ sẵn trước giờ hành hình, để được băm vằm cái xác người chết. Họ còn “tranh nhau róc thịt, chốc lát thi thể chẳng còn gì nữa.” Những chữ “chốc lát” và “chẳng còn gì nữa” nghe thật ngắn gọn, chỉ sử gia Trung Quốc mới nghĩ ra cách hành văn xuất thần như thế.
Việt Nam mình không có những hình quan nổi tiếng giết nhiều người như bên Trung Quốc. Có thể nói, cách biểu lộ tính ác cũng mỗi nơi mỗi khác. Thêm một điều nữa chứng tỏ văn hóa nước mình khác với Trung Hoa. Nếu bắt chước Lev Tosltoi thì nói rằng: “Những người hiền thì ai cũng lành như nhau, nhưng những kẻ ác có rất nhiều cách ác khác nhau” (nhại theo câu mở đầu Anna Karenina). Người Việt Nam thua xa người Hán về mặt biểu diễn cái ác; ít nhất cho tới thời Cải Cách Ruộng Ðất.
Các vị vua đầu tiên ở nước ta đặt hình luật cũng mô phỏng lối bên Trung Hoa. Ðời Ðường đặt ra năm thứ hình phạt “suy, trượng, đồ, lưu, tử;” đời nhà Ðinh bên mình cũng đặt ra năm hình phạt. Tội nặng nhất là tử hình, lại chia ra nhiều cách giết người, tùy theo sáng kiến của hình quan. Nổi tiếng ác như Lê Long Ðĩnh cũng chỉ hành hạ một ít người chứ không giết dây chuyền như các lãnh tụ nước Tầu. Ở nước mình cái gì cũng nhỏ, mà đó cũng là điều may. Nước mình không có Vạn Lý Trường Thành, dân đỡ phải phục dịch. Một bạo chúa đời Lê mạt dựng một cái nhà lầu bằng gỗ cao có mấy chục thước mà đã bị sử sách chê là xa xỉ, viên kiến trúc sư xây lầu cũng bị đời sau sỉ vả. Ở bên Tầu thì khác. Không phải họ ác hơn người mình, nhưng vì đất nước, lịch sử của hai dân tộc khác hẳn nhau.
Giữa thế kỷ 20, người Việt mình cũng được học và áp dụng cách giết người rất tàn bạo nhờ các cố vấn do ông Mao Trạch Ðông cử sang. Thí dụ, trong cuộc Cải Cách Ruộng Ðất, nhiều người Việt cũng đem chôn sống đồng bào mình, chôn đứng chỉ để hở cái đầu, rồi cho trâu kéo cầy đi qua lại nhiều lần, đến lúc nạn nhân chết mới thôi.
Khi đọc tin Mạc Ngôn được giải Nobel, tôi kể cho anh Sơn, ông bạn đang cùng ngồi uống cà phê về cuốn Ðàn Hương Hình và mấy cách hành hình trong đó - tôi không dám kể đến phương pháp hành hình sau cùng.
Anh bèn kể cho tôi nghe một cảnh chính anh đã chứng kiến. Ông bác anh đã bị tố là địa chủ, dù chỉ có mấy mẫu ruộng thừa tự. Cụ bị hành hạ bằng cách chôn xuống đất, chỉ để cái đầu ngoi lên, nhìn thấy cái lưỡi cầy từ phía trước đang tiến tới cứa cổ mình. Tôi ngây thơ hỏi: “Thế sao ông không nhắm mắt?” “Nhắm mắt sao được? Chúng nó đập cho, bắt phải mở mắt ra chứ!” “Nó cầy mấy lần thì cụ chết?” “Không cho chết, thế mới là tố khổ. Nó bắt người ta phải nhìn cái lưỡi cầy sắc bén trườn trên mặt đất, ngang tầm mắt mình, như con dao lừng lững tiến tới sắp cứa cổ mình! Rồi lại chờ cái lưỡi cầy quay một vòng, rồi lại nhắm đầu mình tiến một tới lần nữa! Mỗi lần nó chỉ cứa đứt một mảng thịt thôi, cho tới lúc ông cụ kiệt lực ngất xỉu chúng mới ngưng. Vì giết một người đã xỉu rồi thì chúng không được hưởng cái thú hành hạ người ta nữa.” Ông bác anh bạn tôi sau đó còn tiếp tục sống mấy tháng trước khi chết, vì bị bỏ đói. Trong ba tháng sau cùng cuộc đời ông, ông phải sống với hình ảnh cái lưỡi cầy đang tiến tới trước mặt.
Nhiều người nghe thuật lại những chuyện trên chắc không tin là chuyện đó có thật. Thi sĩ Hữu Loan, tác giả bài thơ Mầu Tím Hoa Sim đích thân kể trong một hồi ký, đọc ông thì phải tin. Thời kháng chiến bắt đầu năm 1947, hai cụ song thân bà Hữu Loan từng được phong làm địa chủ cứu quốc. Nhiều lần họ đã chở gạo nuôi bộ đội sư đoàn 304 của Hữu Loan cho nên thi sĩ rất biết ơn. Ðến thời Cải Cách Ruộng Ðất, các cụ bị tố là địa chủ, bị hành hình bằng lưỡi cầy.
Phương pháp chôn đứng người ta rồi giết bằng lưỡi cầy, chắc phải do các cố vấn Trung Cộng giúp đỡ, hướng dẫn và chỉ đạo trong thời Cải Cách Ruộng Ðất. Người Việt mình khó có ai lại nẩy ra được những sáng kiến như thế. Giết một mạng người cũng ghê tay quá rồi; chớ đừng nói trước khi giết còn hành hạ, tra tấn người ta bằng lưỡi cầy! Ðồng bào với nhau, ai nỡ giết nhau như vậy. Cho nên chỉ có các cố vấn Trung Cộng mới bày ra được các phương pháp đó, theo truyền thống Ðàn Hương Hình.
Ông Mao Trạch Ðông đã để lại một di sản đẫm máu trong lịch sử Trung Hoa nhưng ông không phải là người Trung Hoa tiêu biểu, ông ta cũng không là một ông hoàng đế tiêu biểu. Nhiều người Trung Hoa rất tốt, như ông Khổng Tử, hay thi sĩ Ðỗ Phủ chẳng hạn. Ông Mao chỉ là hình ảnh tiêu biểu của một bạo chúa Trung Hoa. Vì ông sống trong nền văn hóa Trung Hoa cho nên ông cũng đi tới một chỗ cùng cực của tội ác, mà lịch sử Trung Hoa sau này sẽ kết án.
Một nhà kinh tế cùng họ, ông Mao Vu Thức (Mao Yushi, sinh 1929), đã nhận xét rằng: “Trong ba tay giết người tập thể lớn của thế kỷ 20, Hitler, Stalin, và Mao Trạch Ðông thì Mao đã giết nhiều người nhất. Chính sách kinh tế tập thể, “Bước Nhẩy Vọt” của ông làm 30 triệu người chết đói.” Mao Trạch Ðông dùng lý thuyết đấu tranh giai cấp để chiếm đoạt quyền hành; nhưng Mao Vu Thức nhận thấy, “Ông ta cả đời chỉ lo củng cố quyền cho mình. Chẳng liên can gì tới đấu tranh giai cấp cả.” Vu Thức viết: “Không những Mao Trạch Ðông gây đau khổ cho người Trung Hoa, ông còn xuất khẩu để cả thế giới được chia phần sự tàn bạo của ông ta. Học trò giỏi nhất của ông là Pol Pot, kẻ giết người nhẫn tâm nhất.”
Trong thời Bước Nhẩy Vọt, Mao đã làm 30 triệu dân Tàu chết đói, chết bệnh. Ở huyện Tỉnh Nghiên, Tứ Xuyên, năm 1959, vào lúc đói kém nhất, cứ 8 người dân, có một người chết đói.
Khi các địa phương báo lên sản lượng lương thực không những không tăng mà còn giảm, Mao bèn kết tội dân cả nước “giấu bớt lương thực.” Hiểu ý của Mao, khu ủy huyện Tín Dương, tỉnh Hà Nam tập họp 6,000 người để đấu tố 60 người về tội “giấu bớt lương thực” không nộp cho nhà nước. Ðể chứng tỏ ông Mao bao giờ cũng nói đúng. Nhưng trong cuộc đấu tố này, chính những người đi dự hôm ấy cũng đang gần chết đói; một người chết đói tại chỗ, 19 người chết trên đường về nhà. Tỉnh Hà Nam dù chỉ có được dưới 10 triệu tấn ngũ cốc, vẫn báo cáo lên là thu hoạch hơn 22 triệu tấn, để chứng tỏ bác Mao giỏi. Năm 1959, trên toàn quốc, theo báo cáo 270 triệu tấn lương thực, thực tế chỉ có 170 triệu tấn; năm 1960 giảm xuống chỉ còn 143 triệu tấn. Nạn đói tràn lan, nhưng Bí thư Khu ủy Tín Dương vẫn lên giọng: “Vấn đề không phải là thiếu lương thực! Tới 90% là vấn đề tư tưởng!” Khu ủy Tín Dương sau đó phong tỏa, không cho dân chúng ra khỏi làng, sợ họ mang thây ma đói đi ăn mày nơi khác. Theo tài liệu do Bộ Chính Trị Trung Quốc “giải mật” sau này, những năm ấy Tín Dương có hơn một triệu người chết đói. Trịnh Ðại Quân, một cán bộ Ban Công Tác Nông Thôn huyện Sùng Khánh kể rằng, một đội sản xuất có 82 hộ gia đình, chỉ trong một năm, từ tháng 12 năm 1959 đến tháng 11 năm 1960 trong số 55 bé gái bẩy tuổi trở xuống cùng độ tuổi có 48 em bị người lớn làm thịt.
Ðối với ông Mao, đó chỉ là những con số thống kê vô nghĩa, mà ông cũng không đọc các con số đó bao giờ. Khi đọc Ðàn Hương Hình của Mạc Ngôn, chúng ta phải thấy ông dùng ngòi bút kể chuyện xưa để bắt độc giả người Trung Quốc phải nghĩ tới hình ảnh cái ác vào thời nay. Ðó là lối quen thuộc của các tác giả Trung Hoa thời xưa. Những chuyện Liêu Trai Chí Dị (mà Mạc Ngôn nói đã ảnh hưởng tới ông) kể chuyện ma, nhưng cốt để nói đến xã hội người sống. Khi các nhà văn nước ta như Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Bình Phương tả cái ác thản nhiên trong đời sống hàng ngày của con người thời nay, họ cũng nhắc mọi người về nguyên nhân gây nên cái ác.
Vì nước ta cũng được chia phần, nhập cảng nhiều di sản mà Mao Trạch Ðông. Ðặc biệt là những phương pháp hành hạ người ta bằng cái đói; các phương pháp kiểm soát tư tưởng từ thường dân đến cán bộ; các kỹ thuật đấu tranh để tiêu diệt những người mình ghét ở trong làng, trong nước, và ngay đối với các đồng chí cùng đảng có thể tranh quyền với mình.
Theo kiểu vua chúa Trung Hoa, giết người chưa đủ, còn phải hành hạ, hành hạ trước đám đông cho sỉ nhục, rồi bắt ôm nỗi nhục đó sống mòn héo suốt đời cho tới lúc chết. Cùng một phương pháp đó đã được áp dụng từ cấp trung ương cho tới từng thôn xóm. Trong việc nhập khẩu một phương pháp giết người, con số người chết lớn nhỏ không quan trọng bằng những hậu quả tâm lý xã hội. Hậu quả đó là: Hành động giết người tàn nhẫn sẽ thay đổi cách người ta sống và cư xử với nhau.
Sau khi được chứng kiến những phương pháp giết tróc mới thi hành ngày này qua ngày khác, thì tâm lý con người phải đổi khác. Cách người ta đánh giá một con người, quan niệm về mạng sống một cá nhân, ngay cả cách nhìn người bên cạnh như các con người hay chỉ là những “đối tượng,” tất cả cái đầu con người thay đổi. Trước đây trông vào mặt ai vẫn cũng thấy nhau như những người hàng xóm, bà con, đồng bào máu mủ. Nhưng sau khi được tập cho quen với việc giết những người vô tội, người ta nhìn lẫn nhau không còn thấy đó là những người làng, hàng xóm, anh em bà con nữa. Ðược học tập, huấn luyện rồi, chỉ còn nhìn thấy những đối tượng đấu tranh và căm thù. Nhiều người đã hãnh diện vì biết lột xác, không để những cảm tình nhân đạo vụn vặt làm vướng ý thức giai cấp, tinh thần đấu tranh giai cấp của họ. Con tố cáo cha, vợ đấu tố chồng, đó là những nền nếp văn hóa mới từ Trung Quốc truyền sang. Sau khi được huấn luyện theo chủ trương của Mao, xã hội nước mình có thay đổi thật. Cả một đội ngũ văn nghệ sĩ đi làm thơ dạy bảo người Việt Nam, “Chưa biết căm thù thì chưa biết yêu thương.” Ý kiến đó trái ngược hẳn với những lời dạy của của Lý Nhân Tông, Trần Thái Tông, Nguyễn Trãi: “Ðem đại nghĩa để thắng hung tàn.” Người ta không thể dùng Ác để làm việc Thiện; chỉ có điều thiện mới giúp nảy sinh ra điều thiện. Khi đem nhập cảng cái ác của Mao Trạch Ðông vào nước ta, tức là đã chấp nhận suy nghĩ như ông Mao.
Ðó là một vấn đề văn hóa. Cứ hỏi tại sao nền nếp đạo lý của nước mình bây giờ bị tàn hoại, trẻ em cũng biết ăn cắp, biết trấn lột lẫn nhau. Nhiều người lớn đã chấp nhận văn hóa kiểu mới từ hơn nửa thế kỷ rồi. Các các tai họa đó được người Việt nhìn ra ngay, và có thay đổi. Chúng ta vẫn còn là người Việt Nam; không thể nào bị Mao hóa mãi mãi! Tuy nhiên, như Lưu Quang Vũ viết: “Có những cái sai không thể đổi được! Giết người rồi thì không làm cho người ta sống lại!” Nhưng khi đọc Mạc Ngôn, chúng ta phải thấy dân tộc mình may mắn, không trở thành một tỉnh của Trung Quốc!

Trường hợp nhạc sĩ Việt Khang - Đôi lời thưa Chủ tịch nước
Đỗ Trung Quân -
NS Trịnh Công Sơn ngay còn sinh thời thì “Gia tài của mẹ” cũng mặc nhiên bị cấm hát bởi những ca từ “một ngàn năm nô lệ giặc Tàu... một trăm năm nô lệ Tây... hai mươi năm nội chiến từng ngày... gia tài của mẹ một bọn lai căng... gia tài của mẹ một lũ bội tình”. Bây giờ người ta ngày càng ý thức sâu hơn vì sao ca khúc ấy bị cấm. Nó bị cấm không phải vì tác giả sống và sáng tác ở miền Nam Việt Nam. Nó bị cấm vì nó đúng thực trạng của chế độ mới, những người giải phóng miền Nam: Thân Tàu, nguyên do sâu xa là thế. Chế độ hôm nay hoặc cấm hoặc không thích bản nhạc này và nhiều bài khác của TCS là tất yếu.
Nhưng TCS không bị bắt, Ca khúc Da Vàng chỉ bị cấm. Trịnh Công Sơn may mắn cho đến cuối đời. Cả hai chế độ suy cho cùng vẫn lẹ tay với ông bởi tài năng của chính ông và bằng sự mến mộ trong lòng khán giả của cả hai chế độ.
Nhạc sĩ Miên Đức Thắng tham gia phong trào sinh viên đô thị chỉ với dăm ca khúc phản chiến mà cũng chưa nhiều người kịp biết đến “giết người đi con, giết người mà lên lon...” [Mẹ nuôi con lớn con đi làm tù binh] hay “một mai qua cơn giông tố nắng lên soi rõ mặt nhau… đời không cho ta im tiếng nói dẫu cho con đường còn xa...” Miên Đức Thắng bị tòa án quân sự chế độ cũ xử 5 năm tù khổ sai miễn biệt xứ. Nhưng hôm nay, ở chế độ mới, những ca khúc này nếu muốn hát lên chắc chắn cũng không được cho phép vì ca từ quá nhạy cảm: Giết người đi con... giết người mà lên lon...”
Trường hợp Tôn Thất Lập. Ông đang là chức sắc trong Ban chấp hành Hội Âm nhạc Việt Nam & Thành phố HCM. Những ca khúc “Dậy mà đi”, “Hát cho dân tôi nghe” hùng tráng một thời trong khói đạn cay nếu hôm nay, những bài hát ấy được sử dụng cho những cuộc xuống đường chắc chắn nó cũng bị cấm dù với cá nhân Tôn Thất Lập, ông an toàn, sẽ không ai bắt ông cả. Ông là quan chức âm nhạc đương nhiệm của chế độ, ông là đảng viên và là chức sắc và ông cũng chả xuống đường chống Trung Quốc. Nhưng những bài hát ấy nếu hát trên mặt đường thì đừng. Cũng cấm không thành văn đấy.
Để bắt hay cấm một nhạc sĩ vì một vài ca khúc ắt phải được gán cho lý do chính trị. Trịnh Công Sơn, Tôn Thất Lập. Miên Đức Thắng thân cộng. Nếu chế độ cũ xử cũng là phải đạo theo cách “muốn” của họ
Trường hợp Việt Khang.
Tôi chưa từng gặp anh, chỉ biết ca khúc và mặt mũi anh trên mạng. Anh bị tù vì ca khúc của mình mà xét về bề dày số lượng so với những người vừa kể chắc chắn còn kém xa.
Vậy sao anh ở tù và phải ra tòa? Anh chống cộng ư? Tôi không rõ, chỉ biết ca khúc của anh “Việt Nam tôi đâu” được [hay bị] hãng Asian của Việt Dũng nghe đồn cũng một tay chống cộng ghê lắm dựng trong một chương trình gì đó của Asian. Nghe thế mà tôi hú hồn, toát cả mồ hôi hột. Nếu Asian dựng bài “Quê hương” của tôi ắt tôi cũng tù mọt gông ở Việt Nam?
Việt Khang có dính dáng tới đảng phái nào không tôi thú thật không biết.
Nhưng thưa chủ tịch nước Trương Tấn Sang người đang kêu gọi toàn dân, toàn đảng đừng sợ tố cáo tham nhũng, người đang kêu gọi toàn dân bảo vệ chủ quyền biển đảo, bài hát ấy chủ tịch đã nghe lần nào chưa? nếu đã nghe, tôi tin chắc ca từ của nó cũng chính là nỗi lo, nỗi đau của mọi người Việt Nam trong đó có cả Chủ tịch, nó khác gì “Hát cho dân tôi nghe tiếng hát tung cờ ngày nào... hát cho anh nông dân xiềng xích như mây tan hoang...” của Tôn Thất Lập.
Xét xử một nghệ sĩ / nhạc sĩ chỉ thông qua tác phẩm thì nó kỳ lắm chúng ta đâu còn lui về thời kỳ của Nhân văn giai phẩm nữa. Cùng lắm, nếu nó chướng tai với chính quyền cứ cấm nó là xong.
Còn đưa vào tù và ra tòa chỉ vì nó chống Tàu hay yêu nước, nó nói lên thực trạng mà từ Chủ tịch nước đến thường dân cũng biết, cũng hiểu. Thú thật nếu thế. Tôi người viết những dòng này có lẽ đã bị ở tù và ra tòa trước cả nhạc sĩ Việt Khang.
Vì những bài thơ chống Tàu...
Chống bọn cướp, bắt, đánh đập đồng bào tôi ngay trên biển đảo của mình...
Đúng thế không thưa Chủ tịch?
Đỗ Trung Quân
https://www.facebook.com/notes/trung-quan-do/
Thế giới nghĩ gì về hai ứng viên tổng thống Mỹ?
Khi tổng thống Obama và thống đốc Romney sắp đối mặt lần thứ ba và kết quả các thăm dò cho thấy Romney đang có cơ hội thực sự để giành Nhà Trắng, thế giới như chợt giật mình: Khoan đã, chuyện gì đang xảy ra thế?
Từ châu Âu đến Trung Quốc và Trung Đông, thế giới dường như nhận thức chậm chạp hơn thực tế về cuộc đua cực kỳ căng thẳng và sít sao giữa hai ứng viên. Tổng thống Obama còn đang rất nổi tiếng ở nước ngoài, và có nhiều dấu hiệu cho thấy các nhà lãnh đạo quốc tế chưa chuẩn bị để đón một tổng thống Mỹ Mitt Romney.

Ứng viên tổng thống đảng Cộng hòa Mỹ Mitt Romney bên cạnh phó tướng Paul Ryan trong một buổi vận động tranh cử. Ảnh: AP
Tại Tây Âu, ít người tưởng tượng ông Romney nắm quyền. Tại Trung Quốc, các quan chức đang tập trung vào quá trình chuyển giao quyền lãnh đạo sắp tới, mặc dù nhiều người lo lắng rằng cả hai ứng viên Mỹ đang nhằm đánh vào nước họ thay vì tìm cách hại nhau. Còn ở Trung Đông, hỗn loạn chính trị đã làm cho nhiều nhà hoạt động và các quan chức không thể chú tâm theo dõi được cuộc bầu cử.
Các nhà lãnh đạo châu Âu có lý do để lảng tránh vấn đề. Từ vùng đồi núi Scotland ở phía bắc, cho đến gót của chiếc ủng Italy ở cực nam, người ta đều ủng hộ Obama. Một cuộc thăm dò tháng trước do Quỹ Marshall Đức cho thấy người châu Âu phá vỡ kỷ lục, dành tới 75% sự ủng hộ cho Obama, trong khi chỉ 8% cho Romney
Ngay cả các nhà lãnh đạo các đảng bảo thủ Âu châu cũng cố gắng tỏ ra gần gũi hơn với Tổng thống Mỹ bởi làm như vậy họ sẽ kiếm được nhiều phiếu của cử tri hơn, cho dù cơn sốt Obama nay đã giảm nhiệt nhiều so với sự cuồng nhiệt của năm 2008.
Qua ba năm nếm trải khủng hoảng kinh tế - thứ từng đe dọa tràn cả sang Mỹ, các nhà lãnh đạo khu vực đồng eurro đã xây dựng một thứ liên minh vững chắc với ông Obama. Họ lo ngại rằng nếu ông Romney đắc cử, thì liên minh mà họ đã mất công xây dựng đó sẽ trở về con số không. Đại diện của phe Cộng hòa Mỹ từng tuyên bố rằng châu Âu nay chính là biểu tượng của một nhà nước xã hội chủ nghĩa với một chính phủ lớn, thứ ông Obama đang muốn xây nên.
Tại Đức, thành trì về thắt lưng buộc bụng ở châu Âu, các nhà phân tích nói rằng, Thủ tướng Angela Merkel có lẽ sẽ thích Obama chiến thắng, mặc dù Ronald Reagan từng là thần tượng thời bà còn trẻ. Đảng Liên minh Dân chủ Thiên chúa giáo của bà, trong lịch sử đã đứng về phía đảng Cộng hòa, nhưng Merkel đã tập trung vào một tầm nhìn về sự bền vững tài chính, bao gồm các loại thuế cao cùng với chi tiêu chính phủ ít hơn.
Một cuộc thăm dò dư luận giữa tháng 10 của hãng Emnid cho tờ báo Bild cho thấy 82% người Đức dự đoán Obama sẽ thắng, so với 11% dự kiến Romney thắng.
Stefan Kornelius, chủ bút đối ngoại tờ nhật báo Sueddeutsche Zeitung ở Đức nói: “Còn nhiều thứ đang dang dở” giữa Mỹ và thế giới bên ngoài. Bà Merkel “sợ rằng những người Cộng hòa sẽ phải bắt đầu lại quá trình tìm hiểu về cuộc khủng hoảng đồng eurro".
Các quan chức cấp cao của đảng Liên đoàn Dân chủ Thiên chúa giáo khi đến thăm Đại hội toàn quốc của đảng Cộng hòa tại Tampa mùa hè vừa qua đã thận trọng nói với báo giới Đức là họ cũng thân thiện với những người Dân chủ ở Mỹ. Tình cảm tương tự có thể thấy rõ ở hầu hết các thành phố khác ở châu Âu do phe bảo thủ nắm quyền.
Tại Anh, Romney được coi như là đại diện cho một đảng đang ngày càng nghiêng về phía hữu trong các vấn đề xã hội, do đó không có nhiều điểm đồng với các người đồng cấp của ông ở bên kia bờ Đại Tây Dương, nếu so với các ứng cử viên của đảng Cộng hòa trước đây. Chính phủ liên hiệp do Thủ tướng David Cameron dẫn đầu, một chính phủ bảo thủ, đã chấp nhận hôn nhân đồng tính và thề sẽ mạnh dạn đấu tranh với biến đổi khí hậu toàn cầu.
Hố sâu ngăn cách giữa đảng Cộng hòa ở Mỹ và những người bảo thủ ở Anh đã được thể hiện rõ nét trong chuyến thăm London của Romney ngay trước Thế vận hội Olympic, khi ông nhận xét là thành phố chưa thật sự sẵn sàng để tổ chức Thế vận hội. Bình luận đó đã gây ra các phản ứng chua cay từ Cameron và Thị trưởng London, Boris Johnson, một người theo chủ nghĩa bảo thủ.
Trung Quốc lo lắng về ngôn từ
Tại Trung Quốc, năm nay nhiều người tỏ ra quan tâm đến cuộc bầu cử ở Mỹ hơn năm 2008. Số lượng người sử dung Internet đã bùng nổ từ lúc đó, và giới truyền thông phi nhà nước đã trở nên mạnh mẽ hơn. Trên báo chí đã có những bài viết về các khoản đầu tư của ông Romney vào Trung Quốc, cùng với các bình luận về tiến trình dân chủ đang diễn ra ở Mỹ.
Tuy nhiên Trung Quốc đang chuẩn bị chuyển giao quyền lực một thập kỷ một lần, sẽ diễn ra chỉ vài ngày sau ngày bầu cử ở Mỹ. Đại hội đảng lần thứ 18 của Trung Quốc sẽ khai mạc cũng trong tháng 11. Các nguồn thông tin chính của Trung Quốc đang được tập trung vào tương lai của nước này nhiều hơn, chứ không dành nhiều để nói về khả năng Romney thắng cử.
Hầu hết việc đưa tin về chiến dịch tranh cử tổng thống ở Mỹ đều tập trung vào ngôn từ chống Trung Quốc của các ứng viên hơn là về khả năng ai sẽ trở thành tổng thống. Obama và Romney đã có các cuộc tranh luận gay gắt về những cáo buộc Trung Quốc thao túng tiền tệ, hoạt động thương mại không công bằng và mất công ăn việc làm của người dân Mỹ. Hai ứng viên đều buộc tội đối thủ mềm yếu về những vấn đề này. Vì thế người Trung Quốc lo rằng dù là Obama hay Romney cũng khó mà rút lại những lời lẽ cứng rắn của họ nhằm vào Trung Quốc sau bầu cử.
Bộ Ngoại giao Trung Quốc và Tân Hoa Xã tuần trước đã có một bước đi khác thường khi bình luận về bầu cử Mỹ và kêu gọi hai ứng viên hạ giọng về Trung Quốc. Xã luận của Tân Hoa đầu tuần trước nói: “Cuộc chạy đua quyết liệt cho chức tổng thống dường như đã biến thành một cuộc thi trong đó ai đóng vai trò cứng rắn hơn với Trung Quốc sẽ là người chiến thắng.”
Một cuộc thăm dò trong tháng này ở Hàn Quốc cho thấy đa phần dân chúng, tới 82%, muốn Tổng thống Mỹ Barack Obama tái đắc cử, bởi ông chủ trương phát triển mối quan hệ gần gũi hơn với người đồng nhiệm Lee Myung-bak của Hàn Quốc.
Những người trông chờ Romney
Có một số nhà lãnh đạo và người dân muốn Romney thắng cử. Đông Âu từ lâu cho rằng ứng viên Cộng hòa có cảm tình hơn đối với cuộc đấu tranh của họ chống Nga, và cựu tổng thống Ba Lan Lech Walesa mùa hè vừa qua đã ủng hộ Romney.
Tại Israel, chính sách Trung Đông của Obama bị nghi ngờ. Rất nhiều người đã lặng lẽ trông chờ một chiến thắng cho Romney. Mặc dù Thủ tướng Benjamin Netanyahu cố gắng thể hiện lập trường phi đảng phái, ông đã từ lâu là bạn của Romney và quan hệ của ông với Obama lâu nay thường lạnh nhạt.
Các nơi khác tại Trung Đông, nhiều nước tập trung vào vấn đề nội bộ như khó khăn kinh tế và việc chuyển giao dân chủ đang bị lung lay sau Mùa Xuân Arab. Ngoài ra tại Trung Đông lâu nay vẫn còn phổ biến việc lo ngại rằng bất kể ai lên làm tổng thống, chính sách đối ngoại của Mỹ vẫn không có gì thay đổi.
Khaled Heba, một nhà văn viết cho tờ báo nhà nước là al-Youm al Sabaa nói rằng tại Ai Cập, không mấy người để ý theo dõi cuộc tranh luận tổng thống Mỹ. Vấn đề Romney đấu với Obama hiển nhiên chẳng phải là một ưu tiên của họ.
“Người Ai Cập nói chung hiện nay không thiết gì đến tình hình Mỹ. Tất cả mọi quan tâm của họ là cuộc xung đột giữa các lực lượng chính trị trong nội bộ quốc gia. Ở Ai Cập, tình hình kinh tế của chúng tôi đang xấu đi. Những vấn đề nội bộ của chúng tôi quan trọng hơn tình hình thế giới bên ngoài”.
Kết quả thăm dò khả năng thắng cử của hai ứng viên tổng thống Mỹ trước tranh luận lần ba, do The Fix tiến hành. Các bang màu xanh đậm chắc chắn dành phiếu cử tri đoàn cho Obama. Bang xanh nhạt nhiều khả năng ủng hộ Obama. Bang đỏ đậm chắc chắn, đỏ nhạt nhiều khả năng ủng hộ Romney. Các bang màu vàng là chiến trường quan trọng nhất, nơi khả năng về tay ai chưa ngã ngũ.
Theo thăm dò này, Obama hiện dẫn trước với tổng số phiếu cử tri đoàn của các bang xanh là 255. Số phiếu của các bang đỏ dành cho Romney là 206. Tổng cộng có 538 phiếu cử tri đoàn. Ứng viên nào có được 270 phiếu hoặc hơn sẽ trở thành tổng thống tiếp theo của Mỹ.
Phạm Ngọc Uyển
(theo Washington Post, AFP)
Khi tổng thống Obama và thống đốc Romney sắp đối mặt lần thứ ba và kết quả các thăm dò cho thấy Romney đang có cơ hội thực sự để giành Nhà Trắng, thế giới như chợt giật mình: Khoan đã, chuyện gì đang xảy ra thế?
Từ châu Âu đến Trung Quốc và Trung Đông, thế giới dường như nhận thức chậm chạp hơn thực tế về cuộc đua cực kỳ căng thẳng và sít sao giữa hai ứng viên. Tổng thống Obama còn đang rất nổi tiếng ở nước ngoài, và có nhiều dấu hiệu cho thấy các nhà lãnh đạo quốc tế chưa chuẩn bị để đón một tổng thống Mỹ Mitt Romney.

Ứng viên tổng thống đảng Cộng hòa Mỹ Mitt Romney bên cạnh phó tướng Paul Ryan trong một buổi vận động tranh cử. Ảnh: AP
Tại Tây Âu, ít người tưởng tượng ông Romney nắm quyền. Tại Trung Quốc, các quan chức đang tập trung vào quá trình chuyển giao quyền lãnh đạo sắp tới, mặc dù nhiều người lo lắng rằng cả hai ứng viên Mỹ đang nhằm đánh vào nước họ thay vì tìm cách hại nhau. Còn ở Trung Đông, hỗn loạn chính trị đã làm cho nhiều nhà hoạt động và các quan chức không thể chú tâm theo dõi được cuộc bầu cử.
Các nhà lãnh đạo châu Âu có lý do để lảng tránh vấn đề. Từ vùng đồi núi Scotland ở phía bắc, cho đến gót của chiếc ủng Italy ở cực nam, người ta đều ủng hộ Obama. Một cuộc thăm dò tháng trước do Quỹ Marshall Đức cho thấy người châu Âu phá vỡ kỷ lục, dành tới 75% sự ủng hộ cho Obama, trong khi chỉ 8% cho Romney
Ngay cả các nhà lãnh đạo các đảng bảo thủ Âu châu cũng cố gắng tỏ ra gần gũi hơn với Tổng thống Mỹ bởi làm như vậy họ sẽ kiếm được nhiều phiếu của cử tri hơn, cho dù cơn sốt Obama nay đã giảm nhiệt nhiều so với sự cuồng nhiệt của năm 2008.
Qua ba năm nếm trải khủng hoảng kinh tế - thứ từng đe dọa tràn cả sang Mỹ, các nhà lãnh đạo khu vực đồng eurro đã xây dựng một thứ liên minh vững chắc với ông Obama. Họ lo ngại rằng nếu ông Romney đắc cử, thì liên minh mà họ đã mất công xây dựng đó sẽ trở về con số không. Đại diện của phe Cộng hòa Mỹ từng tuyên bố rằng châu Âu nay chính là biểu tượng của một nhà nước xã hội chủ nghĩa với một chính phủ lớn, thứ ông Obama đang muốn xây nên.
Tại Đức, thành trì về thắt lưng buộc bụng ở châu Âu, các nhà phân tích nói rằng, Thủ tướng Angela Merkel có lẽ sẽ thích Obama chiến thắng, mặc dù Ronald Reagan từng là thần tượng thời bà còn trẻ. Đảng Liên minh Dân chủ Thiên chúa giáo của bà, trong lịch sử đã đứng về phía đảng Cộng hòa, nhưng Merkel đã tập trung vào một tầm nhìn về sự bền vững tài chính, bao gồm các loại thuế cao cùng với chi tiêu chính phủ ít hơn.
Một cuộc thăm dò dư luận giữa tháng 10 của hãng Emnid cho tờ báo Bild cho thấy 82% người Đức dự đoán Obama sẽ thắng, so với 11% dự kiến Romney thắng.
Stefan Kornelius, chủ bút đối ngoại tờ nhật báo Sueddeutsche Zeitung ở Đức nói: “Còn nhiều thứ đang dang dở” giữa Mỹ và thế giới bên ngoài. Bà Merkel “sợ rằng những người Cộng hòa sẽ phải bắt đầu lại quá trình tìm hiểu về cuộc khủng hoảng đồng eurro".
Các quan chức cấp cao của đảng Liên đoàn Dân chủ Thiên chúa giáo khi đến thăm Đại hội toàn quốc của đảng Cộng hòa tại Tampa mùa hè vừa qua đã thận trọng nói với báo giới Đức là họ cũng thân thiện với những người Dân chủ ở Mỹ. Tình cảm tương tự có thể thấy rõ ở hầu hết các thành phố khác ở châu Âu do phe bảo thủ nắm quyền.
Tại Anh, Romney được coi như là đại diện cho một đảng đang ngày càng nghiêng về phía hữu trong các vấn đề xã hội, do đó không có nhiều điểm đồng với các người đồng cấp của ông ở bên kia bờ Đại Tây Dương, nếu so với các ứng cử viên của đảng Cộng hòa trước đây. Chính phủ liên hiệp do Thủ tướng David Cameron dẫn đầu, một chính phủ bảo thủ, đã chấp nhận hôn nhân đồng tính và thề sẽ mạnh dạn đấu tranh với biến đổi khí hậu toàn cầu.
Hố sâu ngăn cách giữa đảng Cộng hòa ở Mỹ và những người bảo thủ ở Anh đã được thể hiện rõ nét trong chuyến thăm London của Romney ngay trước Thế vận hội Olympic, khi ông nhận xét là thành phố chưa thật sự sẵn sàng để tổ chức Thế vận hội. Bình luận đó đã gây ra các phản ứng chua cay từ Cameron và Thị trưởng London, Boris Johnson, một người theo chủ nghĩa bảo thủ.
Trung Quốc lo lắng về ngôn từ
Tại Trung Quốc, năm nay nhiều người tỏ ra quan tâm đến cuộc bầu cử ở Mỹ hơn năm 2008. Số lượng người sử dung Internet đã bùng nổ từ lúc đó, và giới truyền thông phi nhà nước đã trở nên mạnh mẽ hơn. Trên báo chí đã có những bài viết về các khoản đầu tư của ông Romney vào Trung Quốc, cùng với các bình luận về tiến trình dân chủ đang diễn ra ở Mỹ.
Tuy nhiên Trung Quốc đang chuẩn bị chuyển giao quyền lực một thập kỷ một lần, sẽ diễn ra chỉ vài ngày sau ngày bầu cử ở Mỹ. Đại hội đảng lần thứ 18 của Trung Quốc sẽ khai mạc cũng trong tháng 11. Các nguồn thông tin chính của Trung Quốc đang được tập trung vào tương lai của nước này nhiều hơn, chứ không dành nhiều để nói về khả năng Romney thắng cử.
Hầu hết việc đưa tin về chiến dịch tranh cử tổng thống ở Mỹ đều tập trung vào ngôn từ chống Trung Quốc của các ứng viên hơn là về khả năng ai sẽ trở thành tổng thống. Obama và Romney đã có các cuộc tranh luận gay gắt về những cáo buộc Trung Quốc thao túng tiền tệ, hoạt động thương mại không công bằng và mất công ăn việc làm của người dân Mỹ. Hai ứng viên đều buộc tội đối thủ mềm yếu về những vấn đề này. Vì thế người Trung Quốc lo rằng dù là Obama hay Romney cũng khó mà rút lại những lời lẽ cứng rắn của họ nhằm vào Trung Quốc sau bầu cử.
Bộ Ngoại giao Trung Quốc và Tân Hoa Xã tuần trước đã có một bước đi khác thường khi bình luận về bầu cử Mỹ và kêu gọi hai ứng viên hạ giọng về Trung Quốc. Xã luận của Tân Hoa đầu tuần trước nói: “Cuộc chạy đua quyết liệt cho chức tổng thống dường như đã biến thành một cuộc thi trong đó ai đóng vai trò cứng rắn hơn với Trung Quốc sẽ là người chiến thắng.”
Một cuộc thăm dò trong tháng này ở Hàn Quốc cho thấy đa phần dân chúng, tới 82%, muốn Tổng thống Mỹ Barack Obama tái đắc cử, bởi ông chủ trương phát triển mối quan hệ gần gũi hơn với người đồng nhiệm Lee Myung-bak của Hàn Quốc.
Những người trông chờ Romney
Có một số nhà lãnh đạo và người dân muốn Romney thắng cử. Đông Âu từ lâu cho rằng ứng viên Cộng hòa có cảm tình hơn đối với cuộc đấu tranh của họ chống Nga, và cựu tổng thống Ba Lan Lech Walesa mùa hè vừa qua đã ủng hộ Romney.
Tại Israel, chính sách Trung Đông của Obama bị nghi ngờ. Rất nhiều người đã lặng lẽ trông chờ một chiến thắng cho Romney. Mặc dù Thủ tướng Benjamin Netanyahu cố gắng thể hiện lập trường phi đảng phái, ông đã từ lâu là bạn của Romney và quan hệ của ông với Obama lâu nay thường lạnh nhạt.
Các nơi khác tại Trung Đông, nhiều nước tập trung vào vấn đề nội bộ như khó khăn kinh tế và việc chuyển giao dân chủ đang bị lung lay sau Mùa Xuân Arab. Ngoài ra tại Trung Đông lâu nay vẫn còn phổ biến việc lo ngại rằng bất kể ai lên làm tổng thống, chính sách đối ngoại của Mỹ vẫn không có gì thay đổi.
Khaled Heba, một nhà văn viết cho tờ báo nhà nước là al-Youm al Sabaa nói rằng tại Ai Cập, không mấy người để ý theo dõi cuộc tranh luận tổng thống Mỹ. Vấn đề Romney đấu với Obama hiển nhiên chẳng phải là một ưu tiên của họ.
“Người Ai Cập nói chung hiện nay không thiết gì đến tình hình Mỹ. Tất cả mọi quan tâm của họ là cuộc xung đột giữa các lực lượng chính trị trong nội bộ quốc gia. Ở Ai Cập, tình hình kinh tế của chúng tôi đang xấu đi. Những vấn đề nội bộ của chúng tôi quan trọng hơn tình hình thế giới bên ngoài”.
Kết quả thăm dò khả năng thắng cử của hai ứng viên tổng thống Mỹ trước tranh luận lần ba, do The Fix tiến hành. Các bang màu xanh đậm chắc chắn dành phiếu cử tri đoàn cho Obama. Bang xanh nhạt nhiều khả năng ủng hộ Obama. Bang đỏ đậm chắc chắn, đỏ nhạt nhiều khả năng ủng hộ Romney. Các bang màu vàng là chiến trường quan trọng nhất, nơi khả năng về tay ai chưa ngã ngũ. Theo thăm dò này, Obama hiện dẫn trước với tổng số phiếu cử tri đoàn của các bang xanh là 255. Số phiếu của các bang đỏ dành cho Romney là 206. Tổng cộng có 538 phiếu cử tri đoàn. Ứng viên nào có được 270 phiếu hoặc hơn sẽ trở thành tổng thống tiếp theo của Mỹ.
Phạm Ngọc Uyển
(theo Washington Post, AFP)
Hội nghị đầu heo đuôi chuột
Ngô Nhân Dụng
Hội nghị Trung Ương Ðảng Cộng Sản Việt Nam vừa kết thúc có thể gọi là một hội nghị “đầu heo, đuôi chuột.” Ðầu heo, vì trước khi mở màn chỉ thấy cảnh “các cụ” họp ở “đình làng” đang giành nhau “cái thủ lợn,” người miền Nam gọi thủ lợn là cái đầu heo. Nhưng sau cùng hội nghị kết thúc, cái đuôi lòi ra thì nhìn rõ là “đuôi chuột.”
Những tay nịnh thần, chạy cờ vẫn dâng những lời xưng tụng: Thắng lợi! Thành công! Bản lĩnh chính trị cao! Khôn khéo và nhất quán! Vân vân. Nhưng cả cuộc họp bí mật suốt 15 ngày cuối cùng chẳng đưa ra kết quả nào cụ thể mà chỉ hô lại những khẩu hiệu trống rỗng và những đề nghị vô hiệu lực. Chỉ một người sung sướng toại nguyện, là Nguyễn Tấn Dũng. Riêng chuyện Ba Dũng vẫn ngồi yên tại chỗ, không ai dám chỉ mặt, gọi tên mà kể tội, đã là một thắng lợi rồi. Trong trận đấu đá này, Ba Dũng vượt trên những đối thủ đang đòi chia phần xôi thịt.
Ngay từ đầu, nhìn từ bên ngoài thì cả cuộc hội nghị này chỉ được mở ra với một mục đích là hạch tội Ba Dũng. Và lật đổ Dũng, nếu kiếm được đủ số phiếu. Ðó lý do chính khiến “các cụ” phải vội vàng “họp đình,” mà lại họp thật nhiều ngày. Bằng cớ là cái hội nghị được tổ chức ngay sau khi mới bắt giam Nguyễn Ðức Kiên, Dương Chí Dũng và hạch tội những Trần Xuân Giá, Lý Xuân Hải - toàn là những tay chân, đồng lõa, từng được Nguyễn Tấn Dũng chia phần?
Cảm tưởng của người ngoài cuộc là những cuộc họp “tự phê” của tất cả các cơ quan, bộ phận, chỉ là màn trình diễn giáo đầu trong chiến dịch đánh Dũng. Nhưng phải chờ màn chót là hội nghị kỳ sáu, tiêu điểm sau cùng vẫn là phê phán Ba Dũng. Cuộc giành giựt đầu heo còn diễn ra trên các mạng lưới Internet, với các màn chửi nhau qua lại giữa Ba Dũng với Tư Sang; phải nói là chửi rủa tục tĩu đến mức cạn tàu ráo máng. Và cuộc hội nghị Trung Ương Ðảng lần thứ sáu sẽ là màn chót của vở tuồng “đàn hặc” Ba Dũng; tương tự như hồi Hạ Viện Mỹ họp nhau để đàn hặc ông Bill Clinton bên Mỹ! Nhưng ở nước Mỹ thì Tổng Thống Bill Clinton đã bị Hạ Viện truy tố tội khai man, chuyển hồ sơ lên Thượng Viện xét xử; Clinton không bị truất phế chỉ vì không đủ hai phần ba số phiếu kết tội. Cả quá trình đàn hặc dựa trên bản Hiến Pháp của nước Mỹ; các buổi họp đều công khai; báo chí tha hồ loan tin và bình luận; các đại biểu Quốc Hội nói những gì và bỏ phiếu thế nào dân được biết hết. Còn tại nước Việt Nam ta thì khác. Cuộc họp Trung Ương diễn ra trong 15 ngày nhưng hoàn toàn đóng kín cửa! Người dân chỉ được biết tin sau cùng qua bản tin chính thức của đảng cộng sản!
Khi đọc bản tin thì thấy lòi ra là một cái đuôi chuột: Mục đích kể tội Ba Dũng không đạt được. Cái đầu heo vẫn nằm trong tay Ba Dũng để chia phần cho đám đàn em y như cũ. Phe chống Dũng không làm gì được bèn trở lại dùng sở trường độc đáo của đảng ta: Nói ba hoa. Toàn là những lời trống rỗng và những đề nghị mà đọc kỹ thì thấy làm cũng được, không làm cũng chẳng sao! Tất cả những đề nghị, khuyến cáo mà không cho biết có quyền lực nào để bắt buộc thi hành thì đều vô hiệu lực! Vì vậy cái đuôi hội nghị là đuôi chuột, vì nó giống hệt một hội đồng chuột!
Thành tích kinh tế của Nguyễn Tấn Dũng sau hơn hai nhiệm kỳ là tỷ lệ tăng trưởng kinh tế mỗi năm lại xuống thấp; lạm phát gia tăng; tham nhũng hoành tráng và oanh liệt hơn; những “tập đoàn kinh tế” thất bại hàng loạt. Nhưng sau cuộc họp 15 ngày, mấy trăm ủy viên Trung Ương Ðảng đã kết luận: “Trung ương tiếp tục khẳng định vai trò nòng cốt và những kết quả quan trọng đã đạt được của doanh nghiệp nhà nước!” Thế nào là “Kết quả quan trọng đã đạt được?” Bộ ai cũng mù hết cả hay sao mà không trông thấy những khoản thua lỗ khổng lồ và những vụ thất thoát, tham ô nhục quốc thể như Vinashin, Vinalines; những “của nợ” nợ đến ngập đầu mà không trả được như Tập đoàn Dầu khí (PVN-72,300 tỷ đồng), Ðiện lực (EVN-62,800 tỷ đồng), Than và Khoáng Sản (Vinacomin-19,600 tỷ đồng).
Ðể vuốt mặt cho Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang, bản thông cáo nêu lên một loạt những thứ gọi là “biện pháp, khuyến cáo” phải thay đổi. Nhưng nhìn kỹ, người ta chỉ thấy toàn là “từ chương,” nói nghe cho vui. Chúng hoàn toàn vô hiệu lực, vì không có gì bắt buộc Ba Dũng phải thi hành cả! Tất cả rỗng tuếch, vì nếu nhìn kỹ những “đề nghị biện pháp mới” chỉ là những điều đương nhiên Ba Dũng phải làm, không cần ai nhắc vẫn phải làm từ trong những năm qua! Họp hành suốt 15 ngày, chỉ để nhắc lại cho Ba Dũng nghe những điều đáng lẽ ra Ba Dũng phải thi hành từ mười năm nay rồi! Như vậy không gọi hội đồng chuột thì gọi là gì?
Chẳng hạn Trung Ương Ðảng dạy: “Các doanh nghiệp nhà nước phải được tổ chức lại theo mô hình công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn phù hợp với Luật Doanh Nghiệp.” Các doanh nghiệp nhà nước thì dù theo hình thức cổ phần hay trách nhiệm hữu hạn cũng do nhà nước kiểm soát vì nắm đa số. Ðã kiểm soát hoàn toàn thì thay đổi hình thức cũng thế thôi; đâu cần phải nhắc nhở như dạy trẻ con làm tính cộng trừ làm chi? Hơn nữa, ai mà chẳng biết các doanh nghiệp thì phải làm việc phù hợp với Luật Doanh Nghiệp? Nếu lâu nay chúng làm sai luật thì phải truy tố ra tòa; không ai cần nhắc lại một điều đương nhiên như thế làm gì!
Bản tin lại viết: “Các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty nhà nước lớn phải được cấu trúc lại theo mô hình công ty mẹ - công ty con; được kiểm toán hằng năm.” Nghe giống như dạy trẻ con học ABC! Các công ty lớn bao gồm nhiều công ty nhỏ trên khắp thế giới tự nhiên đều phân biệt “công ty mẹ - công ty con;” đâu cần nhắc lại chuyện hiển nhiên đó làm gì? Lại còn nhắc nhở “được kiểm toán hằng năm” nữa! Trên khắp mặt trái đất tất cả các công ty lớn nhỏ, tư cũng như công; không những phải được kiểm toán hằng năm mà còn kiểm toán từng ba tháng một lần nữa! Không trường nào dạy, ai cũng phải biết điều đó! Nếu có những đứa không làm là tại vì chúng bất chấp, chứ không phải vì chúng không biết! Chúng bất chấp vì cả hệ thống được lập ra để chúng chia phần xôi thịt, chứ không phải vì chúng đạo đức thấp hay lầm lỗi kỹ thuật! Khi chúng đã bất chấp thì bắt chúng kiểm toán hàng ngày cũng vậy thôi. Vì không hề có một cơ chế kiểm soát chuyên nghiệp và độc lập thì trò kiểm toán cũng giả dối y như các chính sách của đảng vậy thôi!
Tại sao các ông bà Trung Ương phải họp suốt 15 ngày chỉ để nhắc nhở những chuyện đương nhiên như vậy? Chỉ vì sau cùng tất cả đều thấy phải bảo vệ cái hệ thống xôi thịt đang có sẵn, cho chính họ được hưởng! Bản tin sau cùng cho thấy quyết tâm bảo vệ xôi thịt của họ khi yêu cầu “thực hiện việc chủ tịch hội đồng quản trị, chủ tịch hội đồng thành viên kiêm bí thư đảng ủy doanh nghiệp.” Căn bản của điều này là: Hồng trên, Chuyên dưới. Muốn làm chủ tịch công ty thì phải là bí thư. Muốn leo lên đến bí thư đảng ủy thì phải luồn lọt, chui qua được tất cả các ngõ ngách trong nội bộ đảng. Do đó, dù anh có kinh doanh tài giỏi đến đâu mà không chui vô được trong đảng thì cái tài của anh cũng vứt đi! Ðây là một bước tiến đi thẳng trở về thời Mao Trạch Ðông hoặc Brezhnev!
Họ còn viết: “Chuẩn bị nguồn quy hoạch dồi dào, mỗi chức danh có thể quy hoạch vài ba người, một người có thể quy hoạch vào vài ba chức danh. Lấy quy hoạch lãnh đạo chủ chốt ở các cấp làm cơ sở cho quy hoạch cấp chiến lược. Lấy quy hoạch cấp chiến lược thúc đẩy quy hoạch chủ chốt cấp dưới.” Tất cả câu văn dài lòng thòng đó chỉ nhắm một điều: Anh Ba Dũng, anh muốn “quy hoạch” thằng nào vào chức nào, anh phải hỏi ý kiến chúng tôi để thêm vài ứng viên khác!
Nhưng đây cũng là một lời dặn dò trống rỗng. Bởi vì đó là một nguyên tắc đã có từ thời Hồ Chí Minh: Nhà nước phải nghe lệnh của đảng. Không phải Ba Dũng không biết quy tắc đó. Biết cả đấy, nhưng không muốn thì không theo. Bây giờ bắt Ba Dũng làm theo, nhưng ép buộc bằng cách nào? Nếu các anh có sức bắt ép được, thì đã ép hắn phải theo quy tắc này từ cả chục năm nay rồi, khỏi cần họp hành 15 ngày nữa làm gì cả! Hắn đã không theo, chỉ vì hắn bất chấp, đã biết các anh có ghen tức cũng không làm gì được! Ngay đến việc kể tội hắn ra cũng không nêu đích danh được thì thấy! Thử hỏi sau này họp hành xong rồi, ai về nhà nấy chăm lo chuyện chia xôi xẻ thịt, các anh còn làm gì được hắn nữa? Cái đuôi chuột ló ra ở chỗ đó.
Ðiều đáng tức cười nhất là trong suốt hội nghị 15 ngày chắc chắn phe Tư Sang và Trọng Lú đã chỉ vào mặt Ba Dũng kể tội và đòi phải có biện pháp kỷ luật; nhưng bản thông cáo sau cùng lại không dám nhắc đến cái tên Nguyễn Tấn Dũng! Nghĩa là phe Ba Dũng vẫn mua được đủ số phiếu áp đảo; cho các cậu muốn nói gì thì nói, chó sủa thì cứ sủa, người đi vẫn đi qua!
Ðể quý vị độc giả nhìn rõ tính chất bi hài kịch của hội nghị 15 ngày, xin trích dẫn nguyên văn bản tin sau cùng này: “Ðể giữ nghiêm kỷ luật trong đảng, góp phần giữ gìn uy tín, hình ảnh thiêng liêng của đảng và làm gương trong toàn đảng, Bộ Chính Trị đã thống nhất 100% đề nghị Ban Chấp Hành Trung Ương cho được nhận một hình thức kỷ luật và xem xét kỷ luật đối với một đồng chí ủy viên Bộ Chính Trị.”
Ðã nói đến “một đồng chí ủy viên Bộ Chính Trị” nhưng tại sao lại không dám nói tên hắn ra? Sợ cái gì mà không dám nói? Ðiều tức cười hơn nữa: Bộ Chính Trị “đã thống nhất 100%” nhưng chỉ “thống nhất 100% trong quyết định không làm gì cả!”
Tại sao phải “đề nghị” để chuyển trái banh sang cho “Ban Chấp Hành Trung Ương” đá? Nhưng hai chữ “đề nghị” này nghĩa là gì? Ðề nghị là đề nghị làm cái gì, tại sao không có được một động từ? Lại thêm những câu khó hiểu như “cho được nhận một hình thức kỷ luật,” và “xem xét kỷ luật đối với một đồng chí ủy viên Bộ Chính Trị;” cả câu đó nghĩa là phải làm gì? Ðúng là một cái hội đồng chuột, với một quyết định hoàn toàn rỗng tuếch! Hơn nữa, chính cái Ban Chấp Hành Trung Ương đó đang có mặt tại chỗ, đã cãi sùi bọt mép với nhau trong suốt 15 ngày, tại sao không “đề nghị” để chúng cho ý kiến ngay lập tức, mà lại chỉ để chúng nghe “đề nghị” trống trơn, không xác định thời gian “xem xét kỷ luật?”
Nhưng ngay sau khi “đề nghị,” bản thông cáo lại viết là “Ban Chấp Hành Trung Ương đã thảo luận rất kỹ, cân nhắc toàn diện các mặt ở thời điểm hiện nay và đi đến quyết định không thi hành kỷ luật đối với tập thể Bộ Chính Trị và một đồng chí trong Bộ Chính Trị!” Như vậy nghĩa là đã “quyết định không thi hành kỷ luật” rồi! Ðúng là Ba Dũng đã thắng trong keo này, Trương Tấn Sang, Nguyễn Phú Trọng hoàn toàn thất bại.
Cuối cùng, đây chỉ là một cuộc hưu chiến. Ðiều duy nhất đạt được trong cuộc họp 15 ngày là họ kết luận phải bám chặt lấy nhau, không thể bỏ nhau, không thể chống phá nhau đến cùng được. Nhưng cuộc tranh chấp giữa Ba Dũng, Nguyễn Phú Trọng và Tư Sang chưa thể chấm dứt. Bằng cớ là trước khi cuộc họp bế mạc, trên mạng lưới đã phơi bày những lời tố cáo Ba Dũng bỏ tiền mua phiếu của 120 ủy viên Ban Chấp Hành Trung Ương (trong số gần 300 người) với giá tối thiểu là một trăm ngàn đô la Mỹ; còn các ủy viên Bộ Chính Trị được trả giá hàng chục triệu đô la! Cuộc tranh chấp nội bộ không phải chỉ là tranh chấp về quyền lợi giữa mấy tay lãnh đạo. Nguyên nhân sâu xa là cuộc khủng hoảng trong hệ thống sớm muộn cũng diễn ra. Ðây cũng không phải là một cuộc tranh chấp “giữa đảng và nhà nước” như nhiều nhà bình luận nghĩ. Ðây là một cuộc khủng hoảng giữa chính trị và kinh tế, thế tất phải xẩy ra sau khi các đảng cộng sản chỉ “đổi mới” về kinh tế, không biết thay đổi chính trị thích ứng với cách làm kinh tế mới. Ðây là cơn khủng hoảng sẽ đưa tới sự tan rã của các đảng cộng sản, ở Việt Nam cũng như ở Trung Quốc.
Ngô Nhân Dụng
Hội nghị Trung Ương Ðảng Cộng Sản Việt Nam vừa kết thúc có thể gọi là một hội nghị “đầu heo, đuôi chuột.” Ðầu heo, vì trước khi mở màn chỉ thấy cảnh “các cụ” họp ở “đình làng” đang giành nhau “cái thủ lợn,” người miền Nam gọi thủ lợn là cái đầu heo. Nhưng sau cùng hội nghị kết thúc, cái đuôi lòi ra thì nhìn rõ là “đuôi chuột.”
Những tay nịnh thần, chạy cờ vẫn dâng những lời xưng tụng: Thắng lợi! Thành công! Bản lĩnh chính trị cao! Khôn khéo và nhất quán! Vân vân. Nhưng cả cuộc họp bí mật suốt 15 ngày cuối cùng chẳng đưa ra kết quả nào cụ thể mà chỉ hô lại những khẩu hiệu trống rỗng và những đề nghị vô hiệu lực. Chỉ một người sung sướng toại nguyện, là Nguyễn Tấn Dũng. Riêng chuyện Ba Dũng vẫn ngồi yên tại chỗ, không ai dám chỉ mặt, gọi tên mà kể tội, đã là một thắng lợi rồi. Trong trận đấu đá này, Ba Dũng vượt trên những đối thủ đang đòi chia phần xôi thịt.
Ngay từ đầu, nhìn từ bên ngoài thì cả cuộc hội nghị này chỉ được mở ra với một mục đích là hạch tội Ba Dũng. Và lật đổ Dũng, nếu kiếm được đủ số phiếu. Ðó lý do chính khiến “các cụ” phải vội vàng “họp đình,” mà lại họp thật nhiều ngày. Bằng cớ là cái hội nghị được tổ chức ngay sau khi mới bắt giam Nguyễn Ðức Kiên, Dương Chí Dũng và hạch tội những Trần Xuân Giá, Lý Xuân Hải - toàn là những tay chân, đồng lõa, từng được Nguyễn Tấn Dũng chia phần?
Cảm tưởng của người ngoài cuộc là những cuộc họp “tự phê” của tất cả các cơ quan, bộ phận, chỉ là màn trình diễn giáo đầu trong chiến dịch đánh Dũng. Nhưng phải chờ màn chót là hội nghị kỳ sáu, tiêu điểm sau cùng vẫn là phê phán Ba Dũng. Cuộc giành giựt đầu heo còn diễn ra trên các mạng lưới Internet, với các màn chửi nhau qua lại giữa Ba Dũng với Tư Sang; phải nói là chửi rủa tục tĩu đến mức cạn tàu ráo máng. Và cuộc hội nghị Trung Ương Ðảng lần thứ sáu sẽ là màn chót của vở tuồng “đàn hặc” Ba Dũng; tương tự như hồi Hạ Viện Mỹ họp nhau để đàn hặc ông Bill Clinton bên Mỹ! Nhưng ở nước Mỹ thì Tổng Thống Bill Clinton đã bị Hạ Viện truy tố tội khai man, chuyển hồ sơ lên Thượng Viện xét xử; Clinton không bị truất phế chỉ vì không đủ hai phần ba số phiếu kết tội. Cả quá trình đàn hặc dựa trên bản Hiến Pháp của nước Mỹ; các buổi họp đều công khai; báo chí tha hồ loan tin và bình luận; các đại biểu Quốc Hội nói những gì và bỏ phiếu thế nào dân được biết hết. Còn tại nước Việt Nam ta thì khác. Cuộc họp Trung Ương diễn ra trong 15 ngày nhưng hoàn toàn đóng kín cửa! Người dân chỉ được biết tin sau cùng qua bản tin chính thức của đảng cộng sản!
Khi đọc bản tin thì thấy lòi ra là một cái đuôi chuột: Mục đích kể tội Ba Dũng không đạt được. Cái đầu heo vẫn nằm trong tay Ba Dũng để chia phần cho đám đàn em y như cũ. Phe chống Dũng không làm gì được bèn trở lại dùng sở trường độc đáo của đảng ta: Nói ba hoa. Toàn là những lời trống rỗng và những đề nghị mà đọc kỹ thì thấy làm cũng được, không làm cũng chẳng sao! Tất cả những đề nghị, khuyến cáo mà không cho biết có quyền lực nào để bắt buộc thi hành thì đều vô hiệu lực! Vì vậy cái đuôi hội nghị là đuôi chuột, vì nó giống hệt một hội đồng chuột!
Thành tích kinh tế của Nguyễn Tấn Dũng sau hơn hai nhiệm kỳ là tỷ lệ tăng trưởng kinh tế mỗi năm lại xuống thấp; lạm phát gia tăng; tham nhũng hoành tráng và oanh liệt hơn; những “tập đoàn kinh tế” thất bại hàng loạt. Nhưng sau cuộc họp 15 ngày, mấy trăm ủy viên Trung Ương Ðảng đã kết luận: “Trung ương tiếp tục khẳng định vai trò nòng cốt và những kết quả quan trọng đã đạt được của doanh nghiệp nhà nước!” Thế nào là “Kết quả quan trọng đã đạt được?” Bộ ai cũng mù hết cả hay sao mà không trông thấy những khoản thua lỗ khổng lồ và những vụ thất thoát, tham ô nhục quốc thể như Vinashin, Vinalines; những “của nợ” nợ đến ngập đầu mà không trả được như Tập đoàn Dầu khí (PVN-72,300 tỷ đồng), Ðiện lực (EVN-62,800 tỷ đồng), Than và Khoáng Sản (Vinacomin-19,600 tỷ đồng).
Ðể vuốt mặt cho Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang, bản thông cáo nêu lên một loạt những thứ gọi là “biện pháp, khuyến cáo” phải thay đổi. Nhưng nhìn kỹ, người ta chỉ thấy toàn là “từ chương,” nói nghe cho vui. Chúng hoàn toàn vô hiệu lực, vì không có gì bắt buộc Ba Dũng phải thi hành cả! Tất cả rỗng tuếch, vì nếu nhìn kỹ những “đề nghị biện pháp mới” chỉ là những điều đương nhiên Ba Dũng phải làm, không cần ai nhắc vẫn phải làm từ trong những năm qua! Họp hành suốt 15 ngày, chỉ để nhắc lại cho Ba Dũng nghe những điều đáng lẽ ra Ba Dũng phải thi hành từ mười năm nay rồi! Như vậy không gọi hội đồng chuột thì gọi là gì?
Chẳng hạn Trung Ương Ðảng dạy: “Các doanh nghiệp nhà nước phải được tổ chức lại theo mô hình công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn phù hợp với Luật Doanh Nghiệp.” Các doanh nghiệp nhà nước thì dù theo hình thức cổ phần hay trách nhiệm hữu hạn cũng do nhà nước kiểm soát vì nắm đa số. Ðã kiểm soát hoàn toàn thì thay đổi hình thức cũng thế thôi; đâu cần phải nhắc nhở như dạy trẻ con làm tính cộng trừ làm chi? Hơn nữa, ai mà chẳng biết các doanh nghiệp thì phải làm việc phù hợp với Luật Doanh Nghiệp? Nếu lâu nay chúng làm sai luật thì phải truy tố ra tòa; không ai cần nhắc lại một điều đương nhiên như thế làm gì!
Bản tin lại viết: “Các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty nhà nước lớn phải được cấu trúc lại theo mô hình công ty mẹ - công ty con; được kiểm toán hằng năm.” Nghe giống như dạy trẻ con học ABC! Các công ty lớn bao gồm nhiều công ty nhỏ trên khắp thế giới tự nhiên đều phân biệt “công ty mẹ - công ty con;” đâu cần nhắc lại chuyện hiển nhiên đó làm gì? Lại còn nhắc nhở “được kiểm toán hằng năm” nữa! Trên khắp mặt trái đất tất cả các công ty lớn nhỏ, tư cũng như công; không những phải được kiểm toán hằng năm mà còn kiểm toán từng ba tháng một lần nữa! Không trường nào dạy, ai cũng phải biết điều đó! Nếu có những đứa không làm là tại vì chúng bất chấp, chứ không phải vì chúng không biết! Chúng bất chấp vì cả hệ thống được lập ra để chúng chia phần xôi thịt, chứ không phải vì chúng đạo đức thấp hay lầm lỗi kỹ thuật! Khi chúng đã bất chấp thì bắt chúng kiểm toán hàng ngày cũng vậy thôi. Vì không hề có một cơ chế kiểm soát chuyên nghiệp và độc lập thì trò kiểm toán cũng giả dối y như các chính sách của đảng vậy thôi!
Tại sao các ông bà Trung Ương phải họp suốt 15 ngày chỉ để nhắc nhở những chuyện đương nhiên như vậy? Chỉ vì sau cùng tất cả đều thấy phải bảo vệ cái hệ thống xôi thịt đang có sẵn, cho chính họ được hưởng! Bản tin sau cùng cho thấy quyết tâm bảo vệ xôi thịt của họ khi yêu cầu “thực hiện việc chủ tịch hội đồng quản trị, chủ tịch hội đồng thành viên kiêm bí thư đảng ủy doanh nghiệp.” Căn bản của điều này là: Hồng trên, Chuyên dưới. Muốn làm chủ tịch công ty thì phải là bí thư. Muốn leo lên đến bí thư đảng ủy thì phải luồn lọt, chui qua được tất cả các ngõ ngách trong nội bộ đảng. Do đó, dù anh có kinh doanh tài giỏi đến đâu mà không chui vô được trong đảng thì cái tài của anh cũng vứt đi! Ðây là một bước tiến đi thẳng trở về thời Mao Trạch Ðông hoặc Brezhnev!
Họ còn viết: “Chuẩn bị nguồn quy hoạch dồi dào, mỗi chức danh có thể quy hoạch vài ba người, một người có thể quy hoạch vào vài ba chức danh. Lấy quy hoạch lãnh đạo chủ chốt ở các cấp làm cơ sở cho quy hoạch cấp chiến lược. Lấy quy hoạch cấp chiến lược thúc đẩy quy hoạch chủ chốt cấp dưới.” Tất cả câu văn dài lòng thòng đó chỉ nhắm một điều: Anh Ba Dũng, anh muốn “quy hoạch” thằng nào vào chức nào, anh phải hỏi ý kiến chúng tôi để thêm vài ứng viên khác!
Nhưng đây cũng là một lời dặn dò trống rỗng. Bởi vì đó là một nguyên tắc đã có từ thời Hồ Chí Minh: Nhà nước phải nghe lệnh của đảng. Không phải Ba Dũng không biết quy tắc đó. Biết cả đấy, nhưng không muốn thì không theo. Bây giờ bắt Ba Dũng làm theo, nhưng ép buộc bằng cách nào? Nếu các anh có sức bắt ép được, thì đã ép hắn phải theo quy tắc này từ cả chục năm nay rồi, khỏi cần họp hành 15 ngày nữa làm gì cả! Hắn đã không theo, chỉ vì hắn bất chấp, đã biết các anh có ghen tức cũng không làm gì được! Ngay đến việc kể tội hắn ra cũng không nêu đích danh được thì thấy! Thử hỏi sau này họp hành xong rồi, ai về nhà nấy chăm lo chuyện chia xôi xẻ thịt, các anh còn làm gì được hắn nữa? Cái đuôi chuột ló ra ở chỗ đó.
Ðiều đáng tức cười nhất là trong suốt hội nghị 15 ngày chắc chắn phe Tư Sang và Trọng Lú đã chỉ vào mặt Ba Dũng kể tội và đòi phải có biện pháp kỷ luật; nhưng bản thông cáo sau cùng lại không dám nhắc đến cái tên Nguyễn Tấn Dũng! Nghĩa là phe Ba Dũng vẫn mua được đủ số phiếu áp đảo; cho các cậu muốn nói gì thì nói, chó sủa thì cứ sủa, người đi vẫn đi qua!
Ðể quý vị độc giả nhìn rõ tính chất bi hài kịch của hội nghị 15 ngày, xin trích dẫn nguyên văn bản tin sau cùng này: “Ðể giữ nghiêm kỷ luật trong đảng, góp phần giữ gìn uy tín, hình ảnh thiêng liêng của đảng và làm gương trong toàn đảng, Bộ Chính Trị đã thống nhất 100% đề nghị Ban Chấp Hành Trung Ương cho được nhận một hình thức kỷ luật và xem xét kỷ luật đối với một đồng chí ủy viên Bộ Chính Trị.”
Ðã nói đến “một đồng chí ủy viên Bộ Chính Trị” nhưng tại sao lại không dám nói tên hắn ra? Sợ cái gì mà không dám nói? Ðiều tức cười hơn nữa: Bộ Chính Trị “đã thống nhất 100%” nhưng chỉ “thống nhất 100% trong quyết định không làm gì cả!”
Tại sao phải “đề nghị” để chuyển trái banh sang cho “Ban Chấp Hành Trung Ương” đá? Nhưng hai chữ “đề nghị” này nghĩa là gì? Ðề nghị là đề nghị làm cái gì, tại sao không có được một động từ? Lại thêm những câu khó hiểu như “cho được nhận một hình thức kỷ luật,” và “xem xét kỷ luật đối với một đồng chí ủy viên Bộ Chính Trị;” cả câu đó nghĩa là phải làm gì? Ðúng là một cái hội đồng chuột, với một quyết định hoàn toàn rỗng tuếch! Hơn nữa, chính cái Ban Chấp Hành Trung Ương đó đang có mặt tại chỗ, đã cãi sùi bọt mép với nhau trong suốt 15 ngày, tại sao không “đề nghị” để chúng cho ý kiến ngay lập tức, mà lại chỉ để chúng nghe “đề nghị” trống trơn, không xác định thời gian “xem xét kỷ luật?”
Nhưng ngay sau khi “đề nghị,” bản thông cáo lại viết là “Ban Chấp Hành Trung Ương đã thảo luận rất kỹ, cân nhắc toàn diện các mặt ở thời điểm hiện nay và đi đến quyết định không thi hành kỷ luật đối với tập thể Bộ Chính Trị và một đồng chí trong Bộ Chính Trị!” Như vậy nghĩa là đã “quyết định không thi hành kỷ luật” rồi! Ðúng là Ba Dũng đã thắng trong keo này, Trương Tấn Sang, Nguyễn Phú Trọng hoàn toàn thất bại.
Cuối cùng, đây chỉ là một cuộc hưu chiến. Ðiều duy nhất đạt được trong cuộc họp 15 ngày là họ kết luận phải bám chặt lấy nhau, không thể bỏ nhau, không thể chống phá nhau đến cùng được. Nhưng cuộc tranh chấp giữa Ba Dũng, Nguyễn Phú Trọng và Tư Sang chưa thể chấm dứt. Bằng cớ là trước khi cuộc họp bế mạc, trên mạng lưới đã phơi bày những lời tố cáo Ba Dũng bỏ tiền mua phiếu của 120 ủy viên Ban Chấp Hành Trung Ương (trong số gần 300 người) với giá tối thiểu là một trăm ngàn đô la Mỹ; còn các ủy viên Bộ Chính Trị được trả giá hàng chục triệu đô la! Cuộc tranh chấp nội bộ không phải chỉ là tranh chấp về quyền lợi giữa mấy tay lãnh đạo. Nguyên nhân sâu xa là cuộc khủng hoảng trong hệ thống sớm muộn cũng diễn ra. Ðây cũng không phải là một cuộc tranh chấp “giữa đảng và nhà nước” như nhiều nhà bình luận nghĩ. Ðây là một cuộc khủng hoảng giữa chính trị và kinh tế, thế tất phải xẩy ra sau khi các đảng cộng sản chỉ “đổi mới” về kinh tế, không biết thay đổi chính trị thích ứng với cách làm kinh tế mới. Ðây là cơn khủng hoảng sẽ đưa tới sự tan rã của các đảng cộng sản, ở Việt Nam cũng như ở Trung Quốc.
Lưới Tình Báo TQ
Trần Khải
Có phải Phó Thủ Tướng CSVN Hoàng Trung Hải là gián điệp Hoa Nam do Trung Quốc gài vào để chui sâu, trèo cao trong Đảng CSVN, theo lời tố cáo của một người viết blog tại VN?
Chính xác, những chuyện như thế chúng ta không xác minh được. Nhưng hiển nhiên rằng, tình báo TQ luôn luôn muốn thò tay vào nội tình các nước, và tuyệt vời nhất sẽ là cài cắm gián điệp.
Trên trang báo Top Secret Writers, một phóng viên ký tên WC cho biết rằng nhà nước TQ luôn luôn có kế hoạch để biến các công dân Trung Quốc khắp thế giới trở thành gián điệp thu thập tin cho TQ.
Sở tình báo Trung Quốc được học giới Hoa Kỳ viết tắt là MSS, tức là Ministry of State Security (Bộ An Ninh Quốc Gia), đã lập một mạng lưới gián điệp trong nội địa Hoa Kỳ.
Để phát triển mạng lưới này, MSS đã dàn dựng cho các điệp viên nộp đơn xin di trú tại Mỹ. Có nhiều cách và có nhiều thành phần để MSS thực hiện mục tiêu gài người qua di trú.
Từ 20 năm trước, hơn 30% sinh viên TQ tốt nghiệp Harvard đã nộp đơn xin thường trú luôn tại Hoa Kỳ, và con số này ngày càng nhiều.
Trong cuốn sách tựa đề “Chinese Intelligence Operations” (Hoạt Động Tình Báo TQ), tác giả Nicholas Eftimiades kể về một sinh viên, một trường hợp điển hình, chuyển sang thành điệp viên cho TQ.
Trước khi vào Hoa Kỳ, các sinh viên TQ được gặp bởi các cán bộ đảng CSTQ. Những sinh viên được dặn dò, “Hãy nhớ tới gia đình quý bạn, nhớ tới Đảng Cộng Sản, và đất nước” trong khi sống xa xứ.
Các cán bộ đảng khuyến cáo sinh viên sắp rời nước là “phải ráng học và tìm bạn ở những cấp càng cao càng tốt.”
Đặc biệt, những sinh viên TQ sang Mỹ đều phải liên lạc thường xuyên với chi bộ Đảng CSTQ hải ngoại, và phải giữ mối liên lạc với cán bộ quản lý sinh viên.
Những cán bộ quản lý này có 2 nhiệm vụ: Tìm những sinh viên phù hợp với khả năng của một điệp viên giỏi, và nhận dạng những sinh viên có cơ nguy chuyển hướng sang lực lượng đòi hỏi dân chủ.
Do vậy, cả 2 công tác nhồi sọ trung thành với đảng CSTQ và quản lý chặt phải song song thực hiện từ sơ kỳ.
Dĩ nhiên, chính phủ TQ đã bác bỏ những gì tác giả Eftimiades nêu ra trong sách.
Tuy nhiên, phóng viên WC của mạng Top Secret Writers kể rằng trong năm đầu tiên ông sống ở Hoa Lục, ông đã có buổi họp để “gặp đặc biệt” với nhiều sinh viên TQ đang chờ sang Hoa Kỳ. Vì có mặt WC, những buổi họp mặt kia nhẹ về chính trị, mà chủ yếu biến sang vui chơi.
Các sinh viên được yêu cầu là để giữ được visa du học, họ phảỉ giữ liên lạc với một cơ quan chính phủ. Và các sinh viên được theo dõi liên tục, kể cả khi cần thiết, thư tín của các sinh viên gưỉ về gia đình phảỉ bị mở ra xem trộm. Kể từ thời chưa có email, đôi khi sinh viên bị người cán bộ quản lý ở Hoa Kỳ kêu lên giảỉ thích về các lá thư khả nghi. Gia đình và sinh viên lúc đó bị đe dọa trừng phạt kinh tế, hoặc là sẽ bị trường phạt một cách khác – ngay cả khi được chọn làm gián điệp mà từ chối.
Đối với sinh viên, khi gặp cảnh ngộ đó, có nghĩa là phải rời đại học. Đối với gia đình, khi bị trừng phạt có nghĩa là cả cha và mẹ có thể bị sa thải ra khỏi công việc họ đang làm ở quê nhà.
Trong thời email theo dõi còn dễ dàng hơn. Với những công ty viễn thông như Huawei và ZTE, hai công ty bị xem là cánh tay nối dài của quân đội TQ, đọc lén email của toàn bộ gia đình sinh viên này không khó, và sẽ dễ dàng nhận ra những sinh viên nào trung thành với Đảng CSTQ và sinh viên nào có thể trở thành bất trị.
Các cán bộ CSTQ cũng tìm các sinh viên có gia đình gặp cảnh ngộ khó khăn, và rồi đưa tiền giúp đỡ khi các sinh viên này chịu hoạt động cho mạng lưới MSS. Đối với những sinh viên có thể trở thành yêu thích dân chủ, giấy visa du học sẽ bị thu hồi.
Trong một trường hợp, một người Nhật Bản tên là Yosshizaki bị cáo buộc là hoạt động chống TQ, và bị đe dọa tống giam ở TQ.
Công an TQ nói, Yosshizaki có “nguồn gốc tổ tiên Trung Hoa,” và cũng có một đứa con đang sống ở TQ, nên Yosshizaki bị xem là công dân Trung Quốc. Yosshizaki bị hăm dọa bỏ tù hay bị xử tử nếu không hoạt động cho CSTQ, và cũng không được phép mang con trai ra khỏi TQ.
Điểm phi lý ở đây là: Yosshizaki có một passport của Nhật Bản.
Bên cạnh chuyện hăm dọa sinh viên, CSTQ cũng lập chi bộ đảng hải ngoại, và tòa đại sứ TQ đóng vai tích cực tuyển mộ gián điệp tương lai.
Phương pháp từ nhu tới cương đã thiết lập mạng lưới gián điệp TQ thành công ở Mỹ.
Một viên chức ở công ty Union Carbide, thuộc chi nhánh công ty hóa chất Dow,là gốc Hoa, được cán bộ CSTQ tới mời làm việc để trộm bí mật công nghệ ở Dow. Người này từ chối.
Một trường hợp khác thì thành công: Larry Chin là thông dịch viên Hoa Ngữ cho tình báo Mỹ CIA. Chin đã trở thành gián điệp đôi, mang bí mật của Mỹ bán cho TQ. Và lãnh án tù dài ah5n ở Mỹ năm 1986 về tội gián điệp và trốn thuế.
Hay như Xiang Dong Yu làm cho hãng Ford, hạ tải 4,000 hồ sơ về bí mật kỹ thuật xe hơi, và mang về cho nơi bà làm việc kế tiếp là Beijing Automotive Company. Cac1 hồ sơ này trị giá hàng chục triệu đô và là bí mật kỹ nghệ của nhiều năm nghiên cứu của các kỹ sư hãng Ford.
Mới tháng 1-2012, nhà hóa học Yuan Li thú tội trộm bí mật kỹ nghệ của Sanofi Aventis và bán sang TQ.
Hay như kỹ sư Wen Chyu Liou bị kết án trộm bí mật của Dow Chemicals và bán sang TQ.
Năm 2009, Dongfan Chung bị kết án trộm bí mật về phi đạn và phi thuyền tại Boeing.
Danh sách gián điệp nhiều không kể xiết.
Có phải Phó Thủ Tướng Hoàng Trung Hải là gián điệp TQ gài vào Hà Nội hay không? Chúng ta chưa biết, nhưng chỉ biết một điều rằng, TQ không ngừng cài cắm toàn cầu cho mục tiêu thống trị thế giới của họ.
Trần Khải
Có phải Phó Thủ Tướng CSVN Hoàng Trung Hải là gián điệp Hoa Nam do Trung Quốc gài vào để chui sâu, trèo cao trong Đảng CSVN, theo lời tố cáo của một người viết blog tại VN?
Chính xác, những chuyện như thế chúng ta không xác minh được. Nhưng hiển nhiên rằng, tình báo TQ luôn luôn muốn thò tay vào nội tình các nước, và tuyệt vời nhất sẽ là cài cắm gián điệp.
Trên trang báo Top Secret Writers, một phóng viên ký tên WC cho biết rằng nhà nước TQ luôn luôn có kế hoạch để biến các công dân Trung Quốc khắp thế giới trở thành gián điệp thu thập tin cho TQ.
Sở tình báo Trung Quốc được học giới Hoa Kỳ viết tắt là MSS, tức là Ministry of State Security (Bộ An Ninh Quốc Gia), đã lập một mạng lưới gián điệp trong nội địa Hoa Kỳ.
Để phát triển mạng lưới này, MSS đã dàn dựng cho các điệp viên nộp đơn xin di trú tại Mỹ. Có nhiều cách và có nhiều thành phần để MSS thực hiện mục tiêu gài người qua di trú.
Từ 20 năm trước, hơn 30% sinh viên TQ tốt nghiệp Harvard đã nộp đơn xin thường trú luôn tại Hoa Kỳ, và con số này ngày càng nhiều.
Trong cuốn sách tựa đề “Chinese Intelligence Operations” (Hoạt Động Tình Báo TQ), tác giả Nicholas Eftimiades kể về một sinh viên, một trường hợp điển hình, chuyển sang thành điệp viên cho TQ.
Trước khi vào Hoa Kỳ, các sinh viên TQ được gặp bởi các cán bộ đảng CSTQ. Những sinh viên được dặn dò, “Hãy nhớ tới gia đình quý bạn, nhớ tới Đảng Cộng Sản, và đất nước” trong khi sống xa xứ.
Các cán bộ đảng khuyến cáo sinh viên sắp rời nước là “phải ráng học và tìm bạn ở những cấp càng cao càng tốt.”
Đặc biệt, những sinh viên TQ sang Mỹ đều phải liên lạc thường xuyên với chi bộ Đảng CSTQ hải ngoại, và phải giữ mối liên lạc với cán bộ quản lý sinh viên.
Những cán bộ quản lý này có 2 nhiệm vụ: Tìm những sinh viên phù hợp với khả năng của một điệp viên giỏi, và nhận dạng những sinh viên có cơ nguy chuyển hướng sang lực lượng đòi hỏi dân chủ.
Do vậy, cả 2 công tác nhồi sọ trung thành với đảng CSTQ và quản lý chặt phải song song thực hiện từ sơ kỳ.
Dĩ nhiên, chính phủ TQ đã bác bỏ những gì tác giả Eftimiades nêu ra trong sách.
Tuy nhiên, phóng viên WC của mạng Top Secret Writers kể rằng trong năm đầu tiên ông sống ở Hoa Lục, ông đã có buổi họp để “gặp đặc biệt” với nhiều sinh viên TQ đang chờ sang Hoa Kỳ. Vì có mặt WC, những buổi họp mặt kia nhẹ về chính trị, mà chủ yếu biến sang vui chơi.
Các sinh viên được yêu cầu là để giữ được visa du học, họ phảỉ giữ liên lạc với một cơ quan chính phủ. Và các sinh viên được theo dõi liên tục, kể cả khi cần thiết, thư tín của các sinh viên gưỉ về gia đình phảỉ bị mở ra xem trộm. Kể từ thời chưa có email, đôi khi sinh viên bị người cán bộ quản lý ở Hoa Kỳ kêu lên giảỉ thích về các lá thư khả nghi. Gia đình và sinh viên lúc đó bị đe dọa trừng phạt kinh tế, hoặc là sẽ bị trường phạt một cách khác – ngay cả khi được chọn làm gián điệp mà từ chối.
Đối với sinh viên, khi gặp cảnh ngộ đó, có nghĩa là phải rời đại học. Đối với gia đình, khi bị trừng phạt có nghĩa là cả cha và mẹ có thể bị sa thải ra khỏi công việc họ đang làm ở quê nhà.
Trong thời email theo dõi còn dễ dàng hơn. Với những công ty viễn thông như Huawei và ZTE, hai công ty bị xem là cánh tay nối dài của quân đội TQ, đọc lén email của toàn bộ gia đình sinh viên này không khó, và sẽ dễ dàng nhận ra những sinh viên nào trung thành với Đảng CSTQ và sinh viên nào có thể trở thành bất trị.
Các cán bộ CSTQ cũng tìm các sinh viên có gia đình gặp cảnh ngộ khó khăn, và rồi đưa tiền giúp đỡ khi các sinh viên này chịu hoạt động cho mạng lưới MSS. Đối với những sinh viên có thể trở thành yêu thích dân chủ, giấy visa du học sẽ bị thu hồi.
Trong một trường hợp, một người Nhật Bản tên là Yosshizaki bị cáo buộc là hoạt động chống TQ, và bị đe dọa tống giam ở TQ.
Công an TQ nói, Yosshizaki có “nguồn gốc tổ tiên Trung Hoa,” và cũng có một đứa con đang sống ở TQ, nên Yosshizaki bị xem là công dân Trung Quốc. Yosshizaki bị hăm dọa bỏ tù hay bị xử tử nếu không hoạt động cho CSTQ, và cũng không được phép mang con trai ra khỏi TQ.
Điểm phi lý ở đây là: Yosshizaki có một passport của Nhật Bản.
Bên cạnh chuyện hăm dọa sinh viên, CSTQ cũng lập chi bộ đảng hải ngoại, và tòa đại sứ TQ đóng vai tích cực tuyển mộ gián điệp tương lai.
Phương pháp từ nhu tới cương đã thiết lập mạng lưới gián điệp TQ thành công ở Mỹ.
Một viên chức ở công ty Union Carbide, thuộc chi nhánh công ty hóa chất Dow,là gốc Hoa, được cán bộ CSTQ tới mời làm việc để trộm bí mật công nghệ ở Dow. Người này từ chối.
Một trường hợp khác thì thành công: Larry Chin là thông dịch viên Hoa Ngữ cho tình báo Mỹ CIA. Chin đã trở thành gián điệp đôi, mang bí mật của Mỹ bán cho TQ. Và lãnh án tù dài ah5n ở Mỹ năm 1986 về tội gián điệp và trốn thuế.
Hay như Xiang Dong Yu làm cho hãng Ford, hạ tải 4,000 hồ sơ về bí mật kỹ thuật xe hơi, và mang về cho nơi bà làm việc kế tiếp là Beijing Automotive Company. Cac1 hồ sơ này trị giá hàng chục triệu đô và là bí mật kỹ nghệ của nhiều năm nghiên cứu của các kỹ sư hãng Ford.
Mới tháng 1-2012, nhà hóa học Yuan Li thú tội trộm bí mật kỹ nghệ của Sanofi Aventis và bán sang TQ.
Hay như kỹ sư Wen Chyu Liou bị kết án trộm bí mật của Dow Chemicals và bán sang TQ.
Năm 2009, Dongfan Chung bị kết án trộm bí mật về phi đạn và phi thuyền tại Boeing.
Danh sách gián điệp nhiều không kể xiết.
Có phải Phó Thủ Tướng Hoàng Trung Hải là gián điệp TQ gài vào Hà Nội hay không? Chúng ta chưa biết, nhưng chỉ biết một điều rằng, TQ không ngừng cài cắm toàn cầu cho mục tiêu thống trị thế giới của họ.

Những cái vuốt đuôi trơ trẽn
Phạm Trần -
Nếu Hội nghị 6 Trung ương đảng XI CSCSVN chưa để lại một vết “không sạch” nào cho việc thi hành Nghị quyết Trung ương 4 về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” thì những hành động vuốt đuôi đồng lõa với quyết định “không thi hành kỷ luật đối với tập thể Bộ Chính trị và một đồng chí trong Bộ Chính trị” và những lời xin lỗi đãi môi của Ban Chấp hành Trung ương, của Tổng Bí thư đảng Nguyễn Phú Trọng và của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vì không làm tròn nhiệm vụ với dân với nước đã không vớt lên được uy tín đảng từ dưới đáy tầng địa ngục.
Tại sao lại có chuyện tréo cẳng ngỗng này?
Tại vì nếu cứ làm hỏng, làm không được và liên tục gây ra thiệt hại cho dân và hoang phí không biết bao nhiêu công lao mồ hôi, nước mắt của dân rồi lại dửng dưng nhận lỗi, kiểm điểm và phê bình để phạm tội tiếp thì cháu bé lên 3 cũng làm được, cần chi phải đến lượt những người có quyền cao chức trọng trong đảng và nhà nước?
Những người lãnh đạo ngày nay cũng nên biết rằng từ năm 1976, Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng đã xin lỗi toàn dân, xin kiểm điểm và phê bình trước đảng, trước Quốc hội về những thiếu sót của Hội đồng Chính phủ.
Từ đó về sau, có kỳ họp Đảng hay Quốc hội nào mà người dân không phải banh lỗ tai ra mà nghe những lời nhận lỗi, xin chấp hành nghiêm chỉnh những phê bình của đồng chí, của Đảng, của Quốc hội?
Nhưng rồi tật đâu vẫn hoàn đó, chứng nào vẫn thói ấy. Tham nhũng cứ tự do leo thang không ai ngăn chặn được. Lúc nào cũng chỉ “tiến được 1 bước” rồi lại “vẫn còn nghiêm trọng” nghe đến phát ngượng, phát chán đến tận mang tai!
Đến nỗi từ “một bộ phận” rồi leo thang lên “một bộ phận không nhỏ”, và bây giờ, theo lời cử tri Trần Minh Quang (phường Bến Thành, Sài Gòn) nói với Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang, đã thành “tập đoàn”.
Ông Quang nói: “Nếu không giải quyết được vấn đề này thì rất nguy hiểm.” (Vietnamnet, 17/10/2012).
Chủ tịch Trương Tấn Sang đồng tình nhìn nhận: “Vấn nạn tham nhũng đã là sự thật không thể né tránh, mặc dù nói ra điều này hết sức đau lòng.”
Rồi ông còn nói với dân: “Tham nhũng đang là một vấn nạn nghiêm trọng. Ban đầu là một bộ phận, sau đó là một bộ phận không nhỏ, và giờ thì có đồng chí còn nói là cả một tập đoàn”.
Đau lòng lắm chứ, tại sao không? Nhưng nếu lãnh đạo đảng, cầm đầu nhà nước chỉ đau một tí để “làm cảnh” thì dân đau ngàn lần hơn vì dân là nạn nhân của tham nhũng do cán bộ và đảng viên gây ra chứ dân có “nặn” ra tham nhũng cho đảng phải gánh đâu?
Trước mắt dân, những lời nói thật như “bóc bánh” của ông Sang, người Long An ở trong Nam, quả đã thấm đến tận tim gan, nhưng nghe mãi những lời nói dù có rút ra từ tim óc của lãnh đạo cũng không bớt được tham nhũng mà phải giết nó đi.
Nhưng ai dám giết và giết bằng cách nào thì có ông Sang mách nước rằng: “Chúng tôi có lỗi lớn, nhưng cô bác anh chị cũng phải nghĩ về trách nhiệm của mình, cùng hệ thống chính trị đấu tranh chống tham nhũng. Chúng tôi hiểu tình hình trù úm người tố cáo là rất ghê gớm. Nhưng vì sợ bị trù úm mà chúng ta không tố cáo thì đất nước này sẽ thế nào? Người ta có thể trú úm một người, một nhóm người nhưng không thể trù úm cả dân tộc này”.
Đúng như thế nhưng mà người dân không có súng và nhất là không có quyền để đi bắt kẻ tham nhũng, trong khi những kẻ phạm tội lại có quân quyền bảo vệ, bao che vòng trong vòng ngoài lúc nào cũng sẵn sàng ăn tươi nuốt sống người đi tố cáo thì có cho ăn vàng cũng không có anh dân nào dám ngo ngoe, nói chi đến chuyện dám gồng mình “cùng hệ thống chính trị đấu tranh chống tham nhũng” như kêu gọi mớm cơm của ông Sang?
Do đó mà tại sao trên 80 triệu dân đã không còn có tâm và có tầm để chống tham nhũng vì 3 triệu rưỡi đảng viên không thể “tự cai” và không muốn chống đồng chí, đồng đội của mình tham nhũng mà còn lấy tham nhũng làm phương tiện để mua quan, bán chức và tiến thân thì dân làm gì được?
Ngay đến những khuyết tật trên bảo dưới không nghe, bao che cho nhau, chạy chức chạy quyền, chạy bằng cấp, mua bằng giả, học dỏm, mánh mung, nói dối, suy đồi đạo đức, làm gương mù, nêu gương xấu của cán bộ, đảng viên cứ tha hồ mà tung hoành chả ai dám khuyên răn, mà có khuyên can có ai thèm nghe, có khi còn bị đánh cho bể mặt!
Vì vậy từ những hành động mất phẩm chất, đảo ngược luân thường đạo lý dân tộc, truyền thống gia phong của người lớn đã thuốc độc vào các thế hệ con cháu nên mới sản sinh ra những con người vô cảm, vào hùa kích động, vỗ tay khoái trá trước đám nữ sinh nắm tóc đánh nhau vỡ đầu sứt trán ngay trong lớp học và công khai lột quần đối phương giữa đường phố mà có ai dám nhảy vào can thiệp bảo vệ kẻ bị hại?
Những tội phạm ngoài xã hội cũng còn công khai và được tổ chức để xâm nhập vào học đường như các vụ thi gian, quay cóp, ném phao, mua bài, thi hộ, mua bằng có thầy cô tổ chức, ăn chia thì có ai bảo không có trách nhiệm của Chính phủ và của các đảng bộ ngành Giáo dục?
Nhận lỗi để phạm lỗi tiếp
Từ những chuyện xâm hại dân của cán bộ, đảng viên cỏn con ở đường phố, ngõ hẻm, tận mỗi thôn, bản, làng và gia đình của người dân cho đến cấp cao nhất là Ban Chấp hành Trung ương đảng thì cũng chỉ xung quanh chuyện những kẻ có chức, có quyền bao giờ cũng được đặc quyền đặc lợi và quyền ăn trên ngồi trốc để hành dân đến lè lưỡi phải bỏ tiền ra mới chịu thôi.
Vì thế mà dân không ngạc nhiên khi phải nghe Tổng Bí thư đảng Nguyễn Phú Trọng nói trước Ban Chấp hành Trung ương kỳ họp 6 ngày 15/10/2012: “Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã nghiêm túc tự phê bình và thành thật nhận lỗi trước Ban Chấp hành Trung ương về những yếu kém, tồn tại trong công tác xây dựng Đảng, những suy thoái, tiêu cực trong đội ngũ cán bộ, đảng viên như Nghị quyết Trung ương 4 đã nêu. Mặc dù nhiều khuyết điểm, hạn chế có từ các khóa trước, nhưng với trách nhiệm chính trị của cơ quan lãnh đạo hiện nay, Bộ Chính trị và từng Ủy viên Bộ Chính trị tự nhận thấy sâu sắc trách nhiệm chính trị của mình trước những khuyết điểm, hạn chế đó.”
Rồi Ban Chấp hành Trung ương cũng “tát nước theo mưa” khi nói rằng: “Ban Chấp hành Trung ương cũng tự kiểm điểm và nhận phần trách nhiệm của mình trong việc để xảy ra và chưa ngăn chặn được những khuyết điểm, yếu kém trong thời gian qua. Ban Chấp hành Trung ương xin nghiêm túc tự phê bình và thành thật nhận lỗi trước toàn Đảng, toàn dân, và sẽ cố gắng làm hết sức mình để từng bước khắc phục.”
Là người đã bị Bộ Chính trị đề nghị chịu một hình phạt kỷ luật cho những yếu kém của mình trong vai trò đứng đầu Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng bắt chước công khai nhận lỗi.
Trong diễn văn đọc trước Quốc hội hôm 22/10/2012, ông Dũng cũng tỏ ra thành khẩn, dù không mếu máo như ông Trọng hôm 15/10/2012: “Với trọng trách là Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ, tôi nghiêm túc nhận trách nhiệm chính trị lớn của người đứng đầu Chính phủ và xin thành thật nhận lỗi trước Quốc hội, trước toàn Đảng, toàn dân về tất cả những yếu kém, khuyết điểm của Chính phủ trong lãnh đạo, quản lý, điều hành, nhất là những yếu kém, khuyết điểm trong kiểm tra, giám sát hoạt động của tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước; một số tập đoàn, tổng công ty, điển hình là Vinashin, Vinalines, sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, có nhiều sai phạm, gây tổn thất và hậu quả nghiêm trọng về nhiều mặt, ảnh hưởng lớn đến uy tín và vai trò của kinh tế nhà nước.”
Đây là lần đầu tiên ông Dũng đã nhận lỗi trong hai vụ làm ăn thua lỗ nhiều trăm ngàn tỷ bạc của 2 Tập đoàn Vinashin và Vinalines, nhưng nhận lỗi không hốt lại được những giọt mồ hôi của người dân đã đổ ra để bây giờ trắng tay mà vẫn phải lao động đóng thuế cho nhà nước trả nợ thì có còn gì bất công và nhục nhã hơn không?
Rồi theo gót những người tiền nhiệm, ông Dũng lại thề: “Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, từng thành viên Chính phủ sẽ nghiêm túc nghiêm khắc với mình, đoàn kết nhất trí, hết lòng hết sức làm việc, đề cao trách nhiệm, nỗ lực cao nhất để khắc phục những yếu kém khuyết điểm, phấn đấu thực hiện tốt chức trách nhiệm vụ được giao, hành động quyết liệt, tất cả vì Tổ quốc vì nhân dân, vì Đảng vì chế độ, vì sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước.”
Mẹ hát con khen hay
Trước những lời nhân lỗi rất muộn màng đá bùn sang ao của ông Dũng không được các nhà báo tự do và nhiều trí thức trong nước đồng tình thì Báo Quân đội Nhân dân lại giương cao cổ lên hát rằng: “Nhiều nhà nghiên cứu đã nói rằng: Đây là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng nước ta, người đứng đầu Chính phủ trực tiếp xin lỗi quốc dân đồng bào. Lời xin lỗi chân thành này nhận được sự hoan nghênh, ủng hộ của các đại biểu Quốc hội trong hội trường và đông đảo người dân theo dõi kỳ họp qua truyền hình. (sai, vì ông Phạm Văn Đồng đã nhận lỗi từ năm 1976 - lời tác giả bài viết này).
Có lỗi thì dám nhận lỗi. Đó là hành động thể hiện rõ trách nhiệm của người đứng đầu, một vấn đề được đề cập sâu sắc trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng. Tuy nhiên, điều cử tri cả nước quan tâm, trông đợi hiện nay là việc khắc phục những sai lầm, khuyết điểm đã được chỉ rõ trong đợt kiểm điểm tự phê bình và phê bình vừa qua.” (Báo Quân đội Nhân dân, 23/10/2012)
Ban Biên tập báo Quân đội Nhân dân hãy lục lại hồ sơ những việc làm được và không làm được của ông Dũng từ khi ông thay Thủ tướng nghỉ hưu Phan Văn Khải từ năm 2006 xem đã bao nhiêu lần ông nhận lỗi rồi lại phạm lỗi nghiêm trọng hơn trước khi về hùa với cái “đấm ngực” ăn năn để có được tờ giấy “môn bài” đi buôn gánh hàng “phạm lỗi” tiếp thì “trách nhiệm” về ai sẽ rõ hơn.
Ngay đến Đại biểu Dương Trung Quốc của Tỉnh Đồng Nai, một Nhà sử học có uy tín trong nước cũng vội vã kết luận: “Với việc Thủ tướng nhận trách nhiệm của mình với tư cách cá nhân, một cán bộ cao cấp của Đảng, với tư cách Thủ tướng, người đứng đầu Chính phủ, tôi cho là làm sáng tỏ vấn đề Hội nghị TƯ 6 vừa đưa ra.
Thái độ thành khẩn của Thủ tướng làm an lòng dân. Tâm lý người dân đã nghe nhiều sự thành khẩn, thừa nhận khuyết điểm ở mức độ khác nhau của các thành viên Chính phủ, giờ đây là người đứng đầu Chính phủ, nên điều mong muốn là có hình thức giám sát để có thể đánh giá sự sửa chữa đó được thể hiện trong thực tiễn.” (Vietnamnet, 23/10/2012)
“Giám sát”, nhưng ai giám sát ai? Ngay cả Mặt trận Tổ Quốc có quyền giám sát; Quốc hội cũng có quyền giám sát và ngay cả Đại biểu Quốc hội cũng có quyền này mà đã bao giờ làm nên cơm cháo gì? Riêng ông Dương Trung Quốc đã “giám sát” được việc gì đem lại lợi ích cho dân cho nước chưa?
Bằng chứng như bốn chuyện tày trời còn sờ sờ trước mắt như Dự án để cho Trung Quốc nhảy vào khai thác Bauxite trên Tây Nguyên; cho các Công ty Tầu Bắc Kinh, Hồng Kông và Đài Loan thuê hàng ngàn mẫu đất rừng chiến lược dọc biên giới Việt-Trung trong 50 năm; và có ai biết có bao nhiều ngàn công nhân Tầu Bắc Kinh đang làm việc công khai không có giấy phép lao động hay có tay nghề “chuyên gia” giả còn nhởn nhơ, ẩn náu tại các cơ sở làm ăn của Công ty Tầu đã “trúng thầu rẻ” để cướp bát cơm của công nhân Việt Nam?
Và sau cùng đã có ai đi “giám sát” các phố Tầu đang mọc lên như nấm ở Việt Nam chưa? Còn chuyện “văn hóa” lồng đèn có cần phải “giám sát” không?
Vì vậy Đại biểu Dương Trung Quốc có nên “tái thẩm” thế nào là “an lòng dân” không, hay cứ làm ẩu, gây thiệt hại cho dân cho nước rồi “nhận lỗi” là huề cả làng để tiếp tục bắt tay nhau nói cười ngọt xớt trên sự đau khổ của dân?
Thế rồi đến phiên ông Đại tướng 90 tuổi về hưu Nguyễn Quyết cũng cố gắng chia phần khen ông Thủ tướng: “Trước hết tôi hoan nghênh Ban cán sự Đảng, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã nghiêm túc kiểm điểm, tự phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, với trọng trách là Ủy viên Bộ chính trị, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nghiêm túc nhận trách nhiệm chính trị của người đứng đầu Chính phủ, công khai nhận lỗi trước Quốc dân đồng bào, việc đăng đàn của Thủ tướng Chính phủ nói riêng và BCH TƯ, Bộ Chính trị nói chung đã thể hiện một cách rất nghiêm túc. Đây là một điều tốt lành của Đảng ta… Bài phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa rồi cái hay nhất, tốt nhất là Thủ tướng đã thẳng thắn thành thật tự phê bình khuyết điểm, công khai nhận lỗi trước Đảng, Quốc hội và toàn thể nhân dân, đây là tính đẹp nhất của người đứng đầu Chính phủ.” (Báo Cựu Chiến Binh, 23/10/2012)
Tuy nhiên, trái với những tiếng nói phản ảnh quan điểm “mẹ hát con khen hay”, Đại biểu Quốc hội tỉnh Sóc Trăng, ông Nguyễn Đức Kiên dứt khoát: “Lần đầu trên diễn đàn QH và trong một buổi truyền hình trực tiếp, người đứng đầu Chính phủ đã nhận lỗi, điều này so với các khóa Quốc hội trước là một sự đột phá. Và không phải tự nhiên lại có động tác này, đó là kết quả của những ngày Bộ Chính trị kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết T.Ư 4 (khóa XI) và thể hiện rõ ở báo cáo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và kết luận của Tổng Bí thư tại Hội nghị T.Ư 6 (khóa XI) vừa rồi. Chúng ta thấy rằng, Chính phủ đã nhận khuyết điểm, nhìn ra yếu kém nhưng điều mà nhân dân, đảng viên, cử tri cả nước mong chờ là hành động cụ thể. Như vậy, lời hứa phải đi kèm theo kế hoạch hành động nhất định và có chỉ tiêu, số liệu cụ thể để cử tri, đảng viên và nhân dân giám sát lại… Quốc Hội là đại diện cho quyền lợi hợp pháp của nhân dân. Vậy hơn ai hết, Quốc Hội phải phản ánh được mong mỏi của người dân trong kỳ họp này, đối với Thủ tướng Chính phủ và Chính phủ cần có trách nhiệm trong việc tiếp thu những mong mỏi của người dân để xây dựng.” (Đài Tiếng nói Việt Nam)
Có lẽ người dân trong nước cũng chỉ mong có thế. Không ai đang tâm đá người đã ngã ngựa, nhưng ông Dũng không có bản lĩnh xin từ chức để bảo vệ danh dự mà cứ cố bám lầy chiếc ghế dù có bị nhục thì uy tín của ông và đảng CSVN có còn giá bằng đồng xu trước nhân dân chăng?
(10/012)
Phạm Trần
Cựu Ngoại Trưởng Powell ủng hộ Tổng Thống Obama
WASHINGTON (AP) -Cựu Ngoại Trưởng Mỹ Colin Powell, một thành viên lâu năm của đảng Cộng Hòa,
cho hay vẫn sẽ tiếp tục ủng hộ Tổng Thống Barack Obama trong kỳ bầu cử tổng thống năm nay.
Collin Powell trong một lần thảo luận với Tổng Thống Obama tại Tòa Bạch Ốc cuối năm 2010.
(Hình: J.Scott Applewhite/AP)
Ông tuyên bố trong chương trình “CBS This Morning” rằng ông nể trọng ứng viên Mitt Romney nhưng nghĩ rằng ông này mơ hồ trong nhiều vấn đề.
Khi nói về Tổng Thống Obama, ông Powell cho hay ông Obama đưa nước Mỹ ra khỏi cuộc chiến Iraq và mở ra chương trình rút khỏi Afghanistan “và cũng không đưa chúng ta vào cuộc chiến nào khác.”
Ông Powell ca ngợi chương trình kinh tế của ông Obama, nói rằng tuy còn nhiều khó khăn trong một số lãnh vực, “dần dần tôi thấy chúng ta ra khỏi sự suy thoái.”
Ông Powell, một tướng hồi hưu, từng là chánh văn phòng Tòa Bạch Ốc và tham mưu trưởng Liên Quân Mỹ.
Ông cho hay vẫn là thành viên đảng Cộng Hòa.
WASHINGTON (AP) -Cựu Ngoại Trưởng Mỹ Colin Powell, một thành viên lâu năm của đảng Cộng Hòa,
cho hay vẫn sẽ tiếp tục ủng hộ Tổng Thống Barack Obama trong kỳ bầu cử tổng thống năm nay.
Collin Powell trong một lần thảo luận với Tổng Thống Obama tại Tòa Bạch Ốc cuối năm 2010.
(Hình: J.Scott Applewhite/AP)
Ông tuyên bố trong chương trình “CBS This Morning” rằng ông nể trọng ứng viên Mitt Romney nhưng nghĩ rằng ông này mơ hồ trong nhiều vấn đề.
Khi nói về Tổng Thống Obama, ông Powell cho hay ông Obama đưa nước Mỹ ra khỏi cuộc chiến Iraq và mở ra chương trình rút khỏi Afghanistan “và cũng không đưa chúng ta vào cuộc chiến nào khác.”
Ông Powell ca ngợi chương trình kinh tế của ông Obama, nói rằng tuy còn nhiều khó khăn trong một số lãnh vực, “dần dần tôi thấy chúng ta ra khỏi sự suy thoái.”
Ông Powell, một tướng hồi hưu, từng là chánh văn phòng Tòa Bạch Ốc và tham mưu trưởng Liên Quân Mỹ.
Ông cho hay vẫn là thành viên đảng Cộng Hòa.

Gia đình thủ tướng Trung Quốc che dấu tài sản kếch sù 2,7 tỷ đôla
Tú Anh
Thủ tướng Ôn Gia Bão là người cộng sản giàu nhất thế giới ? Sau hai nhiệm kỳ thủ tướng, gia đình của thủ tướng Trung Quốc từ mẹ, vợ, đến con trai và em trai tóm thu một tài sản khổng lồ, ít nhất là 2,7 tỷ đôla. Thông tin của báo Mỹ New York Times đang gây bối rối cho đảng Cộng sản Trung Quốc trong bối cảnh chuẩn bị Đại hội18.
Phát hiện của báo New York Times về tài sản của gia đình thủ tướng Trung Quốc là một quả bom nổ tung vào lúc đảng Cộng sản Trung Quốc chuẩn bị Đại hội Đảng. Ngòi bút của phóng viên David Barboza, trong bài điều tra dài, ghi rõ : « Xem xét những sổ bộ xí nghiệp và văn kiện pháp lý từ 1992 đến 2012 cho thấy, những người thân của thủ tướng Ôn Gia Bảo, kể cả phu nhân của ông, nắm trong tay ít nhất 2,7 tỷ đôla Mỹ ».
Gia đình người đứng đầu chính phủ Trung Quốc có « quyền lợi » trong nhiều lãnh vực kinh tế khác nhau từ « ngân hàng, nữ trang, du lịch, điện thoại di động và xây dựng tại Hoa lục và kể cả ở hải ngoại ».
Trong một số trường hợp, họ núp sau bình phong, mượn tên của bạn bè.
Mẹ của thủ tướng Trung Quốc, bà Dương Chi Vân, là một giáo viên hồi hưu, cha của ông bị Cách mạng Văn hóa bắt chăn nuôi heo. Thế nhưng, năm nay 90 tuổi, không những bà thoát ra khỏi nạn nghèo khó, mà còn trở thành một triệu phú đôla, có phần hùn trong một công ty dịch vụ tài chính lên đến 120 triệu đôla Mỹ.
Cả gia đình gồm mẹ, vợ, con trai và em trai của ông Ôn Gia Bảo tích lũy số tiền khổng lồ này từ khi ông lên làm thủ tướng vào năm 2003. New York Times khẳng định cổ phần mà gia đình và người thân của thủ tướng Trung Quốc nắm giữ trong công ty bảo hiểm Bình An lên đến 2,2 tỷ đô la vào năm 2007. Cũng chính năm này, lúc ông sắp hết nhiệm kỳ thủ tướng đầu tiên, mẹ của ông đầu tư vào công ty Bình An 120 triệu đô la.
Về phần thủ tướng phu nhân Trương Bội Lê mà New York Times đặt biệt danh là « nữ hoàng kim cương », bà tạo dựng sản nghiệp trong ngành đá quý. Tại Trung Quốc, lãnh vực thương mại này do Nhà nước kiểm soát chặt chẽ.
New York Times cho biết thêm là phần đông những thương vụ của gia đình họ Ôn có sự tham gia của các tập đoàn Nhà nước mà mọi quyết định đều đặt dưới thẩm quyền của thủ tướng. Trường hợp điển hình là em trai của thủ tướng Trung Quốc, có phần vốn đầu tư 200 triệu đôla trong nhiều xí nghiệp. Năm 2003, trong vụ dịch bệnh « viêm phổi cấp » SARS, người em trai này trúng thầu xử lý nước thải và rác bệnh viện, được Nhà nước tài trợ 30 triệu đôla, sau khi tân thủ tướng Ôn Gia Bão chỉ thị phải khẩn cấp tăng cường vệ sinh công cộng vì sức khỏe nhân dân.
Người con trai duy nhất tên Ôn Vân Thông cũng là một doanh nhân thành đạt nhanh như pháo thăng thiên. Hiện Ôn Vân Thông làm chủ nhân một công ty đầu tư tài chính quan trọng nhất nhì Trung Quốc và có sự hùn hạp của chính phủ Singapore.
New York Times phát hiện gia đình thủ tướng Ôn Gia Bảo đầu tư vào một dự án bất động sản tại Bắc Kinh, một nhà máy chế tạo vỏ xe hơi, và một công ty đã tham gia vào công trình xây sân vận động cho Thế Vận Hội 2008.
Cách nay hai năm, trong một cuộc họp báo, người lãnh đạo có tiếng « gần dân » còn khẳng định ông không có tài sản riêng tư.
Bắc Kinh khóa cổng internet của New York Times
Bộ Ngoại giao Trung Quốc và gia đình thủ tướng từ chối trả lời phỏng vấn của New York Times và các hãng thông tấn quốc tế.
Bản tin tiếng Anh và tiếng Hoa của New York Times trên trang mạng internet bị chận tại Hoa lục.
Tháng Sáu năm nay, hãng tin tài chính Bloomberg cũng bị phản ứng tương tự từ phía Trung Quốc, khi tiết lộ gia đình phó chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình có hàng trăm triệu đôla.
Theo AFP, tài sản của giới lãnh đạo Trung Quốc được xem là bí mật quốc gia, trừ phi xảy ra đấu đá nội bộ như trường hợp Bạc Hy Lai. Người dân biết rõ là đảng viên cao cấp của chế độ cộng sản sống rất xa hoa, tự do lợi dụng đặc quyền đặc lợi mà không bao giờ bị trừng phạt.
Người dân Trung Quốc có câu ngạn ngữ “ không nên nghe lãnh đạo nói mà hãy nhìn lãnh đạo làm ". Một cựu bộ trưởng Trung Quốc nhận định với New York Times: “ Tại Trung Quốc, không một nhân vật quan trọng nào của chế độ mà gia đình lại không giàu. Kẻ thù của Ôn Gia Bão cố ý hạ nhục ông bằng cách cung cấp tài liệu ” cho báo chí quốc tế.
Tuy xem tự do báo chí là kẻ thù, nhưng khi cần, chính quyền Trung Quốc mượn tay báo chí để triệt hạ nhau. Vậy ai là kẻ muốn triệt Ôn Gia Bảo vào lúc ông sắp về hưu? Vị thủ tướng 70 tuổi này khoanh tay chịu đòn hay sẽ phản ứng và phản ứng ra sao trong những ngày tới ?
-
nguyenthanh
- Posts: 859
- Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm
Khủng hoảng vì cơ cấu
Ngô Nhân Dụng
Mọi thể chế chính trị phải có phương cách giải quyết những tranh chấp quyền lực, giữa các cá nhân hoặc các phe phái. Mỗi chế độ có giải pháp riêng. Các ông Stalin và Mao Trạch Ðông đã dùng những phương pháp chấm dứt các mâu thuẫn rất giản dị.
Những đồng chí có thể tranh giành ảnh hưởng với Stalin thường bị đưa ra tòa, kết tội phản động, rồi bắn chết. Khi Stalin chết, những người chung quanh cũng đem bắn ngay trùm mật vụ Beria của ông ta, theo cùng giải pháp đó.
Mao Trạch Ðông áp dụng cách đó, nhưng “theo đường hướng Trung Hoa.” Ông ta không xử bắn các đồng chí mà lại đem họ ra giữa chợ, cho “quần chúng” đấu tranh, hành hạ, sỉ nhục; rồi cho kéo dài kiếp sống mòn mỏi, tuyệt vọng, cho đến khi kiệt sức.
Những phương cách giải quyết mâu thuẫn nội bộ như trên rất phù hợp với chủ nghĩa Mác-Lê Nin. Vì chuyên chính vô sản dựa trên bạo lực. Khi bỏ mất nền tảng đó, nó sẽ tự tan rã giống như ngôi nhà bị sụt móng. Chế độ cộng sản bắt đầu rạn nứt khi các đồng chí tranh chấp quyền hành mà không còn bắn giết nhau nữa; chế độ dần dần tan vỡ khi các đồng chí chỉ tìm cách mua chuộc, hối lộ lẫn nhau (trả giá bằng các địa vị sinh lợi chắc chắn, hoặc đưa thẳng tiền mặt, đô la Mỹ). Ðổi mới kinh tế tạo cơ hội cho các “luật chơi mới” xuất hiện. Những người biết sử dụng các luật chơi mới sớm nhất sẽ tạo được thế lực mạnh hơn người khác. Nhưng vì thế các tranh chấp mới xuất hiện và cần giải quyết.
Nhưng các phe phái lại muốn sử dụng các luật chơi khác nhau để giải quyết những mâu thuẫn. Trong bất cứ hệ thống chính trị nào, câu hỏi quan trọng nhất là tại sao người này phải làm theo ý kiến, mệnh lệnh của người khác. Tại sao anh được quyền sai bảo mà tôi phải làm theo? Luật chơi cũ dựa trên chức vụ; thí dụ, chức tổng bí thư thì cao hơn chức thủ tướng. Luật chơi mới dựa trên khả năng phân phối, chia chác tài nguyên, lợi lộc. Tất nhiên, những người sử dụng luật chơi mới, phù hợp với thực tế kinh tế mới hơn, sẽ chiếm lợi thế. Tình trạng thay thế “bạo lực cách mạng” bằng “tài lợi kinh tế” làm cho hệ thống tự nó mất thăng bằng. Ðang giữa trận đấu, “luật lệ cuộc chơi” bỗng dưng thay đổi; người ta không còn biết áp dụng như phương pháp nào để giải quyết các tranh chấp nữa.
Ðiểm nổi bật là tất cả mọi người đều nhận ra “thực tế với lý thuyết” không đi đôi với nhau nữa. Mà họ cũng không thể đồng ý với nhau làm cách nào để sửa lại cho chúng phù hợp. Hậu quả là họ sẽ phải tiếp tục hô hoán những khẩu hiệu cũ (lý thuyết) mặc dù rỗng tuếch; trong khi đành chấp nhận phó mặc cho thực tế đưa đẩy, trôi nổi theo sức mạnh tương đối giữa các phe phái.
Thử tưởng tượng trong một trận đá banh bỗng dưng một tay cầu thủ dùng tay và cùi chỏ, thay vì chỉ dùng chân. Mà mấy anh cầu thủ đó còn tự ý thổi còi nữa. Một người dùng tay; rồi người thứ hai đá cẳng nhau thay vì đá banh; mà đó lại là những cầu thủ bự con, cao cấp; tất cả đua nhau đổi luật chơi, vừa đá banh lại vừa đóng vai trọng tài. Như vậy thì kết quả sau cùng sẽ ra sao? Khán giả sẽ bỏ về hết, trận đấu sẽ phải kết thúc không kèn không trống; giống như ở Liên Xô và các nước Ðông Âu những năm 1989, 90 vậy.
Hoàn cảnh bế tắc của cuộc họp gọi là “Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng khóa XI” của đảng Cộng Sản Việt Nam diễn ra theo kịch bản như trên. Ðọc bản tin cuối chúng ta thấy họ bị tắc nghẽn suốt 15 ngày vì không có kết quả cụ thể nào cả. Những lời lẽ mơ hồ, dù làm bộ nói đến cả những chi tiết lẩm cẩm vô ích nhưng trong thực tế lại vu vơ, không gây được hiệu quả nào hết. Qua đó, chúng ta biết chính những người trong Bộ Chính Trị cũng không biết họ phải theo luật chơi nào. Sở dĩ họ họp nhau lại, trước hết là vì có người muốn hạch tội Nguyễn Tấn Dũng. Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng thổi còi bắt đầu trận đấu, với Trương Tấn Sang đóng vai giám biên và đá cẳng. Nhưng cuối cùng Nguyễn Tấn Dũng vẫn được an toàn “ra về thơ thới hân hoan.”
Lý do khiến Ba Dũng an toàn là vì đã tự bày trận đấu trên một sân banh khác, và theo những luật chơi khác. Mấy trăm ông bà ủy viên Trung Ương Ðảng, người theo Trọng Lú, người theo Ba Dũng; cũng theo các luật chơi khác nhau. Cuối cùng, trận đấu giải tán; không có kết quả nào cả vì không thể tính điểm ai thắng, ai thua. Ðể khỏi mất mặt cả bầu đoàn, họ đành phải đưa ra những khẩu hiệu trống rỗng cùng với những biện pháp nửa mùa, không thể gây ra hiệu lực cụ thể nào cả. Họ lúng túng, bế tắc vì không theo một luật chơi chung. Mà họ cũng không thể quay lại, sử dụng các luật chơi kiểu Stalin hay Mao.
Ðể thấy tình trạng bối rối và bế tắc của chế độ chính trị tại nước ta, hãy thử tìm hiểu xem trong các chế độ chính trị khác, khi người ta cần giải quyết các tranh chấp quyền lực tương tự giữa các “phe phái” thì họ theo các luật chơi như thế nào.
Trong một chế độ đại nghị, ông thủ tướng thường là lãnh tụ phe chiếm đa số ở Quốc Hội, thì các đối thủ của ông ta có thể yêu cầu Quốc Hội bỏ phiếu bất tín nhiệm. Nếu nhiều người đồng ý là ông thủ tướng đã làm kinh tế suy yếu hoặc nuôi đàn em tham nhũng quá đáng, thì họ sẽ bỏ phiếu lật đổ. Nếu không, ông ta tiếp tục cai trị, trong vinh dự.
Ở một nước theo tổng thống chế, thì Quốc Hội không thể lật đổ một tổng thống do dân trực tiếp bầu lên; nhưng họ vẫn có khả năng kìm hãm bớt quyền hành của ông ta qua việc biểu quyết ngân sách. Với quyền nắm túi tiền của quốc gia, Quốc Hội có thể buộc hành pháp phải thỏa hiệp với mình tức là chia sẻ bớt quyền hành.
Trong một chế độ cộng sản thì sao? Trên nguyên tắc, đảng nắm toàn quyền. Tổng bí thư, Bộ Chính Trị rồi đến Trung Ương Ðảng quyết định tất cả. Trong cuộc họp 15 ngày đầu tháng 10, Nguyễn Phú Trọng đã trù tính dùng uy tín Trung Ương Ðảng để hạ thủ Nguyễn Tấn Dũng. Thật ra trận đấu đã khởi sự từ mấy tháng trước; ngay sau khi Trọng lên nắm chức tổng bí thư đã tính dùng “luật chơi cũ” để gia tăng quyền hành. Nhưng sân chơi đã thay đổi; uy quyền của tổng bí thư đã giảm sút rõ rệt nhờ Nông Ðức Mạnh ù ù cạc cạc. Có thể coi như chức tổng bí thư đã mất gần hết quyền lực; khi đem so với quyền hành thực tế của chức vụ thủ tướng. Quyền lực được thể hiện trong khả năng chia chác địa vị sinh lợi chứ không phải là các chức vị suông; ngoài ra là khả năng bắt người, giam người. Ba Dũng đã nắm trong tay hầu hết hai thứ quyền đó; nay Trọng Lú cố giành lấy nhưng vô hiệu.
Ngay từ đầu, cuộc đấu giữa Trọng và Dũng cho thấy họ theo các luật chơi khác nhau, người này không chịu luật chơi của kẻ kia. Nguyễn Phú Trọng đã ra tay trước khi công bố quyết định đem Ủy Ban Chống Tham Nhũng vào dưới quyền Bộ Chính Trị; để tổng bí thư đương nhiên nắm chức chủ tịch. Ai cũng tưởng Trọng đã thắng Dũng một keo; vì từ đầu Dũng đã lập ra Ủy Ban Chống Tham Nhũng để chính mình nắm đầu. Khi Trọng ra tay giành lấy quyền chống tham nhũng; nhiều nhà quan sát coi là cuộc mâu thuẫn giữa “Ðảng” và “Nhà nước” đã biểu hiện; và vội vã kết luận rằng trong keo này Ðảng đã thắng, tức là Trọng thắng.
Nhận xét đó càng có vẻ vững hơn khi Bầu Kiên bị bắt. Vụ bắt Bầu Kiên được thực hiện trong vòng bí mật, kín bưng, giống như cuộc hành quân của toán biệt kích tấn công vào sào huyệt Bin Laden! Một đội công an đặc biệt, do một thứ trưởng Bộ Công An cầm đầu thi hành cuộc đột kích. Mãi đến khi đi bắt Bầu Kiên họ mới thông báo cấp trên là bộ trưởng Công An biết. Như vậy là chức vụ tổng bí thư có quyền sử dụng một nhánh công an riêng, và thủ tướng chính phủ và Bộ Công An phải chấp nhận. Ai cũng nghĩ là Ba Dũng bị thua một keo nặng nề.
Nhưng ngay sau đó Nguyễn Tấn Dũng lại họp báo, trưng bày đủ mặt các bộ trưởng ngồi bên, Dũng tuyên bố một cách long trọng là, trái với tin đồn, chính mình đã ra lệnh đi bắt Bầu Kiên. Không những thế, Ba Dũng lại nhân dịp đó lại tự xác nhận mình vẫn là chủ tịch cái Ủy Ban Chống Tham Nhũng; một chức vụ ai cũng tưởng đã bị Nguyễn Phú Trọng giật mất rồi! Ðúng là hai bên đá banh theo lối khác nhau, và bên nào cũng tự coi mình nắm cái còi để thổi! Trước cảnh đó, người ngoài không thể biết được là ở trong nước Việt Nam hiện chỉ có một, hay là có hai cái ủy ban chống tham nhũng chạy song song? Chưa bao giờ hai ông tổng bí thư và thủ tướng lại giành nhau một cái danh hiệu như bây giờ. Mà cũng không ai biết nếu có hai cái ủy ban cùng làm một việc một lúc thì anh chủ tịch nào mới là anh có thực quyền? Chưa hết, anh nào có quyền ra lệnh sai bảo bảo công an? Ðám công an nào sẽ nghe lệnh ai? Nói chung, luật chơi hiện nay nó như thế nào? Chẳng biết sự thật ra sao cả! Nhưng đây là lần đầu tiên trong một chế độ cộng sản mối tranh chấp nội bộ được phơi bày trước mắt thiên hạ như vậy.
Trong cuộc họp 15 ngày, người ta tưởng là họ sẽ cùng nhau xác định lại một luật chơi thống nhất. Nhưng thất vọng. Vì ngay cả bản thông cáo cuối cùng họ cũng không dám gọi đó là một thông cáo; chỉ đưa ra dưới hình thức một bản tin, ký tên một phóng viên. Bản tin cho thấy cuộc đấu vẫn chưa ngã ngũ. Như đã phân tích trong bài trước, những điểm kết luận đưa nghe giống như những khuyến cáo, hoặc như các khẩu hiệu nghe cho vui tai nói phải làm gì nhưng không biết phải làm như thế nào. Cũng không thấy có ràng buộc nào để bắt phải thi hành hay không; rồi mai sau người thi hành có thể nói mình đã làm đúng; người chống đối sẽ bảo vẫn làm sai, cũng không có tiêu chuẩn nào để đánh giá cả. Nhìn vào văn từ của “bản tin kết thúc” chúng ta thấy toàn những điểm mập mờ muốn thi hành sao cũng được. Thí dụ, cuộc họp 15 ngày bảo các doanh nghiệp nhà nước mỗi năm phải được kiểm toán (nghe như dạy trẻ con trước khi ăn phải rửa tay!) Nhưng cả hệ thống kinh tế và chính trị ở nước ta chưa hề có những tổ chức chuyên nghiệp và độc lập làm công việc kiểm toán. Như vậy thì có bắt phải kiểm toán hàng tháng, hàng ngày cũng vậy thôi! Bao nhiêu điều khuyến cáo khác cũng tương tự! Cho nên, cuộc đấu chưa ngã ngũ, tức là vẫn như cũ, mạnh ai nấy đá banh theo lối của mình. Nguyễn Tấn Dũng không hề hấn gì hết! Có nhà quan sát đoán là sau 6 tháng hay một năm nữa, họ có thể họp lại để đánh giá việc thi hành. Ðó là cách suy nghĩ hoàn toàn lý thuyết, không hề nghĩ đến quyền hành thực sự nằm trong tay ai. Họ đã họp 15 ngày chẳng đi tới đâu, một năm nữa họp lại cũng chỉ thế thôi.
Cơn khủng hoảng bắt nguồn từ từ trong cơ cấu của chế độ, khi cải tổ kinh tế mà vẫn giữ nguyên hệ thống chính trị xơ cứng như cũ. Toàn thể hệ thống đã hết sức sống; mất ngay cả khả năng tự thay đổi. Tình trạng rạn nứt kéo dài sẽ đưa tới nhu cầu thay đổi toàn diện, không cách nào khác.
Ngô Nhân Dụng
Mọi thể chế chính trị phải có phương cách giải quyết những tranh chấp quyền lực, giữa các cá nhân hoặc các phe phái. Mỗi chế độ có giải pháp riêng. Các ông Stalin và Mao Trạch Ðông đã dùng những phương pháp chấm dứt các mâu thuẫn rất giản dị.
Những đồng chí có thể tranh giành ảnh hưởng với Stalin thường bị đưa ra tòa, kết tội phản động, rồi bắn chết. Khi Stalin chết, những người chung quanh cũng đem bắn ngay trùm mật vụ Beria của ông ta, theo cùng giải pháp đó.
Mao Trạch Ðông áp dụng cách đó, nhưng “theo đường hướng Trung Hoa.” Ông ta không xử bắn các đồng chí mà lại đem họ ra giữa chợ, cho “quần chúng” đấu tranh, hành hạ, sỉ nhục; rồi cho kéo dài kiếp sống mòn mỏi, tuyệt vọng, cho đến khi kiệt sức.
Những phương cách giải quyết mâu thuẫn nội bộ như trên rất phù hợp với chủ nghĩa Mác-Lê Nin. Vì chuyên chính vô sản dựa trên bạo lực. Khi bỏ mất nền tảng đó, nó sẽ tự tan rã giống như ngôi nhà bị sụt móng. Chế độ cộng sản bắt đầu rạn nứt khi các đồng chí tranh chấp quyền hành mà không còn bắn giết nhau nữa; chế độ dần dần tan vỡ khi các đồng chí chỉ tìm cách mua chuộc, hối lộ lẫn nhau (trả giá bằng các địa vị sinh lợi chắc chắn, hoặc đưa thẳng tiền mặt, đô la Mỹ). Ðổi mới kinh tế tạo cơ hội cho các “luật chơi mới” xuất hiện. Những người biết sử dụng các luật chơi mới sớm nhất sẽ tạo được thế lực mạnh hơn người khác. Nhưng vì thế các tranh chấp mới xuất hiện và cần giải quyết.
Nhưng các phe phái lại muốn sử dụng các luật chơi khác nhau để giải quyết những mâu thuẫn. Trong bất cứ hệ thống chính trị nào, câu hỏi quan trọng nhất là tại sao người này phải làm theo ý kiến, mệnh lệnh của người khác. Tại sao anh được quyền sai bảo mà tôi phải làm theo? Luật chơi cũ dựa trên chức vụ; thí dụ, chức tổng bí thư thì cao hơn chức thủ tướng. Luật chơi mới dựa trên khả năng phân phối, chia chác tài nguyên, lợi lộc. Tất nhiên, những người sử dụng luật chơi mới, phù hợp với thực tế kinh tế mới hơn, sẽ chiếm lợi thế. Tình trạng thay thế “bạo lực cách mạng” bằng “tài lợi kinh tế” làm cho hệ thống tự nó mất thăng bằng. Ðang giữa trận đấu, “luật lệ cuộc chơi” bỗng dưng thay đổi; người ta không còn biết áp dụng như phương pháp nào để giải quyết các tranh chấp nữa.
Ðiểm nổi bật là tất cả mọi người đều nhận ra “thực tế với lý thuyết” không đi đôi với nhau nữa. Mà họ cũng không thể đồng ý với nhau làm cách nào để sửa lại cho chúng phù hợp. Hậu quả là họ sẽ phải tiếp tục hô hoán những khẩu hiệu cũ (lý thuyết) mặc dù rỗng tuếch; trong khi đành chấp nhận phó mặc cho thực tế đưa đẩy, trôi nổi theo sức mạnh tương đối giữa các phe phái.
Thử tưởng tượng trong một trận đá banh bỗng dưng một tay cầu thủ dùng tay và cùi chỏ, thay vì chỉ dùng chân. Mà mấy anh cầu thủ đó còn tự ý thổi còi nữa. Một người dùng tay; rồi người thứ hai đá cẳng nhau thay vì đá banh; mà đó lại là những cầu thủ bự con, cao cấp; tất cả đua nhau đổi luật chơi, vừa đá banh lại vừa đóng vai trọng tài. Như vậy thì kết quả sau cùng sẽ ra sao? Khán giả sẽ bỏ về hết, trận đấu sẽ phải kết thúc không kèn không trống; giống như ở Liên Xô và các nước Ðông Âu những năm 1989, 90 vậy.
Hoàn cảnh bế tắc của cuộc họp gọi là “Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng khóa XI” của đảng Cộng Sản Việt Nam diễn ra theo kịch bản như trên. Ðọc bản tin cuối chúng ta thấy họ bị tắc nghẽn suốt 15 ngày vì không có kết quả cụ thể nào cả. Những lời lẽ mơ hồ, dù làm bộ nói đến cả những chi tiết lẩm cẩm vô ích nhưng trong thực tế lại vu vơ, không gây được hiệu quả nào hết. Qua đó, chúng ta biết chính những người trong Bộ Chính Trị cũng không biết họ phải theo luật chơi nào. Sở dĩ họ họp nhau lại, trước hết là vì có người muốn hạch tội Nguyễn Tấn Dũng. Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng thổi còi bắt đầu trận đấu, với Trương Tấn Sang đóng vai giám biên và đá cẳng. Nhưng cuối cùng Nguyễn Tấn Dũng vẫn được an toàn “ra về thơ thới hân hoan.”
Lý do khiến Ba Dũng an toàn là vì đã tự bày trận đấu trên một sân banh khác, và theo những luật chơi khác. Mấy trăm ông bà ủy viên Trung Ương Ðảng, người theo Trọng Lú, người theo Ba Dũng; cũng theo các luật chơi khác nhau. Cuối cùng, trận đấu giải tán; không có kết quả nào cả vì không thể tính điểm ai thắng, ai thua. Ðể khỏi mất mặt cả bầu đoàn, họ đành phải đưa ra những khẩu hiệu trống rỗng cùng với những biện pháp nửa mùa, không thể gây ra hiệu lực cụ thể nào cả. Họ lúng túng, bế tắc vì không theo một luật chơi chung. Mà họ cũng không thể quay lại, sử dụng các luật chơi kiểu Stalin hay Mao.
Ðể thấy tình trạng bối rối và bế tắc của chế độ chính trị tại nước ta, hãy thử tìm hiểu xem trong các chế độ chính trị khác, khi người ta cần giải quyết các tranh chấp quyền lực tương tự giữa các “phe phái” thì họ theo các luật chơi như thế nào.
Trong một chế độ đại nghị, ông thủ tướng thường là lãnh tụ phe chiếm đa số ở Quốc Hội, thì các đối thủ của ông ta có thể yêu cầu Quốc Hội bỏ phiếu bất tín nhiệm. Nếu nhiều người đồng ý là ông thủ tướng đã làm kinh tế suy yếu hoặc nuôi đàn em tham nhũng quá đáng, thì họ sẽ bỏ phiếu lật đổ. Nếu không, ông ta tiếp tục cai trị, trong vinh dự.
Ở một nước theo tổng thống chế, thì Quốc Hội không thể lật đổ một tổng thống do dân trực tiếp bầu lên; nhưng họ vẫn có khả năng kìm hãm bớt quyền hành của ông ta qua việc biểu quyết ngân sách. Với quyền nắm túi tiền của quốc gia, Quốc Hội có thể buộc hành pháp phải thỏa hiệp với mình tức là chia sẻ bớt quyền hành.
Trong một chế độ cộng sản thì sao? Trên nguyên tắc, đảng nắm toàn quyền. Tổng bí thư, Bộ Chính Trị rồi đến Trung Ương Ðảng quyết định tất cả. Trong cuộc họp 15 ngày đầu tháng 10, Nguyễn Phú Trọng đã trù tính dùng uy tín Trung Ương Ðảng để hạ thủ Nguyễn Tấn Dũng. Thật ra trận đấu đã khởi sự từ mấy tháng trước; ngay sau khi Trọng lên nắm chức tổng bí thư đã tính dùng “luật chơi cũ” để gia tăng quyền hành. Nhưng sân chơi đã thay đổi; uy quyền của tổng bí thư đã giảm sút rõ rệt nhờ Nông Ðức Mạnh ù ù cạc cạc. Có thể coi như chức tổng bí thư đã mất gần hết quyền lực; khi đem so với quyền hành thực tế của chức vụ thủ tướng. Quyền lực được thể hiện trong khả năng chia chác địa vị sinh lợi chứ không phải là các chức vị suông; ngoài ra là khả năng bắt người, giam người. Ba Dũng đã nắm trong tay hầu hết hai thứ quyền đó; nay Trọng Lú cố giành lấy nhưng vô hiệu.
Ngay từ đầu, cuộc đấu giữa Trọng và Dũng cho thấy họ theo các luật chơi khác nhau, người này không chịu luật chơi của kẻ kia. Nguyễn Phú Trọng đã ra tay trước khi công bố quyết định đem Ủy Ban Chống Tham Nhũng vào dưới quyền Bộ Chính Trị; để tổng bí thư đương nhiên nắm chức chủ tịch. Ai cũng tưởng Trọng đã thắng Dũng một keo; vì từ đầu Dũng đã lập ra Ủy Ban Chống Tham Nhũng để chính mình nắm đầu. Khi Trọng ra tay giành lấy quyền chống tham nhũng; nhiều nhà quan sát coi là cuộc mâu thuẫn giữa “Ðảng” và “Nhà nước” đã biểu hiện; và vội vã kết luận rằng trong keo này Ðảng đã thắng, tức là Trọng thắng.
Nhận xét đó càng có vẻ vững hơn khi Bầu Kiên bị bắt. Vụ bắt Bầu Kiên được thực hiện trong vòng bí mật, kín bưng, giống như cuộc hành quân của toán biệt kích tấn công vào sào huyệt Bin Laden! Một đội công an đặc biệt, do một thứ trưởng Bộ Công An cầm đầu thi hành cuộc đột kích. Mãi đến khi đi bắt Bầu Kiên họ mới thông báo cấp trên là bộ trưởng Công An biết. Như vậy là chức vụ tổng bí thư có quyền sử dụng một nhánh công an riêng, và thủ tướng chính phủ và Bộ Công An phải chấp nhận. Ai cũng nghĩ là Ba Dũng bị thua một keo nặng nề.
Nhưng ngay sau đó Nguyễn Tấn Dũng lại họp báo, trưng bày đủ mặt các bộ trưởng ngồi bên, Dũng tuyên bố một cách long trọng là, trái với tin đồn, chính mình đã ra lệnh đi bắt Bầu Kiên. Không những thế, Ba Dũng lại nhân dịp đó lại tự xác nhận mình vẫn là chủ tịch cái Ủy Ban Chống Tham Nhũng; một chức vụ ai cũng tưởng đã bị Nguyễn Phú Trọng giật mất rồi! Ðúng là hai bên đá banh theo lối khác nhau, và bên nào cũng tự coi mình nắm cái còi để thổi! Trước cảnh đó, người ngoài không thể biết được là ở trong nước Việt Nam hiện chỉ có một, hay là có hai cái ủy ban chống tham nhũng chạy song song? Chưa bao giờ hai ông tổng bí thư và thủ tướng lại giành nhau một cái danh hiệu như bây giờ. Mà cũng không ai biết nếu có hai cái ủy ban cùng làm một việc một lúc thì anh chủ tịch nào mới là anh có thực quyền? Chưa hết, anh nào có quyền ra lệnh sai bảo bảo công an? Ðám công an nào sẽ nghe lệnh ai? Nói chung, luật chơi hiện nay nó như thế nào? Chẳng biết sự thật ra sao cả! Nhưng đây là lần đầu tiên trong một chế độ cộng sản mối tranh chấp nội bộ được phơi bày trước mắt thiên hạ như vậy.
Trong cuộc họp 15 ngày, người ta tưởng là họ sẽ cùng nhau xác định lại một luật chơi thống nhất. Nhưng thất vọng. Vì ngay cả bản thông cáo cuối cùng họ cũng không dám gọi đó là một thông cáo; chỉ đưa ra dưới hình thức một bản tin, ký tên một phóng viên. Bản tin cho thấy cuộc đấu vẫn chưa ngã ngũ. Như đã phân tích trong bài trước, những điểm kết luận đưa nghe giống như những khuyến cáo, hoặc như các khẩu hiệu nghe cho vui tai nói phải làm gì nhưng không biết phải làm như thế nào. Cũng không thấy có ràng buộc nào để bắt phải thi hành hay không; rồi mai sau người thi hành có thể nói mình đã làm đúng; người chống đối sẽ bảo vẫn làm sai, cũng không có tiêu chuẩn nào để đánh giá cả. Nhìn vào văn từ của “bản tin kết thúc” chúng ta thấy toàn những điểm mập mờ muốn thi hành sao cũng được. Thí dụ, cuộc họp 15 ngày bảo các doanh nghiệp nhà nước mỗi năm phải được kiểm toán (nghe như dạy trẻ con trước khi ăn phải rửa tay!) Nhưng cả hệ thống kinh tế và chính trị ở nước ta chưa hề có những tổ chức chuyên nghiệp và độc lập làm công việc kiểm toán. Như vậy thì có bắt phải kiểm toán hàng tháng, hàng ngày cũng vậy thôi! Bao nhiêu điều khuyến cáo khác cũng tương tự! Cho nên, cuộc đấu chưa ngã ngũ, tức là vẫn như cũ, mạnh ai nấy đá banh theo lối của mình. Nguyễn Tấn Dũng không hề hấn gì hết! Có nhà quan sát đoán là sau 6 tháng hay một năm nữa, họ có thể họp lại để đánh giá việc thi hành. Ðó là cách suy nghĩ hoàn toàn lý thuyết, không hề nghĩ đến quyền hành thực sự nằm trong tay ai. Họ đã họp 15 ngày chẳng đi tới đâu, một năm nữa họp lại cũng chỉ thế thôi.
Cơn khủng hoảng bắt nguồn từ từ trong cơ cấu của chế độ, khi cải tổ kinh tế mà vẫn giữ nguyên hệ thống chính trị xơ cứng như cũ. Toàn thể hệ thống đã hết sức sống; mất ngay cả khả năng tự thay đổi. Tình trạng rạn nứt kéo dài sẽ đưa tới nhu cầu thay đổi toàn diện, không cách nào khác.

