Bình Luận Thời Sự
Sửa Hiến Pháp chứ không phải xây hầm trú ẩn
Huy Ðức Nếu tôi là trưởng ban sửa đổi Hiến Pháp 1992 tôi sẽ đề nghị ngưng lại cho đến khi trong Ðảng thực sự biết rõ mình muốn duy trì mô hình đảng chủ lập hiến như hiện nay hay muốn thiết lập ở Việt Nam một nền Cộng Hòa thật sự.
Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu tại Quốc Hội Việt Nam, nơi có thẩm quyền sửa Hiến Pháp. (Hình minh họa: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)
Các nhà nước quân chủ phải lập hiến khi nhà vua bị các tôn giáo, lãnh chúa... buộc phải chia sẻ quyền lực. Các nhà nước đảng chủ phải lập hiến vì muốn tạo ra cái vỏ bọc cộng hòa cho sự toàn trị của mình. Nếu Ðảng Cộng sản Việt Nam muốn tiếp tục chế độ chính trị như hiện nay thì cách khôn ngoan nhất là cứ giữ Hiến Pháp 1992 vì nó vẫn đang làm tốt vai trò “phông màn” cho Ðảng.
Sẽ là một sai lầm chính trị (của Ðảng) nếu sửa đổi Hiến Pháp không phải vì cải cách mà chỉ để tự trấn an. Khi lực lượng vũ trang đã khẩu hiệu “chỉ biết còn Ðảng, còn mình” mà vẫn không hết sợ hãi thì lẽ ra Ðảng phải sửa cái gốc là trao quyền lực cho dân. Bảo vệ sự cầm quyền của Ðảng mà bằng cách hiến định lòng trung cho quân đội và cố thủ trong điều 4 như một thứ lô cốt thì chỉ gây ra tranh cãi về tính hợp hiến của đảng độc tôn và khiến dân chúng nghĩ rằng Ðảng coi mục tiêu cầm quyền cao hơn chủ quyền quốc gia, dân tộc.
Nếu chỉ quan tâm tới việc phân chia quyền lực thì không cần sửa Hiến Pháp. Quyền lực lâu nay vẫn được phân chia một cách bất thành văn và phe nhóm thường giải quyết tốt hơn Hiến Pháp. Vấn đề là tại hội nghị trung ương sắp tới ông Nguyễn Bá Thanh có đủ phiếu vào Bộ Chính Trị, ông Vương Ðình Huệ có trở thành bí thư trung ương Ðảng hay không? Ông Nguyễn Bá Thanh rồi sẽ chọn con đường đi vào lịch sử như một bao công, hay với không ít tỳ vết hiện nay, sẽ bắt tay với thủ tướng đương nhiệm, quay lưng với những người đã từng nuôi kỳ vọng?
Nếu nhận ra đây là cơ hội chính trị thì đừng vội vã, hãy ngồi lại với nhân dân, hình thành một bản Hiến Pháp có thể thiết lập một nền Cộng Hòa, trên nguyên tắc: một chính quyền không phải do dân thì không thể là của dân và không thể hy vọng chính quyền đó sẽ vì dân được. Với quyền lập hiến, nhân dân phải tham gia với tư cách là người quyết định chứ không phải “khách” mời “góp ý” như Ðảng đang làm.
Ủy Ban Sửa Ðổi Hiến Pháp, vì thế, phải thay đổi quy trình làm việc của mình. Thay vì cắm đầu viết lách, bước một, chuẩn bị những vấn đề phải trình Quốc Hội biểu quyết đưa ra trưng cầu dân ý. Ðiều phải trưng cầu dân ý đầu tiên là Việt Nam nên chọn mô hình Cộng Hòa Ðại Nghị (nơi Quốc Hội bầu ra chính phủ và nguyên thủ quốc gia) hay Cộng Hòa Tổng Thống (nơi cử tri trực tiếp bầu ra nguyên thủ).
Cộng Hòa Ðại Nghị thường thành công hơn ở các quốc gia đi từ nền quân chủ lập hiến. Nơi hoàng gia, tuy không trực tiếp cầm quyền, vẫn còn uy tín để trị vì như một biểu tượng quốc gia. Tuy các triều vua của Việt Nam đã bị “phế từ lâu,” vẫn nên hỏi xem dân chúng muốn tìm một hoàng thân hay tự tay bầu ra tổng thống.
Ðảng Cộng sản Việt Nam hoàn toàn có thể đưa điều 4 ra trưng cầu dân ý và nếu nhân dân tán thành trong một cuộc bỏ phiếu hoàn toàn tự do thì việc cầm quyền của Ðảng sẽ thực sự vinh quang. Nếu dân muốn Ðảng cộng sản chỉ là một trong các đảng chính trị của người Việt Nam thì anh chỉ có thể cầm quyền khi thắng trong bầu cử.
Trong tình huống đó, Hiến Pháp nên quy định sự khác nhau giữa ứng cử viên độc lập với ứng cử viên được đề cử bởi một đảng chính trị. Ví du : một người có thể trở thành ứng cử viên tổng thống nếu được một đảng chính trị có cơ sở hoạt động ở tầm quốc gia đề cử hoặc có đủ một lượng chữ ký ủng hộ nhất định (nếu là ứng cử viên độc lập).
Với một dân tộc đang có hàng triệu người sống và làm việc ở khắp năm châu như Việt Nam, cần trưng cầu dân ý về điều kiện của các ứng cử viên: có chấp nhận người có hai quốc tịch ứng cử tổng thống, nghị sĩ Việt Nam hay không ? Có nên đòi hỏi ứng cử viên tổng thống và ứng cử viên nghị sĩ Quốc Hội phải là người sinh ở Việt Nam và sống liên tục ở trong nước 5 năm tính đến ngày bầu cử?
Chế độ kinh tế cũng cần được đưa ra hỏi dân. Tự do tư tưởng là vấn đề phải được bảo vệ trong xã hội tương lai. Hiến Pháp tôn trọng niềm tin cộng sản của một thiểu số nhân dân nhưng dân chúng không thể trả chi phí để nuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa” bằng cách coi “kinh tế nhà nước là chủ đạo.” Nên trưng cầu dân ý về việc cấm nhà nước thành lập những xí nghiệp mang tính kinh doanh (trừ các doanh nghiệp công ích và doanh nghiệp khai thác những loại tài nguyên đặc biệt).
Hãy trưng cầu dân ý để dân chúng chọn giữa sở hữu toàn dân và chế độ đa sở hữu đối với đất đai.
Sau khi có kết quả trưng cầu dân ý, Ủy Ban Sửa Ðổi Hiến Pháp mới tiến hành bước hai: thiết kế một mô hình nhà nước có khả năng bảo vệ chủ quyền quốc gia, có thể hòa giải quốc gia, phát triển quốc gia, đảm bảo an ninh và mang lại công lý cho người dân tốt nhất. Ủy ban cũng không nên giấu dốt, cái gì biết thì hẵng làm cái gì không có kinh nghiệm thì nên học hỏi, nhất là từ những mô hình nhà nước đã được loài người áp dụng thành công. Việt Nam cần một mô hình chính trị bền vững dài lâu chứ không phải chỉ “bay 15 phút” rồi “bỏ kho” như những chiếc máy bay Vam mà Việt Nam đã từng tự chế.
Cách mà công an Hải Phòng đối xử với anh em ông Ðoàn Văn Vươn cho thấy, hệ thống tư pháp hiện hành không thể đảm bảo công lý, nhất là đối với những xung đột giữa công dân với địa phương. Ngoài việc tổ chức tòa án theo cấp xét xử (thay vì theo cấp hành chính), lực lượng điều tra hình sự và công tố nên tổ chức thống nhất ở cấp toàn quốc gia. Cảnh sát địa phương chỉ đảm bảo giao thông và trật tự, trị an; có thể bắt trộm, cướp rồi giao lại cho cơ quan công tố.
Các địa phương tùy vào ngân sách và tình hình an ninh mà quyết định số lượng cảnh sát. Không để tình trạng như TPHCM phải lấy thanh niên xung phong ra điều khiển giao thông và chống cướp bằng lực lượng từ trung ương cứu viện.
Thật là nguy hiểm nếu lực lượng công an, quân đội thay vì trung thành với quốc gia lại trung thành với đảng phái. Ðảng có thể nay tồn, mai vong nhưng Nước thì muôn đời phải giữ. Nếu quân đội không coi nhiệm vụ quan trọng nhất là giữ nước thì khi trong Ðảng có bất đồng, quân đội mất phương hướng, những kẻ có dã tâm lãnh thổ như Trung Quốc rất dễ thừa cơ chiếm nốt Trường Sa bằng một cuộc chiến tranh cục bộ.
Cũng cần tách bạch hành pháp chính trị và hành chính công vụ để khi Ðảng tan rã thì chỉ có chức năng hành pháp chính trị tạm ngưng, trộm cướp vẫn có người bắt; đèn xanh, đèn đỏ vẫn sáng ở ngã tư; người dân vẫn có thể làm passport, đăng ký xe và sang tên nhà, đất...
Bước thứ ba, Ủy Ban Sửa Ðổi Hiến Pháp trình những mô hình hành chánh, tư pháp tương thích này để Quốc Hội thông qua. Sau đó tới bước thứ tư mới tiến hành cho chuyên viên thảo ra Hiến Pháp. Do đã trưng cầu dân ý, Hiến Pháp chỉ cần 2/3 tổng số đại biểu thông qua chứ không cần đưa ra phúc quyết toàn dân. Chỉ phải giữ nguyên tắc cái gì dân đã quyết khi trưng cầu dân ý thì Quốc Hội không có quyền thay đổi.
Cũng có thể rút ra các bài học lập hiến từ Việt Nam. Hiến Pháp 1946 từng được viết bởi những trí thức có tinh thần pháp quyền và bác ái, tự do. Cho dù nó được quyết định bởi một Quốc Hội được bầu lên trong cuộc tổng tuyển cử do Việt Minh kiểm soát, Hiến Pháp 1946 đã được thông qua bởi những người yêu nước và khát khao độc lập, tự do.
Tuy chưa được công bố chính thức do chiến tranh nhưng Hiến Pháp 1946 đã có hiệu lực trên thực tế. Hồ Chí Minh đóng một vai trò quan trọng trong Hiến Pháp 1946, nhưng chính ông, sau khi đi dự Hội nghị 81 đảng cộng sản và phong trào công nhân quốc tế từ Moscow trở về, đã phế bỏ bản Hiến Pháp dân chủ này để thay thế bằng Hiến Pháp 1959.
Theo Bộ Trưởng Nguyễn Ðình Lộc, Hiến Pháp 1959 được dịch ra từ Hiến Pháp Liên Xô nhưng qua bản tiếng Trung nên nhiều định chế nhà nước đã được bắt chước một cách vội vã và không chính xác. Hiến Pháp 1980 cũng bắt chước Hiến Pháp của các nước cộng sản Ðông Âu, áp dụng nguyên xi những định chế mà ngay sau đó đã bị các nước này bãi bỏ. Không nên sợ hãi trước những mô hình nhà nước đã được áp dụng thành công. “Nhập khẩu” mô hình chính trị đã là truyền thống mà Ðảng Cộng sản Việt Nam bắt đầu từ năm 1959.
Một chế độ toàn trị thường đi đến sụp đổ hoặc tiếp tục tồn tại bằng cách siết chặt dân chủ, tự do. Quá trình này càng kéo dài bao nhiêu thì càng hủy hoại các nguồn lực và giá trị quốc gia tới đó. Sự sụp đổ hay sự ngắc ngoải của chế độ đều trút hậu quả lên đầu thường dân. Chủ động cải cách để từng bước trao mọi quyền lực cho nhân dân không chỉ là lối thoát của Việt Nam mà còn là cánh cửa để Ðảng thoát ra trong danh dự.
Huy Ðức Nếu tôi là trưởng ban sửa đổi Hiến Pháp 1992 tôi sẽ đề nghị ngưng lại cho đến khi trong Ðảng thực sự biết rõ mình muốn duy trì mô hình đảng chủ lập hiến như hiện nay hay muốn thiết lập ở Việt Nam một nền Cộng Hòa thật sự.
Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu tại Quốc Hội Việt Nam, nơi có thẩm quyền sửa Hiến Pháp. (Hình minh họa: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)
Các nhà nước quân chủ phải lập hiến khi nhà vua bị các tôn giáo, lãnh chúa... buộc phải chia sẻ quyền lực. Các nhà nước đảng chủ phải lập hiến vì muốn tạo ra cái vỏ bọc cộng hòa cho sự toàn trị của mình. Nếu Ðảng Cộng sản Việt Nam muốn tiếp tục chế độ chính trị như hiện nay thì cách khôn ngoan nhất là cứ giữ Hiến Pháp 1992 vì nó vẫn đang làm tốt vai trò “phông màn” cho Ðảng.
Sẽ là một sai lầm chính trị (của Ðảng) nếu sửa đổi Hiến Pháp không phải vì cải cách mà chỉ để tự trấn an. Khi lực lượng vũ trang đã khẩu hiệu “chỉ biết còn Ðảng, còn mình” mà vẫn không hết sợ hãi thì lẽ ra Ðảng phải sửa cái gốc là trao quyền lực cho dân. Bảo vệ sự cầm quyền của Ðảng mà bằng cách hiến định lòng trung cho quân đội và cố thủ trong điều 4 như một thứ lô cốt thì chỉ gây ra tranh cãi về tính hợp hiến của đảng độc tôn và khiến dân chúng nghĩ rằng Ðảng coi mục tiêu cầm quyền cao hơn chủ quyền quốc gia, dân tộc.
Nếu chỉ quan tâm tới việc phân chia quyền lực thì không cần sửa Hiến Pháp. Quyền lực lâu nay vẫn được phân chia một cách bất thành văn và phe nhóm thường giải quyết tốt hơn Hiến Pháp. Vấn đề là tại hội nghị trung ương sắp tới ông Nguyễn Bá Thanh có đủ phiếu vào Bộ Chính Trị, ông Vương Ðình Huệ có trở thành bí thư trung ương Ðảng hay không? Ông Nguyễn Bá Thanh rồi sẽ chọn con đường đi vào lịch sử như một bao công, hay với không ít tỳ vết hiện nay, sẽ bắt tay với thủ tướng đương nhiệm, quay lưng với những người đã từng nuôi kỳ vọng?
Nếu nhận ra đây là cơ hội chính trị thì đừng vội vã, hãy ngồi lại với nhân dân, hình thành một bản Hiến Pháp có thể thiết lập một nền Cộng Hòa, trên nguyên tắc: một chính quyền không phải do dân thì không thể là của dân và không thể hy vọng chính quyền đó sẽ vì dân được. Với quyền lập hiến, nhân dân phải tham gia với tư cách là người quyết định chứ không phải “khách” mời “góp ý” như Ðảng đang làm.
Ủy Ban Sửa Ðổi Hiến Pháp, vì thế, phải thay đổi quy trình làm việc của mình. Thay vì cắm đầu viết lách, bước một, chuẩn bị những vấn đề phải trình Quốc Hội biểu quyết đưa ra trưng cầu dân ý. Ðiều phải trưng cầu dân ý đầu tiên là Việt Nam nên chọn mô hình Cộng Hòa Ðại Nghị (nơi Quốc Hội bầu ra chính phủ và nguyên thủ quốc gia) hay Cộng Hòa Tổng Thống (nơi cử tri trực tiếp bầu ra nguyên thủ).
Cộng Hòa Ðại Nghị thường thành công hơn ở các quốc gia đi từ nền quân chủ lập hiến. Nơi hoàng gia, tuy không trực tiếp cầm quyền, vẫn còn uy tín để trị vì như một biểu tượng quốc gia. Tuy các triều vua của Việt Nam đã bị “phế từ lâu,” vẫn nên hỏi xem dân chúng muốn tìm một hoàng thân hay tự tay bầu ra tổng thống.
Ðảng Cộng sản Việt Nam hoàn toàn có thể đưa điều 4 ra trưng cầu dân ý và nếu nhân dân tán thành trong một cuộc bỏ phiếu hoàn toàn tự do thì việc cầm quyền của Ðảng sẽ thực sự vinh quang. Nếu dân muốn Ðảng cộng sản chỉ là một trong các đảng chính trị của người Việt Nam thì anh chỉ có thể cầm quyền khi thắng trong bầu cử.
Trong tình huống đó, Hiến Pháp nên quy định sự khác nhau giữa ứng cử viên độc lập với ứng cử viên được đề cử bởi một đảng chính trị. Ví du : một người có thể trở thành ứng cử viên tổng thống nếu được một đảng chính trị có cơ sở hoạt động ở tầm quốc gia đề cử hoặc có đủ một lượng chữ ký ủng hộ nhất định (nếu là ứng cử viên độc lập).
Với một dân tộc đang có hàng triệu người sống và làm việc ở khắp năm châu như Việt Nam, cần trưng cầu dân ý về điều kiện của các ứng cử viên: có chấp nhận người có hai quốc tịch ứng cử tổng thống, nghị sĩ Việt Nam hay không ? Có nên đòi hỏi ứng cử viên tổng thống và ứng cử viên nghị sĩ Quốc Hội phải là người sinh ở Việt Nam và sống liên tục ở trong nước 5 năm tính đến ngày bầu cử?
Chế độ kinh tế cũng cần được đưa ra hỏi dân. Tự do tư tưởng là vấn đề phải được bảo vệ trong xã hội tương lai. Hiến Pháp tôn trọng niềm tin cộng sản của một thiểu số nhân dân nhưng dân chúng không thể trả chi phí để nuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa” bằng cách coi “kinh tế nhà nước là chủ đạo.” Nên trưng cầu dân ý về việc cấm nhà nước thành lập những xí nghiệp mang tính kinh doanh (trừ các doanh nghiệp công ích và doanh nghiệp khai thác những loại tài nguyên đặc biệt).
Hãy trưng cầu dân ý để dân chúng chọn giữa sở hữu toàn dân và chế độ đa sở hữu đối với đất đai.
Sau khi có kết quả trưng cầu dân ý, Ủy Ban Sửa Ðổi Hiến Pháp mới tiến hành bước hai: thiết kế một mô hình nhà nước có khả năng bảo vệ chủ quyền quốc gia, có thể hòa giải quốc gia, phát triển quốc gia, đảm bảo an ninh và mang lại công lý cho người dân tốt nhất. Ủy ban cũng không nên giấu dốt, cái gì biết thì hẵng làm cái gì không có kinh nghiệm thì nên học hỏi, nhất là từ những mô hình nhà nước đã được loài người áp dụng thành công. Việt Nam cần một mô hình chính trị bền vững dài lâu chứ không phải chỉ “bay 15 phút” rồi “bỏ kho” như những chiếc máy bay Vam mà Việt Nam đã từng tự chế.
Cách mà công an Hải Phòng đối xử với anh em ông Ðoàn Văn Vươn cho thấy, hệ thống tư pháp hiện hành không thể đảm bảo công lý, nhất là đối với những xung đột giữa công dân với địa phương. Ngoài việc tổ chức tòa án theo cấp xét xử (thay vì theo cấp hành chính), lực lượng điều tra hình sự và công tố nên tổ chức thống nhất ở cấp toàn quốc gia. Cảnh sát địa phương chỉ đảm bảo giao thông và trật tự, trị an; có thể bắt trộm, cướp rồi giao lại cho cơ quan công tố.
Các địa phương tùy vào ngân sách và tình hình an ninh mà quyết định số lượng cảnh sát. Không để tình trạng như TPHCM phải lấy thanh niên xung phong ra điều khiển giao thông và chống cướp bằng lực lượng từ trung ương cứu viện.
Thật là nguy hiểm nếu lực lượng công an, quân đội thay vì trung thành với quốc gia lại trung thành với đảng phái. Ðảng có thể nay tồn, mai vong nhưng Nước thì muôn đời phải giữ. Nếu quân đội không coi nhiệm vụ quan trọng nhất là giữ nước thì khi trong Ðảng có bất đồng, quân đội mất phương hướng, những kẻ có dã tâm lãnh thổ như Trung Quốc rất dễ thừa cơ chiếm nốt Trường Sa bằng một cuộc chiến tranh cục bộ.
Cũng cần tách bạch hành pháp chính trị và hành chính công vụ để khi Ðảng tan rã thì chỉ có chức năng hành pháp chính trị tạm ngưng, trộm cướp vẫn có người bắt; đèn xanh, đèn đỏ vẫn sáng ở ngã tư; người dân vẫn có thể làm passport, đăng ký xe và sang tên nhà, đất...
Bước thứ ba, Ủy Ban Sửa Ðổi Hiến Pháp trình những mô hình hành chánh, tư pháp tương thích này để Quốc Hội thông qua. Sau đó tới bước thứ tư mới tiến hành cho chuyên viên thảo ra Hiến Pháp. Do đã trưng cầu dân ý, Hiến Pháp chỉ cần 2/3 tổng số đại biểu thông qua chứ không cần đưa ra phúc quyết toàn dân. Chỉ phải giữ nguyên tắc cái gì dân đã quyết khi trưng cầu dân ý thì Quốc Hội không có quyền thay đổi.
Cũng có thể rút ra các bài học lập hiến từ Việt Nam. Hiến Pháp 1946 từng được viết bởi những trí thức có tinh thần pháp quyền và bác ái, tự do. Cho dù nó được quyết định bởi một Quốc Hội được bầu lên trong cuộc tổng tuyển cử do Việt Minh kiểm soát, Hiến Pháp 1946 đã được thông qua bởi những người yêu nước và khát khao độc lập, tự do.
Tuy chưa được công bố chính thức do chiến tranh nhưng Hiến Pháp 1946 đã có hiệu lực trên thực tế. Hồ Chí Minh đóng một vai trò quan trọng trong Hiến Pháp 1946, nhưng chính ông, sau khi đi dự Hội nghị 81 đảng cộng sản và phong trào công nhân quốc tế từ Moscow trở về, đã phế bỏ bản Hiến Pháp dân chủ này để thay thế bằng Hiến Pháp 1959.
Theo Bộ Trưởng Nguyễn Ðình Lộc, Hiến Pháp 1959 được dịch ra từ Hiến Pháp Liên Xô nhưng qua bản tiếng Trung nên nhiều định chế nhà nước đã được bắt chước một cách vội vã và không chính xác. Hiến Pháp 1980 cũng bắt chước Hiến Pháp của các nước cộng sản Ðông Âu, áp dụng nguyên xi những định chế mà ngay sau đó đã bị các nước này bãi bỏ. Không nên sợ hãi trước những mô hình nhà nước đã được áp dụng thành công. “Nhập khẩu” mô hình chính trị đã là truyền thống mà Ðảng Cộng sản Việt Nam bắt đầu từ năm 1959.
Một chế độ toàn trị thường đi đến sụp đổ hoặc tiếp tục tồn tại bằng cách siết chặt dân chủ, tự do. Quá trình này càng kéo dài bao nhiêu thì càng hủy hoại các nguồn lực và giá trị quốc gia tới đó. Sự sụp đổ hay sự ngắc ngoải của chế độ đều trút hậu quả lên đầu thường dân. Chủ động cải cách để từng bước trao mọi quyền lực cho nhân dân không chỉ là lối thoát của Việt Nam mà còn là cánh cửa để Ðảng thoát ra trong danh dự.
CSVN Thêm Trọng Tội, Nếu...
Tác giả : Vi Anh
Thái độ nước lớn mà thiếu văn minh của Trung Cộng trên thế giới, hành động bành trướng của TC lấn biển, chiếm đảo của các nước lân cận tại Á châu Thái Bình Dương, gây bất ổn cho Á châu Thái bình dương- hành động ngang ngược đó của TC đã làm cho nhiều nhà đầu tư ngoại quốc chào TC bằng chân.
Tân Thủ Tướng Nhựt Shinzo Abe dành chuyến công du đầu tiên cho ba nước Đông Nam Á, Việt Nam, Thái Lan, và Nam Dương – đó là một dấu chỉ điễn hình, quá rõ cho khuynh hướng kinh doanh của thế giới là xa lìa TC, chuyển sang các nước khác ở Á châu. Đây là cơ hội bằng vàng cho Việt Nam trong việc thu hút đầu tư của các nước đang rút ra khỏi TC hay muốn đến Á châu để sản xuất kinh doanh. Về phía nhân dân và trên phương diện thuần kinh tế, VN là nơi lý tưởng để ngoại quốc đầu tư, một địa bàn kinh tế đầy tiềm năng, một thị trường lao động công xá còn thấp, môi trường sản xuất còn ổn, phân nửa dân số là trẻ. Cơ hội bằng vàng đó, lợi thế lao động của người dân và kinh tế của đất nước đó có thế mất, nếu nhà cầm quyền, Đảng Nhà Nước CSVN đảng trị toàn diện không thực sự ra tay một chút, bài trừ tham nhũng một phần nào. Nếu Đảng CS không trị tham nhũng để mất cơ hội đầu tư ngoại quốc vào VN, là Đảng CS thêm một trọng tội đối với quốc gia dân tộc VN.
Mới đầu năm 2013, nhiều dấu chỉ cho thấy đầu tư ngoại quốc đã đổ vào VN. Tin đài VOA, tiếng nói chánh thức của chánh quyền Mỹ, số vồn đầu tư ngoại quốc FDI đã đăng bộ vào VN là 280 triệu đô la, chỉ trong tháng giêng năm nay thôi. Thông tấn xã UPI ghi rõ đầu tư vào kỹ nghệ chế biến là 202 triệu, bất động sản 50 triệu, và kỹ thuật 14 triệu. Nhựt đứng đầu với hơn 157 triệu, Thái trên 54 triệu, và Pháp đứng hạng ba với 20 triệu Mỹ kim.
Tin vui không phải chỉ cho tháng đầu của năm 2013, mà trong năm rồi 2012,Việt Nam vẫn là nơi Nhựt đầu tư nhiều nhứt ở Đông Nam Á, trong các lĩnh vực như thông tin, phần mềm, mua bán sỉ-lẻ, và y tế.
ASEAN cũng cho biết VN là nước đứng hạng nhì trên danh sách các nước của hiệp hội thu hút đầu tư ngoại quốc, chỉ sau Indonesia, nhưng trước Singapore, Thái Lan, và Malaysia.
Năm 2013, với phát triển tương quan rất tốt đối với Mỹ và Nga, VN theo dự đoán của các nhà phân tích kinh tế chánh trị, sẽ là nước Mỹ và Nga đổ nguồn đầu tư FDI vào nhiều hơn.
Tư khi VN mở cửa cho đầu tư ngoại quốc vào, người dân VN, đặc biệt là thành phần lao động sản xuất và dịch vụ đã làm tất cả những gì có thể làm được và không từ bỏ cơ hội nào, nhiều khi đành thắt lưng buộc bụng cam chịu công xá thấp, điều kiện lao động xấu, cô gắng đem con tim, khối óc, bàn tay và mồ hôi, lắm khi nước mắt nữa. Và đất nước do ông bà VN để lại đã cung ứng hào phóng tài nguyên, giang sơn gấm vóc để biến VN thành một môi trường kinh tế đầy tiềm năng.
Nhưng Đảng Nhà Nước CSVN nắm toàn quyền chánh trị, độc tài đảng trị toàn diện, trên phương diện chánh trị lại làm ung thối môi trường kinh tế VN, bởi một số lớn cán bộ, đảng viên của Đảng CSVN thành sâu dân mọt nước.
Giai đoạn hiện thời ngoại quốc từ bỏ TC dồn đầu tư vào VN, là cơ hội bằng vàng. Cơ hội quí hiếm đó sẽ bị hủy hoại nếu Đảng Nhà Nước không cố gắng một chút thôi, không thực tâm một phần thôi, trong việc bài trừ tham nhũng.
Sở dĩ nói cố gắng một chút thôi, thực tâm một phần thôi, trong việc bài trừ tham nhũng vì với độc quyền đảng trị toàn diện của Đảng Nhà Nước CSVN, việc bài trừ tham nhũng là “chuyện nhỏ”. Chỉ có cán bộ, đảng viên có quyền thế mới tham nhũng được. Kỷ luật của Đảng là kỷ luật sắt. Tổ chức Đảng cứng như đá. Nếu Đảng muốn trừng trị thì đảng viên cán bộ tham nhũng chẳng “nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ” đối với Đảng CSVN. Nhưng nếu Đảng CSVN cứ ầu ơ ví dầu với tham nhũng như hồi đó tới giờ thì môi trường đầu tư đang ung thúi, sẽ bị hoại thư, chắc chắn ngoại quốc phải xa lánh. Bên cạnh VN còn nhiểu nước đang đón chờ, cạnh tranh thu hút đầu tư ngoại quốc - chớ Đông Nam Á không phải chỉ có VN.
Các nhà đầu tư ngoại quốc không dại gì bước chân vào một vũng sình tham nhũng. Các nhà đầu tư ngoại quốc sợ sẽ bị “văng miểng” khi hối lộ ở VN. Hầu hết các nước văn minh, luật trừng phạt người nhận lẫn ngươi đút hối lộ. Tội gì nhà đầu tư ngoại quốc hối lộ cho cán bộ đảng viên CSVN để về nước bị tội liên can như một số tiền lệ người Nhựt lo hối lộ ở VN, bị tòa án Nhựt điều tra, xét xử và bị tù như đã thấy.
Cơ hội bằng vàng đầu tư ngoại quốc đổ vào VN rất mong manh, có thể chợt loé lên rồi sẽ tắt rụi vì tệ trạng tham nhũng của cán bộ, đảng viên CS. Tệ nạn hối lộ, tham nhũng ở VN có người nói đã thành quốc nạn rồi.
Báo The National ngày 20/2 có bài báo, tựa nghe mà đau thương cho VN trong thời CS: “Tham nhũng làm ô danh môi trường đầu tư Việt Nam”. Phân nửa các doanh nghiệp thừa nhận có hối lộ cho quan chức nhà nước để giành được các hợp đồng kinh doanh. Theo nhận xét của tác giả bài viết, 5 năm trước đây Việt Nam là đối thủ cạnh tranh thu hút đầu tư ngoại quốc như một trung tâm sản xuất giá rẻ trong khu vực, ngang với Trung Quốc. Nhưng vì tham nhũng mà bây giờ Việt Nam thua các nước như Indonesia về mặt hiệu quả đầu tư và giá trị tiền tệ.
Còn Ngân hàng Thế giới trong phúc trình thường niên hồi cuối năm ngoái nói đã tới lúc Việt Nam cần quyết liệt chống tham nhũng, ít nhất 1/3 dân số Việt Nam xác định tham nhũng là một trong những vấn đề nhức nhối của Việt Nam.
Đã đến phiên Đảng CSVN phải thực tâm, thực sự bài trừ tham nhũng, nếu không sẽ mất lợi thế kinh tế của đất nước, mang trọng tội với tiền đồ dân tộc. Đảng hoàn toàn trách nhiệm, chớ không thể đổ tội cho ai nữa cả. Đảng đã giành lại quyền, đã gỡ khỏi tay Thủ tướng Nguyển tấn Dũng, lấy lại nắm chặt trong tay quyển bài trừ tham nhũng. Đảng, đích thân Tổng Bí Thư Nguyễn phú Trọng đã lập và nắm Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng. Đảng đã lập Ban Nội chính Trung ương làm cơ quan tham mưu, điều hành trực tiếp với trung ương Đảng. Đảng đã cử ông Nguyễn Bá Thanh và cho thêm hai phó ban và 108 nhân viên làm việc cho Ban Nội Chính. Đảng đã cho Ban ra mắt chính thức vào ngày 4/2/2013.
Từ nay việc chống tham nhũng, thành, bại là do Đảng CSVN. Đảng không thể đổ tội tham nhũng cho ai được nữa. Đảng không trị tham nhũng, để tham nhũng làm vật cản cho cơ hội ngoại quốc chào TC bằng chân, đổ nguồn đầu tư FDI vào VN là Đảng CSVN thêm một trọng tội nữa với đất nước và nhân dân VN./.( Vi Anh)
Tác giả : Vi Anh
Thái độ nước lớn mà thiếu văn minh của Trung Cộng trên thế giới, hành động bành trướng của TC lấn biển, chiếm đảo của các nước lân cận tại Á châu Thái Bình Dương, gây bất ổn cho Á châu Thái bình dương- hành động ngang ngược đó của TC đã làm cho nhiều nhà đầu tư ngoại quốc chào TC bằng chân.
Tân Thủ Tướng Nhựt Shinzo Abe dành chuyến công du đầu tiên cho ba nước Đông Nam Á, Việt Nam, Thái Lan, và Nam Dương – đó là một dấu chỉ điễn hình, quá rõ cho khuynh hướng kinh doanh của thế giới là xa lìa TC, chuyển sang các nước khác ở Á châu. Đây là cơ hội bằng vàng cho Việt Nam trong việc thu hút đầu tư của các nước đang rút ra khỏi TC hay muốn đến Á châu để sản xuất kinh doanh. Về phía nhân dân và trên phương diện thuần kinh tế, VN là nơi lý tưởng để ngoại quốc đầu tư, một địa bàn kinh tế đầy tiềm năng, một thị trường lao động công xá còn thấp, môi trường sản xuất còn ổn, phân nửa dân số là trẻ. Cơ hội bằng vàng đó, lợi thế lao động của người dân và kinh tế của đất nước đó có thế mất, nếu nhà cầm quyền, Đảng Nhà Nước CSVN đảng trị toàn diện không thực sự ra tay một chút, bài trừ tham nhũng một phần nào. Nếu Đảng CS không trị tham nhũng để mất cơ hội đầu tư ngoại quốc vào VN, là Đảng CS thêm một trọng tội đối với quốc gia dân tộc VN.
Mới đầu năm 2013, nhiều dấu chỉ cho thấy đầu tư ngoại quốc đã đổ vào VN. Tin đài VOA, tiếng nói chánh thức của chánh quyền Mỹ, số vồn đầu tư ngoại quốc FDI đã đăng bộ vào VN là 280 triệu đô la, chỉ trong tháng giêng năm nay thôi. Thông tấn xã UPI ghi rõ đầu tư vào kỹ nghệ chế biến là 202 triệu, bất động sản 50 triệu, và kỹ thuật 14 triệu. Nhựt đứng đầu với hơn 157 triệu, Thái trên 54 triệu, và Pháp đứng hạng ba với 20 triệu Mỹ kim.
Tin vui không phải chỉ cho tháng đầu của năm 2013, mà trong năm rồi 2012,Việt Nam vẫn là nơi Nhựt đầu tư nhiều nhứt ở Đông Nam Á, trong các lĩnh vực như thông tin, phần mềm, mua bán sỉ-lẻ, và y tế.
ASEAN cũng cho biết VN là nước đứng hạng nhì trên danh sách các nước của hiệp hội thu hút đầu tư ngoại quốc, chỉ sau Indonesia, nhưng trước Singapore, Thái Lan, và Malaysia.
Năm 2013, với phát triển tương quan rất tốt đối với Mỹ và Nga, VN theo dự đoán của các nhà phân tích kinh tế chánh trị, sẽ là nước Mỹ và Nga đổ nguồn đầu tư FDI vào nhiều hơn.
Tư khi VN mở cửa cho đầu tư ngoại quốc vào, người dân VN, đặc biệt là thành phần lao động sản xuất và dịch vụ đã làm tất cả những gì có thể làm được và không từ bỏ cơ hội nào, nhiều khi đành thắt lưng buộc bụng cam chịu công xá thấp, điều kiện lao động xấu, cô gắng đem con tim, khối óc, bàn tay và mồ hôi, lắm khi nước mắt nữa. Và đất nước do ông bà VN để lại đã cung ứng hào phóng tài nguyên, giang sơn gấm vóc để biến VN thành một môi trường kinh tế đầy tiềm năng.
Nhưng Đảng Nhà Nước CSVN nắm toàn quyền chánh trị, độc tài đảng trị toàn diện, trên phương diện chánh trị lại làm ung thối môi trường kinh tế VN, bởi một số lớn cán bộ, đảng viên của Đảng CSVN thành sâu dân mọt nước.
Giai đoạn hiện thời ngoại quốc từ bỏ TC dồn đầu tư vào VN, là cơ hội bằng vàng. Cơ hội quí hiếm đó sẽ bị hủy hoại nếu Đảng Nhà Nước không cố gắng một chút thôi, không thực tâm một phần thôi, trong việc bài trừ tham nhũng.
Sở dĩ nói cố gắng một chút thôi, thực tâm một phần thôi, trong việc bài trừ tham nhũng vì với độc quyền đảng trị toàn diện của Đảng Nhà Nước CSVN, việc bài trừ tham nhũng là “chuyện nhỏ”. Chỉ có cán bộ, đảng viên có quyền thế mới tham nhũng được. Kỷ luật của Đảng là kỷ luật sắt. Tổ chức Đảng cứng như đá. Nếu Đảng muốn trừng trị thì đảng viên cán bộ tham nhũng chẳng “nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ” đối với Đảng CSVN. Nhưng nếu Đảng CSVN cứ ầu ơ ví dầu với tham nhũng như hồi đó tới giờ thì môi trường đầu tư đang ung thúi, sẽ bị hoại thư, chắc chắn ngoại quốc phải xa lánh. Bên cạnh VN còn nhiểu nước đang đón chờ, cạnh tranh thu hút đầu tư ngoại quốc - chớ Đông Nam Á không phải chỉ có VN.
Các nhà đầu tư ngoại quốc không dại gì bước chân vào một vũng sình tham nhũng. Các nhà đầu tư ngoại quốc sợ sẽ bị “văng miểng” khi hối lộ ở VN. Hầu hết các nước văn minh, luật trừng phạt người nhận lẫn ngươi đút hối lộ. Tội gì nhà đầu tư ngoại quốc hối lộ cho cán bộ đảng viên CSVN để về nước bị tội liên can như một số tiền lệ người Nhựt lo hối lộ ở VN, bị tòa án Nhựt điều tra, xét xử và bị tù như đã thấy.
Cơ hội bằng vàng đầu tư ngoại quốc đổ vào VN rất mong manh, có thể chợt loé lên rồi sẽ tắt rụi vì tệ trạng tham nhũng của cán bộ, đảng viên CS. Tệ nạn hối lộ, tham nhũng ở VN có người nói đã thành quốc nạn rồi.
Báo The National ngày 20/2 có bài báo, tựa nghe mà đau thương cho VN trong thời CS: “Tham nhũng làm ô danh môi trường đầu tư Việt Nam”. Phân nửa các doanh nghiệp thừa nhận có hối lộ cho quan chức nhà nước để giành được các hợp đồng kinh doanh. Theo nhận xét của tác giả bài viết, 5 năm trước đây Việt Nam là đối thủ cạnh tranh thu hút đầu tư ngoại quốc như một trung tâm sản xuất giá rẻ trong khu vực, ngang với Trung Quốc. Nhưng vì tham nhũng mà bây giờ Việt Nam thua các nước như Indonesia về mặt hiệu quả đầu tư và giá trị tiền tệ.
Còn Ngân hàng Thế giới trong phúc trình thường niên hồi cuối năm ngoái nói đã tới lúc Việt Nam cần quyết liệt chống tham nhũng, ít nhất 1/3 dân số Việt Nam xác định tham nhũng là một trong những vấn đề nhức nhối của Việt Nam.
Đã đến phiên Đảng CSVN phải thực tâm, thực sự bài trừ tham nhũng, nếu không sẽ mất lợi thế kinh tế của đất nước, mang trọng tội với tiền đồ dân tộc. Đảng hoàn toàn trách nhiệm, chớ không thể đổ tội cho ai nữa cả. Đảng đã giành lại quyền, đã gỡ khỏi tay Thủ tướng Nguyển tấn Dũng, lấy lại nắm chặt trong tay quyển bài trừ tham nhũng. Đảng, đích thân Tổng Bí Thư Nguyễn phú Trọng đã lập và nắm Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng. Đảng đã lập Ban Nội chính Trung ương làm cơ quan tham mưu, điều hành trực tiếp với trung ương Đảng. Đảng đã cử ông Nguyễn Bá Thanh và cho thêm hai phó ban và 108 nhân viên làm việc cho Ban Nội Chính. Đảng đã cho Ban ra mắt chính thức vào ngày 4/2/2013.
Từ nay việc chống tham nhũng, thành, bại là do Đảng CSVN. Đảng không thể đổ tội tham nhũng cho ai được nữa. Đảng không trị tham nhũng, để tham nhũng làm vật cản cho cơ hội ngoại quốc chào TC bằng chân, đổ nguồn đầu tư FDI vào VN là Đảng CSVN thêm một trọng tội nữa với đất nước và nhân dân VN./.( Vi Anh)
Ðất Việt nước non xưa
Friday, February 22, 2013 8:20:42 PM
Ngô Nhân Dụng Sau này, lịch sử chắc sẽ ghi nhận có một phong trào phục hưng tinh thần của dân tộc Việt Nam vào đầu thế kỷ 21. Trong mấy năm nay, số người làm mạng (bloggers) tăng lên rất nhanh. Tạ Phong Tần, Nguyễn Văn Hải đã bị tù vì dùng blog đánh thức đồng bào trước mối họa Bắc thuộc có thể tái diễn.
Cụ già tuổi 90 như nhạc sĩ Tô Hải cũng cặm cụi học kỹ thuật mới, chủ trì một diễn đàn cho đám con cháu và bạn bè vào uống chén trà xuông và thảo luận. Người ta góp ý kiến về tương lai, về nhân phẩm, về tự do dân chủ, về các cuộc biểu tình và cả về đám tang Phạm Duy.
Những cuộc tập họp trên mạng sôi nổi không khác gì những cuộc biểu tình! Và chắc chắn đông đúc hơn. Nhờ thế mà người dân cảm thấy hết sợ cường quyền! Hết sợ, không còn thấy điều gì cấm kỵ mà không dám nói. Nhiều người đã nói thẳng: Phải bỏ điều số 4 trong hiến pháp, tức là bãi bỏ độc quyền lãnh đạo của đảng Cộng Sản! Ðảng Cộng Sản lúng túng đến nỗi phải cho một “cậu bé” ra múa may lên giọng quả quyết: “Ðảng... đủ tín nhiệm, đủ trí tuệ, bản lĩnh, niềm tin... để lãnh đạo toàn dân ta tiếp tục tiến bước theo con đường đã chọn đưa dân tộc lên đài vinh quang, đưa đất nước ta sánh vai với các cường quốc...” Nghe nói cứ y như thật! Nếu toàn dân ta cứ tiếp tục tiến bước theo con đường của Trọng Lú và Ðồng chí Ếch thêm dăm năm nữa thì không biết sẽ còn bao nhiêu vụ PMU hay Vinashin?
Lại quả quyết: “Không một thế lực nào, một đảng phái nào làm thay được vai trò lịch sử của đảng ta.” Nhưng nhiều người Việt đang tự động làm thay “vai trò lịch sử của đảng ta” rồi. Nói mãi rồi, thế nào cũng tới lúc phải hành động, kẻo chính mình soi gương cũng mắc cỡ! Mấy chục nhà trí thức ở Sài Gòn đã “thay đảng ta” tự đứng ra tổ chức lễ tưởng niệm những tử sĩ bị “quân nhà Hán” tàn sát trong cuộc chiến năm 1979, trước đám công an hằm hè đe dọa. Một cuộc chiến tranh thảm khốc như vậy mà đến ngày kỷ niệm cả bộ máy nhà nước lại cấm không cho ai được tưởng nhớ. Thế thì người dân tự ý làm lấy. Ðảng và nhà nước đã chịu thua. Các nông dân mất đất, mất ruộng có thể theo gương mà hành động. Người dân đã hết sợ.
Có gì đang thay đổi trong nước Việt Nam? Thay đổi quan trọng nhất là trong cái đầu. Mà cái đầu người dân quả đang thay đổi. Người ta dám nói, dám làm. Nhờ có những nhà trí thức can đảm. Nhờ có những bloggers và những nông dân đi biểu tình. Người Việt đang phát động một phong trào phục hưng tinh thần: Hết sợ!
Ðây là một điềm đáng mừng. Bởi vì rỗng trong cái đầu của cả guồng máy cai trị đất nước đang hoàn toàn trống rỗng. Họ vẫn bô bô hét to những khẩu hiệu cũ kỹ, nhưng trong bụng hết tin từ lâu rồi. Ðầu trống tuếch, cho nên hai tay lo vơ vét cho lẹ. Cái đầu đảng Cộng Sản là một hố thẳm, không còn chủ nghĩa, lý thuyết nào nữa. Chỉ thấy quyền và tiền! Nhưng một dân tộc thì không thể sống như vậy được. Một dân tộc còn tồn tại, không bị tiêu diệt, là nhờ cái đầu còn hoạt động. Giáo Sư Nguyễn Quốc Trị, khi nghiên cứu về sự phát triển của “các nước thứ ba” thời 1970, 80, đã nhận xét rằng kinh tế phát triển mạnh nhất ở những nước biết phục hồi văn hóa. Văn hóa đi trước, kinh tế theo sau. Nam Hàn, Ðài Loan, Singapore là những thí dụ thấy rõ. Khi toàn dân chia sẻ những niềm tin, khi họ biết có thể sống thuận thảo với nhau trong một hệ thống giá trị chung, có thể cùng tiến với nhau về một tương lai chung, trong những luật chơi công bằng, dân chủ, thì kinh tế có triển vọng cất cánh. Trước đây một thế kỷ Phan Châu Trinh đã thấy như vậy. Cho nên Phong trào Duy Tân nêu châm ngôn “Phấn dân khí, khai dân trí” (văn hóa) trước khi nói đến “hậu dân sinh,” tức là kinh tế.
Trong lịch sử, những cuộc cách mạng dân tộc thường diễn ra sau những phong trào phục hoạt tinh thần. Dân Ðức có Goethe, có Shiller, Kant trước khi gây phong trào thống nhất. Dân Pháp làm cách mạng sau thời đại Rousseau, Voltaire. Dân Phần Lan bị đế quốc Thụy Ðiển cai trị bảy thế kỷ, đã có lúc sắp bị đồng hóa hết, vì những người có học chỉ còn nói tiếng Thụy Ðiển, quên hẳn tiếng nước mình. Ðến thế kỷ 18 bỗng dưng các nhà trí thức ở đô thị khám phá ra một kho tàng: Nông dân Phần Lan vẫn giữ được tiếng nói! Mà thứ tiếng người Phần Lan nói thuộc một họ ngôn ngữ hoàn toàn khác họ Ấn-Âu của các nước chung quanh (lại có họ hàng với tiếng Hungary, một ốc đảo ngôn ngữ khác). Các nhà trí thức Phần Lan đã gây nên một phong trào “Về mới Mẹ Cha” (tên một bài hát của Nguyễn Ðức Quang). Họ đi học lại tiếng mẹ, đúng ra là tiếng của bà cố, bà tổ, vì nhiều bà mẹ cũng chỉ nói tiếng Thụy Ðiển! Họ bắt đầu hát: “Tôi yêu tiếng nước tôi” theo Sibelius!
Trong cố gắng phục hồi hồn nước, người Phần Lan cũng đi tìm lại những chuyện cổ tích, các bài phong dao, ca dao phổ biến trong dân gian, vẫn được nông dân giữ gìn trong hàng ngàn năm. Họ soạn một tuyển tập, giống như Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Pháp (thế kỷ 15), Việt Ðiện U Linh Tập của Lý Tế Xuyên (thế kỷ 14) ở nước ta. Dân Việt bây giờ còn biết đến những chuyện cổ tích đời Hồng Bàng, chuyện những anh hùng như Lý Phục Man, Triệu Việt Vương, Phùng Hưng là nhờ các cuốn sách này!
Làm sao những câu chuyện như sự tích Thần Núi Tản Viên, Thần Sông Tô Lịch, chuyện Trầu Cau, An Tiêm, Chử Ðồng Tử có thể được lưu giữ và truyền bá bằng cách kể chuyện suốt hai ngàn năm, để sau đó được Lý Tế Xuyên và Trần Thế Pháp ghi lại?
Có những quan đô hộ người Ðường đã giúp một tay. Hai “Ðường Sơn Ðại Huynh” nổi bật trong đám này là Triệu Xương và Tăng Cổn. Hai ông làm tiết độ sứ Giao Châu trong thế kỷ thứ tám từng sống nhiều năm ở nước ta. Cả hai đã tò mò đi nghe người Việt kể chuyện cổ tích cho nhau nghe, và họ thích thú chép lại; trong những sách tên là Phủ Chí và Giao Châu Ký.
Nhưng có những lý do nào khiến các viên quan đô hộ cất công đi tìm hiểu các chuyện thần thoại, cổ tích của người Việt Nam như vậy? Chắc chắn phải có một phong trào phục hoạt văn hóa ở đất Giao Châu trước đó, và đang dâng lên sôi nổi trước mắt hai quan đô hộ này. Người Việt không những chỉ kể chuyện mà còn cúng tế, làm lễ, rước kiệu các vị thần linh và các anh hùng dân tộc đã “hóa thần” để bảo hộ con cháu. “Ðảng và nhà nước” lúc đó cũng không ngăn cấm được các cuộc lễ này, vì người dân chỉ làm theo phong tục đã có từ ngàn năm!
Khi chứng kiến không khí chẩy hội của người Việt trong ngày tưởng niệm Trưng Vương, khi thấy hai làng người Việt cùng tế một thành hoàng Lý Phục Man, (một tướng giỏi của Lý Nam Ðế chết vì nước trước đó ba trăm năm) thì các ông Triệu Xương và Tăng Cổn phải đích thân đi tìm hiểu coi mảnh đất thuộc An Nam Ðô Hộ Phủ này có gì linh thiêng, huyền bí mà muôn người như một, đến ngày là cùng tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ như vậy. Nếu Triệu Xương và Tăng Cổn sống ở thế kỷ 21 này thì chắc họ cũng không ngăn cấm người Việt tưởng niệm các tử sĩ ngày 17 Tháng Hai, hay ngày 19 Tháng Giêng. Có khi họ còn đi nghiên cứu tiểu sử Ngụy Văn Thà để khi về nước viết “Hoàng Sa Ký”.
Việt Ðiện U Linh Tập chép một bài thơ của Tăng Cổn khen ngợi Cao Biền, một tiết độ sứ tiền nhiệm của ông ta. Tăng Cồn, sống ở Giao Châu vài chục năm, mở đầu bài thơ thế này:
Ðất Việt núi sông xưa
Nhà Ðường nhân vật mới
Người cao chí khí cao
Ðộng tĩnh Long thần tới
(Lê Hữu Mục, trong bản dịch Việt Ðiện U Linh Tập)
Nhiều độc giả người Việt đã đọc bài thơ này, nhưng một sử gia người Mỹ đọc và khám phá mấy ý kiến độc đáo. Sử gia Keith Taylor, Ðại Học Cornell, trong cuốn “Nước Việt Nam ra đời” (The Birth of Vietnam) nhận xét về hai câu đầu trong bài thơ này; ông thấy ý tưởng chính là so sánh cảnh vô thường chính trị với lẽ bất biến trong văn hóa. Ông viết: “Hai câu thơ đầu ngụ ý là, trong khi các triều đại (ở Trung Quốc) lên xuống thì các tập tục văn hóa của một dân tộc - bám rễ sâu trong mảnh đất họ sống và trở thành kiên cố nhờ lưu truyền qua bao thế hệ - vẫn là những nét bất biến trong lịch sử.”
Tăng Cổn không dùng các tên gọi do người Hán đặt ra như An Nam, Giao Châu hay Giao Chỉ. Ông gọi tên là Ðất Việt; hai chữ Ðất Việt (một lãnh thổ) đối chọi với hai chữ Nhà Ðường (một triều đại), ở vị trí ngang hàng với nhau. Tăng Cổn lại nói đến núi sông đất Việt trước, còn triều nhà Ðường nói sau. Ông công nhận có một Ðất Việt từ lâu đời, triều đại nhà Ðường nhà Hán đều đến sau cả. Một người làm thơ nổi tiếng như Tăng Cổn thường chọn chữ, đặt câu rất kỹ lưỡng. Hai câu thơ trên cho thấy ông tỏ lòng kính trọng đối với văn hóa và lịch sử miền đất Việt Nam.
Tại sao các tiết độ sứ nhà Ðường lại tôn kính tổ tiên chúng ta như vậy? Chắc chắn họ đã trông thấy trước mắt một phong trào phục hưng văn hóa đang diễn ra ở nước ta. Họ bỏ công tìm hiểu và ghi chép những sự tích của người Việt trong nửa thế kỷ, sau khi Tăng Cổn bỏ chức về nước để tiếp tục làm thơ, viết văn, đất Giao Châu đã nổi lên một phong trào giành độc lập, kết thúc với chiến thắng của Ngô Quyền trên sông Bạch Ðằng.
Cho nên chúng ta vui mừng chứng kiến một phong trào phục hưng tinh thần của người Việt Nam trong mấy năm qua. Giới trí thức đã phát động. Những bạn trẻ như Việt Khang, Huỳnh Thục Vi, đã đứng dậy. Người Việt sẵn sàng đốt đuốc tiến tới, nối tiếp ngọn lửa của tổ tiên đã thắp sáng từ thời Bắc thuộc. Ðất Việt núi sông xưa, vẫn còn đó. Các chế độ tham ác sẽ chấm dứt. Nhớ đến tổ tiên, sẽ vững lòng tin tưởng vào tương lai.
Friday, February 22, 2013 8:20:42 PM
Ngô Nhân Dụng Sau này, lịch sử chắc sẽ ghi nhận có một phong trào phục hưng tinh thần của dân tộc Việt Nam vào đầu thế kỷ 21. Trong mấy năm nay, số người làm mạng (bloggers) tăng lên rất nhanh. Tạ Phong Tần, Nguyễn Văn Hải đã bị tù vì dùng blog đánh thức đồng bào trước mối họa Bắc thuộc có thể tái diễn.
Cụ già tuổi 90 như nhạc sĩ Tô Hải cũng cặm cụi học kỹ thuật mới, chủ trì một diễn đàn cho đám con cháu và bạn bè vào uống chén trà xuông và thảo luận. Người ta góp ý kiến về tương lai, về nhân phẩm, về tự do dân chủ, về các cuộc biểu tình và cả về đám tang Phạm Duy.
Những cuộc tập họp trên mạng sôi nổi không khác gì những cuộc biểu tình! Và chắc chắn đông đúc hơn. Nhờ thế mà người dân cảm thấy hết sợ cường quyền! Hết sợ, không còn thấy điều gì cấm kỵ mà không dám nói. Nhiều người đã nói thẳng: Phải bỏ điều số 4 trong hiến pháp, tức là bãi bỏ độc quyền lãnh đạo của đảng Cộng Sản! Ðảng Cộng Sản lúng túng đến nỗi phải cho một “cậu bé” ra múa may lên giọng quả quyết: “Ðảng... đủ tín nhiệm, đủ trí tuệ, bản lĩnh, niềm tin... để lãnh đạo toàn dân ta tiếp tục tiến bước theo con đường đã chọn đưa dân tộc lên đài vinh quang, đưa đất nước ta sánh vai với các cường quốc...” Nghe nói cứ y như thật! Nếu toàn dân ta cứ tiếp tục tiến bước theo con đường của Trọng Lú và Ðồng chí Ếch thêm dăm năm nữa thì không biết sẽ còn bao nhiêu vụ PMU hay Vinashin?
Lại quả quyết: “Không một thế lực nào, một đảng phái nào làm thay được vai trò lịch sử của đảng ta.” Nhưng nhiều người Việt đang tự động làm thay “vai trò lịch sử của đảng ta” rồi. Nói mãi rồi, thế nào cũng tới lúc phải hành động, kẻo chính mình soi gương cũng mắc cỡ! Mấy chục nhà trí thức ở Sài Gòn đã “thay đảng ta” tự đứng ra tổ chức lễ tưởng niệm những tử sĩ bị “quân nhà Hán” tàn sát trong cuộc chiến năm 1979, trước đám công an hằm hè đe dọa. Một cuộc chiến tranh thảm khốc như vậy mà đến ngày kỷ niệm cả bộ máy nhà nước lại cấm không cho ai được tưởng nhớ. Thế thì người dân tự ý làm lấy. Ðảng và nhà nước đã chịu thua. Các nông dân mất đất, mất ruộng có thể theo gương mà hành động. Người dân đã hết sợ.
Có gì đang thay đổi trong nước Việt Nam? Thay đổi quan trọng nhất là trong cái đầu. Mà cái đầu người dân quả đang thay đổi. Người ta dám nói, dám làm. Nhờ có những nhà trí thức can đảm. Nhờ có những bloggers và những nông dân đi biểu tình. Người Việt đang phát động một phong trào phục hưng tinh thần: Hết sợ!
Ðây là một điềm đáng mừng. Bởi vì rỗng trong cái đầu của cả guồng máy cai trị đất nước đang hoàn toàn trống rỗng. Họ vẫn bô bô hét to những khẩu hiệu cũ kỹ, nhưng trong bụng hết tin từ lâu rồi. Ðầu trống tuếch, cho nên hai tay lo vơ vét cho lẹ. Cái đầu đảng Cộng Sản là một hố thẳm, không còn chủ nghĩa, lý thuyết nào nữa. Chỉ thấy quyền và tiền! Nhưng một dân tộc thì không thể sống như vậy được. Một dân tộc còn tồn tại, không bị tiêu diệt, là nhờ cái đầu còn hoạt động. Giáo Sư Nguyễn Quốc Trị, khi nghiên cứu về sự phát triển của “các nước thứ ba” thời 1970, 80, đã nhận xét rằng kinh tế phát triển mạnh nhất ở những nước biết phục hồi văn hóa. Văn hóa đi trước, kinh tế theo sau. Nam Hàn, Ðài Loan, Singapore là những thí dụ thấy rõ. Khi toàn dân chia sẻ những niềm tin, khi họ biết có thể sống thuận thảo với nhau trong một hệ thống giá trị chung, có thể cùng tiến với nhau về một tương lai chung, trong những luật chơi công bằng, dân chủ, thì kinh tế có triển vọng cất cánh. Trước đây một thế kỷ Phan Châu Trinh đã thấy như vậy. Cho nên Phong trào Duy Tân nêu châm ngôn “Phấn dân khí, khai dân trí” (văn hóa) trước khi nói đến “hậu dân sinh,” tức là kinh tế.
Trong lịch sử, những cuộc cách mạng dân tộc thường diễn ra sau những phong trào phục hoạt tinh thần. Dân Ðức có Goethe, có Shiller, Kant trước khi gây phong trào thống nhất. Dân Pháp làm cách mạng sau thời đại Rousseau, Voltaire. Dân Phần Lan bị đế quốc Thụy Ðiển cai trị bảy thế kỷ, đã có lúc sắp bị đồng hóa hết, vì những người có học chỉ còn nói tiếng Thụy Ðiển, quên hẳn tiếng nước mình. Ðến thế kỷ 18 bỗng dưng các nhà trí thức ở đô thị khám phá ra một kho tàng: Nông dân Phần Lan vẫn giữ được tiếng nói! Mà thứ tiếng người Phần Lan nói thuộc một họ ngôn ngữ hoàn toàn khác họ Ấn-Âu của các nước chung quanh (lại có họ hàng với tiếng Hungary, một ốc đảo ngôn ngữ khác). Các nhà trí thức Phần Lan đã gây nên một phong trào “Về mới Mẹ Cha” (tên một bài hát của Nguyễn Ðức Quang). Họ đi học lại tiếng mẹ, đúng ra là tiếng của bà cố, bà tổ, vì nhiều bà mẹ cũng chỉ nói tiếng Thụy Ðiển! Họ bắt đầu hát: “Tôi yêu tiếng nước tôi” theo Sibelius!
Trong cố gắng phục hồi hồn nước, người Phần Lan cũng đi tìm lại những chuyện cổ tích, các bài phong dao, ca dao phổ biến trong dân gian, vẫn được nông dân giữ gìn trong hàng ngàn năm. Họ soạn một tuyển tập, giống như Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Pháp (thế kỷ 15), Việt Ðiện U Linh Tập của Lý Tế Xuyên (thế kỷ 14) ở nước ta. Dân Việt bây giờ còn biết đến những chuyện cổ tích đời Hồng Bàng, chuyện những anh hùng như Lý Phục Man, Triệu Việt Vương, Phùng Hưng là nhờ các cuốn sách này!
Làm sao những câu chuyện như sự tích Thần Núi Tản Viên, Thần Sông Tô Lịch, chuyện Trầu Cau, An Tiêm, Chử Ðồng Tử có thể được lưu giữ và truyền bá bằng cách kể chuyện suốt hai ngàn năm, để sau đó được Lý Tế Xuyên và Trần Thế Pháp ghi lại?
Có những quan đô hộ người Ðường đã giúp một tay. Hai “Ðường Sơn Ðại Huynh” nổi bật trong đám này là Triệu Xương và Tăng Cổn. Hai ông làm tiết độ sứ Giao Châu trong thế kỷ thứ tám từng sống nhiều năm ở nước ta. Cả hai đã tò mò đi nghe người Việt kể chuyện cổ tích cho nhau nghe, và họ thích thú chép lại; trong những sách tên là Phủ Chí và Giao Châu Ký.
Nhưng có những lý do nào khiến các viên quan đô hộ cất công đi tìm hiểu các chuyện thần thoại, cổ tích của người Việt Nam như vậy? Chắc chắn phải có một phong trào phục hoạt văn hóa ở đất Giao Châu trước đó, và đang dâng lên sôi nổi trước mắt hai quan đô hộ này. Người Việt không những chỉ kể chuyện mà còn cúng tế, làm lễ, rước kiệu các vị thần linh và các anh hùng dân tộc đã “hóa thần” để bảo hộ con cháu. “Ðảng và nhà nước” lúc đó cũng không ngăn cấm được các cuộc lễ này, vì người dân chỉ làm theo phong tục đã có từ ngàn năm!
Khi chứng kiến không khí chẩy hội của người Việt trong ngày tưởng niệm Trưng Vương, khi thấy hai làng người Việt cùng tế một thành hoàng Lý Phục Man, (một tướng giỏi của Lý Nam Ðế chết vì nước trước đó ba trăm năm) thì các ông Triệu Xương và Tăng Cổn phải đích thân đi tìm hiểu coi mảnh đất thuộc An Nam Ðô Hộ Phủ này có gì linh thiêng, huyền bí mà muôn người như một, đến ngày là cùng tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ như vậy. Nếu Triệu Xương và Tăng Cổn sống ở thế kỷ 21 này thì chắc họ cũng không ngăn cấm người Việt tưởng niệm các tử sĩ ngày 17 Tháng Hai, hay ngày 19 Tháng Giêng. Có khi họ còn đi nghiên cứu tiểu sử Ngụy Văn Thà để khi về nước viết “Hoàng Sa Ký”.
Việt Ðiện U Linh Tập chép một bài thơ của Tăng Cổn khen ngợi Cao Biền, một tiết độ sứ tiền nhiệm của ông ta. Tăng Cồn, sống ở Giao Châu vài chục năm, mở đầu bài thơ thế này:
Ðất Việt núi sông xưa
Nhà Ðường nhân vật mới
Người cao chí khí cao
Ðộng tĩnh Long thần tới
(Lê Hữu Mục, trong bản dịch Việt Ðiện U Linh Tập)
Nhiều độc giả người Việt đã đọc bài thơ này, nhưng một sử gia người Mỹ đọc và khám phá mấy ý kiến độc đáo. Sử gia Keith Taylor, Ðại Học Cornell, trong cuốn “Nước Việt Nam ra đời” (The Birth of Vietnam) nhận xét về hai câu đầu trong bài thơ này; ông thấy ý tưởng chính là so sánh cảnh vô thường chính trị với lẽ bất biến trong văn hóa. Ông viết: “Hai câu thơ đầu ngụ ý là, trong khi các triều đại (ở Trung Quốc) lên xuống thì các tập tục văn hóa của một dân tộc - bám rễ sâu trong mảnh đất họ sống và trở thành kiên cố nhờ lưu truyền qua bao thế hệ - vẫn là những nét bất biến trong lịch sử.”
Tăng Cổn không dùng các tên gọi do người Hán đặt ra như An Nam, Giao Châu hay Giao Chỉ. Ông gọi tên là Ðất Việt; hai chữ Ðất Việt (một lãnh thổ) đối chọi với hai chữ Nhà Ðường (một triều đại), ở vị trí ngang hàng với nhau. Tăng Cổn lại nói đến núi sông đất Việt trước, còn triều nhà Ðường nói sau. Ông công nhận có một Ðất Việt từ lâu đời, triều đại nhà Ðường nhà Hán đều đến sau cả. Một người làm thơ nổi tiếng như Tăng Cổn thường chọn chữ, đặt câu rất kỹ lưỡng. Hai câu thơ trên cho thấy ông tỏ lòng kính trọng đối với văn hóa và lịch sử miền đất Việt Nam.
Tại sao các tiết độ sứ nhà Ðường lại tôn kính tổ tiên chúng ta như vậy? Chắc chắn họ đã trông thấy trước mắt một phong trào phục hưng văn hóa đang diễn ra ở nước ta. Họ bỏ công tìm hiểu và ghi chép những sự tích của người Việt trong nửa thế kỷ, sau khi Tăng Cổn bỏ chức về nước để tiếp tục làm thơ, viết văn, đất Giao Châu đã nổi lên một phong trào giành độc lập, kết thúc với chiến thắng của Ngô Quyền trên sông Bạch Ðằng.
Cho nên chúng ta vui mừng chứng kiến một phong trào phục hưng tinh thần của người Việt Nam trong mấy năm qua. Giới trí thức đã phát động. Những bạn trẻ như Việt Khang, Huỳnh Thục Vi, đã đứng dậy. Người Việt sẵn sàng đốt đuốc tiến tới, nối tiếp ngọn lửa của tổ tiên đã thắp sáng từ thời Bắc thuộc. Ðất Việt núi sông xưa, vẫn còn đó. Các chế độ tham ác sẽ chấm dứt. Nhớ đến tổ tiên, sẽ vững lòng tin tưởng vào tương lai.
Cái chổi tre
Nguyễn Hưng Quốc (Blog VOA)
Tôi có thói quen đi bộ như một cách tập thể dục hằng ngày. Vừa đi vừa mơ mộng và quan sát chung quanh.
Trong vô số những điều tôi nhìn thấy, có một chuyện, thoạt đầu, tôi thấy bình thường,
không để ý mấy, nhưng sau, càng ngày càng khiến tôi nghĩ ngợi.
Người phu quét đường ở Hà Nội. Hình chụp tháng 11, 2006. Hình minh họa. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)
Ðó là những người đang cắt cỏ, đốn cây hay dọn dẹp rác rến trước nhà hoặc ngoài đường. Có khi họ là công nhân vệ sinh, có khi chỉ là những người tự dọn dẹp vườn tược và bãi cỏ trước cổng nhà mình. Tôi nhận thấy: Cứ hễ có người đi ngang qua, tất cả đều ý tứ dừng tay lại. Ðang quét rác: dừng tay. Ðang cắt cỏ: dừng máy; có người còn giảm tiếng máy nhỏ xuống. Chờ cho khách bộ hành đi qua hẳn, họ mới bắt đầu làm việc lại. Lý do rất đơn giản: Người ta không muốn bụi và rác bắn vào khách đi đường.
Những lúc ấy, tôi cứ nhớ đến Việt Nam. Sau năm 1975, ở đại học, bọn sinh viên Khoa Văn chúng tôi phải học thơ Tố Hữu khá nhiều. Trong đó có bài “Tiếng chổi tre,” đến bây giờ, tôi vẫn còn nhớ:
Những đêm hè
Khi ve ve
Ðã ngủ
Tôi lắng nghe
Trên đường Trần Phú
Tiếng chổi tre
Xao xác hàng me
Tiếng chổi tre
Ðêm hè
Quét rác...
Những đêm đông
Khi cơn dông
Vừa tắt
Tôi đứng trông
Trên đường lặng ngắt
Chị lao công
Như sắt
Như đồng
Chị lao công
Ðêm đông
Quét rác...
Sáng mai ra
Gánh hàng hoa
Xuống chợ
Hoa Ngọc Hà
Trên đường rực nở
Hương bay xa
Thơm ngát
Ðường ta
Nhớ nghe hoa
Người quét rác
Ðêm qua.
Nhớ em nghe
Tiếng chổi tre
Chị quét
Những đêm hè
Ðêm đông gió rét
Tiếng chổi tre
Sớm tối
Ði về
Giữ sạch lề
Ðẹp lối
Em nghe!
Dạo ấy, tôi đọc và thuộc lòng bài thơ ấy, nhưng nhớ, dường như chưa bao giờ tôi liên hệ hình ảnh người quét rác được thi vị hóa trong bài thơ với những người lao công rách rưới tôi gặp hằng ngày trên đường từ nhà đến trường đại học. Tôi thấy họ, nhưng có lẽ không bao giờ nhìn họ. Họ, cái chổi của họ, tấm khăn họ thường bịt miệng và những đống rác hôi thối bên cạnh họ cứ trôi qua mắt tôi. Rồi biến mất. Cũng không có gì đáng ngạc nhiên. Những năm tháng ấy, ai cũng cùng khổ như nhau. Là sinh viên, rồi sau đó, cán bộ giảng dạy, thực tình, tôi không hề thấy mình khá hơn bất cứ người công nhân lam lũ nào ngoài đường. Cũng đói. Cũng lo lắng vì những chuyện vô cùng lặt vặt. Và cũng tơi tả tuyệt vọng.
Tôi chỉ thực sự chú ý đến những người quét rác và công việc quét rác khi tôi về lại Việt Nam sau bao nhiêu năm sống ở hải ngoại. Thăm Hà Nội, tôi thường ở trong các khách sạn gần hồ Hoàn Kiếm. Sáng, cũng vẫn thói quen đi bộ vòng quanh bờ hồ. Hồ Hoàn Kiếm đẹp. Các sinh hoạt quanh bờ hồ cũng khá dễ thương với những người ung dung tản bộ hoặc tập thể dục. Nhưng thường, trước khi đến bờ hồ, tôi phải đi qua vài con phố nhỏ. Lúc ấy cũng là giờ người ta lục đục mở cửa tiệm. Một trong những công việc đầu tiên khi mở cửa tiệm là dọn dẹp. Ðó cũng là việc mà tôi sợ nhất. Ðang đi bộ, nhởn nhơ nhìn người đi ngược đi xuôi, bỗng nghe “ào,” một đống rác, và cùng với nó, một vùng bụi, từ trong tiệm văng tóe ra ngoài, có khi hắt cả vào người. Vội vàng nhào qua thật nhanh, lấy tay bịt mũi và ngưng cả thở. Nhưng qua đợt bụi và rác này lại đến đợt bụi và rác khác. Từ những tiệm khác. Cứ thế, cả một quãng đường dài. Mà hè phố ở Hà Nội lại hẹp. Không thể tránh được. Nhớ, nghe tôi kể chuyện ấy, bạn bè trong giới văn nghệ ở Hà Nội đều nói: “Còn may!” Hỏi tại sao, họ đáp: Có khi còn lãnh nguyên cả một chậu nước dơ từ trên các tầng lầu cao hắt thẳng xuống đầu!
Trong hoặc sau lúc đi bộ, tôi thường tạt vào một quán cà phê nào đó. Tôi thích những quán cà phê lộ thiên, bày bàn ghế bên ngoài hơn là những căn phòng chật chội và kín mít. Thật thú khi vừa nhâm nhi cà phê vừa nhìn ngắm khung cảnh phố xá và các sinh hoạt chung quanh. Nhưng buổi sáng cũng là lúc các nhân viên vệ sinh làm việc: Họ quét rác ngoài đường hoặc ngay cả trên khoảnh sân thuộc quán cà phê. Bụi và rác văng tung tóe. Lấy tay bịt mũi thì bụi văng vào ly cà phê. Bịt cả hai thì bụi bay vào mặt, vào tóc, vào quần áo. Ðành vội vã trả tiền rồi chạy biến. Và lại chui vào một quán cà phê chật chội và kín mít mà mình, thoạt đầu, không hề thích chút nào cả. Ngay trong những quán cà phê ấy, nếu đúng lúc người ta quét dọn thì cũng khiếp đảm lắm. Bụi không nhiều như ngoài sân hay ngoài đường, dĩ nhiên. Nhưng cũng vẫn là bụi. Những lúc ấy, tôi mới thấy ghét cái chổi tre và, nhất là, cách quét rác của người Việt.
Ðể quét dọn, ở Tây phương, người ta cũng dùng chổi. Chổi của họ khác với chổi của ta về cả hình dáng lẫn chất liệu: Ở ta, chổi thường làm bằng tre (chẻ mỏng) hoặc bằng lá dừa nước (còn gọi là chổi chà) hoặc bằng xơ dừa, bằng cọng đót, bằng rơm rạ, bằng cây thanh hao (một loại sim rừng). Ở Tây phương, người ta làm chổi chủ yếu từ các loại nhựa tổng hợp; và vì làm bằng nhựa, nên hình dạng cũng dễ dàng biến hóa, thành đa dạng hơn. Tuy nhiên, khác biệt quan trọng nhất là ở cách quét. Ở Tây phương, người ta thường lùa rác về phía mình, dồn lại thành đống rồi hốt vất vào thùng rác. Ở Việt Nam, người ta thường hất ngược cây chổi về phía trước, bụi và rác cứ bắn tung lên bất cứ người nào đang đứng hoặc đi ngang qua trước mặt họ. Ðiểm đến của các đống rác ấy thường ít khi đi vào thùng mà là ra ngoài đường. Còn bụi thì chia đều cho mọi người chung quanh.
Cách quét rác như thế có lẽ đã có từ lâu, rất lâu trước khi con người phát hiện ra vi trùng để biết sợ rác và bụi. Còn bây giờ? Nó chỉ tồn tại như một tập quán xấu. Nó không khác tật khạc nhổ nơi công cộng chút nào cả.
Mà không phải chỉ trong chuyện quét rác. Ở Việt Nam, cái chổi còn được sử dụng như một thứ vật dụng để đánh người khác: Với roi, người ta thường đánh vào tay và nhắm đến mục đích răn dạy; với gậy gộc, người ta có thể đánh vào bất cứ bộ phận nào trong thân thể người khác, từ đầu xuống vai, lưng, mông và tay chân, và nhắm đến mục đích trừng phạt, rửa hận hay cho bõ ghét; còn với chổi, người ta thường đánh thẳng vào đầu, với mục đích chủ yếu là sỉ nhục. Chổi càng cũ, càng dơ và càng cùn, mức độ sỉ nhục càng lớn. Cái chổi và cách quét rác còn là một “văn hóa”: Cái văn hóa hất chổi cho bụi và rác bay tung tóe vào mặt mũi người khác như vậy còn phổ biến trong mọi sinh hoạt, từ chính trị đến xã hội của người Việt Nam, kể cả, và đặc biệt trầm trọng nhất, từ những người có chức và có quyền.
Chúng ta hay nói đến vấn đề dân chủ mà thường quên một số sự thật căn bản: Trung tâm của dân chủ là nhân quyền; trung tâm của nhân quyền là biết tôn trọng người khác; nhưng tôn trọng người khác không phải là tôn trọng tính người với những ý niệm trừu tượng như tự do và bình đẳng của họ mà còn phải tôn trọng cả sự hiện diện của họ.
Tranh đấu cho dân chủ, bởi vậy, tôi nghĩ, nên bắt đầu từ những việc cụ thể: cái chổi và văn-hóa-hất-rác-và-bụi vào người khác.
Nguyễn Hưng Quốc (Blog VOA)
Tôi có thói quen đi bộ như một cách tập thể dục hằng ngày. Vừa đi vừa mơ mộng và quan sát chung quanh.
Trong vô số những điều tôi nhìn thấy, có một chuyện, thoạt đầu, tôi thấy bình thường,
không để ý mấy, nhưng sau, càng ngày càng khiến tôi nghĩ ngợi.
Người phu quét đường ở Hà Nội. Hình chụp tháng 11, 2006. Hình minh họa. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)
Ðó là những người đang cắt cỏ, đốn cây hay dọn dẹp rác rến trước nhà hoặc ngoài đường. Có khi họ là công nhân vệ sinh, có khi chỉ là những người tự dọn dẹp vườn tược và bãi cỏ trước cổng nhà mình. Tôi nhận thấy: Cứ hễ có người đi ngang qua, tất cả đều ý tứ dừng tay lại. Ðang quét rác: dừng tay. Ðang cắt cỏ: dừng máy; có người còn giảm tiếng máy nhỏ xuống. Chờ cho khách bộ hành đi qua hẳn, họ mới bắt đầu làm việc lại. Lý do rất đơn giản: Người ta không muốn bụi và rác bắn vào khách đi đường.
Những lúc ấy, tôi cứ nhớ đến Việt Nam. Sau năm 1975, ở đại học, bọn sinh viên Khoa Văn chúng tôi phải học thơ Tố Hữu khá nhiều. Trong đó có bài “Tiếng chổi tre,” đến bây giờ, tôi vẫn còn nhớ:
Những đêm hè
Khi ve ve
Ðã ngủ
Tôi lắng nghe
Trên đường Trần Phú
Tiếng chổi tre
Xao xác hàng me
Tiếng chổi tre
Ðêm hè
Quét rác...
Những đêm đông
Khi cơn dông
Vừa tắt
Tôi đứng trông
Trên đường lặng ngắt
Chị lao công
Như sắt
Như đồng
Chị lao công
Ðêm đông
Quét rác...
Sáng mai ra
Gánh hàng hoa
Xuống chợ
Hoa Ngọc Hà
Trên đường rực nở
Hương bay xa
Thơm ngát
Ðường ta
Nhớ nghe hoa
Người quét rác
Ðêm qua.
Nhớ em nghe
Tiếng chổi tre
Chị quét
Những đêm hè
Ðêm đông gió rét
Tiếng chổi tre
Sớm tối
Ði về
Giữ sạch lề
Ðẹp lối
Em nghe!
Dạo ấy, tôi đọc và thuộc lòng bài thơ ấy, nhưng nhớ, dường như chưa bao giờ tôi liên hệ hình ảnh người quét rác được thi vị hóa trong bài thơ với những người lao công rách rưới tôi gặp hằng ngày trên đường từ nhà đến trường đại học. Tôi thấy họ, nhưng có lẽ không bao giờ nhìn họ. Họ, cái chổi của họ, tấm khăn họ thường bịt miệng và những đống rác hôi thối bên cạnh họ cứ trôi qua mắt tôi. Rồi biến mất. Cũng không có gì đáng ngạc nhiên. Những năm tháng ấy, ai cũng cùng khổ như nhau. Là sinh viên, rồi sau đó, cán bộ giảng dạy, thực tình, tôi không hề thấy mình khá hơn bất cứ người công nhân lam lũ nào ngoài đường. Cũng đói. Cũng lo lắng vì những chuyện vô cùng lặt vặt. Và cũng tơi tả tuyệt vọng.
Tôi chỉ thực sự chú ý đến những người quét rác và công việc quét rác khi tôi về lại Việt Nam sau bao nhiêu năm sống ở hải ngoại. Thăm Hà Nội, tôi thường ở trong các khách sạn gần hồ Hoàn Kiếm. Sáng, cũng vẫn thói quen đi bộ vòng quanh bờ hồ. Hồ Hoàn Kiếm đẹp. Các sinh hoạt quanh bờ hồ cũng khá dễ thương với những người ung dung tản bộ hoặc tập thể dục. Nhưng thường, trước khi đến bờ hồ, tôi phải đi qua vài con phố nhỏ. Lúc ấy cũng là giờ người ta lục đục mở cửa tiệm. Một trong những công việc đầu tiên khi mở cửa tiệm là dọn dẹp. Ðó cũng là việc mà tôi sợ nhất. Ðang đi bộ, nhởn nhơ nhìn người đi ngược đi xuôi, bỗng nghe “ào,” một đống rác, và cùng với nó, một vùng bụi, từ trong tiệm văng tóe ra ngoài, có khi hắt cả vào người. Vội vàng nhào qua thật nhanh, lấy tay bịt mũi và ngưng cả thở. Nhưng qua đợt bụi và rác này lại đến đợt bụi và rác khác. Từ những tiệm khác. Cứ thế, cả một quãng đường dài. Mà hè phố ở Hà Nội lại hẹp. Không thể tránh được. Nhớ, nghe tôi kể chuyện ấy, bạn bè trong giới văn nghệ ở Hà Nội đều nói: “Còn may!” Hỏi tại sao, họ đáp: Có khi còn lãnh nguyên cả một chậu nước dơ từ trên các tầng lầu cao hắt thẳng xuống đầu!
Trong hoặc sau lúc đi bộ, tôi thường tạt vào một quán cà phê nào đó. Tôi thích những quán cà phê lộ thiên, bày bàn ghế bên ngoài hơn là những căn phòng chật chội và kín mít. Thật thú khi vừa nhâm nhi cà phê vừa nhìn ngắm khung cảnh phố xá và các sinh hoạt chung quanh. Nhưng buổi sáng cũng là lúc các nhân viên vệ sinh làm việc: Họ quét rác ngoài đường hoặc ngay cả trên khoảnh sân thuộc quán cà phê. Bụi và rác văng tung tóe. Lấy tay bịt mũi thì bụi văng vào ly cà phê. Bịt cả hai thì bụi bay vào mặt, vào tóc, vào quần áo. Ðành vội vã trả tiền rồi chạy biến. Và lại chui vào một quán cà phê chật chội và kín mít mà mình, thoạt đầu, không hề thích chút nào cả. Ngay trong những quán cà phê ấy, nếu đúng lúc người ta quét dọn thì cũng khiếp đảm lắm. Bụi không nhiều như ngoài sân hay ngoài đường, dĩ nhiên. Nhưng cũng vẫn là bụi. Những lúc ấy, tôi mới thấy ghét cái chổi tre và, nhất là, cách quét rác của người Việt.
Ðể quét dọn, ở Tây phương, người ta cũng dùng chổi. Chổi của họ khác với chổi của ta về cả hình dáng lẫn chất liệu: Ở ta, chổi thường làm bằng tre (chẻ mỏng) hoặc bằng lá dừa nước (còn gọi là chổi chà) hoặc bằng xơ dừa, bằng cọng đót, bằng rơm rạ, bằng cây thanh hao (một loại sim rừng). Ở Tây phương, người ta làm chổi chủ yếu từ các loại nhựa tổng hợp; và vì làm bằng nhựa, nên hình dạng cũng dễ dàng biến hóa, thành đa dạng hơn. Tuy nhiên, khác biệt quan trọng nhất là ở cách quét. Ở Tây phương, người ta thường lùa rác về phía mình, dồn lại thành đống rồi hốt vất vào thùng rác. Ở Việt Nam, người ta thường hất ngược cây chổi về phía trước, bụi và rác cứ bắn tung lên bất cứ người nào đang đứng hoặc đi ngang qua trước mặt họ. Ðiểm đến của các đống rác ấy thường ít khi đi vào thùng mà là ra ngoài đường. Còn bụi thì chia đều cho mọi người chung quanh.
Cách quét rác như thế có lẽ đã có từ lâu, rất lâu trước khi con người phát hiện ra vi trùng để biết sợ rác và bụi. Còn bây giờ? Nó chỉ tồn tại như một tập quán xấu. Nó không khác tật khạc nhổ nơi công cộng chút nào cả.
Mà không phải chỉ trong chuyện quét rác. Ở Việt Nam, cái chổi còn được sử dụng như một thứ vật dụng để đánh người khác: Với roi, người ta thường đánh vào tay và nhắm đến mục đích răn dạy; với gậy gộc, người ta có thể đánh vào bất cứ bộ phận nào trong thân thể người khác, từ đầu xuống vai, lưng, mông và tay chân, và nhắm đến mục đích trừng phạt, rửa hận hay cho bõ ghét; còn với chổi, người ta thường đánh thẳng vào đầu, với mục đích chủ yếu là sỉ nhục. Chổi càng cũ, càng dơ và càng cùn, mức độ sỉ nhục càng lớn. Cái chổi và cách quét rác còn là một “văn hóa”: Cái văn hóa hất chổi cho bụi và rác bay tung tóe vào mặt mũi người khác như vậy còn phổ biến trong mọi sinh hoạt, từ chính trị đến xã hội của người Việt Nam, kể cả, và đặc biệt trầm trọng nhất, từ những người có chức và có quyền.
Chúng ta hay nói đến vấn đề dân chủ mà thường quên một số sự thật căn bản: Trung tâm của dân chủ là nhân quyền; trung tâm của nhân quyền là biết tôn trọng người khác; nhưng tôn trọng người khác không phải là tôn trọng tính người với những ý niệm trừu tượng như tự do và bình đẳng của họ mà còn phải tôn trọng cả sự hiện diện của họ.
Tranh đấu cho dân chủ, bởi vậy, tôi nghĩ, nên bắt đầu từ những việc cụ thể: cái chổi và văn-hóa-hất-rác-và-bụi vào người khác.
“Ngủ Chung Giường”
Vũ Linh ...Obama thao túng truyền thông trong thời gian qua đã trở thành quá dễ dàng...
Ngạn ngữ Mỹ có câu “ngủ chung giường” để chỉ chẳng những chuyện vợ chồng cùng chăn gối, mà cũng để chỉ tình trạng hai người, hay hai nhóm hợp ý với nhau đến độ gần như thông đồng với nhau trong mọi chuyện. Hiểu theo nghiã này thì ai cũng phải công nhận truyền thông dòng chính đã chui vào “ngủ chung giường” với TT Obama ngay từ những ngày đầu khi ông này xuất hiện trên chính trường Mỹ.
Năm 2004, trong Đại Hội đảng Dân Chủ, theo đề nghị của thượng nghị sĩ John Kerry, ứng viên tổng thống năm đó, ban tổ chức đã mời ông Barack Obama, một nghị sĩ vô danh của tiểu bang Illinois lên đọc bài diễn văn chính của đại hội, phác họa đại cương hướng đi của đảng Dân Chủ dưới sự lãnh đạo của ông Kerry. Chẳng những ít người nghe tên, mà ngay chính ông Obama cũng không phải là một chính khách cực kỳ xuất sắc, được sự ngưỡng mộ của đa số cử tri. Năm 2000, ông ra tranh cử dân biểu liên bang trong một địa hạt phiá nam Chicago và bị thảm bại khi đối thủ cùng đảng Dân Chủ của ông thu được gấp hai lần số phiếu của ông.
Tại Đại Hội đảng, với bài diễn văn được trực tiếp truyền hình trên tất cả các đài chính, vào giờ cao điểm –prime time-, ước lượng có gần 10 triệu người coi, truyền thông khám phá ra “của lạ”, khai thác tối đa, thổi ông Obama lên tận mây xanh, ca tụng bài diễn văn của ông Obama như là một tuyệt tác chưa từng thấy từ bài diễn văn tại Gettysburg của TT Abraham Lincoln, cách đây 150 năm.
“Cái lạ” trong ông chính khách Obama quả là rất nhiều: diện mạo bảnh bao, tuổi trẻ đầy tương lai, nói năng hùng hồn, khác xa mấy ông già Dole, McCain, hay Al Gore, bài diễn văn kêu gọi đại đoàn kết toàn dân mang đầy ý nghiã, đáp ứng đúng ước vọng của thiên hạ. Nhưng quan trọng hơn thế nữa, ông là da đen, với cái tên cực lạ lùng, lại còn có tên đệm ở giữa là Hussein, một Đấng Tiên Tri của đạo Hồi, khi mà dân Mỹ còn đang ngơ ngác tìm hiểu về đạo Hồi, về lý do tại sao lại có biến cố 9/11.
Bài diễn văn đọc vào tháng Bẩy, khi ông Obama đang tranh cử thượng nghị sĩ đại diện cho Illinois. Bốn tháng sau, tháng Mười Một năm đó, ông dễ dàng đắc cử, trở thành thượng nghị sĩ da đen duy nhất trong Thượng Viện liên bang lúc đó. Nhiệm kỳ thượng nghị sĩ là sáu năm, nhưng chưa đầy hai năm sau khi đắc cử, cuối năm 2006, TNS Barack Obama tuyên bố sẽ ra tranh cử tổng thống cuối năm 2008.
Trong hai năm tranh cử, 2007-08, ông đã được truyền thông dòng chính, với khuynh hướng cấp tiến rõ ràng, tung hô như chưa một chính khách nào được tung hô từ xưa đến nay. Truyền thông cấp tiến nhất loạt ca tụng ông như là Đấng Tiên Tri tái thế. Bình luận gia Chris Matthews của đài truyền hình MSNBC vỗ ngực khoe mình đã có cái may mắn cực kỳ lớn lao là sinh vào đúng lúc ông Obama giáng trần để cứu nhân độ thế.
Hậu thuẫn mạnh mẽ của truyền thông dòng chính đã giúp tung tên tuổi và uy tín của ứng viên Obama lên tột đỉnh, khiến cả nước ngây ngất mê mẩn, giúp ông thu được và chi cho cuộc tranh cử hơn 700 triệu đô, một con số từ xưa đến lúc đó, chưa ai dám nghĩ tới chứ đừng nói kiếm được. Với số tiền khổng lồ đó, ông đã lần lượt hạ được hai guồng máy chính trị vĩ đại của hai chính đảng Dân Chủ và Cộng Hòa, hạ được bà cựu Đệ Nhất Phu Nhân Hillary Clinton, và người hùng John McCain, để chễm trệ trở thành tổng thống da đen đầu tiên của Mỹ.
Tất cả các chuyên gia chính trường Mỹ, thiên Dân Chủ hay Cộng Hòa, đều đã phải nhìn nhận ông Obama đắc cử tổng thống là kỳ công của ông, nhưng cũng phản ánh ảnh hưởng vĩ đại của truyền thông dòng chính. Tất các đài truyền hình lớn như ABC, CBS, NBC, MSNBC, CNN đều công khai ca tụng và hậu thuẫn ông Obama. Tất cả các báo lớn như New York Times, Washington Post, Los Angeles Times, San Francisc Chronicle, USA Today, ..., các tạp chí Time, Newsweek, ... đều nhất loạt tung hô ông Obama. Tiếng nói duy nhất không ủng hộ Obama là đài truyền hình Fox News.
Trong cuộc tranh cử, màu da của ông Obama đã được truyền thông cấp tiến khai thác tối đa. Họ cố ý nhấn mạnh vào yếu tố màu da, một phần vì ý muốn làm nên lịch sử với tổng thống da đen đầu tiên, đồng thời cũng đánh mạnh vào mặc cảm kỳ thị của đại đa số dân da trắng Mỹ, để khiến họ cảm thấy vừa áy náy vừa muốn chứng minh cho thiên hạ và thế giới thấy nước Mỹ không còn kỳ thị màu da nữa. Dĩ nhiên là đối với dân da màu thiểu số, từ da đen, đến da nâu, da vàng, da đỏ, họ cũng không quên nhấn mạnh việc ông Obama đắc cử sẽ mở cửa Tòa Bạch Ốc cho tất cả mọi sắc dân thiểu số trong tương lai.
Một lý do thầm kín ít người dám nói đến nữa là nhiều người Mỹ hy vọng với một tổng thống có tên Hussein, biết đâu khủng bố Hồi giáo sẽ không gây chiến với Mỹ nữa.
Truyền thông công khai đe dọa việc bà Hillary đắc cử sẽ khơi lại những bê bối của ông chồng bà, cựu tổng thống Clinton, và sẽ giúp Cộng Hòa thắng cử. Hầu hết các cơ quan truyền thông và báo chí lớn chính thức cổ võ cho ông Obama chống bà Hillary.
Sau khi ứng viên Obama hạ được bà Hillary ra đối đầu với ông McCain của Cộng Hòa, thì họ quay mũi dùi vào ông McCain. Đây là một điểm hết sức đặc biệt cần nhấn mạnh. Ông McCain, trong mấy chục năm làm thượng nghị sĩ luôn luôn là một thứ “con cưng” của truyền thông cấp tiến, vì quan điểm tương đối cởi mở, ôn hòa của ông so với các chính khách Cộng Hòa khác bảo thủ mạnh hơn. Ông McCain cũng được cảm tình của truyền thông vì tính nói thẳng và thân thiện của ông đối với các nhà báo, ký giả.
Thế nhưng khi ông McCain trực diện với ông Obama thì truyền thông quay qua ủng hộ gà nhà cấp tiến Obama ngay. Ông McCain bất thình lình biến thành bảo thủ cực đoan, một ông già lẩm cẩm không thể có khả năng dẫn đắt nước Mỹ qua cuộc khủng hoảng gia cư và tài chánh của năm 2008, cũng như không thể mang nước Mỹ vào thiên niên kỷ mới.
Nhưng những tấn công chống ông McCain chỉ là những món ăn điểm tâm rất nhẹ so với cuộc chiến của truyền thông chống bà ứng viên phó tổng thống Sarah Palin. Ngay sau khi bà Palin được chính thức công bố là ứng viên phó cho ông McCain, hàng ngàn nhà báo đổ bộ lên đất Alaska đi tìm hiểu về con người bà Palin. Chẳng những đời tư của bà, mà đến cả chồng và con của bà cũng bị bôi nhục công khai trên các báo, từ báo lá cải đến New York Times. Tạp chí Newsweek đưa hình bà Palin lên trang bià, nhưng là một bức hình bà ăn mặc quần áo thể thao, và khen bà có đôi chân dài. Nói cách khác bà ứng viên phó tổng thống của Cộng Hòa chỉ là một người đàn bà sexy, có đôi chân dài đẹp như một vũ nữ, không phải là hình ảnh của một nữ phó tổng thống. Trên truyền hình, hình ảnh của bà Palin bị bôi lọ như một mụ đàn bà nhà quê ngớ ngẩn nhất thế giới.
Cho đến năm ngoái, trong cuộc tranh cử giữa TT Obama và TĐ Mitt Romney, vai trò hậu thuẫn Obama của truyền thông dòng chính vẫn mạnh mẽ hơn bao giờ hết.
Truyền thông cấp tiến đã khoả lấp, hay phớt lờ, hay biện minh cho những thất bại khổng lồ của bốn năm nhiệm kỳ đầu của TT Obama, trong khi hình ảnh ông Romney được tô vẽ một cách cực kỳ xấu sa: một tài phiệt da trắng vô cảm, chỉ muốn bảo vệ nhà giàu, và lo cắt trợ cấp của dân nghèo, dân lao động, và dân thiểu số.
Danh sách mạnh thường quân được công bố cho thấy 80% ký giả, nhà báo của truyền thông dòng chính đã gửi tiền yểm trợ quỹ tranh cử của TT Obama.
Thái độ thiên vị này cho đến nay vẫn được duy trì, một cách công khai, không chút e lệ nào.
Ngày thứ ba tuần qua, TT Obama đọc bài diễn văn báo cáo tình trạng liên bang trước quốc dân. Ngay sau đó, thượng nghị sĩ Marco Rubio của tiểu bang Florida được Cộng Hòa chỉ định đọc bài diễn văn trả lời tổng thống. Bất cứ một nhà báo bình thường nào, có thái độ nghiêm chỉnh, cũng phải bỏ công sức và thời gian để phân tích hai bài diễn văn cực kỳ quan trọng này. Nhưng sự thực lại không phải như vậy.
Trong những ngày sau đó, báo chí và truyền thông tập trung tối đa vào một chi tiết thật vớ vẩn. Đó là hình ảnh ông Rubio đang nói chuyện thì ngưng lại, liếc qua liếc lại, rồi cúi xuống lấy ly nước lạnh, uống một hớp trước khi nói tiếp. Câu chuyện không có một chút ý nghiã gì, và cũng chẳng có gì bất thường. Vậy mà truyền thông tung tin này lên hàng đầu trong mấy ngày liền, gọi đó là “water-gate thứ hai”, nhái lại chuyện xì-căng-đan Watergate đã từng buộc TT Nixon phải từ chức. Nguyên một ngày liền, hình ảnh ông Rubio uống nước đã được tung lên liên tục cả mấy chục lần trên đài CNN. Một nhà báo khác đặt ngay câu hỏi “đây có phải là ly nước chấm dứt sự nghiệp chính trị của ông Rubio không?”. Thú thật, cho đến bây giờ, kẻ viết này vẫn chưa hiểu chuyện uống nước này có gì tai hại đáng nói đến thế.
Nhưng nếu nhìn xa hơn một chút thì có thể ta sẽ hiểu vấn đề. Ông Rubio là ngôi sao sáng đang lên của Cộng Hoà. Có nhiều tin ông này sẽ là một ứng viên nặng ký của Cộng Hoà trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2016 tới đây. Tên tuổi của ông gần đây đã nổi lên vì ông là người đã đưa ra một đề nghị cụ thể để giải quyết vấn đề di dân bất hợp pháp. Chẳng những đề nghị của ông có tính ôn hoà và thực tiễn, mà ông lại còn là con của di dân bất hợp pháp từ Cuba qua, nên tiếng nói của ông trong vấn đề này thật là nặng ký. Đề nghị của ông đã đẩy ngay những đề nghị của TT Obama vào hàng thứ yếu, không đáng chú ý bằng.
Đây gọi là truyền thông cấp tiến đánh phủ đầu trước, ngay từ bây giờ khi tư thế của ông Marco Rubio còn chưa vững mạnh lắm. Chỉ cái chuyện uống nước chẳng đâu vào đâu cũng trở thành đề tài để đánh đối phương tương lai.
Truyền thông này còn chơi trò chắc ăn hơn là chẳng những triệt hạ đối thủ mới, chưa nổi, mà cũng đánh luôn cả những đối tượng cũ, cho họ khỏi có cơ hội ngóc đầu lên lại.
Tuần qua, một trang mạng mang tên là The Daily Currant, loan tin bà Sarah Palin hợp tác làm bình luận gia cho đài truyền hình Al Jazeera. Mấy ngày sau, nhà báo phe ta Suzy Parker vồ lấy tin này, cho đăng lên Washington Post, gợi ý là bà Palin giả dối, hợp tác với đài truyền hình mà bà Palin vẫn công khai chỉ trích là tiếng nói của khủng bố Hồi giáo quá khích.
Tin đăng trên Washington Post thì phải chắc hơn đinh đóng cột? Nhưng không phải vậy. The Daily Currant là một trang mạng mang tính “đùa dai chính trị”, chuyên đăng những tin vịt cồ hay tin miả mai, chọc quê chính trị, tương tự như Le Canard Enchainé của Pháp. Nhưng bà Suzy Parker, trong tư thế hăm hở đánh phe địch bảo thủ Cộng Hòa, đã thấy tin này và mừng quá mất khôn, vồ lấy, coi như tin có thật, cho lên bài. Ban biên tập Washington Post không biết vì lý do sơ xuất, hay quá tin tưởng vào bà Parker, hay cũng mừng quá mất khôn, cho đăng tin này lên mà không kiểm chứng gì hết. Sau đó thì chính The Daily Currant xác nhận là tin vịt họ phịa ra chơi cho vui, khiến Washington Post phải lúng túng cải chính tuy không biết có xin lỗi bà Palin hay không.
Cái tin vịt bà Palin “hợp tác” với Al Jazeera đã bị Washington Post vồ lấy như của báu để đánh bà Palin. Trong khi cái tin cựu PTT Al Gore bán đài truyền hình của mình cho Al Jazeera với giá năm trăm triệu đô, giúp Al Jazeera cơ hội phát triển mạnh mẽ trên đất Mỹ thì lại được coi như tin kinh doanh bình thường, chẳng có ý nghĩa gì khác.
Báo Washington Post là “bà con” (cùng chủ) với tạp chí Newsweek, là tạp chí mà ông chủ bút năm 2008 đã từng gọi Obama là Đức Chúa –God-. Newsweek đầu năm nay mới đóng cửa tiệm không phát hành nữa vì lỗ lã quá, chỉ còn duy trì bản online trên mạng. Nghe nói mấy ông bà chủ Newsweek cũng đang dọ bán Washington Post luôn vì lỗ nặng.
Với thái độ thiên vị như vậy, việc TT Obama thao túng truyền thông trong thời gian qua đã trở thành quá dễ dàng mà chẳng gặp khiếu nại quan trọng nào.
So với các vị tiền nhiệm như cha con ông Bush, Clinton,..., TT Obama là người xuất hiện trên truyền hình nhiều nhất, nhưng lại là người họp báo ít nhất. Phần lớn các hình ảnh truyền thông phổ biến là hình ảnh do Tòa Bạch Ốc chụp và phổ biến.
TT Obama tự khoe chính quyền Obama là trong sáng –transparent- nhất trong lịch sử hiện đại. Lời tuyên bố này đã bị một nhà bình luận của Washington Post cho là “đúng, nhưng chỉ đúng với những chuyện gì TT muốn cho phổ biến, có lợi cho ông”, trong khi những tin bất lợi thì rất khó biết đâu là sự thật. Điển hình là vụ khủng bố tấn công tòa lãnh sự Mỹ tại Benghazi, hay những vụ đột kích khủng bố bằng máy bay không người lái, hay mới nhất là chuyện quân Mỹ can thiệp lén lút vào một số nước Phi Châu.
Tuần trước, TT Obama đọc báo cáo tình trạng liên bang, đưa ra hàng loạt chương trình, kế hoạch. Truyền thông cấp tiến vỗ tay hoan hô nhiệt liệt, nhưng không một tờ báo nào đặt câu hỏi TT Obama sẽ lấy tiền ở đâu ra?
Trong những năm tháng tới, khuynh hướng “phục vụ” cho TT Obama sẽ được đài truyền hình NBC công khai hoá một cách không thể rõ ràng hơn. NBC loan tin đã mời ông David Axelrod, cựu “cố vấn tối cao” của TT Obama, tác giả hai cuộc vận động tranh cử thành công của TT Obama, làm bình luận gia chính thức của NBC. Đài truyền hình “con đẻ” của NBC là đài MSNBC thì loan tin cựu phát ngôn viên của TT Obama, ông Robert Gibbs, sẽ là bình luận gia chính của MSNBC.
Nếu những chuyện trên chưa chứng minh được là truyền thông dòng chính “ngủ chung giường” với TT Obama thì cần phải có bằng chứng nào khác? Mà cho dù có bằng chứng khác thì có lẽ vẫn chưa thuyết phục được những người đang nhắm mắt coi TT Obama như thần tượng. (24-2-13)
Vũ Linh
Vũ Linh ...Obama thao túng truyền thông trong thời gian qua đã trở thành quá dễ dàng...
Ngạn ngữ Mỹ có câu “ngủ chung giường” để chỉ chẳng những chuyện vợ chồng cùng chăn gối, mà cũng để chỉ tình trạng hai người, hay hai nhóm hợp ý với nhau đến độ gần như thông đồng với nhau trong mọi chuyện. Hiểu theo nghiã này thì ai cũng phải công nhận truyền thông dòng chính đã chui vào “ngủ chung giường” với TT Obama ngay từ những ngày đầu khi ông này xuất hiện trên chính trường Mỹ.
Năm 2004, trong Đại Hội đảng Dân Chủ, theo đề nghị của thượng nghị sĩ John Kerry, ứng viên tổng thống năm đó, ban tổ chức đã mời ông Barack Obama, một nghị sĩ vô danh của tiểu bang Illinois lên đọc bài diễn văn chính của đại hội, phác họa đại cương hướng đi của đảng Dân Chủ dưới sự lãnh đạo của ông Kerry. Chẳng những ít người nghe tên, mà ngay chính ông Obama cũng không phải là một chính khách cực kỳ xuất sắc, được sự ngưỡng mộ của đa số cử tri. Năm 2000, ông ra tranh cử dân biểu liên bang trong một địa hạt phiá nam Chicago và bị thảm bại khi đối thủ cùng đảng Dân Chủ của ông thu được gấp hai lần số phiếu của ông.
Tại Đại Hội đảng, với bài diễn văn được trực tiếp truyền hình trên tất cả các đài chính, vào giờ cao điểm –prime time-, ước lượng có gần 10 triệu người coi, truyền thông khám phá ra “của lạ”, khai thác tối đa, thổi ông Obama lên tận mây xanh, ca tụng bài diễn văn của ông Obama như là một tuyệt tác chưa từng thấy từ bài diễn văn tại Gettysburg của TT Abraham Lincoln, cách đây 150 năm.
“Cái lạ” trong ông chính khách Obama quả là rất nhiều: diện mạo bảnh bao, tuổi trẻ đầy tương lai, nói năng hùng hồn, khác xa mấy ông già Dole, McCain, hay Al Gore, bài diễn văn kêu gọi đại đoàn kết toàn dân mang đầy ý nghiã, đáp ứng đúng ước vọng của thiên hạ. Nhưng quan trọng hơn thế nữa, ông là da đen, với cái tên cực lạ lùng, lại còn có tên đệm ở giữa là Hussein, một Đấng Tiên Tri của đạo Hồi, khi mà dân Mỹ còn đang ngơ ngác tìm hiểu về đạo Hồi, về lý do tại sao lại có biến cố 9/11.
Bài diễn văn đọc vào tháng Bẩy, khi ông Obama đang tranh cử thượng nghị sĩ đại diện cho Illinois. Bốn tháng sau, tháng Mười Một năm đó, ông dễ dàng đắc cử, trở thành thượng nghị sĩ da đen duy nhất trong Thượng Viện liên bang lúc đó. Nhiệm kỳ thượng nghị sĩ là sáu năm, nhưng chưa đầy hai năm sau khi đắc cử, cuối năm 2006, TNS Barack Obama tuyên bố sẽ ra tranh cử tổng thống cuối năm 2008.
Trong hai năm tranh cử, 2007-08, ông đã được truyền thông dòng chính, với khuynh hướng cấp tiến rõ ràng, tung hô như chưa một chính khách nào được tung hô từ xưa đến nay. Truyền thông cấp tiến nhất loạt ca tụng ông như là Đấng Tiên Tri tái thế. Bình luận gia Chris Matthews của đài truyền hình MSNBC vỗ ngực khoe mình đã có cái may mắn cực kỳ lớn lao là sinh vào đúng lúc ông Obama giáng trần để cứu nhân độ thế.
Hậu thuẫn mạnh mẽ của truyền thông dòng chính đã giúp tung tên tuổi và uy tín của ứng viên Obama lên tột đỉnh, khiến cả nước ngây ngất mê mẩn, giúp ông thu được và chi cho cuộc tranh cử hơn 700 triệu đô, một con số từ xưa đến lúc đó, chưa ai dám nghĩ tới chứ đừng nói kiếm được. Với số tiền khổng lồ đó, ông đã lần lượt hạ được hai guồng máy chính trị vĩ đại của hai chính đảng Dân Chủ và Cộng Hòa, hạ được bà cựu Đệ Nhất Phu Nhân Hillary Clinton, và người hùng John McCain, để chễm trệ trở thành tổng thống da đen đầu tiên của Mỹ.
Tất cả các chuyên gia chính trường Mỹ, thiên Dân Chủ hay Cộng Hòa, đều đã phải nhìn nhận ông Obama đắc cử tổng thống là kỳ công của ông, nhưng cũng phản ánh ảnh hưởng vĩ đại của truyền thông dòng chính. Tất các đài truyền hình lớn như ABC, CBS, NBC, MSNBC, CNN đều công khai ca tụng và hậu thuẫn ông Obama. Tất cả các báo lớn như New York Times, Washington Post, Los Angeles Times, San Francisc Chronicle, USA Today, ..., các tạp chí Time, Newsweek, ... đều nhất loạt tung hô ông Obama. Tiếng nói duy nhất không ủng hộ Obama là đài truyền hình Fox News.
Trong cuộc tranh cử, màu da của ông Obama đã được truyền thông cấp tiến khai thác tối đa. Họ cố ý nhấn mạnh vào yếu tố màu da, một phần vì ý muốn làm nên lịch sử với tổng thống da đen đầu tiên, đồng thời cũng đánh mạnh vào mặc cảm kỳ thị của đại đa số dân da trắng Mỹ, để khiến họ cảm thấy vừa áy náy vừa muốn chứng minh cho thiên hạ và thế giới thấy nước Mỹ không còn kỳ thị màu da nữa. Dĩ nhiên là đối với dân da màu thiểu số, từ da đen, đến da nâu, da vàng, da đỏ, họ cũng không quên nhấn mạnh việc ông Obama đắc cử sẽ mở cửa Tòa Bạch Ốc cho tất cả mọi sắc dân thiểu số trong tương lai.
Một lý do thầm kín ít người dám nói đến nữa là nhiều người Mỹ hy vọng với một tổng thống có tên Hussein, biết đâu khủng bố Hồi giáo sẽ không gây chiến với Mỹ nữa.
Truyền thông công khai đe dọa việc bà Hillary đắc cử sẽ khơi lại những bê bối của ông chồng bà, cựu tổng thống Clinton, và sẽ giúp Cộng Hòa thắng cử. Hầu hết các cơ quan truyền thông và báo chí lớn chính thức cổ võ cho ông Obama chống bà Hillary.
Sau khi ứng viên Obama hạ được bà Hillary ra đối đầu với ông McCain của Cộng Hòa, thì họ quay mũi dùi vào ông McCain. Đây là một điểm hết sức đặc biệt cần nhấn mạnh. Ông McCain, trong mấy chục năm làm thượng nghị sĩ luôn luôn là một thứ “con cưng” của truyền thông cấp tiến, vì quan điểm tương đối cởi mở, ôn hòa của ông so với các chính khách Cộng Hòa khác bảo thủ mạnh hơn. Ông McCain cũng được cảm tình của truyền thông vì tính nói thẳng và thân thiện của ông đối với các nhà báo, ký giả.
Thế nhưng khi ông McCain trực diện với ông Obama thì truyền thông quay qua ủng hộ gà nhà cấp tiến Obama ngay. Ông McCain bất thình lình biến thành bảo thủ cực đoan, một ông già lẩm cẩm không thể có khả năng dẫn đắt nước Mỹ qua cuộc khủng hoảng gia cư và tài chánh của năm 2008, cũng như không thể mang nước Mỹ vào thiên niên kỷ mới.
Nhưng những tấn công chống ông McCain chỉ là những món ăn điểm tâm rất nhẹ so với cuộc chiến của truyền thông chống bà ứng viên phó tổng thống Sarah Palin. Ngay sau khi bà Palin được chính thức công bố là ứng viên phó cho ông McCain, hàng ngàn nhà báo đổ bộ lên đất Alaska đi tìm hiểu về con người bà Palin. Chẳng những đời tư của bà, mà đến cả chồng và con của bà cũng bị bôi nhục công khai trên các báo, từ báo lá cải đến New York Times. Tạp chí Newsweek đưa hình bà Palin lên trang bià, nhưng là một bức hình bà ăn mặc quần áo thể thao, và khen bà có đôi chân dài. Nói cách khác bà ứng viên phó tổng thống của Cộng Hòa chỉ là một người đàn bà sexy, có đôi chân dài đẹp như một vũ nữ, không phải là hình ảnh của một nữ phó tổng thống. Trên truyền hình, hình ảnh của bà Palin bị bôi lọ như một mụ đàn bà nhà quê ngớ ngẩn nhất thế giới.
Cho đến năm ngoái, trong cuộc tranh cử giữa TT Obama và TĐ Mitt Romney, vai trò hậu thuẫn Obama của truyền thông dòng chính vẫn mạnh mẽ hơn bao giờ hết.
Truyền thông cấp tiến đã khoả lấp, hay phớt lờ, hay biện minh cho những thất bại khổng lồ của bốn năm nhiệm kỳ đầu của TT Obama, trong khi hình ảnh ông Romney được tô vẽ một cách cực kỳ xấu sa: một tài phiệt da trắng vô cảm, chỉ muốn bảo vệ nhà giàu, và lo cắt trợ cấp của dân nghèo, dân lao động, và dân thiểu số.
Danh sách mạnh thường quân được công bố cho thấy 80% ký giả, nhà báo của truyền thông dòng chính đã gửi tiền yểm trợ quỹ tranh cử của TT Obama.
Thái độ thiên vị này cho đến nay vẫn được duy trì, một cách công khai, không chút e lệ nào.
Ngày thứ ba tuần qua, TT Obama đọc bài diễn văn báo cáo tình trạng liên bang trước quốc dân. Ngay sau đó, thượng nghị sĩ Marco Rubio của tiểu bang Florida được Cộng Hòa chỉ định đọc bài diễn văn trả lời tổng thống. Bất cứ một nhà báo bình thường nào, có thái độ nghiêm chỉnh, cũng phải bỏ công sức và thời gian để phân tích hai bài diễn văn cực kỳ quan trọng này. Nhưng sự thực lại không phải như vậy.
Trong những ngày sau đó, báo chí và truyền thông tập trung tối đa vào một chi tiết thật vớ vẩn. Đó là hình ảnh ông Rubio đang nói chuyện thì ngưng lại, liếc qua liếc lại, rồi cúi xuống lấy ly nước lạnh, uống một hớp trước khi nói tiếp. Câu chuyện không có một chút ý nghiã gì, và cũng chẳng có gì bất thường. Vậy mà truyền thông tung tin này lên hàng đầu trong mấy ngày liền, gọi đó là “water-gate thứ hai”, nhái lại chuyện xì-căng-đan Watergate đã từng buộc TT Nixon phải từ chức. Nguyên một ngày liền, hình ảnh ông Rubio uống nước đã được tung lên liên tục cả mấy chục lần trên đài CNN. Một nhà báo khác đặt ngay câu hỏi “đây có phải là ly nước chấm dứt sự nghiệp chính trị của ông Rubio không?”. Thú thật, cho đến bây giờ, kẻ viết này vẫn chưa hiểu chuyện uống nước này có gì tai hại đáng nói đến thế.
Nhưng nếu nhìn xa hơn một chút thì có thể ta sẽ hiểu vấn đề. Ông Rubio là ngôi sao sáng đang lên của Cộng Hoà. Có nhiều tin ông này sẽ là một ứng viên nặng ký của Cộng Hoà trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2016 tới đây. Tên tuổi của ông gần đây đã nổi lên vì ông là người đã đưa ra một đề nghị cụ thể để giải quyết vấn đề di dân bất hợp pháp. Chẳng những đề nghị của ông có tính ôn hoà và thực tiễn, mà ông lại còn là con của di dân bất hợp pháp từ Cuba qua, nên tiếng nói của ông trong vấn đề này thật là nặng ký. Đề nghị của ông đã đẩy ngay những đề nghị của TT Obama vào hàng thứ yếu, không đáng chú ý bằng.
Đây gọi là truyền thông cấp tiến đánh phủ đầu trước, ngay từ bây giờ khi tư thế của ông Marco Rubio còn chưa vững mạnh lắm. Chỉ cái chuyện uống nước chẳng đâu vào đâu cũng trở thành đề tài để đánh đối phương tương lai.
Truyền thông này còn chơi trò chắc ăn hơn là chẳng những triệt hạ đối thủ mới, chưa nổi, mà cũng đánh luôn cả những đối tượng cũ, cho họ khỏi có cơ hội ngóc đầu lên lại.
Tuần qua, một trang mạng mang tên là The Daily Currant, loan tin bà Sarah Palin hợp tác làm bình luận gia cho đài truyền hình Al Jazeera. Mấy ngày sau, nhà báo phe ta Suzy Parker vồ lấy tin này, cho đăng lên Washington Post, gợi ý là bà Palin giả dối, hợp tác với đài truyền hình mà bà Palin vẫn công khai chỉ trích là tiếng nói của khủng bố Hồi giáo quá khích.
Tin đăng trên Washington Post thì phải chắc hơn đinh đóng cột? Nhưng không phải vậy. The Daily Currant là một trang mạng mang tính “đùa dai chính trị”, chuyên đăng những tin vịt cồ hay tin miả mai, chọc quê chính trị, tương tự như Le Canard Enchainé của Pháp. Nhưng bà Suzy Parker, trong tư thế hăm hở đánh phe địch bảo thủ Cộng Hòa, đã thấy tin này và mừng quá mất khôn, vồ lấy, coi như tin có thật, cho lên bài. Ban biên tập Washington Post không biết vì lý do sơ xuất, hay quá tin tưởng vào bà Parker, hay cũng mừng quá mất khôn, cho đăng tin này lên mà không kiểm chứng gì hết. Sau đó thì chính The Daily Currant xác nhận là tin vịt họ phịa ra chơi cho vui, khiến Washington Post phải lúng túng cải chính tuy không biết có xin lỗi bà Palin hay không.
Cái tin vịt bà Palin “hợp tác” với Al Jazeera đã bị Washington Post vồ lấy như của báu để đánh bà Palin. Trong khi cái tin cựu PTT Al Gore bán đài truyền hình của mình cho Al Jazeera với giá năm trăm triệu đô, giúp Al Jazeera cơ hội phát triển mạnh mẽ trên đất Mỹ thì lại được coi như tin kinh doanh bình thường, chẳng có ý nghĩa gì khác.
Báo Washington Post là “bà con” (cùng chủ) với tạp chí Newsweek, là tạp chí mà ông chủ bút năm 2008 đã từng gọi Obama là Đức Chúa –God-. Newsweek đầu năm nay mới đóng cửa tiệm không phát hành nữa vì lỗ lã quá, chỉ còn duy trì bản online trên mạng. Nghe nói mấy ông bà chủ Newsweek cũng đang dọ bán Washington Post luôn vì lỗ nặng.
Với thái độ thiên vị như vậy, việc TT Obama thao túng truyền thông trong thời gian qua đã trở thành quá dễ dàng mà chẳng gặp khiếu nại quan trọng nào.
So với các vị tiền nhiệm như cha con ông Bush, Clinton,..., TT Obama là người xuất hiện trên truyền hình nhiều nhất, nhưng lại là người họp báo ít nhất. Phần lớn các hình ảnh truyền thông phổ biến là hình ảnh do Tòa Bạch Ốc chụp và phổ biến.
TT Obama tự khoe chính quyền Obama là trong sáng –transparent- nhất trong lịch sử hiện đại. Lời tuyên bố này đã bị một nhà bình luận của Washington Post cho là “đúng, nhưng chỉ đúng với những chuyện gì TT muốn cho phổ biến, có lợi cho ông”, trong khi những tin bất lợi thì rất khó biết đâu là sự thật. Điển hình là vụ khủng bố tấn công tòa lãnh sự Mỹ tại Benghazi, hay những vụ đột kích khủng bố bằng máy bay không người lái, hay mới nhất là chuyện quân Mỹ can thiệp lén lút vào một số nước Phi Châu.
Tuần trước, TT Obama đọc báo cáo tình trạng liên bang, đưa ra hàng loạt chương trình, kế hoạch. Truyền thông cấp tiến vỗ tay hoan hô nhiệt liệt, nhưng không một tờ báo nào đặt câu hỏi TT Obama sẽ lấy tiền ở đâu ra?
Trong những năm tháng tới, khuynh hướng “phục vụ” cho TT Obama sẽ được đài truyền hình NBC công khai hoá một cách không thể rõ ràng hơn. NBC loan tin đã mời ông David Axelrod, cựu “cố vấn tối cao” của TT Obama, tác giả hai cuộc vận động tranh cử thành công của TT Obama, làm bình luận gia chính thức của NBC. Đài truyền hình “con đẻ” của NBC là đài MSNBC thì loan tin cựu phát ngôn viên của TT Obama, ông Robert Gibbs, sẽ là bình luận gia chính của MSNBC.
Nếu những chuyện trên chưa chứng minh được là truyền thông dòng chính “ngủ chung giường” với TT Obama thì cần phải có bằng chứng nào khác? Mà cho dù có bằng chứng khác thì có lẽ vẫn chưa thuyết phục được những người đang nhắm mắt coi TT Obama như thần tượng. (24-2-13)
Vũ Linh

Thời mạt vận
Phi Vũ (Danlambao) - Nhà báo Nguyễn Đắc Kiên, phóng viên báo Gia đình và xã hội đã có một bài viết phản biện vô cùng đặc sắc, đã được các blogger đăng cũng như có những bình luận từ mọi phía. Dư luận khắp nơi đều đồng tình cùng nhà báo đầy nhiệt tình yêu nước Nguyễn Đắc Kiên.
Thế nhưng, sau khi bài viết của nhà báo Nguyễn Đắc Kiên ra đời chưa được 24 tiếng đồng hồ, anh đã bị kỷ luật, đã không còn là phóng viên của tờ báo Gia đình và xã hội nữa. Quả là đòn thù bẩn thỉu của một tập đoàn mà chúng đã sắp đến ngày... mạt vận.
Lên tiếng kêu gọi mọi người dân phát biểu để sửa đổi hiến pháp, khi người dân đã có những tiếng nói trung thực của mình vì quốc gia và dân tộc thì lại giở những thủ đoạn đê hèn ra để trả thù, tập đoàn Cộng Sản Việt Nam càng ngày càng tỏ ra là một lũ nhuốc nhơ và vô cùng bẩn thỉu từ suy nghĩ đến hành động. Nếu cho rằng những phản biện của nhà báo Nguyễn Đắc Kiên là sai, hãy viết bài tranh luận để chỉ ra là sai ở chỗ nào? Việc trả thù nhà báo Nguyễn Đắc Kiên như một lời cảnh cáo của chúng đối với bất cứ ai còn tin tưởng vào thiện chí của đảng độc tài và dám lên tiếng phản biện lại!?
Người ta thường gọi tên Nguyễn Phú Trọng này là “Trọng Lú”, thế nhưng đòn thù của hắn tung ra với nhà báo Nguyễn Đắc Kiên cho ta thấy hắn không “lú” chút nào cả. Chẳng qua là hắn giả vờ lú để che lấp bản chất lưu manh của một tên bán nước cho giặc Tàu, xem nhẹ Tổ Quốc, chỉ biết cúi đầu cúc cung tận tụy với giặc thù. Nên nhớ rằng, một ngày nào đó, nhân dân Việt Nam không những bỏ đều 4 mà còn xé toạc cả bản hiến pháp phản động này và thay thế bằng một bản hiến pháp mới. Lúc đó tập đoàn bán nước Cộng Sản Việt nam chắc chắn sẽ không còn chỗ mà chui đâu.
Dùng luật rừng để xử nhà báo yêu nước Nguyễn Đắc Kiên chứng tỏ tập đoàn phản động Cộng Sản Việt Nam đang bước vào thời mạt vận. Ngày tàn của bạo chúa sẽ không còn xa đâu!
Ngày 26 tháng 2 năm 2013
Phi Vũ
Lú nhỏ và lú lớn
Ngô Nhân Dụng
Ông Nguyễn Phú Trọng quả là một nhân vật quan trọng. Một câu nói của ông được các công dân trên mạng đem ra bàn tán xôn xao, đâu đâu cũng ào ào phản đối. Có mấy ai trong xóm Ba Ðình được đồng bào chiếu cố như vậy?
Ông Nguyễn Phú Trọng nói thế này: “Vừa rồi đã có các luồng ý kiến cũng có thể quy vào được là suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức...” Và ông mô tả tình trạng “suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức” gồm bốn triệu chứng: (1) muốn bỏ điều 4 Hiến Pháp; (2) phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng Cộng sản, muốn đa nguyên đa đảng; (3) muốn thực hiện tam quyền phân lập; (4) muốn quân đội chỉ phục vụ đất nước, không lệ thuộc đảng Cộng sản.
Trưng ra bằng chứng rồi, ông Nguyễn Phú Trọng nói: “Người ta đang có những quan điểm như thế, đưa cả lên phương tiện thông tin đại chúng đấy.” Và ông kết luận: “Thì như thế là suy thoái chứ còn gì nữa?” Chứ còn gì nữa? Nghe ai cũng phải bật cười. Chứ còn gì nữa? Thảo nào dân Hà Nội vẫn gọi ông là Trọng Lú.
Ngoài những bằng chứng suy thoái tư tưởng, đạo đức trên, ông Trọng còn thấy đạo đức chính trị suy thoái cả trong hành động của dân nữa: “Tham gia khiếu kiện, biểu tình, ký đơn tập thể... thì đó là cái gì (nếu không phải là suy thoái)?” Ông Nguyễn Phú Trọng bảo vệ bốn không: Không bỏ điều 4 độc quyền; không đa nguyên đa đảng; không phân quyền; và không cho quân đội thoát ra ngoài bàn tay kiểm soát của đảng Cộng sản.
Người lên tiếng phản đối đầu tiên là nhà báo Nguyễn Ðắc Kiên. Phát pháo đầu của Nguyễn Ðắc Kiên vừa nổ đã vang động bốn phương. Nhờ bài của ông Kiên mà nhiều người mới biết chủ nghĩa bốn không của ông Trọng. Bình thường thì những người ngồi nghe đều đang mơ màng ngủ gật, hoặc đang nghĩ đến những quả sắp đánh ra tiền; có ai nghe ông Trọng nói gì đâu? Nếu người nào vô tình để mấy lời ông nói lọt vào tai thì chắc họ cũng chỉ chép miệng, lắc đầu: “Lại lú rồi!”
Ông Nguyễn Ðắc Kiên nói thẳng vào mặt: “Ông là tổng bí thư Ðảng Cộng sản Việt Nam, nếu muốn dùng hai chữ ‘suy thoái’ thì cùng lắm là ông chỉ có thể nói về (với) những người đang là đảng viên cộng sản, ông không đủ tư cách để nói lời đó với nhân dân cả nước.” Ông Kiên nói rõ “đang là đảng viên,” vì biết bây giờ nhiều đảng viên cộng sản trong lòng đã bỏ đảng từ lâu rồi.
Trong số các đảng viên đang nhờ đảng mà trục lợi, ai quên chủ nghĩa bốn không tất nhiên là “suy thoái” - chứ còn gì nữa? Bởi vì lập trường bốn không bảo đảm họ bám chặt quyền hành mà chia sẻ lợi lộc. Còn đảng còn mình. Mất đảng đi về đâu?
Nhưng còn người dân Việt bình thường, có ai muốn kéo dài chế độ tham nhũng, bất công, kinh tế trì trệ và nô lệ ngoại bang như hiện nay hay không? Chắc chắn không ai muốn!
Một ngày sau khi đưa bài lên mạng, ông Nguyễn Ðắc Kiên đã bị báo Gia Ðình & Xã Hội thi hành “kỷ luật, buộc thôi việc.” Nhà thơ Nguyễn Ðắc Kiên thật can đảm. Trước khi lên tiếng, chắc ông phải biết sẽ mất việc. Nước Việt Nam sẽ không bao giờ mất vào tay “Tàu lạ” là vì có những người dân Việt can đảm như vậy. Từ thời Hai Bà Trưng đã như thế: Nhưng hào kiệt đời nào cũng có! (Nguyễn Trãi)
Một người khác nhắc đến chủ trương bốn không của ông Nguyễn Phú Trọng là Nguyễn Hữu Vinh. Ông thẳng thắn bác bỏ “Xin thưa, đó không phải là suy thoái về đạo đức” của người dân Việt Nam, “mà đó là sự suy thoái uy tín, vị trí của (chế độ) độc tài, tham nhũng.”
Nhưng Nguyễn Hữu Vinh còn nhìn thấy đảng Cộng sản gần đây đã giăng một cái bẫy khi cho dân góp ý kiến về sửa đổi Hiến Pháp, nhấn mạnh: “Không có cấm kỵ khi góp ý sửa Hiến Pháp.” Ðây là một thủ thuật, như Mao Trạch Ðông đã dùng khi phát động phong trào “Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng nói.” Ðể ai nói ý kiến thật đều bị nhận diện rồi bị đày đọa từ đời cha tới đời con.
Nhưng Nguyễn Hữu Vinh thấy cái bẫy đó gây phản ứng ngược. Bao nhiêu người lên tiếng đòi trong Hiến Pháp phải bỏ điều số 4 về độc quyền lãnh đạo của đảng, đòi tam quyền phân lập. Ðảng Cộng sản trông thấy nguy cơ; biết cứ đà này thì phong trào đòi sửa Hiến Pháp sẽ ngày càng mạnh, vận mệnh đảng lâm nguy! Cho nên, ông Nguyễn Phú Trọng phải đứng ra ngăn chặn bằng “bốn điều cấm kỵ,” 4 cái không! Nguyễn Hữu Vinh khen: “Cái ông tổng bí thư này quả là thâm hậu, thế mà dân gian cứ tặng cho ông xú danh là Lú thì quả không hẳn đúng.”
Nhưng khi dân Hà Nội đặt bài ca dao có câu “Lú như Trọng,” chắc họ không nhầm. Nếu ông Trọng không lú thì chẳng lẽ đất Thăng Long ngàn năm văn vật toàn dân lú cả hay sao? Bởi vì trong câu chuyện này, nếu ông Trọng không lú trong chuyện nhỏ, thì vẫn lú trong những chuyện lớn hơn.
Chuyện nhỏ là địa vị ngon lành của đảng, bỏ mất thì rất uổng! Cho nên phải bám chặt, phải đóng chốt, phải bảo vệ đến cùng! Cái này, quả thật ông Nguyễn Phú Trọng không lú.
Ông Trọng lú lẫn trong những chuyện lớn hơn. Cái Lú Lớn thứ nhất là không biết thế nào là tiến bộ, thế nào là suy thoái. Có những tiến bộ loài người mới chỉ đạt được trong vài thế kỷ vừa qua, trong đó có những quy tắc như “Tam quyền phân lập,” hay là quân đội thuộc về toàn dân, phải độc lập với các đảng chính trị. Nhiều dân tộc đã thực hiện được các quy tắc đó, họ đều hãnh diện. Nhũng thứ đó mà ông Nguyễn Phú Trọng lại gọi là suy thoái! Lú đến như thế thì xứng danh là Lú Lớn, dịch sang tiếng Trung Quốc là Ðại Lú!
Cái Lú Lớn thứ nhì là không biết chính cái đảng Cộng sản của ông nên chọn con đường nào để hạ cánh an toàn, cứ bám víu lấy một chủ trương tuyệt vọng sẽ đưa nhau vào chỗ chết. Hiện nay đảng Cộng sản có ba đường để chọn, theo ba mô hình: Ðài Loan, Liên Xô, hay Rumani.
Làm theo lối Quốc Dân Ðảng ở Ðài Loan tức là thi hành ngay các quyền tự do lập hội, lập đảng, quyền tự do phát biểu; khuyến khích tư doanh; chấp nhận có các công đoàn tự do, các đảng chính trị đối lập; tự dưng xã hội công dân sẽ phát triển, họ sẽ giúp chấn dân khí, khai dân trí và vụ dân sinh. Theo mô hình Ðài Loan thì chắc chắn phải đoạn tuyệt với chủ nghĩa bốn không của Nguyễn Phú Trọng!
Mô hình Liên Xô là tạo ra một Boris Yeltsin. Có lẽ Yeltsin hiểu rõ bản chất của đảng Cộng sản hơn chúng ta nhiều, thấy không theo nổi con đường Ðài Loan, nên đã thú nhận: Ðảng Cộng sản chỉ có thể thay thế, không thể thay đổi. Theo lối Yeltsin thì xóa đi làm lại hết; giải tán ngay đảng cộng sản; những đảng viên nào còn quyến luyến cứ đi lập lại đảng với nhau.
Nếu không theo hai đường Ðài Loan và Liên Xô thì chỉ còn Mô hình Rumani, tức là bảo vệ độc quyền lãnh đạo đến cùng, quyết tâm sẽ “về với Marx, Engels, Lenin và Nicolae Ceauescu.” Cái Lú Lớn của ông Nguyễn Phú Trọng là đang dẫn đảng ông theo mô hình Rumani bằng chủ trương bốn không.
Chúng ta có thể hiểu tại sao ông Trọng chọn con đường bốn không. Cả đời ông chỉ được học bấy nhiêu thôi. Giống như một con ngựa đã được hai miếng da che kín hai bên mắt, chỉ còn nhìn thấy địa vị và quyền lợi bày ra trước mặt, khó nhìn thấy đường nào khác.
Ðiều đáng tiếc là ông còn mắc vào một cái Lú Lớn hơn nữa, mà cái này có thể tránh được. Cái Lú Lớn nhất của ông Nguyễn Phú Trọng và những người theo chủ trương bốn không bây giờ, là họ khinh thường dân tộc Việt Nam.
Có lẽ nào người Việt cứ để cho một đám sâu mọt gậm nhấm tài nguyên quốc gia mãi như thế này được? Lẽ nào người Việt cứ chịu mãi cảnh thua kém các nước khác, từ Mã Lai tới Miến Ðiện? Lẽ nào người Việt cứ chịu mãi nỗi nhục bị Tàu lạ tấn công, người lạ đến cướp rừng, cướp biển? Lẽ nào người Việt khi muốn làm lễ tưởng niệm những người lính chết năm 1979 vì chống quân xâm lăng lại bị cấm đoán? Cấm đoán họ tưởng niệm không những là khinh rẻ người đang sống mà còn khinh cả những người đã chết; người dân nước nào chịu mãi như thế được?
Nhiều người Trung Hoa biết kính trọng dân Việt Nam hơn. Trong bài trước, mục này nhắc đến Tiết độ sứ Tăng Cổn cuối đời Ðường, với hai câu thơ “Việt điện sơn xuyên” đối với “Ðường gia nhân vật.” Trong bài thơ đó ông còn so sánh Nước Nam với xứ Thục (Tứ Xuyên bên Tàu) với hai câu: “Hiệu Nam quốc chi giang san - Thắng thần long vu Thục địa” (nghĩa là: Giang sơn nước Nam này hơn hẳn rồng thần đất Thục.)
Nếu như ông Nguyễn Phú Trọng biết đọc thơ thì chắc ông lú đến nỗi không khinh rẻ người Việt như vậy. Nếu đọc thơ, ông sẽ biết thi sĩ Nguyễn Ðắc Kiên viết mấy câu thơ như vầy:
“lũ quỷ ám thừa cơ toàn trị,
khủng bố dã man, gieo rắc những kinh hoàng,
biến lẽ sống thành châm ngôn ‘mày phải sợ’”
Nhà thơ không biết sợ cho nên bật lên lời nói thẳng. Ông bị mất việc làm ngay. Nhưng sau đó viết thư cho mọi người ông lại yêu cầu đừng ai đả kích tờ báo đã cho ông thôi việc, họ không có cách nào khác, tội nghiệp. Ðó là cách cư xử cao thượng theo đạo lý người Việt Nam. Không lẽ một dân tộc sống như vậy mà lại chịu làm tôi mọi cho một đảng bất lực và tham nhũng mãi?
Người Việt Nam sẽ lắng nghe những lời tâm huyết trong thơ Nguyễn Ðắc Kiên:
“còn chần chừ gì mà không tỉnh dậy mau,
sống cho xứng danh xưng con người trên mặt đất!”
Ngô Nhân Dụng
Ông Nguyễn Phú Trọng quả là một nhân vật quan trọng. Một câu nói của ông được các công dân trên mạng đem ra bàn tán xôn xao, đâu đâu cũng ào ào phản đối. Có mấy ai trong xóm Ba Ðình được đồng bào chiếu cố như vậy?
Ông Nguyễn Phú Trọng nói thế này: “Vừa rồi đã có các luồng ý kiến cũng có thể quy vào được là suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức...” Và ông mô tả tình trạng “suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức” gồm bốn triệu chứng: (1) muốn bỏ điều 4 Hiến Pháp; (2) phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng Cộng sản, muốn đa nguyên đa đảng; (3) muốn thực hiện tam quyền phân lập; (4) muốn quân đội chỉ phục vụ đất nước, không lệ thuộc đảng Cộng sản.
Trưng ra bằng chứng rồi, ông Nguyễn Phú Trọng nói: “Người ta đang có những quan điểm như thế, đưa cả lên phương tiện thông tin đại chúng đấy.” Và ông kết luận: “Thì như thế là suy thoái chứ còn gì nữa?” Chứ còn gì nữa? Nghe ai cũng phải bật cười. Chứ còn gì nữa? Thảo nào dân Hà Nội vẫn gọi ông là Trọng Lú.
Ngoài những bằng chứng suy thoái tư tưởng, đạo đức trên, ông Trọng còn thấy đạo đức chính trị suy thoái cả trong hành động của dân nữa: “Tham gia khiếu kiện, biểu tình, ký đơn tập thể... thì đó là cái gì (nếu không phải là suy thoái)?” Ông Nguyễn Phú Trọng bảo vệ bốn không: Không bỏ điều 4 độc quyền; không đa nguyên đa đảng; không phân quyền; và không cho quân đội thoát ra ngoài bàn tay kiểm soát của đảng Cộng sản.
Người lên tiếng phản đối đầu tiên là nhà báo Nguyễn Ðắc Kiên. Phát pháo đầu của Nguyễn Ðắc Kiên vừa nổ đã vang động bốn phương. Nhờ bài của ông Kiên mà nhiều người mới biết chủ nghĩa bốn không của ông Trọng. Bình thường thì những người ngồi nghe đều đang mơ màng ngủ gật, hoặc đang nghĩ đến những quả sắp đánh ra tiền; có ai nghe ông Trọng nói gì đâu? Nếu người nào vô tình để mấy lời ông nói lọt vào tai thì chắc họ cũng chỉ chép miệng, lắc đầu: “Lại lú rồi!”
Ông Nguyễn Ðắc Kiên nói thẳng vào mặt: “Ông là tổng bí thư Ðảng Cộng sản Việt Nam, nếu muốn dùng hai chữ ‘suy thoái’ thì cùng lắm là ông chỉ có thể nói về (với) những người đang là đảng viên cộng sản, ông không đủ tư cách để nói lời đó với nhân dân cả nước.” Ông Kiên nói rõ “đang là đảng viên,” vì biết bây giờ nhiều đảng viên cộng sản trong lòng đã bỏ đảng từ lâu rồi.
Trong số các đảng viên đang nhờ đảng mà trục lợi, ai quên chủ nghĩa bốn không tất nhiên là “suy thoái” - chứ còn gì nữa? Bởi vì lập trường bốn không bảo đảm họ bám chặt quyền hành mà chia sẻ lợi lộc. Còn đảng còn mình. Mất đảng đi về đâu?
Nhưng còn người dân Việt bình thường, có ai muốn kéo dài chế độ tham nhũng, bất công, kinh tế trì trệ và nô lệ ngoại bang như hiện nay hay không? Chắc chắn không ai muốn!
Một ngày sau khi đưa bài lên mạng, ông Nguyễn Ðắc Kiên đã bị báo Gia Ðình & Xã Hội thi hành “kỷ luật, buộc thôi việc.” Nhà thơ Nguyễn Ðắc Kiên thật can đảm. Trước khi lên tiếng, chắc ông phải biết sẽ mất việc. Nước Việt Nam sẽ không bao giờ mất vào tay “Tàu lạ” là vì có những người dân Việt can đảm như vậy. Từ thời Hai Bà Trưng đã như thế: Nhưng hào kiệt đời nào cũng có! (Nguyễn Trãi)
Một người khác nhắc đến chủ trương bốn không của ông Nguyễn Phú Trọng là Nguyễn Hữu Vinh. Ông thẳng thắn bác bỏ “Xin thưa, đó không phải là suy thoái về đạo đức” của người dân Việt Nam, “mà đó là sự suy thoái uy tín, vị trí của (chế độ) độc tài, tham nhũng.”
Nhưng Nguyễn Hữu Vinh còn nhìn thấy đảng Cộng sản gần đây đã giăng một cái bẫy khi cho dân góp ý kiến về sửa đổi Hiến Pháp, nhấn mạnh: “Không có cấm kỵ khi góp ý sửa Hiến Pháp.” Ðây là một thủ thuật, như Mao Trạch Ðông đã dùng khi phát động phong trào “Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng nói.” Ðể ai nói ý kiến thật đều bị nhận diện rồi bị đày đọa từ đời cha tới đời con.
Nhưng Nguyễn Hữu Vinh thấy cái bẫy đó gây phản ứng ngược. Bao nhiêu người lên tiếng đòi trong Hiến Pháp phải bỏ điều số 4 về độc quyền lãnh đạo của đảng, đòi tam quyền phân lập. Ðảng Cộng sản trông thấy nguy cơ; biết cứ đà này thì phong trào đòi sửa Hiến Pháp sẽ ngày càng mạnh, vận mệnh đảng lâm nguy! Cho nên, ông Nguyễn Phú Trọng phải đứng ra ngăn chặn bằng “bốn điều cấm kỵ,” 4 cái không! Nguyễn Hữu Vinh khen: “Cái ông tổng bí thư này quả là thâm hậu, thế mà dân gian cứ tặng cho ông xú danh là Lú thì quả không hẳn đúng.”
Nhưng khi dân Hà Nội đặt bài ca dao có câu “Lú như Trọng,” chắc họ không nhầm. Nếu ông Trọng không lú thì chẳng lẽ đất Thăng Long ngàn năm văn vật toàn dân lú cả hay sao? Bởi vì trong câu chuyện này, nếu ông Trọng không lú trong chuyện nhỏ, thì vẫn lú trong những chuyện lớn hơn.
Chuyện nhỏ là địa vị ngon lành của đảng, bỏ mất thì rất uổng! Cho nên phải bám chặt, phải đóng chốt, phải bảo vệ đến cùng! Cái này, quả thật ông Nguyễn Phú Trọng không lú.
Ông Trọng lú lẫn trong những chuyện lớn hơn. Cái Lú Lớn thứ nhất là không biết thế nào là tiến bộ, thế nào là suy thoái. Có những tiến bộ loài người mới chỉ đạt được trong vài thế kỷ vừa qua, trong đó có những quy tắc như “Tam quyền phân lập,” hay là quân đội thuộc về toàn dân, phải độc lập với các đảng chính trị. Nhiều dân tộc đã thực hiện được các quy tắc đó, họ đều hãnh diện. Nhũng thứ đó mà ông Nguyễn Phú Trọng lại gọi là suy thoái! Lú đến như thế thì xứng danh là Lú Lớn, dịch sang tiếng Trung Quốc là Ðại Lú!
Cái Lú Lớn thứ nhì là không biết chính cái đảng Cộng sản của ông nên chọn con đường nào để hạ cánh an toàn, cứ bám víu lấy một chủ trương tuyệt vọng sẽ đưa nhau vào chỗ chết. Hiện nay đảng Cộng sản có ba đường để chọn, theo ba mô hình: Ðài Loan, Liên Xô, hay Rumani.
Làm theo lối Quốc Dân Ðảng ở Ðài Loan tức là thi hành ngay các quyền tự do lập hội, lập đảng, quyền tự do phát biểu; khuyến khích tư doanh; chấp nhận có các công đoàn tự do, các đảng chính trị đối lập; tự dưng xã hội công dân sẽ phát triển, họ sẽ giúp chấn dân khí, khai dân trí và vụ dân sinh. Theo mô hình Ðài Loan thì chắc chắn phải đoạn tuyệt với chủ nghĩa bốn không của Nguyễn Phú Trọng!
Mô hình Liên Xô là tạo ra một Boris Yeltsin. Có lẽ Yeltsin hiểu rõ bản chất của đảng Cộng sản hơn chúng ta nhiều, thấy không theo nổi con đường Ðài Loan, nên đã thú nhận: Ðảng Cộng sản chỉ có thể thay thế, không thể thay đổi. Theo lối Yeltsin thì xóa đi làm lại hết; giải tán ngay đảng cộng sản; những đảng viên nào còn quyến luyến cứ đi lập lại đảng với nhau.
Nếu không theo hai đường Ðài Loan và Liên Xô thì chỉ còn Mô hình Rumani, tức là bảo vệ độc quyền lãnh đạo đến cùng, quyết tâm sẽ “về với Marx, Engels, Lenin và Nicolae Ceauescu.” Cái Lú Lớn của ông Nguyễn Phú Trọng là đang dẫn đảng ông theo mô hình Rumani bằng chủ trương bốn không.
Chúng ta có thể hiểu tại sao ông Trọng chọn con đường bốn không. Cả đời ông chỉ được học bấy nhiêu thôi. Giống như một con ngựa đã được hai miếng da che kín hai bên mắt, chỉ còn nhìn thấy địa vị và quyền lợi bày ra trước mặt, khó nhìn thấy đường nào khác.
Ðiều đáng tiếc là ông còn mắc vào một cái Lú Lớn hơn nữa, mà cái này có thể tránh được. Cái Lú Lớn nhất của ông Nguyễn Phú Trọng và những người theo chủ trương bốn không bây giờ, là họ khinh thường dân tộc Việt Nam.
Có lẽ nào người Việt cứ để cho một đám sâu mọt gậm nhấm tài nguyên quốc gia mãi như thế này được? Lẽ nào người Việt cứ chịu mãi cảnh thua kém các nước khác, từ Mã Lai tới Miến Ðiện? Lẽ nào người Việt cứ chịu mãi nỗi nhục bị Tàu lạ tấn công, người lạ đến cướp rừng, cướp biển? Lẽ nào người Việt khi muốn làm lễ tưởng niệm những người lính chết năm 1979 vì chống quân xâm lăng lại bị cấm đoán? Cấm đoán họ tưởng niệm không những là khinh rẻ người đang sống mà còn khinh cả những người đã chết; người dân nước nào chịu mãi như thế được?
Nhiều người Trung Hoa biết kính trọng dân Việt Nam hơn. Trong bài trước, mục này nhắc đến Tiết độ sứ Tăng Cổn cuối đời Ðường, với hai câu thơ “Việt điện sơn xuyên” đối với “Ðường gia nhân vật.” Trong bài thơ đó ông còn so sánh Nước Nam với xứ Thục (Tứ Xuyên bên Tàu) với hai câu: “Hiệu Nam quốc chi giang san - Thắng thần long vu Thục địa” (nghĩa là: Giang sơn nước Nam này hơn hẳn rồng thần đất Thục.)
Nếu như ông Nguyễn Phú Trọng biết đọc thơ thì chắc ông lú đến nỗi không khinh rẻ người Việt như vậy. Nếu đọc thơ, ông sẽ biết thi sĩ Nguyễn Ðắc Kiên viết mấy câu thơ như vầy:
“lũ quỷ ám thừa cơ toàn trị,
khủng bố dã man, gieo rắc những kinh hoàng,
biến lẽ sống thành châm ngôn ‘mày phải sợ’”
Nhà thơ không biết sợ cho nên bật lên lời nói thẳng. Ông bị mất việc làm ngay. Nhưng sau đó viết thư cho mọi người ông lại yêu cầu đừng ai đả kích tờ báo đã cho ông thôi việc, họ không có cách nào khác, tội nghiệp. Ðó là cách cư xử cao thượng theo đạo lý người Việt Nam. Không lẽ một dân tộc sống như vậy mà lại chịu làm tôi mọi cho một đảng bất lực và tham nhũng mãi?
Người Việt Nam sẽ lắng nghe những lời tâm huyết trong thơ Nguyễn Ðắc Kiên:
“còn chần chừ gì mà không tỉnh dậy mau,
sống cho xứng danh xưng con người trên mặt đất!”
Nhà báo Nguyễn Ðắc Kiên mất việc, nhưng được lòng người khắp nơi
HÀ NỘI (NV) - Nhà báo trẻ tuổi Nguyễn Ðắc Kiên bị báo Gia Ðình và Xã Hội đuổi việc chưa đầy 24 giờ sau khi ông phổ biến
trên mạng xã hội facebook phản ứng của ông chê ông Tổng bí thư đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng “không đủ tư cách.”

Nhà báo Nguyễn Ðắc Kiên. (Hình: Từ mạng facebook )
Tuy nhiên, tràn ngập trên các mạng xã hội và trang nhà thông tin trên Internet là những lời ca ngợi Nguyễn Ðắc Kiên, 30 tuổi, can đảm, anh hùng, không vì miếng cơm manh áo mà giấu đi điều suy nghĩ thật của mình, và cũng là suy nghĩ của quảng đại quần chúng.
Một số ý kiến còn khuyên Nguyễn Ðắc Kiên kiện báo Gia Ðình và Xã Hội sa thải anh ngày 26 tháng 2, 2013 vì tờ báo đã làm trái luật lao động ở Việt Nam.
Trên blog “Ba Cừu” (http://dackien.wordpress.com/) của Nguyễn Ðắc Kiên ngay khi vừa có bài viết “Vài lời với TBT ÐCS VN Nguyễn Phú Trọng” khoảng vài chục người bày tỏ sự thán phục anh.
Khi tới “chỉ đạo” một hội nghị ở tỉnh Vĩnh Phúc ngày 25 tháng 2, 2013, ông tổng bí thư đảng CSVN gọi những người đòi chế độ Hà Nội bỏ điều 4 Hiến Pháp (dành độc quyền cai trị cho đảng CSVN) là “suy thoái đạo đức.”
Nhưng nhà báo Nguyễn Ðắc Kiên nói ông Trọng “không đủ tư cách” nói điều đó với nhân dân Việt Nam vì ông không phải là người nói lên điều suy nghĩ thật của quảng đại quần chúng.
Một người có biệt danh “NHAN DAN” viết: “Cảm ơn anh Ðắc Kiên, anh đã nói lên tâm tư của đại đa số nhân dân.”
Một người tên “Ngoc Huynh” viết: “Xin cảm ơn anh vì đã nói hộ cho rất nhiều người, trong đó có tôi. Chúc anh luôn vững vàng trên mọi ngả đường.”
Một người tên “huong son viết: “Không phải ai cũng dám nói như vậy... bái phục... bái phục. Có những người biết là như zậy nhưng không dám nói vì sao? Vì miếng cơm manh áo. Vì QUYỀN+LỢI+ÐỊA VỊ. Với anh, tôi chỉ dám nói khâm phục.”
Người với bút danh Paramita viết: “Như anh ÐK, thế mới thật là nhà báo, không phải con cừu.”
Người có bút danh Nguyễn Hoàng Ngọc viết: “Không có một lời phản đối nào, anh đã nói tất cả những gì tôi muốn nói, nhưng không đủ can đảm để nói ra thôi. Tôi tin tưởng rằng chân lý rồi sẽ chiến thắng, nước Việt Nam muôn đời là của người Việt Nam, không phải của riêng một cá nhân, hay tổ chức nào, chân thành cảm ơn anh, một con người dũng cảm!”
Trên trang mạng Dân Làm Báo, một người với bút danh OBAMALYSON viết: “Anh Ng. Đắc Kiên ơi. anh là một người là một người đầy can đảm và đáng để nhiều người đảng viên “học tập và làm theo tư tưởng nhà báo tự do Ng. Đắc Kiên.” Anh hãy vui mừng vì điều đó vì anh sẽ được sử sách lưu danh anh khi một chế độ Hồ Tặc đã đến lúc kết thúc.”
Người có bút danh DIENBIENHOABINH viết: “Anh đã vụt chói sáng trên bầu trời Việt Nam, anh đã tiếp bước CÙ HUY HÀ VŨ, NGUYỄN HỒNG SƠN, NGUYỄN VĂN ÐÀI, LÊ THỊ CÔNG NHÂN... những người con ưu tú của đất mẹ Việt Nam. có lẽ sau giới luật sư giờ đây Hà Nội bắt đầu lo sợ cánh nhà báo, họ ngày càng mạnh bạo và khao khát tự do hơn bao giờ hết.
Tự Do là một cái gì đó hấp dẫn vô cùng, lấp lánh còn hơn kim cương. Ðây là thứ mà con dân Việt Nam ngày đêm mong chờ, nên khi Nguyễn Ðắc Kiên bắn phát pháo hiệu tấn công tất cả chúng ta những người mong chờ Tự Do cảm thấy phấn chấn vô cùng. Nhưng anh cũng đã nói ‘mọi chuyện chỉ mới bắt đầu, con đường chông gai còn ở phía trước’ vâng anh cứ yên tâm trên con đường chông gai ấy anh không đơn độc sẽ có chúng tôi đồng hành với anh.”
Còn một người có bút danh hq74 viết: “Thực sự tôi đã ngấn lệ do vì quá cảm phục sự dũng cảm của anh bạn này.”
Trên blog của ông, Nguyễn Ðắc Kiên đã khiêm tốn rào đón là “dù có chuyện gì xảy ra, tôi chỉ mong các bạn hiểu cho một điều, tôi không muốn là anh hùng, không muốn là thần tượng. Nước ta đã có nhiều anh hùng, nhiều thánh thần quá rồi. Tôi sợ. Tôi chỉ nghĩ rằng, khi đất nước ta có tự do, dân chủ, các bạn sẽ thấy rằng, các bài viết của tôi là rất bình thường, nó thật sự bình thường, không có gì to tát cả.” (N.T.)
HÀ NỘI (NV) - Nhà báo trẻ tuổi Nguyễn Ðắc Kiên bị báo Gia Ðình và Xã Hội đuổi việc chưa đầy 24 giờ sau khi ông phổ biến
trên mạng xã hội facebook phản ứng của ông chê ông Tổng bí thư đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng “không đủ tư cách.”

Nhà báo Nguyễn Ðắc Kiên. (Hình: Từ mạng facebook )
Tuy nhiên, tràn ngập trên các mạng xã hội và trang nhà thông tin trên Internet là những lời ca ngợi Nguyễn Ðắc Kiên, 30 tuổi, can đảm, anh hùng, không vì miếng cơm manh áo mà giấu đi điều suy nghĩ thật của mình, và cũng là suy nghĩ của quảng đại quần chúng.
Một số ý kiến còn khuyên Nguyễn Ðắc Kiên kiện báo Gia Ðình và Xã Hội sa thải anh ngày 26 tháng 2, 2013 vì tờ báo đã làm trái luật lao động ở Việt Nam.
Trên blog “Ba Cừu” (http://dackien.wordpress.com/) của Nguyễn Ðắc Kiên ngay khi vừa có bài viết “Vài lời với TBT ÐCS VN Nguyễn Phú Trọng” khoảng vài chục người bày tỏ sự thán phục anh.
Khi tới “chỉ đạo” một hội nghị ở tỉnh Vĩnh Phúc ngày 25 tháng 2, 2013, ông tổng bí thư đảng CSVN gọi những người đòi chế độ Hà Nội bỏ điều 4 Hiến Pháp (dành độc quyền cai trị cho đảng CSVN) là “suy thoái đạo đức.”
Nhưng nhà báo Nguyễn Ðắc Kiên nói ông Trọng “không đủ tư cách” nói điều đó với nhân dân Việt Nam vì ông không phải là người nói lên điều suy nghĩ thật của quảng đại quần chúng.
Một người có biệt danh “NHAN DAN” viết: “Cảm ơn anh Ðắc Kiên, anh đã nói lên tâm tư của đại đa số nhân dân.”
Một người tên “Ngoc Huynh” viết: “Xin cảm ơn anh vì đã nói hộ cho rất nhiều người, trong đó có tôi. Chúc anh luôn vững vàng trên mọi ngả đường.”
Một người tên “huong son viết: “Không phải ai cũng dám nói như vậy... bái phục... bái phục. Có những người biết là như zậy nhưng không dám nói vì sao? Vì miếng cơm manh áo. Vì QUYỀN+LỢI+ÐỊA VỊ. Với anh, tôi chỉ dám nói khâm phục.”
Người với bút danh Paramita viết: “Như anh ÐK, thế mới thật là nhà báo, không phải con cừu.”
Người có bút danh Nguyễn Hoàng Ngọc viết: “Không có một lời phản đối nào, anh đã nói tất cả những gì tôi muốn nói, nhưng không đủ can đảm để nói ra thôi. Tôi tin tưởng rằng chân lý rồi sẽ chiến thắng, nước Việt Nam muôn đời là của người Việt Nam, không phải của riêng một cá nhân, hay tổ chức nào, chân thành cảm ơn anh, một con người dũng cảm!”
Trên trang mạng Dân Làm Báo, một người với bút danh OBAMALYSON viết: “Anh Ng. Đắc Kiên ơi. anh là một người là một người đầy can đảm và đáng để nhiều người đảng viên “học tập và làm theo tư tưởng nhà báo tự do Ng. Đắc Kiên.” Anh hãy vui mừng vì điều đó vì anh sẽ được sử sách lưu danh anh khi một chế độ Hồ Tặc đã đến lúc kết thúc.”
Người có bút danh DIENBIENHOABINH viết: “Anh đã vụt chói sáng trên bầu trời Việt Nam, anh đã tiếp bước CÙ HUY HÀ VŨ, NGUYỄN HỒNG SƠN, NGUYỄN VĂN ÐÀI, LÊ THỊ CÔNG NHÂN... những người con ưu tú của đất mẹ Việt Nam. có lẽ sau giới luật sư giờ đây Hà Nội bắt đầu lo sợ cánh nhà báo, họ ngày càng mạnh bạo và khao khát tự do hơn bao giờ hết.
Tự Do là một cái gì đó hấp dẫn vô cùng, lấp lánh còn hơn kim cương. Ðây là thứ mà con dân Việt Nam ngày đêm mong chờ, nên khi Nguyễn Ðắc Kiên bắn phát pháo hiệu tấn công tất cả chúng ta những người mong chờ Tự Do cảm thấy phấn chấn vô cùng. Nhưng anh cũng đã nói ‘mọi chuyện chỉ mới bắt đầu, con đường chông gai còn ở phía trước’ vâng anh cứ yên tâm trên con đường chông gai ấy anh không đơn độc sẽ có chúng tôi đồng hành với anh.”
Còn một người có bút danh hq74 viết: “Thực sự tôi đã ngấn lệ do vì quá cảm phục sự dũng cảm của anh bạn này.”
Trên blog của ông, Nguyễn Ðắc Kiên đã khiêm tốn rào đón là “dù có chuyện gì xảy ra, tôi chỉ mong các bạn hiểu cho một điều, tôi không muốn là anh hùng, không muốn là thần tượng. Nước ta đã có nhiều anh hùng, nhiều thánh thần quá rồi. Tôi sợ. Tôi chỉ nghĩ rằng, khi đất nước ta có tự do, dân chủ, các bạn sẽ thấy rằng, các bài viết của tôi là rất bình thường, nó thật sự bình thường, không có gì to tát cả.” (N.T.)
Bốn không hay không Bốn?
Ngô Nhân Dụng
Ngày hôm qua, Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam chính thức góp ý kiến vào việc sửa đổi Hiến Pháp, và không ngần ngại nêu ý kiến phải bãi bỏ độc quyền cai trị của đảng Cộng sản, phải thiết lập một thể chế trong đó ba quyền hành pháp, lập pháp và tư pháp phải được bảo đảm minh bạch bằng luật lệ.
Tuy các vị giám mục thường không can dự vào những việc chính trị đảng phái, nhưng bản “Nhận định và Góp ý” của họ rõ ràng nói ngược lại với lời tuyên bố gần đây của ông Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư đảng Cộng sản. Trong chủ trương “4 không” của ông Trọng, ông nhấn mạnh là không thể chấp nhận bỏ độc quyền lãnh đạo ghi điều 4 Hiến Pháp; không chấp nhận đa đảng; cương quyết bác bỏ khái niệm tam quyền phân lập; và chống đề nghị đặt quân đội ra ngoài bàn tay kiểm soát của đảng Cộng sản. Dân Hà Nội bàn nhau rằng “Tuyên ngôn Bốn Không” của ông Trọng là phản ứng bất đắc dĩ, vì những tay đầu đảng đang lo sợ trước “Phong trào Không Bốn,” của những người dân đòi xóa bỏ điều 4 trong Hiến Pháp.
Cuộc đấu tranh giữa Bốn Không (viết tắt 40) và Không Bốn (viết tắt 04) đã bắt đầu. Dân Việt bây giờ có thể kín đáo bày tỏ thái độ bằng dấu hiệu: Tôi 04, anh 40 hay sao? Không, Tôi cũng 04! Những chiếc áo sơ mi với dấu hiệu 04 sẽ từ từ xuất hiện.
Ông Nguyễn Phú Trọng đánh phủ đầu những người chống chủ trương 4 không, kết tội họ là “suy thoái” về chính trị, tư tưởng, đạo đức. Nhà báo Nguyễn Ðắc Kiên đã phản ứng ngay lập tức, nói thẳng rằng ông Trọng không có quyền nhân danh tất cả mọi người dân Việt Nam để kết luật tình trạng chung là suy thoái trên ba mặt đó. Nếu có suy thoái, thì chỉ có các đảng viên cộng sản của ông Trọng suy thoái thôi!
Dấu hiệu suy thoái nặng nề nhất về tư tưởng, chính trị và đạo đức đã hiện ra trong chủ trương 40 (bốn không) của ông Nguyễn Phú Trọng; khi ông dám nói rằng những người đòi tam quyền phân lập là suy thoái. Lời tuyên bố này hoàn toàn trái ngược với các bằng chứng lịch sử. Loài người, từ khi quy tục thành quốc gia, ngay lúc còn “ăn lông, ở lỗ,” thực ra người ta đã sống trong tình trạng tập trung quyền hành hàng mấy chục ngàn năm. Vì họ không biết cách sống nào khác. Lúc mới sinh ra đã thấy mọi quyền quyết định trong xã hội, trong quốc gia đều nằm trong tay một người hay một gia đình. Dù họ gọi chế độ của họ Ðế quốc hay là Cộng Hòa, quyền bính vẫn tập trung tay một nhóm người được ưu đãi.
Chỉ trong vài ngàn năm gần đây mới có những định chế nằm bên cạnh, có khả năng tranh giành ảnh hưởng với các nhóm độc quyền chính trị. Thí dụ, có những tổ chức tôn giáo tự coi mình độc lập với các ông hoàng, bà chúa. Hoặc khi các nhà quý tộc dám họp nhau lại đòi quyền hành của ông vua phải có giới hạn, như bản Magna Carta, Ðại Hiến Chương ở nước Anh vào năm 1215. Tiến xa một bước nữa, từ thế kỷ 18 loài người đã biết chính thức thiếp lập các định chế độc lập và có thể kiểm soát lẫn nhau. Ba định chế thi hành ba thứ quyền: hành pháp, lập pháp, và tư pháp. Từ đó tới nay, các dân tộc đều cố gắng tiến tới thực hiện việc phân chia ba thứ quyền hành như vậy. Những nước thực hiện “tam quyền phân lập” sớm nhất cũng là những nước tiến bộ nhất về kinh tế, mà người dân nước họ thường sống tự do và hạnh phúc hơn những nước độc tài chuyên chế.
Cho nên, chủ trương Bốn Không bác bỏ “tam quyền phân lập” là một ý kiến thực sự thoái hóa, hoàn toàn đi ngược với lịch sử tiến hóa của nhân loại. Giống như chủ trương đưa cả nước trở lại sống như vào thời Trung Cổ. Như vậy mà ông Nguyễn Phú Trọng lại bảo họ là suy thoái thì lạ thật!
Người Việt Nam không đến ai cũng nỗi lú như vậy. Nước ta đã sống dưới chế độ chuyên chế trong vài ngàn năm, nhưng ngay từ khi được biết có những tiến bộ của loài người thì dân Việt đã thấy muốn quốc gia tiến bộ cần phải có “tam quyền phân lập.”
Trong thế kỷ trước, Phan Bội Châu đã chủ trương phân biệt ba quyền. Trong một di cảo có lẽ viết trong năm 1940, năm chót trong cuộc đời hơn 73 tuổi, Phan Bội Châu cho thấy truyền thống văn hóa Á Ðông đã có truyền thống đó, đặc biệt là quyền tư pháp phải độc lập với quyền hành pháp. Ngay trong Nho Giáo đã chấp nhận điều này. Cụ Phan kể lại một cuộc đối thoại giữa Mạnh Tử với học trò.
Người học trò Ðào Ứng đem chuyện Vua Thuấn ra để hỏi ý thầy. Ông vua huyền thoại này được coi là mẫu mực của các ông vua tốt; còn cha vua là Cổ Tẩu thì mang tiếng xấu. Ðào Ứng hỏi rằng: Nếu trong lúc Thuấn làm vua, Cao Dao làm sĩ sư (vị quan tư pháp cao nhất), mà Cổ Tẩu vô cớ giết người; thì Cao Dao phải xử trí ra sao? Mạnh Tử trả lời rằng: “Bắt ngay chứ còn gì nữa?” (Chấp chi nhi dĩ hĩ). Ðào Ứng hỏi: “Thế Thuấn không ngăn cản hay sao?” Mạnh Tử: “Thuấn lấy cớ gì mà cấm được?”
Ðào Ứng vẫn thắc mắc: Vậy thì Thuấn phải làm gì? Mạnh Tử cho là vua Thuấn nên bỏ ngôi vua, cõng cha đi trốn, nếu muốn giữ đạo hiếu.
Kể lại các câu đối thoại đó, Phan Bội Châu nhận xét: “Thuấn không dám ỷ quyền thiên tử mà xâm phạm đến quyền tòa án... Mà trong mắt Cao Dao cũng vậy,... theo luật pháp giết người phải bắt, cha thiên tử giết người cũng phải bắt.” Phan Bội Châu kết luận: “Thầy Mạnh chủ trương tam quyền phân lập.”
Bây giờ chúng ta đều hiểu tam quyền phân lập nghĩa là gì. Thời 1940, Phan Bội Châu phải giải thích với đồng bào: “Tam quyền là những gì? Tức là lập pháp (lập ra pháp luật); tư pháp (nghiêm giữ pháp luật); hành pháp (thi hành những việc quốc dân giao cho làm. Ba quyền đó không được xâm phạm lẫn nhau... Ðọc câu 'Thuấn-đắc nhi cấm chi?' (Thuấn lấy cớ gì mà cấm được) chẳng phải tinh thần của 'tam quyền phân lập' đó ru? Còn như quyền lập pháp là thuộc về quốc dân, lại cao hơn hành chánh.” (Phan Bội Châu Toàn Tập, tập 4, xuất bản tại Huế, năm 1990, trang 388-391).
Nếu Phan Bội Châu sống vào thế kỷ 21, vào năm 2013, ở nước Việt Nam bị đặt dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng sản thì chắc cụ đã bị ông tổng bí thư chê là “suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức.” Nhưng nếu phải phê phán thì giữa Phan Bội Châu và Nguyễn Phú Trọng, thì chắc mọi người Việt Nam ai cũng biết người nào mới lú.
Nếu sống vào thế kỷ 21, chắc chắn Phan Bội Châu sẽ lên tiêng phản đối ngay chủ trương Bốn Không của đảng Cộng sản. Bởi vì cụ yêu thương người Việt Nam, suốt đời tranh đấu đòi quyền tự do, độc lập cho dân tộc. Không những đề cao tam quyền phân lập, chắc chắn Phan Bội Châu còn đòi phải bãi bỏ độc quyền cai trị cho bất cứ một đảng phái nào. Phan Bội Châu không bao giờ coi đảng của mình có quyền đứng trên đầu người dân. Sau vụ Phạm Hồng Thái ném bom ở Sa Diện năm 1924, dù dư luận cả nước hoan hô, Phan Bội Châu vẫn viết ngay một bài trần tình để giải thích tại sao Việt Nam Quốc Dân Ðảng, mà cụ sáng lập ở hải ngoại, lại chủ trương vụ ném bom này. Chống chế độ độc quyền độc đảng, chắc chắn Phan Bội Châu cũng phản đối đặt quân đội dưới sự kiểm soát của bất cứ đảng phái chính trị nào. Có thể đoán, cụ Phan sẽ phản ứng trước chủ trương Bốn Không của Nguyễn Phú Trọng giống hệt như phản ứng của Nguyễn Ðắc Kiên.
Người Việt Nam tranh đấu đòi tự do dân chủ có thể tin mình đang nối tiếp sự nghiệp tranh đấu của Phan Bội Châu.
Ngô Nhân Dụng
Ngày hôm qua, Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam chính thức góp ý kiến vào việc sửa đổi Hiến Pháp, và không ngần ngại nêu ý kiến phải bãi bỏ độc quyền cai trị của đảng Cộng sản, phải thiết lập một thể chế trong đó ba quyền hành pháp, lập pháp và tư pháp phải được bảo đảm minh bạch bằng luật lệ.
Tuy các vị giám mục thường không can dự vào những việc chính trị đảng phái, nhưng bản “Nhận định và Góp ý” của họ rõ ràng nói ngược lại với lời tuyên bố gần đây của ông Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư đảng Cộng sản. Trong chủ trương “4 không” của ông Trọng, ông nhấn mạnh là không thể chấp nhận bỏ độc quyền lãnh đạo ghi điều 4 Hiến Pháp; không chấp nhận đa đảng; cương quyết bác bỏ khái niệm tam quyền phân lập; và chống đề nghị đặt quân đội ra ngoài bàn tay kiểm soát của đảng Cộng sản. Dân Hà Nội bàn nhau rằng “Tuyên ngôn Bốn Không” của ông Trọng là phản ứng bất đắc dĩ, vì những tay đầu đảng đang lo sợ trước “Phong trào Không Bốn,” của những người dân đòi xóa bỏ điều 4 trong Hiến Pháp.
Cuộc đấu tranh giữa Bốn Không (viết tắt 40) và Không Bốn (viết tắt 04) đã bắt đầu. Dân Việt bây giờ có thể kín đáo bày tỏ thái độ bằng dấu hiệu: Tôi 04, anh 40 hay sao? Không, Tôi cũng 04! Những chiếc áo sơ mi với dấu hiệu 04 sẽ từ từ xuất hiện.
Ông Nguyễn Phú Trọng đánh phủ đầu những người chống chủ trương 4 không, kết tội họ là “suy thoái” về chính trị, tư tưởng, đạo đức. Nhà báo Nguyễn Ðắc Kiên đã phản ứng ngay lập tức, nói thẳng rằng ông Trọng không có quyền nhân danh tất cả mọi người dân Việt Nam để kết luật tình trạng chung là suy thoái trên ba mặt đó. Nếu có suy thoái, thì chỉ có các đảng viên cộng sản của ông Trọng suy thoái thôi!
Dấu hiệu suy thoái nặng nề nhất về tư tưởng, chính trị và đạo đức đã hiện ra trong chủ trương 40 (bốn không) của ông Nguyễn Phú Trọng; khi ông dám nói rằng những người đòi tam quyền phân lập là suy thoái. Lời tuyên bố này hoàn toàn trái ngược với các bằng chứng lịch sử. Loài người, từ khi quy tục thành quốc gia, ngay lúc còn “ăn lông, ở lỗ,” thực ra người ta đã sống trong tình trạng tập trung quyền hành hàng mấy chục ngàn năm. Vì họ không biết cách sống nào khác. Lúc mới sinh ra đã thấy mọi quyền quyết định trong xã hội, trong quốc gia đều nằm trong tay một người hay một gia đình. Dù họ gọi chế độ của họ Ðế quốc hay là Cộng Hòa, quyền bính vẫn tập trung tay một nhóm người được ưu đãi.
Chỉ trong vài ngàn năm gần đây mới có những định chế nằm bên cạnh, có khả năng tranh giành ảnh hưởng với các nhóm độc quyền chính trị. Thí dụ, có những tổ chức tôn giáo tự coi mình độc lập với các ông hoàng, bà chúa. Hoặc khi các nhà quý tộc dám họp nhau lại đòi quyền hành của ông vua phải có giới hạn, như bản Magna Carta, Ðại Hiến Chương ở nước Anh vào năm 1215. Tiến xa một bước nữa, từ thế kỷ 18 loài người đã biết chính thức thiếp lập các định chế độc lập và có thể kiểm soát lẫn nhau. Ba định chế thi hành ba thứ quyền: hành pháp, lập pháp, và tư pháp. Từ đó tới nay, các dân tộc đều cố gắng tiến tới thực hiện việc phân chia ba thứ quyền hành như vậy. Những nước thực hiện “tam quyền phân lập” sớm nhất cũng là những nước tiến bộ nhất về kinh tế, mà người dân nước họ thường sống tự do và hạnh phúc hơn những nước độc tài chuyên chế.
Cho nên, chủ trương Bốn Không bác bỏ “tam quyền phân lập” là một ý kiến thực sự thoái hóa, hoàn toàn đi ngược với lịch sử tiến hóa của nhân loại. Giống như chủ trương đưa cả nước trở lại sống như vào thời Trung Cổ. Như vậy mà ông Nguyễn Phú Trọng lại bảo họ là suy thoái thì lạ thật!
Người Việt Nam không đến ai cũng nỗi lú như vậy. Nước ta đã sống dưới chế độ chuyên chế trong vài ngàn năm, nhưng ngay từ khi được biết có những tiến bộ của loài người thì dân Việt đã thấy muốn quốc gia tiến bộ cần phải có “tam quyền phân lập.”
Trong thế kỷ trước, Phan Bội Châu đã chủ trương phân biệt ba quyền. Trong một di cảo có lẽ viết trong năm 1940, năm chót trong cuộc đời hơn 73 tuổi, Phan Bội Châu cho thấy truyền thống văn hóa Á Ðông đã có truyền thống đó, đặc biệt là quyền tư pháp phải độc lập với quyền hành pháp. Ngay trong Nho Giáo đã chấp nhận điều này. Cụ Phan kể lại một cuộc đối thoại giữa Mạnh Tử với học trò.
Người học trò Ðào Ứng đem chuyện Vua Thuấn ra để hỏi ý thầy. Ông vua huyền thoại này được coi là mẫu mực của các ông vua tốt; còn cha vua là Cổ Tẩu thì mang tiếng xấu. Ðào Ứng hỏi rằng: Nếu trong lúc Thuấn làm vua, Cao Dao làm sĩ sư (vị quan tư pháp cao nhất), mà Cổ Tẩu vô cớ giết người; thì Cao Dao phải xử trí ra sao? Mạnh Tử trả lời rằng: “Bắt ngay chứ còn gì nữa?” (Chấp chi nhi dĩ hĩ). Ðào Ứng hỏi: “Thế Thuấn không ngăn cản hay sao?” Mạnh Tử: “Thuấn lấy cớ gì mà cấm được?”
Ðào Ứng vẫn thắc mắc: Vậy thì Thuấn phải làm gì? Mạnh Tử cho là vua Thuấn nên bỏ ngôi vua, cõng cha đi trốn, nếu muốn giữ đạo hiếu.
Kể lại các câu đối thoại đó, Phan Bội Châu nhận xét: “Thuấn không dám ỷ quyền thiên tử mà xâm phạm đến quyền tòa án... Mà trong mắt Cao Dao cũng vậy,... theo luật pháp giết người phải bắt, cha thiên tử giết người cũng phải bắt.” Phan Bội Châu kết luận: “Thầy Mạnh chủ trương tam quyền phân lập.”
Bây giờ chúng ta đều hiểu tam quyền phân lập nghĩa là gì. Thời 1940, Phan Bội Châu phải giải thích với đồng bào: “Tam quyền là những gì? Tức là lập pháp (lập ra pháp luật); tư pháp (nghiêm giữ pháp luật); hành pháp (thi hành những việc quốc dân giao cho làm. Ba quyền đó không được xâm phạm lẫn nhau... Ðọc câu 'Thuấn-đắc nhi cấm chi?' (Thuấn lấy cớ gì mà cấm được) chẳng phải tinh thần của 'tam quyền phân lập' đó ru? Còn như quyền lập pháp là thuộc về quốc dân, lại cao hơn hành chánh.” (Phan Bội Châu Toàn Tập, tập 4, xuất bản tại Huế, năm 1990, trang 388-391).
Nếu Phan Bội Châu sống vào thế kỷ 21, vào năm 2013, ở nước Việt Nam bị đặt dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng sản thì chắc cụ đã bị ông tổng bí thư chê là “suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức.” Nhưng nếu phải phê phán thì giữa Phan Bội Châu và Nguyễn Phú Trọng, thì chắc mọi người Việt Nam ai cũng biết người nào mới lú.
Nếu sống vào thế kỷ 21, chắc chắn Phan Bội Châu sẽ lên tiêng phản đối ngay chủ trương Bốn Không của đảng Cộng sản. Bởi vì cụ yêu thương người Việt Nam, suốt đời tranh đấu đòi quyền tự do, độc lập cho dân tộc. Không những đề cao tam quyền phân lập, chắc chắn Phan Bội Châu còn đòi phải bãi bỏ độc quyền cai trị cho bất cứ một đảng phái nào. Phan Bội Châu không bao giờ coi đảng của mình có quyền đứng trên đầu người dân. Sau vụ Phạm Hồng Thái ném bom ở Sa Diện năm 1924, dù dư luận cả nước hoan hô, Phan Bội Châu vẫn viết ngay một bài trần tình để giải thích tại sao Việt Nam Quốc Dân Ðảng, mà cụ sáng lập ở hải ngoại, lại chủ trương vụ ném bom này. Chống chế độ độc quyền độc đảng, chắc chắn Phan Bội Châu cũng phản đối đặt quân đội dưới sự kiểm soát của bất cứ đảng phái chính trị nào. Có thể đoán, cụ Phan sẽ phản ứng trước chủ trương Bốn Không của Nguyễn Phú Trọng giống hệt như phản ứng của Nguyễn Ðắc Kiên.
Người Việt Nam tranh đấu đòi tự do dân chủ có thể tin mình đang nối tiếp sự nghiệp tranh đấu của Phan Bội Châu.
-
nguyennam619
- Posts: 238
- Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am
Nhiều khả năng Trung Quốc tiếp tục tăng ngân sách quốc phòng
Đức Tâm

Quân đội Trung Quốc không ngừng được hiện đại hóa, với ngân sách quốc phòng sẽ tăng mỗi năm gần 20%.
Reuters
Hàng loạt các vụ tranh chấp lãnh thổ với các nước láng giềng sẽ thúc đẩy Trung Quốc gia tăng chi phí quốc phòng. Hồ sơ này sẽ được Quốc hội Trung Quốc thông qua, trong khóa họp, khai mạc vào thứ Ba, ngày 05/03 tới đây.
Sau gần ba thập niên liên tục tăng chi phí quốc phòng, sức mạnh quân sự của Trung Quốc giờ đây có thể thách thức các đối thủ đang có tranh chấp chủ quyền ở những vùng biển có tầm quan trọng chiến lược và trữ lượng lớn về dầu khí, như Biển Đông và biển Hoa Đông.
Hải quân Trung Quốc hiện đứng hàng thứ hai trên thế giới, chỉ sau Mỹ về mặt quy mô, có đủ khả năng hoạt động ở vùng biển sâu, xa bờ, và tiếp tục tuần tra, luyện tập tại những nơi đang có tranh chấp.
Các vụ đối mặt giữa tàu Trung Quốc và Nhật Bản ở quần đảo Senkaku/Điếu Ngư, tại biển Hoa Đông, kéo dài hơn sáu tháng qua, đang trở nên nguy hiểm hơn. Bên cạnh đó, Trung Quốc có tranh chấp với Việt Nam về chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, với Philippines, Malaysia, Việt Nam, Brunei và Đài Loan về chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa, ở Biển Đông.
Để thực hiện kế hoạch triển khai lực lượng hải quân, giới chuyên gia quân sự cho rằng ngân sách quốc phòng năm nay của Trung Quốc sẽ tiếp tục tăng ở mức hai con số, tức là trên 10%.
Ông Nghê Lạc Hùng (Ni Lexiong), chuyên gia về quân sự ở khoa Khoa học Chính trị và Luật pháp, đại học Thượng Hải, nhận định, theo các dự báo thì ngân sách quốc phòng còn tăng mạnh và « với thái độ như hiện nay, Trung Quốc sẽ không để cho bất kỳ nước nào đe dọa mình ».
Song song với các hoạt động tuần tra để khẳng định chủ quyền của Bắc Kinh tại các nơi đang có tranh chấp chủ quyền, như ở Biển Đông và biển Hoa Đông, Trung Quốc còn điều tàu chiến tới vùng Vịnh Aden và ở ngoài khơi Somalia, tham gia vào kế hoạch của Liên Hiệp Quốc ngăn chặn hải tặc. Tháng trước, Bắc Kinh thông báo đợt điều động tàu chiến lần thứ 14 đến khu vực này, kể tháng 12 năm 2008.
Các động thái nói trên cho thấy Trung Quốc không ngừng gia tăng sức mạnh quân sự, mở rộng tầm hoạt động ra xa hơn, thay vì chỉ tiến hành các luyện tập ở bên trong lãnh thổ và tuần tra tại các vùng biển gần bờ, như trong các năm gần đây. Sự phát triển bộ máy quân sự như vậy cần phải có ngân sách lớn cho kế hoạch hiện đại hóa vũ khí, các thiết bị quân sự, đặt mua hoặc đóng tàu chiến, tàu ngầm, máy bay tiêm kích và tên lửa.
Năm 2012, Bắc Kinh thông báo ngân sách quốc phòng là 106 tỷ đô la, tăng 11,2% so với năm trước. Thế nhưng, nhiều chuyên gia quân sự nước ngoài cho rằng một số chi tiêu quân sự của Trung Quốc không nằm trong ngân sách được công bố. Bộ Quốc phòng Mỹ nhận định là các khoản chi thực của Trung Quốc có thể dao động trong khoảng từ 120 đến 180 tỷ đô la. Như vậy, ngân sách quốc phòng của Trung Quốc chỉ đứng sau Hoa Kỳ.
Tuy nhiên, Trung Quốc cũng gặp khó khăn trong việc quản lý ngân sách quốc phòng, vào lúc giới lãnh đạo chính trị và quân sự lên tiếng báo động về nạn tham nhũng và phí phạm trong quân đội, hiện có tới 2,3 triệu binh sĩ. Quân đội Trung Quốc vừa đưa ra một loạt các quy định mới nhằm quản lý chặt chẽ hơn các khoản chi tiêu, như trong lĩnh vực xây dựng, cung ứng vật tư, tổ chức hội thảo và đón tiếp khách, nhằm giảm lãng phí và chống tham nhũng.
Các quy định mới này, đã được ông Tập Cận Bình, tổng bí thư đảng Cộng sản, chủ tịch Quân ủy Trung ương thông qua, cũng hướng các khoản chi ngân sách quốc phòng vào việc nâng cao khả năng tác chiến, trang bị vũ khí công nghệ cao và tăng cường luyện tập và điều này càng làm cho các nước láng giềng lo ngại.
Đức Tâm

Quân đội Trung Quốc không ngừng được hiện đại hóa, với ngân sách quốc phòng sẽ tăng mỗi năm gần 20%.
Reuters
Hàng loạt các vụ tranh chấp lãnh thổ với các nước láng giềng sẽ thúc đẩy Trung Quốc gia tăng chi phí quốc phòng. Hồ sơ này sẽ được Quốc hội Trung Quốc thông qua, trong khóa họp, khai mạc vào thứ Ba, ngày 05/03 tới đây.
Sau gần ba thập niên liên tục tăng chi phí quốc phòng, sức mạnh quân sự của Trung Quốc giờ đây có thể thách thức các đối thủ đang có tranh chấp chủ quyền ở những vùng biển có tầm quan trọng chiến lược và trữ lượng lớn về dầu khí, như Biển Đông và biển Hoa Đông.
Hải quân Trung Quốc hiện đứng hàng thứ hai trên thế giới, chỉ sau Mỹ về mặt quy mô, có đủ khả năng hoạt động ở vùng biển sâu, xa bờ, và tiếp tục tuần tra, luyện tập tại những nơi đang có tranh chấp.
Các vụ đối mặt giữa tàu Trung Quốc và Nhật Bản ở quần đảo Senkaku/Điếu Ngư, tại biển Hoa Đông, kéo dài hơn sáu tháng qua, đang trở nên nguy hiểm hơn. Bên cạnh đó, Trung Quốc có tranh chấp với Việt Nam về chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, với Philippines, Malaysia, Việt Nam, Brunei và Đài Loan về chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa, ở Biển Đông.
Để thực hiện kế hoạch triển khai lực lượng hải quân, giới chuyên gia quân sự cho rằng ngân sách quốc phòng năm nay của Trung Quốc sẽ tiếp tục tăng ở mức hai con số, tức là trên 10%.
Ông Nghê Lạc Hùng (Ni Lexiong), chuyên gia về quân sự ở khoa Khoa học Chính trị và Luật pháp, đại học Thượng Hải, nhận định, theo các dự báo thì ngân sách quốc phòng còn tăng mạnh và « với thái độ như hiện nay, Trung Quốc sẽ không để cho bất kỳ nước nào đe dọa mình ».
Song song với các hoạt động tuần tra để khẳng định chủ quyền của Bắc Kinh tại các nơi đang có tranh chấp chủ quyền, như ở Biển Đông và biển Hoa Đông, Trung Quốc còn điều tàu chiến tới vùng Vịnh Aden và ở ngoài khơi Somalia, tham gia vào kế hoạch của Liên Hiệp Quốc ngăn chặn hải tặc. Tháng trước, Bắc Kinh thông báo đợt điều động tàu chiến lần thứ 14 đến khu vực này, kể tháng 12 năm 2008.
Các động thái nói trên cho thấy Trung Quốc không ngừng gia tăng sức mạnh quân sự, mở rộng tầm hoạt động ra xa hơn, thay vì chỉ tiến hành các luyện tập ở bên trong lãnh thổ và tuần tra tại các vùng biển gần bờ, như trong các năm gần đây. Sự phát triển bộ máy quân sự như vậy cần phải có ngân sách lớn cho kế hoạch hiện đại hóa vũ khí, các thiết bị quân sự, đặt mua hoặc đóng tàu chiến, tàu ngầm, máy bay tiêm kích và tên lửa.
Năm 2012, Bắc Kinh thông báo ngân sách quốc phòng là 106 tỷ đô la, tăng 11,2% so với năm trước. Thế nhưng, nhiều chuyên gia quân sự nước ngoài cho rằng một số chi tiêu quân sự của Trung Quốc không nằm trong ngân sách được công bố. Bộ Quốc phòng Mỹ nhận định là các khoản chi thực của Trung Quốc có thể dao động trong khoảng từ 120 đến 180 tỷ đô la. Như vậy, ngân sách quốc phòng của Trung Quốc chỉ đứng sau Hoa Kỳ.
Tuy nhiên, Trung Quốc cũng gặp khó khăn trong việc quản lý ngân sách quốc phòng, vào lúc giới lãnh đạo chính trị và quân sự lên tiếng báo động về nạn tham nhũng và phí phạm trong quân đội, hiện có tới 2,3 triệu binh sĩ. Quân đội Trung Quốc vừa đưa ra một loạt các quy định mới nhằm quản lý chặt chẽ hơn các khoản chi tiêu, như trong lĩnh vực xây dựng, cung ứng vật tư, tổ chức hội thảo và đón tiếp khách, nhằm giảm lãng phí và chống tham nhũng.
Các quy định mới này, đã được ông Tập Cận Bình, tổng bí thư đảng Cộng sản, chủ tịch Quân ủy Trung ương thông qua, cũng hướng các khoản chi ngân sách quốc phòng vào việc nâng cao khả năng tác chiến, trang bị vũ khí công nghệ cao và tăng cường luyện tập và điều này càng làm cho các nước láng giềng lo ngại.

