Có thể chiến thắng sự gian dối! Tác giả: Alexandr Solzhenitsyn - Trần Duy Nhiên chuyển ngữ
Ngày 3 tháng 8 vừa qua, đại văn hào Nga Aleksandr Isayevich Solzhenitsyn qua đời; và ngày 6, lễ nghi an táng của ông được cử hành rất long trọng tại Đan Viện Donskoy, Maskva, thủ đô nước Nga. Ông là người từng bị đày đọa tột cùng và cũng từng hưởng vinh dự rất cao ngay trên quê hương mình. Ông đã được trao giải thưởng Nobel văn học vào năm 1970, thời mà nước Nga còn do Đảng Cộng Sản lãnh đạo.
Diễn từ ông gửi đến Hội Đồng Nobel cách đây gần 40 năm vẫn còn nóng bỏng chất thời sự, đối với thế giới hôm nay, và đặc biệt đối với nước Việt Nam thân yêu của chúng ta trong những ngày vừa qua. Vì thế tôi dịch lại phần cuối cùng để chúng ta – nhất là những người cầm bút ở bất cứ môi trường nào – đọc lại mà thấm thía. ( Ảnh chân dung nhà văn). Ai muốn xem trọn văn bản bằng tiếng Anh, xin tìm vào thẳng địa chỉ sau đây: http://nobelprize.org/nobel_prizes/lite ... cture.html
CÓ THỂ CHIẾN THẮNG SỰ GIAN DỐI !
Tôi đã hiểu và cảm nhận rằng văn học thế giới không còn là một tuyển tập trừu tượng, hoặc một tổng hợp do các nhà phê bình văn học tạo nên; nhưng đúng hơn đấy là một thân thể và một tinh thần chung, một sự thống nhất tình cảm phản ánh sự hiệp nhất ngày càng lớn lên giữa các thành phần nhân loại.
Biên giới giữa các nước vẫn còn đỏ rực, hừng hực vì dây điện và những tràng súng liên thanh; và nhiều bộ nội vụ vẫn nghĩ rằng văn học cũng là ‘nội vụ’ đặt dưới quyền điều khiển của mình; các tít báo vẫn còn chạy: “Không được can thiệp vào chuyện nội bộ chúng tôi !”
Thế nhưng không còn chuyện gì là Chuyện Nội Bộ trên cái thế giới đất hẹp người đông của chúng ta hiện nay ! Và cách duy nhất để giải cứu nhân loại hệ tại ở mọi công việc mà mỗi người làm trong lãnh vực mình; ở việc những người Phương Đông thực sự quan tâm đến những gì mà người ta suy nghĩ tại Phương Tây, và người Phương Tây thực sự quan tâm đến nhưng gì đang xảy ra tại Phương Đông.
Và văn chương, với tư cách là phương tiện nhạy cảm và đáp ứng kịp thời nhất mà loài người có được, là một trong những nhân tố đi hàng đầu để tiếp thu, hòa nhập và nắm bắt được cái cảm thức về sự hiệp nhất ngày càng lớn mạnh của cộng đồng nhân loại. Vì thế, tôi tin tưởng ngỏ lời với thế giới văn chương hôm nay – với hằng trăm bạn hữu mà tôi chưa bao giờ gặp được con người bằng xương bằng thịt và có thể tôi sẽ không bao giờ gặp được.
Hỡi các bạn ! Chúng ta hãy cố gắng giúp đỡ, nếu chúng ta còn một giá trị nào đó ! Từ thời xa xưa đến nay, ai làm nên sức mạnh hiệp nhất, chứ không phải chia rẽ, trên các đất nước chúng ta, những đất nước bị xâu xé bởi các đảng phái, phong trào, đẳng cấp và phe nhóm chống đối nhau ? Tự bản chất, người cầm bút có một vị trí: họ là những người thể hiện tiếng mẹ đẻ của mình, là lực lượng liên kết chính yếu của một quốc gia, của chính mảnh đất mà người dân cư ngụ và – ở mức cao nhất – của tinh thần quốc gia.
Tôi tin rằng thế giới văn học tự mình có sức mạnh giúp đỡ nhân loại, trong những giờ phút nhiễu nhương này, để nhân loại tự nhìn ra rõ chính mình, bất chấp sự tuyên truyền của những người và những đảng phái đầy định kiến.
Thế giới văn học có sức mạnh để chuyển tải kinh nghiệm tích lũy ở một miền đất này sang một miền đất khác, hầu cho chúng ta không còn bị chia cắt và đui mù, hầu cho các bậc thang giá trị khác nhau được mọi người đồng thuận, và một quốc gia nhất định sẽ học được một cách đúng đắn và cô đọng lịch sử chân chính của một quốc gia khác, với tinh thần thừa nhận và với cảm thức đớn đau như thể chính mình đang trải qua kinh nghiệm đó; và như thế, quốc gia ấy sẽ tránh phải lặp lại những sai lầm thảm khốc tương tự.
Có lẽ trong những điều kiện hiện nay, văn sĩ chúng ta có thể vun xới trong bản thân mình mảnh đất cho một tầm nhìn bao quát TOÀN THỂ THẾ GIỚI: tại trung tâm thì quan sát như một người khác ở bên cạnh mình, tại ngoài viền thì chúng ta bắt đầu kéo về những gì xảy ra từ mọi nơi trên thế gi ới. Và chúng ta sẽ nối kết, sẽ tôn trọng sự cân bằng của thế giới này.
Nếu không phải là những người cầm bút, thì ai sẽ đánh giá, không chỉ về việc quản lý thiếu hiệu quả trên đất nước mình, (mà trong nhiều nước thì đây là cách kiếm ăn dễ nhất, một công việc mà bất cứ người nào không làm biếng cũng có thể làm), mà còn đánh giá về chính người dân, về sự nhẫn nhục đê hèn hoặc về sự yếu kém đầy tự mãn của họ ? Ai sẽ đánh giá về cuộc chạy đua nhẹ dạ của thế hệ trẻ, và về những tên ăn cướp trẻ đang chìa dao găm ra ?
Người ta sẽ hỏi: văn học thì có thể làm gì để chống lại sự tấn công khốc liệt của bạo lực công khai ? Vậy thì chúng ta đừng quên điều này: bạo lực không sống một mình và không có khả năng sống một mình; nó buộc phải đan xen với dối trá. Giữa chúng có một mối dây liên kết tự nhiên, mật thiết và sâu đậm nhất. Bạo lực lấy gian dối làm nơi trú ẩn, gian dối lấy bạo lực làm chỗ nương tựa. Người nào từng một lần tuyên bố lấy bạo lực làm PHƯƠNG PHÁP thì người đó buộc phải chọn dối trá làm NGUYÊN TẮC.
Khi mới ra đời, bạo lực hoành hành một cách công khai và thậm chí vênh vang.
Nhưng khi nó mạnh rồi, có ghế ngồi vững vàng rồi, nó cảm thấy bầu không khí quanh mình loãng ra nên không thể sống được nếu không hạ xuống mà nấp vào lớp mây của gian dối, ngụy trang mình bằng những lời đường mật. Không nhất thiết là lúc nào nó cũng công khai cắt cổ người ta đâu, mà thường thường nó đòi buộc dân đen của mình thề trung thành với dối trá, đồng lõa với dối trá.
Bước đi bình thường của người can đảm bình thường là không tham gia vào dối trá, không ủng hộ dối trá. Cứ để NÓ xâm nhập vào thế giới, thậm chí cai trị thế giới này – mà không có sự trợ lực của mình. Nhưng văn sĩ và nghệ sĩ thì có thể làm hơn như thế: họ có thể CHIẾN THẮNG SỰ GIAN DỐI ! Trong cuộc chiến chống lại gian dối thì nghệ thuật đã từng chiến thắng và sẽ chiến thắng mãi. Một cách rõ ràng và không thể phủ nhận được, vì mọi người ! Gian dối có thể khuất phục nhiều thứ trên thế giới này, nhưng không thể khuất phục nghệ thuật được.
Và ngày nào gian dối bị xua tan thì bạo lực trần trụi sẽ tỏ lộ thân hình gớm ghiếc – và bạo lực, thối rữa, sẽ đổ nhào.
Ngô Nhân Dụng
Chính phủ Mỹ cần phải vay 400 tỷ Mỹ kim một năm, để bù vào số thâm thủng trong ngân sách, nhà nước thu ít mà chi nhiều. Số tiền này có thể được người Mỹ và người nước ngoài cho vay, bằng cách mua công khố phiếu Mỹ. Nước Mỹ cũng cần 700 tỷ Mỹ kim trong một năm để bù vào con số khiếm hụt trong cán cân thương mại, nhập cảng nhiều hơn xuất cảng. Số tiền thiếu hụt đó một phần nhỏ sẽ được bù lấp bằng tiền lời của các công ty Mỹ kiếm được ở ngoại quốc và không cần giữ ở bên ngoài để đầu tư. Nhưng phần lớn số thiếu hụt đó được cân bằng nhờ tiền đầu tư của người ngoại quốc vào nước Mỹ: Cho vay, đầu tư trực tiếp, mua trái phiếu và cổ phần, vân vân.
Người nước ngoài vẫn đầu tư vào nước Mỹ vì họ tin tưởng ở hệ thống tài chánh, ngân hàng của Mỹ. Nếu thấy hàng loạt các ngân hàng lớn nhất sụp đổ và chính phủ với Quốc Hội loay hoay không tìm được phương cách giải cứu thì lòng tin đó sẽ bị sứt mẻ. Nếu số tiền chảy từ ngoài vào nước Mỹ giảm đi đáng kể thì giá trị đồng đô la sẽ xuống, hàng nhập cảng rẻ nhất cũng tăng giá; lãi suất mà người Mỹ trả khi vay để mua nhà, mua xe, dùng thẻ tín dụng đều tăng lên, các xí nghiệp khó vay tiền làm ăn sẽ cho công nhân nghỉ bớt, vân vân.
Ðó là một trong những hậu quả nếu Quốc Hội Mỹ nhất quyết không thông qua dự luật 700 tỷ giải cứu hệ thống ngân hàng, hậu quả này liên can đến số tiền từ nước ngoài vào Mỹ. Nhưng bên trong nền kinh tế Mỹ, những hậu quả khác còn lớn hơn, rộng hơn và đáng lo sợ hơn. Tổng Thống George W. Bush đã lên ti vi hai ngày liền để khẩn thiết kêu gọi Quốc Hội Mỹ phải “hành động” - tức là chấp thuận dự án 100 tỷ mà Bộ Trưởng Tài Chánh Paulson đã đệ trình. Nhiều người than phiền rằng ông Bush tham dự trễ quá. Trong 11 ngày qua ông Paulson là nhân vật chính lo đem “bán” kế hoạch giải cứu cho Quốc Hội. Cả ông tổng thống lẫn ông bộ trưởng không lo “bán” ý kiến này cho công chúng Mỹ sớm hơn. Ðáng lẽ chính phủ Mỹ phải lo chuẩn bị dư luận khéo léo hơn. Ðối với các đại biểu Quốc Hội thì việc đưa ra một dự luật dài 2 trang rưỡi, trao 700 tỷ đô la cho một ông bộ trưởng tài chánh toàn quyền sử dụng, không ai trong chính phủ giám sát mà không tòa án nào được xét xử, đó là một hành động khinh suất không thể hiểu nổi. Nhiều đại biểu, thuộc đảng Cộng Hòa của ông tổng thống và đảng Dân Chủ đối lập, bực mình vì thái độ “trịch thượng” đó. Ðối với dân chúng Mỹ thì nghe chính phủ lấy tiền của mình đi cứu các ngân hàng là điều không ai thấy lọt tai.
Vì vậy đa số dân Mỹ chống lại từ khái niệm “giải cứu các ngân hàng.” Những đại biểu hai đảng bỏ phiếu chống đều vì áp lực từ các cử tri trong đơn vị của họ. Khi một đại biểu Quốc Hội nhận được hàng ngàn email, điện thoại, thư, của các cử tri yêu cầu chống một dự luật, họ không thể cưỡng được. Nhất là trong 4 tuần lễ nữa họ sẽ cần được cử tri bỏ phiếu cho mình.
Trong số 38 dân biểu cả hai đảng đang phải tranh cử gay gắt, không biết chắc sẽ tái đắc cử hay sẽ bị thay thế, có 30 người đã bỏ phiếu chống (18 Cộng Hòa và 12 Dân Chủ), chỉ có 8 đại biểu ủng hộ dự luật (3 Cộng Hòa, 5 Dân Chủ). Các đại biểu Cộng Hòa thì lo bị cử tri phản đối vì kế hoạch giải cứu này bị coi là lối làm kinh tế “xã hội chủ nghĩa,” nhà nước thay thế thị trường! Các đại biểu Dân Chủ thì bị các cử tri cảnh cáo không được mang tiền của dân đem cứu các ông tư bản đã giầu sụ!
Các đại biểu người Mỹ gốc Phi Châu (Black Caucus) quan tâm đến lời các cử tri than phiền rằng chính phủ đem 700 tỷ đi cứu các ngân hàng, trong khi ngân sách y tế, giáo dục bị bỏ qua, và người dân thì lo mất nhà vì bị sai áp, lo không đủ tiền ăn, tiền ở! Trong số 38 dân biểu da đen này có 30 người bỏ phiếu chống. Các dân biểu gốc Latino cũng bị áp lực tương tự, 14 người bỏ phiếu chống, chỉ có 8 ủng hộ.
Những dân biểu mới được bầu vào Quốc Hội lần đầu năm 2006, có người chỉ thắng với tỷ số sát nút, là những người lo sợ nhất sẽ bị dân bỏ rơi nếu ủng hộ dự luật cứu nguy. Trong số 48 dân biểu đảng Dân Chủ mới vào Quốc Hội một khóa có 25 người chống lại dự luật. Nhiều người trong đó đã thắng ở các đơn vị trước đây vẫn ủng hộ đảng Cộng Hòa nhưng trong kỳ bầu cử 2006 đa số dân tẩy chay Tổng thống Bush nên bỏ phiếu cho đảng đối lập. Có 17 dân biểu Cộng Hòa cũng mới làm một nhiệm kỳ, tất cả đều bỏ phiếu chống. Dân Biểu David Obey, tiểu bang Wisconsin nhận xét: “Nhiều người thà hy sinh nền kinh tế còn hơn hy sinh ghế dân biểu của mình.”
Ngược lại, các dân biểu đang chuẩn bị về hưu, không tranh cử nữa, thì đa số ủng hộ dự luật cứu nguy tài chánh; 21 người trong số 29 dân biểu Cộng Hòa, và 5 người trong số 7 đại biểu Dân Chủ.
Buổi sáng ngày Thứ Hai, Tổng Thống Bush lên ti vi một lần nữa để cổ động dân chúng ủng hộ nhưng không đủ thời giờ cho các đại biểu thay đổi ý kiến. Trong buổi sáng, Tòa Bạch Ốc còn tin rằng dự luật sẽ đủ phiếu ủng hộ, vì tin khi những người lãnh đạo hai đảng ở Hạ Viện đã ủng hộ thì đa số các đại biểu khác sẽ theo.
Trong những cuộc thương thuyết tuần trước, chính phủ Bush trông cậy vào các nhà lãnh đạo hai đảng ở Quốc Hội. Hành pháp đã nhượng bộ đảng Dân Chủ khi chịu hạn chế tiền thù lao của các cấp chỉ huy ngân hàng được cứu, đồng ý trợ giúp những chủ nhà sắp bị sai áp tài sản, chịu chia 700 tỷ để chi dần dần nhiều lần. Sau đó, cả chính phủ lẫn các đại biểu Dân Chủ lại sửa dự luật để thỏa mãn yêu cầu của các đại biểu Cộng Hòa, ghi thêm cách giải cứu thứ hai, là bảo đảm các trái khoán nhiễm độc thay vì mua tất cả.
Với các thỏa hiệp đó, phía lãnh đạo đảng Dân Chủ bảo đảm có thể được 120 phiếu ủng hộ; phía Cộng Hòa bảo đảm sẽ có từ 70 đến 80 phiếu thuận.
Cuối cùng, số đại biểu phản đối tăng lên bất ngờ, Dân Chủ có 95 người chống, Cộng Hòa 133 người. Số phiếu thuận chỉ có 140 phiếu Dân Chủ và 65 Dân Chủ. Khi cuộc bỏ phiếu minh danh được chiếu trên truyền hình cho công chúng coi, từ 1 giờ 40 phút các người mua bán chứng khoán ở New York ngưng công việc để theo dõi vì số phiếu chống bắt đầu lên cao hơn phiếu thuận. Lúc 1 giờ 43 phút, nhiều phiếu chống hơn, chỉ số thị trường tụt 100 điểm. Ðến 1 giờ 45 phút, tụt đến 580 điểm, và sau cùng mất gần 778 điểm. Trong những phút cuối cùng đó, những dân biểu lãnh đạo hai đảng chạy quanh các đại biểu chưa bỏ phiếu lớn tiếng báo động: Thị trường xuống rồi! Thị trường xuống rồi! Nhưng các đại biểu nghĩ đến phản ứng của người dân trong đơn vị họ hơn là nghĩ tới các nhà đầu tư.
Ngày hôm sau, Tổng Thống Bush lên ti vi lần nữa báo động những nguy cơ cho nền kinh tế nếu kế hoạch giải cứu thất bại. Ông cho biết trong ngày hôm trước các nhà đầu tư đã mất một ngàn tỷ Mỹ kim vì các cổ phần xuống giá.
Nhưng nếu kế hoạch giải cứu 700 tỷ này bị bác bỏ hoàn toàn thì công quỹ và người dân thường sẽ bị thiệt hại nhiều hơn những con số đó. Dù sao thì chính phủ Mỹ cũng phải giải quyết khi các ngân hàng phá sản. Cơ quan bảo hiểm FDIC sẽ phải chi tiền cho các người ký thác tiền từ 100,000 đô la trở xuống. Bộ Tài Chánh phải lo bù vào quỹ đó, và giúp cơ quan này đứng ra tịch thu và quản lý các ngân hàng phá sản. Hệ thống Dự Trữ Liên Bang sẽ phải bỏ tiền thêm cho các định chế tài chánh có thể hoạt động. Hàng ngàn ngân hàng nhỏ ở địa phương sẽ sập, cả hệ thống tín dụng cho các xí nghiệp nhỏ, các người tiêu thụ sẽ bất động một thời gian. Chính phủ Mỹ sẽ không thu được thuế khi các hoạt động kinh doanh đình trệ. Ðiều mà Tổng Thống Bush không nói thẳng, nhưng các nhà kinh tế đã bàn, là nếu không chi ra 700 tỷ theo một kế hoạch có sẵn thì dân Mỹ cuối cùng sẽ thấy số phí tổn để thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng này có thể lên hàng ngàn tỷ Mỹ kim, mà không có kế hoạch nào để điều động một cách trật tự hết.
Cho nên, thế nào rồi dự luật 700 tỷ cũng sẽ được thông qua. Chính phủ sẽ thêm vào một số điều khoản mới để chứng tỏ có thiện chí thỏa hiệp. Luật sẽ ấn định FDIC được phép bảo đảm những tài khoản lớn hơn 100,000 đô la (có thể lên 250,000). Sẽ thêm các biện pháp cứu giúp các ngân hàng nhỏ ở khắp nước. Luật lệ về kế toán có thể được điều chỉnh đáp lời yêu cầu của một số đại biểu Cộng Hòa. Việc chi tiêu 700 tỷ sẽ được trao cho một cơ quan nằm ngoài Bộ Tài Chánh và được Quốc Hội giám sát kỹ hơn. Chính phủ sẽ chấp nhận nhiều nhượng bộ nhỏ khác. Nhiều đại biểu đã bỏ phiếu chống có thể sẽ đổi ý kiến sau khi chứng tỏ cho cử tri của họ thấy rằng họ cương quyết bảo vệ tiền của người dân đóng thuế rồi, nay phải hy sinh để cứu nguy nền kinh tế!
Sau khi kế hoạch giải cứu thất bại ở Hạ Viện, phần lớn các nhà bình luận cho rằng đây là một dấu hiệu cho thấy giới lãnh đạo chính trị ở nước Mỹ cũng đang lâm vào khủng hoảng, không khác gì thị trường tài chánh. Khi ông tổng thống chỉ được 26% dân chúng ủng hộ, Quốc Hội còn tệ hơn chỉ được trên 10% dân chúng tin tưởng, thì quả thật nước Mỹ đang lâm vào một cuộc khủng hoảng tín nhiệm. Nếu các nhà chính trị không biết tự kiềm chế, lại nhân vụ thất bại này mà chỉ tay kết tội lẫn nhau thì họ càng chứng tỏ lòng dân không tín nhiệm họ là có lý.
Sau cuộc bầu cử vào tháng tới, dù ai đắc cử tổng thống, chắc chắn nước Mỹ cũng thay đổi. Hệ thống tài chánh sẽ được rà soát lại để bít những lỗ hổng từ đó gây ra cuộc khủng hoảng hiện nay. Chính phủ sẽ thay đổi, lo việc giám sát hệ thống tài chánh một cách cẩn mật hơn. Nhiều nhà kinh tế nhận xét rằng sau những vụ khủng hoảng ngân hàng năm 1989-90, nhiều luật lệ đã được sửa đổi để tránh xẩy ra lần nữa. Nhưng khi những nhà lãnh đạo trong chính phủ và Quốc Hội không thiết tha với việc giám sát thì những cơ quan lo việc giám sát sẽ thiếu nhân viên, thiếu ngân sách, khó làm việc. Nay thái độ đó cũng sẽ thay đổi.
Cuối cùng sức mạnh của nước Mỹ vẫn là khả năng thay đổi để thích ứng với tình thế mới. Mà chỉ trong một chế độ dân chủ tự do người ta mới dễ thích ứng được như vậy.
Ngô Nhân Dụng
Ngày hôm qua, ban vận động của Nghị sĩ John McCain đã giảm số phim quảng cáo trên truyền hình và rút bớt nhân viên ra khỏi tiểu bang Michigan. Họ sẽ chuyển tài nguyên và nhân lực sang các tiểu bang Wisconsin, Ohio và Florida.
Tất nhiên, đây là một cách đối phó với tình trạng số cử tri ủng hộ ông McCain, nghị sĩ tiểu bang Arizona, đang xuống thấp so với ông Barack Obama. Trên toàn thể nước Mỹ, cộng kết quả các cuộc nghiên cứu dư luận rồi chia lấy trung bình, ông nghị sĩ Illinois đang dẫn trước trên 5 điểm (49% - 43.3%).
Nhưng tại sao ông McCain lại chọn Michigan để rút quân và 3 chọn tiểu bang kia làm nơi tập trung hỏa lực? Nguyên nhân chính, là do hệ thống bầu cử của nước Mỹ. Hiện nay trong 50 tiểu bang có một số tiểu bang sẽ đóng vai quyết định ai làm tổng thống Mỹ năm tới.
Dân Mỹ không trực tiếp bầu tổng thống. Lá phiếu bầu sau cùng là của các tiểu bang. Ðại biểu của các tiểu bang họp thành Cử Tri Ðoàn (electoral college) để bỏ phiếu. Mỗi tiểu bang được quyền bỏ một số phiếu nhất định, lớn bằng con số nghị sĩ (2 phiếu cho mỗi tiểu bang) cộng với con số dân biểu (cao thấp tùy theo dân số). Ứng cử viên tổng thống chiếm đa số ở tiểu bang nào sẽ nhận được tất cả số phiếu cử tri đoàn của tiểu bang đó. Dù ông Obama thắng ở New York với tỷ số nào, ông cũng sẽ nhận được tất cả 31 phiếu cử tri đoàn của New York. Dù ông McCain thắng ở Texas nhiều hay ít ông cũng được hưởng tất cả 34 phiếu ở đó. Năm nay cả nước sẽ có 538 phiếu cử tri đoàn; ứng cử viên nào chiếm được 270 phiếu sẽ thành tổng thống (Nếu mỗi người được 169 phiếu, các dân biểu Hạ Viện sẽ quyết định). Người quan sát cần đếm số phiếu cử tri đoàn mỗi ứng cử viên đang chiếm được, nó quyết định thắng bại.
Nhìn vào kết quả nghiên cứu dư luận ở từng tiểu bang, hiện giờ đã có thể đoán ứng cử viên nào chắc chắn thắng ở đâu. Nếu ai dẫn trước đối thủ trên 10 điểm thì chắc sẽ thắng ở tiểu bang đó. Thí dụ tại Texas (34 phiếu) ông McCain đang được trên 48% cử tri tín nhiệm, ông Obama được dưới 38%, tỷ số đó khó thay đổi. Ở Massachusetts (12 phiếu) Obama được 52% so với 38% cho McCain, cũng chắc chắn.
Nếu chỉ chênh lệch từ 5 đến dưới 10% thì hy vọng thắng, nhưng vẫn chưa được coi là chắc chắn vì trong một tháng sẽ còn nhiều thay đổi. Nếu một ứng cử viên chỉ dẫn trước đối thủ với số chênh lệch dưới 4% hay 5% thì coi như chưa quyết định. Ðó là những tiểu bang được coi là “ngang ngửa.” Cả hai ứng cử viên sẽ phải dồn sức vận động trong một tháng cuối cùng này ở các tiểu bang này.
Thời gian một tháng có thể làm nhiều cử tri đổi ý kiến. Họ thay đổi vì các ứng cử viên vận động ráo riết hơn, hoặc dùng các độc thủ nặng nề hơn, những đòn gây ấn tượng mạnh nhất sẽ được đưa ra gần ngày chót để khi bỏ phiếu dân chúng chưa quên. Những biến cố bên ngoài bất ngờ cũng có thể chuyển hướng mối quan tâm của người dân Mỹ. Năm 1980, Tổng Thống Regan chỉ được chiếm ưu thế trong dư luận 5 ngày trước khi bỏ phiếu. Cho nên trong một tháng cuối cùng này cả hai ứng cử viên sẽ chú trọng đến những tiểu bang nào còn ngang ngửa. Ðó là những tiểu bang nào?
Một mạng lưới theo dõi bầu cử đáng tin cậy là RealClearPolitics (RCP) đã phân loại 50 tiểu bang ở Mỹ làm ba loại: Chắc chắn (cho mỗi ứng cử viên); Có thể (cho một trong hai người); và Ngang ngửa (Chưa biết mèo nào cắn mỉu nào).
Cho đến ngày hôm qua, RCP nhận thấy khi tính những tiểu bang có vẻ chắc chắn chọn ai rồi, Nghị Sĩ John McCain đã kiếm được 158 phiếu cử tri đoàn; còn Nghị Sĩ Barack Obama đang có 171 phiếu. Có 7 tiểu bang nghiêng về một trong hai người, với 93 phiếu cử tri đoàn, trong đó ông Obama đang được nhiều hơn. Nhưng trên toàn thể nước Mỹ, còn khoảng 9 tiểu bang nữa mà tình trạng còn ngang ngửa. Tổng cộng các tiểu bang này còn 116 phiếu cử tri đoàn để cho hai ông McCain và Obama chiếm lấy, từ nay cho tới ngày bỏ phiếu.
Trong số 9 tiểu bang ngang ngửa này, có 8 tiểu bang đã bầu cho Tổng Thống Bush năm 2000 (Ohio, Nevada, New Hampshire, Virginia, North Carolina, Missouri, Indiana và Florida), đến năm 2004 ông Bush bị thua ở New Hampshire. Tiểu bang Minnesota đã bỏ phiếu cho ứng cử viên Dân Chủ trong hai năm đó, nhưng năm nay cũng thuộc loại ngang ngửa. Từ Mùa Hè đến nay, hai ứng cử viên tổng thống dùng mọi phương tiện để bảo vệ những thành trì là những tiểu bang đã bầu cho đảng mình trước đây. Ðồng thời, họ ách tấn công và chiếm lấy những tiểu bang vốn thuộc đảng kia.
Trước Tháng Tám, ban vận động của Nghị Sĩ John McCain đã nhắm tấn công tiểu bang Michigan vì nhận thấy những điểm yếu kém của ông Barack Obama ở đây. Michigan đã bỏ phiếu cho đảng Dân Chủ trước đây, nhưng tỷ số thắng thấp (3 đến 5%). Năm 1980 Tổng Thống Reagan đã thắng cử nhờ những người lao động da trắng ủng hộ, mà Michigan là một nơi dẫn đầu. Năm nay ông Obama đã không tranh cử sơ bộ ở Michigan, để cho bà Clinton độc chiếm, cho nên ông ta không có một hệ thống cơ sở trong tiểu bang này. Ngược lại, ông McCain đã thắng cử sơ bộ ở Michigan năm 2000 (hơn ông Bush) và năm 2008. Một trọng điểm khác là vấn đề mầu da.
Các cuộc nghiên cứu cho biết cử tri da trắng dễ bị mầu da ảnh hưởng nhất là khi họ sống ở những vùng mà mối bất hòa chủng tộc căng thẳng, vì những nạn trộm cắp, bạo loạn, băng đảng. Ngược lại, ở những nơi không có những vấn đề xã hội vì lý do chủng tộc thì người da trắng không mấy ai phân biệt mầu da. Oregon là một tiểu bang không thấy vấn đề chủng tộc, ông Obama đang thắng điểm ở đó. Còn tại Michigan thì từ lâu mầu da là một vấn đề xã hội căng thẳng, có khi ngấm ngầm, có khi bùng nổ. Khi nhìn thấy ông Obama chỉ dẫn trước vài điểm, ban vận động của ông McCain từ Tháng Chín đã tấn công Michigan để khai thác các nhược điểm của đối thủ.
Nhưng tình trạng kinh tế đã thay đổi bản đồ tranh cử, vì cuộc khủng hoảng tài chánh đang diễn ra đã khiến nhiều người hết tin tưởng vào chính phủ Bush, một chính phủ Cộng Hòa. Cơn thoái trào hiện nay ảnh hưởng tới kinh tế Michigan rất nặng. Tỷ số thất nghiệp ở Michigan cao nhất trên toàn quốc; tỷ số số nhà bị sai áp cao gấp đôi toàn quốc. Trong hai tuần qua số người ủng hộ ông Obama đã tăng, lên tới số chênh lệch 7% (49 - 42).
Ðó là một lý do khiến ông McCain mới rút bớt quân khỏi Michigan. Nhưng có lẽ lý do quan trọng hơn là ông thấy cần bảo vệ hai thành trì của mình đang bị địch tấn công. Ngày Thứ Ba, có những cuộc nghiên cứu dư luận cho thấy ông Obama đã dẫn trước ông McCain ở hai tiểu bang Ohio và Florida. Giữa Tháng Chín, ông McCain còn trên chân ở Florida (3%) và Ohio (2%). Tuần này, ông Obama đã vượt lên, hơn 7%. Ðó là hai tiểu bang then chốt đối với ứng cử viên tổng thống Cộng Hòa, ông Bush đã thắng ở đó. Ðể mất về tay đối thủ thì hết hy vọng. Cho nên ông McCain đã phải thu quân các nơi về củng cố lại hai mặt trận này.
Có thể làm mấy con tính để thấy tình thế buộc ông McCain phải chuyển quân. Trước hết là xem binh tình bên địch. Ông Obama đang ăn chắc 171 phiếu, còn ông McCain được 158 phiếu, ở những tiểu bang nghiêng hẳn về một bên. Ông Obama có thể thắng ở những tiểu bang đang hơi nghiêng về phía ông, trên 5%. Ðó là Michigan (17 phiếu cử tri đoàn), Pennsylvania (21 phiếu), Washington (11), New Mexico (5), New Jersey (15). Ðem cộng với các tiểu bang chắc chắn, ông sẽ được thêm 69 phiếu cử tri đoàn, cộng với 171 thành 240 phiếu. Ông McCain sẽ tính toán rằng nếu để mất Florida (27 phiếu) thì ông Obama sẽ có 267 phiếu, chỉ cần chiếm thêm được New Hampshire (4 phiếu) nữa là lên trên con số 270! Nếu ông Obama thua Florida nhưng chiếm được Ohio (20 phiếu) thì cũng thành 260 phiếu cử tri đoàn, ông ta chỉ cần đoạt được Minnesota (10 phiếu) nữa là ăn chắc!
Tóm lại, trong tháng cuối cùng của cuộc tranh cử, chúng ta không cần chú ý đến mặt trận toàn quốc mà chỉ cần theo dõi dư luận ở những tiểu bang ngang ngửa để đoán kết quả sau cùng ra sao. Các cuộc nghiên cứu dư luận cũng có thể sai vì chỉ làm theo phương pháp thống kê chứ không hỏi ý kiến tất cả mọi người, đưa ra kết quả cao hay thấp 3% so với sự thật, gọi là sai số. Vì thế những mức chênh lệch 5%, 6% không đáng tin cậy lắm.
Hai ứng cử viên sẽ còn phải vận động gay go trong bốn tuần lễ sau cùng này. Họ sẽ còn nhiều đòn ngầm, đòn hiểm chưa đưa ra. Còn 2 cuộc tranh luận giữa hai ông McCain và Obama, sau khi ông Biden và bà Palin đã lên đài. Chưa biết trên thế giới còn có biến cố nào sẽ làm cho dân Mỹ lo lắng! Bầu cử là một hoạt động quan trọng của chế độ dân chủ tự do. Ðối với người quan sát, còn là một hoạt cảnh rất hào hứng.
Hạ viện Mỹ thông qua gói giải pháp 700 tỷ USD
Ngay sau khi các hạ nghị sĩ gật đầu thông qua vào tối 3/10 (khoảng 6h sáng nay theo giờ Hà Nội), Tổng thống Bush nhanh chóng ký ban hành bản kế hoạch lịch sử nhằm giải cứu thị trường tài chính đang bên bờ khủng hoảng.
Gói giải pháp 700 tỷ USD, có chỉnh sửa, được thông qua với 263 phiếu thuận, dù còn 171 nghị sĩ vẫn chưa đồng tình . Tổng thống George W. Bush từng dày công vận động hành lang cho bản kế hoạch, ngay lập tức hạ bút ký ăn mừng chiến thắng. Dù còn chút bất đồng giữa các dân biểu trong cuộc tranh luận tối 3/10 tại Hạ viện, nhưng hơn ai hết người Mỹ hiểu sự cần thiết phải ngăn chặn một "thảm họa kinh tế" sắp xảy ra.
Tổng thống Bush và Bộ trường tài chính Henry Paulson ăn mừng chiến thắng. Ảnh: AP
Cuộc bỏ phiếu tại Hạ viện diễn ra lần thứ hai trong vòng một tuần, sau khi các dân biểu bác bỏ đề xuất ban đầu hôm thứ hai vừa rồi, với lý do kế hoạch chỉ nhằm mua lại những khoản nợ xấu của các ngân hàng đang thua lỗ trên thị trường tài chính phố Wall.
Bản đề xuất mới được Thượng viện thông qua hôm thứ tư có dành ra 100 tỷ USD cho các chương trình giảm thuế mới nhằm đổi lấy lá phiếu của các dân biểu đảng Cộng hòa. Bên cạnh đó, dự luật cũng đưa ra điều khoản nhằm gia tăng đảm bảo của chính phủ đối với các khoản tiết kiệm (bảo hiểm tiền gửi được nâng từ mức cũ 100.000 USD lên 250.000 USD).
Dự luật mới này còn bao gồm việc bỏ thuế nhằm giúp các doanh nghiệp nhỏ và thúc đẩy các nguồn năng lượng thay thế, mở rộng trợ giúp cho các gia đình có trẻ em cũng như các nạn nhân của các trận bão gần đây.
Chủ tịch Hạ viện, bà Nancy Pelosi, là một trong rất nhiều người đã nói về những khốn khổ mà thường dân Mỹ phải chịu đựng, và cần phải có hành động khẩn cấp nhằm “tránh đi thảm họa về kinh tế ". Tuy nhiên, các quan chức vẫn cảnh báo về những khó khăn mà kinh tế phải đối mặt. Dân biểu đảng Cộng hòa từ tiểu bang South Carolina, là J Gresham Barrett, thì nói: "Cho dù chúng ta làm gì hay thông qua cái gì đi chăng nữa thì thời gian trước mắt sẽ vẫn còn khó khăn".
Khi dự luật này được đề xuất, ai ai cũng tin nó sẽ được sự đồng thuận của các nghị sĩ để cứu thị trường tài chính đang khốn khó. Lúc Hạ viện quay lưng lại vào hôm thứ hai vừa rồi, ngành tài chính thực sự chao đảo. Chưa đầy một ngày, 1,2 nghìn tỷ USD - gần gấp đôi số tiền của gói giải pháp này - bị cuốn trôi khỏi phố Wall.
Chỉ trong vòng chưa đầy một tháng, hàng loạt định chế tài chính khổng lồ của phố Wall đã ra đi. Ngân hàng 158 tuổi Lehman Brothers sụp đổ. Merryn Lynch chịu đặt dưới sự quản lý của Bank of America, Wachovia bị mua lại bởi Citigroup, trước đó Washington Mutual tuyên bố phá sản.
Cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ lan sang châu Âu, kéo theo sự sụp đổ của đại gia ngân hàng Braford Bingley của Anh, tập đoàn Fortis của Bỉ và Hà Lan mất quyền kiểm soát.
Số người thất nghiệp trong tháng 9 vừa được Phòng Lao động Mỹ công bố đã lên tới 159.000 người, cao nhất trong vòng 5 năm qua.
Hôm thứ tư, Thượng viện thông qua kế hoạch với hơn 450 trang có bổ sung những điều khoản đảm bảo lợi ích cho người dân đóng thuế, những vùng bị thiên tai và đảm bảo quyền lợi của đa số các nghị sĩ thuộc hai đảng Cộng hòa và Dân chủ. Tiếp theo, đến hôm qua, các nghị sĩ của Hạ viện mới gật đầu.
Tổng thống Bush liên tục kêu gọi hành động khẩn cấp cho kế hoạch này được ban hành sớm nhất là cuối tuần này. Ông từng cảnh báo về các hậu quả "nghiêm trọng và lâu dài" cho nước Mỹ nếu như Quốc hội không nhất trí được về kế hoạch cứu nguy kinh tế. Phát biểu tại Nhà Trắng, ông nói: "Chúng ta hiện đang ở trong một tình trạng khẩn cấp và hậu quả sẽ lớn dần mỗi ngày nếu như chúng ta không có hành động. Nền kinh tế đang phụ thuộc vào hành động kiên quyết của chính phủ chúng ta".
Tại Brussels, Liên minh châu Âu cũng đã hối thúc Hoa Kỳ có những động thái mang tính trách nhiệm đặc biệt, cũng như thể hiện vai trò quản lý nhà nước trong việc giải quyết khủng hoảng tín dụng toàn cầu.
Hôm thứ tư vừa qua, các ứng cử viên tổng thống John McCain và Barack Obama đều quay lại Washington để tham gia bỏ phiếu. Cả hai ông đều ủng hộ dự luật.
Lãnh đạo phe đa số tại Thượng viện, nghị sĩ̃ Dân chủ Harry Reid, nói rằng ông hài lòng với kết quả đạt được và ca ngợi cả hai ông McCain và Obama.
Trong ngày hôm qua, tổng cộng có 33 nghị sĩ Cộng hòa và 25 nghị sĩ thuộc đảng Dân chủ từ bác bỏ đã chuyển sang ủng hộ. Cuối cùng có 91 dân biểu Dân chủ cùng 172 thành viên Cộng hòa đồng thuận, chỉ có 108 người của Dân chủ và 63 của Cộng hòa nói không với kế hoạch này.
Tuy nhiên, các quan chức vẫn cảnh báo về những khó khăn mà kinh tế phải đối mặt. Dân biểu đảng Cộng hòa từ tiểu bang South Carolina, J Gresham Barrett nói: "Cho dù chúng ta làm gì hay thông qua cái gì đi chăng nữa thì thời gian trước mắt sẽ vẫn còn khó khăn".
Thắng lợi của bản kế hoạch này mới chỉ được chính thức hóa trên giấy tờ nhưng cũng đủ để Tổng thống Bush và Bộ trưởng Tài chính Henry Paulson ăn mừng sau nhiều ngày thương lượng và vận động hành lang. Phố Wall đang ngóng chờ nó sẽ được thực thi.
Ngô Nhân Dụng
Hạ Viện đã thông qua, Tổng Thống Bush đã ký, dự luật 700 tỷ giải cứu hệ thống tài chánh được ban hành, quý vị nào là dân đóng thuế ở Mỹ sẽ góp phần chi 700 tỷ (6% Tổng Sản Lượng Nội Ðịa ở Mỹ) trong thời gian ngắn sắp tới. Với hy vọng sẽ thu lại một phần trong tương lai 5 hoặc 10 năm. Quốc Hội và ông tổng thống Mỹ không có lựa chọn nào khác. Không phải chỉ có các đại công ty tài chánh kêu cứu mà bao nhiêu doanh nghiệp nhỏ, các ngân hàng nhỏ địa phương, Phòng Thương Mại Hoa Kỳ, Hội Các Người Nghỉ Hưu, nhiều nghiệp đoàn, đã khuyến cáo nếu không cứu hệ thống tài chánh thì mọi nơi đều đình trệ, ngay đến tiền tiết kiệm của người về hưu cũng bị hụt.
Nhưng sau khi đạo luật ra đời, chỉ số D.J của thị trường New York hôm qua vẫn xuống 157 điểm. Vì mọi người biết việc giải cứu được một số ngân hàng cũng không chắc sẽ ngăn được cơn suy thoái kinh tế đang diễn ra.
Nhà tỷ phú Warren Buffett mới thực hiện một “kế hoạch giải cứu” riêng của ông, ông góp vốn 5 tỷ đô la vào đại công ty Goldman Sachs và 3 tỷ cho đại công ty General Electrics, với những điều kiện thấy mà thèm. Vì để đổi lại công tác “cứu nguy” này ông Buffett, người giầu thứ nhì thế giới, đã đòi hai công ty trên phải bảo đảm cho ông những món tiền lớn trong tương lai. Thí dụ, mỗi năm 10% tiền lời; mai mốt muốn trả lại thì phải bồi thường 10% nữa. Nhiều người đề nghị mai mốt chính phủ Mỹ hãy theo lối của ông Warren Buffett khi đem tiền mua các chứng khoán nhiễm độc của các “nhà băng” đang gặp nạn. Khi được Reuters phỏng vấn, Nghị Sĩ John McCain đã nói nếu đắc cử có thể sẽ mời ông Buffett làm bộ trưởng tài chánh - mặc dù hiện nay ông đang là cố vấn kinh tế của Nghị Sĩ Barack Obama.
Nhưng quý vị sẽ ngạc nhiên khi biết rằng đạo luật mà Quốc Hội Mỹ mới thông qua không phải chỉ lấy 700 tỷ của quý vị đem trợ giúp các ngân hàng. Vì nhân dịp biểu quyết chi 700 tỷ theo lời yêu cầu khẩn khoản của các nhà lãnh đạo hai đảng, quý vị nghị sĩ và dân biểu đã bỏ phiếu những khoản bớt thuế lặt vặt khác. Trước một món tiền lớn 700 tỷ chưa biết sẽ được ông bộ trưởng tài chánh chi tiêu ra sao, những món chi nhỏ cỡ vài triệu đến vài chục tỷ đô la bớt thuế coi không đáng kể.
Thí dụ một món chi lớn trước: Sửa lại luật về thuế tối thiểu Alternative Minimum Tax (AMT) ra đời năm 1969, nhắm bắt 155 gia đình giầu bậc nhất trong nước phải đóng thuế mặc dù họ đang không phải đóng vì có những lý do hợp pháp, quen gọi là “lỗ hổng thuế vụ.” Khi đó người Mỹ nào kiếm 150,000 đô la một năm được kể là giầu lắm. Nhưng bây giờ số lợi tức đó được coi là cỡ trung lưu thôi, một sinh viên mới ra trường có thể kiếm hơn số đó rồi. Từ 20 năm qua nhiều lần dạo luật này đã được sửa lại. Tuần này Quốc Hội sửa lại lần nữa, nâng số tiền đó lên, nhờ thế khoảng 20 triệu người Mỹ trung lưu được với lợi tức dưới 200,000 đô la một năm được bớt mỗi người khoảng 2,000 đô la tiền thuế. Tính ra, chính phủ Mỹ sẽ mất 40 tỷ đô la tiền thuế mỗi năm, khoản chi tốn nhất trong số các khoản được cõng trên lưng khoản chính 700 tỷ đô la! Trước đây những khoản bớt thuế lớn này thường bị chống vì sợ thâm thủng ngân sách, nhưng nay ngân sách đã thâm thủng tới 4 trăm tỷ rồi thì con số 40 tỷ trở thành nhỏ! Nhất là khi Quốc Hội cần thêm một số đại biểu bỏ phiếu thuận. Các đại biểu đang đứng bảo trợ dự luật nào vẫn bị ngâm tôm cũng có thể đổi ý bỏ phiếu thuận nếu đề nghị của mình được thông qua!
Ðạo luật mới cũng bớt thuế cho nhiều xí nghiệp trong kỹ nghệ sinh học, tin học, hàng không và không gian, vân vân khi họ chi tiền để nghiên cứu và phát triển doanh nghiệp. Ðây là một quyết định cần thiết, nhất là trong lúc kinh tế đang trên đà suy thoái. Tổng cộng sẽ tốn 19 tỷ đô la trong 10 năm. Những vùng sống bằng nghề đốn gỗ bị thiệt hại vì lợi tức giảm khi chính phủ hạn chế khai thác gỗ, các trường học và cơ sở cộng đồng đã được trợ giúp. Chương trình đó sẽ được triển hạn, tốn 3.3 tỷ.
Những món chi lặt vặt khác là: bớt thuế 8 tỷ cho những nạn nhân thiên tai, 5 tỷ giúp các sinh viên được bớt thuế khi đóng học phí. Các nhà giáo cũng không bị bỏ rơi, họ sẽ được bồi hoàn tổng cộng 400 triệu đô la nếu họ mua văn phòng phẩm bằng tiền túi của mình. Với thí dụ này, số tiền đã được tính bằng hàng triệu, không còn là hàng tỷ nữa.
Những người mua xe chạy bằng điện, không dùng máy nổ, sẽ được trợ giúp từ 2,500 đến 7,500 đô la, tổng cộng 758 triệu. Triển hạn việc giảm thuế nhập cảng len cho các nhà sản xuất đồ len, tốn 148 triệu. Nhiều nhà sản xuất phim cũng được chiếu cố để nâng đỡ phim nội địa, nhà nước sẽ bớt 478 triệu đô la. Những công ty Mỹ tham dự chương trình phát triển kinh tế ở Samoa thuộc Mỹ sẽ tiếp tục được trợ cấp thay vì hết hạn phải ngưng. Tốn 33 tỷ.
Hai xứ Puerto Rico và quần đảo Virgin cũng được chiếu cố. Rượu rum nhập cảng từ 2 xứ này đã được miễn thuế 13 đô la rưỡi một ga lông, khoản miễn này đáng lẽ hết hạn, nay được kéo dài thêm. Tốn 192 triệu đô la.
Nhân dịp Quốc Hội bỏ phiếu chi 700 tỷ, các đại biểu cố đưa vào trong đạo luật những dự án mà họ đã xin mãi nhưng chưa được đem ra bàn. Khi các vị lãnh đạo trong hai viện muốn thuyết phục các bạn đồng viện bỏ phiếu thuận cho món tiền 700 tỷ, thì họ cũng rất rộng rãi chấp thuận ghi thêm vào đó những khoản bớt thuế nhỏ khác, để các đại biểu có thể đem mối lợi về cho tiểu bang hoặc đơn vị của mình.
Có món bớt thuế nhỏ bắt đầu tính bằng đồng xu Mỹ. Quốc Hội đã bỏ không đánh thuế sản xuất những nhà chế tạo mũi tên bằng gỗ, dành cho trẻ em tập bắn cung. Mỗi mũi tên gỗ này đang phải đóng thuế 39 cents, nay bỏ đi có thể đem bán với giá 30 xu thôi! Hai nghị sĩ tiểu bang Oregon và hai dân biểu Wisconsin đứng ra đề nghị khoản này từ lâu, nay mới được ghi vào luật để biểu quyết. Sau khi được chấp thuận, nước Mỹ cũng chỉ thiệt có 2 triệu đô la, trong khi khoảng 5, 6 nhà sản xuất trên toàn quốc được hưởng, một ở Oregon.
Một khoản chi nhỏ nữa là bớt thuế cho những công ty đang trợ cấp cho nhân viên của họ đi làm bằng xe đạp, chẳng hạn, chính phủ có thể trả cho công ty chủ nhân những chi phí về làm chỗ đậu xe, giữ xe. Tổng cộng tốn khoảng 2 triệu đô la.
Cộng tất cả những khoản chi tiêu đó, chính phủ Mỹ sẽ tốn thêm 110 tỷ đô la nữa, phần lớn là để bớt thuế cho đủ thứ người và nhiều thứ hàng hóa. Bớt thuế là điều mà các đại biểu hai đảng đều muốn, họ chỉ không đồng ý khi bàn bớt cho ai và bớt bao nhiêu thôi. Bớt 39 xu cho mỗi trẻ em bắn một phát tên gỗ chơi thì ai cũng sẵn sàng chấp thuận! Những khoản bớt thuế tốn kém đó đều đã được các đại biểu Quốc Hội đề nghị từ lâu, bị ban lãnh đạo Quốc Hội ngâm chờ, chưa cho bàn luận và biểu quyết. Những số chi đó cũng nhỏ so với 700 tỷ đô la sẽ được chính phủ dùng để mua các trái khoán nhiễm độc từ các công ty tài chánh và ngân hàng. Những khoản chi nho nhỏ từ 2 triệu đến 40 tỷ đô la bớt thuế sẽ có hiệu quả ngay đối với những người được thụ hưởng. Nhưng khoản chi 700 tỷ thì chưa biết sẽ tạo được hiệu quả giúp cho kinh tế Mỹ bớt xuống dốc hay không.
Ðạo luật 700 tỷ sẽ giúp nhiều công ty tài chánh và ngân hàng đem những trái khoán không ai mua bán cho chính phủ Mỹ, tức là đổi những chứng khoán bằng giấy lấy tiền mặt. Các ngân hàng sẽ có tiền để đem cho vay ngay, vì công việc của họ là cho vay lấy lãi. Nhưng có một khoản tài sản của các ngân hàng không được đạo luật này cứu, là những hợp đồng bảo hiểm trái khoán, một thứ làm cho đại công ty bảo hiểm AIG sập vì dính vào quá nhiều. Hiện nay các thứ hợp đồng này đang bị tắc không ai mua, tổng số lên tới 58 ngàn tỷ đô la. Còn bao nhiêu ngân hàng dính, ngoài AIG, chưa biết. Tiền bị kẹt trong đó không biết bao giờ mới được giải tỏa, chủ nhân các món đó thiếu tiền mặt để cho vay. Một thị trường lớn đang ngưng đọng là các món vay ngắn hạn của các xí nghiệp lớn, gọi là thương phiếu (commercial papers). Những thương phiếu này cho phép một công ty vay nợ trong vòng một tới 3 tháng, vì những món chi tiêu gấp, và có những công ty khác đang dư tiền trong ngắn hạn đem đầu tư vào đó kiếm chút lời, thay vì để tiền ngồi không. Thị trường thương phiếu này tổng cộng 1.6 ngàn tỷ đô la, là huyết mạch cho các công ty dùng làm vốn luân chuyển. Thị trường ngưng đọng vì người ta lo ngại rủi ro đang lan tràn, đã giảm bớt gần 100 tỷ đô la. Các công ty lớn đều bị ảnh hưởng. Ðạo luật 700 tỷ không có biện pháp nào giúp. Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang Mỹ sẽ phải trực tiếp hỗ trợ để giải cứu.
Phải mất hàng tháng chính phủ mới định được phương pháp mua bán như thế nào và bắt đầu chương trình. Trong khi chờ đợi thì nhiều xí nghiệp nhỏ không có tiền tài trợ hàng tồn kho đang sản xuất hay đang chờ bán; các cửa hàng chưa vay được tiền để mua hàng bán vào dịp Giáng Sinh. Tiểu bang California cần vay tiền vì ngân sách khiếm hụt nhưng bán trái phiếu không được, đang kêu cứu Bộ Tài Chánh cho vay đỡ 7 tỷ đô la!
Khi thị trường chứng khoán New York sụt ngay sau khi đạo luật 700 tỷ được thông qua, điều đó chứng tỏ cơn bệnh của nền tài chánh Mỹ vẫn còn chờ uống thuốc rồi còn chờ xem thuốc có công hiệu hay không. Trong khi chờ đợi, trẻ em chơi bắn cung có thể mua mỗi mũi tên gỗ rẻ được 39 xu! Các công ty làm chỗ đậu xe đạp cho nhân viên có thể được chính phủ giúp! Ít nhất có những đại biểu Quốc Hội đang phục vụ cử tri đã bầu cho họ!
Tổ chức Quốc Tế Nhân Quyền lên án Việt Nam đàn áp người Công Giáo tàn khốc Tác giả: VietCatholic News
Tổ chức Quốc Tế Nhân Quyền lên án Việt Nam đàn áp người Công Giáo tàn khốc nhất trong thập niên qua
Tổ chức Quốc Tế Nhân Quyền tại New York đưa ra thông cáo báo chí hôm Thứ Bẩy 4/10/2008 yêu cầu Việt Nam phải trả tự do tức khắc và vô điều kiện những người Công Giáo bị bắt giam.
Thông Tấn Xã UPI cho biết Phó Giám Đốc vụ Á Châu bà Elaine Pearson cáo buộc trong thông cáo báo chí là những người Công Giáo đã bị đàn áp vì niềm tin của họ.
Bà tố cáo trước công luận thế giới chính quyền Việt Nam đã tấn công những cuộc cầu nguyện hòa bình tại nhiều thành phố mà tiêu biểu nhất là tại Hà Nội hôm 28/8 vừa qua.
Bà cũng tố cáo chế độ Hà Nội đã sử dụng hơi cay tấn công những linh mục và giáo dân Công Giáo. Theo bà Pearson:
“Đây là cuộc đàn áp người Công Giáo tại Việt Nam tàn khốc nhất trong những thập niên qua. Đáng buồn là những vụ đàn áp của nhà cầm quyền Việt Nam nhắm vào những người biểu tình ôn hòa là điều không mới lạ gì.”
“Nhà cầm quyền cần phải khoan dung tôn giáo và nương tay với những cuộc biểu tình ôn hòa thay vì dùng hệ thống truyền thông để lăng nhục các nhà lãnh đạo tôn giáo và mô tả những người biểu tình ôn hòa của các tôn giáo như là mối họa của xã hội.”
Việt Nam đã và đang mất dần nhân tài Tác giả: Cung Thị Lan
Nhân tài, tiềm lực quan trọng chẳng khác gì các tài nguyên khác của quốc gia, đã và đang bị đường lối chính trị của các nhà lãnh đạo Việt Nam đương thời hủy diệt.
Trước đây, nếu những người yêu nước dưới lá cờ cộng sản cho rằng họ chiến đấu chống ngoại xâm để bảo vệ rừng vàng, biển bạc cho đất nước và giành quyền tự do độc lập cho nhân dân thì ngày nay chính họ là những người hủy hoại những tài nguyên này của quốc gia kể cả chất xám, một nguồn lực vô giá của dân tộc Việt Nam. Cho đến nay, không biết bao nhiêu tiêu đề về “chảy máu chất xám” được đề cập trong các ban ngành, trên báo chí và các diễn đàn của Việt Nam. Đã có nhiều bài biếm nhẽ về sự tham tiền của các du học sinh không chịu trở về nước phục vụ sau khi tốt nghiệp ở nước ngoài, nhiều bài phân tích về nguyên nhân thất thoát chất xám và nhiều bài bàn luận các phương cách thu hút những nhân tài trở về nơi sinh quán. Tuy nhiên, bất kể lời trách móc thâm thúy hay cay đắng như thế nào, sự bàn bạc về cách thức chiêu dụ lòng yêu nước qua “Hòa giải hòa hợp”, “Đóng góp cho đất Nước” và “Chiêu hiền đãi sĩ” sôi động ra sao, dòng chảy của chất xám Việt Nam vẫn tuôn trào ra ngoài, không thể quay ngược lại và đất nước tiếp tục mất dần nhân tài dưới nhiều hình thức khác nhau.
Sau chiến tranh 1975, Việt Nam đáng phải được phát triển thành một nước giàu mạnh và vượt bậc nhờ sự hợp tác của tất cả những người dân của hai miền, đã trở thành một nơi tàn phá nhân tài một cách khốc liệt. Khác với các nước sau chiến tranh khác, chủ nghĩa cộng sản mà những người lãnh đạo bắt toàn dân nước Việt tuân theo đã tiêu hủy không biết bao nhiêu chất xám trong các trại học tập cải tạo, trong các chuyến trốn ra nước ngoài và trong lòng biển.
Nếu sau ngày đất nước bị chia đôi năm 1954, miền Nam tiếp nhận một số lượng nhân tài của miền Bắc do các chuyến di cư vào Nam thì sau ngày đất nước thống nhất, nhiều nhân tài của cả nước mất dần sau những chuyến vượt biển. Sau khi Cao Ủy Tị Nạn liên Hiệp Quốc quyết định đóng cửa các trại tị nạn, làn sóng trốn ra khỏi nước của thuyền nhân ngơi đi, những làn sóng tìm đường ra khỏi Việt Nam qua hình thức lao động nước ngoài, và bảo lãnh theo diện đoàn tụ gia đình vẫn tiếp tục.
Các làn sóng ra khỏi nước ồ ạt này có thể coi là hiện tượng người dân muốn thoát khỏi chế độ chính trị không thích hợp hay vì đời sống xã hội đói nghèo và lạc hậu. Nói cách khác, sự ra đi này vì lý do chính trị và/hay kinh tế.
Ngày nay, hiện tượng du học của học sinh và sinh viên Việt Nam phổ biến đến độ nhiều người phải tự hỏi có phải đây là làn sóng trốn ra khỏi nước vì lý do văn hóa. Trong nước, không ai có thể giải thích một cách chính đáng về hiện tượng này; nhưng, nhà nhà, người người vẫn thi đua tìm cách ra đi. Người nghèo đi theo cách của người nghèo, người giàu đi theo cách của người giàu, người đẹp đi theo cách của người đẹp, và người tài giỏi đi theo cách của người tài giỏi.
Đã có biết bao nhiêu chuyến ra đi qua đăng ký lao động nước ngoài, qua giấy tờ bảo lãnh theo diện hôn phối thật lẫn giả, và qua du học. Nhiều phụ huynh giàu có ở Việt Nam đã tìm cách đưa cho con ra nước ngoài học ngay từ bậc trung học để cho con họ thoát chế độ thi vào Đại Học, sớm có điều kiện tiếp xúc với bên ngoài và có cơ hội gặp người bản xứ cho cuộc hôn nhân về lâu về dài.
Đáng để ý nhất là các học sinh, sinh viên giỏi do nhà nước tổ chức cho du học ở nước ngoài. Những người này thường tìm cơ hội định cư tại các quốc gia mà họ học xong chứ không chịu trở về nước. Không kể thành phần con cán bộ giàu có bị rớt Đại Học và bị cha mẹ tống ra khỏi nước để tránh tình trạng lông bông chơi bời hút xách, luồng nhân tài Việt Nam ra khỏi nước ngày càng nhiều. Đa số là những người trẻ và số lượng rất đông. Vì hiện tượng “Chảy máu chất xám” khá phổ biến ở Việt Nam, trở nên vấn đề tranh cãi và bàn luận sôi động. Trong lúc nhiều ý kiến đổ lỗi cho thủ tục rườm rà, hệ thống tuyển chọn không minh bạch, môi trường làm việc không tốt, lương tiền thấp kém và chế độ ưu đãi không đúng mức; một số ý kiến khác qui tội phản Tổ Quốc, không yêu nước, ham danh phận và lo ấm thân cá nhân.
Nếu hiện tượng vượt biển bị kết tội là vọng ngoại, vong bản, hiện tượng lấy chồng ngoại quốc bị cho là ham giàu và hiện tượng du học và định cư sau du học bị cho là vị kỷ, ham sang giàu thì phải chăng Việt Nam từ sau năm 1975 cho đến ngày nay đã sản sinh quá nhiều kẻ phản bội Tổ Quốc? Hay là người dân Việt đã và đang tìm cách cứu tương lai cho họ và gia đình họ?
Phải chăng những hào nhoáng bên ngoài của chính sách cởi mở, cải cách, và sửa sai chưa và không đủ sức thu phục lòng tin của người Việt sau nhiều năm chiêm nghiệm thực tế. Sự tìm cách đưa con cháu hay cả gia đình ra khỏi nước bằng nhiều hình thức khác nhau của người dân Việt đã chứng minh các chính sách đang thực hiện trong nước dù thay đổi, mở hay cởi bao nhiêu vẫn không phát triển được tài năng của con cháu họ.
Việc âm thầm đưa con ra khỏi nước của người dân Việt đã chứng minh hùng hồn thực hiện phương cách “Anh muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm; tôi chỉ nghe vậy nhưng làm theo cách của tôi”. Đây là một sự thật phủ phàng mà chính giới lãnh đạo Việt Nam không thể nào phủ nhận nếu họ thực sự đối diện với lương tâm của họ. Điều buồn cười là chính họ cũng tuồn con cháu họ ra nước ngoài du học để tìm đường tiến thân hay định cư.
Sự thất thoát nhân tài do chế độ phong kiến vẫn còn tồn tại ở Việt Nam. Mặc dù phê phán chế độ độc đoán của thời quân chủ phong kiến, chế độ phong kiến biến dạng của cộng sản không khác nào lối “Ý vua là ý trời! Nghịch ý vua là xử chém!” của thời vua chúa xa xôi. Áp dụng chế độ độc đảng, độc quyền theo kiểu phong kiến biến dạng để kiểm soát tư tưởng của người dân, điều khiển hành động của người dân và thống trị đời sống tinh thần nhân dân, giới lãnh đạo Việt Nam đã bóp chết nguồn chất xám ngay trong cái nôi của nó.
Đã có biết bao nhiêu người giỏi đề cập trung thực chuyện “ở truồng của vua” nhưng vua vẫn khăng khăng là đang mặc chiếc áo đẹp. Rốt cuộc cho việc phủ nhận này là những người như Nguyên Xuân Tụ (Hà Sĩ Phu), cựu nhà báo Nguyễn Vũ Bình, Đỗ Nam Hải, Lê Chí Quang, Phạm Hồng Sơn, luật sư Nguyễn Văn Đài, luật sư lê Thị Công Nhân hoặc bị kiểm điểm hoặc bị cô lập, quấy rối, hành hung hay giam cầm. Tiếc thay cho Việt Nam của chúng ta! Những người tài như thế đáng ra phải có cơ hội phục vụ cho sự phú cường và độc lập của đất nước, trí tuệ và tuổi xuân họ đều bị tàn phá và tiêu hao!
Nhật Bản không được thiên nhiên ưu đãi như Việt Nam nhưng là một cường quốc hàng đầu của châu Á với một tiềm lực kinh tế hàng đầu của thế giới. Là một quần đảo trong điều kiện tự nhiên khắc nghiệt như núi lửa động đất, dân tộc Nhật đã đưa nền kinh tế và đời sống xã hội của họ ngày càng cao. Vì ý thức được mức kìm hãm của chế phong kiến và những liên quan, Minh Trị Thiên Hoàng đã dứt khoát xóa hẳn những hệ lụy của chế độ này và xúc tiến việc duy tân cho đất nước theo phong cách Âu Mỹ.
Do phong trào du nhập và áp dụng phong cách làm việc, luật pháp, phong tục, chế độ giáo dục và thương mại theo lối Âu Mỹ, Nhật Bản đã phát triển đồng bộ các ngành quan trọng cho đất nước. Bằng đường lối chính trị không cộng sản, Nhật đã phát triển được nguồn chất xám của quốc gia trong nhiều mặt mà đặc biệt nhất là trong ngành công nghiệp hóa. Chính tiềm lực nhân tài này đã khống chế điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và đưa đất nước họ trở nên độc lập, phú cường.
Mỹ giàu có bậc nhất trên thế giới không phải chỉ vì được thiên nhiên ưu đãi mà vì đường hướng chính trị kinh tế xã hội theo lối dân chủ. Sau nội chiến, khác với chế độ lý lịch và phân biệt đối xử theo lối cộng sản tại Việt Nam, các điều luật trong hiến Pháp Mỹ đã bảo vệ quyền lợi công dân một cách bình đẳng và công bằng. Ngoài những việc xây dựng đất nước sau chiến tranh, sử dụng tài nguyên vốn có một cách hợp lý, và áp dụng phương thức làm giàu cho đất nước một cách hiệu lực, Mỹ còn đầu tư và phát triển chất xám cho tương lai đất nước một cách tối đa. Nếu trước nội chiến (1861-1865) Mỹ chỉ có 100 trường trung học công lập thì sau 15 năm(1880) số lượng trường trung học công lập của Mỹ tăng lên đến 800. Sau chiến tranh, Việt Nam có bao nhiêu phần trăm học sinh đến lớp? Trong thời gian 32 năm, Việt Nam đã xây dựng thêm bao nhiêu trường công lập? Và hiện nay đất nước có bao nhiêu phần trăm trẻ em cắp sách đến trường?
Xã hội nghèo nàn và giáo dục lạc hậu cũng là nguyên nhân Việt Nam mất nguồn chất xám. Vì kế sinh nhai của gia đình, nhiều trẻ em Việt Nam hiện nay không thể cắp sách đến trường. Đáng lẽ phải ở lớp trong giờ học, các em lang thang với những xâu bánh, thỏi kẹo, và vé số gọi mời khách mua. Đáng lẽ phải được bắt buộc đến lớp học miễn phí và công bình, lối học kèm dạy thêm và tiền học phí cao trở thành những tấm rào cản cho việc phát triển trí thông minh của các em. Sự âm thầm chịu thua thiệt của các em là hiện tượng nguồn chất xám của tương lai đất nước đang bị hủy hoại dần theo cảnh cơ hàn và sự chênh lệch khá lớn giữa giàu và nghèo trong xã hội. Khác với Việt Nam, Mỹ là một nước tự do nhưng không có nghĩa là trẻ em Mỹ có quyền tự do không đi học. Ngoài những trường hợp đặc biệt do phụ huynh yêu cầu tự dạy cho con ở nhà sau khi nhận chương trình học hay cho con vào các trường tư thục, các trẻ em Mỹ đều được học miễn phí tại trường công lập và đều phải đến trường. Ngay cả những trẻ em khuyết tật hay có yêu cầu đặc biệt cũng được chu cấp giáo dục đầy đủ và hoàn thiện.
Ở Mỹ, phụ huynh nghèo cần trợ cấp tài chính, thực phẩm, y tế hay nhà ở đều phải có giấy chứng thực là con họ đang học ở trường mới có thể nhận được những phục vụ này. Nếu trẻ em Mỹ lảng vảng ngoài đường trong thời gian học từ khoảng tám giờ sáng đến ba giờ rưỡi chiều, sẽ bị cảnh sát chất vấn và đưa trở lại trường ngay.
Ở Việt Nam, các em được đến trường phải chịu lối giáo dục áp đặt theo đường hướng yêu chủ nghĩa xã hội. Vì phải tiếp thu kiến thức đã được đặt sẵn và trả lời bài làm theo những điều đã định, các em này không thể nêu nhận định một cách thành thật sau khi phán xét và suy luận. Các em phải đồng ý theo sự khinh ghét giai cấp giàu có, đề cao giai cấp công nông và căm thù kẻ địch qua các bài văn học, lịch sử và đạo đức Việt Nam. Ngoài ra, các em còn phải coi trọng chủ nghĩa Mác Lê Nin và tôn sùng tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh như một chân lý sống tuyệt đối.
Có thể nói trường học Việt nam như là những cái khuôn nhào nặn các khối óc non trẻ theo một kiểu nhất định chứ không tạo điều kiện cho học sinh tính độc lập suy nghĩ và phát triển trí thông minh sẵn có. Không như cách thức đào tạo của trường Việt Nam, các trường học ở Mỹ hay ở các nước dân chủ tạo điều kiện cho học sinh học hỏi, tham khảo, và nhận định về các lý thuyết xã hội chính trị và tính cách cá nhân của các vị lãnh đạo của nước họ hay của các nước trên thế giới một cách độc lập và tự do. Có biết bao vị tổng thống Mỹ cống hiến tài năng và sức lực cho đất nước họ trở nên phú cường và đời sống xã hội của họ ngày càng cao nhưng có vị nào được nêu danh thành thần tượng hóa như lãnh tụ Hồ Chí Minh của Việt Nam? Hơn thế nữa, sau nội chiến, Mỹ tôn trọng những di tích lịch sử của quốc gia chứ không áp đặt mọi người khẳng định ai địch ai ta hay ai phải ai trái. Nhờ quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí đã có nhiều cuốn sách lịch sử và tài liệu ghi lại trung thực những sự kiện trong quá khứ. Đây là những nguồn tham khảo quý giá giúp cho giới trẻ Mỹ thấu hiểu những gì đã xảy ra trong nước họ cũng nhu trên thế giới. Đồng với sự lợi ích của quyền tự do này, lối học tìm hiểu, phân tích và rút ra kết luận giúp cho học sinh Mỹ có thể phát triển tư duy một cách độc lập và thông minh. Do những lẽ này mà các lãnh vực giáo dục, nghiên cứu và khoa học của Mỹ phát triển nhanh và mạnh.
Dù bộ giáo dục Việt Nam cố gắng thực hiện mục tiêu đào tạo những con người yêu Xã Hội Chủ nghĩa như thế nào, vẫn không thể thành công vì sự mâu thuẫn giữa lý thuyết trong nhà trường với những chuyển biến mới của sự chênh lệch giàu nghèo của xã hội Việt Nam hiện nay. Thêm vào đó, sự tìm hiểu thế giới bên ngoài qua hệ thống thông tin toàn cấu đã làm lớp người trẻ Việt nam không còn tin vào những gì họ học trong nhà trường và tỏ ra thờ ơ khá nhiều với lịch sử nước nhà. Sự mất lòng tin đối với đường lối giáo dục của Việt Nam không những đã hủy diệt tính ham học của thế hệ trẻ mà còn tạo nên sự bất mãn ghê gớm trong lòng phụ huynh. Dưới áp lực thi cử của đại học, phụ huynh đã tốn không biết bao nhiêu công sức đưa đón các con họ từ các lớp học thêm rồi cuối cùng phải tìm đường cho con ra nước ngoài học tập. Trong khi những phụ huynh có điều kiện tài chính tuồn con ra khỏi nước, phụ huynh nghèo đã để con họ thất học ngay tại bậc tiểu học. Trong khi nhiều lớp mở ra cho bậc trung học và đại học thì các lớp ở bậc tiểu học giảm dần đi. Dưới hai hình thức này, các trường học Việt Nam dần dần ở dạng đầu voi đuôi chuột. Trong khi các em nhỏ không được đến trường khiến nguồn thông minh từ những bộ não non nớt ấy bị giết lần mòn, những em đến trường vô hướng sau khi tốt nghiệp.
Các nhà quản lý giáo dục Việt Nam không phát triển được nguồn nhân tài lớn rộng của đất nước vì không tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển một ngành giáo dục ngang tầm với chương trình giáo dục quốc tế.
Do tham nhũng, hối lộ và phe cánh, việc xây dựng trường học, phát triển trang thiết bị và lương giáo viên thực hiện một cách trì trệ và hình thức. Trong khi các em học sinh ở Việt Nam phải chịu cảnh thiếu lớp thiếu trường, thiếu lớp và trang thiết bị thiếu chất lượng hàng năm, các trường ở Mỹ phải chuẩn bị chu đáo cho sự xét duyệt phẩm chất trước ngày khai giảng.
Không chỉ những người chịu trách nhiệm trong ngành giáo dục mà ngay cả các giới lãnh đạo trong các ban lãnh vực khác của Mỹ cũng quan tâm đến sự phát triển nhân tài trong nước họ. Các phong trào và đạo luật “Xây dựng một đứa trẻ cần sự hợp tác của một cộng đồng”, hay “Không để một đứa trẻ nào bị thua thiệt” đã huy động thầy cô giáo, những câu lạc bộ dạy thêm, những công tác thiện nguyện đã giúp đỡ cho nhiều em học sinh có điều kiện học, học giỏi và phát triển trí thông minh.
Trong các bài báo và sách vở của nước cộng sản, các nhà đại tư bản kếch xù Mỹ thường bị kết án là giai cấp bóc lột; thực tế, họ là những người đóng góp rất nhiều trong công tác trợ cấp xã hội qua việc đóng thuế lợi tức cá nhân. Các tỉ phú như vua dầu khi Rockefeller, vua thép Andrew Carnagie, và vua điện toán Bill Gate đã cống hiến số lượng tài chính đáng kể cho các phúc lợi xã hội Mỹ như xây trường học, bệnh viện, thư viện, đại sảnh dành cho phòng hội họp, và các trang thiết bị quan trọng khác cho các phòng thí nghiệm trong các trường học. Nhờ những đóng góp tài chính và những công tác thiện nguyện này mà Mỹ phát triển nhân tài ngày càng nhiều hơn. Hiện nay, Việt Nam có nhiều người giàu đến độ không ai hiểu đất nước còn tiến lên chủ nghĩa cộng sản hay đang ngược về xã hội Tư Bản.
Dù ở hướng nào, những người giàu trong xã hội Việt Nam hiện thời cũng được mang danh là giới Tư Bản đỏ. Trong lúc giới này thi đua phát triển ngành du lịch như xây dựng các nhà hàng, khách sạn, quán rượu, chỗ nhảy đầm, sân golf, trường đua ngựa... thì ngành giáo dục cho sự phát triển công nghiệp hoá không hề được quan tâm. Trong khi các bậc cha anh nhậu nhẹt ăn chơi bàn tán những mối lợi về các tổ chức ca nhạc, trình diễn thời trang, tuyển chọn ca sĩ, tuyển chọn hoa hậu... thì các chất xám trẻ lang thang trên các vỉa hè gọi mời người mua thuốc lá, mua đậu phọng, mua kẹo cao su, hay mua vé số... Thử hỏi nguồn chất xám của tương lai Việt Nam sẽ đi về đâu?
Chính vì đường lối chính trị nhập nhằng, kinh tế đình trệ và xã hội mâu thuẫn mà nguồn chất xám của đất nước bị mất dần đi. Sau thời gian cấm vận, một số người trốn ra khỏi nước trước đây tin rằng Việt Nam đã thực sự đổi mới, quyết định quay về góp phần xây dựng đất nước, nhưng sau đó đã chán nản rút lui vì những thực tế không tốt đẹp như họ tưởng. Những người này thường lớn tuổi, số lượng ít ỏi và ngày một giảm dần đi. Nếu ngay sau thời gian cấm vận, người Việt ở Hải Ngoại nghĩ đến sự góp kiến thức học hỏi ở nước ngoài để xây dựng đất nước bao nhiêu thì ngày nay họ không còn tư tưởng ấy nữa.
Có người nói rằng “Trước đây tôi nghĩ là sẽ về Việt Nam làm việc và sống cho đến chết nhưng về nước thấy cung cách làm việc chẳng tiến bộ gì tôi thà ở xứ người mà thấy giúp ích hơn. Người khác tuyệt vọng rằng: “Còn lâu lắm! Họ mạnh quá mà! Phải thêm một đời nữa, một thế hệ nữa thì may ra đất nước ta mới có Dân Chủ! Ngày đó chắc chúng ta cũng chết hết rồi!” Người khác chua chát hơn: “Muốn về Việt nam làm việc hay ở phải có tiền. Nhưng tiền chỉ đủ làm vừa lòng một người mà không làm vừa lòng nhiều người khác thì đâu sống nổi. Chẳng thà ở nước dân chủ, có luật lệ hẳn hoi, không bị ai bắt chẹt, sống an toàn hơn!”
Đa số đều than van về vẻ giả tạo khang trang của đất nước, về sự khăng khăng cố chấp của những người lãnh đạo đất nước và những chính sách cực đoan làm mất nguồn nhân tài. Thực tế, nhiều trí thức ở Việt Nam có tài nhưng không có Đảng đều không được sử dụng hay sử dụ ng một cách không thích đáng. Trong khi đó, những cán bộ có bằng cấp tại chức, đến sở để nhận lương Nhà Nước chứ không hề giúp ích gì cho sự phát triển một nền khoa học hiện đại, một nền kinh tế công nghiệp ngang tầm với thế giới. Vì đường hướng nửa nạc nửa mỡ, giới lãnh đạo Việt Nam đã không tạo được sự tin tưởng và lôi kéo lại nguồn chất xám đã mất mà còn tuồn cho các công ty lớn của nước ngoài ngay tại trong nước một số lượng khá lớn. Sau khi trở về nước, các du học sinh Việt Nam thường kiếm việc làm ở các công ty nước ngoài vì mức lương và chế độ ưu đãi hậu hỉ hay chỉ làm cho các cơ quan Nhà Nước một thời gian rồi cũng chuyển sang làm việc cho các công ty nước ngoài như Nam Hàn, Nhật, Pháp, Úc...vì chán chê với lối làm việc quan quyền, phe cánh, hối lộ và tham nhũng của các quan chức Việt Nam.
Nếu trước đây luồng nhân công lao động Việt Nam tình nguyện sang các nước Xã Hội Chủ Nghĩa và các nước dân chủ khác làm việc để mưu sinh cho gia đình thì ngày nay những công ty lớn của nước ngoài đầu tư thu hút nguồn nhân công rẻ mạt và nguồn nhân tài từ số du học sinh ngay tại nước Việt Nam một cách dễ dàng và thuận lợi. Đây có thể coi là máu chất xám của Việt Nam chảy vào các nước khác ngay ở trong nước. Điều đáng buồn cho hiện tượng này là nguồn tài chính đầu tư cho những sinh viên du học đã bị lấy mất và sự thông minh của người Việt Nam bị các quốc gia khác, qua các công ty của họ, sử dụng.
Cứ như thế, dân tộc ta suốt đời mãi chịu kiếp làm thợ làm công chứ không bao giờ có cơ hội làm chủ để có cơ hội đưa nền kinh tế đất nước mở mang, phát triển và độc lập.
Phải chăng giới lãnh đạo của đất nước hiện nay vẫn còn muốn dân tộc gắn bó với “giai cấp công nhân tiên phong”? Phải chăng Đảng và Nhà Nước chỉ muốn dân tộc ta tiếp tục làm nô lệ cho các nước ngoài? Phải chăng sự luồn cuối với các nước lớn là số kiếp mà cả dân tộc chúng ta phải chịu đựng muôn đời? Và phải chăng lòng kiêu hãnh của chúng ta vẫn còn tồn tại khi nhìn những người lãnh đạo đất nước chầu chực các nước lớn để xin xỏ và quỵ lụy điều nọ điều kia trong các chuyến công du của họ?
Đất nước ta chỉ có thể trở thành độc lập và phú cường thật sự khi nguồn nhân tài của dân tộc được bảo tồn, phát triển và sử dụng đúng mức. Muốn thế, Việt Nam cần dứt khoát với những hệ lụy của chế độ phong kiến, những tư tưởng lạc hậu, bảo thủ và cực đoan.
Qua kinh nghiệm của lịch sử trong và ngoài nước, chúng ta cần nhìn thấu đáo mọi sự việc để xét đoán một cách sáng suốt phương cách đưa đất nước thoát khỏi sự phụ thuộc vào các nước lớn, và được độc lập tự trị như Nhật Bản.
Muốn lèo lái đất nước đến chỗ độc lập phú cường, muốn giữ gìn tài sản tinh hoa, và phát triển tinh thần dấn thân cống hiến của cả dân tộc, Việt Nam trước hết cần một nhân tài xuất chúng - một người vừa có tâm, vừa có tài trong việc lèo lái đất nước theo một hướng mới mẻ và tươi đẹp. Điều này thực hiện sớm hay muộn tùy vào sự can đảm và lòng nhiệt thành của người ấy
“Đồng Lòng và Đồng Loạt” –
Bí Quyết Để Thành Công Tâm Minh
Cách đây nhiều thế kỷ, một tàu buôn nọ gồm một ông chủ và một bầy nô lệ cùng đi buôn. Bị sóng bão làm đắm tàu, rất may cả đoàn người trên tàu đã bơi được vào một hòn đảo gần đó. Hòn đảo tuy hoang dã nhưng màu mỡ. Với sức người và qua thời gian, đoàn người ấy đã biến hòn đảo thành một vùng trù phú. Hòn đảo đã trở thành một vương quốc nho nhỏ. Nhưng ông chủ vẫn là ông chủ, và đám nô lệ vẫn là những nô lệ. Họ phải làm việc cật lực mỗi ngày và kết quả mọi công lao làm việc của họ đều phải đưa về cho ông chủ. Ông có toàn quyền chia cho ai bao nhiêu tùy ý. Ông chẳng làm gì cả, nhưng ông là chủ nhân của tất cả những của cải mà đám nô lệ làm ra được. Chỉ một mình ông mới có quyền sử dụng theo ý mình những của cải ấy. Ông sống một cuộc đời hết sức vương giả.
Nhưng càng già, ông càng trở nên tham lam, tàn bạo và càng bóc lột đám nô lệ hơn. Ông bắt họ làm việc nhiều hơn, đánh đập tàn nhẫn hơn hoặc giảm bớt phần ăn của bất kỳ ai vì lý do nào đó không tuân lệnh ông hoặc không làm việc được. Để giúp cai trị đám nô lệ này, ông cất nhắc một số nô lệ tỏ ra trung thành nhất lên làm cai. Những tên cai này được hưởng những ưu đãi về quyền lực và quyền lợi. Ai trong bọn cai nẩy sinh tư tưởng bất phục tùng mà ông biết được, lập tức ông “cúp” ngay một số hoặc tất cả những ân huệ mà ông vẫn thường ban cho chúng. Vì thế, đám cai này dù bất mãn hay biết ông sai rành rành vẫn cứ phải trung thành với ông. Ông bảo chúng đánh đập ai là chúng đánh ngay, bất chấp chúng thấy lệnh ấy phi lý hay thất đức đến đâu. Vì quyền lợi, chúng đành phải nhắm mắt theo lệnh ông. Dần dần tâm hồn chúng trở thành chai đá, lòng thương xót trước đau khổ của đồng loại tắt lịm trong lòng chúng. Vì thế, chúng sẵn sàng đối xử thật tàn bạo với những nô lệ dưới quyền khi họ không vâng lời ông chủ hoặc không vâng lời chúng. Nhiều tên còn tàn bạo hơn cả ông chủ của chúng.
Trong số các nô lệ có những kẻ biết suy nghĩ. Họ tự hỏi: sao ông chủ này lại có quyền trên mình đến như thế? Ông có phải là chủ sở hữu hòn đảo và tất cả những vật có trên đó không? Tại sao ông không làm gì cả mà lại được hưởng mọi thứ trên đầu trên cổ họ như vậy? Tại sao mọi của cải trên đảo đều do họ làm ra mà họ không có quyền gì trên đấy? Tại sao quyền ấy lại thuộc về ông? Quyền lực của ông đến từ đâu?
– Suy nghĩ và tìm hiểu, anh nhận ra rằng hòn đảo này chẳng phải của ông ta, các cây cối, nhà cửa, và tất cả những vật dụng trên đảo đều do đám nô lệ làm ra hết. Sở dĩ ông ta có quyền sử dụng chúng mà đám nô lệ thì không, tại vì đám nô lệ đã dành hay nhường quyền ấy cho ông bằng cách chấp nhận phục tùng ông vô điều kiện.
– Anh bắt đầu trao đổi tư tưởng và thắc mắc của anh với các đồng bạn nô lệ khác. Ai cũng nhận ra rằng ông chủ chẳng có công gì cả, nếu có thì cũng rất ít, và quyền lực của ông chính là do tất cả mọi nô lệ đều công nhận ông là chủ của mình theo truyền thống đã có trước khi họ và ông đến đảo này lập nghiệp. Truyền thống ấy cứ tiếp tục như thế hàng chục năm rồi, không ai dám nghĩ khác. Và quyền lực ấy tồn tại được là do mọi nô lệ đều sợ ông, cho rằng ông có quyền sai bảo họ. Nếu tất cả nô lệ đều không chịu phục tùng ông nữa, thì ông sẽ chẳng còn dựa vào đâu để có quyền sai bảo họ cả.
Nhiều nô lệ giác ngộ được điều ấy. Một số nô lệ vì thế đã tỏ ra ương bướng không chịu làm việc hay phục tùng ông nữa. Lập tức những chàng ương bướng này lãnh đủ những cú đấm trời giáng, những ngọn roi đau điếng từ những tên cai, tay sai của ông chủ; có những chàng bị bỏ đói đến chết. Sau màn khủng bố ấy, mọi nô lệ khác đều sợ hãi, nhiều chàng đã hoàn toàn từ bỏ ý định tỏ ra bất phục tùng… Tiếp theo là cả một thời gian dài mọi người đều phải miễn cưỡng chấp nhận thái độ phục tùng.
Từ đó, ông chủ lại càng trở nên hà khắc, và đối xử độc ác hơn nữa với những nô lệ nào tỏ ra dù chỉ một chút ý muốn bất phục tùng. Mọi người – trừ những tên cai được ông chủ ưu đãi – đều bất mãn, căm ghét ông, nhưng không ai dám nói ra. Do thế, không bao lâu, thắc mắc căn bản về quyền lực của ông chủ lại nảy sinh trong lòng nhiều nô lệ quá đau khổ. Có người nhận ra rằng sở dĩ những chàng ương bướng trước kia bị đòn, bị nhịn đói và chết đi là do sự ương bướng của họ chỉ mang tính cá nhân và không được sự ủng hộ của những nô lệ khác. Nếu tất cả mọi nô lệ đều đồng loạt bất phục tùng, không chịu nghe lệnh của ông nữa thì ông chủ sẽ chẳng làm gì được. Điều tối quan trọng để thành công ở đây không chỉ là đồng lòng mà còn là đồng loạt. Thế là anh ta rỉ tai đến tất cả mọi người lý lẽ ấy và tất cả mọi người đều đồng tình vì lý lẽ ấy khá dễ hiểu và rõ ràng.
Khi mọi nô lệ đều hiểu rõ căn nguyên sự thiệt thòi của mình, sự vô lý về thân phận nô lệ luôn bị bạc đãi của mình, và nắm vững bí quyết để thoát khỏi ách nô lệ đã quàng vào cổ họ mà họ đã, một cách nào đó, đồng lòng chấp nhận suốt bao năm qua… họ quyết làm một cuộc cách mạng. Họ cùng quyết định vào một ngày nào đó, tất cả mọi nô lệ đều đồng loạt tỏ ra bất phục tùng ông chủ và những tên cai tay sai của ông. Ông chủ và bọn cai ra bất kỳ lệnh gì cũng nhất định không làm, có bị đánh đập đau đớn cũng ráng cam chịu. Nếu có tên cai nào tỏ ra hung hãn đánh đập họ như mọi khi thì cả bọn nô lệ sẽ cùng nhào vào trói gô chúng lại. Chúng ít người làm sao cự nổi đám đông nếu đám đông biết đoàn kết lại?
Và ngày giờ quyết định đã đến. Tất cả mọi nô lệ đều đồng lòng và đồng loạt không vâng lời, không hợp tác. Một vài tên cai tỏ ra hung hãn với đám nô lệ khi thấy họ không vâng phục liền bị họ xúm lại đánh thê thảm. Đồng bọn còn lại thấy thế sợ khiếp vía, đã trở nên bất động, để mặc đám nô lệ muốn làm gì thì làm. Không ra lệnh được cho ai, mà cũng chẳng được ai vâng lời, thế là ông chủ tự nhiên mất hết quyền lực.
Từ đó, đám nô lệ không vâng lệnh ông chủ nữa, nên ông chủ đã trở nên một người bình thường như họ, chẳng còn dám sai bảo ai điều gì. Thế là cuộc “cách mạng” thành công. Đám nô lệ đã tự giải phóng mình khỏi ách nô lệ mà họ đã cam chịu suốt bao năm. Giờ đây trên đầu họ không còn một ông chủ có quyền sai khiến và hành hạ họ nữa. Họ có quyền tự quyết định số phận và cuộc đời của họ.
Nếu những người nô lệ
– không ý thức được sự vô lý trong thân phận nô lệ của họ;
– không đoàn kết để cùng đồng lòng, đồng loạt bất phục tùng ông chủ độc tài độc ác;
– không thắng vượt được sợ hãi đã trở thành bản tính của họ…;
– không quyết tâm tự giải thoát chính mình
thì chỉ cần một nhúm người – ông chủ và bọn cai tay sai – cũng có thể bắt họ, dù đông đến cả trăm người, phải làm thân nô lệ suốt đời.
Câu chuyện trên cũng tương tự như câu chuyện của 83 triệu người dân Việt Nam ta hiện nay đang cam tâm chấp nhận thân phận nô lệ cho mấy chục người trong Bộ Chính Trị, cùng với bọn tay sai, đang đè nặng trên đầu trên cổ họ. Tôi nói điều này mà không sợ bị phản cảm bị cho là một kẻ phản động bán nước chỉ trích chính dân tộc mình. Vì chính tôi là một công dân Việt Nam đang chịu cảnh sống nô lệ. Bọn tay sai này – với đủ mọi cấp bậc, ban ngành, trong đủ mọi lãnh vực – vì những đặc quyền đặc lợi do Bộ Chính Trị ban phát, sẵn sàng đàn áp dân chúng thẳng tay và độc ác. Bọn này được Bộ Chính Trị ưu đãi đặc biệt, sẵn sàng dung túng những tội ác để chúng trung thành với mình. Nếu chúng không trung thành, Bộ Chính Trị có thể dựa trên những tội ác chúng đã phạm, mà Bộ luôn luôn nắm trong tay đầy đủ bằng chứng, để truy tố chúng trước pháp luật. Một khi đã lỡ “nhúng tay vào chàm”, thì lập tức chúng lâm vào tình trạng “há miệng mắc quai”, muốn đứng về phe dân chúng để lên tiếng phản kháng những sai trái của Bộ Chính Trị là chúng bị “kẹt” ngay. Hiện nay chẳng mấy ai trong bọn tay sai này chưa “nhúng tay vào chàm”, nên chúng cứ phải trung thành với chủ nhân của chúng và đành phải quay lưng lại với dân tộc, cho dù biết đó là tội ác, là hèn hạ.
Còn dân chúng, nói chung, ai nấy đều sợ hãi trước sự tàn bạo và độc ác của Bộ Chính Trị và bọn tay sai: chỉ cần một vài câu đe dọa, thấy một vài người ương bướng bị khủng bố là đa số dân chúng đành thúc thủ, sẵn sàng tuân thủ mọi mệnh lệnh dù hết sức phi lý, bất nhân, hoặc hết sức bất lợi cho mình. Bộ Chính Trị biết rõ tâm lý này của dân chúng và bọn tay sai, nên triệt để áp dụng định luật tâm lý “sát nhất nhân, vạn nhân cụ” (giết một người là hàng vạn người sợ) để khống chế dân chúng và bọn tay sai bằng sợ hãi. Chính nỗi sợ hãi này khiến dân chúng cứ phải cúi đầu vâng phục, tạo nên quyền lực vững chắc cho Bộ Chính Trị. Do đó, bất kỳ ai còn sợ hãi và sẵn sàng tuân phục những mệnh lệnh phi lý và bất nhân của bộ này thì đều góp phần vào việc xây dựng quyền lực cho họ, giúp họ vững bền mãi.
Vấn đề là làm sao để mọi người dân đều đồng lòng và đồng loạt không sợ hãi, không tuân phục, không hợp tác nữa, thì quyền lực của Bộ Chính Trị cũng như của chế độ độc tài toàn trị hiện nay lập tức bị lung lay và sụp đổ.
Vấn đề khó khăn nhất và cũng là bí quyết để thành công trong việc giải phóng dân tộc khỏi ách độc tài toàn trị hiện nay là làm sao để có được sự “đồng lòng và đồng loạt” ấy! Điều này đòi hỏi mọi người dân và cả những ai đang làm tay sai cho chế độ độc tài đều phải dám ương bướng một chút. Đã có những con người anh dũng tỏ ra ương bướng đối với chế độ, dám nói lên những sai trái của họ, bất chấp bị sách nhiễu, bắt bớ, tù đày. Nếu chúng ta không đồng lòng lên tiếng ủng hộ họ, họ sẽ phải chết dưới bàn tay sắt máu của chế độ, và một cách nào đó chúng ta đã trở thành những kẻ “im lặng đồng lõa” với tội ác của bọn chúng. Trong cuộc đấu tranh giành lại chủ quyền của dân tộc, sự liên đới và đoàn kết, cùng đồng lòng, đồng chí hướng… là yếu tố làm nên chiến thắng.
Đức Tổng Giám Mục Hà Nội Đã Nói Sự Thật Quá Hiển Nhiên: “…chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam , đi đâu cũng bị soi xét …“ Nguyễn An Quý
Từ sáng sớm ngày 19 tháng 9 năm 2008, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đã huy động một lực lượng hùng hậu gồm một số chó nghiệp vụ, một lũ côn đồ khá đông và hằng trăm công an đủ loại, có cả ông tướng công an Nguyễn Đức Nhanh trực tiếp chỉ huy đội xe cơ giới đến đập phá Toà Khâm Sứ. Cả thế giới bàng hoàng khi hay tin Toà Khâm Sứ bị đập phá.
Ngày 20 tháng 9 năm 2008, Uỷ Ban Nhân Dân thành phố Hà Nội lại tổ chức một cuộc họp và có mời Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt đến tham dự. Nội dung của buổi họp không thấy được phổ biến, nhưng qua lời phát biểu của Đức Giám Mục Hà Nội thì được biết buổi họp của Uỷ Ban nhằm mục đích kể công với Đức Cha Kiệt là Uỷ ban Hà Nội đã ban ân huệ cho Giáo phận Hà nội trong những năm vừa qua như được phép tổ chức các lễ hội, được phép tổ chức các ngày lễ Noel…đó là điều thứ nhất, còn điều thứ hai tức về chuyện Toà Khâm Sứ thì ông Chủ tịch Uỷ ban có đề cập ngoài vấn đề pháp lý, chúng ta phải cư xử theo tình người.
Người viết xin mở dấu ngoặc ở đây để nói về lời tuyên bố của ông Chủ tịch khi đề cập đến tình người trong cách hành xử về vụ việc Toà Khâm Sứ. Thật sự thì cũng rất éo le vì chuyện văn chương chữ nghĩa của các nhà đỉnh cao trí tuệ thường khác với những người Việt Nam con rồng cháu tiên bình thường . Cứ xem đám đỉnh cao trí tuệ này đã giải quyết vụ Thái Hà và Toà Khâm Sứ theo tình người VC như thế nào thì rõ, tình người VC khác với tình người của người Việt Nam và cả nhân loại. Quả thật, thế gới đã ngậm đắng nuốt cay trong suốt thời gian qua, khi nhìn thấy sự việc lạ đời của một nhà nước tự xưng là nhà nước pháp quyền, lại đi đối phó với những người dân hiền hoà một cách điên rồ. Thế giới đã chứng kiến qua hình ảnh được đưa lên Net về cái tình người mà họ đang dùng là xịt hơi cay, đánh chảy máu mặt bà già, đánh bể đầu nhà báo Ben Stocking, tình người VC là những chiếc xe ủi đất cày phá Toà khâm Sứ, tình người VC là cho thành phần bất hảo đến đập phá đền Thánh Giêrađô Thái Hà, bắt Tượng Đức Mẹ Sầu Bi và Thánh Giá nhốt vào thùng sắt. Họ đã đem Mẹ và Thánh Giá đi đâu? chắc có lẻ để bắt Đức Tổng Kiệt phải trả tiền nộp phạt một triệu bảy trăm ngàn năm trăm đồng để đổi lại Tượng Đức Mẹ và Thánh Giá .
Xem ra tình người VC là của lủ vượn người, nên thường khác với tình người của nhân loại.
Đó là chuyện tình người mà Uỷ Ban Nhân Dân thành phố Hà Nội đã nhấn mạnh khi nói chuyện với Đức TGM Ngô Quang Kiệt.
Bài phát biểu của Đức TGM Ngô Quang Kiệt được ghi âm rất rõ ràng, cả thế giới đều được nghe rõ mồn một với giọng nói khá bình tĩnh của một vị mục tử khi đang hiên ngang đối diện với bạo lực.
Khi đề cập đến vấn đề Uỷ Ban kể công với Giáo hội Công giáo, Đức Tổng Giám Mục đã phát biểu rất chính xác và rất tình người qua câu nói :
“ Trước hết ông chủ tịch có nói rằng: Uỷ ban nhân dân thành phố đã tạo rất là nhiều điều kiện cho Giáo hội Công giáo trong những năm qua, nhất là dịp lễ Noel…chúng ta phải công nhận trong những năm gần đây có nhiều điều kiện, thế tuy nhiên khi như thế, khi nói tạo điều kiện vẫn còn mang cái tâm lý xin cho. Tức là cái này là cái ân huệ tôi ban cho anh đó. Nhưng mà cái tôn giáo là cái quyền tự nhiên con người được hưởng. Và nhà nước vì dân cho dân phải có trách nhiệm tạo điều đó cho người dân, chứ không phải cái ân huệ chúng tôi xin. Không có. Tự do tôn giáo là quyền chứ không phải cái ân huệ “Xin Cho”
Không hiểu các nhà đỉnh cao trí tuệ có hiểu nổi câu nó rất rõ ràng mà Đức Tổng Giám mục Hà Nội đã nhấn mạnh bằng giọng nói rất mạnh mẽ: ”…chúng ta phải công nhận trong những năm gần đây có nhiều điều kiện, thế tuy nhiên khi như thế, khi nói tạo điều kiện vẫn còn mang cái tâm lý XIN CHO và Đức Giám Mục đã kết luận bằng lời tuyên bố quá minh bạch: “Tự do tôn giáo là quyền chứ không phải xin cho”.
Xin các nhà đỉnh cao trí tuệ nhớ cho kỷ: Tự do tôn giáo là quyền chứ không phải xin cho, không phải ân huệ để nhà nước kể công là nhà nước đã thế nầy thế nọ khi đề cập những vấn đề có liên quan đến tôn giáo.
Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội tưởng rằng buổi họp hôm 20 tháng 9 năm 2008 là để đe dọa cũng như ra mặt thị uy về quyền hành của những quan chức nhà nước Xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Đức Giám Mục Hà Nội. Thế nhưng Đức TGM Hà Nội đã chẳng chút sợ sệt và cũng chẳng nể mặt ông quan nào cả dù ông lớn hay ông nhỏ, nên Ngài đã phát biểu một cách trung thực và thẳng thắn. Câu phát biểu rất thực tế và có giá trị lịch sử, nhất là trong khi cộng sản đang ra tay dùng mọi thủ đoạn đê hèn, bất chấp cả dư luận quốc tế để thủ tiêu, chà đạp nền công lý và chân lý qua hình ảnh Thái Hà và Toà Khâm Sứ đang lâm nạn. Trong nghẹn ngào, Ngài nói:”…chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam, đi đâu cũng bị soi xét, chúng tôi buồn lắm chứ, chúng tôi mong muốn đất nước mình mạnh lên. Làm sao như một anh Nhật nó cầm cái hộ chiếu là đi qua tất cả mọi nơi, không ai xem xét gí cả. Anh Hàn Quốc bây giờ cũng thế. Còn người Việt Nam chúng ta thì tôi cũng mong đất nước lớn mạnh lắm và làm sao thực sự đoàn kết, thật sự tốt đẹp, để cho đất nước chúng ta mạnh, đi đâu chúng ta cũng được kính trọng”
Sau buổi họp tại Uỷ Ban, lập tức tất cả các hệ thống truyền thông liền theo lệnh đảng đúng với khẩu hiệu trước sau như một của tập đoàn ông Hồ: nghe theo đảng, nói theo đài. Toàn bộ hệ thống báo đài bùng lên đem Đức Cha Kiệt lên bàn mổ với cái tài ăn gian nói dối của tập đoàn truyền thông báo chí đảng csVN. Những tay nhà báo đã cắt xén câu nói lịch sử này, nhắm mục đích vu cáo và ghép tội phản động cho Đức Cha Kiệt. Chuyện phản động hay phản lại chế độ cộng sản gian manh cũng đồng nghĩa với nhau, không hơn không kém chút nào, cho nên câu nói của Đức Cha Kiệt đã đi vào lịch sử .
Các nhà đỉnh cao trí tuệ nên suy nghĩ một chút cho thấm thía cuộc đời khi đang nghe và đối diện với thực tế về tiếng kêu của dân oan, những bất đồng chính kiến một cách ôn hoà của những con người đang ước mong nạn cộng sản sớm chấm dứt trên đất Việt Nam ”… chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam…”
Câu nói của Đức Cha Kiệt đã phát xuất tự đáy lòng đầy nổi trăn trở, trăn trở khi đứng trước cảnh bất công nên đã Ngài hiên ngang nói với Uỷ Ban thành phố Hà Nội: “chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam …”. Đây là hình ảnh quá thực tế mà những ai đã được xuất ngoại chắc cũng thấm thía như Đức Cha Kiệt khi cầm cái hộ chiếu thì được như là một ân huệ của nhà nước ban cho, cho nên lại phải làm sao để được cấp hộ chiếu nữa, vô cùng nhục nhã.
Ai cấp cái hộ chiếu Việt Nam ? Có phải nhà nước “Cộng Hoà Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam ” do đảng cộng sản độc tài lãnh đạo cấp không nhỉ?
Chính cái nước CHXHCNVN này đã làm ô danh Dân tộc Việt Nam . .” chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam…” hay nói đúng hơn là chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu do đảng cộng sản Việt Nam hay nhà nước cộng sản Việt Nam cấp.
Câu này cũng tương tự như câu phát biểu của một vị tranh đấu trong nước: “Tôi lấy làm xấu hổ khi phải sống dưới chế độ cộng sản Việt Nam ”.
Câu nói của Đức Cha Kiệt lại càng phù hợp với những hành động đã và đang trải qua mà nhà nước CHXHCNVN đã đem ra áp dụng tại Thái Hà và Toà Khâm Sứ.
Không nhục sao được khi nhà nước CHXHCNVN đem những bằng chứng giả tạo ra để cố xoá tan quyền sở hữu của Dòng Chúa Cứu Thế Thái Hà, hầu chiếm dụng đất đai một cách bất hợp pháp, và đã bị các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội phản đối.
Không nhục sao được khi nhà nước CHXHCNVN hứa lèo với Vatican là sẽ trả Toà Khâm Sứ, rồi phớt lờ và dùng mọi thủ đoạn để chiếm đoạt luôn, bằng các vội vả lập công viên..
Không nhục sao được khi nhà nước CHXHCNVN đánh đuổi nhà báo của hảng thông tấn AP là Ben Stocking, cho công an hành hung gây thương tích mà cả thế giới thấy rõ mồn một qua hình ảnh xuất hiện trên các trang mạng toàn cầu, rồi ông Lê Dũng đại diện cho nhà nước CHXHCNVN lại chối bai bải: không hề có chuyện an ninh đánh đập nhà báo gì cả.
Không nhục sao được khi nhà nước CHXHCNVN mới tờ mờ sáng đã đem lực lượng đầu gấu, công an đủ loại, chó nghiệp vụ và dưới sự chỉ huy của tướng công an Nguyễn Đức Nhanh điều động đội cơ giới đến cày xới, phá Toà Khâm Sứ để thực hiện một cái công viên ô nhục. Có nhà nước nào đi làm công viên theo như cách làm như nhà nước CHXHCNVN không ?
Không nhục sao được khi nhà nước CHXHCNVN đem thành phần ưu tú là con cháu của ông Hồ mang danh nghĩa Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh cùng với lũ đầu gấu đến nơi trang nghiêm thờ tự, trong lúc giáo dân đang đọc kinh cầu nguyện lại pha trò mất dạy múa hát và ca bài như có bác Hồ, bác Cáo để tìm cách khiêu khích với giáo dân.
Không nhục sao được khi nhà nước CHXHCNVN mà đại diện là Uỷ Ban Nhân dân do ông Hoàng Công Khôi ký một văn bản gọi là “Quyết định xử phạt hành chánh trong lĩnh vực đất đai” gởi Toà Tổng Giám Mục Hà Nội đã không dám đặt thẳng vấn đề tịch thu Tượng Đức Mẹ Sầu Bi và Thánh Giá được đặt tại Toà Khâm mà lại dùng lối viết văn bản mập mờ, nhằm đánh lận con đen như phạt Toà tổng giám mục Hà Nội về hành vi tự ý để các đồ vật lên thửa đất 42 phố Nhà Chung (sic). Thử hỏi tang vật và đồ vật mà công an và người của nhà nước đến tháo gở tại Toà Khâm Sứ rồi bỏ vào xe bịt bùng đem đi là tang vật gì nhỉ? Tại sao lại không dám công khai ra lệnh tịch thu Tượng Đức Me, tịch thu Thánh Giá và tại sao lại không dám công khai chở trên xe bình thường mà lại bỏ vào xe bịt bùng nhỉ?
Không nhục sao được khi nhà nước CHXHCNVN điên khùng mở chiến dịch vu cáo, nhục mạ Đức Cha Kiệt, các Cha Dòng Chúa Cứu Thế và sai khiến thành phần bất hảo đến đe dọa giáo dân cầu nguyện, nhưng có ai sợ đâu?
Nhà nước CHXHCNVN có thấy nhục nhã khi điều động bọn đầu gấu đến quậy phá giáo dân cầu nguyện tại Thái Hà, tại Toà Khâm Sứ, nhưng giáo dân vẫn cứ bình an, coi sự quấy rầy như không có, họ đặt tâm trí vào việc cầu nguyện và không một chút bận tâm, họ coi thường và họ đã thương cầu nguyện xin tha thứ cho hạng người vô liêm sĩ do nhà nước xúi bẩy.
Biết bao giờ kể hết về những chuyện nhục nhã mà nhà nước CHXHCNVN đã làm trong suốt mấy chục năm qua từ khi nhà nước của ông Hồ xuất hiện? Làm sao kể hết được? giấy vở nào đủ để viết hết được? Nội cái những người lãnh đạo của nước CHXHCNVN khi đến nước ngoài đều chuyên môn phải đi cửa hậu thôi cũng đã cảm thấy nhục nhã trăm bề rồi.
Người viết chỉ nêu sơ về sự nhục nhã của nhà nước CHXHCNVN qua vụ dùng đòn phép đê tiện nhất, để cố tình chiếm đoạt đất Thái Hà và Toà Khâm Sứ, cố tình chà đạp công lý và sự thật một cách điên rồ, qua hành động sử dụng thành phần bất hảo để thực hiện kế hoạch cả vú lấp miệng em, như một phương cách duy nhất của đảng csVN, khi phải dùng kế sách để bảo vệ sự gian dối của nhà nước một cách trơ trẻn, cũng đủ nhục nhã với toàn thế giới rồi.
Thật nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam là ở chỗ ấy.
Nói chi đến cái nhục của các nhà lãnh đạo Bắc Bộ phủ, đi đâu cũng đem cái bùa đất nước tôi nghèo lắm, để van lạy và cầu xin viện trợ với cái tựa đề raât ruột: cứu đói giảm nghèo. Thế nhưng bao nhiêu tiền viện trợ nhân đạo của các nước đổ vào cho chương trình xoá đói giảm nghèo, đều lọt vào tay các nhà đỉnh cao trí tuệ hết trơn. Nhục ơi là nhục.
Đảng đỉnh cao trí tuệ hãy nghe Đức Cha Kiệt than thở để biết lòng yêu nước của một vị Giám mục ra sao? “…chúng tôi muốn đất nước mình mạnh lên. Làm sao như một anh Nhật, nó cầm cái hộ chiếu là đi qua tất cả mọi nơi, không ai xem xét gì cả. Anh Hàn quốc bây giờ cũng thế. Còn người Việt Nam chúng ta thì tôi cũng mong đất nước lớn mạnh lắm và làm sao thật sự đoàn kết, thật sự tốt đẹp, để cho đất nước chúng ta mạnh, đi đâu chúng ta cũng được kính trọng “.
Đó là nổi trăn trở của một người yêu nước nồng nàn đó các nhà trí tuệ ơi. Đảng cộng sản Việt Nam đã làm băng hoại bao thế hệ người Việt Nam rồi. Hãy can đảm lột xác đi cho dân tộc được nhờ với. Chừng nào còn chế độ cộng sản Việt Nam cai trị đất nước thì rõ ràng ai cũng lấy làm nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam đi nước ngoài cả, chứ không phải chỉ một mình Đức Cha Kiệt mà thôi đâu.
Bởi vì nhà nước cộng sản Việt Nam đã đào tạo giới trẻ trở thành Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh để phục vụ đảng một cách điên rồ, không cần suy nghĩ, như vụ đảng đã điều động lực lượng thanh niên nhà Hồ đến nhảy múa, ca hát, quậy phá Thái Hà và Toà Kâm Sứ khi giáo dân cầu nguyện.