Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Mỹ lại thách thức Trung Quốc về tự do lưu thông trên Biển Đông
Wednesday, October 14, 2015 3:10:59 PM


BOSTON (NV) .-Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ lập lại sự cả quyết sẽ thách thức Trung Quốc về vấn đề tự do lưu thông trên Biển Đông
sau cuộc họp với người đồng cấp của Úc mà hai bên đồng quan điểm.

Image
Chiến hạm tác chiến cận duyên USS Fort Worth di chuyển ở khu vực Trường Sa bị một chiến hạm Trung Quốc đeo bám từ xa hồi Tháng 5-2015.
(Hình: Navy Times)

“Hãy đừng hiểu sai. Hoa Kỳ sẽ bay, di chuyển bằng tàu và hoạt động bất cứ nơi nào mà luật lệ quốc tế cho phép. Chúng tôi sẽ hành động như vậy ở những thời điểm và khu vực tùy chúng tôi chọn. Và (khu vực Biển Đông) cũng không có ngoại lệ.”

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter tuyên bố như vậy trong cuộc họp báo hôm Thứ Ba tại Boston, một điều ông và nhiều viên chức ngoại giao và quân sự Hoa Kỳ từng nói đi nói lại nhiều lần trước đây như sự cảnh cáo cách hành sử của Trung Quốc trên Biển Đông.

Bộ trưởng Carter và ngoại trưởng John Kerry họp với các người đồng cấp của Úc tại Boston hai ngày Thứ Hai và Thứ Ba vừa qua về nhiều vấn đề trong mối quan hệ và hợp tác song phương.

“Dù là tại Bắc Cực hay là tại khu vực các hải lộ chuyển vận thương mại quốc tế quanh thế giới, hoặc là tại khu vực Biển Đông”, ông Carter nói về chính sách của Hoa Kỳ.

Ông Carter lập lại rằng Hoa Kỳ muốn thấy Trung Quốc và các nước khác tranh chấp biển đảo trên Biển Đông dừng các hoạt động bồi đắp đảo nhân tạo cũng như quân sự hóa các hoạt động tại quần đảo Trường Sa.

Quần đảo Trường Sa là một tập hợp gồm nhiều đảo san hô, cồn cát, rạn đá san hô và bãi ngầm rải rác từ 6°12' đến 12°00' vĩ Bắc và từ 111°30' đến 117°20' kinh Đông, trên một diện tích khoảng gần 160,000 km² đến 410,.000 km², theo những ước lượng khác nhau, ở giữa biển Đông.

Quần đảo này có độ dài từ tây sang đông là 800 km, từ bắc xuống nam là 600 km với độ dài đường bờ biển đạt 926 km. Tùy cách xác định khác nhau, quần đảo Trường Sa có hơn 100 đảo và rạn đá ngầm, 137 "đảo-đá-bãi", khoảng 160 đảo nhỏ-cồn cát-rạn đá ngầm-bãi cát ngầm/bãi cạn-bãi ngầm đã đặt tên, theo tài liệt trên Wikipedia.

Dù vậy, tài liệu trên Wikipedia nói tổng diện tích đất nổi của quần đảo rất nhỏ, từ không quá 5 km² đến 11 km² do số lượng đảo thực sự rất ít mà chủ yếu là các rạn san hô thường và rạn san hô vòng chìm ngập dưới nước khi thủy triều lên. Các hòn đảo san hô ở Trường Sa tương đối bằng phẳng và thấp, ngay cả khi so sánh với một quần đảo san hô khác gần đó là quần đảo Hoàng Sa. Theo CIA, điểm cao nhất của Trường Sa nằm trên đảo Song Tử Tây với cao độ 4 m so với mực nước biển.

Theo một tài liệu gần đây của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ thì quần đảo Trường Sa có hơn 200 đảo và vị trí nhưng đích xác là bao nhiêu thì tùy cách đếm và liệt kê của từng nước. Hiện Việt Nam chiếm cứ và canh giữ 48 đảo và bãi đá ngầm, Đài Loan chiếm một, Philippines chiếm 8, Malaysia chiếm 5. Trung Quốc chỉ bắt đầu đánh cướp 8 bãi đá ngầm do Việt Nam và Philippines kiểm soát từ năm 1988 trở đi.

Việt Nam, Trung Quốc và Đài Loan đều tuyên bố chủ quyền toàn thể về quần đảo Trường Sa trong khi Philippines, Malaysia, và Brunei chỉ tuyên bố chủ quyền một phần.

Tranh chấp chủ quyền Trường Sa trở nên căng thẳng bất thường hơn trước khi các tin tức lộ ra các hoạt động bồi đắp 7 bãi đá ngầm thành 7 đảo nhân tạo rộng lớn, trên đó có cả cảng biển và phi trường tại ít nhất 3 đảo nhân tạo.

Hồi đầu tuần, có tin Hoa Kỳ đã thông báo cho các đồng minh của mình tại Á Châu về kế hoạch sẽ cho máy bay và chiến hạm tuần tiễu ở khu vực Trường Sa, vào cả bên trong phạm vi 12 hải lý của các đảo nhân tạo vừa kể. Hoa Kỳ không công nhận các đảo nhân tạo là những vị trí được dùng để xác định chủ quyền lãnh thổ theo Công ước Quốc tế về Luật biển (UNCLOS).

Trong cuộc họp báo chung với người đồng cấp ở Boston, nữ ngoại trưởng Úc Julie Bishop cho hay nước bà cũng có lợi ích về tự do lưu thông trên Biển Đông vì khoảng hai phần ba hàng hóa thương mại của Úc đi qua vùng biển này.

“Chúng tôi từng nhiều lần nhấn mạnh rằng các hành động bồi đắp đảo nhân tạo ở khu vực quần đảo Trường Sa, nhất là của Trung Quốc, nên dừng lại.” Bà Bishop nói.

Bộ trưởng Carter nói rằng từ hệ quả hoạt động bồi đắp của Trung Quốc tại Trường Sa mà Hoa Kỳ “đang có sự hợp tác gia tăng với các nước tại khu vực. Họ đang kêu gọi sự phối hợp hành động với Hoa Kỳ và hải quân Hoa Kỳ.” Ông nói.

Theo lời trung tá Hải quân Timolthy Hawkins, phát ngôn viên Hải quân Hoa kỳ, Hạm đội 7 của Hoa Kỳ tại Thái Bình dương có 4 khu trực hạm, một tàu đổ bộ, một tàu tác chiến cận duyên và một tàu quét mìn đang có mặt tại khu vực biển Ấn Độ-Á châu-Thái bình dương. Ông cho hay một khu trục hạm đang hiện diện trên Biển Đông nhằm tăng cường quyền đi lại của tàu Mỹ ở khu vực.

Trước tin Bộ trưởng Quốc phòng và Ngoại giao Mỹ họp với các người đồng cấp của Úc ở Boston rồi đưa ra những lời tuyên bố tái khẳng định về thi hành quyền tự do hải hành và bay trong không phận quốc tế tại Biển Đông, phát ngôn viên Hoa Xuân Oánh của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc ám chỉ Hoa Kỳ khi bà lên án “một số nước” khoe mẽ về “sức mạnh quân sự” trên Biển Đông.

Cuối tuần qua, bà Hoa Xuân Oánh đã nói cứng rằng “Chúng tôi không cho phép bất cứ nước nào xâm phạm vùng biển và không phận của Trung Quốc tại quần đảo Trường Sa nhân danh bảo vệ quyền tự do
hải hành và bay qua.” (TN)

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Putin cố lôi kéo Mỹ vào Syria

Ngô Nhân Dụng
Tổng Thống Vladimir Putin có vẻ sốt ruột. Ðến thành phố Astana ở nước Kazakhstan, ông lại lên tiếng chỉ trích chính phủ Mỹ không chịu cộng tác với ông ở Syria. Ông Putin đã đề nghị Mỹ cử một phái đoàn cao cấp sang Nga thảo luận; hoặc Nga sẽ gửi Thủ Tướng Dmitri Medvedev cầm đầu một phái đoàn sang Washington. Chính phủ Mỹ từ chối cả hai.

Ngay khi gửi hơn 30 máy bay quân sự qua Syria, ông Putin đã mong Mỹ cộng tác. Hơn nữa, ông muốn mời cả các nước Âu Châu (Anh và Pháp đóng góp máy bay oanh tạc quân IS). Hôm trước, khi ông Putin qua dự Ðại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc, được gặp ông tổng thống Mỹ trong 90 phút (lần đầu tiên trong hai năm), báo chí Nga ồn ào ca tụng cuộc hội đàm như một thắng lợi ngoại giao của người hùng Putin. Ngoại Trưởng Sergei Lavrov còn báo trước với thế giới (nói bằng tiếng Anh) rằng hai lãnh tụ “sẽ tiếp tục thảo luận cộng tác chặt chẽ trong các vấn đề nóng bỏng trên thế giới, trước mắt là Syria!” Rõ ràng, Putin rất nóng lòng cho dân Nga thấy ông vừa biết đánh judo, vừa biết chơi hockey, lại vừa giỏi về ngoại giao.

Nhưng ông tổng thống Mỹ tỏ ra lạnh nhạt. Ông Barack Obama còn nói rằng việc Nga đem quân tới Syria cứu chính quyền Assad sẽ thất bại, quân Nga sẽ bị sa lầy. Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Ashton Carter cũng công khai phê bình hành động của ông Putin ở Syria là “phi lý,” hiểu theo nghĩa kinh tế học là không có lợi gì cả. Ông Carter còn xác định rằng chính phủ Mỹ không hề tính chuyện phối hợp với Nga tại Syria.

Ông Putin nổi giận! Ông tố cáo chính nước Mỹ tạo ra nội loạn ở Syria, và bây giờ thì không muốn tiêu diệt quân IS cực đoan! (Máy bay Mỹ và các nước đồng minh đã đánh lực lượng IS hơn 7,000 lần ở Syria và Iraq trước khi máy bay Nga tham dự). Ông Putin nói thẳng rằng chính phủ Mỹ không chịu hợp tác đến mức họ từ chối không đưa danh sách những cứ điểm của quân IS mà máy bay Nga nên oanh tạc. Và khi được hỏi ý kiến, Mỹ cũng không cho biết các địa điểm nào ở Syria nên tránh, không đánh bom! Rõ ràng là thái độ dửng dưng, chuyện ai người ấy lo! Liên lạc giữa hai bên nằm ở cấp thấp, giữa các tướng chỉ huy tại chỗ, để tránh cho máy bay của Mỹ và các nước đồng minh không đụng độ với máy bay Nga trong khi cùng đánh quân IS.

Chỉ có thể hiểu được thái độ bất hợp tác của chính phủ Mỹ, và hiểu lý do ông Putin tức giận, khi nhìn nhận rằng Nga và Mỹ có những mục tiêu chiến lược hoàn toàn khác nhau ở Syria.

Nước Mỹ chiếm thế thượng phong trong cả vùng Trung Ðông. Hạm đội số 6 bao sân Ðịa Trung Hải; Hạm đội số 5 đặt căn cứ ở Bahrain, trông coi Hồng Hải, Biển Á Rập, Vịnh Ba Tư và phía Tây Ấn Ðộ Dương. Các nước Á Rập bán dầu lửa cho Mỹ và mua vũ khí của Mỹ. Sau kinh nghiệm chiến tranh Iraq, Mỹ tránh không đem quân vào vùng này. Ngay cả trong chiến dịch thay đổi chế độ ở Lybia, Mỹ cũng chỉ phóng hỏa tiễn từ ngoài khơi vào hỗ trợ các nước Châu Âu. Syria trở thành một lò lửa trong vùng, nhưng đó là cuộc tranh chấp giữa các nước Á Rập và Iran, Mỹ có thể đứng ngoài nhìn họ giết lẫn nhau bao lâu cũng được. Israel là đồng minh của Mỹ sẽ được yên thân hơn. Vùng Trung Ðông còn bất ổn thì các nước Á Rập càng cần tiền bán dầu lửa để mua khí giới. Giá dầu sẽ thấp, kinh tế Nga sẽ thiệt hại, Mỹ vẫn dư dầu.

Ðối với ông Putin, việc can thiệp vào Syria có nhiều mục đích. Từ thời Nga Hoàng qua thời Xô Viết, nước Nga vẫn tìm một hải cảng nước ấm. Nga chỉ có một căn cứ hải quân duy nhất trong vùng Ðịa Trung Hải, bên bờ biển Syria; nếu Assad đổ và một chính quyền khác lên thay thì Nga có thể bị mời đi chỗ khác. Nga đến Syria để cứu Assad sau khi quân đội của ông ta thua nặng từ đầu năm nay. Nga có thể chấp nhận Assad ra đi, nhưng muốn được ngồi vào bàn chọn những người thay thế. Nga can thiệp trực tiếp vào Syria cũng để tạo một cơ hội trao đổi: Nga sẽ đứng cùng một phía với Mỹ và Châu Âu trong việc đánh quân IS, để dễ tìm đường thỏa hiệp với Mỹ và Châu Âu chấm dứt vụ cấm vận vì xâm lấn Ukraine.

Về mục tiêu này, ông Putin đã thất vọng. Thủ Tướng Ðức Angela Merkel, sau khi gặp cả ông Putin và Tổng Thống Pháp Hollande, đã tuyên bố dù Nga giúp giải quyết chuyện Syria, phương Tây sẽ không nhượng bộ Nga trong vụ cấm vận: “Hai vấn đề này không dính gì đến nhau!”

Trước khi đưa máy bay sang Syria, ông Putin đã gặp gỡ đại diện các nước trong vùng, Saudi Arabia, Jordan, Egypt, Turkey, Israel, Palestine và Iran; tất cả đều dính líu vào cuộc nội chiến ở Syria. Vụ can thiệp giúp ông có dịp tạo quan hệ thân thiện với họ, chuẩn bị cho thế cờ ngoại giao sau này.

Nhưng điều khó khăn cho ông Putin là đa số các nước đó đều muốn trước hết phải xóa bỏ chế độ Assad mà Nga và Iran đang bảo vệ. Công tác ngoại giao tăng cường sau khi Putin đưa máy bay chiến đấu sang Syria, nhưng kết quả không có gì.

Từ Tháng Sáu năm 2015, Nga đã vận động ngoại giao với Mỹ và các nước trong vùng, tỏ ý có thể chấp nhận một chính quyền chuyển tiếp ở Syria, sau khi Assad ra đi. Chủ Nhật vừa qua, 11 Tháng Mười, 2015, ông Putin gặp ông Hoàng Mohammad bin Salman, bộ trưởng Quốc Phòng Á Rập Saudi, bảo đảm rằng Nga không hề liên minh với Iran, một nước kình địch của Saudi; mặc dù cả Nga và Iran đều ủng hộ Assad. Thổ Nhĩ Kỳ phản đối máy bay Nga lạc từ Syria sang đất Thổ, Putin đã lập tức xin lỗi và gửi phó tư lệnh Không Quân sang Ankara bàn việc lập một ủy ban hai nước để theo dõi và tránh sự kiện này. Putin cũng thỏa thuận với Benjamin Netanyahu, thủ tướng Israel, thiết lập một ủy ban tương tự, với đường dây điện thoại trực tiếp giữa tướng lãnh hai bên, để tránh máy bay Nga xâm phạm không phận Israel.

Nhưng Tổng Thống Thổ Recep Tayyip Erdogan vẫn lên tiếng cực lực phản đối máy bay Nga đánh cả các đạo quân chống Assad được Thổ ủng hộ, thay vì chỉ đánh quân IS. Ông Erdogan còn dọa rằng nước Thổ sẽ ngưng mua khí đốt của Nga nếu chính phủ Nga không thay đổi đường lối này. Lời đe dọa này được tuyên bố sau khi ông Erdogan qua Bruxelles, trung tâm của Liên Hiệp Châu Âu; cho thấy một vũ khí của ông Putin đã mất hiệu lực: Ðe dọa cắt không cung cấp hơi đốt cho các nước Châu Âu. Bởi vì kinh tế Nga đang sa lầy kể từ khi ông Putin xâm lăng Ukraine và bị phong tỏa.

Trong bốn tháng qua, Putin đã giảm bớt can thiệp vào miền Ðông nước Ukraine, các phiến quân do Nga xúi giục tỏ ra tôn trọng cuộc đình chiến được các nước Âu Châu và Nga ký kết. Một lý do là ông Putin chứng kiến kinh tế Nga trên đà xuống dốc, tổng sản lượng nội địa (GDP) sẽ giảm 3.8% trong năm nay, theo tiên đoán của Ngân Hàng Thế Giới; và sang năm 2016 cũng chưa hồi phục. Vì đồng rúp mất giá một nửa so với đô la Mỹ, lạm phát gia tăng, đồng lương thực thụ của công nhân Nga đã bị giảm hơn 8%, mãi lực giảm khiến số tiêu thụ cũng xuống. Trong Tháng Sáu, số xe hơi bán giảm 30% so với năm trước. Số tiền vay để mua nhà cũng giảm 40% trong bốn tháng đầu năm nay.

Kế hoạch phong tỏa kinh tế Nga của Mỹ và các nước Châu Âu nhắm những mục tiêu cụ thể. Các ngân hàng và xí nghiệp Tây phương không được làm ăn với một số công ty và ngân hàng Nga, đặc biệt nhắm vào các công ty dầu khí lớn. Chính phủ Mỹ mới tăng thêm 29 công ty Nga vào sổ đen, trong đó có Rosneft, một hãng dầu khí khổng lồ, và nhà sản xuất súng AK, Kalashnikov, một nguồn ngoại tệ xuất cảng của Nga.

Mục đích cuộc cấm vận là cắt đứt nguồn cung cấp vốn cho các xí nghiệp Nga và nguồn hỗ trợ kỹ thuật, đặc biệt là kỹ thuật khai thác dầu mà các công ty quốc doanh của Nga tiến chậm hơn các công ty tư nhân ở Âu Mỹ hàng mấy chục năm. Ngày 6 Tháng Mười vừa qua, Bộ Năng Lượng trong chính phủ Nga đã phải hoãn tất cả các cuộc đào tìm dầu ở vùng Bắc Cực trong ba năm. Lý do chính vì các công ty dầu khí Âu Mỹ rút lui không cộng tác với các công ty Nga, theo lệnh cấm vận.

Ông Putin can thiệp vào Syria với một mục tiêu là tạo cơ hội cộng tác với Mỹ trong việc tiêu diệt quân IS trong khi ngưng gây rối ở Ukraine, để đổi lại sẽ được giảm cấm vận.

Ðiều đáng lo ngại cho ông ta là dù Nga ngưng can thiệp vào nội tình Ukraine thì các biện pháp phong tỏa khác sẽ tiếp tục được duy trì. Ðó là những lệnh cấm vận được đưa ra khi Nga chiếm bán đảo Crimea, trước khi Putin hỗ trợ người gốc Nga nổi dậy tại miền Ðông Ukraine. Khi chiếm đóng rồi sáp nhập Crimea vào nước Nga, ông Putin đã vi phạm luật pháp quốc tế. Không một quốc gia nào được chiếm và sáp nhập lãnh thổ một nước khác, đó là một “luật chơi” không ai được vi phạm, nếu không thế giới sẽ hỗn loạn. Các nước Tây phuong không thể nhắm mắt khi luật chơi này bị Nga xóa bỏ. Cho nên, dù Nga có chấm dứt can thiệp vào Ukraine, việc phong tỏa kinh tế vì vấn đề Crimea vẫn tiếp tục không biết đến bao giờ. Thương thuyền Mỹ không được ghé các hải cảng trong vùng Crimea mà Nga đã chiếm của Ukraine.

Ðiều đáng lo ngại khác của ông Putin là việc can thiệp của Không Quân Nga không làm thay đổi tình thế trên mặt trận. Hiện quân đội chính quyền Assad đang phản công tiến chiếm lại một số thành phố lớn đã mất vào tay các nhóm nổi dậy; với máy bay Nga hỗ trợ trên trời và quân đội Hezbollah từ Lebanon tới, do Iran chỉ huy, đánh dưới đất.

Ở Aleppo, với hai triệu dân nằm gần biên giới Thổ Nhĩ Kỳ, những nhóm nổi dậy đang kiểm soát thành phố là Ahrar al-Sham, Suqour al-Sham và Failaq al-Sham và Nusra Front, một chi nhánh của al Qaeda tại Syria, đều là những nhóm cực đoan quá khích chống Assad nhưng cũng chống quân IS. Ngoài ra, binh đoàn Fursan al Haq, do các nước Á Rập trong vùng yểm trợ tập hợp dưới danh nghĩa Quân Ðội Syria Tự Do, đang sử dụng hỏa tiễn TOW do Mỹ cung cấp để chống lại quân của Assad, quân Hezbollah và máy bay Nga.

Chiến trường Syria không phải là nơi tranh hùng giữa Nga và Mỹ. Các nước Á Rập, Thổ Nhĩ Kỳ và Iran đang tham dự. Quân đội của Assad có thể tan rã, mà ông Putin không thể gửi quân Nga sang, vì dân chúng Nga không chấp nhận. Nhiều bà mẹ người Nga đã đi biểu tình phản đối khi con họ đến tuổi đi lính bị gửi sang Ukraine. Dân Nga chưa thấy một mối lợi nào nhờ chiếm lại Crimea, mà chỉ tốn tiền nuôi chính quyền và dân sống ở đó.

Kinh tế Nga suy yếu, ngân sách khô cạn vì giá dầu xuống không cho phép kéo dài việc can thiệp vào Syria. Vì vậy, ông Putin cần lôi kéo Mỹ vào cùng một phe đánh lực lượng IS, hy vọng các nước Âu Mỹ sẽ giảm bớt lệnh cấm vận. Nhưng chính quyền Mỹ vẫn dửng dưng, đứng ngoài chờ coi Nga sa lầy ra sao. Ðể tránh khỏi bị sa lầy như quân đội Xô Viết đã thảm bại ở Afganhistan trong thập niên 1980, ông Putin chỉ còn một đường là kiếm một cớ nào đó mà tuyên bố mình đã thành công, rồi rút quân về! Có thể ông cố giúp quân của Assad thắng một trận nào đó, hoặc chờ các nước Á Rập, Thổ Nhĩ Kỳ và Iran đồng ý ngồi vào bàn hội nghị thương thuyết về tương lai một nước Syria không có Assad.

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Vô Cảm: Sự Bất Hạnh Của Dân Tộc -

Nguyễn Hưng Quốc

Trong bài “Mất cảnh giác” cách đây ba tuần, tôi nhìn vấn đề từ giác độ những người cầm quyền. Trong bài này, tôi nhìn từ góc cạnh khác: sự mất cảnh giác của người dân. Luận điểm chính của tôi là: Không những giới lãnh đạo mà ngay cả phần lớn dân chúng cũng hờ hững trước những hiểm họa đến từ Trung Quốc.

Một người bạn thân của tôi có cháu họ - con của một cán bộ cao cấp trong chính quyền, trước, du học tại Úc, sau, về Việt Nam làm giám đốc chi nhánh một công ty nào đó của Trung Quốc. Người cháu rủ bạn tôi sang Trung Quốc chơi với những lời hứa hẹn đầy hấp dẫn. Bạn tôi, vốn ghét những âm mưu bành trướng của Trung Quốc trên Biển Ðông, hỏi: “Mày không khó chịu trước các hành động ngang ngược của Trung Quốc đối với Việt Nam à?” Người cháu cười to và đáp: “Thôi, bận tâm làm gì về mấy chuyện đó, chú. Cứ coi như Việt Nam đã mất trắng vào tay Trung Quốc rồi, mình có làm gì được nữa chứ. Lo chơi cho vui, chú ạ.”

Tôi có một số bạn bè thuộc giới trí thức tại Việt Nam. Họ không sỗ sàng như người cháu của bạn tôi. Nhưng thái độ của họ trước nguy cơ giành lấn biển đảo của Trung Quốc thì cũng như vậy. Trong những lần chuyện trò, bao giờ tôi cũng là người gợi chuyện về mối quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc chứ không bao giờ là họ cả. Ngay cả khi tôi đặt vấn đề, người ta cũng lảng sang chuyện khác với lý do giống nhau: “Mình có làm được gì đâu. Suy nghĩ làm gì cho mệt óc!”

Một số người có thể cãi: Các ví dụ tôi nêu ở trên chỉ là những ngoại lệ. Ở đây, chúng ta gặp ngay một khó khăn: Khác với ở Tây phương, ở Việt Nam không có những cuộc điều tra dư luận để chúng ta có được những con số chính xác. Tuy nhiên, bù vào đó, chúng ta có thể quan sát từ kinh nghiệm giao tiếp riêng của mình. Trước đây, những lần về Việt Nam, tôi gặp khá nhiều người đủ mọi giới, tôi nhận thấy ít người thực sự quan tâm đến chính trị. Mà nếu quan tâm, những điều họ quan tâm cũng chỉ quanh quẩn những giai thoại về đời sống của một số chính khách. Ðiều quan trọng nhất trong chính trị là chính sách thì thường bị bỏ quên.

Với những người chưa có dịp về Việt Nam, có thể quan sát điều này trên facebook. Nghe nói ở Việt Nam hiện nay có khoảng 30 triệu người sử dụng facebook. Không ai có thể biết hết những người chơi facebook ấy. Nhưng theo ghi nhận của tôi, trong số mấy ngàn “friend” và gần mười ngàn “follower”, những người thực sự quan tâm đến chính trị chỉ là thiểu số. Phần lớn chỉ thích chuyện ăn uống, quần áo, vui chơi, du lịch... thuần túy có tính chất giải trí. Nhiều người tuyên bố thẳng thừng: Sẽ hủy kết bạn với những người thích bàn chuyện chính trị. Về phương diện xã hội, trước đây có một số cuộc xuống đường biểu tình chống Trung Quốc ở Sài Gòn và Hà Nội nhưng số người tham gia bao giờ cũng rất thưa thớt. Mà mấy năm gần đây, những cuộc biểu tình như thế cũng hoàn toàn vắng bóng.

Có thể nói người Việt Nam ở Việt Nam rất ít bận tâm đến các vấn đề chính trị, kể cả vấn đề quan trọng nhất liên quan đến độc lập và chủ quyền quốc gia trên Biển Ðông. Ít hơn hẳn những người Việt Nam đang sống ở hải ngoại. Ở hải ngoại, ở đâu và lúc nào người ta cũng trăn trở với các diễn biến chính trị trong nước. Mà không phải chỉ là người Việt Nam lưu vong. Cộng đồng lưu vong nào cũng vậy. Cũng chia sẻ một số những ký ức tập thể giống nhau. Cũng dằn vặt về vấn đề bản sắc. Và cũng khắc khoải với những biến động chính trị ở quê gốc. Nhiều người, từ Việt Nam sang, có dịp gặp gỡ nhiều người Việt sống ở hải ngoại, cứ thắc mắc: Sao sống xa quê hương lâu đến thế mà vẫn không quên quá khứ và vẫn không thoát được những ám ảnh về chính trị?

Ðiều quan trọng là người Việt Nam ở Việt Nam hiện nay ít quan tâm đến chính trị hơn hẳn ngày trước. Trước, ở miền Nam, hầu như lúc nào người ta cũng sôi sục chuyện chính trị. Ở miền Bắc cũng vậy. Trong đời sống cũng như trong văn học, đề tài chính trị lúc nào cũng nóng hổi. Chỉ có hiện nay người ta mới nguội lạnh trước số phận của đất nước. Nguội lạnh đến mức gần như vô cảm. Tại sao?

Câu trả lời, thật ra, rất đơn giản và đã được nhiều người đề cập: Ðó là hậu quả của các chính sách tuyên truyền và giáo dục của nhà cầm quyền mà biểu hiện cụ thể nhất là qua lập luận: “Chuyện quốc gia đại sự hãy để nhà nước lo, đồng bào đừng bận tâm.” Xin lưu ý là kiểu lập luận này khác hẳn với chủ trương của đảng Cộng Sản trước đây. Trong cuộc chiến tranh chống Pháp cũng như chiến tranh Nam Bắc, đảng Cộng Sản và nhà cầm quyền Hà Nội lúc nào cũng đề cao sức mạnh của quần chúng, kêu gọi quần chúng tham gia vào các công tác chính trị. Bây giờ, ngược lại, họ đẩy quần chúng ra ngoài, biến thành những kẻ bàng quan và vô trách nhiệm trước các biến động của đất nước. Có thể nói là họ sợ việc quần chúng quan tâm đến chính trị.

Mà sợ cũng phải. Năm ngoái, khi chính quyền Hà Nội chủ trương chặt hạ 6,700 cây xanh trên 190 con đường ở thủ đô, dân chúng phản đối quyết liệt, cuối cùng, chính quyền phải rút lại cái lệnh quái gở ấy, hơn nữa, còn bị buộc phải kiểm điểm về quyết định và quá trình thi hành quyết định ấy của mình. Ðầu năm nay, dân chúng phát hiện và phản đối việc tỉnh Sơn La có dự án chi cả 1,400 tỉ đồng cho việc xây dựng khu lưu niệm, kể cả tượng đài Hồ Chí Minh, đã khiến không những chính quyền Sơn La mà cả chính phủ trung ương phải lúng túng. Ðích thân Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng phải ra lệnh xét duyệt lại dự án bị dân chúng phản đối ấy. Gần đây, khi dân chúng phát hiện những lỗi sai nghiêm trọng trong bộ sách thực hành kỹ năng sống bậc tiểu học, Bộ Giáo Dục đã phải ra lệnh thu hồi toàn bộ các cuốn sách ấy.

Qua các trường hợp họa hoằn vừa kể, chúng ta thấy rõ sức mạnh của quần chúng (nếu quần chúng biết tận dụng!). Ðó là điều chắc chắn chính quyền Việt Nam không hề mong muốn. Chính vì thế, họ có hai sách lược: Một là giấu giếm toàn bộ các việc làm của họ để không ai biết và không ai phê phán cả. Hai là họ nỗ lực tuyên truyền và giáo dục dân chúng trở thành vô cảm. Cho đến nay, không thể nói là họ không thành công. Tiếc, sự thành công của họ lại là một bất hạnh lớn nhất của cả nước.


Nguyễn Hưng Quốc (Blog VOA)

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Trung Quốc chỉ là thứ hổ giấy – Không đáng sợ

Trần Gia Hồng Ân
Lược dịch từ Not So Scary: This Is Why China’s Military Is a Paper Tiger by Paul Dibb; Oct 15, 2015; The National Interest.

61Như thường lệ, người ta khua chiêng gõ mõ ầm ĩ về sự đe dọa quân sự từ Trung Quốc và hạ thấp khả năng của quân đội Hoa Kỳ. Nhiều bình luận về đề tài này đã làm tôi nhớ lại những tuyên bố vào giữa những năm của thập kỷ 1980s rằng Liên Xô đã bỏ xa Mỹ về sức mạnh quân sự. Bài viết này không nhằm mục đích chứng minh rằng Trung Quốc đang ở giai đoạn cuối cùng của sự tan rã giống như Liên Xô, nhưng sẽ khẳng định Quân Giải phóng Nhân dân đang phô diễn sức mạnh giả tạo, thiếu tính chuyên nghiệp. Nó không đủ sức để ứng phó với những cuộc chiến tranh hiện đại cùng với những thứ vũ khí chưa bao giờ được thử thách trên thực địa chiến trường.

Với một kinh tế đang chậm lại, những mối căng thẳng trong xã hội đang xấu đi, đảng đang suy yếu dần, Trung Quốc rộng lớn nhưng mong manh khó có đủ khả năng ứng phó với những thảm họa kinh tế hay ngoại giao, đừng nói đến một cuộc chiến với Hoa Kỳ. Nền kinh tế Trung Quốc căn bản lệ thuộc vào thương mại tự do thế giới và giây chuyền cung ứng toàn cầu. Với Trung Quốc, chiến tranh đồng nghĩa với đại thảm họa cả về kinh tế và xã hội.

Hơn nữa, Bắc Kinh gần như không có đồng minh mạnh có sức ảnh hưởng lớn trong vùng và đang phải chịu đựng một sự cô lập mang tính chiến lược. Tình huống sẽ trở nên xấu hơn nếu Trung Quốc tiếp tục bành trướng sức mạnh ra những quốc gia trong vùng.

Bắc Kinh không có kinh nghiệm trận mạc về những cuộc chiến tranh hiện đại. Kinh nghiệm chiến trường mới nhất của họ là cuộc chiến năm 1979 mà họ đã thất bại không thể “dậy cho Việt Nam một bài học.” Những cuộc xung đột ngắn ngủi ở biên giới với Ấn Độ và Liên Xô vào những năm 1960s và gởi đội quân nông dân vào chiến trường Triều Tiên ở thập kỷ 1950s khó có thể coi đó là những trận đánh hiện đại.

Sức mạnh sống còn của Quân Giải phóng Nhân dân là để bảo vệ Đảng Cộng sản Trung Quốc nắm giữ quyền hành đã được thể hiện trong lời thề thiêng liêng, không phải để bảo vệ Trung Quốc như là một quốc gia. Quan quân của Quân Giải phóng Nhân dân đang lãnh phí rất nhiều thời gian vào việc học tập đường lối ý thức hệ hơn là việc huấn luyện quân sự. Thêm vào, nạn tham nhũng, đút lót, chạy chọt để thăng tiến đang hoành hành ngay tại thượng tầng của Quân Giải phóng Nhân dân.

Thực ra trong mấy thập kỷ qua, Quân Giải phóng Nhân dân cũng có những tiến bộ đáng kể về kỹ thuật quân sự. Mặc dù Chủ tịch Tập Cận Bình từng tuyên bố Trung Quốc phải trở thành một cường quốc hải quân, nhưng bản chất địa lý của nó đã không ủng hộ điều này. Lần cuối cùng, vào khi nào, một cường quốc lãnh thổ lại trở thành cường quốc hải quân? Chắc chắn không phải Liên Xô, Pháp hay Đức.

Những nhà bình luận Úc thường hay nhắc tới khả năng chống truy cập và từ chối khu vực của Trung Quốc. Không nghi ngờ gì về việc tiếp cận tới vùng gần Trung Quốc đang trở nên nguy hiểm, đặc biệt với một đội quân khổng lồ và và rất gần nhà. Nhưng chẳng lẽ chúng ta thực sự nghĩ rằng Hoa Kỳ đang khoanh tay ngồi nhìn mà không hề có một động thái kỹ thuật nào như là siêu thanh, tự động, tàng hình, không người lái, súng điện, và không gian mạng?

Nhìn vào những điểm then chốt của công nghệ quân sự thì Trung Quốc lạc hậu hơn Mỹ khoảng 20 năm. Khả năng săn tàu ngầm của Trung Quốc mới đang ở bước đầu. Tầu ngầm của Trung Quốc rất ồn. Trung Quốc chưa nắm được kỹ thuật động cơ đẩy êm nhẹ tối cần thiết cho kỹ thuật tàu ngầm. Trong khi Mỹ, Nga đang tung ra loại tàu ngầm chạy bằng năng lượng nguyên tử rất êm. Thậm chí đời tầu ngầm mới nhất của Trung Quốc vừa ra lò, có trang bị tên lửa hạt nhân cũng ồn ào hơn cả những loại tàu ngầm Soviet ở thời 1970s. Tàu ngầm hạt nhân sắp ra đời của Trung Quốc còn ồn hơn những tàu ngầm thời Soviet thời 1980s.

Kỹ thuật không quân của Trung Quốc thì còn tệ hơn nhiều. Thêm vào, Trung Quốc lệ thuộc hoàn toàn vào kỹ thuật và cung ứng của Nga. Trung Quốc thường chỉ cải tiến lại chút đỉnh từ những động cơ phản lực quân sự kỹ thuật cao nên đã 30 năm trôi qua, họ vẫn không nắm bắt được kỹ thuật mới.

Bắc Kinh đã có bước tiến quan trọng trong kỹ thuật tên lửa đạn đạo, nhưng đời mới nhất là DF – 21 chưa từng tiêu diệt được một mục tiêu hải quân đang di động ở tốc độ chiến trường. Hơn nữa nó còn phụ thuộc vào hình ảnh tình báo không gian, toạ độ radar. Đây là những mục tiêu mền rất dễ cho Mỹ tung ra những cú phủ đầu.

Theo Lầu Năm Góc, thì chưa rõ Trung Quốc có khả năng thu thập được thông tin chính xác của các mục tiêu rồi chuyển tới bệ phóng để đưa ra một quyết định đúng về thời điểm tấn công trên đại dương mêng mông hay không.

Khả năng kỹ thuật tên lửa đạn đạo xuyên lục địa (ICBM) của Trung Quốc như là DF – 5B trang bị trên một chiếc xe cơ động độc lập (MIRVs) khó có thể áp dụng kỹ thuật hạt nhân quan trọng. Vào năm 1974, vai trò của một Trưởng ban Thẩm định Quốc gia, tôi đã được thông báo ngắn gọn từ CIA về MIRVs của Liên Xô lúc đó là SS-18 ICBM. Đó là một tiến bộ kỹ thuật quân sự cách đây đã 40 năm rồi.

Có những sỹ quan cao cấp và giới học thuật của Trung Quốc đang bắt đầu nổ rất to về khả năng chiến tranh hạt nhân của Trung Quốc. Trong khi khả năng bảo vệ khi bị đánh trả của Trung Quốc còn khá kiêm tốn. Đó chính là một trong những điểm yếu nhất của Trung Quốc. Bởi vì mật độ dân số của Trung Quốc rất cao, tập chung chủ yếu ở vùng duyên hải miền đông. Trung Quốc có 1.4 tỷ dân không có nghĩa là họ sẽ sống sót sau một cuộc chiến tranh hạt nhân tổng lực. Đây là điểm then chốt của luận chứng, theo cách nhìn nhận của tôi, Mỹ nên duy trì một lực lượng hùng hậu chuyên tấn công hạt nhân ở cả hai dạng hoạt động và dự bị hàng nghìn đầu đạn hạt nhân chiến lược.

Tất cả những điều này để bảo vệ luận chứng rằng chúng ta cần thiết phải đặt khả năng ứng phó quân sự của Trung Quốc vào tình huống cạnh tranh nhậy cảm. Chúng ta cần nhớ rằng Hoa Kỳ là một đất nước sáng tạo bậc nhất thế giới, không đứng im nhìn những tiến bộ kỹ thuật quân sự của Trung Quốc mà trong đó có rất nhiều khiếm khuyết.

Lược dịch từ Not So Scary: This Is Why China’s Military Is a Paper Tiger by Paul Dibb; Oct 15, 2015; The National Interest.

© Trần Gia Hồng Ân

User avatar
mexanh
Posts: 517
Joined: Tue Nov 04, 2008 4:18 am

Post by mexanh »


Hiểm họa ở đồng bằng sông Cửu Long



Ngô Nhân Dụng

Trong cuốn sách Cửu Long Cạn Dòng, Biển Ðông Dậy Sóng (nhà xuất bản Giấy Vụn, 2014), nhà nghiên cứu Ngô Thế Vinh đã báo động hai mối họa nước Việt Nam phải đối đầu. Chuyện Biển Ðông dậy sóng ai cũng biết nhờ tin tức thời sự mỗi ngày. Ít người Việt theo dõi mối họa thứ hai là “Cửu Long Cạn Dòng.”

Ký giả Navin Singh Khadka, chuyên trách các vấn đề môi trường sống của BBC mới viết một bài mới, báo động tình trạng đồng bằng sông Cửu Long nước ta đang gặp nạn; tai họa không những gây ra do các đập nước của Trung Quốc ở đầu nguồn sông Mekong mà còn vì hành động của chính người Việt Nam, trong lúc chính quyền hoặc làm ngơ không chú ý, hoặc bất lực không làm gì được.

Khi Cộng Sản Trung Quốc cho xây các đập thủy điện ngăn nước từ đầu nguồn sông Mekong, rồi các nước Lào, Thái Lan, Campuchia cũng đua theo, số lượng nước chảy xuống sông Cửu Long ở nước ta đã giảm bớt. Vì sức nước sông chảy yếu đi, nước biển đã dâng lên, tràn vào trong đất liền.

Hiện nay mỗi năm đồng bằng sông Cửu Long đã bị nước biển liếm mất 500 mẫu tây (năm cây số vuông). Theo Viện Khoa Học Thủy Lợi Miền Nam thì trong năm ngoái số ruộng lúa bị nước biển tràn và thấm vào còn rộng hơn nữa, mất 60 cây số vuông không thể trồng trọt. Theo các nghiên cứu khoa học của Ủy Ban Sông Cửu Long, một tổ chức của bốn nước Việt Nam, Thái Lan, Lào và Campuchia, với tốc độ nước biển xâm nhập hiện nay, tới cuối thế kỷ này vùng đồng bằng sông Cửu Long sẽ mất gần một nửa (40%) đất có thể trồng trọt, vì mực nước biển sẽ lên cao thêm cả thước.

Nhưng không cần phải đợi tới cuối thế kỷ đồng bào ta mới phải chịu tai họa. Ông Lê Anh Tuấn, thuộc Viện Nghiên Cứu Biến Ðổi Khí Hậu tại Ðại Học Cần Thơ, vì nước biển dâng lên, gần một nửa số dân sống trong vùng sông Cửu Long đang thiếu nước ngọt để sử dụng. Nước biển xâm lấn khiến những con đê ngăn nước mặn cũng hư không còn hiệu lực nữa. Tại vùng ven biển, nước mặn đã vào sâu thêm 60 cây số trong đất liền. Một số nhà vườn trồng xoài đã ngưng hoạt động, vì cây xoài chỉ sống được nếu nước mặn mỗi năm lên cao dưới 1.6 mili mét; mà hiện nay mức dâng cao đã gấp ba lần (5 mili mét). Nhiều nhà nông trồng lúa đã phải bỏ, quay sang nghề nuôi tôm. Theo nghiên cứu của Ủy Ban Sông Mekong, hiện nay số đất phù sa bồi đắp lên vùng châu thổ sông Mekong đã giảm bớt 85 triệu tấn so với năm 1992.

Ðầu mối tai họa này là chính sách khai thác điện lực và dẫn thủy nhập điền của chính quyền Cộng Sản Trung Quốc. Sông Mekong, tại Trung Quốc mang tên là Lan Thương (Lancang, 澜沧) chảy qua Tây Tạng và các tỉnh Thanh Hải, Vân Nam, trước khi đổ xuống phía Nam. Theo tạp chí World Rivers Review của cơ quan Sông Quốc Tế (International Rivers, IR), thì vào năm 2014, Trung Cộng đã xây dựng bảy đập thủy điện lớn ở đầu nguồn sông Mekong thuộc nước Tàu, con sông phát nguyên từ Tây Tạng chảy xuống Biển Ðông nước ta. Họ sẽ xây thêm 21 đập ngăn nước lớn khác trong 10 năm tới. Các nước hạ nguồn cũng bắt chước xây các đập nước khác; với dự án xây 11 con đập nữa.

Việc xây đập ảnh hưởng trên đời sống của các dân tộc phía dưới nguồn sông. Vào mùa không mưa, dân chúng hai bên bờ sông ở Lào, Thái Lan, phải dùng nước sông để tưới ruộng vườn, nay số lượng nước bị giảm. Khí hậu hai bên bờ sông cũng thay đổi vì khối lượng nước trong con sông có tác dụng giúp nhiệt độ ôn hòa, ít lên xuống hơn. Vì nhiệt độ thay đổi, đời sống các giống cá trong lòng sông cũng bị ảnh hưởng. Nhưng tai họa lớn nhất là nước biển lấn dần vào đất liền thì chỉ dân Việt ở đồng bằng sông Cửu Long gánh chịu. Ðập Don Sahong đang xây ở Hạ Lào, nhằm cung cấp điện cho Lào và Thái Lan sẽ ảnh hưởng lớn trên đời sống dân Campuchia và miền Nam Việt Nam.

Trong cuốn sách biên khảo viết dưới hình thức vừa tiểu thuyết vừa ký sự, Cửu Long Cạn Dòng, Biển Ðông Dậy Sóng, Bác Sĩ Ngô Thế Vinh đã mô tả hành động của chính quyền Trung Quốc: “Vào Tháng Tư năm 2001, Trung Quốc đã ký một thỏa hiệp về thủy vận trên sông Cửu Long nhưng chỉ với 3 quốc gia Miến Ðiện, Thái và Lào với kế hoạch vét lòng sông, cả dùng cốt mìn chất nổ phá tung những khối đá trên các đoạn ghềnh thác, các đảo nhỏ trên sông để khai thông mở rộng đường sông cho tàu lớn trọng tải từ 500-700 tấn có thể di chuyển từ cảng Tư Mao xuống Chiang Khong Chiang Sean Bắc Thái xuống thẳng tới Vạn Tượng. Trong khi Việt Nam và Campuchia là hai quốc gia cuối nguồn, trực tiếp chịu ảnh hưởng của kế hoạch ấy thì bị gạt ra ngoài.”

Sau các tai nạn do các đập nước gây ra, mối họa thứ hai là các công trường khai thác cát. Mỗi năm hàng triệu mét khối cát được đào đem đi trong vùng hạ nguyên sông Cửu Long; nhiều nhất là ở Campuchia và Việt Nam. Quỹ Thế Giới Bảo Vệ Thiên Nhiên (World Wide Fund for Nature, WWF) cho biết riêng tại đồng bằng sông Cửu Long nước ta có 150 công trường đào lấy cát, trải ra trong 13 tỉnh, tổng cộng rộng 80 cây số vuông. Các công trường cát này đã được nhà nước cấp giấy phép. Trong năm năm nữa, các công trình xây cất sẽ cần đến một tỷ mét khối cát; làm giảm bớt số ruộng đất trồng trọt.

Các tổ chức bảo vệ môi trường đã báo động và cảnh cáo chính quyền Việt Nam về tai hại của việc cho phép các công trường đào cát hoạt động mà không nghiên cứu các ảnh hưởng sâu xa. Chính quyền biết các mối tai hại đó những không làm gì cả. Khi được lệnh từ cấp trên, các địa phương từ chối thi hành vì lý do không thể bồi thường thiệt hại cho các công ty đã cấp giấy phép. Trong vấn đề này chưa có luật lệ nào bảo vệ môi trường sống của mấy chục triệu người dân. Mà khi luật lệ không đầy đủ, không rõ ràng thì người ta càng có thêm cơ hội tham nhũng!

Ngoài nạn lấy cát không có kế hoạch toàn bộ, chính quyền còn đang thực hiện những công trình “vét bùn” nới rộng lòng sông ở các khúc chi lưu nhỏ, thay đổi đời sống dân hai bên bờ. Nhiều con sông phụ sâu dưới 5 mét không cho phép các tàu thủy lớn qua lại. Việc vét bùn sẽ mở rộng đường giao thông nhưng không có kế hoạch củng cố bờ sông cho vững chắc hơn; một hậu quả là sóng lớn xô vào làm bờ sông bị lở và đất ruộng bị thu hẹp.

Hiểm họa của người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long còn tiếp diễn, vì một mặt, chính quyền Việt Nam không dám phản đối Trung Cộng trong việc xây dựng các đập thủy điện bất chấp ảnh hưởng tới các nước phía dưới, mặt khác vì chính quyền tham lam ăn hối lộ không quan tâm nghiên cứu và kiểm soát việc khai thác cát trong vùng sông chảy qua.

Chỉ khi nào Việt Nam có một chính quyền không lệ thuộc Cộng Sản Trung Quốc, nước ta mới có tiếng nói mạnh mẽ để cùng các nước trong vùng sông Mekong ngăn chặn việc Trung Cộng xây đập nước mà không tham khảo ý kiến các nước lân cận.

Chỉ khi nào Việt Nam có một guồng máy nhà nước do người dân bỏ phiếu bầu, biết lo cho dân thay vì chỉ lo tranh giành chức vụ để mưu lợi cho bản thân và gia đình thì đồng bào sống trong vùng đồng bằng sông Cửu Long mới thoát khỏi mối hiểm họa đang đe dọa.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Một vài nhận xét về quá trình chuẩn bị Ðại Hội Ðảng 12

Nguyễn Vũ Bình, viết từ Hà Nội
(Nguồn: RFA)


Ðại hội toàn quốc của Ðảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ 12 sắp tới sẽ diễn ra vào quý I năm 2016. Quá trình chuẩn bị cho đại hội là thời kỳ mà đảng Cộng Sản được sự quan tâm nhiều nhất của truyền thông, dư luận và của quốc tế. Thông thường, đó cũng là dịp các cơ quan truyền thông của nhà nước ra sức tuyên truyền, đánh bóng những thành tích cũng như cổ động cho đường lối, chính sách trong dự thảo văn kiện trình đại hội.

Bối cảnh diễn ra đại hội 12 lần này có nhiều điều đặc biệt. Vấn đề quan trọng nhất, sau 30 năm đổi mới, những sai lệch và khác biệt về nguyên lý, cơ chế, cấu trúc cũng như các chính sách kinh tế của nền kinh tế Việt Nam so với nền kinh tế thị trường lành mạnh, bình thường đã bộc lộ toàn diện và đưa tới sự cạn kiệt, cùng cực của nền kinh tế. Ðể diễn đạt một cách ngắn gọn và dễ hiểu, tổng giá trị sản phẩm của nền kinh tế hiện nay làm ra không đủ cho chi tiêu của quốc gia trong cùng một thời gian (ví dụ một năm). Trong khi đó, số nợ (nợ nước ngoài và nợ dân) đang ở con số gấp đôi GDP, và hoàn toàn không có khả năng thanh toán. Các doanh nghiệp phá sản hàng loạt, số còn lại chỉ tồn tại ngắc ngoải. Ðiều quan trọng hơn, các chuyên gia kinh tế, những người có tìm hiểu và nghiên cứu đều thống nhất một nhận định: nền kinh tế phải cải tổ ở mức cao nhất, về thể chế. Tất cả những giải pháp chắp vá đều không thể giải quyết được vấn đề và không đưa được nền kinh tế ra khỏi đại khủng hoảng.

Về mặt xã hội và chính trị, những dồn nén cùng cực của người dân khắp mọi miền đất nước vì mất đất, vì oan khuất, vì sự chèn ép của các cơ quan và nhân viên công quyền đã và đang ở mức báo động. Quá trình đàn áp các tôn giáo không hề có dấu hiệu thuyên giảm... thanh niên, sinh viên ra trường không có công ăn việc làm, không có thu nhập... tất cả đều đang ở trạng thái tuyệt vọng và giận dữ. Trong khi đó, việc Trung Quốc tiếp tục các hoạt động xâm lấn và xây dựng ở Hoàng Sa, Trường Sa cũng như dồn ép, tấn công ngư dân trên biển, ngư trường của Việt Nam càng làm cho người dân phẫn uất. Sự trở mặt của đồng minh Trung Quốc cũng đã biến tranh chấp trên biển Ðông thành tranh chấp địa chiến lược khu vực và toàn cầu. Một lần nữa, Việt Nam lại ở trọng tâm tranh chấp giữa các nước lớn, một vị thế đầy rủi ro và không nên có.

Trong bối cảnh đặc biệt như vậy, sự chuẩn bị của đảng Cộng Sản Việt Nam là gì? Trước hết, đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn thống nhất tuyệt đối trong việc duy trì sự độc quyền lãnh đạo của đảng, kiên quyết không nhượng bộ về nguyên tắc, trong khi có những nới lỏng về mặt truyền thông và xã hội dân sự. Những cam kết quốc tế nói chung, cũng như cam kết để tham gia TPP chỉ là những thủ đoạn qua cầu quen thuộc. Việc xử lý vấn đề xâm lấn của Trung Quốc bằng cách kéo các cường quốc làm đối trọng để đu dây vẫn tỏ ra có hiệu quả mặc dù vẫn có những vấn đề đối ngoại lệ thuộc Trung Quốc khiến người dân bất bình.

Có hai vấn đề nổi bật trong quá trình chuẩn bị đại hội 12. Thứ nhất, xem nhẹ và bỏ qua những khuyết tật cấu trúc, thể chế của nền kinh tế. Như trên đã đề cập, nền kinh tế hiện nay đang trong quá trình khủng hoảng về nguyên lý, cơ chế và cấu trúc. Những cải cách nửa vời trước đây, chỉ có tác dụng cởi trói nhất định cho người dân đã hết hiệu nghiệm. Toàn bộ sự bế tắc, khủng hoảng của nền kinh tế đều do những lệch lạc về nguyên lý, về cơ chế và cấu trúc gây ra. Sự cải tổ nền kinh tế là không thể tránh được, và quan trọng hơn, cần thực hiện triệt để về nguyên lý, cơ chế và cấu trúc của nền kinh tế. Tức là cải tổ toàn diện thể chế kinh tế. Tuy nhiên, đảng Cộng Sản lại một lần nữa bỏ qua cơ hội để cải tổ thực sự nền kinh tế. Có lẽ, việc vượt qua các thời điểm khủng hoảng trước đây cộng với ảo tưởng khi Việt Nam tham gia vào TPP khiến cho người ta thực sự bỏ qua vấn đề nghiêm trọng này. Việc xem nhẹ và bỏ qua cải cách thể chế kinh tế chính là nguyên nhân gốc rễ của quá trình sụp đổ chế độ trong tương lai gần.

Thứ hai, nét đậm trong sự chuẩn bị đại hội 12 lần này chính là sự chuẩn bị về nhân sự, tức là đấu đá phe cánh. Phe cánh ở đây chỉ đơn thuần kết hợp bằng lợi ích, chứ không phải về quan điểm, lý tưởng. Quá trình đấu đá giữa một bên sử dụng các nguyên tắc tổ chức của đảng và một bên sử dụng quyền lực hành pháp có lẽ sẽ đi tới một sự thỏa hiệp nào đó. Những hy vọng đột phá về chính trị rất khó xảy ra khi cả hai phía đều chuẩn bị những phương án tấn công ngay khi đối phương có dấu hiệu “chệch hướng” nào đó. Dường như họ vẫn ý thức được, mặc dù đang là đối thủ một mất một còn, nhưng cả hai bên đều đang trên cùng một con thuyền.


User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Việt Nam quá khó ‘thoát Trung’: Kẻ nào tiếp tay bán đứng dân tộc?

Phạm Chí Dũng

Image
Heo giống Bắc Kinh
Phải làm rõ trách nhiệm của các quan chức “thân Trung” ở những bộ ngành liên hệ quá môi răng với hàng nhập từ Trung Quốc: Bộ Trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng, Bộ Trưởng Giao Thông Vận Tải Đinh La Thăng, Bộ Trưởng Xây Dựng Trịnh Đình Dũng. Việc làm rõ và quy trách nhiệm này cần được làm trước Đại Hội Đảng 12.

Mùa Thu năm 2015 và là lần đầu tiên kể từ Hội Nghị Thành Đô những năm 1990, báo chí và dư luận xã hội Việt Nam bất ngờ tỉnh ngủ về tương lai “thoát Trung” nếu Việt Nam được gia nhập Hiệp Định TPP. Thậm chí vài tờ báo nhà nước còn can đảm rút tít từ ngữ trong ngoặc kép bị coi là rất nhạy cảm này.

Sự kiện trên diễn ra trong bối cảnh hơn một năm sau thời điểm giàn khoan HD 981 của Trung Quốc tha hồ vỗ mặt Bộ Chính Trị và Quốc Hội Việt Nam, và ngay sau khi TPP kết thúc đàm phán với một chân của Việt Nam đặt trên ngưỡng cửa hiệp định cứu rỗi kinh tế này.

Cũng từ khoảng một năm qua, có tin cho biết “Trung ương đảng” đã quyết định “dần thoát Trung.” Bằng chứng là ngay cả một nhân vật bị coi là cực kỳ bảo thủ như Tổng Bí Thư Trọng cũng đã đặt chân đến Washington vào Tháng Bảy vừa qua.

Thế nhưng thực tiễn “thoát Trung” bằng cách nào và tiến hóa tới đâu lại là bài toán cực kỳ nan giải, nếu xét từ hệ quy chiếu ngàn năm Bắc thuộc và hệ tư tưởng cộng sinh của Hà Nội vào Bắc Kinh trong suốt bảy chục năm lịch sử đảng Cộng Sản Việt Nam.

Bởi “thoát Trung” ngay trong những năm tới là một khả năng hoàn toàn “viễn vông” - nếu có thể mượn từ ngữ này của Thủ Tướng Dũng để mô phỏng mối quan hệ Việt-Trung.


Mối tình ngang trái


Ngay sau vụ HD 981 vào giữa năm 2014, giới chính trị và người dân Việt Nam đã phải tính tới viễn tượng đất nước bị Trung Quốc tấn công. Nếu kịch bản này xảy ra ngay tức khắc, cánh cửa nhập khẩu nguyên phụ liệu từ Trung Quốc dùng cho các doanh nghiệp dệt may sẽ bị đóng sập. Một số doanh nghiệp Việt Nam đã thản thốt than trời rằng nếu mất nguồn nhập khẩu đã ăn sâu vào não trạng này, họ chỉ có thể cầm cự được tối đa ba tháng.

Trong lịch sử buôn bán hai chiều với các quốc gia trên thế giới, Việt Nam bị phụ thuộc vào Trung Quốc nhiều nhất. Trung Quốc trở thành thị trường nhập khẩu hàng hóa lớn nhất của Việt Nam, chiếm tỉ trọng khoảng 20% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu. Năm 2014, nhập siêu của Việt Nam từ thị trường này ở mức kỷ lục với 28 tỷ USD - theo thống kê chính thức của phía Việt Nam. Nhưng số liệu phía Trung Quốc lại còn cao hơn, cộng thêm cả hàng nhập tiểu ngạch đường biên mậu, hàng lậu, trốn thuế. Nếu vào năm 2012, Việt Nam công bố con số nhập khẩu từ Trung Quốc là 28.8 tỷ USD, thì con số của cơ quan chức năng Trung Quốc lại đến 34 tỷ USD.

Phần lớn hàng nhập từ Trung Quốc là hàng trung gian, chiếm 60% gồm nguyên phụ liệu cho các ngành dệt may, da giày, điện tử; các loại máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng chiếm khoảng 30%; hàng tiêu dùng chiếm 10%.

Trong danh sách các mặt hàng nhập khẩu từ Trung Quốc năm 2014, Việt Nam tốn hàng chục tỷ USD cho nguyên phụ liệu dệt may, da giày, vải các loại, sắt thép, máy vi tính và sản phẩm điện tử linh kiện, máy móc, thiết bị dụng cụ, phụ tùng, điện thoại các loại...

Chỉ từ sau năm 2000 đến nay, giá trị nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc đã tăng đến 150 lần, từ mức 200 triệu USD lên đến 35 tỷ USD dự kiến trong năm 2015. Còn trong những năm 2013 và 2014, Việt Nam phải nhập siêu từ 23-24 tỷ USD hàng năm từ Trung Quốc. Đó là chưa kể đến 20 tỷ USD nhập lập từ Trung Quốc mà cho tới giờ này các bộ ngành Việt Nam vẫn còn nhắm mắt đổ lỗi cho nhau, không ai biết số hàng này tuồn đi đâu và cũng chẳng ai dám nhận trách nhiệm...

Một nghiên cứu của Trung Tâm WTO còn cho thấy, các nhà thầu Trung Quốc là tổng thầu EPC của 77/106 dự án lớn trong các lĩnh vực hóa chất, khai thác chế biến bauxite, xi măng, nhiệt điện... của Việt Nam. Đây là những dự án lớn, ảnh hưởng đến nền kinh tế nhưng do nhà thầu Trung Quốc thực hiện nên một phần đáng kể nguồn cung năng lượng, các hoạt động của nền kinh tế phụ thuộc vào năng lực, chất lượng và hiệu quả từ các hoạt động của nhà thầu nước này. Phần lớn các dự án lại sử dụng máy móc, vật tư, nguyên liệu nhập từ Trung Quốc càng khiến tình trạng nhập siêu của Việt Nam từ thị trường này thêm trầm trọng. Nhiều nhà máy sau khi đi vào vận hành lại gặp trục trặc, thời gian sửa chữa, bảo dưỡng kéo dài...

Đó là một sự mất cân xứng quá lớn và làm lợi rất nhiều cho Trung Quốc.

Ai và những cơ quan nào của Việt Nam đã tiếp tay cho hậu quả phụ thuộc thiên triều như thế? Làm sao có thể “thoát Trung” về kinh tế nếu vẫn khư khư ôm chặt mối tình bời rời ngang trái giữa hai thân xác chính trị thỗn thện?


Kẻ nào tiếp tay bán đứng dân tộc?


Giới chuyên gia đánh giá: Với tỉ trọng 60% nguyên phụ liệu đầu vào nhập từ Trung Quốc, nếu từ bỏ thì doanh nghiệp Việt Nam sẽ xoay trở không kịp. Cơ cấu này đang gây khó rất lớn cho việc Việt Nam tham gia vào TPP, ứng với một điều kiện không thể thay đổi của TPP là Việt Nam phải chuyển đổi vùng nguyên liệu nhập khẩu từ các nước ngoài TPP như Trung Quốc về các nước trong khối TPP.

Vậy là TPP chỉ có thể làm được vài việc cho khả năng thoát Trung về kinh tế. Với quy định nghiêm ngặt của TPP về cơ chế phải nhập nguyên vật liệu từ các nước nội khối TPP, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải bắt buộc chuyển đổi dần cơ cấu nhập khẩu từ kênh Trung Quốc sang các nước khác như Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore..., giãn dần tỉ lệ nhập siêu từ Trung Quốc.

Tuy thế, cản ngại rất lớn đang tồn tại đối với triển vọng thoát Trung không chỉ là là thói quen nhập hàng giá rẻ của Trung Quốc, mà còn bởi lợi ích nhóm về kinh tế và chính trị của một lực lượng không nhỏ giới quan chức Việt Nam nhưng “thân Tàu.” Trong thời gian qua, số quan chức này đã tìm cách ngăn cản và phá đám Hiệp Định TPP cho Việt Nam. Trong thời gian tới, những quan chức này còn có thể tiếp tục tạo ra những tình huống nan giản để gây khó khăn cho tiến trình Việt Nam triển khai thực thi các quy định TPP. Đặc biệt với những quan chức này nằm trong những bộ ngành kinh tế liên quan mật thiết đến TPP như Bộ Công Thương, Bộ Xây Dựng, Bộ Giao Thông Vận Tải, Bộ Kế Hoạch và đầu tư..., nhiều doanh nghiệp Việt Nam muốn chuyển đổi kênh nhập khẩu sẽ bị hành hạ không ít bởi chủ kiến chính trị của Bắc Kinh.

Bởi thế trong những năm trước mắt, chỉ có thể thận trọng nói tới khả năng Việt Nam “giãn Trung” về kinh tế, và tốt hơn nữa là “giãn Trung” về chính trị.

Nhưng muốn “giãn Trung” về chính trị như điều mà có lẽ phần lớn giới lãnh đạo Hà Nội đang ý thức một cách chậm chạp, lại cần phải có những hành động cụ thể thay cho lời lẽ đầu môi chót lưỡi và thay cho những khẩu hiệu mà đã khiến trí thức và nhân dân nhàm chán đến mức tăng vọt hệ số tiểu đường.

Tại sao dư luận càng phản ứng thì nạn nhập siêu từ Trung Quốc càng trầm trọng và năm sau càng trầm kha hơn năm trước? - đòi hỏi đầu tiên của nhân dân cần được giới lãnh đạo Việt Nam xử lý ngay.

20 tỷ hàng nhập lậu từ Trung Quốc đã đi đâu và ai, những cơ quan nào phải chịu trách nhiệm về lỗ hổng có thể nuốt sống cả dân tộc như thế? - một đòi hỏi tiếp theo.

Hai đòi hỏi trên lại dẫn đến đòi hỏi thứ ba và không thể thiếu: Phải làm rõ trách nhiệm của các quan chức “thân Trung” ở những bộ ngành liên hệ quá môi răng với hàng nhập từ Trung Quốc: Bộ Trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng, Bộ Trưởng Giao Thông Vận Tải Đinh La Thăng, Bộ Trưởng Xây Dựng Trịnh Đình Dũng. Việc làm rõ và quy trách nhiệm đối với các ủy viên trung ương này phải được làm trước khi đảng cầm quyền tổ chức Đại Hội lần thứ 12.

Kể cả những kẻ đã tiếp tay bán đứng dân tộc này cho Trung Quốc...

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Obama thách thức Tập Cận Bình
Ngô Nhân Dụng
Ngày 26 Tháng Mười, khu trục hạm Mỹ USS Lassen đã tiến vào vùng 12 hải lý quanh những đảo nhân tạo do Trung Cộng bồi lên trong quần đảo Trường Sa. Tổng Thống Barack Obama đã bật đèn xanh cho hành động này ngay sau bữa ăn tối với Chủ Tịch Tập Cận Bình, vào ngày 24 Tháng Chín.

Tối hôm đó Obama mời Tập Cận Bình dự một bữa tiệc nhỏ, chỉ có mặt các nhân vật thân cận để nói chuyện kín đáo, trước khi chính thức đãi quốc yến linh đình vào hôm sau. Trong bữa ăn đó Obama đã nhắc đến vấn đề các đảo nhân tạo do Trung Cộng dựng lên, và yêu cầu Tập Cận Bình hãy ngưng công tác này và yêu cầu không được quân sự hóa các hòn đảo mới đắp. Theo nguồn tin Tòa Bạch Ốc tiết lộ, Tập Cận Bình không đáp ứng mà chỉ tìm cách nói lảng sang chuyện khác. Ngay khi ăn xong, Obama đã sai nhân viên thân cận gọi điện thoại cho Ðô Ðốc Harry Harris, chỉ huy hạm đội Mỹ ở Thái Bình Dương, cho phép Hải Quân Mỹ đưa tàu chiến tới thực hiện điều mà ông Harris đã yêu cầu từ bốn tháng trước.

Hành động này đánh dấu một bước ngoặt mới trong quan hệ giữa Mỹ và Trung Cộng. Thái độ lì lợm của Bắc Kinh đã đẩy chính quyền Mỹ đến quyết định này, sau khi hai bên đã đấu khẩu gần nửa năm qua. Ðối với người Việt Nam chúng ta thì điều đáng chú ý nhất là mặc dù đã phản đối và “cảnh cáo” rất mạnh mẽ từ trước, Bắc Kinh không có một hành động cụ thể nào thể hiện những lời tuyên bố hùng hổ.

Ngoại Trưởng Trung Cộng Vương Nghị (Wang Yi, 王 毅) đã đe dọa: “Chúng tôi khuyến cáo chính phủ Mỹ hãy suy nghĩ kỹ trước khi hành động, đừng làm những việc mù quáng gây thêm rắc rối.” Sứ quán Trung Cộng tại Washington cảnh cáo: “Chính phủ Mỹ hãy tỏ ra có trách nhiệm, tự kiềm chế đừng nói và làm những việc khiêu khích...” Nhưng họ đều không nói đến một phản ứng cụ thể nào nếu Mỹ cứ làm tới.

Quả nhiên, khu trục hạm USS Lassen tiến vào trong “vùng cấm” bên các đảo Chử Bích (Subi) và Bãi Vành Khăn (Mischief) mà không hề hấn gì cả. Bộ Quốc Phòng Mỹ còn báo trước rằng sau chiếc Lassen sẽ còn những chuyến tầu tuần thám khác. Một ngày sau khi USS Lassen làm nhiệm vụ, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Cộng là Lục Khảng (Lu Kang, 陆慷) chỉ khoe rằng rằng “các bộ phận hữu trách Trung Quốc đã theo dõi chặt chẽ chiếc tàu chiến theo đúng luật lệ quốc tế, đã bám sát chiếc tàu này và phát lệnh cảnh cáo.” Lục Khảng nói thêm: “Chính phủ Trung Quốc sẽ đáp ứng một cách quyết liệt trước tất cả các hành động khiêu khích.” Phát ngôn viên sứ quán Trung Cộng Châu Hải Toàn (Zhu Haiquan, 朱海泉) cũng chỉ lập lại một ý cũ: “Mỹ không nên dùng khái niệm ‘tự do hải hành’ để phô trương vũ lực và vi phạm chủ quyền cùng an ninh của các quốc gia khác.”

Tóm lại, Trung Cộng nói rất mạnh trước khi biến cố xảy ra, rồi sau đó họ vẫn nói rất mạnh nhưng không dám ngăn cản. Ngược lại, đối với ngư dân Việt Nam thì Trung Cộng từng nhiều lần vô cớ tấn công không cần cảnh cáo trước. Cộng Sản Việt Nam chỉ dám phản đối lấy lệ. Ðây là đường lối ngoại giao “mềm nắn rắn buông” cố hữu của Cộng Sản Trung Quốc. Dù nay mai Bắc Kinh có rầm rộ đưa thêm tàu chiến hay mẫu hạm và tàu ngầm xuống vùng biển phía Nam thì cũng không bao giờ dám đọ súng với tàu chiến Mỹ, vì biết sức không địch nổi.

Một điều ít được chú ý là từ trước tới nay Bắc Kinh chưa bao giờ công bố vùng chủ quyền 12 hải lý (22 cây số) chung quanh các hòn đảo nhân tạo họ mới xây dựng. Ðó chỉ là điều được suy diễn từ những văn kiện cũ, như bản tuyên bố về lãnh hải năm 1958, trong đó bao gồm cả các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, mà đảng Cộng Sản Việt Nam, qua Phạm Văn Ðồng, đã vội vã hoan nghênh. Chuyến đi của tầu Lassen, và các tàu chiến khác sau này, không nhằm phản đối một lời tuyên bố mới nào về chủ quyền của Trung Cộng mà chỉ cốt chứng tỏ cho Bắc Kinh biết việc đắp lên các hòn đảo nhân tạo là vi phạm luật biển quốc tế. Ðó là một cách chứng tỏ thái độ của Washington rõ rệt và cương quyết chứ không chỉ nói suông.

Trong quá khứ chính quyền Mỹ đã làm giống như vậy. Tuy các quan chức Trung Cộng mới chỉ đưa ra ý kiến mơ hồ rằng “đường chín đoạn” thuộc Trung Quốc; mà chưa bao giờ chính thức minh định bằng văn kiện, nhưng các nhân viên ngoại giao và quốc phòng Mỹ cũng đã phản đối ngay. Tư Lệnh Hạm Ðội Số 7 Harry Harris đã nói trước một ủy ban Quốc Hội rằng: “Tên gọi Biển Nam Trung Quốc (South China Sea) quen dùng không có nghĩa rằng vùng biển đó thuộc Trung Quốc, cũng như gọi tên Vịnh Mexico không phải là vịnh đó là của nước Mexico.” Ông Harris có thể nói thêm rằng Ấn Ðộ Dương không là biển của nước Ấn Ðộ.

Việc Trung Cộng xây dựng các đảo nhân tạo xâm phạm chủ quyền các nước Ðông Nam Á hơn là các nước khác. Nhưng hành động này là dấu hiệu của tham vọng bành trướng trên biển của Bắc Kinh, khiến cả thế giới phải quan tâm. Từ Tháng Sáu năm 2015, Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Ash Carter đã đề nghị những hành động cụ thể để chứng tỏ chính phủ Mỹ không công nhận Trung Cộng có chủ quyền trên các hòn đảo nhân tạo đó. Theo luật biển, trong hải phận quốc tế không quốc gia nào có chủ quyền trên những vùng đá ngầm bị ngập khi nước triều lên cao. Việc bồi đắp cho các tảng đá cho cao hơn không thay đổi tình trạng pháp lý đó.

Trong vùng Biển Ðông nước ta, nhiều quốc gia đã xây đắp các đảo nhân tạo thuộc quần đảo Trường Sa, trong đó có Ðài Loan, Việt Nam và Philippines. Từ năm ngoái, Trung Cộng bắt đầu bành trướng, đã xây dựng ba phi trường, một đã hoàn tất. Theo lời tố cáo của bộ quốc phòng Mỹ, trong vòng 20 tháng họ đã đắp thêm các đảo nhân tạo diện tích tổng cộng lớn gấp 17 lần tổng số những đảo mà các nước khác đã đắp trong vòng 40 năm. Hành động này không những thay đổi thế cân bằng quân sự trong vùng Biển Ðông mà còn cho Trung Cộng cơ hội xây dựng các căn cứ quân sự đe dọa các nước Ðông Nam Á. Vào Tháng Năm, nhật báo The Wall Street Journal loan tin quân đội Trung Cộng đã đặt trọng pháo trên một nhóm đảo tên quốc tế là Johnson Reef. Sau đó, tin tình báo cho biết không còn thấy các khẩu súng này nữa, hoặc đã chuyển đi, hoặc được che đậy. Tập Cận Bình đã hứa hẹn rằng các đảo nhân tạo chỉ nhằm mục đích dân sự mà không được quân sự hóa. Một hải đăng do Trung Cộng mới lập đã bắt đầu làm việc, thông tin với các thương thuyền đi qua. Nhưng người ta vẫn biết rằng các hòn đảo mới đó sẽ là một hàng rào bảo vệ căn chứ tầu ngầm ở đảo Hải Nam. Các tàu ngầm này có thể sẽ được trang bị vũ khí nguyên tử, đe dọa trực tiếp các nước khác. Nếu đứng riêng thì các hòn đảo nhân tạo này không có khả năng tự vệ nếu bị tấn công.

Tháng Chín vừa qua, một đoàn năm chiến thuyền Trung Cộng trong khi tập trận chung với hải quân Nga đã đi vào trong vùng 12 hải lý quanh các đảo Aleutian Islands của Mỹ, trong vùng eo biển Bering giữa Mỹ và Nga. Ngày 6 Tháng Chín, phát ngôn viên Bộ Quốc Phòng Mỹ tuyên bố rằng các chiến thuyền đó đã theo đúng các thủ tục quốc tế và không có hành động gây hấn nào. Ðiều khác biệt giữa chuyến đi của năm chiến thuyền trên và của khu trục hạm USS Lassen là các hòn đảo Aleutian được thế giới công nhận thuộc nước Mỹ; ngược lại, không nước nào chấp nhận các đảo Vành Khăn và Chử Bích thuộc Trung Quốc. Chuyến đi tuần thám vào sâu trong 12 hải lý của chiếc USS Lassen chỉ cốt chứng tỏ điều đó một cách minh bạch, công khai.

Tổng Thống Mỹ Barack Obama từ khi nắm quyền đã theo đường lối ôn hòa, ngay trong vùng Trung Ðông là nơi nước Mỹ đứng giữa những cuộc tranh chấp đẫm máu. Trong vấn đề chủ quyền trên các đảo trong vùng Biển Ðông, ông Obama cũng cho thấy rất kiên nhẫn khi đối phó với Trung Cộng. Nhưng chính quyền Mỹ từng cho thấy họ không ngần ngại đối đầu khi cần thiết. Năm 2013, khi Trung Cộng công bố “Vùng nhận diện không phận” (Air Defense Identification Zone) trong khu vực biển chia với Nhật Bản và Nam Hàn, ông Obama đã cho hai pháo đài bay B-52 bay qua khu vực này mà không cần thông báo; chỉ để chứng tỏ nước Mỹ không công nhận hành động đơn phương đó. Tháng Năm năm nay, máy bay tuần thám P8-A Poseidon của Mỹ đã bay qua các hòn đảo nhân tạo của Trung Cộng, với các phóng viên đài CNN để quay phim. Tuy chuyến bay này chưa đi qua vùng 12 hải lý, nhưng binh lính Trung Cộng đã lên tiếng đuổi, và phi công Mỹ đã xác định rằng họ đang bay trong hải phận quốc tế không thuộc quốc gia nào. Bây giờ, ông Obama đã làm mạnh hơn. Chính phủ các nước Ðông Nam Á và Nhật Bản đã thúc giục Mỹ có hành động mạnh mẽ. Sau chuyến đi của USS Lassen ngày Thứ Hai vừa qua, Philippines, Nhật Bản và Úc đã lên tiếng hoan nghênh ngay lập tức. Chuyến đi của khu trục hạm Lassen cho thấy ông Obama đã thay đổi từ thái độ ngoại giao mềm dẻo sang một hành động cứng rắn đối với Trung Cộng.

Chỉ có chính quyền Cộng Sản Việt Nam còn chậm chạp, do dự không lên tiếng ủng hộ ngay hành động mới của chính quyền Mỹ. Trong khi đó ai cũng biết Việt Nam là nước bị đe dọa trực tiếp nhất trong chiến dịch bành trướng của Trung Cộng trong vùng biển Ðông Nam Á.

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Tư lệnh Hải Quân Mỹ-Trung Quốc thảo luận tình hình Biển Ðông

WASHINGTON, DC (NV) - Hai vị tư lệnh Hải Quân của Mỹ và của Trung Quốc sẽ thảo luận với nhau về tình hình Biển Ðông
sau sự kiện chiến hạm USS Lassen tuần tiễu bên trong 12 hải lý gần đảo nhân tạo mà Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền.

Theo tin thông tấn Reuters, Ðô Ðốc John Richardson và Ðô Ðốc Ngô Bang Lập (Wu Shengli) sẽ có cuộc thảo luận
qua hệ thống viễn liên truyền hình kéo dài chừng một giờ đồng hồ vào ngày Thứ Năm này.

Image
Khu trục hạm USS Lassen tập trận cùng một số chiến hạm khác của Nam Hàn hồi Tháng Năm. (Hình: US Navy)



Theo nguồn tin, cuộc họp được cả hai bên xúc tiến nhằm thảo luận các hoạt động mới diễn ra ở khu vực Trường Sa gây phản ứng mạnh mẽ từ Trung Quốc và dư luận bàn tán sôi nổi. Cuộc họp cũng sẽ thảo luận cả về mối quan hệ giữa hải quân hai nước.

Ðây là cuộc thảo luận thứ ba qua hệ thống truyền hình viễn liên giữa hải quân hai nước.

Ngày Thứ Hai vừa qua, khu trục hạm trang bị hỏa tiễn USS Lassen (từng thăm viếng hải cảng Ðà Nẵng và một số hải cảng Trung Quốc) nhận lệnh tuần tra khu vực Trường Sa.

Chiếc tàu đã đi vào bên trong phạm vi 12 hải lý khoảng gần một giờ ở khu vực các đảo nhân tạo Su Bi và Vành Khăn mà Trung Quốc xây dựng từ các bãi đá ngầm trên biển.

Trung Quốc coi khu vực này cũng như hơn 80% Biển Ðông là “lãnh thổ” của họ “từ thời cổ đại” trong khi các nước khác trong khu vực như Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei, và Ðài Loan cũng tuyên bố chủ quyền một phần.

Cũng từ tuyên bố ngang ngược đó, Trung Quốc đã bồi đắp bảy bãi đá ngầm cướp của Việt Nam thành bảy đảo nhân tạo khổng lồ mà giới chuyên viên đều tin chúng sẽ trở thành các căn cứ quân sự trên biển cho cả Không Quân và Hải Quân để Bắc Kinh khống chế toàn bộ Biển Ðông.

Theo Công Ước Quốc Tế Về Luật Biển (UNCLOS), mà Trung Quốc là một quốc gia thành viên, những bãi đá ngầm, đảo nhân tạo không được coi là lãnh thổ để từ đó xác định lãnh hải 12 hải lý.

Tuy nhiên, vì ngang nhiên coi những đảo nhân tạo là “lãnh thổ” nên Trung Quốc coi hành động đi vào bên trong “lãnh hải 12 hải lý” là vi phạm chủ quyền của họ.

Trước khi cho khu trục hạm Lassen đi vào bên trong 12 hải lý, Washington liên tiếp đánh tiếng cho biết sẽ cho tàu đi vào bên trong “lãnh hải” mà Bắc Kinh tự tuyên bố, vì những vùng đó không phải là những vùng cấm bay qua hay cấm tàu chạy qua, theo luật lệ quốc tế.

Sau khi sự việc xảy ra, Bộ Ngoại Giao Trung Quốc triệu tập đại sứ Mỹ tại Bắc Kinh, ông Max Baucus, đến để phản đối chính thức.

Báo nhà nước Trung Quốc, đặc biệt là tờ diều hâu hung hăng Hoàn Cầu Thời Báo (phó bản Anh ngữ của tờ Nhân Dân Nhật Báo tại Bắc Kinh, cùng một trụ sở) đe dọa rằng Trung Quốc “không sợ phải đánh nhau với Mỹ ở khu vực” cũng như “quyết tâm bảo vệ lợi ích quốc gia và danh dự.”

Báo này còn nói: “Ðối lại với sự sách nhiễu của Mỹ, Bắc Kinh sẽ đối xử với Washington một cách phũ phàng và chuẩn bị cho tình huống xấu nhất.”

Hôm Thứ Ba, Tân Hoa Xã bình luận rằng, hành vi khiêu khích của Mỹ “làm tăng thêm căng thẳng ở khu vực.”

Cho tới nay, người ta vẫn không thấy Hà Nội phản ứng gì về sự kiện xảy ra ở vùng biển đảo Trường Sa mà Việt Nam vẫn cả quyết mình có chủ quyền với các bằng chứng lịch sử và thực tế “không thể tranh cãi.”

Người ta không khỏi ngạc nhiên khi thấy hôm Thứ Tư, 28 Tháng Mười, Bộ Ngoại Giao Việt Nam cho phát ngôn viên Lê Hải Bình phản đối về hai ngọn hải đăng mà Trung Quốc đã xây dựng tại hai đảo nhân tạo ở Trường Sa.

Trong khi đó, đại sứ Mỹ tại Hà Nội, ông Ted Osius, phát biểu trên tờ báo điện tử VNExpress hôm Thứ Tư qua bản tin viết rằng: “Tôi cho rằng việc nêu cao tinh thần của luật pháp quốc tế chính là cách để ngăn xung đột. Chắc chắn chúng ta không muốn có xung đột và tôi nghĩ chính các nước trong khu vực cũng không muốn thấy điều này.”

Trong cuộc điều trần ở Ủy Ban Quân Vụ Thượng Viện hôm Thứ Ba, ông Ashton Carter, bộ trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ, tránh né trả lời trực tiếp các câu hỏi về biến cố xảy ra trên Biển Ðông một ngày trước đó.

Tuy nhiên, một viên chức chính phủ nói rằng Hải Quân Hoa Kỳ sẽ còn cho những chiến hạm khác tiếp tục tuần tra ở khu vực trong tương lai. (TN)

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Đảng cầm quyền thất bại vì xa dân

Đinh Minh Đạo

Image
Cuộc bỏ phiếu ngày 25-10 của các cử tri Ba Lan đã chấm dứt hai nhiệm kỳ liên tiếp cầm quyền của đảng Cương Lĩnh Công Dân (PO). Với 24,03 số phiếu, PO thua đảng Luật Pháp và Công Lý (PiS), đảng dẫn đầu với 37,58% số phiếu.
Vì sao một đảng cầm quyền có nhiều thành tích lại bị các cử tri bỏ rơi?

Thành tựu của những năm cầm quyền

Tám năm lãnh đạo của PO, Ba Lan đã đạt được các mục tiêu kinh tế, chính trị, quốc phòng …chưa từng có trong lịch sử của dân tộc. Ba Lan trở thành nền kinh tế thứ 6 trong 28 thành viên của Liên Minh Châu Âu (EU).

Trong 8 năm qua, kể cả thời gian khủng khoảng kinh tế, nhiều quốc gia thuộc EU đều có kinh tế tăng trưởng âm hoặc bằng không, Ba Lan vẫn giữ được mức tăng trưởng hàng năm trên 3% , lạm phát thấp, tỷ lệ thất nghiệp đã giảm xuống một con số (khoảng 9,5%). Giờ đây mục tiêu mục tiêu đuổi kịp mức sống trung bình của EU không còn là xa vời nữa. Về đầu tư trong xây dựng, được sự hỗ trợ của EU, cơ sở hạ tầng được xây dựng nhanh chóng, hệ thống đường cao tốc nối các thành phố và các trung tâm kinh tế của Ba Lan là một trong hệ thống đường cao tốc đẹp và hiện đại nhất tại đông Âu.

Về quốc phòng, trong những năm qua, quân đội Ba Lan đã trở thành một quân đội chuyên nghiệp hiện đại, đảm nhiệm phòng thủ biên giới phía đông của EU, lực lượng „phản ứng nhanh” của NATO đặt tại Ba Lan để bảo vệ các thành viên NATO trước sự khiêu khích và xâm lược của Putin.

Thất bại vì xa dân

Những thành tựu kể trên đã đem lại lợi ích kinh tế cho nhân dân, nhưng không phải mọi thành phần trong xã hội đều được hưởng lợi ích mà nó đem lại như nhau. Những người nông dân cảm thấy mình bị thiệt thòi nhất. Gía nông phẩm giảm, khi hạn hán mất mùa sự giúp đỡ của nhà nước không kịp thời, hoa quả xuất khẩu sang Nga, bị EU cấm vận, Nga đã trả đũa không nhập hoa quả của Ba Lan, nhà nước chưa có biện pháp giúp đỡ kịp thời, những người nông dân cảm thấy chính quyền ở quá xa đối với họ. Theo thống kê của các nhà xã hội học, khu vực nông thôn là khu vực PO mất nhiều phiếu nhất so với kỳ bầu cử 2011.

Sau bốn năm kể từ kỳ bầu cử năm 2011, thế hệ cử tri trẻ mới đã đi bỏ phiếu. Họ sinh ra và lớn lên trong nước Ba Lan độc lập tự do. Họ ít quan tâm đến thế hệ Công Đoàn Đoàn Kết đã đấu tranh và hy sinh để họ được sống trong một nước Ba Lan độc lập tự do.

Điều họ quan tâm là học hành thành đạt, công ăn việc làm ổn định với một đời sống vật chất sung túc. Nhiều thanh niên tốt nghiệp đại học thất nghiệp, chính quyền chưa có biện pháp giúp đỡ họ. Giới trẻ bất bình nói rằng chính quyền không thấu hiểu hoàn cảnh của họ, họ chưa được hưởng những thành quả của xã hội, họ còn thất nghiệp, lấy tiền đâu mua ô tô để chạy trên các xa lộ cao tốc rộng đẹp, họ đã không bỏ phiếu cho PO, họ bỏ phiếu cho các đảng đã đưa ra những lời hứa hẹn giúp đỡ họ.

Trong 4 năm qua, chính quyền chưa có biện pháp để giải quyết một số xí nghiệp của nhà nước làm ăn thua lỗ như các mỏ than đá, ngành hàng không … Công nhân ở các mỏ than đã phản đối chính quyền xa vời với thực tế của các mỏ than, nhiều cuộc đình công phản đối chính phủ của công nhân các mỏ than đã xẩy ra.

Ngoài những nguyên nhân kể trên dẫn đến thất bại trong bầu cử của PO, các nhà bình luận, các nhà chính trị còn cho rằng, những thay đổi trong nội bộ PO đã góp phần dẫn đến thất bại trong bầu cử. Cách đây hơn một năm, ông Donald Tusk, chủ tịch đảng PO, thủ tướng chính phủ, người đã dẫn dắt PO thắng cử hai lần liên tiếp đã đến Brusel để nhận chức chủ tịch cộng đồng của EU, chuyển giao chức chủ tịch đảng và thủ tướng cho bà Ewa Kopacz. Thiếu vắng một lãnh đạo mạnh, tổ chức vận động bầu cử kém đã dẫn đến kết quả xấu, gây thất vọng trong nội bộ đảng và những cử tri trung thành với đảng.

Sân khấu chính trị sau bầu cử

Kết quả bầu cử đã gây ngạc nhiên. Sự kiện thứ nhất, lần đầu tiên từ khi Ba Lan chuyển sang thể chế dân chủ, Liên Minh Cánh Tả (SLD – đảng hậu cộng sản) đã không đủ ngưỡng phiếu để có chân trong quốc hội.

Sự kiện thứ hai, với đa số trong quốc hội, PiS sẽ đứng ra thành lập chính phủ không cần liên minh với đảng nào khác trong quốc hội. Sự kiện này được hầu hết các tờ báo có uy tín của châu Âu chạy tít lớn:”Ba Lan quay trở lại cực hữu và chủ nghĩa dân tộc”.

Sự kiện thứ ba, có hai đảng mới thành lập cách đây mấy tháng sẽ có chân trong quốc hội, một do ca sỹ nhạc rock thành lập, mang tên Kukiz15 và một do nhà kinh tế trẻ tuổi Ryszard Petru thành lập, mang tên Nước Ba Lan Hiện Đại. Cả hai đảng này có chương trình tranh cử với nhiều điểm mới, tuyên bố cạnh tranh với 2 đảng lớn PiS và PO.

Nhiều người lo lắng sắp tới PiS sẽ thi hành các chính sách kinh tế và chính trị tương tự như chính quyền Viktor Orban của Hungary, đưa Ba Lan xa rời EU, thực hiện những hứa hẹn mị dân trong bầu cử, làm tổn hại đến kinh tế quốc gia. Các nhà chính trị, các đảng đồi lập thì cho rằng Ba Lan không phải là Hungary, xã hội Ba Lan đã bắt rễ sâu rộng tư tưởng dân chủ và trách nhiệm công dân. Các đảng đối lập trong quốc hội là lực lượng đủ mạnh để kiềm chế chính quyền của PiS, nếu họ đi ngược lại những nguyên tắc của xã hội dân chủ và nền kinh tế thị trường.

*

Theo dõi và quan sát bầu cử của Ba Lan, tôi chạnh nghĩ đến Việt Nam. Xã hội dân chủ tự do luôn xuất hiện những nhân tố mới thúc đẩy xã hội tiến lên. Tự do thành lập đảng phái, tự do ứng cử bầu cử tạo điều kiện để người dân lựa chọn chính quyền thực sự là của mình. Những chính quyền xa rời lợi ích của người dân, tham nhũng và bất tài sẽ bị đảo thải bằng lá phiếu.

Đảng Cộng Sản Việt Nam (Đ CSVN) cầm quyền đã hơn nửa thế kỷ, vẫn tiếp tục cầm quyền, Họ thanh minh rằng, họ đã có công đánh Pháp đuổi Mỹ nên cầm quyền mãi mãi là chính danh.

Nếu những người của Công Đoàn Đoàn Kết, đã đấu tranh để đánh đổ chế độ cộng sản Ba Lan cũng „học
tập” ĐCSVN mà rằng, họ có chính danh để cầm quyền Ba Lan mãi mãi, thì nước Ba Lan hiện nay đang ở vị trí nào trong châu Âu dân chủ, giầu có và văn minh?

Warszwa 28-10-2015

Post Reply