Chứng khoán Trung Quốc thiệt hại gấp 10 lần GDP Hy Lạp
Chỉ trong 3 tuần, giá trị các cổ phiếu trên sàn chứng khoán nước này giảm gần 2.400 tỷ USD, tương đương 10 lần GDP của quốc gia vừa bị tuyên vỡ nợ.
Trong khi thị trường chứng khoán châu Âu và Mỹ đang đi ngang chờ cuộc trưng cầu dân ý có thể quyết định số phận của Hy Lạp
vào cuối tuần này thì chứng khoán Trung Quốc lại lao dốc.
Đà giảm kéo dài suốt 3 tuần và giá trị vốn hóa đến nay giảm 2.360 tỷ USD, gấp gần 10 lần GDP năm ngoái của Hy Lạp.
Chỉ số Shanghai Composite hôm qua đã lần đầu tiên trong 2 tháng rơi xuống dưới mốc 4.000 điểm,
nhà đầu tư liên tục bán tháo và nghi ngờ hiệu quả các biện pháp hỗ trợ của Chính phủ. Từ đỉnh đạt được giữa tháng 6, chỉ số này đã mất 24%.
Hôm qua, cứ một mã tăng lại có 15 mã giảm, dẫn đầu là cổ phiếu các ngành công nghiệp, năng lượng và hàng hóa.
Chứng khoán Trung Quốc giảm mạnh từ giữa tháng 6, so với Euro Stoxx 50 của châu Âu và S&P 500 của Mỹ.
Bản chất đóng kín của thị trường tài chính Trung Quốc đang khiến cả thế giới mới chỉ quan sát mà chưa hề nhận ra nó sẽ có ảnh hưởng lên thị trường nước mình.
"Điều đang diễn ra tại Trung Quốc sẽ có hậu quả nghiêm trọng hơn nhiều so với tác động mà Hy Lạp có thể mang lại trong vài tuần hoặc vài tháng tới. Khi chứng khoán Trung Quốc mất đà, nhu cầu trên khắp nước này sẽ bị ảnh hưởng. Việc này sẽ khiến cỗ máy tăng trưởng của toàn cầu thập kỷ qua gặp trục trặc. Tình hình này nghiêm trọng không kém Hy Lạp, nhưng lại rất khó nhận ra vai trò quyết định của nó với kinh tế toàn cầu", Frederic Neumann - trưởng bộ phận nghiên cứu kinh tế châu Á tại HSBC cho biết.
Vốn hóa trên thị trường Trung Quốc từng lên 10.000 tỷ USD giữa tháng 6.
Các nhà kinh tế học cũng chưa tìm ra có mối liên quan nào giữa các biến động trên thị trường chứng khoán và nền kinh tế nước này. Một khảo sát gần đây của Bloomberg cũng cho thấy giới phân tích còn đang trong cãi liệu những biến động này có ảnh hưởng lên tăng trưởng của Trung Quốc hay không.
Nếu Trung Quốc mở cửa thị trường vốn, những diễn biến này chắc chắn sẽ gây tác động lên các nhà đầu tư từ London, New York đến Tokyo. Nhưng hiện tại, rõ ràng những điều này chưa thể thu hút sự chú ý như Hy Lạp.
Vi Anh
Hai bản phúc trình chống đối nhau này được ban hành vài ngày sau khi các quan chức cấp cao Mỹ và Trung Quốc mở các cuộc đàm phán thường niên ở Washington.
Trung Cộng là một siêu cường mới trổi dậy. Thói cưỡng bức các nước nhược tiểu và chư hầu của vua chúa Trung Hoa đã thâm căn cố đế trong suy nghĩ hành động của gới thống trị. Thời CS chuyên chính hơn vương quyền, thòi cưỡng bức thành bản tánh của Trung Quốc phát tiết ra trong suy nghĩ và hành động đè đầu các nước nhỏ để vươn lên. Hành động cưỡng bức của TC ở Biển Đông đe dọa hòa bình, ổn định, vi phạm tự do hàng hải, hàng không ở Á châu Thái bình dương. Đã đến lúc Mỹ phải hành động nếu không Mỹ là nước bị thiệt hại nhiều nhứt về vật chất lẫn tinh thần.
Một, TC là hiện thân của chế độ chuyên cưỡng bức các nước nhỏ yếu. Không còn nghi ngờ gì nữa, TC đã trổi dậy thành siêu cường thế giới với nền kinh tế và ngân sách quốc phòng hạng nhì thế giới. Thay vì tìm cách vươn lên bằng ảnh hưởng và uy tín của một cường quốc đóng góp cho hoà bình, ổn định, thịnh vượng, tiến bộ của cộng đồng thế giới, thì TC tìm cách vươn lên theo thói quen hằng cữu của các vua chúa Trung Hoa bằng cách cưỡng bức các nước nhược tiểu.
Vua chúa Trung Hoa từ thời lập quốc xưa kia đã năng thần thượng tôn Hán tộc, coi các dân tộc chung quanh là man di, mọi rợ. TH tiêm nhiễm thói hư tật xấu muốn làm bá chủ và các nước là chư hầu, chuyên dùng cưỡng bức để thống trị các nước nhỏ xung quanh. Thời CS độc tài đảng trị CS còn nghiệt ngã, bạo ngược hơn thời chuyên chế vua chúa TH nữa. Nên thói nào tật nấy, CS Trung Quốc ra tay cưỡng bức các nước là chuyện thường không có gì khó hiểu.
Chủ Tịch TC Tập cận Bình của Đảng Nhà Nước TC là một người Hán sống trong giấc mơ Trung Hoa bá chủ, một hoàng tư đỏ của một trong «Bát đại nguyên lão» khai nguyên chế độ TC. Ông hành động theo phản ứng có điều kiện Hán Cộng là chuyện không có gì lạ. Dự án mở «Con Đường Tơ Lụa Trên Biển», bung ra hướng đông, nam, dùng tiền cho vay cưỡng bức chánh trị, mua như giựt tài nguyên của các nước Đông Nam Á, Trung Á, Phi châu và Nam Mỹ, và lập Ngân hàng Đầu tư Cơ sở Hạ tầng Châu Á (AIIB), để vươn lên là chuyện người lãnh đạo Hán Cộng cảm thấy phải làm vì động lực thôi thúc tim, óc của họ.
Các nước nhược tiểu nào lỡ lọt vào vòng TC được chỉ có ba, nhưng muốn thoát ra thì thiệt hại quá lớn nên khó mà “Thoát Trung” về kinh tế lẫn chánh trị.
Trong Hội nghị trung ương về đối ngoại hôm 28 và 29/11/2014, Tập Cận Bình không dấu diếm, Đảng Nhà Nước thông qua các chính sách kinh tế «hy vọng làm cho số phận của các quốc gia mới nổi dậy và thịnh vượng ở châu Á - đang ngày càng tăng lên - phải lệ thuộc vào Trung Quốc với tư cách đại cường. Đồng thời khiến Hoa Kỳ phải đứng bên lề trong tương lai khu vực».
Hai, Biển Đông là mô thức tiêu biểu về bành trướng bằng cưỡng bức của TC. TC là một chế độ không có một bằng cớ lịch sử, pháp lý nào trên một số biển đảo của Nhựt, Phi, VN, Mã Lai, Brunei. Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Anthony Blinken tuyên bố tại Trung tâm An ninh Mỹ mới do báo PhilStar loan tải mới đây, nếu Trung Quốc trình đủ bằng chứng pháp lý và lịch sử cho thấy nước này sở hữu các quần đảo trên biển Đông thì Washington sẽ ủng hộ Bắc Kinh 100%. Nhưng đùng một cái TC cưỡng bức công luận đơn phương tuyên bố đảo Senkaku của Nhựt là Điếu Ngư của TC, Bãi Cạn Scarborough của Phi, Hoàng sa, Trường sa của VN là của TC. TC cưỡng bức chữ nghĩa gọi đó là “tranh chấp biển đảo”, một mặt lên giọng giả đạo đức là kêu gọi giải quyết song phương. Mặt khác TC cưỡng bức bằng hành động, ngang ngược, thô bạo, lập thành phố, xây cất đồn bót, tự tiện vẽ và công bố bản đồ trực thuộc vào tỉnh Hải Nam của TQ. TC tung hết đoàn tàu này tới đoàn tàu kia, đủ loại nào hải quân, hải giám, tàu đánh cá nghi trang có vũ khí ra kiểm soát, ra lịnh cấm đánh cá, bắt, bắn tàu của các nước ra khỏi ngư trường ngàn đời của các nước láng giềng. Cho tàu thăm dò, khoan dầu khí, tài nguyên dưới đáy biển vào vùng dặc quyền kinh tế của các nước.
Các nước nhỏ la làng lên và phản đối. Mỹ chuyển trục quân sự về vùng này nhưng tuyên bố không đứng về phía bên nào trong các cuộc mà TC “dụng danh để đạt quả” gọi là các “tranh chấp biển đảo.”
Được đằng chân, lần đằng đầu, TC lập vùng cấm bay gọi là nhận dạng phòng không. TC chạy theo kim đồng hồ xây cất đảo Hoàng sa, bồi lắp các đảo nhân tạo của Trường Sa thành Vạn lý Trường Thành bằng cát ở Biển Đông, và toan lập vùng nhận dạng phòng không trên không phận. Coi như TC chà đạp quyền tự do hàng hải, hàng không quốc tế ngay ở hành lang con dường hàng hải huyết mạch của thế giới từ Eo Biển Mã Lai đi lên bắc Thái bình dương. Nơi mỗi năm gần 5.000 tỷ hàng hoá Mỹ và đông minh di chuyển qua đường này. Mỹ cho tàu và máy bay tuần tra thăm dò, Hải Quân TC công khai lên tiếng xô đuổi. Mỹ quyết không nhượng bộ. Bộ Trưởng QP Mỹ tuyên bố Mỹ tiếp tục cho máy bay, tàu đi đến bất cứ nơi nào luật pháp quốc tế cho phép.
Ba, nếu Mỹ lơ là trước hành động TC cưỡng bức có tăng không có giảm ở Biển Đông, thì Mỹ sẽ là nước bị thiệt hại vật chất lẫn tinh thần nặng nhứt. Chính Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Antony Blinken vào ngày 26/06/2015 là một nhân viên chánh phủ, nhân vật số hai của Bộ Ngoại Giao Mỹ mới đây nhứt đã quả quyết các hoạt động bồi đắp và xây dựng đảo nhân tạo rầm rộ mà Trung Quốc tiến hành ở Biển Đông, là «mối đe dọa cho hòa bình và ổn định». Ông coi việc làm đó của TC như những gì Nga đã đang làm ở Crimea và Miền Đông Ukraine.
Đây là lúc thời cơ, địa lợi, nhơn hoà gì cũng thuận lợi cho Mỹ hành động ngăn chận TC ỷ nước lớn hiếp nhỏ, cưỡng bức chiếm cứ biển đảo ở Biển Đông, chà đạp quyền tự do hàng hải, hàng không quốc tế. Về quân sự, hải và không quân TC quá yếu, chỉ bằng ¼ của Mỹ. Kinh tế TC chưa nuôi nổi một cuộc chiến tranh vùng chống Mỹ. TC đang cô đơn tận cùng cây số trong vùng Á châu Thái bình dương. Còn Mỹ đã quá sẵn sàng cho hai ba mặt trận. Liên minh Mỹ, Nhựt, Úc rất chặt chẽ. Bây giờ chỉ cần Mỹ bày binh bố trận là TC xìu liền vì TC biết đánh với Mỹ hiện thời TC sẽ từ chết tới bị thương.
Ở đâu quân đội Mỹ cũng phải sẵn sàng đội hình chiến đấu. Mỹ đã chuyển trục quân sự về Á châu Thái bình dương rồi. Thì cứ bung trục ấy ra cùng với các đông minh và đối tác, thành đội hình chuẩn bị chiến tranh để củng cố hòa bình do TC gây xáo trộn. Tập trung hải lực Á châu Thái bình dương về Biển Đông. Mở đội hình kiểm soát sát và chặt qua các cuộc tuần tra, các cuộc tập trân thường trên không, trên biển, chứng tỏ sự hiện diện của lá chắn Mỹ để các nước nhỏ trong vùng lên tinh thần.
Triệt để bảo vệ tự do hàng hải, hàng không, luật pháp quốc tế về biển, chống mọi vi phạm của TC ở hiện trường, trên ngoại giao, ở diển đàn vùng và LHQ. Chống lập trường đơn phương của TC không cho các nước hoạt động quân sự bên trong vùng 200 hải lý khu đặc quyền kinh tế của Trung Quốc, dù tính từ đất liền hay từ các đảo. Chống lập trường TQ đòi lãnh hải 12 hải lý tính từ các bãi đá ngầm./.(VA)
Từ Độc Tài Nguyễn Văn Linh Đến Độc Quyền Nguyễn Phú Trọng
Phạm Trần
Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của nguyên Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh (1/7/1915 – 1/7/2015, Lãnh đạo Cộng sản Việt Nam đã công khai tái khẳng định sẽ tiếp tục độc tài, độc đảng và độc quyền cai trị như ông Linh đã vạch ra.
Chủ trương này đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang đưa ra bằng lời nói và bài viết có cùng lập trường nhất quyết không từ bỏ chủ nghĩa Cộng sản và chống đa nguyên đa đảng. Tuy nhiên cả hai người lại không có bất cứ lời nào lên án Trung Quốc đang biến 7 bãi đá chiếm được của Việt Nam ở Trường Sa năm 1988 thành các đảo để sinh sống và căn cứ quân sự ở Biển Đông, có lẽ vì sợ gây phiền não cho vong linh người qúa cố ?
Điều này dễ hiểu vì Trung Quốc coi ông Nguyễn Văn Linh là người có công với Bắc Kinh tại Hội nghị bí mật Thành Đô, Tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc trong hai ngày 3-4 Tháng 9 năm 1990.
Ông Linh đi Thành Đô cùng với Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Thủ tướng) Đỗ Mười và Cố vấn Phạm Văn Đồng để bàn chuyện nối lại bang giao với Tổng Bí thư, Chủ tịch nhà nước Trung Hoa Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng.
Tại Thành Đô, theo các giới Ngọai giao của Việt Nam thời bấy giờ như cố Thứ trưởng Ngọai giao Trần Quang Cơ và Đại sứ Việt Nam tại Bắc Kinh, Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh thì ông Linh đã chấp nhận 3 đòi hỏi quan trọng của Giang Trạch Dân để được tái lập quan hệ ngọai giao. Ba điều kiện đó là: Việt Nam phải rút quân vô điều kiện khỏi Kampuchia và đồng ý một giải pháp chính trị không loại phe Khmer đỏ thân Trung Quốc; công khai chỉ trích và cam kết thay đổi chính sách thân Liên Xô trước đó của Tổng Bí thư tiền nhiệm Lê Duẩn; cất chức Bộ trưởng Ngọai giao Nguyễn Cơ Thạch, người có tư tưởng độc lập với Trung Quốc và loại ông khỏi Bộ Chính trị.
Vì các văn kiện Thành Đô, kể cả tài liệu quan trọng được gọi là Kỷ Yếu Hội nghị do Lý Bằng sọan cho ông Linh ký kết với phiá Trung Quốc chưa được bạch hóa nên không ai biết ông Linh còn cam kết dành cho Trung Quốc những đặc quyền đặc lợi nào khác.
Chỉ biết những việc sau đây đã xẩy ra từ sau Hội nghị Thành Đô:
- Đảng nghiêm cấm không cho tổ chức kỷ niệm hay nhắc đến cuộc chiến xâm lược qua biên giới Việt Nam của quân Trung Quốc từ 1979 đến 1987.
- Không đòi lại những phần đất, khỏang gần một ngàn cây số vuông đã bị mất vào tay Trung Hoa sau cuộc chiến biên giới, trong đó có nhiều điểm cao chiến lược, tiêu biểu như điểm cao 1509 mà Trung Hoa gọi là Laoshan (Lão Sơn hay Núi Đất) và Gỉa Âm Sơn (điểm cao 1250) ở tỉnh Hà Giang (trước là Hà Tuyên).
- Ngăn chặn mọi nỗ lực tưởng niệm hay tuyên dương 74 chiến sỹ Hải quân Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiến đấu chống quân Tầu xâm lược Hòang Sa tháng 1/1974. Không có hành động đòi lại mà chỉ biết nói đi nói lại ”Hoàng Sa là của Việt Nam”.
- Chỉ cho tổ chức rất hạn chế và cục bộ để tưởng nhớ đến 64 chiến sỹ quân đội nhân dân đã bỏ mình trong trận chiến bảo vệ biển đào Trường Sa năm 1988, nhưng không có hành động nào nhằm lấy lại lãnh thổ đã mất.
- Sách lịch sử của Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ nói rất sơ sài về những biến cố lịch sử này.
- Việt Nam cũng đã để mất 2/3 thác Bản Giốc và chịu nhận đường biên giới hai nước nằm ở phiá nam Ải Nam Quan, thay vì phiá bắc Ải này, căn cứ theo Hiệp định biên giới trên đất liền ký ngày 30/12/1999. Như vậy Ải lịch sử Nam Quan nay nằm bên phiá Trung Quốc.
Tiến sỹ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ từng tham gia đàm phán với Trung Quốc nói: “Căn cứ vào các tư liệu có giá trị pháp lý theo Thoả thuận những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ mà Việt Nam và Trung Quốc ký năm 1993, thì rõ ràng đường biên giới tại khu vực này luôn nằm về phía nam Ải Nam Quan, chứ không phải đi qua Ải Nam Quan theo tiềm thức của người Việt Nam. Như vậy không có chuyện Việt Nam đã nhường Ải Nam Quan cho Trung Quốc như nhiều người suy diễn theo cảm tính và dựa vào những thông tin thiếu khách quan, không có giá trị pháp lý.” (trích Việt Nam Express, 31/01/2015)
Tuy nhiên, ông Trục đã quên rằng sách sử Việt Nam đều đã từng nói “nước Việt Nam từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mâu” ?
- Ngoài mất mát trên đất liền Việt Nam còn đồng ý ký 2 Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ và Hợp tác Nghề Cá với Trung Quốc năm 2000 có nhiều bất lợi cho Việt Nam, theo quan điểm của một số chuyên viên của Qũy nghiên cứu Biển Đông.
Các chuyên viên biển đảo Việt Nam ở trong nước và nước ngoài của Qũy này cho biết: “Vịnh Bắc Bộ được bao bọc bởi Việt Nam và Trung Quốc có diện tích 123.700 km2, chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 320 km (176 hải lý) và nơi hẹp nhất khoảng 220 km (119 hải lý). Chiều dài bờ biển phía Việt Nam khoảng 763 km, còn phía Trung Quốc khoảng 695 km. Phần Vịnh phía Việt Nam có khoảng 1.300 hòn đảo ven bờ, đặc biệt có đảo Bạch Long Vĩ nằm cách đất liền nước ta khoảng 110 km, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng 130 km. Vịnh có vị trí chiến lược quan trọng đối với Việt Nam và Trung Quốc về an ninh và quốc phòng. (Trích bài viết “Đàm phán Việt - Trung về khu vực ngoài cửa vịnh Bắc Bộ” ngày 24/02/2014)
Nguyên Bộ trưởng Ngọai giao Nguyễn Dy Niên cho biết: “Việt Nam được hưởng 53,23% diện tích Vịnh và Trung Quốc được hưởng 46,77% diện tích Vịnh”.
Như vậy, phiá Việt Nam hơn Trung Quốc 6,46%, hay khỏang 8,205 cây số vuông, theo ước tính của Qũy Biển Đông.
HỢP TÁC CÙNG PHÁT TRIỂN
Đáng chú ý là trong Hiệp định này, Việt Nam đã đồng ý “hợp tác cùng phát triển” với Trung Quốc ở vùng biển này, và nay cả ở khu vực bên ngoài vịnh Bắc Bộ. Nội dung này phù hợp với chủ trương cốt lõi của Trung Quốc từ thời Đặng Tiểu Bình đưa ra năm 1979 và được tái khẳng định bởi Tập Cận Bình năm 2013, theo đó Trung Hoa luôn luôn coi Biển Đông là “biển của ta, gác tranh chấp để cùng khai thác”!
Việc Trung Quốc tự nhận chủ quyền trong hình Lưỡi bò chiếm ¾ diện tích 3.5 triệu cây số vuông Biển Đông là một bằng chứng.
Dù Trung Quốc không giấu diếm tham vọng, nhưng vào ngày 11/10/2011, tân Tổng Bí thư đảng CSVN khoá XI Nguyễn Phú Trọng vẫn vội vã sang Tầu họp với Tổng Bí thư-Chủ tịch nhà nước Trung Hoa Hồ Cẩm Đào để tái cam kết 6 điểm về “Nguyên tắc giải quyết vấn đề trên biển Việt-Trung”. Tại Bắc Kinh, ông Trọng đã đồng ý “Giải quyết các vấn đề trên biển theo tinh thần tuần tự tiệm tiến, dễ trước khó sau. Vững bước thúc đẩy đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, đồng thời tích cực bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này.” (điểm 5)
Sau chuyến đi của ông Trọng, phiá Trung Quốc tiếp tục áp lực Việt Nam phải mau chóng thi hành những cám kết đã ký qua các chuyến qua lại của lãnh đạo hai nước, trong đó có các chuyến đến Việt Nam của Thủ tướng Lý Khắc Cường, Ủy viên Quốc vụ viện phụ trách biên giới-biển đảo Dương Khiết Trì và của Ngoại trưởng Vương Nghị.
Diễn biến mới nhất là chuyến sang Tầu của ông Nguyễn Phú Trọng từ ngày 7 đến 10 tháng 4/2015 để gặp Tồng Bí đảng Cộng sản Trung Quốc Tập Cận Bình, trước khi ông Trọng thực hiện chuyến đi lịch sử sang Hoa Kỳ gặp Tồng Thống Barrack Obama, dự kiến từ ngày 07 đến 09 tháng 7/2015.
Tại Bắc Kinh, theo tin Việt Nam Thống tấn xã thì hai bên tái khẳng định: “ Đối với vấn đề trên biển, (hai bên) nhấn mạnh tuân thủ nhận thức chung quan trọng đạt được giữa Lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước, nghiêm túc thực hiện “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam-Trung Quốc;” sử dụng tốt cơ chế đàm phán cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ Việt Nam-Trung Quốc, kiên trì thông qua hiệp thương và đàm phán hữu nghị, tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài mà hai bên đều có thể chấp nhận được, tích cực nghiên cứu giải pháp mang tính quá độ không ảnh hưởng đến lập trường và chủ trương của mỗi bên, bao gồm tích cực nghiên cứu và bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển.”
Sau đó, khỏang 2 tuấn lễ trước ngày ông Trọng đến Hoa Thịnh Đốn, Bộ trưởng Ngọai giao Phạm Bình Minh lại đi Bắc Kinh họp với Ủy viên Quốc vụ Quốc vụ viện Dương Khiết Trì, từ ngày 17-19/06/2015, trong khuôn khổ của Phiên họp lần thứ 8 Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam - Trung Quốc.
Ngoài Dương Khiết Trì, ông Minh còn gặp Thủ tướng Lý Khắc Cường và Bộ trưởng Ngọai giao Vương Nghị để hai bên cam kết “không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp; xử lý kịp thời thỏa đáng vấn đề nảy sinh, duy trì đại cục quan hệ Việt - Trung và hòa bình, ổn định ở Biển Đông.”
Tuy cam kết như thế, nhưng phiá Trung Quốc đã và đang làm cho tình hình Biển Đông thêm phức tạp với các hoạt động bành trướng lãnh thổ và chiêm đóng biển đảo của Việt Nam.
Đáng chú ý là không thấy ông Minh đề xuất Trung Quốc phải ngưng ngay lập tức việc xây dựng các đảo nhân tạo, thiết lập các cứ quân sự ở Biển Đông, hay đòi chấm dứt các cuộc tấn công tầu cá Việt Nam.
Bởi vỉ, theo Cục Kiểm ngư Việt Nam thì “nhiều tàu cá của ngư dân ở hai tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi đã bị một số lượng lớn tàu cá vỏ sắt của Trung Quốc liên tiếp đâm uy hiếp và đe dọa. Trong đó, riêng tại Quảng Ngãi, Trung Quốc đã uy hiếp, tấn công 23 tàu cá của ngư dân.” (theo Thông tấn Xã Việt Nam (TTXVN) ngày 30/06/2015)
Cùng thời gian này, nhiều tầu cá Trung Quốc đã công khai xâm nhập sâu vào vùng biển Việt Nam để đánh bắt nhưng chỉ bị cảnh cáo, xử phạt hành chính và xua đuổi đi nơi khác.
Việc làm này của phiá Việt Nam trái ngược với các vụ tấn công, đánh ngư dân và tịch thu tài sản tầu cá Việt Nam của các tầu hài giám Trung Hoa.
Tại sao Việt Nam lại yếu mềm và sợ Trung Quốc trước ngày ông Trọng đi Mỹ như thế thì chỉ có lãnh đạo và nhà nước Việt Nam mới có thể trả lời được.
- Phía Việt Nam còn bị “mắc họng” khó nói với thế giới vì sao năm 1958 Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã gửi Công hàm cho Thủ tướng Chu Ân Lai nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc ở Hòang Sa và Trường Sa. Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng hoà (miền Bắc) cũng không hề lên tiếng phản đối khi quân Trung Quốc chiếm Hòang Sa từ tay Quân đội Việt Nam Cộng hòa năm 1974. Do đó báo chí Trung Hoa trong những ngày cuối tháng 6/2015 đã gia tăng chỉ trích Việt Nam đã quên những cam kết qúa khứ và thay đồi lập trường sau ngày thống nhất đất nước năm 1976.
- Song song với những việc làm tréo cẳng ngỗng khó hiểu này, Đại tướng Lê Đức Anh, trong chức vụ Bộ trưởng Quốc phòng, đã phạm lỗi lầm lịch sử tại mặt trận Trường Sa năm 1988, khi ông ra lệnh cho binh sỹ bảo vệ đá Gạc Ma không được nổ súng chống lại quân Tầu khi chúng xâm lược và chiếm 7 bãi đá. 64 binh sỹ của Việt Nam đã bị quân Tầu giết hạ trong cuộc chiến “bị bó tay” này !
Vì vậy ông Anh đã được phiá Trung Hoa sử dụng làm quân cờ đi đêm với Đại sứ Trung Hoa ở Hà Nội, qua mặt Bộ trưởng Ngọai giao Nguyển Cơ Thạch, để phối trí đưa phái đòan Nguyễn Văn Linh đi Hội nghị Thành Đô dàn xếp chuyện Kampuchia theo những điều kiện của Trung Hoa.
Sau Hội nghị Thành Đô, ông Đỗ Mười, người năng nổ nhất trí với phiá Trung Quốc, sau ông Nguyễn Văn Linh, đã lên làm Tổng Bí thư khoá đảng VII và Đại tướng Lê Đức Anh được tưởng thưởng chức Chủ tịch nước khiến Trung Hoa hả dạ cười tươi.
Vì vậy, trước những nhượng bộ chính trị làm mất thể diện quốc gia và tư cách lãnh đạo của các ông Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Lê Đức Anh ở Thành Đô, ông Nguyễn Cơ Thạch đã thốt lên câu nói lịch sử: “Một thời kỳ Bắc thuộc mới rất nguy hiểm đã khởi sự."
Lời cảnh giác của ông Nguyễn Cơ Thạch đã dẫn chứng trong 2 Hiệp định biên giới và Vịnh Bắc Bộ bất lợi cho Việt Nam của thời Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu (khoá đảng VIII). Đến thời Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh (hai khoá IX và X) thì ông Mạnh lại nghe theo lời đường mật của Trung Quốc cho họ vào khai thác Bauxite ở Tây Nguyên mà hiệu qủa kinh tế còn rất mờ mịt.
Theo tài liệu của Bách khoa Tòan thư mở thì Tiến sỹ Tô Văn Trường, nguyên Viện trưởng Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam, khẳng định: "Dự án bô-xít Tây Nguyên vừa lỗ nặng, vừa gây ô nhiễm đến môi trường cả trước mắt và lâu dài". Cũng theo ông Trường thì "Nhà đầu tư TKV (Tập đòan Khoáng sản Việt Nam, Vinacomin), đã được Bộ Tài nguyên & Môi trường "bao cấp" không tính phí tài nguyên môi trường, Bộ GTVT "hỗ trợ" tuyến đường vận chuyển (bằng tiền ngân sách), Bộ Công Thương dự trù "biếu không" nhà máy thủy điện Đồng Nai 5 để phục vụ cho dự án bô-xit...Tất cả các công trình nói trên là tiền ngân sách, thực chất là tiền thuế của dân, cần phải hết sức thận trọng, suy tính sử dụng cho có hiệu quả vì nợ công đã đến mức báo động đỏ."
Theo ước tính của một số chuyên gia thì tổng số tiền lỗ của mỗi năm ít nhất là 33 triệu.
Đó là “thành tích” lệ thuộc Tầu của ông Nông Đức Mạnh, sau 10 năm cầm quyền (1992 -2001).
CHUYỆN BÂY GIỜ
Với bối cảnh lịch sử và những hệ lụy xẩy ra sau đó cho Việt Nam từ sau Hội nghị Thành Đô trong 30 năm qua các thời đại Nguyễn Văn Linh (khoá đảng VI), Đỗ Mười (khoá VII),Lê Khả Phiêu (khoá VIII), Nông Đức Mạnh (hai khoá IX và X) cho đến ông Nguyễn Phú Trọng (khoá đảng XI), Việt Nam tiếp tục bị Trung Quốc xỏ mũi kéo đi phiêu lưu để kiệt quệ cả nhân lực và tài lực.
Đó là hậu qủa của lời cám ơn Giang Trạch Dân của ông Nguyễn Văn Linh tại Hội nghị Thành Đô năm 1990 khi ông ca ngợi quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và Trung Quốc là “vừa là đồng chí vừa là anh em” như ông Hồ Chí Minh đã nói, căn cứ theo Tác gỉa Trung Quốc Trương Thanh,lúc đó là Vụ phó Vụ Á châu 1 Bộ Ngoại giao Trung Quốc, người tham dự hội nghị. (Tài liệu của chuyên gia về Trung Quốc Dương Danh Dy, BBC, 23/10/2014)
NGUYỄN PHÚ TRỌNG-TRẦN ĐẠI QUANG
Vậy mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, trong diễn văn kỷ niệm 100 năm ngày sinh tại quê hương Hưng Yên của ông Nguyễn Văn Linh sáng ngày 30/06/2015 đã không ngớt ca ngợi lập trường kiền trì chủ nghĩa Cộng sản thân Trung Quốc của ông Linh và coi đó như khuôn vàng thước ngọc để bảo vệ quyền lực cho đảng.
Ông Trọng lập lại lời Nguyễn Văn Linh nói rằng: “Kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn của Đảng ta... Chẳng lẽ bao nhiêu thành quả cách mạng giành được bằng xương máu của biết bao thế hệ người Việt Nam lại đem trao vào tay những lực lượng đưa đất nước đi vào con đường tư bản chủ nghĩa, con đường chắc chắn không thể bảo đảm độc lập thật sự cho dân tộc, tự do hạnh phúc thật sự cho tuyệt đại đa số nhân dân"
Ông cũng không quên đọc lời ông Linh qủa quyết: “Kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin là vấn đề có tính nguyên tắc số một đối với Đảng ta. Trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin có nghĩa là nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, vận dụng một cách đúng đắn, thích hợp với điều kiện nước ta, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin một cách sáng tạo. Chúng ta phải đấu tranh chống những luận điệu và thủ đoạn đả kích, phủ nhận, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh từ phía những thế lực thù địch, những kẻ cơ hội
Đồng chí kịch liệt phê phán quan điểm đòi "đa nguyên, đa đảng". Đồng chí nói: "Trong điều kiện nước ta, không có sự cần thiết khách quan để lập nên cơ chế chính trị đa nguyên, đa đảng đối lập. Thừa nhận đa đảng đối lập có nghĩa là tạo điều kiện cho sự ngóc đầu dậy ngay tức khắc và một cách hợp pháp các lực lượng phản động... hoạt động chống Tổ quốc, chống nhân dân, chống chế độ. Đó là điều mà nhân dân ta dứt khoát không chấp nhận.”
Khi ông Trọng mượn lời Nguyễn Văn Linh để nói vào thời điểm đảng CSVN chuẩn bị Đại hội đảng XII chính là ông muốn nói với đảng viên và người dân về chủ trương lạc hậu và phản dân chủ của những người cầm quyền bây giờ.
Quan điểm độc quyền cai trị của đảng CSVN và chống đa nguyên đa đảng, chống bầu cử dân chủ tự do đã được ông Trọng nói trắng ra mà không cần biết nhân dân và cán bộ đảng viên có còn muốn nghe theo hay không.
Nhưng tại sao ông Trọng lại phải mượn những lời sặc mùi bảo thủ Cộng sản của ông Linh để hù họa người dân vào lúc giặc ngọai xâm Trung Quốc đã vào bên trong ngôi nhà Việt Nam từ Biển Đông đến đất liền ?
Phải chăng ông muốn gửi một thông điệp cho người bạn láng giềng Trung Quốc Tập Cận Bình biết để yên tâm ông sẽ không thay lòng đổi dạ trong chuyến đi Hoa Kỳ gặp Tổng thống Obama trong những ngày sắp tới ?
Song song với diễn văn của ông Trọng là bài viết của Đại tướng Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang được báo đảng CSVN phổ biến có tựa đề “Tiếp tục giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp đổi mới đất nước”.
Bài viết cũng chỉ nhằm ca tụng quan điểm chính trị quyệt đôi trung thành với chủ nghĩa Cộng sản và chống đa nguyên đa đảng của Nguyễn Văn Linh.
Ông Quang viết: “ Đồng chí kịch liệt phê phán những tư tưởng, quan điểm chính trị sai trái, không phù hợp với cách mạng nước ta, nhất là quan điểm “đa nguyên, đa đảng”, đòi Đảng ta từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ; đồng chí kiên quyết khẳng định: “Trong điều kiện nước ta không có sự cần thiết khách quan để lập nên cơ chế chính trị đa nguyên, đa đảng đối lập. Thừa nhận đa đảng đối lập có nghĩa là tạo điều kiện cho sự ngóc đầu dậy ngay tức khắc và một cách hợp pháp các lực lượng phản động, phục thù trong nước và từ nước ngoài trở về hoạt động chống Tổ quốc, chống nhân dân, chống chế độ. Đó là điều mà nhân dân ta dứt khoát không chấp nhận.”
Ám chỉ đến tình trạng “tự diễn biến, tự chuyễn hóa” trong nội bộ đang đe dọa sự sống còn của đảng, ông Quang đã mượn hòan cảnh dao động của đảng viên thời Nguyễn Văn Linh cầm quyền (1986-1991), đúng là lúc Nhà nước Cộng sản sụp đổ ở Nga và các nước Cộng sản Đông Âu để quyết tâm giữ vững lập trường.
Ông viết: “Lập trường, quan điểm rõ ràng, dứt khoát, không khoan nhượng của Trung ương Đảng ta, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh vừa quyết tâm đổi mới đến thắng lợi, vừa kiên định tuyệt đối nguyên tắc cách mạng trong cuộc đấu tranh với những biểu hiện dao động, cơ hội, hữu khuynh của một số người trong và ngoài Đảng đã kịp thời chỉnh đốn về tư tưởng và hành động của cán bộ, đảng viên, đẩy lùi âm mưu, hoạt động chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chống chủ nghĩa xã hội, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tạo tiền đề để sự nghiệp đổi mới đất nước tiếp tục phát triển.”
Nhưng sau 17 năm ngày ông Linh qua đời (1998), tình hình thế giới đã thay đổi, thế giới Cộng sản đã tan biến và những con người Cộng sản ở Việt Nam và Trung Quốc cũng đã nhìn ra ánh sáng của dân chủ và tự do cần thiết cho đời sống con người như thế nào.
Nhưng ông tướng Công an đã tát nước theo mưa với ông Trọng để mượn lời Nguyễn Văn Linh mà cao rao: “Kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn” ….Cũng không có lý do gì để chúng ta phải “lùi lại” giai đoạn dân chủ nhân dân, mà lịch sử đã vượt qua. Nếu có những việc của giai đoạn trước chưa làm xong hoặc chưa làm tốt thì chúng ta tiếp tục giải quyết nốt trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Chính vì vậy, nhân dân ta quyết không chấp nhận con đường nào khác ngoài con đường xã hội chủ nghĩa.”
Nhưng tại sao người cầm đầu Bộ Công an, lực lượng bảo vệ đảng thứ hai sau Quân đội phải lên giọng quyết liệt bảo vệ chủ nghĩa Cộng sản và bảo vệ đảng đến tận răng như thế vào lúc này?
Phải chăng Công an cũng đang “tự diễn biến” và “tự chuyền hoá” như Quân đội và một số không nhỏ cán bộ, đảng viên?
Hay Trần Đại Quang cũng muốn chuyển một tín hiệu qua biên giới cho Công an Trung Quốc để họ yên tâm trước chuyến Mỹ du lịch sử của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ? -/- Phạm Trần
(07/015)
Biển Đông: Cần giữ nguyên trạng hay phải thay đổi?
Nguyễn Hưng Quốc
Liên quan đến các âm mưu xâm lấn của Trung Quốc trên Biển Đông, một số giới chức Việt Nam, trong đó, gần đây nhất là Phó thủ tướng Vũ Đức Đam, và Thượng tướng Huỳnh Ngọc Sơn, Phó chủ tịch Quốc Hội, thành thực nhìn nhận là họ không thể chiếm lại được những gì đã mất vào tay Trung Quốc. Một số người còn nói thêm: Nếu đời nay chúng ta không lấy lại được thì con cháu của chúng ta sẽ làm việc đó.
Trên các diễn đàn xã hội, rất nhiều người phê phán một cách gay gắt luận điệu ấy. Họ cho nói vậy là hèn, là nhục, thậm chí, là bán nước. Họ nêu đích danh những người phát ngôn để chửi. Tôi thông cảm với những sự phẫn nộ ấy. Nhưng tôi cho những lời kết án cũng như chửi rủa ấy là đổ oan. Lý do là không phải chỉ có những người ấy mới có cách suy nghĩ như vậy. Thật ra, đó là cách suy nghĩ chung, hơn nữa, là chính sách chung của cả giới cầm quyền Việt Nam hiện nay.
Dĩ nhiên, giới cầm quyền hiếm khi nói thẳng ra như vậy. Nói như vậy chẳng khác gì một lời tuyên bố đầu hàng. Nhưng chỉ cần chú ý một chút, chúng ta sẽ nhận ra ngay điều đó. Chính sách của Việt Nam đối với Biển Đông là gì? Rất khó biết được bởi chưa có ai trình bày một cách công khai, hệ thống và cụ thể cả. Nhưng trong những lời phát biểu đây đó, chúng ta bắt gặp một sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ các lập trường của Việt Nam đối với các vấn đề trên Biển Đông: “giữ nguyên trạng” và “không làm phức tạp hoá” vấn đề để có thể dẫn đến xung đột vũ trang.
Trong mấy cách diễn tả trên, quan trọng nhất là nhóm từ “giữ nguyên trạng” (status quo). Trong bài “The South China Sea: Defining the ‘Status Quo’”, Andrew Chubb cho đó là từ được nhiều quốc gia lặp đi lặp lại nhưng đó cũng là một từ rất mơ hồ với những cách nhìn và cách nghĩ có khi khác hẳn nhau. Giới chức cao cấp của Mỹ cũng như các quốc gia quan tâm đến tình hình Biển Đông, trong đó, có cả Úc, thường kêu gọi các quốc gia liên hệ ở Biển Đông đừng “làm thay đổi nguyên trạng qua các hình thức bạo lực hoặc cưỡng ép”. Giới lãnh đạo Nhật và Philippines cũng vậy: Họ cũng phản đối các nỗ lực đơn phương làm thay đổi “nguyên trạng” trên các hòn đảo trên Biển Đông và biển Hoa Đông. Điều đáng ngạc nhiên là chính Việt Nam cũng tham gia vào giàn đồng ca ấy bằng những lời kêu gọi các nước tự kiềm chế, đừng làm phức tạp hoá vấn đề bằng cách thay đổi “nguyên trạng” trên các bãi đá và các rạn san hô ở Biển Đông.
Tại sao các nước khác kêu gọi “giữ nguyên trạng” thì được mà Việt Nam thì không?
Trả lời câu hỏi này không khó. Với Nhật, “giữ nguyên trạng” là hòn đảo Senkaku/Điếu Ngư vẫn thuộc về họ; với Philippines, là bãi cạn Scarborough và một số hòn đảo và bãi đá ở Trường Sa vẫn thuộc về họ; với Malaysia, là bảy bãi đá và rạn san hô ở Trường Sa vẫn thuộc về họ; với Đài Loan, đảo Ba Bình và bãi Bàn Than vẫn thuộc về họ. Ngay với Trung Quốc, quốc gia duy nhất đòi thay đổi cái gọi là “nguyên trạng” ấy bằng cách không ngừng tìm cách cải tạo các bãi đá và rạn san hô thành đảo nhân tạo cũng như âm thầm mưu toan lấn chiếm thêm các hòn đảo khác, cũng muốn “giữ nguyên trạng” ở một địa điểm: quần đảo Hoàng Sa.
Còn Việt Nam? Yêu sách “giữ nguyên trạng” của Việt Nam thực chất là thừa nhận hai điều: thứ nhất, Hoàng Sa là của Trung Quốc; và thứ hai, các hòn đảo và bãi đá ở Trường Sa mà Trung Quốc chiếm cứ từ Việt Nam vào năm 1988 cũng thuộc về Trung Quốc.
Nói cách khác, lập trường của chính phủ Việt Nam trong vấn đề Biển Đông là: Một, từ bỏ ý định đòi lại Hoàng Sa cũng như các hòn đảo, bãi đá và rạn san hô ở Trường Sa mà Trung Quốc đã chiếm của Việt Nam. Hai, họ chỉ muốn ngăn chận xu hướng bành trướng thêm của Trung Quốc qua các việc: (1) cải tạo các bãi đá và rạn san hô thành đảo nhân tạo; (2) trên cơ sở các hòn đảo nhân tạo ấy, đòi mở mở rộng chủ quyền trên lãnh hải mà cụ thể nhất là hợp thức hoá con đường lưỡi bò (hay con đường chín đoạn); và cuối cùng (3), hợp thức hoá vùng nhận dạng hàng không tương ứng với con đường lưỡi bò ấy.
Lập trường ấy, thật ra, không phải hoàn toàn sai. Trong hoàn cảnh và với tương quan lực lượng hiện nay, cần thực tế để nhận ra một điều: Việc chiếm lại Hoàng Sa và các hòn đảo, bãi đá và rạn san hô ở Trường Sa mà Trung Quốc đã chiếm của Việt Nam là một điều bất khả. Việt Nam không thể làm được điều đó. Mà cũng không có quốc gia nào, kể cả Mỹ, có thể giúp Việt Nam làm được điều đó. Trong bài “Serenity in the South China Sea”, Gareth Evans, cựu Ngoại trưởng của Úc, nhấn mạnh: Mỹ cần phải chấp nhận một thực tế là, với những sức mạnh về kinh tế và quân sự hiện nay, Trung Quốc đã nổi lên như một cường quốc trong khu vực và cái thời mà Mỹ làm bá chủ duy nhất ở vùng châu Á – Thái Bình Dương đã qua rồi. Ông cũng nhấn mạnh thêm: Mỹ không có cách gì có thể ngăn chận được việc Trung Quốc cải tạo các hòn đảo nhân tạo ở Trường Sa và sau đó, quân sự hoá các hòn đảo ấy. Điều Mỹ có thể làm là ngăn chận việc nhân danh các hòn đảo nhân tạo ấy, Trung Quốc tuyên bố mở rộng chủ quyền trên lãnh hải chung quanh chúng, từ đó, hợp thức hoá con đường lưỡi bò chiếm đến 80% toàn bộ diện tích của Biển Đông.
Điều Mỹ không thể làm được, Việt Nam lại càng không có sức để làm. Tuy nhiên, việc từ bỏ ý định đòi lại Hoàng Sa và các hòn đảo, bãi đá và rạn san hô trong quần đảo Trường Sa mà Trung Quốc đã chiếm của Việt Nam vẫn là một tính toán sai lầm. Sai về phương diện pháp lý: Nó mặc nhiên thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc trên các thực thể ấy. Nhưng quan trọng nhất là sai về phương diện chính trị: Nó giảm sức ép đối với Trung Quốc để Trung Quốc rảnh tay nhắm đến việc thực hiện các ý đồ mới của họ trên Biển Đông.
Bởi vậy, theo tôi, dù trên thực tế, chúng ta không thể lấy lại Hoàng Sa và một số hòn đảo tại Trường Sa, chúng ta vẫn cứ phải lớn tiếng đòi hỏi điều đó để cả thế giới biết rõ dã tâm xâm lược và bành trướng của Trung Quốc trên Biển Đông để từ đó, chúng ta mới có thể tập hợp được thế liên minh và sự hợp tác của các quốc gia khác trên thế giới trong trận chiến đối đầu với những âm mưu xâm lấn mới của Trung Quốc.
Việt Nam có thật sự xoay trục sang Mỹ không? Võ Long Triều
Ðáp lời mời của Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama, ông Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng trên đường sang Mỹ. Phi cơ Việt Nam Airline chở ông và phái đoàn Việt Nam đáp tại phi trường quân sự Andrew lúc 8 giờ sáng ngày 6 tháng 7 năm 2015. Quan chức Hoa Kỳ ra đón tiếp ông Trọng là các ông Scot Marciel, quyền trợ lý ngoại trưởng, Cục Trưởng Cục Lễ Tân Peter Selfridge, và đại sứ Mỹ tại Việt Nam Ted Osius.
Tại sao ngày nay Nguyễn Phú Trọng muốn được mời sang thăm Mỹ? Bởi vì đứng trước bối cảnh chính trị trong vùng Á Châu, với động thái hung hăng ngày càng ngang ngược của Trung Quốc, Việt Nam tìm đường liên minh với một cường quốc nào, hay phe nhóm quốc gia nào, có đủ khả năng và thế lực, có thể làm giảm tham vọng của Bắc Kinh, cường quốc đó là Mỹ. Cho nên chuyến đi của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng sang Mỹ nhằm mục đích tìm sự hợp tác quân sự song phương với Hoa Kỳ. Ngược lại Mỹ cũng cần kết thân với một Việt Nam đang tranh chấp quyết liệt chủ quyền với Trung Quốc tại Biển Ðông, khi Hoa Kỳ xoay trục về Châu Á-Thái Bình Dương.
Những lời đường mật của Trung Quốc luôn nhắc nhở 16 chữ vàng và 4 cái tốt trở thành vô nghĩa đối với các đảng viên thân Bắc Kinh. Họ đã thức tỉnh, nhóm lãnh đạo bảo thủ nhận thấy đàn anh cùng chí hướng và tư tưởng đang chủ trương thôn tín Việt Nam. Mặt khác hướng về Tây phương cũng là yêu cầu của một nhóm trí thức đảng viên cao cấp chủ trương từ lâu, và nay dư luận quần chúng đã công khai phát biểu qua cuộc khảo sát của trung tâm nghiên cứu Pew cho thấy có 69% người Việt Nam được hỏi trả lời rằng, quan hệ thương mại với Mỹ quan trọng hơn là với Trung Quốc. Và 89% người Việt Nam nói được gia nhập Hiệp Ước Ðối Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) là điều rất tốt cho đất nước. Trong bối cảnh đó báo Washington Post tiết lộ, chính quyền Obama cho biết Hà Nội bày tỏ nguyện vọng tăng cường quan hệ kinh tế và quân sự với Hoa Kỳ và Tổng Thống Obama đã đáp ứng mong đợi đó. Phải chăng do ông Phạm Quang Nghị, ủy viên Bộ Chính Trị, bí thư Thành Ủy Hà Nội, người được Nguyễn Phú Trọng tin cẩn, đã đến Mỹ ngày 21 tháng 7, 2014 để vận động cho ông Nguyễn Phú Trọng được mời và được tiếp đón một cách đặc biệt khi ông thăm viếng Hoa Kỳ. Sau đó ngày 20 tháng 3, 2015, Bộ Trưởng Công An Trần Ðại Quang lại sang Hoa Kỳ nên giới quan sát quốc tế cho đó là “một bước đột phá trong quan hệ Mỹ-Việt.”
Tiến Sĩ Jonathan London, chuyên gia về quan hệ Mỹ-Việt từ Hồng Kông nhận định với VOA rằng: “Chúng ta đang chứng kiến hai nước cựu thù Hoa Kỳ và Việt Nam đã cùng nhau đi đến một nơi có quyền lợi của cả hai bên.” Lord Palmerston nổi tiếng vì đã từng nói: “Chúng ta không có đồng minh vĩnh viễn, chúng ta cũng không có kẻ thù vĩnh viễn, chúng ta chỉ có các lợi ích vĩnh viễn.” Ngày nay Việt Nam và Hoa Kỳ đang theo đuổi lợi ích của mình. Xưa nay vì lợi ích các đồng minh hay kẻ thù cũng đã thay đổi lập trường. Phải chăng quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ-Trung Quốc đang đổi thay. Người ta còn nhớ năm 1972 trước khi Tổng Thống Hoa Kỳ Richard Nixon được long trọng tiếp rước tại Bắc Kinh, Chủ Tịch Trung Quốc Mao Trạch Ðông đã tuyên bố: “Kẻ thù ngày trước cũng có thể trở thành người bạn ngày hôm sau.” Liền các bảng khẩu hiệu chống “Ðế quốc Mỹ là kẻ thù số một của đất nước ta,” treo dán đầy đường lần lượt biến mất.
Giáo Sư Alexander L. Vuving thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu An Ninh Châu Á-Thái Bình Dương tại Honolulu còn so sánh chuyến đi Trung Quốc của Tổng Thống Nixon năm 1972 đã “mở một cuộc diện mới” trong tam giác quan hệ Liên Xô-Trung Quốc-Mỹ. Ngày nay ông nghĩ chuyến đi Mỹ của Nguyễn Phú Trọng cũng sẽ mở ra một cuộc diện mới trong tam giác quan hệ Việt-Trung-Mỹ. Trong khi đó Giáo Sư Carl Thayer viết bài “Việt Nam xoay trục sang Mỹ” đăng trên trang web the Diplomat, nhận định rằng: Việt Nam có thể coi Hoa Kỳ là một đối tác đáng tin cậy, theo ông Thayer thì sự đánh giá này sẽ được đưa vào các văn kiện chính sách chiến lược quan trọng được soạn thảo và sẽ được đại hội đảng toàn quốc lần thứ XII thông qua.
Tuy nhiên vẫn có người cho rằng Hoa Kỳ sẽ tìm cách lật đổ chế độ thông qua việc khai thác vấn đề nhân quyền tự do tôn giáo như một đòn bẩy thúc đẩy việc biến đổi Việt Nam thành một nền dân chủ đa đảng. Ðiều đó Thứ Trưởng Quốc Phòng Nguyễn Chí Vịnh khẳng định trong cuộc phỏng vấn tuần rồi với VNEpress: “Hai nước Việt-Mỹ đã đạt được sự thống nhất không còn muốn là kẽ thù của nhau, không xâm phạm, xâm hại những lợi ích chiến lược của nhau và đặt biệt là cam kết không bao giờ đem chiến tranh đến cho nhau.”
Nghi lễ Tổng Thống Obama và Phó Tổng Thống Joe Bidentiếp đón Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trong ngày 7 tháng 7, 2015 tại phòng Bầu Dục Nhà Trắng, mang ý nghĩa biểu tượng và trọng thị, mặc dù ông Trọng không phải là nguyên thủ quốc gia. Như vậy cũng là một cách Mỹ công khai chấp nhận đảng Cộng Sản Hà Nội là nhà cầm quyền chính thức của Việt Nam.
Hai bên đã có các cuộc thảo luận thẳng thắn về các vấn đề nhân quyền và tự do tôn giáo. Tổng Thống Obama nói, dù Hoa Kỳ và Việt Nam còn khác biệt về học thuyết chính trị nhưng hai nước đang làm sâu sắc mối quan hệ hợp tác trong các lãnh vực y tế, khí hậu và các vấn đề khác. Riêng Nguyễn Phú Trọng công khai tiết lộ hai bên trao đổi về những vấn đề vướng mắc như đàm phán và ký kết TPP, nhân quyền, tình hình diễn biến mới trên Biển Ðông và hai bên đồng ý thúc đẩy mối quan hệ toàn diện trong nhiều lãnh vực đặc biệt an ninh và quốc phòng.
Trong cuộc tiếp xúc với báo chí hai vị, Tổng Thống Obama và Nguyễn Phú Trọng, xác nhận sự hợp tác toàn diện, đặc biệt ông Nguyễn Phú Trộng nói rõ ràng với Tổng Thống Obama một cách rất tự nhiên thành thật: “Quá khứ chúng ta không quên, nhưng tương lai do chính chúng ta xây dựng.” Một cách xác định ý muốn Việt-Mỹ sẽ bắt tay xây dựng tương lai. Vậy ông Trọng cố tình quên 16 chữ vàng của Trung Quốc, “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai,” hay là như người Tây phương có câu nói mỉa mai “thành thật tiếp nối” (sincérité successive). Rồi đây ông sẽ trả lời với Trung Quốc như thế nào hay là Việt Nam đã dứt khoát xoay trục về Mỹ Quốc?
Hai vấn đề chủ yếu đối với Việt Nam là được gia nhập TPP, và hợp tác quốc phòng song phương nhằm chống lại sự đàn áp của Bắc Kinh. Nhưng khúc xương khó nuốt là nhân quyền. Cho dù Nguyễn Phú Trọng có hứa hẹn để cho cuộc thảo luận với Tổng Thống Obama được tốt đẹp. Thì vấn đề nhân quyền này vẫn phải được Bộ Chính Trị và Trung Ương đảng mổ xẻ, kiểm điểm lại và sẽ kềm hãm, hoặc cấm đoán. Bởi vì một khi có quyền tự do ngôn luận, có quyền biểu tình phản đối ôn hòa, có quyền tự do hội họp, có quyền đình công, v.v... thì đảng sẽ mất một phần lớn quyền toàn trị.
Ðã có lần ông Chủ Tịch Nguyễn Minh triết, từng hứa hẹn với Tổng Thống George W. Bush tháng 6 năm 2007, rằng Việt Nam sẽ cải thiện nhân quyền, nhưng khi ông về Việt Nam thì nhà nước do ông lãnh đạo đàn áp nhân quyền mạnh bạo hơn. Trước khi ông Triết đi Mỹ, Việt Nam đã thả nhà bất đồng chính kiến Nguyễn Vũ Bình do yêu cầu từ phía Mỹ để chứng minh Việt Nam trên con đường tôn trọng nhân quyền. Nhưng sau đó họ bắt lại nhiều người hơn. Lần này trước khi Nguyễn Phú Trọng sang Mỹ, Hà Nội cũng đã thả Ðiếu Cầy Nguyễn Văn Hải do chính Tổng Thống Obama đích thân kêu gọi phải thả từ lâu.
Cho nên ngườii ta có thể hình dung trong cuộc đàm phán về việc gia nhập TPP, Việt Nam có thể cam kết một số điều thuận cho phái đoàn Mỹ và Quốc Hội Hoa Kỳ chấp thuận. Nhưng sau đó Hà Nội có giữ lời cam kết hay không? Ðó lại là vấn đề khác, một vài quan chức Mỹ nghĩ rằng chúng ta phải chờ xem. Từ trước đến nay sự tráo trở, mưu mẹo, chối bỏ lời cam kết là thói quen trắng trợn của Cộng Sản.
Tóm lại, Việt Nam đứng trước hiện tình chính trị phải đương đầu với sự đe dọa của Trung Quốc, nhiều tiền, mạnh thế lực quân sự, lắm mưu mẹo nên Hà Nội không có con đường nào khác là phải đổi mới tư duy, phải tìm đường hợp tác với Mỹ, Trong trường hợp đó Việt Nam sẽ phải cải thiện nhân quyền, chế độ sẽ cởi mở hơn, và thêm một lần nữa phải “đổi mới để sống còn.” Hay là chuyến đi này của Nguyễn Phú Trọng chỉ có mục đích tạo uy thế cho cá nhân và phe nhóm của ông trong kỳ đại hội đảng lần thứ 12 mà thôi. Nếu quả thật như vậy thì sẽ vô cùng bất hạnh cho dân tộc và đất nước Việt Nam.
Võ Long Triều
Ðáp lời mời của Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama, ông Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng trên đường sang Mỹ. Phi cơ Việt Nam Airline chở ông và phái đoàn Việt Nam đáp tại phi trường quân sự Andrew lúc 8 giờ sáng ngày 6 tháng 7 năm 2015. Quan chức Hoa Kỳ ra đón tiếp ông Trọng là các ông Scot Marciel, quyền trợ lý ngoại trưởng, Cục Trưởng Cục Lễ Tân Peter Selfridge, và đại sứ Mỹ tại Việt Nam Ted Osius.
Tại sao ngày nay Nguyễn Phú Trọng muốn được mời sang thăm Mỹ? Bởi vì đứng trước bối cảnh chính trị trong vùng Á Châu, với động thái hung hăng ngày càng ngang ngược của Trung Quốc, Việt Nam tìm đường liên minh với một cường quốc nào, hay phe nhóm quốc gia nào, có đủ khả năng và thế lực, có thể làm giảm tham vọng của Bắc Kinh, cường quốc đó là Mỹ. Cho nên chuyến đi của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng sang Mỹ nhằm mục đích tìm sự hợp tác quân sự song phương với Hoa Kỳ. Ngược lại Mỹ cũng cần kết thân với một Việt Nam đang tranh chấp quyết liệt chủ quyền với Trung Quốc tại Biển Ðông, khi Hoa Kỳ xoay trục về Châu Á-Thái Bình Dương.
Những lời đường mật của Trung Quốc luôn nhắc nhở 16 chữ vàng và 4 cái tốt trở thành vô nghĩa đối với các đảng viên thân Bắc Kinh. Họ đã thức tỉnh, nhóm lãnh đạo bảo thủ nhận thấy đàn anh cùng chí hướng và tư tưởng đang chủ trương thôn tín Việt Nam. Mặt khác hướng về Tây phương cũng là yêu cầu của một nhóm trí thức đảng viên cao cấp chủ trương từ lâu, và nay dư luận quần chúng đã công khai phát biểu qua cuộc khảo sát của trung tâm nghiên cứu Pew cho thấy có 69% người Việt Nam được hỏi trả lời rằng, quan hệ thương mại với Mỹ quan trọng hơn là với Trung Quốc. Và 89% người Việt Nam nói được gia nhập Hiệp Ước Ðối Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) là điều rất tốt cho đất nước. Trong bối cảnh đó báo Washington Post tiết lộ, chính quyền Obama cho biết Hà Nội bày tỏ nguyện vọng tăng cường quan hệ kinh tế và quân sự với Hoa Kỳ và Tổng Thống Obama đã đáp ứng mong đợi đó. Phải chăng do ông Phạm Quang Nghị, ủy viên Bộ Chính Trị, bí thư Thành Ủy Hà Nội, người được Nguyễn Phú Trọng tin cẩn, đã đến Mỹ ngày 21 tháng 7, 2014 để vận động cho ông Nguyễn Phú Trọng được mời và được tiếp đón một cách đặc biệt khi ông thăm viếng Hoa Kỳ. Sau đó ngày 20 tháng 3, 2015, Bộ Trưởng Công An Trần Ðại Quang lại sang Hoa Kỳ nên giới quan sát quốc tế cho đó là “một bước đột phá trong quan hệ Mỹ-Việt.”
Tiến Sĩ Jonathan London, chuyên gia về quan hệ Mỹ-Việt từ Hồng Kông nhận định với VOA rằng: “Chúng ta đang chứng kiến hai nước cựu thù Hoa Kỳ và Việt Nam đã cùng nhau đi đến một nơi có quyền lợi của cả hai bên.” Lord Palmerston nổi tiếng vì đã từng nói: “Chúng ta không có đồng minh vĩnh viễn, chúng ta cũng không có kẻ thù vĩnh viễn, chúng ta chỉ có các lợi ích vĩnh viễn.” Ngày nay Việt Nam và Hoa Kỳ đang theo đuổi lợi ích của mình. Xưa nay vì lợi ích các đồng minh hay kẻ thù cũng đã thay đổi lập trường. Phải chăng quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ-Trung Quốc đang đổi thay. Người ta còn nhớ năm 1972 trước khi Tổng Thống Hoa Kỳ Richard Nixon được long trọng tiếp rước tại Bắc Kinh, Chủ Tịch Trung Quốc Mao Trạch Ðông đã tuyên bố: “Kẻ thù ngày trước cũng có thể trở thành người bạn ngày hôm sau.” Liền các bảng khẩu hiệu chống “Ðế quốc Mỹ là kẻ thù số một của đất nước ta,” treo dán đầy đường lần lượt biến mất.
Giáo Sư Alexander L. Vuving thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu An Ninh Châu Á-Thái Bình Dương tại Honolulu còn so sánh chuyến đi Trung Quốc của Tổng Thống Nixon năm 1972 đã “mở một cuộc diện mới” trong tam giác quan hệ Liên Xô-Trung Quốc-Mỹ. Ngày nay ông nghĩ chuyến đi Mỹ của Nguyễn Phú Trọng cũng sẽ mở ra một cuộc diện mới trong tam giác quan hệ Việt-Trung-Mỹ. Trong khi đó Giáo Sư Carl Thayer viết bài “Việt Nam xoay trục sang Mỹ” đăng trên trang web the Diplomat, nhận định rằng: Việt Nam có thể coi Hoa Kỳ là một đối tác đáng tin cậy, theo ông Thayer thì sự đánh giá này sẽ được đưa vào các văn kiện chính sách chiến lược quan trọng được soạn thảo và sẽ được đại hội đảng toàn quốc lần thứ XII thông qua.
Tuy nhiên vẫn có người cho rằng Hoa Kỳ sẽ tìm cách lật đổ chế độ thông qua việc khai thác vấn đề nhân quyền tự do tôn giáo như một đòn bẩy thúc đẩy việc biến đổi Việt Nam thành một nền dân chủ đa đảng. Ðiều đó Thứ Trưởng Quốc Phòng Nguyễn Chí Vịnh khẳng định trong cuộc phỏng vấn tuần rồi với VNEpress: “Hai nước Việt-Mỹ đã đạt được sự thống nhất không còn muốn là kẽ thù của nhau, không xâm phạm, xâm hại những lợi ích chiến lược của nhau và đặt biệt là cam kết không bao giờ đem chiến tranh đến cho nhau.”
Nghi lễ Tổng Thống Obama và Phó Tổng Thống Joe Bidentiếp đón Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trong ngày 7 tháng 7, 2015 tại phòng Bầu Dục Nhà Trắng, mang ý nghĩa biểu tượng và trọng thị, mặc dù ông Trọng không phải là nguyên thủ quốc gia. Như vậy cũng là một cách Mỹ công khai chấp nhận đảng Cộng Sản Hà Nội là nhà cầm quyền chính thức của Việt Nam.
Hai bên đã có các cuộc thảo luận thẳng thắn về các vấn đề nhân quyền và tự do tôn giáo. Tổng Thống Obama nói, dù Hoa Kỳ và Việt Nam còn khác biệt về học thuyết chính trị nhưng hai nước đang làm sâu sắc mối quan hệ hợp tác trong các lãnh vực y tế, khí hậu và các vấn đề khác. Riêng Nguyễn Phú Trọng công khai tiết lộ hai bên trao đổi về những vấn đề vướng mắc như đàm phán và ký kết TPP, nhân quyền, tình hình diễn biến mới trên Biển Ðông và hai bên đồng ý thúc đẩy mối quan hệ toàn diện trong nhiều lãnh vực đặc biệt an ninh và quốc phòng.
Trong cuộc tiếp xúc với báo chí hai vị, Tổng Thống Obama và Nguyễn Phú Trọng, xác nhận sự hợp tác toàn diện, đặc biệt ông Nguyễn Phú Trộng nói rõ ràng với Tổng Thống Obama một cách rất tự nhiên thành thật: “Quá khứ chúng ta không quên, nhưng tương lai do chính chúng ta xây dựng.” Một cách xác định ý muốn Việt-Mỹ sẽ bắt tay xây dựng tương lai. Vậy ông Trọng cố tình quên 16 chữ vàng của Trung Quốc, “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai,” hay là như người Tây phương có câu nói mỉa mai “thành thật tiếp nối” (sincérité successive). Rồi đây ông sẽ trả lời với Trung Quốc như thế nào hay là Việt Nam đã dứt khoát xoay trục về Mỹ Quốc?
Hai vấn đề chủ yếu đối với Việt Nam là được gia nhập TPP, và hợp tác quốc phòng song phương nhằm chống lại sự đàn áp của Bắc Kinh. Nhưng khúc xương khó nuốt là nhân quyền. Cho dù Nguyễn Phú Trọng có hứa hẹn để cho cuộc thảo luận với Tổng Thống Obama được tốt đẹp. Thì vấn đề nhân quyền này vẫn phải được Bộ Chính Trị và Trung Ương đảng mổ xẻ, kiểm điểm lại và sẽ kềm hãm, hoặc cấm đoán. Bởi vì một khi có quyền tự do ngôn luận, có quyền biểu tình phản đối ôn hòa, có quyền tự do hội họp, có quyền đình công, v.v... thì đảng sẽ mất một phần lớn quyền toàn trị.
Ðã có lần ông Chủ Tịch Nguyễn Minh triết, từng hứa hẹn với Tổng Thống George W. Bush tháng 6 năm 2007, rằng Việt Nam sẽ cải thiện nhân quyền, nhưng khi ông về Việt Nam thì nhà nước do ông lãnh đạo đàn áp nhân quyền mạnh bạo hơn. Trước khi ông Triết đi Mỹ, Việt Nam đã thả nhà bất đồng chính kiến Nguyễn Vũ Bình do yêu cầu từ phía Mỹ để chứng minh Việt Nam trên con đường tôn trọng nhân quyền. Nhưng sau đó họ bắt lại nhiều người hơn. Lần này trước khi Nguyễn Phú Trọng sang Mỹ, Hà Nội cũng đã thả Ðiếu Cầy Nguyễn Văn Hải do chính Tổng Thống Obama đích thân kêu gọi phải thả từ lâu.
Cho nên ngườii ta có thể hình dung trong cuộc đàm phán về việc gia nhập TPP, Việt Nam có thể cam kết một số điều thuận cho phái đoàn Mỹ và Quốc Hội Hoa Kỳ chấp thuận. Nhưng sau đó Hà Nội có giữ lời cam kết hay không? Ðó lại là vấn đề khác, một vài quan chức Mỹ nghĩ rằng chúng ta phải chờ xem. Từ trước đến nay sự tráo trở, mưu mẹo, chối bỏ lời cam kết là thói quen trắng trợn của Cộng Sản.
Tóm lại, Việt Nam đứng trước hiện tình chính trị phải đương đầu với sự đe dọa của Trung Quốc, nhiều tiền, mạnh thế lực quân sự, lắm mưu mẹo nên Hà Nội không có con đường nào khác là phải đổi mới tư duy, phải tìm đường hợp tác với Mỹ, Trong trường hợp đó Việt Nam sẽ phải cải thiện nhân quyền, chế độ sẽ cởi mở hơn, và thêm một lần nữa phải “đổi mới để sống còn.” Hay là chuyến đi này của Nguyễn Phú Trọng chỉ có mục đích tạo uy thế cho cá nhân và phe nhóm của ông trong kỳ đại hội đảng lần thứ 12 mà thôi. Nếu quả thật như vậy thì sẽ vô cùng bất hạnh cho dân tộc và đất nước Việt Nam.
Ngô Nhân Dụng
Người Việt Nam sống ở Mỹ biết thế nào cũng được ông Nguyễn Phú Trọng nhắc tới. Quả nhiên, tại Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế (CSIS), ông Trọng đã đọc một bài diễn văn viết sẵn, với câu này, “Tôi mong chính quyền Hoa Kỳ quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc sống, công việc và học tập của người Việt Nam tại Hoa Kỳ, tạo điều kiện để họ hội nhập tốt và đóng góp tích cực...”
Trước đây, ông Trương Tấn Sang qua Mỹ đã từng thỉnh cầu chính phủ Hoa Kỳ săn sóc đời sống của người Việt ở Mỹ khiến cho mấy triệu người bật cười rồi, năm nay ông Trọng lập lại. Nghe xong, người Việt phải bật cười lần nữa! Khi phát biểu những yêu cầu này, hai ông chỉ chứng tỏ họ không biết gì đời sống ở một nước dân chủ tự do, trong một xã hội mở, nhất là trong một nước do hàng trăm sắc dân họp lại mà thành, như nước Mỹ!
Điều mà người Việt Nam sống ở Mỹ muốn gửi tới hai ông, cùng tất cả Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam, là yêu cầu quý ông bà không cần lo cho chúng tôi. Xin quý vị hãy “quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc sống, công việc và học tập của người Việt Nam ở trong nước Việt Nam!”
Nhiều người Việt đang bị bắt vào đồn công an một ngày bỗng bị treo cổ chết, công an bảo rằng họ tự tử nhưng không ai tin. Bao nhiêu nông dân Việt Nam bị Đảng Cộng Sản cướp đất để bán cho tư bản đỏ. Bao nhiêu trẻ em Việt Nam không được đi học; nhiều em đi học không đủ ăn đói quá không học được nữa; nhiều em đi học khi qua sông bố với con phải chui vào bao ni lông hay phải đu dây. Bao nhiêu người Việt Nam cần được “tạo điều kiện” vừa đủ cho họ được sống thôi, nhưng cuộc sống bình thường của họ đang bị đảng tước đoạt.
Còn người Việt Nam ở nước Mỹ, thực sự họ không cần “chính quyền Hoa Kỳ quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc sống, công việc và học tập...” nào cả. Nhiều người Việt đã trở thành tỷ phú mỹ kim hoàn toàn do sức làm việc, sáng kiến và cơ hội tạo ra, không ai thấy “chính quyền Hoa Kỳ” phải làm gì giúp họ cả. Bao nhiêu học sinh Việt Nam ra trường đứng đầu bảng; bao nhiêu sinh viên được học bổng của các định chế giáo dục tư, đã trở thành các giáo sư, các nhà nghiên cứu; chỉ cần các em nghe lời cha mẹ dậy cố gắng học hành, không em nào cần nhờ đến chính quyền nào giúp cả.
Hơn nữa, những người Việt Nam sống ở Mỹ chắc chắn không ai đòi hỏi và cũng không ai muốn được đối đãi đặc biệt. Tất cả các công dân và những người thường trú hợp pháp ở Mỹ đều được đối xử bình đẳng như nhau. Cơ hội mở ra cho tất cả mọi người như nhau, không ai cần được ưu đãi. Người gốc Trung Hoa, gốc Mexico hay gốc Nga cũng vậy. Không ai cần “chính quyền Hoa Kỳ” làm gì đặc biệt cho họ hết! Họ chỉ cần tuân thủ pháp luật, cố gắng đi học hay làm việc, cuộc đời họ do chính họ quyết định chứ không phải do những “nghị quyết”của đảng chính trị nào hoặc “chính sách ưu đãi” của bất cứ chính quyền nào cả.
Những điều trên, ông Nguyễn Phú Trọng không hề biết. Cho nên ông mở miệng nói ra những lời mà người Việt hay người nào nghe cũng phải thấy là “ngớ ngẩn.” Không phải riêng ông Trọng mới lẫn cẫn như vậy. Các người lãnh đạo Đảng Cộng Sản đều hoàn toàn lú về nếp sống trong các nước tự do dân chủ. Và họ không chịu học. Năm trước, ông Nguyễn Minh Triết sang New York, bị hỏi về chế độ một đảng độc quyền lãnh đạo tại Việt Nam, ông hỏi lại rằng, “Thế tại sao nước Mỹ lại chỉ có hai đảng? Một đảng hay hai đảng khác gì nhau?” Cả đời Nguyễn Minh Triết không được ai dạy cho biết rằng nước Mỹ có hàng chục đến hàng trăm đảng chính trị; người ta nói nhiều đến hai đảng bởi vì có hai đảng mạnh nhất, chứ không hề có luật lệ cấm bất cứ công dân nào lập thêm đảng mới cả!
Các lãnh tụ Cộng Sản đều “học tập tư tưởng Hồ Chí Minh” cho nên cái gì họ biết về nước Mỹ đều do Hồ Chí Minh dạy. Trên báo Nhân Dân ngày 5 tháng 11 năm 1951, Hồ Chí Minh viết: “Văn hóa Mỹ ngày nay là văn hóa của bọn đại tư bản, bọn gây chiến tranh, bọn giết người... Xã hội Mỹ hôi thối như thế, văn hóa Mỹ suy đồi như thế, mà đế quốc Mỹ cứ khoe là ‘văn minh’ và đi truyền bá ‘văn minh’ cho các nước khác!” Năm 1953, trên báo Cứu Quốc (ngày 6 tháng 11), Hồ Chí Minh viết bài: “‘Văn minh Mỹ’ - người không bằng chó.” Trong đó có câu: “Theo báo Mỹ thì chó Mỹ ăn 30 phần 100 nhiều hơn nhân dân hai bang Anhđiana và Mitsuri cộng lại! Có 730 món đồ hộp cho chó xơi...” Kết thúc bài chửi Mỹ, Hồ Chí Minh còn đặt hai câu vè: “‘Văn minh’ trọng chó hơn người, ‘Văn minh’ của Mỹ buồn cười lắm thay!” Hai chữ “Văn minh” đều đặt trong dấu ngoặc để chế nhạo. (Các bài này còn chép trong tuyển tập Hồ Chí Minh cả).
Ông Nguyễn Phú Trọng từng làm chủ tịch Hội Đồng Lý Luận Trung Ương, chắc ông có đọc ít nhiều sách khác; không đến nỗi dốt như Nguyễn Minh Triết. Nhưng dù có đọc bao nhiêu sách viết về chế độ dân chủ mà không có dịp quan sát đời sống dân chủ tự do thì cũng chẳng biết gì cả.
Một điều chắc ông Nguyễn Phú Trọng không biết, là nước Mỹ nó thay đổi. Năm mươi năm trước đây, nhiều người da đen sống ở Mỹ còn bị chèn ép không sử dụng được quyền đi bỏ phiếu, một quyền đã được luật pháp bảo đảm. Năm 1964, đạo luật về dân quyền đã cấm các thủ đoạn chèn ép, ngăn chặn đó. Và bây giờ thì một người da đen đang làm tổng thống. Năm mươi năm trước, nhiều tiểu bang còn cấm người da đen không được kết hôn với người da trắng. Năm nay, họ có quyền lấy nhau. Không những thế, còn được phép lấy cả người cùng tính phái nữa!
Một quốc gia tiến bộ được là nhờ thay đổi, chấp nhận thay đổi và dám thay đổi. Đảng Cộng Sản đã kìm hãm không cho cơ chế chính trị nước ta thay đổi, cho nên nước Việt Nam bây giờ lạc hậu nhất trong vùng Á Đông và Đông Nam Á.
Một điều khác ông Nguyễn Phú Trọng nên học, là các thẩm phán ở Mỹ không nghe lệnh của đảng chính trị, dù đảng đang cầm quyền hay không. Ông John Roberts được một vị tổng thống Đảng Cộng Hòa đưa lên làm chánh án Tối Cao Pháp Viện, cách đây 10 năm. Nhưng trong một năm qua, ông đã hai lần bỏ phiếu phán quyết cho đạo luật cải tổ y tế của ông Obama, một tổng thống thuộc Đảng Dân Chủ, là hợp hiến. Ngay trong lần ra Thượng Viện điều trần trước khi được các nghị sĩ chuẩn y, ông Roberts đã xác định rằng vai trò các quan tòa giống như các trọng tài trong trận banh. Ông nhân danh các thẩm phán tuyên bố, “Chúng tôi không thuộc Đảng Dân Chủ, cũng không Cộng Hòa” khi làm nhiệm vụ thẩm phán. Tháng Hai năm 2015, hai thẩm phán Tối Cao Pháp Viện, Ruth Ginsburg và Elena Kagan, cùng do các vị tổng thống Dân Chủ đề cử, nhưng họ đã bỏ phiếu trái ngược nhau trong cùng một phán quyết. Cũng vậy, ông Clarence Thomas, vị thẩm phán tối cao thuộc Đảng Cộng Hòa nổi tiếng bảo thủ nhất, trong năm qua đã hai lần bỏ phiếu cùng một phía với các vị thẩm phán thuộc phái cấp tiến do Đảng Dân Chủ đưa lên.
Đảng Cộng Sản đã quen thói sai bảo các thẩm phán như đầy tớ, tòa án là một công cụ đảng dùng để bỏ tù những nông dân uất ức muốn kêu oan, những người Việt yêu nước chống Trung Cộng, và tất cả những công dân không đồng ý với chính sách của đảng. Vì vậy Đảng Cộng Sản đang ngăn cản không cho nước Việt Nam thay đổi, không cho nước Việt Nam tiến bộ.
Trong bài thuyết trình tại CSIS, ông Nguyễn Phú Trọng còn nhắc tới chuyện Hồ Chí Minh và Mỹ. Ông kể rằng những người ngoại quốc đứng bên cạnh Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 năm 1945 đều là người Mỹ. Ông quên không nói rõ rằng đó là thủ đoạn của ông Hồ để “dọa” các đảng phái quốc gia không Cộng Sản. Ông Hồ dùng các sĩ quan tình báo Mỹ OSS để tạo ra hình ảnh ông “được Mỹ ủng hộ.” Chính ông Bảo Đại chịu thoái vị nhượng quyền cũng vì tưởng Mỹ đứng sau lưng ông Hồ! Việc Hồ Chí Minh viết thư xin kết thân với Mỹ nhưng bị bỏ rơi, ông Trọng cũng nhắc lại và tỏ ý tiếc rẻ. Nhưng vào lúc đó mối lo lớn nhất của chính quyền Mỹ là cuộc xâm lăng của Chủ Nghĩa Cộng Sản trên toàn thế giới. Các cơ quan tình báo quốc tế đều biết ông Hồ là một điệp viên của Nga Xô. Chính quyền Mỹ hồi đó mà ủng hộ ông Hồ thì cũng không khác gì một chính quyền Mỹ bây giờ ủng hộ tay thủ lãnh al Qaeda nào đó làm chủ tịch một nước Trung Đông! Họ đã đủ hồ sơ về Hồ Chí Minh rồi, không cần phải chờ đọc những bài ông viết (trích dẫn trên đây) mới biết hết bụng dạ ông ta ra sao!
Tuy nhiên, nếu ông Nguyễn Phú Trọng kể lại các chuyện trên chỉ để biện minh cho đường lối “Quy Mã” của Đảng Cộng Sản, thì phải khuyến khích ông cứ tiếp tục nói. Những câu chuyện đó nên được kể nhiều lầm trong nội bộ Đảng Cộng Sản Việt Nam để thuyết phục tất cả các đảng viên rằng phải nhờ nước Mỹ giúp mới tạo được thế cân bằng đối đầu với Trung Cộng. Hơn thế nữa, các đảng viên cộng sản còn nên học tập những nền nếp trong đời sống dân chủ tự do ở nước Mỹ. Hơn 16,000 sinh viên Việt Nam đang theo học ở Mỹ có cơ hội học ngay tại chỗ.
Đời sống nước Mỹ có cái hay và cái dở; người nhìn thấy nhiều cái hay hơn, người thấy nhiều cái dở hơn. Nhưng nó thay đổi, nó không đứng ỳ một chỗ. Chính nhờ thế nó tiến bộ. Nước Mỹ quý trọng tự do. Người Mỹ bảo vệ bình đẳng trong cơ hội. Những kẻ ngăn cản các quyền tự do, bình đẳng sẽ bị pháp luật trừng phạt. Người Mỹ tự quyết định đời sống của mình chứ không bao giờ “nhờ ơn đảng.” Guồng máy cai trị nước Mỹ có phân ra ba quyền, cân bằng và kiểm soát lẫn nhau. Cơ chế đó bảo đảm tự do và bình đẳng. Chỉ cần học mấy điều này thôi, chuyến đi của ông Nguyễn Phú Trọng vẫn hữu ích.
Ông Obama lại đánh cá Ngô Nhân Dụng
(HOA TỰ DO )
Nhiều người cho rằng bản thỏa hiệp với Iran là một thành tích đối ngoại sẽ đưa ông Obama vào lịch sử, cũng như quyết định bỏ cấm vận Cuba. Vì đó là những ngã rẽ trong bang giao giữa Mỹ với hai nước thù nghịch lâu đời.
Nhưng các sử gia sẽ phán xét ông Obama trong vụ Iran như thế nào còn tùy thuộc một tương lai đầy bất trắc. Khi chính quyền Nixon ký Hiệp Ước Paris với Cộng Sản Việt Nam năm 1972, họ đã biết trước miền Nam sẽ thua trận. Chính họ đã quyết định từ trước; trao miền Nam Việt Nam cho Cộng Sản để Nga, Trung Cộng và Việt Cộng sau đó tha hồ đấu đá với nhau. Nhưng thỏa ước nguyên tử với Iran không báo trước một tương lai nào chắc chắn. Nhiều hậu quả thấy ngay lập tức, nhưng trong 10, 15 năm tới rồi việc thi hành ra sao, không biết. Ông Obama sẽ còn sống để biết lịch sử sẽ cho ông điểm A, thành công, hay điểm F, thất bại.
Ngay lập tức, kinh tế Iran dễ thở hơn. Dầu Iran sắp được giải tỏa trong sáu bẩy tháng nữa. Giá dầu thô trên thế giới giảm ngay 2.3%, xuống 51 đô la một thùng khi bản thỏa hiệp được công bố. Iran sẽ tung ra 30 triệu thùng dầu đang bỏ không trong kho. Chưa kể số dầu nằm dưới đất chiếm 10% số dự trữ dầu của thế giới, lớn hàng thứ ba. Iran sẽ được giải tỏa 100 tỷ đô la, tài sản bị Mỹ phong tỏa khi một số sinh viên chiếm Sứ Quán Mỹ, giữ 52 con tin trong 444 ngày. Vụ cấm vận của Mỹ và Liên Hiệp Châu Âu khiến số dầu Iran xuất cảng giảm một nửa từ năm 2011; tổng sản lượng nội địa năm 2013 giảm bớt 5%. Khi các công ty và ngân hàng Iran hết bị cấm vận, nền kinh tế sẽ hội nhập vào thị trường thế giới, thế nào cũng tăng trưởng nhanh chóng.
Ðể đổi lấy những mối lợi trên, Iran đã phải chấp nhận những điều kiện ngặt nghèo. Số máy ly tâm luyện nguyên tử đang hoạt động hơn 10 ngàn, trong số 19 ngàn có sẵn, sẽ giảm xuống chỉ còn hơn 6,000 trong 10 năm tới. Chỉ có hơn 5,000 máy đặt tại uranium được dùng để luyện chất uranium mà tỷ lệ tinh luyện không được quá 3.67% (phải tinh luyện tới 90% mới có thể chế thành bom), trong thời hạn 15 năm. Các máy đó thuộc thế hệ cũ IR-1, còn những máy IR-2 mới hơn sẽ bị đặt dưới quyền kiểm soát của ủy hội nguyên tử Liên Hiệp Quốc AIEA.
Iran sẽ giảm số 10,000 kg uranium đã tinh luyện xuống chỉ còn 300 và trong 15 năm không xây dựng thêm nhà máy tinh luyện uranium. Trong thời gian đó, cũng không luyện uranium tại nhà máy đặt ngầm trong núi ở Fordo; hai phần ba số máy ly tâm ở Fordo sẽ phải rút đi nơi khác. Các thanh tra Liên Hiệp Quốc được tới điều tra tại cả các căn cứ quân sự.
Bình thường, một nước có chủ quyền sẽ coi những nhượng bộ như trên là nhục nhã, chỉ phải chấp nhận sau khi thua trận. Tổng Thống Mỹ Barack Obama đã tránh cho Tổng Thống Iran Hassan Rouhani một cách giải thích với dân chúng, rằng Iran không “thua Mỹ” mà thua cả 5 cường quốc nguyên tử trong Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, gồm cả Anh, Pháp, và hai nước Nga và Trung Quốc thân thiện, cộng thêm nước Ðức. Nếu chỉ thương thuyết với Mỹ, mà bộ máy tuyên truyền vẫn gọi là Quỷ Satan, chắc chính phủ Iran không bao giờ dám nhượng bộ như vậy. Một lý do khiến hai bên phải kéo dài thời gian mặc cả là phía Mỹ vẫn giữ lệnh cấm vận không bán vũ khí cho Iran trong ít nhất năm năm tới. Lãnh tụ Ayatollah Ali Khamenei vẫn muốn bãi bỏ ngay điều này, và được Nga ủng hộ.
Ông Barack Obama sẽ vất vả thuyết phục Quốc Hội Mỹ ủng hộ bản thỏa hiệp với Iran. Quốc Hội đã biểu quyết luật bắt buộc phải đưa bản thỏa ước cho Quốc Hội thông qua trong vòng 60 ngày. Nếu Quốc Hội bác bỏ, mà đa số các đại biểu thuộc đảng Cộng Hòa sẽ bác bỏ, ông Obama sẽ phải dùng quyền phủ quyết. Khi đó phe phản đối sẽ phải hội đủ hai phần ba số phiếu mới thắng được tổng thống. Ông Obama hy vọng sẽ được các nghị sĩ đảng Dân Chủ ủng hộ; ít nhất 34 người trên 100 là đủ hơn một phần ba Thượng Viện. Nếu ông Obama thắng tại Quốc Hội, những người đang muốn làm ứng cử viên tổng thống của đảng Cộng Hòa sẽ giành nhau, coi ai là người chống bản thỏa hiệp với Iran mạnh hơn. Ông Walker đã “đi tiền” trước: Nếu lên làm tổng thống ông sẽ xé bỏ hiệp ước với Iran! Sang năm, nếu dại dột nhiều vị sẽ đưa vụ này lên thành một đề tài tranh cử. Họ sẽ phí thời giờ vô ích, vì dân Mỹ thường không quan tâm đến các vấn đề ngoại giao, trừ khi đang lâm chiến
Phải chờ ít nhất 5 năm nữa ông Obama mới đoán được bản hiệp ước ông Kerry ký là dại hay khôn. Nhưng các nước vùng Trung Ðông không thể chờ đợi lâu như vậy. Một nước Iran không bị phong tỏa sẽ thay đổi thế cờ giữa các nước theo phái Sun Ni và theo phái Shi A trong vùng. Hầu hết các nước trong vùng Vịnh có một số người Shias; trừ Bahrain là nơi người Shi A chiếm thiểu số nhưng sống dưới quyền một tiểu vương theo phái Sun Ni.
Iran sẽ có nhiều tiền hơn để mua súng giúp các lực lượng quân sự và hoặc gửi tiền cho các nhóm chính trị của người Shi A, ở nước Á Rập khác đang chống chính quyền Sun Ni cai trị họ. Khi nghe tin bản thỏa ước Mỹ-Iran, Tổng Thống Syria Bashar Assad đã vui mừng nói rằng từ nay “đồng chí anh em” Iran sẽ giúp cho chế độ của ông ta nhiều hơn. Nhóm Hezbollah ở Lebanon, nhóm Houthis ở Yemen cũng vui mừng.
Hành động của Iran sẽ khiến cho các chính phủ Sun Ni trong vùng, do Á Rập Saudi lãnh đạo, phải lo tự vệ, mà cách tự vệ sau cùng là họ có thể tìm cách chế bom nguyên tử - như Israel đã làm mặc dù vẫn chối. Bộ trưởng Quốc Phòng Israel mới nhắc nhở mọi người rằng nước ông không hề ký vào bản thỏa ước với Iran. Ý nói, nếu Israel không tin Mỹ ngăn cản được Iran làm bom nguyên tử, họ có thể phải tấn công những lò tinh luyện tại Iran, như họ đã làm ở Iraq và Syria trước đây. Ông Obama có thể xoa dịu phản ứng của cả Israel và Saudi bằng những thỏa hiệp bán các vũ khí mới nhất mà lâu nay hai nước này vẫn bị từ chối! Trung Ðông sẽ diễn ra một cuộc chạy đua vũ trang. Nga và Trung Cộng sẵn sàng bán hỏa tiễn cho Iran. Các nước Á Rập sẽ là khách hàng của Mỹ và Châu Âu.
Trong năm năm hay 10 năm tới người ta có thể biết các vị giáo sĩ lãnh đạo Iran muốn giải hòa với thế giới bên ngoài, đặc biệt là với Mỹ hay không. Họ có thể đủ tự tin để bắt đầu giải hòa với chính các đối thủ trong vùng, trước hết là Á Rập Saudi. Ðể chiếm lòng tin của khối các nước Sun Ni, Iran có thể buộc Bashar Assad, một tay chân lâu đời, rời khỏi ngôi tổng thống Syria; như Saudi và các nước khác vẫn yêu cầu. Thay vào đó, Iran sẽ yêu cầu khối người theo phái Shi A (gọi là nhóm Alawites) chấp nhận chia nước Syria thành ba vùng, cho các tín đồ Sun Ni, Shia, và Thiên Chúa Giáo. Tại Yemen, Iran có thể thỏa hiệp với Saudi để cắt đất chia vùng ảnh hưởng cho nhóm Houthi theo phái Shi A, cho vị tổng thống cũ được trở về. Tại Iraq, Iran đang đóng vai chủ động đánh quân IS và đã cộng tác với máy bay Mỹ. Hai nước có thể thỏa hiệp về cách chia vùng ảnh hưởng giữa các tín đồ Sun Ni với Shi A, để cùng đánh IS.
Iran có thể tiến tới các thỏa hiệp với khối các tín đồ Sun Ni do Saudi đang đại diện; nếu họ đồng ý với nhau rằng lực lượng “Quốc Gia Hồi Giáo” IS mới là mối đe dọa lớn nhất cho cả hai bên; mà tới nay nhóm IS vẫn còn đang lớn lên dần. Hai bên sẽ thăm dò lẫn nhau từng bước; sau năm năm có thể bắt đầu thấy có tin được nhau hay không. Sau mười năm có thể thiết lập những quan hệ kinh tế và chính trị để ràng buộc lẫn nhau trong một hệ thống mà nước nào rút ra sẽ thấy chỉ thiệt chứ không có lợi.
Nhưng muốn vùng Trung Ðông thực sự sống yên lành để phát triển kinh tế, Iran sẽ phải lùi một bước quan trọng nhất: Rút lại lời đe dọa muốn tiêu diệt nước Israel; bằng cách nói này hay cách khác. Ðiều này rất khó, nhưng mười năm trước đây cũng khó tưởng tượng có ngày các giáo sĩ Iran lại chịu ký hiệp ước ngưng làm bom nguyên tử với “Quỷ Sa Tăng” là nước Mỹ! Ðể mở đầu, trong năm năm sắp tới Iran có thể tỏ thiện chí bằng cách cho các nhóm tay chân ở Lebanon và trong dải Gaza bớt các hành động vũ lực. Ðiều này sẽ hiện ra trên radar của chính phủ Israel, dần dần hai bên cùng “hạ hỏa” các lời lẽ chống đối nhau.
Trên đây là những viễn tượng lạc quan, giả thiết rằng giới lãnh đạo Iran chọn con đường thực tế, nghĩ đến lợi ích của 80 triệu dân, không còn bị “ý thức hệ” trói buộc. Giả thiết đó có thể 50% đúng, 50% sai. Tổng Thống Obama đang đánh cá rằng chính quyền Iran bắt đầu chọn thái độ thực tế. Nếu ông đánh cá sai, lịch sử sẽ coi ông là một anh ngây thơ bị mắc lừa những con cáo già. Trong thời gian tới, các nhà chính trị Cộng Hòa sẽ nói ngay điều đó với dân Mỹ.
Nếu ông Obama đánh cá và thua, lịch sử chỉ có thể nhân nhượng với ông khi đặt câu hỏi: Nếu không có bản thỏa ước vừa ký, cái gì sẽ xẩy ra?
Các cuộc cấm vận sẽ tiếp tục không biết đến bao giờ. Kinh tế Iran sẽ trì trệ mãi, dù có được Nga và Trung Quốc hỗ trợ. Nhưng chỉ cấm vận không thôi thì không đủ buộc Iran ngưng chế bom nguyên tử, ngược lại sẽ thúc đẩy họ thấy phải có bom sớm, làm nhanh hơn. Cùng lúc đó, họ sẽ giúp các đàn em ở khắp vùng Trung Ðông khuấy động nhiều hơn. Cứ như vậy, sẽ tới ngày Mỹ và Israel phải tấn công trực tiếp. Nhưng có nước nào muốn đem quân tới chiếm đóng Iran hay không? Nếu không, sau đó Iran lại tiếp tục chế bom nguyên tử thì sao? Vì hơn 10,000 máy ly tâm tinh luyện uranium ở Fordo đặt dưới hầm trong núi hiện nay chưa có thứ bom hay hỏa tiễn nào phá được.
Trong thời Chiến Tranh Lạnh, hai nước Mỹ và Liên Xô vẫn đặt quan hệ ngoại giao không bao giờ cắt đứt. Năm 1963, Tổng Thống Kennedy đã ký một thỏa ước giảm bớt cuộc chạy đua vũ khí chiến lược với Nga. Trong lịch sử, người ta vẫn phải đánh cá, tin rằng nếu số mình hên thì loài người sẽ tránh được chiến tranh. Có khi cũng nên đánh cá.
Báo Nga nói về sự sụp đổ của chứng khoán Trung Quốc
Phong Minh
( HOA TỰ DO )
“…Chúng ta sẽ sớm nghe thấy những lời nói trấn an của các quan chức Trung Quốc và được chứng kiến sự “bình thường hóa” giao dịch
trên thị trường chứng khoán Trung Quốc. Những hậu quả nghiêm trọng nhất có thể sẽ xảy ra vào mùa Thu này. “Thiên tử” đã tới hạn…”
- Chuyên gia Nga dự đoán kinh tế Trung Quốc nhất định sẽ suy thoái và người Nga không nên trông đợi vào chỗ dựa như vậy.
Báo chí Nga những ngày qua rất quan tâm tới biến động trên thị trường chứng khoán Trung Quốc. Một trong những bài báo đáng chú ý có tiêu đề “Sự sụp đổ của Trung Quốc. Kết thúc của một kỳ tích” được đăng trên trang mạng Svpressa.ru ngày 6/7 vừa qua.
Bài báo được nhiều trang mạng lớn của Nga đăng lại. Nhưng điều đáng chú ý hơn là không hiểu vì lý do gì mà sau đó bài báo này lại bị gỡ khỏi trang chủ Svpressa.ru. Xin lược dịch nội dung để quý bạn đọc tham khảo quan điểm của một chuyên gia Nga về những biến động của thị trường chứng khoán Trung Quốc, xa hơn là nền kinh tế Trung Quốc và tác động tới nước Nga:
Trong những tuần qua, thị trường chứng khoán Trung Quốc đã bị rúng động. Cần phải thẳng thắn rằng sự giảm điểm của chỉ số Shanghai composite bắt đầu từ giữa tháng 6/2015 không phải là sự điều chỉnh mà là sụp đổ toàn diện. Từ mốc hơn 5.100 điểm, chỉ số này lao dốc xuống chỉ còn trên 3.600 điểm, giảm khoảng 30%.
Đã có nhiều cuộc tranh luận về nguyên nhân và hậu quả của sự sụp đổ này. Những nguyên nhân quen thuộc được nêu lên như sự mất cân đối về cơ cấu, sự phát triển quá nóng của thị trường hay hiện tượng bong bóng trên thị trường bất động sản. Cũng có ý kiến cho rằng nguyên nhân là do chiêu trò của giới đầu cơ hoặc việc rút vốn ồ ạt liên quan tới các vấn đề ở châu Âu với một từ “kinh hoàng” là Hy Lạp.
Sự hoảng loạn ngày càng gia tăng và việc phân tích sự hoảng loạn đó trên thị trường chứng khoán Trung Quốc là điều cần thiết.
Kết luận đầu tiên có thể rút ra là nếu không có các vấn đề trong thực tại nền kinh tế Trung Quốc thì trên thị trường chứng khoán sẽ không xảy ra “cơn bão” mạnh như vậy. Vậy thì nguồn gốc của cuộc khủng hoảng thị trường ở Trung Quốc là như thế nào?
Ngày từ năm 2012, một báo cáo phân tích đã được viện chúng tôi (tác giả) công bố ở Nga mang tên “Những mâu thuẫn của kinh tế Trung Quốc: sự xuống dốc và kết thúc của một kỳ tích”. (Tác giả giải thích thêm rằng báo cáo do chính tác giả chủ biên).
Báo cáo này nêu rõ sự giảm tốc của kinh tế Trung Quốc không phải là giai đoạn chuyển đổi sang tốc độ tăng trưởng tự nhiên. Trung Quốc đang đón chờ sự suy giảm sản xuất và chấn động chính trị.
Nguồn cung bất động sản trở nên "thừa mứa" ở Trung Quốc
Báo cáo kết luận rằng Trung Quốc cần thay đổi mô hình kinh tế và nếu không làm vậy sẽ không thể tiếp tục phát triển, đồng thời nhấn mạnh Trung Quốc không thể trở thành đầu tàu mới của nền kinh tế thế giới mà ngược lại đang kéo chìm bị kéo chìm xuống.
Vì cố gắng duy trì tăng trưởng, chính quyền Trung Quốc đã tạo ra những bong bóng tín dụng và cả bong bóng công nghiệp trong nền kinh tế. Sự tăng trưởng theo chiều rộng của Trung Quốc đã hỗ trợ cho nền sản xuất nguyên liệu và máy móc trên thế giới. Tuy nhiên, điều đó lại không thể tạo ra ở Trung Quốc những động lực kinh tế mới đối với thế giới mà chỉ làm kiệt quệ tài nguyên của nước này.
Trong giai đoạn 2010-2012, Trung Quốc không hề tạo ra bất kỳ lĩnh vực mang tính cách mạng nào, không sản xuất ra loại hàng hóa nào mới về mặt nguyên tắc. Trên tất cả, Trung Quốc hiện phụ thuộc vào người tiêu dùng châu Âu và Bắc Mỹ.
Sự suy giảm thu nhập thực tế của người lao động ở các quốc gia nằm ở trung tâm chủ nghĩa tư bản thế giới đã gây khó khăn cho nền kinh tế Trung Quốc từ năm này qua năm khác và ngày càng tiêu cực hơn. Trong bối cảnh đó, không nên mù quáng mà tìn vào những con số thống kê của Trung Quốc bởi nước này luôn tô điểm cho những kết quả kinh tế.
Cơ sở của “kỳ tích” kinh tế Trung Quốc là sự thống nhất của một hệ thống “trấn áp” cứng rắn cùng với nguồn lực lao động giá rẻ khổng lồ. “Năng lượng cơ bắp” là nguồn lực chủ yếu của Trung Quốc hiện đã không thể đảm bảo giảm giá thành sản phẩm.
Sự suy yếu của đồng euro, đồng rúp, đồng Bảng Anh trong năm 2014 là những tin tức “không mấy dễ chịu” đối với nền sản xuất Trung Quốc.
Tác giả bài báo một lần nữa nhắc tới bản báo cáo được công bố năm 2012 đã nhấn mạnh cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu vẫn chưa kết thúc. Làn sóng thứ hai của cuộc khủng hoảng này trong năm 2014 đã tác động tới hàng loạt quốc gia, trong đó có Brazil, Nga và Nam Phi.
Trong khi đó, Trung Quốc vẫn tiếp tục tăng trưởng và tăng trưởng! Và dường như không chú ý tới thực tế này. Điều đó tạo ra nguy cơ biến Trung Quốc trở thành chiếc “máy khuếch đại” cuộc khủng hoảng trên toàn cầu và nguy cơ đó nay đang dần trở thành hiện thực.
Sự sụp đổ trên thị trường chứng khoán của Trung Quốc chính là dấu hiệu đầu tiên.
Hậu quả nghiêm trọng nhất chính là sự sụt giảm giá nguyên liệu toàn cầu, trong đó có mặt hàng quan trọng như dầu thô, hiện đang dao động ở mức 55-65 USD/thùng. Điều đó đã được dự đoán trước khi người Nga tuyên bố nền kinh tế Trung Quốc nhất định sẽ cứu được nước Nga.
Chính vì vậy, Nga phải tự giải quyết cuộc khủng hoảng của chính mình. Trung Quốc có thể sẽ không còn là một chỗ dựa nữa bởi nền kinh tế của nước này chắc chắn sẽ chuyển từ giảm tốc sang giai đoạn suy thoái. Sự mất cân đối ở Trung Quốc đã tồn tại từ lâu.
Nền kinh tế Nga đang gặp rất nhiều khó khăn do dầu thô
và đồng rúp mất giá
Trung Quốc không có đủ nguồn nguyên liệu trong nước trong khi nhu cầu ngày càng tăng. Trong giai đoạn 2010-2011, chính quyền Trung Quốc vẫn cố gắng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhưng không chịu thay đổi mô hình. Kết quả là sự dư thừa nhà ở, trong khi việc xây dựng đường xá và bán xe ô tô cũng chỉ dựa trên các khoản vay chứ không phải dựa vào thu nhập của người dân.
Sự tăng trưởng hình thức này đã che giấu lạm phát thực sự. Trong giai đoạn 2012-2014, tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc bắt đầu chậm lại và hiện đang “bốc mùi” không hề dễ chịu chút nào.
Bên cạnh đó, làn sóng rút vốn khỏi Trung Quốc trong 4 năm qua đang thu hẹp khả năng của thị trường nước này. Sau đợt suy giảm 2008-2009, thị trường chứng khoán Trung Quốc đã không thể phục hồi. Từ năm 2011, tiếp tục diễn ra sự sụt giảm song tới đầu năm 2014 vẫn không thể tăng mạnh trở lại. Giờ đây, khi thị trường đang trên đà sụp đổ thì rõ ràng càng có nhiều công ty nước ngoài muốn rời bỏ Trung Quốc hoặc thu hẹp sự hiện diện của họ trong nền kinh tế này.
Cuộc khủng hoảng nghiêm trọng ở Trung Quốc là không thể tránh khỏi và nó sẽ trở thành yếu tố đưa nền kinh tế toàn cầu sang giai đoạn thứ hai của cuộc khủng hoảng. Vấn đề chỉ là nó sẽ diễn ra ngay sau khi thị trường chứng khoán Thượng Hải sụp đổ, hay là chúng ta sẽ được chứng kiến sự ổn định của nó khi chính quyền Trung Quốc kiểm soát tình hình thêm một thời gian.
Và suy nghĩ rằng “kỳ tích Trung Quốc” là chỗ dựa cho nước Nga cần phải chấm dứt!
Tác giả bài báo kết luận rằng nửa cuối mùa Hè này sẽ trôi qua với sự “nổi bật” của Trung Quốc. Những sự kiện ở đất nước này sẽ ảnh hưởng tới rất nhiều thứ và không khó để dự đoán.
Việc cắt giảm sản xuất công nghiệp ở Trung Quốc sẽ đánh mạnh vào giá cả trên thị trường nguyên liệu. Sự suy giảm thương mại cũng sẽ tác động mạnh tới các đối tác “đại dương” của Trung Quốc như Australia và New Zealand. Khu vực Trung Á, các thị trường châu Âu, châu Mỹ cũng sẽ chịu thiệt hại và tất nhiên là cả các nhà xuất khẩu của Nga.
Tuy nhiên, hiện vẫn còn quá sớm để đưa ra kết luận. Chúng ta sẽ sớm nghe thấy những lời nói trấn an của các quan chức Trung Quốc và được chứng kiến sự “bình thường hóa” giao dịch trên thị trường chứng khoán Trung Quốc. Những hậu quả nghiêm trọng nhất có thể sẽ xảy ra vào mùa Thu này. “Thiên tử” đã tới hạn và sẽ suy thoái.
Phải nói trước với Tập Cận Bình
Ngô Nhân Dụng
Sau khi hai chiến hạm thuộc Hạm Ðội số 7 Hải Quân Hoa Kỳ vừa hoàn tất một đợt tuần tra tại Biển Ðông, ngày 14 Tháng Bảy, phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao Trung Cộng Hoa Xuân Oánh (Hua Chunying, 华春莹) đã phản đối, cảnh cáo rằng “tự do hàng hải không có nghĩa là đem chiến hạm và chiến đấu cơ của một nước đi vào lãnh hải và không phận của một quốc gia khác.”
Hôm qua Ðô Ðốc Scott Swift, tư lệnh Hạm Ðội 7, nhân gặp gỡ các nhà báo Phi Luật Tân đã nói như để đáp lời bà Hoa Xuân Oánh. Ông nói thẳng rằng những hòn đảo nhân tạo Trung Cộng mới xây dựng trong vùng Trường Sa vẫn là nơi còn đang tranh chấp giữa các nước, đối với chính phủ Mỹ chúng không thuộc nước nào. Vì vậy, hoạt động của Hải Quân Mỹ trong vùng đó không bị giới hạn: “Tôi không thấy trong viễn tượng quân sự có một thay đổi nào về các hoạt động của hạm đội Thái Bình Dương.” Phải có chỉ thị từ cấp trên trong chính phủ Mỹ ông Swift mới dám nói cứng rắn như vậy. Ông nói thêm: “Chúng tôi luôn luôn sắp sẵn để đối phó với mọi tình huống, chỉ chờ khi nào tổng thống quyết định.”
Ðô Ðốc Swift trấn an các nhà báo Phi Luật Tân rằng Mỹ sẽ đưa thêm các chiến hạm khác tới vùng này, ngoài bốn chiếc đang có mặt, trong đó chiếc USS Fort Worth vẫn đóng ở Singapore và vừa mới đi qua khu vực Trường Sa. Hải Quân Mỹ đang đặt thêm 52 chiến hạm thuộc loại dùng vũ khí tối tân nhất, một số sẽ được điều động tới vùng biển Ðông Nam Á.
Nước Mỹ đứng trung lập về vấn đề chủ quyền trên các hòn đảo, nhưng lúc nào cũng nhấn mạnh đến quyền tự do thông thương trên biển. Hôm qua, Ðô Ðốc Swift xác định: “Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ đã trình bày ý kiến rõ ràng là chúng tôi không ủng hộ việc sử dụng vũ lực và áp chế.”
Dùng vũ lực áp chế, đó chính là chủ trương của đảng Cộng Sản Trung Quốc trong vùng Biển Ðông nước ta. Năm 1974, Trung Cộng đánh chiếm Hoàng Sa do các chiến sĩ Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa tử chiến bảo vệ. Năm 1988 lại đánh chiếm thêm nhiều đảo ở Trường Sa, Hải Quân Việt Nam được lệnh không kháng cự.
Trong mấy năm qua, Trung Cộng còn thách thức dân Việt với nhiều hành động áp chế khác. Sau khi đem giàn khoan Hồ Cẩm Ðào-981 tới thăm dò dầu lửa ngay trong vùng biển nước ta khiến dân Việt Nam phẫn nộ, Trung Cộng đem tới 113 chiến thuyền, đánh phá thuyền của dân Việt đi đánh cá. Gần đây nhất, Trung Cộng đã bước qua một lằn ranh giới khi xây dựng các hòn đảo nhân tạo trên các bãi đá ngầm, xây phi trường và đóng quân, trực tiếp đe dọa bờ biển Việt Nam. Ðó là một thách thức công khai xem sức chịu đựng của dân Việt tới đâu.
Vào thế kỷ 11, vua quan nhà Tống bên Tàu đã khiêu khích dân Việt, nhưng cũng không tàn tệ đến như vậy. Chính quyền Khai Phong chỉ sai hai tỉnh Quảng Tây và Quế Châu tập luyện binh sĩ, chuẩn bị lương thảo, vẽ bản đồ và làm bản kê khai về địa thế, dân số, và tài nguyên nước Ðại Việt. Triều đình nước ta đã phản ứng trước, bằng một cuộc hành quân tấn công qua biên giới, cướp phá rồi rút về.
Triều đình Tập Cận Bình nuôi tham vọng lớn hơn nhà Tống, và ỷ vào sức mạnh quân sự áp đảo đối với nước ta, cho nên đã hung hăng áp chế hơn nhiều. Trước khi ông Tập Cận Bình sang Việt Nam như đang dự tính, phải nói trước cho ông biết rằng: Tính nhẫn nhục của dân tộc Việt Nam có giới hạn. Nếu những người đang nắm quyền ở nước ta không dám nói điều đó, người dân phải lên tiếng.
Việt Nam phải trình bày trước cả thế giới một cách công khai, nói rõ ràng các sự kiện Trung Quốc đã đánh chiếm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, mới xảy ra chưa đầy nửa thế kỷ. Cho nên dân Việt Nam không bao giờ chấp nhận quân đội Trung Quốc có mặt tại các hòn đảo đó! Việc tăng cường binh lực, xây thêm căn cứ trên các hòn đảo chiếm đoạt bất hợp pháp càng không thể chấp nhận. Hãy hỏi chính quyền Trung Cộng rằng nếu Nhật Bản đưa một tiểu đội hải quân tới đồn trú tại Senkaku, hay Ðiếu Ngư Ðài, thì thái độ của người dân Trung Quốc sẽ ra sao?
Việt Nam phải cho ông Tập Cận Bình mình sẽ tiếp tục phản đối các hành động xâm lược trên một cách mạnh mẽ, với các biện pháp cụ thể. Việc làm ôn hòa trước tiên là chính thức phản kháng trên các diễn đàn và thưa kiện tại tất cả các tòa án quốc tế về những hành động thôn tính của Trung Cộng trong các năm 1974 và 1988. Từ trước đến nay, đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn ngậm miệng không dám nói gì về các cuộc xâm lăng này, thậm chí còn cấm dân Việt Nam không được bày tỏ tình yêu nước trong những ngày kỷ niệm. Tại sao Phi Luật Tân chỉ bị đe dọa mất mấy bãi đá ngầm mà chính phủ họ đã nộp đơn kiện Trung Cộng trước tòa án trọng tài thế giới ở Den Haag, Hòa Lan; còn Việt Nam đã mất bao nhiêu hòn đảo từ 40 năm qua mà không hề chính thức, công khai đòi lại?
Thái độ chịu nhục của đảng Cộng Sản Việt Nam khiến cho các nước khác coi đó là những “sự đã rồi” đã được dân Việt chấp thuận. Ðã đến lúc phải xóa bỏ hình ảnh nhục nhã đó trong dư luận thế giới, nhất là chính phủ các cường quốc và các nước trong vùng. Dù nước ta không thể đưa quân tới chiếm lại các hòn đảo đã mất, như chính Trung Quốc cũng không đem quân đội chiếm lại Ðiếu Ngư Ðài, nhưng cần phát động khắp nước những cuộc biểu tình “Ðòi Hoàng Sa! Ðòi Trường Sa!” Cứ tiếp tục như vậy cho cả loài người biết ý chí của dân Việt ra sao; và cho Trung Cộng biết không thể bước tới nữa. Người Việt bây giờ sẽ không làm như Lý Thường Kiệt, nhưng sẵn sàng dùng vũ khí bảo vệ ngư dân hành nghề kiếm sống.
Những hành động phản kháng của dân Việt là cách duy nhất có thể kiềm chế chiến lược thôn tính của Trung Cộng trong vùng biển Ðông Nam Á. Lâu nay, Bắc Kinh vẫn theo đuổi chiến lược leo thang từng bước trong cả vùng. Thành lập huyện Tam Sa. Ðưa hải quân tới tập trận tại chỗ. Ðưa giàn khoan dầu tới giữa hải phận Việt Nam. Xây dựng thêm các hòn đảo nhân tạo, lập các phi trường và căn cứ quân sự. Từng bước một, mỗi bước đều được tính toán trước, có trình tự, bài bản. Họ hoàn toàn kiểm soát tình hình, dự đoán trước phản ứng của các nước khác để đối phó. Họ gây tình trạng căng thẳng, rồi tạm ngưng cho mọi người quên đi, rồi lại gây căng thẳng tiếp. Họ tự coi có thể kiểm soát được mọi tình huống. Ðặc biệt là đối với Cộng Sản Việt Nam thì khả năng kiểm soát của họ coi như hoàn toàn.
Giới lãnh đạo Trung Cộng còn đang tập sự đóng vai cường quốc; còn đang học tập. Các chiến lược gia của họ không học được một bài học mà hai siêu cường Nga Xô và Mỹ đã tỉnh ngộ ra trong “cuộc chơi Chiến Tranh Lạnh,” nếu dùng hình ảnh “lý thuyết trò chơi” (game theory). Bài học rất quan trọng là: Không thể leo thang mãi được. Leo thang có lúc rất nguy hiểm. Ðối thủ của mình trong cuộc chơi có thể có những phản ứng bất ngờ. Khi đó, cuộc chơi sẽ diễn biến không thể tính toán trước, đưa tình trạng căng thẳng tới chỗ không ai kiểm soát được nữa.
Thái độ của chính phủ Mỹ thay đổi rõ rệt từ khi Trung Cộng xây dựng các phi trường quân sự trên các hòn đảo nhân tạo. Họ đã đưa pháo đài bay, xuất phát từ Guam, và chiến hạm đi từ Singapore đi qua vùng biển này. Ðô Ðốc Swift đã nhắc lại lập trường của chính phủ Obama, và ông chỉ còn chờ lệnh của ông Obama hay người kế vị, sẵn sàng đối phó “với mọi tình huống.” Ðây là một thông điệp mà Bắc Kinh phải nhìn ra, phải tiếp nhận bài học cũ: Leo thang có lúc rất nguy hiểm! Chính phủ Mỹ đã vạch ra một lằn ranh cho Trung Cộng thấy họ không nên bước qua.
Cộng Sản Việt Nam có dám gửi một thông điệp tương tự hay không? Ðâu là lằn ranh định giới hạn hạn cho chính sách leo thang của Trung Cộng?
Trong Tháng Chín năm nay, Tập Cận Bình sẽ qua Washington gặp Barack Obama. Họ sẽ kiểm điểm lại những thỏa thuận giữa hai người trong cuộc gặp gỡ ba năm trước. Có thể đoán ông Obama sẽ vạch ra một lằn ranh về hành động của Trung Cộng tại Biển Ðông; nếu bước qua thì tình hình sẽ khó kiểm soát. Ông Obama không hề thấy nước Việt Nam có ấn định một lằn ranh như vậy hay không. Vì vậy, trước khi ông Tập Cận Bình qua Mỹ, nếu chính quyền Việt Nam không làm gì thì người dân Việt Nam phải hành động. Phải cho chính quyền Trung Quốc biết dân Việt cũng có một lằn ranh giới của sự chịu đựng nhục nhã. Ðể ông Obama tham khảo!
Năm 1979, Ðặng Tiểu Bình qua thăm Mỹ, về rồi đưa quân qua đánh Việt Nam. Người ta hiểu rằng họ Ðặng được Mỹ hứa trước sẽ làm ngơ. Năm nay, sau khi Tập Cận Bình qua Mỹ về, nếu Bắc Kinh thêm một hành động tàn ác nữa trong vùng Biển Ðông, thế giới có thể tưởng rằng Mỹ đã biết trước hay không? Chính phủ Mỹ có phản ứng quân sự nào nếu Trung Cộng bắn, đốt một trăm thuyền đánh cá và tàn sát các ngư phủ Việt Nam hay không? Mỹ có đem tàu chiến tới ngăn cản nếu Trung Cộng đưa thêm vài giàn khoan vào hải phận Việt Nam hay không? Trung Cộng sẽ biện hộ rằng những vụ đó không gây một trở ngại nào cho đường hàng hải quốc tế, là điều nước Mỹ quan tâm! Nếu chính quyền Việt Nam không tự bảo vệ cho dân mình, biển đảo nước mình, thì ai quan tâm đến?
Tháng Tư vùa qua, ông Nguyễn Phú Trọng sang Bắc Kinh thề “duy trì đại cục quan hệ” giữa hai nước. Bộ Trưởng Ngoại Giao Phạm Bình Minh cũng sang để “nhất trí ‘kiểm soát tốt’ các bất đồng trên Biển Ðông” với Trung Cộng. Tức là vẫn “bốn tốt” như cũ. Ðược điểm tốt nhất là Bộ Trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh. Qua nước Tàu, ông than rằng nhiều người dân Việt Nam ghét Trung Quốc là xấu, là nguy hiểm. Mới nhất, Phó Thủ Tướng Trương Cao Lệ (Zhang Gao, li张高丽) mới qua Hà Nội, gặp Nguyễn Tấn Dũng rồi tuyên bố hai đảng Cộng Sản tiếp tục “đưa quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Trung-Việt phát triển lành mạnh, ổn định, lâu dài!” Tức là vẫn như cũ.
Khó lòng chờ đợi đảng Cộng Sản Việt Nam làm bất cứ cái gì. Cho nên, dân Việt Nam phải tự hành động, báo trước cho ông Tập Cận Bình biết sức nhẫn nhục của mình có giới hạn.