Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Quả báo ngân sách: Nợ công ‘cấm cửa’ ODA

Phạm Chí Dũng
2016, Việt Nam bước vào kỷ nguyên Quốc Hội mới, chính phủ mới và ngân sách thủng túi.

“Cấm cửa” vay ưu đãi


Ngay sau hai chuyến làm việc liên tiếp tại Hà Nội của Chủ tịch nhóm Ngân hàng thế giới Jim Jong Kim và Tổng Giám Đốc Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế Christine Lagarde mà đã không hứa hẹn bất cứ khoản cho vay mới nào đối với giới lãnh đạo Việt Nam, Bộ Tài Chính nước này đã biểu hiện một cử chỉ lộ diện hơn nhiều so với thái độ cố giấu trước đây: tổ chức buổi họp báo chuyên đề về chính sách cho vay lại vốn ODA vào ngày 22 tháng 3, 2016 tại Hà Nội.

Cuộc họp báo này thấm màu u ám. Cục Trưởng Cục Quản Lý Nợ và Tài Chính Quốc Tế Trương Hùng Long thông báo: Một trong những điều khoản khi Việt Nam không còn được vay theo điều kiện ODA vào năm 2017 là các khoản vay hiện nay sẽ phải rút ngắn thời gian trả nợ hoặc chịu trả mức lãi suất cao hơn so với cam kết trước đây.

Nếu giai đoạn trước 2010, thời hạn vay bình quân khoảng 30-40 năm, với chi phí vay khoảng 0.7 - 0.8%/năm, bao gồm thời gian ân hạn, thì đến giai đoạn 2011-2015 thời gian vay bình quân chỉ còn từ 10-20 năm, tùy theo từng đối tác và từng loại vay, với chi phí vay khoảng 2%/năm trở lên.

Dự kiến đến tháng 7, 2017, Việt Nam có thể không còn được vay theo điều kiện ODA, phải chuyển chủ yếu sang sử dụng nguồn vốn vay ưu đãi và tiến tới vay theo điều kiện thị trường. Nguồn vốn ODA đã vay chuyển sang điều khoản trả nợ nhanh gấp đôi hoặc tăng lãi suất lên từ 2%-3.5%.

Thực ra, “điềm báo” đã hiện ra trước đó. Tháng 12, 2015, Ngân Hàng Thế Giới đã đột ngột thông báo “dừng các khoản vay ưu đãi đối với Việt Nam.”

Đương nhiên, điều khoản phải trả nợ nhanh và tăng lãi suất đương nhiên có thể gây sốc cho ngân sách trong việc “thu xếp” các khoản nợ trong thời gian tới.

Vậy nợ phải trả trong thời gian tới là bao nhiêu?

Ác mộng nợ công

Theo chính báo cáo của Bộ Tài Chính, con số trả nợ trong năm 2015 chiếm khoảng 16% tổng thu ngân sách. Trong năm 2016, các khoản phải trả nợ và đảo nợ chiếm hơn 24% trên tổng chi ngân sách, riêng trả nợ là 14.7% tức là tương đương trên 150 nghìn tỷ đồng. Còn lại khoản đảo nợ là 95,000 tỷ đồng.

Trước cuộc họp báo trên của Bộ Tài Chính, tại Hội Thảo Công Bố báo cáo tổng quan thị trường tài chính năm 2015 và chỉ số kinh tế dẫn báo do Ủy Ban Giám Sát Tài Chính Quốc Gia tổ chức tại Hà Nội vào ngày 14 tháng 3, 2016, ông Trần Đình Thiên - viện trưởng Viện Kinh Tế, Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội Việt Nam - đã phải thốt lên: “Ngân sách năm gay rồi, dự báo năm sau sẽ tiếp tục gay thì ảnh hưởng thị trường tài chính của Việt Nam.”

Vào cuối năm 2015, ông Bùi Quang Vinh - Bộ Trưởng Kế Hoạch và Đầu Tư đã phát lộ, “Ngân sách trung ương chỉ còn 45,000 tỷ đồng.” Tại thời điểm đó, ngay một số quan chức cấp cao cũng phải thừa nhận “tình hình ngân sách là cực kỳ căng thẳng.” Sau đó, người ta chứng kiến phía chính phủ chỉ đạo Bộ tài chính phải vay mượn khoảng 30,000 tỷ đồng từ Ngân hàng nhà nước “để cân đối khó khăn ngân sách,” còn Bộ tài chính phải thoái vốn tại hàng loạt ngân hàng và cả những doanh nghiệp đầy màu mỡ như Vinamilk...

Trong khi đó, bội chi ngân sách đã vượt trần nguy hiểm từ lâu. Vào năm 2013, bội chi ngân sách đã lên đến 6.3% GDP. Còn cuối năm 2015, để “lập thành tích chào mừng đại hội đảng 12,” chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã cam kết bội chi ngân sách năm 2015 sẽ không vượt quá 4.5% GDP. Nhưng rốt cuộc, con số phải thừa nhận tại kỳ họp thứ 11 Quốc Hội tháng 3, 2016 là 6.1% GDP.

Nợ công quốc gia cũng “địa ngục” không kém. Càng gần thời điểm cuối cùng của “Triều Đại Nguyễn Tấn Dũng,” tình hình số liệu nợ nần quốc tế càng tung bay hơn. Nếu những năm trước, báo cáo của chính phủ chẳng bao giờ chịu thừa nhận tỉ lệ nợ công/GDP tiệm cận giới hạn nguy hiểm 65%, thì nay một số bộ ngành như Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư, Bộ Tài Chính đã bắt đầu thốt ra nỗi đau trần trụi này, dù còn kém thua rất xa so với tỉ lệ nợ công/GDP thực tế đã vọt lên đến ít nhất 98% từ năm 2011 - theo chính một chuyên gia nhà nước “làm ra 100 đồng thì đã phải dùng đến hết 98 đồng để trả nợ.”

Trong nợ công quốc gia, ODA chiếm một phần đáng kể và cũng là một thứ trụ giúp cho chân đứng chế độ độc đảng khó bị gãy vụn trong suốt nhiều năm qua.


Quả báo ODA


Tục ngữ Việt “Đi đêm có ngày gặp ma” đã ứng nghiệm dù quá muộn màng.

Quả báo ODA có thể đã bắt đầu từ năm 2012. Ngay trước thềm hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ giữa kỳ năm 2012, Bộ Ngoại Giao Đan Mạch đã không ngần ngại tuyên bố ngừng 3/4 dự án ODA tài trợ cho Việt Nam do nghi ngờ một số cơ quan đơn vị sử dụng chi sai khoảng 11.4 tỷ đồng trên tổng số tiền 69 tỷ đồng do Đan Mạch tài trợ, tức là tương đương khoảng 19.9 triệu cua-ron.

Năm 2013, phía Thụy Điển đã bắt buộc phải ngừng vô thời hạn các khoản viện trợ ODA cho Việt Nam sau khi phát hiện hàng loạt gian dối của quan chức Việt. Sau đó cả Bộ Ngoại Giao Australia vài vài quốc gia khác cũng bắt đầu cắt giảm viện trợ.

Một trong những “gương người tốt việc tốt” ghê gớm nhất là vụ PMU18 vào năm 2006, với hình ảnh rất tiêu biểu của trưởng ban PMU18 Bùi Tiến Dũng thuộc Bộ Giao Thông Vận Tải - một kẻ tắm bia khi quan hệ với gái.

Sau đó, báo chí Nhật Bản - chứ không phải báo chí Việt Nam - đã phát hiện công ty tư vấn quốc tế Thái Bình Dương của Nhật đã phải hối lộ cho quan chức Việt Nam phụ trách dự án đại lộ Đông-Tây ở Thành phố Hồ Chí Minh một phần hoa hồng tương đương 10% giá trị hợp đồng. Lúc đó cũng là một trưởng ban của PMU Đông-Tây là Huỳnh Ngọc Sĩ đã nhận số tiền hối lộ trên 800,000 đô la.

Chỉ vài tuần lễ sau khi xảy ra vụ việc 6 quan chức ngành đường sắt Việt Nam bị bắt tạm giam do bị nghi nhận tổng cộng 16 tỷ đồng tiền hối lộ từ công ty Tư Vấn Giao Thông Nhật Bản (JTC), vào đầu tháng 6, 2014, Bộ Ngoại Giao Nhật Bản đã ra thông báo cho biết các khoản vay mới bằng đồng yen và các khoản tài trợ cho dự án đường sắt đô thị Hà Nội đã bị đình chỉ.

Hạn ngạch đạo đức giới quan chức tham nhũng ODA đã không còn biết giới hạn chấm mút là gì.

Thậm chí còn có những tỉ lệ tham nhũng, thất thoát cụ thể đối với ODA ở Việt Nam. Trong một lần hiếm hoi, báo điện tử Vietnamnet đã nêu ra một minh họa cụ thể: từ năm 2009-2010, sau khi đại sứ quán Nhật tại Việt Nam loan báo sẽ viện trợ không hoàn lại để một số tỉnh xây trường học, đường sá hạ tầng& thì có một phụ nữ mà tờ báo không dám nêu tên, chỉ cho biết là cư ngụ tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, đã liên lạc với lãnh đạo nhiều xã ở Hà Tĩnh để đặt vấn đề chạy dự án, với điều kiện khi thành công phải cắt cho bà ta 40%.

Sau đó nguồn vốn ODA đã được rót về cho ba xã ở Hà Tĩnh, trong đó có một xã tên là Gia Phố được nhận 80,000 đô la để xây dựng trường tiểu học. Chính quyền xã này đã lấy 8,000 đô la chia cho nhau, rồi lấy thêm 24,000 đô la chi cho người phụ nữ làm môi giới. Tỉ lệ 40% tương tự cũng xảy ra ở huyện Cẩm Xuyên. Do bị ăn chặn thảm thiết đến thế, các cơ sở giáo dục, đường sá ở ba xã trên đều sụt giảm mạnh về quy mô và chất lượng.

Còn rất nhiều dẫn chứng khác về lãng phí và “ăn dày” ODA. Năm 2015, báo chí phản ánh công trình cầu vượt Giá Rai (thị xã Giá Rai, Bạc Liêu) được xây dựng với tổng vốn đầu tư 290 tỉ đồng rồi... bỏ không khoảng ba năm nay do hết vốn làm đường dẫn, gây lãng phí. Hoặc dự án trích dầu cám ở Bến Tre, dự án dây chuyền dệt bao đay ở TP.HCM, dự án nhà máy thủy sản đông lạnh Hạ Long, chương trình phát triển dâu tằm tơ ở Lâm Đồng và hàng loạt dự án cơ khí, cấp nước, nông nghiệp vay vốn ODA từ Pháp, Đức không hiệu quả...

Một loạt dự án sử dụng vốn ưu đãi, nhất là lĩnh vực giao thông, chậm tiến độ và đội vốn lớn so với tổng mức dự kiến đầu tư ban đầu như dự án tuyến metro Nhổn - ga Hà Nội, dự án xây dựng tuyến metro số 1 (Bến Thành-Suối Tiên) và dự án metro tuyến Bến Thành-Tham Lương ở TP.HCM...

Thế nhưng điều kỳ quái la cho đến nay ở Việt Nam vẫn chưa có bất kỳ tổ chức giám kiểm độc lập nào cho một khu vực được coi là nhạy cảm như ODA. Những tổ chức phi chính phủ Việt Nam muốn làm việc này thì không được cho phép thành lập, trong khi đó những tổ chức phi chính phủ nước ngoài vốn có truyền thống kiểm định những dự án lớn như thế này lại chưa hoạt động ở Việt Nam, và cũng chưa được được một cơ quan nhà nước Việt Nam nào mời.

2016, sau vài chục năm “vay mượn, vay mượn ồ ạt cho đến khi sụp đổ,” ngân sách Việt Nam đã biến thành một tổ mối đúng nghĩa: tỉ lệ nợ công/GDP vượt xa giới hạn nguy hiểm, còn cộng đồng tài chính quốc tế đang thẳng tay “cấm cửa” vay mượn ODA đối với chính thể “ăn của dân không chừa thứ gì.”

Trong cơn mê sảng quằn quại giai đoạn cuối, quả báo đã ứng nghiệm.

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Tàu cá, cuộc chiến âm thầm của Trung Quốc trên Biển Đông

TRUNG QUỐC - Từ trước đến nay, qua nhiều hình thức, Trung Quốc nhiều lần vi phạm công pháp quốc tế trên Biển Đông,
bằng những sự lấn chiếm hải đảo của Việt Nam và Philippines,
bằng tuyên bố chủ quyền về cái gọi là Đường Lưỡi Bò và gần đây với việc bồi đắp các đảo nhân tạo.

Image
Một đoàn tàu đánh cá Trung Quốc trên Biển Đông. (Hình: Getty Images)



Bên cạnh đó, có một việc làm liên tục và lặng lẽ hơn nên ít gây sự chú ý, đó là hoạt động của tàu đánh cá. Những va chạm tranh chấp giữa đội tàu cá với nước khác nếu đôi khi xảy ra thì cũng chỉ được coi như chuyện thường tình ngoài dự tính và không thể tránh khỏi trên mặt biển.

Nhưng nhìn toàn bộ và nhận xét về những sự kiện gần đây, thì vấn đề không chỉ đơn giản như thế. Những hoạt động có hệ thống của tàu cá Trung Quốc nằm trong mục tiêu ngắn hạn và dài hạn của chiến lược bành trướng ở Biển Đông. Trung Quốc có hàng chục ngàn tàu cá hoạt động trên Biển Đông, con số lớn hơn gấp bội các nước ASEAN.

Cũng đừng nên quên, khác với mọi quốc gia, trên Biển Đông, tàu cá Trung Quốc – một tàu hay một đội tàu – luôn được yểm trợ bởi tàu hải giám. Tàu hải giám Trung Quốc (China marine surveillance) là loại tàu cảnh sát biển, không phải chiến hạm tuần duyên. Trên lý thuyết đây là tàu bán quân sự thuộc một cơ quan dân sự, vũ khí trang bị chỉ từ súng nhỏ cho tới đại liên. Với tàu hải giám, Trung Quốc tỏ ra không sử dụng phương tiện quân sự, nhưng khi cần thiết chiến hạm hải quân có thể sẵn sàng can thiệp.

Trong một bài trên tờ Washington Post ngày 12 tháng Tư, ký giả Simon Denyer khẳng định Trung Quốc đang dùng hạm đội tàu đánh cá và lực lượng ngư dân đông đảo của họ cho trận chiến bí mật trên Biển Đông. Trận chiến đó có hai mục tiêu rõ ràng là trước mắt vơ vét tài nguyên hải sản và lâu dài mở rộng việc xác định chủ quyền biển đảo. Ngư dân là con chủ bài, là hàng tiền vệ của Trung Quốc trong trận chiến không công khai ấy. Trung Quốc sẽ không phá vỡ hòa bình và không nổ súng trước, vì họ có đủ ưu thế để thắng trận trong mọi trường hợp.

Trong những tuần lễ vừa qua, tình hình căng thẳng giữa Trung Quốc với nhiều nước ASEAN, không chỉ Việt Nam và Philippines mà còn Indonesia và Malaysia. Cuối tháng Ba, Malaysia khám phá một đội khoảng 100 tàu cá được một tàu hải giám hộ tống, xâm phạm lãnh hải của mình gần bãi ngầm Luconia. Tọa độ này chỉ cách đảo Borneo của Malaysia dưới 100 hải lý, nhưng cách bờ biển phía nam đảo Hải Nam Trung Quốc tới 800 hải lý.

Một vụ căng thẳng khác xảy ra vào ngày 20 tháng Ba khi Indonesia bắt giữ một tàu cá Trung Quốc đánh bắt trái phép gần quần đảo Natuna. Trong khi tàu cá này đang bị lôi về Indonesia thì một tàu hải giám Trung Quốc đến, dùng sức mạnh hơn để cản việc kéo, cho đến khi tàu Indonesia phải buông giây kéo.

Mặc dù đang có mối quan hệ khá tốt đẹp với Trung Quốc, chính phủ Indonesia đã phản ứng rất giận dữ với sự kiện ấy, và khẳng định là Bắc Kinh đã phá hoại những nỗ lực duy trì hòa bình trong vùng biển tranh chấp. Bộ Quốc Phòng Indonesia cam kết sẽ điều phái chiến hạm lớn đến yểm trợ cho các tàu tuần duyên, triển khai lực lượng đồn trú bảo vệ những hải đảo xa và kể cả việc có thể dùng chiến đấu cơ F-16 tuần thám vùng lãnh hải.

Đầu tháng Tư, Việt Nam bắt giữ một tàu dầu Trung Quốc tiếp tế nhiên liệu cho những tàu cá hoạt động xâm phạm vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam. Đây là trường hợp rất hiếm thấy, vì Việt Nam luôn tránh những hành động có thể tạo điều kiện cho Trung Quốc viện cớ làm lớn chuyện hơn. Tất cả các nước ASEAN không nước nào có quân lực ngang tầm cỡ Trung Quốc nếu xảy ra một trận chiến tranh toàn diện, vì vậy việc gia tăng lực lượng và vũ khí chỉ có thể nhằm mục đích chống trả trong những xung đột nhỏ nhất thời.

Việc tàu cá mở rộng hoạt động trên Biển Đông trước hết là một phần của nỗ lực gia tăng thu hoạch thủy sản mà nguồn cung cấp trong vùng biển thuộc Trung Quốc đã gần cạn kiệt. Trung Quốc có 15 triệu ngư dân và ngành xuất cảng hải sản đứng vào hàng đầu thế giới. Cơ quan Lương Nông Liên Hiệp Quốc (FAO) ước lượng mỗi đầu người dân Trung Quốc một năm tiêu thụ khoảng 80 pounds hải sản, gần gấp đôi trung bình của toàn cầu, và tiếp tục gia tăng 8% từng năm.

Nhưng Trung Quốc cũng còn sử dụng đội tàu đánh cá để bắt đầu một chuỗi hành vi nhằm khẳng định những yêu sách chủ quyền phi lý trên Biển Đông. Khi xảy ra tranh chấp va chạm nào, Trung Quốc đều nêu lên lập luận phi lý về Đường Lưỡi Bò và cho rằng Biển Đông là nơi ngư dân của họ đã hoạt động từ nhiều thế kỷ trong lịch sử.

Bài báo trên tờ Washington Post nêu ra trường hợp của Chen Yuguo, 50 tuổi, thuyền trưởng một tàu cá ở ngư cảng Tanmen bờ biển phía Nam đảo Hải Nam. Ông này cho biết đánh bắt trong vùng biển Trường Sa đang còn tranh chấp, thu hoạch khá hơn nhiều so với những chỗ khác. Chen nói thêm: “Đây là vùng biển của Trung Quốc. Không họat động tại đó thì làm sao có thể xác định chủ quyền của chúng tôi.”

Cũng theo Simon Denyer, tác giả bài báo, thì “đánh bắt, bảo vệ, chiếm đoạt và kiểm soát” là một chuỗi trong trình tự lấn chiếm Biển Đông của Trung Quốc. Bắc Kinh xem các ngư dân và tàu cá là công cụ quan trọng trong việc mở rộng sự hiện diện và khẳng định những yêu sách của Trung Quốc trong các vùng biển tranh chấp.

Ngư dân Trung Quốc, với sự hỗ trợ bởi các tàu cảnh sát biển, được khuyến khích hải hành đi rất xa đất nước mình đến gần bờ biển của các quốc gia khác. Nhà cầm quyền Trung Quốc trang bị miễn phí cho các tàu cá hệ thống Bắc Đẩu, hệ thống định vị vệ tinh giống như GPS của Mỹ. Khi cần các tàu cá có thể liên lạc trực tiếp để tàu hải giám tới ngay địa điểm được báo.

Những tàu hoạt động xa cũng được trợ cấp nhiên liệu. Chính quyền tỉnh Hải Nam cũng trợ giúp cho việc đóng những tàu lớn hơn, có vỏ bọc thép, cho hạm đội ngư thuyền khoảng 50,000 chiếc riêng ở vùng Biển Đông. Tất cả những việc làm ấy cho thấy mục đích chính của tàu cá Trung Quốc không chỉ là đánh bắt hải sản mà còn nhằm sẵn sàng gây hấn với các nước láng giềng khu vực.

Thêm nữa, Trung Quốc còn có một đội võ trang nhẹ gọi là Dân Quân Biển (Tanmen Maritime Militia) ngụy trang vào trong hạm đội tàu cá. Trong vụ cưỡng chiếm Hoàng Sa năm 1974, hải quân Việt Nam Cộng Hòa đã đụng độ với dân quân loại này. Thuyền cá của Tanmen cũng từng nhiều lần khiêu khích các chiến hạm Mỹ đi vào Biển Đông, đồng thời còn làm nhiệm vụ vận chuyển vật liệu xây dựng tới các khu vực Trung Quốc đang cải tạo và xây dựng trái phép ở quần đảo Trường Sa.

Rodger Baker, phân tích gia hàng đầu của Tổ Chức Tình Báo Toàn Cầu Stratfor, nhận định rằng việc sử dụng lực lượng dân quân biển đang khiến Trung Quốc phải đối mặt với rủi ro lớn. Ông nói: “Khi bị xúi giục bằng những luận điệu chủ quyền, chủ nghĩa dân tộc, hay chủ nghĩa yêu nước, các thuyền trưởng tàu cá sẽ cho rằng họ có thể hành động ngang ngược vì đã có người đứng sau bảo vệ. Và họ nghĩ rằng mình có thể vượt quá các giới hạn.” Theo ông, tâm lý đó chắc chắn gây ra nhiều cuộc khủng hoảng hơn nữa trên Biển Đông. (HC)

nguyennam619
Posts: 238
Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am

Post by nguyennam619 »

Việt Nam đang là sông Như Nguyệt
Ngô Nhân Dụng
Giáo Sư Kawaguchi hỏi tôi có đọc tin Ngoại Trưởng Mỹ John Kerry đến thăm đài kỷ niệm ở Hiroshima chưa? Ðây là tin thời sự duy nhất được ông nhắc tới trong cả bữa cơm tối ở Tokyo. Báo, đài ở Nhật rất chú ý đến hành động tượng trưng này. Quả bom nguyên tử đầu tiên trên thế giới do máy bay Mỹ thả xuống Hiroshima ngày 6 tháng 8 năm 1945, 200 ngàn người Nhật chết. Nhiều sử gia nhận xét rằng nếu không bị hai trái bom nguyên tử thì nước Nhật chắc không đầu hàng sớm. Chiến tranh sẽ tiếp diễn hàng năm nữa, hàng triệu người Nhật và quân Mỹ sẽ chết. Quân Nhật sẽ còn chiếm đóng Trung Quốc, Việt Nam, Miến Ðiện, Malaysia, vân vân, và hàng triệu người dân các nước đó có thể sẽ chết oan vì bom đạn, vì đói và bệnh dịch.

Khi đứng trước những đài kỷ niệm ở Hiroshima, tôi cũng thầm cảm ơn các nạn nhân ở đó, mỗi người chết thay cho mươi người khác, trong đó chắc có tôi. Dân Hiroshima không được chọn; cái chết bất ngờ tự trên trời rớt xuống. Trái bom nổ cách mặt đất mấy trăm mét, cây cầu Tương Sinh bay tung lên như chiếc lá, người ta còn ghi trên tấm bia. Người ra lệnh thả bom và viên phi công thi hành cũng không biết những người chết là ai. Chiến tranh là một nghiệp báo chung, loài người lôi kéo nhau vào trong cái guồng máy chém giết, người này chết để cho người khác sống. Người Nhật và người Mỹ còn đang nhìn lại và suy nghĩ về cái nghiệp họ cùng trải qua.

Trong lịch sử loài người, nhiều cuộc chiến tranh được chấm dứt, hoặc có thể tránh được nếu người ta dám hành động một cách quyết liệt. Tôi kể lại cho Giáo Sư Kawaguchi và cháu Aki Tanaka nghe về cuộc xâm lăng của quân nhà Tống, vào đời nhà Lý ở Việt Nam. Mấy trăm ngàn quân Tống kéo sang, vua, tướng, và quân, dân Việt Nam nhất định kháng cự. Quân Ðại Việt lập đồn phòng thủ, quân hai bên gờm nhau hai trên hai bờ sông Như Nguyệt. Cuối cùng, quân Tống phải rút về sau vài trận đụng độ, vì lính của họ mắc bệnh chết nhiều quá. Nếu vua Lý Nhân Tông và Lý Thường Kiệt run sợ, thì chắc quân Tống đã chiếm được nước ta rồi.

Trong suốt lịch sử nước ta, người Việt đã kháng cự được âm mưu đồng hóa và các cuộc xâm lăng của vua quan Trung Quốc nhờ dân ta sống ở phương Nam, người Hán phương Bắc không chịu được thời tiết, khí hậu; họ bó tay trước sức tấn công của các loài vi khuẩn và bệnh tật mới lạ. Thiên nhiên là đồng minh lớn nhất của dân tộc mình, giới lãnh đạo người Việt biết như vậy. Và họ luôn luôn sử dụng sức hỗ trợ của các đồng minh đó. Vì nhìn trên bản đồ, dân tộc Việt thấy chỉ có một cường quốc duy nhất “ở trên đầu” mình. Nước Ðại Việt cô đơn hoàn toàn, chung quanh không có một quốc gia nào đủ sức giúp mình chống lại các đạo quân Hán, Ðường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh. Ngược lại, các ông vua nhà Nguyên, nhà Thanh còn tìm cách liên kết với các vua chúa Chiêm Thành, Chân Lạp để cô lập dân Việt.

Trong thế kỷ 21 này, người Việt Nam không thể nương tựa vào các “đồng minh cũ” được nữa. Nếu xâm lăng Việt Nam, quân Trung Quốc có thể vượt qua các chướng ngại như “lam sơn, chướng khí” và các loài vi khuẩn.

Nhưng ngược lại, dân tộc Việt bây giờ cũng không còn một mình phải chống chọi với tất cả sức nặng của hơn một tỷ người Trung Hoa nữa. Tất cả thế giới liên hệ với nhau trong mạng lưới kinh tế toàn cầu, rút dây thì động rừng, khu rừng lan rộng khắp mặt địa cầu.

Vì vậy, trong Hội Nghị G-7 của bảy cường quốc kinh tế, ngoại trưởng cả bảy nước đã lên tiếng cảnh cáo Trung Cộng về vấn đề an toàn tại Biển Ðông. Bản tuyên bố chung G-7 viết: “Chúng tôi mạnh mẽ phản đối bất cứ hành động đe dọa, ức hiếp hay khiêu khích đơn phương nào có thể thay đổi nguyên trạng và làm tình hình căng thẳng hơn.”

Những hành động đe dọa, ức hiếp, khiêu khích nhắm vào nước nào, ngoài Việt Nam, Philippines, Indonesia và Malaysia? Bản văn còn nói cụ thể, rõ ràng hơn, kêu gọi “tất cả các nước” ngưng những hành động “bồi đắp đảo nhân tạo,... xây dựng tiền đồn và sử dụng chúng cho các mục đích quân sự,...” Nói “tất cả các nước” nhưng ai cũng hiểu bảy vị ngoại trưởng nhắm vào chính quyền Cộng Sản Trung Quốc.

Thủ Tướng Nhật Shinzō Abe và ngoại trưởng Fumio Kishida đã thành công khi đòi ghi vấn đề Biển Ðông nước ta vào nghị trình cuộc họp G-7 năm nay. Bắc Kinh đã công khai phản đối việc bảy nước đem vấn đề này ra thảo luận. Trong cuộc họp tại thành phố Lubeck, nước Ðức năm 2015, bảy quốc gia chỉ nhắc tới quy tắc “tự do hàng hải” mà không ám chỉ đến các hành động “đe dọa, ức hiếp, khiêu khích” của Trung Cộng ở Ðông Nam Á. Năm ngoái, các nước Châu Âu vẫn còn dè dặt không muốn dính líu tới các xung đột ở vùng biển xa xôi này. Nhưng năm nay hai ông Abe và Kishida đã cương quyết không lùi bước, và sau cùng họ thành công. Mỹ, Nhật Bản và các nước Châu Âu đã “leo thang” thêm một bước bằng hành động cảnh cáo mới nhắm thẳng vào chính quyền Trung Cộng.

Các nước Châu Âu đã chấp nhận tiến một bước mạnh hơn vì những hành động vi phạm luật biển quốc tế của Trung Cộng, hiển nhiên âm mưu quân sự hóa vùng “lưỡi bò” của họ. Họ còn được cả Mỹ lẫn Nhật Bản thúc đẩy, bằng hành động. Mỹ đã kêu gọi các nước khác tăng cường việc tuần thám ở Biển Ðông. Nhật Bản công khai hỗ trợ các nước Ðông Nam Á bảo vệ chủ quyền trên biển.

Nguyên nhân chính khiến các cường quốc dấn thân mạnh hơn vào trong khu vực đầy xung đột này là kinh tế.

Trung Cộng không phải là một đe dọa quân sự đối với các cường quốc G-7. Nhưng nếu Trung Cộng kiềm chế được các nước Ðông Nam Á và đóng vai “bá chủ” trong vùng biển này, thì kinh tế cả Mỹ, Nhật, Ấn Ðộ, và Châu Âu cũng lệ thuộc vào chính sách của Bắc Kinh. Trên thế giới ngày nay, không một nước nào, kể cả các quốc gia “nhỏ” như Singapore, Malaysia, Indonesia, chấp nhận để một cường quốc xưng hùng xưng bá kiểm soát quyền giao thương và quyền sống của nước mình.

Năm 1941, chính quyền quân phiệt Nhật Bản quyết định bất ngờ tấn công hạm đội Mỹ tại Cảng Trân Châu sau khi hải quân Anh, Mỹ phong tỏa vùng biển Ðông Nam Á, ngăn đường tiếp tế nguyên liệu và dầu lửa, kinh tế Nhật bị tắc nghẽn. Muốn tránh một cuộc chiến tranh Châu Á trong thế kỷ 21, muốn tránh không xảy ra những vụ Hiroshima mới, cả thế giới phải góp tay ngăn chặn ý định xưng hùng xưng bá bằng Ðường Lưỡi Bò, Ðường Chữ U, hay “Cửu Ðoạn Tuyến” của đảng Cộng Sản Trung Hoa.

Cuộc xâm lược của Trung Cộng diễn ra với chiến lược “cắt giò” (salami slicing) từng khúc một, hoặc nói như Tướng Trương Thiệu Trung (Zhang Zhaozhong, 張召忠), đó là chiến lược “lột cải bắp” chầm chậm từng lá cải một. Nước Việt Nam bất hạnh trở thành khúc giò đầu tiên Bắc Kinh đã và đang tiếp tục cắt. Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã “dọn cỗ” sẵn cho Trung Cộng kể từ khi mời các cố vấn Hồng Quân qua chỉ đạo chiến tranh, từ đó càng ngày càng lệ thuộc. Chính sách ngoại giao “kết bạn đồng chí” sai lầm từ năm 1950 đã đặt dân tộc vào tình trạng đau đớn ngày nay.

Quân nhà Tống trước đây 10 thế kỷ chỉ tấn công nước Ðại Việt. Ngày nay Trung Cộng muốn chiếm cả vùng biển Ðông Nam Á để mở “Con đường Tơ Lụa trên biển” sang tới Châu Âu. Năm ngoái, Trung Cộng đã được phép lập một căn cứ quân sự ở Djibouti, cựu thuộc địa Pháp ở bờ biển bán đảo Á Rập. Ấn Ðộ, các nước Trung Ðông, và cả Châu Âu phải lo canh phòng. Tham vọng của các hoàng đế đỏ có giới hạn nào không?

Nước Việt Nam bây giờ đang trở thành con sông Như Nguyệt cho cả vùng Ðông Nam Á và cho cả thế giới. Dân tộc Việt phải đóng vai Lý Thường Kiệt. Các cường quốc cần ngăn không cho quân xâm lăng tiến qua con sông Như Nguyệt này, bóc lá cải Việt Nam rồi bóc thêm những lá cải khác! Hội Nghị G-7 đã công nhận sự thật đó. Phong trào “NO U” của dân Việt đang được cả thế giới ủng hộ. Ðây là lúc dân Việt Nam phải hành động cương quyết, mạnh mẽ hơn. Không thể chỉ tiếp tục phản đối suông nữa! Năm 2014 chính quyền Hà Nội đã phản đối vụ Hải Dương 981 hơn 40 lần, cuối cùng đâu vẫn đó! Hiện nay chúng ta không cần các loài vi trùng, vi khuẩn giúp “ngăn đường giặc Hán,” vì chúng ta có cả thế giới đứng sau lưng. Thắng trong trận sông Như Nguyệt của thế kỷ 21 này, loài người sẽ tránh được một cuộc chiến tranh thế giới mới và những vụ Hiroshima khác.

Ðiều đáng lo nhất bây giờ là những người cầm quyền ở Việt Nam hiện nay không dám đóng vai Lý Thường Kiệt! Không ai dám đọc câu thơ “Nam quốc san hà” cổ động toàn dân: “Ðất, Biển Việt Nam thuộc chủ quyền của dân Việt Nam! Như mệnh trời, cả thế giới ai ai cũng công nhận!”

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image


41 Năm: Di Tản, Thành Công


Vi Anh

30 tháng Tư này nữa là 30 tháng Tư thứ 41 người Việt di tản đi tìm tự do. 41 năm di tản, 41 năm thành công của người Việt Quốc Gia chống Cộng sản.

Các cơ quan đoàn thể chánh trị, quân sự, văn hóa, xã hội, và truyền thông đại chúng của người Việt Nam Hải Ngoại ở Âu, Mỹ, Úc châu từ cả tháng nay đã chuẩn bị tổ chức kỷ niệm một cách long trọng 41 năm tròn trên ba triệu người Việt đã gạt nước mắt xa rời nước nhà ra đi tỵ nạn CS trên 60 quốc gia, trải rộng khắp năm châu, bốn biển. 41 năm Quốc Hận, nước mất nhà tan, tương lai, sự nghiệp bị CS tước đoạt, người dân Việt không bị CS bỏ tù trong nhà tù lớn là xã hội VN thì cũng bị CS nhốt trong các trại tù biệt giam, kiên giam, lao động khổ sai, biệt xứ.

Suốt 41 năm qua, người Việt tỵ nạn CS dưới mọi hình thức trong thế giới Tự do đồng loạt, đồng lòng tổ chức Ngày Quốc Hận 30 tháng Tư Đen. Để tưởng nhớ, để ôn cố tri tân cuộc hành trình đầy gian khổ nhưng cũng đầy vinh quang với hy vọng vươn lên lớn mạnh thấy rõ, của người Việt tỵ nạn CS, cả ba thế hệ - thế hệ thứ nhứt, một rưỡi, và thứ hai -- chụm lại thành một.

Cuộc hành trình đầy gian khổ này trải qua 8 giai đoạn: Di tản, vượt biên, ODP, đi bán chánh thức, đi HO, con cái HO, hồi hương. Có máu, nước mắt, mồ hôi, vui buồn, vinh nhục, sướng khổ, thành bại của ba thế hệ, là sự nghiệp chung và lớn của quần chúng, là giai đoạn lịch sử bi hùng của dân tộc Việt. Ông Trời cũng không thể đổi thay sự kiện lịch sử này. CS không thể và không bao giờ chối bỏ được. CSVN ban đầu cáo buộc người “vượt biên” “tội phản quốc, phản động, phản cách mạng” và chỉ một hai thập niên sau phải gọi là “khúc ruột ngàn dặm của quê hương, Việt Kiều yêu nước” để dụ dỗ đem tiền bạc và kiến thức, kinh nghiệm VC gọi là “chất xám” để phục vụ quê hương mà CS đang làm chủ trong chế độ.

Cho đến bây giờ đó là cuộc di tản vô tiền khoáng hậu trong lịch sử VN và thế giới. Tổng số sống trên ba triệu và chết không dưới một phần ba. Theo ước đoán của Phủ Cao ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc, có bao nhiêu thuyền nhân (boat people) đến được bến bờ tự do thì có bao nhiêu người chết dưới biển. Máu, nước mắt, mồ hôi, gian nguy, khó khổ, số người, và dặm đường, đông hơn, nhiều hơn, xa xôi, đa dạng hơn cuộc di tản của dân Do Thái ra khỏi cổ Ai Cập, trước Chúa Ky tô giáng sinh. Một cuộc di tản sau này trở thành linh hồn của văn minh Tây Phương với cổ sử, niềm tin, và hy vọng của người Do Thái được đúc kết trong Kinh Cựu Ước và được chấp nhận như một phần quan trọng của Thánh Kinh của Ky Tô Giáo.

41 năm cuộc di tản của người Việt đã làm lương tâm Nhân Loại chấn động, Cộng đồng thế giới bàng hoàng. Liên Hiệp Quốc xem công tác cứu giúp, định cư người Việt vượt biên, ra đi trong vòng trật tự là một công tác lớn nhứt thế kỷ của mình. Hầu hết các siêu cường trên thế giới, đặc biệt thuộc văn minh Tây Phương đều có nhận cho người Việt tỵ nạn CS đến định cư. Nước Mỹ là nước dang tay ra đón người Việt tỵ nạn CS nhiều nhứt. Trong thế giới sử, chưa có một nước đồng minh nào như Mỹ, sau 41 năm chiến tranh chấm dứt mà còn cứu khốn phò nguy, cho định cư những đồng đội, đồng minh và gia đình sa cơ thất thế.

Nhưng 41 năm hành trình ấy cũng đầy vinh quang, làm vẻ vang dân Việt. Một dân tộc VN yêu tự do, dân chủ, xây dựng nhân quyền đã rõ rệt trưởng thành trong lòng văn minh Tây Phương, trải dài từ Tây Âu, sang Bắc Mỹ, xuống Úc Châu. Một VN Hải Ngoại (Việt Nam d'Outre Mer) đã thành hình, như một nước Pháp Hải Ngoại (France d' Outre- Mer) trong thời Đức Quốc Xã tạm chiếm nước Pháp, đã đấu tranh đem lại tự do, dân chủ cho nước nhà.

Về chánh trị, thế quốc tế của VN Hải Ngoại mạnh hơn của chế độ CS Hà nội vì CS Hà Nội chiếm được lãnh thổ, cướp được chánh quyền, mà không lấy được lòng dân, thống nhứt được non sông mà không thống nhứt được dân tộc nhứt là về chánh trị. Thêm vào đó việc CSVN để cho TC xâm lấn biên giới, biển đảo làm cho người dân Việt coi TC là ngoại xâm và CSVN là nội thù thông đồng với TC.

Quốc Hội Liên Âu, Mỹ, Úc, trái tim của nhân dân và chánh quyền tiến bộ các nước tự do, dân chủ trên thế giới đứng về phía chánh nghĩa đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền của người Việt trong nước do người Việt Hải Ngoại quốc tế vận, trong thời đại kinh tế toàn cầu và dân chủ hóa hoàn vũ được văn minh Tin Học yểm trợ. Quốc kỳ VN Cộng Hòa đã được nhiều chánh quyền địa phương, tiểu bang, quận hạt, thành thị Mỹ công nhận như biểu tượng tự do, dân chủ của người Mỹ gốc Việt. Người Việt tại nhiều nước trên thế giới đã đi vào dòng chánh chánh tri, chánh quyền, quân đội, khoa học kỹ thuật, thể dục thể thao, nghệ thuật thứ bảy, truyền thông của Tây Phương.

Về kinh tế, VN hải ngoại, người Việt đã vượt qua thời kỳ châm ướt chân ráo nơi quê hương mới, một cách thần kỳ. Tự do, dân chủ rõ rệt là điều kiện tiên quyết của phát triển kinh tế. Mỗi năm người Việt Hải Ngoại chỉ gởi cho không để giúp bà con cô bác, bạn bè – chơi chơi thôi – con số đã trên mấy tỷ Đô la. Theo thông lệ số tiền gởi cho của những người định cư ở Mỹ như dân Hispanics, Phi luật Tân, Trung Đông, số tiền cho chỉ chiếm dưới 5%, số tiền kiếm được. Điều đó cho thấy tổng sản lượng thuần của người Việt Hải Ngoại cao hơn của cả nước VN. Lợi tức đồng niên hải ngoại tính trên đầu người nhiều hơn cả trăm lần trong nước. Theo Ngân Hàng Thế giới trung bình một người Việt trong nước chưa có đến 450 Đô/năm

Về văn hóa xã hội, tại Mỹ cũng như tại Tây Âu, Úc Châu, tuy chưa có số thống kê khoa học, con số ước lượng người Việt Hải Ngoại tốt nghiệp đại học 4 năm trên 25% dân số hải ngoại. Nói gọn cứ 4 người Việt Hải Ngoại thì có 1 người tốt nghiệp đại học 4 năm tại các trường đại học trình độ giảng huấn văn hóa, khoa học, kỹ thuật tân tiến nhứt hoàn cầu. “Chất xám” của người Việt Hải Ngoại là cái CS Hà nội thèm muốn nhứt, nhưng dù khan cổ gọi mời, trí thức VN Hải Ngoại đi VN thăm quê hương, thăm người thân thì có, ở lại làm việc với CS thì không. Còn sinh viên từ trong nước ra ngoại quốc du học, đi thì nhiều, về thì ít.

Tiếng Việt hải ngoại đã tiến triển theo đà tiến hóa của ngôn ngữ, tiếp nối dòng ngôn ngữ Việt của người Việt Quốc Gia trong bao thời kỳ độc lập VN, Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn, Đệ nhứt, Đệ Nhị Cộng Hòa, và vẫn trường tồn và phát triển sau 3 lần Bắc Thuộc, 1 lần Pháp Thuộc, và nửa thế kỷ CS đọa đày. Những từ CS như “hồ hỡi, phấn khởi, sô vanh, ưu việt, đồng tình, nhứt trí”, thành tử ngữ (langue morte). Ở hải ngoại người Việt còn phát huy thêm những chữ nghĩa liên quan đến chánh trị tự do, dân chủ và khoa học kỹ thuật là những chữ VN còn thiếu vì hoàn cảnh lịch sử và chiến tranh của nước nhà trước năm 1975.

Lễ Tết nào người Việt cũng tổ chức diễn hành văn hoá để bảo tồn và phát triển văn hoá Việt trong xã hội đa văn hoá của các nước định cư. 41 năm người Việt Hải Ngoại tự xét mình một cách nghiêm khắc, khách quan luôn thấy niềm vui và hy vọng vươn lên với niềm tin sẽ hoàn thành lời hứa giúp đem lại tự do, dân chủ cho đồng bào còn bị kẹt ở lại, lúc gạt nước mắt rời đất nước ra đi.

Sau cùng, không phải “Ra đi là chết một hai phần nào” (Partir c'est mourir un peu) như một nhà thơ lãng mạn Pháp đã viết. Mà ra đi là để khôi phục niềm tin, chánh nghĩa, lý tưởng, quê hương, xứ sở đã bị tước đoạt, như Charles De Gaulle đã làm. Đó là tự do, dân chủ, nhân quyền VN cho quốc gia, dân tộc Việt. Với một tương lai thấy rõ sau 41 năm tròn -- niềm tin và với hy vọng đã vươn lên, đang vươn lên không ngừng./. (Vi Anh)

__._,_.___

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Việt Nam phải hành động mạnh hơn
Ngô Nhân Dụng
Từ đầu năm đến nay, Cộng Sản Việt Nam đã phải lên tiếng hai lần yêu cầu Trung Cộng đưa giàn khoan Hải Dương 981 đi nơi khác. Mỗi lần, họ lại nói Trung Cộng phải “ngưng các hành động đơn phương làm tình hình thêm phức tạp,” từ phi trường tới đài hải đăng trên những hòn đảo nhân tạo. Nói đi nói lại, vẫn chỉ nói suông, đã ba năm nay rồi.

Trung Cộng cho giàn khoan HD 981 vào trấn ngự ở hải phận nước ta lần đầu năm 2014. Họ rút đi, tiếp tục thăm dò đáy biển trong một vùng rộng lớn, từ Vịnh Bắc Việt sang tới Vịnh Bengal thuộc Ấn Ðộ Dương. Không có lý do nào khiến họ phải đưa cả khối kim loại khổng lồ bơi qua bơi lại vùng biển nước ta liên tiếp, nếu không phải vì động cơ chính trị. Mao Trạch Ðông vẫn nhắc nhở: Chiến tranh là chính trị. Thăm dò đáy biển cũng là chính trị. Cả hai lần phản đối HD 981 trong năm nay đều trùng hợp với những sự kiện chính trị trong nội bộ Cộng Sản Việt Nam. Lần trước, vào Tháng Giêng, 2016, là hai ngày trước khi Việt Cộng họp đại hồi kỳ thứ 12. Lần mới nhất, diễn ra sau khi quốc hội Hà Nội tấn phong bà Kim Ngân, Trần Ðại Quang và Nguyễn Xuân Phúc lên làm chủ tịch Quốc Hội, chủ tịch nước và thủ tướng.

Tại sao Bắc Kinh lại đưa HD 981 tới “diễn võ” vào đúng các thời điểm đó? Ông Tập Cận Bình muốn gửi lời chúc mừng tới đám tay chân ở Hà Nội khi thấy họ thành công trong “công tác sắp xếp nhân sự” đẹp ý thiên triều? Hay là ông ta “dương oai” để thách thức, đe dọa tất cả những người dân Việt Nam nào còn có ý kháng cự cuộc bành trướng của Trung Quốc? Ông ta chỉ cần dùng một mũi tên để bắn cả hai con chim, vừa khích lệ vừa đe dọa?

Chiến thuật “diễn võ, dương oai” này là một phần trong chiến lược “bóc bắp cải” của Tướng Trương Thiệu Trung (Zhang Zhaozhong, 張召忠), như đã trình bày trong mục này kỳ trước. Trung Cộng đang lần lượt bóc từng lá bắp cải, để dần dần thống ngự cả vùng biển Ðông Nam Á, hoàn thành Ðường Tơ Lụa Trên Biển. Chiến pháp này được thực hiện chậm chạp, có thể kéo dài trong một thế hệ đến một nửa thế kỷ, có thể còn lâu dài hơn nữa. Trong thời gian đó, Cộng Sản Trung Hoa sẽ cố giữ một thế quân bình, gọi là ổn định, trong mạng lưới bang giao quốc tế. Họ sẽ tránh không gây chiến, để các cường quốc khác, Mỹ, Nhật Bản, Ấn Ðộ, và các nước Châu Âu không có lý do can thiệp vì tự do hàng hải bị ngăn trở.

Cộng Sản Trung Quốc cần giữ một tình trạng ổn định, vì nếu thế quân bình hiện nay đổ vỡ thì sẽ tai hại cho chính số phận của đảng và cho cả nước Trung Hoa.

Giới lãnh đạo Trung Nam Hải cần duy trì một khung cảnh quốc tế ôn hòa để thực hiện những mục tiêu của họ. Mục tiêu quan trọng nhất là duy trì guồng máy cai trị của đảng trên hơn một tỷ người dân Trung Hoa. Muốn vậy, trước hết phải phát triển kinh tế liên tục, dù kinh tế có trồi sụt nhưng không thể ngưng phát triển với tốc độ hơn 5% mỗi năm. Ðảng Cộng Sản sẽ tiếp tục nắm quyền nếu nhu cầu kinh tế của dân lục địa được thỏa mãn. Cho tới nay, những cuộc phản kháng dù đã lên tới hàng trăm ngàn vụ một năm vẫn không làm cho chế độ lung lay. Mạng lưới kiểm duyệt thông tin và guồng máy công an sẽ tiếp tục đàn áp những người muốn đòi dân chủ tự do.

Cộng Sản Trung Quốc không dám gây chiến tranh vì cần thời gian để canh tân quân đội với ngân sách quốc phòng ngày càng cao. Họ hy vọng trong một, hai thế hệ, sẽ mạnh ngang với quân đội Mỹ, ít nhất khi phải đọ sức trong vùng biển phía Tây Thái Bình Dương và phía Ðông Ấn Ðộ Dương. Nếu chiến tranh xảy ra, Nhật Bản, Ấn Ðộ và phần lớn các nước Ðông Nam Á sẽ liên kết với Mỹ.

Có ổn định Trung Cộng mới thực hiện được mục tiêu đối ngoại, định nghĩa bởi những khu vực gọi là “quyền lợi cốt lõi,” mà Bắc Kinh đã xác định, bao gồm các tỉnh Tân Cương, Cam Túc ở phía Tây, đảo Ðài Loan, Biển Nhật Bản, và sau cùng là vùng Cửu Ðoạn Tuyến, trùm lên tất cả biển, đảo ở Ðông Nam châu Á.

Vùng biển Ðông Nam Á hiện nay đang là nơi thử thách lớn nhất trước tham vọng bành trướng của Bắc Kinh. Ðó là nơi chiến lược “bóc bắp cải” đang được triển khai. Muốn thực hiện kế hoạch này, Trung Cộng cần duy trì thế cân bằng ổn định đối với Mỹ, Nhật, Ấn Ðộ, để lần lần áp đảo các nước trong vùng. Họ sẽ làm sao cho không một nước nào dám quyết liệt kháng cự khi các lá bắp cải lần lượt bị bóc ra.

Trung Cộng vẫn coi Mỹ là kẻ thù. Dân chúng lục địa được báo, đài của đảng cho “học tập căm thù” mỗi ngày. Nhưng giới lãnh đạo họ biết rằng không thể khiêu khích Mỹ đến độ gây ra xung đột lớn. Kinh tế hai quốc gia đang gắn bó với nhau, nhưng Trung Quốc cần bán hàng Mỹ và chạy đuổi theo kỹ thuật tân tiến của Âu Mỹ nhiều hơn Mỹ cần Trung Quốc. Kinh tế Trung Quốc sẽ sụp đổ nếu chiến tranh xẩy ra, còn nước Mỹ sẽ chịu đựng được cơn “sốc” đó; như hai cuộc đại chiến trong thế kỷ 20 đã cho thấy. Cho nên, Bắc Kinh phải dùng chiến thuật mềm nắn, rắn buông, không dám để cho các xung đột với Mỹ bùng lên thành chiến tranh trực diện. Tình trạng “bang giao ổn định” này cũng giống như quan hệ giữa Liên Bang Xô Viết và Mỹ trong các thập niên 1970-80. Trong thời gian đó Nga đã đồng ý “hòa dịu” (détente) với Mỹ, ký các thỏa hiệp giảm vũ khí hạch tâm và hỏa tiễn liên lục địa, để dành sức đàn áp các lực lượng phản kháng bên trong khối cộng sản ở Châu Âu, đối phó với Trung Cộng, rồi khi cần sẽ can thiệp vào các nước lân cận, như Afghanistan.

Trung Cộng dang theo đuổi một chiến lược nhất quán như vậy, nhưng cho tới nay giới lãnh đạo Mỹ vẫn quan niệm âm mưu bành trướng của Trung Cộng như một vấn đề ngoại giao chứ không phải một cuộc so tài quân sự và tranh giành ảnh hưởng trên thực địa. Các chính phủ Mỹ chưa bao giờ coi Trung Cộng là một mối đe dọa “sinh tử” đối với nước Mỹ. Từ thời cố Tổng Thống Richard Nixon đến nay, chính giới Mỹ vẫn suy nghĩ theo một nếp: “Nếu nhìn Trung Cộng như một nước thù địch thì sẽ biến họ thành kẻ thù thật sự.” Cựu Tổng Thống George W. Bush bỏ qua Á Châu, dành mọi quan tâm cho vùng Trung Ðông. Chính quyền Barack Obama đã tuyên bố “chuyển trục” sang Châu Á nhưng vẫn chủ trương “tiếp cận” (engagement) chứ chưa thấy nhu cầu “kìm hãm” (deterrence) hoặc “ngăn chặn” (containment) như chiến lược đối phó với Liên Xô trước đây.

Trong khung cảnh đó, Bắc Kinh nhìn thấy cơ hội thực hiện chiến lược “bóc bắp cải.” Trước hết, họ dùng áp lực quân sự và kinh tế chia rẽ các nước Ðông Nam Á, khiến các nước này hoặc vì lợi mà theo đuôi (Miến Ðiện trước đây, Campuchia hiện nay) hoặc vì sợ hãi mà cam chịu (Việt Nam là thí dụ tiêu biểu). Trung Cộng sẽ theo đường lối này trong nửa thế kỷ tới, vừa giữ sao cho chiến tranh không xẩy ra, vừa lần lần gậm nhấm các đảo và vùng biển bên trong vòng đai Cửu Ðoạn Tuyến.

Trong chiến lược bắp cải này, Bắc Kinh luôn luôn chiếm vai chủ động, liên tục đặt thế giới trước những “sự đã rồi.” Với các hành động quân sự cũng như hành chánh và pháp lý. Họ đắp những hòn đảo nhân tạo, lập phi trường, đặt hỏa tiễn, dựng hải đăng hay các đài khí tượng. Những hành động này diễn ra âm thầm và bất ngờ, không để cho thế giới kịp trở tay.

Các hành động xâm lấn đã gia tăng cường độ và nhịp độ nhanh hơn trong ba năm qua. Trung Cộng buộc các nước khác phải đàm phán song phương, không muốn các cường quốc can dự. Trong những cuộc đàm phán song thương này, vừa chia rẽ vừa cô lập hóa bên địch, Trung Cộng đặt vấn đề theo cùng một khuôn mẫu: Những gì tôi chiếm được đều là của tôi rồi, không bàn đến; những gì anh còn giữ được, chúng ta sẽ thảo luận để chia phần! Bắc Kinh sử dụng các đòn hành chánh, công bố lập huyện Tam Sa, công khai sát nhập Hoàng Sa và Trường Sa vào đảo Hải Nam. Trong khi đó, họ từ chối không công nhận thẩm quyền của các tòa án trọng tài quốc tế.

Những bước chiến thuật này đã thành công. Các nước Ðông Nam Á bị đè nén đã lâm thế thụ động, không thể phản ứng tương xứng và kịp thời, rồi càng ngày càng yếu thế. Cho tới gần đây tình thế mới thay đổi, Philippines, rồi Malaysia, Indonesia dám phản ứng mạnh mẽ. Thế giới được đánh thức dậy, nhìn rõ âm mưu bành trướng của Cộng Sản Trung Quốc; các chính phủ Mỹ, Nhật Bản, Australia đã tỏ thái độ cứng rắn hơn. Mọi người bắt đầu nhìn thấy vùng biển Ðông Nam Á đang trở thành một vùng tranh chấp quyền lợi của tất cả các nước trong thế kỷ 21, không còn là xung đột riêng giữa các nước nhỏ trong vùng và Trung Quốc. Ngay đến các nước Châu Âu cũng tự đặt mình vào cuộc, như hội nghị G-7 vừa qua đã cho thấy. Ai cũng thấy nền “trật tự toàn cầu” sau Chiến Tranh Lạnh đang có cơ thay đổi, do Trung Cộng cố ý gây ra.

Ðây là một cơ hội cho nước Việt Nam, cho dân tộc Việt Nam. Từ hai ngàn năm trước, dân tộc Việt Nam phải đóng vai con đê ngăn chặn làn sóng bành trướng của Hán tộc xuống vùng Ðông Nam Á. Khi nước Việt Nam bị chia đôi ở vĩ tuyến 17 vào năm 1954, con sông Bến Hải cũng trùng hợp với lằn ranh đã chia đôi ảnh hưởng của Hán tộc với văn minh Ấn Ðộ trong những thế kỷ đầu Công nguyên. Bây giờ là lúc nước Việt Nam cần có một chính quyền dám đứng lên đối đầu với cuộc xâm lăng của đế quốc đỏ Trung Hoa. Cả thế giới sẽ đứng về phía mình, dân tộc Việt không thể bỏ lỡ cơ hội này. Những lời tuyên bố phản đối giàn khoan Hải Dương 981 chỉ là một lối phản ứng yếu ớt. Vì tương lai dân tộc, vì nền hòa bình của cả vùng Ðông Nam Á và thế giới, Việt Nam phải hành động mạnh bạo hơn; để Trung Cộng không thể tiếp tục bóc bắp cải, mà lá cải đầu tiên đang bị bóc dần dần chính là đất nước chúng ta.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Âm mưu bịt miệng thế giới của Trung Quốc về vấn đề Biển Đông

Trung Quốc có vẻ đã thất bại khi tìm cách đe dọa nhằm khiến các nước không bàn đến hành động ngang ngược của họ trên Biển Đông.

Image
Ngoại trưởng G7 trong hội nghị diễn ra ở Hiroshima, Nhật Bản. Ảnh: Reuters


Khi Nhật Bản và Mỹ tuyên bố sẽ đưa vấn đề Biển Đông ra chương trình nghị sự của hội nghị các ngoại trưởng G7 diễn ra tại Hiroshima hồi tuần trước, Trung Quốc đã phản ứng rất quyết liệt và nói rằng G7 chỉ nên tập trung vào vấn đề kinh tế, đồng thời gọi động thái của Nhật Bản là "hành vi khiêu khích", với mục đích "kích động phương Tây vùi dập Trung Quốc", theo Reuters.

Tuyên bố chung sau hội nghị của các ngoại trưởng G7 đã đề cập đến an ninh hàng hải, dù không trực tiếp nhắc đến Trung Quốc, nhấn mạnh "tầm quan trọng căn bản của việc quản lý và giải quyết hòa bình các tranh chấp".

Sau tuyên bố của ngoại trưởng G7 phản đối mạnh mẽ mọi hành động khiêu khích hoặc cưỡng ép, đe dọa đơn phương làm thay đổi nguyên trạng và gia tăng căng thẳng, Trung Quốc đã bày tỏ sự bực tức, gọi đây là "những phát biểu và hành động vô trách nhiệm".

Theo bình luận viên Frank Chin của EJInsight, những hành động trên của Trung Quốc là một phần trong nỗ lực nhằm "bịt miệng" cộng đồng quốc tế đối với vấn đề Biển Đông, đặc biệt là những tiếng nói phản đối các động thái ngang ngược, phi pháp của Bắc Kinh tại khu vực tranh chấp với các nước láng giềng.

Tuyên bố của các ngoại trưởng G7 đưa ra hôm 11/4 có ý nghĩa rất quan trọng về mặt thời gian, bởi chỉ vài tuần nữa là Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) ra phán quyết về "đường lưỡi bò" mà Philippines nộp đơn kiện Trung Quốc trên Biển Đông.

Bắc Kinh đã ngang ngược tuyên bố rằng họ sẽ phớt lờ phán quyết của tòa PCA, tuy nhiên tuyên bố G7 kêu gọi các quốc gia tuân thủ luật pháp hàng hải quốc tế, đồng thời thực hiện mọi phán quyết mang tính ràng buộc do tòa án và tòa trọng tài quốc tế đưa ra theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS).

Bất chấp những lời chỉ trích, kêu gọi của các lãnh đạo thế giới, Trung Quốc vẫn tiếp tục thực hiện chiến dịch phong tỏa, răn đe bất cứ quốc gia nào có ý định thảo luận về các hành động ngang ngược của Bắc Kinh ở Biển Đông, theo ông Chin.

Mới đây, Thủ tướng Australia Malcom Turnbull đã phải nếm trải điều này trong chuyến thăm tới Bắc Kinh ngày 15-16/4, và chỉ vài ngày sau đó là Thủ tướng New Zealand John Key. Cả hai nguyên thủ này đều bị Trung Quốc cảnh báo rằng không được bàn đến vấn đề Biển Đông, nếu không sẽ phải gánh chịu hậu quả.

Theo tờ Sydney Morning Herald, "trong một nỗ lực nhằm phủ đầu ông Turnbull trước chuyến thăm, tờ China Daily, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc, đã cảnh báo rằng Australian sẽ phải hứng chịu hậu quả về tài chính nếu họ chống lại các tham vọng lãnh thổ của Bắc Kinh trong khu vực".

China Daily trích dẫn ý kiến của nhiều học giả, trong đó có Han Feng, phó viện trưởng Viện Chiến lược Quốc tế Quốc gia thuộc Học viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, nói rằng tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông không phải là việc của Australia, và cách phản ứng của Canberra sẽ là "một phép thử cho sự khôn ngoan chính trị của các lãnh đạo Australia".

Răn đe thất bại

Trong cuộc gặp kéo dài hai giờ với Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường, ông Turnbull vẫn tái khẳng định lập trường rằng bất cứ thứ gì có nguy cơ ảnh hưởng đến hòa bình và ổn định sẽ đi ngược lại lợi ích của tất cả các nước trong khu vực. Ông cũng tuyên bố rằng các tranh chấp Biển Đông cần được giải quyết theo luật pháp quốc tế. Image
Thủ tướng Australia Turnbull (phải) và người đồng cấp Trung Quốc Lý Khắc Cường. Ảnh: HuffingtonPost


Trong bữa tiệc sau đó, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nói rằng Trung Quốc và Australia cần phải tôn trọng các lợi ích cốt lõi của nhau. Theo ông Chin, với Trung Quốc, điều đó có nghĩa là Australia phải nhắm mắt làm ngơ trước các hành động của Bắc Kinh ở Biển Đông, nơi họ đang bồi đắp phi pháp 7 đảo nhân tạo trên các bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam và có tranh chấp với ba quốc gia Đông Nam Á khác là Philippines, Malaysia và Brunei, cũng như ở biển Hoa Đông, nơi Trung Quốc đang tranh chấp nhóm đảo Senkaku/Điếu Ngư với Nhật Bản.

Ông Chin nhận định rằng là một đồng minh thân cận của Mỹ, Australia chắc chắn sẽ không ngả về phía Trung Quốc hay thậm chí là giữ im lặng vì những lời răn đe, cảnh báo của Bắc Kinh, đặc biệt là nếu Trung Quốc phớt lờ các phán quyết của tòa án quốc tế.

Những lời dọa dẫm của Trung Quốc với New Zealand lại có phần kín đáo hơn so với Australia. Đúng hôm Thủ tướng New Zealand John Key tới Trung Quốc thực hiện chuyến công du 6 ngày, hãng thông tấn nhà nước Xinhua đăng bài xã luận cảnh báo ông Key, rằng để chuyến thăm thành công, ông cần phải tránh bàn về các tranh chấp trên Biển Đông.

"Các chuyến thăm nối tiếp nhau của ông Turnbull và ông Key", Xinhua nói, "nhấn mạnh tầm quan trọng của tầng lớp trung lưu đang ngày càng lớn dần của Trung Quốc đối với họ". Tuy nhiên, quan hệ giữa Trung Quốc và New Zealand "không phải lúc nào cũng toàn màu hồng", Xinhua cảnh báo.

Hãng tin này nhắc lại sự việc hồi tháng hai, khi ông Key "đưa ra một số lời bình luận chống lại Trung Quốc liên quan đến vấn đề Biển Đông". Xinhua cho rằng những phát ngôn đó "đi ngược lại cam kết không thiên vị bên nào của New Zealand trong tranh chấp lãnh thổ tại khu vực".

"New Zealand cần vạch ra hướng đi của mình trong quan hệ với Trung Quốc hơn là để chính sách của mình bị tác động bởi tham vọng của các đồng minh quân sự. Tương lai quan hệ song phương giữa hai nước, ở một mức độ nào đó, phụ thuộc vào chính Wellington", Xinhua viết.

"Ông Key nên nhớ rằng New Zealand hoàn toàn là kẻ ngoài cuộc trong tranh chấp Biển Đông, không phải là một bên liên quan", Xinhua cảnh báo, và bổ sung rằng "bất cứ nỗ lực nào của Wellington nhằm phá bỏ lời hứa không thiên vị bên nào trong vấn đề này sẽ có nguy cơ làm phức tạp hóa quan hệ thương mại đang phát triển giữa Trung Quốc và New Zealand".

Theo bình luận viên Chin, những lời đe dọa kiểu "bịt miệng" mà Trung Quốc vừa đưa ra với các ngoại trưởng G7, thủ tướng Australia và New Zealand phản ánh chiến lược "cô lập" các bên có tranh chấp mà Bắc Kinh đang áp dụng. Bằng cách đẩy các nước như Australia và New Zealand ra xa Biển Đông, Trung Quốc hy vọng họ sẽ đối đầu được với cả cộng đồng quốc tế, cô lập Mỹ và các nước nhỏ hơn trong khu vực, phục vụ tham vọng độc chiếm Biển Đông của mình.

"Bởi Trung Quốc là nước duy nhất tuyên bố sẽ phớt lờ phán quyết của tòa án quốc tế, hiển nhiên bất cứ bên nào kêu gọi thực thi phán quyết của tòa sẽ bị Bắc Kinh coi là sự chỉ trích hành động của họ và thể hiện sự 'thiên vị' trong tranh chấp Biển Đông", ông Chin nhấn mạnh.
Image
Máy bay quân sự Y-8 của Trung Quốc hạ cánh phi pháp trên đá Chữ Thập của Việt Nam. Ảnh: 81.cn


Giới quan sát cho rằng chiến lược này của Trung Quốc không thể nào khuất phục được cộng đồng quốc tế chịu im lặng trước các hành động ngang ngược của họ. Hôm 18/4, ông Hugo Swire, quốc vụ khanh Bộ Ngoại giao Anh phụ trách Đông Á, tuyên bố rằng dù quan hệ giữa London và Bắc Kinh đã trở nên nồng ấm và Anh cần thu hút vốn đầu tư từ Trung Quốc, nước này sẽ không chấm dứt những lời chỉ trích đối với tham vọng lãnh thổ phi lý của Trung Quốc trên Biển Đông.

"Chúng tôi đã nói rõ với phía Trung Quốc rằng hai bên chỉ có thể hợp tác một cách công khai và minh bạch theo hệ thống luật pháp quốc tế", ông Swire tuyên bố. "Theo hệ thống mà cả thế giới đang dựa vào này, chúng ta kỳ vọng phán quyết của tòa quốc tế sẽ được các bên có liên quan tôn trọng, và dù phán quyết có lợi cho bên nào, chúng tôi cũng sẽ sát cánh cùng cộng đồng quốc tế, trong đó có Mỹ".

Xem thêm: Trung Quốc điều máy bay vận tải Y-8 phi pháp ra đá Chữ Thập

Trí Dũng

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Tôi muốn nói...

Nguyên Thạch
Hơn tất cả, với "Mật nghị Thành Đô" là sự thật, 2020 cũng sẽ đến thật. Đã đến lúc toàn dân Việt phải biết rõ rằng với sự phản bội của đảng CSVN, chúng ta đã, đang và sẽ đi đến con đường mất nước. Bằng mọi giá, một cuộc cách mạng phải sớm được thực hiện hầu thoát khỏi sự bế tắc thê thảm hôm nay trước khi quá muộn.

Trước tiên, tôi muốn nói đến những quyền căn bản của người dân và bản tuyên ngôn độc lập của quốc gia nơi họ đang sống, bất luận là ở đâu.
Căn cứ vào tư tưởng đúng đắn của một triết gia người Anh ở thế kỷ 16, John Locke. Theo ông, ba quyền cơ bản không thể bị tước đoạt của con người là quyền được sống, được tự do và được sở hữu. Từ tư tưởng cơ bản này, ông Jefferson đã sử dụng như những luận điểm chính để soạn thảo nên "Bản tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ và đã được tuyên bố vào ngày 4 tháng 7 năm 1776: "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". " Trích bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Hoa Kỳ.

Ở Việt Nam, ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập trong cuộc mít tinh trước hàng chục vạn quần chúng, tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa:
Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập ở quảng trường Ba Đình ngày 2 tháng 9.1945
"Hỡi đồng bào cả nước,
Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc"...
Rồi sau đó ông kết luận:
"Vì những lẽ trên, chúng tôi, chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:
Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy." (1)
Câu đầu tiên trong văn bản cực kỳ quan trọng này: "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng." tôi nhận thấy rằng ông Hồ đã nói "ngược" theo lối người Tàu mà theo cách hiểu của người Việt thì có vẻ không ổn: "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng." là thế nào?. Thay vì nên nói: "Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng".

Dựa theo tuyên ngôn của Hồ Chí Minh, tôi muốn nói với ông và guồng máy do ông tạo ra rằng theo ông cùng nhà nước của ông đã tuyên bố "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy." vậy cá nhân ông và chính phủ của ông đã làm những gì xuyên suốt thời gian cầm nắm quyền hành để vận hành vận mệnh của cả một dân tộc qua các diễn tiến của lịch sử dưới thể chế của "Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và CHXHCN Việt Nam" như tiêu diệt các đảng phái yêu nước, Cải Cách Ruộng Đất, Nhân Văn Giai Phẩm (Xét lại chống đảng), đánh chiếm Việt Nam Cộng Hòa, cải tạo Công Thương nghiệp, cải tạo Nông nghiệp theo cơ cấu Hợp tác xã, trả thù Quân Cán Chính VNCH (dưới cái gọi là tập trung cải tạo), sách lược Kinh tế tập trung chủ đạo vân vân, để rồi cả nước cùng nhau Xuống Hố Cả Nút phải ăn chung một món "canh toàn quốc" (canh toàn nước), để rồi phải nảy sinh "đổi mới hay là chết" dưới chiêu sách "Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN" mơ hồ vô căn cứ.

Song hành, ông và đảng của ông luôn hô hào một cách mị dân và trơ trẽn rằng: "Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập " trong khi Trung Cộng dùng sức mạnh của mình đánh chiếm Hoàng Sa qua cuộc hải chiến xảy ra vào ngày 19 tháng 1 năm 1974 trước sự làm ngơ với thái độ có vẻ như vui mừng khi thấy ngoại bang tàn sát anh em ruột thịt của mình có cùng chung lịch sử.

Bên cạnh cuộc hải chiến ấy, còn có cuộc Hải chiến Trường Sa 1988 (2) (trận chiến Gạc Ma), vụ giàn khoan Hải Dương 981, (3) và quan trọng hơn cả là "Đường lưỡi bò - Chín đoạn" mà Trung Cộng đã lấn áp, cướp chủ quyền về biển đảo của Việt Nam một cách ngang ngược và trắng trợn trước sự cúi mặt im lặng của đảng cùng nhà nước VN một cách hèn hạ và nhục nhã. Thảo nào chính cố Tổng bí thơ Lê Duẩn đã chẳng xác nhận qua câu phát biểu: " Ta đánh Mỹ là đánh cả cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc" (4)

Tôi muốn nói với đảng CSVN rằng với thể chế đảng trị thì ai có uy tín và quyền lực bằng Tổng bí thơ Lê Duẩn?. Tôi muốn hỏi về "Hội Nghị Thành Đô" 3-4 Tháng 9, 1990, tại Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên (Trung Quốc) Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng đã đại diện Việt Nam cầu khẩn và bán đứng Tổ Quốc và dân tộc tôi như thế nào?. Sau khi ấy Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh nhận chỉ thị gì từ Giang Trạch Dân và gần đây là Nguyễn Phú Trọng qua chuyến yết kiến thiên triều từ ngày 7 tới ngày 10-4.2015 đã ngu xuẩn ngầm thỏa thuận với Tập Cận Bình những gì khi Trung Cộng đã liên tục lấn chiếm Biển Đông và trường giang xây dựng các căn cứ quân sự một cách công khai với mưu lược buộc các ông phải chấp nhận những sự việc đã rồi và mặc nhiên chấp nhận cho chúng hợp thức hóa hiện trạng.

Là những công dân nước Việt, chúng tôi muốn hét vào mặt đảng CSVN rằng các người là những tên vô đạo, vô nhận thức, vô trách nhiệm, đã tự tung tự tác xem đất nước này, dân tộc này như những món hàng để trao đổi cho những lợi ích về băng đảng riêng tư của các người, hành vi của lũ ngươi là những hành động ngu xuẩn, gian xảo đầy phản trắc...

Với cộng sản, giữa lời nói và việc làm là một khoảng cách xa vời vợi, có khi phải cần cả hàng trăm năm lê thê mù thẳm. Với cộng sản, tuyên ngôn, tuyên bố chỉ là một mớ giấy lộn cùng những lời nói suông không hơn không kém. Tôi muốn khẳng định với mọi người rằng cộng sản chỉ có gian trá, điêu ngoa và vô trách nhiệm...Sự gian trá, điêu ngoa, vô trách nhiệm ấy sẽ không bao giờ thay đổi. Hãy luôn khắc ghi trong tâm khảm câu nói để đời của cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu: "Đừng tin những gì cộng sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm" như một phương châm châm cho tư duy và hành động.

Tôi muốn nói với bá quyền Tàu cộng rằng qua chiều dài ngàn năm chống giặc ngoại xâm phương Bắc, dân tộc tôi chưa bao giờ khuất phục và luôn giữ vững tinh thần chống trả một cách kiên cường. Các thế lực chớ bao giờ nghĩ rằng sức mạnh có thể trấn áp được dân tộc này cho dẫu đảng CSVN có tiếp tay nối giáo, nguyện lòng làm Thái thú. Với tinh thần ái quốc, dân Việt nội ngoại sẵn sàng hy sinh kiến thức, tiền bạc và ngay cả mạng sống để bảo vệ Quê Hương thân yêu mà tổ tiên của chúng tôi đã đổ ra máu thành sông, xương thành núi để có được dải đất này cho thế hệ và con cháu về sau.
Tôi muốn nói với Quân đội Việt Nam, anh em là con dân nước Việt, từ dân mà ra hẳn phải bảo vệ cha mẹ bà con của mình, là người lính, sẽ sẵn sàng chiến đấu và hy sinh cho Tổ Quốc, bảo vệ sự vẹn toàn của lãnh thổ, sự an nguy của dân tộc, nhất định không làm tay sai cho bất cứ một tổ chức băng đảng nào. Mũi súng cùng viên đạn sẽ trực chỉ kẻ thù chứ không phải bắn vào cha mẹ, người thân của chính mình.

Tôi muốn nói với Công an, Mật vụ, Cảnh sát hãy thôi tiếp tay với hung tàn, sớm nhận ra sự độc ác của một nhóm thiểu số tự gán cho chúng quyền lực sinh sát, sai khiến các anh chị vào vòng tội lỗi để rồi các anh chị phải nhận lãnh những hậu quả khôn lường với nhân dân, khi sự việc đổ bễ thì bọn thiểu số này đã cao bay xa chạy với khối tài sản bất lương, bất chánh.

Tôi muốn nói với Trí thức, Học sinh, Sinh viên hãy dùng sự hiểu biết của mình về cơ chế tàn độc này đã hành hạ dân tộc không nương tay, lũ vô đạo đã mụ mị gian xảo trong phương thức tuyên truyền gian trá trơ trẽn lì lợm mà hệ quả là suy đồi đạo lý, tụt hậu thua người sau 40 năm cầm nắm tà quyền.

Tôi muốn nói với Nông dân, Công nhân rằng chúng ta là những lớp người tận cùng dưới đáy của xã hội, cơm không no, áo không lành, đã bị lợi dụng và bóc lột đến tận xương tủy, phải sống trong cảnh nghèo khó túng thiếu hầu phục tùng những lớp tham quan giàu có với thái độ cửa quyền hống hách hành dân, ăn tiêu vô cùng lãng phí trong khi chúng ta phải chịu đựng cảnh quá nghèo khổ.

Tôi muốn nói với toàn dân rằng chúng ta đang sống trong xã hội bị vận hành bởi một cơ chế đầy nghịch lý, một xã hội mà sẽ không bao giờ có dịp phát triển đi lên hầu ngẩng mặt với cộng đồng nhân loại, Một cách không cường điệu xa sự thật rằng chúng ta đang sống trong cảnh của địa ngục trần gian, những lớp người được xem là tận cùng bằng số không ở thời đại với khuynh hướng phát triển và tôn trọng về nhận phẩm, nhân quyền và tiện ích xã hội của thế thế kỷ 21 này.

Hơn tất cả, với "Mật nghị Thành Đô" là sự thật, 2020 cũng sẽ đến thật. Đã đến lúc toàn dân Việt phải biết rõ rằng với sự phản bội của đảng CSVN, chúng ta đã, đang và sẽ đi đến con đường mất nước. Bằng mọi giá, một cuộc cách mạng phải sớm được thực hiện hầu thoát khỏi sự bế tắc thê thảm hôm nay trước khi quá muộn.
 
Nguyên Thạch

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và bí thư Đinh La Thăng thị uy lộn chỗ
Mẹ Nấm

(Danlambao) -Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc sáng 21/4/2016 có chỉ đạo Chủ tịch UBND TP HCM đề nghị cơ quan chức năng dừng ngay việc khởi tố vụ án hình sự chủ quán “Xin Chào” do chậm đăng ký kinh doanh; làm rõ trách nhiệm liên quan.

Trước đó, ngày 20/4/2016, Bí thư Thành phố HCM, ông Đinh La Thăng cũng giao cho Văn phòng Thành ủy TP HCM truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Bí thư đề nghị Công an TP.HCM, VKSND TPHCM khẩn trương làm rõ vụ chủ quán phở bị khởi tố.

Với góc nhìn của cá nhân tôi, đây là kiểu thị uy, ghi điểm lộn chỗ của những người đứng đầu cơ quan hành pháp.

Trong vụ án đã khởi tố liên quan đến ông Nguyễn Văn Tấn (chủ quán cà phê Xin Chào) bị Công an huyện Bình Chánh xử phạt hành chính liên tiếp hai lần vào ngày 13/08/2015 và ngày 10/09/2015 với tổng cộng 5 lỗi vi phạm từ chậm đăng ký kinh doanh đến vệ sinh an toàn thực phẩm, thẩm quyền không còn liên quan đến cơ quan hành pháp nữa.

Với việc chỉ đạo cơ quan tư pháp (cụ thể là Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh) dừng ngay một vụ án đã khởi tố một cách công khai trên phương tiên truyền thông, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã tái khẳng định nguyên tắc dân chủ tập trung của đảng Cộng sản là bất di bất dịch.

Tam quyền phân lập là khái niệm không hề tồn tại trong hệ thống pháp luật của Việt Nam.

Có thể trên cương vị mới, cả tân thủ tướng lẫn tân bí thư TpHCM đều mong muốn xây dựng được hình ảnh, tạo ra ảnh hưởng chính trị với người dân.

Rất tiếc là cách thể hiện này không đúng!

Chúng ta đang sống ở thời đại văn minh, sống trong một xã hội mà ngày ngày truyền thông kêu gọi thượng tôn pháp luật.

Vì thế người dân cần được bảo vệ bởi một hệ thống luật pháp công chính, minh bạch rõ ràng, chứ không phải kiểu thị uy lấy điểm trên truyền thông như anh hùng Lương Sơn Bạc.

Mẹ Nấm

nhuvan
Posts: 383
Joined: Sun Mar 27, 2016 8:29 pm

Post by nhuvan »

Tận cùng của sự hèn hạ

Thạch Đạt Lang

(Nguồn: Ba Sàm)
Mấy ngày vừa qua, tin tức về việc cá chết hàng loạt, trôi dạt vào bờ tại nhiều nơi trên bờ biển Việt Nam ở 4 tỉnh miền Trung từ khu
công nghiệp Vũng Áng (Hà Tĩnh) qua Quảng Bình, Quảng Trị đến phía Nam tỉnh Thừa Thiên-Huế, được loan báo dồn dập trên nhiều tờ báo online
trong và ngoài nước, kể cả các tờ báo lề phải trong nước như Tuổi Trẻ, Thanh Niên...

Image
Cá chết hàng loạt dạt vào bờ biển miền Trung.

Đọc những tin tức này, nhìn những hình ảnh cá đủ các loại nằm chết la liệt trên bờ biển, đầu óc tôi tê liệt, không còn suy nghĩ được điều gì. Tôi muốn viết ra điều gì đó để biểu lộ sự tức giận, căm phẫn nhưng quả thật không biết mình nên bắt đầu từ đâu.

Thôi thì nghĩ được điều gì viết điều đó. Bài viết không nói đến những nguyên nhân còn đang được điều tra, tìm hiểu, chỉ nói đến sự im lặng một cách kỳ lạ, khó hiểu của 4 người lãnh đạo cao nhất trong chế độ Cộng Sản Việt Nam hiện nay là Nguyễn Phú Trọng, Trần Đại Quang, Nguyễn Xuân Phúc, Nguyễn Thị Kim Ngân.

Bốn nhân vật lãnh đạo đất nước này hoàn toàn im lặng trước một biến cố mang tầm vóc quốc gia đang gây chấn động trong dân chúng. Vì lý do gì?

Sự việc xẩy ra đã hơn nửa tháng, từ những phát hiện đầu tiên về đường ống dẫn thải chất độc màu vàng dài 1.5 km, đường kính 1.1m ở khu công nghiệp Vũng Áng Formosa, liên tục phun chất độc ra biển, lẽ ra phải được báo động nhanh chóng và có biện pháp tức khắc để ngăn chận thiệt hại, ô nhiễm môi trường nhưng không có cơ quan chức năng nào quan tâm hay phản ứng mà chỉ báo cáo, xin chỉ thị.

Thiệt hại về kinh tế cho 4 tỉnh dọc theo ven biển là bao nhiêu? Chưa ai dự đoán được nhưng chắc không dưới con số vài tỷ đô la Mỹ. Tuy nhiên, ảnh hưởng môi trường mới quan trọng, chắc chắn sẽ kéo dài vài chục năm, nếu cá chết do nước biển bị nhiễm độc bởi nguồn nước thải từ khu công nghiệp Vũng Áng. Thiếu phương tiện, tài chánh, chuyên môn, kỹ thuật... việc tái tạo môi sinh là điều nan giải.

Nghĩ xa hơn, đời sống những ngư dân trong các vùng biển này sẽ ra sao trong thời gian sắp tới? Những sa sút về thu nhập trong gia đình khi không còn đánh cá được nữa sẽ dẫn tới xáo trộn kinh tế trong xã hội, trở thành phản ứng dây chuyền. Thất nghiệp, đói kém sẽ tăng, ngư dân sẽ rời bỏ làng mạc, tràn về thành phố, đưa tới tình trạng trộm cướp là điều khó tránh khỏi khi họ không tìm được việc làm hay phương tiện sinh nhai khác.

Image
Nguyễn Phú Trọng thăm khu kinh tế Formosa hôm 22 Tháng Tư. (Hình: Báo Hà Tĩnh)
Chuyện quốc gia đại sự, không ai trong tứ đầu chế Trọng, Phúc, Quang, Ngân quan tâm, chỉ thấy 2 ông Đinh La Thăng và Nguyễn Xuân Phúc thi nhau lên tiếng trong vụ quán cà phê Xin Chào bị kết án vi phạm hình sự vì khai trương với giấy phép trễ 5 ngày.

Giải quyết một việc chỉ cần viên chức chuyên môn ở cấp quận, huyện lại phải lụy đến 2 nhân vật cao cấp nằm trong bộ chính trị, một là thủ tướng, một là bí thư thành ủy. Thật không còn biết dùng ngôn từ nào để diễn tả khả năng lãnh đạo, sự hiểu biết tối thiểu của người cộng sản.

Lãnh đạo quốc gia ở các nước tự do, dân chủ như Mỹ, Đức, Pháp, Nhật, Nam Hàn... khi có biến cố trọng đại thì dù đang nghỉ hè hay đi công du ở hải ngoại cũng bỏ ngang, trở về nước để họp nội các, tìm biện pháp, lên truyền hình thông báo đường lối của chính phủ, trấn an, chia buồn với dân chúng.

Lãnh đạo của Cộng Sản Việt Nam thì ngược lại, khi có biến cố trọng đại như vụ giàn khoan HD 981 của Tàu Cộng năm 2014 xâm phạm lãnh hải Việt Nam thì trốn chui trốn nhủi, câm như hến, không một người nào ló mặt ra hay có một lời nói nào để động viên, bày tỏ sự quan tâm của lãnh đạo đến biến động.

Chắc chắn Phú Trọng, Xuân Phúc, Đại Quang, Kim Ngân phải biết rõ sự việc cá chết hàng loạt nhưng họ không lên tiếng, chỉ cho một đàn em, thứ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi Trường tuyên bố một cách ngu xuẩn là cá chết hàng loạt do hiện tượng thủy văn, nước biển nóng lên và thiếu oxy trong khi đã có những báo cáo về vụ xả chất thải độc hai ở Vũng Áng.

Tại sao? Chẳng qua khu công nghiệp Formosa do Tàu Cộng tài trợ toàn bộ. Ra lệnh cho thuộc cấp điều tra, “làm rõ vụ việc” thì đụng chạm mạnh đến ông bạn láng giềng tham lam, hung ác, nham hiểm đang chống lưng cho chế độ.

Ngày 22 Tháng Tư, 2016, hơn nửa tháng sau khi có những tin tức về cá chết hàng loạt tại bờ biển Hà Tĩnh nơi có khu công nghiệp Formosa, Nguyễn Phú Trọng thăm khu dân cư mẫu xã Thạch Văn và khu công nghiệp tại đó, đồng thời làm việc với ban chấp hành tỉnh bộ nhưng hoàn toàn không hề bước chân ra biển xem tình hình cá chết ra sao.

Sự lẩn tránh trách nhiệm, ngậm miệng ăn tiền, nói lên bản chất hèn hạ, khốn nạn tột cùng của các lãnh đạo trong chế độ Cộng Sản Việt Nam.

baphai
Posts: 25
Joined: Mon Apr 25, 2016 12:09 am

Post by baphai »

Vụ cá chết: Hệ thống công quyền Việt Nam như 'sắp chết'

HÀ TĨNH (NV) - Đã 20 ngày kể từ khi cá chết trắng đoạn bờ biển chạy dọc bốn tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế
nhưng hệ thống công quyền ở Việt Nam vẫn chưa hết lúng túng.

Image
Cá chết trắng biển từ Hà Tĩnh, Quảng Bình đến Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế.

Sự kiện “cá chết” không chỉ làm ngư dân và những người kiếm sống bằng việc mua bán cá bế tắc về sinh kế, mà còn khiến các cơ sở thương mại, dịch vụ hoạt động trong lĩnh vực du lịch (khách sạn, nhà hàng, vận chuyển) tê liệt do ế ẩm, bởi cá chết trên diện rộng vừa làm môi trường bị ô nhiễm, vừa khiến du khách hoang mang, sợ tắm biển cũng sẽ chết như... cá!

Ít nhất đã có hơn 20 trường hợp phải tới bệnh viện cấp cứu ở huyện Phúc Trạch, tỉnh Quảng Bình, vì ăn các loại hải sản nghi bị nhiễm độc. Tại huyện Quảng Trạch cũng có khoảng 200 thực khách được mời tới dự tiệc khai trương của một nhà hàng bị trúng độc sau khi ăn các món hải sản.

Điều khiến tất cả mọi người, đặc biệt là những người đang trực tiếp gánh chịu hậu quả từ sự kiện “cá chết,” quan tâm là vì sao cá lại chết trên diện rộng như vậy? Tuy nhiên, đến cuối tuần qua, đại diện liên Bộ Nông Nghiệp-Phát Triển Nông Thôn, Tài Nguyên-Môi Trường và đại diện bốn tỉnh chỉ có thể báo cáo với công chúng rằng, cá chết trắng biển là do trong nước biển có độc tố cực mạnh.

Những đại diện cho hệ thống công quyền từ trung ương đến địa phương không thể trả lời được hai câu hỏi rất căn bản khác là loại độc chất làm cá chết tên gì (?) và độc chất đó từ đâu mà ra!

Cá bắt đầu chết trắng biển kể từ ngày 6 Tháng Tư nhưng mãi tới ngày 20 Tháng Tư, ông Võ Tuấn Nhân, thứ trưởng Bộ Tài Nguyên-Môi Trường, mới yêu cầu chính quyền các địa phương có cá chết trắng biển “phải tổ chức tuyên truyền rộng rãi để người dân không sử dụng cá chết làm thực phẩm cũng như làm thức ăn chăn nuôi.”

Đến ngày 23 Tháng Tư, trước sự chỉ trích kịch liệt của công chúng về lối hành xử hết sức chậm chạp, kém hiệu quả của hệ thông công quyền từ trung ương đến địa phương, ông Vũ Văn Tám, thứ trưởng Nông Nghiệp-Phát Triển Nông Thôn, lại bảo rằng, những con cá bị nhiễm độc đều đã chết và đã được chôn nên bây giờ, nếu bắt được cá sống thì có thể... ăn. Khi bị báo giới chất vấn, làm sao biết được cá còn sống không bị nhiễm độc? Ông Tám bảo rằng: “Phải chờ cơ quan có chức năng xét nghiệm khẳng định” và “sắp tới mới làm!”

Ông Tám còn động viên mọi người tắm biển nhưng lại không trả lời thắc mắc là đã có nghiên cứu nào xác định biển đã an toàn hay chưa (?).

Theo tường thuật của báo chí Việt Nam thì tại cuộc họp của đại diện hệ thống công quyền của trung ương với đại diện bốn tỉnh có cá chết trắng biển, báo giới không được phép tham dự. Ở cuộc họp báo sau đó, các viên chức đại diện chính quyền trung ương và địa phương “thi nhau nhắc nhở” truyền thông là nên thông tin sự việc một cách chừng mực, không làm tình hình thêm phức tạp, gây hoang mang trong nhân dân, dẫn đến thiệt hại cho nhân dân. Thậm chí, có viên chức còn dọa, nếu hệ thống truyền thông không “khéo” thì sẽ “ảnh hưởng đến việc xuất cảng thủy sản, hải sản.”

Cách nay vài ngày, khi lặn xuống biển săn hải sản, ông Nguyễn Xuân Thành, một ngư dân ngụ ở thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, tìm thấy một “đường ống khổng lồ” dài khoảng 1.5 cây số, đường kính khoảng 1.1 mét, chạy từ Formosa Hà Tĩnh thuộc Khu Kinh Tế Vũng Áng ra biển.

Formosa Hà Tĩnh là tên gọi dự án đầu tư của tập đoàn Formosa của Đài Loan tại Hà Tĩnh. Chính quyền Việt Nam đã dành cho tập đoàn Formosa nhiều ưu đãi khi đầu tư dự án Formosa Hà Tĩnh.

Ông Thành kể rằng “đường ống khổng lồ” mà ông thấy được đặt trên bề mặt đáy biển và được che đậy bằng các bao cát và đá hộc. Ông Thành phát giác “đường ống khổng lồ” vì nước được bơm rất mạnh từ trong lòng ống vào lòng biển và có màu vàng đục, sền sệt, nặng mùi. Ông Thành đã báo phát giác của ông cho Đồn Biên Phòng Đèo Ngang, thuộc Bộ Chỉ Huy Biên Phòng Hà Tĩnh.

Trước đây, nhiều người từng bày tỏ nghi ngờ sự kiện “cá chết” là do Formosa Hà Tĩnh lén lút xả nước thải và chất thải ra biển, phát giác của ông Thành về “đường ống khổng lồ” củng cố những nghi ngờ này. Cuối tuần qua, đại diện chính quyền Việt Nam tuyên bố họ không hề bất ngờ về sự hiện diện của “đường ống khổng lồ” vì chính họ cấp giấy phép cho Formosa Hà Tĩnh. (G.Đ.)

Post Reply