Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Ta về cho kịp độ Xuân sang

Ngô Nhân Dụng

Có một nhà báo Mỹ đang chịu búa rìu dư luận trên mạng Internet, vì một bài ông ta viết sau chuyến đi thăm Việt Nam. Joel Brinkley mở đầu bài báo trên mạng Chicago Tribune như thế này: “Bạn không cần phải ở Việt Nam lâu ngày mới thấy một điều bất bình thường.

Không nghe thấy tiếng chim hót, không thấy những con sóc leo cây hay những con chuột bới đống rác. Không thấy ai dắt chó đi ngoài đường. Sự thật là, bạn không nhìn thấy con thú nào, sống hoang hay được người nuôi. Chúng đi đâu cả? Bạn sẽ ngạc nhiên khi biết tại sao: Phần lớn đã bị ăn thịt.”

Joel Brinkley kể tiếp về thú vui ẩm thực của người Việt, đặc biệt là người ta ăn cả thịt chó lẫn thịt chuột. Ðó là ông chưa thấy họ ăn cả thịt rùa, ba ba, thịt rắn, thịt kỳ đà, thịt chim cút, ăn nhộng, ăn lòng lợn, gan gà, tiết canh vịt, ăn châu chấu, ăn rươi, ăn cả những con sâu “đoong” nằm trong cuống dừa. Nhiều người nghe nói tới những món đó chắc muốn hỏi có sách nấu nướng nào dạy không. Còn chàng du khách Brinkley thì nhận xét: “Người Việt thích ăn thịt, chắc ăn nhiều quá nên tính tình hung hăng hay gây sự (aggressive).”

Joel Brinkley có vẻ thích thú đã tìm thấy một định luật về “dinh dưỡng-xã hội-tâm lý-sinh lý học,” sau chuyến du lịch ba tuần! Một nhà báo (dù đã từng được giải Pulitzer), và một giáo sư dạy môn báo chí (dù dậy ở Ðại Học Stanford) cũng không nên công bố một định luật “đa khoa” (multidisciplinary) nhanh quá như vậy! Chẳng trách, một sinh viên người Mỹ viết: “May quá, ông này không dạy tôi!” Một người Mỹ khác than: “Brinkley làm xấu mặt cả giới làm báo!” Sonny ở California dùng các con số: “Về khuynh hướng hung hăng do ăn thịt gây ra thì tôi nghĩ ông đang nói về nước CHÚNG TA (nhấn mạnh trong nguyên văn), nước ông và nước tôi. Người Mỹ mỗi năm ăn trung bình 125 ký lô thịt, đứng thứ nhì trên thế giới, chỉ sau Luxembourg (136 kilos), so với người Việt ăn mỗi năm chỉ ăn 41 ký, đứng hàng thứ 90! Mà tôi chưa nghe nói nước Luxembourg đi đánh nhau với ai bao giờ cả!” Một độc giả khác, McElwee đã sống ở Việt Nam năm năm, cũng tự hỏi: “Không hiểu sao ông ta đi từ chỗ ghét những người ăn thịt chó và thịt chuột để liên hệ tới ý tưởng là ở Việt Nam thiên nhiên hoang dã không được bảo vệ?”

Sau khi đọc bao lời bình phẩm như trên (có cả một độc giả gốc Hàn Quốc tham dự), Joel Brinkley đã viết một bài ngắn tự phân trần. Ông nhận xét: “Người Việt Nam có vẻ rất nhậy cảm khi bị phê bình. Mà dân tộc nào chẳng vậy.” Ông nói rất chí lý, nhưng tưởng điều này ai cũng biết cả rồi. Vẫn bảo vệ định lý “ăn thịt sinh hung dữ,” ông so sánh người Việt với người Lào, Campuchia. Ông thấy dân chúng hai nước này thường chỉ ăn cơm, cho nên trẻ em nhỏ con hơn và không khôn lanh bằng trẻ Việt. Ông kết luận: “Có phải như vậy thì khi lớn lên chúng không hung hăng như người Việt Nam không? Tôi (Brinkley) tin như thế.”

Lại thêm một định luật đa khoa nữa. Ðộc giả có ai tin như thế hay không? Chắc ông Brinkley phải nghiên cứu lại xem Pol Pot và các đồng chí Khờ Me đỏ họ ăn cái gì! Một độc giả nói thẳng: “Bài trả lời của ông ta còn tệ hơn bài trước. Cứ theo lối ông ta nói về người Lào và người Campuchia thì chắc mình phải bắt các dân tộc này cứ tiếp tục nghèo và đói, để họ khỏi hung dữ...”

Trong bài trả lời, Brinkley cũng cho lên mạng một bức hình ông chụp ở Việt Nam, hình một bà đang ngồi ở chợ, trước mặt là mấy cái thau ngâm xác những con chuột trắng hếu: Ðó, trông ghê chưa? Nhưng nhiều người coi hình không thấy ghê. Cô Erica J. Peters, đã viết sách về thức ăn Việt Nam, nhận xét: “Bức hình của ông cho thấy những con vật này đã được làm sạch sẽ, giống như ở bất cứ một cửa hàng bán thịt nào!” Về chuyện giết chuột, một độc giả tên Quốc Tấn so sánh: “Ở Mỹ số chuột bị giết cao hơn ở Việt Nam gấp bội, họ gọi đó là Bảo vệ Mùa màng!”

Còn nhiều người phản đối ông Brinkley nữa, nhưng đọc bấy nhiêu lời cũng đủ. Một trong những “người Việt nhậy cảm” là cô Uyên Nguyễn, một sáng lập viên OneVietnam Network. Cô nói thẳng về bài báo: “Nó sỉ nhục. Nó đánh thẳng vào văn hóa của chúng tôi.”

Chắc cũng không cần quá nhậy cảm với một bài báo về du lịch. Một ký giả trang du lịch chỉ muốn viết mua vui, kiểu những người đi xa về thì hay nói; chắc không cố ý sỉ nhục ai hết. Tiếc là trong khi kể chuyện người viết không biết tự kiềm chế, lại đưa ra những định luật tổng quát nằm ngoài phạm vi chuyên môn của mình. Có thể tin lời Brinkley phân trần, ông ấy không hề có ý định nói xấu người Việt Nam. Ðúng kiểu người Việt Nam, tôi sẽ bảo ông: Thôi, xí xóa.

Tôi kể lại câu chuyện trên vì sau bài báo trên rất nhiều độc giả Mỹ xúm lại nói người Việt Nam rất tốt. Có người viết: “Người Việt, mặc dù họ ăn mấy món không hợp khẩu vị chúng ta, nhưng họ là một dân tộc rất dễ thương.” Tất nhiên rồi! Một người khác đã du lịch Việt Nam, viết: “Mấy năm trước tôi đi Việt Nam hai tuần... và ngạc nhiên thấy ngoài đường rất nhiều chó do người ta nuôi... Tôi chưa từng thấy dân tộc nào nồng hậu và hào phóng (warm and generous) bằng người Việt Nam. Có lần tôi đi dạo bằng xe đạp, khát nước quá, một người bán xăng đã chạy vào trong lấy ra chai nước của anh ta, cho tôi, và nhất định không nhận tiền.” Tất nhiên rồi! Người nước nào gặp người ngoại quốc cũng cư xử tốt hơn với người cùng nước họ! Những giống dân tử tế thì lại càng tốt hơn!

Mà chính người Việt, họ đâu có ngần ngại không tự kể tật xấu của mình? Nhà báo Từ Thức, ở Paris viết: “Tự hào dân tộc để một bên, phải nhìn nhận cái cảnh thịt chó, thịt chuột treo lủng lẳng trong tiệm ăn nó ghê rợn thiệt. Nhất là cái cảnh giết chó. Ngồi hào hứng nhậu, bên cạnh cái màn giết chó, cắt cổ con vật, lấy gậy đập đầu chó kêu thảm thiết. Khó kiếm chữ nào để diễn tả hơn chữ 'man rợ.'” Và ông viết chúc Tết Quý Tỵ cho bạn bè thế này: “Chúc cho đất nước yêu quý của chúng ta đang nằm trong số 10 nước nghèo khổ nhất thế giới sẽ tiến lên, trở thành một trong 20 nước nghèo khổ nhất thế giới!”

Nhưng tại sao chúng ta thấy ghê rợn trước cảnh “thịt chó, thịt chuột treo lủng lẳng” mà lại không cảm thấy gì hết khi nhìn những cái đùi heo hun khói cũng treo lủng lẳng trong các tiệm ăn ở Paris (jambon) hay Madrid (jamón) nhỉ? Chắc khi nhìn những cái đùi tròn trĩnh thơm tho thì mình chỉ thèm thuồng nên quên cảnh con heo bị chọc tiết! Nhiều cái chợ, trên cái tủ lạnh đầy thịt bò đỏ tươi còn treo cái hình đầu bò đang cười toe toét. Làm như cô bò đang hân hoan “kính mời quý khách mua các món thịt đùi, món xì tếch, món sườn bò Ðại Hàn, món filet mignon,” để thưởng thức thịt chúng tôi! Mại vô! Loài người kể cũng hay thật! Không hiểu nếu những con sư tử, con cọp biết mở siêu thị thì chúng có treo thịt đùi người lủng lẳng hay không nhỉ?

Thật ra, nếu muốn tìm những cái xấu ở Việt Nam không phải chỉ có tật ăn thịt chuột đáng mang ra phê bình. Nếu như Joel Brinkley chủ tâm nói xấu, ông sẽ được nghe nhiều chuyện tệ hơn, tha hồ kể. Như chuyện một phụ nữ bị cướp mất nhà, đất, uất ức quá mà không làm gì được, bèn cởi hết quần áo để bày tỏ ý kiến. Tất nhiên, bà bị kết tội “lạm dụng quyền tự do ngôn luận,” một thứ quyền thực ra chỉ được được nhà nước cấp phát từng trường hợp, giống như “tem phiếu tự do!” Lại đến cảnh một bà mẹ phải tự đốt mình sau khi cả mẹ con bà bị đe dọa đuổi nhà, chỉ vì có một cô con gái dám “tự do ngôn luận” bằng cách đi biểu tình và làm blog phản đối... một nước láng giềng cướp mấy hòn đảo của nước mình!

Ðiều đáng xấu hổ không phải chỉ là chuyện một chế độ đàn áp người dân. Ðáng hổ thẹn nhất là phản ứng của người dân trước nỗi khổ cùng cực của hai phụ nữ trên. Họ nhìn chuyện đó là bình thường! Nếu muốn cho người Việt Nam xấu hổ, Joel Brinkley có thể kể chuyện nước ông để so sánh. Năm 1955 một phụ nữ da đen ở Montgomery, tiểu bang Alabama đã từ chối không đứng dậy nhường chỗ cho một người da trắng, theo lệnh ông tài xế xe buýt. Vụ bà bị đưa ra tòa sau đó gây ra cả một phong trào đòi dân quyền trên cả nước Mỹ trong hàng chục năm; dẫn tới những đạo luật dân quyền sau này. Khi từ trần năm 2005, bà Rosa Parks là người Mỹ thứ nhì, chỉ là dân thường mà đám tang được cử hành trong trụ sở Quốc Hội. Còn ở nước Việt Nam, bà Ðặng Thị Kim Liêng tự thiêu chết oan khốc như vậy mà báo, đài không dám loan tin, không dám bình luận. Và sau đó cô con gái bà vẫn bị tòa án bỏ tù. Chuyện mới xẩy ra năm tháng trước, mà người Việt Nam bây giờ hầu như đã quên rồi.

Nhiều người Việt đã nhận xét dân mình đánh mất cái thói quen biết hổ thẹn; cũng không còn cái khả năng biết nổi giận trước cái ác. Nhiều cá nhân vẫn nổi giận khi bị người khác đi xe lấn đường, cũng biết hổ thẹn khi mặc cái quần rách. Nhưng đối với những chuyện lớn thì không, đại đa số hoàn toàn lãnh cảm.

Chắc chúng ta phải nhìn nhau tự hỏi: Tại sao nước mình đến nỗi như vậy nhỉ? Cái gì gây ra tính lãnh cảm tập thể này? Ông bà mình ngày xưa có thờ ơ như thế hay không?

Không, nước mình vốn không tệ như thế! Tổ tiên mình đâu đến nỗi tệ như thế? Mình vẫn thường hãnh diện về lịch sử dân mình đấy chứ?

Một người từng tuyên bố hãnh diện làm dân Việt Nam là Ngô Thì Nhậm (1746-1803). Trong một chuyến đi sứ sang Trung Quốc dưới thời vua Quang Trung, lúc đang trong tỉnh Quảng Tây, Ngô Thì Nhậm viết bài thơ “Hoãn Nhĩ Ngâm” (Mỉm cười mà ngâm thơ) để chế nhạo những thành kiến sai lầm trong sách sử của người Trung Hoa. Ngô Thì Nhậm dành lời phê bình nặng nề nhất đối với thói phân biệt, coi dân Hoa Hạ hơn dân Man di. Ðể thuyết phục người Trung Hoa, và những người Việt hay sợ Trung Quốc quá, ông viện dẫn Chu Hy đời Tống, một thẩm quyền có uy tín trong Nho Giáo và văn hóa Trung Quốc. Chu Hy đã nhận xét, “Thịnh xưng tây nam phiên - Văn tự đa cao thủ - Tất hữu khai kỳ tiên - Bất độc quốc trung hữu.” (Ðáng khen các dân tộc miền Tây Nam - Có nhiều người giỏi chữ nghĩa - Tất họ đã khai hóa từ lâu - Ðâu phải chỉ Trung Quốc mới có tiến bộ). Dẫn ra những lời đó rồi, ngay câu sau, Ngô Thì Nhậm nói khi về nước ông sẽ bảo với bạn hữu rằng: “Hạnh tai sinh Nam bang!” May mắn thay, chúng ta sinh ở Nước Nam!

Bây giờ có bao nhiêu người Việt đang nghĩ như Ngô Thì Nhậm? Nếu người nào không nghĩ mình may mắn làm dân Việt là, thì chắc cũng phải ước mong con cháu sau này được thấy làm dân Việt là may mắn. Ngô Thì Nhậm đã nghĩ như thế; thì thế hệ sắp tới cũng phải có người, có lúc, sẽ cao hứng thốt lên: May mắn thay, sinh làm người Việt Nam!

Nghĩ đến tổ tiên, phải thấy đó là một bổn phận. Bổn phận trả lại cho nước Việt Nam niềm hãnh diện mà người xưa vẫn nói với nhau trong đám bạn bè: Hạnh tai, sinh Nam bang! Ðêm giao thừa năm nay, sẽ khấn khứa ông bà, xin nguyện sẽ cố gắng giúp các thế hệ sắp tới có thể nói như thế: May mắn thay, sinh làm người Việt Nam!

Năm nay chúng ta có thể bắt chước Tú Xương mà chúc cả nước ăn ở với nhau “Sao được cho ra cái giống người!” Sống làm sao cho ra con người có phẩm giá. Thực hành lời nguyện này cũng không khó lắm. Sống với nhau cho tử tế. Như vậy đã là một điều cho con cháu hãnh diện rồi. Ăn ở như thế nào thì gọi là tử tế? Sống công bằng, ngay thẳng, chắc cũng đủ. Như trong cuốn sách hướng dẫn di dân muốn nhập quốc tịch Australia, họ nhấn mạnh đến một quy tắc “a fair go!” Ở nước Úc hễ ai có khả năng và cố gắng làm việc là sẽ khá hơn, không cần phải có cha mẹ giầu hoặc quyền thế. Thực hiện quy tắc này, phải bàn chuyện cách tổ chức chính quyền, hệ thống giáo dục, tư pháp, luật lệ kinh tế, vân vân.

Nhưng cũng không phải chờ đợi thi hành các quy tắc lớn như vậy mới sống tử tế được. Cứ tử tế với nhau ngay trong đời sống hàng ngày, trong cách cư xử với xóm giềng, ngay với những người qua đường, cũng đủ. Văn hóa thuần mỹ thể hiện trong đời sống hàng ngày, không cần hô khẩu hiệu. Trong cuốn sách chỉ dẫn về nhập tịch, chính phủ Anh quốc dặn dò các công dân mới một điều: “Nhớ giữ cho cái vườn nhà mình sạch sẽ đàng hoàng (không đầy rác hoặc cỏ dại); đến ngày đổ rác thì nhớ đem thùng rác hay túi rác ra đường, chỉ để ở chỗ dành riêng cho rác, và không đem ra quá sớm trước giờ ấn định.” Những chuyện nhỏ nhặt đó tạo nên những xã hội tử tế.

Người Việt Nam có thể sống tử tế với nhau, ngay bây giờ. Mỗi người cứ sống cho tử tế, rồi người khác sẽ theo. Khi người ta không tử tế, mình vẫn giữ tư cách con người tử tế. Ðó là đóng góp cho tương lai nước Việt Nam. Sẽ có ngày trẻ em Việt Nam được sống trong một đất nước an hòa, tự do, dân chủ, dù các em ăn thịt hay không ăn thịt. Trong vườn các em được nghe tiếng chim hót, như trong bài hát của Huy Tuấn: “Một ngày nắng rất hiền, nắng lung linh trong vườn, bông hoa đang cười thương thật thương!” Sẽ có ngày, nghề dạy học đủ nuôi sống gia đình nhà giáo. Các em đến trường không bao giờ quên cúi chào các thầy cô; các thầy cô đều mỉm cười. Tết đến, ra chợ lại nhớ cảnh xưa trong thơ Ðoàn Văn Cừ; cảnh trí khác nhưng niềm vui vẫn thế. Khi lớn khôn, có lúc các em sẽ thốt lên: May mắn thay, mình là người Việt Nam. Giống như Ngô Thì Nhậm hơn 200 năm trước.

Chúng ta đón mùa Xuân về với niềm tin tưởng là ngày đó không xa. Phục hồi một nếp sống thuần hậu, ngay thẳng, chánh trực; sống lại các giá trị đạo lý của Chu An, Nguyễn Ðình Chiểu; Phan Châu Trinh; chúng ta sẽ trở về trước bàn thờ, trong ngôi nhà cũ của tổ tiên. Ngày về sắp đến rồi. Cái gì tới chỗ cùng cực, sẽ phải thay đổi. Cả nước đang rạo rực chờ biến chuyển. Cả dân tộc đang trở về nhà, lòng náo nức như một thi sĩ sắp được về sau “Mười năm mặt sạm soi khe nước - Ta hóa thân thành vượn cổ sơ.” Trong lòng thi sĩ vẫn tràn ngập niềm vui:

Tiếng biển lời rừng nao nức giục
Ta về cho kịp độ xuân sang

(Ta Về, Tô Thùy Yên)

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Giám mục, tu sĩ, giáo dân đòi chấm dứt độc tài độc đảng

Võ Long Triều

Nhân cơ hội Hà Nội tổ chức lấy ý kiến nhân dân cho bản dự thảo Hiến Pháp mới, đông đảo quần chúng khắp nơi trong xứ ủng hộ bản kiến nghị do 72 nhà trí thức cộng sản yêu cầu bỏ độc quyền cai trị với điều 4 Hiến Pháp.

Hàng ngàn người không dè dặt, sợ hãi, họ công khai ký tên kêu gọi đảng chấm dứt độc tài trả lại các quyền căn bản cho người dân như Hiến chương Liên Hiệp Quốc và Công ước Quốc tế quy định mà Hà Nội đả cam kết tôn trọng nhưng không khi nào thi hành. Trong số đông người ký tên đó có giám mục, tu sĩ và giáo dân Công Giáo.

Sự kiện nêu trên chứng minh nhiều đảng viên cao cấp đã ý thức được sự tai hại của độc tài độc đảng, dẫn đất nước vào thế suy đồi, đưa dân tộc đến chỗ diệt vong, bị Tàu đô hộ. Bản kiến nghị là sự phản đối công khai, là hình thức cảnh cáo, là sự thúc giục quần chúng dấy lên phong trào đòi quyền sống. Sự hướng ứng nhanh chóng của hàng ngàn người là dấu hiệu của quần chúng không còn chấp nhận bị lừa đảo và đàn áp nữa.

Bộ Chính Trị và Trung Ương đảng chắc chắn biết rõ điều đó, nhưng các tập đoàn lãnh đạo cộng sản vẫn tiếp tục chìm đắm trong sai lầm, chủ quan, dùng bạo lực đàn áp để tồn tại. Họ không còn đường thối lui dù biết rằng phải có ngày tàn, nên manh ai nấy vơ vét, cất giấu.

Dù có kiến nghị hay thỉnh cầu gì đi nữa, người ta vẫn biết rằng, đảng và nhà nước bất chấp, không nghe, không hiểu, vì lý do họ không thể “Tự Sát” như cựu Chủ tịch Nhà nước Nguyễn Minh Triết đã khẳng định: “Bỏ điều 4 Hiến Pháp là tự sát.”

Vấn đề còn lại là nhà cầm quyền sẽ không ngần ngại, thẳng tay dùng bạo lực đàn áp khi cần để tồn tại. Và nhân dân sẽ nổi dậy đòi quyền sống, nếu không sẽ chết dần trong đói khổ và tù đày. Bên nào thắng cuộc? Vận nước sẽ chứng minh.

Người ta còn nhớ ngày Chủ Nhật, 1 tháng 7 năm 2012, công an, quân đội và bọn côn đồ hành hung tàn bạo linh mục và giáo dân mang thương tích trầm trọng tại Con Cuông. Ngày đó Ðức cha Nguyễn Thái Hợp, giám mục địa phận Vinh đang công tác ở nước ngoài tuyên bố với báo Eglise d'Asie của Pháp: “Chúng tôi sẽ đòi công lý cho những nạn nhân vụ bạo hành.” Ngài còn giải thích: “Những vụ xẩy ra quá đặc biệt, khiến đa số người Công Giáo không thể khoan nhượng. Nhà cầm quyền đi quá xa. Tại xứ tôi người ta thường nói: Khi vượt quá một ranh giới nào đó người ta phải phản ứng.” Giám Mục Nguyễn Thái Hợp đã phán như vậy mà tại sao giáo dân còn khoan nhượng?

Nhà cầm quyền đã luôn luôn đi quá xa, vượt quá ranh giới, chừng nào người Công Giáo chúng ta mới phản ứng? Chừng nào sẽ có năm trăm ngàn giáo dân Công Giáo xuống đường một lần nữa? Chừng nào có một vị giám mục tuyên bố như cựu Giám Mục Cao Ðình Thuyên? Ông nói: “Có 500,000 Cao Ðình Thuyên chứ không phải có một.” Ý nghĩa là ông gián tiếp biểu đồng tình với giáo dân xuống đường rồi.

Ðã có dấu hiệu cho thấy lần phản bác điều 4 Hiến Pháp nầy có ba vị giám mục ký tên vào bản kiến nghị đòi bỏ độc quyền cai trị. Ðó là các vị Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt, người đã từng tuyên bố xấu hổ khi di chuyển ra nước ngoài với hộ chiếu người Việt Nam, công dân của một chế độ cộng sản bạo tàn, bị người ngoại quốc khinh khi xem thường, Giám Mục Ngô Quang Kiệt được giáo dân sùng kính, vâng phục cho nên nhà cầm quyền Hà Nội lo sợ đến nỗi phải kiện cáo tới Vatican để yêu cầu ông phải nghỉ hưu tại tu viện Châu Sơn. Ngài đã im hơi lặng tiếng lâu rồi, bây giờ mới xuất hiện đòi chấm dứt độc tài độc đảng. Hai vị giám mục khác cùng ký tên là Giám Mục Nguyễn Chí Linh, phó chủ tịch Hội Ðồng Giám Mục và Giám Mục Nguyễn Thái Hợp, chủ tịch Ủy Ban Công Lý Hòa Bình. Cùng với khoảng năm mươi linh mục và nhiều giáo dân Công Giáo khác đồng ký.

Ðối với các tu sĩ Công Giáo, họ không thể trực tiếp tham gia hoạt động chính trị vì giáo luật phân biệt đạo và đời rõ rệt. Các ngài chỉ có thể bày tỏ ý kiến đúng sai, nhưng không thể trực tiếp lãnh đạo phong trào chính trị. Ðiều đó là nhiệm vụ của giáo dân. Kinh Thánh so sánh người Công Giáo như hạt muối trong xã hội, có trách nhiệm làm cho môi trường sống tốt lành hơn. Năm 1957 tôi được hân hạnh dự Ðại Hội Sinh Viên Á Châu tại La Mã, Ðức Giáo Hoàng Piô thứ XII trực tiếp giảng và khuyến khích giáo dân nên dấn thân vào chính trị, làm cho xã hội tốt lành. Giáo dân Việt Nam ngày nay sẽ có ai là những người dấn thân lãnh đạo phong trào đòi công lý, tự do nhân quyền cho dân tộc?

Người ta phá nhà thờ, dẹp tu viện, người ta đập phá cây thánh giá ở Ðồng Chim, viện cớ vì sự an toàn của đê điều trong khi hàng ngàn căn nhà cao từng sát bên cạnh, xây trái phép vẫn được tôn trọng và an toàn.

Cây Thánh giá là tượng trưng “Thần Thánh” của đạo Công Giáo. Người ta đập phá sao năm trăm ngàn giáo dân ở đâu không bảo vệ? Ngày xưa Kinh Thánh chép lại rằng: Trước cửa đền thờ Jerusalem có bọn con buôn lộng hành, chính Chúa Giêsu rút thắt lưng đánh đuổi bọn chúng không cho phép làm ô nhiễm nơi thờ phượng Chúa Cha.

Ngày nay người ta phá nhà thờ, đập nát Thánh giá, quăng tượng và chén thánh ra đường, giáo dân đâu?

Sẽ có những ai theo gương Chúa Giêsu và nghe lời dạy của Giáo Hoàng Piô thứ XII, dấn thân lãnh đạo Phong trào đòi Công lý và Hòa bình, đòi quyền sống và quyền làm người tự do cho dân tộc Việt Nam?

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Trung Quốc bắt nạt láng giềng ở biển Ðông

Sĩ quan Hải Quân Mỹ báo động

SAN DIEGO (NV) - Một sĩ quan cao cấp Hải Quân Hoa Kỳ báo động Trung Quốc ngày càng gia tăng các hành động bá quyền trên biển,
gây mất ổn định và an ninh khu vực Á Châu Thái Bình Dương.

Image
Tàu Hải Giám 75 của Trung Quốc (trọng tải 1,000 tấn) tuần tra ở biển Ðông. (Hình: Hải Quân Trung Quốc Navy81.com)

“Chắc chắn là Hải Quân Trung Quốc đang đặt trọng tâm vào hải chiến và nhằm đánh chìm hạm đội đối phương”. Ðại Tá Hải Quân James Fanell, phó trưởng ban tham mưu hành quân đặc trách tình báo của Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ, phát biểu trong một cuộc hội thảo về quốc phòng tổ chức ở San Diego ngày cuối Tháng Giêng 2013 vừa qua nhưng mới được tường thuật trên báo chí gần đây.

Lời bình luận của một viên chức cao cấp của ngành tình báo Hải quân Mỹ diễn ra trong bối cảnh của các căng thẳng giữa Trung Quốc với các nước trong khu vực từ quần đảo Senkaku trên biển Hoa Ðông với Nhật Bản và khu vực biển Ðông với Việt Nam và Philippines.

Ông Fanell cho biết Trung Quốc sử dụng các lực lượng “ủy nhiệm” thay cho tàu hải quân để leo thang các hoạt động kiểm soát và khẳng định chủ quyền ở các khu vực biển tranh chấp.

Ðó là đội tàu Hải Giám và Hải Tuần rất đông đảo và lớn mạnh, một số là chiến hạm biến cải. Trừ Nhật Bản có khả năng đối phó, các nước nhỏ như Việt Nam và Philippines thì lép vế hoàn toàn. Cùng với các đội tàu vừa kể, các tài hải quân Trung Quốc thường xuyên mở các cuộc tập trận và tuần tiễu, thách đố sự hiện diện của tàu hải quân các nước khác.

Tàu Trung Quốc “thường xuyên thách thức khu đặc quyền kinh tế mà Nam Hàn, Nhật Bản, Philippines, Malaysia, Burnei, Indonesia, Việt Nam, từng được cho là được bảo đảm theo Công Ước Quốc Tế về Luật Biển”, theo lời ông Fanell.

“Trung Quốc thách thức quyền của các nước khác”, ông Fanell nói Bắc Kinh xác định “cái gì của tao là của tao, còn cái gì của mày thì phải đàm phán”.

Cho tới nay, Trung Quốc mới chỉ chiếm được 7 bãi san hô ngầm ở quần đảo Trường Sa nhưng đã thiết lập tới 8 căn cứ quân sự trên đó.

Ông Fanell gọi đoàn tàu Hải Giám của Trung Quốc là “lực lượng sách nhiễu thường trực chủ quyền các nước trong khu vực chứ không có phận sự gì khác”.

Ông dùng từ “bành trướng” để mô tả các hành động của Trung Quốc. Theo ông nếu quan sát các hoạt động của Trung Quốc trong thập niên qua, không có gì mô tả đích xác hơn là dùng từ đó.

Hành động mới nhất của Trung Quốc khi uy hiếp, đẩy tàu Philippines ra khỏi khu vực bãi đá Scarborough Shoal mà Bắc Kinh gọi là Hoàng An đảo, rồi củng cố chiếm đoạt nơi này hồi năm ngoái là một thí dụ điển hình về chủ trương bành trướng, chiếm đoạt.

Theo ông Fanell, Trung Quốc “chèn ép” các nước khác là một phần trong chủ trương và hành động được tính toán kỹ lưỡng.

“Người ta có thể nhìn thấy trước là các hành động của Trung Quốc đang làm mất ổn định vùng biển Á Châu”, theo ông Fanell.

Trung Quốc gấp rút cải tiến và gia tăng lực lượng hải quân của họ 5 năm qua để kiểm soát không những các vùng biển gần bờ mà còn vươn ra các vùng biển xa. Chủ đích là đối phó với hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ.

Ông Fanell cho biết trong năm 2012, Trung Quốc đã đưa 7 đoàn chiến hạm và một lực lượng tàu ngầm đông đảo vào biển Ðông, một hành động chưa từng có trước đây.

Ông lên án ở cuộc hội thảo tại San Diego về những gì Trung Quốc nêu ra làm bằng chứng lịch sử để cả quyết gần hết biển Ðông là của Trung Quốc là “bịa đặt lịch sử” nhằm hậu thuẫn cho chủ trương bá quyền bành trướng khi tự thấy sức mạnh quân sự ăn trùm các nước khỏ ở khu vực.

“Trung Quốc đang kiểm soát các vùng biển mà họ chưa từng kiểm soát hay bảo vệ trong lịch sử 5,000 năm của Trung Quốc”. Ông nói.

Ông coi Trung Quốc là sự đe dọa chính yếu đối với an ninh và hòa bình của khu vực biển Ðông.

Trong bản tin ngày Thứ Hai 11 tháng 2 năm 2013, Tân Hoa Xã loan tin là hai đoàn tàu Hải Giám của họ đang thi hành các nhiệm vụ tuần tra ở biển Hoa Ðông và biển Ðông (họ gọi là Nam hải).

Ba tàu Hải Giám mang số 50, 51 và 137 tuần tra khu vực Ðiếu Ngư quần đảo (tức Senkaku Nhật Bản). Ðồng thời, các tàu Hải Giám mang số 75 và 167 tuần tiễu khu vực biển Ðông.

Mới mấy ngày trước, một viên chức Bộ Canh Nông Trung Quốc loan báo các tàu “ngư chính” của họ tuần tiễu thường xuyên hàng ngày trên biển Ðông.

Ngày 22 tháng 1, 2013, Philippines đưa Trung Quốc ra kiện tại Tòa Án Quốc Tế theo Công Ước Quốc Tế về Luật Biển với hy vọng giải quyết dứt điểm cái vạch “Lưỡi Bò” ngang ngược của Bắc Kinh chiếm gần hết biển Ðông. (T.N.)

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Làm sao cho người Việt tin nhau?

Ngô Nhân Dụng

Trên báo Tia Sáng, ông Giáp Văn Dương mới viết một bài rất đáng đọc, ông đặt câu hỏi: Tại sao ở nước ta mọi người không tin nhau. Ông kể chuyện có lúc đã sống ở một nước ngoài 12 năm, thấy người ta bao giờ cũng tin nhau.

Ông kể, “Tôi và một người bạn đi mua bảo hiểm xe. (Hợp đồng bảo hiểm viết rằng), nếu mất xe thì sẽ được đền xe mới. Bạn tôi hỏi: “Nếu chúng tôi bán xe rồi báo bị mất thì sao?” Nhân viên bảo hiểm ngạc nhiên, một lúc lâu mới nghĩ ra được câu trả lời: “Tôi tin các anh không làm thế.” Giáp Văn Dương kết luận: Nước họ giàu mạnh vì họ tin ở con người.

Ngược lại, khi trở về sống ở Việt Nam, ông thấy người ta luôn luôn nghi ngờ nhau trước, không ai tin ai cả. Lãnh hành lý ở phi trường bị hỏi giấy tờ, “Tên tôi đây. Ðịa chỉ tôi đây. Hộ chiếu của tôi đây. Vậy sao mà rắc rối đến vậy? Sao phải xác nhận? Sao phải chứng minh? Sao phải công chứng bản gốc?”

Vào siêu thị thì lúc ra trả tiền phải đi qua hai chặng, trả tiền rồi, đi hai thước lại có nhân viên kiểm soát hóa đơn, thấy con dấu đỏ “đã thanh toán” mới được đi qua. Ông Dương hỏi: “Vì sao người Việt không tin nhau?”

Mình không cần nhắc đến tên Việt Nam trong câu hỏi này. Ở nhiều nước khác người ta cũng không ai tin ai cả. Nên đặt câu hỏi là: “Trong những xã hội như thế nào thì người ta dễ tin nhau? Còn những xã hội người ta không tin nhau thì nó sống thế nào?”

Mình không nên nghĩ oan cho giống dân Việt. Có lần tôi kể chuyện những thành phố người ta bỏ xe đạp ngoài đường qua đêm, không khóa; như ở Dubuque, Iowa; hay ở Helsinki, Phần Lan (trước khi di dân Ðông Âu qua). Họ không lo mất xe, vì tin là mọi người chung quanh đều lương thiện. Nhiều độc giả đã viết thư nhắc nhở rằng xưa kia ở nước ta cũng vậy. Một vị cho biết hồi 1950 ở Sài Gòn ông đã sống như thế. Ðêm không khóa cửa nhà, xe đạp dựng trước nhà cũng không khóa. Một vị độc giả khác kể chuyện năm 1959 ông dựng cái xe đạp ngoài bờ sông Sài Gòn đứng hóng mát; sau đó có một người rủ lên xe hơi đi uống bia. Ông đi tới 11 giờ khuya, trở lại Bến Bạch Ðằng thấy cái xe không khóa vẫn dựng đó không mất. Bác Sĩ Nguyễn Tư Mô kể hồi 1955 ông đi trong một phái đoàn y tế xuống Châu Ðốc chẩn bệnh phát thuốc; lúc vào chợ ăn trưa thì một người trong đoàn bỏ quên cặp kính mát. Tới buổi chiều, một nhân viên xã mang cặp kính mát đến hỏi có ai đánh rớt không? Có người lượm được, đem đến trả phái đoàn, vì biết chỉ dân ở Sài Gòn mới mua được kính mát loại sang như vậy.

Người Việt Nam vốn đã tin nhau chứ chẳng phải không. Vì ông bà chúng ta vẫn dạy dỗ con cháu sống theo đạo lý, và chính họ sống làm gương. Trong xã hội nào mọi người cũng sống với những hợp đồng ngầm hiểu, dài hạn, hết đời này sang đời khác. Các xã hội Á Ðông theo truyền thống Nho Giáo đều có những “hợp đồng hiểu ngầm” như vậy. Ra đường gặp ai là có thể tin đến 99% rằng người đó cũng được cha mẹ dạy các quy tắc Lễ Nghĩa Liêm Sỉ giống như mình. Ngay cả sau khi nước ta bị Pháp đô hộ, bản Hợp Ðồng Tín Nghĩa vẫn được giữ gìn. Cách sống của Phan Châu Trinh cũng không khác lối cư xử của Nguyễn Ðình Chiểu hay Hoàng Diệu. Tư cách đó vẫn truyền qua đến Trần Trọng Kim, Khái Hưng, Nguyễn An Ninh, hay Phan Văn Hùm. Nền tảng đạo lý đó chỉ bị phá vỡ từ khi có một chính quyền chủ tâm xóa bỏ hết nền văn hóa cũ, thay thế bằng “văn hóa vô sản.”

Tại sao các nước Á Ðông khác, ngoài Việt Nam và Trung Quốc, vẫn giữ được những bản hợp đồng Tín Nghĩa suốt đời này sang đời khác trong hai ngàn năm?

Phân tích theo lối kinh tế học, thì lý do chính là: Tín Nghĩa là một cách sống có lợi về lâu về dài. Không ai muốn làm sai bản hợp đồng tín nghĩa vì nếu nó bị xóa bỏ, chính mình sẽ bị thiệt thòi. Nói rõ hơn: Cuộc sống của mỗi người sẽ “tốn kém” hơn! Mức tốn kém tăng lên từ một khoản chi tiêu mà các nhà kinh tế gọi là “phí tổn giao dịch” (transaction costs). Hãy lấy những thí dụ mà ông Giáp Văn Dương nêu ra. Một người vào siêu thị mua hàng, trả tiền, được mang thức ăn về nhà. Trong “giao dịch” kinh tế này, siêu thị cũng phải trả tiền khi mua hàng, khi thuê mướn cửa hàng, thuê nhân viên, vân vân. Người mua trả một số tiền lớn bằng số chi phí của siêu thị, cộng với tiền lời mà nếu không có thì không ai mở siêu thị.

Nhưng trong một xã hội mà người ta không tin nhau thì siêu thị phải lo đặt hệ thống báo động, phải thuê thêm người canh gác, thêm người kiểm soát lần thứ hai bên ngoài quầy trả tiền. Tất cả những chi phí mới đó, tất nhiên, chủ nhân họ tính ngay trong giá bán. Ðó là một thứ phí tổn giao dịch phụ trội; mà nếu trong xã hội mọi người tin nhau thì không cần. Nhìn rộng ra, trong một xã hội mà người ta không tin nhau thì phí tổn giao dịch sẽ tăng vọt trên khắp mọi mặt. Cả xã hội phải chịu. Thử nhìn vào số lượng công an, cảnh sát ở nước ta. Tại sao một nước cần nhiều công an như vậy? Vì người ta nghi ngờ nhau. Chính quyền nghi ngờ dân. Nếu mọi người tin nhau thì mấy trăm ngàn công an cảnh sát có thể giải ngũ. Những người đó có thể đi làm những việc hữu ích hơn về kinh tế, như làm kỹ sư, đi kinh doanh, làm ca sĩ, hay trồng cây ăn trái bán. Bởi vì trong nước vẫn cần rất nhiều kỹ sư, nhiều nhà kinh doanh, nhiều nhà nông có tài. Lực lượng công an thu hút mất bao nhiêu người ưu tú, đó là một thiệt hại lớn cho cả nền kinh tế quốc dân.

Làm cách nào để xã hội cùng theo những quy tắc sống có Tín Nghĩa? Làm cách nào để mọi người nhìn thấy nhau là hãy tin cậy trước khi nghi ngờ, nghe ai nói gì thì trước hết hãy tin đó là lời nói thật? Có thể thiết lập lại bản hợp đồng xã hội lấy Tín Nghĩa làm tiêu chuẩn hay không?

Có lẽ chúng ta sẽ tránh không lên giọng hô hào phục hồi môn đạo đức trong trường học, dù đó là một việc chắc chắn phải làm. Nên tìm ra những giải pháp thực tế. Mà khi nói đến chuyện thực tế thì có thể tính toán theo lối kinh tế học. Theo lối nhìn kinh tế học thì muốn người khác tin mình tốt nhất là làm sao cho người ta biết nếu mình không làm đúng lời hứa hẹn, thì chính mình sẽ bị thiệt hại rất lớn. Mình có hai đường: Giữ lời hứa có thể bị thiệt, nhưng cũng có thể không bị thiệt; ngược lại, nếu sai lời thì sẽ bị thiệt hại rất nhiều, với xác suất 100%!

Nếu mọi người trong một xã hội đều biết như vậy thì hầu hết sẽ cố giữ Tín Nghĩa, xã hội sẽ thay đổi. Quy tắc này vẫn được sử dụng trong đời sống kinh tế: Khi chúng ta đi vay nợ, ngân hàng yêu cầu phải có vật cầm thế “làm tin,” ghi rõ trong hợp đồng. Nếu mình không trả nợ, sẽ mất mát hơn gấp bội!

Khả năng có thể ký hợp đồng mà bản hợp đồng có hiệu lực thi hành, đó là một nền tảng tạo ra lòng tin tưởng lẫn nhau. Trong các xã hội hoang dã, việc thi hành hợp đồng là do mỗi người tự làm lấy. Họ dùng vũ lực để thi hành các bản hợp đồng. Theo lối mafia, ai không làm đúng hợp đồng thì cho một lưỡi đao, hay một phát súng; vì Mafia không thể ký những hợp đồng hứa hẹn cùng đi ăn cướp hoặc giết người, ai làm sai sẽ bị kiện!

Còn trong xã hội văn minh thì niềm tin giữa mọi người dựa trên hệ thống pháp luật. Muốn người ta tin thì cứ làm sao để người ta thấy là họ có thể kiện mình ra tòa, nếu mình làm sai. Như Thomas Schelling diễn giải: Một người dễ được tin tưởng khi hắn có thể bị thưa kiện! Một người có thể bị kiện ra tòa (nếu làm sai lời) thì dễ được người khác tin tưởng hơn. Nếu tất cả đều sống theo quy tắc đó thì chúng ta có thể tạo nên niềm tin cho cả nước.

Giữ cho guồng máy nhà nước trong sạch là bước đầu tiên để tái tạo niềm tin. Những người đi hối lộ và ăn hối lộ đều “xé bản hợp đồng” mà mọi người đã thỏa thuận với nhau. Không những họ làm người dân đút lót mất tiền, mà họ còn phá nát đạo lý xã hội. Cũng giống như khi có người lái xe ngoài đường mà bất chấp luật lệ vậy. Nếu nhiều người cứ ngang nhiên lái xe như thế mãi, thì cả thành phố hay cả nước sẽ không còn luật lái xe. Bản hợp đồng bị xé rồi, mạnh ai nấy sống. Nạn tham nhũng là thứ làm tiêu hao đạo lý cả xã hội, chưa kể nó làm cho kinh tế không tiến được đúng tiềm năng.

Trước khi xé bản hợp đồng với xã hội để ăn hối lộ mà biết trước mình có thể bị thiệt hại rất nặng nếu bị bắt, thì thế nào người ta cũng ngần ngại không đòi đút lót nữa. Xác suất bị bắt càng cao thì càng bớt tham nhũng. Án trừng phạt càng nặng, thì càng bớt. Nếu một hệ thống chính trị cứ để cho xác suất bị bắt thấp, mà việc trừng phạt cũng nhẹ, thì sẽ nuôi đầy tham nhũng, hối lộ.

Phải làm sao cho xác suất tội tham nhũng bị tố giác càng cao càng tốt, đó là một cách giảm bớt tham nhũng và tạo niềm tin trong xã hội. Muốn vậy thì ngoài guồng máy tư pháp công minh chính trực cần phải có nhiều “bộ máy tư nhân” tình nguyện tham dự việc tố giác tội tham nhũng. Số hội đoàn, trong xã hội công dân càng phát triển thì càng nhiều người tự nguyện làm công việc đó. Nhiều người còn sẵn sàng làm công việc đó, vì có lợi cho họ. Ðó là các nhà báo, khi họ được tự do. Nhà báo nào điều tra ra những vụ tham nhũng và loan tin sẽ được nhiều người đọc, nhiều người kính trọng. Chính họ sẽ tự nguyện đi tìm ra những tin tức đó. Còn nếu nhà báo đi điều tra rồi lại bị tù thì hết nói!

Khi bản hợp đồng đạo lý của xã hội bị xé rồi, rất khó tái lập. Phá nó dễ, xây dựng lại rất khó. Nhưng không phải vì khó mà chúng ta không bắt đầu ngay. Phải thiết lập một chế độ tự do dân chủ, quyền tư pháp độc lập, xã hội công dân phát triển, mọi người có quyền tự do hội họp, tự do phát biểu. Cứ như thế, trong một vài thế hệ, sẽ không ai cần đặt câu hỏi: Tại sao người Việt không tin nhau?

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Bên Thắng Cuộc: Một cuốn sách hay (phần 1)
Nguyễn Hưng Quốc (VOA)
Tôi có cuốn Bên Thắng Cuộc của Huy Ðức đã khá lâu nhưng mấy ngày vừa rồi mới có thì giờ để đọc.

Ấn tượng chung: Thích.

Thích nhất là về tư liệu. Ðã có nhiều người, Việt Nam cũng như ngoại quốc, viết về Việt Nam sau năm 1975 nhưng có lẽ chưa có cuốn sách nào bao quát nhiều khía cạnh và dồi dào tư liệu đến như vậy. Các cuốn sách khác, cho đến nay, dưới hình thức hồi ký hay biên khảo, thường chỉ tập trung vào một lãnh vực và từ một góc độ cụ thể nào đó. Bên Thắng Cuộc, ngược lại, hầu như đề cập đến mọi góc cạnh lớn, từ quân sự đến chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội, từ tổ chức chính quyền tại Sài Gòn sau năm 1975 đến các chiến dịch đánh tư sản, các trại cải tạo, phong trào vượt biên, các nỗ lực “xé rào” về kinh tế, chính sách đổi mới, chiến tranh với Campuchia cũng như với Trung Quốc và các cuộc tranh giành quyền lực trong nội bộ đảng Cộng sản.

Ở từng vấn đề, Huy Ðức đều nêu lên thật nhiều chi tiết. Các chi tiết ấy thuộc hai loại chính: Một, lời kể của các chứng nhân được thu lượm qua các cuộc phỏng vấn hoặc qua các hồi ký - đã hoặc chưa xuất bản - của họ; và hai, các tài liệu đã được công bố đây đó, bằng tiếng Việt cũng như bằng tiếng Anh. Nguồn tài liệu thứ nhất được Huy Ðức thực hiện với tư cách một nhà báo; nguồn thứ hai, với tư cách một nhà nghiên cứu. Tôi cho sự kết hợp giữa hai tư cách này là mặt mạnh nhất của Huy Ðức đồng thời cũng là ưu điểm chính của cuốn Bên Thắng Cuộc: Thường, các nhà báo Việt Nam chỉ “tác nghiệp” theo lối kinh nghiệm chủ nghĩa, dựa trên những gì mình nghe kể hoặc quan sát được; còn các nhà nghiên cứu thì lại thiếu thực tế, do đó, hoặc chỉ xào nấu từ các cuốn sách khác hoặc phải sa vào tư biện, tệ hại hơn nữa là tư biện kiểu Việt Nam: Cứ lải nhải những luận điệu rặt mùi tuyên truyền, tức những luận điệu ai cũng biết, hơn nữa, biết là sai.

Trong Bên Thắng Cuộc, nguồn tài liệu từ sách vở chỉ có tính chất bổ sung, chủ yếu để cung cấp số liệu và mở rộng kích thước lịch sử, từ đó, tăng tính thuyết phục cho những vấn đề được đề cập. Ví dụ, nói về cuộc họp mặt với khoảng 100 văn nghệ sĩ tại Hà Nội của Nguyễn Văn Linh vào ngày 6 và 7 tháng 10 năm 1987, Huy Ðức quay trở lại với thời Nhân Văn Giai Phẩm, hoặc xa hơn nữa, thời Trường Chinh viết “Ðề cương văn hóa” năm 1943, thậm chí, một chút, về lịch sử báo chí Việt Nam trước đó. Nói về kinh tế thị trường (lần đầu tiên được đưa vào các văn kiện đảng là năm 1991), anh quay trở lại vấn đề “lược sử kinh tế tư nhân” ở Việt Nam từ cuối thế kỷ 19, đặc biệt, đầu thế kỷ 20, dưới thời Pháp thuộc. Nói về các chính sách đối với người Hoa vào những năm 1978-79, anh quay lại quan hệ giữa Việt Nam (chủ yếu là miền Bắc) với Trung Quốc trong Hiệp định Paris năm 1954 cũng như trong suốt cuộc chiến tranh Nam Bắc thời 1954-75, bao gồm cả chuyện Hoàng Sa năm 1974, v.v. Những tài liệu này, thật ra, không mới, nhưng chúng được trình bày một cách gọn ghẽ, sáng sủa và mạch lạc, làm cho vấn đề có thêm bề dày của lịch sử.

Nhưng mặt mạnh nhất của Huy Ðức là ở tư cách nhà báo. Không những chỉ là người làm báo lâu năm, anh còn có ba đặc điểm mà không phải nhà báo kỳ cựu nào cũng có: Một, quan hệ rộng; hai, có tầm nhìn dài; và, ba, có cách làm việc khoa học.

Tôi gặp Huy Ðức một lần ở Hà Nội, hình như là vào cuối năm 2002 hay đầu năm 2005 gì đó. Buổi sáng, tôi đang ngồi uống cà phê với nhà thơ Phan Huyền Thư và nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên thì anh và nhà phê bình Nguyễn Thanh Sơn đến nhập bọn. Phạm Xuân Nguyên giới thiệu Huy Ðức với tôi: “Nhà báo, đang làm ở tờ Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn”. Lúc ấy, Huy Ðức chưa có Osin blog, chưa có các bài bình luận chính trị được phổ biến rộng rãi trên Internet, cho nên, thú thật, tôi không hề biết anh, kể cả cái tên. Mà Huy Ðức cũng rất ít nói. Hôm ấy, anh chỉ ngồi nghe bọn tôi nói hươu nói vượn về chuyện văn chương và cười. Ðến lúc Phạm Xuân Nguyên đọc một số bài ca dao mới chế giễu giới lãnh đạo Việt Nam, trong đó, có cả Hồ Chí Minh, cả bọn cười ngất, riêng Huy Ðức thì lôi trong túi ra một cuốn sổ tay nhỏ và đề nghị Nguyên đọc lại, chầm chậm, cho anh chép. Sau đó, trong suốt buổi nói chuyện, cứ hễ bắt gặp một câu gì hay hay, một chi tiết gì thú vị, anh lại lôi sổ tay ra chép. Cung cách làm việc của anh khiến tôi để ý. Và nhớ mãi.

Nhiều người trong giới nhà báo có ưu điểm là biết rộng nhưng phần lớn lại mắc phải khuyết điểm là sa đà trong các sự kiện có tính chất giai thoại vụn vặt, cuối cùng, chỉ viết được những bài báo ngăn ngắn, đầy tính thời sự, để được đọc ngày hôm trước và bị quên lãng ngay vào ngày hôm sau. Huy Ðức, khi theo dõi và ghi chép các tin tức hằng ngày, đã có tham vọng sử dụng cho một bức tranh toàn cảnh về sinh hoạt chính trị Việt Nam thời anh đang sống. Cuốn Bên Thắng Cuộc, gồm hai tập, “Giải phóng” và “Quyền bính”, như anh tiết lộ trong lời nói đầu, được hình thành trong 20 năm, chính là kết quả của tham vọng ấy.

Không phải nhà báo nào cũng có quen biết nhiều, đặc biệt trong giới lãnh đạo, như Huy Ðức. Ở Việt Nam, để có được những quan hệ rộng rãi như thế, không những cần có tính cách thích hợp (quảng giao) mà còn có cả yếu tố “nhân thân” nữa: Sinh trưởng ở miền Bắc, vốn là sĩ quan, từng làm việc ở Campuchia với tư cách chuyên gia quân sự trong hơn ba năm trước khi về làm báo, anh có đủ điều kiện để được tin cậy. Chính vì thế, anh được báo Tuổi Trẻ giao trách nhiệm tường thuật các kỳ họp Quốc Hội, ở đó, anh có thể, ở “những thời điểm nóng bỏng nhất”, “vào tận phòng làm việc hỏi chuyện Thủ Tướng Võ Văn Kiệt, Thủ Tướng Phan Văn Khải” hoặc “đến nhà riêng, văn phòng làm việc của Tổng Bí Thư Ðỗ Mười, Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu... phỏng vấn”. Trong “Mấy lời của tác giả”, anh cho biết anh đã tiến hành “hàng ngàn cuộc phỏng vấn”; và theo “Lời cám ơn”, chúng ta được biết, trong số những người được anh phỏng vấn, ngoài các tên tuổi nêu trên, còn có Chủ Tịch Nước Lê Ðức Anh, Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Văn An, Ðại Tướng Võ Nguyên Giáp, Thượng tướng Trần Văn Trà, Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí Thư Nông Ðức Mạnh, Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Hữu Thọ, Chủ Tịch Quốc Hội Lê Quang Ðạo, Chủ Tịch Nước Nguyễn Minh Triết, Bộ Trưởng Công An Lê Minh Hương, Phó Chủ Tịch Nước Nguyễn Thị Bình, v.v.. Cả trăm người. Toàn những người lãnh đạo ở bậc cao nhất trong nước. Ngoài ra, anh còn phỏng vấn vợ họ, con họ và các thư ký riêng của họ nữa.

Chắc chắn không có một nhà báo hay nhà biên khảo nào ở hải ngoại, kể cả người ngoại quốc - vốn vừa ít bị nghi ngờ vừa được các trung tâm nghiên cứu lớn tài trợ để có thể bỏ ra năm bảy năm thu thập tài liệu cho một cuốn sách - có thể tiếp cận được đến chừng ấy người trong giới lãnh đạo Việt Nam. Ở trong nước, làm được điều ấy, cũng không phải dễ. Nhìn từ góc độ xuất bản, có lẽ Huy Ðức là người đầu tiên. Ðiều này trở thành một thế mạnh đầu tiên của cuốn sách: Ðó là chuyện kể từ những người trong cuộc của “bên thắng cuộc”. Tính chất “trong cuộc” ấy đã tạo nên những đặc trưng về thể loại và thẩm mỹ của cuốn sách.

Trong cái gọi là đặc trưng thẩm mỹ ấy, tôi chỉ xin tập trung vào một điểm: Sự hấp dẫn.

Phải nói ngay: Hiếm có cuốn sách về chính trị nào hấp dẫn như cuốn Bên Thắng Cuộc. Ðiều đó có thể thấy qua những tiếng ồn nó gây ra trong mấy tháng vừa qua. Lâu lắm rồi, giới cầm bút Việt Nam hầu như hoàn toàn bất lực trong việc gây ồn. Hầu hết sách báo được xuất bản ở trong nước cũng như ở hải ngoại, đặc biệt ở hải ngoại, đều rơi vào im lặng. Không phải chỉ là chuyện hay hay dở. Mà chủ yếu ở tâm lý quần chúng: Dửng dưng. Cuốn Bên Thắng Cuộc, ngược lại, ngay từ lúc mới ra mắt ở hải ngoại, là đã gây ồn ào ngay. Kẻ bênh người chống, bên nào cũng xôn xao và lên tiếng ỏm tỏi trên mọi diễn đàn, từ trên giấy đến trên mạng. Những tiếng ồn ấy khiến cả những người chưa đọc cuốn sách, hoặc có khi, không có ý định đọc cuốn sách, cũng quan tâm, thậm chí, như ở California, xuống đường biểu tình chống cuốn sách!

Mà Bên Thắng Cuộc hấp dẫn thật. Ðọc, chúng ta biết được rất nhiều chuyện, từ những chuyện lớn liên quan đến chính sách đến những chuyện nhỏ, có khi nhí nhách nữa, liên quan đến đời sống hàng ngày của một số người. Lớn, ví dụ, những toan tính đằng sau các chính sách hay chiến dịch có ảnh hưởng đến sinh mệnh cả hàng chục triệu người; những thay đổi trong tính cách của Lê Duẩn: Từ một cán bộ hay hy sinh cho người khác đến một lãnh tụ chuyên quyền và độc đoán; trong thái độ của Trường Chinh: Từ một người giáo điều và bảo thủ đến một người đi đầu trong phong trào đổi mới; trong chủ trương của Nguyễn Văn Linh: Từ một người đổi mới đến một người phản-đối-mới. Cũng có thể xem là lớn mối quan hệ giữa các lãnh tụ với nhau, như giữa Lê Duẩn với Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp và Lê Ðức Thọ; giữa Nguyễn Văn Linh với Võ Văn Kiệt, những chi tiết liên quan đến cái chết của Ðại Tướng Lê Trọng Tấn vào tháng 12 năm 1986 vốn, theo lời Huy Ðức, bị “lịch sử phi chính thống [...]xếp vào hàng nghi án” (”Giải phóng”- GP, tr. 151)... Còn nhỏ thì nhiều hơn, có khi lôi cuốn người đọc hơn, chẳng hạn, chuyện vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, trong Dinh Ðộc Lập không hề có chiếc máy ghi âm nào để thu lời tuyên bố đầu hàng của Dương Văn Minh (GP, tr. 23); chuyện các sĩ quan Bắc Việt đầu tiên vào chiếm Dinh không dám bước vào thang máy vì thấy nó giống cái... hòm và họ sợ bị nhốt luôn trong đó (GP, tr. 22); chuyện khuya ngày 5 tháng 7 năm 1967, Ðại Tướng Nguyễn Chí Thanh bị mệt, được đưa vào bệnh viện Quân y 108 để cấp cứu, nhưng vừa đến nơi thì ông “phát ra một tiếng kêu 'ặc' rồi mặt và toàn thân tím ngắt”; mấy tiếng đồng hô sau, ông mất... (”Quyền bính” - QB, tr. 64) Có một số chuyện không biết là lớn hay nhỏ, như chuyện khi Hiệp định Geneva được ký kết, Thủ Tướng Phạm Văn Ðồng, trưởng đoàn Bắc Việt, không hề biết sông Bến Hải nằm ở đâu (vì tất cả đều đã được Trung Quốc quyết định giùm!) (GP, tr. 52); chuyện Tôn Ðức Thắng, chủ tịch nước, vốn là thợ cơ khí, nhiều lúc rảnh và buồn quá, lật “chiếc xe đạp của ông ra sửa để giết thời gian” (GP, tr. 120); chuyện Võ Nguyên Giáp, bộ trưởng quốc phòng, biết trước vụ tổng tấn công hồi Tết Mậu Thân chỉ có một ngày (QB, tr. 67); chuyện khi đón tiếp Tổng Thống Bill Clinton trong chuyến thăm Việt Nam năm 2000, “Bộ Chính Trị đã thống nhất là không được cười” (QB, tr. 137), v.v...

Nhiều chuyện có thể đã được người này người nọ kể đâu đó rồi. Nhưng theo chỗ tôi biết, chưa có nơi nào các chuyện thuộc loại ấy được tập trung với mật độ dày đặc như trong cuốn Bên Thắng Cuộc. Trang nào cũng đầy ắp chi tiết. Có những chi tiết không dễ gì tìm được ở những nơi khác, ví dụ: Ở Sài Gòn, trước tháng 4 năm 1975, có bao nhiêu đảng viên Cộng Sản nằm vùng? - 735 người! (GP, tr.27) Cũng ở Sài Gòn, sau tháng 4 năm 1975, có bao nhiêu người ra trình diện để “được đi học tập cải tạo”? - Có 443,360 người, trong đó, có 28 tướng, 362 đại tá, 1,806 trung tá, 3,978 thiếu tá, 39,304 sĩ quan cấp úy, 35,564 cảnh sát, 1,932 nhân viên tình báo các loại, 1,469 viên chức cao cấp trong chính quyền, và 9,306 người trong các đảng phái bị xem là “phản động' (GP, tr. 29), v.v.

(Còn tiếp)

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Quý Tỵ, năm hy vọng

Bùi Tín
(Nguồn: VOA)
Năm Nhâm Thìn qua, Tết Quý Tỵ đến. Anh chị em đấu tranh cho dân chủ trong và ngoài nước có những niềm vui mới. Anh Nguyễn Quốc Quân được tự do, anh Lê Công Ðịnh ra khỏi nhà tù, blogger Lê Anh Hùng ra khỏi trại bảo trợ xã hội. Tuy nhiên, những niềm vui đó không được trọn vẹn: 22 anh trong vụ án Bia Sơn bị tuyên án quá nặng, từ chung thân đến hơn 10 năm giam giữ.

Một tin đáng phấn khởi khác trong ngày Tết là Lời kêu gọi thực thi Quyền Con Người đã được hưởng ứng nhanh rộng đến mức kỷ lục, có thể đạt 5.000 người tham gia. Kiến nghị về việc sửa đổi Hiến Pháp cũng được hưởng ứng tốt. Mười sáu vị đại diện cho 72 trí thức đầu tầu đã đưa kiến nghị đến tận tay cơ quan dự thảo Hiến Pháp, yêu cầu tiếp nhận và xem xét. Còn nhớ, hồi cuối năm 2010, khi Bộ Chính Trị kêu gọi nhân dân đóng góp ý kiến vào các văn kiện trình Ðại hội Ðảng XI, hơn 30 trí thức tiêu biểu đã góp nhiều ý kiến xác đáng nhưng không một ý kiến nào được tiếp nhận. Lần này, người ta hy vọng Bộ Chính Trị sẽ không khinh thị trí thức ra mặt như thế.

Năm Quý Tỵ này, có thể sẽ diễn ra một cuộc đụng độ lý luận quyết liệt giữa 2 trận tuyến đối lập - toàn trị và dân chủ, nhất nguyên và đa nguyên. Các vấn đề thay đổi tên nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa (CHXHCN) Việt Nam và Ðảng Cộng sản Việt Nam (ÐCSVN) cũng đã chín muồi để đưa ra thảo luận. Hiện nay, ngay trong ngôi đền thiêng liêng của giáo điều Mác-Lênin tại Việt Nam là Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia cũng vang lên những tiếng nói thẳng thắn, thức thời, đòi đổi tên đảng, tên nước và bỏ Ðiều 4 trong Hiến Pháp hiện hành.

Một điều đáng mừng là lãnh đạo càng cấm và sợ phản biện bao nhiêu thì trí thức, văn nghệ sĩ, thanh niên ta càng tự tin và hăm hở thực thi quyền phản biện bấy nhiêu. Bản dự thảo Hiến Pháp sửa đổi vừa đưa ra đã bị phê phán là thiếu trách nhiệm, hời hợt, vụn vặt.

Theo bản dự thảo, thay đổi rõ nhất là đưa vào 2 câu hoàn toàn mới mẻ, không hề có trong cả 4 bản Hiến Pháp từ trước tới nay, đó là đoạn xác định “Các lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với đảng Cộng sản Việt Nam, tổ quốc và nhân dân...” và “có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ đảng, nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa...”

Các nhà quan sát và giới phân tích cho rằng việc thêm vào 2 vế - một là trung thành với đảng CS, lại đặt trước tổ quốc và nhân dân, vế ở dưới cũng đặt vấn đề nhiệm vụ bảo vệ đảng trước nhà nước và nhân dân, và thêm bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa - rõ rang là một mưu đồ đen tối, thâm hiểm nhằm mục đích duy nhất là duy trì quyền lợi và bảo đảm sự sống còn của nhóm thiểu số cầm quyền hiện nay.

Trong cuộc họp Quốc Hội vào tháng 5 tới để thảo luận về dự thảo Hiến Pháp mới, việc đầu tiên phải đạo là Ban dự thảo phải xin lỗi công khai nhân dân và các lực lượng vũ trang nhân dân vì đã phạm sai lầm khi đặt đảng lên trước, lên trên nhân dân trong việc xác định trách nhiệm chính trị và nhiệm vụ của quân đội.

Thực ra chủ tịch Quốc Hội phải chịu liên đới chịu trách nhiệm vì đã phê duyệt và tán thành bản dự thảo này. Ông sẽ không làm đúng nhiệm vụ là người lãnh đạo của một cơ quan dân cử nếu ông không dám lên tiếng nhận điều sai lầm đó trước Quốc Hội và nhân dân.

Do đó một vấn đề về nguyên tắc được đặt ra là Quốc Hội về thực chất là của đảng hay là của dân? Quân đội là của đảng hay của nhân dân? Ðã có ý kiến trên một số mạng tự do là như vậy hãy gọi Quốc Hội là “Ðảng Hội “ - vì đảng viên CS chiếm đến 92 % số đại biểu - và gọi quân đội là “đảng quân” hay “cộng quân” cho xong chuyện. Mọi sự sẽ rõ ràng như họ mong muốn. Ðể tên Quân đội Nhân dân sẽ thành vô nghĩa.

Trong năm Quý Tỵ, có khả năng sẽ hình thành hai trận tuyến đối lập - độc đoán và dân chủ - trong cuộc đấu tranh chính trị bất bạo động nhưng quyết liệt. Nhân dân ta đang có thời cơ để trưởng thành, già dặn trong đấu tranh. Nông dân đang thức tỉnh từng mảng lớn, từ Văn Giang, Vụ Bản đến Tiên Lãng, Cần Thơ. Sinh viên, thanh niên chiếm số đông cử tri cũng đang sốt sắng tham gia việc nước. Việc các bạn trẻ ở thủ đô đã rủ nhau đi quyên giúp bà con dân oan nghèo khổ đói rét ở vườn hoa Mai Xuân Thưởng và Hà Ðông là một nét đẹp. Hàng chục vạn nhà kinh doanh nhỏ và vừa bị o ép, hà hiếp, đang đòi quyền bình đẳng trong cạnh tranh. Giới luật sư và giới truyền thông-báo chí bị bịt mồm, mất tự do nghề nghiệp, hạ xuống công dân loại hai, đang vùng dậy. Cả một xã hội bị đè nén mấy chục năm ròng nhìn ra thế giới bỗng thấy không thể sống như thế này được nữa. Cả một xã hội đang vẫy gọi nhau liên kết lại, coi thay đổi Hiến Pháp là đột phá khẩu mở cửa cho tương lai.

Khi Quốc Hội của đảng không đáp ứng đòi hỏi chính đáng của nhân dân, thì có nhu cầu phải tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý theo nguyện vọng của toàn dân để lựa chọn giữa “dân chủ đa đảng hay dân chủ ảo một đảng.” Nếu chế độ không chịu tổ chức trưng cầu dân ý, nhân dân vẫn có cơ hội để đấu tranh ôn hòa giành thắng lợi quyết định. Ðó là những cuộc xuống đường rộng lớn, đã được tập dượt 2 năm nay qua hàng chục Chủ Nhật xuống đường liên tiếp, cũng như hàng mấy ngàn người ghi tên trong các tuyên ngôn, tuyên bố, kiến nghị, gián tiếp biểu thị ý chí và quyết tâm ghi tên trong đội tinh binh tay không nhưng kiên cường quả đoán.

Ở nước ta các cuộc xuống đường chống Trung Quốc bành trướng và xâm lược bao giờ cũng gắn liền với đấu tranh cho dân chủ, và các chiến sĩ dân chủ luôn luôn đi đầu trong cuộc vận động chống bành trướng. Chúng ta đã có không ít kinh nghiệm và nhiều sáng kiến trong kiểu đấu tranh bất bạo động nhưng quyết liệt bền bỉ này.

Nhân dân Ấn Ðộ và Nam Phi đã toàn thắng như thế. Nhân dân Tunisia, Ai Cập đã toàn thắng như thế. Nhân dân Miến Ðiện cũng đang thắng lợi qua đấu tranh bất bạo động, không đổ máu như thế.

Ðón Tết Quý Tỵ, chúng ta có quyền tin tưởng rằng nhân dân ta rồi cũng sẽ toàn thắng như thế.

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Image

BÊN THẮNG CUỘC: MỘT CUỐN SÁCH HAY (2)
Nguyễn Hưng Quốc
(VOA blog) - Bên Thắng Cuộc là một tác phẩm hay nhưng dĩ nhiên, như mọi cuốn sách khác, không hoàn hảo. Cái không hoàn hảo ấy cần được hoàn thiện dần dần. Bằng những tác phẩm khác. Điều đó không có gì đáng ngạc nhiên. Và càng không đáng phản đối...

*
Về thể loại của Bên Thắng Cuộc, có hai khía cạnh cần chú ý: phương pháp nghiên cứu và cách trình bày.

Về phương pháp, Huy Đức thu thập tài liệu chủ yếu qua các cuộc phỏng vấn, “hàng ngàn cuộc phỏng vấn”, một phương pháp gắn liền với ngành khẩu sử (oral history), một lối viết thịnh hành ở Tây phương từ khoảng cuối thập niên 1960, và trở thành một ngành học ở các đại học Tây phương từ cuối thế kỷ 20. Khẩu sử khác lịch sử. Khác, trước hết, ở nguồn tài liệu: với lịch sử, chủ yếu là các văn bản viết; với khẩu sử, chủ yếu là các lời kể của những người trong cuộc hoặc chứng nhân được thu thập qua các cuộc phỏng vấn. Khác nữa, ở đối tượng: với lịch sử, đó là các tài liệu lịch sử, nói cách khác, lịch sử là lịch sử trên lịch sử; với khẩu sử, đó là ký ức, hoặc ký ức cá nhân hoặc ký ức tập thể. Khác, cuối cùng, còn ở tính chất, như là hệ quả của hai cái khác ở trên: trong khi văn bản viết là những gì đã được công bố, nghĩa là, thứ nhất, thuộc về công chúng; thứ hai, với những mức độ khác nhau, được xác minh, do đó, được xem là ít nhiều đáng tin cậy; các lời kể trong các cuộc phỏng vấn, ngược lại, gắn liền với từng cá nhân, xuất phát từ kinh nghiệm riêng, chúng có thể bị khúc xạ, bị biến dạng, thậm chí, được “viết lại” theo những thay đổi trong tâm lý của người kể. Nói cách khác, trong khi lịch sử là những gì đã được chọn lọc khá kỹ, khẩu sử thường là những vật liệu thô; trong khi những người viết sử như những người làm việc trong các tiệm kim hoàn, những người viết khẩu sử như những người làm việc với vỉa quặng trong các hầm mỏ.

Tuy nhiên, về bản chất, lịch sử và khẩu sử giống nhau ở khá nhiều điểm. Thứ nhất, chúng đều là những hình thức diễn ngôn về quá khứ (discourse about the past) chứ không phải bản thân quá khứ. Quá khứ là những gì đã qua và đã biến mất. Diễn ngôn về quá khứ là những tự sự được xây dựng để tái tạo lại quá khứ ấy nhằm đáp ứng một nhu cầu trong hiện tại. Thứ hai, là diễn ngôn, cả lịch sử lẫn khẩu sử đều có tính chất chủ quan, hoặc của một người hoặc của một nhóm người. Thứ ba, do tính chất chủ quan ấy, cả lịch sử lẫn khẩu sử đều luôn luôn được viết lại. Mỗi thời đại hoặc mỗi thế hệ đều cảm thấy có nhu cầu tái cấu trúc ký ức và diễn dịch lại quá khứ, do đó, bao giờ cũng tìm cách viết lại những gì các thế hệ đi trước đã viết.

Về cách trình bày, Bên Thắng Cuộc có tính chất báo chí hơn là lịch sử. Có hai điểm khác nhau căn bản giữa báo chí và lịch sử: Thứ nhất, trong khi lịch sử nặng về phân tích, báo chỉ nặng về miêu tả; thứ hai, trong việc sử dụng tài liệu, kể cả tư liệu lấy được từ các cuộc phỏng vấn, yêu cầu cao nhất đối với lịch sử là mức độ khả tín, nghĩa là cần được đối chiếu và xác minh cẩn thận; với báo chí, là tính chất tươi ròng của tài liệu; và vì tính chất tươi ròng ấy, nhiều lúc chưa chắc chúng đã chính xác, hoặc nếu chính xác, chưa chắc đã có ý nghĩa tiêu biểu đủ để phản ánh thực chất của vấn đề.

Nhìn Bên Thắng Cuộc như một tác phẩm báo chí dựa trên phương pháp khẩu sử, chúng ta dễ dàng chấp nhận một số khuyết điểm vốn rất dễ thấy trong cuốn sách.

Thứ nhất, về phương diện cấu trúc, đặc biệt ở tập 2, “Quyền bính”; ở đó, thứ nhất, quan hệ giữa các chương không theo một trật tự logic nào cả; thứ hai, giữa các chương cũng không có sự cân đối cần thiết: có một số chương được viết kỹ và nhiều chi tiết (ví dụ về Nguyễn Văn Linh và Võ Văn Kiệt) hơn hẳn các chương khác (ví dụ về Lê Khả Phiêu và Nông Đức Mạnh). Lý do khá dễ hiểu: Huy Đức không hoàn toàn làm chủ nguồn tư liệu của mình. Với những người anh tiếp cận được dễ, anh viết sâu; với những người ở xa, anh viết cạn. Vậy thôi.

Thứ hai, về vấn đề tư liệu. Huy Đức phỏng vấn rất nhiều người, nhưng không phải TẤT CẢ mọi người ở mọi phía; hơn nữa, anh chưa tiếp cận được những nguồn tài liệu mật của Bộ Chính trị nên nhiều vấn đề vẫn khiến người đọc hoang mang. Trong số đó, có hai vấn đề lớn nhất: Một, việc cuối năm 1967, Hồ Chí Minh thường xuyên sang Trung Quốc dưỡng bệnh và Võ Nguyên Giáp thì được cử đi Hungary. Nhiều người cho đó là một cách nghi binh nhằm che giấu ý đồ tổng tấn công vào Tết Mậu Thân. Huy Đức, theo lời kể của một số người, cho hai người bị đưa đi “an trí” để Lê Đức Thọ ra tay thâu tóm quyền lực. Cách giải thích như vậy lại làm nảy sinh nhiều vấn đề khác: chẳng hạn, tại sao Lê Duẩn và Lê Đức Thọ lại tung ra cuộc đấu đá nội bộ ở vào một thời điểm quan trọng, lúc họ cần đoàn kết và tập trung nhất cho một trận chiến quyết liệt như vậy? Hai, Huy Đức cho giới lãnh đạo Việt Nam, trong những năm 1976 và 1977, không đánh giá đúng mức sự thù nghịch của Pol Pot đối với Việt Nam và từ đó, tầm vóc của cuộc chiến tranh chống Việt Nam do Pol Pot phát động, và đầu năm 1979, hoàn toàn bất ngờ trước cuộc tấn công của Trung Quốc vào biên giới phía Bắc Việt Nam (GP, tr. 76); tuy nhiên, trước đó, anh lại kể, từ cuối năm 1977, trong chuyến thăm Cần Giờ, Lê Duẩn đã trả lời thắc mắc của một số đảng viên trong huyện ủy: “Các đồng chí hỏi đúng vào một tình hình cả nước đang quan tâm. Chúng tôi đau đầu lắm, ngủ không được. Không phải là vấn đề Khmer Đỏ mà là vấn đề ai ở đằng sau Khmer Đỏ, đằng sau Pol Pot. Ta đã đưa đại quân đâu, bọn nó làm sao chống ta nổi, nhưng ta đánh nó, Trung Quốc đánh ta thôi.” (GP, tr. 72-3) Biết thế mà vẫn “bất ngờ” là sao?

Thứ ba, quan trọng nhất, nhiều chương chỉ có tính chất tự sự nhưng lại thiếu hẳn tính chất phân tích, do đó, tuy hấp dẫn, chúng không giải thích được gì cả. Ví dụ, trong tập “Giải phóng”, Huy Đức viết về Lê Duẩn khá dài, nhưng phần lớn đều tập trung vào cuộc sống và tính cách của ông: Ông có hai vợ, một ở miền Bắc và một ở miền Nam; lúc ở miền Nam, ông nổi tiếng về nhiệt tình và năng lực làm việc không biết mệt mỏi, lúc ra miền Bắc, ông lại nổi tiếng là thích nói chuyện lý thuyết, và khi nói chuyện, có thói quen hay ngắt lời người khác. Nhưng có những điểm quan trọng nhất lại không được phân tích: Một, tại sao Hồ Chí Minh lại tin cậy Lê Duẩn đến độ giao ngay cho ông chức Tổng Bí thư ngay sau khi ông mới ra Hà Nội như vậy? Lúc ấy, chung quanh Hồ Chí Minh, ngoài Trường Chinh vốn đã bị mang tiếng sau vụ cải cách ruộng đất, có rất nhiều tay chân thân thiết, kể cả hai người được ông và nhiều người khác yêu mến: Võ Nguyên Giáp và Phạm Văn Đồng? Hai, tại sao, từ miền Nam mới ra Bắc, hầu như hoàn toàn đơn độc, chỉ trong vòng mấy năm, Lê Duẩn đã có thể thao túng toàn bộ guồng máy đảng Cộng sản, lấn át quyền hành của tất cả mọi người, kể cả Hồ Chí Minh, như vậy? Ông sử dụng các biện pháp gì để xây dựng vây cánh và quyền lực một cách nhanh chóng và hiệu quả như vậy? Ba, tại sao một người nổi tiếng quyền biến và, đến lúc chết, vẫn có uy tín rất lớn, không những ở miền Bắc mà còn trên cả thế giới, như Hồ Chí Minh, lại đành nhẫn nhục chịu đựng cảnh bị Lê Duẩn tước đoạt quyền hành mà không hề tìm cách kháng cự như vậy? Đó là những vấn đề giới nghiên cứu lịch sử Việt Nam hiện đại không thể không đặt ra.

Những khuyết điểm trên có thể được chấp nhận hoặc bỏ qua nếu chúng ta đọc Bên Thắng Cuộc như một tác phẩm tường thuật về tình hình chính trị của một thời đại. Mang tính báo chí,Bên Thắng Cuộc gần với khẩu sử hơn lịch sử. Tự bản chất, khẩu sử là ký ức. Với ký ức, quan trọng nhất là câu chuyện chứ không phải phân tích. Mà các câu chuyện trong Bên Thắng Cuộcthì không những hấp dẫn mà còn đa dạng vô cùng. Tính chất đa dạng ấy làm cho bức tranh Huy Đức mô tả trở thành đa diện. Nhìn từ góc độ ấy, chúng ta sẽ thấy có khi ngay cả những chi tiết nhí nhắt nhất cũng có thể hữu ích. Ví dụ, lời tâm sự của bà Nguyễn Thụy Nga (trong sách có lúc viết tên lót là Thụy, lúc lại viết là Thị), người “vợ miền Nam” của Lê Duẩn, về chồng bà: “Trong tình yêu anh cũng như con nít” (GP, tr. 117). Câu ấy, tự nó, không tiết lộ được điều gì cả. Thì có người đàn ông nào, trong tình yêu, lại không giống con nít? Nhưng nó vẫn giúp người đọc, khi nhìn lại Lê Duẩn, thấy ở ông, ngoài hình ảnh một nhà lãnh đạo cuồng tín, thủ đoạn và độc đoán, còn có một khía cạnh khác: một con người. Những cách nói năng kiểu “thằng này, thằng nọ” của Nguyễn Văn Linh, cũng vậy, đều tiết lộ một cá tính. Đối với người bình thường, cá tính thường bị loại trừ từ góc độ nghề nghiệp. Nhưng với các chính khách, đặc biệt khi chính khách ấy nắm giữ vai trò lãnh đạo, cá tính lại được chú ý vì nó ảnh hưởng đến chính sách, từ đó, đến đường lối chung, và cũng từ đó nữa, đến cả vận mệnh của đất nước.

Bên Thắng Cuộc hay, rất hay, nhưng cũng giống như mọi cuốn tường thuật hay khẩu sử, nó là một cái gì dở dang. Nó là một khối quặng chưa được tinh chế. Nó cung cấp cho người đọc cả hàng ngàn câu chuyện từ cả mấy trăm người kể khác nhau để người đọc, hoặc các sử gia sau này, so sánh, diễn dịch, phân tích và/hoặc tổng hợp lại để thành một bức tranh hoàn chỉnh hơn.

Ở trên (bài số 1), tôi có viết điều tôi thích nhất ở Bên Thắng Cuộc là tư liệu. Vậy điều kế tiếp? Đó là quan điểm. Một số người ở hải ngoại, chỉ nhìn vào mấy dòng lý lịch trích ngang của Huy Đức, thấy anh đã từng là bộ đội, lại là sĩ quan, đã lên tiếng phê phán và tố cáo anh, dù có khi chưa hề đọc trang nào trong cuốn sách. Đó chỉ là một nhận định vội vã và đầy thành kiến. Trong lời nói đầu tập “Giải phóng”, Huy Đức cho biết cuốn sách của anh là “công trình của một nhà báo mong mỏi đi tìm sự thật”. Dĩ nhiên, chúng ta biết, “sự thật” là một khái niệm rất mơ hồ. Và tương đối. Nhưng cách hiểu về cái gọi là “sự thật” ấy của Huy Đức, theo tôi, rất đơn giản nhưng chính xác: Chúng là những gì khác hẳn với “những thông tin được cung cấp bởi nhà trường và bộ máy tuyên truyền” ở Việt Nam. Theo đuổi mục tiêu ấy, không thể nói lúc nào Huy Đức cũng thành công. Đó là điều dễ hiểu. Ai cũng vậy thôi. Có điều tôi cho là đáng khen ngợi nhất ở anh là anh có thiện chí và cố gắng.

Thiện chí và cố gắng ấy thể hiện ngay ở nhan đề cuốn sách: Bên Thắng Cuộc. Tại sao không phải là “thắng trận” hay “chiến thắng” như hai cách nói khác thông dụng hơn? Tôi nghĩ đó là một lựa chọn. “Thắng trận” chỉ thuần về quân sự. Nhưng đề tài Huy Đức muốn trình bày không phải chỉ là quân sự. Còn “chiến thắng”? Trong chữ “chiến thắng”, ngoài ý nghĩa “thắng”, còn có hai nét nghĩa phụ khác, đi kèm, đến từ chữ “chiến”: chính nghĩa và vinh quang. Không ai dùng chữ “chiến thắng” để nói về kẻ đi đánh lén người khác, chẳng hạn. Chữ “thắng cuộc” hoàn toàn không có những hàm ý như thế. Đánh bài: thắng cuộc. Cá cược: thắng cuộc. Dùng chữ “bên thắng cuộc”, Huy Đức, một mặt, tước bỏ các huyền thoại chung quanh từ “chiến thắng” vốn thường được sử dụng, mặt khác, xem chiến tranh, tự bản chất, như một ván bài về quyền lực. Vậy thôi. Trong ván bài, việc thắng thua tuỳ thuộc may rủi chứ không dính dáng gì đến chuyện chính nghĩa hay không chính nghĩa.

Trong tập “Quyền bính”, ở chương “XVII: Tam quyền không phân lập”, khi nói về những sự thay đổi Hiến pháp ở Việt Nam, Huy Đức viết: “Hiến pháp 1992, vì thế, đã không tiếp cận được những mô hình nhà nước tiến bộ để trở thành nền tảng cho Việt Nam xây dựng nhà nước pháp quyền.” (QB. 90) Xin lưu ý: chữ “tiến bộ” đằng sau chữ “nhà nước” và đằng trước cụm từ “nhà nước pháp quyền” ở câu trên hoàn toàn trái ngược với cách hiểu về chữ “tiến bộ” mà giới truyền thông Việt Nam thường sử dụng.

Trong giới lãnh đạo Việt Nam, rõ ràng Huy Đức tỏ ra ưu ái đặc biệt với hai người: Võ Nguyên Giáp và Võ Văn Kiệt. Nhưng ngay cả như vậy, ở cả hai, Huy Đức đều nhận thấy những khuyết điểm căn bản của họ: trung thành một cách dại dột. Phê bình như thế, Huy Đức thấy được một vấn đề thuộc về bản chất của chế độ. Bản chất được anh viết trong lời nói đầu tập “Quyền bính”: “Hệ thống chính trị, trải qua nhiều thế hệ, càng về sau lại càng có ít khả năng khắc phục sai lầm.” Nhưng nếu nó không có khả năng tự khắc phục sai lầm thì sao? Ai sẽ đảm nhận trách nhiệm ấy? Câu trả lời nằm trong những điều Huy Đức chưa nói hết: Có thể là bất cứ ai, nhưng chắc chắn là không phải từ “hệ thống”.

Đó chính là lý do chính khiến báo chí trong nước xúm vào đánh cuốn Bên Thắng Cuộc.

Dĩ nhiên, Bên Thắng Cuộc không tránh khỏi khuyết điểm. Chả có cuốn sách nào không có khuyết điểm cả. Vấn đề chỉ là nhiều hay ít. Ở cuốn Bên Thắng Cuộc, theo tôi: Ít. Điều thú vị là, hầu hết các sai lầm của anh đều liên quan đến văn học. Trong chương “XI: Campuchia” của tập “Giải phóng”, anh nhận định: “Cảnh giác với người Trung Hoa là điều đã có từ trong máu người Việt Nam. Nhưng, trong lịch sử nghìn năm kháng cự để tồn tại với ‘thiên triều’, chưa có triều đại nào lại công khai xác định Trung Quốc là ‘kẻ thù truyền kiếp và lâu dài’ trong các văn kiện chính thức như thời Tổng bí thư Lê Duẩn.” (GP, tr. 160). Sai. Huy Đức quên trong Bình Ngô đại cáo (1428) của Nguyễn Trãi có câu này: “Kẻ thế thù đâu thể đội trời chung” (Niệm thế thù khởi khả cộng đái / 念 世讎 豈 可 共 戴). Thế thù: Kẻ thù truyền kiếp. Trong “chương XII: Cởi trói” của cuốn “Quyền bính”, nhân nhắc đến các dấu mốc lớn trong lịch sử báo chí Việt Nam, anh viết: “Thơ Mới, cuối thập niên 1930” (QB, tr. 11). Sai. Thời điểm ra đời của Thơ Mới là đầu chứ không phải cuối thập niên 1930. Trong vòng chưa tới 10 năm, Thơ Mới đã đi hết một chặng đường. Cũng trong chương ấy, anh trích bài “Vòng trắng” của Phạm Tiến Duật như sau: “Khói bom lên trời thành những vòng đen / Và dưới mặt đất sinh ra bao vòng trắng / Tôi với bạn đi trong im lặng / Khăn tang trên đầu như một số không” (QB, tr. 18). Sai nhiều chỗ. Nguyên văn bài thơ ấy là:

Khói bom lên trời thành một cái vòng đen
Trên mặt đất lại sinh bao vòng trắng
Tôi với bạn tôi đi trong im lặng
Cái im lặng bình thường đêm sau chiến tranh.

Có mất mát nào lớn bằng cái chết
Khăn tang vòng tròn như một số không
Nhưng bạn ơi, ở bên trong vòng trắng
Là cái đầu bốc lửa ở bên trong.

Ngay cả mấy câu thơ của Nguyễn Duy được trích làm đề từ cho cuốn sách cũng sai:

Suy cho cùng trong mỗi cuộc chiến tranh
Bên nào thắng thì nhân dân đều bại.

Nguyên văn của Nguyễn Duy như sau:

Ta mặc niệm trước Angkor đổ nát
đá cũng tàn hoang huống chi là kiếp người

Đá ơi
xin tạc lại đây lời cầu chúc hoà bình!
Nghĩ cho cùng
Mọi cuộc chiến tranh
Phe nào thắng thì nhân dân đều bại…

(In trong tập Quà tặng, nxb Văn Học, 1990, tr. 78)

“Nghĩ” khác với “suy”, “mọi” khác với “mỗi”, và “phe” khác với “bên”.

Cũng như “bên thắng cuộc” khác với “bên chiến thắng”.

Một điều cuối cùng: Không ít người cho chọn cách tiếp cận từ phía những người thắng cuộc như Huy Đức là một chọn lựa đầy thiên vị, từ đó, bức tranh anh muốn phác họa sẽ bị lệch lạc theo. Theo tôi, không đúng. Thứ nhất, trong mọi lịch sử, những người “thắng cuộc” - xưa là vua chúa, sau này, giới cầm quyền - bao giờ cũng nằm ở vị trí trung tâm, cần được nghiên cứu nhất, bởi chính họ, một cách tích cực hay tiêu cực, quyết định diện mạo của một thời đại và số phận của một dân tộc. Thứ hai, vấn đề không phải lệch lạc hay không. Vấn đề chỉ là ở mức độ. Không có một cuốn sách nào, kể cả lịch sử, chính xác hoàn toàn. Thậm chí, các nhà hậu hiện đại chủ nghĩa còn hoài nghi cái gọi là lịch sử nói chung: Họ xem lịch sử như một biểu hiện của đại tự sự (grand narrative), một tham vọng đạt đến cái nhìn bao quát toàn bộ sự thật và thực tại: Với họ, đó là điều bất khả. Hơn nữa, họ xem lịch sử bao giờ cũng gắn liền với một quan điểm và một góc nhìn nhất định: lịch sử (history) là chuyện của ông-ấy, của một gã nào đó (his-story). Chứ không có một lịch sử chung nhất cho mọi người.

Bên Thắng Cuộc là một tác phẩm hay nhưng dĩ nhiên, như mọi cuốn sách khác, không hoàn hảo. Cái không hoàn hảo ấy cần được hoàn thiện dần dần. Bằng những tác phẩm khác. Điều đó không có gì đáng ngạc nhiên. Và càng không đáng phản đối.

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Lịch sử không xu nịnh ai

Nguyễn Tường Thụy

Cách đây 34 năm, Trung Cộng đã huy động một lực lượng lớn quân đội, tới 300 nghìn tên tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Ngày 17/2/1979, chúng tấn công Việt Nam trên toàn bộ tuyến biên giới phía Bắc.

Nhiều trận đánh đẫm máu xảy ra. Nhiều cuộc tàn sát dân thường Việt Nam chỉ có thể so sánh với những đội quân tàn bạo man rợ nhất trong lịch sử. Làng mạc, công sở, trường học, bệnh viện, nhà máy xí nghiệp, hầm mỏ nơi chúng chiếm đóng bị tàn phá hoàn toàn.

Vừa ra khỏi cuộc chiến tranh đau thương kéo dài 30 năm, Việt Nam lại mang thêm những vết thương do người “đồng chí” phản bội gây nên.

Trung Cộng gọi cuộc chiến tranh xâm lược này là cuộc chiến tranh đánh trả tự vệ trước Việt Nam. Đúng là bọn vừa ăn cướp, vừa la làng, trơ trẽn. Đến trẻ con cũng hiểu, Việt Nam không bao giờ có ý định khiêu khích hay thôn tính Trung Quốc mà chỉ có điều ngược lại. Năm 1974, khi chúng chiếm Hoàng Sa, lãnh thổ chưa bao giờ thuộc quyền quản lý của chúng, của cha ông chúng, thế nhưng chúng gọi đây là sự kiện thu hồi lãnh thổ.

Tuy nhiên, sau khi hai bên bình thường hóa quan hệ, được đánh dấu khởi đầu từ hội nghị Thành Đô, cuộc chiến tranh này không được hai bên nhắc đến nữa. Báo chí có nói bóng gió đến đều bị kiểm duyệt, nếu lọt lưới kiểm duyệt thì phóng viên, tổng biên tập bị kỷ luật. Bia chiến công bị đục bỏ một cách nhục nhã, ê chề.

Về phía Trung Cộng – kẻ xâm lược, chúng không muốn nhắc đến đã đành vì không kẻ xâm lược nào muốn nhắc lại tội ác của mình. Thế nhưng chúng ta là người bị xâm lược cũng không dám hé răng. Chúng ta phải cay đắng ngậm miệng để đổi lấy cái gì, ngoài 16 chữ vàng và 4 cái tốt mà mỗi khi nhắc đến, thiên hạ đều chế giễu. Trung Cộng vẫn tiếp tục gây hấn ở Biển Đông, vẫn có những hành động khiêu khích, bắn giết, cướp bóc ngư dân ta. Tham vọng thôn tính Biển Đông thể hiện qua việc khoanh đường lưỡi bò chiếm tới 80% diện tích dù không có bất cứ một cơ sở pháp lý nào vẫn không hề thay đổi.

Một dân tộc yêu hòa bình luôn sẵn sàng gác lại quá khứ, hướng tới tương lai. Điều đó không mâu thuẫn với việc phản ánh trung thực lịch sử. Gác lại quá khứ không có nghĩa là xóa bỏ lịch sử. Quá khứ, hiện tại, tương lai là một xâu chuổi, có quan hệ nhân quả, không thể cắt bỏ một giai đoạn nào

Lịch sử không xu nịnh ai. Không ai có thể bưng bít, bóp méo được lịch sử. Làm sao có thể dễ dàng quên sự hy sinh dũng cảm của những chiến sĩ 2 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 12 đã chiến đấu với cả sư đoàn địch và hy sinh đến người cuối cùng sau 5 ngày cầm chân dịch ở mặt trận Đồng Đăng. Làm sao có thể quên những vụ tàn sát dân thường ở thôn Đổng Chúc, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An tỉnh Cao Bằng ngày 6/3/1979. Hôm ấy, quân Trung Cộng đã giết 43 người, gồm 21 phụ nữ và 20 trẻ em, trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai, rồi ném xác xuống giếng hoặc chặt ra nhiều khúc rồi vứt hai bên bờ suối.

Những tấm gương chiến đấu hy sinh anh dũng của các chiến sĩ bảo vệ Tổ quốc còn nhiều lắm và những tội ác của quân xâm lược Trung Cộng còn nhiều lắm.

Rồi qua thời gian, lịch sử sẽ được viết lại. Đừng để sự hy sinh của các chiến sĩ đã bỏ mình vì Tổ Quốc trở thành vô nghĩa. Đừng để cho những nấm mồ của họ hương lạnh khói tàn. Đừng quên những đồng bào của mình đã chết thê thảm bởi bàn tay của kẻ xâm lược những tháng ngày đầu năm 1979 tang thương ấy.
Image

Image

nguồn Blog NTT

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Ðồng chí Ếch dốt chính tả

Ngô Nhân Dụng
Trước đây một phần tư thế kỷ, nhà văn Lưu Quang Vũ đã dựng màn kịch cảnh trên thiên đình, hai ông Nam Tào, Bắc Ðẩu bàn chuyện dưới trần gian, một ông nói: “Hạ giới chúng nó đã hết sợ từ lâu rồi, ông ơi!” Tưởng tượng vào thời đó, câu đối thoại này được nói lên trên sân khấu Nhà Hát Lớn, khán giả thay mặt cho dân Hà Nội chắc phải vỗ tay sảng khoái!

Quả thật, dân Việt Nam đã “hết sợ” từ lâu. Người dân đã nhìn thấy “Vua Chèo còn chẳng ra gì! Quan Chèo một lũ khác chi thằng hề!” Nhưng thời Lưu Quang Vũ còn sống, nói “hết sợ” chỉ có nghĩa là người dân đã biết các vị thần thánh đã hết linh thiêng. Ðám dân hạ giới vẫn phải bái lễ các pho tượng trên ban thờ, ngày sóc vọng vẫn phải cúng xôi chè. Nhưng trong bụng họ biết những pho tượng đó cũng chỉ lấy đất bùn nặn lên mà thôi. Dân biết thần thánh hết thiêng, vì những khẩu hiệu, những nghị quyết, chỉ tiêu mà các lãnh tụ hô to không đưa tới một kết quả thực tế nào, mà nội dung cũng rỗng tuếch. Giống như những ông đồng bà cốt làm bộ phù phép, yểm bùa, nhưng con bệnh vẫn bị ma tru, quỷ ám; làm sao ai tin được?

Biết thần thánh hết thiêng; nhưng bọn ông đồng bà cốt vẫn nắm quyền nhà nước kiểm soát nồi cơm, chĩnh gạo của mọi người; công an khu vực vẫn tự do bước vô cửa nhà dân “kiểm tra” bất cứ lúc nào, không ưa ai thì mời lên “làm việc.” Cho nên người dân biết sự thật mà vẫn phải giả bộ tin những trò thờ cúng giả dối. Ðến ngày đến giờ vẫn phải hô khẩu hiệu, hoan hô, đả đảo theo lệnh những cái loa phóng thanh. Trong tình cảnh đó, dù đã hết sợ những người dân cũng chỉ dám đưa ra những câu ám chỉ bóng bẩy, có bạo miệng cũng chỉ dám nói như nhà viết kịch Lưu Quang Vũ cũng là bạo lắm rồi. Chưa ai dám gọi thẳng tên những vua chèo và quan chèo mà mắng vào mặt.

Bây giờ thì khác. Bây giờ người ta không ngần ngại chỉ thẳng vào mặt các vai vua quan đang vẽ mặt bôi hề diễn những vở tuồng nhạt nhẽo trên sân khấu; trong vẫn khi cấu xé nhau giành từng miếng xôi, miếng thịt trong hậu trường. Dân đã thấy các vai hề đâm sau lưng nhau không gớm tay. Cho nên dân Việt đã hết sợ từ lâu, nay càng bạo hơn nữa.

Có người mới vạch ra mấy dòng chữ do đồng chí Ếch viết sai chính tả để bắt bẻ; đưa lên mạng với hình ảnh làm bằng. Nhân đó, trưng bày cho cả nước trông thấy trình độ học vấn của ông thủ tướng chưa bằng các em tiểu học. Việc đem mấy lỗi chính tả ra bêu riếu càng chứng tỏ rằng: “Chúng tôi hết sợ rồi!” Nói kiểu Hà Nội, là “Ông đ...ch sợ đứa nào cả!” Khi chính các vua chèo và quan chèo cũng day tay mắm miệng chỉ mặt chửi nhau trước công chúng, thì làm sao cấm được đám khan giả không làm theo? Bài chỉ trích được tung lên mạng, lan truyền rất nhanh, trong nước và cả bên ngoài. Cả nước chê cười đồng chí Ếch dốt chữ Việt.

Nhưng vụ bắt bẻ lỗi chính tả này có nhiều điều khả nghi.

Thứ nhất, đây là một lỗi nhỏ. Một lỗi lầm có thể tha thứ được. Ðem phơi bày một lỗi lầm nhỏ ra, có thể làm lạc hướng dư luận, khiến mọi người cười vui chế nhạo, rồi quên những tội lỗi tày đình. Viết chính tả sai thì có gì đáng bắt bẻ, so với tình trạng bao nhiêu công ty quốc doanh làm mất hàng chục tỷ đô la năm này sang năm khác? Viết sai dấu hỏi, dấu ngã thì có gì đáng kể, so với những vụ Vinashin, Vinalines? Khi gạo, mắm tăng giá hàng chục phần trăm mỗi năm, thì dù viết Tỷ lệ lạm phát với chữ Tỷ (dấu hỏi) hay chữ Tỹ (dấu ngã), thằng dân cũng khốn khổ như nhau! Những vụ ăn cắp hàng tỷ Mỹ kim thì viết là “tham nhũng” hoặc “tham nhủng” có làm cho số tiền mất thay đổi hay không?

Vạch lỗi đồng chí Ếch không viết thông chữ Việt có thể gây phản ứng có lợi cho chính người bị chỉ trích. Nhiều phản ứng còn có thể gây hậu quả nặng nề, là gây chia rẽ địa phương. Mà nếu dư luận bị chia rẽ, tạo ra xung đột trong dân tộc Việt Nam vào lúc này, thì chỉ có đảng Cộng sản Việt Nam được lợi, trong đó có đồng chí Ếch.

Lỗi chính tả vì phát âm sai thì người bình thường vẫn phạm, nhiều người cầm bút chuyên nghiệp cũng khó tránh. Ai cũng biết người miền Bắc hay viết lầm, vì phát âm những phụ âm đầu “d, gi, và r” hoặc “s và x” giống nhau. Như một ca sĩ miền Bắc cứ hát “Người đã đi dồi” chứ không chịu hát “đã đi rồi!” Người miền Nam thường nhầm lẫn dấu hỏi, dấu ngã; hoặc những phụ âm cuối “n, ng.” Kim tuyến thì viết ra kim tiếng.

Cho nên khi ai bị chế nhạo vì viết sai những chữ “dũ dượi,” hoặc “xạch xẽ” thì có thể đoán người phạm lỗi chính tả này sinh trưởng ở miền Bắc. Ngược lại, một người bị chỉ trích vì viết thành “rủ rượi” hay “sạch sẻ” thì chắc sinh ra ở trong Nam cho nên hay lầm dấu hỏi, dấu ngã.

Thầy giáo, cô giáo sửa lỗi chính tả cho học sinh, bạn bè chỉ cho nhau, thì không sao. Nhưng khi đem lỗi viết sai chính tả của một người ra bêu riếu trước công chúng, thì có thể chạm tự ái người ta. Khi có những lỗi mà ai cũng biết là cố tật của nhiều người, thì tất cả những người hay phạm lỗi đều cảm thấy thương cảm người bị đem ra chế nhạo, vì một lỗi giống như mình hay phạm. Những người miền Bắc hay viết “dũ dượi” hoặc những người miền Nam viết sai hỏi, ngã, sẽ biểu lộ tình liên đới với người bị chỉ trích chỉ vì cách viết sai giống mình. Chưa hết, họ có thể cảm thấy chính họ đang bị đem ra chế nhạo!

Vì thế, vạch ra những lỗi viết sai chính tả của ông Nguyễn Tấn Dũng, và dư luận đem lỗi lầm đó ra phê phán, chế nhạo có thể gây ra những phản ứng chia rẽ người miền Nam với người miền Bắc. Ðồng chí Ếch sẽ có ngay một số người ủng hộ vô điều kiện, mà không cần phải chia chác đồng nào cả! Những cuộc tranh chấp xôi thịt trong nội bộ đảng có thể biến thể, trở thành một cuộc xung đột vì phân biệt địa phương. Khi người ta cố tình khai thác óc kỳ thị địa phương thì hậu quả rất tai hại cho nước Việt Nam. Dân tộc Việt Nam sẽ không vì chuyện này mà chia rẽ Nam Bắc. Nhưng chỉ cần gây ra tình tự chia rẽ trong một thiểu số, trong một thời gian ngắn, cũng đủ tai hại rồi.

Vì những xung đột vì óc kỳ thị địa phương sẽ khiến mọi người chỉ chú ý đến các ganh ghét, đố kỵ sôi nổi nhưng rất nhỏ bé, họ sẽ quên mất vấn đề nào thật sự là quan trọng đối với tương lai nước Việt Nam. Trong lúc các nước láng giềng đều phục hồi kinh tế sau cơn khủng hoảng, nước mình chìm đắm trong nguy cơ thụt lùi, thì chuyện một ông thủ tướng viết sai chính tả có đáng đem ra nói hay không? Trong lúc người “đồng chí anh em” phía Bắc đem máy bay tầu thủy ra hung hăng đe dọa, thì có còn thời giờ để dạy dỗ các ông lãnh tụ viết chữ Việt đúng hơn hay không?

Người Việt Nam suy nghĩ sẽ thấy không nên làm lớn chuyện một ông thủ tướng viết sai chính tả. Ở Mỹ, một ông tổng thống hay nói nhịu, có khi nói sai, mà không ai làm lớn chuyện; là ông W. Bush. Có lần tuyên bố trước công chúng chủ trương của chính phủ Mỹ về việc thành lập nước Palestine, ông Bush đã nói nhầm chữ “contiguous” ra “continuous.” Bộ Ngoại Giao Mỹ dùng chữ contiguous, chỉ có nghĩa là các mảnh đất thuộc nước Palestine ở gần nhau. Ông Bush nói continuous, biến ra nghĩa là các mảnh đất này phải nối liền với nhau. Dư luận Israel bùng nổ. Giới ngoại giao và Tòa Bạch Ốc ở Mỹ phải đính chính lời ông Bush và minh xác lại chủ trương. Nhưng không nhà chính trị đối lập nào đem lỗi lầm đó ra chỉ trích ông Bush.

Vạch ra những lỗi chính tả của đồng chí Ếch chỉ có lợi cho chính ông ta. Nó cũng đánh lạc hướng dư luận, không nhìn thẳng vào thực trạng cả đảng Cộng sản đang tan rã. Cuộc tranh chấp trong nội bộ đảng không hề nêu lên một điều nào khác biệt về tư tưởng. Vì thật sự tư tưởng của họ đang trống rỗng. Cũng không có những bất đồng ý kiến về chính sách, đường lối. Họ cùng theo một chủ trương là bảo vệ các độc quyền chính trị, kinh tế, để chia chác lợi lộc cho đám đàn em. Trong lúc tranh giành cấu xé nhau, đám lãnh tụ chóp bu đã hết chuyện để nói rồi, cho nên mới tạo dư luận chỉ trích nhau về chữ viết sai chính tả. Người Việt chịu suy nghĩ một chút sẽ thấy không nên để bị đánh lạc hướng.

User avatar
MatVit
Posts: 855
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:18 pm

Post by MatVit »

Á Châu Chạy Đua Võ Trang

Tác giả : Vi Anh
Á châu Thái bình Dương đang trong tình trạng “hoà bình võ trang” (paix armée) như ở Âu châu trong những năm 1871- 1914, chuẩn bị cho Đệ Nhứt Thế Giới Đại Chiến. Chỉ trong hai ngày mà có tới hai tin chạy đua võ trang đáng ngại. Hoa kỳ, thông tấn xã AP dẫn thông cáo của Cơ Quan Phòng Thủ Hoả Tiễn Hoa Kỳ hôm Thứ Bảy 26-01cho biết, cuộc thử hoả tiễn đánh chận được tiến hành tại căn cứ không quân Vanderberg chiều 26/1, thành công tốt đẹp. Còn Trung Cộng, thông tấn xã của Đảng Nhà Nước TC là Tân Hoa Xã - cũng trong ngày Thứ Bảy, dẫn lời một quan chức Cục Thông Tin Bộ Quốc Phòng Trung Quốc, cho hay nước này vừa tiến hành một cuộc thử nghiệm đánh chặn hoả tiễn tầm trung, phóng đi từ mặt đất trong lãnh thổ quốc gia.

Và Nhựt, vào ngày Thứ Ba 29-01, Bộ Ngoại Giao cho biết Nhật đang thành lập một lực lượng đặc nhiệm tuần tra biển mới, bao gồm 10 tàu tuần cỡ lớn, với 600 binh sĩ bên cạnh hai tàu có bãi đậu trực thăng đang hoạt động. Đơn vị đặc nhiệm mới này của Nhựt sẽ đóng ở đảo Ishigaki, chì cách 175 km quần đảo Senkaku của Nhựt mà TC tranh chấp gọi là Điếu Ngư. Ngoài ra Nhựt sẽ tăng quân số từ 225.000 lên nhiều hơn nữa vào đầu từ tháng 4, cũng như tăng ngân sách quốc phóng lên 0,1%, tuy nhỏ nhưng quan trọng vì đã 10 năm rồi không tăng.

Từ khi tăng trưởng được kinh tế, Trung Cộng tăng ngân sách quốc phòng với hai con số, bành trướng, bá quyền quậy đục nước ở Á châu Thái Bình Dương khiến các nước trong vùng này phải chạy đua võ trang, giúp cho Mỹ và Nga hốt bạc trong việc bán võ khí và trang bị chiến tranh.

TC không tiếc tiền thuế của nhân dân, và tài nguyên của đất nước, mồ hôi của người dân đem bán rẻ cho ngoại quốc từ năm 2010, ngân sách quốc phòng chánh thức đã đến 119 tỷ Mỹ Kim, đứng hạng nhì trên thế giới, chỉ sau Mỹ một siêu cường kinh tế lâu đời với ngân sách quốc phòng là 698 tỷ USD. Đó là con số chánh thức của TC công bố, chớ con số thực tế bí mật ắt cao hơn nhiều. TC hiện đại hoá quân đội, đưa người lên không gian, mua sắm máy bay tàng hình, hàng không mẫu hạm, và tàu lặn tân kỳ. TC hành động ngang ngược, gây tranh chấp, xung đột lấn biển, chiếm đảo của các nước láng giềng, từ đông bắc dĩ chí đông nam Á châu Thái bình Dương.

TC đặt các nước láng giềng vào cái thế phải chạy đua võ trang để phòng thủ. Theo Viện Nghiên cứu Hòa bình Thế giới Stockholm (SIPRI), Á châu là khu vực nhập cảng võ trang lớn nhất từ năm 2007–2011: Ấn Độ là một nước từng có chiến tranh biên giới với TC mua vũ trang quốc tế nhiều nhất, chiếm 10% tổng số vũ khí thế giới bán ra. Tiếp theo là Nam Hàn 6%, TC và Pakistan 5%, và Singapore 4%. Ấn Độ mua nhiều vì là nước từng có chiến tranh biên giới với TC từ năm 1962 tới giờ vẫn chưa yên hẳn, lâu lâu lại tái diễn ở một vùng nào đó.

TC bây giờ lại “bung ra”, một mặt giương oai diệu võ ở phía đông là Thái bình Dương và mặt khác ở phía Tây đã bỏ tiền ra xây dựng một chuổi hải cảng ở Pakistan, Sri Lanka, Bangladesh và Myanmar để bao vây Ấn Độ.

Còn các nước trong vùng Á châu Thái Bình Dương thì tứ bắc chí nam hầu hết không an tâm với đà bành trướng của TC. Nên những nước dù nhược tiểu cũng phải tăng ngân sách quốc phòng, mua vũ khí, trang bị quân sự. Tính ra tổng số tiền ngân sách quốc phòng của những nước nhỏ này không bằng của TC. Nhưng nếu tính tỷ lệ tăng so với ngân sách khiêm tốn của nước nhược tiểu thì rất cao hơn tỷ lệ tăng ngân sách quốc phòng của TC.

Thống kê hàng năm của IISS, viện nghiên cứu chiến lược quốc tế tại Luân Đôn, vừa công bố cho biết Á châu có 10 nước chi cho quốc phòng nhiều nhất, trong đó có Singapore, Thái Lan và Indonesia nằm trong số 10 nước châu Á. Tài khoá 2010-2011 Thái Lan và Indonesia tăng ngân sách quốc phòng khoảng 5%, trong khi TC là là 6,8%. Singapore năm 1990, đã bắt đầu trang bị tàu lặn mua của Thụy Điển sản xuất, và hiện nay có 5 tàu lặn dành để tấn công. Malaysia cũng đã mua hai chiếc Scorpène của Pháp. Indonesia đã mua và đang sữ dụng hai tàu lặn của Nam Hàn làm ra.

Indonesia năm 2013, có thể tăng ngân sách quốc phòng lên đến 18%, khoảng 8,1 tỷ đô la. Philippines năm 2013, ngân sách quốc phòng nước này có thể lên đến 2,8 tỷ đô la, tăng 12,5% so với năm 2012. Cuối năm 2012, Phi đã ra luật hiện đại hóa quân đội trong 15 năm tới, trong đó ưu tiên dành cho hải quân và không quân. Phlippines dự định mua thêm nhiều khí tài, kể cả 12 máy bay chiến đấu, một tàu khu trục.

Còn VNCS bị mất đảo, mất biển vào tay TC nhiều nhứt, thì liên tục mua máy bay, tàu chiến và tàu lặn của Nga vì Mỹ không bán vũ khi cho Hà nội do hồ sơ vi phạm nhân quyền của CS Hà nội quá đen. Từ năm 2009, Hà Nội đã đặt mua 6 chiếc tàu lặn của Nga với giá 2 tỷ đô la, trong đó 2 chiếc đầu tiên sẽ được giao vào tháng 8/2013. Quan trọng đến mức Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng “nổi hứng” lên ngồi cho máy bay mới mua của Nga bay thử.

Không cần phải là chiến lược gia, người dân thuờng cũng biết nguyên do các nước lân cận với TC dù kinh tế có khó khăn nhưng vẫn dành một số tiền lớn mua vũ khí và trang bị chiến tranh, là do TC quậy đục nước ở Á châu Thái bình Dương.

Mỹ là nước chạy đua võ trang ở Á châu Thái Bình Dương nhiều nhứt. Nhưng Mỹ không phải mua sắm. Mỹ chỉ chuyễn 60% hải lực trên thế giới về đây. Lần đầu tiên trong lịch sử bang giao với Úc, Mỹ đổ quân cấm chốt thường trực ở Úc. Mỹ rút quân ở Trung Đông dồn kinh phí về trục quân sự Á châu của Mỹ. Giảm ngân sách quốc phòng 500 tỷ trong 10 năm, nhưng không giảm ở Á châu, TT Obama đã long trọng tuyên hứa trước Quốc Hội Úc, đồng minh cùng văn hoá Tây phương, kỳ cựu và duy nhứt Tây Phương ở Á châu.

Nhưng Mỹ không tốn kém hụt hơi như TC. Mỹ không cần tăng ngân sách vì đó là quận cơ hữu, chỉ chuyển vùng thôi, ở đâu cũng tốn kinh phí điều hành. Trái lại Mỹ rất có lợi kinh tế chánh trị và quân sự. TC với hành động bánh trướng ngang ngược, TC đã đẩy các nước Á châu Thái bình Dương vào vòng tay Mỹ. Đa số các nước này coi sự trở lại và hiện diện của Mỹ như một lá chắn, một bảo đảm an ninh, trât tự trong vùng, nhưng Mỹ không có tham vọng đất đai như TC.

Ngoài ra Mỹ còn bán được vũ khí rất nhiều cho các nước này trước mối lo đối với TC. Vô tình TC giúp cho Mỹ trở lại Á châu trong cảm tình, mong mỏi của các nước Á châu Thái bình Dương.

Theo các nhà quan sát chiến lược, TC phô trương sức mạnh quân sự ra Á châu Thái Bình Dương, một là để tuyên truyền quốc nội với xã hội quá nhiều bất ổn định, bất công, chia rẽ có thể nổ bùng hay nổ chụp tan tành chế độ CS. Hai là để hù doạ các nước nhỏ trong vùng Đông Bắc Á, Đông Nam Á mà thôi.

Cái kiểu giương oai diệu võ đó không làm các nước nhỏ này sợ mà thúc đẩy các nước này kiện toàn phòng thủ quân sự, liên minh chặt chẽ với Mỹ hơn. Còn muốn đối đầu với Mỹ về không quân và hải quân, có lẽ TC cần nữa thế kỷ nữa hoạ may mới dám đụng chạm Mỹ về quân sự./.( Vi Anh)

Post Reply