Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Việt Nam và Mỹ
Monday, July 20, 2015 1:45:15 PM

Nguyễn Hưng Quốc (Blog VOA)

Theo dõi báo chí trong nước từ sau chuyến đi Mỹ của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng vào đầu tháng 7 vừa rồi, chúng ta dễ dàng ghi nhận hai sự kiện chính: Một, khác hẳn với trước đây, bây giờ người ta công khai công kích âm mưu xâm lấn của Trung Quốc trên Biển Ðông, tố cáo những hành động cướp cá hay đâm chìm tàu của ngư dân Việt Nam trên vùng biển gần Hoàng Sa, bày tỏ sự đồng tình với việc Philippines kiện Trung Quốc lên toà án Liên Hiệp Quốc, tổ chức các buổi tưởng niệm tử sĩ và nạn nhân trong cuộc chiến tranh biên giới năm 1989. Hai, thể hiện sự vui mừng trước sự phát triển tốt đẹp của quan hệ Việt-Mỹ và tin tưởng vào chiến lược tái cân bằng ở Châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ.

Hai sự kiện ấy cho thấy một sự biến chuyển quan trọng trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Trước, họ, một mặt, né tránh nêu đích danh Trung Quốc như một kẻ bành trướng ngang ngược, hoặc nếu có, cũng chỉ đề cập một cách hết sức nhẹ nhàng, không kèm theo một sự phê phán nào cả; mặt khác, ít khi nhắc đến Mỹ, hoặc nếu nhắc, chỉ nhắc một cách bâng quơ, đặc biệt về chiếc lược xoay trục sang Châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ.

Bây giờ, mọi sự khác hẳn.

Dấu mốc của sự thay đổi ấy chắc chắn đến từ chuyến đi Mỹ của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng. Nhưng thật ra, chuyến thăm viếng ấy không đánh dấu một sự đột biến nào. Trừ bản thoả thuận về tầm nhìn chung giữa hai nước, không có hiệp ước quan trọng nào được ký kết. Nội dung của bản thoả thuận về tầm nhìn chung cũng không có gì mới mẻ: Tất cả đã được nêu lên trong một số cuộc gặp gỡ trước đó. Quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ vẫn dừng lại ở tầm “đối tác toàn diện” vốn đã được chính thức hoá từ chuyến viếng thăm Mỹ của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang vào năm 2013. Quan hệ ấy chưa được nâng lên tầm “đối tác chiến lược,” điều có lẽ Việt Nam rất mong muốn, ít nhất trong thời điểm hiện nay, khi Việt Nam cần một chỗ dựa vững chắc trong thế trận đối đầu với Trung Quốc trên Biển Ðông.

Rõ ràng là quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ tiến triển khá chậm và có lúc, khá khúc khuỷu. Người đầu tiên thúc đẩy quá trình hợp tác giữa hai nước là Mỹ chứ không phải là Việt Nam. Trong chuyến viếng thăm Việt Nam vào giữa năm 2010, Bộ Trưởng Ngoại Giao Hillary Clinton đã đề nghị thiết lập quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước nhưng Việt Nam làm ngơ. Trước đó, trong bản tường trình mỗi bốn năm Quadrennial Defense Review của Bộ Quốc Phòng Mỹ cũng đã nêu lên sáng kiến xây dựng quan hệ chiến lược với Việt Nam. Tháng Bảy năm 2012, Mỹ mời Nguyễn Phú Trọng sang thăm Mỹ nhưng Nguyễn Phú Trọng lưỡng lự, không đáp ứng ngay. Trong khi đó, Việt Nam lại tìm kiếm quan hệ đối tác chiến lược với các quốc gia khác, trong đó, có Úc nhưng bị Úc từ chối hai lần: lần đầu, vào năm 2009 khi Kevin Rudd làm thủ tướng và lần sau, năm 2015, khi Tony Abbott làm thủ tướng. Lý do từ chối ở cả hai lần là vì, dưới mắt của Úc, quan hệ đối tác chiến lược ấy chỉ có tính chất tượng trưng chứ chưa thể có thực chất vì thiếu những sự tin cậy cần thiết giữa hai bên.

Thái độ của Việt Nam đối với Mỹ chỉ thay đổi một cách rõ rệt nhất là sau vụ Trung Quốc mang giàn khoan HD-981 đến thăm dò dầu khí trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, và đặc biệt, từ khi Trung Quốc ra sức bồi đắp các bãi đá thành đảo nhân tạo ở Trường Sa. Sau hai sự kiện ấy, các chuyến thăm giữa hai nước được tổ chức dồn dập, hết phái đoàn này đến phái đoàn khác đến thăm, gặp gỡ và bàn luận với nhau. Chuyến đi Mỹ của Nguyễn Phú Trọng là đỉnh điểm của các cuộc hội đàm ấy. Tuy nhiên, sau chuyến thăm của Nguyễn Phú Trọng, có hai điều vẫn chưa xảy ra: Một, quan hệ giữa hai nước vẫn chưa được nâng cấp lên thành đối tác chiến lược; và hai, Mỹ vẫn chưa giở bỏ hẳn lệnh cấm vận các loại vũ khí sát thương cho Việt Nam. Hai sự kiện ấy cho thấy vẫn còn sự e dè từ phía Mỹ.

Tại sao có sự e dè ấy?

Theo tôi, có hai lý do chính:

Thứ nhất là tình trạng nhân quyền của Việt Nam. Mỹ không đòi hỏi thay đổi chế độ tại Việt Nam nhưng họ vẫn thường xuyên lên án các hành động vi phạm nhân quyền trầm trọng tại Việt Nam và vẫn yêu sách Việt Nam phải thả các tù nhân lương tâm vẫn còn bị giam giữ khá nhiều tại Việt Nam.

Thứ hai có lẽ Mỹ cũng chưa tin tưởng hẳn vào quyết tâm của Việt Nam trong nỗ lực chống lại âm mưu bành trướng của Trung Quốc trên Biển Ðông. Ai cũng biết giới lãnh đạo Việt Nam chia làm hai phe: phe thân Tàu và phe thân Tây phương. Người ta đoán là sau vụ giàn khoan HD-981, phe thân Tây phương càng lúc càng thắng thế. Tuy nhiên, tất cả vẫn là suy đoán. Không ai biết chắc chắn mức độ của sự thắng thế ấy và cũng khó biết những toan tính thực sự trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Ðặc biệt, người ta lại càng không biết những ai sẽ trở thành những nhà lãnh đạo cao nhất tại Việt Nam sau kỳ đại hội đảng vào đầu năm tới.

Tôi nghĩ quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ sẽ rõ ràng hơn sau kỳ đại hội sắp tới của đảng Cộng Sản Việt Nam. Trong lúc này, từ giới chính khách đến giới truyền thông, mọi người chỉ biết “chờ và xem.”

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Ngả mũ với ông Phùng Quang Thanh

Ngô Nhân Dụng
Trong cuốn Đèn Cù, nhà văn Trần Đĩnh kể lần đầu từ Hà Nội vào Sài Gòn ông chứng kiến một cảnh khiến ông suy nghĩ: Một đám tang đi qua, một thanh niên đứng bên đường dừng chân lại, bỏ mũ, cúi đầu. Lâu lắm Trần Đĩnh mới được thấy cảnh đó, dấu hiệu của một xã hội biết giáo dục trẻ em.

Trước năm 1954 trẻ em ở Hà Nội vẫn được dậy cử chỉ đó: Dừng chân, ngả mũ, để tỏ lòng kính trọng thi hài người đã chết. Vì vậy, khi viết về chuyện Tướng Phùng Quang Thanh đã chết hay chưa chết, đang gây dư luận sôi nổi, tôi xin theo lời các thầy giáo, huynh trưởng dạy mình từ thuở bé. Xin bỏ mũ trước. Nếu ông đã qua đời tôi cũng không thất lễ.

Trước khi nghe tin ông Phùng Quang Thanh tạ thế, nhà báo Phạm Chí Dũng đã nhận xét trên Người Việt rằng những tin tức trong vụ ông đi chữa bệnh quá nhiều mâu thuẫn. Báo chí nhà nước Việt Nam đăng hình Tướng Phùng Quang Thanh chụp với bộ trưởng Quốc Phòng Pháp, nhưng không loan tin tướng Thanh nói chuyện gì, ông làm gì ở Pháp. Phạm Chí Dũng nhận xét trong cả tháng qua, “Trên báo Nhân Dân và đặc biệt Quân Đội Nhân Dân là cơ quan ngôn luận của Bộ Quốc Phòng Việt Nam, người ta không thể tìm ra dấu vết hiện diện của viên tướng bốn sao.” Và, “Cùng với sự thay đổi đồng loạt hai cấp tướng tư lệnh và chính ủy của Bộ Tư Lệnh Quân Khu Thủ Đô vào đầu Tháng Bảy, 2015, tức chỉ ít ngày sau khi tướng Phùng Quang Thanh - người chịu trách nhiệm chỉ đạo trực tiếp khối đơn vị vài chục ngàn quân này - bị MIA.” MIA nói về các quân nhân mất tích, không tìm thấy xác.

Ngày Chủ Nhật, 19 Tháng Bảy, hãng thông tấn Đức Deutsche Presse-Agentur (DPA) loan tin ông Thanh đã qua đời tại bệnh viện Georges Pompidou vào tối hôm đó; họ dựa vào một nguồn tin của một nhân viên Bộ Quốc Phòng. Ngày hôm sau, Trung Tướng Võ Văn Tuấn, phó Tổng Tham Mưu Trưởng nói với các báo trong nước rằng tin này sai. Tướng Võ Văn Tuấn xác định, “...tôi gọi điện thoại cho đại tướng Phùng Quang Thanh vào chiều 19 tháng 7. Đại tướng nói chuyện nghe giọng rất thoải mái...” Hôm sau, hãng DPA làm tin mới, cho biết chính quyền Việt Nam đã cải chính rằng Tướng Phùng Quang Thanh còn sống. Nhưng hãng thông tấn này không viết một lời nào phủ nhận tin đã viết hôm trước. Bản DPA tin mới còn nói thêm rằng họ nhận được tin ông qua đời “từ bệnh viện,” để người đọc thấy chắc chắn hơn.

Tướng Võ Văn Tuấn dùng các báo nhà nước để cải chính bản tin của DPA. Nhưng tại sao không cải chính một cách mạnh mẽ, rõ ràng hơn? Tin ông bộ trưởng Quốc Phòng một nước còn sống hay đã chết là một tin khá quan trọng. Nếu sai, đáng lẽ chính Bộ Quốc Phòng phải cải chính, trong một cuộc họp báo; ít nhất cũng làm một bản thông cáo chính thức. Báo trong nước chỉ thuật lời Tướng Võ Văn Tuấn mà không kèm theo một bài phỏng vấn đầy đủ để được nghe ông trả lời rất nhiều thắc mắc trong dư luận cả tháng nay. Đúng như nhà báo Phạm Chí Dũng kết luận, đây là một “Thất bại của hệ thống tuyên giáo đảng.” Cả Đảng Cộng Sản bị mất mặt vì lúng túng ném ra những thông tin chậm trễ, mơ hồ, trái nghịch, chỉ trong câu chuyện một người “mất tích” không biết chết hay sống.

Nhưng “hệ thống tuyên giáo đảng” bị tội oan. Cảnh “tang gia bối rối” diễn ra do nhiều nguyên nhân phức tạp, ngoài khả năng của các ông bà tuyên giáo. Người sống bên ngoài cũng thấy trong vụ này tất cả Đảng Cộng Sản đang lúng túng, có thể nói cả nhóm lãnh đạo đang “kẹt cứng.” Chắc họ không biết phải “xử lý tình huống” cách nào, cho nên đành lộ cảnh tang gia bối rối, mất mặt cũng đành chịu.

Guồng máy tuyên truyền của đảng phơi bày tình trạng lúng túng này. Mạng Infonet và báo Một Thế Giới cho biết Tướng Võ Văn Tuấn đã “khẳng định” rằng hãng tin DPA đã “xin đính chính.” DPA không hề đính chính; cho nên, hoặc ông Võ Văn Tuấn nói dối, hoặc có người ra lệnh các báo trên nói dối. Thông tấn xã của nhà nước còn trâng tráo hơn, viết một điều hoàn toàn sai sự thật, “DPA đã cải chính về sức khỏe Bộ Trưởng Phùng Quang Thanh.”

Các thủ đoạn che đậy, gian dối, “cả vú lấp miệng em” trên đây đã tập huấn lâu đời. Thói quen nói láo đã thấm vào xương tủy Đảng Cộng Sản từ thời còn làm báo in thạch bản ở trong hang. Nhưng đem dùng thủ đoạn đó trong thời đại Internet, năm 2015, chỉ khiến người ta khinh. Bởi vì nếu Đảng Cộng Sản muốn chứng tỏ ông Phùng Quang Thanh còn sống thì họ chỉ cần trưng ra một tấm hình ông đang cầm trên tay tờ báo Le Monde xuất bản ngày 19 hay 20 Tháng Bảy - dù ông đủ sức khỏe đọc được báo hay không! Giản dị hơn nữa, là nhờ vợ con ông lên tiếng cải chính với hãng DPA - mà theo tin của nhà nước thì gia đình ông đã qua Paris săn sóc ông từ tháng trước. Tại sao cả gia đình không ai nói một câu nào khi cả nước bàn tán không biết chồng, cha của họ đã chết hay chưa? Họ đâu phải người rưng nước lã?

Không ai trong Đảng Cộng Sản cải chính theo cách giản dị này. Lý do vì nó nằm ngoài khả năng cả đám người cầm quyền. Họ không thể làm gì được. Hoặc vì ông Thanh đã qua đời rồi. Hoặc vì gia đình ông không cộng tác. Hoặc cả hai.

Nhưng nếu Tướng Phùng Quang Thanh thật đã mãn phần thì tại sao guồng máy Đảng Cộng Sản lại phải lúng túng che đậy, để người dân coi càng khinh, càng ghét như vậy?

Người ngoài không biết đủ các tin tức trong đảng của họ với nhau, cho nên chúng ta chỉ có thể suy diễn, dựa trên các sự kiện được tiết lộ.

Một điều ai cũng biết là trong cuộc tranh giành quyền lực chuẩn bị đại hội đảng sang năm, họ đang đấu đá nhau tận mạng. Riêng ông Phùng Quang Thanh và người con, một đại tá chủ tịch nhiều công ty, đã bị lôi lên mạng phơi bày đủ các trò lạm quyền, tham nhũng làm giàu. Ông Thanh cũng bị gắn cho nhãn hiệu một người “thân Trung Quốc.”

Ở Việt Nam, muốn chửi ai thì cứ bảo người đó theo đuôi Trung Cộng. Nhưng chúng ta biết rằng chẳng ai trong Đảng Cộng Sản dám cưỡng lại Trung Cộng. Toàn thể Đảng Cộng Sản Việt Nam đã bị Trung Cộng thao túng từ Hội Nghị Thành Đô 1992 đến giờ; không ai có thể ngoi lên ghế lãnh đạo nếu cưỡng lại. Nước Việt Nam bị Trung Cộng lấn áp đủ mặt: kinh tế, quốc phòng, chính trị, ngoại giao. Nguyễn Tấn Dũng mới lên chức thủ tướng đã dâng cho Trung Cộng món quà Bô Xít. Trương Tấn Sang qua Tàu ký thỏa ước hợp tác đủ trăm ngành không thiếu thứ gì. Từ khi Nguyễn Tấn Dũng làm thủ tướng thì hầu hết các món thầu lớn đều lọt vào tay các công ty Trung Cộng, đường sá, phi trường, hầm mỏ tới điện lực. Nguyễn Phú Trọng, Phùng Quang Thanh chưa ai lập được những công trạng đáng khen thưởng như vậy.

Tất cả Đảng Cộng Sản Việt Nam “thân Trung Quốc,” không anh nào thoát được, nếu muốn sống. Họ tranh giành nhau các chức quyền trong đảng; nhưng không thể bước ra ngoài vòng giới hạn Bắc Kinh vẽ ra. Nằm trong cái giọ đó, các con cua tha hồ chen chân đạp lên nhau. Lâu lâu có anh được phép nói những lời bất kính với thiên triều cho dân chúng xì hơi. Không sao, miễn khi làm việc anh cứ làm theo ý các cố vấn. Lâu lâu có anh lại nói một lời nịnh bợ, vì cả Bộ Chính Trị đang lo bị thiên triều “hiểu lầm.” Trò phân biệt hai phe, “thân Trung Quốc” và “chống Trung Quốc” là một ảo tưởng bày ra để ru ngủ dân chúng. Nhiều người cũng thích được ru ngủ, vì nghe sướng tai hơn sự thật. Họ có thể tự an ủi rằng trên đầu mình không phải chỉ toàn những thằng bán nước ngồi.

Vì vậy, các vụ đánh Phùng Quang Thanh trên mạng gần đây hoàn toàn do tranh giành quyền lực ở bên trong đảng với nhau. Nếu ông Thanh qua đời vì bệnh nan y thì cuộc giành giựt này vẫn tiếp tục, chắc còn gay go hơn. Bởi vì một người chết đi để lại nhiều thứ mà những người còn sống sẽ được dịp chia nhau. Nhiều đám tang từng bị trì hoãn, chỉ vì họ không biết chia chác di sản ra sao. Xác Tề Hoàn Công để thối trong cung, vì ba ngàn năm trước bên Tàu chưa có phòng lạnh.

Trong số di sản ông Thanh để lại, nếu ông qua đời, có các chức vụ ông đã giữ và tài sản ông nắm trong tay. Những người còn sống chưa “nhất trí” được với nhau sẽ chia chác ra sao. Tướng Phùng Quang Thanh rất nhiều quyền, Bộ Chính Trị, quân ủy, chính phủ; ông còn được coi là người giàu nhất nước Việt Nam, chỉ thua Nguyễn Tấn Dũng. Ông ký giấy mua các thứ vũ khí, máy bay, chiến hạm, tầu ngầm, vân vân. Công nghệ quốc phòng Nga nổi tiếng là bao giờ cũng hậu tạ các khách hàng. Ông giành toàn quyền sử dụng đất đai của quân đội hay được quân đội trưng dụng, rộng bát ngát khắp nước và nằm trên nhiều địa điểm kinh tế “chiến lược.” Nhiều khu đã được thương mại hóa hay biến thành cư xá sang trọng, con trai ông thường trúng thầu. Những tài sản này trị giá nhiều tỷ Mỹ kim, còn tiếp tục sinh lợi hàng thế kỷ nữa, chưa biết ai sẽ hưởng.

Trong các xã hội bình thường có luật pháp thì gia đình ông Phùng Quang Thanh sẽ được hưởng gia tài của ông. Nhưng xã hội Việt Nam không bình thường, từ cách tạo dựng tài sản, thủ đắc cho tới sử dụng tài sản. Đây có thể là một lý do khiến gia đình ông, nhất là những người đang ở Paris bên cạnh ông, trong mấy ngày qua không cộng tác với bộ máy tuyên truyền của đảng Cộng sản. Họ chưa biết Đảng Cộng Sản sẽ chia cho họ thế nào khi ông Phùng Quang Thanh ra đi, hay đã qua đời rồi. Đảng Cộng Sản cũng chưa trả lời dứt khoát được, vì ngay việc phân chia giữa họ với nhau cũng chưa ngã ngũ. Việc chia nhau di sản quyền và tiền ông Phùng Quang Thanh để lại cũng liên quan đến tất cả những cuộc mặc cả khác, trước khi đảng họp đại hội năm tới. Dù sao, khi nào được tin ông Phùng Quang Thanh qua đời chúng tôi sẽ ngả mũ lần nữa, cầu nguyện và mừng ông thoát được cõi ta bà đại hội này.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Ngả mũ với 'thi hài' Phùng Quang Thanh

Ngô Nhân Dụng
Trong cuốn Đèn Cù, nhà văn Trần Đĩnh kể lần đầu từ Hà Nội vào Sài Gòn ông chứng kiến một cảnh khiến ông suy nghĩ: Một đám tang đi qua, một thanh niên đứng bên đường dừng chân lại, bỏ mũ, cúi đầu. Lâu lắm Trần Đĩnh mới được thấy cảnh đó, dấu hiệu của một xã hội biết giáo dục trẻ em.

Trước năm 1954 trẻ em ở Hà Nội vẫn được dậy cử chỉ đó: Dừng chân, ngả mũ, để tỏ lòng kính trọng thi hài người đã chết. Vì vậy, khi viết về chuyện Tướng Phùng Quang Thanh đã chết hay chưa chết, đang gây dư luận sôi nổi, tôi xin theo lời các thầy giáo, huynh trưởng dạy mình từ thuở bé. Xin bỏ mũ trước. Nếu ông đã qua đời tôi cũng không thất lễ.

Trước khi nghe tin ông Phùng Quang Thanh tạ thế, nhà báo Phạm Chí Dũng đã nhận xét trên Người Việt rằng những tin tức trong vụ ông đi chữa bệnh quá nhiều mâu thuẫn. Báo chí nhà nước Việt Nam đăng hình Tướng Phùng Quang Thanh chụp với bộ trưởng Quốc Phòng Pháp, nhưng không loan tin tướng Thanh nói chuyện gì, ông làm gì ở Pháp. Phạm Chí Dũng nhận xét trong cả tháng qua, “Trên báo Nhân Dân và đặc biệt Quân Đội Nhân Dân là cơ quan ngôn luận của Bộ Quốc Phòng Việt Nam, người ta không thể tìm ra dấu vết hiện diện của viên tướng bốn sao.” Và, “Cùng với sự thay đổi đồng loạt hai cấp tướng tư lệnh và chính ủy của Bộ Tư Lệnh Quân Khu Thủ Đô vào đầu Tháng Bảy, 2015, tức chỉ ít ngày sau khi tướng Phùng Quang Thanh - người chịu trách nhiệm chỉ đạo trực tiếp khối đơn vị vài chục ngàn quân này - bị MIA.” MIA nói về các quân nhân mất tích, không tìm thấy xác.

Ngày Chủ Nhật, 19 Tháng Bảy, hãng thông tấn Đức Deutsche Presse-Agentur (DPA) loan tin ông Thanh đã qua đời tại bệnh viện Georges Pompidou vào tối hôm đó; họ dựa vào một nguồn tin của một nhân viên Bộ Quốc Phòng. Ngày hôm sau, Trung Tướng Võ Văn Tuấn, phó Tổng Tham Mưu Trưởng nói với các báo trong nước rằng tin này sai. Tướng Võ Văn Tuấn xác định, “...tôi gọi điện thoại cho đại tướng Phùng Quang Thanh vào chiều 19 tháng 7. Đại tướng nói chuyện nghe giọng rất thoải mái...” Hôm sau, hãng DPA làm tin mới, cho biết chính quyền Việt Nam đã cải chính rằng Tướng Phùng Quang Thanh còn sống. Nhưng hãng thông tấn này không viết một lời nào phủ nhận tin đã viết hôm trước. Bản DPA tin mới còn nói thêm rằng họ nhận được tin ông qua đời “từ bệnh viện,” để người đọc thấy chắc chắn hơn.

Tướng Võ Văn Tuấn dùng các báo nhà nước để cải chính bản tin của DPA. Nhưng tại sao không cải chính một cách mạnh mẽ, rõ ràng hơn? Tin ông bộ trưởng Quốc Phòng một nước còn sống hay đã chết là một tin khá quan trọng. Nếu sai, đáng lẽ chính Bộ Quốc Phòng phải cải chính, trong một cuộc họp báo; ít nhất cũng làm một bản thông cáo chính thức. Báo trong nước chỉ thuật lời Tướng Võ Văn Tuấn mà không kèm theo một bài phỏng vấn đầy đủ để được nghe ông trả lời rất nhiều thắc mắc trong dư luận cả tháng nay. Đúng như nhà báo Phạm Chí Dũng kết luận, đây là một “Thất bại của hệ thống tuyên giáo đảng.” Cả Đảng Cộng Sản bị mất mặt vì lúng túng ném ra những thông tin chậm trễ, mơ hồ, trái nghịch, chỉ trong câu chuyện một người “mất tích” không biết chết hay sống.

Nhưng “hệ thống tuyên giáo đảng” bị tội oan. Cảnh “tang gia bối rối” diễn ra do nhiều nguyên nhân phức tạp, ngoài khả năng của các ông bà tuyên giáo. Người sống bên ngoài cũng thấy trong vụ này tất cả Đảng Cộng Sản đang lúng túng, có thể nói cả nhóm lãnh đạo đang “kẹt cứng.” Chắc họ không biết phải “xử lý tình huống” cách nào, cho nên đành lộ cảnh tang gia bối rối, mất mặt cũng đành chịu.

Guồng máy tuyên truyền của đảng phơi bày tình trạng lúng túng này. Mạng Infonet và báo Một Thế Giới cho biết Tướng Võ Văn Tuấn đã “khẳng định” rằng hãng tin DPA đã “xin đính chính.” DPA không hề đính chính; cho nên, hoặc ông Võ Văn Tuấn nói dối, hoặc có người ra lệnh các báo trên nói dối. Thông tấn xã của nhà nước còn trâng tráo hơn, viết một điều hoàn toàn sai sự thật, “DPA đã cải chính về sức khỏe Bộ Trưởng Phùng Quang Thanh.”

Các thủ đoạn che đậy, gian dối, “cả vú lấp miệng em” trên đây đã tập huấn lâu đời. Thói quen nói láo đã thấm vào xương tủy Đảng Cộng Sản từ thời còn làm báo in thạch bản ở trong hang. Nhưng đem dùng thủ đoạn đó trong thời đại Internet, năm 2015, chỉ khiến người ta khinh. Bởi vì nếu Đảng Cộng Sản muốn chứng tỏ ông Phùng Quang Thanh còn sống thì họ chỉ cần trưng ra một tấm hình ông đang cầm trên tay tờ báo Le Monde xuất bản ngày 19 hay 20 Tháng Bảy - dù ông đủ sức khỏe đọc được báo hay không! Giản dị hơn nữa, là nhờ vợ con ông lên tiếng cải chính với hãng DPA - mà theo tin của nhà nước thì gia đình ông đã qua Paris săn sóc ông từ tháng trước. Tại sao cả gia đình không ai nói một câu nào khi cả nước bàn tán không biết chồng, cha của họ đã chết hay chưa? Họ đâu phải người rưng nước lã?

Không ai trong Đảng Cộng Sản cải chính theo cách giản dị này. Lý do vì nó nằm ngoài khả năng cả đám người cầm quyền. Họ không thể làm gì được. Hoặc vì ông Thanh đã qua đời rồi. Hoặc vì gia đình ông không cộng tác. Hoặc cả hai.

Nhưng nếu Tướng Phùng Quang Thanh thật đã mãn phần thì tại sao guồng máy Đảng Cộng Sản lại phải lúng túng che đậy, để người dân coi càng khinh, càng ghét như vậy?

Người ngoài không biết đủ các tin tức trong đảng của họ với nhau, cho nên chúng ta chỉ có thể suy diễn, dựa trên các sự kiện được tiết lộ.

Một điều ai cũng biết là trong cuộc tranh giành quyền lực chuẩn bị đại hội đảng sang năm, họ đang đấu đá nhau tận mạng. Riêng ông Phùng Quang Thanh và người con, một đại tá chủ tịch nhiều công ty, đã bị lôi lên mạng phơi bày đủ các trò lạm quyền, tham nhũng làm giàu. Ông Thanh cũng bị gắn cho nhãn hiệu một người “thân Trung Quốc.”

Ở Việt Nam, muốn chửi ai thì cứ bảo người đó theo đuôi Trung Cộng. Nhưng chúng ta biết rằng chẳng ai trong Đảng Cộng Sản dám cưỡng lại Trung Cộng. Toàn thể Đảng Cộng Sản Việt Nam đã bị Trung Cộng thao túng từ Hội Nghị Thành Đô 1990 đến giờ; không ai có thể ngoi lên ghế lãnh đạo nếu cưỡng lại. Nước Việt Nam bị Trung Cộng lấn áp đủ mặt: kinh tế, quốc phòng, chính trị, ngoại giao. Nguyễn Tấn Dũng mới lên chức thủ tướng đã dâng cho Trung Cộng món quà Bô Xít. Trương Tấn Sang qua Tàu ký thỏa ước hợp tác đủ trăm ngành không thiếu thứ gì. Từ khi Nguyễn Tấn Dũng làm thủ tướng thì hầu hết các món thầu lớn đều lọt vào tay các công ty Trung Cộng, đường sá, phi trường, hầm mỏ tới điện lực. Nguyễn Phú Trọng, Phùng Quang Thanh chưa ai lập được những công trạng đáng khen thưởng như vậy.

Tất cả Đảng Cộng Sản Việt Nam “thân Trung Quốc,” không anh nào thoát được, nếu muốn sống. Họ tranh giành nhau các chức quyền trong đảng; nhưng không thể bước ra ngoài vòng giới hạn Bắc Kinh vẽ ra. Nằm trong cái giọ đó, các con cua tha hồ chen chân đạp lên nhau. Lâu lâu có anh được phép nói những lời bất kính với thiên triều cho dân chúng xì hơi. Không sao, miễn khi làm việc anh cứ làm theo ý các cố vấn. Lâu lâu có anh lại nói một lời nịnh bợ, vì cả Bộ Chính Trị đang lo bị thiên triều “hiểu lầm.” Trò phân biệt hai phe, “thân Trung Quốc” và “chống Trung Quốc” là một ảo tưởng bày ra để ru ngủ dân chúng. Nhiều người cũng thích được ru ngủ, vì nghe sướng tai hơn sự thật. Họ có thể tự an ủi rằng trên đầu mình không phải chỉ toàn những thằng bán nước ngồi.

Vì vậy, các vụ đánh Phùng Quang Thanh trên mạng gần đây hoàn toàn do tranh giành quyền lực ở bên trong đảng với nhau. Nếu ông Thanh qua đời vì bệnh nan y thì cuộc giành giựt này vẫn tiếp tục, chắc còn gay go hơn. Bởi vì một người chết đi để lại nhiều thứ mà những người còn sống sẽ được dịp chia nhau. Nhiều đám tang từng bị trì hoãn, chỉ vì họ không biết chia chác di sản ra sao. Xác Tề Hoàn Công để thối trong cung, vì ba ngàn năm trước bên Tàu chưa có phòng lạnh.

Trong số di sản ông Thanh để lại, nếu ông qua đời, có các chức vụ ông đã giữ và tài sản ông nắm trong tay. Những người còn sống chưa “nhất trí” được với nhau sẽ chia chác ra sao. Tướng Phùng Quang Thanh rất nhiều quyền, Bộ Chính Trị, quân ủy, chính phủ; ông còn được coi là người giàu nhất nước Việt Nam, chỉ thua Nguyễn Tấn Dũng. Ông ký giấy mua các thứ vũ khí, máy bay, chiến hạm, tầu ngầm, vân vân. Công nghệ quốc phòng Nga nổi tiếng là bao giờ cũng hậu tạ các khách hàng. Ông giành toàn quyền sử dụng đất đai của quân đội hay được quân đội trưng dụng, rộng bát ngát khắp nước và nằm trên nhiều địa điểm kinh tế “chiến lược.” Nhiều khu đã được thương mại hóa hay biến thành cư xá sang trọng, con trai ông thường trúng thầu. Những tài sản này trị giá nhiều tỷ Mỹ kim, còn tiếp tục sinh lợi hàng thế kỷ nữa, chưa biết ai sẽ hưởng.

Trong các xã hội bình thường có luật pháp thì gia đình ông Phùng Quang Thanh sẽ được hưởng gia tài của ông. Nhưng xã hội Việt Nam không bình thường, từ cách tạo dựng tài sản, thủ đắc cho tới sử dụng tài sản. Đây có thể là một lý do khiến gia đình ông, nhất là những người đang ở Paris bên cạnh ông, trong mấy ngày qua không cộng tác với bộ máy tuyên truyền của đảng Cộng sản. Họ chưa biết Đảng Cộng Sản sẽ chia cho họ thế nào khi ông Phùng Quang Thanh ra đi, hay đã qua đời rồi. Đảng Cộng Sản cũng chưa trả lời dứt khoát được, vì ngay việc phân chia giữa họ với nhau cũng chưa ngã ngũ. Việc chia nhau di sản quyền và tiền ông Phùng Quang Thanh để lại cũng liên quan đến tất cả những cuộc mặc cả khác, trước khi đảng họp đại hội năm tới. Dù sao, khi nào được tin ông Phùng Quang Thanh qua đời chúng tôi sẽ ngả mũ lần nữa, cầu nguyện và mừng ông thoát được cõi ta bà đại hội này.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Putin « buồn » vì Châu Âu phụ thuộc vào Mỹ

Thu Hằng

Image
Tổng thống Nga Vladimir Putin - DR
Trong một cuộc trả lời phỏng vấn được ghi hình với đài Truyền thanh Thụy Sĩ, Tổng thống Nga Vladimir Putin lấy làm tiếc là Châu Âu thiếu độc lập đối với Mỹ. Buổi phỏng vấn đã được thực hiện vào thứ Bẩy vừa qua tại Saint-Petersbourg và được đưa lên website của đài này vào hôm qua, 27/07/2015.




Hãng tin AFP tóm lược bốn vấn đề chính được tổng thống Nga đề cập tới trong buổi phỏng vấn. Thứ nhất, về khả năng một cuộc chiến tranh mới sẽ xảy ra tại Châu Âu, Tổng thống Nga trả lời rằng ông hy vọng là sẽ không có chiến tranh. Song ông « mong muốn là Châu Âu thể hiện rõ ràng hơn khả năng độc lập và chủ quyền của mình ».

Liên quan tới nước Pháp, cũng như mối quan hệ của Nga với NATO, ông hài hước, « nếu để thảo luận các vấn đề nội bộ với các đối tác Châu Âu mà phải tới Washington, thì hơi kỳ cục ».

Thứ hai, ông Putin chỉ trích chính Hoa Kỳ đã khởi động lại cuộc chạy đua vũ trang. Đồng thời, ông cũng cáo buộc việc Hoa Kỳ tự rút khỏi Hiệp ước Chống tên lửa đạn đạo (ABM) vào năm 2002. Hiệp ước này được cho là có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự ổn định chiến lược toàn cầu.

Thứ ba, liên quan tới sự can thiệp của Hoa Kỳ vào nội bộ FIFA, tổng thống Vladimir Putin đánh giá là « không thể chấp nhận được » và cáo buộc Washington đã hành động vì lợi ích riêng.

Ông phát biểu : « Hoa Kỳ từng là ứng viên đang cai giải Cup Bóng đá Thế giới 2022. Anh Quốc, đồng minh thân cận nhất của nước này, là ứng viên cho năm 2018. Cuộc chiến chống tham nhũng mà Mỹ đang tiến hành nhắm vào FIFA khiến ông tự hỏi phải chăng đây không phải là phần tiếp theo của cuộc chiến đối với giải vô địch bóng đá thế giới 2018 và 2022 sao ? Chẳng có trường hợp nào, một quốc gia, dù nhỏ hay lớn, lại đi khắp thể giới để bắt giữ những người mà họ nghi ngờ và tống giam vào nhà tù của mình. »

Bẩy lãnh đạo cấp cao của FIFA đã bị bắt giữ tại thành phố Zurich, Thụy Sĩ, vào tháng Năm vừa qua và đã bị tạm giam theo yêu cầu từ phía Mỹ. Quốc gia này đã mở thủ tục tố tụng pháp lý đối với những nghi phạm tham nhũng trên.

Cuối cùng, được hỏi về sự phát triển của các đảng cực hữu tại Châu Âu, trong đó, một số đảng ủng hộ đường lối chính trị của tổng thống Nga, ông Putin cho rằng dư luận trên thế giới và tại các nước Châu Âu thay đổi nhằm để bảo vệ quyền lợi dân tộc.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Biển Đông: Vì sao Bắc Kinh lại sợ phán quyết của tòa án quốc tế ?

Trọng Nghĩa

Image
Phái đoàn Philippines trong phiên điều trần Tòa án Trọng tài Liên Hiệp Quốc La Haye (Den Haag) - DR
Ngay từ khi Philippines khởi động vụ kiện đường lưỡi bò của Trung Quốc trên Biển Đông trước Tòa án Trọng tài Liên Hiệp Quốc cách nay hai năm rưỡi, Bắc Kinh luôn luôn tuyên bố không tham gia tranh tụng, cũng như không chấp nhận phán quyết của tòa án. Tuy nhiên, theo một số chuyên gia, lập trường cứng rắn được lập đi lập lại đó phản ánh mối quan ngại ngày càng tăng trước khả năng tòa án trọng tài phán quyết bất lợi cho Trung Quốc.




Phải nói là trong tháng Bảy 2015, vụ kiện Trung Quốc đã chuyển qua một giai đoạn thiết yếu, với việc Toà án Trọng tài Thường trực tại La Haye (Hà Lan) mở phiên điều trần đầu tiên, kéo dài một tuần lễ để nghe bên nguyên đơn là Philippines trình bày lập luận của mình. Trung Quốc không tham dự vì đã từ chối tham gia vụ kiện.

Tuy nhiên, vào cuối phiên điều trần hôm 13/07/2015, Tòa án Thường trực đã ra thông cáo xác định rằng mặc dù Trung Quốc từ chối tham gia tranh tụng, nhưng Tòa án cho rằng các thông tin được Bắc Kinh công bố có hiệu lực như một lời « biện hộ » cho quan điểm của Trung Quốc theo đó đơn kiện của Philippines không nằm trong thẩm quyền xét xử của tòa án.

Trên cơ sở đó, Tòa án cho biết sẽ sớm phán quyết về thẩm quyền thụ lý vụ kiện của mình, và trong mọi trường hợp, không muộn hơn cuối năm 2015.

Thông cáo trên đây của Tòa án La Haye đã khiến Trung Quốc hết sức tức tối. Ngay hôm sau, một phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã tái khẳng định rằng : « Trung Quốc sẽ không bao giờ chấp nhận bất kỳ giải pháp áp đặt nào hay một cách xử lý do một bên thứ ba đơn phương ấn định ».

Bất chấp các tuyên bố lập trường của Trung Quốc, ngày 21/07 vừa qua, trong một phát biểu được đánh giá là rất quan trọng vì thể hiện thái độ can dự tích cực của Mỹ vào hồ sơ Biển Đông, Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ đặc trách châu Á Daniel Russel đã cho rằng nếu Tòa án La Haye tuyên bố có thẩm quyền thụ lý vụ kiện của Philippines, rồi sau đó ra phán quyết về vụ kiện, thì : « Cả Philippines lẫn Trung Quốc có nghĩa vụ tuân thủ tất cả các điều đã được quyết định… dù muốn hay không muốn ».

Tuyên bố của ông Russel rõ ràng là đã làm cho Trung Quốc tức tối. Một phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc sau đó đã tố cáo Mỹ hành xử như « một trọng tài đứng bên ngoài tòa án » và định hướng cho các thẩm phán.

Theo ông Tần Gia Thông (Frank Ching), một nhà báo kỳ cựu tại Hồng Kông chuyên theo dõi vấn đề Trung Quốc, thì các phản ứng trên đây là dấu hiệu phản ánh thái độ quan ngại của Bắc Kinh trước các phán quyết của tòa án.

Trước hết, nếu tòa án cho rằng đường lưỡi bò mà Bắc Kinh dùng để khẳng định chủ quyền trên hầu như toàn bộ Biển Đông không phù hợp với luật pháp quốc tế, thì Trung Quốc sẽ bị đẩy vào một tình thế rất khó chịu.

Nếu duy trì lập trường từng được nhắc đi nhắc lại là không tuân thủ phán quyết, Bắc Kinh sẽ bị lên án là một kẻ coi thường luật pháp quốc tế.

Ngoài ra, các nước khác, đặc biệt là Philippines và Việt Nam, sẽ có hậu thuẫn pháp lý quốc tế để đẩy mạnh việc khai thác những khu vực được Tòa án cho là thuộc vùng đặc quyền kinh tế của mình, bất chấp cái gọi là « chủ quyền lịch sử » của Trung Quốc.

Và nếu Bắc Kinh tìm cách sử dụng vũ lực để áp đặt yêu sách chủ quyền tại Biển Đông, các nước khác, trong đó có Hoa Kỳ, sẽ được luật pháp bảo vệ khi phản đối các hành động của Trung Quốc.

Và đấy sẽ là trường hợp cho thấy rõ ý nghĩa quan trọng của tuyên bố của Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Daniel Russel ngày 21/07 khi ông xác định rằng Hoa Kỳ « sẽ không trung lập khi nói đến việc tôn trọng luật pháp quốc tế », và sẵn sàng « hành động mạnh mẽ khi việc tuân thủ luật lệ được đặt ra ».

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Nước cờ sai lầm ở biển Đông
đẩy TQ phải đối đầu với đối thủ mạnh truyền kiếp?

Sự nôn nóng cùng dã tâm "nuốt trọn" Biển Đông đã khiến Bắc Kinh mù quáng và vô hình trung tự tay "tháo xích" cho đối thủ truyền kiếp đầy sức mạnh - Nhật Bản.

Nước cờ sai lầm đẩy TQ phải đối đầu với đối thủ mạnh truyền kiếp?

Diễn biến mới nhất ở Biển Đông

Luật an ninh mới của Nhật Bản đã chứng tỏ Lực lượng phòng vệ nước này giờ đây có tính chất và tầm vóc của một cường quốc quân sự.

Họ, quân đội Nhật Bản, có thể tác chiến bất cứ nơi đâu, với bất cứ ai khi an ninh của Nhật Bản, của đồng minh, bạn bè của Nhật Bản bị tấn công, đe dọa...

Được coi như một “mũi tên đã lắp vào nỏ” thì Sách trắng quốc phòng Nhật Bản năm 2015 đã chỉ rõ “đích” mà mũi tên hướng đến.

Trung Quốc lo ngại, phản đối quyết liệt khi cho rằng, đây là hành động trỗi dậy của “chủ nghĩa quân phiệt Nhật”. Nhưng ngược lại, khu vực châu Á-Thái Bình Dương lại không có thái độ như vậy với sự trỗi dậy, thay đổi của nước Nhật.

Trong tương lai, quân đội Nhật Bản có thể chủ động tham chiến ở nước ngoài dưới sự ra lệnh từ chính Thủ tướng.

Nước cờ chiến lược sai lầm của Trung Quốc

1. Lấy nước sau dùng làm nước đi đầu, tạo điều kiện cho Nhật Bản trỗi dậy

Kể từ năm 2010, khi GDP của Trung Quốc chính thức vượt Nhật Bản cũng là lúc tranh chấp quần đảo Senkaku (Trung Quốc gọi là Điếu Ngư) cũng được Bắc Kinh đẩy lên nấc thang cuối của cuộc xung đột.

Thực ra, quần đảo này, về địa chính trị, quân sự và kinh tế đối với Trung Quốc không đến mức vì nó mà sẵn sàng xung đột, chiến tranh với liên minh hùng mạnh Mỹ-Nhật Bản.

Nhưng chủ nghĩa dân tộc như một con dao 2 lưỡi, quá lạm dụng thì như “cưỡi trên lưng hổ” cho bất cứ chính phủ nào.

Trung Quốc đã trở thành nạn nhân của nó, vì thế, chuyến “ra khơi” đầu tiên để thâu tóm Biển Đông lại bị “mắc cạn” tại quần đảo Senkaku/Điếu Ngư.

Đây là một sai lầm tai hại của Trung Quốc mà từ đó, làm nên chiến thắng vang dội của đảng Dân chủ Tự do (LPD), đưa ông Shinzo Abe - một người được Mỹ ủng hộ - lên làm Thủ tướng Nhật Bản.

Vụ tranh chấp với Bắc Kinh về quần đảo Senkaku/Điếu Ngư vừa qua, Nhật Bản đã rút ra 2 bài học giá trị từ chính Trung Quốc.

Một là, một quốc gia giàu có chỉ là nhất thời, mạnh về quân sự mới là vĩnh viễn. Giàu mà không mạnh thì bị đe dọa hay trấn lột bất cứ lúc nào. Chỉ có sức mạnh quân sự của quốc gia mới bảo đảm tính ổn định, bền vững và phát triển của nền kinh tế.

Hai là, mối hận thù dân tộc của Trung Quốc với Nhật Bản chưa bao giờ mờ phai. Nhật Bản luôn bị Trung Quốc coi là mối "quốc nhục" 100 năm chưa trả hận.

Đảng LPD cầm quyền của ông Shinzo Abe thừa nhận thức sâu sắc 2 bài học này và quyết tâm tái vũ trang, xây dựng một sức mạnh quân sự đủ sức răn đe Trung Quốc, đề phòng liên minh Mỹ-Nhật không có giá trị.

Thực hiện quyết tâm này, về mặt kỹ thuật thì không mấy khó khăn với Nhật Bản khi nước này có một nền công nghiệp tiên tiến hiện đại bậc nhất thế giới.

Tàu ngầm, máy bay, tàu chiến, tên lửa… nói chung là những thứ vũ khí trang bị hiện đại, Nhật Bản muốn là họ tự sản xuất chế tạo.

Tuy nhiên, khó khăn nhất với chính phủ của ông Abe là cơ chế, cụ thể là “điều 9 hiến pháp” đã trói buộc, mà muốn xóa bỏ nó thì tác động của bên ngoài mang yếu tố quyết định.

Trung Quốc đã làm rất tốt vai trò tác động này khi biến mình là nguyên nhân duy nhất, nguy hiểm nhất buộc Nhật Bản phải lựa chọn.

Chỉ chưa đầy 2 năm với từng bước đi cụ thể, chính phủ của ông Shinzo Abe đã có những cách giải thích về “điều 9 Hiến pháp”, tiến tới xóa bỏ bằng Luật an ninh mới.

Không rõ Trung Quốc đi nước cờ sai lầm ở Senkaku/Điếu Ngư hay là Nhật Bản, chỉ biết Mỹ đã lợi dụng Senkaku/Điếu Ngư để “cởi trói” Tokyo, cho phép Nhật Bản tham gia sâu, trực tiếp vào cấu trúc an ninh Tây Thái Bình Dương.

Nhưng, điều mà Trung Quốc không muốn, không bao giờ muốn là đối đầu với Nhật Bản tại Biển Đông bất cứ hình thức nào, thì nó đã và đang đến.


HỘI ĐỒNG QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI (CFR), MỸ



Vấn đề không chỉ nằm ở những tranh chấp lãnh thổ, mà thực chất lý do lớn nhất khiến quan hệ Trung Quốc - Nhật Bản sẽ khó có thể cải thiện là sự mất lòng tin lẫn nhau, sự ngờ vực của một bên đối với các tham vọng trong khu vực của bên còn lại.

Biển Đông, như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng từng cảnh báo: "Chỉ cần một hành động thiếu trách nhiệm, gây xung đột sẽ làm gián đoạn dòng hàng hóa khổng lồ này và nhiều nền kinh tế không chỉ trong khu vực mà cả thế giới đều phải gánh chịu hậu quả khôn lường."

Trong khi đó, sự trùng hợp “lạnh sống lưng” giữa Trung Quốc và Nhật Bản là tuyến hàng hải trên Biển Đông đều là “đường sinh mạng”.

Cho nên, dễ hiểu là, Biển Đông chứ không phải là Senkaku/Điếu Ngư mới là "chiến trường chính" của cuộc đối đầu Trung-Nhật vì tính chiến lược sống còn của đôi bên trên đó.

Rõ ràng Trung Quốc đã đi sai nước cờ khi phải đối đầu với một đối thủ mạnh, truyền kiếp quá sớm là Nhật Bản mà nguy cơ “bị loại khỏi vòng bảng” đang ám ảnh bởi “lời nguyền từ Nhật Bản” không phải là điều không thể.

2.Từ bỏ sách lược “giấu mình chờ thời”

Phải khẳng định chắc chắn dã tâm của Bắc Kinh muốn chiếm trọn Biển Đông, biến Biển Đông thành “ao nhà” là trước sau như một, không bao giờ thay đổi, không sớm thì muộn. Vấn đề là từng giai đoạn, bước đi thực hiện chiến lược này ra sao mà thôi.

Chiến lược thâu tóm Biển Đông của Trung Quốc, đúng ra phải là nước cờ cuối sau khi đã "đuổi" được Mỹ ra khỏi Đông Nam Á và Tây-Thái Bình Dương.

Điều này vốn được thực hiện bằng “cuộc chiến địa chính trị” mà thời gian đầu khi Trung Quốc đang theo đuổi chiến lược “giấu mình chờ thời” ('Tao guang yang hui' Policy) của ông Đặng Tiểu Bình đã tỏ ra rất hiệu quả.

Đáng tiếc, Trung Quốc bị cái tăng trưởng GDP liên tục làm mờ mắt, ảo tưởng sức mạnh của mình và với truyền thống ngạo mạn, bành trướng, Bắc Kinh cho rằng không cần “giấu mình”, muốn “ăn” ngay Biển Đông béo bở mà bất chấp tất cả.

Hành động của Bắc Kinh trong các tuyên bố chủ quyền phi lý, phi pháp và chuẩn bị quân sự để đe dọa sử dụng sức mạnh… đã bộc lộ mục tiêu, ý đồ nguy hiểm nhất quán của họ.

Động thái này đã khiến các quốc gia trong khu vực, bao gồm cả Việt Nam, Nhật Bản… và kể cả Mỹ phản kháng với một tinh thần "ngay và luôn".

Như vậy, vội vàng từ bỏ sách lược “giấu mình chờ thời”, Trung Quốc đã phạm sai lầm lớn về xây dựng thế trận.

Thay vì để Biển Đông tạm thời là một vùng đệm chiến lược, mở rộng vòng vây thì Bắc Kinh lại biến nó thành "vùng nóng", có thể trở thành vùng chiến sự bất cứ lúc nào.

Chính Trung Quốc tự thu hẹp không gian chiến lược của mình.

Nhật Bản có khả năng sát cánh bên Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương trong vai trò một cường quốc quân sự. Điều này đủ khiến Trung Quốc lo sợ? (Ảnh minh họa)

Tại sao Trung Quốc phản đối quyết liệt Nhật Bản tuần tra trên Biển Đông?

Thực ra, việc tuần tra trên biển, đại dương đề bảo đảm an toàn, an ninh hàng hải là vấn đề thường xuyên, không có gì ghê gớm của các cường quốc biển như Mỹ. Và tuần tra trên Biển Đông - một tuyến hàng hải rất quan trọng của thế giới - cũng không ngoại lệ.

Tuy nhiên, Trung Quốc lại ngang nhiên tuyên bố Biển Đông là chủ quyền của họ nên không ai được quyền đưa máy bay, tàu chiến vào vùng này.

Hành động “tuần tra” trên vùng biển mà Trung Quốc gọi là “chủ quyền” bị Bắc Kinh "bóp méo" là thách thức, tuyên chiến.

Đó là lý do vì sao Trung Quốc và Mỹ trở nên căng thẳng quyết liệt đến mức mà báo chí Trung Quốc cho rằng “chiến tranh với Mỹ là không thể tránh khỏi…” khi Mỹ đem máy bay, tàu chiến tuần tra trên Biển Đông.

Và đến khi cả Nhật Bản tuyên bố sẽ “tuần tra” trên Biển Đông với sự hậu thuẫn của Philipines khi dùng căn cứ Rubic tiếp tế hậu cần cho Hải quân Nhật Bản thì Trung Quốc "giãy lên như đỉa phải vôi".

Như vậy, khi Mỹ-Nhật Bản bắt tay "tuần tra" trên Biển Đông thì cán cân so sánh lực lượng ở khu vực Tây Thái Bình Dương mà cụ thể là trên biển Hoa Đông và Biển Đông đã hoàn toàn nghiêng về Mỹ bởi Nhật Bản tham gia vào thế trận với tư cách của một cường quốc kinh tế và quân sự.

Không hồ nghi gì nữa, Tokyo đã sẵn sàng cùng Mỹ tham chiến tại Biển Đông nếu như Trung Quốc có ý đồ chiếm Biển Đông, biến thành “ao nhà”, tức là ngăn chặn, phong tỏa tuyến hàng hải sống còn của Nhật Bản trên vùng biển quốc tế này và đe dọa an ninh Mỹ…

Trước việc “tuần tra” của Mỹ và Nhật Bản trên Biển Đông, Trung Quốc chỉ có thể hoặc là bằng vũ lực, xua đuổi hay đánh đuổi lực lượng tuần tra của Mỹ-Nhật Bản ra khỏi Biển Đông hoặc là tôn trọng luật chơi chung.

Vậy, Trung Quốc chọn lựa thế nào đây?

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả Lê Ngọc Thống, Kỹ sư chỉ huy-Hoa tiêu, nguyên sỹ quan Tham mưu Hải quân.


theo Đại Lộ

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

LẠI LÀ CÂU CHIỆN DŨNG XÀ MÂU PHÁ ĐẢNG! Trích: “ Lúc này, NTD đang trong thế ngàn cân treo sợi tóc. Nếu không nhanh chóng và dứt khoát quyết định xóa sổ đảng Cộng sản, nghiêng hẳn về thế giới tự do, lấy lợi ích quốc gia, dân tộc làm đầu thì con cờ Phùng Quang Thanh sẽ được Bắc Kinh dựng dậy xử ngược lại NTD (ứng với lời sấm truyền “Mã đề, Dương cước anh hùng tận!”).

Không kỳ vọng Hoa Kỳ ủng hộ việc thành lập một chính phủ lưu vong của những nhân vật bất đồng chính kiến, xã hội dân sự để đấu tranh về Việt Nam. Nước Mỹ, chỉ khi thấy một VN thoát xác mới thực sự nhận làm đồng minh chiến lược.

Quyết định sinh tử đang thuộc về kẻ đang nắm thực quyền - Thủ tướng đương chức Nguyễn Tấn Dũng! Thời gian dành cho ông không còn nhiều!

( Minh Đàm - Con đường thoát của Nguyễn Tấn Dũng: xóa sổ đảng cộng sản )

DŨNG XÀ MÂU PHÁ ĐẢNG?

Lời dẫn

Ngày 7 tháng giêng, 2014, đứng trước pháp đình Hà Nội, Dương Chí Dũng tử tội trong vụ Vinalines, thình lình ném ra quả bom mắm tôm đáng giá một triệu rưởi đô la xanh Mỹ nhằm vào mặt thứ trưởng côn an thượng tướng Phạm Quý Ngọ.

Lại còn khai tiếp văng miểng vào trùm sò tối cao côn an, Đại tướng Trần Đại Quang, bộ trưởng côn an.

Người ta rất ngạc nhiên khi thấy Đại diện Viện Kiểm sát tối cao mau lẹ đề nghị Hội đồng xử án khởi tố nội vụ. Và ngay hôm sau, Chiều ngày 8 tháng 1 năm 2014 Thẩm phán Trương Việt Toàn thay mặt cho Tòa án Nhân dân Hà Nội và Hội đồng xét xử đã công bố quyết định khởi tố vụ án “ Phạm Quý Ngọ “.

Không có gì đáng ngạc nhiên, nếu biết rằng, phía sau phiên tòa, trong một phòng riêng, Nguyễn Bá Thanh, Trưởng ban Nội chính trung ương, vừa nghe lời khai miệng của Dũng nhỏ vừa đọc lại lời khai viết của Dũng gởi cho ban nội chính trong vụ án của y lúc trước.

Như vậy là rõ ràng phe “ đảng quyền “ đang trên đường tiến tới hạ bệ phe côn an theo như kịch bản hạ bệ Chu Vĩnh Khang – Bạc Hy Lai bên tau.

Trước tình thế như vậy, thủ lĩnh phe “ phủ quyền “ ba Ếch phải làm gì?

Trong bài viết trước “ Ba Dũng dám làm hỗn hông?”, Đực Làng Bưng Cầu xí xọn mách nước: Xúi ba dũng làm đão chánh, tìm đường sống trong nẽo chết.

Mới đây trong bài viết “ Phương Sách Cuối Cùng Để Nguyễn Tấn Dũng Thoát Hiểm “ tác giả Tạ Nhất Linh cũng đi tới kết luận:

“ Nhưng nguy cơ của thủ tướng Ba Dũng không dừng lại ở đó. Nhiệm kỳ 2 của ông ta chỉ còn 2/5. Nhưng hết nhiệm kỳ 2 này, ông ta không phải chỉ đơn giản về vườn. Ông ta phạm quá nhiều tội và có quá nhiều kẻ thù trong giới quyền lực chóp bu. Sau khi ông ta rời ghế thủ tướng, các kẻ thù của ông ta sẽ lôi ông ta ra để xử tội. Ông ta sẽ bị bêu riếu, và con cháu ông ta cũng sẽ không được sống yên, nếu không tìm được cách chạy ra nước ngoài, cách mà trong bối cảnh này bọn họ khó bề thực hiện.

Trong tình hình đó, để thoát hiểm, Ba Dũng chỉ còn đúng một cách: Phá đảng. Bởi nếu còn đảng thì còn quy định về nhiệm kỳ, và ông ta sẽ phải nghỉ hưu, rồi sau đó bị luận tội. Vì vậy, ông ta phải lựa chọn: Thực hiện bước đi phiêu lưu chưa từng có hoặc cúi đầu chịu chết.


Vậy thì ta lại bàn về chuyện “ Dũng Xà Mâu Phá Đảng.”


Dũng xà mâu truất phế đảng?

Hổng biết mắc mớ gì mà lóng rày thiên hạ huyên truyền câu chiện Dũng xà mâu truất phế đảng, gồm thâu lục quốc!?

Khởi đầu là cái ông Như Nguyên viết liền một hơi bốn bài rổn rảng trên DLB hô hoán rằng: Trọng lú, Sang sâu theo Tàu hổng khá. Xà mâu ta theo Mỹ khá hơn. Dzậy thời ta tạm thời phò ba Dê hạ bệ phe ba Tàu, rồi thủng thẳng tính sau. Bề nào thì theo Mỹ, dù nửa đực, nửa cái cũng đở hơn dzô sản chính chiên.

Ở bên Úc có ông thấy dzậy cũng xôm vô hỏi: Phe Nam, phe Bắc, phe nào thắng phe nào thua?

Đực làng Bưng Cầu thấy phát nản, rủa thầm trong bụng: Phe nào thắng, phe nào thua, dân ở giữa vẫn trớt he, è cổ ra chịu trận!

Sở dỉ có dzụ nầy là do tin đồn từ hồi năm kia 2011, khi 11 cuộc biểu tình chống Tàu xâm lăng vang dội, Dũng xà mâu thừa thắng xông lên, lẫm liệt, ngôn: “ Một tấc đất, một tấc biển, quyết không để mất!” Sáng hôm sau Tể ta thức dậy, dòm cái web riêng của Thủ tê ta, màn hình một màu trắng xóa, nhấp nháy lia mà hổng có hình, có chữ gì hết trơn. Hóa ra hôm qua ngôn một câu trật chìa, ngược chủ trương 16 chữ vàng khè, bốn tốt làm nên ban an ninh nội chính xóa tiêu cái web.

Trước cái “ Hội đại” đảng 2011, các quí ông trí thức Đà Lạt muốn nặn ra cái mô hình Goóc bà chớp, Ẻn xin Nga mới bôm y tá ba Dê ta thành “Đệ nhứt Thủ tướng” vùng Châu Á. Chẳng ngờ rằng gã cựu du kích U Minh cũng lưu manh có cở. Nó hứa lèo để các quí ông tưởng bở, ẩm hộ nó lên mần Thủ vỉ nhiệm kỳ hai. Ngồi vững trên ngai rồi, nó sổ toẹt. Nó cho bộ hạ trùm côn an Hà thành Đứ(t) Nhanh sai tiểu yêu Minh cồ đạp vô mặt biểu tình viên Chí Đức. Lại sai đứa em con hoang Chí Vịnh qua Tàu quỳ mọp trước tướng Tàu Mã Hiểu Thiên tâu trình xưng tội: “ Các cuộc “tụ tập đông người” từ nay xin cấm tiệt.”

Vì vậy mà ba Dê lẫy lừng một mình một cỏi. Dư luận mới xù xì: Chi bằng anh cựu du kích Rạch Giá, Nam kỳ thừa thắng xông lên, xóa cha nó cái đảng cướp sạch báo đời, mấn hắt nó cái Tổng Thống cho rồi.

Phe “đảng” Trọng lú nghe thấy đâu chịu để yên mới cấu kết với chủ tịt nước Sang sâu, hè nhau mưu tính hạ bệ Dũng xà mâu, mới bày trò “bắt sâu”, bài trừ tham nhũng trong hội đại TW 6 kêu là chỉnh đốn đảng. Kỳ thật là nhằm hạ bệ Tê tê xà mâu.

Thằng con hoang ba Dê nghe thấy hêt hồn, lật đật đem đầu qua hội chợ Quảng Châu triều bái phó vương thiên triều T(h)ập Bình xin xiết bù lon đít, cam đoan không bao giờ dám dại dột nói càn về dzụ biển đảo nữa.

Cho nên, một khi thiên triều chuẩn y rồi, ba Dê đâu có coi bọn “đảng quyền” Trọng lú, Sang sâu ra gì mới bật đèn xanh cho anh nhà báo Đức Kiên cà khịa Tổng bí Trọng tới bến, và ra luôn cái “ Tuyên bố Công dân Tự do.”

Chưa hết, gần đây có cải web nào đó của phe “ Phủ quyền “ ghi rằng: Quyền lập hiến là của toàn dân chớ hổng phải là văn tự bảo kê, hợp thức hóa cho cái cương lĩnh của đảng, nghĩa là cà khịa vào chính điểm chết của đảng. Lại cũng lấp lững rằng: Chánh phủ ( theo ý nghĩa tổng quát bao gồm cả 3 ngành Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp ) do dân bầu ra mới có quyền lãnh đạo chớ không phải “đảng” do đảng tự bầu mà có độc quyền lãnh đạo được.

Vì vậy mà các quí ông “ngại” cách mạng đổ máu mừng húm, coi ba Dũng như một thứ Góc bà chóp, Ẻn xin, made in VN mới lên tiếng rao nam, rao bắc rằng: Giữa hai cái xấu, ta ủng hộ cái ít xấu hơn để rồi lần hồi cải sửa! Giữa cái cùi hủi và xà mâu, ta chọn đở xà mâu, rồi tính sau.

Nói cho thật, các quí ông ngại khó, ngại khổ chỉ ngồi bàn đề vậy thôi chớ đâu có tính cái gì được!

Điều đáng tức cười ở đây là: Một khi, thừa lịnh Dũng xà mâu, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn cặp kè anh cò mồi gốc “ngụy” Đạc Thành lên nghĩa địa Bình An vc trá danh là Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa thắp nhang trước, kế đến cũng tay Mỹ gốc Việt (gian) Đạc Thành làm mai làm mối dẫn ngài Tổng Lãnh Mỹ Lê Thành Ân cũng tới nghĩa địa Bình An thắp nhang.

Vậy là “Mỹ – Ngụy – Việt cọng” ba ta đề huề!


Thấy dzậy, phe ta hào hứng, phen nầy Mỹ nhúng tay vô là có đường tương chao. Hễ xà mâu mà có hơi hám Mỹ là ăn trùm nên quên mất một chiện chết người:

Tòa Đại sứ Mỹ mới dựng lên ở Hà Nội từ năm 1997 tới nay chưa đầy 20 năm. CIA dầu giỏi cách mấy cũng không nắm vững “ sơ yếu lý lịch “ của bộ sậu trùm đảng Ba Đình bằng bọn tình báo Hoa Nam Tàu được. Thái thú chệt Khổng Hựu chẳng những biết rõ lý lịch ba đời của 14 con tra già Ba Đình mà còn biết rõ cả cá tính của từng đứa nữa. Đơn cử một ví dụ: Lê Khả Phiêu thích phiêu phiêu, qua Bắc kinh, nó cho gái là tiêu.

Bởi vậy cho nên việc Dũng xà mâu có muốn làm hỗn, hạ bệ phe “đảng quyền” cũng đâu phải dễ. Điều kiện tiên quyết là y ta phải bảo toàn mạng sống cho tới ngày cử sự. Chỉ kể sơ sơ vài ba nguy cơ cổ điển như sau:

Một là “tai nạn giao thông”. Gương thiên tử Tập Cận Bình cò sờ sờ đó. Mới có hạ bệ cặp bài trùng an ninh Chu Vĩnh Khang và Bạc Hy Lai mà bị đụng xe vẹo xương sống, may mà hổng chết.

Hai là uống rượu, uống trà. Vụ nầy cũng có tiền lệ rành rành. Thời cha già hồ, chủ tịt Quốc hội Dương Bạch Mai bướng bỉnh không nghe lời đảng, giờ giải lao ngồi uống tách trà bỗng lăn đùng ra chết.

Ba là ám sát. Ông tiên tri Trần Dần có sờ mu rùa đoán: Năm 2014, ba Dũng bị phe thân Tàu ám sát chết. Chiện bói toán tuy là dị đoan nhưng mà thời cuộc xem chừng có khi trúng.

Bốn là khi ươn yếu trong mình, coi chừng sanh nghề tử nghiệp: Y tá mà chích thuốc bổ thành thuốc độc là cuộc đời hũ hĩ! Cứ coi gương sáu Kiệt tự Dân đó mà liệu.

Thôi thì cứ coi Dũng ta vừa ma lanh vừa gặp may, giữ được cái mạng để bày binh bố trận hạ bệ đám trùm đảng đi.

Tới đây mới là gay go. Một là phe côn an đâu phải thuần một mối. Ba Dũng chỉ nắm được một phần. Bộ trưởng công an Đại Quang một mớ. Bí thư Hồng Anh phần khác nữa. Hai là một khi lâm trận đã chắc gì đám côn an chỉ quen ăn hiếp dân tay không tấc sắt, đụng phải bộ đội súng đạn giăng giăng mà dám liều mạng chống lại.

Bên phía quân đội thì cũng vậy, năm cha ba mẹ: Bí Trọng lú tiếng là Tổng tư lịnh quân đội mà đã chắc gì nắm được Phùng Quang Thanh chớ đừng nói gì tới Nguyễn Chí Vịnh, nghe nói là cùng cha khác mẹ với Dũng xá mâu.

Cho nên nếu vô phúc thiếu âm đức mà xãy ra đão chánh thì trong cảnh hỗn độn, không biết phe nào là phe nào sẽ bắn nhau lọan xạ.

Lúc ấy thì các quí ông hổng ưa đổ máu sẽ thấy việc các ông ũng hộ Dũng xà mâu hạ bệ đảng là sai lầm chết người, bởi vì máu đổ đó là máu của con em các ông chớ không phải ai khác. Hơn thế nữa, cuộc đổ máu đó là vô ích bởi vì dù Dũng xà mâu thắng hay Trọng lú, Sang sâu thắng, sự thể đất nước còn tồi tệ hơn chớ không khá hơn được.

Vì vậy, con đường dân chủ hóa Đất nước chỉ còn là con đường vận động cách mạng toàn dân giống như các nước từ Đông Âu chí đến Bắc Phi, Trung Đông, ở đâu, thiên hạ cũng làm như vậy.

Các sắc dân Âu Châu, Ả Rập làm được, tại sao sắc dân Lạc Việt, con cháu Bà Trưng, Bà Triệu, Lê Lợi, Quang Trung ngày nay ươn hèn bạc nhược, không có xương sống, không đứng thẳng người lên, chiến đấu diệt loài sói lang cọng sản tham tàn, bứt tung xích xiềng nô lệ?


“ Nó vĩ đại vì các ngươi chấp tay quỳ gối
Nầy công dân! Hãy đứng thẳng người lên “

Nguyễn Nhơn

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image

Thần kinh khốn nạn.

Đó là hệ thống thần kinh mới, vừa được Giáo sư Ngô Bảo Châu, một nhà khoa học của Việt Nam tìm ra sau khi ông Vũ Đức Đam, trên cương vị Phó thủ tướng ký thế cho Thủ tướng chính phủ quyết định chấp thuận cho UBND thành phố Sơn La kinh phí 1.400 tỷ để xây dựng tượng đài Hồ Chí Minh trong thành phố.

GS Ngô Bảo Châu viết trên Facebook của ông: “Trẻ con ăn không đủ no, áo không đủ ấm, sinh hoạt như lũ thú hoang, mà bỏ ra 1400 tỷ để xây tượng đài thì hoặc là khốn nạn, hoặc là thần kinh”.

Rõ ràng là GS Châu chơi chữ. Không thể nào một ông Phó Thủ tướng lại mắc bệnh thần kinh, có nghĩa là tâm thần không bình thường, ký những quyết định đi ngược lại với nhân văn, với đạo lý dân tộc. Ông chỉ có thể “khốn nạn” trong ý thức. Ông không xem trẻ em lê lết trong các mái trường không thua chuồng trại súc vật đầy dẫy tại các tỉnh biên giới mà Sơn La là một điển hình của sự nghèo túng cùng cực. Ông không hề nghĩ tới hàng chục ngàn hộ thiếu ăn quanh năm và đối với họ chỉ cần đủ ăn đã là hạnh phúc. Đối với họ Hồ Chí Minh chỉ là một cục đá được dẽo gọt chỉ để đứng nhìn sự thống khổ, kiệt quệ của họ, những người quanh năm không biết tới một mẩu thịt là gì.

Họ túng đói và lê lết như những con thú hoang trong khi chính phủ của ông Vũ Đức Đam đang phải đối phó với nợ công, phải ăn xin tứ phương từ Mỹ với miếng bánh TPP, từ Trung Quốc với những khoản vay thắt cổ, từ Nhật với ODA dễ nuốt và ngay cả từ Việt kiều hải ngoại với câu chữ không biết hổ thẹn là gì, lại bỏ ra 1.400 tỷ xây một hình tượng đang mục nát trong trái tim quần chúng.

Với những sự thật không thể chối cãi ấy câu hỏi đặt ra tại sao chính phủ lại tiếp tục ký những quyết định trái với lòng dân, trái với lương tri của con người mà bất cứ một chính phủ, một nhà độc tài nào cũng đều tránh né?


Chỉ có thể xem đó là những thái độ khốn nạn. Sự khốn nạn lâu ngày thành nếp nghĩ, thành cách hành xử quen thuộc. Việc coi thường luân thường đạo lý trong huyết quản đã tạo nên một loại gene mới trong cơ chế cộng sản. Loại gene ấy biến thành hệ thần kinh chủ đạo, từ tư duy cho tới phản ứng, nó nằm song song với các hệ thần kinh khác như buồn, vui, giận, ghét. . . hệ thần kinh khốn nạn chỉ khác ở chỗ, nó tự đứng riêng và tự đánh bóng hay tôn tạo chính mình. Nó phản ứng với hệ thần kinh bình thường một cách bất bình thường. Khi nhân dân đói nó cho là nhân dân đủ ăn và GDP của họ ngày một cao hơn. Khi trẻ em thiếu trường, thiếu lớp nó cho đấy chỉ là một bộ phận rất nhỏ trong tổng thể phát triển của đất nước. Khi người dân phản ứng vì

bị đẩy vào đường cùng nó cho là sự xúi giục của bọn phản động và phản ứng của nó không kém bất cứ cách hành xử côn đồ nào.

Thần kinh khốn nạn tự nghĩ ra những kịch bản chỉ có trong giấc mơ của những kẻ sở hữu nó. Nhân dân vẫn yêu thương Hồ chủ tịch và họ có như cầu nhìn tượng của ông thay cơm. Nhân dân hãnh diện khẳng định ông là ánh sáng dẫn họ trên con đường….vạn dặm! Nhân dân sáng suốt tin rằng ông là ngôi sao không hể tắt và có ông thì người dân sẽ thấy đời đáng sống biết dường nào.

Một trong những người sở hữu thần kinh khốn nạn, Trần Bảo Quyến, Phó Giám đốc Sở VH-TT-DL tỉnh Sơn La cả quyết rằng: “sau khi xây dựng tượng đài, Sơn La sẽ có cơ hội quảng bá về du lịch. Đây sẽ là điểm đến thú vị cho người dân đến tham quan và tìm hiểu về lịch sử Tây Bắc nói chung và Sơn La nói riêng. Hiện, Sở cũng đang nâng cấp nhà tù Sơn La và một số địa danh văn hóa khác”.

Nếu chú ý người dân sẽ lo sợ vô cùng khi tượng đài được xây dựng song song với việc nâng cấp nhà tù. Tham quan hay vào đó nằm nếu chống đối đề án thì có gì khác nhau?

Trần Bảo Quyến cho rằng: “Đã là tình cảm của nhân dân Tây Bắc không thể cân đong đo đếm được. Do đó, cá nhân nào nói lãng phí là chưa đúng”.

Đúng, nó không hề là một đề án lãng phí. Nó không lãng phí mà là phá hoại. Phá hoại tới tận đáy cái nền của nhân bản. Tiêu diệt những gì ít ỏi còn lại trong lòng người dân đối với hình ảnh Hồ Chí Minh. Người miền núi vốn không được học hành tử tế họ chỉ biết ông Hồ là người cha già dân tộc theo tuyên truyền của bộ máy Đảng. Sau gần một thế kỷ người cha ấy chia cho đám con ruột là quan lại triều đình xây dựng những công trình để tư túi trên các đề án khốn nạn. Chỉ cần thông minh một chút là họ biết mình bị bóc lột, bị chà đạp tới xương khi con cái họ quần không có mà mặc, gia đình họ không có gạo đủ ăn phải lê lết trên những con ruộng bậc thang, đẹp thì có đẹp nhưng leo trèo trên ấy để kiếm từng hạt lúa thì người Kinh đã bỏ chạy từ xưa.

Chỉ tiếc một điều đồng bào miền Tây Bắc không mấy người có hệ thần kinh khốn nạn như quan đầu tỉnh Trần Bảo Quyến và do đó họ không thể tự bào chữa cho mình lý do họ quá yêu bác Hồ nên nhà nước cần phải dựng tượng của ông cho họ ngắm thay cơm.

Con cá gỗ còn tạm dùng để đánh lừa mình chứ tượng ông Hồ to quá mà lại làm bằng đá thì làm sao đem vào mâm cơm của họ để mà chấm, mà mút cho chén bắp trong bữa ăn thường nhật đậm đà hơn một chút?


Blog Cánh cò

kholam
Posts: 19
Joined: Tue Jan 01, 2013 11:59 pm

Post by kholam »


Đất nước của những tượng đài vô cảm


Nguyễn Văn Tuấn


[img]http://www.danchimviet.info/wp-content/ ... 400-tỷ.jpg[/img]
Phác thảo tượng đài Sơn La 1.400 tỷ

Tượng Đài Chồn ...


Tượng đài ai đặt tại đường
Sát nhân, dâm tặc ... bốn phương chê cười
Vậy mà cái lũ đười ươi
Tôn là sư tổ của người Việt Nam

Bây giờ xây được cứ làm
Dịp may chấm mút gã tham nào từ
Dân tình biết rõ thực hư
Người xô, kẻ bứng loại trừ quỷ ma

Xưa nay vẫn vậy đó mà
Chồn ma thí dụ gần xa một ngày
Luật trời giải xóa nạn tai
Đồng tan đá bể kịch hài... hết bi .

Muôn dân nước Việt cười khì
Nhìn xem chồn cáo ... tranh đi ...vào mồ
Chia xương xẻ cốt lão hồ
Làm bùa chuộc tội ... bi bô: "lỡ lầm" !!!



Hàng loạt địa phương có dự án xây dựng tượng Hồ Chí Minh (1). Có thể xem đây là một phong trào. Phong trào xây thêm tượng vốn đã quá nhiều ở đất nước này. Nhưng ý nghĩa của phong trào này là gì thì không ai rõ. Chỉ có thể giải thích rằng phong trào này xuất phát từ ý tưởng kinh doanh hình tượng lãnh tụ, và như thế là một sự khinh thường người dân đóng thuế.

Tôi có cảm tưởng rằng Việt Nam là một nước có nhiều tượng đài nhất nhì thế giới. Đi từ thành phố đến tỉnh lẻ và làng xã, hầu như chỗ nào cũng có một vài tượng đài. Có nơi có hàng chục tượng lớn nhỏ đủ kiểu. Ví dụ như Hà Nội đã có hơn 30 tượng đài, và người ta đang lên kế hoạch xây thêm hơn 30 tượng khác từ nay đến 2020. Sẽ rất thú vị nếu biết con số thống kê về tượng đài trên cả nước, nhưng với con số trung bình 20 tượng đài/tỉnh, tổng số tượng đài rất có thể lên đến con số hàng ngàn.

Tôi nghĩ người Việt Nam chúng ta từ xưa đã rất quan tâm đến tượng, nhưng ý nghĩa thì không giống như kiểu xây tượng đài ngày nay. Ngày xưa (trước 1975) ở miền Nam cũng có (tuy không nhiều) tượng đài, nhưng đa số là tượng của các anh hùng dân tộc. Chúng ta đã biết ở Sài Gòn có những bức tượng nổi tiếng như Trần Hưng Đạo, Trần Nguyên Hãn, Thánh Gióng, bên cạnh những tượng Phật Thích Ca và Chúa Jesus. Còn ở Rạch Giá có tượng Nguyễn Trung Trực rất nổi tiếng, nghe nói sau 1975 bị "cách mạng" cho xe tải đến kéo sập, nhưng không sập và thế là còn tồn tại đến ngày nay. Người dân xem tượng là cái gì linh thiêng, để tôn thờ; nếu không tôn thờ thì cũng là nơi để tỏ lòng kính trọng. Do đó, dù là đơn giản được cấu trúc bằng đất sét, nhưng không ai dám phá các tượng.

Ở miền Nam sau 1975 thì các tượng đài theo kiểu XHCN mới bắt đầu xâm nhập các miền quê và tỉnh lẻ. Sau 1975, các tượng đài trở thành đối tượng để ngắm nhìn là chủ yếu, chứ không phải để thờ phượng. Hồi còn nhỏ, tôi chưa biết cảm nhận được cái đẹp của những bức tượng đó; phải đến sau 1975 có dịp so sánh với các bức tượng theo motif XHCN (sẽ nói sau) tôi mới thấy cái thẩm mĩ và dân tộc tính của những bức tượng trước 1975.

Cái đặc điểm chủ yếu của các tượng đài Việt Nam là liên quan đến các sự kiện và nhân vật "cách mạng." Phổ biến nhất có lẽ là tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tính đến nay đã có 31 tỉnh thành xây dựng tượng đài Hồ Chí Minh, và sẽ có 58 tượng Hồ Chí Minh sẽ được xây dựng từ nay đến 2030. Đi đâu cũng thấy ông, lúc thì giơ tay chào ai đó, lúc thì mặc cái áo khoác hờ hững, lúc thì nhìn ra sông (như tượng ở Cần Thơ), lúc thì nhìn chằm chằm vào người đối diện, lúc thì ôm trẻ em, v.v. Nói chung là ông xuất hiện khắp nơi và dưới vài kiểu cách. Kế đến là những nhân vật từng là đồng chí hay đàn em của ông. Một số khác là các tượng đài ghi lại một sự kiện xảy ra trong thời chiến tranh, và những tượng này không phải ai cũng biết và hiểu. Nhưng nhìn chung, các tượng đài sau này được dựng lên chủ yếu là để ngắm nhìn, thỉnh thoảng làm nơi chụp hình, chứ không phải là các tượng đài cho sự tôn kính và thờ phượng.

Một đặc điểm nổi bật sau này là rất ít những tượng đài liên quan đến các nhân vật trong lịch sử trước "cách mạng". Tượng Lê Lợi ở bùng binh Cây Gõ đã bị cho "ra đi" không trở lại. Ngoài một số ít tượng đài mà Việt Nam Cộng hòa để lại (như tượng Trần Hưng Đạo, Trần Nguyên Hãn -cũng sắp ra đi-, Thánh Gióng, v.v.) tượng của các anh hùng thời xưa đều bị thay thế bằng các đồng chí của cụ Hồ hay các sự kiện liên quan đến “cách mạng”. Có thể xem sự phân bố tượng đài vừa là một cách tuyên truyền, mà cũng là một cách xem thường và ngạo mạn với lịch sử.

Có thể nói rằng hầu hết các tượng đài “cách mạng” khá thô kệch và thiếu tính dân tộc. Tôi không phải là nhà điêu khắc, nên không biết phân tích sao cho có hệ thống; tôi chỉ biết nói lên cảm nhận cá nhân mà thôi. Cảm nhận của tôi là các bức tượng do các nhà điêu khắc Việt Nam thiết kế mang tính xã hội chủ nghĩa (XHCN). Nói trắng ra là bắt chước. Bắt chước Tàu, bắt chước Nga. Chẳng hạn như hình dưới đây cho thấy cách thiết kế tượng chủ tịch Hồ Chí Minh theo kiểu giơ tay là bắt chước theo tượng của Mao Trạch Đông và Kim Nhật Thành. Các loại tượng khác cũng thế. Vì bắt chước các nước vốn là thủ đô của tuyên truyền, nên các tác phẩm tượng đài của Việt Nam không có tính nghệ thuật cao, nếu không muốn nói là lai căng.

Chẳng những lai căng, mà còn rất thô và rất phi dân tộc tính. Rất nhiều bức tượng nhìn cứ như là những viên đá sắp xếp lại cho có thứ tự, chứ không có hồn. Thử nhìn và so sánh hai bức tượng Trần Hưng Đạo dưới đây sẽ thấy. Thử so sánh bức tượng Trần Nguyên Hãn hay tượng Thánh Gióng và bức tượng gì mà có mấy người chụm lại chung quanh những tảng đá màu trắng ở Sài Gòn sẽ thấy rất khác (xem hình). Một bên là thanh thoát và gần gũi, một bên là nặng chịch, dữ tợn. Hay hãy so sánh với bức tượng "Thương tiếc" (2) trong nghĩa trang Biên Hoà (nay đã bị giật sập) các bạn sẽ thấy tôi so sánh không quá đáng. Còn các nhân vật trong tượng đài XHCN thì thường được cho mập ú (không giống người Việt), lực lưỡng (như ông Tây), tay lúc nào cũng giơ cao, có khi tay cầm búa hoặc lưỡi liềm (rất ghê), có khi tay nắm lại như sắp đánh lộn, có khi tay mang súng trông rất hung dữ như sắp bắn ai, mặt thì lúc nào cũng vênh váo, v.v. Tóm lại, những bức tượng đó chẳng giống thần thái của người Việt chút nào cả.

Hay có khi họ tạc tượng Lý Thái Tổ (ngoài Hà Nội) thì lại trông giống một ông vua Tàu nào đó, như Tần Thuỷ Hoàng! Bức tượng Lý Thái Tổ còn làm cho ông già đến tuổi 60 trong khi ông dời đô về Thăng Long mới 36 tuổi. Có thể nói rằng những công trình tượng đài đang ngự trị ở Việt Nam ngày nay, dưới cái nhìn của một người bình thường, là những hình tượng thô kệch, xa lạ, vô hồn, phi dân tộc, và lai căng.

Các tượng đài ở Việt Nam còn rất kém chất lượng. Chẳng đâu xa, mới đây bức tượng lớn mới được khánh thành gọi là “Mẹ Việt Nam Anh Hùng” bị hư hỏng do… sét đánh. Bức tượng ở Quảng Ninh trị giá 25 tỉ đồng khi bị sét đánh mới tiết lộ chất lượng chẳng ra gì. Tượng Phật mới xây thì bị sập. Ngay cả tượng đài ở Điện Biên Phủ (41 tỉ đồng) cũng cùng chung số phận bị hư hỏng dù chỉ mới khánh thành, thậm chí còn bị rút ruột 30%. Nói chung là bất cứ tượng đài hoành tráng nào do Việt Nam xây đều có vấn đề về phẩm chất.

Chính vấn đề phẩm chất đặt câu hỏi lợi ích đằng sau phong trào xây dựng tượng Hồ Chí Minh. Người ta phải hỏi ông cụ Hồ đã có quá nhiều tượng trên khắp nước, lí do gì để xây thêm cho ông. Chẳng có lí do nào thuyết phục cả, ngoài lí do lợi ích nhóm hay lợi ích cá nhân. Ai cũng biết ở Việt Nam có xây dựng là có “chia chác”, có lại quả (kickback), hay nói trắng ra là có tham nhũng. Xây càng nhiều, lại quả càng cao, như một bài báo rất sinh động vừa phản ảnh (3).

Thật ra, nhìn toàn cảnh, phong trào xây tượng Hồ Chí Minh chỉ là một nhánh trong phong trào bao quát hơn. Đó là phong trào xây dựng viện bảo tàng, Văn Miếu, và đài tưởng niệm. Có lẽ khởi đầu là mấy đền thờ của những nhân vật như Lê Đức Thọ, Võ Văn Kiệt, Phạm Hùng, Nguyễn Văn Linh, v.v. dần dần lan sang đền thờ của ba má ông cụ Hồ. Sau đó là trào lưu xây viện bảo tàng, có khi lên đến hàng vạn tỉ đồng. Sau viện bảo tàng là đến văn miếu, dù người chủ trương xây chưa biết thờ ai! Sau văn miếu, như chúng ta thấy là đến tượng chủ tịch Hồ Chí Minh. Tất cả là một dòng chảy về xây dựng, nó y chang như trào lưu bên Tàu, nơi mà tượng đài và khu du lịch được xây dựng rất nhiều.

Tôi đếm sơ qua những tượng đài và đền miếu xây trong thời gian gần đây (ở Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Tuyên Quang, Hà Giang, Hà Tĩnh, Nghệ An, v.v.) thì số tiền bỏ ra đã hơn 1300 tỉ đồng (tức khoảng 65 triệu USD). Ngay Sơn La đòi xây tượng Hồ Chí Minh với cái giá 1400 tỉ đồng thì không ngạc nhiên ai nghe tin cũng sốc. Càng sốc hơn khi Sơn La là một trong những tỉnh nghèo nhất ở Việt Nam, với tỉ lệ nghèo là 64%. Thật ra, các tỉnh vừa kể đều là những tỉnh nghèo hay rất nghèo. Ví dụ như Hà Giang và Điện Biên có tỉ lệ nghèo lên đến 71%. Nghèo mà đòi xây tượng nghìn tỉ đồng thì người bình thường nhất cũng nghĩ đến cái lợi ích đằng sau việc xây tượng.

Điều đáng nói là những lợi ích đó đã làm mờ mắt những người có quyền chức. Tại sao họ lại nghĩ đến việc xây tượng đài trong khi đất nước còn nghèo và người dân còn đói. Như Quảng Nam, mới xây xong tượng đài hoành tráng là ngay sau đó phải đi xin viện trợ gạo để cứu đói. Nghệ An và Hà Tĩnh cũng thế, cũng xin gạo trong khi có những dự án lớn nhằm vinh danh những người trong gia đình của ông cụ Hồ! Tại sao các quan chức không cảm thấy động lòng khi một em bé 10 tuổi ở Hà Tĩnh vì đói quá mà phải chết trên đường từ trường học về nhà (5). Đừng nói một cách vô cảm rằng đó là trường hợp cá biệt. Phong trào xây tượng đài nó chẳng những thể hiện cái tâm của các quan chức có vấn đề, cái tầm của họ quá thấp, mà còn thể hiện một sự ngạo mạn của họ trước những người dân nghèo đóng thuế để nuôi dưỡng họ. Những tượng đài như Sơn La đang có dự án xây dựng, nếu thực hiện, chỉ có chức năng chính là lưu lại cho đời sau một chứng tích của một trào lưu vô cảm từng một thời ngự trị trên đất nước này.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

CHỐNG CỘNG,
MỘT THÔI THÚC YÊU NƯỚC
HAY MÙ QUÁNG HẬN THÙ?


ĐỊNH NGUYÊN


Chống cộng là sinh hoạt nổi bật nhất của người Việt tỵ nạn. Tinh thần chống cộng nơi người Việt tỵ nạn, tuy tiềm tàng nhưng còn rất mạnh. Tiếc là không có ai đủ tài để khơi dậy và kết hợp tinh thần ấy nên sự chống cộng tuy ồn ào nhưng không có hiệu quả. Ngoài những hoạt động chống cộng có sách lược của các đảng phái, các tổ chức chính trị, điều người viết muốn lạm bàn cùng đồng hương các giới về sự chống cộng của một số ít hội đoàn, đặc biệt nhất là sự “chống cộng tự do” của những cá nhân trong tập thể người Việt nước ngoài. Họ chống cộng theo bản năng, không cần có đồng minh, không cần để ý đến thời thế, đến tình hình chính trị trong giai đoạn cực kỳ phức tạp như hiện nay. “Con người là một con vật chính trị” (Aristote), ai cũng có quyền có lập trường và hành vi chính trị. Nhưng thể hiện hành vi chính trị mà lại không có ý thức chính trị đi kèm chỉ là sự tự hại. Không ai phản đối sự chống cộng nhưng cách hô hào và mục đích của họ có thể làm cho người ta nghĩ họ đang bị dẫn dắt bởi sự hận thù, không phải là sự thôi thúc của lòng yêu nước.

Chống cộng như thế có thể bị phản ứng ngược.

Năm ngoái, tôi đã viết bài “Loạn” để nói lên một khía cạnh phức tạp của sự chống cộng: sự chụp mũ bừa bãi và vô tội vạ đến nổi dân Việt tỵ nạn, những ngưới có máu mặt, ít còn ai là người Quốc Gia. Nay, tôi nêu lên vài khía cạnh vô lý khác của sự chống cộng: chống cộng có định hướng, đó là “định hướng Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) và Cờ Vàng”. Theo “định hướng” nầy, ai chống cộng mà không tôn xưng VNCH và vinh danh lá Cờ Vàng là “chống cộng cuội”! Mời quý vị đọc: “Bao lâu những người cs hay lính vc dù là cảnh tỉnh (phản tỉnh?) hay hồi chánh không có một lời ăn năn thống hối đối với Quân Dân Cán Chính VNCH cũng như chào kính Lá Cờ Vàng thì người Việt Quốc Gia tỵ nạn cs hải ngoại phải tẩy chay bằng mọi giá”! Dù chỉ là phát biểu của một cá nhân tôi đọc được trên “net” không đáng quan tâm, nhưng ý tưởng như thế xuất hiện khá phổ thông trong sinh hoạt chống cộng hiện nay. Người Việt hải ngoại có nhiều thành phần hiểu biết cao thấp khác nhau. Không ai ngạc nhiên khi những phát biểu như thế từ những người cực đoan, kém hiểu biết chính trị. Điều lạ lùng là có những nhà văn, nhà báo có bề dày về chuyện viết lách; những trí thức có bằng cấp cao ngất ngưỡng; những cựu sỹ quan viên chức cao cấp của VNCH…lại cứ ra rả như thế quanh năm suốt tháng.

Những lời đanh thép trên, nếu được phát biểu trước năm 1975, khi VNCH còn tồn tại, sẽ được nhiều người đồng tình vì có tính cảnh giác cao trước một kẻ thù xảo quyệt. VNCH không còn, quân cán chính chỉ còn lại một lớp người gần đất xa trời làm được gì mà bảo người ta phải “ăn năn thống hối” với mình?! Còn Lá Cờ Vàng? Cờ Vàng tự nó không phải thần thánh, xuất hiện ở đâu thì ở đó có chính nghĩa. Nó cũng theo mệnh nước nổi trôi, cùng quân dân cán chính phiêu bạt bốn phương trời. Hiện nay, nếu có chút suy tư thì sẽ thấy sinh mệnh của nó gắn liền với số phận của những cựu quân cán chính VNCH, một thành phần đã quá già nua, lại đang chia năm xẻ bảy, đang tố cáo chưởi bới nhau vung vít, đang sống nhờ đất khách thác chôn quê người. Muốn Cờ Vàng mãi mãi tồn tại với dân tộc, hãy làm cho nó có ý nghĩa cao hơn, được nhiều thành phần dân tộc chấp nhận hơn. Cứ buộc mọi người tuyên dương Cờ Vàng trong khi “những người con Cờ Vàng” thì bôi bẩn nó bằng những cuộc biểu tình “ruồi bu” không khác gì sơn đông mãi võ (ngoại trừ những cuộc biểu tình chính đáng, có quy mô lớn chống các phái đoàn và lãnh đạo cộng sản…). Tôi nhớ cách đây khá lâu, tại nam California, một tốp mười mấy người trương Cờ Vàng biểu tình chống một ca sỹ (TN?) mang giây nịt có hình ngôi sao. Rồi những lần chống ca sỹ quốc nội trình diễn tại hải ngoại, cha me ông bà thì trương Cờ Vàng biểu tình chống đối bên ngoài trong khi con cháu lại mua vé vào xem bên trong. Những sự việc như thế xẩy ra hoài, chẳng ra thể thống gì cả. Nó có thể tạo ra một khoảng cách giữa hai thế hệ trong các gia đình/cộng đồng Việt Nam. Đã có một số giới trẻ khi nghe “chống cộng” và thấy Cờ Vàng họ nhún vai, tuy không dám ra mặt chống đối nhưng đối với họ đó là “old fashion” của những “old men”! Càng tung hô và buộc người khác tôn trọng Cờ Vàng trong tình trạng phản chính trị đó, kẻ thù càng vổ tay vui mừng. VC là kẻ muốn người Việt Nam có ác cảm với Cờ Vàng, muốn biến sự nghiệp chống cộng của chúng ta trở thành phi chính nghĩa. Những ai, bất luận thành phần nào, vô tình hay cố ý, làm cho tinh thần chống cộng trở nên một mớ hổn tạp bầy nhầy như thế đã tiếp tay đắc lực cho VC. Đây không phải là một sự võ đoán hoặc chụp mũ mà là một sự thật, một sự thật mà chỉ có những kẻ cuồng tín hoặc kém hiểu biết, hoặc cả hai mới không thấy.

Chống cộng là sự nghiệp chung của dân tộc Việt Nam, trong cũng như ngoài nước. Để sự nghiệp nầy ngày càng phát triển và sinh hoạt lâu dài, có hiệu quả, cần phải có sự kết hợp các thành phần dân tộc và các thế hệ già trẻ. Nếu chỉ có nhóm chống cộng theo “định hướng” nói trên (không phải tất cả cựu quân cán chính VNCH) thì sự chống cộng đó không có sức mạnh tổng thể và sẽ đi vào ngõ cụt. Khi những “người con Cờ Vàng” quân cán chính VNCH như họ khuất bóng, còn ai để chống cộng!?

Trong nước, có khá nhiều đoàn thể và cá nhân chống chế độ CSVN. Thế mà ở hải ngoại nhóm người đó cho rằng họ “chống cộng cuội”! Đơn giản vì họ không “ăn ăn thống hối đối với Quân Dân Cán Chính VNCH cũng như không chào kính lá Cờ Vàng”! Những người chống cộng theo “định hướng” nầy không biết rằng người Việt Nam trong nước chống chế độ cộng sản hiện nay là muốn thay thế một thể chế khác tốt đẹp hơn, họ đâu chống cộng để tái dựng VNCH? Có thể họ không hoặc chưa biết lá Cờ Vàng thì làm sao buộc họ “chào kính”?! Vả lại, đấu tranh ở trong nước trước nanh vuốt của cộng sản sắt máu và tàn bạo, nếu muốn sống và tiếp tục đấu tranh, họ đâu dám “chào kính lá Cờ Vàng”, dù khi họ ra hải ngoại. Thật là những ý nghĩ điền rồ của những con người thất chí và hoang tưởng.

Mới đây, chuyện nhà báo Điếu Cày lại được hâm nóng khi ông ta xuất hiện ở San Jose, California. Cũng như lần trước tại Washington DC. (20/11/2014), lần nầy ông ta cũng bị buộc phải trả lời câu hỏi “Hồ Chí Minh là người yêu nước, là tội đồ dân tộc, hay yêu nước nhưng lầm đường”? Ông ta không trả lời trực tiếp theo mong muốn của nhóm cực đoan Cờ Vàng nên lại bị lên án và chống đối gay gắt. Cái trò tố cáo “Điếu Cày ra hải ngoại để nội tuyến” lại xuất hiện. [Vừa qua, tin tức báo chí cho rằng xác Hồ Chí Minh tại Ba Đình không phải là người Việt Nam mà là người Tàu (Hồ Tập Chương?). Vậy thì Hồ Chí Minh người Việt ở đâu? Biểu Điếu Cày nhận xét về Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh nào?]. Điếu Cày không muốn bình luận về cá nhân ông Hồ là quyền của ông ta. Khác với người miền Nam, người miền Bắc (như Điếu Cày) chịu ảnh hưởng nặng nề nhân vật Hồ Chí Minh nầy, không thể một sớm một chiều mà từ “ông” sang “thằng”, từ “bác Hồ vô vàn kính yêu” sang “tên tội đồ dân tộc” được! Buộc những người sinh ra, lớn lên, hấp thụ giáo dục dưới chế độ cộng sản suy nghĩ và phát biểu như mình sao được. Ép những người đã từng phục vụ chế độ cộng sản phải chưởi bới hạ nhục lãnh đạo khai sinh chế độ đó mà một thời họ đã tôn xưng chỉ là một sự truy bức chính trị, vừa không cần thiết cho đại nghiệp chống cộng chung, vừa chứng tỏ kẻ ép buộc có nhân cách kém, có sự hiểu biết thấp, và đặc biệt có bản chất quân phiệt độc tài không thích hợp cho sự đấu tranh đòi tự do dân chủ. Qua thời gian làm việc, Điều Cày đã thấy được chân tướng xấu xa của kẻ cầm quyền. Ông ta trở lại chống đảng CSVN, chống đường lối và chủ trương của chế độ nầy, đó là những gì người Việt Nam chúng ta đang cần. Cùng nhau, tìm cách để giải thể chế độ CSVN quan trọng và cấp bách hơn những lời chưởi bới và hạ nhục nhân vật Hồ Chí Minh của bất cứ ai, kể cả nhân vật Điếu Cày. (Bạn sẽ phản biện rằng Hồ Chí Minh là linh hồn, là thần tượng của chế độ CSVN, đánh sập thần tượng đó thì chế độ CSVN sẽ tiêu vong? Hồ Chí Minh đã bị lên án, chưởi bới, hạ nhục…đã mấy chục năm rồi thế mà CSVN vẫn còn đó, bạn không thấy sao? Cứ tiếp tục nghiên cứu và viết về tội ác của ông ta một cách nghiêm túc và lịch sự nhưng đừng nghĩ rằng đó là điều quan trọng nhất để giải thể cộng sản. Đặc biệt, không nên dùng những lời lẽ nặng nề hạ cấp để chưởi bới ông ta vì làm như thế tuy có thể “tự sướng” nhưng sẽ phản tác dụng).

Ngoài sự chống đối và chụp mũ tứ tung những người quốc gia, những nhà đấu tranh trong nước, họ chống đối và chụp mũ luôn cả Đại Sứ Mỹ tại Việt Nam. Vừa qua, song song với việc Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí Thư Đảng CSVN thăm viếng Hoa Kỳ; Đại Sứ Mỹ tại Việt Nam, ông Ted Osius đã đến nói chuyện với cư dân Việt tại Nam California và San Jose. Tại những nơi nầy ông ta từ chối đứng dưới lá Cờ Vàng nên bị chống đối. Bài báo “Ông Đại Sứ Hai Chiều” của Duyên Lãng Hà Tiến Nhất và bài “Hãy Tống Cổ Tên Đại Sứ Mỹ Chối Bỏ Cờ Vàng Ted Osius Ra Khỏi Cộng Đồng Tỵ Nạn Việt Nam” ký tên Người lính già Oregon, với các danh vị và khẩu hiệu kèm theo: cựu sĩ quan VNCH, đương kiêm tỵ nạn tại Mỹ (đương kim tỵ nạn tại Mỹ?), quyết bảo vệ Cờ Vàng chống VC cho đến hơi thở cuối cùng… là nổi bật nhất cho sự chống đối nầy. Theo Duyên Lãng HTN, ông Ted Osius vừa là Đại Sứ Mỹ tại Việt Nam vừa là Đại Sứ Việt Nam tại Mỹ, một “người Mỹ gốc VC”, ý nói Đại Sứ Mỹ làm tay sai của VC! Duyên Lãng HTN nghĩ rằng, Mỹ cũng như Đại Sứ Mỹ cũng phải chống cộng theo “định hướng VNCH và Cờ Vàng” như ông ta và “đồng chí” của ông ta chăng? Sau khi rút khỏi Nam Việt Nam vào tháng Tư năm 1975, Mỹ trở lại bang giao với Việt Nam là để khôi phục chế độ VNCH và Cờ Vàng chăng? Đúng là chuyện “mơ giữa ban ngày”. Không hiểu gì về Mỹ, không thấy được tình hình hết sức phức tạp và nguy hiểm cho đất nước Việt Nam trước âm mưu thôn tính của kẻ thù phương Bắc mà cứ phóng tay chụp mũ, chụp mũ cả ông Đại Sứ Mỹ mới kinh. Người lính già Oregon càng khiếp hơn, đòi tống cổ Đại Sứ Mỹ ra khỏi cộng đồng Việt Nam tại Mỹ”! Cộng đồng Việt Nam là cái gì? Là một “private property” hay một địa phương nào đó có người Việt sinh sống? Nếu “private property” thì được, nhưng có dám “tống cổ” một viên chức cao cấp của Mỹ không? Nếu là một địa phương có đông người Việt ở, những kẻ “đương kiêm tỵ nạn” ấy đang ăn nhờ ở đậu trong nhà người ta lấy tư cách gì mà đòi “tống cổ” ông chủ ra khỏi nhà? Người Việt Nam tại Mỹ có lãnh thổ và chủ quyền riêng chăng? Nếu không thì đúng là loạn ngôn, đúng là “Ếch nằm đáy giếng coi trời bằng vung”!

Người yêu ta xấu với người

Yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau (Kiều, Nguyễn Du)

Chống cộng và yêu Cờ Vàng kiểu mê sảng và vĩ cuồng như thế là bôi bẩn tinh thần chống cộng và Cờ Vàng rồi, làm sao thuyết phục được ai?!

Chống Đại Sứ Mỹ tức là chống chính sách Mỹ đối với Việt Nam và biển Đông. Trước sự hung hăng độc chiếm biển Đông, khống chế toàn vùng Đông Nam Á của Trung cộng, ai cũng thấy Mỹ đang lôi kéo Việt Nam để cùng đối phó. Người Việt trong cũng như ngoài nước đều mong muốn CSVN đi với Mỹ để thoát hoạ Hán hoá. “Theo Tàu mất nước, theo Mỹ mất đảng”. Không phải đơn thuần vì xã giao mà Tổng Thống Mỹ phá lệ, tiếp Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí Thư Đảng CSVN, một đảng độc tài toàn trị, tại phòng Bầu Dục, Toà Bạch Ốc. Có thể đó là một sự tương nhượng về phía Mỹ, chấp nhận sự tiếp tục cầm quyền của Đảng CSVN để đổi lấy những thứ khác quan trọng hơn. Ngoài việc đó, có thể Mỹ phải thoả mãn những đòi hỏi khác của CSVN trong đó có sự chống cộng và lá Cờ Vàng của người Việt tại Hoa Kỳ. Ông đại sứ từ chối “chào kính” lá Cờ Vàng không phải ông ta ghét lá cờ đó mà như ông ta nói: “làm như thế tôi sẽ mất job”! Đại sứ không thể đi ngược lại chính sách của chính phủ.

Không ai tin chính sách ve vãn CSVN của Mỹ là quan tâm đến số phận của dân tộc Việt Nam, lại càng không phải “thương” tập đoàn lãnh đạo cộng sản. Họ muốn có đồng minh để chống Tàu, kẻ đang thách thức vị thế của họ tại Đông Nam Á và cả trên thế giới. Hy vọng, qua việc nầy, dân tộc Việt Nam sẽ được “hưởng lộc”, thoát được nạn Bắc thuộc. Nếu Mỹ không can thiệp và thoả hiệp, CSVN vẫn còn đó và nguy cơ mất nước rất lớn. Nếu Mỹ can thiệp và thoả hiệp mà không cần thay đổi thể chế chính trị liền thì CSVN vẫn còn đó nhưng nguy cơ mất nước không còn. Cả hai trường hợp đều xấu, nghĩa là CSVN vẫn còn đó, nhưng trường hợp thứ hai ít xấu hơn nhiều. Tôi tin hầu hết dân Việt trong cũng như ngoài nước đều mong điều nầy xẩy ra. Riêng nhóm chống cộng có “định hướng” thì không, họ đòi lật đổ CSVN với bất cứ giá nào! Với sức mạnh quân sự vô song, Mỹ vẫn không nghĩ đến việc lật đổ CSVN. Họ, một số người chống cộng “có định hướng” ở hải ngoại không có tấc sắt trong tay, không có mảnh đất cắm dùi, lại “đương kiêm tỵ nạn” xa cả nửa vòng trái đất thế mà cứ lớn tiếng đòi “tiêu diệt cộng sản”, tái dựng VNCH cho bằng được!

Trong bài “Vai Trò Của Việt Nam Cộng Hoà Trong Sự Nghiệp Chống Cộng” tôi viết cách nay đúng hai năm (tháng 7 năm 2013) có đoạn: “…Liệu VNCH có còn đóng vai trò nào trong sự nghiệp chống cộng không? Theo tôi, có! Đó là tinh thần chống cộng triệt để; đó là giá trị tương đối của tự do dân chủ; đó là tinh thần yêu nước chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc; đó là những giá trị thiêng liêng về văn hoá, thuần phong mỹ tục…của dân tộc mà VNCH tôn xưng và bảo vệ trong khi chế độ cộng sản miền Bắc (cũng như hiện nay) không có được. Nhưng điều tôi muốn nhấn mạnh ở đây là chống cộng không phải để khôi phục VNCH. VNCH đã đi vào lịch sử. VNCH là chế độ dân chủ do dân bầu lên, không phải là chế độ vương quyền, vua bị cướp ngai vàng phải bôn tẩu chờ ngày lấy lại ngôi báu. Sau cộng sản, VN phải có một chế độ dân chủ tự do khác do dân bầu, bao gồm những giá trị của VNCH hay hơn thế nữa, tuyệt đối không thể có một VNCH tái sinh với các cấp lãnh đạo và quan chức cũ. Các lãnh đạo cao cấp của VNCH phần lớn đã qua đời, số ít còn lại đã già nua bệnh tật, ngay cả hàng ngũ nòng cốt là các sỹ quan cấp Tá, cấp Uý cũng đã trên dưới bảy, tám mươi rồi thì làm được cơm cháo gì nữa? Chống cộng để khôi phục VNCH là điều không tưởng…”

Cũng như phần đông con dân của VNCH, tôi chưa bao giờ có ý tưởng VNCH sẽ được tái dựng, tôi sẽ trở về cố quốc lấy lại những gì đã mất. Lịch sử đã sang trang.

Cũng như mọi người, tôi hy vọng chế độ CSVN sớm cáo chung hay biến thể để nước Việt được độc lập và có chủ quyền, để dân Việt có tự do và dân chủ.

Trước âm mưu bành trướng lộ liễu và ngang ngược của Trung cộng, tôi nghĩ Mỹ sẽ có biện pháp ngăn chận, nhân đó Việt Nam sẽ thay đổi.

Không phải vô cớ mà Đại Sứ Mỹ Ted Osius viếng các cộng đồng Việt Nam và tuyên bố: “Tình hình sẽ thay đổi. Việt Nam sẽ có tự do dân chủ”. Nếu được như ông nói, tương lai của dân tộc Việt Nam sẽ tươi sáng hơn bây giờ. Tôi không cổ võ mọi hình thức hoà hợp hoà giải trá hình đầu hàng cộng sản, nhưng trong khi người Việt chưa có cách nào để loại bỏ chế độ CSVN, mọi sự tác động (của bất cứ ai) làm giảm được sự độc tài toàn trị của chế độ đó, đem ít nhiều tự do và dân chủ đến cho người dân đều được hoan nghênh. Ai chống lại mà không có kế sách thay thế đều là những kẻ hoang tưởng, những kẻ mù quáng thù quá hoá…mất khôn. Họ không thể là người yêu nước mà chỉ là những kẻ phá hoại đi ngược lại với ước vọng của toàn dân.


ĐỊNH NGUYÊN

Sacramento, CA thượng tuần tháng 8 năm 2015

Post Reply