Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Nhà báo trong bàn tay công an

Ngô Nhân Dụng
Hai nhà báo Nguyễn Việt Chiến và Nguyễn Văn Hải đã bị tuyên án sau khi bị bắt về tội tiết lộ những bí mật trong cuộc điều tra vụ PMU18 của công an cộng sản. Anh Nguyễn Việt Chiến can đảm nhất định từ chối không nhận mình đã làm điều gì sai, cho nên bị 24 tháng tù, án tương đối nhẹ so với những “tội” mà công an tố cáo. Nguyễn Văn Hải cũng can đảm theo cách khác, cho nên đã nhận tội, “80 phần trăm những cáo buộc,” theo nhận xét của Luật Sư Lê Quốc Quân ở Hà Nội.

Các nhà báo Chiến và Hải được dư luận bênh vực (trong đó có nhật báo này) từ khi hai anh bị bắt. Vì ai cũng biết hai anh chỉ “có tội” loan tin về những tội tham nhũng của tập đoàn PMU18 với Bùi Tiến Dũng đánh cá độ mất hàng triệu đô la, và Nguyễn Việt Tiến, thủ lãnh của Dũng. Loan báo tin tức điều tra tham nhũng là một việc phục vụ công ích; được tin phải loan tin ngay là bổn phận của nhà báo. Trước những sự việc liên can tới công ích, dân chúng có nhu cầu biết tin tức nhanh chóng, nó chiếm ưu tiên cao hơn nhu cầu tìm tòi thêm sự thật của nhà báo. Ðó là một quy tắc pháp luật ở những nước tự do dân chủ.

Nhưng ở Việt Nam, hai nhà báo Chiến và Hải đã bị Nguyễn Tấn Dũng ra lệnh bắt, trước khi Nguyễn Việt Tiến được miễn tố hoàn toàn! Hai nhà báo có thể trở thành những anh hùng, nếu họ sống trong những xã hội có dân chủ. Luật Sư Lê Quốc Quân đã nhận định một cách khách quan về hai nhà báo: “Họ xuất hiện trước tòa không hiên ngang, mãnh liệt như những nhà đấu tranh dân chủ... ra tòa; bởi vì dù sao họ cũng là những đảng viên (cộng sản), đã từng ăn lương của chế độ này trong suốt cuộc đời hành nghề của mình.” Ông Lê Quốc Quân nhắc nhở chúng ta hình ảnh của những nhà đấu tranh dân chủ như các Luật Sư Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Ðài, Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Luật Sư Bùi Kim Thành, vân vân. Các nhà tranh đấu này ra trước tòa án cộng sản vẫn hiên ngang vì họ nhìn thấy tòa án này không đáng gọi là tòa án, mà chỉ là một công cụ bảo vệ quyền lợi các quan chức cộng sản. Những nhà tranh đấu biết rằng khi chế độ độc tài chấm dứt thì cả hệ thống tòa án này cũng được giải phóng, không phải đóng vai tay sai của đảng cộng sản nữa.

Nhưng hai nhà báo Chiến và Hải ở tình thế khác hẳn. Họ sống với chế độ, hưởng bổng lộc của chế độ, và hành nghề dưới sự chỉ đạo của đảng cộng sản. Những nhà báo sống ở Việt Nam và muốn làm việc thì không thể lựa chọn cách nào khác.

Nỗi buồn của hai nhà báo Chiến và Hải là khi hăng hái dấn thân trong nghề họ tưởng rằng họ đang đóng góp vào công cuộc bài trừ tham nhũng, lạm quyền trong vụ PMU18. Nhưng sự thực thì họ hoàn toàn nằm trong bàn tay của công an, từ khi đi nghe ngóng tin tức đến khi bị bắt bỏ tù vì tội loan tin. Các nhà báo bị biến thành những quân cờ cho một nhóm công an này sử dụng để đánh hạ nhóm công an khác. Khi nhóm bị đánh quật ngược lại, các quân cờ cũng bị hy sinh, còn các quan chức công an cũng chẳng nỡ nào hại nhau sát ván!

Nếu không có chút bầu máu nóng, các nhà báo ở Việt Nam có rất nhiều cách để kiếm ra tiền một cách bình an. Chỉ việc đi khai thác những chuyện cướp của, giết người, hiếp dâm trên báo, như các tờ báo của công an đang làm. Ðọc trên trang nhất của tờ báo Công An Thành Phố ngày 4 tháng 9, 2008, thấy trong 8 tin thì có 3 tin về tội ác: Cướp giật hoành hành trên đường Tôn Ðản; Giờ “G” ở một sòng bài bên Thác Pôngour;” và Triệt phá nhiều vụ mua bán ma túy...”

Muốn hành nghề báo chí bằng việc khai thác những tin tức chống tham nhũng, nhà báo rất dễ bị công an gài bẫy. Trong vụ PMU18 sự đã rõ ràng: Ðây là một cuộc đấu đá giữa các lãnh tụ cộng sản trong Bộ Chính Trị. Bùi Tiến Dũng, Nguyễn Việt Tiến bị trưng các bằng cớ để bêu riếu vì đó là cánh dựa vào Nông Ðức Mạnh. Báo chí thấy tin công an bắt được bọn gá bạc và đánh bạc thua tới hàng triệu Mỹ kim thì nghĩ rằng đây là một cái tin đã được đảng cho phép loan báo và tìm hiểu thêm. Chỉ cần các nhà báo ngây thơ một chút thôi, cũng đủ cho đám công an lợi dụng!

Các nhà báo Chiến và Hải đã được Tướng Công An Phạm Xuân Quắc với Thượng Tá Ðinh Văn Huynh cho tin tức về những tội lỗi của bọn Dũng, Tiến và tập đoàn. Công an điều tra cho tin, các nhà báo còn nghi ngờ gì nữa!

Nếu ở một nước tự do dân chủ thì khi bọn Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Việt Tiến quật lại hai người chỉ huy công an Quắc và Huynh, các nhà báo sẽ được coi làm vô can. Vì họ chỉ mắc tội nhẹ dạ cả tin mấy tướng, tá công an mà thôi. Trong khi hành nghề, nhà báo có lúc phải hy sinh tính chính xác để làm tin nhanh chóng; sau đó biết tin tức nào sai thì thành thật cải chính, như vậy là làm đủ bổn phận. Vì, trong một xã hội tự do dân chủ người dân có quyền được biết tin tức nhanh chóng, nhà báo phải tạm hy sinh tính chính xác để đáp ứng nhu cầu thông tin! Chính những anh Quắc, anh Huynh và những bàn tay giật dây họ mới là những người đáng bị đem “xử lý nội bộ,” vì chính họ lợi dụng đám báo chí, tung tin phá đám Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Việt Tiến và đám đàn em!

Nhưng khi bị mắt rồi ra trước tòa án, Nguyễn Văn Hải là người giữ được khí tiết nhà báo. Từ đầu tới cuối anh Hải không chịu khai nguồn gốc những tin tức mình đăng là từ đâu tới. Người làm báo có trách nhiệm bảo vệ nguồn tin. Làm báo tố giác tham nhũng càng có trách nhiệm lớn phải bảo vệ bí mật cho những người đưa tin tức cho mình. Tuy bị đám tướng tá công an lừa để loan báo nhiều tin thất thiệt do chính đám công an đó tạo ra, nhưng nhà báo nhận trách nhiệm mình bị lừa nhưng vẫn giữ đúng các quy tắc nghề nghiệp, đó là một điểm son.

Không phải riêng các nhà báo dễ bị lừa và bị lợi dụng. Ðó là số phận chung của giới trí thức và chuyên môn sống trong chế độ cộng sản. Bà Ðào Duy Anh kể chuyện hồi đầu thập niên 1960, học giả Ðào Duy Anh bị cô lập và không được nhà nước cộng sản sử dụng vì ông “liên can” đến nhóm Nhân Văn Giai Phẩm. Trong thời gian đó, Ðào Duy Anh đã dịch một cuốn sách viết về Lão Tử, của một học giả người Trung Hoa đang sống ở Nga (tất nhiên viết theo quan điểm Mác xít). Ông đưa bản thảo cho ban Tuyên Huấn của đảng xin họ cho phép in. Bà Ðào Duy Anh kể tên cả người trong Ban Tuyên Huấn, họ nhận bản thảo rồi không bao giờ trả lời có in được hay không, mà cũng không trả lại. Mấy năm sau, thấy Ban Tuyên Huấn in một cuốn sách viết về Lão Tử với nội dung rất giống với cuốn sách mà cụ Ðào Duy Anh đã dịch (theo hồi ký của bà Ðào Duy Anh đăng trên tạp chí Khởi Hành).

Nguyễn Việt Chiến và Nguyễn Văn Hải đã bị đám công an này sử dụng để đánh đám công an khác. Mà đó là số phận khó tránh của những nhà báo sống ở Việt Nam. Ðám quan chức cộng sản biết báo chí đang có một sức mạnh, vì người dân tin khi nhà báo vạch ra những cảnh xấu xa của chế độ. Thấy sức mạnh đó, đám quan chức cao cấp biết có thể lợi dụng để “giết” lẫn nhau!

Chữ “giết” không phải nhà báo này bịa ra, mà đọc thấy trong một bài tường thuật của một phóng viên hỏi chuyện Tướng Công An Phạm Quý Ngọ, một đối thủ của Tướng Công An Phạm Xuân Quắc. Bài này lan truyền trên Internet có vẻ trung thực vì tiết lộ nhiều chuyện chỉ có các quan lớn công an biết với nhau mà thôi. Và ngôn ngữ thì đúng là công an. Phạm Quý Ngọ gọi những quan chức cộng sản khác bằng chữ “thằng” một cách rất thân mật và trịch thượng: “Còn khai việc chi 50 ngàn USD (Mỹ kim) cho thằng Dũng... phải làm rõ việc Bùi Tiến Dũng khai thằng Toản... khi lên gặp thằng Hưng.” Phạm Quý Ngọ còn thuật lại lời của Quắc chửi mình, “Mẹ thằng Ngọ! Hôm nay nó làm tao muối mặt ở Ðảng ủy Công An Trung Ương.”

Sau khi kể lể những chuyện công an đánh phá công an, đưa phong bì cho công an một cách “vô tư thôi,” Phạm Quý Ngọ vẫn ghim mối thù năm xưa! Ông tổng kết câu chuyện PMU18: “Tôi đuổi thằng Hưng ra khỏi ban chuyên án và làm cho ông Quắc không đạt được ý đồ 'giết' thằng Oánh (Tướng Công An Cao Ngọc Oánh)... ý đồ của thằng Huynh (Ðinh Văn Huynh) muốn giết thằng Kim và bóp thằng Hóa không lên được chức cục phó cục chống tham nhũng để thằng Huynh sẽ nhẩy về đây... Cuối cùng nó làm cái chưởng này ra lệnh khẩn cấp, rồi lấy cung của con này ép thằng kia...”

Phạm Quý Ngọ còn nói: “Thằng Quắc nó khống chế và nó định đánh tôi cơ mà! Tôi xin lỗi ông, bây giờ tôi mà gặp nó tôi cầm con dao tôi đâm nó liền! Chúng nó dựng cả hồ sơ, rồi chúng nó sẽ chết, tôi xin nói với đồng chí như thế!”

Ðó là mấy câu tiêu biểu trích trong cuộc đối thoại giữa Tướng Phạm Quý Ngọ với một nhà báo. Họ sẵn sàng giết nhau thật! Các ký giả ham làm tin bị rơi vào cuộc thư hùng giữa các phe tham nhũng, bị vạ cũng không biết trách ai được! Coi như một tai nạn nghề nghiệp!

Ở một xã hội tự do dân chủ thì nhà báo vẫn có thể bị lợi dụng nhưng không đến nỗi chỉ đóng vai một quân cờ hoàn toàn nằm trong lòng bàn tay của công an điều khiển! Vì guồng máy cảnh sát, an ninh cũng chịu sự giám sát của hành pháp và lập pháp, không có cảnh các ông công an họp mặt ăn uống trao đổi phong bì hàng chục ngàn đô la rất “vô tư” như ông Phạm Quý Ngọ mô tả.

Trong vụ này quan tòa đã chê các nhà báo ở nước ta không làm đủ bổn phận nghề nghiệp khi nghe tin sai lầm bịa đặt vẫn đăng lên mà không điều tra lại. Nhưng nguyên nhân chính là ở chế độ. Nhà báo không có quyền tự do hành nghề thì làm sao họ có thể làm đủ bổn phận nghề nghiệp?

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Chính sách chạy rong
Tác giả: Đỗ Thái Nhiên


Ngủ rong là nay ngủ nhà này, mai ngủ nhà khác. Hát rong còn gọi là hát dạo. Sáng hát ở đầu đường, chiều hát trong xó chợ, kiếm tiền sống độ nhật. Hàng rong là kiểu bán hàng di động liên miên. Di động để tìm đến khách hàng, di động vì bị công an hè phố xua đuổi. Nói chung ngủ rong, hát rong, bán rong cùng với các loại sống rong khác là phương pháp mưu sinh bồng bềnh của giới quần chúng cùng khổ. Thế nhưng trên địa bàn chính trị, thời gian gần đây, tại sao chế độ Hà Nội lại phải thực thi một loại chính sách mới, gọi là chính sách chạy rong? Ý nghĩa của chính sách này là gì? Câu trả lời nằm ở hai trường hợp chạy rong điển hình sau đây:

Trường hợp một

Cuối năm 2007, nhà báo tự do Nguyễn Văn Hải tức blogger Điếu Cày tham dự các cuộc biểu tình chống Trung Quốc lấn chiếm Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Tháng 01 và tháng 04 năm 2008, Điếu Cày lại cùng với sinh viên dự định thực hiện các cuộc biểu tình chống cuộc rước đuốc Olympic Bắc Kinh ngang qua thành phố Saigon. Ngày 21/04/2008 Điếu Cày bị công an Saigon bắt giam. Ngày 10/09/2008, toà án CSVN đã xử phạt Điếu Cày 2 năm 6 tháng tù về tội trốn thuế. Công luân đều thừa biết Điếu Cày rơi vào vòng lao lý chỉ vì người ký giả hào hùng này đã mạnh mẽ chống Trung Quốc xâm lược. Thế nhưng, chế độ Hà Nội, tay sai của Trung Quốc, lại loan tin là Điếu Cày bị phạt giam vì lý do đương sự trốn thuế.

Giữa tháng 08/2008, Tổ Chức Phóng Viên Không Biên Giới đã phổ biến lời nhận định đối với trường hợp bị gọi là trốn thuế của Điếu Cày như sau: “Điếu Cày bị cáo buộc trốn đóng thuế đối với một bất động sản mà ông cho thuê trong mười năm. Tuy nhiên, trong thực tế, công ty thuê mướn bất động sản của Điếu Cày từng thỏa thuận và cam kết với Điếu Cày là họ sẽ nộp tất cả các khoản thuế có liên hệ đến bất động sản. Luật pháp Việt Nam nhìn nhân tính chất hợp pháp của loại hợp đồng vừa kể”

Nếu trốn thuế, tại sao mười năm qua Điếu Cày không hề bị sở thuế hạch hỏi? Tại sao phải đợi cho đến ngày Điếu Cày chống Trung Quốc, CSVN mới đặt vấn đề thuế má đối với Điếu Cày? Không còn nghi ngờ gì nữa, Điếu Cày không hề trốn thuế. Trốn thuế chẳng qua chỉ là một tai hoạ do CS gài vào đời sống của Điếu Cày nhằm khủng bố Điếu Cày với chủ ý buộc người ký giả kiên cường này phải từ bỏ hẳn tư tưởng chống Tàu. Như vậy xuất phát từ ý muốn trừng phạt Điếu Cày về thái độ bất đồng chính kiến với Hà Nội, CSVN đã ôm hồ sơ Điếu Cày di chuyển từ vụ chống “mẫu quốc” Trung Hoa qua vụ trốn thuế do CSVN ngụy tạo. Đây rõ ràng là một trường hợp chạy rong trên địa bàn dùng luật pháp làm công cụ để khủng bố người dân.

Trường hợp hai

Từ lâu rồi, cuộc thảo luận giữa Toà Tổng Giám Mục Hà Nội và chế độ CSVN về chủ đề đất đai cho tôn giáo là một thảo luận không có kết luận. Sau phiên họp ngày 20/09/2008 giữa Toà Tổng Giám Mục Hà Nội và UBNDTP Hà Nội cuộc thảo luân kia thực sự làm cho dư luận trong và ngoài Việt Nam chú ý. Sau đây là các chủ đề gây sự chú ý:

Chủ đề thứ nhất: Vai trò của “Vấn đề tiên quyết” trong phương pháp thảo luận.

Muốn giải quyết êm thấm một vấn đề phức tạp, các bên tham dự cuộc thảo luận cần phải chia vấn đề phức tạp kia thành những đề mục nhỏ,. Sau đó thảo luận từng đề mục nhỏ theo một trật tự ưu tiên hợp lý mà các bên hội thảo đồng thuận. Hãy nghĩ về một vụ kiện chủ nhà đứng nguyên đơn để khởi tố xin trục xuất người thuê nhà. Đề mục ưu tiên số một của vụ kiện này là nguyên đơn phải chứng minh đương sự đích thực là sỡ hữu chủ của ngôi nhà. Tương tự như vậy, trước khi trả lời câu hỏi ai là người được được phép sử dụng lô đất Toà Khâm Sứ, nhà cầm quyền CSVN và toà Tổng Giám Mục Hà Nội không thể không xét tới các loại giấy tờ có liên hệ tới lô đất gây tranh cãi. Nói rõ hơn, vấn đề tiên quyết trong vụ lô đất 42 Phố Nhà Chung là lời giải đáp cho câu hỏi: Đất số 42 là đất thuộc diện cải tạo tư sản hay cải tạo nông nghiệp? Đó là lý do giải thích tại sao trước UBNDTP Hà Nội ngày 20/09/2008, TGM Ngô Quang Kiệt đã đặt vấn đề: “Thế thì trên mảnh đất 42 chúng tôi chưa được cái văn bản nào của nhà nước nói về cái sự thay đổi đó. Không có đi vào cái diện cải tạo tư sản, không có đi vào cái diện cải tạo nông nghiệp, cũng không có cái văn bản nói lên sự tịch thu hay là trưng thu trao cho cơ quan nào…hoàn toàn không có”.

Thay vì đáp ứng yêu cầu của TGM Ngô Quang Kiệt bằng cách viện dẫn các giấy tờ cần thiết liên hệ đến đất số 42, ngày 01/10/2008 Thủ Tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng đã trả lời Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam theo kiểu ông nói gà, bà cố tình nói vịt: “Trong khi pháp luật đang có hiệu lực thi hành, mọi người đều phải chấp hành. Mọi nhu cầu về nhà đất đều được xem xét, gỉai quyết cấp đất, giao đất theo pháp luật hiện hành”.

TGM Ngô Quang Kiệt không hề từ chối chấp hành pháp luật. TGM Ngô Quang Kiệt chỉ đặt vấn đề tiên quyết là : Đâu là giấy tờ xác định điểm khởi hành để Toà TGM Hà Nội chấp hành pháp luật đối với lô đất 42.

Qua cuộc đối thoại giữa Toà TGM Hà Nội và chế độ Hà Nội , công luận thấy rất rõ: thay vì thảo luận nghiêm chỉnh và đúng trọng tâm, ông Nguyễn Tấn Dũng đã chạy rong từ căn bản pháp lý của đất số 42 qua các vấn đề pháp luật chung chung. Cuộc chạy rong này nhằm khỏa lấp tội phạm cưởng chiếm đất đai của người dân một cách vô căn cứ.

Chủ đề thứ hai: Thảo luận và đánh, rối thảo luận.


Có lẽ nhận biết kiểu chạy rong của ông Nguyễn Tấn Dũng không có tính thuyết phục, những “ủng hộ viên” của Nguyễn Tấn Dũng đã đẩy cuộc thảo luận về đất 42 theo một hướng khác. Hướng khác đó là: hãy thảo luận trên giả sử nếu trả đất 42 cho Công Giáo Hà Nội thì sự trao trả kia có hợp lý hay không?

Đầu tháng 10/2008,trong bài viết mang tựa đề “Tại anh hay tại ả” đăng trên báo Diễn Đàn, Nguyễn Ngọc Giao nêu ý kiến: “Có thể nghĩ rằng sớm muộn, chính quyền Việt Nam sẽ phải sửa đổi hiến pháp để thừa nhận quyền sở hữu nhà đất của tư nhân. Nhưng do hoàn cảnh lịch sử, điều đó không có nghĩa là trở lại quyền sở hữu “trước đây”…Luận điểm của TGM Ngô Quang Kiệt (đất 42 Nhà Chung là sở hữu có giấy tờ làm bằng của Giáo Hội từ trăm năm nay rồi) không vững vàng chút nào khi ta biết rằng trước khi Giám Mục Puginier giành được đất này, nó là sở hữu của chùa Bảo Thiên. Nếu phải trả lại thì trả lại cho ai?».

Mặt khác, theo BBC ngày 23/09/2008 khi đề cập tới vụ toà Khâm Sứ, ông John V Hanford đặc trách về các vấn đề tôn giáo của chính phủ Hoa Kỳ nhận định rằng: “Một trong những vấn đề là tài sản được sang tay nhiều lần.Trong trường hợp miếng đất được nhiều người biết đến ở Việt nam, tôi nghĩ trước đây của người Phật Giáo sau nhờ người Pháp mới trở thành của người Công Giáo nên rất phức tạp”.


Y kiền của Nguyễn Ngọc Giao và của John V. Hanford đã dẫn đến các suy nghĩ sau đây:

1) Nếu chấp nhân đất 42 trước kia là của Chùa Bảo Thiên thì vụ tranh cãi về đất 42 phải tách ra làm hai vụ tranh tụng riêng biệt. Một là CSVN lấy đất 42 từ tay Công Giáo Hà Nội thì hãy trả lại cho Công Giáo Hà Nội. Hai là sau khi đất 42 trở về với Công Giáo Hà Nôi, Chùa Bảo Thiên sẽ kiện Công Giáo Hà Nội để đòi lại đất 42. Trên địa bàn luật dân sự và dân sự tố tụng, tranh tụng về bất động sản là ngành tranh tụng đòi hỏi các thẩm phán xử án phải có hiểu biết cao cấp và chuyên môn về luật dân sự. Một vài lời bàn lơ mơ trong các loại bình luận trên báo chí không thể đưa đến giải pháp êm đẹp cho đất 42.

2) Trong hiện trạng hồ sơ của đất 42 chỉ có chế đô Hà Nội thảo luận với Công Giáo Hà Nội, không nên kéo theo quá khứ xa xăm có tên gọi là Bảo Thiên. Kéo theo kiểu vừa kể sẽ sản sinh ra chuổi hệ lụy rằng trước Toà khâm Sứ là Bảo Thiên. Trước Bảo Thiên là chủ A, trước chủ A là chủ B, Chủ C. Cứ như thế mà kéo dài, cuối con đường kéo dài kia là một thừa kế của dân tộc Chiêm Thành. Vị này sẽ dõng dạc tuyên bố: Xin quí vị Việt Nam hãy trả đất Chiêm Thành lại cho người Chiêm Thành. Dĩ nhiên nếu không tìm ra người có đủ tư cách pháp lý là thừa kế Chiêm Thành thì Đảng CSVN sẽ vội vàng hát lại bài hát cũ: Đất đai là của toàn dân. Đảng quản lý. Trong thực tế đảng quản lý có nghĩa là đảng lấy đất đai của toàn dân làm của riêng, đảng toàn quyền mua bán, chia chác đất đai của toàn dân.

Lý luận trình bày trong phần “suy nghĩ hai” là lý luận đánh rối vụ kiện, lý luận tránh né phân xử vụ kiện. Lý luận chạy rong trên địa bàn luật lệ về đất đai.

Bài viết này đã trình bày những nét căn bản nhất các vụ chạy rong do chế độ Hà Nội chủ động: Chạy rong từ vụ chống Tàu qua vụ trốn thuế. Chạy rong từ nền tảng pháp lý của đất 42 qua những luật lệ lơ mơ về đất đai. Chạy rong từ Toà Khâm Sứ qua chùa Bảo Thiên… Nhìn chế độ Hà Nội vất vả với chính sách chạy rong người dân không thể không nghĩ tới hoạt cảnh chạy rong diễn ra trong các chợ Bến Thành, Đồng Xuân. Ở các chợ kia bao giờ cũng có một số trẻ em sinh sống bằng khả năng ăn cắp vặt. Mỗi lần ăn cắp được một món tài sản của khách đi chợ các trẻ em này chuyền tay cho nhau «chiến lợi phẩm» mà chúng bắt được với tốc độ càng nhanh càng tốt. Hành động như vậy đám trẻ em ăn cắp vặt đã buộc chiến lợi phẩm của chúng phải chạy rong từ tay người này qua tay kẻ khác. Chiến thuật chạy rong kia khiến cho khổ chủ không cách chi tìm lại được tài sản của mình đã bị mất cắp.

Trước khi có được tự do dân chủ, trước khi có được nhân quyền, quần chúng Việt Nam chỉ thỉnh cầu nhà Nước CSVN một điều. Điều đó là: xin quí vị lãnh đạo Hà Nội hãy tức thời tháo bỏ chính sách chạy rong ra khỏi guồng máy cai trị của quí vị. Có như vậy, người dân mới có thể nhận biết được một cách rõ rệt sự khác biệt giữa hai hoạt cảnh: một bên là đảng CSVN đang điều hành việc nước, bên kia là đám trẻ em chợ Bến Thành-Chợ Đồng Xuân đang ngày đêm bận rộn với những vụ đánh cắp theo chiến thuật chạy rong.

Đỗ Thái Nhiên

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Tâm tư của người trẻ Việt Nam trước hiện tình đất nước Tôi tự nghĩ những tâm tư của tôi sau đây có thể là đại diện tiếng nói chung của sinh viên và những người trẻ đang sống trong xã hội Việt Nam hôm nay. Chúng tôi sinh ra và lớn lên trong xã hội VN, vào thời XHCN, qua những gì được học tập ở nhà trường, chúng tôi cũng tưởng rằng mình được gia đình và xã hội đào luyện cho để sau này nối gót cha anh, xây dựng đất nước, xây dựng tương lai cho chính mình. Chúng tôi đã lạc quan, trong một sự thiếu hiểu biết, rằng mình đang được sống trong một chế độ dân chủ, tự do, độc lập và hạnh phúc. Nhưng càng lớn lên, càng biết suy nghĩ, nhìn nhận thực tế, chúng tôi lại càng nhận ra rằng sự thực không phải là thế!

Chúng tôi bị bắt buộc học những bài học chính trị vừa khô khan cằn cỗi, lại vừa không thực. Nó không thực với xã hội, với thế giới bên ngoài. Cái “thiên đường XHCN” trong sách vở và cái xã hội thật tế, do các vị lãnh đạo và xây dựng hàng hơn một nửa thế kỷ nay, nó khác hẳn nhau. Như vậy:

- Một là cái Thiên đường XHCN ấy là phi thực tế, là không tưởng, nên các nước đầu đàn XHCN đã dần dần tiêu tan, thế giới đã từ bỏ chủ thuyết ấy, và đến nay chỉ còn lại Trung Quốc, Bắc Hàn và ta, thì các xã hội này dân chúng lại đói nghèo, mất tự do, không dân chủ. Trong những xã hội XHCN này, dân thì sống quá nghèo nàn cực khổ, còn các nhà lãnh đạo hay đảng viên nhà nước thì lại qúa giàu có. Vậy chỉ có dân là vô sản, còn chính quyền thì lại là tư sản hay tư bản sao?

- Hai là các nhà lãnh đạo đã đi sai đường lối của mình, nên đẩy đưa đất nước đến cảnh nghèo nàn, lạc hậu, mất dân chủ! Chúng tôi thấy các ông lãnh đạo thì tài sản kếch sù, trong khi không kinh doanh làm ăn gì, mà không ai đụng đến các ông cả. Còn người dân mà có máu mặt một chút là khó yên. Thế thì công bằng ở đâu, dân chủ ở đâu, tự do ở chỗ nào? Hạnh phúc ở đâu mà thấy dân chúng chỗ nào cũng ta thán, cũng biểu tình chống đối? Chẳng lẽ họ hạnh phúc mà họ lại không chịu? Chẳng lẽ họ đang hưởng Thiên đường mà họ lại không ưng? Và xã hội ta đây là Thiên đường sao? Thiên đường của bất công, của đói nghèo, của tệ nạn, của vô luân bại lý, của lọc lừa, của giả dối, gian tham? Năm nào vào cuối năm trên TV cũng có diễn các bài “Sớ Táo Quân dài dằng dặc, kể tội các tham quan ô lại, còn hơn thời Thực dân Phong kiến, nghe xong người dân cười ra nước mắt! Báo Tuổi Trẻ Cười thì đầy dãy những sự việc và con người đáng kinh tởm, đọc xong thấy xấu hổ, tủi nhục cho đất nước, cười hết nổi!

Trước kia chúng tôi cứ tưởng mọi người dân đang bình an chấp nhận cuộc sống hiện tại, nhưng càng gần đây, qua các cuộc đấu tranh của quần chúng nhân dân, chúng tôi mới vỡ lẽ! Trước đây chúng tôi tin vào lời thày cô, tin vào sách báo, đài phát thanh, truyền hình, vì tưởng đó là những thông tin trung thực, nhưng mới đây chúng tôi mới biết rằng nhà nước cũng xuyên tạc, cũng nói gian!

Trước đây chúng tôi tưởng chính quyền thương dân, lo cho dân, các chú công an bênh vực bảo vệ dân, chỉ bắt và đánh bọn tội phạm, bây giờ chúng tôi lại thấy rằng nhà nước ép chế, chiếm cứ bất hợp pháp đất của dân, công an đi với côn đồ đánh dân, uy hiếp dân.

Trước đây chúng tôi được học là đất nước ta có truyền thống anh hùng, đánh đuổi ngoại xâm, nhưng bây giờ thì chúng tôi lại được đọc những văn bản cắt đất, dâng đảo, công nhận chủ quyền của kẻ xâm lăng trên lãnh thổ của mình! Chúng tôi được học tập bảo vệ môi trường, nhưng môi trường đang bị quý vị lãnh đạo ở nhiều nơi cho triệt phá tan tành!

Chúng tôi, trong một thời gian gần đây thấy choáng váng, vỡ mộng, ê chề, và thực sự cảm thấy bị “sốc”, vì những vấn nạn mà thực tế phũ phàng đã đặt ra cho chúng tôi:

- Tại sao các nhà báo, các nhà trí thức, cùng những người dân Việt Nam trong đó có các thanh niên, sinh viên, học sinh, bày tỏ lòng yêu nước, lên tiếng khi Trung Quốc xâm lăng nước ta, hay khi họ chống tham nhũng là một tệ nạn xấu xa làm hại dân nước, thì họ lại bị chính quyền đàn áp, bắt bớ cầm tù như những kẻ tội phạm?

- Tại sao khi người trẻ chúng tôi đi xin một việc làm để sinh sống và góp phần xây dựng xã hội, thì vào chỗ nào cũng được đưa ra một cái giá phải trả để “mua chỗ”, mà không xét đến khả năng phục vụ của chúng tôi?

- Tại sao trong cả nước, chỗ nào người dân cũng ta thán, cũng biểu tình chống đối Nhà Nước?

- Tại sao các nhà lãnh đạo cao cấp VN như Thủ Tướng, Chủ Tịch nước… khi đi qua các nước tự do dân chủ tự do, lại bị khinh khi xem thường, bị đuổi, thậm chí phải đi lòn cửa sau, không được coi như một nhà lãnh đạo, như một quốc khách?

Những câu hỏi ấy đang bao quanh lấy chúng tôi, khiến chúng tôi phải nhụt chí, phải xấu hổ, và mất tin tưởng vào quý vị lãnh đạo, xin giải thích dùm chúng tôi, tại sao vây?

Ngày giờ này, lớp trẻ chúng tôi người thì đã học xong, người thì còn đang trên ghế nhà trường,và đang hăm hở, ra công học tập để chuẩn bị vào đời, xây dựng tương lai cho mình và cho đất nước, chúng tôi sẽ ra sao, và phải làm gì trong hoàn cảnh này? Ai sẽ hướng dẫn cho chúng tôi sống đúng, sống tốt, trong khi gương sống của cha anh, của cấp lãnh đạo mình như vậy? Ai là người cho chúng tôi niềm tin và sự bình yên để học tập hay làm việc? Chẳng lẽ chúng tôi sống theo gương của quý vị?

Quý vị là những người đã phá vỡ sự bình yên của tuổi trẻ chúng tôi! Quý vị là người đã chà đạp lên niềm tin và niềm tự hào của chúng tôi! Quý vị là những người đã làm ô nhiễm cuộc sống của chúng tôi ! Ngày giờ này, với tư cách là những người chủ tương lai của đất nước, với tư cách là con em của quý vị, chúng tôi đòi hỏi quý vị:

- Hãy trả lại niềm tin cho chúng tôi đã quý vị phá vỡ.
- Hãy trả lại cuộc sống bình yên cho chúng tôi.
- Hãy trả lại môi trường trong lành cho chúng tôi được sống, được hít thở.
- Hãy tạo lại một xã hội bình yên và ổn định cho chúng tôi, để chúng tôi yên tâm học hành, và vào đời với tinh thần trong sáng, với niềm tin rạng ngời, và với lòng hăng say nhiệt thành để xây dựng tương lai, xây dựng đất nước.

Nếu quý vị không làm như vậy, là quý vị đã đắc tội với lịch sử, với tiền nhân, với non sông, với đồng bào, vì quý vị đã phá vỡ đất nước, và nhất là phá vỡ một thế hệ trẻ chúng tôi, là con cháu của quý vị, và là tương lai của Tổ Quốc Việt Nam!

Tôn Đạo

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Đường vào tòa Bạch Ốc
Tác giả: Hà Văn Hải

Image

Hy vọng câu nói bất hủ của thượng nghị sĩ John McCain không phải bị lập lại sau ngày 4/11/2008; khi ông chúc mừng liên danh đối lập “Chiến thắng đã thuộc về người không xứng đáng”.


Năm 2004, cộng đồng tỵ nạn CSVN có lập trường vững chắc, và quyết định rõ rệt khi thượng nghị sĩ John F. Kerry ra tranh cử. Nhưng kỳ này thì mọi người có vẻ thờ ơ với đảng Cộng Hòa, có lẽ vì mong muốn có sự thay đổi, nhất là khi thấy nền kinh tế tụt dốc; đã âm thầm ủng hộ đảng Dân Chủ qua liên danh Obama và Biden.


Nhưng bỗng dưng trong vòng 2 tháng gần đây, cộng đồng tỵ nạn lại bùng lên một sự quan tâm đặc biệt và kêu gọi mọi người ủng hộ đảng Cộng Hòa qua liên danh McCain và Palin, dù vào năm 1995, thượng nghị sĩ McCain đã cùng Kerry đứng sau ông Clinton ký giấy bang giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, lật một trang sử mới, khiến người Việt tỵ nạn sững sờ. Sau khi bang giao được thiết lập ông McCain đã được CSVN trả lại cái mũ phi công và đúc tượng đặt ở hồ Trúc Bạch. Chúng ta cũng vẫn chưa quên ông McCain đã từng dự tiệc đón tiếp Phan Văn Khải. Đối lại, ông cũng có công với người tỵ nạn, nhất là trong việc vận động dự luật yểm trợ chương trình con lai, cho những tù nhân cải tạo dưới 3 năm, cũng như cho quả phụ và các con trên tuổi vị thành niên của những vị H.O.


Hiện tại, đang có nhiều người Việt Nam tỵ nạn ủng hộ liên danh Obama và Biden, măc dầu Obama có tai tiếng là liên lạc mật thiết với nhóm khủng bố (qua ông Ayers), không có quá khứ tốt khi còn học ở New York và Boston; thêm vào đó tiền vận động tranh cử của ông chưa rõ xuất xứ, với chi phí tranh cử kỳ này đạt đến mức cao chưa từng có, so với những cuộc tranh cử trước. Từ ngày đầu cuộc tranh cử ông McCain đã nhận $210 triệu, còn Obama có tới $440 triệu. Riêng cho tháng 8/2008 ông Obama cũng chi trội Mccain hơn về quảng cáo trên truyền thông nhất là trên TV. Trước đây ông Obama đã giao ước cùng với McCain là cả hai chỉ sẽ nhận tiền yểm trợ bầu cử từ liên bang, không nhận tiền từ việc gây quỹ, nhưng Obama đã không giữ lời hứa trong khi ông McCain đã làm đúng theo những gì họ đã giao ước. Người phó của Obama, ông Biden lại là người quá khuynh tả trong cuộc chiến Việt Nam, ông đã quyết liệt kêu gọi đồng viện cúp viện trợ để bức tử Việt Nam Cộng Hòa, và sau đó đã nhất định không chấp thuận cho bất cứ ngân khỏan nào được dành cho việc cứu những người tỵ nạn Việt Nam.

Cả hai ứng cử viên đều không tuyên bố gì về chính sách đối với Việt Nam cũng như Lào và Cam Bốt, có lẽ vì số phiếu của người Việt tỵ nạn của chúng ta không được xem là đáng kể. Theo thống kê thì người Việt Nam có khỏang gần 2 triệu người tại Hoa Kỳ, con số có thể đi bầu khỏang 800,000 người. Nhưng số những người già, không ghi danh hoặc bị trở ngại về ngôn ngữ khi đi bầu, cũng lên đến cả gần 100 ngàn. Do đó chúng ta có thể nghĩ rằng lá phiếu của người Việt không thể làm ngang ngửa cán cân trong ngày bầu cử. Nhưng nếu nhìn kỹ lại thì vào năm 2000, ông Bush đã thắng ông Gore với chỉ khỏang một ngàn phiếu tại Florida. Sự kiện này cho chúng ta thấy trong một cuộc tranh cử khít khao, vài ngàn lá phiếu có thể làm thay đổi được thế cờ. Tương tự như thế, nếu chúng ta dồn phiếu hết cho một liên danh, chắc chắn số phiếu của người Việt tại Florida sẽ có giá trị làm nghiêng cán cân về một bên (việc này cũng có thể xẩy ra ở vài tiểu bang như Texas, ngọai trừ California và Massachusetts là hai tiểu bang thành trì của đảng Dân Chủ).

Trên thực tế, quyền lực tại Hoa Kỳ không chỉ nằm trong tay Tổng Thống mà còn tùy thuộc nhiều vào lưỡng viện Quốc Hội, nhất là tùy thuộc nhóm tài phiệt, thí dụ như trong vụ khủng hỏang kinh tế hiện nay tại Hoa Kỳ, mà con số 700 tỷ Mỹ kim “làm sống lại nền kinh tế”. Ông McCain và ông Obama đều biết rất rõ, nhưng không ai dám giải thích, là ông Tài Phiệt Trung Cộng và ông Tài Phiệt Nhật nếu đầu tư vào Hoa Kỳ 100 triệu vài năm trước đây thì nay số vốn này chỉ còn 50% và những món nợ của Hoa Kỳ với Quốc Gia khác cũng chỉ còn giá trị 50%.

Ai cũng biết ông McCain là người yêu nước, có kinh nghiệm, bà Palin là một người Thiên Chúa Giáo, bảo thủ, chống lại việc phá thai, do đó họ sẽ được phía người Thiên Chúa Giáo tích cực yểm trợ. Ông Mitt Romey đã thất cử ngay trận đầu tiên, và ông Huckabee đã thắng dễ dàng trong kỳ bầu cử sơ bộ tại tiểu bang Iowa cũng vì vấn đề tôn giáo. Trong khi đó bà Clinton đảng Dân Chủ đang được nhiều cử tri cũng như đa số đảng viên yểm trợ, dẫn đầu nhiều tiểu bang và coi như sáng giá, có triển vọng đánh thắng cử bất kỳ ứng cử viên Cộng Hòa nào, nhưng cuối cùng đảng đã thay ngưa giữa đường vì chính sách đối ngọai cũng như quan điểm và lập trường của bà cũng không khác ông McCain nhiều. Đây là điều căn bản mà Obama đã biết nắm lấy để tiếp tục đi lên, Hoa Kỳ cần một vị Tổng Thống không cần kinh nghiệm, nhưng biết nghe lời.

Trẻ trung, lại có tài hùng biện và ứng đáp, Obama đã làm cho cử tri quên đi sự thiếu kinh nghiệm của mình, nhưng điểm này đã được nổi bật trong cuộc tranh luận lần cuối vào thứ Tư ngày 15 tháng 10 năm 2008 tại New York. Trong buổi tranh luận này, ông Obama đã nói thẳng với cử chi là nếu cần về đối ngoại tôi sẽ “hỏi cố vấn”, và khi được hỏi về việc khai thác dầu khí ngòai khơi Hoa Kỳ để nước Mỹ không lệ thuộc vào dầu thô tại trung Đông, ông cũng cho biết là “tôi sẽ nghiên cứu lại”. Bên cạnh sự thiếu kinh nghiệm này, ông McCain lại từng trải, có đủ kinh nghiệm về lãnh đạo cũng như những chương trình giảm thuế, tạo công ăn việc làm, nhưng hình như sự vững vàng của ông đã bị tài hùng biện của Obama làm lu mờ?

Có thể đến giờ phút này, sau khi được tờ Washington Post và ông cựu bộ trưởng ngoại giao Collin Power thuộc đảng Cộng Hòa chính thức lên tiếng ủng hộ hôm 17 và 19/10, vào lúc mà chỉ còn chưa đầy 2 tuần lễ là đến ngày bầu cử, liên danh Obama và Biden sẽ được đà và tăng thêm phần thắng?

Người dân nước Mỹ đang cần một sự thay đổi, họ đã không còn thiết tha với đảng Cộng Hòa. Người dân đã mất lòng tin vào Tổng Thống Bush qua việc chiến tranh Iraq, sự tụt dốc của nên kinh tế. Hậu quả này đã gây ảnh hưởng xấu cho liên danh Cộng Hòa ngay từ cuộc bầu cử dân biểu và thượng nghị sĩ vài năm trước đây. Hậu quả là phe Cộng Hòa đã nhường chỗ cho Dân Chủ và ngành lập pháp Hoa Kỳ đang do đảng Dân Chủ nắm quyền tại lưỡng viện. Tin tức thăm dò cho thấy, nếu bầu cử ngay bây giờ chăc chắn liên danh Obama và Biden sẽ thắng, và như vậy cục diện thế giới sẽ thay đổi.

Ai thắng thì nền kinh tế vẫn không thể phục hồi ngay, thế giới và dân chúng Hoa Kỳ sẽ trải qua thời kỳ khó khăn nhất trong vòng vài năm tới.

Nếu Obama thắng cử, nước Mỹ sẽ có một Tổng thống trẻ tuổi có tài hùng biện, nhưng thiếu kinh nghiệm. Hoa kỳ chắc chắn sẽ có nhiều thay đổi, nhưng thật ra không có gì bảo đảm là những thay đổi này sẽ đưa đất nước đi lên. Hoa Kỳ lúc đó sẽ co vào, việc rút quân ra khỏi Iraq chắc chắn sẽ xảy ra, Iran sẽ lãnh đạo cuộc chiến tại Trung Đông, Iraq muốn sống còn sẽ tiếp tục mua vũ khí của Mỹ, số tiền thặng dư hàng năm 700 triệu mỹ kim của Iraq sẽ dành cho chiến tranh, họặc ngả theo Trung Cộng. Pakistan sẽ phối hợp với Iran để khuynh lóat Afghanistan, và Do Thái sẽ khốn đốn hơn. Trung Cộng sẽ làm chủ tình hình ở Phi Châu vì hiện tại Trung cộng đã có khỏang 100 ngàn chiến binh ở Angola dưới dạng nhân công. Hồ Cẩm Đào năm 2007 đã họp thượng đỉnh 58 quốc gia trong vùng, xóa nợ cho nhiều quốc gia Châu Phi và viện trợ cũng như hợp tác ngoai thương. Về Á Châu, Trung Cộng không còn sợ Âu Châu, khối Nato hoặc Hoa kỳ can thiệp, Trung Cộng sẽ ngang nhiên tung hoành tại Á Châu. Biết được mưu đồ này, Nga Sô đã xua quân vào Bosnia, bán vũ khí cho Columbia, đem tầu chiến trở lại vịnh Cam Ranh. Lợi dụng thời cơ Mỹ đang khủng hỏang về tài chánh, có thể Trung cộng sẽ ngụy tạo ra một cuộc nội biến tại Việt Nam, cho quân đội tràn vào cứu đàn em Anh – Triết – Dũng, sau đó để quân đội của họ ở lại như đã làm ở Tây Tạng trước đây.


Ngay lúc này và hơn bao giờ hết, người Việt tỵ nạn phải chuẩn bị cùng đồng bào quốc nội: Không để nạn Hán hóa hoăc chiến tranh có thể xẩy ra dưới bất kỳ hình thức nào, do từ đâu mang đến. Vì chúng ta phải luôn nhớ rắng, Băng Đảng CSVN ngày nay là những Thái thú, ăn cơm Việt, nói tiếng Việt, ở nước Việt, nhưng tâm trí đã thuộc về Hán Tộc, họ chỉ là một băng đảng BUÔN DÂN, - BÁN NƯỚC.

Dù liên danh nào thắng cử, trách nhiệm của người Việt lưu vong đối với quê hương cũng không thay đổi. Chúng ta vẫn phải tiếp tục đấu tranh hữu hiệu hơn trong tình thần dân tộc tự quyết, và không để bất cứ quốc gia nào dẫn ta đi theo quyền lợi của họ. Vì chỉ có người Việt Nam mới thiết tha với tiền đồ dân tộc, mới thực sự muốn mang tự do, Dân Chủ và phú cường đến cho đất nước Việt Nam, muốn đưa Việt Nam lên vị trí một cường quốc tại Đông Nam Á.


Bài học của Đai Tá Oliver North có lẽ chúng ta vẫn chưa quên, khi ông phải ra quốc hội điều trần về vụ Iran Contra. Trước quốc hội, ông đã nhận tội dùng 60 ngàn đô la của công quỹ cho việc thiết lập hệ thống an ninh nơi ông ở, vì ông sợ khủng bố. Các thượng nghị sĩ đã cười chế nhạo khi ông nhận tội. Thượng nghị sĩ Al Gore đã cười khi hỏi khủng bố là ai mà ông sợ như thế ông trả lời người ấy là Osama bin Laden. Sau đó, năm 1993, chính Tổng Thống Clinton và Bộ Trưởng Ngoai Giao Warren Christopher đã ra lệnh thả hết tù nhân khủng bố trong đó có Mohammad Atta. Và để trả ơn, chính phi công khủng bố Mohammad Atta này đã lái máy bay đâm vào tòa nhà chọc trời Thế Giới Thương Mại ở New York ngày 11/9 năm 2001 giết hại hơn 6000 người dân Mỹ trong đó có nhiều cảnh sát và công chức. Không biết ông ứng cử viên Tổng Thống trẻ tuổi Obama này đã thấy quan tài bao giờ chưa?

Nếu ngày bầu cử năm nay đẹp trời những người Mỹ còn đi được từ các Viện Dưỡng Lão, từ khắp nẻo đường, những cựu chiến binh từ Đệ Nhị Thế Chiến, Đến Triều Tiên, Việt Nam, Vùng Vịnh, Iraq đều sẽ cố gắng lũ lượt đi bầu. Những người lười biếng nhất từ trước đến nay khi thấy hiểm họa khủng bố gần ngay chỗ làm việc họặc nơi trường học của con em họ hay chính nơi thánh đường mà cha mẹ, vợ con họ thường đi dự lễ, họ sẽ phải sử dụng lá phiếu của họ. Bàn cờ lúc đó sẽ đảo ngược, người Việt Nam sẽ thở phào nhẹ nhõm: Ít ra khi còn ở trong hỏa lò, ông McCain đã thấm thía thế nào là cuộc sống con người dưới chế độ cộng sản, ông cũng cho biết là ngay cả CS Cuba cũng góp phần tra tấn ông. Người Mỹ luôn khắc cốt ghi tâm về cuộc chiến Việt Nam, nơi mà họ đã thua trận. Cái hận mà người Mỹ sẽ phải rửa không bằng cách này hay cách khác. Ông McCain thừa kinh nghiệm để đương đầu với CSVN. Biết đâu lúc ông ở tù, các cai tù quanh quẩn đâu đó ông đã nhận diện những kẻ đã và đang là những Thái Thú của Tầu Cộng ở VN? Nạn Hán Hóa Tòan Cầu đã khiến Trung Cộng không còn là kẻ thù duy nhất của người Việt./.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Chuyến đi sứ Tàu gian nan của thủ tướng CS Nguyễn Tấn Dũng
20/10/2008


Trong bối cảnh quan hệ giữa Việt Nam và Trung quốc có chiều căng thẳng trong những tháng gần đây, giới quan sát quốc tế đặt câu hỏi chuyến công du Bắc Kinh của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng từ ngày 20 đến ngày 25/20/2008 này sẽ có mầu sắc như thế nào. Một chuyến đi để bày tỏ sự thần phục phương Bắc thêm nữa hay một chuyến đi để xác định vị trí, chủ quyền và quyết tâm bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ của Việt Nam. Trong lịch sử Việt Nam, không có chuyến đi sứ nào sang Trung quốc mà không được xem là đi “chầu” nước lớn. Chầu để xin được phong vương. Chầu để đạt một thỏa thuận nào đó thường là thỏa thuận lép vế về phía Việt Nam. Và trớ trêu là có khi còn đi chầu để giảng hòa mặc dù vừa đánh cho quân Tàu tan tác.

Trong lịch sử quan hệ Việt – Trung, Trung quốc ít khi tiếp sứ Việt Nam trong thời kỳ căng thẳng. Sau trận đánh biên giới tháng 2/1979, Trung quốc không tiếp sứ Việt Nam cho đến năm 1990 sau khi Liên bang Xô viết sắp sụp đổ mới tiếp đại diện Việt Nam do nhu cầu làm hòa của hai nước (nhưng chỉ tiếp một cách xuống cấp tại Thành Đô, một thành phố phía tây nam của Trung quốc cách xa thủ đô Bắc Kinh 1450km).

Từ đó cho đến nay (hay ít nhất cho đến giữa năm 2006, trước đại hội 10 của đảng cộng sản Việt Nam) hai bên tiếp sứ liên miên, và năm 1999 do sáng kiến của Giang Trạch Dân, Chủ tịch nước và Bí thư đảng cộng sản Trung quốc, trong một chuyến thăm viếng của Tổng bí thư Lê Khả phiêu đã công thức hóa quan hệ giữa hai nước bằng 16 chữ vàng: “Láng giềng hữu nghị, Hợp tác toàn diện, Ổn định lâu dài, Hướng tới tương lai.” Và gần đây Hồ Cẩm Đào thêm bốn tiêu chuẩn “Láng giềng tốt, Bạn bè tốt, Đồng chí tốt và Đối tác tốt.”

Hiện nay quan hệ chính thức giữa Trung quốc và Việt Nam vẫn là quan hệ “16 chữ vàng” nhưng quan hệ thật sự đã có chiều căng thẳng do tham vọng lấn chiến đất đai Việt Nam của Trung quốc: đất liền nơi biên giới, vùng biển trong vịnh Bắc Việt, và hiện nay là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Và gần đây là sự can thiệp của Trung quốc khi hãng dầu ExxonMobil của Hoa Kỳ định ký giao kèo với Việt Nam khai thác dầu khí ngoài khơi biển Đông. (*)

Trong bối cảnh đó chuyến công du Trung quốc của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ là một “chuyến đi sứ” gian nan đòi hỏi nhiều bản lãnh nơi ông Dũng.

Chuyến đi Bắc Kinh cuối tháng 5/2008 vừa rồi của ông Tổng bí thư Nông Đức Mạnh có thể xem là chuyến đi lót đường làm dịu cho chuyến công du Hoa Kỳ của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sau đó. Qua thông cáo chung Việt – Trung hai vị Tổng bí thư tái xác nhận quan hệ “16 chữ vàng”, và cam kết với nhau bằng những lời lẽ tốt đẹp nhất có thể có trong một văn bản ngoại giao.

Nhưng chuyến công du Hoa Kỳ vào tháng 6/2008 của ông Dũng đánh dấu một cách công khai và cụ thể quan hệ chặt chẽ về an ninh giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Thông cáo chung giữa hai nước khẳng định rằng quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam là một quan hệ chính trị liên quan đến chiến lược, an ninh, quốc phòng và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

Sự khẳng định đó diễn ra trong khung cảnh có những biến cố và biến chuyển chính trị trên biển Đông làm cho quan hệ Việt – Trung trở nên căng thẳng như:

- Tháng 12/2007 Trung quốc công bố ý định thành lập thành phố Tam Sa cấp huyện sát nhập vào tỉnh Hải Nam bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

- Ngày 1/6/08 tại hội nghị thượng đỉnh về an ninh Á châu ở Singapore bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ Robert Gates tuyên bố Hoa Kỳ không quên cam kết của mình đối với an ninh và ổn định tại Á châu.

- Trung quốc âm thầm (trong những tháng đầu năm 2008) áp lực công ty ExxonMobil chấm dứt các dự tính dò tìm và khai thác dầu khí với Việt Nam.

- Phản ứng mạnh mẽ của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ rằng việc làm ăn của ExxonMobil với Việt Nam là chính đáng và theo đúng luật lệ quốc tế.

- Việt Nam chính thức yêu cầu công ty ExxonMobil tiếp tục các dự tính giao kèo với Việt Nam bất chấp lời cảnh cáo của Trung quốc.

Cho nên lời lẽ trong bản thông cáo chung Việt Mỹ không phải là những lời lẽ ngoại giao bình thường như thường thấy trong các thông cáo chung. Nó có ý nghĩa chiến lược rằng Việt Nam đang điều chỉnh chính sách ngoại giao và quốc phòng để tự vệ trước sự xâm lấn của Trung quốc với sự hứa hẹn nhập cuộc nào đó của Hoa Kỳ.

Sau chuyến đi Hoa Kỳ của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, các giới chức cao cấp của Việt Nam bắt đầu tỏ thái độ mạnh dạn hơn. Ông Vũ Dũng, thứ trưởng Bộ ngoại giao Việt Nam (tháng 8/2008) tuyên bố rằng các khu biển Việt Nam đang ký kết khai thác dầu khí với hãng dầu ExxonMobil của Hoa Kỳ hoàn toàn thuộc chủ quyền của Việt Nam, và ông Vũ Dũng nói một cách khẳng định “quyền của chúng ta thì chúng ta làm”. Và mới đây trong một cuộc phỏng vấn dành cho ký giả Lý Kiến Trúc, một nhà báo tại hải ngoại, ông đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ Lê Công Phụng nói về cuộc thương thuyết đất đai biên giới đã dùng những lời lẽ khá nặng nề đối với Trung quốc.

Các động thái của thứ trưởng Vũ Dũng và ông đại sứ Lê Công Phụng không phải là những hành động do sáng kiến cá nhân, mà là một cách bày tỏ lập trường ngoại giao của Việt Nam.

Qua đám mây mù đó, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đi Tàu. Và đây cũng là cuộc gặp gỡ đầu tiên mặt đối mặt giữa cấp lãnh đạo cao cấp của hai nước sau một thời gian âm ỉ tranh chấp và lời qua tiếng lại giữa hai nước.

Theo chương trình thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đến Bắc Kinh dự hội nghị Âu-Á gọi là hội nghị ASEM (**), và nhân thể đáp lời mời của thủ tướng Ôn Gia Bảo thăm viếng chính thức Trung quốc. Hai vị sẽ hội đàm với nhau trong hai ngày 24 & 25/10/2008 và theo thông báo của tòa đại sứ Việt Nam tại Bắc Kinh cũng như của văn phòng thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Hà Nội ông Dũng sẽ chính thức ký bản văn về biên giới đất liền đã được cắm mốc giữa hai nước và “… còn cốt để thắt chặt mối quan hệ chiến lược giữa hai nước và sẽ cùng trao đổi bàn bạc một số vấn đề quan trọng hai nước đang cùng quan tâm.”

Các vấn đề quan trọng hai bên đều quan tâm là vấn đề gì nếu không phải là vấn đề chủ quyền các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa, mà điểm nổi cộm là quần đảo Trường Sa và vụ lời qua tiếng lại về việc khai thác dầu khí trong vùng biển đó?

Trung quốc sẽ đem miếng mồi mậu dịch (***) nếu không muốn nói phối hợp với áp lực quân sự để thuyết phục Việt Nam nhượng bộ về vấn đề Trường Sa và vấn đề khai thác dầu khí trên biển Đông cũng như các vấn đề chiến lược khác.

Trong bối cảnh đó chuyến đi Tàu lần này của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có một tầm quan trọng và một ý nghĩa đặc biệt. Sắc thái và kết quả của các cuộc trao đổi của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Bắc Kinh sẽ đánh dấu một bước ngoặc trong quan hệ hai nước, một thứ quan hệ không còn che đậy bằng những ngôn từ hoa mỹ ngoại giao như trước được nữa.

Trần Bình Nam - Oct. 20, 2008 - binhnam@sbcglobal.net - www.tranbinhnam.com


--------------------------------------------------------------------------------

(*) Quan hệ này được Blogger Công Lý & Sự Thật trong nước miêu tả là quan hệ 16 chữ “Láng giềng khốn nạn, Cướp đất toàn diện, Lấn biển lâu dài, Thôn tính tương lai.”

(**) ASEM (Asia-Europe Meeting) là hội nghị Âu Á được thành lập năm 1996, hai năm họp một lần để trao đổi về các vấn đề chính trị, an ninh, kinh tế, giáo dục và văn hóa giữa các nước thành viên.

(***) Mậu dịch song phương giữa Việt Nam và Trung quốc: $32 triệu năm 1991 lên 7.2 tỉ năm 2004 và 15 tỉ năm 2007. Dự trù lên đến 20 -25 tỉ năm 2010.

Nguồn: www.tranbinhnam.com

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

San sẻ tài sản ở nước Mỹ

Ngô Nhân Dụng

Nghị Sĩ Barack Obama nói, rồi Nghị Sĩ John McCain nhắc lại, hai chữ trong tiếng Anh “wealth spreading” đã được lập đi lập lại nhiều lần trong hơn một tuần lễ. Hai chữ này có thể dịch sang tiếng Việt là “đem trải rộng (spread) tài sản (wealth) ra,” hoặc “phân bố, san sẻ, chia sớt tài sản,” nếu muốn quá khích dịch là “san bằng tài sản!” Tùy theo ý người dịch muốn, nó có nghĩa tốt hay xấu. Ngày hôm qua, bà Thống Ðốc Sarah Palin đã gắn cho ông Obama nhãn hiệu một “wealth spreader,” người đem chia tài sản (của quý vị cử tri yêu quý, những người đóng thuế!)

Câu chuyện bắt đầu khi một cử tri, ông Joe Wurzelbacher chất vấn ông Obama tại sao định giảm thuế cho mọi người mà lại không cắt cho những người lợi tức từ 250,000 đô la một năm trở lên. Ông Joe trở thành nổi tiếng, và câu trả lời của ông Obama cũng vậy. Ông Obama nói, “Ðem tài sản san sẻ ra sẽ ích lợi cho tất cả mọi người.” Ông McCain bắt được câu đó, ông không ngần ngại gọi ý kiến của ông Obama là một thứ “Chủ nghĩa xã hội!” Nghe phát sợ!

Không phải người Việt đã sống qua chế độ cộng sản mới cảm thấy ghê sợ cái tên chủ nghĩa xã hội, người Mỹ nghe thấy tên gọi đó cũng ghét. Cộng Sản ở Trung Quốc làm, rồi Cộng Sản Việt Nam bắt chước, cả phong trào cải cách ruộng đất, tòa án nhân dân, đấu tố chỉ nhắm mục đích là cướp tài sản của các địa chủ rồi đem san sẻ lại cho các bần cố nông theo đảng Cộng Sản. Nhưng cuối cùng là Ðảng ôm trọn gói tài sản cả nước, biến toàn dân thành những đứa ở làm công cho đảng! Bây giờ đảng chịu nhả bớt ra nhưng vừa nhả vừa tiếc, vẫn cắn lại!

Mấy chữ “san sẻ tài sản” được truyền đi nhanh và rộng trong một tuần lễ trong cuộc tranh cử, khiến cho hãng thông tấn AP ngày hôm qua phải phổ biến một bài phân tích, được rất nhiều nhật báo ở Mỹ đăng lại trong số báo ra ngày hôm nay. Họ viết tựa đề: “San sẻ tài sản? Nước Mỹ đã làm từ lâu rồi!” Bài của AP xác định rằng nước Mỹ đã có một “truyền thống tái phân phối (họ dùng động từ redistribute) những tài sản khổng lồ qua các chính sách thuế khóa và chi tiêu của chính phủ.”

Ðiều này đúng. Kể từ năm 1913 khi chính phủ liên bang bắt đầu đánh thuế lợi tức cá nhân. Các đại biểu quốc hội Mỹ bắt chước những chính sách thuế khóa đã thi hành ở nhiều nước Âu Châu, gọi là “thuế lũy tiến,” (progressive). Người có lợi tức cao đóng cho chính phủ một tỷ lệ cao trong lợi tức của mình, gọi là suất thuế; người lợi tức thấp đóng thuế với tỷ lệ thấp hơn. Càng giầu thì suất thuế càng cao, càng nghèo suất thuế càng giảm.

Những người cộng sản thế kỷ trước thường chỉ trích chế độ thuế khóa này. Họ nói chế độ tư bản dùng chính sách thuế lũy tiến để tiếp tục đàn áp giai cấp công nhân! Lấy tiền nhà giầu phát cho nhà nghèo là cốt cho họ khỏi nghe theo cộng sản dụ mà nổi lên lật đổ chế độ tư bản!

Nhưng những người ủng hộ lối đánh thuế lũy tiến lý luận rằng thuế má là góp tiền cho quốc gia, để quốc gia có thể cung cấp những tiện nghi, vật dụng chung (thí dụ đường, cầu, phi cảng) và dịch vụ chung (thí dụ, hệ thống đổ rác, quân đội, cảnh sát giữ an ninh, trật tự) cho mọi người dân cùng hưởng; nhưng trong một nước thì người giàu thường được hưởng nhiều hơn người nghèo. Có người cả đời không dùng đến phi trường, có người mỗi tuần dùng một lần! Cảnh sát giữ an ninh cho ông có 5 chiếc xe trong nhà, bảo vệ cho ông nhiều hơn bà hàng xóm chỉ có một chiếc xe!

Hơn nữa, cách tổ chức kinh tế của quốc gia trên nguyên tắc tạo cơ hội đồng đều cho tất cả mọi người, nhưng thế nào cũng sinh ra sẵn những bất công. Thí dụ, một cậu sinh viên lớn lên ở New York vừa học xong đại học vào làm cho ngân hàng đầu tư, có thể được trả 300,000 đô la một năm. Anh ta vẫn được hưởng cơ hội cao hơn một thanh niên cùng tuổi lớn lên ở một làng nông nghiệp tại Kansas, ra trường rồi chỉ kiếm được 25,000 đô la một năm! Có phải vì anh thanh niên ở Kansas lười biếng hơn hay dốt nát hơn chăng? Không phải, chỉ vì họ sinh ra và lớn lên ở hai chỗ khác nhau! Hệ thống kinh tế, xã hội, pháp luật đưa đến tình trạng không công bằng đó; chính sách thuế khóa làm giảm bớt những bất công loại này, khó tránh được nhưng nên tránh. Gọi đó là san sẻ tài sản cũng được!

Người Mỹ đã chấp nhận hệ thống thuế lũy tiến đó từ hàng trăm năm nay. Hai người hiện giầu nhất nước Mỹ là Warren Buffett và Bill Gates đều chống chính sách cắt giảm thuế cho người lợi tức cao của Tổng Thống George W. Bush hồi năm 2003. Ở nhiều nước tư bản khác như Anh Quốc, Canada, Thụy Ðiển, chế độ thuế khóa còn buộc người kiếm nhiều tiền đóng suất thuế cao hơn ở Mỹ nữa. Ðó đúng là thu tiền của người giầu, đem tiền dùng chung cho cả nước hưởng; nếu cần thì phát cho người nghèo gọi là trợ cấp xã hội. Trợ cấp xã hội ở Mỹ còn thấp hơn ở những nước như Anh, Hòa Lan, Canada, vân vân; và sau cuộc cải tổ thời ông Clinton số người lãnh trợ cấp xã hội đã giảm bớt 60%.

Thuế lợi tức cá nhân là nguồn thu cao nhất trong các số thu của chính phủ liên bang Mỹ. Hiện nay những người kiếm nhiều tiền nhất nước Mỹ, 5% trên cao đóng góp hơn một nửa số thuế lợi tức mà liên bang thu vào. Còn 40% người dân Mỹ ở dưới thấp, những người nghèo nhất, không phải đóng một xu thuế lợi tức nào cả, dù họ có làm việc và được trả lương, chỉ vì lương thấp quá. Ðó là lý do những người giầu Mỹ vẫn than phiền họ bị nhà nước tư bản bóc lột!

Tuy những người giầu nhất nước Mỹ bị “bóc lột” như vậy, nhưng trong thời gian qua lợi tức của lớp người này vẫn tăng nhanh hơn người nghèo. Các nhà nghiên cứu thường chia dân số làm 5 tầng, từ giầu nhất đến nghèo nhất. Theo Trung Tâm Nghiên Cứu Ưu Tiên Ngân Sách (CBPP) ở Washington thì trong 10 năm qua lợi tức của những gia đình thuộc 20% dân số Mỹ nghèo nhất đã giảm mất 2.5%. Trong khi đó những người thuộc tầng lớp 20% giầu nhất thì lợi tức đã tăng hơn 9%! Người trung lưu, tức là một phần năm dân với lợi tức ở tầng giữa, có 40% ở trên và 40% dưới họ, thì lợi tức chỉ tăng lên được 1.3%. Tầng lớp một phần năm nghèo nhất kiếm 18,120 đô la một năm, còn tầng ở trên cao nhất có lợi tức 132,130 đô la!

Nếu chia dân số thành 20 phần, mỗi phần 5% thì sự chênh lệch còn cao hơn nữa. Lương bổng lợi tức những người thuộc tầng 5% giầu nhất cao gấp 12 lần những người thuộc 5% nghèo nhất. Trong hơn 25 năm qua những người thuộc nhóm trên đã “tăng lương” được 108,000 đô la còn những người thuộc nhóm dưới chỉ tăng được dưới 1000 đô la! Hiện tượng nhà giầu giầu thêm, người nghèo nghèo hơn diễn ra qua các đời tổng thống Cộng Hòa cũng như Dân Chủ.

Nhưng khi nói đến sự chênh lệch giầu nghèo ở Mỹ, có 2 điều chúng ta nên nhớ. Thứ nhất là ở nước Mỹ người ta “di động” từ một tầng lớp nghèo sang lớp giầu hơn hay là ngược lại, chứ không đứng yên trong một lớp. Theo một cuộc nghiên cứu từ năm 1996 mà ông ben Bernanke nhắc đến trong một bài thuyết trình về chênh lệch giầu nghèo, thì cứ 5 năm lại có một nửa người đổi cách xếp hạng, từ tầng này đổi sang tầng khác, cao hơn hoặc thấp hơn. Ông cũng cho biết càng lâu thì sự chuyển dịch càng nhiều hơn chứ không cố định. Ông chủ tịch Ngân Hàng Trung Ương Mỹ còn phân tích thấy nguồn gốc của sự chênh lệch về lợi tức ở Mỹ, thấy rằng nguyên nhân chính là khả năng kỹ thuật, do học vấn mà ra! Ông Bernanke thấy mỗi lần có những thay đổi lớn về kỹ thuật, trong tin học cũng như trong ngành tài chánh thì có sự thay đổi trong sự chênh lệch lợi tức; vì những người chạy theo kịp sự thay đổi kiếm được nhiều tiền hơn!

Ðiều này khác hẳn tình trạng ở các nước “kém khai hóa,” cho hấy một đặc điểm khác trong cảnh giầu nghèo ở Mỹ. Ở những nước đang mở mang, người giầu chiếm hết của cả nước, ở nước giầu không như vậy. Nhưng điều tệ hơn là những người giầu ở các nước nghèo thường làm giầu nhờ lũng đoạn cơ cấu xã hội, chính trị, chứ không thuần túy nhờ biết cạnh tranh về kinh tế với cơ hội bình đẳng.

Nhà kinh tế Martin Wolf đã nêu thí dụ một trong những người giầu nhất thế giới là ông Carlos Slim, năm ngoái có lúc là người giầu nhất, ông người Mexico. Năm 2007 ông Slim có tài sản 59 tỷ Mỹ kim, còn ông Bill Gates ở Mỹ chỉ có 56 tỷ. Ðiều đáng chú ý là tài sản của ông Slim lớn bằng 6.6% Tổng Sản Lượng Nội Ðịa của nước Mexico; còn gia tài của ông Gates chỉ đáng 0.4% GDP của nước Mỹ. Có lẽ vì vậy mà dân Mỹ biết các ông Gates và Buffett giầu nhưng không cảm thấy ganh ghét họ! Ông Wolf cho biết trong số 100 người được coi là giầu nhất thế giới có hai nước đông nhất, 39 người Mỹ và 14 người Nga. Ở Mỹ, tài sản của 39 vị tỉ phú này chỉ lớn bằng 4.5% tài sản của cả nước tạo ra trong một năm (tức là GDP). Còn ở Nga, 14 vị tỷ phú của họ chiếm 26% tài sản một năm mà cả quốc gia tạo được. Cách kiếm tiền, tức là cách làm giầu ở các nước tự do dân chủ khác với các nước độc tài hoặc nửa độc tài.

Ở các nước “đang phát triển” thì các định chế kinh tế, chính trị còn chưa được tự do dân chủ, cho nên những người giầu lợi dụng kiếm tiền dễ dàng hơn. Cách kiếm tiền giản dị nhất là đút lót xin cơ hội độc quyền, hoặc ăn chia, hối lộ. Còn bọn tỷ phú ở các nước đã tiến bộ, với hệ thống pháp luật công khai, minh bạch thì họ phải kiếm tiền cực nhọc hơn! Cũng nhờ cơ chế tự do dân chủ cho nên người ta dễ di động từ tầng lớp dưới lên tầng trên, đẩy nhiều người khác từ tầng trên tụt xuống tầng dưới!

Mặc dù xã hội Mỹ công bằng hơn ở Nga hay ở Mexico, các công dân Mỹ có cơ hội tương đối công bằng hơn nhiều nước khác, nhưng người Mỹ vẫn luôn luôn đặt câu hỏi tại sao hệ thống xã hội của họ vẫn còn gây ra cảnh chênh lệch về lợi tức và tài sản rất nặng như vậy. Một lý do là chính sách thuế khóa. Hệ thống đánh thuế là do con người đặt ra (trả cho César!) cho nên không thể nào hoàn hảo. Trong xã hội lại có nhiều nhóm người với những nhu cầu và quyền lợi khác biệt nhau, khó lòng đặt ra một hệ thống làm tất cả mọi người vui lòng!

Cho nên trong cuộc tranh cử hiện nay, chúng ta sẽ còn nghe Nghị Sĩ John McCain tiếp tục chỉ trích Nghị Sĩ Barack Obama về ý tưởng “san sẻ tài sản” từ những người kiếm 250,000 đô la một năm trở lên sang những người lợi tức thấp hơn! Năm 2001 và 2003 Tổng Thống George W. Bush đã giảm thuế cho mọi người, những người giầu được giảm nhiều hơn. Năm nay ông McCain muốn tiếp tục chính sách đó, còn ông Obama muốn thay đổi. Hai ứng cử viên đều hứa sẽ giảm thuế. Nhưng người nào lên làm tổng thống Mỹ năm tới cũng sẽ phải lo làm sao thu đủ thuế trước đã, vì khi kinh tế xuống thì thuế cũng xuống theo!

Không ai có thể áp đặt chính sách thuế khóa cho cả nước, chỉ có dân chúng Mỹ nắm quyền quyết định, bằng lá phiếu của họ. Và người dân một nước dân chủ tự do thì có quyền thí nghiệm với một chính sách thuế khóa, rồi thấy nó không được như ý, 4 năm sau họ đổi ý kiến, đó cũng là chuyện bình thường! Sống dưới chế độ tự do dân chủ nó sướng như vậy!

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Bà Phiếu Mẫu Khúc Minh Thơ

Nguyễn Thanh Ty
Trong mục “Phiếm dị” của tờ tuần báo SàiGòn Nhỏ mấy tuần trước đây, số 905, phát hành ngày 29 tháng 9 năm 2008, tác giả Đào Nương khi viết về bà Khúc Minh Thơ, bà có một liên hệ hình ảnh của bà Thơ với bà Năm Sa Đéc của đoàn thoại kịch Kim Cương một thời vang bóng: “Tôi gặp bà Khúc Minh Thơ lần đầu khi đi nghe nhạc ở Hoa Thịnh Đốn. Khi trông thấy bà tôi nhớ tới bà Năm Sa Đéc của những ban kịch ở Sài Gòn trước năm 1975. Cũng dáng vẻ xuề xòa, Nam kỳ Lục tỉnh, cũng giọng nói reo vui, bình dân dễ chịu hết sức...

Bà Năm Sa Đéc thì hồi nhỏ tôi đã có vài lần được nhìn thấy bà trên sân khấu từ thập niên 50-60 khi được cha mẹ dẫn đi coi “Đại nhạc hội” ở Sài Gòn ra Trung diễn.

Còn bà Khúc Minh Thơ thì tôi chưa mặt thấy bao giờ. Tuy vậy, tôi cũng đã biết phong phanh về bà từ những năm 1985 - 1986.

Thời gian này anh em tù “cải tạo” đã được thả về một số, mặc dù đang bị công an theo dõi quản chế rất gắt, vẫn thường hay lén lút gặp nhau ở những nơi vắng vẻ để thầm thì trao đổi về những tin đồn “bí mật”.

Những tin mật này được anh em tù kín đáo đón nhận một cách phấn khởi và tràn trề hy vọng.

Đó là những tin liên quan tới chuyện “có một bà tên là Khúc Minh Thơ (?) ở Mỹ, đang tích cực vận động Chính phủ Hoa Kỳ mật đàm, trả giá với tụi Hà Nội để bốc chúng ta sang Mỹ”.

Cũng chỉ là tin đồn mơ hồ, mong manh qua tai, không có gì làm chắc chắn.

Song anh em vẫn bám víu lấy đó như một cái phao hy vọng cuối cùng để gắng gượng sống. Môt cuộc sống nửa người nửa vật dưới chế độ phi nhân cộng sản.

Sống để chờ tia sáng sẽ xuất hiện ở cuối đường hầm.

Bẵng đi một dạo, tin này bỗng chìm lĩm đi trong sự đợi chờ vô vọng như những vòng tròn tan dần trên mặt nước ao. Rồi thình lình lại rộ lên một cách nóng sốt bất ngờ, làm cho anh em tù vui ngây ngất như được uống một ly rượu mạnh.

Tôi còn nhớ một cách rõ ràng là vào cuối năm 1988, anh Nguyễn văn Chắc, Đại Úy, bạn tù, ở cùng xóm, đến nhà tôi với nét mặt hớn hở chưa từng thấy bao giờ kể từ ngày ra trại.

Sau khi lét mắt ngó xung quanh không có ai trong nhà, anh rút trong bụng ra một xấp giấy, loại quay rô nê ô, đưa cho tôi và thầm thì:

- Đây là mẫu đơn do bà Khúc Minh Thơ bí mật chuyển về cho anh em mình điền vào và gởi cho bà ấy để bà có đầy đủ hồ sơ “tù nhân chính trị” chuyển cho Chính phủ Hoa Kỳ cứu xét bốc đi.

- Gởi đi đâu? Bằng cách nào? Không khéo đây là cái bẫy của tụi công an, là “chắc chết”. Tôi hỏi tới trong sự hồi hộp.

- Gởi qua Toà Đại sứ Hoa Kỳ ở Bangkok Thái Lan, gởi lén bằng thơ tay, do mấy thằng phi công Việt cộng chuyển dùm, có ăn tiền. Chắc nhỏ giọng đáp.

- Nhỡ nó lấy tiền của mình xong rồi đem hồ sơ nộp cho công an thì sao đây? Vậy thì càng “chết chắc”. Tôi vừa đùa vừa có ý ngờ.

Anh bạn Chắc thấy tôi vừa lo lắng vừa có thể giỡn chơi được với cái tên của anh cũng phải phì cười. Anh ta cho biết phần anh đã điền xong rồi và chỗ thân tình mới photo copy cho tôi một bổn.

Một liều ba bảy cũng liều, bất quá lại ở tù thêm vài năm nữa. Cùi rồi không sợ lở. Tôi cũng điền đầy đủ hồ sơ và đưa tiền cho anh ta đi gởi dùm.

Mấy tuần lễ trôi qua trong sự lo âu, hồi hộp không biết công an sẽ đến nhà còng tay đi lúc nào.

May quá, thời gian trôi qua một cách yên tĩnh. Mọi việc rồi cũng chìm trong quên lãng. Tôi không tiếc số tiền “gởi chui” đã chi ra mà lại còn mừng thầm vì đã không bị “tó” đi “học tập” như đã lo lắng.

Mãi đến năm 1990 cái tin đi Mỹ tưởng như trong giấc mơ mong manh đã biến thành hiện thực. Nó nằm rành rành trên tờ thông cáo, giấy trắng mực đen, dán trước cửa Văn phòng Xuất Nhập Cảnh thành phố.

Thông cáo đại ý rằng những ai ở tù từ 3 năm trở lên đều được chính thức nộp hồ sơ để được cứu xét đi định cư nước thứ ba.

Thế là cánh cửa Thiên Đường đã mở. Chúng tôi đã được cứu thoát khỏi địa ngục đọa đày của loài quĩ dữ này.

Khỏi cần nhắc lại dài dòng ở đây về cái chuyện làm thủ tục lắm nhiêu khê, cay đắng, khốn nạn với bọn cầm quyền CS tham lam, bần tiện đã làm tiền chúng tôi một cách trắng trợn, trơ trẽn từ địa phương tới thành phố, văn phòng dịch vụ… để cầm cho được tấm hộ chiếu và hoàn tất nhiều giấy tờ vớ vẩn trước khi lên đường.

Tôi chỉ muốn nhắc lại ở đây là tôi, chúng tôi, những người tù cộng sản, đã biết về cái tên của bà Khúc Minh Thơ từ lâu lắm rồi.

Mở dấu ngoặc ở đây, khi vào đối diện với nhân viên Mỹ phỏng vấn ở Sở Ngoại Vụ, tôi đã có dịp thấy lại bộ hồ sơ mà anh bạn Chắc đã đem gởi “chui” dùm tôi qua ngõ Thái Lan, nằm ngay ngắn trên bàn bên cạnh bộ hồ sơ mới làm năm 1990.

Một điều đau buồn xin ghi lại ở đây một giây để tưởng nhớ anh bạn Chắc của tôi, anh đã vĩnh viễn nằm lại trong lòng đất mẹ chỉ cách có mấy tháng trước ngày lên đường sang Mỹ, vì một cơn bạo bệnh mà gia đình anh không có tiền mua thuốc chữa trị. Mặc dầu vợ anh đã kêu người đến gỡ những tấm vĩ nhôm sàn nhà (nhà sàn trên sông) cuối cùng bán để chạy gạo, chạy thuốc cho con, cho chồng.

Cuối cùng thì anh cũng đã nhìn thấy được tia sáng hy vọng ở cuối đường hầm mong chờ nhưng tiếc thay…! Tội nghiệp cho anh, cho gia đình anh!
…
Bây giờ thì tôi đã có dịp được thấy hình ảnh của bà Khúc Minh Thơ, thấy rất nhiều qua những bài báo trên Net hơn một tháng trước ngày “Hội ngộ Tù nhân Chính trị Việt Nam” sẽ được tổ chức ở Dallas/FortWorth Texas.

Buồn thay! Lại là những bài báo phủ nhận công lao của bà một cách thô bạo và tàn nhẫn.

Họ khẳng định một cách lạnh lùng rằng bà Khúc Minh Thơ không có công lao gì trong chương trình H.O.

Họ lập luận rằng không có bà, Chính phủ Mỹ vẫn buộc phải rước họ sang Mỹ gọi là để trả món nợ tháo chạy. Bà Khúc Minh Thơ chỉ là một kẻ tiếm danh.

Vân vân và vân vân.

Đọc xong những bài báo ấy, trong mắt tôi bỗng dưng thấy bà Khúc Minh Thơ giống hình ảnh của bà phiếu mẫu giặt quần áo mướn bên bờ sông thời Hán Sở tranh hùng bên Tàu hơn, đậm nét hơn là hình ảnh bà Năm Sa Đéc của bà Đào Nương so sánh.

Bà phiếu mẫu này đã nhường bát cơm nguội hôm đó của mình để cho Hàn Tín ăn đỡ đói.

Hàn Tín cái thuở hàn vi, đói rách, nghèo đến nỗi gươm đeo không có võ bao, không có giây mang phải lấy giấy chuối mà cột.

Hàn Tín cái thuở phải chịu nhục luồn trôn tên bán thịt heo giữa chợ, ẩn nhẫn để chờ thời cơ, mưu việc lớn, giương danh với đời.

Hàn Tín về sau giúp Lưu Bang tranh bá với Sở Bá Vương Hạng Võ, trở thành một đại tướng quân, oai danh lừng lẫy, lập nhiều chiến công hiển hách, đánh tan quân Sở, đưa Lưu Bang lên ngôi Hán Vương.

Tuy nhiên, những thành tích này, rất ít khi được hậu thế nhắc đến.

Nhưng câu chuyện Hàn Tín mang ơn bà phiếu mẫu, chỉ một bát cơm nguội đạm bạc đỡ lúc đói lòng thuở hàn vi, thất thế, mà lúc thành danh, giàu sang phú quí, quyền uy một cõi, đã đem ngàn vàng đến tạ ơn, lại được người đời sau luôn nhắc đến để làm bài học khuyên con, dạy cháu cách ăn ở cho có đạo lý làm người.

Cái đạo lý Á đông là: Ăn quả nhớ kẻ trồng cây - Uống nước phải nhớ nguồn - Chớ đừng học thói: Qua cầu rút ván – Ăn cháo đái bát, làm kẻ bất nghì, vô ơn bạc nghĩa.

Hàn Tín trở lại bờ sông xưa tìm bà phiếu mẫu để tạ ơn nhưng người ân xưa đã khuất bóng từ lâu. Hàn Tín lập đàn tràng bên bờ sông cúng tế, vái lậy rồi ném ngàn vàng xuống dòng sông cho tròn đạo nghĩa.

Miếng khi đói, gói khi no,
Của tuy tơ tóc nghĩa so nghìn trùng!

Lời ca dao mẹ ru từ lúc nằm nôi vẫn còn vang vọng đâu đây!
…
Tôi chỉ là một giáo viên trường làng, theo lệnh tổng động viên của Quốc gia lúc nguy biến, lên đường nhập ngũ, mặc áo trây di, đi bốt đờ sô, cầm súng cạc bin ra Vùng 2 Chiến thuật, địa đầu giới tuyến, chống giặc cộng xâm lăng chỉ có ba năm, rồi được biệt phái trở về nghề cũ, tiếp tục gõ đầu trẻ cho đến ngày mất nước, nên chẳng có lon lá, hia mão gì đáng kể so với nhiều quan to súng ngắn, mai vàng, mai bạc trên ve áo.

Nhưng chỉ vì hai chữ “biệt phái” mà giặc cộng đã đề cho cái tội làm Xịa (C.I.A) tôi cũng phải trả giá gần sáu năm tù “cải tạo”.

Trong sự khổ nhục tận cùng, căm hờn cao như núi, uất hận sâu như bể ở chốn lao tù giặc cộng, tôi không hề ân hận một chút nào về bổn phận công dân mà mình đã phục vụ cho đất nước.

Tôi chỉ hối tiếc một điều là ngày xưa mình đã quá thơ ngây và thờ ơ trong trách niệm bảo vệ quốc gia đối với bọn giặc cộng đầy nham hiểm, gian manh, tham lam, tàn ác.

Và có lẽ cũng còn có rất nhiều người thơ ngây, khờ khạo, thờ ơ như tôi nên đất nước ngày nay mới ra nông nổi.

Khi bừng con mắt thì đã quá muộn rồi.

Một sự muộn màng trả bằng một giá quá đắt: nước mất, nhà tan, gia đình ly tán, thân tù tội. Ra khỏi chốn lao tù lại tiếp tục làm kiếp trâu cày, ngựa cỡi cho lũ cộng nô.

Thời gian mười năm, kể từ lúc ra khỏi trại tù, một thời gian đen tối hãi hùng như đêm dài vô tận đè nặng trên đầu, tôi đã những tưởng gia đình tôi sẽ phải chịu kiếp nô lệ cho quĩ đỏ suốt kiếp.

Tôi sẽ mãi mãi đạp xe ba gát cho đến lúc kiệt sức rồi ngã gục. Các con tôi, gái thì chạy chợ với rỗ me, hành, chanh, ớt. Con trai tôi thì bán vé số dạo khắp hang cùng, ngõ hẽm.

Nhưng một phép lạ đã cứu thoát gia đình tôi, và hàng trăm ngàn đình khác, hoàn cảnh có lẽ cũng khốn khổ như tôi, thoát cảnh đọa đày.

Phép lạ đó có tên là “Chương trình H.O”.

Và gia đình tôi luôn khắc sâu trong tâm khảm lòng tri ơn người mang lại phép lạ đó đến cho toàn thể tù nhân cộng sản Việt Nam có tên là Khúc Minh Thơ, một phụ nữ kính mến, chúng tôi chưa từng biết mặt.

Lòng hứa lòng, tôi nguyện sẽ có một ngày xin được cầm lấy tay bà để nói lên hai tiếng “cám ơn” từ lâu vẫn ấp ủ trong tim.

Ngày mong ước đó bất ngờ đã đến tại Dallas/Forworth - Texas

Mặc dù sức khoẻ yếu với nhiều bệnh tật của tuổi già, tôi vẫn quyết cố gắng đi dự “Ngày Hội ngộ Tù Nhân Chính Trị” để được làm một thành viên nhỏ nhoi trong số nhiều ngàn người thọ ơn tụ họp về đây.

Hành lý nhẹ tênh chỉ có vài bộ đồ thay đổi, còn lại bao nhiêu là thuốc men, ống chích (insulin) rất lỉnh kỉnh… để uống, chích và phòng hờ…

Trên đường từ miền Đông Bắc xa xôi giá lạnh tới Dallas-FortWorth nắng ấm chan hòa, mấy ngàn dặm đường, suốt hơn bốn giờ bay, tôi miên man nghĩ và tưởng tượng ra cảnh sum vầy của anh em tù chắc sẽ rất vui và cảm động lắm và cũng nghĩ đây là cơ hội cuối cùng mình có thể gặp được người ơn và bạn bè đã một thời khổ nhục bên nhau.

Tôi đã mãn nguyện. Tôi đã được cả hai điều mơ ước trên.

Tôi đã gặp được bà Khúc Minh Thơ bằng xương, bằng thịt tại văn phòng báo Người Việt của ông Thái hóa Lộc ở SàiGòn Mall, trước một ngày khai Hội.

Đúng như bà Đào Nương SàiGòn Nhỏ mô tả, bà Thơ quả là mẫu người đàn bà Nam kỳ Lục tỉnh, giản dị trong chiếc áo dài hơi cũ, lấm tấm những hoa vàng nho nhỏ. Mái tóc thưa trên đầu bà đã bạc màu tro gần hai phần ba, không được chăm chút như những người đàn bà luống tuổi khác, lơ thơ phất phơ tự do theo gió nhẹ.

Cặp kính lão hơi xề xệ trên sóng mũi, khuôn mặt còn đượm vẻ mỏi mệt vì vừa xuống máy bay, tuy vậy bà vẫn cố gắng cười nói với chúng tôi rất chân tình.

Cử chỉ và giọng nói bình dân của bà nghe rất thân quen như chị em trong gia đình đã gây cho tôi một xúc cảm ấm áp, nhẹ nhàng.

Khi tôi tự giới thiệu mình từ miền Đông Bắc Hoa Kỳ vừa mới đến để tham dự “Ngày Hội” ước mong được gặp bà, cầm tay bà để thay mặt gia đình nói tiếng cám ơn, và xin chụp chung một tấm ảnh với bà.

Bà tỏ ra rất vui và bằng lòng hết những điều tôi vừa ngỏ.

Sau đó bà lại chợt buồn ngay và tỏ vẻ âu lo:

- Không biết anh em tù nhân chính trị khắp các nơi sau những bài báo gây hoang mang dư luận có thể về dự đông đủ không?

Tôi trả lời ngay rằng:

- Thưa bà, bà đừng quá lo lắng điều đó. Cá nhân tôi, ban đầu định viết một bức thư cám ơn bà, gửi qua đường bưu điện, vì là sức khoẻ kém, nhưng sau khi đọc những bài báo ấy, tôi quyết định phải có mặt, cùng hòa mình với nhiều ngàn người tù chính trị khác để phản bác những bài báo vô ơn bạc nghĩa ấy bằng sự có mặt của mình. Tôi tin rằng sẽ có rất đông anh em ở khắp nơi trên thế giới sẽ giống như tôi vậy.

Ngày đầu tiên khai hội, sự hiện diện đông đảo của anh em CTNCT khắp các bang của Hoa Kỳ, Pháp, Canada… của gia đình TNCT đã là một minh chứng và phản bác những bài báo phủi ơn, xuyên tạc trước đó một cách minh bạch, hùng hồn.

Những Hàn Tín của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiến chống quân xâm lăng cộng sản đã bị bức tử hai lần, (một lần trong trại tù nhỏ, một lần nữa trong trại tù lớn cả nước), đã tràn về như nước lũ ở thành phố Garland, ngày mồng 3 tháng 10 năm 2008, tại một công viên xinh đẹp nằm bên Hồ Đá Trắng (White RockLake) để tỏ lòng tri ân bà phiếu mẫu Khúc Minh Thơ và những người Mỹ tốt bụng như ông Robert Funseth, phụ tá Thứ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ thời bấy giờ, đã nỗ lực tiếp tay với Hội GĐTNCT, vận động tranh đấu cho tiến trình định cư các cựu TNCT/VNCH thành công, đã làm nên phép lạ “Chương trình H.O”.

Hội trường đã không đủ chổ chứa, anh em tù chính trị hơn cả một ngàn năm trăm người từ bốn phương tụ về, phải đứng, ngồi từng nhóm ngoài sân cỏ, ôm chầm lấy nhau hàn huyên tâm sự trong nỗi xúc động, nụ cười lẫn nước mắt, mừng vui khôn xiết.

Ngày đầu tiên, anh em đồng tù sau nhiều năm xa cách tản lạc, nay họp mặt nhau thật đúng nghĩa với chủ đề “Trở về”.

Thực là một ngày hội lớn rộn rã tràn ngập tiếng nói, tiếng cười, tiếng gọi nhau ơi ới, tiếng hò hét ngạc nhiên mừng rỡ lẫn lộn những tiếng nấc nghẹn ngào, cả những giọt nước mắt thân thương lăn trên những khuôn mặt nhăn nheo, những mái đầu pha sương hay trắng toát, khi nhìn ra nhau sau gần một phần ba thế kỷ của những bạn tù.

Ý nghĩa hơn nữa, buổi họp mặt này do Hội đoàn Quảng Đà đứng ra tổ chức với tinh thần “Quần chúng nghĩ gì về người Tù nhân Chính trị Việt Nam”. Các hội viên Hội Quảng Đà đã tiếp đãi chu đáo, nồng nhiệt từ lúc hướng dẫn chỗ đậu xe cho đến cách chiêu đãi các món ăn ngon thơm, của xứ Quảng, đặc biệt món Cao Lầu, cùng với một chương trình sinh hoạt văn nghệ phong phú, làm ấm lòng khách phương xa.

Qua ngày 04/10/08 số Tù nhân Chính trị đổ dồn về càng lúc càng đông.

Đêm “Tâm Giao” ở Hội trường Giáo xứ Thánh Phêrô do Gia đình Mỹ Việt phụ trách và buổi sáng “Tạ ơn Người, Tạ Ơn Đời”, buổi tối chương trình “Một hình ảnh ba cuộc đời” đều diễn ra ở Special Events Center, số người có lẽ lên đến hơn bốn ngàn.

Tất cả các tiết mục từ chào cờ, tế lễ, vinh danh, văn nghệ… diễn ra trong suốt những buổi lễ đều do anh em cựu TNCT và con em trong gia đình TNCT đảm trách.

Đặc biệt là sự đóng góp của Ban Tù ca Xuân Điềm, nhạc sĩ Phan văn Hưng, nhạc sĩ Huỳnh Công Ánh…và các ca sĩ của Trung tâm Asia như Thế Sơn, Băng Tâm, Trần thái Hòa, … cũng đều là con em của các cựu tù nhân chính trị.

Còn có cả sự đóng góp của các con em Gia đình Việt Mỹ như Randy, Vân Anh.

Tuy sân khấu không có ánh sáng, đèn đuốc màu mè, dàn dựng hoa lá cành như những buổi ca nhạc thuần túy của các trung tâm ca nhạc nhưng các buổi lễ đều diễn ra trong bầu không khí rất trang trọng và cảm động.

Có nhiều người ngồi dưới khán đài nghe đọc diễn văn tri ân, nghe văn tế vong hồn tử sĩ cùng những người bỏ xác trong lao tù, nghe lời ca tiếng hát xót thương cho những người lính chiến VNCH đã hy sinh bỏ mình vì đất nước, đã cầm không được dòng nước mắt tuôn rơi…

Hiện diện trong buổi lễ có rất nhiều quan khách Việt Mỹ tham dự.

Phía Hoa Kỳ có các sĩ quan cựu chiến binh bạn một thời chiến đấu của các ông Funseth và McCain ngồi hàng ghế danh dự.

Ông Robert Funseth, vì tuổi tác cao, không thể đến được ông đã gửi đến một thông điệp thăm hỏi thật chân tình đến toàn thể cựu TNCTVN, đồng thời nhắc lại những nổ lực, đóng góp tích cực của bà Khúc Minh Thơ và Hội GĐTNCT đã chung sức với ông để mang đến sự thành công của chương trình H.O.

Đại diện của TNS John McCain cũng có mặt trong buổi lễ trang trọng đầy ý nghĩa này cùng nhiều quan khách đại diện chính quyền, ông thị trưởng thành phố, quị vị dân cử.

Về phía Việt Nam, ngồi bên cạnh bà Khúc Minh Thơ có mặt Khoa học gia Dương Nguyệt Ánh, Nữ tài tử Kiều Chinh, GS Nguyễn ngọc Bích, dân biểu Hubert Võ và… Thiếu tướng Đỗ Kế Giai già yếu, mỗi bước đi phải có người nâng đỡ …

Còn phải kể thêm sự đóng góp của hàng trăm thiện nguyện viên rất nhiệt tình ở địa phương, Hội H.O Dallas/FortWorth, Hội Quảng Đà, Hội Cao niên, Hội Cựu Sinh viên CTCT, các Hội Cựu Nữ sinh Gia Long và Lê văn Duyệt, Gia đình Việt Mỹ, Hội VoviNam cũng như Hiệp hội Truyền thông báo chí.

Tất cả đều hăng hái, vui vẻ, tích cực hoạt động hết mình phục vụ, giúp cho bà Khúc Minh Thơ và Hội GĐCTNCT, Ban tổ chức, để các buổi lễ ngày Hội được diễn ra tốt đẹp tròn vẹn.

Tôi nghĩ, có lẽ tâm trạng họ cũng như tôi, đây là dịp duy nhất cho họ thể hiện sự đền ơn đáp nghĩa lại món nợ ân tình người ơn đã trao cho mà không hề đòi lại.

Suốt hai ngày Thứ Sáu, Thứ bảy 3-4/10/08, từ sáng đến tối, từ công viên Hồ Đá Trắng đến Hội trường Giáo xứ Thánh Phêrô, đến Đại hí viện Special Events Center, bà Khúc Minh Thơ không một lúc nào được ngơi nghĩ.

Lúc thì đứng chụp hình chung theo lời mời của các nhóm tù từng trại từ Bắc tới Nam. Lúc thì chạy tới chạy lui từ trước ra sau sân khấu để động viên các anh chị em trong Ban Tổ chức làm sao cho buổi lễ được chu toàn.

Bận rộn. Luôn bận rộn. Nhưng bà Khúc Minh Thơ vẫn vui vẻ ráng sức già lo toan mọi việc, cố không tỏ ra ngoài mặt sự mỏi mệt. Bà tâm sự:

- Đây là dịp duy nhất cũng là dịp cuối cùng để chúng ta, những người tù chính trị được nói lên sự biết ơn đối với những ân nhân đã hết lòng giúp chúng ta thoát khỏi địa ngục cộng sản. Dù có trở ngại, khó khăn, mệt nhọc đến mấy tôi cũng cố gắng. Việc xong rồi ai muốn phê phán, đánh giá ra sao thì tôi cũng đành…

Tôi bâng khuâng tự hỏi:

- Không biết bà Khúc Minh Thơ bôn ba lận đận nay chổ này, mai chổ kia chạy vạy, van xin, năn nỉ, khóc khóc, cầu cứu hết giới chức này, quan chức nọ suốt hai mươi năm trời với chính quyền Mỹ để cầu xin họ ra tay cứu vớt anh em tù “cải tạo”đang khổ nhục trong vòng lao lý thì bà đã được gì cho cá nhân bà? Tiền tài ư? Danh vọng, chức tước ư? Thiển nghĩ, ngoài cái chức Hội trưởng này nọ hữu danh vô thực kia ra, bà chẳng có gì ngoài mái tóc bạc màu, cái lưng sắp còng xuống với thời gian và hai bàn tay trắng. Nếu không muốn nói thêm là còn “mang tiếng chịu lời” một cách phủ phàng nữa.

Sáng ngày 05/10/08, Chủ Nhật, trước giờ chia tay, tùy theo tôn giáo, các cựu TNCT sẽ đến Nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu giúp hoặc Chùa Đạo Quang để làm lễ cầu nguyện cho những người TNCTVN đã vĩnh viễn ra đi.

Trong đêm chủ đề “Tạ ơn Người, Tạ ơn đời”, MC Nam Lộc nhắc lại câu nói của nhà thơ Hà Thượng Nhân diễn tả thành phần cựu Tù Nhân Chính trị Việt Nam là “Những người tử tế” rằng “… anh em H.O trước khi bị bắt đi tù, đều là những người ‘tử tế’. Và sau bao nhiêu năm tháng bị “cải tạo”, họ vẫn là người ‘tử tế’, Cộng sản đã không thuyết phục hay thay đổi được ý thức và con người của họ để trở thành những kẻ xấu như chúng”.

Cá nhân tôi, trước hay sau gì cũng không dám nhận mình là một trong số người ‘tử tế’ như nhà thơ Hà Thượng Nhân đã ưu ái phong tặng cho cả một tập thể H.O, khi đứng trước gương, soi mình, tự thấy rất hổ thẹn vì:

- Tài đức thua xa Hàn Tín cả triệu lần, vì đã không làm nên tích sự gì.

- Chữ nhẫn trong tù cũng không bằng Hàn Tín lúc luồn trôn giữa chợ.

- Tài không, đức không mà lại thọ ơn to hơn triệu lần Hàn Tín.

- Khi được an cư lạc nghiệp nơi đất tự do lại chưa một lần tạ ơn người ân như Hàn Tín đã ném ngàn vàng bên bờ sông để tế lễ trả ơn bà phiếu mẫu.

Bởi vậy, nếu không có chương trình H.O, gia đình tôi chắc chắn suốt đời “phải sống cùng lũ thú” như ông Vũ Cao Quận, một “lão thành cách mạng” của cái đảng Cộng sản phi nhân, đã cay đắng kêu lên trong truyệt vọng.

Và hai chữ H.O sẽ biến thành hai chữ “Hỡi Ôi!” đau thương đối với đời tôi và cả tương lai con cái tôi nữa.

Ngày hôm nay, con cái tôi và của cả hàng vạn gia đình H.O khác nữa, đã thành công, cũng có người đã thành danh trên quê người. Vợ chồng tôi cũng được thong dong an hưởng tuổi già mà không một điều lo lắng trong tương lai.

Thử hỏi thành quả đó, trước hết, đã nhờ ai bắt cho nhịp cầu để bước qua sông?

Tôi chỉ hơn được Hàn Tín một điều duy nhất là sự may mắn.

Điều may đó là bà phiếu mẫu Khúc Minh Thơ của tôi hãy còn sống khỏe trên đời. Tôi còn có cơ hội bắt chước đôi phần cái gương sáng ngời về đạo lý làm người của Hàn Tín mà làm theo trong muôn một.

Tôi không có ngàn vàng như Hàn Tín để trả ơn.

Như nhà thơ Hà Thượng Nhân đã nói “Cộng sản đã không thuyết phục hay thay đổi được con người của họ để trở thành những kẻ xấu như chúng”.

Cộng sản đã không khuất phục được tôi và tôi chỉ còn có tấm lòng và ý chí để được trân trọng nói lên hai tiếng “Cám ơn”.

Xin bà Phiếu mẫu Khúc Minh Thơ nhận nơi đây lòng biết ơn của tôi và gia đình tôi.
…
Hỡi những vị sĩ quan lãnh đạo “đáng kính” ngày xưa của chúng tôi ơi!

Các Ngài bây giờ đang ở đâu? Các Ngài hồi ấy rất giỏi trong việc đấu đá với nhau để giành chức, giành quyền chỉ huy, lãnh đạo đất nước.

Các Ngài lúc nào cũng bảnh chọe với áo mũ cân đai, mai bạc, sao vàng lấp lánh trên cổ áo, huy chương Bảo quốc An dân đeo đỏ ngực, ba toong cầm tay uy nghi rất ư là bậc phụ mẫu chi dân.

Nhưng…

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 trong lúc cả miền Nam khốn khổ, khốn nạn với giặc cộng thì các Ngài đã cao bay xa chạy trước, tìm đến chốn an toàn cho riêng các Ngài và gia đình các Ngài.

Từ bấy đến nay, có khi nào các Ngài bỏ ra một chút thảnh thơi để nghĩ về những người lính dưới quyền của các Ngài đang chịu khổ nạn không?

Và các Ngài đã có một cử chỉ nào, hành động nào giúp cho cái đám lính xưa kia đã từng lăn lưng nơi hòn tên mũi đạn để bảo vệ cho các Ngài ngồi yên trong trướng?

Hay là các Ngài chỉ có mỗi một việc lập Hội này, Hội nọ để có cớ gặp nhau để “bốc phét”, “nổ hơn tạc đạn” về một thời vang bóng rồi mặc áo thụng vái nhau, rồi tự động thăng lon, thăng chức cho nhau để “tự sướng”.

Cuối cùng thì ăn nhậu rồi nhảy đầm! Không cuộc hội nào mà không có cái màn nhảy đầm. Làm như không có nhảy đầm thì cái tên Hội không được xứng danh và vẻ vang, và buổi Hội không được đầy đủ ý nghĩa.

Cái màn nhảy đầm trong các Câu lạc bộ sĩ quan ngày xưa đã là một trong những mầm mống ung thối làm cho miền Nam sụp đổ.

Có phải thế không?

Ngày “Hội ngộ cựu Tù Nhân Chính trị” chỉ có nghi lễ vinh danh, diễn văn cảm tạ với các ân nhân và tưởng nhớ đến các chiến sĩ đã bỏ xác trong tù.

Không có ăn nhậu và nhảy đầm.

Có phải vì vậy mà vắng bóng các Ngài?

Hay là các Ngài cho là may mắn hơn chúng tôi, không phải là những cựu tù nhân, nên không việc gì phải có mặt?

Hay các Ngài đã ngại ngùng, hổ thẹn trước một anh thư tuổi cao sức nhược, tay yếu chân mềm, đã kiên tâm trì chí làm được một công việc có ý nghĩa cao cả, thay vì đó là trách nhiệm và bổn phận của các Ngài!

Vậy các Ngài cũng nên bỏ ra ít thời giờ để xem, để đọc các bản tin của hệ thống truyền thông Mỹ Việt tường thuật về ba ngày lễ này để có đôi điều suy ngẫm hay ho.

Nếu không thì… chán cho các Ngài quá!

Nguyễn Thanh Ty (13/10/08)

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Quốc hội châu Âu đòi hỏi Việt Nam thực hiện nhân quyền
Tác giả: RFA News



Quốc hội châu Âu ra nghị quyết kêu gọi EU tạo áp lực để Việt Nam phải thực hiện việc tôn trọng nhân quyền và những quyền tự do căn bản khác, trước khi ký kết Hiệp ước hợp tác với Việt Nam.

Nghị quyết được thông qua tại phiên họp của Quốc hội châu Âu ở Strasbourg hôm thứ tư, với 479 phiếu thuận trên 21 phiếu chống.

Nghị quyết kêu gọi Uỷ ban và Hội đồng châu Âu đòi hỏi Việt Nam thực hiện nhân quyền theo những thoả thuận hiện hành. Châu Âu cần yêu cầu Việt Nam chấm dứt ngay sự vi phạm có hệ thống những quyền dân chủ và nhân quyền, trước khi ký kết những hiệp ước mới.

Nghị quyết của Quốc hội châu Âu tố cáo sự bất dung tôn giáo của nhà cầm quyền Việt Nam, kêu gọi Hà Nội lập tức trả tự do cho tất cả những người bị giam tù, cầm giữ vì bày tỏ ý kiến chính trị và tôn giáo một cách ôn hoà.

Số người này bao gồm hơn 300 người Thượng theo đạo Tin lành, cũng như những người Khmer Krom, tu sĩ Phật giáo, những người Công giáo, Cao đài, Hòa Hảo và những người hoạt động chính trị, dân oan khiếu kiện về nhà đất cùng với các lãnh đạo công đoàn.

Nghị quyết cũng kêu gọi hành pháp châu Âu đề nghị Việt Nam xét lại đạo luật buộc những người bất đồng ý kiến về chính trị và tôn giáo vào tội hình sự, chấm dứt việc kiểm duyệt và kềm chế báo chí trong nước, kể cả internet và blog cá nhân.

Quốc hội châu Âu còn lên án Việt Nam về việc giam giữ những ký giả viết bài chống tham nhũng, việc công an Hà Nội bắt giữ và hành hung ký giả Ben Stocking của Mỹ.

RFA News

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Truy bức người trí thức Công giáo chống bất công xã hội.
Tác giả: Hoàng Nam



Ông Cao Thăng Ca, một cựu giảng viên đại học, và một luật gia, là một người Công Giáo mộ đạo, thuộc Giáo xứ Thủ Thiêm Quận 2, Hiện ngụ tại khu phố I, đường Lương Định Của, Phường Bình Khánh , Quận 2, Sài Gòn, nhà ông bị chính quyền phường Bình Khánh đập phá cưỡng chế mấy lần, nên Ông cảm thông nỗi đau của dân oan quận 2 khi nhìn thấy cảnh chính quyền Bình Khánh quận 2 thật tàn nhẫn với nhân dân ủi sập nhà gia đình liệt sĩ trong ngày cận tết ( Bà Năm), khiến bàn thờ liệt sĩ khộng hương khói trong ngày xuân, tàn ác hơn thế nữa chính quyền phường Bình Khánh và quận 2 cưởng chế tàn phá nhà của một phụ nữ đi nằm viện sinh con khi về nhà không còn chổ để ở, khiến người phụ nữ ôm con nhỏ mới sinh khóc lóc thảm thiết trước cảnh nhà tan cửa nát không còn chổ nương thân ! khiến ai cũng nguyền rủa cho rằng bọn bất lương nhất từ xưa cũng không nở nào ? Bọn chúng không chừa ngay cả nhà cửa của những cựu chiến binh đặc công nghèo khó chăn nuôi tích cóp từng đồng để tạo nơi ăn chốn ở cho vợ con!



Điều nầy khiến ông nhận làm đại diện cho dân ra trước công luận bảo vệ người dân oan trong các phiên tòa khiếu nại của dân. Và cũng chính vì việc làm cao thượng nầy mà ông luôn bị chính quyền phường Bình Khánh từ năm 2005 đến nay xếp ông vào danh sách đen để bôi nhọ và bị công an liên tục mời thẩm vấn nhằm uy hiếp tinh thần đòi hỏi công bằng cho nhân dân quận 2 ( qui hoạch tại quận 2 ảnh hưởng 15.000 gia đình phài bị giải tỏa mà cho đến nay đả 12 năm công bố qui hoạch mà nhân dân chưa ai biết công ty nào được nhận những lô đất vàng cực kỳ giá trị của nhân dân quận 2.)



Việc Chính quyền Thành phố và quận 2, vi phạm pháp luật đất đai đặc biệt nghiêm trọng trong việc qui hoạch khu đô thị mới Thủ Thiêm, gây thiệt hại quyền lợi của nhân dân rất lớn, xẻ chia 160 héc ta đất tái định cư cho hơn 42 công ty phân lô bán nền , trong khi đó chính quyền dùng bạo lực khủng bố dân lấy nhà lấy đất mà chưa lo tái định cư cho dân , tự ý qui định giá đền bù rẻ mạt, không giải thích cho dân 160 héc ta đất của dân bây giờ ra sao mà cả nước ai ai cũng biết nó biến mất cách mờ ám!!! tạo ra nỗi bất bình lớn trong nhân dân và cán bộ cách mạng lão thành tại quận 2. Việc nầy kéo dài đã lâu mà chưa một cơ quan trách nhiệm nào làm sáng tỏ dù rằng báo chí và cử tri quận 2 đã lên tiếng quyết liệt . Đây là một vụ án lớn rất nghiêm trọng song không cơ quan công an nào điều tra làm sáng tỏ cho dân? Trái lại những người lên tiếng đòi hỏi quyền lợi cho nhân dân thì bị Công An Quận 2 liên tục gửi giấy mời thẩm vấn làm nhụt ý chí đấu tranh vì dân vì nước như trường hợp của Ông Cao Thăng Ca ( một người mà về khu phố Lương Định Của chợ An Khánh hỏi thăm nhân dân ai ai cũng quí mến khâm phục đến tính thần trách nhiệm rất cao của ông với đất nước và dân nghèo quận 2.)



Qua vụ việc này, Kính mong mọi người lên tiếng cho người dân oan quận 2, trước thủ đoạn tinh vi của kẻ nhân danh qui hoạch để trục lợi bất chánh, bất chấp pháp luật , bất chấp luân thường đạo lý dùng luật pháp, dùng bạo lực, khủng bố, trù dập người dân nào dám lên tiếng tố cáo sự tham tàn của chúng.




Quận 2 ngày 20/10/2008.

Hoàng Nam

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện họp báo giải tỏa chuyện tập thơ Vô Đề

Image
Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện bước vào phòng họp báo. (Hình: Ðỗ Dzũng/Người Việt)

Image
Nhà báo Hoàng Dược Thảo phát biểu tại cuộc họp báo. (Hình: Ðỗ Dzũng/Người Việt)

Image
Bà Hoàng Dược Thảo (giữa) được hai người quen hộ tống ra về. (Hình: Ðỗ Dzũng/Người Việt)

Image
Nhiều người không vào được phòng họp báo trên lầu, phải đứng dưới nhà nghe phát biểu qua hai cái loa lớn. (Hình: Ðỗ Dzũng/Người Việt)




Nguyên Huy/Người Việt


GARDEN GROVE, California (NV).- Khoảng 500 đồng hương Nam California đã đến tham dự cuộc họp báo của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện tại khách sạn Ramada Plaza, Garden Grove, vào chiều Thứ Bảy, 25 Tháng Mười, vừa qua.

Cuộc họp báo theo những thông báo trên báo chí truyền thông là nhằm để giải tỏa dư luận xôn xao về tư cách tác giả tập thơ “Vô Ðề” còn gọi là “Hoa Ðịa Ngục”, “Tiếng Vọng Từ Ðáy Vực” và một số tên gọi khác nữa của tác giả lúc đầu ghi là Vô Danh.

Phải mất nhiều phút trước khi khai mạc để ổn định được trật tự vì số người tham dự quá đông so với sức chứa của phòng khánh tiết và vì những lúng túng trong việc tổ chức.

Mở đầu, nhà văn Trần Phong Vũ trong ban tổ chức phát biểu rằng: “Chúng ta đến đây không phải để tranh luận, chỉ mong có thời gian tạo một sự thông cảm với nhau. Buổi họp báo sẽ không có phần trao đổi với quần chúng mà chỉ có giới truyền thông báo chí đặc biệt là nhật báo Saigon Nhỏ sẽ có 20 phút để trình bày.”

Tiếp đó, thay vì nhà thơ Nguyễn Chí Thiện nói trước, thì ban tổ chức lại mời bà Hoàng Dược Thảo, chủ nhiệm kiêm chủ bút nhật báo Saigon Nhỏ, lên nói trước nên một số người tham dự đã không đồng ý và yêu cầu ông Nguyễn Chí Thiện nói trước cho đúng thủ tục cuộc họp báo của ông.

Sau khi ngỏ lời cảm ơn mọi người đã đến tham dự ngoài sự dự trù, ông Thiện đã đề cập đến sự im lặng của ông lâu nay trước những bài viết của tờ báo Vạn Thắng. Nhà thơ đọc lên một số bài viết miệt thị cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu của tờ báo này để nói rằng những bài viết về ông chẳng đáng phải quan tâm. Nay thì báo Saigon Nhỏ cũng “bịa đặt nhiều chuyện” và “thách thức” đã khiến ông phải quan tâm.

Tiếp đó nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đã mời hai người có liên quan đến những bài viết trên Saigon Nhỏ là cựu Trung Tá QLVNCH Nguyễn Công Giân (anh ruột của ông Thiện) và bà Jean Libby lên cải chính những điều báo Saigon Nhỏ nêu ra trước đây. Trung Tá Giân nhấn mạnh nhiều lần là trong suốt thời gian từ 1954 đến 1975 ông là sĩ quan trong QLVNCH làm sao ông có thể ra được ngoài Bắc như báo Saigon Nhỏ viết. Còn bà Libby thì xác nhận không hề lấy bài thơ của ông Thiện ra khỏi website vietnamlit.org.

Tiếp lời hai nhân chứng này, nhà thơ Nguyễn Chí Thiện cho rằng “không muốn tranh luận mà chỉ thấy cần thiết phải giải thích vì chỉ là sự vu khống ác ý”.

Tuy nhiên, vẫn theo nhà thơ thì những vu khống này ông không bỏ qua được vì sự an ninh của ông và những người có liên quan, nên ông sẽ đưa ra trước pháp luật sự việc này.

Nói về việc thử nghiệm chữ viết thì nhà thơ Nguyễn Chí Thiện cho rằng thư giảo nghiệm của bà Hoàng Dược Thảo “chỉ là sự lừa bịp” và ông đã đề nghị “cả hai phía cùng bỏ ra $200,000 đặt cọc giảo nghiệm chữ ký của ông. Bên nào thua sẽ mất số tiền này.”

Ngay sau đó, bà Hoàng Dược Thảo được mời phát biểu. Bà cho rằng “là một cơ quan ngôn luận bà không muốn dính vào chuyện an ninh, chính trị, tình báo mà vấn đề đặt ra là ông Nguyễn Chí Thiện có phải là tác giả tập thơ Vô Ðề hay không”.

Về những cải chính của những chứng nhân có mặt, bà Hoàng Dược Thảo cho rằng “tôi nghe như vậy và sẵn sàng để diễn đàn cho mọi người...” và bà cũng cho rằng “là một nhà báo chúng tôi có quyền loan tin, đặt vấn đề về những gì mà chúng tôi thắc mắc”. Lúc này hội trường bỗng khá ồn ào, có nhiều tiếng phản đối lời phát biểu của bà Hoàng Dược Thảo.

Ðến đây thì ông Nguyễn Chí Thiện nhắc lại việc thách đố của ông với số tiền đặt cọc $200,000 cho mỗi bên thì bà Hoàng Dược Thảo nói rằng “chúng tôi làm văn hóa, chúng tôi không có chấp nhận chuyện đó”.

Sau đó, bà Hoàng Dược Thảo có yêu cầu ông Nguyễn Chí Thiện viết tuồng chữ của mình bằng tiếng Pháp trên một tờ giấy.

Ông Thiện đáp: “Tiếng Pháp của tôi không bằng của bà vì bà học trường Tây.” Sau đó, ông Thiện nói một tràng tiếng Pháp với bà Thảo.

Lúc này hội trường lại nổi lên nhiều tiếng la trong khi trên diễn đàn ban tổ chức và ông Nguyễn Chí Thiện đã thông báo là bà Hoàng Dược Thảo đã sử dụng hết nửa thời gian quy định trên diễn đàn. Và thấy chỉ còn được nói có 10 phút để đặt vấn đề ông Nguyễn Chí Thiện có phải thật sự là tác giả tập thơ Vô Ðề hay không nên bà Hoàng Dược Thảo đã bỏ ra về trong tiếng la ó của một số người phản đối bà.

Những phút sau đó, một nửa số người trong hội trường đã ra cả ngoài tiếp tục bàn luận. Trong khi đó trong hội trường cuộc họp báo của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện vẫn tiếp tục. Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đã trả lời nhiều câu hỏi của cử tọa để làm sáng tỏ nhiều vấn đề mà nhật báo Saigon Nhỏ đã nêu lên trong thời gian qua và nhà thơ cũng cho biết nhiều nhân chứng khác nữa đã xác định về nhân thân của ông và về tập thơ “Vô Ðề”.

Sau cuộc họp báo, nhà thơ Nguyễn Chí Thiện có phân phát cho những người tham dự một số tài liệu do một chuyên viên giảo nghiệm chữ viết xác nhận tuồng chữ của ông.

Ngày hôm sau, Chủ Nhật, 26 Tháng Mười, nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đã đưa cho nhật báo Người Việt một số tài liệu tương tự. (N.H.)

Post Reply