Bình Luận Thời Sự
CS Hà Nội: Cá Cắn Câu TC
Tác giả : Vi Anh
Ca dao Việt Nam có câu ”Cá cắn câu biết đâu mà gỡ. Chim vào lồng biết thuở nào ra.” Câu ca dao này thể hiện rất đúng hoàn cảnh cá chậu chim lồng và thân phận bị mắc bẫy do Trung Cộng đã giăng mà CS Hà nội phải chịu.
Đau đớn lắm, trong vấn đề Biển Đông bị TC xâm chiếm và lấn chiếm, VNCS là nước bị mất đất mất biển nhiều nhứt: mất 80% Biển Đông và hầu hết quần đảo Trường sa và Hoàng sa. TC coi vùng biển đảo này như ao nhà của họ. Họ lập huyện Tam Sa trực thuộc tỉnh Hải Nam, đặt bộ chỉ huy quân sự, cơ quan hành chánh, ra lịnh cấm đánh cá vào mùa trúng nhứt, tuần tra liên tục, lục soát tàu VN, bắn giết ngư dân VN bám biển, vùng biển ngàn đời của đất nước ông bà VN để lại. Dân chúng VN lên tiếng kêu ca, biểu tình phản đối TC, CS Hà nội trấn áp người Việt theo lịnh “định hướng dư luận” của quan thầy CS Bắc Kinh.
Trước bất mãn ngày càng cao độ của người dân Việt chống lại thái độ “bất động” gần như thông đồng với CS Bắc Kinh, CS Hà nội có lên tiếng phản đối, nhưng chỉ cho qua tang lề, nói bằng miệng, thốt bằng lời, chẳng dám có một hành động nhỏ nào trong việc bảo vệ biển đảo.
Phí luật tân nước nhỏ dân ít, quân yếu hơn VN nhiều, mới bị TC lâm le chiếm vùng bãi cạn Scarogorough, là đưa tàu chiến, máy bay ra chống chỏi. TC dùng chiến thuật nước chảy đá mòn, liên tục dưa tàu và máy bay ra khuấy rối. Phi luật tân kiên trì bám đất, bám biển, thể hiện tinh thần toàn dân, toàn quân đoàn kết tạo nội lực dân tộc quyết bảo vệ bờ cõi, của nhân dân Phi qua chế độ tự do, dân chủ. TC cũng không dám làm càn, làm ẩu sợ phản ứng của Mỹ và của công luận thế giới và phản ứng của cộng đồng thế giới công chính không để yên cho một nước lớn ỷ mạnh hiếp yếu.
Gần đây ngày 22/01/2013, Phi luật tân dùng thêm một vũ khí mới, vũ khí pháp lý, thượng luật pháp quốc tế, đâm đơn kiện TC ra trước toà án quốc tế về luật biển. Với tư cách một trong 164 nước trong đó có TC đã công nhận và ký kết gia nhập Luật Biển của Liên Hiệp Quốc, Phi luật tân đưa TC ra Tòa án Quốc tế, chiếu Luật Biển ITLOS trong khuôn khổ Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS).
Theo thủ tục của toà và luật biển này, có thể nói TC rất khó nếu không muốn nói là không thể cả vú lấp miệng Phi Luật tân được ở toà án quốc tế này. Và nhứt là không thể tránh né một thứ toà án lợi hại hơn là công luận thế giới được.
Theo thủ tục toà án quốc tế về luật biển, khi một hội viên nộp đơn chính thức khởi tố, như trường hợp Phi đang làm chống TC. Phi là nước nguyên cáo sẽ đề nghị một trong 5 vị thẩm phán cho phiên tòa. Còn bên bị cáo là TC sẽ đề nghị một vị thẩm phán thứ hai, trong vòng có 30 ngày. Còn ba vị thẩm phán còn lại, toà dành cho hai bên có thêm 60 ngày để đồng ý trong việc chọn lựa.
Thủ tục cũng đã dự trù trường họp bế tắc trong việc chọn lựa của hai bên. Giả sử bên bị cáo không đề nghị một vị thẩm phán, hay cả hai bên không đồng ý trong việc chọn ba vị còn lại, thì chủ tịch của tòa án quốc tế Liên Hiệp Quốc về Luật Biển ITLOS sẽ chọn các vị thẩm phán còn lại và Toà sẽ tự động lên lịch, đăng đường xét xử. Nói tóm gọn lại, Toà luật biển sẽ xử vụ Phi kiện TC về hành động lấn chiếm biển đảo. Thắng thua chưa biết, nhưng Toà vẫn xử TC, Phi luật tân có một diễn đàn nói lên hành động ngang ngược, bất chấp luật pháp mà chính TC đã ký tham gia.
Chắc chắn TC sẽ thua trước toà án công luận thế giới. Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng. TC sẽ bị coi là một nước ỷ mạnh ăn hiếp nước nhỏ. TC sẽ bị coi là một nhà cẩm quyền mạnh mới trổi dậy mà thiếu văn minh, thiếu trách nhiệm đối với cộng đồng thế giới và Nhân loại, bất chấp luật pháp mà chính TC đã thò tay mặt, đặt tay trái vào để ký.
Chắc chắn TC hiểu rõ bất lợi này khi trong Chiến Tranh VN, TC đã “gạ bài” cho Mỹ dội bom xuống Hà nội, một số lớn bom, người dân Hà nội phải chịu nhiều hơn số bom Mỹ dội trong Thế Chiến 2 ở Âu châu. Chính Phản Chiến Mỹ và các nước Tây Âu nhứt là Bắc Âu chống chánh quyền Mỹ vì những loại tuyên truyền như thế này.
Con người chánh trực trên thế giới cũng như ngay ở Trung Hoa, ai cũng ghét mạnh hiếp yếu, ỷ chúng hiếp cô. Đó là tinh thần đạo lý của Loài Người: “Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả. Lâm nguy bất cứu mạc anh hùng” mà chính người Hoa chánh trực đã viết thành đạo ở đời. Nó cao hơn chánh trị; là người Hoa ắt CS Bắc Kinh phải biết.
Trở lại VN, như đã phân tích ở trên, VN là nước bị TC xâm lấn, xâm chiến nhiểu biển đảo nhứt, trong vùng Biển Á châu Thái Bình Dương. Nhưng nhà cầm quyền CS Hà nội không có một hành động nào bảo vệ nào coi cho được như Phi luật tân, nước nhỏ và yếu hơn VN.
Nếu nói theo truyện chưởng của Kim Dung, thì Đảng Nhà Nước CSVN đã bị CS Bắc Kinh của TC cấy sinh tử phù vào toàn thân rồi và TC đã quá thành công hơn Nhạc Bất Quần trong hành động ngụy quân tử kiếm với tình đồng chí, sơn son thếp vàng với 16 chữ vàng và 4 cái tốt đối với CS Hànội.
Nói theo phim giả tưởng của Tây Phương, trên phương diện bảo vệ giang sơn gấm vóc của đất nước ông bà VN để lại cho con cháu, Đảng Nhà Nước CSVN chỉ còn là những “zombies”, những xác chết biết đi, sống dở chết dở mà thôi, đâu còn làm gì đuợc trước hành động xâm lăng của TC.
CS Hà nội phải đổi hồn thay xác, trở về với nhân dân VN, trả quyền “làm chủ” đất nước lại cho người dân Việt, để VN có một chánh quyền dân chủ khả dĩ huy động và phát huy được nội lực dân tộc cứu nguy Tổ Quốc.
Không có nước nào có thể cứu nguy dân tộc VN khi VN không hành động tự cứu. Chưa trễ đâu. Tổ tiên chúng ta, anh hùng liệt nữ VN đánh quân Tàu cả ngàn năm vẫn đánh, đánh chừng nào lấy lại được chủ quyền quốc gia, độc lập dân tộc mới thôi. Ba lần quân Tàu xâm lược VN, ba lần quân dân VN đánh đuổi quân Tàu thắng lợi./.( Vi Anh)
Tác giả : Vi Anh
Ca dao Việt Nam có câu ”Cá cắn câu biết đâu mà gỡ. Chim vào lồng biết thuở nào ra.” Câu ca dao này thể hiện rất đúng hoàn cảnh cá chậu chim lồng và thân phận bị mắc bẫy do Trung Cộng đã giăng mà CS Hà nội phải chịu.
Đau đớn lắm, trong vấn đề Biển Đông bị TC xâm chiếm và lấn chiếm, VNCS là nước bị mất đất mất biển nhiều nhứt: mất 80% Biển Đông và hầu hết quần đảo Trường sa và Hoàng sa. TC coi vùng biển đảo này như ao nhà của họ. Họ lập huyện Tam Sa trực thuộc tỉnh Hải Nam, đặt bộ chỉ huy quân sự, cơ quan hành chánh, ra lịnh cấm đánh cá vào mùa trúng nhứt, tuần tra liên tục, lục soát tàu VN, bắn giết ngư dân VN bám biển, vùng biển ngàn đời của đất nước ông bà VN để lại. Dân chúng VN lên tiếng kêu ca, biểu tình phản đối TC, CS Hà nội trấn áp người Việt theo lịnh “định hướng dư luận” của quan thầy CS Bắc Kinh.
Trước bất mãn ngày càng cao độ của người dân Việt chống lại thái độ “bất động” gần như thông đồng với CS Bắc Kinh, CS Hà nội có lên tiếng phản đối, nhưng chỉ cho qua tang lề, nói bằng miệng, thốt bằng lời, chẳng dám có một hành động nhỏ nào trong việc bảo vệ biển đảo.
Phí luật tân nước nhỏ dân ít, quân yếu hơn VN nhiều, mới bị TC lâm le chiếm vùng bãi cạn Scarogorough, là đưa tàu chiến, máy bay ra chống chỏi. TC dùng chiến thuật nước chảy đá mòn, liên tục dưa tàu và máy bay ra khuấy rối. Phi luật tân kiên trì bám đất, bám biển, thể hiện tinh thần toàn dân, toàn quân đoàn kết tạo nội lực dân tộc quyết bảo vệ bờ cõi, của nhân dân Phi qua chế độ tự do, dân chủ. TC cũng không dám làm càn, làm ẩu sợ phản ứng của Mỹ và của công luận thế giới và phản ứng của cộng đồng thế giới công chính không để yên cho một nước lớn ỷ mạnh hiếp yếu.
Gần đây ngày 22/01/2013, Phi luật tân dùng thêm một vũ khí mới, vũ khí pháp lý, thượng luật pháp quốc tế, đâm đơn kiện TC ra trước toà án quốc tế về luật biển. Với tư cách một trong 164 nước trong đó có TC đã công nhận và ký kết gia nhập Luật Biển của Liên Hiệp Quốc, Phi luật tân đưa TC ra Tòa án Quốc tế, chiếu Luật Biển ITLOS trong khuôn khổ Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS).
Theo thủ tục của toà và luật biển này, có thể nói TC rất khó nếu không muốn nói là không thể cả vú lấp miệng Phi Luật tân được ở toà án quốc tế này. Và nhứt là không thể tránh né một thứ toà án lợi hại hơn là công luận thế giới được.
Theo thủ tục toà án quốc tế về luật biển, khi một hội viên nộp đơn chính thức khởi tố, như trường hợp Phi đang làm chống TC. Phi là nước nguyên cáo sẽ đề nghị một trong 5 vị thẩm phán cho phiên tòa. Còn bên bị cáo là TC sẽ đề nghị một vị thẩm phán thứ hai, trong vòng có 30 ngày. Còn ba vị thẩm phán còn lại, toà dành cho hai bên có thêm 60 ngày để đồng ý trong việc chọn lựa.
Thủ tục cũng đã dự trù trường họp bế tắc trong việc chọn lựa của hai bên. Giả sử bên bị cáo không đề nghị một vị thẩm phán, hay cả hai bên không đồng ý trong việc chọn ba vị còn lại, thì chủ tịch của tòa án quốc tế Liên Hiệp Quốc về Luật Biển ITLOS sẽ chọn các vị thẩm phán còn lại và Toà sẽ tự động lên lịch, đăng đường xét xử. Nói tóm gọn lại, Toà luật biển sẽ xử vụ Phi kiện TC về hành động lấn chiếm biển đảo. Thắng thua chưa biết, nhưng Toà vẫn xử TC, Phi luật tân có một diễn đàn nói lên hành động ngang ngược, bất chấp luật pháp mà chính TC đã ký tham gia.
Chắc chắn TC sẽ thua trước toà án công luận thế giới. Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng. TC sẽ bị coi là một nước ỷ mạnh ăn hiếp nước nhỏ. TC sẽ bị coi là một nhà cẩm quyền mạnh mới trổi dậy mà thiếu văn minh, thiếu trách nhiệm đối với cộng đồng thế giới và Nhân loại, bất chấp luật pháp mà chính TC đã thò tay mặt, đặt tay trái vào để ký.
Chắc chắn TC hiểu rõ bất lợi này khi trong Chiến Tranh VN, TC đã “gạ bài” cho Mỹ dội bom xuống Hà nội, một số lớn bom, người dân Hà nội phải chịu nhiều hơn số bom Mỹ dội trong Thế Chiến 2 ở Âu châu. Chính Phản Chiến Mỹ và các nước Tây Âu nhứt là Bắc Âu chống chánh quyền Mỹ vì những loại tuyên truyền như thế này.
Con người chánh trực trên thế giới cũng như ngay ở Trung Hoa, ai cũng ghét mạnh hiếp yếu, ỷ chúng hiếp cô. Đó là tinh thần đạo lý của Loài Người: “Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả. Lâm nguy bất cứu mạc anh hùng” mà chính người Hoa chánh trực đã viết thành đạo ở đời. Nó cao hơn chánh trị; là người Hoa ắt CS Bắc Kinh phải biết.
Trở lại VN, như đã phân tích ở trên, VN là nước bị TC xâm lấn, xâm chiến nhiểu biển đảo nhứt, trong vùng Biển Á châu Thái Bình Dương. Nhưng nhà cầm quyền CS Hà nội không có một hành động nào bảo vệ nào coi cho được như Phi luật tân, nước nhỏ và yếu hơn VN.
Nếu nói theo truyện chưởng của Kim Dung, thì Đảng Nhà Nước CSVN đã bị CS Bắc Kinh của TC cấy sinh tử phù vào toàn thân rồi và TC đã quá thành công hơn Nhạc Bất Quần trong hành động ngụy quân tử kiếm với tình đồng chí, sơn son thếp vàng với 16 chữ vàng và 4 cái tốt đối với CS Hànội.
Nói theo phim giả tưởng của Tây Phương, trên phương diện bảo vệ giang sơn gấm vóc của đất nước ông bà VN để lại cho con cháu, Đảng Nhà Nước CSVN chỉ còn là những “zombies”, những xác chết biết đi, sống dở chết dở mà thôi, đâu còn làm gì đuợc trước hành động xâm lăng của TC.
CS Hà nội phải đổi hồn thay xác, trở về với nhân dân VN, trả quyền “làm chủ” đất nước lại cho người dân Việt, để VN có một chánh quyền dân chủ khả dĩ huy động và phát huy được nội lực dân tộc cứu nguy Tổ Quốc.
Không có nước nào có thể cứu nguy dân tộc VN khi VN không hành động tự cứu. Chưa trễ đâu. Tổ tiên chúng ta, anh hùng liệt nữ VN đánh quân Tàu cả ngàn năm vẫn đánh, đánh chừng nào lấy lại được chủ quyền quốc gia, độc lập dân tộc mới thôi. Ba lần quân Tàu xâm lược VN, ba lần quân dân VN đánh đuổi quân Tàu thắng lợi./.( Vi Anh)
Tổ Quốc Việt Nam - Còn Hay Đã Mất?
Huỳnh Quốc Bình
http://www.huynhquocbinh.com/ LTG: Trong vòng mấy năm qua, người Việt tỵ nạn chính trị tại hải ngoại có nhiều bàn tán, nhận xét, về số phận của đất nước Việt Nam đang nằm trong tay đảng cướp VC. Có người cho rằng trước sau gì Việt Nam cũng sẽ lọt vào tay Trung Cộng. Có người khẳng định rằng Việt Nam đã mất vào tay Trung Cộng rồi, chứ còn chờ đợi “trước” hay “sau” gì? Riêng tôi thì xin nói mà không sợ sai: Khi bọn Trung Cộng là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt Nam đã xỏ mũi hay khống chế được cái đám lãnh đạo trong đảng VC và biến chúng nó thành tập đoàn quan thái thú giống như “Thái Thú Tô Định” ngày xưa, tàn ác với dân… thì nước Việt Nam còn gì mà chưa mất? (HQB)
***
Tổ Quốc không chỉ là mảnh đất do tiền nhân để lại cho con cháu qua các thời đại, mà Tổ Quốc là vô hình, là niềm hảnh diện của con dân một đất nước. Giang sơn của một quốc gia có thể mất vào tay kẻ cướp hay kẻ thù dân tộc, nhưng Tổ Quốc vẫn là “máu thịt” không thể tách rời khỏi thân thể của con dân. Và chắc chắn không một kẻ thù nào có thể lấy hình ảnh thiêng liêng của Tổ Quốc ra khỏi tim óc những người biết yêu Tổ Quốc. Hình ảnh Tổ Quốc chỉ lu mờ khi người ta tìm cách chối bỏ gốc gác của mình để chọn một loại “tổ quốc” xã hội chủ nghĩa, một thứ “tổ quốc phi nhân” và tình nguyện làm thân nô lệ kẻ thù và mang súng đạn của chúng về dày xéo quê hương. Điều đáng mỉa mai là những tên thuộc loại “khôn ngoan trong việc ác, dốt nát trong việc lành” trong đảng cướp VC lại ngạo mạn cho rằng mình là "đỉnh cao trí tuệ loài người" nhưng thực chất bọn chúng chỉ là một tập đoàn “hèn với giặc, ác với dân”. Chúng nó ác như tên Thái Thú Tô Định ngày xưa, vô cùng tàn bạo và vô nhân đạo đối với người Việt Nam chúng ta.
Niềm tự hào về Tổ Quốc: Diện tích đất đai quốc gia này có thể to lớn hơn quốc gia kia, nhưng niềm tự hào về Tổ Quốc của con dân mỗi nước không thể do lường theo sự lớn nhỏ của phần đất mà họ có. Người ta nói “Tổ Quốc với con dân giống cha mẹ với con cái” không phải là quá đáng. Một người yêu ông bà, cha mẹ, người thân, nhưng có thể không yêu Tổ Quốc; nhưng chắc chắn một người biết yêu Tổ Quốc không thể không yêu người thân mình. Và một khi đã yêu thì người đó sẽ tìm đủ cách để nói hay làm những điều có lợi cho những gì mình "yêu". Điều này không khác chi một người lính chiến yêu đời binh nghiệp; người đó xem quân đội là sự nghiệp đời mình. Bằng chứng là có một vị Tướng trong quân đội Hoa Kỳ đã tuyên bố: “Người ta có thể mang tôi ra khỏi quân đội, nhưng không thể mang quân đội ra khỏi tôi”. (They can bring me out of the army, Abut they can never tear the Army out of me.)
Nguyền rủa Tổ Quốc: Phía người Việt Nam, có những tên muốn chứng tỏ mình hiểu biết, thông thái hơn người, nên buông lời xúc phạm và nguyền rủa tiền nhân anh hùng. Chúng lên án tổ quốc của chúng bằng những nhận xét hết sức hời hợt, bất công. Chúng đánh mất lòng tự trọng và liêm sỉ tối thiểu để tìm cách đồng hóa những khuyết điểm của chính thể này với tội lỗi tày trời của một đảng gian ác khác, giống như đảng VC hiện nay. Hãy chịu khó nghe Nguyễn Gia Kiểng trong “Tổ Quốc Ăn Năn” của đương sự: “Tổ quốc của phe cộng sản là một tổ quốc gian ác, trong khi tổ quốc của các chính quyền quốc gia là một tổ quốc tầm phào.” Chỉ có chế độ gian ác hay chính thể sai lầm chứ không thể có một loại tổ quốc nào là “gian ác” hoặc “tầm phào” cả… Dĩ nhiên, bài viết này không dành để tranh luận với những tên “trí thức” thuộc loại không sử dụng óc để nhận xét. Tôi chỉ muốn chứng minh rằng: Tổ Quốc Việt Nam là vô hình chứ không chỉ là dãy giang sơn hữu hình đang nằm trong tay những tên VC gian ác để ngày nay chúng tạo không biết bao nhiêu điều tồi tệ trên đó.
Ruồng bỏ Tổ Quốc: Có những ông bà “thiêng liêng nửa vời”, đang ở dưới đất mà cứ như thể là đang đi trên mây. Thiên Đàng không biết chừng nào mới vào được, mà quê hương trần gian thì lại không còn đất sống, bởi thái độ “thiêng liêng quá máu” của mình. Không có Thiên Chúa hay Thượng Đế nào dạy con người ruồng bỏ Tổ Tiên, ông Bà hay Tổ Quốc dưới trần gian; và cũng không có Trời hay Đấng Tối Cao nào cho phép con người chối bỏ Thiên Chúa hay Đấng Thượng Đế để đi thờ lạy tà thần, hoặc tình nguyện làm tay sai cho ma quỷ. Kẻ nào hiểu sai lẽ đạo từ Trời để có thái độ quên công ơn Tiền Nhân hay Tổ Quốc của mình, kẻ đó không thể nào có lòng kính trọng Thiên Chúa hay Đấng Thượng Đế một cách hết lòng. Ai nhận mình là Cơ Đốc Nhân hãy xem lại lời cầu xin của Chúa Cứu Thế Jesus với Chúa Cha trên trời thì sẽ rõ: “Con chẳng cầu Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ cho khỏi điều ác.” (Giăng 17:15)
Thu gọn hình ảnh một đất nước: Bây giờ chúng ta thử thu gọn hình ảnh một đất nước trở thành hình ảnh một gia đình. Gia đình kia chẳng may bị kẻ cướp xông vào nhà khống chế tất cả mọi người và hãm hiếp, vơ vét của cải mà họ có. Chỉ vài người may mắn thoát thân. Người kẹt lại bên trong, ngày đêm phải sống đời đói rách, tủi nhục và mong chờ người chạy thoát quay về cứu mình. Trong khi đó người chạy thoát vì phải lo kiếm sống để sinh tồn. Sau khi đời sống ổn định, bắt đầu lo hưởng thụ, lâu ngày quên mình cũng từng là nạn nhân của bọn cướp. Có người quên luôn cả ông bà, cha mẹ, chú bác, cô dì và anh chị em của mình vẫn còn nằm trong tay bọn cướp... Điều đáng buồn, đáng trách là những người này ung dung trở về căn nhà đó như một người hàng xóm về thăm nhà theo kiểu "áo gấm về làng". Có người còn nhẫn tâm bỏ vài mươi Mỹ kim ra để ngủ trên thân xác “tiều tụy” của chị em “ruột thịt” với mình. Chưa hết, họ còn tỏ ra thân thiện và bắt tay làm ăn với bọn cướp trong các vỏ bọc “tôn giáo”, “từ thiện” và “văn hoá”. Ai lên tiếng cản ngăn, họ bảo rằng "tôi không làm chính trị". Ai lên tiếng phản đối, họ bảo "thôi đừng làm chính trị".
Chê bai người Việt: Trong sinh hoạt tại hải ngoại, tôi thấy không ít người chẳng làm gì cả, tối ngày chỉ ngồi một chỗ mà than phiền hết điều này việc kia. Mỗi năm họ chỉ "trồi lên yêu nước" một vài lần trong những ngày lễ lớn và thường xuyên "tỏ vẻ thương nòi" chung quanh tách cà phê hay chén trà. Họ chỉ bàn thảo "chuyện đại sự" trong những bữa tiệc linh đình, đầy ắp rượu Mỹ rượu Tây. Họ “yêu” đất nước và dân tộc họ bằng những chuyến về thăm nhà theo cung cách của một người ngoại quốc đến Việt Nam sử dụng tài chánh theo kiểu “vung tiền qua cửa sổ”. Họ ra vào Việt Nam như người ta đi chợ qua nhiều “vỏ bọc” khác nhau, nhưng thực chất là mang đô-la về nộp cho bọn cướp. Để biện minh cho hành động tiêu cực của chính mình, họ không ngại nói lời ta thán, chê bai những khuyết điểm trong các sinh hoạt cộng đồng… Nhưng lại không biết hay không chịu làm một điều gì cho cộng đồng tốt hơn. Họ hết lời ca ngợi các cộng đồng Do Thái, Nhật Bản, Đại Hàn, Trung Hoa, Lào và Cam Bốt nhưng lại chê bai, thống trách, thậm chí còn "nguyền rủa" những khuyết điểm của cộng đồng mình.
Làm được gì cho đất nước?: Trước cảnh nước mất nhà tan, người có lòng tự trọng không thể ngồi đó mà trách nhau hay lên án người thời trước theo kiểu “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân”. Các cụ đã dạy, muốn trách người khác, trước hết phải xét lại chính mình. Sau ngày 30-4-75, ông tướng nào không nhận lãnh phần trách nhiệm đã để Việt Nam Cộng Hòa thua VC, mà cứ ngồi thở than, hay chỉ chờ đến ngày Quốc Hận 30-4 hằng năm để kể dài dòng về quá khứ vàng son, hoặc lớn tiếng chửi Mỹ và đồng minh… thì ông tướng đó không phải là vị tướng đúng nghĩa. Và người dân nào, ngay thời ly loạn không đóng góp phần vụ của mình cho đất nước mà chỉ giỏi lên án, hay trách cứ chính quyền Việt Nam Cộng Hòa bằng thái độ giống như kẻ thù VC, thì người đó chưa xứng đáng làm dân của một đất nước chẳng may gặp cảnh tai ương. Nói theo kiểu hết ý: Những tên trốn quân dịch hay những ai mà ngày trước chỉ giỏi tìm cách “ngồi mát ăn bát vàng” thì không được phép lên án những người chiến sĩ “bại trận” hay đã “nằm xuống”.
Cách đây hơn nửa thế kỷ, bài diễn văn của cựu Tổng Thống Hoa Kỳ John F Kennedy đọc trong buổi lễ nhậm chức tại Washington DC, ngày 20 tháng Giêng năm 1961, ông đã để lại câu nói bất hủ không chỉ cho nhân dân Hoa Kỳ mà cho cả thế giới về tương quan giữa đất nước và dân tộc: "Ask not what your country can do for you--ask what you can do for your country". Xin tạm dịch "Đừng hỏi đất nước đã làm gì cho bạn, mà hãy hỏi bạn ðã làm gì cho đất nước”.
Đất nước Việt Nam hiện nay: Theo dõi tình hình Việt Nam và nếu người ta có một cái nhìn khách quan hoặc bằng tâm tình của một nạn nhân đang sống dưới chế độ độc tài VC, hơn là lối nhận xét hời hợt của những “Việt kiều” ra vào Việt Nam như đi chợ cho những mục tiêu đen tối, thì chắc chắn người ta sẽ giật mình và tự hỏi:
- Có một đất nước nào mà phụ nữ, trẻ con bị bán ra nước ngoài làm nô lệ tình dục nhiều như Việt Nam? Chỉ có Việt Nam.
- Có một đất nước nào mà phụ nữ phải trần truồng xếp hàng để cho đàn ông ngoại quốc ngắm nhìn và chọn lựa để mang về “làm vợ” cho cả nhà họ hay không? Chỉ có Việt Nam.
- Có một đất nước nào mà nhà tù nhiều hơn trường học? Chỉ có Việt Nam.
- Có đất nước nào mà người dân phải ăn toàn khẩu hiệu (bánh vẻ) thay cơm? Chỉ có Việt Nam.
- Có đất nước nào mà người dân bị đàn áp chỉ vì bày tỏ lòng yêu nước? Chỉ có Việt Nam.
- Có đất nước nào mà thằng ăn cướp ngồi chiểm chệ xử nạn nhân kẻ cướp không? Chỉ có Việt Nam.
- Có một đất nước nào mà bọn côn đồ được phép bỏ tù người lương thiện không? Chỉ có Việt Nam.
- Và còn nhiều điều nghịch lý khác nữa, không sao kể hết trong khuôn khổ một bài viết.
Kết luận: Một người vì hoàn cảnh phải lìa xa quê hương sống đời lưu lạc một cách lâu dài, chưa hẵn là đã "mất Tổ Quốc". Người ta có thể sống bất cứ nơi nào trên thế giới miễn là vẫn còn nhớ mình là ai và vẫn còn muốn làm một cái gì đó lợi cho đất nước và dân tộc mình. Hoặc nếu không làm được một điều gì có lợi nhưng dứt khoát không làm hại cho đất nước và dân tộc mình, thì người đó vẫn còn Tổ Quốc. Bất cứ ai có những hành động tàn phá tài nguyên quốc gia, bất chấp nền luân lý và đạo đức dân tộc mình bị suy đồi, chọn ngồi chung bàn ăn chung mâm với bọn độc tài gian ác vì quyền lợi cá nhân, tiếp tay bọn bán nước hại dân để hãm hại đồng bào, làm tay sai cho ngoại bang hầu được vinh thân, phì da... thì đó mới chính là những kẻ không còn Tổ Quốc.
Huỳnh Quốc Bình
P.O. Box 20361
Salem, OR 97307. USA
(503) 949-8752
Email: huynhquocbinh@yahoo.com
www.danvietniemtin.com
Huỳnh Quốc Bình
http://www.huynhquocbinh.com/ LTG: Trong vòng mấy năm qua, người Việt tỵ nạn chính trị tại hải ngoại có nhiều bàn tán, nhận xét, về số phận của đất nước Việt Nam đang nằm trong tay đảng cướp VC. Có người cho rằng trước sau gì Việt Nam cũng sẽ lọt vào tay Trung Cộng. Có người khẳng định rằng Việt Nam đã mất vào tay Trung Cộng rồi, chứ còn chờ đợi “trước” hay “sau” gì? Riêng tôi thì xin nói mà không sợ sai: Khi bọn Trung Cộng là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt Nam đã xỏ mũi hay khống chế được cái đám lãnh đạo trong đảng VC và biến chúng nó thành tập đoàn quan thái thú giống như “Thái Thú Tô Định” ngày xưa, tàn ác với dân… thì nước Việt Nam còn gì mà chưa mất? (HQB)
***
Tổ Quốc không chỉ là mảnh đất do tiền nhân để lại cho con cháu qua các thời đại, mà Tổ Quốc là vô hình, là niềm hảnh diện của con dân một đất nước. Giang sơn của một quốc gia có thể mất vào tay kẻ cướp hay kẻ thù dân tộc, nhưng Tổ Quốc vẫn là “máu thịt” không thể tách rời khỏi thân thể của con dân. Và chắc chắn không một kẻ thù nào có thể lấy hình ảnh thiêng liêng của Tổ Quốc ra khỏi tim óc những người biết yêu Tổ Quốc. Hình ảnh Tổ Quốc chỉ lu mờ khi người ta tìm cách chối bỏ gốc gác của mình để chọn một loại “tổ quốc” xã hội chủ nghĩa, một thứ “tổ quốc phi nhân” và tình nguyện làm thân nô lệ kẻ thù và mang súng đạn của chúng về dày xéo quê hương. Điều đáng mỉa mai là những tên thuộc loại “khôn ngoan trong việc ác, dốt nát trong việc lành” trong đảng cướp VC lại ngạo mạn cho rằng mình là "đỉnh cao trí tuệ loài người" nhưng thực chất bọn chúng chỉ là một tập đoàn “hèn với giặc, ác với dân”. Chúng nó ác như tên Thái Thú Tô Định ngày xưa, vô cùng tàn bạo và vô nhân đạo đối với người Việt Nam chúng ta.
Niềm tự hào về Tổ Quốc: Diện tích đất đai quốc gia này có thể to lớn hơn quốc gia kia, nhưng niềm tự hào về Tổ Quốc của con dân mỗi nước không thể do lường theo sự lớn nhỏ của phần đất mà họ có. Người ta nói “Tổ Quốc với con dân giống cha mẹ với con cái” không phải là quá đáng. Một người yêu ông bà, cha mẹ, người thân, nhưng có thể không yêu Tổ Quốc; nhưng chắc chắn một người biết yêu Tổ Quốc không thể không yêu người thân mình. Và một khi đã yêu thì người đó sẽ tìm đủ cách để nói hay làm những điều có lợi cho những gì mình "yêu". Điều này không khác chi một người lính chiến yêu đời binh nghiệp; người đó xem quân đội là sự nghiệp đời mình. Bằng chứng là có một vị Tướng trong quân đội Hoa Kỳ đã tuyên bố: “Người ta có thể mang tôi ra khỏi quân đội, nhưng không thể mang quân đội ra khỏi tôi”. (They can bring me out of the army, Abut they can never tear the Army out of me.)
Nguyền rủa Tổ Quốc: Phía người Việt Nam, có những tên muốn chứng tỏ mình hiểu biết, thông thái hơn người, nên buông lời xúc phạm và nguyền rủa tiền nhân anh hùng. Chúng lên án tổ quốc của chúng bằng những nhận xét hết sức hời hợt, bất công. Chúng đánh mất lòng tự trọng và liêm sỉ tối thiểu để tìm cách đồng hóa những khuyết điểm của chính thể này với tội lỗi tày trời của một đảng gian ác khác, giống như đảng VC hiện nay. Hãy chịu khó nghe Nguyễn Gia Kiểng trong “Tổ Quốc Ăn Năn” của đương sự: “Tổ quốc của phe cộng sản là một tổ quốc gian ác, trong khi tổ quốc của các chính quyền quốc gia là một tổ quốc tầm phào.” Chỉ có chế độ gian ác hay chính thể sai lầm chứ không thể có một loại tổ quốc nào là “gian ác” hoặc “tầm phào” cả… Dĩ nhiên, bài viết này không dành để tranh luận với những tên “trí thức” thuộc loại không sử dụng óc để nhận xét. Tôi chỉ muốn chứng minh rằng: Tổ Quốc Việt Nam là vô hình chứ không chỉ là dãy giang sơn hữu hình đang nằm trong tay những tên VC gian ác để ngày nay chúng tạo không biết bao nhiêu điều tồi tệ trên đó.
Ruồng bỏ Tổ Quốc: Có những ông bà “thiêng liêng nửa vời”, đang ở dưới đất mà cứ như thể là đang đi trên mây. Thiên Đàng không biết chừng nào mới vào được, mà quê hương trần gian thì lại không còn đất sống, bởi thái độ “thiêng liêng quá máu” của mình. Không có Thiên Chúa hay Thượng Đế nào dạy con người ruồng bỏ Tổ Tiên, ông Bà hay Tổ Quốc dưới trần gian; và cũng không có Trời hay Đấng Tối Cao nào cho phép con người chối bỏ Thiên Chúa hay Đấng Thượng Đế để đi thờ lạy tà thần, hoặc tình nguyện làm tay sai cho ma quỷ. Kẻ nào hiểu sai lẽ đạo từ Trời để có thái độ quên công ơn Tiền Nhân hay Tổ Quốc của mình, kẻ đó không thể nào có lòng kính trọng Thiên Chúa hay Đấng Thượng Đế một cách hết lòng. Ai nhận mình là Cơ Đốc Nhân hãy xem lại lời cầu xin của Chúa Cứu Thế Jesus với Chúa Cha trên trời thì sẽ rõ: “Con chẳng cầu Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ cho khỏi điều ác.” (Giăng 17:15)
Thu gọn hình ảnh một đất nước: Bây giờ chúng ta thử thu gọn hình ảnh một đất nước trở thành hình ảnh một gia đình. Gia đình kia chẳng may bị kẻ cướp xông vào nhà khống chế tất cả mọi người và hãm hiếp, vơ vét của cải mà họ có. Chỉ vài người may mắn thoát thân. Người kẹt lại bên trong, ngày đêm phải sống đời đói rách, tủi nhục và mong chờ người chạy thoát quay về cứu mình. Trong khi đó người chạy thoát vì phải lo kiếm sống để sinh tồn. Sau khi đời sống ổn định, bắt đầu lo hưởng thụ, lâu ngày quên mình cũng từng là nạn nhân của bọn cướp. Có người quên luôn cả ông bà, cha mẹ, chú bác, cô dì và anh chị em của mình vẫn còn nằm trong tay bọn cướp... Điều đáng buồn, đáng trách là những người này ung dung trở về căn nhà đó như một người hàng xóm về thăm nhà theo kiểu "áo gấm về làng". Có người còn nhẫn tâm bỏ vài mươi Mỹ kim ra để ngủ trên thân xác “tiều tụy” của chị em “ruột thịt” với mình. Chưa hết, họ còn tỏ ra thân thiện và bắt tay làm ăn với bọn cướp trong các vỏ bọc “tôn giáo”, “từ thiện” và “văn hoá”. Ai lên tiếng cản ngăn, họ bảo rằng "tôi không làm chính trị". Ai lên tiếng phản đối, họ bảo "thôi đừng làm chính trị".
Chê bai người Việt: Trong sinh hoạt tại hải ngoại, tôi thấy không ít người chẳng làm gì cả, tối ngày chỉ ngồi một chỗ mà than phiền hết điều này việc kia. Mỗi năm họ chỉ "trồi lên yêu nước" một vài lần trong những ngày lễ lớn và thường xuyên "tỏ vẻ thương nòi" chung quanh tách cà phê hay chén trà. Họ chỉ bàn thảo "chuyện đại sự" trong những bữa tiệc linh đình, đầy ắp rượu Mỹ rượu Tây. Họ “yêu” đất nước và dân tộc họ bằng những chuyến về thăm nhà theo cung cách của một người ngoại quốc đến Việt Nam sử dụng tài chánh theo kiểu “vung tiền qua cửa sổ”. Họ ra vào Việt Nam như người ta đi chợ qua nhiều “vỏ bọc” khác nhau, nhưng thực chất là mang đô-la về nộp cho bọn cướp. Để biện minh cho hành động tiêu cực của chính mình, họ không ngại nói lời ta thán, chê bai những khuyết điểm trong các sinh hoạt cộng đồng… Nhưng lại không biết hay không chịu làm một điều gì cho cộng đồng tốt hơn. Họ hết lời ca ngợi các cộng đồng Do Thái, Nhật Bản, Đại Hàn, Trung Hoa, Lào và Cam Bốt nhưng lại chê bai, thống trách, thậm chí còn "nguyền rủa" những khuyết điểm của cộng đồng mình.
Làm được gì cho đất nước?: Trước cảnh nước mất nhà tan, người có lòng tự trọng không thể ngồi đó mà trách nhau hay lên án người thời trước theo kiểu “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân”. Các cụ đã dạy, muốn trách người khác, trước hết phải xét lại chính mình. Sau ngày 30-4-75, ông tướng nào không nhận lãnh phần trách nhiệm đã để Việt Nam Cộng Hòa thua VC, mà cứ ngồi thở than, hay chỉ chờ đến ngày Quốc Hận 30-4 hằng năm để kể dài dòng về quá khứ vàng son, hoặc lớn tiếng chửi Mỹ và đồng minh… thì ông tướng đó không phải là vị tướng đúng nghĩa. Và người dân nào, ngay thời ly loạn không đóng góp phần vụ của mình cho đất nước mà chỉ giỏi lên án, hay trách cứ chính quyền Việt Nam Cộng Hòa bằng thái độ giống như kẻ thù VC, thì người đó chưa xứng đáng làm dân của một đất nước chẳng may gặp cảnh tai ương. Nói theo kiểu hết ý: Những tên trốn quân dịch hay những ai mà ngày trước chỉ giỏi tìm cách “ngồi mát ăn bát vàng” thì không được phép lên án những người chiến sĩ “bại trận” hay đã “nằm xuống”.
Cách đây hơn nửa thế kỷ, bài diễn văn của cựu Tổng Thống Hoa Kỳ John F Kennedy đọc trong buổi lễ nhậm chức tại Washington DC, ngày 20 tháng Giêng năm 1961, ông đã để lại câu nói bất hủ không chỉ cho nhân dân Hoa Kỳ mà cho cả thế giới về tương quan giữa đất nước và dân tộc: "Ask not what your country can do for you--ask what you can do for your country". Xin tạm dịch "Đừng hỏi đất nước đã làm gì cho bạn, mà hãy hỏi bạn ðã làm gì cho đất nước”.
Đất nước Việt Nam hiện nay: Theo dõi tình hình Việt Nam và nếu người ta có một cái nhìn khách quan hoặc bằng tâm tình của một nạn nhân đang sống dưới chế độ độc tài VC, hơn là lối nhận xét hời hợt của những “Việt kiều” ra vào Việt Nam như đi chợ cho những mục tiêu đen tối, thì chắc chắn người ta sẽ giật mình và tự hỏi:
- Có một đất nước nào mà phụ nữ, trẻ con bị bán ra nước ngoài làm nô lệ tình dục nhiều như Việt Nam? Chỉ có Việt Nam.
- Có một đất nước nào mà phụ nữ phải trần truồng xếp hàng để cho đàn ông ngoại quốc ngắm nhìn và chọn lựa để mang về “làm vợ” cho cả nhà họ hay không? Chỉ có Việt Nam.
- Có một đất nước nào mà nhà tù nhiều hơn trường học? Chỉ có Việt Nam.
- Có đất nước nào mà người dân phải ăn toàn khẩu hiệu (bánh vẻ) thay cơm? Chỉ có Việt Nam.
- Có đất nước nào mà người dân bị đàn áp chỉ vì bày tỏ lòng yêu nước? Chỉ có Việt Nam.
- Có đất nước nào mà thằng ăn cướp ngồi chiểm chệ xử nạn nhân kẻ cướp không? Chỉ có Việt Nam.
- Có một đất nước nào mà bọn côn đồ được phép bỏ tù người lương thiện không? Chỉ có Việt Nam.
- Và còn nhiều điều nghịch lý khác nữa, không sao kể hết trong khuôn khổ một bài viết.
Kết luận: Một người vì hoàn cảnh phải lìa xa quê hương sống đời lưu lạc một cách lâu dài, chưa hẵn là đã "mất Tổ Quốc". Người ta có thể sống bất cứ nơi nào trên thế giới miễn là vẫn còn nhớ mình là ai và vẫn còn muốn làm một cái gì đó lợi cho đất nước và dân tộc mình. Hoặc nếu không làm được một điều gì có lợi nhưng dứt khoát không làm hại cho đất nước và dân tộc mình, thì người đó vẫn còn Tổ Quốc. Bất cứ ai có những hành động tàn phá tài nguyên quốc gia, bất chấp nền luân lý và đạo đức dân tộc mình bị suy đồi, chọn ngồi chung bàn ăn chung mâm với bọn độc tài gian ác vì quyền lợi cá nhân, tiếp tay bọn bán nước hại dân để hãm hại đồng bào, làm tay sai cho ngoại bang hầu được vinh thân, phì da... thì đó mới chính là những kẻ không còn Tổ Quốc.
Huỳnh Quốc Bình
P.O. Box 20361
Salem, OR 97307. USA
(503) 949-8752
Email: huynhquocbinh@yahoo.com
www.danvietniemtin.com
Coi dân là thù, họ sẽ sống với ai
Bùi Tín
Bộ Chính trị đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) đang lao vào một vùng chính trị cực kỳ nguy hiểm. Điều nghiêm trọng là họ vẫn nhơn nhơn tự đắc là mình đúng, được nhân dân ủng hộ.
Nắm chính quyền trong tay, họ chủ quan, duy ý chí, coi nhân dân không ra gì.
Họ vừa vượt qua ngưỡng cửa của sự miệt thị nhân dân, chụp mũ và đe dọa những công dân yêu nước, dấn thân, sau khi họ mời góp ý vào bản dự thảo do họ đưa ra.
Sự hỗn xược đối với nhân dân đã lên đến tuyệt đỉnh khi họ hết sức cay cú thấy rõ rằng bản dự thảo do họ đưa ra bị công luận chẳng những dứt khoát bác bỏ mà còn vạch trần âm mưu đen tối của họ là đưa ra một hiến pháp của đảng CS, do đảng CS, vì đảng CS, trong khi 72 trí thức tiêu biểu đã thảo ra một dự thảo khác tiến bộ và tâm huyết của dân, do dân, vì dân.
Xin hãy nghe phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ngày 25/2/2013 tại Vĩnh Phúc:
“Vừa rồi có luồng ý kiến có thể quy vào được là suy thoái chính trị, tư tưởng và đạo đức. Xem ai có tư tưởng đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp không? Phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng không? Muốn đa nguyên đa đảng không? Có tam quyền phân lập không? Có phi chính trị hóa quân dội không? Người ta đang có quan điểm như thế, đưa cả lên phương tiện thông tin đại chúng đấy. Thì như thế là suy thoái chứ còn gì nữa!”. Rồi ông đe dọa sẽ phải xử lý những người suy thoái ấy.
Và đâu phải đe dọa nữa. Ngay ngày hôm sau, nhà báo Nguyễn Đắc Kiên của báo Gia Đình và Xã Hội bị Bộ Y tế đuổi khỏi tòa soạn của báo này do đã viết trên blog cá nhân những ý kiến ngược lại những lập luận của ông tổng bí thư.
Đây là một mối nhục cho quốc thể, cho thể diện quốc gia, khi lãnh đạo của một nước dùng sinh kế của cán bộ để áp đặt đúng sai. Đòn thù hèn hạ này đã bị thế giới phê phán và công luận trong nước lập tức lên án bằng một Lời Tuyên bố của công dân tự do, một văn kiện đã nhanh chóng được 3,000 người lý tên ủng hộ.
Có thể nói đây là đòn phủ đầu của Bộ Chính trị đối với cả một tầng lớp trí thức liên minh với nông dân, thanh niên, phụ nữ, người buôn bán nhỏ và giới kinh doanh vừa và nhỏ, mà thực lực biểu hiện rõ trong bản lấy chữ ký về yêu cầu xây dựng hẳn một bản hiến pháp mới, hiện đã có 6.612 người ký, một con số kỷ lục trong một thời gian kỷ lục. Theo các nhận xét ghi dưới các bài trên mạng, Bản dự thảo của trí thức có 80% công luận đồng tình, khi Bản dự thảo của Quốc hội chỉ được có 3%.
Để hỗ trợ cho người đứng đầu đảng Nguyễn Phú Trọng trong tình thế hiễm nghèo, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng vội xông ra tiếp ứng, tuyên bố thủ đô Hà Nội đã lấy xong ý kiến nhân dân về bản Dự thảo Hiến pháp, sẽ kết thúc sớm vào ngày 7/3 này, nghĩa là sớm hơn dự kiến 24 ngày, trong khi 72 trí thức và hơn 6 ngàn người ủng hộ cho rằng thời gian 3 tháng lấy ý kiến là quá ít, lại trùng vào dịp Tết Nguyên đán, nhiều lễ hội, cần kéo dài cả năm mới đủ. Đây cũng là thái độ trịch thượng, quan liêu, coi thường ý kiến nhân dân. Rõ rang việc lấy ý kiến chỉ là hình thức bên ngoài, mọi việc đã bàn định xong xuôi cả rồi, cứ thế mà làm.
Giới trí thức còn nhớ trong tháng 10/2010, sau khi Bộ Chính trị mời gọi trí thức góp ý vào các văn kiện Đại hội XI, đã có khoảng 40 ý kiến thành tâm, có giá trị khoa học và thực tiễn, có lập luận chặt chẽ được trình bày…nhưng tất cả đều bị vứt bỏ. Rõ ràng đó là thái độ mục hạ vô nhân, khinh thường đến tột cùng nhân dân và trí thức. Vậy thì lấy ý kiến nhân dân làm gì, nay lại còn hỗn xược đe dọa “xử lý”?
Xử lý là thế nào? Như xử lý các trí thức Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Hoàng Minh Chính, Đặng Kim Giang…ư? Cho 72 nhân sĩ, trí thức lên chân núi Tam Đảo chăn bò ư? Đi khuân giấy in cho các nhà in Nhân Dân và nhà in Sự thật, hay bắt ngồi viết hàng trăm trang kiểm điểm về suy thoái chính trị, tư tưởng và đạo đức ư? Hay là đi khai thác bô-xít ở Tây Nguyên, hay đi xây cảng Kê Gà làm thuê cho bành trướng?...Để xem họ sẽ xử lý những người bị lên án là “suy thoái” ra sao.
Thời đại đã thay đổi nhiều rồi. Nỗi sợ cường quyền đã giảm đi trông thấy. Hãy nghe nguyên Đại sứ Nguyễn Trung công khai yêu cầu cả khóa Trung ương đảng và Bộ Chính trị hãy xin lỗi nhân dân và chịu án kỷ luật là về nhà nghỉ hẳn, xin thôi tham chính, vì đã phạm quá nhiều sai lầm tệ hại, không bị ra tòa là may. Đó mới thật là “xử lý” cần thiết, công bằng.
Điều mỉa mai khổng lồ nằm ở chỗ chính Bộ Chính trị và chính quyền các cấp mới suy thoái nặng nề, được ghi trong nghị quyết đảng hẳn hoi, nó nằm chình ình trong cơ quan lãnh đạo đảng chứ không còn ở đâu khác. Một chính quyền tham nhũng, thối nát đến mục rữa là tận cùng suy thoái.
Nhà báo Nguyễn Đắc Kiên không hề “suy thoái”, anh có lương tâm trong sáng, có tư duy tiên tiến, anh được ông Trọng vô tình “phong thánh”, được bạn bè quý mến, được ngay dư luận tiến bộ trên thế giới ca ngơị tinh thần dũng cảm bảo vệ sự thật khi tuyên bố “Tôi càng tiếp tục chiến đấu cho lẽ phải, vì nhân dân”.
Một cơ quan lãnh đạo già cỗi, mất hẳn liên hệ với nhân dân đông đảo đang thức tỉnh, nay lại bị cô lập, cay cú liền điên rồ coi nhân dân là thù địch dể hăm dọa “xử lý” bộ phận tiên tiến nhất, cũng đồng thời là bộ phận tinh hoa dũng cảm thông minh nhất còn lại của đảng Cộng sản.
Thật không cái dại nào giống cái dại nào!
Trước tình hình này, ông Nguyễn Minh Cần đã báo động “Thậm cấp chí nguy!”, ông Nguyễn Thanh Giang nhận xét: “Ông Nguyễn Phú Trọng hàm hồ!”
Còn quảng đại quần chúng thì không khỏi ngỡ ngàng thắc mắc: Coi nhân dân là thù địch, Bộ Chính trị sẽ sống với ai?
* Blog của Nhà báo Bùi Tín là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.
VOA
Bùi Tín
Bộ Chính trị đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) đang lao vào một vùng chính trị cực kỳ nguy hiểm. Điều nghiêm trọng là họ vẫn nhơn nhơn tự đắc là mình đúng, được nhân dân ủng hộ.
Nắm chính quyền trong tay, họ chủ quan, duy ý chí, coi nhân dân không ra gì.
Họ vừa vượt qua ngưỡng cửa của sự miệt thị nhân dân, chụp mũ và đe dọa những công dân yêu nước, dấn thân, sau khi họ mời góp ý vào bản dự thảo do họ đưa ra.
Sự hỗn xược đối với nhân dân đã lên đến tuyệt đỉnh khi họ hết sức cay cú thấy rõ rằng bản dự thảo do họ đưa ra bị công luận chẳng những dứt khoát bác bỏ mà còn vạch trần âm mưu đen tối của họ là đưa ra một hiến pháp của đảng CS, do đảng CS, vì đảng CS, trong khi 72 trí thức tiêu biểu đã thảo ra một dự thảo khác tiến bộ và tâm huyết của dân, do dân, vì dân.
Xin hãy nghe phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ngày 25/2/2013 tại Vĩnh Phúc:
“Vừa rồi có luồng ý kiến có thể quy vào được là suy thoái chính trị, tư tưởng và đạo đức. Xem ai có tư tưởng đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp không? Phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng không? Muốn đa nguyên đa đảng không? Có tam quyền phân lập không? Có phi chính trị hóa quân dội không? Người ta đang có quan điểm như thế, đưa cả lên phương tiện thông tin đại chúng đấy. Thì như thế là suy thoái chứ còn gì nữa!”. Rồi ông đe dọa sẽ phải xử lý những người suy thoái ấy.
Và đâu phải đe dọa nữa. Ngay ngày hôm sau, nhà báo Nguyễn Đắc Kiên của báo Gia Đình và Xã Hội bị Bộ Y tế đuổi khỏi tòa soạn của báo này do đã viết trên blog cá nhân những ý kiến ngược lại những lập luận của ông tổng bí thư.
Đây là một mối nhục cho quốc thể, cho thể diện quốc gia, khi lãnh đạo của một nước dùng sinh kế của cán bộ để áp đặt đúng sai. Đòn thù hèn hạ này đã bị thế giới phê phán và công luận trong nước lập tức lên án bằng một Lời Tuyên bố của công dân tự do, một văn kiện đã nhanh chóng được 3,000 người lý tên ủng hộ.
Có thể nói đây là đòn phủ đầu của Bộ Chính trị đối với cả một tầng lớp trí thức liên minh với nông dân, thanh niên, phụ nữ, người buôn bán nhỏ và giới kinh doanh vừa và nhỏ, mà thực lực biểu hiện rõ trong bản lấy chữ ký về yêu cầu xây dựng hẳn một bản hiến pháp mới, hiện đã có 6.612 người ký, một con số kỷ lục trong một thời gian kỷ lục. Theo các nhận xét ghi dưới các bài trên mạng, Bản dự thảo của trí thức có 80% công luận đồng tình, khi Bản dự thảo của Quốc hội chỉ được có 3%.
Để hỗ trợ cho người đứng đầu đảng Nguyễn Phú Trọng trong tình thế hiễm nghèo, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng vội xông ra tiếp ứng, tuyên bố thủ đô Hà Nội đã lấy xong ý kiến nhân dân về bản Dự thảo Hiến pháp, sẽ kết thúc sớm vào ngày 7/3 này, nghĩa là sớm hơn dự kiến 24 ngày, trong khi 72 trí thức và hơn 6 ngàn người ủng hộ cho rằng thời gian 3 tháng lấy ý kiến là quá ít, lại trùng vào dịp Tết Nguyên đán, nhiều lễ hội, cần kéo dài cả năm mới đủ. Đây cũng là thái độ trịch thượng, quan liêu, coi thường ý kiến nhân dân. Rõ rang việc lấy ý kiến chỉ là hình thức bên ngoài, mọi việc đã bàn định xong xuôi cả rồi, cứ thế mà làm.
Giới trí thức còn nhớ trong tháng 10/2010, sau khi Bộ Chính trị mời gọi trí thức góp ý vào các văn kiện Đại hội XI, đã có khoảng 40 ý kiến thành tâm, có giá trị khoa học và thực tiễn, có lập luận chặt chẽ được trình bày…nhưng tất cả đều bị vứt bỏ. Rõ ràng đó là thái độ mục hạ vô nhân, khinh thường đến tột cùng nhân dân và trí thức. Vậy thì lấy ý kiến nhân dân làm gì, nay lại còn hỗn xược đe dọa “xử lý”?
Xử lý là thế nào? Như xử lý các trí thức Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Hoàng Minh Chính, Đặng Kim Giang…ư? Cho 72 nhân sĩ, trí thức lên chân núi Tam Đảo chăn bò ư? Đi khuân giấy in cho các nhà in Nhân Dân và nhà in Sự thật, hay bắt ngồi viết hàng trăm trang kiểm điểm về suy thoái chính trị, tư tưởng và đạo đức ư? Hay là đi khai thác bô-xít ở Tây Nguyên, hay đi xây cảng Kê Gà làm thuê cho bành trướng?...Để xem họ sẽ xử lý những người bị lên án là “suy thoái” ra sao.
Thời đại đã thay đổi nhiều rồi. Nỗi sợ cường quyền đã giảm đi trông thấy. Hãy nghe nguyên Đại sứ Nguyễn Trung công khai yêu cầu cả khóa Trung ương đảng và Bộ Chính trị hãy xin lỗi nhân dân và chịu án kỷ luật là về nhà nghỉ hẳn, xin thôi tham chính, vì đã phạm quá nhiều sai lầm tệ hại, không bị ra tòa là may. Đó mới thật là “xử lý” cần thiết, công bằng.
Điều mỉa mai khổng lồ nằm ở chỗ chính Bộ Chính trị và chính quyền các cấp mới suy thoái nặng nề, được ghi trong nghị quyết đảng hẳn hoi, nó nằm chình ình trong cơ quan lãnh đạo đảng chứ không còn ở đâu khác. Một chính quyền tham nhũng, thối nát đến mục rữa là tận cùng suy thoái.
Nhà báo Nguyễn Đắc Kiên không hề “suy thoái”, anh có lương tâm trong sáng, có tư duy tiên tiến, anh được ông Trọng vô tình “phong thánh”, được bạn bè quý mến, được ngay dư luận tiến bộ trên thế giới ca ngơị tinh thần dũng cảm bảo vệ sự thật khi tuyên bố “Tôi càng tiếp tục chiến đấu cho lẽ phải, vì nhân dân”.
Một cơ quan lãnh đạo già cỗi, mất hẳn liên hệ với nhân dân đông đảo đang thức tỉnh, nay lại bị cô lập, cay cú liền điên rồ coi nhân dân là thù địch dể hăm dọa “xử lý” bộ phận tiên tiến nhất, cũng đồng thời là bộ phận tinh hoa dũng cảm thông minh nhất còn lại của đảng Cộng sản.
Thật không cái dại nào giống cái dại nào!
Trước tình hình này, ông Nguyễn Minh Cần đã báo động “Thậm cấp chí nguy!”, ông Nguyễn Thanh Giang nhận xét: “Ông Nguyễn Phú Trọng hàm hồ!”
Còn quảng đại quần chúng thì không khỏi ngỡ ngàng thắc mắc: Coi nhân dân là thù địch, Bộ Chính trị sẽ sống với ai?
* Blog của Nhà báo Bùi Tín là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.
VOA
CSVN Vô Thẩm Quyền
Vi Anh
Điều 4 Hiến Pháp của CSVN qui định Đảng CSVN lãnh đạo trên toàn xã hội VN là một tiếm quyền, mạo nhận vô đạo lý và bất hợp pháp, do chính Đảng CSVN tự chuyên và đơn phương soán đoạt. Không có đảng phái nào có thẫm quyển làm một việc như vậy. Không có tổ chức hay cá nhân nào có quyền soán đoạt quyền làm chủ đất nước của người dân như vậy. Vì tính vô đạo lý, phi pháp đó mà Đảng CSVN gây ra vô vàn tai hại cho nước và dân VN.
Nên mới đây lại có thêm phong trào nhân dân VN, trí thức, chuyên môn, tôn giáo hàng chục ngàn nhứt tề đòi hỏi Đảng Nhà Nước CSVN hủy bỏ điểu 4 Hiến Pháp ấy. Nói rõ ràng nhứt là Hội Đồng Giám Mục «Để tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, trong Hiến pháp không nên và không thể khẳng định một cách tiên thiên sự lãnh đạo của bất kỳ đảng phái chính trị nào, vì chủ thể của quyền bính chính trị chính là nhân dân.»
Và cãi chày, cãi cối, lý sự cùn cho việc làm phi pháp và vô đạo lý dó của CSVN là Tổng Bí Thư Đảng CSVN Nguyễn phú Trọng. Tại tỉnh ủy Vĩnh Phúc ngày 25/02/2013, người cầm đầu Đảng CSVN nói, đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp, đòi đa nguyên đa đảng, đòi tam quyền phân lập, phi chính trị hóa quân đội, có thể được quy là “suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”. Và cả một phong trào nhân dân VN quạt cho y tơi bời hoa lá, làm y cứng họng luôn.
Và tai hoạ rõ ràng của việc tiếm quyền, mạo nhận của CSVN gây ra cho đất nước nhân dân VN, là Đảng CSVN cắt đất dâng biển của VN cho quân thầy TC. Và người làm chuyện trời không dung đất không tha, nhân dân nguyền rủa ấy gần đây nhứt cũng là Tổng Bí Thư Đảng CSVN Nguyễn phú Trọng.
Tin tức truyển thông quốc tế cho biết, ngày 15/10/2011, tại Bắc Kinh thủ đô của Trung Cộng, Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng của Đảng CSVN và Chủ Tịch Đảng CS Trung Quốc Hồ cẩm Đào đã ra một tuyên bố chung sau chuyến Hoa du của Ô. Trọng. Rằng hai bên khẳng định «quyết tâm chính trị» thông qua «đàm phán và hiệp thương hữu nghị» để giải quyết vấn đề tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông. Hai bên cam kết không để «các thế lực thù địch» phá hoại quan hệ giữa hai Đảng, hai nước. Như vậy rõ ràng, không còn nghi ngờ gì nữa, người dân Việt bị loại ra ngoài, quốc tế không có quyền can dự. Chỉ có hai Đảng CS, VN và TQ, giải quyết tay đôi với nhau đối với các vấn đề trên Biển Đông của VN mà TC đã lấy hai đảo Hòang sa và Trường sa của VN làm huyện Tam Sa trực thuộc tình Hải Nam thuộc lãnh thổ của TC và chiếm 80% Biển Đông của VN bằng bản đồ hình lưỡi bò mà TC gọi là Nam Hải.
Hành động này của Ô. Tổng Bí Thư Đảng CSVN Nguyễn phú Trọng là hành động vô thẩm quyền, phản dân hại nước VN.
Một, Ô. Trọng hành động vô thẩm quyền về đối nội. Đảng CSVN không có quyền đơn phương giải quyết vấn đề chủ quyền biển đảo của quốc gia dân tộc VN với Trung Cộng. Giang sơn gấm vóc VN là xương máu của người Việt, hình hài, diện mạo của Tổ Quốc VN, hồn thiêng sông núi VN, không thể, không bao giờ là một vấn để thương lượng. Không ai có quyền thương lượng. Một tấc đất cũng không được nhường.
Chính Ông Trọng đã phá bể nguyên tắc “tổ chức chánh quyền” của Đảng CS mà Ông là Tổng Bí Thư. Đảng không thể thay thế những chức chưởng nhà nước trên phương diện công quyền.
Hai, Ô. Trọng hành động vô thẫm quyến về đối ngọai. Tuy Ông là Tổng Bí Thư của Đảng CSVN là đảng cầm quyền độc tài, đảng trị tòan diện, nhưng theo tập tục ngọai giao hiện hành trên thế giới, Ông không phải là quốc trưởng, Ông không thể ký kết một văn kiện ngọai giao chi phối lãnh thổ, lãnh hải, quyền lợi tinh thần và vật chất của nhân dân được.
Ba, Ông Trọng đã đã tạt ly nước vào mặt Ô. Chủ Tịch Nước Trương tấn Sang, Nguyễn minh Triết và Nguyễn tấn Dũng mặc thị đại diện cho phe CS ở Miền Nam. Trong khi Ông Trương tấn Sang đi Ấn độ vận động được nước đông dân hạng nhì của Á châu vào Biển Đông của VN khai thác dầu lửa hơi đốt trong vòng ba năm, thì Ô. Trọng lại chấp nhận nguyên tắc giải quyết mọi tranh chấp Biển Đông song phương với TC mà thôi.
Ông Trọng dùi vập những nỗ lực của của Ông Nguyễn minh Triết khi làm Chủ Tịch luân phiên của ASEAN đi tận Mỹ, ngồi đồng chủ tọa với TT Obama, trong phiên họp thượng đỉnh ASEAN +, vận động Mỹ quốc tế hóa vấn đề Biển Đông.
Ông Trọng cũng phế nỗ lực của một lãnh tụ CS ở Miển Nam khác là Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng đi Ấn Độ trước Ông Sang để vận động Ấn Độ, một cựu thù trong chiến tranh biên giới với TC, vào Biển Đông; điều mà sau này hội nghị San Francisco gồm Mỹ, Úc, Nhựt, Ấn, Phi đã khuyến nghị Ấn nên “hướng đông”.
Tánh kỳ thị Miền Nam, lập trường thân TC đã làm cho Ô. Nguyễn phú Trọng coi quyền lợi đất nước và nhân dân VN thấp hơn phe phái, phe đảng.
Bốn, Ông Trọng đã đùa đẩy quốc tế ra rìa, biến VN thành cô đơn và Ông Trọng trao thân VN vào tay tướng cướp TC. Việc Ô. Trọng cam kết giải quyềt vấn đề Biển Đông trên nguyên tắc song phương với TC, không để «các thế lực thù địch» phá hoại quan hệ giữa hai Đảng, hai nước – là hành động Ông “phế võ công của quốc gia dân tộc VN” trên trường quốc tế. Ai cũng biết trong ngọai giao không bao giờ một nước nhược tiểu mà thắng nối nước lớn. Giải cái thế yếu này nước nhỏ phải nhờ nhiều nước tiếp tay để “mãnh hổ nam địch quần hố”.
Ông Trọng cam kết giải quyết vấn đề biển đảo của VN tay đôi với TC là coi như Ông cắt đất dâng biển mà TC đã xấm lấn, chiếm đóng. Ông coi như mặc thị hợp thức hóa cho TC trong khi Ô. Trọng ở Bắc Kinh. Chính trong thời gian Ông Trọng ở Bắc Kinh, CS Bắc Kinh vẫn trước sau như một tuyên bố khẳng định chủ quyền "không thể chối cãi" của TQ đối với nguồn tài nguyên ở Biển Đông.
Nói tóm lại nếu người Việt Nam trong ngòai nước coi công hàm Thủ Tướng Phạm văn Đồng gởi cho Thủ Tướng Chu Ân Lai của TC, thừa nhận chủ quyền của TC trên lãnh hải trong đó có đảo Hòang sa -- là công hàm CS Hà nội bán nước cho TC; thì bây giờ những gì Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng của Đảng CSVN làm, cam kết giải quyết vấn đề Biển Đông song phương với TC là mặc thị, gián tiếp cắt đất dâng biển cho TC.
Quốc gia dân tộc VN, người Việt ở Bắc, ở Nam, ở Trung, ở hải ngọai đương thời và lịch sử VN không dung tha cho tội lỗi tày trời này./.
Vi Anh
Điều 4 Hiến Pháp của CSVN qui định Đảng CSVN lãnh đạo trên toàn xã hội VN là một tiếm quyền, mạo nhận vô đạo lý và bất hợp pháp, do chính Đảng CSVN tự chuyên và đơn phương soán đoạt. Không có đảng phái nào có thẫm quyển làm một việc như vậy. Không có tổ chức hay cá nhân nào có quyền soán đoạt quyền làm chủ đất nước của người dân như vậy. Vì tính vô đạo lý, phi pháp đó mà Đảng CSVN gây ra vô vàn tai hại cho nước và dân VN.
Nên mới đây lại có thêm phong trào nhân dân VN, trí thức, chuyên môn, tôn giáo hàng chục ngàn nhứt tề đòi hỏi Đảng Nhà Nước CSVN hủy bỏ điểu 4 Hiến Pháp ấy. Nói rõ ràng nhứt là Hội Đồng Giám Mục «Để tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, trong Hiến pháp không nên và không thể khẳng định một cách tiên thiên sự lãnh đạo của bất kỳ đảng phái chính trị nào, vì chủ thể của quyền bính chính trị chính là nhân dân.»
Và cãi chày, cãi cối, lý sự cùn cho việc làm phi pháp và vô đạo lý dó của CSVN là Tổng Bí Thư Đảng CSVN Nguyễn phú Trọng. Tại tỉnh ủy Vĩnh Phúc ngày 25/02/2013, người cầm đầu Đảng CSVN nói, đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp, đòi đa nguyên đa đảng, đòi tam quyền phân lập, phi chính trị hóa quân đội, có thể được quy là “suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”. Và cả một phong trào nhân dân VN quạt cho y tơi bời hoa lá, làm y cứng họng luôn.
Và tai hoạ rõ ràng của việc tiếm quyền, mạo nhận của CSVN gây ra cho đất nước nhân dân VN, là Đảng CSVN cắt đất dâng biển của VN cho quân thầy TC. Và người làm chuyện trời không dung đất không tha, nhân dân nguyền rủa ấy gần đây nhứt cũng là Tổng Bí Thư Đảng CSVN Nguyễn phú Trọng.
Tin tức truyển thông quốc tế cho biết, ngày 15/10/2011, tại Bắc Kinh thủ đô của Trung Cộng, Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng của Đảng CSVN và Chủ Tịch Đảng CS Trung Quốc Hồ cẩm Đào đã ra một tuyên bố chung sau chuyến Hoa du của Ô. Trọng. Rằng hai bên khẳng định «quyết tâm chính trị» thông qua «đàm phán và hiệp thương hữu nghị» để giải quyết vấn đề tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông. Hai bên cam kết không để «các thế lực thù địch» phá hoại quan hệ giữa hai Đảng, hai nước. Như vậy rõ ràng, không còn nghi ngờ gì nữa, người dân Việt bị loại ra ngoài, quốc tế không có quyền can dự. Chỉ có hai Đảng CS, VN và TQ, giải quyết tay đôi với nhau đối với các vấn đề trên Biển Đông của VN mà TC đã lấy hai đảo Hòang sa và Trường sa của VN làm huyện Tam Sa trực thuộc tình Hải Nam thuộc lãnh thổ của TC và chiếm 80% Biển Đông của VN bằng bản đồ hình lưỡi bò mà TC gọi là Nam Hải.
Hành động này của Ô. Tổng Bí Thư Đảng CSVN Nguyễn phú Trọng là hành động vô thẩm quyền, phản dân hại nước VN.
Một, Ô. Trọng hành động vô thẩm quyền về đối nội. Đảng CSVN không có quyền đơn phương giải quyết vấn đề chủ quyền biển đảo của quốc gia dân tộc VN với Trung Cộng. Giang sơn gấm vóc VN là xương máu của người Việt, hình hài, diện mạo của Tổ Quốc VN, hồn thiêng sông núi VN, không thể, không bao giờ là một vấn để thương lượng. Không ai có quyền thương lượng. Một tấc đất cũng không được nhường.
Chính Ông Trọng đã phá bể nguyên tắc “tổ chức chánh quyền” của Đảng CS mà Ông là Tổng Bí Thư. Đảng không thể thay thế những chức chưởng nhà nước trên phương diện công quyền.
Hai, Ô. Trọng hành động vô thẫm quyến về đối ngọai. Tuy Ông là Tổng Bí Thư của Đảng CSVN là đảng cầm quyền độc tài, đảng trị tòan diện, nhưng theo tập tục ngọai giao hiện hành trên thế giới, Ông không phải là quốc trưởng, Ông không thể ký kết một văn kiện ngọai giao chi phối lãnh thổ, lãnh hải, quyền lợi tinh thần và vật chất của nhân dân được.
Ba, Ông Trọng đã đã tạt ly nước vào mặt Ô. Chủ Tịch Nước Trương tấn Sang, Nguyễn minh Triết và Nguyễn tấn Dũng mặc thị đại diện cho phe CS ở Miền Nam. Trong khi Ông Trương tấn Sang đi Ấn độ vận động được nước đông dân hạng nhì của Á châu vào Biển Đông của VN khai thác dầu lửa hơi đốt trong vòng ba năm, thì Ô. Trọng lại chấp nhận nguyên tắc giải quyết mọi tranh chấp Biển Đông song phương với TC mà thôi.
Ông Trọng dùi vập những nỗ lực của của Ông Nguyễn minh Triết khi làm Chủ Tịch luân phiên của ASEAN đi tận Mỹ, ngồi đồng chủ tọa với TT Obama, trong phiên họp thượng đỉnh ASEAN +, vận động Mỹ quốc tế hóa vấn đề Biển Đông.
Ông Trọng cũng phế nỗ lực của một lãnh tụ CS ở Miển Nam khác là Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng đi Ấn Độ trước Ông Sang để vận động Ấn Độ, một cựu thù trong chiến tranh biên giới với TC, vào Biển Đông; điều mà sau này hội nghị San Francisco gồm Mỹ, Úc, Nhựt, Ấn, Phi đã khuyến nghị Ấn nên “hướng đông”.
Tánh kỳ thị Miền Nam, lập trường thân TC đã làm cho Ô. Nguyễn phú Trọng coi quyền lợi đất nước và nhân dân VN thấp hơn phe phái, phe đảng.
Bốn, Ông Trọng đã đùa đẩy quốc tế ra rìa, biến VN thành cô đơn và Ông Trọng trao thân VN vào tay tướng cướp TC. Việc Ô. Trọng cam kết giải quyềt vấn đề Biển Đông trên nguyên tắc song phương với TC, không để «các thế lực thù địch» phá hoại quan hệ giữa hai Đảng, hai nước – là hành động Ông “phế võ công của quốc gia dân tộc VN” trên trường quốc tế. Ai cũng biết trong ngọai giao không bao giờ một nước nhược tiểu mà thắng nối nước lớn. Giải cái thế yếu này nước nhỏ phải nhờ nhiều nước tiếp tay để “mãnh hổ nam địch quần hố”.
Ông Trọng cam kết giải quyết vấn đề biển đảo của VN tay đôi với TC là coi như Ông cắt đất dâng biển mà TC đã xấm lấn, chiếm đóng. Ông coi như mặc thị hợp thức hóa cho TC trong khi Ô. Trọng ở Bắc Kinh. Chính trong thời gian Ông Trọng ở Bắc Kinh, CS Bắc Kinh vẫn trước sau như một tuyên bố khẳng định chủ quyền "không thể chối cãi" của TQ đối với nguồn tài nguyên ở Biển Đông.
Nói tóm lại nếu người Việt Nam trong ngòai nước coi công hàm Thủ Tướng Phạm văn Đồng gởi cho Thủ Tướng Chu Ân Lai của TC, thừa nhận chủ quyền của TC trên lãnh hải trong đó có đảo Hòang sa -- là công hàm CS Hà nội bán nước cho TC; thì bây giờ những gì Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng của Đảng CSVN làm, cam kết giải quyết vấn đề Biển Đông song phương với TC là mặc thị, gián tiếp cắt đất dâng biển cho TC.
Quốc gia dân tộc VN, người Việt ở Bắc, ở Nam, ở Trung, ở hải ngọai đương thời và lịch sử VN không dung tha cho tội lỗi tày trời này./.
Nghị sĩ Mỹ cảnh cáo Triều Tiên: 'Tấn công là tự sát'
Một nghị sĩ hàng đầu của Mỹ cảnh báo rằng bất kỳ cuộc tấn công phủ đầu bằng hạt nhân nào nhằm vào Mỹ đều là hành động tự sát,
sau khi Triều Tiên tuyên bố sẽ tấn công hạt nhân và cho Washington 'chìm trong lửa'.

Thượng nghị sĩ Bob Menendez. Ảnh: TPM
"Tôi không nghĩ chế độ ở Bình Nhưỡng muốn tự sát, và hẳn nhiên là họ hiểu rõ rằng (tự sát) chính là hệ quả của bất kỳ cuộc tấn công nào nhằm vào Mỹ", thượng nghị sĩ Bob Menendez phát biểu trước Ủy ban quan hệ đối ngoại ngày 7/3.
Phát biểu của ông được đưa ra khi Liên hợp quốc thống nhất nghị quyết trừng phạt Triều Tiên do nước này tiến hành thử vũ khí hạt nhân tháng trước, và Triều Tiên đe dọa rằng một cuộc chiến tranh mới là "không thể tránh khỏi" bởi Mỹ và Hàn Quốc tiếp tục các cuộc tập trận ở Hàn.
Hôm qua Bình Nhưỡng nói sẽ mở cuộc tấn công phủ đầu bằng hạt nhân "nhằm vào hang ổ của những kẻ gây hấn"; trong khi một viên tướng của Triều Tiên nói các tên lửa đạn đạo liên lục địa của nước này đã sẵn sàng và sẽ nhấn chìm thủ đô của Mỹ trong "biển lửa".
Nghị sĩ Menendez nhận xét lời đe dọa của Triều Tiên là "kỳ cục", nhưng cũng cảnh báo thêm rằng: "Chúng ta hiển nhiên có đủ quyết tâm, ý chí và khả năng để vô hiệu hóa và chống bất kỳ mối đe dọa nào từ Triều Tiên".
Triều Tiên được cho là đã tích trữ được 20 đến 40 kg plutonium, đủ để chế tạo 6 đến 8 đầu đạn hạt nhân, nghị sĩ nói. Trong cuộc thử hạt nhân lần thứ ba mới đây, Triều Tiên khẳng định đã sử dụng các thiết bị hạt nhân nhỏ và nhẹ hơn, ám chỉ việc chế tạo đầu đạn để lắp vào tên lửa.
Triều Tiên cũng vừa tuyên bố hủy Hiệp định đình chiến 1953 với Hàn Quốc. Đây là động thái rất đáng chú ý trong bối cảnh cực kỳ căng thẳng hiện nay trên bán đảo Triều Tiên. Ở miền nam, Hàn Quốc và đồng minh Mỹ bước vào hai cuộc tập trận, trong đó có diễn tập quân sự có quy mô hàng đầu thế giới với sự tham gia của hơn 200.000 quân nhân. Ở miền bắc, Triều Tiên được cho là đã bắt đầu tập trận trên toàn quốc, nhà lãnh đạo Kim Jong un đi thị sát các vị trí tiền tiêu ở miền tây nam, khu vực từng chứng kiến những cuộc đụng độ đổ máu với nước láng giêngf.
Các diễn biến này tiếp theo loạt hành động gây chú ý toàn thế giới của Triều Tiên, trong đó có vụ thử hạt nhân hồi tháng 2 và phóng tên lửa tầm xa hồi tháng 12.

Tên lửa Unha-3 của Triều Tiên được phóng hôm 12/12. Ảnh: KCNA/Xinhua
Ánh Dương
Một nghị sĩ hàng đầu của Mỹ cảnh báo rằng bất kỳ cuộc tấn công phủ đầu bằng hạt nhân nào nhằm vào Mỹ đều là hành động tự sát,
sau khi Triều Tiên tuyên bố sẽ tấn công hạt nhân và cho Washington 'chìm trong lửa'.

Thượng nghị sĩ Bob Menendez. Ảnh: TPM
"Tôi không nghĩ chế độ ở Bình Nhưỡng muốn tự sát, và hẳn nhiên là họ hiểu rõ rằng (tự sát) chính là hệ quả của bất kỳ cuộc tấn công nào nhằm vào Mỹ", thượng nghị sĩ Bob Menendez phát biểu trước Ủy ban quan hệ đối ngoại ngày 7/3.
Phát biểu của ông được đưa ra khi Liên hợp quốc thống nhất nghị quyết trừng phạt Triều Tiên do nước này tiến hành thử vũ khí hạt nhân tháng trước, và Triều Tiên đe dọa rằng một cuộc chiến tranh mới là "không thể tránh khỏi" bởi Mỹ và Hàn Quốc tiếp tục các cuộc tập trận ở Hàn.
Hôm qua Bình Nhưỡng nói sẽ mở cuộc tấn công phủ đầu bằng hạt nhân "nhằm vào hang ổ của những kẻ gây hấn"; trong khi một viên tướng của Triều Tiên nói các tên lửa đạn đạo liên lục địa của nước này đã sẵn sàng và sẽ nhấn chìm thủ đô của Mỹ trong "biển lửa".
Nghị sĩ Menendez nhận xét lời đe dọa của Triều Tiên là "kỳ cục", nhưng cũng cảnh báo thêm rằng: "Chúng ta hiển nhiên có đủ quyết tâm, ý chí và khả năng để vô hiệu hóa và chống bất kỳ mối đe dọa nào từ Triều Tiên".
Triều Tiên được cho là đã tích trữ được 20 đến 40 kg plutonium, đủ để chế tạo 6 đến 8 đầu đạn hạt nhân, nghị sĩ nói. Trong cuộc thử hạt nhân lần thứ ba mới đây, Triều Tiên khẳng định đã sử dụng các thiết bị hạt nhân nhỏ và nhẹ hơn, ám chỉ việc chế tạo đầu đạn để lắp vào tên lửa.
Triều Tiên cũng vừa tuyên bố hủy Hiệp định đình chiến 1953 với Hàn Quốc. Đây là động thái rất đáng chú ý trong bối cảnh cực kỳ căng thẳng hiện nay trên bán đảo Triều Tiên. Ở miền nam, Hàn Quốc và đồng minh Mỹ bước vào hai cuộc tập trận, trong đó có diễn tập quân sự có quy mô hàng đầu thế giới với sự tham gia của hơn 200.000 quân nhân. Ở miền bắc, Triều Tiên được cho là đã bắt đầu tập trận trên toàn quốc, nhà lãnh đạo Kim Jong un đi thị sát các vị trí tiền tiêu ở miền tây nam, khu vực từng chứng kiến những cuộc đụng độ đổ máu với nước láng giêngf.
Các diễn biến này tiếp theo loạt hành động gây chú ý toàn thế giới của Triều Tiên, trong đó có vụ thử hạt nhân hồi tháng 2 và phóng tên lửa tầm xa hồi tháng 12.

Tên lửa Unha-3 của Triều Tiên được phóng hôm 12/12. Ảnh: KCNA/Xinhua
Ánh Dương
Không ưng được đổi lại
Ngô Nhân Dụng
Khán giả ti vi ở Pháp sẽ được coi một chương trình đặc biệt vào tối ngày mai, một phóng sự hình ảnh về đề tài, nạn mua bán đàn bà Việt Nam đưa sang Trung Quốc (Les Branches esseulées: Trafic de femmes vietnamiennes en Chine).
Tựa đề “Les Branches esseulées” dịch nguyên văn hai chữ Hán mà người Tầu phiên âm là “Guang-gun,” đọc lối Hán Việt là “Quang Côn.” Quang là sáng, cũng nghĩa là trống trải, như khi ta nói “phong quang, quang đãng.” Côn là cây gậy, có thể dùng để đánh nhau, “Côn quyền ra sức lược thao gồm tài” (Truyện Kiều). Quang côn là cây gậy trơ trụi, là cành cây không lá không hoa. Trong từ điển Hán Việt ghi nghĩa thông dụng nhất của từ này: Quang côn là đàn ông con trai chưa có vợ, độc thân, thường gọi là ế vợ.
Hai nhà báo công ty truyền thông CAPA, Patricia Wong và Gaël Caron, đã bỏ mấy tháng trời theo dõi một chàng trai người Trung Hoa đi mua vợ ở tận vùng gần Sài Gòn, Việt Nam, cách xa làng anh ta 3,500 cây số. Tên anh ta là Xiao Lu, 30 tuổi, chưa có vợ bao giờ. Anh làm công nhân đồn điền trà, ở một làng tên là Ting Xia. Tìm trong các mạng ở Trung Quốc thấy có làng trồng trà có tiếng tên là Thôn Ðình Hạ. Chương trình Quang Côn này sẽ được chiếu trên đài France 2 vào tối Thứ Năm, ngày 7 Tháng Ba 2013 này. Hai nhà báo đi theo anh Xiao Lu trên con đường thiên lý tầm thê đó. Nhưng bài phóng sự cũng mô tả chung nạn mua bán đàn bà con gái từ các nước Việt Nam, Lào, Miến Ðiện và Indonesia, đưa sang Tàu.
Trước đây đã nhiều nhà báo viết về nạn buôn phụ nữ Việt Nam bán sang Tàu, như trên tờ Wall Street Journal đã kể câu chuyện một cô quê ở Nam Ðịnh bị bán sang Quảng Ðông. Cô phải sống ở một làng miền núi, bị gia đình chồng và cả hàng xóm của họ canh giữ nghiêm ngặt không cho trốn đi. Sau cố lén gửi được thư cho gia đình tại Việt Nam, rồi một người anh trai lặn lội đi tìm được làng cô ở và bày mưu cứu cô về. Năm 2004 hai tác giả Valerie Hudson và Andrea den Boer viết cuốn sách tiếng Anh mang tựa đề “Bare Branches,” Cành Trụi, dịch sát hai chữ Quang Côn, trình bày tình trạng nhiều đàn ông ở nước Tầu ế vợ, do nhà xuất bản Ðại Học MIT in.
Bản tin loan báo chương trình Quang Côn, Les Branches esseulées, cho biết những “cô dâu” được “nhập khẩu” qua Tàu, trên nguyên tắc để làm vợ cho các quang côn, những cành cây trụi lá; nhưng họ được đem bán như bán nô lệ. Sớm muộn họ sẽ chạm mặt với thực tế phũ phàng, khác hẳn những gì được ông chồng tương lai hứa hẹn. Họ sẽ lao động cực nhọc ở các làng quê hẻo lánh, ngoài việc lo sinh đẻ. Nhiều cô dâu đã tìm đường trốn đi, nhiều cô đành chịu đựng số phận.
Hai nhà báo Patricia Wong và Gaël Caron bắt đầu chương trình với cảnh mua vợ của Xiao Lu tại vùng phụ cận Sài Gòn. Các quang côn được tập trung tại một khách sạn; họ bị ngăn cản không cho đi đâu, vì bọn lái buôn đã tịch thâu giấy thông hành, hộ chiếu của họ. Rồi họ được đi xem mặt hàng, là các cô gái Việt Nam tuổi ở 20. Một chuyến đi mua vợ như vậy tốn khoảng 5,000 đồng Euro, vào khoảng 8,000 đô-la Mỹ; những cô còn trinh được trả giá cao hơn. Giống như các siêu thị và cửa hàng bách hóa lớn ở Mỹ, khách tiêu thụ không hài lòng với các “món hàng” này có thể đem đổi lấy món hàng khác tương đương, “échangeable” trong nguyên văn. Bọn buôn người gồm cả người Tàu và người Việt.
Trong gian phòng khách sạn, nhà báo quay cảnh Xiao Lu gặp cô dâu tên là Thu Yến, một cô gái quê sợ sệt, nhút nhát. Hai người không thể nói chuyện gì với nhau cả vì ngôn ngữ bất đồng. Tất nhiên không ai mở miệng nói đến chữ “yêu.” Mấy ngày sau, họ về làng của cô gái ở vùng đồng bằng sông Cửu Long làm lễ cưới, một nghi lễ không có giá trị pháp lý. Sau đám cưới, bà mối người Tàu tên là bà Vương (Wang) đưa cho Thu Yến hộ chiếu với visa nhập cảnh Trung Quốc. Mấy ngày sau, Thu Yến về đến nhà chồng, ở một làng trong một thung lũng hẻo lánh; mọi người chung quanh nói thứ tiếng cô không hiểu được.
Trung Quốc có rất nhiều đàn ông ế vợ, một phần vì chính sách của Mao Trạch Ðông chỉ cho phép mỗi cặp vợ chồng có một đứa con, áp dụng cho phần lớn nhưng không phải tất cả dân Trung Hoa. Vì mong có con trai nối dõi, nhiều người đã giết chết các trẻ sơ sinh con gái, nhiều nhất là ở miền quê; gây ra cảnh trai thừa gái thiếu hiện nay.
Theo báo Nhà Kinh tế (The Economist, March 6, 2010), đầu năm 2010 Viện Khoa Học Xã Hội Trung Quốc (CASS) đã tiên đoán trong mười năm nữa ở nước Tầu cứ năm (5) thanh niên đến tuổi cưới vợ sẽ có một chàng không thể tìm được cô nào để “rước về.” Con số này tính ra dựa trên tỷ lệ số trẻ em trai và gái sinh ra trong khoảng từ 5, 10 năm trước. Vào năm 2020 trong lớp tuổi 19 trở xuống, sẽ có từ 30 đến 40 triệu thanh niên “thặng dư” so với số phụ nữ độc thân cùng tuổi, nghĩa là họ không thể nào có vợ - trừ khi nhập cảng phụ nữ hoặc xuất khẩu đàn ông!
Ðể độc giả thấy rõ con số đó lớn hay nhỏ ra sao, báo Economist đã so sánh: Con số 40 triệu này lớn bằng tất cả số thanh niên cùng tuổi ở nước Mỹ vào năm 2020, có vợ hoặc chưa có vợ. Trong lịch sử loài người, trong thời gian không có chiến tranh, chưa bao giờ một nước nào trên thế giới lại “chứa” một lực lượng đàn ông độc thân và ế vợ cao đến thế. Nếu so sánh với Việt Nam thì con số 40 triệu đó cũng xấp xỉ một nửa dân số nước ta, tức là gần bằng tổng số người đàn ông, con trai người Việt, kể từ trẻ sơ sinh tới các cụ già.
Trong các xã hội bình thường, cứ 100 trẻ em gái sinh ra thì có từ 103 đến 106 trẻ sơ sinh con trai. Vì trẻ em con trai dễ bị chết yểu hơn con gái, cho nên khi chúng lớn lên đến tuổi lập gia đình thì số trai gái cao xấp xỉ bằng nhau. Nhưng tại nhiều nước hiện nay tỷ lệ 100 gái/105 trai không còn nữa. Trong những năm từ 1985 đến 1989, tỷ lệ nam nữ ở Trung Hoa đã chênh lệch thành 100/108, tức là 100 bé gái thì có 108 bé trai. Trong những năm từ 2000 đến 2004, tỷ lệ càng nghiêng lệch thêm, 100 bé gái sinh ra thì sinh 124 bé trai. Tại nhiều tỉnh ở miền Nam và Trung nước Tầu, tỷ lệ này lên tới 100/130 hay 140.
Tỉnh Quảng Ðông, ở sát nước ta, là nơi cứ 100 em gái ra đời thì có 120 em trai. Ðến năm 2025, 2030, cứ 100 cô gái sẽ có 120 cậu trai muốn cưới làm vợ. Nếu trong mươi năm tới ở tỉnh trù phú nhất Trung Quốc này, mà có độ dăm, mười triệu thanh niên ế vợ, thì có ảnh hưởng gì tới xã hội Việt Nam hay không?
Chương trình ti vi trên đài France 2 chắc sẽ làm các khán giả người Pháp kinh ngạc. Nhưng đối với khán giả người Việt Nam thì chắc đó cũng là một mối sỉ nhục. Trong lịch sử nước ta chưa bao giờ có cảnh phụ nữ được đem bày hàng để bán, với điều kiện “không hài lòng thì đổi” để tận tình phục vụ người tiêu thụ. Chỉ dưới chế độ “ưu việt” kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay mới biến các cô gái thành hàng hóa xuất khẩu như vậy. Nhưng sau khi cảm thấy tủi nhục, người Việt Nam còn lo ngại nữa.
Có một quy luật dân số học, trong quá khứ, nhận thấy rằng các nước nhiều thanh niên ế vợ thường hay gây chiến với lân bang. Khi dân số nước đó tăng lên nhanh hơn khả năng sản xuất, số thanh niên trai tráng nhiều hơn, đa số trong tuổi lao động bị thất nghiệp, quá nhiều người không thể nào kiếm được vợ vì thừa trai thiếu gái, thì chiến tranh có thể giúp giải quyết cả ba vấn đề một lúc: thất nghiệp, dân số đông, và đàn ông ế vợ. Chính quyền một quốc gia quá đông “quang côn” thấy đó là một cách giải quyết số đàn ông thặng dư. Nếu không, đám thanh niên “bức xúc” và bất mãn đó sẽ dùng thời giờ không làm việc để gây tội ác, hoặc quay ra làm cách mạng, nổi loạn chống chính quyền. Không phải cuộc chiến tranh nào cũng xẩy ra vì quá nhiều thanh niên ế vợ; nhưng trong một xã hội mà số đàn ông thặng dư đông quá thì, khi kinh tế suy yếu, người cầm quyền thường gây chiến.
Ở Trung Quốc, ông Tập Cận Bình mới nhậm chức đã gia tăng ngân sách quân sự, tỷ số gia tăng lớn quá đến nỗi Bắc Kinh phải lên tiếng giải thích, khi nhiều quốc gia tỏ ý lo ngại. Ông Tập Cận Bình tăng ngân sách quốc phòng chỉ để mua chuộc các tướng lãnh Trung Quốc? Hay ông đang lo trước vấn đề do 35 triệu quang côn sẽ gây ra trong mươi năm sắp tới?
Ngô Nhân Dụng
Khán giả ti vi ở Pháp sẽ được coi một chương trình đặc biệt vào tối ngày mai, một phóng sự hình ảnh về đề tài, nạn mua bán đàn bà Việt Nam đưa sang Trung Quốc (Les Branches esseulées: Trafic de femmes vietnamiennes en Chine).
Tựa đề “Les Branches esseulées” dịch nguyên văn hai chữ Hán mà người Tầu phiên âm là “Guang-gun,” đọc lối Hán Việt là “Quang Côn.” Quang là sáng, cũng nghĩa là trống trải, như khi ta nói “phong quang, quang đãng.” Côn là cây gậy, có thể dùng để đánh nhau, “Côn quyền ra sức lược thao gồm tài” (Truyện Kiều). Quang côn là cây gậy trơ trụi, là cành cây không lá không hoa. Trong từ điển Hán Việt ghi nghĩa thông dụng nhất của từ này: Quang côn là đàn ông con trai chưa có vợ, độc thân, thường gọi là ế vợ.
Hai nhà báo công ty truyền thông CAPA, Patricia Wong và Gaël Caron, đã bỏ mấy tháng trời theo dõi một chàng trai người Trung Hoa đi mua vợ ở tận vùng gần Sài Gòn, Việt Nam, cách xa làng anh ta 3,500 cây số. Tên anh ta là Xiao Lu, 30 tuổi, chưa có vợ bao giờ. Anh làm công nhân đồn điền trà, ở một làng tên là Ting Xia. Tìm trong các mạng ở Trung Quốc thấy có làng trồng trà có tiếng tên là Thôn Ðình Hạ. Chương trình Quang Côn này sẽ được chiếu trên đài France 2 vào tối Thứ Năm, ngày 7 Tháng Ba 2013 này. Hai nhà báo đi theo anh Xiao Lu trên con đường thiên lý tầm thê đó. Nhưng bài phóng sự cũng mô tả chung nạn mua bán đàn bà con gái từ các nước Việt Nam, Lào, Miến Ðiện và Indonesia, đưa sang Tàu.
Trước đây đã nhiều nhà báo viết về nạn buôn phụ nữ Việt Nam bán sang Tàu, như trên tờ Wall Street Journal đã kể câu chuyện một cô quê ở Nam Ðịnh bị bán sang Quảng Ðông. Cô phải sống ở một làng miền núi, bị gia đình chồng và cả hàng xóm của họ canh giữ nghiêm ngặt không cho trốn đi. Sau cố lén gửi được thư cho gia đình tại Việt Nam, rồi một người anh trai lặn lội đi tìm được làng cô ở và bày mưu cứu cô về. Năm 2004 hai tác giả Valerie Hudson và Andrea den Boer viết cuốn sách tiếng Anh mang tựa đề “Bare Branches,” Cành Trụi, dịch sát hai chữ Quang Côn, trình bày tình trạng nhiều đàn ông ở nước Tầu ế vợ, do nhà xuất bản Ðại Học MIT in.
Bản tin loan báo chương trình Quang Côn, Les Branches esseulées, cho biết những “cô dâu” được “nhập khẩu” qua Tàu, trên nguyên tắc để làm vợ cho các quang côn, những cành cây trụi lá; nhưng họ được đem bán như bán nô lệ. Sớm muộn họ sẽ chạm mặt với thực tế phũ phàng, khác hẳn những gì được ông chồng tương lai hứa hẹn. Họ sẽ lao động cực nhọc ở các làng quê hẻo lánh, ngoài việc lo sinh đẻ. Nhiều cô dâu đã tìm đường trốn đi, nhiều cô đành chịu đựng số phận.
Hai nhà báo Patricia Wong và Gaël Caron bắt đầu chương trình với cảnh mua vợ của Xiao Lu tại vùng phụ cận Sài Gòn. Các quang côn được tập trung tại một khách sạn; họ bị ngăn cản không cho đi đâu, vì bọn lái buôn đã tịch thâu giấy thông hành, hộ chiếu của họ. Rồi họ được đi xem mặt hàng, là các cô gái Việt Nam tuổi ở 20. Một chuyến đi mua vợ như vậy tốn khoảng 5,000 đồng Euro, vào khoảng 8,000 đô-la Mỹ; những cô còn trinh được trả giá cao hơn. Giống như các siêu thị và cửa hàng bách hóa lớn ở Mỹ, khách tiêu thụ không hài lòng với các “món hàng” này có thể đem đổi lấy món hàng khác tương đương, “échangeable” trong nguyên văn. Bọn buôn người gồm cả người Tàu và người Việt.
Trong gian phòng khách sạn, nhà báo quay cảnh Xiao Lu gặp cô dâu tên là Thu Yến, một cô gái quê sợ sệt, nhút nhát. Hai người không thể nói chuyện gì với nhau cả vì ngôn ngữ bất đồng. Tất nhiên không ai mở miệng nói đến chữ “yêu.” Mấy ngày sau, họ về làng của cô gái ở vùng đồng bằng sông Cửu Long làm lễ cưới, một nghi lễ không có giá trị pháp lý. Sau đám cưới, bà mối người Tàu tên là bà Vương (Wang) đưa cho Thu Yến hộ chiếu với visa nhập cảnh Trung Quốc. Mấy ngày sau, Thu Yến về đến nhà chồng, ở một làng trong một thung lũng hẻo lánh; mọi người chung quanh nói thứ tiếng cô không hiểu được.
Trung Quốc có rất nhiều đàn ông ế vợ, một phần vì chính sách của Mao Trạch Ðông chỉ cho phép mỗi cặp vợ chồng có một đứa con, áp dụng cho phần lớn nhưng không phải tất cả dân Trung Hoa. Vì mong có con trai nối dõi, nhiều người đã giết chết các trẻ sơ sinh con gái, nhiều nhất là ở miền quê; gây ra cảnh trai thừa gái thiếu hiện nay.
Theo báo Nhà Kinh tế (The Economist, March 6, 2010), đầu năm 2010 Viện Khoa Học Xã Hội Trung Quốc (CASS) đã tiên đoán trong mười năm nữa ở nước Tầu cứ năm (5) thanh niên đến tuổi cưới vợ sẽ có một chàng không thể tìm được cô nào để “rước về.” Con số này tính ra dựa trên tỷ lệ số trẻ em trai và gái sinh ra trong khoảng từ 5, 10 năm trước. Vào năm 2020 trong lớp tuổi 19 trở xuống, sẽ có từ 30 đến 40 triệu thanh niên “thặng dư” so với số phụ nữ độc thân cùng tuổi, nghĩa là họ không thể nào có vợ - trừ khi nhập cảng phụ nữ hoặc xuất khẩu đàn ông!
Ðể độc giả thấy rõ con số đó lớn hay nhỏ ra sao, báo Economist đã so sánh: Con số 40 triệu này lớn bằng tất cả số thanh niên cùng tuổi ở nước Mỹ vào năm 2020, có vợ hoặc chưa có vợ. Trong lịch sử loài người, trong thời gian không có chiến tranh, chưa bao giờ một nước nào trên thế giới lại “chứa” một lực lượng đàn ông độc thân và ế vợ cao đến thế. Nếu so sánh với Việt Nam thì con số 40 triệu đó cũng xấp xỉ một nửa dân số nước ta, tức là gần bằng tổng số người đàn ông, con trai người Việt, kể từ trẻ sơ sinh tới các cụ già.
Trong các xã hội bình thường, cứ 100 trẻ em gái sinh ra thì có từ 103 đến 106 trẻ sơ sinh con trai. Vì trẻ em con trai dễ bị chết yểu hơn con gái, cho nên khi chúng lớn lên đến tuổi lập gia đình thì số trai gái cao xấp xỉ bằng nhau. Nhưng tại nhiều nước hiện nay tỷ lệ 100 gái/105 trai không còn nữa. Trong những năm từ 1985 đến 1989, tỷ lệ nam nữ ở Trung Hoa đã chênh lệch thành 100/108, tức là 100 bé gái thì có 108 bé trai. Trong những năm từ 2000 đến 2004, tỷ lệ càng nghiêng lệch thêm, 100 bé gái sinh ra thì sinh 124 bé trai. Tại nhiều tỉnh ở miền Nam và Trung nước Tầu, tỷ lệ này lên tới 100/130 hay 140.
Tỉnh Quảng Ðông, ở sát nước ta, là nơi cứ 100 em gái ra đời thì có 120 em trai. Ðến năm 2025, 2030, cứ 100 cô gái sẽ có 120 cậu trai muốn cưới làm vợ. Nếu trong mươi năm tới ở tỉnh trù phú nhất Trung Quốc này, mà có độ dăm, mười triệu thanh niên ế vợ, thì có ảnh hưởng gì tới xã hội Việt Nam hay không?
Chương trình ti vi trên đài France 2 chắc sẽ làm các khán giả người Pháp kinh ngạc. Nhưng đối với khán giả người Việt Nam thì chắc đó cũng là một mối sỉ nhục. Trong lịch sử nước ta chưa bao giờ có cảnh phụ nữ được đem bày hàng để bán, với điều kiện “không hài lòng thì đổi” để tận tình phục vụ người tiêu thụ. Chỉ dưới chế độ “ưu việt” kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay mới biến các cô gái thành hàng hóa xuất khẩu như vậy. Nhưng sau khi cảm thấy tủi nhục, người Việt Nam còn lo ngại nữa.
Có một quy luật dân số học, trong quá khứ, nhận thấy rằng các nước nhiều thanh niên ế vợ thường hay gây chiến với lân bang. Khi dân số nước đó tăng lên nhanh hơn khả năng sản xuất, số thanh niên trai tráng nhiều hơn, đa số trong tuổi lao động bị thất nghiệp, quá nhiều người không thể nào kiếm được vợ vì thừa trai thiếu gái, thì chiến tranh có thể giúp giải quyết cả ba vấn đề một lúc: thất nghiệp, dân số đông, và đàn ông ế vợ. Chính quyền một quốc gia quá đông “quang côn” thấy đó là một cách giải quyết số đàn ông thặng dư. Nếu không, đám thanh niên “bức xúc” và bất mãn đó sẽ dùng thời giờ không làm việc để gây tội ác, hoặc quay ra làm cách mạng, nổi loạn chống chính quyền. Không phải cuộc chiến tranh nào cũng xẩy ra vì quá nhiều thanh niên ế vợ; nhưng trong một xã hội mà số đàn ông thặng dư đông quá thì, khi kinh tế suy yếu, người cầm quyền thường gây chiến.
Ở Trung Quốc, ông Tập Cận Bình mới nhậm chức đã gia tăng ngân sách quân sự, tỷ số gia tăng lớn quá đến nỗi Bắc Kinh phải lên tiếng giải thích, khi nhiều quốc gia tỏ ý lo ngại. Ông Tập Cận Bình tăng ngân sách quốc phòng chỉ để mua chuộc các tướng lãnh Trung Quốc? Hay ông đang lo trước vấn đề do 35 triệu quang côn sẽ gây ra trong mươi năm sắp tới?
-
nguyenthanh
- Posts: 859
- Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm
Nam-Bắc Hàn: Chiến tranh, hay chuẩn bị chiến tranh?
NAM HÀN (NV) - Ngay sau khi Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc hôm 7 tháng 3 biểu quyết đồng thuận một loạt những biện pháp cấm vận mới
để trừng phạt Bắc Hàn về việc thử nghiệm nguyên tử vi phạm công ước quốc tế, nhà lãnh đạo trẻ tuổi Kim Jong-un phản ứng bằng cách
ra lệnh triển khai quân đội tới vùng biên giới đình chiến với Nam Hàn để chuẩn bị chiến tranh.

Nhà lãnh đạo Kim Jong-un của Bắc Hàn đến thăm một đơn vị quân đội ở biên giới Tây Nam, dùng viễn kính quan sát đảo Tayeonphyong
của Nam Hàn, hôm Thứ Năm 7 tháng 3, 2013. Hình do thông tấn xã nhà nước Bắc Hàn phổ biến. (Hình: KNS/AFP/Getty Images)
Thể hiện thêm thái độ thách thức, Kim chọn một địa điểm có ý nghĩa nhạy cảm để công khai ban lệnh cho quân đội. Ðó là căn cứ quân sự đối diện qua eo biển với đảo Yeonpyeong năm 2010 Bắc Hàn đã pháo kích chết 4 người và bị thương 19 người. Ngoài ra, Kim ngưng đường liên lạc “nóng” Bắc-Nam, có mục đích làm dịu căng thẳng trong những trường hợp xảy ra khủng hoảng bất ngờ, và đồng thời tuyên bố hủy bỏ nhiều cam kết bất xâm phạm trước đây giữa hai bên.
Mặc dầu vậy, hầu hết các quan sát viên am hiểu tình thế đều tin rằng khó có thể tin là Bắc Hàn sẽ phát động chiến tranh. Nam Hàn được sự bảo đảm an ninh của Hoa Kỳ và một lực lượng quân đội Hoa Kỳ vẫn đồn trú tại đây từ 60 năm trước khi thỏa hiệp ngừng bắn Bắc-Nam được ký kết năm 1953. Quân lực 1.2 triệu của Bắc Hàn chưa phải là ưu thế tuyệt đối trong cuộc đụng độ với quân đội Nam Hàn và Hoa Kỳ có trang bị vũ khí hiện đại hơn. Nếu Bắc Hàn dùng đến vũ khí nguyên tử, điều mà các giới tình báo hoài nghi về khả năng, họ sẽ chắc chắn thua thiệt.
Tuy nhiên bà Park Geun-hye, tân tổng thống Nam Hàn, vẫn mô tả tình thế là “rất nghiêm trọng” và cam kết sẽ “ứng phó mạnh mẽ trước sự khiêu khích của Bắc Hàn”.
Daniel Pinkston thuộc nhóm nghiên cứu Khủng Hoảng Quốc Tế ở Seoul cho rằng mục tiêu của Bắc Hàn không phải là chiến tranh mà chỉ muốn áp lực Hoa Kỳ và các quốc gia khác rút lại việc cấm vận. Nhưng theo ông vẫn có một rủi ro đáng lo ngại là đụng độ có thể bất ngờ xảy ra ngoài dự tính do cả hai bên đều gia tăng mức độ báo động.
Bộ Ngoại Giao Trung Quốc hôm Thứ Sáu lên tiếng kêu gọi hai bên Bắc Hàn và Nam Hàn bình tĩnh và kềm chế tránh leo thang căng thẳng bằng hành động cũng như bằng lời lẽ. Tuy vậy từ lâu đã thấy rằng trong thực tế Trung Quốc dù là nước đồng minh duy nhất, không có ảnh hưởng nhiều với Bắc Hàn như người ta vẫn nghĩ. Ðiều này không lạ vì Bắc Hàn ở vào thế cô lập hoàn toàn với cộng đồng quốc tế và chắc chắn họ muốn đòi hỏi ở nước đồng minh duy nhất nhiều hơn những gì mà Trung Quốc chỉ dành cho họ có giới hạn. Như vậy Bắc Hàn có thể có nhiều bất mãn với nước đồng minh vĩ đại mà họ không thể nào tin cậy, nhưng đồng thời không thể từ bỏ.
Chương trình phát triển nguyên tử của Bắc Hàn là một sự kiện phiền phức cho Trung Quốc. Một mặt, Trung Quốc không thể đồng tình vì đi ngược với công ước quốc tế mà Trung Quốc đã thỏa thuận. Mặt khác, nếu Bắc Hàn trở thành một nước có vũ khí nguyên tử thì không phải là đe dọa cho Trung Quốc, nhưng có thể khiến các quốc gia khác như Nhật Bản, Nam Hàn phát triển nguyên tử, hoặc ít nhất sẽ làm cho khu vực Ðông Bắc Á Châu trở nên bất ổn và đó không phải là lợi ích gì với Trung Quốc.
Nghị quyết trừng phạt Bắc Hàn vừa được toàn thể 15 nước thành viên Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc bỏ phiếu đồng thuận, đã được Hoa Kỳ soạn thảo và thương lượng với Trung Quốc qua ba tuần lễ.
Phản ứng của Bắc Hàn đối với nghị quyết, trên bề mặt là sự chống Hoa Kỳ và Nam Hàn, nhưng đồng thời cũng thể hiện sự bất mãn và chống đối Trung Quốc. Bằng thủ đoạn chính trị, đó là lời cảnh cáo Trung Quốc rằng Bắc Hàn sẽ có thể đi ra ngoài quỹ đạo của Trung Quốc nếu không được những hỗ trợ khác để bù đắp. Và khi quốc gia cô lập nhất thế giới này đã rời khỏi nước đồng minh vĩ đại của họ thì bắt buộc phải tìm kiếm những mối quan hệ khác. Ðấy là điều Trung Quốc không mong muốn nhưng cũng rất khó khăn để tìm ra giải pháp thỏa đáng cho mình.
Cũng nên thấy là trong cuộc khủng hoảng hiện nay, Nam Hàn không phải là đối tượng hay cứu cánh của Bắc Hàn, chỉ là phương tiện mà Bắc Hàn sử dụng cho những mục tiêu khác.
Quân lực Bắc Hàn mới đây đã đe dọa sẽ phá bỏ thỏa hiệp đình chiến nếu cuộc tập trận chung giữa quân đội Nam Hàn và quân đội Hoa Kỳ được tiến hành vào ngày Thứ Hai sắp tới. Hai miền Bắc Hàn-Nam Hàn chưa bao giờ ký hiệp ước hòa bình và với thỏa hiệp đình chiến 1953, trên nguyên tắc không thể coi là chiến tranh đã chấm dứt. Dù khó tin là Bắc Hàn mở cuộc chiến tranh, nhưng với một chế độ hoàn toàn khép kín suốt hơn nửa thế kỷ qua và trong quá khứ đã có không ít những động thái bất ngờ, thì nếu sắp tới đây chuyện gì lớn nhỏ xảy tới cũng không nên ngạc nhiên. Sự chuẩn bị sẵn sàng của Nam Hàn và Hoa Kỳ trong lúc này là hợp lý. (H.C.)
NAM HÀN (NV) - Ngay sau khi Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc hôm 7 tháng 3 biểu quyết đồng thuận một loạt những biện pháp cấm vận mới
để trừng phạt Bắc Hàn về việc thử nghiệm nguyên tử vi phạm công ước quốc tế, nhà lãnh đạo trẻ tuổi Kim Jong-un phản ứng bằng cách
ra lệnh triển khai quân đội tới vùng biên giới đình chiến với Nam Hàn để chuẩn bị chiến tranh.

Nhà lãnh đạo Kim Jong-un của Bắc Hàn đến thăm một đơn vị quân đội ở biên giới Tây Nam, dùng viễn kính quan sát đảo Tayeonphyong
của Nam Hàn, hôm Thứ Năm 7 tháng 3, 2013. Hình do thông tấn xã nhà nước Bắc Hàn phổ biến. (Hình: KNS/AFP/Getty Images)
Thể hiện thêm thái độ thách thức, Kim chọn một địa điểm có ý nghĩa nhạy cảm để công khai ban lệnh cho quân đội. Ðó là căn cứ quân sự đối diện qua eo biển với đảo Yeonpyeong năm 2010 Bắc Hàn đã pháo kích chết 4 người và bị thương 19 người. Ngoài ra, Kim ngưng đường liên lạc “nóng” Bắc-Nam, có mục đích làm dịu căng thẳng trong những trường hợp xảy ra khủng hoảng bất ngờ, và đồng thời tuyên bố hủy bỏ nhiều cam kết bất xâm phạm trước đây giữa hai bên.
Mặc dầu vậy, hầu hết các quan sát viên am hiểu tình thế đều tin rằng khó có thể tin là Bắc Hàn sẽ phát động chiến tranh. Nam Hàn được sự bảo đảm an ninh của Hoa Kỳ và một lực lượng quân đội Hoa Kỳ vẫn đồn trú tại đây từ 60 năm trước khi thỏa hiệp ngừng bắn Bắc-Nam được ký kết năm 1953. Quân lực 1.2 triệu của Bắc Hàn chưa phải là ưu thế tuyệt đối trong cuộc đụng độ với quân đội Nam Hàn và Hoa Kỳ có trang bị vũ khí hiện đại hơn. Nếu Bắc Hàn dùng đến vũ khí nguyên tử, điều mà các giới tình báo hoài nghi về khả năng, họ sẽ chắc chắn thua thiệt.
Tuy nhiên bà Park Geun-hye, tân tổng thống Nam Hàn, vẫn mô tả tình thế là “rất nghiêm trọng” và cam kết sẽ “ứng phó mạnh mẽ trước sự khiêu khích của Bắc Hàn”.
Daniel Pinkston thuộc nhóm nghiên cứu Khủng Hoảng Quốc Tế ở Seoul cho rằng mục tiêu của Bắc Hàn không phải là chiến tranh mà chỉ muốn áp lực Hoa Kỳ và các quốc gia khác rút lại việc cấm vận. Nhưng theo ông vẫn có một rủi ro đáng lo ngại là đụng độ có thể bất ngờ xảy ra ngoài dự tính do cả hai bên đều gia tăng mức độ báo động.
Bộ Ngoại Giao Trung Quốc hôm Thứ Sáu lên tiếng kêu gọi hai bên Bắc Hàn và Nam Hàn bình tĩnh và kềm chế tránh leo thang căng thẳng bằng hành động cũng như bằng lời lẽ. Tuy vậy từ lâu đã thấy rằng trong thực tế Trung Quốc dù là nước đồng minh duy nhất, không có ảnh hưởng nhiều với Bắc Hàn như người ta vẫn nghĩ. Ðiều này không lạ vì Bắc Hàn ở vào thế cô lập hoàn toàn với cộng đồng quốc tế và chắc chắn họ muốn đòi hỏi ở nước đồng minh duy nhất nhiều hơn những gì mà Trung Quốc chỉ dành cho họ có giới hạn. Như vậy Bắc Hàn có thể có nhiều bất mãn với nước đồng minh vĩ đại mà họ không thể nào tin cậy, nhưng đồng thời không thể từ bỏ.
Chương trình phát triển nguyên tử của Bắc Hàn là một sự kiện phiền phức cho Trung Quốc. Một mặt, Trung Quốc không thể đồng tình vì đi ngược với công ước quốc tế mà Trung Quốc đã thỏa thuận. Mặt khác, nếu Bắc Hàn trở thành một nước có vũ khí nguyên tử thì không phải là đe dọa cho Trung Quốc, nhưng có thể khiến các quốc gia khác như Nhật Bản, Nam Hàn phát triển nguyên tử, hoặc ít nhất sẽ làm cho khu vực Ðông Bắc Á Châu trở nên bất ổn và đó không phải là lợi ích gì với Trung Quốc.
Nghị quyết trừng phạt Bắc Hàn vừa được toàn thể 15 nước thành viên Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc bỏ phiếu đồng thuận, đã được Hoa Kỳ soạn thảo và thương lượng với Trung Quốc qua ba tuần lễ.
Phản ứng của Bắc Hàn đối với nghị quyết, trên bề mặt là sự chống Hoa Kỳ và Nam Hàn, nhưng đồng thời cũng thể hiện sự bất mãn và chống đối Trung Quốc. Bằng thủ đoạn chính trị, đó là lời cảnh cáo Trung Quốc rằng Bắc Hàn sẽ có thể đi ra ngoài quỹ đạo của Trung Quốc nếu không được những hỗ trợ khác để bù đắp. Và khi quốc gia cô lập nhất thế giới này đã rời khỏi nước đồng minh vĩ đại của họ thì bắt buộc phải tìm kiếm những mối quan hệ khác. Ðấy là điều Trung Quốc không mong muốn nhưng cũng rất khó khăn để tìm ra giải pháp thỏa đáng cho mình.
Cũng nên thấy là trong cuộc khủng hoảng hiện nay, Nam Hàn không phải là đối tượng hay cứu cánh của Bắc Hàn, chỉ là phương tiện mà Bắc Hàn sử dụng cho những mục tiêu khác.
Quân lực Bắc Hàn mới đây đã đe dọa sẽ phá bỏ thỏa hiệp đình chiến nếu cuộc tập trận chung giữa quân đội Nam Hàn và quân đội Hoa Kỳ được tiến hành vào ngày Thứ Hai sắp tới. Hai miền Bắc Hàn-Nam Hàn chưa bao giờ ký hiệp ước hòa bình và với thỏa hiệp đình chiến 1953, trên nguyên tắc không thể coi là chiến tranh đã chấm dứt. Dù khó tin là Bắc Hàn mở cuộc chiến tranh, nhưng với một chế độ hoàn toàn khép kín suốt hơn nửa thế kỷ qua và trong quá khứ đã có không ít những động thái bất ngờ, thì nếu sắp tới đây chuyện gì lớn nhỏ xảy tới cũng không nên ngạc nhiên. Sự chuẩn bị sẵn sàng của Nam Hàn và Hoa Kỳ trong lúc này là hợp lý. (H.C.)
Bao giờ Việt Nam có dân chủ?
Nguyễn Hưng Quốc
(Nguồn: VOA)
Mỗi lần gặp bạn bè hay người quen, trong các cuộc nói chuyện gẫu, đề tài tôi thường nghe nhất là chuyện chính trị Việt Nam; và trong đề tài ấy, câu hỏi tôi thường nghe nhất là: Bao giờ thì chế độ toàn trị sụp đổ và/hoặc bao giờ thì Việt Nam có dân chủ? Nếu câu hỏi trực tiếp nhắm vào tôi, không thể im lặng được, câu trả lời của tôi bao giờ cũng là: Không biết.
Mà thật ra thì không ai biết cả. Giới phân tích chính trị không biết, đã đành. Ngay cả giới làm chính trị, đặc biệt những người đang nắm quyền ở các quốc gia lớn, với đầy tin tức tình báo trong tay, cũng không thể biết được. Nếu chính trị là một nghệ thuật của cái khả dĩ (politics is an art of the possible) như Otto von Bismarck đã nói, việc tiên đoán một cách chính xác các diễn biến chính trị gần như là một điều bất khả.
Liên quan đến Việt Nam, có mấy điều chúng ta có thể biết chắc chắn là:
Thứ nhất, thế nào Việt Nam cũng có dân chủ. Vấn đề chỉ là thời gian. Dân chủ là xu hướng chung của cả nhân loại. Trong vòng bốn mươi năm vừa qua, đã có trên 80 quốc gia từ toàn trị tiến dần đến dân chủ, hoặc hoàn toàn dân chủ hoặc chỉ một phần dân chủ. Lý do cũng rất dễ hiểu.
Một, chế độ toàn trị, chuyên chế và độc tài nào cũng sớm già cỗi và mục nát. Ở các chế độ dân chủ, việc tuyển chọn giới lãnh đạo thay đổi theo nhiệm kỳ, do đó, giống như cơ thể thường xuyên được thay máu, hết người này đến người khác; hơn nữa, họ được dân chúng chọn lựa qua các cuộc bầu cử tự do nên ít nhiều đều xứng đáng: Nếu họ không phải là lãnh tụ giỏi nhất trong lịch sử thì ít nhất cũng là người giỏi nhất trong những người cùng chạy đua với họ, nghĩa là những người thuộc thế hệ của họ. Ở các nước độc tài thì khác: Họ được chọn lựa chủ yếu theo tiêu chuẩn hoặc dòng tộc hoặc phe nhóm. Không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy, dưới các chế độ độc tài, giới lãnh đạo càng lúc càng yếu kém. Nhìn vào đảng Cộng sản Việt Nam thì thấy ngay. Trong giới lãnh đạo, những người thuộc thế hệ đầu tiên, từ Hồ Chí Minh đến Lê Duẩn và Trường Chinh đều ít nhiều có khả năng; từ Nguyễn Văn Linh trở đi, càng ngày họ càng kém. Ðỗ Mười kém. Lê Khả Phiêu càng kém. Nông Ðức Mạnh lại càng kém. Nguyễn Phú Trọng không hề chứng tỏ là khá hơn Nông Ðức Mạnh. Giới lãnh đạo già cỗi không phải vì càng ngày càng kém tài mà còn vì họ rất dễ sa vào tham nhũng. Và vì cả hai lý do ấy, càng ngày họ càng xa rời quần chúng. Càng xa rời quần chúng, họ lại càng trở thành yếu ớt. Thời hiện đại, tuổi thọ cao nhất của các chế độ độc tài và chuyên chế là 74 năm (chế độ cộng sản ở Liên Xô, 1917-1991). Hai, chế độ chuyên chế và độc tài sớm sụp đổ còn vì những thay đổi trong xã hội. Trình độ dân trí cao, thu nhập cao và xu hướng thành thị hóa là những kẻ thù của chuyên chế. Trừ những quốc gia giàu có vì dầu khí, không có quốc gia giàu có nào là hoàn toàn chuyên chế cả. Với hai lý do vừa nêu, việc Việt Nam, một ngày nào đó, được dân chủ hóa gần như là một điều tất yếu.
Thứ hai, mặc dù chúng ta không thể biết được lúc nào Việt Nam có dân chủ, chúng ta cũng có thể biết quá trình dân chủ hóa ở một quốc gia độc tài và nhỏ như Việt Nam thường xảy ra theo một trong ba trường hợp.
Một là do sức ép từ bên ngoài. Trong bài “Bao nhiêu ý dân thì đủ?” nhà văn Phạm Thị Hoài kể bản Hiến Pháp ở Ðức năm 1949 được soạn thảo dưới sự giám sát ngặt nghèo của các thống đốc quân sự Anh, Pháp và Mỹ: “Bản Hiến Pháp được coi là hoàn hảo nhất trong lịch sử nước Ðức ấy không do ý nguyện dân chủ từ dưới lên sinh ra, mà do ý chí chính trị từ trên xuống, thậm chí với áp đặt từ các thế lực ngoại bang.” Bản Hiến Pháp năm 1946 (bổ sung năm 1947) của Nhật lại càng đặc biệt: Lúc ấy Chiến Tranh Thế Giới Lần Thứ Hai vừa kết thúc, Nhật nằm dưới sự cai quản của Lực Lượng Ðồng Minh. Tướng Douglas MacArthur, người chỉ huy Lực Lượng Ðồng Minh, đã ra lệnh cho nhóm tùy viên của ông soạn thảo bản Hiến Pháp cho Nhật thời hậu chiến. Hai mươi bốn người Mỹ, cả quân sự lẫn dân sự, chỉ trong vòng một tuần, đã hoàn tất bản thảo. Sau đó, nó được Quốc Hội Nhật thông qua với vài thay đổi nho nhỏ. Dù vậy, cho đến nay, Hiến Pháp Nhật vẫn được xem là một trong những bản Hiến Pháp tiến bộ nhất thế giới.
Hơn nữa, nó còn là nền tảng vững chắc nhất của nền dân chủ tại Nhật. Có thể nói, ở cả Ðức lẫn Nhật, sau Ðệ Nhị Thế Chiến, dân chủ chủ yếu đến từ bên ngoài.
Hai là sự xuất hiện của một Gorbachev, nghĩa là một nhà lãnh đạo sáng suốt, can đảm, biết nghĩ đến tương lai của đất nước hơn là những quyền lợi trước mắt của bản thân hoặc của đảng phái mình. Các lý thuyết gia Mácxít hay nói đến sức mạnh của quần chúng, cho chỉ có quần chúng mới thay đổi được lịch sử, tuy nhiên, trong lịch sử chế độ Cộng sản, cả việc hình thành lẫn việc kết thúc đều nằm trong tay của một số cá nhân: Ở Nga, nó bắt đầu với Lenin và Stalin rồi kết thúc với Gorbachev và Yeltsin. Chúng ta có thể hy vọng, nếu ở Việt Nam xuất hiện một lãnh tụ giống Gorbachev, vận mệnh của Việt Nam chắc chắn sẽ đổi khác hẳn. Ðó là sự thay đổi từ bên trong. Trong nội bộ đảng Cộng sản.
Và ba là sự xuất hiện của một cái gì tương tự như Mùa Xuân Ả Rập (Arab Spring), tức sự nổi dậy của quần chúng đã làm sụp đổ hàng loạt các chế độ độc tài kéo dài cả mấy chục năm ở Tunisia, Ai Cập, Libya và Yemen; và làm lung lay nhiều chế độ chuyên chế khác ở Syria, Algeria, Jordan, Kuwait và Sudan. Các cuộc nổi dậy này có mấy đặc điểm: hoàn toàn mang tính tự phát; do dân chúng tạo nên chứ không có bất cứ một tổ chức nào phía sau cả; thậm chí, chúng cũng không có cả người lãnh đạo; cuối cùng, chúng hoàn toàn bất ngờ: ngay cả giới lãnh đạo và tình báo Tây phương cũng đều không thể đoán trước được. Do tính chất tự phát và bất ngờ ấy, không ai có thể dám chắc là những gì đã xảy ra ở Trung Ðông và Bắc Phi vào cuối năm 2010 và đầu năm 2011 sẽ hoặc sẽ không thể xảy ra ở Việt Nam. Ranh giới giữa cái sẽ và sẽ không ấy rất mong manh.
Thứ ba, phân tích ba trường hợp trên, chúng ta có thể đoán, dĩ nhiên một cách khá mơ hồ, quá trình dân chủ hóa tại Việt Nam.
Ðầu tiên, chúng ta cần loại trừ ngay trường hợp thứ nhất. Việt Nam hiện nay không có chiến tranh và nếu có chiến tranh, có lẽ chỉ có chiến tranh với Trung Quốc. Dù thắng hay thua trận, cũng sẽ không có một siêu cường dân chủ nào giúp Việt Nam viết lại Hiến Pháp để thừa nhận chế độ dân chủ cả như những gì đã xảy ra tại Ðức hoặc tại Nhật sau Ðệ Nhị Thế Chiến.
Trường hợp thứ hai có thể sẽ xảy ra, nhưng nếu xảy ra, cũng không hy vọng gì thành công. Lý do chính: chắc chắn Trung Quốc sẽ can thiệp. Khi Trung Quốc chưa chấp nhận dân chủ trong nước họ, chắc chắn họ cũng sẽ không thể chấp nhận việc đảng Cộng sản Việt Nam tự giải thể hoặc cho phép sự xuất hiện của các đảng phái đối lập để dân chủ hóa trước Trung Quốc. Mà việc can thiệp của Trung Quốc đối với tình hình chính trị Việt Nam, hầu như ai cũng biết, rất dễ dàng. Bởi vậy, có thể nói, theo cách này, Việt Nam chỉ có thể dân chủ hóa nếu Trung Quốc đã được dân chủ hóa. Việt Nam lúc nào cũng là một kẻ đi sau đàn anh. Nhưng khả năng dân chủ hóa của Trung Quốc lại không có gì chắc chắn cả. Có thể năm năm. Có thể mười năm. Có thể mười lăm năm. Giới bình luận quốc tế tiên đoán: Có lẽ sẽ không quá mười lăm năm. Nhưng dù sao đó cũng là một quãng thời gian dài. Ít nhất so với một đời người.
Trường hợp thứ ba, sự nổi dậy của dân chúng, tránh được nguy cơ can thiệp của Trung Quốc. Trung Quốc có thể trấn áp một lãnh tụ muốn cải cách triệt để nhưng chắc chắn không thể và không dám can thiệp để trấn áp quần chúng Việt Nam đang xuống đường đòi dân chủ. Nhưng lúc nào ở Việt Nam mới có một cuộc nổi dậy dữ dội như ở Tunisia, Ai Cập, Yemen và Libya? Không ai có thể biết được. Nhưng tiền đề đã có: sự bất mãn của quần chúng. Sự bất mãn ấy vốn thường âm ỉ sôi sục dưới mọi chế độ độc tài, kể cả ở Việt Nam. Vấn đề là cần có một mồi lửa để làm cho sự bất mãn ấy bùng nổ. Mồi lửa ấy ở Ai Cập là việc cảnh sát đánh chết một thanh niên hiền lành và vô tội, hơn nữa, việc hình ảnh nạn nhân nhanh chóng được chuyền đi qua mạng lưới Internet. Chúng ta có thể tưởng tượng: nếu việc tự thiêu của bà Ðặng Thị Kim Liên, mẹ của Tạ Phong Tần, vào ngày 30 tháng 7, 2012, thay vì diễn ra ở Bạc Liêu lại diễn ra tại Sài Gòn, ngay trước tòa án, nơi con gái bà bị xét xử một cách oan ức và tàn bạo, trước cả hàng chục ống kính của các phóng viên quốc tế và quốc nội, kể cả của các blogger độc lập, tình thế có thể sẽ đổi khác. Hoặc, trong tương lai, chỉ cần một công an thô bạo nào đó đánh quá tay một người biểu tình, ngay trước mắt giới truyền thông, ngọn lửa phẫn uất có thể sẽ bùng cháy mạnh mẽ. Tất cả những điều đó, không ai có thể đoán trước được.
Ðối với trường hợp thứ hai, điều kiện của dân chủ ở Việt Nam là một nền dân chủ ở Trung Quốc; đối với trường hợp thứ ba, điều kiện của dân chủ là: một, cách suy nghĩ mang tính chiến lược của những người đấu tranh cho dân chủ; và hai, một tình huống bất ngờ, với những hình ảnh cụ thể, có thể gây phẫn nộ trong quần chúng. Như những mồi lửa.
Nguyễn Hưng Quốc
(Nguồn: VOA)
Mỗi lần gặp bạn bè hay người quen, trong các cuộc nói chuyện gẫu, đề tài tôi thường nghe nhất là chuyện chính trị Việt Nam; và trong đề tài ấy, câu hỏi tôi thường nghe nhất là: Bao giờ thì chế độ toàn trị sụp đổ và/hoặc bao giờ thì Việt Nam có dân chủ? Nếu câu hỏi trực tiếp nhắm vào tôi, không thể im lặng được, câu trả lời của tôi bao giờ cũng là: Không biết.
Mà thật ra thì không ai biết cả. Giới phân tích chính trị không biết, đã đành. Ngay cả giới làm chính trị, đặc biệt những người đang nắm quyền ở các quốc gia lớn, với đầy tin tức tình báo trong tay, cũng không thể biết được. Nếu chính trị là một nghệ thuật của cái khả dĩ (politics is an art of the possible) như Otto von Bismarck đã nói, việc tiên đoán một cách chính xác các diễn biến chính trị gần như là một điều bất khả.
Liên quan đến Việt Nam, có mấy điều chúng ta có thể biết chắc chắn là:
Thứ nhất, thế nào Việt Nam cũng có dân chủ. Vấn đề chỉ là thời gian. Dân chủ là xu hướng chung của cả nhân loại. Trong vòng bốn mươi năm vừa qua, đã có trên 80 quốc gia từ toàn trị tiến dần đến dân chủ, hoặc hoàn toàn dân chủ hoặc chỉ một phần dân chủ. Lý do cũng rất dễ hiểu.
Một, chế độ toàn trị, chuyên chế và độc tài nào cũng sớm già cỗi và mục nát. Ở các chế độ dân chủ, việc tuyển chọn giới lãnh đạo thay đổi theo nhiệm kỳ, do đó, giống như cơ thể thường xuyên được thay máu, hết người này đến người khác; hơn nữa, họ được dân chúng chọn lựa qua các cuộc bầu cử tự do nên ít nhiều đều xứng đáng: Nếu họ không phải là lãnh tụ giỏi nhất trong lịch sử thì ít nhất cũng là người giỏi nhất trong những người cùng chạy đua với họ, nghĩa là những người thuộc thế hệ của họ. Ở các nước độc tài thì khác: Họ được chọn lựa chủ yếu theo tiêu chuẩn hoặc dòng tộc hoặc phe nhóm. Không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy, dưới các chế độ độc tài, giới lãnh đạo càng lúc càng yếu kém. Nhìn vào đảng Cộng sản Việt Nam thì thấy ngay. Trong giới lãnh đạo, những người thuộc thế hệ đầu tiên, từ Hồ Chí Minh đến Lê Duẩn và Trường Chinh đều ít nhiều có khả năng; từ Nguyễn Văn Linh trở đi, càng ngày họ càng kém. Ðỗ Mười kém. Lê Khả Phiêu càng kém. Nông Ðức Mạnh lại càng kém. Nguyễn Phú Trọng không hề chứng tỏ là khá hơn Nông Ðức Mạnh. Giới lãnh đạo già cỗi không phải vì càng ngày càng kém tài mà còn vì họ rất dễ sa vào tham nhũng. Và vì cả hai lý do ấy, càng ngày họ càng xa rời quần chúng. Càng xa rời quần chúng, họ lại càng trở thành yếu ớt. Thời hiện đại, tuổi thọ cao nhất của các chế độ độc tài và chuyên chế là 74 năm (chế độ cộng sản ở Liên Xô, 1917-1991). Hai, chế độ chuyên chế và độc tài sớm sụp đổ còn vì những thay đổi trong xã hội. Trình độ dân trí cao, thu nhập cao và xu hướng thành thị hóa là những kẻ thù của chuyên chế. Trừ những quốc gia giàu có vì dầu khí, không có quốc gia giàu có nào là hoàn toàn chuyên chế cả. Với hai lý do vừa nêu, việc Việt Nam, một ngày nào đó, được dân chủ hóa gần như là một điều tất yếu.
Thứ hai, mặc dù chúng ta không thể biết được lúc nào Việt Nam có dân chủ, chúng ta cũng có thể biết quá trình dân chủ hóa ở một quốc gia độc tài và nhỏ như Việt Nam thường xảy ra theo một trong ba trường hợp.
Một là do sức ép từ bên ngoài. Trong bài “Bao nhiêu ý dân thì đủ?” nhà văn Phạm Thị Hoài kể bản Hiến Pháp ở Ðức năm 1949 được soạn thảo dưới sự giám sát ngặt nghèo của các thống đốc quân sự Anh, Pháp và Mỹ: “Bản Hiến Pháp được coi là hoàn hảo nhất trong lịch sử nước Ðức ấy không do ý nguyện dân chủ từ dưới lên sinh ra, mà do ý chí chính trị từ trên xuống, thậm chí với áp đặt từ các thế lực ngoại bang.” Bản Hiến Pháp năm 1946 (bổ sung năm 1947) của Nhật lại càng đặc biệt: Lúc ấy Chiến Tranh Thế Giới Lần Thứ Hai vừa kết thúc, Nhật nằm dưới sự cai quản của Lực Lượng Ðồng Minh. Tướng Douglas MacArthur, người chỉ huy Lực Lượng Ðồng Minh, đã ra lệnh cho nhóm tùy viên của ông soạn thảo bản Hiến Pháp cho Nhật thời hậu chiến. Hai mươi bốn người Mỹ, cả quân sự lẫn dân sự, chỉ trong vòng một tuần, đã hoàn tất bản thảo. Sau đó, nó được Quốc Hội Nhật thông qua với vài thay đổi nho nhỏ. Dù vậy, cho đến nay, Hiến Pháp Nhật vẫn được xem là một trong những bản Hiến Pháp tiến bộ nhất thế giới.
Hơn nữa, nó còn là nền tảng vững chắc nhất của nền dân chủ tại Nhật. Có thể nói, ở cả Ðức lẫn Nhật, sau Ðệ Nhị Thế Chiến, dân chủ chủ yếu đến từ bên ngoài.
Hai là sự xuất hiện của một Gorbachev, nghĩa là một nhà lãnh đạo sáng suốt, can đảm, biết nghĩ đến tương lai của đất nước hơn là những quyền lợi trước mắt của bản thân hoặc của đảng phái mình. Các lý thuyết gia Mácxít hay nói đến sức mạnh của quần chúng, cho chỉ có quần chúng mới thay đổi được lịch sử, tuy nhiên, trong lịch sử chế độ Cộng sản, cả việc hình thành lẫn việc kết thúc đều nằm trong tay của một số cá nhân: Ở Nga, nó bắt đầu với Lenin và Stalin rồi kết thúc với Gorbachev và Yeltsin. Chúng ta có thể hy vọng, nếu ở Việt Nam xuất hiện một lãnh tụ giống Gorbachev, vận mệnh của Việt Nam chắc chắn sẽ đổi khác hẳn. Ðó là sự thay đổi từ bên trong. Trong nội bộ đảng Cộng sản.
Và ba là sự xuất hiện của một cái gì tương tự như Mùa Xuân Ả Rập (Arab Spring), tức sự nổi dậy của quần chúng đã làm sụp đổ hàng loạt các chế độ độc tài kéo dài cả mấy chục năm ở Tunisia, Ai Cập, Libya và Yemen; và làm lung lay nhiều chế độ chuyên chế khác ở Syria, Algeria, Jordan, Kuwait và Sudan. Các cuộc nổi dậy này có mấy đặc điểm: hoàn toàn mang tính tự phát; do dân chúng tạo nên chứ không có bất cứ một tổ chức nào phía sau cả; thậm chí, chúng cũng không có cả người lãnh đạo; cuối cùng, chúng hoàn toàn bất ngờ: ngay cả giới lãnh đạo và tình báo Tây phương cũng đều không thể đoán trước được. Do tính chất tự phát và bất ngờ ấy, không ai có thể dám chắc là những gì đã xảy ra ở Trung Ðông và Bắc Phi vào cuối năm 2010 và đầu năm 2011 sẽ hoặc sẽ không thể xảy ra ở Việt Nam. Ranh giới giữa cái sẽ và sẽ không ấy rất mong manh.
Thứ ba, phân tích ba trường hợp trên, chúng ta có thể đoán, dĩ nhiên một cách khá mơ hồ, quá trình dân chủ hóa tại Việt Nam.
Ðầu tiên, chúng ta cần loại trừ ngay trường hợp thứ nhất. Việt Nam hiện nay không có chiến tranh và nếu có chiến tranh, có lẽ chỉ có chiến tranh với Trung Quốc. Dù thắng hay thua trận, cũng sẽ không có một siêu cường dân chủ nào giúp Việt Nam viết lại Hiến Pháp để thừa nhận chế độ dân chủ cả như những gì đã xảy ra tại Ðức hoặc tại Nhật sau Ðệ Nhị Thế Chiến.
Trường hợp thứ hai có thể sẽ xảy ra, nhưng nếu xảy ra, cũng không hy vọng gì thành công. Lý do chính: chắc chắn Trung Quốc sẽ can thiệp. Khi Trung Quốc chưa chấp nhận dân chủ trong nước họ, chắc chắn họ cũng sẽ không thể chấp nhận việc đảng Cộng sản Việt Nam tự giải thể hoặc cho phép sự xuất hiện của các đảng phái đối lập để dân chủ hóa trước Trung Quốc. Mà việc can thiệp của Trung Quốc đối với tình hình chính trị Việt Nam, hầu như ai cũng biết, rất dễ dàng. Bởi vậy, có thể nói, theo cách này, Việt Nam chỉ có thể dân chủ hóa nếu Trung Quốc đã được dân chủ hóa. Việt Nam lúc nào cũng là một kẻ đi sau đàn anh. Nhưng khả năng dân chủ hóa của Trung Quốc lại không có gì chắc chắn cả. Có thể năm năm. Có thể mười năm. Có thể mười lăm năm. Giới bình luận quốc tế tiên đoán: Có lẽ sẽ không quá mười lăm năm. Nhưng dù sao đó cũng là một quãng thời gian dài. Ít nhất so với một đời người.
Trường hợp thứ ba, sự nổi dậy của dân chúng, tránh được nguy cơ can thiệp của Trung Quốc. Trung Quốc có thể trấn áp một lãnh tụ muốn cải cách triệt để nhưng chắc chắn không thể và không dám can thiệp để trấn áp quần chúng Việt Nam đang xuống đường đòi dân chủ. Nhưng lúc nào ở Việt Nam mới có một cuộc nổi dậy dữ dội như ở Tunisia, Ai Cập, Yemen và Libya? Không ai có thể biết được. Nhưng tiền đề đã có: sự bất mãn của quần chúng. Sự bất mãn ấy vốn thường âm ỉ sôi sục dưới mọi chế độ độc tài, kể cả ở Việt Nam. Vấn đề là cần có một mồi lửa để làm cho sự bất mãn ấy bùng nổ. Mồi lửa ấy ở Ai Cập là việc cảnh sát đánh chết một thanh niên hiền lành và vô tội, hơn nữa, việc hình ảnh nạn nhân nhanh chóng được chuyền đi qua mạng lưới Internet. Chúng ta có thể tưởng tượng: nếu việc tự thiêu của bà Ðặng Thị Kim Liên, mẹ của Tạ Phong Tần, vào ngày 30 tháng 7, 2012, thay vì diễn ra ở Bạc Liêu lại diễn ra tại Sài Gòn, ngay trước tòa án, nơi con gái bà bị xét xử một cách oan ức và tàn bạo, trước cả hàng chục ống kính của các phóng viên quốc tế và quốc nội, kể cả của các blogger độc lập, tình thế có thể sẽ đổi khác. Hoặc, trong tương lai, chỉ cần một công an thô bạo nào đó đánh quá tay một người biểu tình, ngay trước mắt giới truyền thông, ngọn lửa phẫn uất có thể sẽ bùng cháy mạnh mẽ. Tất cả những điều đó, không ai có thể đoán trước được.
Ðối với trường hợp thứ hai, điều kiện của dân chủ ở Việt Nam là một nền dân chủ ở Trung Quốc; đối với trường hợp thứ ba, điều kiện của dân chủ là: một, cách suy nghĩ mang tính chiến lược của những người đấu tranh cho dân chủ; và hai, một tình huống bất ngờ, với những hình ảnh cụ thể, có thể gây phẫn nộ trong quần chúng. Như những mồi lửa.

Nhiệm kỳ
Tiểu Vũ (Danlambao) - Không phải tự nhiên mà người ta sinh ra cái gọi là “nhiệm kỳ”. Thời mà “ghế ít, đít nhiều” thì phải chia ra nhiệm kỳ mà quay vòng, mà lần lượt ngồi chứ, ông nào tham ngồi lâu, kéo cái nhiệm kỳ dài mãi thì lấy đâu chỗ cho ông khác ngồi?
Cũng là nhờ có cái “nhiệm kỳ” mà “cơ hội” có vẻ tăng nhiều hơn, người tài đức mới có cơ ló rạng, có cơ hội được... khai quật; cũng nhờ thế mà kẻ bất tài cũng chẳng dám “độc tài”, làm gì cũng cần cẩn trọng, theo phép tắc vì lo sợ có làm sai thì nhiệm kỳ sẽ... ngắn lại và khi rời ghế sẽ chẳng biết sao... Thế là, cái ghế có nhiệm kỳ nó giúp cân bằng nhau, khắc chế lẫn nhau, tạo ra cái thống nhất và phải theo cái chung được đồng thuận, ai cũng có trách nhiệm với cái ghế, cái nhiệm kỳ của mình cả.
Hỡi ôi! Các ông muốn giữ điều 4 Hiến pháp, tức là muốn đảng “luôn” lãnh đạo. Cái ghế lãnh đạo có mỗi một chiếc các ông mặc nhiên ngồi mất rồi, chẳng có nhiệm kỳ gì cả là sao nhỉ? Thế này, tôi phát biểu hơi quá, nhưng nếu theo cái lối suy nghĩ ấy, có ngày ông Nguyễn Phú Trọng cho sửa điều lệ đảng ghi “họ Nguyễn Phú Trọng ở Hà Nội đời đời là tổng bí thư đảng” có được chăng? Các ông có đồng ý không? Vâng! Nếu tài đức thật thì làm mãi được như thế có mà tốt quá ấy chứ, ai chẳng ủng hộ cả hai tay, tôi cũng ủng hộ ngay. Nhưng, nếu không có tài đức, hoặc có con cháu nhà bác Nguyễn Sinh Hùng tài đức hơn chẳng hạn, sẽ làm thế nào? Đảng sẽ sửa đổi điều lệ đảng ghi là “họ Nguyễn Sinh Hùng ở Nghệ An đời đời là tổng bí thư đảng” cho... phù hợp à? Vậy đấy! Tự các ông có câu trả lời rồi, sao còn phải nói lời không thật lòng với nhân dân chúng tôi?
Thái cực
Chuyện gì sẽ xảy ra nếu nguyên tử chỉ có hạt mang điện tích âm hoặc chỉ có hạt mang điện tích dương? Trái đất sẽ thế nào nếu chỉ có ngày hoặc chỉ có đêm? Và loài người sẽ ra sao nếu chỉ có đàn ông mà không có đàn bà hoặc ngược lại?
Các phạm trù trong phép biện chứng duy vật của các ông sao lại tồn tại thành từng cặp mà không thể tách rời riêng lẻ?
Tách rời đối tượng xem xét là biện chứng hay siêu hình? Tại sao thừa nhận rõ rằng tất cả sự vật, hiện tượng đều có đối lập và mâu thuẫn mà không gắn nó vào thực tiễn?
Các ông đã biết đơn phương, độc quyền, độc cực là nguy hại sao còn tự ru ngủ mình và làm tổn hại cả dân tộc, cả non sông đất nước bằng cách giữ độc quyền chính trị?
Những điều giản dị như thế không biết bao nhiêu đảng viên hiểu? Và hiểu rồi thì có sống thật với tâm của mình hay chấp nhận sống làm đảng viên, chết làm ma cộng sản, còn con cháu, còn tương lai giống nòi thì sao?
Tiểu Vũ
Sự mong muốn trở lại Cam Ranh của Nga
Hà Tường Cát
Chuyến viếng thăm vịnh Cam Ranh đầu Tháng Ba vừa qua của Bộ Trưởng Quốc Phòng Nga Sergei Shoigu đã dấy lên nhiều dự đoán
của các cơ quan truyền thông và quan sát viên quốc tế về địa danh nổi tiếng thế giới này.
Chiến hạm Hải Quân Nga thuộc hạm đội Bắc Hải diễn hành trên sông Neva, thành phố St. Petersburg.
(Hình: Kirill Kudryavtsev/AFP/Getty Images)
Người ta tin rằng, khác với chuyến thăm hồi Tháng Sáu năm ngoái của Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Leon Panetta, Bộ Trưởng Shoigu có thể có đề nghị cụ thể và Nga có những kế hoạch khả thi hơn ở Cam Ranh, tuy vậy sự trở lại căn cứ này chưa thể xảy ra trong ngắn hạn.
Trên cả ba mặt quân sự, ngoại giao, chính trị, sự trở lại Cam Ranh của Nga thích ứng hơn là Hoa Kỳ.
Chính quyền Obama đã công khai loan báo chiến lược trở lại Á Châu và từ ba năm qua lời phát biểu của Ngoại Trưởng Hillary Clinton tại hội nghị ASEAN ở Hà Nội cho thấy Hoa Kỳ coi Biển Ðông không chỉ giới hạn là vấn đề của khu vực. Mặc dầu một cách chính thức, Hoa Kỳ khẳng định là đứng ngoài những tranh chấp chủ quyền tại đây, nhưng Trung Quốc rất khó chịu vì cho rằng Hoa Kỳ đã hỗ trợ các quốc gia Ðông Nam Á trong chủ trương quốc tế hóa vấn đề này. Trong ý đồ bành trướng của Trung Quốc, nhiều hành động khiêu khích đã và đang tiếp tục xảy ra trên Biển Ðông, tuy vậy vẫn còn trong giới hạn thăm dò, cũng như phản ứng của các nước ASEAN - đặc biệt là Philippines và Việt Nam - vẫn chỉ ở mức độ dè dặt kiềm chế.
Hoa Kỳ trở lại căn cứ Cam Ranh sẽ là một sự kiện bị Trung Quốc xem như can dự vào khu vực và dẫn đến sự đối đầu trực tiếp mà cả hai phía đều chưa muốn có. Việt Nam cho dù muốn có sự hiện diện của Hoa Kỳ như một bảo đảm an ninh, nhưng không thể để Hoa Kỳ đặt căn cứ quân sự, vì thế đã nhiều lần xác định là sẽ không để Cam Ranh cho bất cứ nước nào sử dụng. Trong bối cảnh thế giới hiện nay, Hoa Kỳ không có chủ trương phát triển một hệ thống căn cứ quân sự như thời kỳ Chiến Tranh Lạnh chưa kể hạn chế về ngân sách sẽ không thích hợp với những phí tổn để xây dựng căn cứ tiếp liệu khổng lồ ở Cam Ranh như trong chiến tranh Việt Nam.
Vịnh Cam Ranh cũng không phải là một căn cứ tối cần thiết để Hải Quân Hoa Kỳ hiện diện trong Biển Ðông. Có thể trở lại với căn cứ Subic ở Philippines, trong chừng mực nào đó dễ dàng hơn, ít tốn kém và hiệu quả hơn, bảo đảm được sự phòng thủ an toàn mà không bị lôi cuốn vào các hệ quả ngoài ý muốn. Hơn nữa với các căn cứ ở Nhật, Guam và phương tiện hậu cần đặt tại Singapore, hạm đội Hoa Kỳ với hàng không mẫu hạm và tiềm thủy đĩnh nguyên tử là hai lực lượng căn bản, có thừa đủ sức mạnh để hoạt động hữu hiệu trên toàn thể khu vực tây Thái Bình Dương qua tới Ðông Ấn Ðộ Dương.
Sau khi Liên Xô tan rã đầu thập niên 1990, nước Nga lui xuống thành một cường quốc hàng nhì cho tới gần đây chính quyền của Tổng Thống Vladimir Putin mới đang có hoài bão tái lập phần nào ngôi vị cũ. Trên bước đường tiến dần đến mục tiêu này, trong hiện tại Nga muốn giữ quan hệ êm ả với cả Hoa Kỳ và Trung Quốc, không đứng về bên nào nếu hai nước kia có tranh chấp. Vì vậy ngay tức thời Nga trở lại gắn bó quá mức với Việt Nam thì không gây khó khăn gì với Hoa Kỳ nhưng sẽ làm Trung Quốc hoài nghi.
Mối quan hệ Việt Nam với Nga ngày nay khác với Liên Xô trước kia, không có ràng buộc quan điểm ý thức hệ hay nợ nần về viện trợ. Việt Nam cũng không có ám ảnh của tranh chấp xung đột quá khứ hay hiện tại như với Hoa Kỳ và Trung Quốc. Trên mặt tinh thần, quan hệ hữu nghị với Nga của nhà cầm quyền đương thời tại Việt Nam có đủ điều kiện thuận lợi để phát triển và hai nước đều đang tìm cách tăng cường bang giao trên nhiều mặt.
Tổng Thống Vladimir Putin và Thủ Tướng Dmitri Medvedev đều đã qua thăm Việt Nam. Ngược lại Chủ tịch nhà nước Trương Tấn Sang, tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam cũng đã đến Nga trong mấy tháng gần đây. Ðài Tiếng Nói nước Nga loan tin hôm 11 Tháng Ba, Thủ Tướng Dmitri Medvedev và Chủ Tịch Hội Ðồng Liên Bang Valentina Matviyenko đã gặp Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng tại Moscow. Bản tin cho biết hai bên đã thảo luận về triển vọng hợp tác kinh tế và khẳng định tính chất chiến lược của mối quan hệ Nga-Việt. Theo đài này, việc suy giảm trầm trọng kim ngạch và sự khiếm khuyết những dự án liên doanh tiềm năng sau sự sụp đổ của Liên Bang Xô Viết nay đã đi vào quá khứ và hai bên sẽ gia tăng hợp tác về kinh tế, thương mại, năng lượng cùng những khía cạnh chủ chốt của các vấn đề quốc tế. Ðài này dẫn lời của nhà phân tích chính trị Alexei Vlasov nhận định rằng, “Việt Nam là đối tác tốt nhất trên quan điểm bước ra thị trường khu vực Châu Á-Thái Bình Dương.”
Với tất cả những động thái ấy, tiềm năng Nga trở lại căn cứ Cam Ranh có thể là một thực tế, chỉ còn lại vấn đề thời điểm. Việc này có lợi cho Nga đang cần một đầu cầu quân sự và kinh tế ở Ðông Nam Á, trong khi đó Việt Nam sẽ có được một đối trọng trong sự đương đầu với bất cứ ý đồ nào của Trung Quốc. Sự hiện diện của Nga ở Cam Ranh sẽ giúp gia tăng ý nghĩa cho nguyên tắc tự do giao thông hàng hải trên Biển Ðông mà Hoa Kỳ vẫn luôn luôn nhấn mạnh.
Theo thỏa hiệp năm 1979 ký với Việt Nam, Liên Xô được thuê Cam Ranh trong 25 năm. Trong 10 năm đầu căn cứ đã được mở rộng thành một căn cứ Hải quân và Không quân quan trọng, tuy nhiên trên mặt chính thức Liên Xô và Việt Nam đều phủ nhận sự hiện diện quân sự này. Từ 1990, Nga bắt đầu triệt thoái khỏi Cam Ranh và chỉ còn giữ nơi đây làm một căn cứ do thám điện tử, theo dõi các liên lạc vô tuyến trong vùng Ðông Á. Sau đó Việt Nam đòi Nga phải trả mỗi năm $200 triệu nếu muốn tiếp tục sử dụng căn cứ này, Nga không đồng ý với giá thuê và ngày 2 Tháng Năm năm 2002 lá cờ Nga được hạ xuống lần cuối cùng.
Bạch thư của Bộ Quốc Phòng Việt Nam tuyên bố chính sách “3 không” năm 2004 và tái xác định năm 2009: không tham gia một liên minh quân sự nào, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ, không tham gia hoạt động quân sự sử dụng hay đe dọa vũ lực với nước khác.
Giáo Sư Carlyle Thayer, Học Viện Quốc Phòng Australia, do đó không tin rằng Nga sẽ được phép trở lại thành lập căn cứ ở vịnh Cam Ranh. Từ đầu thập niên 2000, Hoa Kỳ đã thương lượng với Việt Nam mở cửa Cam Ranh cho các chiến hạm ngoại quốc ghé cảng. Ngày 31 Tháng Mười, 2010, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng loan báo Cam Ranh sẽ mở cho tất cả mọi chiến hạm nước ngoài, tàu nổi cũng như tàu ngầm, sử dụng từ 2014 sau khi hoàn thành xây dựng một cơ sở sửa chữa vời sự cố vấn kỹ thuật của Nga.
Hiện nay Cam Ranh là căn cứ Hải quân quan trọng nhất của Việt Nam với Lữ Ðoàn Hải Quân 162 đóng tại đây. Lữ đoàn này được trang bị những chiến hạm hiện đại nhất như khinh hạm 2,100 tấn Gepard 3.9 (hai chiến hạm Ðinh Tiên Hoàng HQ-011 và Lý Thái Tổ HQ-012), các loại hộ tống hạm gắn hỏa tiễn và tàu tuần tra cao tốc Svetlyak - tất cả đều do Nga chế tạo.
Những nhận định dè dặt cho rằng chuyến thăm viếng Cam Ranh đầu Tháng Ba của Bộ Trưởng Shoigu có mục đích chính là kiểm tra tiến độ thi công căn cứ tàu ngầm Kilo do các chuyên viên Nga hướng dẫn. Cũng có thể là với nhãn quan quân sự, Tướng Shoigu muốn thị sát tận mắt về giá trị chiến lược của vịnh Cam Ranh mà Thủ Tướng Medvedev đã xác nhận là Nga và Việt Nam đang “thảo luận nghiêm túc” việc sử dụng chung. Mikhail Denisov, phó trưởng ban tiếng Nga của BBC cho rằng, “Chắc chắn nhất là hai bên đang thảo luận về những hợp đồng mua bán vũ khí mới, chẳng hạn sau khi giao hàng đủ 6 tàu ngầm Kilo máy diesel, rất có thể Nga còn muốn bán cho Việt Nam tàu ngầm nguyên tử” vì “trong bối cảnh tình hình Biển Ðông ngày càng phức tạp, Việt Nam rất cần nâng cao khả năng Hải quân sau khi đã đạt tới trình độ là nước ASEAN có lực lượng tàu ngầm mạnh nhất.”
Về phía Nga, căn cứ trong vùng Ðông Nam Á là điều mong muốn và nhu cầu từ lâu của Hải quân nước họ. Sau Chiến Tranh Lạnh, Hải Quân Nga không đủ ngân sách để phát triển nên các chiến hạm của họ hầu hết đã lỗi thời, ngoại trừ một số ít khu trục hạm và tàu ngầm nguyên tử mới. Có thể rằng Trung Quốc đã vượt qua Nga về số chiến hạm, tuy nhiên Hải Quân Nga vẫn còn được coi là đứng hàng thứ nhì sau Hoa Kỳ.
Nga có khoảng 250 chiến hạm lớn nhỏ, không kể thủy đội trong vùng biển nội hải Caspian, chia thành 4 hạm đội: Biển Bắc, Baltic, Hắc Hải và Thái Bình Dương. Ðiểm đáng chú ý là với một lãnh thổ rộng lớn nhất thế giới, Hải Quân Nga bị phân tán ra những khu vực rất xa nhau. Hơn nữa hầu hết các hạm đội Nga đều dễ dàng bị chặn đường ra đại dương bởi phải đi qua những vùng biển hẹp, từ Hắc Hải, Baltic cho đến cảng Vladivostok, căn cứ của hạm đội Thái Bình Dương.
Vịnh Cam Ranh vừa là một địa điểm chiến lược quan trọng ở Ðông Nam Á và Thái Bình Dương, vừa là một căn cứ tiếp liệu cần thiết cho hoạt động của Hải Quân Nga. Trong lịch sử hơn 100 năm trước đây, trong cuộc chiến tranh Nga-Nhật 1904-1905, hạm đội Baltic được điều động để tăng cường cho lực lượng Hải quân ở Viễn Ðông đã phải trải qua một cuộc hải trình dài gần 9 tháng. Một phần do sự mỏi mệt của thủy thủ qua đoạn đường quá dài như vậy, vì chỉ có một thời gian rất ngắn ghé vào vịnh Cam Ranh, lúc đó thuộc Pháp, để được tiếp tế than và nghỉ ngơi, hạm đội của Ðô Ðốc Zinovy Rozhestvensky bị Nhật Bản đánh tan trong trận hải chiến tại eo biển Ðối Mã.
Sự trở lại với Cam Ranh lần thứ ba, nếu có được, thì cũng đáng xem là tình cờ lịch sử của người Nga đối với vịnh thiên nhiên, một cảng nước sâu đẹp hàng đầu trên thế giới này. Từ mấy năm gần đây, dân Nga đã là thành phần du khách đông đảo nhất đến miền bờ biển miền Nam Trung Phần. Phi trường Cam Ranh bây giờ thuộc thành phố Nha Trang, hiện là phi trường quốc tế duy nhất tại Việt Nam có các chuyến bay thẳng nối liền với Vladivostok, Moscow và Almaty của Kazakhstan. Và các quân nhân Nga chắc chắn sẽ không cảm thấy Cam Ranh là nơi xa lạ đối với họ. (HC)
Hà Tường Cát
Chuyến viếng thăm vịnh Cam Ranh đầu Tháng Ba vừa qua của Bộ Trưởng Quốc Phòng Nga Sergei Shoigu đã dấy lên nhiều dự đoán
của các cơ quan truyền thông và quan sát viên quốc tế về địa danh nổi tiếng thế giới này.
Chiến hạm Hải Quân Nga thuộc hạm đội Bắc Hải diễn hành trên sông Neva, thành phố St. Petersburg.
(Hình: Kirill Kudryavtsev/AFP/Getty Images)
Người ta tin rằng, khác với chuyến thăm hồi Tháng Sáu năm ngoái của Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Leon Panetta, Bộ Trưởng Shoigu có thể có đề nghị cụ thể và Nga có những kế hoạch khả thi hơn ở Cam Ranh, tuy vậy sự trở lại căn cứ này chưa thể xảy ra trong ngắn hạn.
Trên cả ba mặt quân sự, ngoại giao, chính trị, sự trở lại Cam Ranh của Nga thích ứng hơn là Hoa Kỳ.
Chính quyền Obama đã công khai loan báo chiến lược trở lại Á Châu và từ ba năm qua lời phát biểu của Ngoại Trưởng Hillary Clinton tại hội nghị ASEAN ở Hà Nội cho thấy Hoa Kỳ coi Biển Ðông không chỉ giới hạn là vấn đề của khu vực. Mặc dầu một cách chính thức, Hoa Kỳ khẳng định là đứng ngoài những tranh chấp chủ quyền tại đây, nhưng Trung Quốc rất khó chịu vì cho rằng Hoa Kỳ đã hỗ trợ các quốc gia Ðông Nam Á trong chủ trương quốc tế hóa vấn đề này. Trong ý đồ bành trướng của Trung Quốc, nhiều hành động khiêu khích đã và đang tiếp tục xảy ra trên Biển Ðông, tuy vậy vẫn còn trong giới hạn thăm dò, cũng như phản ứng của các nước ASEAN - đặc biệt là Philippines và Việt Nam - vẫn chỉ ở mức độ dè dặt kiềm chế.
Hoa Kỳ trở lại căn cứ Cam Ranh sẽ là một sự kiện bị Trung Quốc xem như can dự vào khu vực và dẫn đến sự đối đầu trực tiếp mà cả hai phía đều chưa muốn có. Việt Nam cho dù muốn có sự hiện diện của Hoa Kỳ như một bảo đảm an ninh, nhưng không thể để Hoa Kỳ đặt căn cứ quân sự, vì thế đã nhiều lần xác định là sẽ không để Cam Ranh cho bất cứ nước nào sử dụng. Trong bối cảnh thế giới hiện nay, Hoa Kỳ không có chủ trương phát triển một hệ thống căn cứ quân sự như thời kỳ Chiến Tranh Lạnh chưa kể hạn chế về ngân sách sẽ không thích hợp với những phí tổn để xây dựng căn cứ tiếp liệu khổng lồ ở Cam Ranh như trong chiến tranh Việt Nam.
Vịnh Cam Ranh cũng không phải là một căn cứ tối cần thiết để Hải Quân Hoa Kỳ hiện diện trong Biển Ðông. Có thể trở lại với căn cứ Subic ở Philippines, trong chừng mực nào đó dễ dàng hơn, ít tốn kém và hiệu quả hơn, bảo đảm được sự phòng thủ an toàn mà không bị lôi cuốn vào các hệ quả ngoài ý muốn. Hơn nữa với các căn cứ ở Nhật, Guam và phương tiện hậu cần đặt tại Singapore, hạm đội Hoa Kỳ với hàng không mẫu hạm và tiềm thủy đĩnh nguyên tử là hai lực lượng căn bản, có thừa đủ sức mạnh để hoạt động hữu hiệu trên toàn thể khu vực tây Thái Bình Dương qua tới Ðông Ấn Ðộ Dương.
Sau khi Liên Xô tan rã đầu thập niên 1990, nước Nga lui xuống thành một cường quốc hàng nhì cho tới gần đây chính quyền của Tổng Thống Vladimir Putin mới đang có hoài bão tái lập phần nào ngôi vị cũ. Trên bước đường tiến dần đến mục tiêu này, trong hiện tại Nga muốn giữ quan hệ êm ả với cả Hoa Kỳ và Trung Quốc, không đứng về bên nào nếu hai nước kia có tranh chấp. Vì vậy ngay tức thời Nga trở lại gắn bó quá mức với Việt Nam thì không gây khó khăn gì với Hoa Kỳ nhưng sẽ làm Trung Quốc hoài nghi.
Mối quan hệ Việt Nam với Nga ngày nay khác với Liên Xô trước kia, không có ràng buộc quan điểm ý thức hệ hay nợ nần về viện trợ. Việt Nam cũng không có ám ảnh của tranh chấp xung đột quá khứ hay hiện tại như với Hoa Kỳ và Trung Quốc. Trên mặt tinh thần, quan hệ hữu nghị với Nga của nhà cầm quyền đương thời tại Việt Nam có đủ điều kiện thuận lợi để phát triển và hai nước đều đang tìm cách tăng cường bang giao trên nhiều mặt.
Tổng Thống Vladimir Putin và Thủ Tướng Dmitri Medvedev đều đã qua thăm Việt Nam. Ngược lại Chủ tịch nhà nước Trương Tấn Sang, tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam cũng đã đến Nga trong mấy tháng gần đây. Ðài Tiếng Nói nước Nga loan tin hôm 11 Tháng Ba, Thủ Tướng Dmitri Medvedev và Chủ Tịch Hội Ðồng Liên Bang Valentina Matviyenko đã gặp Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng tại Moscow. Bản tin cho biết hai bên đã thảo luận về triển vọng hợp tác kinh tế và khẳng định tính chất chiến lược của mối quan hệ Nga-Việt. Theo đài này, việc suy giảm trầm trọng kim ngạch và sự khiếm khuyết những dự án liên doanh tiềm năng sau sự sụp đổ của Liên Bang Xô Viết nay đã đi vào quá khứ và hai bên sẽ gia tăng hợp tác về kinh tế, thương mại, năng lượng cùng những khía cạnh chủ chốt của các vấn đề quốc tế. Ðài này dẫn lời của nhà phân tích chính trị Alexei Vlasov nhận định rằng, “Việt Nam là đối tác tốt nhất trên quan điểm bước ra thị trường khu vực Châu Á-Thái Bình Dương.”
Với tất cả những động thái ấy, tiềm năng Nga trở lại căn cứ Cam Ranh có thể là một thực tế, chỉ còn lại vấn đề thời điểm. Việc này có lợi cho Nga đang cần một đầu cầu quân sự và kinh tế ở Ðông Nam Á, trong khi đó Việt Nam sẽ có được một đối trọng trong sự đương đầu với bất cứ ý đồ nào của Trung Quốc. Sự hiện diện của Nga ở Cam Ranh sẽ giúp gia tăng ý nghĩa cho nguyên tắc tự do giao thông hàng hải trên Biển Ðông mà Hoa Kỳ vẫn luôn luôn nhấn mạnh.
Theo thỏa hiệp năm 1979 ký với Việt Nam, Liên Xô được thuê Cam Ranh trong 25 năm. Trong 10 năm đầu căn cứ đã được mở rộng thành một căn cứ Hải quân và Không quân quan trọng, tuy nhiên trên mặt chính thức Liên Xô và Việt Nam đều phủ nhận sự hiện diện quân sự này. Từ 1990, Nga bắt đầu triệt thoái khỏi Cam Ranh và chỉ còn giữ nơi đây làm một căn cứ do thám điện tử, theo dõi các liên lạc vô tuyến trong vùng Ðông Á. Sau đó Việt Nam đòi Nga phải trả mỗi năm $200 triệu nếu muốn tiếp tục sử dụng căn cứ này, Nga không đồng ý với giá thuê và ngày 2 Tháng Năm năm 2002 lá cờ Nga được hạ xuống lần cuối cùng.
Bạch thư của Bộ Quốc Phòng Việt Nam tuyên bố chính sách “3 không” năm 2004 và tái xác định năm 2009: không tham gia một liên minh quân sự nào, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ, không tham gia hoạt động quân sự sử dụng hay đe dọa vũ lực với nước khác.
Giáo Sư Carlyle Thayer, Học Viện Quốc Phòng Australia, do đó không tin rằng Nga sẽ được phép trở lại thành lập căn cứ ở vịnh Cam Ranh. Từ đầu thập niên 2000, Hoa Kỳ đã thương lượng với Việt Nam mở cửa Cam Ranh cho các chiến hạm ngoại quốc ghé cảng. Ngày 31 Tháng Mười, 2010, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng loan báo Cam Ranh sẽ mở cho tất cả mọi chiến hạm nước ngoài, tàu nổi cũng như tàu ngầm, sử dụng từ 2014 sau khi hoàn thành xây dựng một cơ sở sửa chữa vời sự cố vấn kỹ thuật của Nga.
Hiện nay Cam Ranh là căn cứ Hải quân quan trọng nhất của Việt Nam với Lữ Ðoàn Hải Quân 162 đóng tại đây. Lữ đoàn này được trang bị những chiến hạm hiện đại nhất như khinh hạm 2,100 tấn Gepard 3.9 (hai chiến hạm Ðinh Tiên Hoàng HQ-011 và Lý Thái Tổ HQ-012), các loại hộ tống hạm gắn hỏa tiễn và tàu tuần tra cao tốc Svetlyak - tất cả đều do Nga chế tạo.
Những nhận định dè dặt cho rằng chuyến thăm viếng Cam Ranh đầu Tháng Ba của Bộ Trưởng Shoigu có mục đích chính là kiểm tra tiến độ thi công căn cứ tàu ngầm Kilo do các chuyên viên Nga hướng dẫn. Cũng có thể là với nhãn quan quân sự, Tướng Shoigu muốn thị sát tận mắt về giá trị chiến lược của vịnh Cam Ranh mà Thủ Tướng Medvedev đã xác nhận là Nga và Việt Nam đang “thảo luận nghiêm túc” việc sử dụng chung. Mikhail Denisov, phó trưởng ban tiếng Nga của BBC cho rằng, “Chắc chắn nhất là hai bên đang thảo luận về những hợp đồng mua bán vũ khí mới, chẳng hạn sau khi giao hàng đủ 6 tàu ngầm Kilo máy diesel, rất có thể Nga còn muốn bán cho Việt Nam tàu ngầm nguyên tử” vì “trong bối cảnh tình hình Biển Ðông ngày càng phức tạp, Việt Nam rất cần nâng cao khả năng Hải quân sau khi đã đạt tới trình độ là nước ASEAN có lực lượng tàu ngầm mạnh nhất.”
Về phía Nga, căn cứ trong vùng Ðông Nam Á là điều mong muốn và nhu cầu từ lâu của Hải quân nước họ. Sau Chiến Tranh Lạnh, Hải Quân Nga không đủ ngân sách để phát triển nên các chiến hạm của họ hầu hết đã lỗi thời, ngoại trừ một số ít khu trục hạm và tàu ngầm nguyên tử mới. Có thể rằng Trung Quốc đã vượt qua Nga về số chiến hạm, tuy nhiên Hải Quân Nga vẫn còn được coi là đứng hàng thứ nhì sau Hoa Kỳ.
Nga có khoảng 250 chiến hạm lớn nhỏ, không kể thủy đội trong vùng biển nội hải Caspian, chia thành 4 hạm đội: Biển Bắc, Baltic, Hắc Hải và Thái Bình Dương. Ðiểm đáng chú ý là với một lãnh thổ rộng lớn nhất thế giới, Hải Quân Nga bị phân tán ra những khu vực rất xa nhau. Hơn nữa hầu hết các hạm đội Nga đều dễ dàng bị chặn đường ra đại dương bởi phải đi qua những vùng biển hẹp, từ Hắc Hải, Baltic cho đến cảng Vladivostok, căn cứ của hạm đội Thái Bình Dương.
Vịnh Cam Ranh vừa là một địa điểm chiến lược quan trọng ở Ðông Nam Á và Thái Bình Dương, vừa là một căn cứ tiếp liệu cần thiết cho hoạt động của Hải Quân Nga. Trong lịch sử hơn 100 năm trước đây, trong cuộc chiến tranh Nga-Nhật 1904-1905, hạm đội Baltic được điều động để tăng cường cho lực lượng Hải quân ở Viễn Ðông đã phải trải qua một cuộc hải trình dài gần 9 tháng. Một phần do sự mỏi mệt của thủy thủ qua đoạn đường quá dài như vậy, vì chỉ có một thời gian rất ngắn ghé vào vịnh Cam Ranh, lúc đó thuộc Pháp, để được tiếp tế than và nghỉ ngơi, hạm đội của Ðô Ðốc Zinovy Rozhestvensky bị Nhật Bản đánh tan trong trận hải chiến tại eo biển Ðối Mã.
Sự trở lại với Cam Ranh lần thứ ba, nếu có được, thì cũng đáng xem là tình cờ lịch sử của người Nga đối với vịnh thiên nhiên, một cảng nước sâu đẹp hàng đầu trên thế giới này. Từ mấy năm gần đây, dân Nga đã là thành phần du khách đông đảo nhất đến miền bờ biển miền Nam Trung Phần. Phi trường Cam Ranh bây giờ thuộc thành phố Nha Trang, hiện là phi trường quốc tế duy nhất tại Việt Nam có các chuyến bay thẳng nối liền với Vladivostok, Moscow và Almaty của Kazakhstan. Và các quân nhân Nga chắc chắn sẽ không cảm thấy Cam Ranh là nơi xa lạ đối với họ. (HC)

