Bình Luận Thời Sự
Giành quyền kiểm soát Thượng Viện Mỹ
Ngô Nhân Dụng
Năm nay dân Mỹ sẽ bầu lại 435 vị dân biểu Hạ Viện và 35 nghị sĩ ở Thượng Viện. Phòng Thương Mại Hoa Kỳ (U.S. Chamber of Commerce) đã bỏ ra 35 triệu Mỹ kim vận động giúp một số ứng cử viên nghị sĩ, phần lớn thuộc đảng Cộng Hòa, chỉ có một người thuộc đảng Dân Chủ. Họ chi 3.3 triệu đô la quảng cáo truyền hình ở tiểu bang New Hampshire, với dân số hơn một triệu người, yểm trợ nghị sĩ đương nhiệm John Sununu. Ông đang bị ứng cử viên đảng Dân Chủ Jeanne Shaheen qua mặt với tỷ số 48% - 42%. Ở tiểu bang North Carolina Nghị Sĩ Elizabeth Dole đang đuổi theo sát nút đối thủ Kay Hagen, với tỷ số 45%-46%. Phòng Thương Mại nước Mỹ đã chi 1.5 triệu đô la ở tiểu bang này để hỗ trợ bà Dole giữ cái ghế nghị sĩ cho đảng Cộng Hòa. Nghị Sĩ Mitch McConnel ở tiểu bang Kentucky đang dẫn trước đối thủ Bruce Lunsford thuộc đảng Dân Chủ với tỷ số 48-44; nhưng Phòng Thương Mại cũng chi một triệu đô la yểm trợ cho ông cho chắc ăn!
Ði ngược lại với những cuộc vận động của Phòng Thương Mại đại diện giới chủ nhân, là các công đoàn ở Mỹ; họ cũng bỏ ra 6 triệu đô la từ đầu Tháng Chín để ủng hộ nhiều ứng cử viên nghị sĩ thuộc đảng Dân Chủ, tại các tiểu bang được coi là gay go, sát nút. Nghiệp Ðoàn Quốc Tế Các Nhân Viên Ngành Dịch Vụ (SEIU) đã chi một triệu đô la ở tiểu bang New Hampshire và Oregon. Oregon là nơi Dân Biểu Tiểu Bang Jeff Merkley (Dân Chủ) đang vượt qua nghị sĩ đương nhiệm Gorden Smith, đảng Cộng Hòa, với tỷ số sít sao 36% và 35% với 23% cử tri chưa quyết định. Tại 2 tiểu bang này Nghiệp Ðoàn SEIU đều chỉ trích các nghị sĩ Cộng Hòa đương nhiệm là những người luôn luôn ủng hộ các chính sách của Tổng Thống Bush.
Nói chung, các cơ sở kinh doanh ở Mỹ đều tham dự vào các cuộc vận động tranh cử. Họ thường ủng hộ trực tiếp các ứng cử viên theo chủ trương tự do kinh doanh, chống lại những người muốn đặt thêm luật lệ gò bó việc kinh doanh, thương mại, bất cứ thuộc đảng nào. Ủy Ban Bầu Cử Quốc Gia cho biết các ứng cử viên đảng Dân Chủ đã nhận được 130 triệu đô la, và đảng Cộng Hòa được 133 triệu đô la của các ủy ban chính trị từ các xí nghiệp. Ngược lại, các nghiệp đoàn thì thường ủng hộ đảng Dân Chủ, và trong mùa tranh cử năm nay, trước Tháng Mười họ đã chi 300 triệu đô la. Phòng Thương Mại Hoa Kỳ đang tổ chức cuộc phản công. Ðây là một thí dụ cho thấy vai trò quan trọng của những “nhóm áp lực,” và các cuộc “vận động hành lang” (lobby) trong đời sống chính trị nước Mỹ.
Thế giới đang chú ý tới cuộc chạy đua giữa hai ứng cử viên tổng thống John McCain và Barack Obama. Nhưng có những cuộc tranh cử quan trọng không kém, để giành các ghế đại biểu quốc hội, đặc biệt là các ghế nghị sĩ Thượng Viện. Tại Hạ Viện hiện nay đảng Dân Chủ chiếm đa số 235-199, và họ đang hy vọng sẽ thêm được từ 25 ghế dân biểu nữa sau ngày 4 Tháng Mười Một. Nhiều người đang lo sau ngày đó đảng Dân Chủ sẽ chiếm được 60 ghế nghị sĩ, và sẽ kiểm soát Thượng Viện một cách tuyệt đối!
Con số 60 này đáng chú ý vì, theo truyền thống Nghị Viện Anh Quốc từ xưa, các nghị sĩ tại Thượng Viện Mỹ có quyền “nói liên miên không nghỉ” (filibuster). Các nghị sĩ đã dùng quyền này để ngăn cản không cho chủ tọa đưa các vấn đề ra biểu quyết, nếu họ biết sẽ thua. Chủ tọa Thượng Viện chỉ có thể chấm dứt một cuộc thảo luận nếu có 60 trong số 100 nghị sĩ đồng ý chấm dứt. Cho nên khi một dự luật được đưa ra ở Thượng Viện mà bị hơn 40 nghị sĩ chống đối thì sẽ không thể nào đem biểu quyết được.
Nếu đảng Dân Chủ chiếm được 60 ghế nghị sĩ sau ngày 4 Tháng Mười Một thì họ sẽ ở thế rất mạnh, nhất là nếu Nghị Sĩ Barack Obama đắc cử tổng thống. Ðây là một điều không những đảng Cộng Hòa lo mà những người Mỹ muốn giữ thế cân bằng, độc lập giữa hai ngành Hành Pháp và Lập Pháp cũng lo lắng.
Hiện nay đảng Dân Chủ kiểm soát 51 phiếu ở Thượng Viện (trong đó có một nghị sĩ độc lập). Nếu họ thêm 9 được nghị sĩ mới nữa thì họ chiếm đa số tuyệt đối 60/100. Ðiều lo ngại của đảng Cộng Hòa là năm nay trong số các ghế nghị sĩ phải bầu lại thì số nghị sĩ Cộng Hòa nhiều hơn Dân Chủ; hiện nay có 12 ghế đang tranh cử gay go, lo có thể bị mất nếu người dân muốn tỏ ý chống lại vị tổng thống Cộng Hòa đang tại chức. Nếu đảng Dân Chủ kiểm soát cả chính phủ và quốc hội thì họ sẽ thi hành nhiều chính sách có thể bất lợi cho giới kinh doanh. Chính vì vậy, theo nhật báo Wall Street Journal, Phòng Thương Mại Mỹ đã nhập cuộc để bảo vệ những nghị sĩ có khuynh hướng thân thiện với giới kinh doanh; trong đó đại đa số thuộc đảng Cộng Hòa, trừ bà Nghị Sĩ Mary Landrieu ở Louisiana.
Một mối lo của giới chủ nhân xí nghiệp ở Mỹ là nếu đảng chiếm được 60 ghế ở Thượng Viện thì họ sẽ có thể sẽ thông qua dễ dàng một dự luật được các công đoàn ủng hộ. Dự luật Nhân Viên Tự Do Lựa Chọn đã được Hạ Viện thông qua năm 2007, nhưng khi đưa lên Thượng Viện thì bị các nghị sĩ Cộng Hòa ngăn lại bằng thủ tục filibuster, thay phiên nhau nói liên miên không nghỉ khiến ban chủ tọa không thể đề nghị biểu quyết. Nếu đảng Dân Chủ chiếm được 60 ghế nghị sĩ thì không ai ngăn cản được việc thông qua ở Thượng Viện. Nếu vị tổng thống mới cũng thuộc đảng Dân Chủ thì chắc ông ta sẽ ký để ban hành; nếu ông là người đảng Cộng Hòa thì sẽ phủ quyết nhưng có thể bị 2 phần 3 Quốc Hội bác bỏ!
Dự luật trên làm giới kinh doanh lo lắng vì cho phép các công đoàn có thể tổ chức giới công nhân ở các xí nghiệp bằng cách mời công nhân ký giấy ủy quyền cho họ tổ chức nghiệp đoàn, chứ không cần phải qua một cuộc bỏ phiếu kín của các công nhân. Với điều kiện dễ dàng như thế, các công đoàn dễ tạo áp lực trên các cá nhân người lao động, và các công đoàn sẽ phát triển mạnh mẽ. Tất nhiên, hầu hết các chủ nhân và ban giám đốc các xí nghiệp đều không muốn các công đoàn mạnh hơn. Chính vì vậy, Phòng Thương Mại Hoa Kỳ đã bắt đầu vận động giới kinh doanh từ đầu năm 2008 để kêu gọi thống nhất hành động trong việc ngăn cản không cho đảng Dân Chủ chiếm được 60 ghế ở Thượng Viện. Nếu không, dự luật trên sẽ có nhiều triển vọng biến thành luật! Nhiều công ty lớn nhỏ đã góp vào quỹ vận động cho hàng ngàn chi nhánh của Phòng Thương Mại Mỹ ở các thành phố, các tiểu bang.
Vì Phòng Thương Mại là một tổ chức phí chính trị và có quy chế cho phép những người đóng góp cho họ được trừ thuế, cho nên họ không được phép vận động trực tiếp, đích dnah cho các ứng cử viên. Nhưng họ có quyền chạy những quảng cáo chỉ trích các chính sách của các ứng cử viên mà họ không đồng ý, như mọi công dân Mỹ khác. Thí dụ, ở tiểu bang New Hampshire, các quảng cáo ti vi của Phòng Thương Mại Mỹ đả kích ứng cử viên Jeanne Shaheen là “Cái máy đánh thuế;” tuy nhiên bài quảng cáo không được phép kêu gọi cử tri đừng bỏ phiếu cho bà, người đã làm thống đốc tiểu bang này 3 nhiệm kỳ! Ông John Sununu đắc cử năm 2002 là nghị sĩ trẻ tuổi nhất trong Thượng Viện, và ông bỏ phiếu ủng hộ chính phủ Bush trên 80% các lần biểu quyết, nhưng ông cũng nhiều lần bỏ phiếu ngược lại với chính sách của đảng Cộng Hòa hoặc của Tổng Thống Bush. Trong hoàn cảnh bình thường Nghị Sĩ Sununu (gốc Liban, Ái Nhĩ Lan và Tô Cách Lan) có thể tái đắc cử dễ dàng vì ông không phạm một lỗi lầm nào đáng kể. Tiểu bang New Hampshire đã bầu cho Tổng Thống Bush năm 2000 nhưng đã bỏ phiếu cho Nghị Sĩ John Kerry năm 2004 và hiện nay Nghị Sĩ Obama đang dẫn trước Nghị Sĩ McCain hơn 10 điểm ở đây. Trong cơn sóng chống Tổng Thống Bush đang lên ở tiểu bang này, ông Sununu là một nạn nhân nên đang chạy thua sau bà Shaheen 6 điểm! Chính trong những cuộc chạy đua gay cấn như vậy mà Phòng Thương Mại Hoa Kỳ hy vọng sự ủng hộ của họ sẽ lật ngược thế cờ.
Cũng vậy, ở tiểu bang North Carolina Nghị Sĩ Elizabeth Dole đang cần quân tiếp viện. Bà có uy tín hơn ứng cử viên Dân Chủ, một nghị sĩ cấp tiểu bang, nhưng uy tín này có thể sẽ bị xóa mất trong trào lưu mới khi nhiều cử tri North Carolina có thể quay sang với Nghị Sĩ Obama! Chính vì vậy gần đây bà Dole đang chạy sau bà Hagan một điểm, 45-46!
Nghị Sĩ Barack Obama đã sử dụng cơn gió mới do ông tạo ra để ủng hộ các ứng cử viên quốc hội của đảng Dân Chủ. Như tại tiểu bang Mississippi, ông Obama thua Nghị Sĩ John McCain hơn 10 điểm, không có hy vọng nào chiếm được 6 lá phiếu cử tri đoàn ở đó. Nhưng ông Obama vẫn chi rất nhiều tiền quảng cáo trên truyền hình ở Mississippi, chỉ cốt để hỗ trợ cho ứng cử viên đảng Dân Chủ Ronnie Musgrove, người đang thua Nghị Sĩ Roger Wicker của đảng Cộng Hòa 3 điểm, tỷ số 45%-48%. Cả hai đảng đều vận dụng hết các vũ khí giành các ghế nghị sĩ ở Thượng Viện!
Một trong những thông điệp vận động của Nghị Sĩ Elizabeth Dole đã báo động dân chúng North Carolina là xin họ đừng “ký ngân phiếu trắng” cho đảng Dân Chủ! Lời cảnh cáo này ám chỉ nếu đảng Dân Chủ chiếm được Tòa Bạch Ốc và chiếm đa số tuyệt đối ở Thượng Viện thì họ sẽ tự tung tự tác thi hành những chính sách do những người cực đoan đưa ra, làm hại cho nước Mỹ!
Mối lo trên có thể được nhiều cử tri nước Mỹ chia sẻ. Vì nếu ông Obama đắc cử, ông có thể trở thành một vị tổng thống yếu đối với đảng Dân Chủ của ông, ông sẽ khó cưỡng lại những chủ trương có thể do cánh cực tả đưa ra. Ông Obama mới bước vào đời sống chính trị toàn quốc được mấy năm, và ông luôn luôn dựa vào guồng máy của đảng Dân Chủ ở địa phương thành phố Chicago cũng như trong quốc hội liên bang. Nếu đảng Dân Chủ chiếm đa số mạnh ở Thượng Viện, dù không đủ 60 ghế họ vẫn có thể lôi kéo một số nghị sĩ Cộng Hòa hoặc độc lập bỏ phiếu với họ cho đủ con số 60!
Cho nên, trong ngày 4 tháng 11 sắp tới, dân chúng Mỹ sẽ bỏ những lá phiếu lịch sử. Họ sẽ quyết định nước Mỹ đã sẵn sàng chấp nhận một vị tổng thống da đen hay không. Họ sẽ quyết định có trao quyền hành rộng rãi cho một đảng kiểm soát cả Hành Pháp lẫn Lập Pháp hay không! Theo dõi cuộc bầu cử ở Mỹ năm nay quả thật là hấp dẫn!
Ngô Nhân Dụng
Năm nay dân Mỹ sẽ bầu lại 435 vị dân biểu Hạ Viện và 35 nghị sĩ ở Thượng Viện. Phòng Thương Mại Hoa Kỳ (U.S. Chamber of Commerce) đã bỏ ra 35 triệu Mỹ kim vận động giúp một số ứng cử viên nghị sĩ, phần lớn thuộc đảng Cộng Hòa, chỉ có một người thuộc đảng Dân Chủ. Họ chi 3.3 triệu đô la quảng cáo truyền hình ở tiểu bang New Hampshire, với dân số hơn một triệu người, yểm trợ nghị sĩ đương nhiệm John Sununu. Ông đang bị ứng cử viên đảng Dân Chủ Jeanne Shaheen qua mặt với tỷ số 48% - 42%. Ở tiểu bang North Carolina Nghị Sĩ Elizabeth Dole đang đuổi theo sát nút đối thủ Kay Hagen, với tỷ số 45%-46%. Phòng Thương Mại nước Mỹ đã chi 1.5 triệu đô la ở tiểu bang này để hỗ trợ bà Dole giữ cái ghế nghị sĩ cho đảng Cộng Hòa. Nghị Sĩ Mitch McConnel ở tiểu bang Kentucky đang dẫn trước đối thủ Bruce Lunsford thuộc đảng Dân Chủ với tỷ số 48-44; nhưng Phòng Thương Mại cũng chi một triệu đô la yểm trợ cho ông cho chắc ăn!
Ði ngược lại với những cuộc vận động của Phòng Thương Mại đại diện giới chủ nhân, là các công đoàn ở Mỹ; họ cũng bỏ ra 6 triệu đô la từ đầu Tháng Chín để ủng hộ nhiều ứng cử viên nghị sĩ thuộc đảng Dân Chủ, tại các tiểu bang được coi là gay go, sát nút. Nghiệp Ðoàn Quốc Tế Các Nhân Viên Ngành Dịch Vụ (SEIU) đã chi một triệu đô la ở tiểu bang New Hampshire và Oregon. Oregon là nơi Dân Biểu Tiểu Bang Jeff Merkley (Dân Chủ) đang vượt qua nghị sĩ đương nhiệm Gorden Smith, đảng Cộng Hòa, với tỷ số sít sao 36% và 35% với 23% cử tri chưa quyết định. Tại 2 tiểu bang này Nghiệp Ðoàn SEIU đều chỉ trích các nghị sĩ Cộng Hòa đương nhiệm là những người luôn luôn ủng hộ các chính sách của Tổng Thống Bush.
Nói chung, các cơ sở kinh doanh ở Mỹ đều tham dự vào các cuộc vận động tranh cử. Họ thường ủng hộ trực tiếp các ứng cử viên theo chủ trương tự do kinh doanh, chống lại những người muốn đặt thêm luật lệ gò bó việc kinh doanh, thương mại, bất cứ thuộc đảng nào. Ủy Ban Bầu Cử Quốc Gia cho biết các ứng cử viên đảng Dân Chủ đã nhận được 130 triệu đô la, và đảng Cộng Hòa được 133 triệu đô la của các ủy ban chính trị từ các xí nghiệp. Ngược lại, các nghiệp đoàn thì thường ủng hộ đảng Dân Chủ, và trong mùa tranh cử năm nay, trước Tháng Mười họ đã chi 300 triệu đô la. Phòng Thương Mại Hoa Kỳ đang tổ chức cuộc phản công. Ðây là một thí dụ cho thấy vai trò quan trọng của những “nhóm áp lực,” và các cuộc “vận động hành lang” (lobby) trong đời sống chính trị nước Mỹ.
Thế giới đang chú ý tới cuộc chạy đua giữa hai ứng cử viên tổng thống John McCain và Barack Obama. Nhưng có những cuộc tranh cử quan trọng không kém, để giành các ghế đại biểu quốc hội, đặc biệt là các ghế nghị sĩ Thượng Viện. Tại Hạ Viện hiện nay đảng Dân Chủ chiếm đa số 235-199, và họ đang hy vọng sẽ thêm được từ 25 ghế dân biểu nữa sau ngày 4 Tháng Mười Một. Nhiều người đang lo sau ngày đó đảng Dân Chủ sẽ chiếm được 60 ghế nghị sĩ, và sẽ kiểm soát Thượng Viện một cách tuyệt đối!
Con số 60 này đáng chú ý vì, theo truyền thống Nghị Viện Anh Quốc từ xưa, các nghị sĩ tại Thượng Viện Mỹ có quyền “nói liên miên không nghỉ” (filibuster). Các nghị sĩ đã dùng quyền này để ngăn cản không cho chủ tọa đưa các vấn đề ra biểu quyết, nếu họ biết sẽ thua. Chủ tọa Thượng Viện chỉ có thể chấm dứt một cuộc thảo luận nếu có 60 trong số 100 nghị sĩ đồng ý chấm dứt. Cho nên khi một dự luật được đưa ra ở Thượng Viện mà bị hơn 40 nghị sĩ chống đối thì sẽ không thể nào đem biểu quyết được.
Nếu đảng Dân Chủ chiếm được 60 ghế nghị sĩ sau ngày 4 Tháng Mười Một thì họ sẽ ở thế rất mạnh, nhất là nếu Nghị Sĩ Barack Obama đắc cử tổng thống. Ðây là một điều không những đảng Cộng Hòa lo mà những người Mỹ muốn giữ thế cân bằng, độc lập giữa hai ngành Hành Pháp và Lập Pháp cũng lo lắng.
Hiện nay đảng Dân Chủ kiểm soát 51 phiếu ở Thượng Viện (trong đó có một nghị sĩ độc lập). Nếu họ thêm 9 được nghị sĩ mới nữa thì họ chiếm đa số tuyệt đối 60/100. Ðiều lo ngại của đảng Cộng Hòa là năm nay trong số các ghế nghị sĩ phải bầu lại thì số nghị sĩ Cộng Hòa nhiều hơn Dân Chủ; hiện nay có 12 ghế đang tranh cử gay go, lo có thể bị mất nếu người dân muốn tỏ ý chống lại vị tổng thống Cộng Hòa đang tại chức. Nếu đảng Dân Chủ kiểm soát cả chính phủ và quốc hội thì họ sẽ thi hành nhiều chính sách có thể bất lợi cho giới kinh doanh. Chính vì vậy, theo nhật báo Wall Street Journal, Phòng Thương Mại Mỹ đã nhập cuộc để bảo vệ những nghị sĩ có khuynh hướng thân thiện với giới kinh doanh; trong đó đại đa số thuộc đảng Cộng Hòa, trừ bà Nghị Sĩ Mary Landrieu ở Louisiana.
Một mối lo của giới chủ nhân xí nghiệp ở Mỹ là nếu đảng chiếm được 60 ghế ở Thượng Viện thì họ sẽ có thể sẽ thông qua dễ dàng một dự luật được các công đoàn ủng hộ. Dự luật Nhân Viên Tự Do Lựa Chọn đã được Hạ Viện thông qua năm 2007, nhưng khi đưa lên Thượng Viện thì bị các nghị sĩ Cộng Hòa ngăn lại bằng thủ tục filibuster, thay phiên nhau nói liên miên không nghỉ khiến ban chủ tọa không thể đề nghị biểu quyết. Nếu đảng Dân Chủ chiếm được 60 ghế nghị sĩ thì không ai ngăn cản được việc thông qua ở Thượng Viện. Nếu vị tổng thống mới cũng thuộc đảng Dân Chủ thì chắc ông ta sẽ ký để ban hành; nếu ông là người đảng Cộng Hòa thì sẽ phủ quyết nhưng có thể bị 2 phần 3 Quốc Hội bác bỏ!
Dự luật trên làm giới kinh doanh lo lắng vì cho phép các công đoàn có thể tổ chức giới công nhân ở các xí nghiệp bằng cách mời công nhân ký giấy ủy quyền cho họ tổ chức nghiệp đoàn, chứ không cần phải qua một cuộc bỏ phiếu kín của các công nhân. Với điều kiện dễ dàng như thế, các công đoàn dễ tạo áp lực trên các cá nhân người lao động, và các công đoàn sẽ phát triển mạnh mẽ. Tất nhiên, hầu hết các chủ nhân và ban giám đốc các xí nghiệp đều không muốn các công đoàn mạnh hơn. Chính vì vậy, Phòng Thương Mại Hoa Kỳ đã bắt đầu vận động giới kinh doanh từ đầu năm 2008 để kêu gọi thống nhất hành động trong việc ngăn cản không cho đảng Dân Chủ chiếm được 60 ghế ở Thượng Viện. Nếu không, dự luật trên sẽ có nhiều triển vọng biến thành luật! Nhiều công ty lớn nhỏ đã góp vào quỹ vận động cho hàng ngàn chi nhánh của Phòng Thương Mại Mỹ ở các thành phố, các tiểu bang.
Vì Phòng Thương Mại là một tổ chức phí chính trị và có quy chế cho phép những người đóng góp cho họ được trừ thuế, cho nên họ không được phép vận động trực tiếp, đích dnah cho các ứng cử viên. Nhưng họ có quyền chạy những quảng cáo chỉ trích các chính sách của các ứng cử viên mà họ không đồng ý, như mọi công dân Mỹ khác. Thí dụ, ở tiểu bang New Hampshire, các quảng cáo ti vi của Phòng Thương Mại Mỹ đả kích ứng cử viên Jeanne Shaheen là “Cái máy đánh thuế;” tuy nhiên bài quảng cáo không được phép kêu gọi cử tri đừng bỏ phiếu cho bà, người đã làm thống đốc tiểu bang này 3 nhiệm kỳ! Ông John Sununu đắc cử năm 2002 là nghị sĩ trẻ tuổi nhất trong Thượng Viện, và ông bỏ phiếu ủng hộ chính phủ Bush trên 80% các lần biểu quyết, nhưng ông cũng nhiều lần bỏ phiếu ngược lại với chính sách của đảng Cộng Hòa hoặc của Tổng Thống Bush. Trong hoàn cảnh bình thường Nghị Sĩ Sununu (gốc Liban, Ái Nhĩ Lan và Tô Cách Lan) có thể tái đắc cử dễ dàng vì ông không phạm một lỗi lầm nào đáng kể. Tiểu bang New Hampshire đã bầu cho Tổng Thống Bush năm 2000 nhưng đã bỏ phiếu cho Nghị Sĩ John Kerry năm 2004 và hiện nay Nghị Sĩ Obama đang dẫn trước Nghị Sĩ McCain hơn 10 điểm ở đây. Trong cơn sóng chống Tổng Thống Bush đang lên ở tiểu bang này, ông Sununu là một nạn nhân nên đang chạy thua sau bà Shaheen 6 điểm! Chính trong những cuộc chạy đua gay cấn như vậy mà Phòng Thương Mại Hoa Kỳ hy vọng sự ủng hộ của họ sẽ lật ngược thế cờ.
Cũng vậy, ở tiểu bang North Carolina Nghị Sĩ Elizabeth Dole đang cần quân tiếp viện. Bà có uy tín hơn ứng cử viên Dân Chủ, một nghị sĩ cấp tiểu bang, nhưng uy tín này có thể sẽ bị xóa mất trong trào lưu mới khi nhiều cử tri North Carolina có thể quay sang với Nghị Sĩ Obama! Chính vì vậy gần đây bà Dole đang chạy sau bà Hagan một điểm, 45-46!
Nghị Sĩ Barack Obama đã sử dụng cơn gió mới do ông tạo ra để ủng hộ các ứng cử viên quốc hội của đảng Dân Chủ. Như tại tiểu bang Mississippi, ông Obama thua Nghị Sĩ John McCain hơn 10 điểm, không có hy vọng nào chiếm được 6 lá phiếu cử tri đoàn ở đó. Nhưng ông Obama vẫn chi rất nhiều tiền quảng cáo trên truyền hình ở Mississippi, chỉ cốt để hỗ trợ cho ứng cử viên đảng Dân Chủ Ronnie Musgrove, người đang thua Nghị Sĩ Roger Wicker của đảng Cộng Hòa 3 điểm, tỷ số 45%-48%. Cả hai đảng đều vận dụng hết các vũ khí giành các ghế nghị sĩ ở Thượng Viện!
Một trong những thông điệp vận động của Nghị Sĩ Elizabeth Dole đã báo động dân chúng North Carolina là xin họ đừng “ký ngân phiếu trắng” cho đảng Dân Chủ! Lời cảnh cáo này ám chỉ nếu đảng Dân Chủ chiếm được Tòa Bạch Ốc và chiếm đa số tuyệt đối ở Thượng Viện thì họ sẽ tự tung tự tác thi hành những chính sách do những người cực đoan đưa ra, làm hại cho nước Mỹ!
Mối lo trên có thể được nhiều cử tri nước Mỹ chia sẻ. Vì nếu ông Obama đắc cử, ông có thể trở thành một vị tổng thống yếu đối với đảng Dân Chủ của ông, ông sẽ khó cưỡng lại những chủ trương có thể do cánh cực tả đưa ra. Ông Obama mới bước vào đời sống chính trị toàn quốc được mấy năm, và ông luôn luôn dựa vào guồng máy của đảng Dân Chủ ở địa phương thành phố Chicago cũng như trong quốc hội liên bang. Nếu đảng Dân Chủ chiếm đa số mạnh ở Thượng Viện, dù không đủ 60 ghế họ vẫn có thể lôi kéo một số nghị sĩ Cộng Hòa hoặc độc lập bỏ phiếu với họ cho đủ con số 60!
Cho nên, trong ngày 4 tháng 11 sắp tới, dân chúng Mỹ sẽ bỏ những lá phiếu lịch sử. Họ sẽ quyết định nước Mỹ đã sẵn sàng chấp nhận một vị tổng thống da đen hay không. Họ sẽ quyết định có trao quyền hành rộng rãi cho một đảng kiểm soát cả Hành Pháp lẫn Lập Pháp hay không! Theo dõi cuộc bầu cử ở Mỹ năm nay quả thật là hấp dẫn!
Lá Phiếu Cử Tri Gốc Việt ... nên bầu cho ai ???
Tác giả: Minh Thu

Có thật chăng đảng Cộng Hoà chống Cộng hơn đảng Dân Chủ?
Phải chăng bầu cho ứng viên da đen Barack Obama là làm mất sĩ diện quốc gia Hoa Kỳ? Hàng năm, cứ đến gần ngày bầu cử vào đầu tháng 11 là câu hỏi nêu trên lại thường được nhắc đến trên nhiều diễn đàn truyền thông, để các nhà báo, bình luận gia tha hồ phân tích hoặc đưa ra những lời cố vấn... mà đa số đều là “trật đường rầy” hoặc đều “lạc quẻ”. Chi tiết chứng minh cho điều này sẽ được nói rõ hơn trong phần sau của bài viết.
Điều này cũng dễ hiểu vì sinh hoạt chính trị tiêu biểu nhất tại Hoa Kỳ thường là các cuộc bầu cử vào dịp cuối năm. Cứ mỗi hai năm là bầu toàn thể dân biểu và 1/3 nghị sĩ của ngành lập pháp liên bang và nhiều chức vụ hành chánh công quyền khác của tiểu bang và địa phương như hội đồng tỉnh, thành phố v.v. Cứ bốn năm là bầu thống đốc hay tổng thống, như trường hợp năm nay. Lịch trình các vụ bầu cử liên bang và tiểu bang không hoàn toàn trùng hợp nên năm nào cũng có mùa bầu cử vào đầu tháng 11.
Năm nay, sinh hoạt bầu cử có vẻ sôi nổi hơn trong cộng đồng người Việt tại Mỹ, ngay từ khi mùa vận động sơ bộ bắt đầu, vì dường như nhân vật Hillary Clinton thu hút được sự ủng hộ đông đảo của cử tri gốc Việt thuộc đủ mọi thành phần, trí thức cũng như bình dân, nam giới lẫn nữ giới. Nhất là đối thủ chính của bà là nghị sĩ Barack Obama, được coi là một loại “vô danh tiểu tốt”, non nớt kinh nghiệm, tài cán chưa được chứng minh, chỉ có tài ăn nói, hô hào “cho sướng miệng”. Ấy vậy mà cuối cùng ngựa lại về ngược, bà Clinton lại bị thua một cách khít khao và đau đón, khiến cho nhiều nguòi ủng hộ bà, trong đó có rất đông người Việt, cũng thất vọng và tiu nghỉu theo. Trong đầu óc và con tim của họ, không có chỗ nào để giành cho ông Obama cả, một nhân vật mà suốt đời họ không thể hình dung có thể được nhận lãnh vinh dự bước vào làm chủ ở Toà Bạch Ốc.
Vì thế cho nên, cũng là điều dễ hiểu khi thấy nhiều người lên tiếng ủng hộ cho ông John McCain mặc dù đa số cũng đều phải công nhận rằng tình huống hiện nay đem lại quá nhiều bất lợi cho phe Cộng Hoà, vì hậu quả tệ hại và bết bát chưa từng thấy của chính quyền Bush. Ngay cả những cử tri gốc Việt dùng lý trí của mình để bỏ phiếu cho đảng Dân Chủ cũng ngần ngại không muốn lên tiếng công khai bênh vực cho ông Obama. Mà chẳng phải riêng gì với cộng đồng người Việt, ngay cả khối di dân gốc Á ở Hoa Kỳ cũng chẳng ưa gì vị nghị sĩ da đen có triển vọng tạo nên một chấn động lịch sử trong vòng vài tuần lễ tới. Thật vậy, trong ngày bầu cử sơ bộ Super Tuesday tại tiểu bang đông dân nhất là California, người ta đã nói nhiều đến sự kiện đa số cử tri gốc Mễ, vốn chiếm tỉ lệ khá quan trọng trong tiểu bang, không ưa thích ông Obama và dồn phiếu nhiều hơn cho bà Clinton, ở tỉ lệ khoảng 65/35. Thế nhưng khi xét đến cộng đồng gốc Á châu, chiếm khoảng 14% dân số trên toàn tiểu bang, nguòi ta còn ngạc nhiên hơn nữa khi thấy rằng có đến 75% cử tri gốc Á tẩy chay ông Obama. Mặc dù rằng trên lý thuyết, dân gốc Á có trình độ học thức và lợi tức cao hơn trung bình; và trong giới nguời Mỹ trắng, thành phần như vậy lại tỏ ra ủng hộ ông Obama hơn là bà Clinton.
Trước khi bàn sâu thêm vào đề tài lựa chọn giữa hai đảng Cộng Hoà và Dân Chủ, hay đúng hơn là giữa hai liên danh McCain-Palin và Obama-Biden, điều quan trọng đáng nói hơn có lẽ là nhân dịp tranh cử ồn ào sôi nổi này, chúng ta nên đánh giá về cái gọi là sức mạnh lá phiếu của khối cử tri gốc Việt, hay đúng hơn là khả năng của lá phiếu gốc Việt có ảnh hưởng tí nào hay không lên kết quả chung cuộc. Còn nhớ sau kết quả khít khao và gay cấn của kỳ bầu cử tại Florida năm 2000, nhiều người thích đưa ra những lời nhận định và cố vấn rằng lá phiếu nào cũng quan trọng, không nên coi thường, cho dù đó chỉ là một vài lá phiếu đơn lẻ.
Cách đây bốn năm khi thử phân tích về sự lựa chọn nào thích hợp và đúng đắn cho cử tri người Việt trong kỳ bầu cử toàn quốc, và liệu sự lựa chọn đó có chút ảnh hưởng nào hay không trên chính trường, người viết bài này đã nhận định:
“Đầu tiên, chúng ta có thể khẳng định một cách không sai lầm rằng lá phiếu của cử tri gốc Việt quả thật sẽ chẳng có chút ảnh hưởng gì trong kết quả chung cuộc năm nay, một phần vì yếu tố dân số chưa phải là một thực thể đáng lưu ý, và một phần quan trọng khác hơn nữa vì yếu tố địa dư của khối người Việt sinh sống ở những tiểu bang mà kết quả đã gần như biết trước từ lâu cho dù cả khối cử tri gốc Á, tức là bao gồm luôn cả cử tri gốc Việt, có dồn hết phiếu của mình cho bất cứ một ứng cử viên nào.
Trớ trêu một điều là đa số người Việt lại không cư ngụ ở ba tiểu bang đông dân quan trọng là Ohio, Pennsylvania và Florida, nơi gần như sẽ quyết định vận mệnh kẻ chiến thắng. Ngược lại, khoảng 70% dân số người Việt lại dồn về cư ngụ ở hai tiểu bang đông dân là California và Texas. Không những số lượng người Việt, dù có đông đảo, cư ngụ tại hai tiểu bang đông dân này chưa đủ là một thực thể đáng lưu ý, mà khuynh hướng chính trị và kết quả tại hai vùng này cũng đã quá rõ rệt và khó có phương thay đổi trong tương lai gần.
Dù toàn thể cử tri gốc Việt ở California có đoàn kết chặt chẽ đi nữa để dồn phiếu cho một phe duy nhất, một giả dụ quá lạc quan và xa rời thực tế, và quyết định bỏ phiếu cho TT Bush và đảng Cộng Hoà thì cuối cùng ông Kerry cũng sẽ thắng tại đây và chiếm luôn 55 phiếu cử tri đoàn của tiểu bang. Ngược lại, cho dù cả khối cử tri gốc Việt ở hai thành phố lớn tại Texas là Houston và Dallas có dồn hết phiếu về phe Dân Chủ đi nữa thì ông Bush và phe Cộng Hoà vẫn sẽ thắng cuộc sau cùng tại đây.
Do đó chúng ta cần phải biết rõ về kết quả sắp xảy ra trong thời gian tới, không phải để nản chí và bỏ cuộc với tâm lý "ông nào lên thì cũng thế thôi" nhưng để nhìn ra một thực tế và không bị các chính trị gia tập sự của mỗi bên thổi phồng về giá trị của lá phiếu người dân với những mỹ từ rất kêu như là "lá phiếu quyết định", "mỗi một lá phiếu cũng có thể làm thay đổi cục diện" v.v. . . Những nhận định trên tuy có đúng về mặt lý thuyết, nhưng cần phải đem áp dụng vào thực tế với những dấu mốc về thời gian và không gian rõ rệt để biết rằng có những lúc nào đó và tại những nơi nào đó, quả thật lá phiếu của chúng ta không có tí ti ảnh hưởng nào cả, và như thế dễ có cái nhìn thảnh thơi và nhiều phần rõ rệt sáng suốt hơn thay vì bị ảnh hưởng bởi các lời lẽ tuyên truyền cũng như những định kiến đã có sẵn.”
Năm nay, cuộc bầu cử toàn quốc diễn ra vào ngày 4 tháng 11, giữa hai ứng viên được coi như không phải là ứng viên sáng giá nhất, được đa số cử tri trong đảng ủng hộ hay ưa thích lắm trước lúc khởi hành cuộc đua. Tuy vậy, những yếu tố chính không thay đổi gì mấy trong vòng hai năm qua, nhất là yếu tố dân số của người Việt vẫn đóng đô phần lớn trong hai tiểu bang California và Texas. Cho nên những nhận định và kết luận của bốn năm về trước vẫn còn được áp dụng như cũ, nên xin phép được đăng lại nguyên văn như trên. Và cũng vì vậy mà người viết bài này mới dám đưa ra lời tiên đoán gần “chắc ăn như bắp” rằng ông Obama sẽ thắng tại California và ông McCain sẽ giành được Texas, cho dù cử tri gốc Việt bỏ phiếu thế nào đi chăng nữa.
BỎ PHIẾU THEO CẢM TÍNH HAY LÝ TRÍ?
Tuỳ theo hoàn cảnh, văn hoá, kiến thức và sự phán đoán, đây là sự lựa chọn của mỗi cử tri khi bước vào phòng phiếu, và dĩ nhiên họ cũng chấp nhận hậu quả của lá phiếu mình. Không thể nói cách nào hay hơn hoặc đúng hơn, vì đó là quyền tự do cơ bản trong một xã hội dân chủ, tức là quyền tự do để bị coi là ngu (khi bỏ phiếu ngược lại quyền lợi của mình) hoặc là quyền tự do bị thua thiệt (khi không thèm đi bỏ phiếu). Thông thường, ta có thể nói rằng cử tri bỏ phiếu sau khi xem xét quyền lợi của mình sẽ ra sao sau lá phiếu. Thành ngữ tiêu biểu ở Hoa Kỳ để diễn giải cho chiều hướng này là mỗi người nên tự hỏi “What is in it for me?” (Việc đó có lợi gì cho tôi?) Nếu có lợi thì đi theo, bằng không thì bỏ rơi hay mặc kệ. Tuy nhiên, quyền lợi có thể ở dưới dạng vật chất (như kinh tế, quân sự, xã hội) hoặc tinh thần (cảm tính). Nhà triệu phú A. có thể bỏ phiếu cho đảng Cộng Hoà vì đảng này thường chủ trương bắt đóng thuế nhẹ trên các món tiền lời tích luỹ từ vốn liếng (capital gains tax) vì chỉ có dân nhà giàu mới có dư tiền vốn để đầu tư kiếm lời. Bà nghệ sĩ B. có thể ủng hộ cho đảng Dân Chủ vì tinh thần cấp tiến và phóng khoáng trong cương lĩnh của đảng có tính cách bao dung và mở rộng vòng tay hơn là trong giới bảo thủ. Anh C. có thể thích bỏ phiếu cho ứng viên Mỹ trắng thay vì ứng viên gốc Mễ vì thích cái vẻ sang trọng, sáng sủa hơn. Chị D. có thể nói tôi không thích bỏ phiếu cho ứng viên da đen vì từng có nhiều kinh nghiệm không mấy tốt đẹp đối với giới này. Tạm gác sang bên yếu tố hay dở, đúng sai, của những quyết định trên, mỗi cử tri đều có cái lý của mình, và nhiều phần là sẽ hài lòng với sự lựa chọn đó. Nếu sau này, họ có không hài lòng thì đành phải chờ đến kỳ bầu cử lần tới để thay đổi, và tiến trình thay đổi này diễn ra liên tục.
Cử tri gốc Việt ngày nay khôn ngoan, nên đừng theo những lời khuyên khuôn sáo cũ kiểu “bầu cho những người tài cao, đức trọng” hoặc những lời chiêu dụ kiểu mị dân của các chính trị gia chuyên nghiệp ở cả hai chính đảng. Mà hãy nên cân nhắc và so sánh về thành tích, quá khứ cũng như quan điểm để bỏ phiếu cho người nào xét ra có thể hợp và có lợi cho quan điểm và quyền lợi riêng cho cá nhân mình. Cho dù điều đó có đi ngược lại quyền lợi và quan điểm của người khác hay của đám đông, nhưng điều đó chứng tỏ sự khôn ngoan và can đảm để nói lên tiếng nói của mình.
Điều này cho thấy vì sao câu hỏi ở tựa bài là một câu nói... trật lất, không thể nào áp dụng được, mà nhiều người trong giới truyền thông vẫn còn chưa ý thức và thích đem ra để mổ xẻ vào các dịp bầu cử. Việc chúng ta cùng là người Việt tị nạn cộng sản tại Hoa Kỳ không có nghĩa là chúng ta có cùng quan điểm về nhiều mặt khác, cũng như chưa chắc là có cái nhìn về quyền lợi giống nhau. Câu hỏi trên dẫn đến một giả định rằng tất cả người Việt chống Cộng ở Mỹ đều có quyền lợi và suy nghĩ giống nhau, một điều hoàn toàn sai lầm. Vì thế cho nên, khi một chuyên gia phân tích những ưu thế, lợi điểm của một ứng viên nào đó, dẫu rằng hoàn toàn đúng, thì ứng viên đó có thể chỉ có lợi cho một ông A, bà B nào đó mà chưa chắc có lợi cho anh C hay chị D.
Ấy là chưa kể, trong thực tế, những bài phân tích hay bình luận để cổ võ cho một vài ứng viên, hay một phe đảng, lại thường thiếu trung thực, sai lạc đến mức gần như coi thường trình độ hiểu biết của độc giả nên mới khiến cho nhà báo Đào Nương đã phải lên tiếng góp ý sửa sai trong cột mục “Những điều nên nói...” của nhật báo Sài Gòn Nhỏ ngày 18-9 vừa qua. Đó là những bài góp ý của vài người như Mường Giang, Duy Việt khi đề cao quá lố về đảng Cộng Hoà và liên danh McCain-Palin, cũng như chê bai thậm tệ một cách thiếu chứng cứ về đảng Dân Chủ hoặc liên danh Obama-Biden. Những bài viết loại này đã được sao chép và luân lưu rộng rãi trên mạng thông tin Internet trong nhiều tuần lễ qua, và cũng được lập lại nhiều lần trong những cuộc tranh luận trên các làn sóng phát thanh. Bà Đào Nương còn nói rằng có lẽ các ông phân tích gia này không nghe được tiếng Anh, nên mới có những suy luận như vậy. Cuối cùng, bà đưa ra lời khuyên rằng khi viết về chính trị nước Mỹ thì nên biết tường tận. Đừng viết theo cảm quan. Đừng kéo Việt Nam vào.
Trong thực tế, cũng có khá đông cử tri Việt thầm lặng, nhưng có trình độ hiểu biết và suy luận vững chắc, để biết lựa chọn cho người nào đại diện cho quyền lợi hợp với mình. Điều đó không có gì ngạc nhiên, và thường dẫn đến kết quả được đoán trước: đó là có một số lớn bỏ cho phe Cộng Hoà, nhưng cũng có một số lớn không kém thì lại nghiêng về phe Dân Chủ. Cho nên, trong thực tế, lá phiếu của người Việt, vốn tự nó cũng chỉ là một phần nhỏ trong cái khối cử tri gốc Á (gồm Trung Hoa, Đại Hàn, Phi Luật Tân, Ấn Độ v.v. . .) -- mà ngay cả lá phiếu của cả gốc Á cũng quá nhỏ trong tập thể cử tri người Mỹ -- chẳng có sức mạnh thực sự nào cả. Nhưng nó vẫn được săn đón nồng nhiệt, khi người Việt bắt đầu chịu đi bỏ phiếu, bởi vì ứng cử viên cùng đảng được mình ủng hộ săn đón đã đành rồi, nhưng ứng cử viên đối nghịch cũng tìm cách để ý đến mình vì họ sợ 1 lá phiếu bỏ cho đối thủ là 1 lá phiếu diệt trừ sức mạnh của họ.
CỘNG HOÀ CHỐNG CỘNG?
Từ lâu một số người Việt vẫn còn mang nặng một thành kiến sai lầm là phe Cộng Hoà là cương quyết, chống Cộng trong khi phe Dân Chủ là chủ bại, phản chiến. Chỉ cần nhìn lại lịch sử cận đại chưa đầy 40 năm qua cũng thấy rõ là quan niệm này hoàn toàn sai lạc nếu không muốn nói là quá đơn giản, gần như non nớt, ấu trĩ. Chính TT Johnson của đảng Dân Chủ vào giữa thập niên 60, khi biết rằng chính quyền quân đội tại Sàigòn vẫn chỉ lo tranh giành quyền bính qua các cuộc đảo chỉnh thay vì chú tâm đề phòng trước sự xâm nhập lớn mạnh của Cộng sản Bắc Việt, nên đã quyết định gia tăng con số khổng lồ cả nửa triệu binh sĩ Mỹ đến tham chiến tại Việt Nam để giữ cho tiền đồn chống Cộng này khỏi rơi vào tay kẻ thù phương bắc. Hành động can đảm của ông Johnson đã mang lại một kết quả thất vọng cho chính cá nhân ông sau đó, là phải quyết định không ra tái tranh cử vào năm 1968 vì chính sách đưa quân tham chiến của mình đã gây chia rẽ trầm trọng trong dân chúng Hoa Kỳ.
Giới cầm quyền thời Đệ Nhị Cộng Hoà tại miền Nam Việt Nam thường tự tin vào sự ủng hộ đắc lực của TT Nixon (đảng Cộng Hoà) nhưng chính phụ tá của ông là Henry Kissinger đã đi đêm với Lê Đức Thọ để thành hình Hiệp Định Paris vào đầu năm 1973 hầu dọn đường tháo lui của quân đội Mỹ khỏi VN sau khi đã bắt tay được với Trung Cộng và không còn sợ đến ảnh hưởng toàn thắng của Liên Sô ở Á Châu. Hành động phản bội này của ông Kissinger và đảng Cộng Hoà, dẫn đến cuộc di tản đau thương vào ngày 30 tháng 4 oan nghiệt năm nào, nhiều người vẫn còn biện minh cho rằng vì có sự chống đối của các dân biểu và nghị sĩ thuộc phe đa số Dân Chủ thời bấy giờ. Ai cũng biết, việc điều hành chiến tranh và đối ngoại thuộc về đặc quyền của ngành hành pháp, chính quyền Mỹ và Ngũ Giác Đài đã dọn đường sẵn cho cuộc tháo chạy này cả năm trời trước đó khi cho dựng sẵn trước các trại lều tiếp cư ở đảo Guam để đón tiếp số lượng di dân tị nạn đông đảo vào mùa hè năm 1975.
Trong kỳ bầu cử năm 2004, những lời tuyên bố của TT Bush cũng đã tạo ra một sự chấn động trong lòng khối người Việt quốc gia.
Đó là trong cuộc phỏng vấn với ký giả Bill O'Reilly trên đài truyền hình Fox News, ông Bush phấn khởi nói về sự quyết tâm đấu tranh cho dân chủ, tự do của nhân dân A Phú Hãn trong cuộc bầu cử toàn quốc. Nhưng khi được hỏi là có phải tại vì người dân miền Nam Việt Nam trước đây không chịu đấu tranh cho tự do của họ cho nên ngày nay không có tự do hay không, TT Bush đã trả lời gọn lỏn "Yes". Sau đó ông nói tiếp rằng ông tin chắc chắn rằng (absolutely) dân Iraq sẽ chiến đấu cho lý tưởng tự do của họ. Nói một cách khác, ông Bush muốn cho thấy nhiệm vụ thiêng liêng của người Mỹ là ở lại giúp dân Iraq chiến đấu cho tự do vì đó là ước muốn cao cả của họ. Ông muốn so sánh ví dụ là dân miền Nam VN trước đây không chịu chiến đấu cho tự do của họ nên Mỹ mới rút khỏi VN. Còn bây giờ, dân Iraq đang tranh đấu cho tự do của họ nên chính quyền của ông cần phải ở lại để giúp cho dân Iraq đạt được lý tưởûng này.
Lời nói của TT Bush, giống như lời phát ngôn của tổng trưởng quốc phòng Donald Rumsfeld trước đó không lâu, cũng tai hại đớn đau cho sự đấu tranh hy sinh của hàng triệu quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hoà trong cuộc chiến vừa qua. Trong một chương trình phỏng vấn Hardball trên đài MSNBC vào ngày 29-04-2004 do nhà báo Chris Matthews chủ trì, khi được hỏi so sánh giữa Iraq ngày nay và VN lúc trước, ông Rumsfeld, một viên chức chính quyền cao cấp của ông Bush nổi tiếng với những lời lẽ và hành động xem thường các đồng minh lâu đời như Pháp và Đức, cũng đã không tha đồng minh nhỏ bé cũ của mình và VNCH với câu trả lời như sau: "Ở VN (hồi đó) anh thấy là có một thành phần có tinh thần quốc gia dân tộc cao độ ở miền bắc, rồi bọn Việt Cộng cũng là một thành phần đáng kể trong tình thế bấy giờ. . . Rồi anh lại thấy chúng ta có một chính quyền (VNCH) không được lòng dân ở miền Nam. Cái chính phủ miền Nam này chẳng có hiến pháp, chẳng có bầu cử gì cả. Đối với đại đa số người Việt, họ bị coi là một thứ chính phủ bù nhìn."
Ngoài sự hiểu biết ấu trĩ, ngu xuẩn hoặc chẳng thèm đếm xỉa gì đến sự thật của chính trị gia Mỹ kiểu ông Rumsfeld với lối phát biểu như trên, những lời nói đó còn là một vết dao đâm thấu tâm can của khối quân dân cán chính VNCH đã sinh sống và tranh đấu, hy sinh trên chiến trường cũng như trong lòng biển cả trên đường mưu tìm tự do mặc dù thường bị bó tay hay chèn ép bởi đồng minh khổng lồ nhưng thiếu chân thật và sẵn lòng phản bội là Hoa Kỳ. Tiếc thay, nhiều người chỉ thích chỉ trích thái độ phản chiến của ông John Kerry vào năm 1972 mà không chịu nhìn lại những lời nói và hành động “khốn nạn” hơn của hai ông Bush và Rumsfeld đối với chính nghĩa của cuộc chiến bảo vệ tự do tại miền Nam Việt Nam. Thái độ của cậu thanh niên Kerry sau khi giải ngũ dầu sao cũng còn dễ hiểu vì phản ảnh tâm lý chung của đa số dân Mỹ lúc bấy giờ. Thử tưởng tượng xem giả như chương trình động viên vẫn còn áp dụng như thời trước, tất cả con em người Việt chúng ta sinh sống ở Mỹ đến 18 tuổi thì phải buộc nhập ngũ để lên đường sang chiến đấu ở Iraq như đa số công dân Mỹ khác. Và thử tưởng tượng rằng con số lính Mỹ chết ở Iraq trong mấy năm qua lên đến hơn 50,000 (và trong đó phải có 1 tỉ lệ vài trăm em gốc Việt), thay vì chỉ có 4,000, thì ta mới hiểu được vì sao đa số dân Mỹ sẽ trở thành chán nản, và muốn chấm dứt chiến tranh sau vài năm mệt mỏi, chết oan mạng ở chiến trường xa lạ. Chắc chắn là sẽ có khối gia đình người Việt sẽ tìm cách đưa con em trốn sang Gia Nã Đại, hay Pháp v.v. . . để trốn lính, thậm chí có thể gửi về Việt Nam cho chắc ăn hơn thay vì bị gửi đi ra chiến trường cực khổ ở Iraq hay A Phú Hãn.
Nhưng những lời tuyên bố của hai lãnh tụ như Bush và Rumsfeld vào thời điểm 2004 thì càng khó tha thứ, khó thể biện minh là vì tuổi trẻ nông nổi, thiếu chin chắn như cậu thanh niên Kerry của hơn 32 năm về trước.
Cũng như nhiều người thích lên án ông John Kerry đã ngâm tôm một dự luật ở Thượng Viện Mỹ chỉ trích thành tích nhân quyền ở Việt Nam, nhưng trong thực tế, cả hai ông Kerry và John McCain, cũng như nghị sĩ Robert Smith trước đó, là những người mạnh mẽ ủng hộ việc nối lại bang giao với nhà cầm quyền Việt Cộng, và nhờ vậy mà TT Bill Clinton mới có sự ủng hộ lưỡng đảng để tính đến chuyện làm ăn với kẻ cựu thù. Trong chuyến viếng thăm lần đầu sang Mỹ của Thủ tướng Việt Cộng Phan Văn Khải vào năm 2005, trong một buổi tiếp tân tại phòng tiệc sang trọng của Mayflower Hotel, chính ông McCain được nhận lãnh vinh dự đọc bài diễn văn chúc mừng (toasting) khách quý là kẻ thù cũ. Hành động này đã khiến 1 cựu chiến binh Mỹ, ông Jerry Kiley, tức giận và tìm cách hất ly rượu cầm trên tay để tỏ sự chống đối thái độ “đón gió, trở cờ” của ông McCain. Ông Kiley la to giữa phòng tiệc sang trọng; “Nghị sĩ McCain, ông là một kẻ phản bội những tù binh chiến tranh của Mỹ cũng như những người Việt Nam mà chúng ta đã bỏ rơi lại trong cuộc chiến.”
Thái độ can đảm của ông Kiley không thấy những người Việt chống Cộng nên nhớ để làm bài học kinh nghiệm, mà chỉ thấy nhiều người thi nhau chỉ trích hay tấn công những thương gia ở Orange County đến dự buổi tiệc do Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết tổ chức tại Dana Point vào năm 2007, cũng như có nhiều người muốn lên án hành động của “cậu nhóc” Nguyễn Quốc Đoàn tại Houston đã gặp gỡ và đọc bài diễn văn trong buổi tiếp tân đại sứ Việt Cộng Lê Công Phụng tại Houston vào mùa xuân năm nay. Cũng cùng một việc làm nhưng do chính trị gia Mỹ như ông McCain làm thì không ai lên tiếng chống đối, còn người Việt làm thì chúng ta thi nhau ào ào phản đối mạnh bạo. Liệu chúng ta có cảm thấy điều gì bất nhất và thiếu thẳng thắn, hèn nhát hay không?
Trong cuộc tranh luận giữa Cộng Hoà hay Dân Chủ về tinh thần chống Cộng, nhiều người lại không chịu nhìn thấy công sức đóng góp vô cùng quý báu và khích lệ của bà Loretta Sanchez, dân biểu liên bang tại vùng Orange County. Bà Sanchez tỏ ra là một vị dân cử thực sự tranh đấu cho lý tưởng của người Việt quốc gia một cách anh dũng và hữu hiệu nhất, cho dù là khối cử tri gốc Việt không chiếm đa số trong đơn vị này. Việc bà theo chân phái đoàn của TT Clinton đến viếng thăm Việt Nam vào năm 2000, nhưng sau đó tự động tìm cách đến thăm các nhà đấu tranh bị kềm kẹp hay quản thúc trong nước khiến bà sớm trở thành một người hùng, thực sự tranh đấu cho nhân quyền tại Việt Nam, trong lòng đa số người Việt quốc gia tại hải ngoại, dù theo Cộng Hoà hay Dân Chủ. Bà cũng đã mời các vị đồng viện họp chung trong nhóm quan tâm đến các đề tài về Việt Nam (Vietnam Caucus) tại Hạ Viện. Hồi đầu năm 2006, khi nhà cầm quyền cộng sản ở Việt Nam ra lệnh không cấp chiếu khán cho bà về thăm Việt Nam với lý do là đã xen lấn vào nội tình ở trong nước, vô tình họ đã khoác cho bà cái huy chương chống Cộng hữu hiệu và cao quí nhất trong lòng đa số khối người Việt tại đây.
Việc lựa chọn theo phe Dân Chủ hay Cộng Hoà cần phải được cân nhắc kỹ lưỡng hơn tuỳ theo quyền lợi của mỗi cá nhân, và cũng áp dụng khác nhau ở từng thời điểm và địa phương riêng biệt chứ không thể áp dụng một cách nhất quán. Ở cấp chính quyền địa phương hay tiểu bang, yếu tố chống Cộng chẳng là mối bận tâm của các chính trị gia Hoa Kỳ cho dù theo Dân Chủ hay Cộng Hoà, và do đó mỗi cử tri nên ý thức mà bỏ phiếu cho sự lựa chọn đáp ứng đúng nguyện vọng thiết thực và cụ thể nhất cho mình hơn là những đề tài xa vời nhưng trống rỗng. Ở cấp liên bang, chúng ta cần phải sớm nhìn ra chân lý là chính trị gia Mỹ lúc nào cũng chỉ nhắm vào quyền lợi tối thượng của đa số dân chúng Mỹ, một thứ đa số có thể thay đổi bất thường tuỳ theo quyền lợi riêng tư của họ, và do đó quan điểm của các chính trị gia Mỹ cũng thay đổi theo cho phù hợp để mong sinh tồn theo đúng tinh thần của chủ nghĩa thực dụng (pragmatism) mặc dù nhiều người Việt vẫn thường chê bai đó là một chính sách đón gió trở cờ.
Việc ủng hộ đảng Dân Chủ hay Cộng Hoà, không phải là điều quan trọng hay cần thiết để phân biệt xem cái nào là đúng đắn hay sai lạc vì nói cho cùng nó là sự lựa chọn của mỗi cá nhân khi bước vào thùng phiếu để quyết định điều gì đúng với lương tâm và quyền lợi của riêng mình. Sự lựa chọn của mỗi cá nhân chúng ta, cho dù có đi ngược lại nguyện vọng của nhiều người khác, vẫn là một quyết định đúng đắn nếu như nó phản ảnh đúng nguyện vọng và quyền lợi của riêng mình.
Sau cùng, một chi tiết cũng cần nói đến liên quan đến màu da của ông Obama. Không ai chối cãi rằng đây là yếu tố rất quan trọng cho kết quả bầu cử năm nay, và cũng không ai ngăn cản chúng ta bỏ phiếu theo cảm tính, không thích ủng hộ một ngườøi nào chỉ vì màu da hay bề ngoài không hợp nhãn với chúng ta. (Ở điểm này, cả hai ông bà Obama đều khó đạt được sự ủng hộ của đa số, trong đó có cả người viết bài này). Trong một chừng mực nào đó, người ta có thể tuyên bố rằng họ không thích bỏ cho ông Obama vì ông là người da đen, một câu nói sặc mùi ‘politically incorrect’, nhưng ít ra cũng là can đảm để nói lên sự thật. Tuy nhiên, chớ vì vậy mà đưa ra những lời nhận định về tư cách ông Obama không xứng đáng để làm tổng thống, hay sĩ diện quốc gia Hoa Kỳ sẽ bị thương tổn một khi ông ta được đắc cử. Câu nói chỉ vô tình hé lộ ra trình độ nhận thức và phán xét rất yếu kém và nông nổi của người phát ngôn. Mọi người đều thừa nhận rằng sự kiện ông Obama có thể thắng cử gây sự khó chịu rất lớn trong lòng nhiều người, nhưng nếu bảo là ông ta thiếu tư cách để làm tổng thống là một lời nói hồ đồ, ngu xuẩn. Chính ông McCain cũng phủ nhận lời cáo buộc như thế, và cả bà Hillary Clinton cũng không bao giờ có ý nghĩ như vậy. Người ta có thể bình phẩm rằng có nhiều người xứng đáng hơn nhưng không may mắn. Thì điều đó không khác gì trường hợp của TT Bush. Một khi vận may đưa đẩy thì nhiều sự kiện dẫn đưa để cuối cùng cờ sẽ đến tay những kẻ biết nắm lấy ngay cơ hội, hoặc số ông ấy được làm vua thì rồi cuối cùng cũng có ngày lên ngôi.
Sĩ diện quốc gia thật ra cũng chẳng có gì gọi là sứt mẻ vì người ta không còn đánh giá một quốc gia qua hình ảnh của một lãnh tụ. Thật ra, nếu như ông Obama có lên làm tổng thống thì hình ảnh tự do dân chủ của Hoa Kỳ còn được cải thiện ngay tức khắc trước công luận thế giới, vì điều đó cho thấy là đa số người dân ở Mỹ không có tinh thần bảo thủ, giáo điều, cực đoan như nhiều người lầm tưởng do bởi những chính sách thất nhân tâm, gây thù chuốc oán quá nhiều dưới chính quyền Bush. Những người nào nói ra câu nhận định đó thật ra đã để lộ bản chất vọng ngoại, nay tự ti mặc cảm, do bởi hậu quả bao năm bị đô hộ nên bao giờ cũng chỉ nghĩ rằng chỉ có giống dân da trắng mới xứng đáng, và có đầy đủ tư cách hơn để bước lên ngôi vị lãnh đạo.
Trong một chừng mực nào đó, có khi nào họ chịu nghĩ lại rằng những lời lẽ sặc mùi kỳ thị chính trị gia thiểu số da đen thì cũng chính là tự kỳ thị mình, chẳng qua cũng chỉ là một giống dân thiểu số da vàng. Chẳng lẽ con em người Việt chúng ta không có đủ tư cách, không có khả năng để làm bác sĩ, kỹ sư, luật sư, chủ tịch ngân hàng, dân biểu, nghị sĩ, thẩm phán Tối cao Pháp viện, và trong tương lại có thể trở thành phó tổng thống hay tổng thống hay sao?
Minh Thu
Tác giả: Minh Thu

Có thật chăng đảng Cộng Hoà chống Cộng hơn đảng Dân Chủ?
Phải chăng bầu cho ứng viên da đen Barack Obama là làm mất sĩ diện quốc gia Hoa Kỳ? Hàng năm, cứ đến gần ngày bầu cử vào đầu tháng 11 là câu hỏi nêu trên lại thường được nhắc đến trên nhiều diễn đàn truyền thông, để các nhà báo, bình luận gia tha hồ phân tích hoặc đưa ra những lời cố vấn... mà đa số đều là “trật đường rầy” hoặc đều “lạc quẻ”. Chi tiết chứng minh cho điều này sẽ được nói rõ hơn trong phần sau của bài viết.
Điều này cũng dễ hiểu vì sinh hoạt chính trị tiêu biểu nhất tại Hoa Kỳ thường là các cuộc bầu cử vào dịp cuối năm. Cứ mỗi hai năm là bầu toàn thể dân biểu và 1/3 nghị sĩ của ngành lập pháp liên bang và nhiều chức vụ hành chánh công quyền khác của tiểu bang và địa phương như hội đồng tỉnh, thành phố v.v. Cứ bốn năm là bầu thống đốc hay tổng thống, như trường hợp năm nay. Lịch trình các vụ bầu cử liên bang và tiểu bang không hoàn toàn trùng hợp nên năm nào cũng có mùa bầu cử vào đầu tháng 11.
Năm nay, sinh hoạt bầu cử có vẻ sôi nổi hơn trong cộng đồng người Việt tại Mỹ, ngay từ khi mùa vận động sơ bộ bắt đầu, vì dường như nhân vật Hillary Clinton thu hút được sự ủng hộ đông đảo của cử tri gốc Việt thuộc đủ mọi thành phần, trí thức cũng như bình dân, nam giới lẫn nữ giới. Nhất là đối thủ chính của bà là nghị sĩ Barack Obama, được coi là một loại “vô danh tiểu tốt”, non nớt kinh nghiệm, tài cán chưa được chứng minh, chỉ có tài ăn nói, hô hào “cho sướng miệng”. Ấy vậy mà cuối cùng ngựa lại về ngược, bà Clinton lại bị thua một cách khít khao và đau đón, khiến cho nhiều nguòi ủng hộ bà, trong đó có rất đông người Việt, cũng thất vọng và tiu nghỉu theo. Trong đầu óc và con tim của họ, không có chỗ nào để giành cho ông Obama cả, một nhân vật mà suốt đời họ không thể hình dung có thể được nhận lãnh vinh dự bước vào làm chủ ở Toà Bạch Ốc.
Vì thế cho nên, cũng là điều dễ hiểu khi thấy nhiều người lên tiếng ủng hộ cho ông John McCain mặc dù đa số cũng đều phải công nhận rằng tình huống hiện nay đem lại quá nhiều bất lợi cho phe Cộng Hoà, vì hậu quả tệ hại và bết bát chưa từng thấy của chính quyền Bush. Ngay cả những cử tri gốc Việt dùng lý trí của mình để bỏ phiếu cho đảng Dân Chủ cũng ngần ngại không muốn lên tiếng công khai bênh vực cho ông Obama. Mà chẳng phải riêng gì với cộng đồng người Việt, ngay cả khối di dân gốc Á ở Hoa Kỳ cũng chẳng ưa gì vị nghị sĩ da đen có triển vọng tạo nên một chấn động lịch sử trong vòng vài tuần lễ tới. Thật vậy, trong ngày bầu cử sơ bộ Super Tuesday tại tiểu bang đông dân nhất là California, người ta đã nói nhiều đến sự kiện đa số cử tri gốc Mễ, vốn chiếm tỉ lệ khá quan trọng trong tiểu bang, không ưa thích ông Obama và dồn phiếu nhiều hơn cho bà Clinton, ở tỉ lệ khoảng 65/35. Thế nhưng khi xét đến cộng đồng gốc Á châu, chiếm khoảng 14% dân số trên toàn tiểu bang, nguòi ta còn ngạc nhiên hơn nữa khi thấy rằng có đến 75% cử tri gốc Á tẩy chay ông Obama. Mặc dù rằng trên lý thuyết, dân gốc Á có trình độ học thức và lợi tức cao hơn trung bình; và trong giới nguời Mỹ trắng, thành phần như vậy lại tỏ ra ủng hộ ông Obama hơn là bà Clinton.
Trước khi bàn sâu thêm vào đề tài lựa chọn giữa hai đảng Cộng Hoà và Dân Chủ, hay đúng hơn là giữa hai liên danh McCain-Palin và Obama-Biden, điều quan trọng đáng nói hơn có lẽ là nhân dịp tranh cử ồn ào sôi nổi này, chúng ta nên đánh giá về cái gọi là sức mạnh lá phiếu của khối cử tri gốc Việt, hay đúng hơn là khả năng của lá phiếu gốc Việt có ảnh hưởng tí nào hay không lên kết quả chung cuộc. Còn nhớ sau kết quả khít khao và gay cấn của kỳ bầu cử tại Florida năm 2000, nhiều người thích đưa ra những lời nhận định và cố vấn rằng lá phiếu nào cũng quan trọng, không nên coi thường, cho dù đó chỉ là một vài lá phiếu đơn lẻ.
Cách đây bốn năm khi thử phân tích về sự lựa chọn nào thích hợp và đúng đắn cho cử tri người Việt trong kỳ bầu cử toàn quốc, và liệu sự lựa chọn đó có chút ảnh hưởng nào hay không trên chính trường, người viết bài này đã nhận định:
“Đầu tiên, chúng ta có thể khẳng định một cách không sai lầm rằng lá phiếu của cử tri gốc Việt quả thật sẽ chẳng có chút ảnh hưởng gì trong kết quả chung cuộc năm nay, một phần vì yếu tố dân số chưa phải là một thực thể đáng lưu ý, và một phần quan trọng khác hơn nữa vì yếu tố địa dư của khối người Việt sinh sống ở những tiểu bang mà kết quả đã gần như biết trước từ lâu cho dù cả khối cử tri gốc Á, tức là bao gồm luôn cả cử tri gốc Việt, có dồn hết phiếu của mình cho bất cứ một ứng cử viên nào.
Trớ trêu một điều là đa số người Việt lại không cư ngụ ở ba tiểu bang đông dân quan trọng là Ohio, Pennsylvania và Florida, nơi gần như sẽ quyết định vận mệnh kẻ chiến thắng. Ngược lại, khoảng 70% dân số người Việt lại dồn về cư ngụ ở hai tiểu bang đông dân là California và Texas. Không những số lượng người Việt, dù có đông đảo, cư ngụ tại hai tiểu bang đông dân này chưa đủ là một thực thể đáng lưu ý, mà khuynh hướng chính trị và kết quả tại hai vùng này cũng đã quá rõ rệt và khó có phương thay đổi trong tương lai gần.
Dù toàn thể cử tri gốc Việt ở California có đoàn kết chặt chẽ đi nữa để dồn phiếu cho một phe duy nhất, một giả dụ quá lạc quan và xa rời thực tế, và quyết định bỏ phiếu cho TT Bush và đảng Cộng Hoà thì cuối cùng ông Kerry cũng sẽ thắng tại đây và chiếm luôn 55 phiếu cử tri đoàn của tiểu bang. Ngược lại, cho dù cả khối cử tri gốc Việt ở hai thành phố lớn tại Texas là Houston và Dallas có dồn hết phiếu về phe Dân Chủ đi nữa thì ông Bush và phe Cộng Hoà vẫn sẽ thắng cuộc sau cùng tại đây.
Do đó chúng ta cần phải biết rõ về kết quả sắp xảy ra trong thời gian tới, không phải để nản chí và bỏ cuộc với tâm lý "ông nào lên thì cũng thế thôi" nhưng để nhìn ra một thực tế và không bị các chính trị gia tập sự của mỗi bên thổi phồng về giá trị của lá phiếu người dân với những mỹ từ rất kêu như là "lá phiếu quyết định", "mỗi một lá phiếu cũng có thể làm thay đổi cục diện" v.v. . . Những nhận định trên tuy có đúng về mặt lý thuyết, nhưng cần phải đem áp dụng vào thực tế với những dấu mốc về thời gian và không gian rõ rệt để biết rằng có những lúc nào đó và tại những nơi nào đó, quả thật lá phiếu của chúng ta không có tí ti ảnh hưởng nào cả, và như thế dễ có cái nhìn thảnh thơi và nhiều phần rõ rệt sáng suốt hơn thay vì bị ảnh hưởng bởi các lời lẽ tuyên truyền cũng như những định kiến đã có sẵn.”
Năm nay, cuộc bầu cử toàn quốc diễn ra vào ngày 4 tháng 11, giữa hai ứng viên được coi như không phải là ứng viên sáng giá nhất, được đa số cử tri trong đảng ủng hộ hay ưa thích lắm trước lúc khởi hành cuộc đua. Tuy vậy, những yếu tố chính không thay đổi gì mấy trong vòng hai năm qua, nhất là yếu tố dân số của người Việt vẫn đóng đô phần lớn trong hai tiểu bang California và Texas. Cho nên những nhận định và kết luận của bốn năm về trước vẫn còn được áp dụng như cũ, nên xin phép được đăng lại nguyên văn như trên. Và cũng vì vậy mà người viết bài này mới dám đưa ra lời tiên đoán gần “chắc ăn như bắp” rằng ông Obama sẽ thắng tại California và ông McCain sẽ giành được Texas, cho dù cử tri gốc Việt bỏ phiếu thế nào đi chăng nữa.
BỎ PHIẾU THEO CẢM TÍNH HAY LÝ TRÍ?
Tuỳ theo hoàn cảnh, văn hoá, kiến thức và sự phán đoán, đây là sự lựa chọn của mỗi cử tri khi bước vào phòng phiếu, và dĩ nhiên họ cũng chấp nhận hậu quả của lá phiếu mình. Không thể nói cách nào hay hơn hoặc đúng hơn, vì đó là quyền tự do cơ bản trong một xã hội dân chủ, tức là quyền tự do để bị coi là ngu (khi bỏ phiếu ngược lại quyền lợi của mình) hoặc là quyền tự do bị thua thiệt (khi không thèm đi bỏ phiếu). Thông thường, ta có thể nói rằng cử tri bỏ phiếu sau khi xem xét quyền lợi của mình sẽ ra sao sau lá phiếu. Thành ngữ tiêu biểu ở Hoa Kỳ để diễn giải cho chiều hướng này là mỗi người nên tự hỏi “What is in it for me?” (Việc đó có lợi gì cho tôi?) Nếu có lợi thì đi theo, bằng không thì bỏ rơi hay mặc kệ. Tuy nhiên, quyền lợi có thể ở dưới dạng vật chất (như kinh tế, quân sự, xã hội) hoặc tinh thần (cảm tính). Nhà triệu phú A. có thể bỏ phiếu cho đảng Cộng Hoà vì đảng này thường chủ trương bắt đóng thuế nhẹ trên các món tiền lời tích luỹ từ vốn liếng (capital gains tax) vì chỉ có dân nhà giàu mới có dư tiền vốn để đầu tư kiếm lời. Bà nghệ sĩ B. có thể ủng hộ cho đảng Dân Chủ vì tinh thần cấp tiến và phóng khoáng trong cương lĩnh của đảng có tính cách bao dung và mở rộng vòng tay hơn là trong giới bảo thủ. Anh C. có thể thích bỏ phiếu cho ứng viên Mỹ trắng thay vì ứng viên gốc Mễ vì thích cái vẻ sang trọng, sáng sủa hơn. Chị D. có thể nói tôi không thích bỏ phiếu cho ứng viên da đen vì từng có nhiều kinh nghiệm không mấy tốt đẹp đối với giới này. Tạm gác sang bên yếu tố hay dở, đúng sai, của những quyết định trên, mỗi cử tri đều có cái lý của mình, và nhiều phần là sẽ hài lòng với sự lựa chọn đó. Nếu sau này, họ có không hài lòng thì đành phải chờ đến kỳ bầu cử lần tới để thay đổi, và tiến trình thay đổi này diễn ra liên tục.
Cử tri gốc Việt ngày nay khôn ngoan, nên đừng theo những lời khuyên khuôn sáo cũ kiểu “bầu cho những người tài cao, đức trọng” hoặc những lời chiêu dụ kiểu mị dân của các chính trị gia chuyên nghiệp ở cả hai chính đảng. Mà hãy nên cân nhắc và so sánh về thành tích, quá khứ cũng như quan điểm để bỏ phiếu cho người nào xét ra có thể hợp và có lợi cho quan điểm và quyền lợi riêng cho cá nhân mình. Cho dù điều đó có đi ngược lại quyền lợi và quan điểm của người khác hay của đám đông, nhưng điều đó chứng tỏ sự khôn ngoan và can đảm để nói lên tiếng nói của mình.
Điều này cho thấy vì sao câu hỏi ở tựa bài là một câu nói... trật lất, không thể nào áp dụng được, mà nhiều người trong giới truyền thông vẫn còn chưa ý thức và thích đem ra để mổ xẻ vào các dịp bầu cử. Việc chúng ta cùng là người Việt tị nạn cộng sản tại Hoa Kỳ không có nghĩa là chúng ta có cùng quan điểm về nhiều mặt khác, cũng như chưa chắc là có cái nhìn về quyền lợi giống nhau. Câu hỏi trên dẫn đến một giả định rằng tất cả người Việt chống Cộng ở Mỹ đều có quyền lợi và suy nghĩ giống nhau, một điều hoàn toàn sai lầm. Vì thế cho nên, khi một chuyên gia phân tích những ưu thế, lợi điểm của một ứng viên nào đó, dẫu rằng hoàn toàn đúng, thì ứng viên đó có thể chỉ có lợi cho một ông A, bà B nào đó mà chưa chắc có lợi cho anh C hay chị D.
Ấy là chưa kể, trong thực tế, những bài phân tích hay bình luận để cổ võ cho một vài ứng viên, hay một phe đảng, lại thường thiếu trung thực, sai lạc đến mức gần như coi thường trình độ hiểu biết của độc giả nên mới khiến cho nhà báo Đào Nương đã phải lên tiếng góp ý sửa sai trong cột mục “Những điều nên nói...” của nhật báo Sài Gòn Nhỏ ngày 18-9 vừa qua. Đó là những bài góp ý của vài người như Mường Giang, Duy Việt khi đề cao quá lố về đảng Cộng Hoà và liên danh McCain-Palin, cũng như chê bai thậm tệ một cách thiếu chứng cứ về đảng Dân Chủ hoặc liên danh Obama-Biden. Những bài viết loại này đã được sao chép và luân lưu rộng rãi trên mạng thông tin Internet trong nhiều tuần lễ qua, và cũng được lập lại nhiều lần trong những cuộc tranh luận trên các làn sóng phát thanh. Bà Đào Nương còn nói rằng có lẽ các ông phân tích gia này không nghe được tiếng Anh, nên mới có những suy luận như vậy. Cuối cùng, bà đưa ra lời khuyên rằng khi viết về chính trị nước Mỹ thì nên biết tường tận. Đừng viết theo cảm quan. Đừng kéo Việt Nam vào.
Trong thực tế, cũng có khá đông cử tri Việt thầm lặng, nhưng có trình độ hiểu biết và suy luận vững chắc, để biết lựa chọn cho người nào đại diện cho quyền lợi hợp với mình. Điều đó không có gì ngạc nhiên, và thường dẫn đến kết quả được đoán trước: đó là có một số lớn bỏ cho phe Cộng Hoà, nhưng cũng có một số lớn không kém thì lại nghiêng về phe Dân Chủ. Cho nên, trong thực tế, lá phiếu của người Việt, vốn tự nó cũng chỉ là một phần nhỏ trong cái khối cử tri gốc Á (gồm Trung Hoa, Đại Hàn, Phi Luật Tân, Ấn Độ v.v. . .) -- mà ngay cả lá phiếu của cả gốc Á cũng quá nhỏ trong tập thể cử tri người Mỹ -- chẳng có sức mạnh thực sự nào cả. Nhưng nó vẫn được săn đón nồng nhiệt, khi người Việt bắt đầu chịu đi bỏ phiếu, bởi vì ứng cử viên cùng đảng được mình ủng hộ săn đón đã đành rồi, nhưng ứng cử viên đối nghịch cũng tìm cách để ý đến mình vì họ sợ 1 lá phiếu bỏ cho đối thủ là 1 lá phiếu diệt trừ sức mạnh của họ.
CỘNG HOÀ CHỐNG CỘNG?
Từ lâu một số người Việt vẫn còn mang nặng một thành kiến sai lầm là phe Cộng Hoà là cương quyết, chống Cộng trong khi phe Dân Chủ là chủ bại, phản chiến. Chỉ cần nhìn lại lịch sử cận đại chưa đầy 40 năm qua cũng thấy rõ là quan niệm này hoàn toàn sai lạc nếu không muốn nói là quá đơn giản, gần như non nớt, ấu trĩ. Chính TT Johnson của đảng Dân Chủ vào giữa thập niên 60, khi biết rằng chính quyền quân đội tại Sàigòn vẫn chỉ lo tranh giành quyền bính qua các cuộc đảo chỉnh thay vì chú tâm đề phòng trước sự xâm nhập lớn mạnh của Cộng sản Bắc Việt, nên đã quyết định gia tăng con số khổng lồ cả nửa triệu binh sĩ Mỹ đến tham chiến tại Việt Nam để giữ cho tiền đồn chống Cộng này khỏi rơi vào tay kẻ thù phương bắc. Hành động can đảm của ông Johnson đã mang lại một kết quả thất vọng cho chính cá nhân ông sau đó, là phải quyết định không ra tái tranh cử vào năm 1968 vì chính sách đưa quân tham chiến của mình đã gây chia rẽ trầm trọng trong dân chúng Hoa Kỳ.
Giới cầm quyền thời Đệ Nhị Cộng Hoà tại miền Nam Việt Nam thường tự tin vào sự ủng hộ đắc lực của TT Nixon (đảng Cộng Hoà) nhưng chính phụ tá của ông là Henry Kissinger đã đi đêm với Lê Đức Thọ để thành hình Hiệp Định Paris vào đầu năm 1973 hầu dọn đường tháo lui của quân đội Mỹ khỏi VN sau khi đã bắt tay được với Trung Cộng và không còn sợ đến ảnh hưởng toàn thắng của Liên Sô ở Á Châu. Hành động phản bội này của ông Kissinger và đảng Cộng Hoà, dẫn đến cuộc di tản đau thương vào ngày 30 tháng 4 oan nghiệt năm nào, nhiều người vẫn còn biện minh cho rằng vì có sự chống đối của các dân biểu và nghị sĩ thuộc phe đa số Dân Chủ thời bấy giờ. Ai cũng biết, việc điều hành chiến tranh và đối ngoại thuộc về đặc quyền của ngành hành pháp, chính quyền Mỹ và Ngũ Giác Đài đã dọn đường sẵn cho cuộc tháo chạy này cả năm trời trước đó khi cho dựng sẵn trước các trại lều tiếp cư ở đảo Guam để đón tiếp số lượng di dân tị nạn đông đảo vào mùa hè năm 1975.
Trong kỳ bầu cử năm 2004, những lời tuyên bố của TT Bush cũng đã tạo ra một sự chấn động trong lòng khối người Việt quốc gia.
Đó là trong cuộc phỏng vấn với ký giả Bill O'Reilly trên đài truyền hình Fox News, ông Bush phấn khởi nói về sự quyết tâm đấu tranh cho dân chủ, tự do của nhân dân A Phú Hãn trong cuộc bầu cử toàn quốc. Nhưng khi được hỏi là có phải tại vì người dân miền Nam Việt Nam trước đây không chịu đấu tranh cho tự do của họ cho nên ngày nay không có tự do hay không, TT Bush đã trả lời gọn lỏn "Yes". Sau đó ông nói tiếp rằng ông tin chắc chắn rằng (absolutely) dân Iraq sẽ chiến đấu cho lý tưởng tự do của họ. Nói một cách khác, ông Bush muốn cho thấy nhiệm vụ thiêng liêng của người Mỹ là ở lại giúp dân Iraq chiến đấu cho tự do vì đó là ước muốn cao cả của họ. Ông muốn so sánh ví dụ là dân miền Nam VN trước đây không chịu chiến đấu cho tự do của họ nên Mỹ mới rút khỏi VN. Còn bây giờ, dân Iraq đang tranh đấu cho tự do của họ nên chính quyền của ông cần phải ở lại để giúp cho dân Iraq đạt được lý tưởûng này.
Lời nói của TT Bush, giống như lời phát ngôn của tổng trưởng quốc phòng Donald Rumsfeld trước đó không lâu, cũng tai hại đớn đau cho sự đấu tranh hy sinh của hàng triệu quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hoà trong cuộc chiến vừa qua. Trong một chương trình phỏng vấn Hardball trên đài MSNBC vào ngày 29-04-2004 do nhà báo Chris Matthews chủ trì, khi được hỏi so sánh giữa Iraq ngày nay và VN lúc trước, ông Rumsfeld, một viên chức chính quyền cao cấp của ông Bush nổi tiếng với những lời lẽ và hành động xem thường các đồng minh lâu đời như Pháp và Đức, cũng đã không tha đồng minh nhỏ bé cũ của mình và VNCH với câu trả lời như sau: "Ở VN (hồi đó) anh thấy là có một thành phần có tinh thần quốc gia dân tộc cao độ ở miền bắc, rồi bọn Việt Cộng cũng là một thành phần đáng kể trong tình thế bấy giờ. . . Rồi anh lại thấy chúng ta có một chính quyền (VNCH) không được lòng dân ở miền Nam. Cái chính phủ miền Nam này chẳng có hiến pháp, chẳng có bầu cử gì cả. Đối với đại đa số người Việt, họ bị coi là một thứ chính phủ bù nhìn."
Ngoài sự hiểu biết ấu trĩ, ngu xuẩn hoặc chẳng thèm đếm xỉa gì đến sự thật của chính trị gia Mỹ kiểu ông Rumsfeld với lối phát biểu như trên, những lời nói đó còn là một vết dao đâm thấu tâm can của khối quân dân cán chính VNCH đã sinh sống và tranh đấu, hy sinh trên chiến trường cũng như trong lòng biển cả trên đường mưu tìm tự do mặc dù thường bị bó tay hay chèn ép bởi đồng minh khổng lồ nhưng thiếu chân thật và sẵn lòng phản bội là Hoa Kỳ. Tiếc thay, nhiều người chỉ thích chỉ trích thái độ phản chiến của ông John Kerry vào năm 1972 mà không chịu nhìn lại những lời nói và hành động “khốn nạn” hơn của hai ông Bush và Rumsfeld đối với chính nghĩa của cuộc chiến bảo vệ tự do tại miền Nam Việt Nam. Thái độ của cậu thanh niên Kerry sau khi giải ngũ dầu sao cũng còn dễ hiểu vì phản ảnh tâm lý chung của đa số dân Mỹ lúc bấy giờ. Thử tưởng tượng xem giả như chương trình động viên vẫn còn áp dụng như thời trước, tất cả con em người Việt chúng ta sinh sống ở Mỹ đến 18 tuổi thì phải buộc nhập ngũ để lên đường sang chiến đấu ở Iraq như đa số công dân Mỹ khác. Và thử tưởng tượng rằng con số lính Mỹ chết ở Iraq trong mấy năm qua lên đến hơn 50,000 (và trong đó phải có 1 tỉ lệ vài trăm em gốc Việt), thay vì chỉ có 4,000, thì ta mới hiểu được vì sao đa số dân Mỹ sẽ trở thành chán nản, và muốn chấm dứt chiến tranh sau vài năm mệt mỏi, chết oan mạng ở chiến trường xa lạ. Chắc chắn là sẽ có khối gia đình người Việt sẽ tìm cách đưa con em trốn sang Gia Nã Đại, hay Pháp v.v. . . để trốn lính, thậm chí có thể gửi về Việt Nam cho chắc ăn hơn thay vì bị gửi đi ra chiến trường cực khổ ở Iraq hay A Phú Hãn.
Nhưng những lời tuyên bố của hai lãnh tụ như Bush và Rumsfeld vào thời điểm 2004 thì càng khó tha thứ, khó thể biện minh là vì tuổi trẻ nông nổi, thiếu chin chắn như cậu thanh niên Kerry của hơn 32 năm về trước.
Cũng như nhiều người thích lên án ông John Kerry đã ngâm tôm một dự luật ở Thượng Viện Mỹ chỉ trích thành tích nhân quyền ở Việt Nam, nhưng trong thực tế, cả hai ông Kerry và John McCain, cũng như nghị sĩ Robert Smith trước đó, là những người mạnh mẽ ủng hộ việc nối lại bang giao với nhà cầm quyền Việt Cộng, và nhờ vậy mà TT Bill Clinton mới có sự ủng hộ lưỡng đảng để tính đến chuyện làm ăn với kẻ cựu thù. Trong chuyến viếng thăm lần đầu sang Mỹ của Thủ tướng Việt Cộng Phan Văn Khải vào năm 2005, trong một buổi tiếp tân tại phòng tiệc sang trọng của Mayflower Hotel, chính ông McCain được nhận lãnh vinh dự đọc bài diễn văn chúc mừng (toasting) khách quý là kẻ thù cũ. Hành động này đã khiến 1 cựu chiến binh Mỹ, ông Jerry Kiley, tức giận và tìm cách hất ly rượu cầm trên tay để tỏ sự chống đối thái độ “đón gió, trở cờ” của ông McCain. Ông Kiley la to giữa phòng tiệc sang trọng; “Nghị sĩ McCain, ông là một kẻ phản bội những tù binh chiến tranh của Mỹ cũng như những người Việt Nam mà chúng ta đã bỏ rơi lại trong cuộc chiến.”
Thái độ can đảm của ông Kiley không thấy những người Việt chống Cộng nên nhớ để làm bài học kinh nghiệm, mà chỉ thấy nhiều người thi nhau chỉ trích hay tấn công những thương gia ở Orange County đến dự buổi tiệc do Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết tổ chức tại Dana Point vào năm 2007, cũng như có nhiều người muốn lên án hành động của “cậu nhóc” Nguyễn Quốc Đoàn tại Houston đã gặp gỡ và đọc bài diễn văn trong buổi tiếp tân đại sứ Việt Cộng Lê Công Phụng tại Houston vào mùa xuân năm nay. Cũng cùng một việc làm nhưng do chính trị gia Mỹ như ông McCain làm thì không ai lên tiếng chống đối, còn người Việt làm thì chúng ta thi nhau ào ào phản đối mạnh bạo. Liệu chúng ta có cảm thấy điều gì bất nhất và thiếu thẳng thắn, hèn nhát hay không?
Trong cuộc tranh luận giữa Cộng Hoà hay Dân Chủ về tinh thần chống Cộng, nhiều người lại không chịu nhìn thấy công sức đóng góp vô cùng quý báu và khích lệ của bà Loretta Sanchez, dân biểu liên bang tại vùng Orange County. Bà Sanchez tỏ ra là một vị dân cử thực sự tranh đấu cho lý tưởng của người Việt quốc gia một cách anh dũng và hữu hiệu nhất, cho dù là khối cử tri gốc Việt không chiếm đa số trong đơn vị này. Việc bà theo chân phái đoàn của TT Clinton đến viếng thăm Việt Nam vào năm 2000, nhưng sau đó tự động tìm cách đến thăm các nhà đấu tranh bị kềm kẹp hay quản thúc trong nước khiến bà sớm trở thành một người hùng, thực sự tranh đấu cho nhân quyền tại Việt Nam, trong lòng đa số người Việt quốc gia tại hải ngoại, dù theo Cộng Hoà hay Dân Chủ. Bà cũng đã mời các vị đồng viện họp chung trong nhóm quan tâm đến các đề tài về Việt Nam (Vietnam Caucus) tại Hạ Viện. Hồi đầu năm 2006, khi nhà cầm quyền cộng sản ở Việt Nam ra lệnh không cấp chiếu khán cho bà về thăm Việt Nam với lý do là đã xen lấn vào nội tình ở trong nước, vô tình họ đã khoác cho bà cái huy chương chống Cộng hữu hiệu và cao quí nhất trong lòng đa số khối người Việt tại đây.
Việc lựa chọn theo phe Dân Chủ hay Cộng Hoà cần phải được cân nhắc kỹ lưỡng hơn tuỳ theo quyền lợi của mỗi cá nhân, và cũng áp dụng khác nhau ở từng thời điểm và địa phương riêng biệt chứ không thể áp dụng một cách nhất quán. Ở cấp chính quyền địa phương hay tiểu bang, yếu tố chống Cộng chẳng là mối bận tâm của các chính trị gia Hoa Kỳ cho dù theo Dân Chủ hay Cộng Hoà, và do đó mỗi cử tri nên ý thức mà bỏ phiếu cho sự lựa chọn đáp ứng đúng nguyện vọng thiết thực và cụ thể nhất cho mình hơn là những đề tài xa vời nhưng trống rỗng. Ở cấp liên bang, chúng ta cần phải sớm nhìn ra chân lý là chính trị gia Mỹ lúc nào cũng chỉ nhắm vào quyền lợi tối thượng của đa số dân chúng Mỹ, một thứ đa số có thể thay đổi bất thường tuỳ theo quyền lợi riêng tư của họ, và do đó quan điểm của các chính trị gia Mỹ cũng thay đổi theo cho phù hợp để mong sinh tồn theo đúng tinh thần của chủ nghĩa thực dụng (pragmatism) mặc dù nhiều người Việt vẫn thường chê bai đó là một chính sách đón gió trở cờ.
Việc ủng hộ đảng Dân Chủ hay Cộng Hoà, không phải là điều quan trọng hay cần thiết để phân biệt xem cái nào là đúng đắn hay sai lạc vì nói cho cùng nó là sự lựa chọn của mỗi cá nhân khi bước vào thùng phiếu để quyết định điều gì đúng với lương tâm và quyền lợi của riêng mình. Sự lựa chọn của mỗi cá nhân chúng ta, cho dù có đi ngược lại nguyện vọng của nhiều người khác, vẫn là một quyết định đúng đắn nếu như nó phản ảnh đúng nguyện vọng và quyền lợi của riêng mình.
Sau cùng, một chi tiết cũng cần nói đến liên quan đến màu da của ông Obama. Không ai chối cãi rằng đây là yếu tố rất quan trọng cho kết quả bầu cử năm nay, và cũng không ai ngăn cản chúng ta bỏ phiếu theo cảm tính, không thích ủng hộ một ngườøi nào chỉ vì màu da hay bề ngoài không hợp nhãn với chúng ta. (Ở điểm này, cả hai ông bà Obama đều khó đạt được sự ủng hộ của đa số, trong đó có cả người viết bài này). Trong một chừng mực nào đó, người ta có thể tuyên bố rằng họ không thích bỏ cho ông Obama vì ông là người da đen, một câu nói sặc mùi ‘politically incorrect’, nhưng ít ra cũng là can đảm để nói lên sự thật. Tuy nhiên, chớ vì vậy mà đưa ra những lời nhận định về tư cách ông Obama không xứng đáng để làm tổng thống, hay sĩ diện quốc gia Hoa Kỳ sẽ bị thương tổn một khi ông ta được đắc cử. Câu nói chỉ vô tình hé lộ ra trình độ nhận thức và phán xét rất yếu kém và nông nổi của người phát ngôn. Mọi người đều thừa nhận rằng sự kiện ông Obama có thể thắng cử gây sự khó chịu rất lớn trong lòng nhiều người, nhưng nếu bảo là ông ta thiếu tư cách để làm tổng thống là một lời nói hồ đồ, ngu xuẩn. Chính ông McCain cũng phủ nhận lời cáo buộc như thế, và cả bà Hillary Clinton cũng không bao giờ có ý nghĩ như vậy. Người ta có thể bình phẩm rằng có nhiều người xứng đáng hơn nhưng không may mắn. Thì điều đó không khác gì trường hợp của TT Bush. Một khi vận may đưa đẩy thì nhiều sự kiện dẫn đưa để cuối cùng cờ sẽ đến tay những kẻ biết nắm lấy ngay cơ hội, hoặc số ông ấy được làm vua thì rồi cuối cùng cũng có ngày lên ngôi.
Sĩ diện quốc gia thật ra cũng chẳng có gì gọi là sứt mẻ vì người ta không còn đánh giá một quốc gia qua hình ảnh của một lãnh tụ. Thật ra, nếu như ông Obama có lên làm tổng thống thì hình ảnh tự do dân chủ của Hoa Kỳ còn được cải thiện ngay tức khắc trước công luận thế giới, vì điều đó cho thấy là đa số người dân ở Mỹ không có tinh thần bảo thủ, giáo điều, cực đoan như nhiều người lầm tưởng do bởi những chính sách thất nhân tâm, gây thù chuốc oán quá nhiều dưới chính quyền Bush. Những người nào nói ra câu nhận định đó thật ra đã để lộ bản chất vọng ngoại, nay tự ti mặc cảm, do bởi hậu quả bao năm bị đô hộ nên bao giờ cũng chỉ nghĩ rằng chỉ có giống dân da trắng mới xứng đáng, và có đầy đủ tư cách hơn để bước lên ngôi vị lãnh đạo.
Trong một chừng mực nào đó, có khi nào họ chịu nghĩ lại rằng những lời lẽ sặc mùi kỳ thị chính trị gia thiểu số da đen thì cũng chính là tự kỳ thị mình, chẳng qua cũng chỉ là một giống dân thiểu số da vàng. Chẳng lẽ con em người Việt chúng ta không có đủ tư cách, không có khả năng để làm bác sĩ, kỹ sư, luật sư, chủ tịch ngân hàng, dân biểu, nghị sĩ, thẩm phán Tối cao Pháp viện, và trong tương lại có thể trở thành phó tổng thống hay tổng thống hay sao?
Minh Thu

McCain or Obama:
Người Việt nên thận trọng về cung cách văn hoá người Mỹ
Tác giả: Lê Hùng Bruxelles
1. Vài lời nói đầu.
Không hiểu cảm tình liên đới với người Mỹ thế nào mà mọi chuyện xẩy ra trên nước Hoa Kỳ cả thế giới đều quan tâm?. Thật vậy, mấy tuần nay báo chí và dư luận khắp nơi hầu hết đang chú tâm cuộc chạy đua vào Nhà Trắng giữa McCain và Obama. Tất cả đều dựa vào kết quả các con số đưa ra trong những cuộc thăm dò ý kiến và chắc chắn rằng Obama không thể là người thua cuộc. Trong khi đó, theo AFP, để trả lời câu hỏi trực tiếp ứng viên McCain của đài Fox News hôm qua (19/10) rằng liệu ông thất cử thì thế nào? McCain nói: “Tôi đã có cuộc sống tuyệt vời“ (J’ai eu une vie merveilleuse). Nói khác, McCain ra tranh cử vì McCain chỉ muốn phụng sự trước tiên cho quê hương (Country First). Cũng vì vậy, tôi xin thô thiển trong bài nầy.
2. Những chiếc đèn lồng treo trước cửa Obama và McCain.
Tại Bỉ, tờ báo hàng đầu Le Soir, ngày 17/10, đã đưa ra một loạt kết quả trưng cầu ý kiến của 8 tờ báo uy tín lớn: La Presse de Montréal (Canada), Le Monde (Pháp), Le Temps (Suisse), Gazeta Wyborcza (Pologne), Reforma (Mexique), Yomiuri Shinbun (Nhật), và Le Soir (Bỉ) đều dành cho Obama nhiều lời tán tụng. Tờ Le Soir còn đưa ra 8 câu hỏi cho mỗi tờ báo nêu trên để đồng nhất thực hiện trong cuộc thăm dò ý kiến và đã viết ra các con số rõ ràng. Tại Bỉ có 62% bầu cho Obama và 8% cho McCain. Tại Suisse, phái ủng hộ Obama chiếm 83%. Tại Canada 70%, Pháp 68%, Anh quốc 64% và tại Nhật bổn 61%. Sau cùng tờ Le Soir kết luận nếu Obama thắng cử, ông ta có trách nhiệm lớn trước một thế giới đang “khao khát một sự thay đổi“.
Để cho lập luận càng vững chắc, tờ Le Soir lại đưa hình ảnh các nhân vật quan trọng xứ nầy đã bào chửa lý do sự thắng cử của Obama và nêu lên những “sự không bằng lòng“ chính quyền của đảng Cộng Hoà. Dụng ý buộc tội trong suốt 8 năm của nhiệm ký TT Bush, thế giới chỉ là chiến tranh, và nay là nền kinh tế thế giới suy thoái. Mỗi người đưa ra một ý nghĩ. Nghĩa là không ai trong các nhân vật đó diễn tả chuyện thật trong lòng mình! Chẳng hạn những câu như “Obama là người đã đưa ra một lập trường chính trị đối ngoại có tính toán“ (politique concertée). Hoặc “Obama là người da đen và tương lai là đa dạng“ (diversité). Hoặc “Obama là dân da đen mà ông không chịu nhớ rằng ông có da màu đen“. Phe chính trị thì nói rằng “Obama có lập trường gần như lập trường của chúng tôi“. Riêng ông Elio Di Rupa, đảng trưởng đảng “Xã Hội tân thời“, còn loan báo rằng ông là người duy nhất đã “nhận chức Chủ tịch phong trào Ủng hộ Obama“ tại Bỉ. Nhưng khi nhìn kỷ những bộ mặt các nhân vật chính trị và kinh tế trước lời lý luận của họ, người viết cho rằng cũng chỉ là cách “ăn theo thời, nói theo thế“ mà thôi. Những nhân vật kinh tế nói theo làn sóng “tài chính suy sụp“, những nhân vật chính trị nói theo ngọn gió “sức mạnh phe phái“. Một lối lý luận không cần có óc lý luận. Các nhân vật nầy chẳng khác nào khách lành chơi khi đi ngang chốn Thanh lưu, họ thấy mấu hồng những chiếc đèn lồng (lanterne) treo nơi ngưởng cửa Obama và McCain mà tưởng tượng sự việc nội phòng!
3. Hiệu ứng và sự đoán mò.
Cũng trong ngành truyền thông, bên kia bờ Đại Tây Dương, tờ Gallup Press đã đưa ra một đồ biểu thăm dò bầu cử toàn quốc Hoa Kỳ và cho biết đảng Dân Chủ đã dẫn đầu 15 điểm. Trong những liên bang lớn trong quyết định như Pensylvannie, Ohio, Floride, ông Obama đã dẫn đầu. Thế là chỉ còn 2 tuần nữa, nếu cuộc bầu cử diễn ra trong không khí hiện tại, thì chuyện thắng cử của Obama cũng là chuyện rất tự nhiên. Không ai thận trọng để dám nghĩ rằng cuộc bầu cử tổng thống Mỹ lần nầy hoàn toàn khác với bất cứ các cuộc bầu cử nào trước đây. Vâng, những tiếng thì thầm từ tai nấy sang tai khác, từ Hoa Thịnh Đốn qua Los Angeles, từ Seatles xuống mạn Florida rằng “đây là lần đầu tiên trong lịch sử 232 năm tại nước Hoa Kỳ có cuộc vận động bầu cử tổng thống kỳ thị da mấu“. Làm sao có thể tại một nước Mỹ hôm nay, người dân có thể chịu đựng nổi mấy chữ “kỳ thị da mầu“ trong cuộc bầu cử ông tổng thống của một quốc gia tự hào là bình đẳng, dân chủ, tự do hàng đầu thế giới?. Trên đất nước nầy, mọi việc đều thi hành bình đẳng trước hiến pháp. Hoạ chăng, chỉ có những người Mỹ dám bố báng trong ngành thông tin điện tử, nhưng cũng chỉ là bằng những lời “than vãn thì thầm“ giữa tình bầu bạn, chứ chẳng ai dám thốt ra mấy chuyện tục tằn.
Dù sao, theo tôi, có điều chắc chắn là từ Obama đến McCain và đến cả nhân dân nước Mỹ, suốt ngày 4/11/2008 sắp tới, khi vào phòng kín đều có một ý nghĩ trong đầu: “Đất nước Hoa Kỳ có nên dành cho một ông Tổng Thống da đen hay không?“. Đó là câu hỏi mà không có cuộc thăm dò ý kiến nào trên thế giới kiểm chứng đúng được. Mặt khác, mọi cuộc thăm dò đều dựa trên máy móc, một trạng thái hữu hình, trong khi ý kiến lại nằm trong một lãnh vực không sờ mó được. Ý kiến ai người ấy biết, bởi lẽ nó nằm trong chiều sâu của một thế giới khác, con người chỉ thẩm định sau cái hiệu ứng (effet) của nó. Có thể nói, các cuộc thăm dò ý kiến đều do sức tưỏng tượng của mỗi con người. Đơn giản: “đó là những chuyện đoán mò“.
4. Obama và McCain dưới nhản quan người Mỹ.
Đoán mò là căn bệnh thông thường của nhiều nhà trí thức vì họ là thành phần giàu óc tượng tượng. Người Việt chúng ta không đi ra ngoài định đề đó. Đoán mò cũng có cái đúng nhưng không nên quên rằng có nhiều cái quá sai. Xưa nay thì Sai nhiều hơn Đúng. Thế nhưng, kinh nghiệm cho thấy trong một cộng đồng xã hội nghèo nàn óc tưởng tưởng thì rất khó mà thăng tiến.
Trong sinh hoạt hằng ngày, sự đoán mò dưới bất cứ hình thức nào (chính trị, kinh tế, xã hội, tâm lý) phần lớn thường chạy theo dư luận quần chúng. Nghe “như vậy“ nên mình cũng đóng góp “như vậy“ cho có mặt với đời, với... văn chương. Trong lời đóan mò giữa các đương sự, chỉ khác nhau ở chổ “thêm thắt“ vài ý kiến mập mờ, đôi khi thô thiển. Quá thô thiển! Hoặc kiểu “hàng hai“, ai hiểu sao thì hiểu. Khác với nhận định ở phòng thí nghiệm, mọi sự vật bày ra trước mắt, nhà khoa học chỉ dựa vào các cấu tử mà phê phán, mà nói và quyết định. Nhà khoa học không thể làm cách khác được.
Trong phần nầy, tôi muốn đề cập đến những người Mỹ không có gốc gác Việt Nam. Như trên đã nói có luồng dư âm “thầm thì rỉ tai“ khắp miền đất nước Hoa Kỳ, nên tôi cứ tượng tượng thành phần nầy là những người Mỹ Đen và Mỹ Trắng.
Chúng ta không cần phải nghe theo các nhà khảo cứu trong sách vở của các nhà xã hội học, mà chì cần đến suy nghiệm tâm lý thông thường của con người. Tôi nghĩ rằng trong 10 người Mỹ Đen thì chắc chắn đã có 8 hay 9 người dành phiếu cho Obama. Vậy trong số người Mỹ còn lại thì thế nào? Số 6% người Mỹ gốc gác NewYorkais ở đâu? Vẫn biết tại Mỹ, hiện tại các nhà lãnh đạo xí nghiệp lớn có óc “tả khuynh“ (gauchisant) đang tuyển chọn người hợp tác điều hành và đang nghiên cứu phương thức tuyển chọn. Dù cho họ có thiện cảm cực kỳ dành cho Obama, nhưng khi nghĩ đến phương thức điều hành chuyên môn trong xí nghiệp bắt buộc họ phải dành công việc cho người Mỹ Trắng.Bởi lẽ, theo truyền thống đại học Mỹ xưa nay tỷ số thông minh (Q/I) người da đen quá thấp trước người da trắng.
Tôi đã có dịp tận mắt nhìn những người thanh niên da mầu tại Los Angeles đang sục sạo thức ăn trong thùng rác giữa chợ bán tôm hùm nấu sôi sục trong các thùng chứa to lớn bằng thùng tonneau dầu xăng, nằm bên cạnh bờ sông vùng Redondo Baech. Tôi cũng có dịp sống với gia đình những người Anh trong làng Anh cổ kính bên Úc (The Village Homes of England Sydney) và được đi xem những ngôi mộ người NewYorkais đầu tiên bước chân đến xứ nầy. Sống có cái thương tâm mà chết có cái kỷ niệm lưu truyền. Tôi nghĩ rằng trên thế giới nầy chưa có sắc tộc nào bảo thủ và tự hào như người mang dòng máu di truyền Yorkais. Vẫn biết tại Mỹ nạn kỳ thị mầu da được xem như chấm dứt dưới thời kỳ TT Kennedy và TT Johnson. Thế mà trong thập niên 60 vẫn có những nhà lãnh đạo tự do “khuynh tả“, hằng tuần, không cần dấu diếm, họ đã tổ chức công khai công tác từ thiện tại các khu “mỹ đen“ (africano-américains). Nhưng cũng tại nơi đây đã mào đầu những mầm móng xen kẽ giữa lớp trí thức, giữa lớp giàu nghèo, giữa lớp lang giai cấp xã hội...dai dẳng khó tả. Vì vậy, biết đâu Obama chưa phải là sự chọn lựa đúng đắn của người Mỹ trước bà thượng nghị sĩ Clinton!
Sự kỳ thị chủng tộc là hành động tự phát do lòng thù hận hay do sự khinh miệt giữa con người. Nay trước sự suy thoái kinh tế, người Mỹ tỏ ra yêu thích Obama thật, nhưng có điều là tất cả người Mỹ đều thắc mắc khi họ đứng trước một ông tổng thống da mầu. Từ đây, không ai ngăn cản được những luồng sóng ngầm nghi ngờ các chuyện đã xẩy ra trong các Nhà Thờ người Mỹ da mầu. Có ai kiểm soát được những người Da Đen đang liên lạc thầm lén với bọn khủng bố? Có thể là không có chuyện đó, nhưng biết đâu được?. Do đó, sự tham gia hoàn toàn vào địa hạt bầu bán cho một người Da Đen đứng ra làm chủ toà Bạch Ốc đã bớt nhiều hiệu qủa. Mọi người khác mầu da với người Mỹ đều là người xa lạ (étrangers). Mà người xa lạ, đối với ngưòi Mỹ lại là người Da Đen. Chẳng khác nào như tại Âu Châu, trước đây, người xa lạ là người Juif và hiện tại là dân Ã-Rập. Không khí trong xã hội người Mỹ nói chung, người Da Đen là người cùng anh em với dân Da mầu. Mà dân da mầu rất đáng nghi ngờ, nhất là sau ngày 11/9. Rất khó mà tìm hiểu nơi con ngưới xa lạ, nên rất khó mà giải thích. Họ là ai? Họ là nhân vật thần bí hay là địch thủ? Há lẽ người Mỹ lại đi bầu cho một tên địch thủ vào làm ông chủ toà nhà Bạch Ốc? Liệu sau đó, dân Mỹ có còn một nước Mỹ Cờ Hoa hay không? Liệu sau đó, người Mỹ có đủ điều kiện để hạ thủ một nước bạn nhỏ bé như Việt Nam Saigon năm nào? Há lẽ người Mỹ hôm nay lại muốn một quốc gia tự do thành một quốc gia đầy nhà tù cải tạo như của Việt Cộng thập niên 75-80? Nhìn sâu vào các câu trả lời nếu có, chúng ta có thể thẩm định cuộc chạy đua vào toà Nhà Trắng giữa Obama và McCain.
5. Obama và McCain dưới nhản quan người Việt.
Theo tin tức báo chí và các diễn đàn trong mấy ngày gần đây, cộng đồng Việt Nam tại Mỹ đã có lập trường rõ rệt. Trừ một số ra vào Việt Nam buôn bán và hoạt động, còn lại số đông bà con đã chọn ứng cử McCain. Đây là một sự chọn lựa đứng đắn không những về phương diện đấu tranh chính trị mà còn là thể hiện tinh thần những người Việt trung hậu, muốn tỏ lòng biết ơn ông McCain đã dành thì giờ trên nghị trường cho người Việt không thích sống với Việt Cộng được sang dung thân tại Mỹ. Nhưng để có cái nhìn chung chung cuả người Việt khắp nơi giữa hai ứng cử viên Tổng Thống, tôi xin dẫn chứng từ hai bài viết sau đây:
Trước hết là bài ông Hàn Lâm Nguyễn Phú Thứ bên Pháp trong đề nói về “Thử tìm Hiểu 4 ứng cử viên Tổng Thống & Phó Tổng Thống Hoa Kỳ Như Thế nào?”. Hầu như phần đông độc giả đều biết ông Nguyễn Phú Thứ là người Việt duy nhất hôm nay được danh hiệu Hàn Lâm của nưóc Pháp. Sự thông thái của ông có thừa và đặc biệt trong lối chứng minh về khoa Tướng Số của ông rất khúc chiết, vừa tâm lý vừa khoa học, dễ chấp nhận hơn nhiều pháp tướng gia khác.
Sau khi so sánh tuổi tác, công danh sự nghiệp của 4 ứng cử viên, ông Hàn Lâm Nguyễn Phú Thứ đã đi đến kết luận : “Obama có ưu điểm chiếm toà Bạch ốc trong kỳ bầu cử tổng thống Mỹ 4/11/2008”. Tôi ước mong rằng lời đoán của ông Hàn Lâm Nguyễn Phú Thứ đừng cho tôi thất vọng , nếu cuộc chạy đua về toà Bạch Ốc ngày 4/11/2008, con ngựa McCain dẫn đầu.
Tiếp theo là bài viết của Đặng Thiên Sơn giới thiệu và so sánh giữa hai ứng cử viên McCain và Obama đi từ khẩu hiệu đưa ra “Đất Nước Trước Hết (Country First) của McCain” và “Chúng Ta Cần Thay Đổi (Change We Need) của Obama”. Tác giả nêu lên những khác biệt về ngưồn gốc mầu da “Trắng và Đen”, với hàm ý nói lên rằng niềm tự hào người da trắng là người khai khẩn lên xứ Hoa kỳ và người da đen chỉ là một sắc tộc được người da trắng đem đến nuôi nấng xứ nầy. Vậy có nên đặt người con nuôi đứng ra thay thế gia đình ông chủ hay không? Sự kỳ thị về da màu nếu có, thì chỉ là do sự tự ty mặc cảm ở những con người da đen thường bị các thời đại chính trị chi phối, chứ người Mỹ da trắng không cần phải nghỉ tới. Chính vì lý do nầy, mà người da trắng, cho dù có ra mặt ủng hộ Obama trước thời ký khủng khoảng kinh tế hôm nay, khi vào phòng phiếu phải nhớ đến McCain. Với người Mỹ nói chung và người Việt nói riêng, hiện tượng tâm lý nầy đã xẩy ra dưới thời TT Reagan, mà báo chí thế giới cho đó là hiệu ứng Reagan (effet Reagan). Tuy bài viết của tác giả đã có ý nói “tốt” cho thượng nghị sĩ McCain, nhưng nơi phần kết luận, tác giả đã dành sự chọn lựa cho độc giả người Mỹ gốc Việt.
Kết luận.
Tôi thô thiển vài lời về nước Mỹ vì tôi là người Việt, - một người Việt đã từng thấy hành động chính trị của một nước Mỹ mạnh nhất thế giới -, một thời tự do lõa lồ trên đất nước tôi. Chính bàn tay người Mỹ đã tạo ra một miền Nam hưng thịnh và sau đó, một miền Nam xáo trộn, chết chóc!. Làm sao tôi quên được những chính quyền Mỹ đã gây ra thảm hoạ cho Việt Nam từ sau ngày 1/11/1963 cho đến nay?. Gần đây, trước việc đàn áp tôn giáo của chính quyền Việt Cộng đã làm thế giới dao động, báo chí truyền thông đã đánh động lương tâm những nhà lãnh đạo tranh đấu vì Công Lý và Nhân Quyền, thì chính ông Đại Sứ Mỹ tại Việt Nam, Michael Michalax, đứng ra làm chứng đại khái những chuyện đó không xẩy ra tại Hà Nội!
Cho nên hôm nay, một trong hai người trúng cử TT Mỹ, dù Obama hay McCain, cũng chẳng có gì làm tôi lo lắng bận rộn. Bài nầy, tôi muốn gửi đến bạn bè năm châu để biết thêm về người Mỹ, và cung cách văn hoá Mỹ là như thế đấy. Mong rằng người Việt khắp nơi, các thế hệ trẻ, hôm nay và về sau, nên thận trọng trước mọi chính quyền người Mỹ.
Lê Hùng Bruxelles
Nhà báo Việt Chiến không kháng án
Tác giả: BBC
Gia đình nhà báo Nguyễn Việt Chiến cho hay ông sẽ không kháng cáo bản án hai năm tù giam mà tòa sơ thẩm phán quyết hôm 15/10.
Được biết quyết định đã được đưa ra trước khi hết thời hạn được nộp đơn xin phúc thẩm.
Như vậy, ông Nguyễn Việt Chiến sẽ phải thực hiện án tù nhưng cũng có thể được xem xét ân xá nếu có hành vi tốt.
Luật sư Cù Huy Hà Vũ từ Hà Nội nói với BBC ông tin rằng dù không kháng cáo, ông Chiến có thể sẽ được ra tù trước thời hạn:
"Tôi cho rằng ông Chiến sẽ được ra tù trước thời hạn. Chậm lắm Tết năm tới ông sẽ được ân xá vì điều đó không chỉ tốt cho ông Chiến mà còn tốt cho nhà nước VN".
Nhà báo Việt Chiến đã bị bắt từ tháng 5/2008 và thời gian tạm giam cũng được tính vào thời gian thi hành án.
Con trai ông cho hay gia đình hết sức lo ngại vì sức khỏe của ông Chiến tiếp tục xấu đi, ngoài các bệnh đã có sẵn, ông bị thêm chứng mất ngủ.
Anh Nguyễn Tuấn nói: "Gia đình bây giờ cảm thấy rất mệt mỏi, tuyệt vọng và chán nản".
"Sắp tới tuổi lục tuần nên bố tôi đang có nhiều chứng bệnh trong người, nhưng hy vọng ông sẽ cầm cự được trong trại giam."
Án sơ thẩm
Hôm 15/10, Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội đã ra phán quyết, theo đó nhà báo Nguyễn Việt Chiến của báo Thanh Niên bị kết án hai năm tù giam vì tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” theo điều 258 Bộ luật hình sự, áp dụng quy định tại khoản 2 của điều luật này.
Đồng nghiệp của ông Chiến, ông Nguyễn Văn Hải từ báo Tuổi Trẻ, nhận mức án 24 tháng cải tạo không giam giữ và đã được trả tự do ngay trong ngày vì có tình tiết giảm nhẹ đặc biệt do đã "tích cực hợp tác với cơ quan điều tra và tỏ ra hối lỗi" .
Về phần mình, ông Chiến cho tới trước khi tòa tuyên án vẫn khẳng định "không làm gì sai trái" và không có động cơ vụ lợi nào trong việc tường thuật vụ PMU18.
Hai ông đã viết hàng chục bài báo nói về các cáo buộc bê bối liên quan tới ban Quản lý Dự án PMU18.
Phiên tòa xử hai nhà báo và hai cựu sỹ quan công an ngày 14/10-15/0 đã thu hút sự theo dõi đặc biệt của dư luận.
Tác giả: BBC
Gia đình nhà báo Nguyễn Việt Chiến cho hay ông sẽ không kháng cáo bản án hai năm tù giam mà tòa sơ thẩm phán quyết hôm 15/10.
Được biết quyết định đã được đưa ra trước khi hết thời hạn được nộp đơn xin phúc thẩm.
Như vậy, ông Nguyễn Việt Chiến sẽ phải thực hiện án tù nhưng cũng có thể được xem xét ân xá nếu có hành vi tốt.
Luật sư Cù Huy Hà Vũ từ Hà Nội nói với BBC ông tin rằng dù không kháng cáo, ông Chiến có thể sẽ được ra tù trước thời hạn:
"Tôi cho rằng ông Chiến sẽ được ra tù trước thời hạn. Chậm lắm Tết năm tới ông sẽ được ân xá vì điều đó không chỉ tốt cho ông Chiến mà còn tốt cho nhà nước VN".
Nhà báo Việt Chiến đã bị bắt từ tháng 5/2008 và thời gian tạm giam cũng được tính vào thời gian thi hành án.
Con trai ông cho hay gia đình hết sức lo ngại vì sức khỏe của ông Chiến tiếp tục xấu đi, ngoài các bệnh đã có sẵn, ông bị thêm chứng mất ngủ.
Anh Nguyễn Tuấn nói: "Gia đình bây giờ cảm thấy rất mệt mỏi, tuyệt vọng và chán nản".
"Sắp tới tuổi lục tuần nên bố tôi đang có nhiều chứng bệnh trong người, nhưng hy vọng ông sẽ cầm cự được trong trại giam."
Án sơ thẩm
Hôm 15/10, Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội đã ra phán quyết, theo đó nhà báo Nguyễn Việt Chiến của báo Thanh Niên bị kết án hai năm tù giam vì tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” theo điều 258 Bộ luật hình sự, áp dụng quy định tại khoản 2 của điều luật này.
Đồng nghiệp của ông Chiến, ông Nguyễn Văn Hải từ báo Tuổi Trẻ, nhận mức án 24 tháng cải tạo không giam giữ và đã được trả tự do ngay trong ngày vì có tình tiết giảm nhẹ đặc biệt do đã "tích cực hợp tác với cơ quan điều tra và tỏ ra hối lỗi" .
Về phần mình, ông Chiến cho tới trước khi tòa tuyên án vẫn khẳng định "không làm gì sai trái" và không có động cơ vụ lợi nào trong việc tường thuật vụ PMU18.
Hai ông đã viết hàng chục bài báo nói về các cáo buộc bê bối liên quan tới ban Quản lý Dự án PMU18.
Phiên tòa xử hai nhà báo và hai cựu sỹ quan công an ngày 14/10-15/0 đã thu hút sự theo dõi đặc biệt của dư luận.

Nhân Ngày Giỗ Ngô Tổng Thống:
CHỦ NGHĨA QUỐC GIA - CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN
Tưởng nhớ Vị Cha Chung của Dân tộc: Ngô Tổng Thống !
1. Ý nghĩa khác biệt trong chủ nghĩa quốc gia Khi Đệ Nhị Thế chiên chấm dứt, thì chủ nghĩa quốc gia bị xét lại tại Đức Quốc. Ngay đến thời điểm hôm nay, năm 2008, người Đức vẫn còn rất ái ngại với Chủ nghĩa quốc gia. Ngay cả việc cầm cờ Đức, và chào quốc kỳ Đức không đúng lúc, đúng thời, đúng nơi, cũng có thể bị coi là thành phẩn chủ nghĩa quốc gia cực đoan, chủ nghĩa Phát xít Hitler.
Chủ nghĩa Phát Xít là Chủ nghĩa Xã hội Quốc gia (Nationalsozialismus). Ai không thận trọng nêu cao chủ nghĩa Quốc gia tại đây, họ cần phải được xét lại.
Thí dụ: Nếu một nhóm thanh thiếu niên chào quốc kỳ, luôn treo cờ trước nhà, không nhằm vào dịp đấu banh quốc tế, thì dễ bị tình nghi là có chủ trương bài ngoại.
Có sự kiện mới xẩy ra trong xứ đạo chúng tôi phục vụ: Một thanh niên khoảng 22 tuổi, rất sùng đạo, siêng năng đọc kinh, xem lễ hằng ngày, và xưng tội rước lễ thường xuyên. Chỉ vì, anh ta đưa ra một vài tư tưởng yêu quê hương, phải cầu nguyện cho quê hương, thì bị ban thanh niên Quản Hạt cho rằng, anh ta thuộc khuynh hướng theo chiều hướng quốc gia qúa khích.
Chúng tôi đã tranh cãi cho anh ta, và chúng tôi đưa ra nhận xét; Anh ta hoàn toàn không có tư tưởng kỳ thị chủng tộc. Nhờ sự minh thị của chúng tôi, anh ta được phép tiếp tục sinh hoạt trong đoàn thể thanh thiếu niên trong xứ đạo.
Chúng tôi thường có dịp thăm Mỹ Quốc. Có những khu vực, người Mỹ treo cờ trước nhà, từng khu từng vùng, trông như những ngày lễ hội. Họ treo cờ suất năm tháng. Theo chúng tôi biết, chủ nghĩa quốc gia tại Mỹ, biểu dương cho Tự Do, Dân Chủ. Nhưng nếu tại Đức, người nào treo cờ trước nhà, có lẽ họ sẽ bị thiên hạ dòm ngó và chắc chắn sẽ có lời ra tiếng vào. Treo cờ Đức không vào trong những dịp lễ, có thể bị cho là thành phần Skin heat (đầu trọc).
Chủ nghĩa Quốc gia tại Đức dễ bị đồng hoá với Chủ nghĩa Phát xít, và đồng nghĩa với chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc. Và đồng thời đợm mầu sắc chủ nghĩa dân tộc chủ tính, có nghĩa, dân tộc thuộc giai cấp thống trị nhân loại!
Người Việt quốc gia, khi đề cao tinh thần quốc gia và dương cao ngọn cờ vàng ba sọc đỏ, thì họ biểu dương cho công cuộc đấu tranh đòi hỏi tự do, dân chủ nhân quyền cho con người. Chủ nghĩa người Việt quốc gia là công cuộc đấu tranh đòi hỏi nhân quyền dân chủ tự do, thiếp lập một thể chế dân chủ pháp trị đa nguyên, phi cộng sản.
Trong thời nội chiến huynh tàn (1960-1975), chủ nghĩa quốc gia là chủ thuyết chống Cộng Sản, là chủ nghĩa bảo vệ giang sơn, chủ thuyết bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, chủ thuyết bảo vệ quyền lợi con người.
Tại hải ngoại, chủ thuyết quốc gia luôn tiếp tục được đề cao, đưa ra làn ranh Quốc gia Cộng sản. Chủ thuyết này kêu gọi mọi tầng lớp, trong nước cũng như hải ngoại, những người yêu chuộng Công Lý, yêu chuộng lẽ phải, yêu chuộng sự thật, yêu nhân phẩm và chuộng nhân quyền, hãy đứng lên đòi lại những quyền này đã bị Cộng Sản cướp đoạt! Và hiện nay, chủ nghĩa quốc gia Việt Nam được gọi là chủ thuyết chống cộng, với mục đích nhằm đưa lại thể Chế Chính Trị Dân Chủ Nhân Bản thật sự cho dân tộc Việt Nam, với trên dưới 85 triệu dân.
2. Ý nghĩa chủ nghĩa Cộng sản a)- Chủ nghĩa Cộng sản là một chủ nghĩa quốc tế, đồng thuận trên chủ thuyết và đồng nhất trong thực hành. Phương tiện chủ nghĩa Cộng sản là bạo lực, với chiêu bài thế giới đại đồng, mọi người như nhau, cùng chung chăn, chung chiếu, chung gường, không có giai cấp giầu nghèo. Hình ảnh một xã hội không phân biệt giai cấp chúng ta đã chứng kiến tại Trung Cộng, Bắc hàn, Bắc Việt trước 75, khi hầu hết mọi người đều mặc y phục mầu xanh: Công nhân đi làm công sở, người dân đi cầy xuống ruộng, học sinh cắp sách đến trường, đâu đâu cũng cùng mầu cùng áo, cùng quần. Chứng tỏ một xã hội không giai cấp. (Trên lý thuyết!)
b)- Chủ nghĩa Cộng sản là chủ nghĩa đại đồng: Đảng viên Cộng sản tại Đông Âu, đảng viên Cộng sản Việt Nam, đều phục quyền đảng Cộng sản quốc tế, thuộc về đảng Cộng sản Liên Xô và Trung Cộng. Đảng viên Cộng sản Đông Âu thì lệ thuộc vào đảng Cộng sản Liên Xô. Đảng viên Cộng Sản Việt Nam thì lệ thuộc cả hai, Liên Xô và Trung Cộng.
Khi nói đến một Tổng bí thư đảng Cộng sản Việt Nam, (hiện nay là Nông Đức Mạnh), trong cấu trúc của Chủ nghĩa Cộng Sản thế giới, thì đảng Cộng sản tại Việt Nam, chỉ là một phân khu của Đảng Cộng Sản quốc tế. Vì thế, sự quyết định của đảng CSVN, chỉ là một dạm thảo. Quyết định phủ quyết còn phải được đệ trình lên đảng Cộng sản quốc tế. Cộng sản Việt nam, thì hiện nay, phải đệ trình lên đảng Cộng Sản Trung Quốc. Đảng CSVN tay sai quốc tế!
Chủ nghĩa Cộng Sản Việt Nam là chủ nghĩa với chiêu bài giải phóng dân tộc. Nhưng sau cuộc chiến thương tàn vừa qua, toàn dân đã nhìn thấy rõ bộ mặt bán nước của chủ nghĩa Cộng sản.
c)- Chủ nghĩa Cộng sản Việt Nam là chủ nghĩa làm tay sai cho chủ nghĩa quốc tế, và là chủ nghĩa bán nước hại dân, chủ thuyết ngoại lai.
Chủ nghĩa Cộng sản Việt Nam đồng nhất với mọi chủ thuyết Cộng sản trên thế giới: Một chủ thuyết chính trị độc tài chuyên chính, chủ thuyết bài thị người dân cùng chủng tộc, chủ thuyết bóc lột, chủ thuyết cướp phá, chủ thuyết bội phản. Nói chung, Chủ Thuyết Cộng Sản là một chủ thuyết phản mọi nhân vị con người, một chủ thuyết đàn áp khủng bố chính dân tộc. Chúng chỉ phục vụ cho một nhóm người ích kỷ trục lợi cá nhân. Họ sẵn sàng bán nước hại dân, để mưu cầu danh lợi. Đây là chủ thuyết cực kỳ nguy hại cho sự tồn vong của cả một dân tộc, trên mọi mặt: kinh tế, quân sự và bảo vệ chủ quyền quốc gia.
Ai bảo vệ người dân trong tổ quốc mình, khi Công an là dụng cụ của đảng, khi chánh án là đảng viên Cộng sản, khi quan tòa thuộc nhà nước của Cộng sản, và khi nhà nước gầy dựng bởi bạo lực quốc tế Cộng sản? Ai sẽ là người bảo vệ người dân?
d)- Chủ nghĩa Cộng sản tại Việt Nam, cũng giống mọi chủ thuyết Cộng sản trên thế giới. Chỉ lý tưởng trên lý thuyết, nhưng hoàn toàn dối trá gian xảo trong thực hành. Chủ thuyết Cộng Sản đưa ra lý thuyết đấu tranh giai cấp, chống tư bản mại sản. Nhưng khi đảng Cộng sản dành được quyền hành trong tay, thì chính chúng lại là người bảo vệ giai cấp thống trị và giai cấp cán bộ tư bản, chúng ta gọi là giai cấp tư bản đỏ. Biến quyền lực làm giầu. Hoàn toàn lương lẹo! Chủ nghĩa Cộng sản bình thường hóa giả dối! Sự bình thường hóa gian dối trở thành đạo đức chủ nghĩa này. Vì thế, không lưu manh gian dối không là Cộng sản!
e)- Chủ nghĩa Cộng sản là chủ thuyết mị dân! Nói một đàng, làm một nẻo! Chính vì hành vi gian dối này, chủ thuyết Cộng sản tạo ra sự nghi kị và bất cẩn giữa con người với con người, bất tín giữa họ hàng bạn bè với nhau, trong cùng một xã hội.
Một khi hình thức bầu cử là hình thức lừa bịp người dân, thì chính hình thức lừa bịp giả dối này tạo ra trong toàn xã hội một guồng máy gian dối, từ trên xuống dưới. Nếu trên đã gian xảo như vậy, thì dưới cũng sẽ tạo ra những trò gian lận lường gạt dân ra sao?! Chủ nghĩa Cộng sản là “thượng bất chính”, tạo ra trong xã hội hoàn cảnh “hạ tất loạn”!
Chủ nghĩa Cộng Sản được xây dựng guồng máy chính trị trong lừa dối, thì chính guồng máy này, phải đối đầu với mọi thử thách gian lận của chính những đảng viên Cộng sản, trong cùng một guồng máy lương lẹo ba xạo gây ra. Xây dựng trong gian dối thì phải sống trong gian dối! Xây dựng trong gian dối sẽ phải gặt hái trong hậu qủa gian dối!
f)- Chủ nghĩa Cộng sản quốc tế, là chủ nghĩa xâm chiếm. Không ngạc nhiên, khi chính người Cộng sản ký những hiệp định Genever năm 1954, hiệp định chia đôi đất nước, và hiệp định Paris 1973, tôn trọng vùng đất khác biệt giữa quốc gia và Cộng Sản, tôn trọng làn ranh Quốc gia Cộng sản. Họ đã nuốt lời ký kết để xâm chiếm, giết hại chính đồng bào của mình, với chiêu bài giải phóng! Chúng ta còn nhớ năm 1977-78, khi Cộng sản xua quân chiếm Kam-bu-chia. Chủ nghĩa Cộng sản là chủ nghĩa xâm chiếm ngoại xâm, do Cộng sản quốc tế chỉ đạo.
g)- Chủ nghĩa Cộng sản là chủ nghĩa ngu dân và đói dân. Cứ nhìn qua những nước Cộng sản Đông Âu, Cu Ba, Bắc Hàn, Trung Cộng!
Không phải người Hàn quốc ngu, không phải người Đức đần độn, nhưng nếu chia dân tộc thuần chủng Đức Quốc, cùng tiếng nói mầu da, cùng phong tục tạp quán…, qua bức tường; phân chia người Hàn Quốc ra hai ranh giới, một bên theo chủ nghĩa Dân chủ tự do, bên kia Chủ nghĩa Cộng sản làm nền tảng triết lý duy nhất. Chúng ta đã nhìn ra sự khác biệt rất xa trên bình diện kinh tế, tự do và nhân phẩm con người.
Nền kinh tế phát triển khác biệt xa, khi nước Đức thống nhất năm 1990. Xe Trabi chế tạo Đông Đức phải được đưa vào viện bảo tàng, vì xe chạy qúa chậm trên xa-lộ sẽ cản trở lưu thông. Chủ nghĩa Cộng sản độc quyền chính trị, đồng thời cũng độc quyền ngôn luận báo chí truyền thanh truyền hình. Bất cứ cái gì, dù nói bóng bảy, nói dài đến đâu, mà độc quyền, thì bao giờ cũng sẽ dẫn đến tình trạng truyên truyền độc ngộ một chiều. Đó là chính sách ngu dân của chủ nghĩa Cộng sản, khi tìm mọi cách xuyên tạc, cắt xén, đàn áp và bắt bớ mọi tiếng nói trung thực, tiếng nói của lẽ phải của sự thật, tiếng nói của Công bằng Bác ái.
Ai bảo vệ cho Công lý và sự thật? Ai sẽ là nhân chứng cho sự thật? Không nhẽ VẸM bênh vực đấu tranh cho Công lý và sự thật? Nghịch lý, nghịch nhĩ!
Cũng chính vì mất đi tiếng nói này, mọi người dân trong nước bị chủ nghĩa Cộng Sản đầu độc, suy luận một chiều và đưa ra tính suy luận tương đối! (Nước ta nghèo, nhưng nước Mỹ cũng có người nghèo. Nước ta có tham nhũng hối lộ, nước Đức, nước Pháp… cũng có tham nhũng hối lộ. Lý luận theo chủ thuyết tương đối!)
h)- Chủ nghĩa Cộng sản ngu dân hóa trong mục đích dễ cai trị dân. Thà dân ngu, hơn để đảng mất quyền! Thà dân đói, hơn đề đảng nghèo! Thà dân mất hết quyền, hơn để đảng mất lợi! Đó là những chiêu thức, những chương trình cai trị dài hạn, do Chủ thuyết Cộng Sản chủ trương đưa ra.
Nói chung, Chủ nghĩa Cộng sản là chủ nghĩa không tưởng trên lý thuyết. Nhưng đồng thời, nó lại là chủ thuyết làm băng hoại mọi tầng lớp xã hội. Từ cái không tưởng trong lý thuyết, nó phải gian dối và gian manh lường gạt trong mọi lãnh vực. Để chủ nghĩa tồn tại, chúng phải dùng bạo lực và khủng bố và đồng thời phải để cho dân ngu, dân đói, dân nghèo, dân lầm than, mới cai trị được!
3. Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt: Nói ngay, nói thẳng và nói thật! a)- Chúng ta xấu hổ là người Việt Nam, vì chưng dân tộc Việt Nam chúng ta đang bị một nhóm tập đoàn CS Mafia cai trị, với mọi hình thức chiêu bài mà chủ thuyết này có và đang áp dụng trên quê hương thân yêu Việt Nam. (Chúng tôi đã dẫn chứng ở trên!)
Là người Việt, chúng ta xấu hổ, vì dân tộc chúng ta đang bị nghèo đói hóa, gian dối hóa, đồi trụy hóa và vô đạo đức hoá, do Cộng sản gây ra. Xã Hội Việt Nam đang trên đường xuống dốc như xe không phanh, trong mọi lãnh vực: tôn giáo, văn hóa xã hội, giáo dục, kinh tế y khoa…
Đối với chúng tôi: Khi người dân oan, giáo oan, và tu sĩ oan gióng lên tiếng nói của sự thật, bênh vực cho sự thật, làm chứng cho sự thật là họ đang yêu chuộng chủ nghĩa quốc gia thật sự.
b)- Là người Việt Nam chúng ta xấu hổ, khi thấy bạo quyền ra tay đàn áp đồng bào vô tội, lập ra những toà án rừng rú, những kiểu toà án nhân dân phiên chợ, quán Càffê, nhằm xử án những chiến sĩ Dân chủ Hoà Bình anh dũng. Xấu hổ nhìn thấy người Cộng sản Việt Gian đang bóp nghẹt những tiếng nói của lương tâm, tiếng nói trung thực của lẻ phải, của sự thật, của sự công bằng.
Là người Việt Nam, chúng ta xấu hổ khi kinh tế đang rơi vào ngõ cụt, người dân đói kém cùng khổ. Xấu hổ, vì bạo quyền Cộng sản vẫn còn tuyên truyền biện hộ cho những hành vi điên rồ và những hành động lưu manh côn đồ cướp phá của chúng. Xấu hổ cho dân tộc đang đau thương quằn quại dưới sự cai trị độc tài gian manh của chế độ vô thần ngoại lai Hán Ngụy.
Là người Việt chúng ta xấu hổ, vì chính những cán bộ, và con em cán bộ Cộng sản đã và đang chuyển tiền ra hải ngoại, rửa tiền ăn cướp và rửa tiền tham những hối lộ. Chính họ sẽ là những kẻ chạy trốn khỏi Việt Nam, khi dân tộc Việt nam chúng ta thật sự có dân chủ tự do thật sự.
Đức TGM Ngô Quang Kiệt đã nói ngay, nói thẳng, nói thật, nói vào mặt những kẻ gian manh rằng, chủ nghĩa Cộng sản là chủ nghĩa hại dân, hại nước. Chúng tôi xấu hổ thế đấy, còn các anh hãnh diện với những mưu mô qủy quyệt, đưa cả dân tộc suy tồn và diệt vong ư?!
Cái dũng của kẽ sĩ là nói ngay, nói thẳng, nói thật! Nói có “mất lòng” người nghe, nhưng chắc chắn sẽ “dã tật”! Nói cho họ nghe, nói cho họ hiểu, nói cho họ biết, nói cho họ suy nghĩ đâu là sự thật! Chưa nghe, chưa hiểu, chưa biết, thì nói nữa, nói dai nói dài nói mãi, nói lên tiếng nói của sự thật, tiếng nói của lương tâm! Sự thật là gì, lương tâm là gì!? Nói để người Cộng Sản không còn trốn lé được sự thật! Người CS sợ sự thật không?!
Xấu hổ qúa đi chứ, tại sao không?
4. Chủ Thuyết tự hào dân tộc, thay lời kết a) Chủ nghĩa Quốc gia và chủ nghĩa Cộng sản
Chủ nghĩa Quốc gia (Nationalismus) khác với chủ nghĩa quốc gia xã hội chủ nghĩa (Nationalsozialismus) của người Cộng Sản. Khi người quốc gia nói yêu nước, là họ nói đến sự yêu chuộng Tự do Dân chủ Nhân quyền thật sự. Khi họ yêu nước là họ muốn thật sự đem sự bình an, công bằng, ấm no hạnh phúc, thịnh vượng cho người dân, cho đồng bào.
Nhưng khi người Cộng sản nói yêu nước, là họ xuyên tạc, đồng hoá với tất cả những gì của chủ thuyết đó đưa lại: bạo lực, độc tài, tham nhũng, giả dối, lưu manh côn đồ, cướp phá, bán nước dâng biển cho ngoại bang. Vì người Cộng sản bắt toàn dân tộc yêu nước là phải yêu xã hội chủ nghĩa. Đó là chủ thuyết Quốc Gia Xã Hội Chủ Nghĩa (Nationalsozialismus) người Cộng Sản!
b)- Người Cộng Sản tự hào? Họ tự hào về cái gì?
Khi nói đến yêu nước, theo Chủ Nghĩa Quốc Gia hiện nay tại Việt Nam, là chúng ta nói đến yêu Chủ nghĩa xã hội. Họ yêu nước, đồng nghĩa với yêu chủ nghĩa Cộng sản, yêu tất cả mọi tệ nạn gian manh bất nhân hung bạo chủ thuyết đưa ra. Vì thế, khi người Cộng sản đòi tự hào dân tộc, là họ đồng hóa toàn dân tộc trong gọng kìm kẹp độc tài độc đoán, độc tôn và độc ngôn của họ.
Là người Việt Nam, chúng ta hãnh diện yêu chủ nghĩa Cộng sản??? Thế Cộng Sản yêu nước, yêu dân tộc, yêu đồng bào quê hương?!! Hmmm!
Người Việt Cộng, Việt Gian Cộng Sản, những kẻ đánh đổi lương tâm làm tay sai cho Cộng sản quốc tế, hãnh diện, khi đất nước nghèo đói lâm nguy, họ vẫn vững tâm, vì tiền bạc đã nằm trong những Ngân Hàng Quốc Tế, họ đã mua nhà mua đất tại hải ngoại.
Người Cộng sản hãnh diện, họ sẽ là những người trốn khỏi đất nước, khi đất nước thật sự có tự do dân chủ. Sống chết mặc bay! Rồi đây, toàn thể dân tộc hãy làm chứng!!
Cộng sản hãnh diện là người Việt. Nhưng họ chuyển tiền hối lộ tham nhũng ra hải ngoại. Họ hãnh diện là nguời Việt, vì họ có đủ chiêu thức, có đủ thủ chiêu bần cùng hóa giòng giống dân Lạc Hồng hùng dũng anh kiệt.
c)- Người quốc gia xấu hổ. Họ xấu hổ về cái gì?
Hằng triêu đồng bào chúng ta trên toàn thế giới mang quốc tịch bản xứ, nơi họ cư trú. Họ tiếp nhận quốc tịch mới, nhưng họ không từ bỏ tinh thần quốc gia chống cộng, hầu mong đem lại bình an, tự do bình an ấm no hạnh phúc cho 85 triệu dân đồng bào thân yêu trong nước. Họ nhập quốc tịch sở tại, vì họ xấu hổ, không phải bị đồng hóa với chủ nghĩa Cộng sản. Họ xấu hổ phải đồng nhất với bản chất người Cộng sản. Họ nhập tịch mới để phản đối không chịu để người Cộng sản “cai trị” họ tại hải ngoại.
Họ đấu tranh chống cộng, để cầu mong đem lại ấm no thịnh vượng cho toàn dân. Nhưng đối với bản thân thì họ không cần, vì cuộc sống đầy đủ của họ tại hải ngoại. Họ đấu tranh cho ai?
Họ mang quốc tịch mới, nhưng không phản bội đồng bào trong nước. Còn những kẻ mạo danh yêu nước, lại chính là những kẻ ám hại đồng bào, bán đất bán biển cho ngoại xâm! Đó là hình thức “kiểu yêu nước thương nòi” của người Cộng Sản! Hậu qủa của chủ thuyết Cộng sản!
Người quốc gia chân chính mang quốc tịch Mỹ, Đức, Pháp, Bỉ, Hòa Lan, Đa-mach, Na-uy, Canađa, Úc… nhưng họ đấu tranh đòi hỏi Công Lý và Hòa bình cho đồng bào trong nước. Họ đòi lẽ phải sự thật, đòi dân chủ nhân quyền cho toàn dân tộc Việt Nam.
Còn những người Cộng sản gian manh xảo trá hại dân hại nước, bán đất bán dân, họ hãnh diện những thành tích bất nhân của mình. Họ hãnh diện vì đang xỏ mũi được 85 triệu người dân. Họ hãnh diện vì đang lường gạt được người dân. Họ hãnh diện vì đang gian manh xảo trá cướp nhà cướp dất người dân, cướp của giáo hội. Họ hãnh diện vì cướp đất phá nhà phá cửa. Họ hãnh diện vì đang cho người dân ăn “cây leo” (leo cây).
Người tị nạn cộng sản xấu hổ mình là người Việt, nhưng họ vẫn cong lưng đi cầy tám tiếng mỗi ngày, nhịn ăn nhịn uống để giúp đồng bào anh em họ hàng trong nước. Họ xấu hổ là người Việt, nhưng họ cứu trợ đồng bào trong những lúc lụt lội đói kém, trong những cảnh màn trời chiếu đất, do chủ nghĩa Cộng sản bất nhân gây ra.
Người tị nạn cộng sản xấu hổ là người Việt, nên họ phải can đảm đứng lên, ăn cơm nhà vác ngà voi, hủy hỏ chế độ hút máu người dân của Chủ Nghĩa Cộng Sản! Họ phải đòi công lý, đòi tự do, đòi nhân phẩm nhân quyền đã và đang bị mất, bị tuớc đoạt vì chế độ vô nhân Cộng Sản. Đó là quyền CON NGƯỜI, chứ không phải quyền nhà nước CHO mà phải XIN!
Người yêu chuộng tự do, tôn trọng nhân phẩm con người xấu hổ là người Việt Nam, vì vậy, họ đang dấn thân chống lại chế độ lưu manh gian ác Cộng Sản.
Nhân dân, và toàn thể đồng bào trong nước, cũng như hải ngoại xấu hổ là người Việt, vì họ đang đau khổ phải nhìn cảnh tượng chế độ gian tà Cộng sản thống trị trên đất nước thân yêu Việt Nam.
Toàn dân tộc Việt Nam chỉ mới thật sự hãnh diện là người Việt, khi họ xua đuổi được chế độ hung thần Cộng sản biến khỏi trên đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta.
Toàn thể nhân dân thật sự hãnh diện là người Việt, khi đồng bào được sống trong một thể chế nhân bản biết tôn trọng nhân phẩm nhân quyền và tự do của con người và của người dân.
Rồi đây, toàn dân tộc sẽ hãnh diện, khi thấy chủ nghĩa Cộng sản khuất bóng trên quê hương thân yêu Việt Nam của chúng ta. Sẽ là một đại hồng phúc cho dân tộc Việt Nam!
Cầu chúc toàn thể dân tộc Việt Nam mong chóng đạt được nguyện vọng giờ phút linh thiêng của lịch sử: Lịch sử Việt Nam thoát được ách Cộng sản gian manh độc tài vô thần!
Lm Gioan Baotixita Đinh Xuân Minh
(Đức Quốc, ngày 30 tháng 10 năm 2008)
Ði Mát Cơ Va quên U Minh Hạ đói
Ngô Nhân Dụng
Ở nước Mỹ này, khi kinh tế suy sụp thì ông tổng thống lo bị dân chán ghét (79%) và đảng của ông cũng bị vạ lây, đại biểu Quốc Hội lo mất ghế và ứng cử viên tổng thống chật vật khi tranh cử. Ở nước Việt Nam thì khác. Lạm phát lên 25% tới 30%, nông dân ở Cà Mau bữa rau bữa cháo. Nhưng đảng cầm quyền chỉ lo bỏ tù nhà báo nay, cất chức nhà báo khác, Quốc Hội họp gật lấy gật để. Ông thủ tướng thong dong sang Trung Quốc rồi ông quốc trưởng sang Nga với cả một phái đoàn rình rang.
Chuyện bất ngờ trong chuyến đi Nga là ông Nguyễn Minh Triết đã hứa với Tổng Thống Nga Dmitry Medvedev sẽ đem tiền đầu tư ở nước Nga, một tỷ rưỡi Mỹ kim, để lập nhà máy chế tạo phân bón ở Kalmykia, bên bờ biển Caspian! Dân chúng vùng U Minh Hạ chắc ngạc nhiên hơn cả.Tại một miền nổi tiếng “trên cơm dưới cá” mà có bà mẹ 60 tuổi phải than với phóng viên báo Tuổi Trẻ: “Bữa nào ăn cháo đêm ngủ không được, nằm nuốt nước miếng tới sáng...! Xóm này nhà nào cũng phải ăn cháo!” Một em bé 8 tuổi năn nỉ mẹ đừng bắt ăn cháo nữa, người cha bật khóc, “Tôi thấy nhục quá, làm cha mà phải cho con ăn cháo trừ cơm!” Một người cha 63 tuổi nói thẳng: “Ðói là do người chớ không phải do trời...! Nước ngập thế này mà không cho xả thì lúa nào sống nổi!” Coi bộ ông Nguyễn Minh Triết không được đọc những bài báo đó, nếu ông đọc thì mấy ký giả khác có thể bị mất việc!
Nhưng không hiểu tại sao mấy ổng lại tính chuyện đem hàng tỉ Mỹ kim sang làm nhà máy phân bón ở Nga, để khai thác hơi đốt thiên nhiên trong biển Caspian trong khi nước mình cũng có bao nhiêu mỏ hơi đốt?
Trong các hợp đồng ký kết ở Nga lần này còn có việc hứa hẹn hợp tác với công ty RUSAL của Nga để lập một nhà máy ở Bình Phước, khai thác những mỏ bô xít (bauxite) ở vùng này, ước tính có 700 ngàn tấn bô xít. Việt Nam là nước có số bô xít lớn hàng thứ ba trên thế giới còn nằm dưới đất. Theo bản văn ghi nhận việc hợp tác thì đến năm 2012 công việc xây dựng mới bắt đầu. Trong khi đó thì nhà máy phân bón ở Kalmykia sang năm bắt đầu xây rồi. Tại sao tiền Việt Nam chạy sang Nga thì nhanh như vậy, trong khi tiền Nga đem qua Việt Nam lại chậm chạp? Người Việt Nam tính hay nghi ngờ, bàn nhau rằng Nga là một cửa ngõ để các nhà tư bản đỏ chuyển tiền, đem một tỷ rưỡi Mỹ kim qua đó sẽ giúp công tác rửa tiền dễ dàng và sạch sẽ hơn! Và việc rửa tiền cũng cấp bách hơn việc khai mỏ bô xít!
Nhưng liệu sang năm 2012 tiền Nga sẽ sang tới nước ta hay chưa? Cái đó còn tùy họ có tiền sẵn sàng hay không. Nếu biết tình trạng tài chánh của công ty này thì có thể nghi ngờ là còn lâu họ mới sẵn sàng!
Công ty United Company Rusal của nhà tỷ phú Oleg Deripaska, mà chính ông tỷ phú này lại đang gặp khó khăn vì nợ như chúa Chổm. Bữa Thứ Năm vừa qua chính phủ Nga đã phải bỏ ra 8 tỷ Mỹ kim cứu ông Oleg Deripaska, người giầu nhất nước Nga hiện nay và một đồng minh của Thủ Tướng Vladimir Putin. Ðó là sau khi chính phủ Putin đã đem 2 tỷ đô la cứu một nhà tỷ phú khác, Mikhail Fridman. Chính phủ Nga đang dành thêm 50 tỷ đô la làm công việc cứu trợ các công ty và ngân hàng gặp nạn. Chính phủ không những cho các ngân hàng vay mà còn đem tiền mặt tới cung cấp cho các máy rút tiền ATM của các ngân hàng nữa! Từ mấy tháng nay, chính phủ Nga đã dành 200 tỷ đô la để cứu các công ty và ngân hàng lâm nạn. Con số đó bằng 13% Tổng Sản Lượng Nội Ðịa, trong khi chính phủ Mỹ bỏ ra 700 tỷ cũng chỉ lớn bằng 5% GDP nước Mỹ. Cơn hoạn nạn tài chánh ở Nga khác bên Mỹ, nhưng vẫn là mối đe dọa trên nền kinh tế, sau một thời kỳ thịnh vượng rất mong manh vì không dựa trên những nền tảng vững chắc.
Ông Vladimir Putin gặp may mắn lên cầm quyền lúc kinh tế Nga đã xuống đến điểm thấp nhất, và những chính sách của chính phủ cũ của ông Yeltsin bắt đầu đem lại kết quả ổn định. Trong 8 năm làm tổng thống ông Putin được hưởng lộc nhờ giá dầu lửa lên cao vọt, mà đó là món hàng xuất cảng lớn nhất của Nga. Quỹ dự trữ ngoại tệ của Nga nhờ thế mà tăng lên, Tháng Tám năm 2008 đã lên tới 597 tỷ Mỹ kim, lớn hàng thứ ba trên thế giới. Nhưng từ mấy tháng nay nhiều người Nga đã chuyển tiền ra nước ngoài vì không tin tưởng vào nền kinh tế xứ họ, sau vụ ông Putin tấn công Georgia. Ðồng Rúp xuống giá vì người Nga cũng lo chuyển tiền ra nước ngoài. Quỹ ngoại tệ của chính phủ Nga đã giảm xuống chỉ còn 516 tỷ vào ngày 17 Tháng Mười vừa qua. Riêng trong tuần trước, quỹ dự trữ ngoại tệ đã giảm bớt 31 tỷ, cuối tuần này xuống còn 484 tỷ. Trong khi đó thì chính phủ phải lo bỏ thêm tiền cứu giúp các công ty và ngân hàng và giữ giá trị cho đồng “rúp.” Ngân Hàng Trung Ương Nga đã chi 13 tỷ Mỹ kim để mua đồng rúp trên thị trường để không cho tiền tụt giá. Người ta lo rằng với đà chi tiêu hiện nay của chính phủ Nga quỹ dự trữ ngoại tệ có thể cạn trong vòng 18 tháng.
Chính phủ Nga đổ lỗi cho các ngân hàng Mỹ gây nên cuộc khủng hoảng tài chánh khiến nước Nga bị vạ lây.
Nhưng các ngân hàng Mỹ không làm gì để cho thị trường chứng khoán Nga tụt giảm, giá trị đã mất 70% từ đầu năm tới nay. Trong hai Tháng Chín và Mười, chính phủ phải đóng cửa thị trường chứng khoán 15 lần để chờ đem công quỹ ra cứu! Vì số người Nga mua cổ phần còn ít, nên khi giá cổ phiếu xuống chỉ các đại tài chủ bị mất tiền và khi chính phủ cứu là cứu những người giầu nhất nước. Các tỷ phú ở Việt Nam đã mất tiền vì thị trường chứng khoán xuống, con số mất khoảng một tỷ Mỹ kim; nhưng ở Nga họ còn mất nhiều hơn nữa. Vì giá cổ phiếu các công ty giảm, các đại tài chủ Nga đã mất 230 tỷ Mỹ kim, trong số 300 tỷ mà họ làm chủ khi thị trường lên cao nhất. Giá dầu lửa tụt từ hơn 140 đô la hồi Tháng Bẩy xuống 65 đô la một thùng bây giờ càng làm cho triển vọng kinh tế Nga xuống thấp. Người ta đã tính nếu mỗi thùng dầu thô tụt giá một đô la thì tiền thu nhờ xuất cảng của Nga sẽ mất 3 tỷ đô la. Khi giá dầu lên, các nhà đầu tư ngoại quốc đem tiền tới nước Nga giúp thúc đẩy con số Tổng Sản Lượng Nội Ðịa tăng trung bình 7% một năm suốt thời gian ông Putin làm tổng thống. Nhưng khi thấy tình hình xuống thấp, họ cũng rút bớt tiền ra. Người dân Nga cũng biết lo. Trong Tháng Chín họ rút bớt 4% số tiền gửi ngân hàng vì không còn tin tưởng nữa. Có người đến rút một triệu rúp một lúc (37 ngàn Mỹ kim), nhét vô cặp sách về nhà cất! Nhiều người dùng Internet để chuyển tiền từ ngân hàng tư sang ngân hàng chính phủ. Dân Nga đã đổi tiền Rúp sang ngoại tệ, tổng cộng 3 tỷ rưỡi đô la. Các ngân hàng tư đã mất 30% số tiền ký thác vì bị rút ra. Ðã có mười ngân hàng sụp đổ.
Chính sách bành trướng và đe dọa các nước lân bang của ông Putin là một lý do khiến giới đầu tư quốc tế lo ngại muốn rút tiền ra. Nhưng các nhà tư bản thường họ nghĩ đến tiền nhiều hơn đến chính trị đối ngoại của nước Nga. Ðiều mà người ta lo ngại là cả nền kinh tế Nga dựa trên những nền tảng rất mong manh, rất dễ sụp đổ.
Ba món xuất cảng của Nga đem lại 80% ngoại tệ là kim loại, dầu khí, và thực phẩm. Từ năm 2000 lúc ông Putin mới lên cho đến năm 2007, giá kim loại tăng 275% sau khi tính trừ ảnh hưởng của lạm phát. Giá dầu khí tăng 210%, và thực phẩm tăng 160%. Tiền vào như nước, nhưng chính phủ Putin không có những chính sách phát triển các ngành khác ngoài ba lãnh vực trên để phân tản tài sản ra nhiều ngành sản xuất khác nhau. Một thiếu sót lớn nhất của chính phủ Putin trong 8 năm qua là không đầu tư đủ vào giáo dục để đào tạo nguồn nhân lực thích ứng với nền kinh tế mới. Khi được phỏng vấn đa số thanh niên Nga tỏ ý thích làm công chức hơn là làm cho doanh nghiệp, điều đó cho thấy một hình ảnh của tương lai.
Kể từ Tháng Bẩy năm 2008, giá các món hàng xuất cảng bắt đầu xuống. Nói chung, giá của các loại nông sản và khoáng sản đã giảm bớt 20% trên thị trường thế giới. Các đại tài chủ Nga dựng lên cơ nghiệp; chính phủ Nga được thặng dư ngân sách, quỹ dự trữ ngoại tệ dồi dào đều nhờ khai thác những tài nguyên thiên nhiên như kim loại, dầu khí. Nay thời vận xuống, người dân tiêu thụ cũng bị ảnh hưởng. Công ty bán lẻ và siêu thị X5 lớn nhất nước Nga đang cắt giảm nhân viên 30%. Cửa hàng GK Viktoria số bán giảm bớt 10%. Các công trình xây cất đang ngưng lại. Một số các văn phòng du lịch Nga đã ngưng trả tiền các công ty hàng không quốc tế vì thiếu tiền!
Nhưng tai nạn tài chánh ở Nga hiện nay là do chính họ tạo ra, cũng vì một lý do quen thuộc là vay nợ nhiều quá, nhất là vay nợ từ ngoại quốc - không khác gì tình trạng những năm 1997-98 ở Thái Lan, Malaysia và chính nước Nga. Nền tài chánh Anh, Mỹ lâm nạn vì các ngân hàng “sa ngã” đầu tư vào các loại chứng khoán mới và quá rủi ro. Còn ở Nga thì các đại tài chủ đã vay nợ quá nhiều nhưng dùng để mua cổ phần các công ty trong nước cũng như nước ngoài. Hiện nay các công ty và ngân hàng Nga đang mắc nợ nước ngoài khoảng 450 tỷ Mỹ kim, và trong hai tháng cuối năm 2008 này phải trả 50 tỷ đáo hạn.
Một trường hợp điển hình là ông Oleg Deripaska, năm nay mới 40 tuổi. Ông làm chủ một du thuyền loại sang nhất thế giới thả neo ở Ðịa Trung Hải. Nhưng công ty UC Rusal của ông nợ đầy mình. Ông vay các ngân hàng, trong đó có Royal Bank of Scotland bên Anh, còn đang nợ 4.5 tỷ đô la, để mua một phần tư số cổ phần của công ty Norilsk, khai thác số mỏ kền (nickel) lớn nhất thế giới. Khi vay, ông đặt các cổ phần của Norilsk làm thế chấp. Bây giờ giá những cổ phần thế chấp đó tụt xuống quá thấp so với số nợ. Công ty UC Rusal sẽ phải bù tiền vào để cho cân bằng, tức là phải trả bớt một số nợ, hoặc phải được các ngân hàng chủ nợ ký giấy “miễn chấp” vào ngày hôm qua, 31 Tháng Mười năm 2008. Nếu không, các ngân hàng chủ nợ sẽ trở thành chủ nhân của các cổ phần trong công ty Norilsk!
Những món nợ 4.5 tỷ trên chỉ là một phần nhỏ trong cơn khốn đốn của ông Deripaska. Ông đã phải bán nhiều cổ phần ở các công ty tại Canada, và Âu Châu vì nợ không trả được! Ðại công ty Rusal có thể sẽ bị xé lẻ trong vài năm nữa!
Chính phủ Nga cứu ông Deripaska một lần này vì không muốn những cổ phần của Norilsk, một công ty kim loại lớn nhất nước lọt vào tay kiểm soát của các ngân hàng ngoại quốc! Chính vì thế, họ phải đưa tiền cho một ngân hàng quốc doanh Vnesheconombank (VEB) cho Rusal vay trả nợ! Nhưng từ đây, chính ngân hàng VEB, tức là chính phủ Nga sẽ thành chủ nhân các cổ phần này! Hồi đầu thập niên 1990, nhiều đại tài chủ đã cho chính phủ Nga vay, đến khi chính phủ Nga không có tiền tar, đã đem cổ phần các xí nghiệp quốc doanh gán để gán trả nợ. Nay là cảnh tượng ngược lại: chính phủ cho các đại tài chủ vay, và nhờ thế sẽ quốc hữu hóa một phần các xí nghiệp trở lại!
Ðó là tình cảnh kinh tế tài chánh nước Nga khi ông Nguyễn Minh Triết sang Mát Cơ Va thương thuyết các hợp đồng thương mại! Nhìn vào tình trạng khốn đốn của ông Oleg Deripaska và công ty UC Rusal của ông, không biết bao giờ các nhà máy khai thác bô xít ở Bình Phước mới bắt đầu được xây cất!
Trong khi đó thì những người dân ở vùng U Minh Hạ vẫn bữa rau bữa cháo! Ở những nước tự do dân chủ thì một chính phủ để cho dân chịu đói như vậy đã phải từ chức từ lâu rồi! Nhưng ở một nước độc tài đảng trị thì người dân chỉ biết khóc, như ông Nguyễn Thanh Toàn ở Cà Mau đã khóc khi bắt con ăn cháo: “Tôi thấy nhục quá!”
Những ông Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng và quý vị trong Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam không biết nhục là cái gì cả.
Ngô Nhân Dụng
Ở nước Mỹ này, khi kinh tế suy sụp thì ông tổng thống lo bị dân chán ghét (79%) và đảng của ông cũng bị vạ lây, đại biểu Quốc Hội lo mất ghế và ứng cử viên tổng thống chật vật khi tranh cử. Ở nước Việt Nam thì khác. Lạm phát lên 25% tới 30%, nông dân ở Cà Mau bữa rau bữa cháo. Nhưng đảng cầm quyền chỉ lo bỏ tù nhà báo nay, cất chức nhà báo khác, Quốc Hội họp gật lấy gật để. Ông thủ tướng thong dong sang Trung Quốc rồi ông quốc trưởng sang Nga với cả một phái đoàn rình rang.
Chuyện bất ngờ trong chuyến đi Nga là ông Nguyễn Minh Triết đã hứa với Tổng Thống Nga Dmitry Medvedev sẽ đem tiền đầu tư ở nước Nga, một tỷ rưỡi Mỹ kim, để lập nhà máy chế tạo phân bón ở Kalmykia, bên bờ biển Caspian! Dân chúng vùng U Minh Hạ chắc ngạc nhiên hơn cả.Tại một miền nổi tiếng “trên cơm dưới cá” mà có bà mẹ 60 tuổi phải than với phóng viên báo Tuổi Trẻ: “Bữa nào ăn cháo đêm ngủ không được, nằm nuốt nước miếng tới sáng...! Xóm này nhà nào cũng phải ăn cháo!” Một em bé 8 tuổi năn nỉ mẹ đừng bắt ăn cháo nữa, người cha bật khóc, “Tôi thấy nhục quá, làm cha mà phải cho con ăn cháo trừ cơm!” Một người cha 63 tuổi nói thẳng: “Ðói là do người chớ không phải do trời...! Nước ngập thế này mà không cho xả thì lúa nào sống nổi!” Coi bộ ông Nguyễn Minh Triết không được đọc những bài báo đó, nếu ông đọc thì mấy ký giả khác có thể bị mất việc!
Nhưng không hiểu tại sao mấy ổng lại tính chuyện đem hàng tỉ Mỹ kim sang làm nhà máy phân bón ở Nga, để khai thác hơi đốt thiên nhiên trong biển Caspian trong khi nước mình cũng có bao nhiêu mỏ hơi đốt?
Trong các hợp đồng ký kết ở Nga lần này còn có việc hứa hẹn hợp tác với công ty RUSAL của Nga để lập một nhà máy ở Bình Phước, khai thác những mỏ bô xít (bauxite) ở vùng này, ước tính có 700 ngàn tấn bô xít. Việt Nam là nước có số bô xít lớn hàng thứ ba trên thế giới còn nằm dưới đất. Theo bản văn ghi nhận việc hợp tác thì đến năm 2012 công việc xây dựng mới bắt đầu. Trong khi đó thì nhà máy phân bón ở Kalmykia sang năm bắt đầu xây rồi. Tại sao tiền Việt Nam chạy sang Nga thì nhanh như vậy, trong khi tiền Nga đem qua Việt Nam lại chậm chạp? Người Việt Nam tính hay nghi ngờ, bàn nhau rằng Nga là một cửa ngõ để các nhà tư bản đỏ chuyển tiền, đem một tỷ rưỡi Mỹ kim qua đó sẽ giúp công tác rửa tiền dễ dàng và sạch sẽ hơn! Và việc rửa tiền cũng cấp bách hơn việc khai mỏ bô xít!
Nhưng liệu sang năm 2012 tiền Nga sẽ sang tới nước ta hay chưa? Cái đó còn tùy họ có tiền sẵn sàng hay không. Nếu biết tình trạng tài chánh của công ty này thì có thể nghi ngờ là còn lâu họ mới sẵn sàng!
Công ty United Company Rusal của nhà tỷ phú Oleg Deripaska, mà chính ông tỷ phú này lại đang gặp khó khăn vì nợ như chúa Chổm. Bữa Thứ Năm vừa qua chính phủ Nga đã phải bỏ ra 8 tỷ Mỹ kim cứu ông Oleg Deripaska, người giầu nhất nước Nga hiện nay và một đồng minh của Thủ Tướng Vladimir Putin. Ðó là sau khi chính phủ Putin đã đem 2 tỷ đô la cứu một nhà tỷ phú khác, Mikhail Fridman. Chính phủ Nga đang dành thêm 50 tỷ đô la làm công việc cứu trợ các công ty và ngân hàng gặp nạn. Chính phủ không những cho các ngân hàng vay mà còn đem tiền mặt tới cung cấp cho các máy rút tiền ATM của các ngân hàng nữa! Từ mấy tháng nay, chính phủ Nga đã dành 200 tỷ đô la để cứu các công ty và ngân hàng lâm nạn. Con số đó bằng 13% Tổng Sản Lượng Nội Ðịa, trong khi chính phủ Mỹ bỏ ra 700 tỷ cũng chỉ lớn bằng 5% GDP nước Mỹ. Cơn hoạn nạn tài chánh ở Nga khác bên Mỹ, nhưng vẫn là mối đe dọa trên nền kinh tế, sau một thời kỳ thịnh vượng rất mong manh vì không dựa trên những nền tảng vững chắc.
Ông Vladimir Putin gặp may mắn lên cầm quyền lúc kinh tế Nga đã xuống đến điểm thấp nhất, và những chính sách của chính phủ cũ của ông Yeltsin bắt đầu đem lại kết quả ổn định. Trong 8 năm làm tổng thống ông Putin được hưởng lộc nhờ giá dầu lửa lên cao vọt, mà đó là món hàng xuất cảng lớn nhất của Nga. Quỹ dự trữ ngoại tệ của Nga nhờ thế mà tăng lên, Tháng Tám năm 2008 đã lên tới 597 tỷ Mỹ kim, lớn hàng thứ ba trên thế giới. Nhưng từ mấy tháng nay nhiều người Nga đã chuyển tiền ra nước ngoài vì không tin tưởng vào nền kinh tế xứ họ, sau vụ ông Putin tấn công Georgia. Ðồng Rúp xuống giá vì người Nga cũng lo chuyển tiền ra nước ngoài. Quỹ ngoại tệ của chính phủ Nga đã giảm xuống chỉ còn 516 tỷ vào ngày 17 Tháng Mười vừa qua. Riêng trong tuần trước, quỹ dự trữ ngoại tệ đã giảm bớt 31 tỷ, cuối tuần này xuống còn 484 tỷ. Trong khi đó thì chính phủ phải lo bỏ thêm tiền cứu giúp các công ty và ngân hàng và giữ giá trị cho đồng “rúp.” Ngân Hàng Trung Ương Nga đã chi 13 tỷ Mỹ kim để mua đồng rúp trên thị trường để không cho tiền tụt giá. Người ta lo rằng với đà chi tiêu hiện nay của chính phủ Nga quỹ dự trữ ngoại tệ có thể cạn trong vòng 18 tháng.
Chính phủ Nga đổ lỗi cho các ngân hàng Mỹ gây nên cuộc khủng hoảng tài chánh khiến nước Nga bị vạ lây.
Nhưng các ngân hàng Mỹ không làm gì để cho thị trường chứng khoán Nga tụt giảm, giá trị đã mất 70% từ đầu năm tới nay. Trong hai Tháng Chín và Mười, chính phủ phải đóng cửa thị trường chứng khoán 15 lần để chờ đem công quỹ ra cứu! Vì số người Nga mua cổ phần còn ít, nên khi giá cổ phiếu xuống chỉ các đại tài chủ bị mất tiền và khi chính phủ cứu là cứu những người giầu nhất nước. Các tỷ phú ở Việt Nam đã mất tiền vì thị trường chứng khoán xuống, con số mất khoảng một tỷ Mỹ kim; nhưng ở Nga họ còn mất nhiều hơn nữa. Vì giá cổ phiếu các công ty giảm, các đại tài chủ Nga đã mất 230 tỷ Mỹ kim, trong số 300 tỷ mà họ làm chủ khi thị trường lên cao nhất. Giá dầu lửa tụt từ hơn 140 đô la hồi Tháng Bẩy xuống 65 đô la một thùng bây giờ càng làm cho triển vọng kinh tế Nga xuống thấp. Người ta đã tính nếu mỗi thùng dầu thô tụt giá một đô la thì tiền thu nhờ xuất cảng của Nga sẽ mất 3 tỷ đô la. Khi giá dầu lên, các nhà đầu tư ngoại quốc đem tiền tới nước Nga giúp thúc đẩy con số Tổng Sản Lượng Nội Ðịa tăng trung bình 7% một năm suốt thời gian ông Putin làm tổng thống. Nhưng khi thấy tình hình xuống thấp, họ cũng rút bớt tiền ra. Người dân Nga cũng biết lo. Trong Tháng Chín họ rút bớt 4% số tiền gửi ngân hàng vì không còn tin tưởng nữa. Có người đến rút một triệu rúp một lúc (37 ngàn Mỹ kim), nhét vô cặp sách về nhà cất! Nhiều người dùng Internet để chuyển tiền từ ngân hàng tư sang ngân hàng chính phủ. Dân Nga đã đổi tiền Rúp sang ngoại tệ, tổng cộng 3 tỷ rưỡi đô la. Các ngân hàng tư đã mất 30% số tiền ký thác vì bị rút ra. Ðã có mười ngân hàng sụp đổ.
Chính sách bành trướng và đe dọa các nước lân bang của ông Putin là một lý do khiến giới đầu tư quốc tế lo ngại muốn rút tiền ra. Nhưng các nhà tư bản thường họ nghĩ đến tiền nhiều hơn đến chính trị đối ngoại của nước Nga. Ðiều mà người ta lo ngại là cả nền kinh tế Nga dựa trên những nền tảng rất mong manh, rất dễ sụp đổ.
Ba món xuất cảng của Nga đem lại 80% ngoại tệ là kim loại, dầu khí, và thực phẩm. Từ năm 2000 lúc ông Putin mới lên cho đến năm 2007, giá kim loại tăng 275% sau khi tính trừ ảnh hưởng của lạm phát. Giá dầu khí tăng 210%, và thực phẩm tăng 160%. Tiền vào như nước, nhưng chính phủ Putin không có những chính sách phát triển các ngành khác ngoài ba lãnh vực trên để phân tản tài sản ra nhiều ngành sản xuất khác nhau. Một thiếu sót lớn nhất của chính phủ Putin trong 8 năm qua là không đầu tư đủ vào giáo dục để đào tạo nguồn nhân lực thích ứng với nền kinh tế mới. Khi được phỏng vấn đa số thanh niên Nga tỏ ý thích làm công chức hơn là làm cho doanh nghiệp, điều đó cho thấy một hình ảnh của tương lai.
Kể từ Tháng Bẩy năm 2008, giá các món hàng xuất cảng bắt đầu xuống. Nói chung, giá của các loại nông sản và khoáng sản đã giảm bớt 20% trên thị trường thế giới. Các đại tài chủ Nga dựng lên cơ nghiệp; chính phủ Nga được thặng dư ngân sách, quỹ dự trữ ngoại tệ dồi dào đều nhờ khai thác những tài nguyên thiên nhiên như kim loại, dầu khí. Nay thời vận xuống, người dân tiêu thụ cũng bị ảnh hưởng. Công ty bán lẻ và siêu thị X5 lớn nhất nước Nga đang cắt giảm nhân viên 30%. Cửa hàng GK Viktoria số bán giảm bớt 10%. Các công trình xây cất đang ngưng lại. Một số các văn phòng du lịch Nga đã ngưng trả tiền các công ty hàng không quốc tế vì thiếu tiền!
Nhưng tai nạn tài chánh ở Nga hiện nay là do chính họ tạo ra, cũng vì một lý do quen thuộc là vay nợ nhiều quá, nhất là vay nợ từ ngoại quốc - không khác gì tình trạng những năm 1997-98 ở Thái Lan, Malaysia và chính nước Nga. Nền tài chánh Anh, Mỹ lâm nạn vì các ngân hàng “sa ngã” đầu tư vào các loại chứng khoán mới và quá rủi ro. Còn ở Nga thì các đại tài chủ đã vay nợ quá nhiều nhưng dùng để mua cổ phần các công ty trong nước cũng như nước ngoài. Hiện nay các công ty và ngân hàng Nga đang mắc nợ nước ngoài khoảng 450 tỷ Mỹ kim, và trong hai tháng cuối năm 2008 này phải trả 50 tỷ đáo hạn.
Một trường hợp điển hình là ông Oleg Deripaska, năm nay mới 40 tuổi. Ông làm chủ một du thuyền loại sang nhất thế giới thả neo ở Ðịa Trung Hải. Nhưng công ty UC Rusal của ông nợ đầy mình. Ông vay các ngân hàng, trong đó có Royal Bank of Scotland bên Anh, còn đang nợ 4.5 tỷ đô la, để mua một phần tư số cổ phần của công ty Norilsk, khai thác số mỏ kền (nickel) lớn nhất thế giới. Khi vay, ông đặt các cổ phần của Norilsk làm thế chấp. Bây giờ giá những cổ phần thế chấp đó tụt xuống quá thấp so với số nợ. Công ty UC Rusal sẽ phải bù tiền vào để cho cân bằng, tức là phải trả bớt một số nợ, hoặc phải được các ngân hàng chủ nợ ký giấy “miễn chấp” vào ngày hôm qua, 31 Tháng Mười năm 2008. Nếu không, các ngân hàng chủ nợ sẽ trở thành chủ nhân của các cổ phần trong công ty Norilsk!
Những món nợ 4.5 tỷ trên chỉ là một phần nhỏ trong cơn khốn đốn của ông Deripaska. Ông đã phải bán nhiều cổ phần ở các công ty tại Canada, và Âu Châu vì nợ không trả được! Ðại công ty Rusal có thể sẽ bị xé lẻ trong vài năm nữa!
Chính phủ Nga cứu ông Deripaska một lần này vì không muốn những cổ phần của Norilsk, một công ty kim loại lớn nhất nước lọt vào tay kiểm soát của các ngân hàng ngoại quốc! Chính vì thế, họ phải đưa tiền cho một ngân hàng quốc doanh Vnesheconombank (VEB) cho Rusal vay trả nợ! Nhưng từ đây, chính ngân hàng VEB, tức là chính phủ Nga sẽ thành chủ nhân các cổ phần này! Hồi đầu thập niên 1990, nhiều đại tài chủ đã cho chính phủ Nga vay, đến khi chính phủ Nga không có tiền tar, đã đem cổ phần các xí nghiệp quốc doanh gán để gán trả nợ. Nay là cảnh tượng ngược lại: chính phủ cho các đại tài chủ vay, và nhờ thế sẽ quốc hữu hóa một phần các xí nghiệp trở lại!
Ðó là tình cảnh kinh tế tài chánh nước Nga khi ông Nguyễn Minh Triết sang Mát Cơ Va thương thuyết các hợp đồng thương mại! Nhìn vào tình trạng khốn đốn của ông Oleg Deripaska và công ty UC Rusal của ông, không biết bao giờ các nhà máy khai thác bô xít ở Bình Phước mới bắt đầu được xây cất!
Trong khi đó thì những người dân ở vùng U Minh Hạ vẫn bữa rau bữa cháo! Ở những nước tự do dân chủ thì một chính phủ để cho dân chịu đói như vậy đã phải từ chức từ lâu rồi! Nhưng ở một nước độc tài đảng trị thì người dân chỉ biết khóc, như ông Nguyễn Thanh Toàn ở Cà Mau đã khóc khi bắt con ăn cháo: “Tôi thấy nhục quá!”
Những ông Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng và quý vị trong Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam không biết nhục là cái gì cả.
Nghị Sĩ John McCain thu hẹp khoảng cách
Cuộc nghiên cứu dư luận của công ty Pew Research công bố hai ngày trước khi dân đi bỏ phiếu cho thấy Nghị Sĩ John McCain đã thu hẹp khoảng cách với Nghị Sĩ Barack Obama, trong cuộc tranh cử làm vị tổng thống thứ 44 của Hoa Kỳ.
Theo bản tin của đài phát thanh NPR trong ngày Chủ Nhật thì kết quả cuộc nghiên cứu của Pew Research cho thấy ông Obama chỉ còn vượt qua ông McCain 7 điểm, với tỷ số 49-42 phần trăm. Tuần trước, cũng công ty nghiên cứu Pew này cho biết ông Obama dẫn trước đối thủ 15 điểm.
Ông Andrew Kohut thuộc công ty Pew giải thích có hai yếu tố giúp Nghị Sĩ McCain tiến xa hơn. Thứ nhất, ông đã chiếm thêm được lòng tin của những người Mỹ da trắng, của những cử tri độc lập không theo đảng nào, và những người lợi tức thuộc lớp trung lưu. Lý do thứ hai do phương pháp nghiên cứu, lần này chỉ phỏng vấn những người sẽ đi bầu thay vì hỏi chung tất cả những cử tri đã ghi danh. Các cử tri ủng hộ đảng Cộng Hòa thường đi bỏ phiếu với tỷ số cao hơn, trong khi những người ủng hộ đảng Dân Chủ, đặc biệt là những người trẻ tuổi và người da đen, thường không chăm chỉ đi bỏ phiếu bằng. Cũng vì vậy, một thông điệp mà hai ứng cử viên tổng thống trong những ngày sau cùng đều nhấn mạnh là kêu gọi các cử tri hãy đi bỏ phiếu cho đông.
Cuộc nghiên cứu của Pew còn cho biết trong số người ủng hộ mỗi ứng cử viên tổng thống, những người phò ông Obama có vẻ hăng hái hơn. Dù vậy, ông Andrew Kohut cũng vẫn dè dặt không tiên đoán kết quả sau cùng, vì cuộc bầu cử nào cũng đầy tính chất bất ngờ không thể đoán trước!
Ngoài kết quả của công ty Pew, nhiều cuộc nghiên cứu khác cũng cho thấy ông Obama đang dẫn trước khoảng 5% trong số cử tri trên toàn quốc. Ðây là một tỷ số rất cao, lần sau cùng một ứng cử viên tổng thống đã dẫn trước đối thủ xa như vậy mấy ngày trước ngày bỏ phiếu là vào năm 1996, khi Tổng Thống Bill Clinton thắng Nghị Sĩ Bob Dole. Tuy nhiên kết quả sau cùng sẽ tùy thuộc số phiếu cử tri đoàn, ai được 270 trong số 538 phiếu của 50 tiểu bang và vùng thủ đô sẽ thắng cử. Hiện có sáu tiểu bang được coi là đang diễn ra cảnh “giành giật” gay go giữa hai ứng cử viên, đó là Florida, Indiana, Missouri, North Carolina, Nevada and Ohio. Cả 6 tiểu bang đó đều bầu cho Tổng Thống George W. Bush trước đây.
Cho tới sáng ngày Chúa Nhật, trong tổng số cử tri khoảng 190 ngàn đã có 27 triệu người Mỹ bỏ phiếu, hoặc bằng thư hoặc đi bỏ phiếu sớm tại 30 tiểu bang cho phép bầu sớm.
Ðây là cuộc bầu cử tổng thống tốn kém nhất trong lịch sử nước Mỹ, với chi phí khoảng một tỷ Mỹ kim, trung bình tốn 8 đô la cho mỗi phiếu bầu. Trong lúc kinh tế đang suy kém, đây là một chương trình tạo thêm công việc cho nhiều người! Rất tiếc chương trình đó sẽ chấm dứt trong ba ngày nữa!
Theo bản tin của đài phát thanh NPR trong ngày Chủ Nhật thì kết quả cuộc nghiên cứu của Pew Research cho thấy ông Obama chỉ còn vượt qua ông McCain 7 điểm, với tỷ số 49-42 phần trăm. Tuần trước, cũng công ty nghiên cứu Pew này cho biết ông Obama dẫn trước đối thủ 15 điểm.
Ông Andrew Kohut thuộc công ty Pew giải thích có hai yếu tố giúp Nghị Sĩ McCain tiến xa hơn. Thứ nhất, ông đã chiếm thêm được lòng tin của những người Mỹ da trắng, của những cử tri độc lập không theo đảng nào, và những người lợi tức thuộc lớp trung lưu. Lý do thứ hai do phương pháp nghiên cứu, lần này chỉ phỏng vấn những người sẽ đi bầu thay vì hỏi chung tất cả những cử tri đã ghi danh. Các cử tri ủng hộ đảng Cộng Hòa thường đi bỏ phiếu với tỷ số cao hơn, trong khi những người ủng hộ đảng Dân Chủ, đặc biệt là những người trẻ tuổi và người da đen, thường không chăm chỉ đi bỏ phiếu bằng. Cũng vì vậy, một thông điệp mà hai ứng cử viên tổng thống trong những ngày sau cùng đều nhấn mạnh là kêu gọi các cử tri hãy đi bỏ phiếu cho đông.
Cuộc nghiên cứu của Pew còn cho biết trong số người ủng hộ mỗi ứng cử viên tổng thống, những người phò ông Obama có vẻ hăng hái hơn. Dù vậy, ông Andrew Kohut cũng vẫn dè dặt không tiên đoán kết quả sau cùng, vì cuộc bầu cử nào cũng đầy tính chất bất ngờ không thể đoán trước!
Ngoài kết quả của công ty Pew, nhiều cuộc nghiên cứu khác cũng cho thấy ông Obama đang dẫn trước khoảng 5% trong số cử tri trên toàn quốc. Ðây là một tỷ số rất cao, lần sau cùng một ứng cử viên tổng thống đã dẫn trước đối thủ xa như vậy mấy ngày trước ngày bỏ phiếu là vào năm 1996, khi Tổng Thống Bill Clinton thắng Nghị Sĩ Bob Dole. Tuy nhiên kết quả sau cùng sẽ tùy thuộc số phiếu cử tri đoàn, ai được 270 trong số 538 phiếu của 50 tiểu bang và vùng thủ đô sẽ thắng cử. Hiện có sáu tiểu bang được coi là đang diễn ra cảnh “giành giật” gay go giữa hai ứng cử viên, đó là Florida, Indiana, Missouri, North Carolina, Nevada and Ohio. Cả 6 tiểu bang đó đều bầu cho Tổng Thống George W. Bush trước đây.
Cho tới sáng ngày Chúa Nhật, trong tổng số cử tri khoảng 190 ngàn đã có 27 triệu người Mỹ bỏ phiếu, hoặc bằng thư hoặc đi bỏ phiếu sớm tại 30 tiểu bang cho phép bầu sớm.
Ðây là cuộc bầu cử tổng thống tốn kém nhất trong lịch sử nước Mỹ, với chi phí khoảng một tỷ Mỹ kim, trung bình tốn 8 đô la cho mỗi phiếu bầu. Trong lúc kinh tế đang suy kém, đây là một chương trình tạo thêm công việc cho nhiều người! Rất tiếc chương trình đó sẽ chấm dứt trong ba ngày nữa!

Dân Mỹ Thực Sự Muốn Đổi Thay Khi Bầu Barack Obama Làm Tổng Thống
Tác giả: Lý Đại Nguyên
Lần đầu tiên trong lịch sử 232 năm lập quốc, cử tri Hoakỳ vừa chọn bầu một thanh niên gốc Phichâu vào ghế Tổng Thống của mình, đó là ông Barack Hussein Obama, thuộc đảng Dân Chủ.
Thắng lợi của ông Obama chấm dứt 8 năm cầm quyền đầy hung hiểm của tổng thống George W. Bush thuộc đảng Cộng Hòa. Đến đây, phải nhận một sự thật là dân Mỹ đã thoát ra khỏi tâm lý kỳ thị mầu da, để khằng định nước Mỹ là một Hiệp Chúng Quốc đích thực. Tượng trưng cho Thế Giới Thu Nhỏ, thành mẫu mực của một Xã Hội Phát Triển Toàn Diện trong tiến trình Kinh Tế Toàn Cầu Hóa và Dân Chủ Hóa Toàn Cầu.
Nhưng trước đó, nước Mỹ đã trở thành đối tựơng cần phải tiêu diệt của Phong Trào Khủng Bố Quốc Tế al-Qaeda. Vì Mỹ là một Siêu Cường, đỡ đầu cho Quốc Gia Do Thái, kẻ tử thù của khối Ả Rập Hồi Giáo. Vụ tấn công 911 của al-Qaeda vào Trung Tâm Thương Mại Quốc Tế New York, và Bộ Quốc Phòng Mỹ tại Hoa Thịnh Đốn đã làm cho “Con Đại Bàng Mỹ chuyển cánh”, giáng những đòn phủ đầu xuống các nước nuôi dưỡng, và ủng hộ cho Khủng Bố. Cuộc chiến chớp nhoáng đánh tan chính quyền Taliban tại Afghanitan, sào huyệt của Osama bin Laden lãnh tụ al-Qaeda. Rồi thừa thắng tiêu diệt luôn chính quyền độc tài Saddam Hussein tại Iraq.
Đến đây là TT Bush đã không còn tuân thủ nguyên tắc khởi chiến truyền thống của nước Mỹ nữa. Tức là chỉ đánh trả để đạt chiến thắng cuối cùng, chứ không tấn công trước. Có lẽ chính vì thế, cuộc chiến Iraq đã thắng về quân sự, nhưng sa lầy về an ninh và ổn định chính trị, nên bị kéo dài, hao tốn cả danh dự lẫn tài lực quá nhiều, làm cho dân Mỹ oán ghét, thế giới lên án. Tạo cơ hội cho Iran có thế chống Mỹ.
Từ sau Chiến Tranh Lạnh, tiến trình Kinh Tế Thị Trường Toàn Cầu Hóa là một xu hướng không thề đảo ngược, các nước dù Dân Chủ, hay Độc Tài, kể cả Cộng Sản, cũng mặc nhiên phải tự nguyện gia nhập. Các khối liên quốc gia xuất hiện để cân bằng lực lượng kinh tế với các cuờng quốc. Thị Trường Chung Âu Châu trở thành Liên Âu lần lần quy tụ hầu hết các nước Tây Âu, rồi Đông Âu vào hệ thống tiền tệ Euro. Các nước Đông Nam Á thành ASEAN, mở rộng thành Tự Do Mậu Dịch Á Châu AFTA, đến Á Châu Thái Bình Dương APEC, rồi Hợp Tác Á, Âu là ASEM . Hoakỳ cùng Canada và Mễ Tây Cơ cũng thành lập Thị Trường Chung Bắc Mỹ NAFTA. Từ đó các xí nghiệp kỹ nghệ sản xuất của Mỹ chuyển qua Mễ để có công nhân rẻ. Công nhân Mỹ thất nghiệp. Vốn của Tài Phiệt Mỹ đổ vào các Công Ty Đa Quốc Gia, đem đầu tư vào Trungcộng và các nước đang phát triển. Nuớc Mỹ trở thành Thị Trường Tiêu Thụ sản phẩm gia công của các nước đó. Mỹ nhiễm nhiên là con nợ lớn nhất của cả thế giới, số nợ hiện nay đã lên trên 12.000 tỷ USD. Tuy nhiên Tư Bản Mỹ vẫn là ông chủ lớn nhất hoàn vũ. Kinh tế Mỹ mất dần nội lực. Chính quyền Bush buộc phải làm trái với nguyên tắc đánh thuế lũy tiến, để áp dụng phương pháp giảm thuế cho nhà giầu, nhằm thu hút vốn đầu tư từ quốc nội tới quốc tế trở về.
Nhưng rồi các ngân hàng và các công ty tài chánh Mỹ đã tự bán rẻ vị thế siêu đẳng của mình, ỷ vào thế Tự Do Mậu Dịch, chính quyền không can thiệp vào thị trường, nhiều doanh nghiệp tài chánh vô trách nhiệm, bất lương không bị truy tố. Thế là cả lũ kéo nhau xuống hố phá sản. Trận bão tài chánh từ Hoakỳ cuốn luôn hệ thống thị trường tài chánh quốc tế vào cơn cuồng loạn. Chính phủ Mỹ và các nước Dân Chủ tiên tiến phải đổ tiền vào để cứu các ngân hàng. Nói trắng ra là tạm thời “Quốc Hữu Hóa” các công ty tài chánh để khỏi phải phá sản. Lấy lại niềm tin của dân chúng. Vì dân chúng ở các nước Dân Chủ Tư Bản Tiên Tiến thì tiền bạc đều gởi ở nhà Bank. Dân vừa là chủ nợ vừa là con nợ của nhà Bank. Trong thế giới Tư Bản, vốn là gốc của kinh tế. Hệ thống nhà Bank nắm nguồn vốn, là nội lực của kinh tế, là huyết mạch của xã hội, kể cả là hơi thở của chính quyền nữa. Nên mới gọi đó là nơi tập trung “siêu quyền lực” ban phát mệnh lệnh cho thị trường, nhịp sống cho xã hội, nhịp thở của chính quyền. Nhưng sau trận bão tài chánh này, hệ thống tài chánh của Siêu Cường Mỹ, của thế giới đã phải nhờ các Chính Quyền can thiệp, nên thứ quyền lực siêu hình đó đã lọt vào tay chính quyền của mỗi nước, mà mỗi nước không tự cứu mình nổi, phải cùng hợp tác với nhau để có biện pháp chung. Nhưng nước Mỹ lại vẫn là nước đứng đầu của nền kinh tế thị trường thế giới. Chính vì vậy mà chính quyền Dân Chủ Obama tới đây, có một vị thế và trách nhiệm vô cùng lớn lao và khó khăn.
Lẽ dĩ nhiên, khuynh hướng bảo hộ mậu dịch cố hữu của đàng Dân Chủ đã lỗi thời, và giấc mơ Xã Hội Chủ Nghĩa hoang tưởng của ông Obama đã chết tiệt. Nhu cầu của nền chính trị và kinh tế Mỹ cũng như toàn thế giới ngày nay, đang mở ra hướng đi từ Nhận Thức Nhân Chủ Nhân Văn, về các Xã Hội Tự Do Công Bằng của Kinh tế Thị Trường Toàn Cầu Hóa và Chính Trị Dân Chủ Hóa Toàn Cầu, được Điều Hợp bởi hệ thống Luật Pháp Trong Sáng Công Chính, nhằm bảo vệ Giá Trị và Quyền Lợi Con Người, an toàn Xã Hội, an ninh Quốc Gia, hòa bình Thế Giới. Không riêng gì nước Mỹ, mà bất cứ quốc gia nào đi ngược lại với nhu cầu của Nhân Loại để đánh mất niềm tin của Con Người, cũng khó tồn tại bền vững. Chính sự đánh mất niềm tin của Người Dân vào các Công Ty Tài Chánh hiện nay, đã làm cho vị thế siêu quyền lực của họ bỗng nhiên bị mất toi. Với niềm tin của cử tri Mỹ vào vai trò lãnh đạo của Tân Tổng Thống Dân Chủ Obama, cho cả đa số Thượng Viện và có thể là Hạ Viện trong tay, mà không đáp ứng được với nhu cầu của Quốc Dân Mỹ và nguyện vọng của toàn Thế Giới, thì đó là một trọng tội.
Sự thật thì nạn Khủng Bố Quốc Tế vẫn còn đó. Dù chính quyền Cộng Hòa Bush có làm mất lòng dân đến đâu, thì cũng phải công bằng, mà nhận rằng: Từ vụ khủng bố 911, nước Mỹ rộng lớn là thế, người dân có tự do là thế, những cuộc tập họp khổng lồ là thế, mà bọn Khủng Bố Quốc Tế không thể có bất cứ cuộc bạo loạn nào, thì về mặt an ninh nội địa, chính quyền Cộng Hòa Bush đã có công rất lớn. Hiện nay mầm chiến tranh vẫn còn đầy rẫy, cuộc chạy đua vũ trang đang được khơi dậy, nếu cái gọi là “Thay Đổi” của chính quyền Dân Chủ Obama chỉ đi chệch hướng phát triển của truyền thống Tự Do, Dân Chủ, Đạo Đức của Quốc Dân Hoa Kỳ một bước, là rất dễ rơi vào cảnh phải dùng tới chiến tranh để xóa bàn làm lại. Tệ hơn là tạo ra loạn động nội tại lung tung, làm cho Hoakỷ tự đánh mất vai trò lãnh đạo thế giới của một Siêu Cường kinh tế, chính trị, quân sự và kỹ thuật cao của mình.
Little Saigon ngày 04-11-2008.
Thử Thách Tổng Thống Tân Cử Obama
Ngô Nhân Dụng Ít khi một vị tổng thống tân cử chưa làm lễ tuyên thệ nhậm chức đã được hỏi ý kiến ngay về chuyện tiền bạc, chi tiêu của nhà nước. Nhưng đương kim Bộ Trưởng Tài Chánh Henry Paulson đã nói rồi. Ông sẽ tham khảo ý kiến của người sắp nắm vận mạng tài chánh về việc sử dụng khoảng 537 tỷ đô la, số tiền còn lại trong ngân sách 700 tỷ mà chính phủ George W. Bush được phép dùng để giải cứu hệ thống tài chánh và ngân hàng của Mỹ. Tổng thống tân cử sẽ phải chỉ định ngay một bộ tham mưu kinh tế, tài chánh để làm việc với chính quyền đương nhiệm, trước ngày 20 Tháng Giêng năm 2009.
Không phải chỉ có bên Hành Pháp quan tâm đến việc tham khảo vị tổng thống tân cử. Quốc Hội đương nhiệm còn hơn 3 tháng tại chức đang có ý định bàn về một chương trình kích thích kinh tế mới, sau số tiền 168 tỷ được quyết định vào đầu năm, trong đó 105 tỷ được gửi tới từng gia đình đóng thuế ở Mỹ. Món tiền đó như muối bỏ biển, cho hết Mùa Hè chưa đủ sức kích số tiêu thụ lên, vì những người nhận được ngân phiếu chưa đủ để mua xăng khi giá xăng lên trên 4 đô la, nhiều người còn lo trả nợ để khỏi bị xiết nhà. Cho nên cả Tòa Bạch Ốc lẫn Quốc Hội đều nhắc đến một chương trình “kích thích” mới. Cố vấn kinh tế của Nghị Sĩ John McCain đã gợi ý có thể chi thêm 300 tỷ nữa để kích thích kinh tế. Nhưng trước khi quyết định cho phép chính phủ vay nợ thêm để tiếp tục kích thích kinh tế, các đại biểu quốc hội không thể nào không hỏi ý kiến của vị tổng thống tân cử về chương trình của ông sau khi nhậm chức. Nếu cần, họ sẽ chờ tới khi các đại biểu quốc hội mới nhậm chức.
Ông Paulson rất muốn tham khảo với ê kíp tài chánh mới, để chia sẻ trách nhiệm. Vì việc phân chia số tiền lớn này có thể gây cảm tưởng có những quyết định do thiên kiến, nếu không phải là do tư vị. Ngay bây giờ, ông Paulson đã quyết định xong số tiền 250 tỷ được dùng mua cổ phần trong một số ngân hàng và công ty lớn, giúp họ thoát cảnh thiếu tiền mặt, nhưng mới sử dụng 163 tỷ trong số đó mà thôi. Số còn lại sẽ giúp cho những công ty hoặc ngân hàng nào, sẽ hỏi ý kiến những người sắp vào thế chỗ. Còn 450 tỷ còn lại sẽ được quyết định dùng vào việc gì, để giúp các xí nghiệp, giúp những cá nhân đang sợ bị sai áp nhà, giúp cả các chủ nợ của họ?
Thái độ dè dặt và cởi mở của ông Henry Paulson là hợp lý. Với một số tiền 450 tỷ có thể dùng để thi ân, báo oán, chính quyền hiện nay không thể đặt vị tổng thống tân cử trước sự đã rồi, khi nhận lãnh trách nhiệm trong 3 tháng rưỡi nữa.
Nhất là khi vị tổng thống tân cử đang phải chuẩn bị làm công việc “quét dọn” đống rác kinh tế, những tàn dư do chính quyền đang mãn nhiệm để lại. Ông cần thực hiện ngay những kế hoạch cấp bách không thể trì hoãn.
Những vấn đề có tầm xa, từ cải tổ y tế, tự túc năng lượng, đến cuộc chiến ở Iraq và Afghanistan, mà hai ứng cử viên đã nêu ra trong cuộc tranh cử, sẽ trở thành mờ nhạt trước gánh nặng kinh tế mà chính quyền sắp tới phải nhận trên vai. Trong ngày Thứ Hai, khi Nghị Sĩ John McCain bay qua bẩy tiểu bang để làm một vòng tranh cử chót, thì nước Mỹ nhận được những tin tức kinh tế xấu nhất. Tuy thị trường chứng khoán đã tăng lên 300 điểm, hơn 3% trong ngày dân Mỹ đi bỏ phiếu, nhưng chính quyền mới sẽ phải đương đầu với các khó khăn y như trước. Nhiều chuyên gia tiên đoán tỷ lệ thất nghiệp hiện nay là 6.1% sẽ tăng lên đến 8% vào năm 2010.
Tin xấu dễ hiểu nhất là số xe hơi bán trong Tháng Mười được công bố trong ngày 3 Tháng Mười Một. Số xe hơi và xe tải nhẹ của công ty GM bán 45% ít hơn cùng thời kỳ năm ngoái, số sụt giảm nặng nhất kể từ 60 năm nay. Công ty Ford cũng bị giảm 30%, vững chãi nhất là Toyota cũng thấy số xe bán giảm 23%. Chỉ số sản xuất công nghiệp ISM đã hạ thấp, từ 43.5 xuống 38.9, con số thấp nhất trong 26 năm nay.
Nhiệm vụ cấp bách đầu tiên của chính phủ mới là vực dậy nền kinh tế. Những chính sách mà chính phủ mới sẽ thực hiện để kích thích tiêu thụ bao gồm các biện pháp như kéo dài thời hạn nhận trợ cấp thất nghiệp cho các công nhân gặp khó khăn; tăng tiền trợ cấp bằng phiếu mua thực phẩm (food stamp) và trợ giúp cho các chính quyền tiểu bang và địa phương. Chính phủ liên bang có thể chấp nhận cảnh ngân sách khiếm hụt và đi vay nợ để chi tiêu; nhưng các tiểu bang, các quận hoặc thị xã bị giới hạn, khi kinh tế xuống thì tiền thuế thu vào xuống theo và họ sẽ phải hạn chế chi tiêu đúng lúc cả nước cần kích thích tiêu thụ. Do đó, chính phủ liên bang phải đứng ra giúp các tiểu bang, nếu không, những biện pháp của liên bang bị giảm hiệu quả. Vị tổng thống tân cử sẽ chịu áp lực để không tăng thuế những người giầu nhất nước, từ thuế lợi tức đến thuế trên tiền lời đầu tư, vì trong một thời kỳ kinh tế thoái trào không chính phủ nào nên tăng thuế cả.
Kế sách giản dị nhất là vị tổng thống tân cử có thể làm là dùng một phương thuốc chính phủ Mỹ đã thử trong thời khủng hoảng kinh tế 1930: Chi tiêu để xây dựng hạ tầng cơ sở, tạo công việc làm và kích thích tiêu thụ.
Nhà kinh tế học John Maynard Keynes đã ví việc chi tiêu công quỹ để kích thích kinh tế giống như chính phủ đem chôn tiền dưới đất rồi thuê người đi đào tiền lên. Mục đích chỉ cốt tạo công việc làm, giảm bớt số người thất nghiệp và gia tăng số tiền họ đem tiêu thụ để thúc đẩy cho những người khác sản xuất, tạo thêm công việc khác. Chi tiêu công quỹ như vậy hy vọng sẽ giúp kinh tế hồi phục sớm hơn. Hiện nay có khoảng 3000 dự án xây dựng trên toàn quốc, từ đường, cầu tới đập nước, phi trường, đang chờ có tiền thì khởi công. Với 300 tỷ kích thích, trong một năm nữa tỷ lệ thất nghiệp sẽ ở mức dưới 8%, nếu không thì có thể tăng lên gần 9%.
Một mối lo khi chính phủ kích thích tiêu thụ bằng cách tạo tăng chi tiêu, là công quỹ sẽ gánh nợ nhiều hơn. Số tiền nợ của chính phủ Mỹ năm 2008 lên tới một ngàn tỷ mỹ kim, sẽ thành gấp đôi trong năm tới. Khi chính phủ vay thêm nợ nhiều quá thì tiền bạc sẽ được hút vào công quỹ, số tiền còn lại trên thị trường sẽ giảm đi, do đó các xí nghiệp và tư nhân đi vay sẽ phải chịu lãi suất cao hơn. Lãi suất cao sẽ khiến các xí nghiệp khó phát triển và tư nhân khó vay tiền để tiêu thụ, như khi mua nhà, mua xe. Như vậy thì việc chính phủ vay nợ tạo ra ảnh hưởng ngược chiều với mục đích của các chương trình kích thích tiêu thụ. Vị tổng thống tân cử sẽ phải hợp tác với Hệ thống Dự trữ Liên bang, tức ngân hàng trung ương nước Mỹ, để làm sao cân bằng được hai loại ảnh hưởng ngược chiều này. Trước đây chính phủ Mỹ vay nợ rất dễ vì cả thế giới dư thừa tiền để dành, sẵn sàng cho nước Mỹ vay. Nhưng trong năm tới kinh tế thế giới cũng sụt giảm, những nước dư tiền như Trung Quốc, Nhật Bản, cũng phải lo kích thích nền kinh tế của chính nước họ.
Một thử thách thứ hai cho vị tổng thống tân cử là cần phải làm ngay là cải tổ hệ thống tài chánh nước Mỹ, đồng thời hợp tác với các quốc gia tiên tiến cải tổ nền tài chánh thế giới.
Nước Mỹ đã chứng kiến cảnh các định chế tài chánh tư sụp đổ, một lý do là vì không được giám sát chặt chẽ đủ. Trong khung cảnh luật lệ và người thi hành luật lệ có khuynh hướng dễ dàng với niềm tin vào khả năng tự điều chỉnh của thị trường, nhiều ngân hàng và công ty tài chánh đã có những quyết định quá nhiều rủi ro, gần như tự hủy hoại mình. Ai cũng thấy hệ thống tài chánh cần được giám sát chặt chẽ hơn, nhưng một điều đáng ngại là kiểm soát chặt chẽ quá sẽ làm cho cả hệ thống trì trệ, có thể tê liệt. Làm sao để cân bằng giữa nhu cầu giám sát và nhu cầu khai phóng cho thị trường hoạt động, quốc hội và chính phủ mới sẽ phải lo đặt ngay những quy tắc căn bản từ đó các chuyên gia sẽ vẽ ra các đường nét của một hệ thống tài chánh mới.
Cho nên ông Bộ Trưởng Paulson đã dành sẵn những văn phòng để đón ban tham mưu kinh tế tài chánh của vị tổng thống sắp chấp chánh. Họ sẽ được tham khảo ý kiến nhưng không có quyền quyết định, về những vấn đề như sử dụng 450 tỷ Mỹ kim còn lại trong kế hoạch giải cứu ngân hàng. Họ sẽ bàn nhau cách đối xử với những công ty chuyên tài trợ địa ốc như Fannie và Freddie. Họ sẽ thảo luận về kế hoạch kích thích tiêu thụ sắp tới.
Trong số những đề tài được bàn bạc sẽ là vai trò của Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang trong tương lai. Hiện nay Ngân Hàng Trung Ương Mỹ có hai nhiệm vụ chính: giữ giá cả bình ổn, để ngăn lạm phát và giúp giảm bớt nạn thất nghiệp. Quốc Hội có thể làm luật giao cho Ngân Hàng Trung Ương thêm một nhiệm vụ khác là bảo vệ hệ thống tài chánh vững chắc. Với trách nhiệm mới này, Ngân Hàng Trung Ương sẽ đóng vai trò giám sát hệ thống tài chánh và ngân hàng chặt chẽ hơn và có quyền hành động trong việc giải cứu nếu cần.
Hiện nay hệ thống tài trợ địa ốc trên toàn quốc gần như đã được quốc hữu hóa, dù người ta tránh dùng từ ngữ này. Còn các ngân hàng lớn hiện cũng đang bán cổ phần cho chính phủ để lấy tiền mặt, từ Goldman Sachs đến Bank of America. Một thử thách của vị tổng thống tân cử là phải cho cả nước và thế giới biết chính phủ Mỹ sẽ không dùng quyền lực chính trị chi phối thị trường kinh tế tài chánh.
Trước ngày 20 Tháng Giêng năm 2009 khi tổng thống tân cử nhậm chức, ông có thể đề cử ngay một người để mai mốt làm bộ trưởng tài chánh, tốt nhất là một người có kinh nghiệm, được giới kinh doanh và tài chánh tin tưởng.
Cuối cùng công tác nặng nhất của vị tổng thống tân cử là phục hồi niềm tin của dân chúng Mỹ và của thế giới vào tiềm năng của hệ thống kinh tế, tài chánh tư bản mà nước Mỹ vẫn đóng vai dẫn đầu. Ông sẽ phải cải thiện hệ thống đó sau những kinh nghiệm cay đắng vừa qua. Nhưng các nền tảng của cách tổ chức xã hội, với một hệ thống kinh tế tự do, đi đôi với một thể chế chính trị tự do dân chủ vẫn là con đường mà cả loài người sẽ lựa chọn. Nước Mỹ vẫn chứng tỏ họ có một khả năng thích ứng nhanh chóng và linh động với các khó khăn từ kinh tế đến xã hội, đây là điều mà vị tổng thống mới sẽ phải biến thành sự thực.
Ngô Nhân Dụng Ít khi một vị tổng thống tân cử chưa làm lễ tuyên thệ nhậm chức đã được hỏi ý kiến ngay về chuyện tiền bạc, chi tiêu của nhà nước. Nhưng đương kim Bộ Trưởng Tài Chánh Henry Paulson đã nói rồi. Ông sẽ tham khảo ý kiến của người sắp nắm vận mạng tài chánh về việc sử dụng khoảng 537 tỷ đô la, số tiền còn lại trong ngân sách 700 tỷ mà chính phủ George W. Bush được phép dùng để giải cứu hệ thống tài chánh và ngân hàng của Mỹ. Tổng thống tân cử sẽ phải chỉ định ngay một bộ tham mưu kinh tế, tài chánh để làm việc với chính quyền đương nhiệm, trước ngày 20 Tháng Giêng năm 2009.
Không phải chỉ có bên Hành Pháp quan tâm đến việc tham khảo vị tổng thống tân cử. Quốc Hội đương nhiệm còn hơn 3 tháng tại chức đang có ý định bàn về một chương trình kích thích kinh tế mới, sau số tiền 168 tỷ được quyết định vào đầu năm, trong đó 105 tỷ được gửi tới từng gia đình đóng thuế ở Mỹ. Món tiền đó như muối bỏ biển, cho hết Mùa Hè chưa đủ sức kích số tiêu thụ lên, vì những người nhận được ngân phiếu chưa đủ để mua xăng khi giá xăng lên trên 4 đô la, nhiều người còn lo trả nợ để khỏi bị xiết nhà. Cho nên cả Tòa Bạch Ốc lẫn Quốc Hội đều nhắc đến một chương trình “kích thích” mới. Cố vấn kinh tế của Nghị Sĩ John McCain đã gợi ý có thể chi thêm 300 tỷ nữa để kích thích kinh tế. Nhưng trước khi quyết định cho phép chính phủ vay nợ thêm để tiếp tục kích thích kinh tế, các đại biểu quốc hội không thể nào không hỏi ý kiến của vị tổng thống tân cử về chương trình của ông sau khi nhậm chức. Nếu cần, họ sẽ chờ tới khi các đại biểu quốc hội mới nhậm chức.
Ông Paulson rất muốn tham khảo với ê kíp tài chánh mới, để chia sẻ trách nhiệm. Vì việc phân chia số tiền lớn này có thể gây cảm tưởng có những quyết định do thiên kiến, nếu không phải là do tư vị. Ngay bây giờ, ông Paulson đã quyết định xong số tiền 250 tỷ được dùng mua cổ phần trong một số ngân hàng và công ty lớn, giúp họ thoát cảnh thiếu tiền mặt, nhưng mới sử dụng 163 tỷ trong số đó mà thôi. Số còn lại sẽ giúp cho những công ty hoặc ngân hàng nào, sẽ hỏi ý kiến những người sắp vào thế chỗ. Còn 450 tỷ còn lại sẽ được quyết định dùng vào việc gì, để giúp các xí nghiệp, giúp những cá nhân đang sợ bị sai áp nhà, giúp cả các chủ nợ của họ?
Thái độ dè dặt và cởi mở của ông Henry Paulson là hợp lý. Với một số tiền 450 tỷ có thể dùng để thi ân, báo oán, chính quyền hiện nay không thể đặt vị tổng thống tân cử trước sự đã rồi, khi nhận lãnh trách nhiệm trong 3 tháng rưỡi nữa.
Nhất là khi vị tổng thống tân cử đang phải chuẩn bị làm công việc “quét dọn” đống rác kinh tế, những tàn dư do chính quyền đang mãn nhiệm để lại. Ông cần thực hiện ngay những kế hoạch cấp bách không thể trì hoãn.
Những vấn đề có tầm xa, từ cải tổ y tế, tự túc năng lượng, đến cuộc chiến ở Iraq và Afghanistan, mà hai ứng cử viên đã nêu ra trong cuộc tranh cử, sẽ trở thành mờ nhạt trước gánh nặng kinh tế mà chính quyền sắp tới phải nhận trên vai. Trong ngày Thứ Hai, khi Nghị Sĩ John McCain bay qua bẩy tiểu bang để làm một vòng tranh cử chót, thì nước Mỹ nhận được những tin tức kinh tế xấu nhất. Tuy thị trường chứng khoán đã tăng lên 300 điểm, hơn 3% trong ngày dân Mỹ đi bỏ phiếu, nhưng chính quyền mới sẽ phải đương đầu với các khó khăn y như trước. Nhiều chuyên gia tiên đoán tỷ lệ thất nghiệp hiện nay là 6.1% sẽ tăng lên đến 8% vào năm 2010.
Tin xấu dễ hiểu nhất là số xe hơi bán trong Tháng Mười được công bố trong ngày 3 Tháng Mười Một. Số xe hơi và xe tải nhẹ của công ty GM bán 45% ít hơn cùng thời kỳ năm ngoái, số sụt giảm nặng nhất kể từ 60 năm nay. Công ty Ford cũng bị giảm 30%, vững chãi nhất là Toyota cũng thấy số xe bán giảm 23%. Chỉ số sản xuất công nghiệp ISM đã hạ thấp, từ 43.5 xuống 38.9, con số thấp nhất trong 26 năm nay.
Nhiệm vụ cấp bách đầu tiên của chính phủ mới là vực dậy nền kinh tế. Những chính sách mà chính phủ mới sẽ thực hiện để kích thích tiêu thụ bao gồm các biện pháp như kéo dài thời hạn nhận trợ cấp thất nghiệp cho các công nhân gặp khó khăn; tăng tiền trợ cấp bằng phiếu mua thực phẩm (food stamp) và trợ giúp cho các chính quyền tiểu bang và địa phương. Chính phủ liên bang có thể chấp nhận cảnh ngân sách khiếm hụt và đi vay nợ để chi tiêu; nhưng các tiểu bang, các quận hoặc thị xã bị giới hạn, khi kinh tế xuống thì tiền thuế thu vào xuống theo và họ sẽ phải hạn chế chi tiêu đúng lúc cả nước cần kích thích tiêu thụ. Do đó, chính phủ liên bang phải đứng ra giúp các tiểu bang, nếu không, những biện pháp của liên bang bị giảm hiệu quả. Vị tổng thống tân cử sẽ chịu áp lực để không tăng thuế những người giầu nhất nước, từ thuế lợi tức đến thuế trên tiền lời đầu tư, vì trong một thời kỳ kinh tế thoái trào không chính phủ nào nên tăng thuế cả.
Kế sách giản dị nhất là vị tổng thống tân cử có thể làm là dùng một phương thuốc chính phủ Mỹ đã thử trong thời khủng hoảng kinh tế 1930: Chi tiêu để xây dựng hạ tầng cơ sở, tạo công việc làm và kích thích tiêu thụ.
Nhà kinh tế học John Maynard Keynes đã ví việc chi tiêu công quỹ để kích thích kinh tế giống như chính phủ đem chôn tiền dưới đất rồi thuê người đi đào tiền lên. Mục đích chỉ cốt tạo công việc làm, giảm bớt số người thất nghiệp và gia tăng số tiền họ đem tiêu thụ để thúc đẩy cho những người khác sản xuất, tạo thêm công việc khác. Chi tiêu công quỹ như vậy hy vọng sẽ giúp kinh tế hồi phục sớm hơn. Hiện nay có khoảng 3000 dự án xây dựng trên toàn quốc, từ đường, cầu tới đập nước, phi trường, đang chờ có tiền thì khởi công. Với 300 tỷ kích thích, trong một năm nữa tỷ lệ thất nghiệp sẽ ở mức dưới 8%, nếu không thì có thể tăng lên gần 9%.
Một mối lo khi chính phủ kích thích tiêu thụ bằng cách tạo tăng chi tiêu, là công quỹ sẽ gánh nợ nhiều hơn. Số tiền nợ của chính phủ Mỹ năm 2008 lên tới một ngàn tỷ mỹ kim, sẽ thành gấp đôi trong năm tới. Khi chính phủ vay thêm nợ nhiều quá thì tiền bạc sẽ được hút vào công quỹ, số tiền còn lại trên thị trường sẽ giảm đi, do đó các xí nghiệp và tư nhân đi vay sẽ phải chịu lãi suất cao hơn. Lãi suất cao sẽ khiến các xí nghiệp khó phát triển và tư nhân khó vay tiền để tiêu thụ, như khi mua nhà, mua xe. Như vậy thì việc chính phủ vay nợ tạo ra ảnh hưởng ngược chiều với mục đích của các chương trình kích thích tiêu thụ. Vị tổng thống tân cử sẽ phải hợp tác với Hệ thống Dự trữ Liên bang, tức ngân hàng trung ương nước Mỹ, để làm sao cân bằng được hai loại ảnh hưởng ngược chiều này. Trước đây chính phủ Mỹ vay nợ rất dễ vì cả thế giới dư thừa tiền để dành, sẵn sàng cho nước Mỹ vay. Nhưng trong năm tới kinh tế thế giới cũng sụt giảm, những nước dư tiền như Trung Quốc, Nhật Bản, cũng phải lo kích thích nền kinh tế của chính nước họ.
Một thử thách thứ hai cho vị tổng thống tân cử là cần phải làm ngay là cải tổ hệ thống tài chánh nước Mỹ, đồng thời hợp tác với các quốc gia tiên tiến cải tổ nền tài chánh thế giới.
Nước Mỹ đã chứng kiến cảnh các định chế tài chánh tư sụp đổ, một lý do là vì không được giám sát chặt chẽ đủ. Trong khung cảnh luật lệ và người thi hành luật lệ có khuynh hướng dễ dàng với niềm tin vào khả năng tự điều chỉnh của thị trường, nhiều ngân hàng và công ty tài chánh đã có những quyết định quá nhiều rủi ro, gần như tự hủy hoại mình. Ai cũng thấy hệ thống tài chánh cần được giám sát chặt chẽ hơn, nhưng một điều đáng ngại là kiểm soát chặt chẽ quá sẽ làm cho cả hệ thống trì trệ, có thể tê liệt. Làm sao để cân bằng giữa nhu cầu giám sát và nhu cầu khai phóng cho thị trường hoạt động, quốc hội và chính phủ mới sẽ phải lo đặt ngay những quy tắc căn bản từ đó các chuyên gia sẽ vẽ ra các đường nét của một hệ thống tài chánh mới.
Cho nên ông Bộ Trưởng Paulson đã dành sẵn những văn phòng để đón ban tham mưu kinh tế tài chánh của vị tổng thống sắp chấp chánh. Họ sẽ được tham khảo ý kiến nhưng không có quyền quyết định, về những vấn đề như sử dụng 450 tỷ Mỹ kim còn lại trong kế hoạch giải cứu ngân hàng. Họ sẽ bàn nhau cách đối xử với những công ty chuyên tài trợ địa ốc như Fannie và Freddie. Họ sẽ thảo luận về kế hoạch kích thích tiêu thụ sắp tới.
Trong số những đề tài được bàn bạc sẽ là vai trò của Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang trong tương lai. Hiện nay Ngân Hàng Trung Ương Mỹ có hai nhiệm vụ chính: giữ giá cả bình ổn, để ngăn lạm phát và giúp giảm bớt nạn thất nghiệp. Quốc Hội có thể làm luật giao cho Ngân Hàng Trung Ương thêm một nhiệm vụ khác là bảo vệ hệ thống tài chánh vững chắc. Với trách nhiệm mới này, Ngân Hàng Trung Ương sẽ đóng vai trò giám sát hệ thống tài chánh và ngân hàng chặt chẽ hơn và có quyền hành động trong việc giải cứu nếu cần.
Hiện nay hệ thống tài trợ địa ốc trên toàn quốc gần như đã được quốc hữu hóa, dù người ta tránh dùng từ ngữ này. Còn các ngân hàng lớn hiện cũng đang bán cổ phần cho chính phủ để lấy tiền mặt, từ Goldman Sachs đến Bank of America. Một thử thách của vị tổng thống tân cử là phải cho cả nước và thế giới biết chính phủ Mỹ sẽ không dùng quyền lực chính trị chi phối thị trường kinh tế tài chánh.
Trước ngày 20 Tháng Giêng năm 2009 khi tổng thống tân cử nhậm chức, ông có thể đề cử ngay một người để mai mốt làm bộ trưởng tài chánh, tốt nhất là một người có kinh nghiệm, được giới kinh doanh và tài chánh tin tưởng.
Cuối cùng công tác nặng nhất của vị tổng thống tân cử là phục hồi niềm tin của dân chúng Mỹ và của thế giới vào tiềm năng của hệ thống kinh tế, tài chánh tư bản mà nước Mỹ vẫn đóng vai dẫn đầu. Ông sẽ phải cải thiện hệ thống đó sau những kinh nghiệm cay đắng vừa qua. Nhưng các nền tảng của cách tổ chức xã hội, với một hệ thống kinh tế tự do, đi đôi với một thể chế chính trị tự do dân chủ vẫn là con đường mà cả loài người sẽ lựa chọn. Nước Mỹ vẫn chứng tỏ họ có một khả năng thích ứng nhanh chóng và linh động với các khó khăn từ kinh tế đến xã hội, đây là điều mà vị tổng thống mới sẽ phải biến thành sự thực.
CANADA - U.S RELATIONS
PRESIDENTS AND PRIME MINISTERS
Martin O'Malley and Justin Thompson, CBC News Online | November 22, 2003
Prime Minister Jean Chrétien got along swimmingly with United States President Bill Clinton – they were golfing buddies – but the latest dust-up in Prague when Françoise Ducros, one of Chrétien's top aides, allegedly called President George W. Bush "a moron," probably better reflects the relationships of our leaders over the years.
In his book The Presidents and the Prime Ministers, author Lawrence Martin mentions how John A. Macdonald, Canada's first prime minister, "would alienate all of Washington with displays of contempt for the presidents and their men." Indeed, the subtitle of Martin's book catches the true spirit of relations across the world's longest undefended border: Washington and Ottawa Face to Face: The Myth of Bilateral Bliss 1867-1982.
But it hasn't always been a litany of barbs and brickbats. In a 1961 speech to Parliament, President John F. Kennedy characterized the relationship between the U.S. and Canada as follows: "Geography has made us neighbours, history has made us friends, economics has made us partners, necessity has made us allies."
And over the years:
1962 – Prime Minister John Diefenbaker on President John F. Kennedy: "He's a hothead. He's a fool – too young, too brash, too inexperienced, and a boastful son of a bitch!"
Lester Pearson
Source: Government of Canada site
1965 – at the height of the Vietnam War, Prime Minister Lester Pearson visited President Lyndon Johnson at the White House. Pearson gave a scathing speech one night about the war, then appeared at the White House the next day to confront a livid Johnson. As Martin describes it, LBJ grabbed Pearson by the shirt collar, lifted the prime minister off the floor and shouted, "You pissed on my rug!"
1969 – Pierre Trudeau told the National Press Club in Ottawa that living next to the U.S. "…is in some ways like sleeping with an elephant. No matter how friendly or temperate the beast, one is affected by every twitch and grunt."
1971 – When it was revealed that President Richard Nixon called Prime Minister Pierre Trudeau "an asshole" in his private tapes, Trudeau responded with, "I've been called worse things by better people."
1971 – After Trudeau left a session with Nixon in the Oval Office, the president said to H.R. Haldeman, his chief of staff: "That Trudeau, he's a clever son of a bitch." Then he said to Secretary of State Henry Kissinger: "What in the Christ is he talking about?"
Pierre Trudeau
Trudeau so infuriated Nixon during the visit that Nixon called him "a pompous egghead" and told Haldeman: "You've got to put it to these people for kicking the U.S. around after what we did for that lousy son of a bitch. Give it to somebody around here." This was when Nixon ordered Haldeman to plant a negative story about Trudeau with columnist Jack Anderson.
1972 – Nixon delivers a speech to the House of Commons: "While we do not have a wall between us, we have a great unguarded boundary. This does not mean that we are the same. This does not mean we do not have differences. But it does mean we have found a way to discuss differences in a friendly way without war."
1985 – Prime Minister Brian Mulroney and President Ronald Reagan sing to each other when the president visits Canada:
When Irish eyes are smiling,
Sure, 'tis like the morn in Spring.
In the lilt of Irish laughter
You can hear the angels sing.
At the turn of the millennium, it was reported that White House officials privately referred to Prime Minister Jean Chrétien as "Dino" (short for dinosaur).
2000 – George and Barbara Bush went to the wedding of Caroline Mulroney, daughter of Brian Mulroney in September 2000.
2001 – Who can ever forget the perceived snub of Canada when President Bush, in a speech to Congress, thanked countries all over the world for standing with the United States in its fight against terror after the attacks on the World Trade Center and Pentagon? He did not mention Canada.
On Sept. 20, 2001, Bush told the world:
"On behalf of the American people I thank the world for its outpouring of support. America will never forget the sounds of our national anthem playing at Buckingham Palace, on the streets of Paris and at Berlin's Brandenburg Gate. We will not forget South Korean children gathering to pray outside our embassy in Seoul, or the prayers of sympathy offered at a mosque in Cairo. We will not forget moments of silence and days of mourning in Australia and Africa and Latin America."
There was an uproar in Canada over the perceived snub. To put things in perspective, a top Chrétien aide was called upon to put a favourable spin on Bush's speech. The aide said: "If it is anything, it is an indication that our support goes without saying."
The aide's name was Françoise Ducros.
________________________________________

