Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

BÁO CÁO MUELLER - "GAME OVER!"


hoangphong
Posts: 423
Joined: Tue Feb 12, 2019 7:20 am

Post by hoangphong »

Image

Quốc Hận: 44 Năm Sau Nhìn Lại
Vi Anh
Năm 2019 là năm thứ 44 Việt Nam Cộng Hoà bị CS cưỡng chiếm bức tử. 44 năm Quốc Hận người Việt Quốc Gia sống không thể quên, chết ôm hận xuống suối vàng không tan. Cuộc chiến đấu chống độc tài đảng trị toàn diện của CS 44 năm qua của người Việt trong ngoài nước còn tiếp diễn. Mỗi lần gần đến ngày 30 tháng Tư Đen là đến mùa Quốc Hận. Người Việt Hải Ngoại đầy đủ tự do luôn chuẩn bị làm lễ tưởng niệm, một lễ chánh trị lớn nhứt trong năm và là cơ hội ôn cố tri tân.

Chánh nghĩa chống độc tài của người Việt Quốc gia càng ngày càng sáng tỏ. Càng nhớ, càng biết, càng tiếc Việt Nam Cộng hoà. Những ‘ý đồ’ lẻ tẻ vì tư lợi, phe nhóm phản động bày vẽ không gọi biến cố 30-4-1975 là Quốc Hận, mà gọi là Ngày Tự Do của những kẻ trở cờ, muốn hoà giải hoà hợp với CS, vượt lằn ranh Quốc Cộng, phản bội chánh nghĩa quốc gia, đều bị quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hoà và gia đình cùng hậu duệ phản đối, bác bỏ, tịt ngòi luôn.

Với độ lùi thời gian khá đủ, hồ sơ giải mật quá nhiều, nghiên cứu của các đại học vô tư, lịch sử đã trả lại chân lý cho Chiến tranh Việt Nam. Nói lên chánh nghĩa mà mấy thế hệ người Việt hy sinh những ngày hoa mộng để vào Quân đội, tham gia chánh quyền, quân dân cán chánh Việt Nam Cộng hòa chiến đấu, phục vụ trong công cuộc bảo vệ, tự vệ chánh đáng, chống lại làn sóng xâm lược của CS Bắc Việt đánh lấy Miền Nam do Liên xô và Trung Cộng mà Tổng Bí Thư Lê Duẩn của Đảng CSVN tự hào khoa trương trong Đảng khi nói đánh VNCH là đánh cho TC, cho Liên xô.

Việt Nam Cộng Hòa vẫn tồn tại sau khi đồng minh Mỹ “Việt nam hóa chiến tranh” để rút quân về nước. Việt Nam Cộng Hòa vẫn tồn tại sau khi Mỹ ký Hiệp định Paris năm 1973 dù hiệp định này minh thị cho quân Bắc Việt xâm nhập ở lại Miền Nam mà quân Mỹ rút ta hết. Việt Nam Cộng hòa vẫn tồn tại đến 30-4-1975.

Nói chung quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa đã “rất chì”. Có nhiều nghiên cứu của Mỹ so sánh nếu quân lực Mỹ bị cúp xăng dầu, đạn dược, máy bay như Quân Lực VNCH bị thì quân lực Mỹ chỉ chịu nổi 3 tháng, chớ không phải 3 năm như quân lực VNCH.

Mầm mống thất bại không phải ở VN mà sinh sôi nẩy nở ở bên Mỹ. Mỹ thất bại ngay ở Mỹ, ngay tại đồi Capitol, tại thủ đô Washington DC của Mỹ. Thất bại bởi nhóm Thiên tả và Phản Chiến. Chớ quân lực Mỹ, quân lực VNCH không thua CS Bắc Việt một trận nào.

Cuộc họp xét lại Chiến tranh Việt Nam ở Lubbock, Texas gần đây cho thấy một sự thật làm nỗi buồn nhược tiểu, nỗi nhục da vàng Việt Nam thêm thấm thía. Cuộc thảo luận của Cố vấn Kissinger với TT Nixon, hai người ở trong phòng lạnh huy hoàng, tưởng mình là người ăn học cao, làm chánh trị giỏi, thông kim quán cổ, quyết định rút quân ra khỏi Việt Nam để tạo điều kiện cho TT Nixon đắc cử. Hai người chân chưa đụng bùn lầy chiến trường Việt Nam, chưa nhỏ một giọt máu, một giọt nước mắt, một giọt mồ hôi trong Chiến tranh Việt Nam như mấy chục triệu quân dân cán chính VNCH và gần một triệu quân nhân Mỹ mà đi quyết định cho số phận những người trong cuộc. Mà quyết định vì quyền lợi ứng cử của riêng mình, mới độc địa làm sao ấy. Đau thương nhứt là Cố vấn Kissinger đánh giá 2 năm sau Việt nam hóa chiến tranh coi như Việt Nam Cộng Hoà bị xóa số, đi vào dĩ vãng, với cách nói và giọng nói vô cảm, vô tình, vô luân không thể tưởng tượng được ở một người có ăn học.
image.png

Và phóng lao phải theo lao, Nixon và Kissinger tìm cách bóp méo sự thật về Việt Nam Cộng Hoà để hậu thế không đổ tội phản bội đồng minh, hại bạn chiến đấu. Kissinger vua đi đêm, vua xì tin tạo điều kiện nói xấu dân quân Việt Nam Cộng Hoà. Thời đó cứ mở báo Mỹ ra xem tin thì thấy tướng tá tham nhũng, lính tráng Việt Nam đào ngũ, sinh viên biểu tình, ký giả đi ăn mày, âm mưu đảo chánh, tướng này đánh tướng kia. Bình luận thì chê Chiến tranh Việt Nam sai lầm, làm quân nhân Mỹ bị “hội chứng”, kinh tế Mỹ bị suy thoái, xã hội Mỹ bị phân hóa, chánh trị Mỹ bị chia rẽ. Dân chúng bị phản chiến bằng truyền thông đại chúng, lần lượt ảnh hưởng Quốc Hội. Quốc hội trói tay Hành Pháp, cắt viện trợ cho Việt Nam, buộc quân đội Mỹ rút quân như thua trận lần đầu tiên trong quân sử Mỹ. Sau đó hủy bỏ định chế quân dịch đã có từ lâu ở Mỹ. Một cuộc chiến mà một ngày tốn hàng tỷ, giờ chót Quốc Hội Mỹ chỉ viện trợ 1 tỷ cho nguyên cả năm, rồi sau đó cắt thêm 300 triệu nữa thì quân đội Việt Nam Cộng Hòa coi như đã trắng tay. CS Bắc Việt được thế đổ xô vào Miền Nam, Việt Nam Cộng hòa kêu cứu, Mỹ đánh chữ làm thinh, bất động như đồng lõa. Sau cùng Chiến tranh Việt Nam phải kết thúc, CS Hà nội tóm thâu cả Miền Nam.

Để chống đỡ búa rìu dư luận về tội phản bội đồng minh, nhận định sai lầm tình thế và muốn làm thay nghĩ thế cho người trong cuộc, Nixon, Kissinger ngoài việc đổ tội cho Quốc hội, cho Phản Chiến còn đưa ra lập luận bỏ Việt Nam là bắt con tép để nhử con tôm Trung Cộng, phá vỡ hệ thống CS quốc tế, làm cho Liên xô và Đông Âu sụp đổ. Biện luận đó hiện giờ vẫn còn trong giới chánh trị thiên tả và phản chiến. Nhưng không thuyết phục trước những sự thật, Phi luật Tân không tin Mỹ, đuổi Mỹ ra khỏi nước, chỉ mới cho Mỹ đổ quân lại thời TT Bush chống khủng bố. Đại Hàn cũng thế tự tăng cường quân, tự tạo nội lực, phong trào quốc gia vươn lên thường biểu tình đuổi Mỹ. Và hầu hết những nhà phân tích chánh trị quốc tế đồng ý với nhau rằng Liên xô sụp vì đột quị kinh tế do chạy đua võ trang với Mỹ, chớ không phải do Mỹ đi được với TC.

Sự thật vẫn là sự thật; chân lý lịch sử dù Ông Trời cũng không đổi được. Một thời gian sau Mỹ hoàn toàn rút quân ra khỏi Việt Nam, trong khi Chiến tranh Việt Nam còn tiếp diễn, chính Đại sứ Mỹ Martin về tường trình quân đội Việt Nam Cộng Hoà chưa bao giờ giữ vững an ninh lãnh thổ, chánh trị Việt Nam chưa bao giờ ổn định hơn như lúc bấy giờ, nhờ tự quyết và tự chủ. Và 30 năm sau, tại Texas, Viện Lubbock, những học giả và sử gia ngồi lại tái thẩm định, trả chân lý, trả chánh nghĩa lại cho Chiến tranh Việt Nam, cho Việt Nam Cộng Hoà và cho Quân lực Cộng Hoà.

Người Việt theo Kiểm tra Dân số năm 2010 của Mỹ, lúc bấy giờ có 2,1 triệu - đông thứ 6 sau các nhóm di dân Mễ Tây Cơ, Ấn Độ, Trung Quốc, Phi Luật Tân và El Salvador. Hiện thời năm 2019 sắp kiểm tra dân số 2020, gần 10 năm sau, con số ắt không dưới 3 triệu; sanh xuất của người Việt vốn cao. Người Mỹ gốc Việt không cần, không buồn trách móc mấy ông học nhiều, làm chánh trị cao Mỹ đã đưa đẩy nước Mỹ phản bội đồng minh, bức tử VNCH vì cái đó đã đi vào quá khứ rồi. Điều quan trọng là làm sao người sau không phạm sai lầm trước nữa. Điều quan trọng là biết sử dụng chân lý, kinh nghiệm trong Chiến tranh Việt Nam cho tương lai. Chiến tranh Iraq, Afghanistan rất cần những kinh nghiệm ấy để Mỹ đừng mang tiếng phản bội đồng minh, bỏ nhân dân, chánh quyền, và quân đội Iraq, Afghanistan, Do thái thân cô thế cô giữa biển hận thù Hồi giáo cực đoan. Và người Mỹ gốc Việt cũng cần rút kinh nghiệm để ứng phó thích hợp và đúng đắn trong công cuộc quốc tế vận đối với Mỹ trong sự nghiệp đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN./. (VA)

hoangphong
Posts: 423
Joined: Tue Feb 12, 2019 7:20 am

Post by hoangphong »

Image

Một ký ức buồn

(Viết về ngày 30/4/1975)
…Khi Cộng quân tiến về Sài Gòn từ hướng Long Khánh, gia đình tôi dắt díu nhau chạy giặc về Thủ Đức trên chiếc xe Lam mui trần do ba tôi làm tài xế. Trên con đường đầy quần áo, giày lính, xe cộ vương vãi đó thỉnh thoảng tôi thấy có vài xác người nằm phơi thây ngoài đường, có cả xác sỹ quan mang 3 bông mai với một vết thương rộng toác ở ngực!

Trong dòng người di tản đông nghẹt, chen chúc, kẹt cứng từ cầu Sài gòn kéo dài đến gần giáp ranh tỉnh Bình Dương bây giờ, tôi nghe tiếng cầu kinh, niệm Phật trong khi những quả đạn rít qua đầu nghe nổ rất gần càng tăng thêm sự lo lắng, an toàn cho dòng người nối dài trên quốc lộ. Mẹ tôi, một người từng chạy giặc Mậu Thân năm 68 dường như bà khá bình tĩnh, mắt nhắm nghiền, miệng lẩm bẩm đọc kinh cầu xin Chúa che chở cho cả gia đình.

Khi thoát về được nơi tạm trú được vài hôm, tôi mới mon men ra đường thăm dò xem tình hình như thế nào, lúc đó tôi chỉ mới 11 tuổi. Ngoài đường vẫn ngổn ngang quần áo, mũ giày trận và xe máy, vẫn còn vài xác người lính nằm gục nơi các gốc cây giữa trưa hè im ắng. Qua hôm sau đó là ngày 30/4, tuy chấm dứt tiếng súng nhưng cũng là những ngày tiếp nối sự đày đọa kinh khủng cho toàn miền Nam Việt nam. Toàn cảnh nó chẳng khác gì Mậu Thân 68 là bao, cũng khủng bố, bắt bớ, trả thù, xử bắn những quân nhân quyết không chịu phục tùng. Sự sợ hãi bởi khủng bố bao trùm cho miền Nam một màu chết chóc do Cộng quân gây ra nhằm tiêu diệt ý chí phản kháng của các binh sĩ còn tử thủ ở Sài gòn trong tiếng khóc nấc nghẹn của các bà mẹ, vợ và con cái.

Những đoàn xe chở đầy Cộng quân chạy rần rần trên các ngã đường Sài Gòn, lẫn lộn trong đó là đám thanh niên mà lúc đó người ta gọi là bọn 30/4, mặc áo sơ mi trắng, quần tây, đeo súng nghênh ngang mắt lườm lườm từng người như muốn ăn tươi nuốt sống họ, những người bị ép buộc ra đường đứng vẫy cờ chào đón quân “giải phóng”. Bọn này hoàn toàn được quyền bắt bớ, bắn giết, trùm bao thủ tiêu bất cứ ai mà chúng ghét, kể cả đó là một công dân bình thường không hề dính líu đến chính trị. Bọn này không phải là dân miền Bắc mà lại là người miền Nam, cũng không phải là dân nằm vùng! Chúng thuộc phường trộm cướp bị truy nã bởi cảnh sát VNCH ẩn nấp trong các ngõ ngách ở các đô thị trong miền Nam nổi lên như chấu chấu hòng lập công dâng lên cho cách mạng để được bảo toàn mạng sống. Chỉ hai năm sau khi CS chiếm miền Nam thì bọn cẩu tặc này biến mất dần không còn dấu vết.
Sau ngày 30/4 được 1 tháng thì bắt đầu cuộc càn quét bắt bớ tất cả các sĩ quan VNCH đi “học cải tạo”, một mỹ từ để đánh tráo cho việc bắt bớ, tận diệt, lưu đày trong nhà tù nơi rừng thiêng nước độc của CS, bài học mà trong thuyết CS không bao giờ bỏ sót từ thời Stalin. Hàng triệu quân nhân cán chính miền Nam khăn gói trình diện để được “cải tạo vài ngày” thực chất là họ sẽ được chăm sóc tận tình qua các cấp bậc và như các bạn đã biết “vài ngày” đó nó kéo dài hàng đến chục năm trời, trong đó có hàng trăm ngàn người chết trong trại cải tạo vì bị ngược đãi, bị hành hạ, bị bắn chết, vì bệnh hoạn nhất là sốt rét… y thời trung cổ. Các tù binh còm cõi, gầy trơ xương vì bịnh tật, bị hành hạ mà không được chăm sóc y tế ngoại trừ chỉ có duy nhất một “thần dược” được gọi là Xuyên Tâm Liên để trị bá bệnh, kể cả sốt rét, ho lao và lao lực.!!

Những ký ức kinh hoàng này tuy tôi không nhìn thấy được cảnh thảm khốc của năm Mậu Thân, Mùa Hè Đổ Lửa, nhưng cũng đã tạo nên một ấn tượng sâu lắng trong suốt cuộc đời tôi, cho đến tận bây giờ. Mùi ngai ngái của bộ quần áo mặc trên người của bộ đội cộng quân, những bữa cơm độn toàn khoai và bo bo. Những mớ ghẻ ruồi như mảng cơm cháy khắp cơ thể mà tôi không thể nào để tả hết được. Rận rệp được các cán binh CS mang làm quà cho miền Nam để đổi lấy những chiến lợi phẩm giá trị mà họ cướp được mang ra Bắc.

Toàn cảnh của chiến tranh, sinh tồn của người dân miền Nam để giành giựt sự sống, để tồn tại trong đau thương, một cuộc chiến đầy âm mưu chính trị, phe phái mà giờ đây một dân tộc có 4.000 năm lịch sử phải đứng trước nguy cơ bị tận diệt, xoá tên trên bản đồ thế giới bởi nạn CS.

Người Kể Chuyện
danlambaovn.blogspot.com

nhuvan
Posts: 383
Joined: Sun Mar 27, 2016 8:29 pm

Post by nhuvan »

Image

Nhà cộng sản Nguyễn Thiện Nhân
Đỗ Thành Nhân
(Danlambao) - Trong bài viết này: “nhà cộng sản” được hiểu là “nhà lãnh đạo đảng cộng sản”.

I. Nhà cộng sản

Ông Nguyễn Thiện Nhân được đào tạo ở Đức, Mỹ; hiện nay là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư TP.HCM; ông đã trải qua một quá trình là một nhà khoa học với học vị là Tiến sĩ Điều khiển học, là nhà giáo với học hàm Giáo sư Kinh tế. Nhưng qua dư luận xã hội thấy ông nổi bật với vai trò là một “nhà cộng sản” nhiều hơn.

Những dấu ấn khó quên “nhà cộng sản” Nguyễn Thiện Nhân chắc chắn sau này sẽ được ghi trong lịch sử đảng Cộng sản Việt Nam cũng giống như những tiền nhân đã sinh ra nó. Xin đánh giá mấy sự kiện nổi bật mang dấu ấn Nguyễn Thiện Nhân mà người dân TP.HCM và cả nước (có thể cả nhân loại) sẽ không bao giờ quên cho đến đến thời điểm hiện nay là:

* Một. Chính quyền đã cưỡng chế, chiếm đất đai của người dân Vườn rau Lộc Hưng đang sinh sống ở đó nhiều thế hệ từ những năm 50 thế kỷ 20. Việc tổ chức thực hiện cưỡng chế lấy sạch đất đai, san ủi nhà cửa vào những ngày cận Tết Nguyên đán 2019 đã tước đi quyền sử dụng đất hợp pháp của người dân; quyền được sum họp, thờ cúng tổ tiên trong những ngày Tết cổ truyền.

* Hai. Chính quyền quyết dời lư hương trước tượng đài Đức thánh Trần Hưng Đạo đúng vào ngày 17/2/2019 - ngày kỷ niệm 40 năm quân dân ta đánh trả cuộc chiến tranh xâm lược bởi Trung Quốc ở biên giới 6 tỉnh phía bắc Việt Nam.

Nên nhớ, Lư hương trước tượng đài Đức thánh Trần Hưng Đạo đã tồn tại hơn 50 năm. Dời lư hương làm cho người dân mất đi một chốn linh thiêng bày tỏ lòng yêu nước, tự hào dân tộc, sự biết ơn tiền nhân có công giữ nước và mở mang bờ cõi.

* Ba. Bí thư Nguyễn Thiện Nhân hứa với Bộ Chính trị, Chính phủ không để biểu tình diễn ra ở TP.HCM trước ngày kỷ niệm 30/4 và 1/5; xem bài viết trên Báo Thanh Niên (1).

Trong khi:

- Nhờ những cuộc xuống đường, tuần hành, biểu tình của các tầng lớp nhân dân (có cả phật giáo), đặc biệt là ở đô thành Sài Gòn - Gia Định góp phần làm cho chế độ Việt Nam cộng hòa suy yếu; để từ đó những người cộng sản mới có được chiến thắng ngày 30/4/1975.

- Nhờ những người công nhân lao động trên toàn thế giới xuống đường, bãi công, biểu tình đấu tranh giành quyền lợi với giới chủ và buộc họ phải nhượng bộ; để từ đó mới có được ngày 1/5/1886 - được chọn làm ngày Quốc tế Lao động.

Lời hứa của Bí thư Nguyễn Thiện Nhân trước Bộ Chính trị đã tạo điều kiện “miễn giảm” cho các tầng lớp nhân dân, công nhân lao động của TP.HCM - là đô thị đặc biệt, lớn nhất nước - không phải thực hiện quyền được hiến định là “biểu tình” theo Điều 25 Hiến pháp 2013 (2). Quyền “biểu tình” cũng là quyền con người tối thiểu theo Tuyên ngôn Phổ quát về Nhân quyền 1948 (3) và Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị 1966 (4) mà Việt Nam tham gia năm 1982.

II. Trường đào tạo cộng sản

Pol Pot học ở Pháp, Kim Jong-un học ở Thụy Sĩ; còn ông Nguyễn Thiện Nhân thì học ở Đức, Mỹ. Các quốc gia Pháp, Thụy Sĩ, Đức, Mỹ đều là các quốc gia phát triển về giáo dục.

Thực tế cho thấy, dù cho những quốc gia phát triển, có đào tạo cỡ nào đi nữa, thì môi trường đào tạo cộng sản vẫn tốt hơn, đã cho ra những nhà cộng sản đúng theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và Mao Trạch Đông.

Ông Nguyễn Thiện Nhân sinh năm 1953 ở Trà Vinh, năm 1954 theo gia đình tập kết ra Bắc. Tuy "nói giọng Bắc nhưng là người miền Nam" nên ông Nguyễn Thiện Nhân cũng biết về miền Nam trước đây, giai đoạn 1954-1975 dưới chính thể Việt Nam cộng hòa:

- Mặc dù chế độ Mỹ-Ngụy đã kiềm kẹp, đàn áp, bóc lột nhân dân miền Nam một cách dã man;

- Mặc dù chính quyền Việt Nam cộng hòa chỉ là chính quyền bù nhìn, tay sai, bán nước.

Nhưng "đế quốc Mỹ và tay sai" vẫn để cho người dân miền Nam, trong đó có thành phố Sài Gòn được những quyền tối thiểu của con người là: tự do BIỂU TÌNH và tự do BÁO CHÍ (ngôn luận).

Phải nói là ông Nguyễn Thiện Nhân đã được trải qua một môi trường đào tạo cộng sản nghiêm túc mới có được những quyết sách như vậy (Một, Hai, Ba - phần I) !.

Nếu đánh giá tư tưởng của những người lãnh đạo hiện tại qua hành động thực tế của họ, thì ông Nguyễn Thiện Nhân là nhà cộng sản chân chính và cũng… chuyên chính.

Phân tích theo tư duy logic của ngành điều khiển học:

Trong khi: Việt Nam vẫn kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; ông Nguyễn Phú Trọng tuổi cao sức yếu; ông Nguyễn Thiện Nhân hiện nay là Bí thư TP.HCM; nhân dịp này dư luận viên, tuyên giáo và các thành phần khác nên ủng hộ (hay đề nghị, đề xuất, bầu cử,…) ông Nguyễn Thiện Nhân lên làm Tổng bí thư luôn.

Lúc đó, Tổng bí thư Nguyễn Thiện Nhân sẽ đến Lăng Ba Đình: hứa với Chủ tịch Hồ Chí Minh không có biểu tình ở Việt Nam.

Tiếp theo là sửa Hiến pháp 2013, ít nhất một phần hay toàn bộ nội dung là Điều 25.

Sau khi nắm quyền tối cao, với trình độ Giáo sư Tiến sĩ, tài năng lãnh đạo quốc gia của nhà cộng sản Nguyễn Thiện Nhân chắc chắn không thua kém những người cũng được đào tạo ở Châu Âu như Pon Pol ở Campuchia hay Kim Jong-un ở Bắc Triều Tiên: ông sẽ sớm đưa Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội.

Đỗ Thành Nhân

hoangphong
Posts: 423
Joined: Tue Feb 12, 2019 7:20 am

Post by hoangphong »

Image

30 Tháng Tư, 1975: Tất cả hiện đủ trong buổi sáng hôm nay…
Phan Nhật Nam
April 30, 2019
Sự chết bắt đầu trùm chiếc cánh tối tăm hung hiểm lúc 6 giờ 15 chiều ngày 28 Tháng Tư, 1975, khi chuỗi bom dưới cánh những chiếc A37 do viên phi công phản trắc Nguyễn Thành Trung hướng dẫn rơi xuống phi đạo Tân Sơn Nhất.
Đạn phòng không bắn lên, phi cơ F5 đuổi theo muộn màng, vô vọng. Cửa ngõ tháo chạy của Sài Gòn đóng sập lại. Cuối cùng, Tân Sơn Nhất thật sự vùng vẫy, hấp hối, chìm dần trong lửa hỏa ngục khi dàn đại pháo, hỏa tiễn Cộng Sản từ Đồng Dù, Củ Chi, ranh giới Hậu Nghĩa, Gia Định bắt đầu đổ xuống không ngắt nhịp. Từng trái đạn 130 ly, từng hỏa tiễn 122 ly chính xác rơi xuống. Tân Sơn Nhất vật vã, co quắp, rã chết, sụp vỡ, hấp hối trong khói đen, lửa ngọn… Cuộc hành hình kéo dài từ 1 giờ sáng ngày 29 tiếp tục đến rạng đông.

Sáng 29 Tháng Tư, những tướng lãnh đã ra đi, những sĩ quan cao cấp cũng rời bỏ nhiệm sở, đơn vị, nhưng, Trung Úy Phi Công Trang Văn Thành còn lại. Thành có biệt hiệu “Thành Mọi,” bởi nước da ngăm đen, quá độ ra chỗ đậu tàu. Anh nổ máy chiếc C119 Hỏa Long, đơn độc bay lên trời xanh bảo vệ, cứu viện Tân Sơn Nhất.

Từ trên cao, thấy rõ những vị trí pháo của binh đội Cộng Sản. Thành nghiêng cánh, chúc mũi chiếc Hỏa Long căm phẫn trút xuống tràng đạn 7.62 ly, và tất cả hỏa lực cơ hữu của hai khẩu đại bác 20 ly gắn dưới cánh… Lửa nháng lên dưới thân tàu, toán phòng không Cộng Sản phản pháo, nhưng không kịp, Thành bình tĩnh, tài giỏi lách ra khỏi vùng hỏa tập lưới đạn của giặc.

Thành đáp xuống lại phi đạo thân yêu quen thuộc đang bốc khói mịt mù bởi cuộc dội bom chiều hôm, và cuộc pháo kích cường tập từ sau nửa đêm về sáng của ngày đau thương tang tóc này. Mặc, Thành tự tay nạp đạn vào tàu, anh trở lại bầu trời trên phi cảng Tân Sơn Nhất – cửa ngõ của miền Nam. Anh nhìn xuống những vị trí pháo Cộng Sản mà giờ này tạm ngưng hoạt động vì vừa bị anh tấn công. Hóa ra cả một quốc gia chỉ còn được lần cứu viện bi hùng tuyệt vọng này.

Thành chúc mũi tàu, bấm chặt hệ thống kích hỏa bên cạnh chỗ ngồi, một mình anh lấy đường nhắm. Một mình anh. Phải chỉ một mình anh – Trung Úy Trang Văn Thành, “Thành Mọi – Thành Thiếu Sinh Quân.” Thành hạ thấp hơn để đường đạn thêm phần chính xác. Thân tàu rung mạnh… Lửa! Lửa! Lửa cháy ngang cánh trái con tàu, ngay bình xăng, sát cạnh ghế ngồi. Thành giật mạnh chốt thoát hiểm để bung thân ra khỏi con tàu. Tất cả kẹt cứng. Anh dùng tay đẩy cửa buồng lái phóng mình ra, chiếc dù bung mạnh. Các múi, dây dù vướng vít rối rắm. Thành bị giữ chặt bởi chiếc dù và khung cửa. Lửa bừng bừng! Lửa ào ạt. Người phi công chìm trong lửa, gục chết giữa không gian trên quê hương.

30 Tháng Tư
Từ Công Trường Lam Sơn, đầu đường Nguyễn Huệ, đám đông dần tập trung để xem mặt “bộ đội Việt Cộng.” Thêm hai xe đổ quân trước rạp Rex. Lính Cộng Sản nhẩy xuống, chạy vội vào hàng hiên, nằm, trườn, bò, nháo nhác. Tiếng đập đục rầm rập từ những cơ sở ngoại quốc, những khối cửa sắt lay động, phá bung, những tấm kiếng tủ lớn bị đập vỡ, đồ đạt kéo lê hỗn độn, vội vàng trên mặt đường. Người mỗi lúc mỗi đông. Người dồn dập ùn ùn, la ó, chửi thề, giành giựt. Đám đông chạy về phía Building Brink, khu Đồn Đất, nhà thương Grall, những nơi có cơ sở của Mỹ kiều, những văn phòng mà chủ nhân đã bỏ đi.

Bất chợt, tất cả lắng lại để nghe rất rõ. Có người tự tử. Có người mới tự bắn chết. Ai? Lính, không biết, chỉ thấy mặc đồ lính mình. Ở đâu? Ở ngoải, chỗ tượng Thủy Quân Lục Chiến.

Chen giữa âm sắc xích xe tăng đổ nhào cửa Dinh Độc Lập có tiếng nổ khô nhỏ của viên đạn ghim vào, nằm sâu trong đầu Trung Tá Cảnh Sát Quốc Gia Nguyễn Văn Long, chỉ mấy mươi phút sau lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh.

Một trung đội lính Nhảy Dù thật sự chỉ khoảng hơn một tiểu đội giữ nhiệm vụ an ninh cư xá sĩ quan Bắc Hải. Khi nghe lệnh đầu hàng, viên thiếu úy trung đội trưởng quyết liệt: “Tôi không đầu hàng, tôi với trung đội sẽ ra bến tàu tiếp tục chiến đấu.”
Thiếu Úy Huỳnh Văn Thái tập họp trung đội, hô nghiêm, xếp hàng, ra lệnh di chuyển. Trung đội lính ra khỏi cư xá theo lối cổng đường Tô Hiến Thành, rẽ vào Nguyễn Tri Phương, đi về phía chợ Cá Trần Quốc Toản, hướng bến tàu. Nhưng những Người Lính Nhẩy Dù của Thiếu Úy Huỳnh Văn Thái không ra đến bến Bạch Đằng. Tới đến bùng binh Ngã Sáu Chợ Lớn, họ xếp thành vòng tròn, đưa súng lên trời đồng hô lớn “Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm. Con chết đây cha ơi!” Và những trái lựu đạn tiếp nhau bừng bực nổ sau lời hô vĩnh quyết cùng đất nước miền Nam.

Ở Vùng IV đồng bằng châu thổ Sông Củu Long, chị Nguyễn Thị Thàng vợ một Nghĩa Quân Đồn Giồng Trôm, thay chồng giữ đồn đến trái lựu đạn cuối cùng. Chị kết thúc đời sống bên cạnh thi thể của chồng, các con, với những vũ khí, máy truyền tin đã bị phá hủy. Không để cho Việt Cộng một cái gì cả! Người chồng đã dặn chị trước khi lâm tử. Cùng lần với những danh tướng vị quốc vong thân Nguyễn Khoa Nam, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai, Lê Văn Hưng, Phạm Văn Phú, Hồ Ngọc Cẩn… rất nhiều người không ai biết đã chết cùng lần vĩnh quyết Miền Nam.

Người Nhật là một dân tộc vĩ đại qua nghi lễ hiến tế, tức Seppuku (mổ bụng tự sát) khi danh dự cá nhân, tập thể, tổ quốc bị xúc phạm. Dân tộc Việt Nam không có nghi thức uy hùng, dũng cảm ấy. Tuy nhiên, người Việt cũng có phương thức riêng để bày tỏ Lòng Yêu Nước, cách gìn giữ phẩm giá con người. Người Việt xử dụng cái chết để chứng thực nguyện vọng kia qua cách thế im lặng và đơn giản nhưng không kém phần cao thượng.

Cuối cùng, bi kịch không chỉ xẩy ra với thời điểm 30 Tháng Tư, 1975 mà sau đó, suốt hai thập niên 70, 80, hai triệu người Việt Nam, không phân biệt người Nam, hay người Bắc những người đã sống dài lâu dưới chế độ cộng sản Hà Nội từ 1945, từ 1954 đã phá thân băng qua biển lớn, xuyên rừng rậm vùng Đông-Nam Á, với giá máu 600,000 người chết trên đường di tản ra khỏi nước.

Hóa ra dân tộc Việt, những người Việt Nam bình thường đã đồng lần thực hiện một điều mà họ không hề diễn đạt nên lời: Chết vì Tự Do, để bảo vệ Phẩm Giá, Quyền Làm Người. Người Việt Nam đã, đang hiện thực điều mầu nhiệm nầy qua từng ngày vượt sống trên quê hương khổ nạn, với chính thân xác của mình..

Hôm nay 30 tháng 4. Thế giới loài người! Xin tất cả hãy lắng nghe!

hoangphong
Posts: 423
Joined: Tue Feb 12, 2019 7:20 am

Post by hoangphong »

Image

Đảng Cộng Sản buôn thần bán thánh
Ngô Nhân Dụng

March 26, 2019
Chùa Ba Vàng ở thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. (Hình: Chuabavang)
Vụ chùa Ba Vàng bị vỡ lở vì làm tiền bằng cách gieo rắc mê tín dị đoan không phải chỉ là một hành động lẻ loi của một ông sư đảng viên quá tham lam. Cũng không phải chỉ là cuộc tranh chấp giữa một ông sư tỉnh lẻ với một ông sư ở trung ương được báo chí nhà nước hỗ trợ. Nhìn kỹ, thì đây là một “hiện tượng” nổi lên trên mặt nước mà dưới đáy lâu là “bản chất,” một chế độ độc tài toàn trị muốn kiểm soát cả các hoạt động tôn giáo.

Ông sư chùa Ba Vàng, Vũ Minh Hiếu, 52 tuổi, là một đảng viên Cộng Sản. Ông ta mới cạo đầu năm 1999 sau khi xin vào chùa thực tập năm trước. Ông đã chọn tới xin học tại một thiền viện ở miền Nam do một vị hòa thượng được mọi người kính trọng sáng lập. Chính vị hòa thượng lớn tuổi chắc cũng không biết ông là người thế nào khi ông được xuất gia; nhưng ông sư trẻ 40 thì được hưởng lây uy tín.


Năm 2001, Vũ Minh Hiếu, hiệu là Thái Minh, trở lại miền Bắc, từ năm 2007 được giao cho coi ngôi chùa Ba Vàng thuộc thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh; lúc đó chỉ là một chùa rất nhỏ. Ông đã làm tiền rất giỏi, trong bảy năm xây nên một ngôi chùa với chánh điện được mô tả là lớn nhất Đông Nam Á!

Nhưng hoạt động kinh doanh của ông đã đi quá đà khi lợi dụng lòng mê tín của người dân một cách quá lộ liễu. Và ông thành công rầm rộ đến nỗi “cấp trên” trong tổ chức tôn giáo của đảng Cộng Sản phải ganh tức. Báo chí được khuyến khích đi phanh phui, tố cáo những hoạt động mê tín làm ra tiền này.

Vũ Minh Hiếu đã tổ chức các lễ “thỉnh vong, giải oan gia trái chủ,” được một bà đệ tử góp công vận động qua những bài thuyết giảng, video và tổ chức việc kinh doanh. Họ thỉnh vong, theo phong tục “gọi hồn,” khi một người muốn tiếp xúc với vong linh người đã chết. Họ có thể mời vong hồn nhập vào một người, giống như khi “lên đồng.” Khi đó “bà đồng” sẽ chữa bệnh và “phán số kiếp” của người đến xin. “Vong” sẽ bắt người thân của mình phải “trả nợ” để chính họ được thoát nợ những tội lỗi đã làm từ kiếp trước. Số tiền gọi là “tiền giải nghiệp,” lớn từ vài triệu đến vài chục triệu đồng Việt Nam.

Vũ Minh Hiếu đã bị mất chức, nhưng chưa thấy nói có mất thẻ đảng hay không. Nhưng qua vụ này người ta thấy bản chất của việc lũng đoạn các tổ chức tôn giáo của đảng Cộng Sản Việt Nam.

Bản chất của Cộng Sản là độc tài toàn trị. Họ muốn kiểm soát tất cả các hoạt động trong xã hội, qua các đoàn thể phụ thuộc, từ các hội nhà văn, công đoàn, cho tới Hội Chữ Thập Đỏ. Họ không thể kiểm soát được Giáo Hội Công Giáo, nhưng đã nắm Phật Giáo trong tay qua tổ chức Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, mà người dân gọi là Giáo Hội Phật Giáo Quốc Doanh.

Từ mấy ngàn năm nay, Phật Giáo vốn không có một tổ chức cai quản tất cả các người đi tu và các tu viện, chùa chiền. Thời xưa ở nước ta, các ông vua, họ có thể phong chức “tăng thống” nhưng vị tăng thống chỉ là một người đạo hạnh cao để làm gương chứ không phải là người quản trị, điều hành các chùa hoặc tu viện. Và ông vua không có quyền hành gì trên vị tăng thống, cũng như các chùa chiền.

Tại những nước Nam Tông mà đạo Phật được coi là quốc giáo, vẫn luôn luôn có các vị sư sống độc lập, có khi sống một mình trong rừng. Các Phật tử kính mộ có thể mời vị sư vào một ngôi chùa, mà không cần chỉ thị nào từ trên ban xuống. Miền Nam Việt Nam trước đây vẫn sống trong truyền thống như thế, cho nên mới có những danh tăng nổi tiếng. Phật Thầy Tây An, Ông Sư Vãi Bán Khoai, đều là những người tự do hành đạo xây dựng những đạo tràng trong thế kỷ 19. Đức Huỳnh Giáo Chủ đã xây dựng cả một tông phái Phật Giáo mới vào đầu thế kỷ trước.

Hiện nay tổ chức Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam hoàn toàn nằm trong vòng tay kiểm soát của đảng Cộng Sản; đặc biệt tại miền Bắc. Không ai được “tu độc lập, tự do.”

Như chúng ta thấy, ông sư Vũ Minh Hiếu đã bị Ban Thường Trực Hội Đồng Trị Sự của khu vực miền Bắc họp bàn và cách chức. Nhưng trong hội nghị của họ, “có mời đại diện Cục An Ninh Nội Địa và Ban Tôn Giáo Chính Phủ cùng tham dự.” Chỉ cách chức ông sư tại một ngôi chùa, mà cũng phải mời cả hai ngành của guồng máy nhà nước chứng giám! Chính những người cầm đầu “giáo hội” chịu cúi đầu khuất phục dưới chế độ độc tài!

Ban Tôn Giáo Chính Phủ, mà báo Lao Động gọi là “cơ quan có nhiệm vụ theo dõi hoạt động tôn giáo,” là một tổ chức vừa lo kiểm soát vừa làm kinh tài của đảng Cộng Sản. Họ “chỉ đạo” cho những người cầm đầu “Giáo Hội Phật Giáo.” Không ai được phép trụ trì một ngôi chùa nếu không được đảng cho phép, dù đông đảo Phật tử có kính mộ. Các chùa thu được nhiều tiền sẽ được hỏi thăm.

Cuối cùng, các chùa chiền thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam bị biến thành guồng máy kinh tài cho đảng Cộng Sản. Không khác gì các doanh nghiệp nhà nước làm kinh tài cho các bộ công nghệ, bộ canh nông hoặc thương mại.

Một điều đặc biệt là tổ chức kinh doanh tôn giáo này không bị ràng buộc như các “xí nghiệp” khác.

Luật Sư Phùng Thanh Sơn ở Sài Gòn viết trên Facebook cá nhân cho thấy “Kinh doanh thần thánh là ngành nghề được ưu đãi và an toàn nhất Việt Nam.”

Nghề này được ưu đãi “vì được miễn tiền sử dụng đất, không đóng thuế thu nhập, không bị thanh tra, kiểm tra thuế, không bị nhà nước kiểm toán, không bị xử lý nếu sử dụng tiền (cúng dường) sai mục đích.”

Ngoài ra, Luật Sư Phùng Thanh Sơn còn nhận thấy “những người có chức sắc không bị xử lý hình sự nếu lấy tiền công đức (tức là thu nhập của công ty) làm của riêng.” Trong khi đó, giám đốc các xí nghiệp quốc doanh có thể bị hỏi tội này nếu phe đảng của họ đổ.

Khi một một vụ tham nhũng ở công ty quốc doanh bị khui ra, các chức sắc sẽ bị đưa ra tòa. Còn khi vụ kinh doanh mê tín của Vũ Minh Hiếu bị đổ bể, ông ta mất chức ở chùa, nhưng không biết có bị đưa ra tòa án ngoài đời hay không!

Các ông cựu giám đốc doanh nghiệp nhà nước đang ra tòa có thể khiếu nại: Tại sao, cùng là đảng viên nhận nhiệm vụ do đảng giao phó, mà chúng tôi bị bạc đãi còn các cán bộ đầu trọc được hưởng đủ thứ ưu tiên như vậy?

Tất cả những tệ nạn mê tín, buôn thần bán thánh như trên, đều là hậu quả của tình trạng đảng Cộng Sản kiểm soát tôn giáo, đặc biệt là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.

Đảng Cộng Sản không thao túng được tất cả các chùa chiền và các tăng ni. Rất nhiều chùa bị bắt buộc phải gia nhập tổ chức này, nhưng tăng ni vẫn sống trong thanh quy, giới luật. Họ vẫn giúp các Phật tử tìm về chánh đạo nhờ gìn giữ hạnh tu. Họ không bị đảng Cộng Sản sách nhiễu nếu không tỏ ra chống đối nhà nước. Nhờ những người đó mà đạo Phật vẫn còn tương lai; nhất là khi các tăng ni tu học theo các pháp môn mới, đáp lại nhu cầu tu tập của thế hệ trẻ và có học.

Nhưng không ai tin rằng những người cầm đầu Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam có thể cải thiện các chùa dưới quyền họ để giảm bớt nạn kinh doanh lợi dụng óc mê tín như ở chùa Ba Vàng. Bởi vì mỗi quyết định của “Giáo Hội,” ở trung ương và nhất là địa phương, đều phải được các bí thư và đảng ủy phê chuẩn. Một ngôi chùa “phát tài” là một nguồn lợi lớn và an toàn cho các ông bà quan này. Lớn và an toàn hơn các doanh nghiệp nhà nước trong địa phương của họ. Ai muốn giết những con gà đẻ trứng vàng như thế?

Đại nạn của Phật Giáo Việt Nam hiện nay là phải sống dưới một chế độ độc tài toàn trị. Khi nào chế độ đó tan rã, mới có thể xây dựng lại xã hội, xây dựng lại đạo ý, và trùng hưng Phật Giáo. (Ngô Nhân Dụng)

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Image

Hội nghị Thành đô – Cầu hòa với Bắc kinh ở thế "Kim ngưu" *
Tại sao ông Trọng dùng tiền thuế của nhân dân để làm lễ “Quốc tang” cho một người từng là chủ mưu và môi giới cột VN làm thân trâu kéo cày cho Trung quốc?

Âu Dương Thệ

(Danlambao) - Sau khi Lê Đức Anh mất Tập Cận Bình, Tổng-Chủ Trung quốc (TQ), gởi điện chia buồn nói là, TQ đã “mất đi một người bạn cũ” (đài Bắc kinh 25.4.19). Cũng đúng vào dịp này Nguyên Xuân Phúc sang dự Hội nghị “Vành đai, con đường” và Tư lệnh Hải quân VN dự lễ kỷ niệm 70 năm thành lập Hải quân TQ. Trớ trêu là, dịp này họ Tập lại để cho quay Video cảnh các tầu Hải quân TQ tấn công đảo Gạc-ma ngày 14.3.1988 làm 64 chiến sĩ Hải quân VN bị giết hại (VOA 24.4.19). Chính khi đó Tướng Anh đang là Bộ trưởng Quốc phòng đầy quyền lực, được Tổng bí thư (TBT) Nguyễn Văn Linh và Thủ tướng (TT) Đỗ Mười khi ấy giao cho làm người môi giới tổ chức các buổi họp bí mật với Bắc kinh (BK) chuẩn bị cho Hội nghị Thành đô 9.1990 để Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và cựu Thủ tướng Phạm Văn Đồng sang xin cầu hòa chấp nhận điều kiện “khép lại quá khứ” xin làm kiếp “trâu vàng” cho BK! Nghĩa là từ đó không được phép tổ chức kỷ niệm binh sĩ và thường dân đã bị hy sinh trong Chiến tranh Biên giới với phương Bắc từ tháng 2.1979 và cấm nhân dân VN biểu tình chống chính sách xâm lấn, bành trướng của BK, đồng thời mở ra kỷ nguyên đưa VN lệ thuộc TQ cả chính trị lẫn kinh tế!

Nguyễn Phú Trọng nên vắt tay lên trán đối lại Câu đối sau đây của ông Hà Sĩ Phu trước khi đọc điếu văn cho Lê Đức Anh vào ngày 3.5.19, tại sao một người như vậy nhưng Ông vẫn lại tổ chức “Quốc tang”!!?:

“Thảm sát Gạc-ma”, cấm nổ súng: ô danh cho một kiếp!
“Thành Đô mãi quốc”, cuộc đầu hàng: đắc tội đến nghìn thu!

*

Trong quan hệ VN-TQ sau 1975 có lẽ Hội nghị Thành đô ở Tứ xuyên (TQ) vào đầu tháng 9.1990 có tầm quan trọng đặc biệt, nó ảnh hưởng trực tiếp sâu xa và lâu dài tới ngoại giao và an ninh quốc phòng của VN nói chung và cả thái độ của chế độ toàn trị đối với nhân dân nói riêng, đặc biệt đối với các giới trong xã hội và cả một phần quan trọng trong đảng muốn có một VN độc lập. Vì từ sau Hội nghị này, chế độ toàn trị phải hủy bỏ các lễ kỷ niệm hàng năm về cuộc chiến tranh biên giới đầu 1979 để thực hiện yêu cầu “khép lại quá khứ" của cựu thù; không những thế còn cấm đoán và đàn áp nhân dân tham gia các cuộc thăm viếng các nghĩa trang chôn cất các bộ đội đã hy sinh cho cuộc chiến này! Đặc biệt nghiêm trọng là nhóm cầm đầu dùng mọi cách cấm đoán, đàn áp các cuộc biểu tình của thanh niên và trí thức và bắt giam nhiều người trong các cuộc biểu tình tố cáo các hành động xâm lấn của TQ trên biển Đông.

Hội nghị Thành đô đánh dấu sự thay đổi sâu sắc và toàn bộ của chế độ toàn trị không chỉ về chiến lược ngoại giao-quốc phòng và an ninh, mà còn quyết định cả mục tiêu dài hạn trong các lãnh vực này. Liệu những người có trách nhiệm trong quyết định này khi đó có đủ sáng suốt, bình tĩnh và tầm nhìn về những hậu quả về những việc làm của họ đối với VN, hay chỉ giải quyết theo tình thế để nhằm cứu đảng như các giai đoạn 1944 – 45, khi tìm cách mua chuộc -bằng các kí lô vàng quyên được từ nhân dân qua “Tuần lễ vàng”- các tướng của đoàn quân Tưởng Giới Thạch xuống miền Bắc tiếp quản và giải giới quân đội Nhật cuối Thế chiến Thứ 2(1). Hay cũng như kế hoãn binh tạm hòa với Pháp để cứu chính quyền CS mới thoát nôi vài tháng qua thủ đoạn HCM đội lốt chính quyền Việt Minh sang Pháp đàm phán nhưng giao cho Võ Nguyên Giáp (BT Nội vụ) và Huỳnh Thúc Kháng thẳng tay đàn áp các đảng đối lập không CS ở trong nước. Tất cả những thủ thuật chính trị quỉ quyệt và tàn bạo này đã được HCM lập lại với câu “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, phải cứu đảng bằng mọi giá!

Đã gần 30 năm trôi qua nhưng Bộ chính trị vẫn giữ bí mật và không dám công bố các tài liệu trực tiếp liên hệ tới Hội nghị Thành đô cũng như tiến trình đi tới quyết định để TBT Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội động Bộ trưởng Đỗ Mười và Cố vấn Ban chấp hành trung ương (BCHTU) Phạm Văn Đồng thân hành bí mật sang gặp TBT Giang Trạch Dân và TT Lý Bằng tại “Kim ngưu tân quán” (Nhà khách chính phủ) ở Thành đô (Tứ xuyên) ngày 3 và 4. 9.1990.(2) Đây vẫn là thái độ cực kỳ sai lầm coi việc nước, việc chung liên quan tới tương lai cả một dân tộc là chuyện riêng của một nhóm vài người. Nhưng đây cũng chứng tỏ sự lo ngại của chế độ toàn trị trước phản ứng của dư luận về quyết định đi họp Hội nghị Thành đô. Một số những tài liệu bên lề do một số cán bộ cao cấp, như Hồi ức của cựu Thứ trưởng Ngoại giao Trần Quang Cơ, hay của nhân vật chính trong cuộc nhưng để một thân tín viết lại như sách kể về Tướng Lê Đức Anh của Đại tá Khuất Biên Hòa…Qua đó Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Lê Đức Anh được coi là những người chủ động trong kế hoạch Thành đô. Các cố vấn BCHTU Trường Chinh, Phạm Văn Đồng và Lê Đức Thọ vì lý do sức khỏe chỉ đóng vai cố vấn nhiều hơn. Riêng Trường Chinh chỉ tham dự một số cuộc họp của BCT thảo luận về chính sách mới với BK, nhưng ông đã mất cuối tháng 9.1988.

Chỉ sau Đại hội 6 vài tháng, đầu tháng 3.1987 BCT đã họp để bàn về chính sách đối với TQ. Điều nên để ý là, cuộc họp quan trọng này đã không diễn ra ở trụ sở Trung ương đảng (TUĐ) như thường lệ, nhưng lại tại “Nhà Con rồng-Bộ Quốc phòng”. Đáng chú ý nữa, đây không phải là cuộc họp BCT bình thường mà lại là “Bộ Chính trị hẹp”, tức là chỉ có mặt những nhân vật chính có tiếng nói quyết định. Theo lời thuật lại của tướng Lê Đức Anh qua ngòi bút của Khuất Biên Hòa, trong cuộc họp này chỉ có Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Nguyễn Cơ Thạch và Lê Đức Anh cùng các Cố vấn BCHTU Trường Chinh, Phạm Văn Đồng. Mới từ tháng 12. 86 Lê Đức Anh thay Lê Trọng Tấn làm Tổng Tham mưu trưởng (mất đột ngột, trước ĐH 6 được coi là người sẽ giữ chức bộ trưởng Quốc phòng) và từ giữa tháng 2.87 nắm chức bộ trưởng Quốc phòng. Lê Đức Anh không chỉ tường thuật cho BCT tình hình quận sự ở biên giới Việt-Trung ông vừa quan sát trở về, mà còn đưa ý kiến về chính sách đối với BK và Wahington. Trong đó cho thấy Lê Đức Anh tin và còn bào chữa cho BK, nhưng vẫn kết án Washington: “Tôi thấy rằng họ không có ý đồ xâm lược, mà họ gây xung đột biên giới với ta nhằm một mục đích khác, ngoài ý đồ xâm lược. Còn Mỹ, sau thất bại chiến tranh VN, Mỹ cấu kết với phản động quốc tế, dùng Pôn Pốt ở Cam-pu-chia đánh ta để trả thù, làm cho ta suy yếu và ngăn chặn sự ảnh hưởng của VN với khu vực.”(3)

Theo Trần Quang Cơ thì trong cuộc họp hai giả thuyết chính về TQ đã được nêu ra thảo luận là, giữa XHCN và bá quyền thì BK coi bên nào nặng hơn; Nguyễn Văn Linh tin rằng BK vẫn đặt nặng yếu tố XHCN hơn.(4) Điều cần lưu ý là, sau cuộc “họp BCT hẹp” này Lê Đức Anh đã được giao công tác chính trong việc soạn thảo chính sách đối với BK. Đúng ra lãnh vực ngoại giao thì thuộc thẩm quyền của của bộ Ngoại giao, đứng đầu khi ấy là Nguyễn Cơ Thạch. Như vậy đã cho thấy ông Thạch bị mất ảnh hưởng. Lí do dẫn tới tình hình này đến từ hai phía, BK không tin tưởng là Nguyễn Cơ Thạch muốn có một đường lối thân thiện với họ, trong khi đó cả Nguyễn Văn Linh lẫn Đỗ Mười đang muốn chuẩn bị một thế ngoại giao mới để mở đường thoát khi cần thiết. Đây là kết quả các chuyến sang Mạc tư khoa để cầu viện thất bại của hai người trong vài năm qua. Họ còn chứng kiến tận mắt những thay đổi chính trị ngày càng sâu rộng ở Liên xô từ khi Gorbatschow làm TBT từ đầu 1985.

Các biến động chính trị ở Liên xô và Đông Âu, các nước CS từng là chỗ dựa tin cậy cho CSVN suốt nhiều thập kỷ, đã gây nên sự hoảng sợ rất trầm trọng cho Hà nội (HN), như người gặp trận động đất kinh hoàng. Vì thế khi ấy nhóm cầm đầu CSVN, nhất là những nhân vật bảo thủ giáo điều, đã có những phản ứng co cụm như một hành động phản xạ khi gặp tình thế nguy nan. Trong hoàn cảnh đó họ lại vội vã mở cái túi bọc ra đọc câu thần chú “dĩ bất biến, ứng vạn biến”! Làm sao cứu đảng, cứu chế độ, cứu chính mình đây? Tình hình thế giới cuối thập niên 80 có những đặc điểm rất rõ ràng: Đông Âu CS đang tan rã. Liên xô đang rơi vào tổng khủng hoảng do cuộc cải tổ “Perestroika” và “Glasnost” của Gorbatschow. TQ đang bị rối loạn sau biến cố Thiên an môn. Trong khi ấy Mỹ và đồng minh ở Tây Âu đang vượt lên cả thế và lực. Lần đầu tiên từ sau Thế chiến Thứ hai Hoa kì (HK) trở thành siêu cường duy nhất cả về chính trị, kinh tế, ngoại giao và quân sự.

Dưới con mắt của Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và những nhân vật giáo điều bảo thủ trong BCT thì cựu thù Mỹ trước sau vẫn là đối thủ nguy hiểm chỉ tìm cách xóa bỏ chế độ toàn trị ở VN để rửa nhục. Trong khi HK và Liên xô đang xích lại với nhau do những cải tổ cởi mở của Gorbatschow, thì HK và EU lại kết án chà đạp nhân quyền và tẩy chay BK sau biến cố Thiên an môn. Trong hoàn cảnh đó từ Nguyễn Văn Linh tới Đỗ Mười, Lê Đức Anh thấy là chỉ còn BK có thể dựa vào. Vì ĐCS TQ vẫn nắm chủ động. Giữa các yếu tố BK bá quyền hay BK CS thì những người có quyền lực trong BCT lúc đó tin ở BK CS nhiều hơn. Tháng 9.89 Đặng Tiểu Bình đã bắn tiếng cho HN là, BK muốn cùng với HN và Bình nhưỡng lập thế tam giác sắt để bảo vệ thành trì XHCN ở Á châu.(5) Liên xô không còn là chỗ dựa đáng tin cậy nữa, trong khi đó Chủ nghĩa Tư bản do Mỹ cầm đầu đang đe dọa sự sống còn của CSVN. “Vạn biến” của họ trong lúc này là phải cầu hòa -sẵn sàng làm thân “Câu Tiễn“- với BK để giữ cái “bất biến” là giữ độc quyền cho ĐCS! Điều này trùng hợp với lo lắng và ước muốn của Nguyễn Văn Linh và nhóm giáo điều trong BCT CSVN. Thái độ này Nguyễn Văn Linh đã nói rõ trong diễn văn bế mạc HNTU 7 (8. 89), như đã trình bày ở trên. Dưới sự môi giới của Lê Đức Anh, Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười đã gặp bí mật Đại sứ TQ ở VN Trương Đức Duy nhiều lần và tiếp đến với Từ Đôn Tín, trợ lý Bộ trưởng ngoại giao TQ, sang HN vào giữa tháng 6.1989 để chuẩn bị chuyến thăm cấp cao ở TQ. Mặc dầu trong dịp này đã xẩy ra va chạm giữa Nguyễn Cơ Thạch với Từ Đôn Tín. Từ đó mọi cuộc tiếp xúc với HN, BK không còn xuyên qua bộ Ngoại giao VN mà đi trực tiếp với BCT.

Ở đây cần phải mở một dấu ngoặc để hiểu thêm về sự kiện tại sao nhóm cầm đầu CSVN đã không ra lệnh nổ súng ở đảo Gạc-ma thuộc quần đảo Trường sa ngày 14.3.1988 khiến 64 binh sĩ Hải quân VN đang trấn đóng bị tầu chiến TQ giết hại. Sự kiện quan trọng là các đơn vị Hải quân VN đóng trên đảo này khi đó đã được lệnh không được bắn trả lại các tầu chiến của Hải quân TQ. Tới nay Lê Đức Anh -khi ấy là bộ trưởng Quốc phòng- vẫn gián tiếp phủ nhận việc ra lệnh. Nhưng nếu so sánh ý định của Nguyễn Văn Linh-Đỗ Mười khi ấy muốn bằng mọi giá cải thiện nhanh bang giao với BK để cứu đảng với thế rất yếu của HN trước BK thì việc HN tránh những va chạm võ trang trên đảo với BK là một khả năng rất lớn.

Theo Đại tá Khuất Biên Hòa, người sau này được Lê Đức Anh giao cho nhiệm vụ viết sách về các hoạt động của ông, đã thuật lại là, liền sau ĐH 6 “ngay đầu năm 1987, có cuộc họp “Bộ Chính trị hẹp” tại Nhà Con rồng-Bộ Quốc phòng” khi ấy hai nhân vật cầm đầu Đảng và Chính phủ tin cậy tân bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh, giao cho nhiệm vụ soạn thảo và thực hiện kế hoạch này. Trong hai lần thị sát biên giới phía Bắc tướng Anh đã ra lệnh cho các đơn vị chính quy phòng thủ biên giới “không bắn, không chửi lại nữa”. Và “họ bắn sang ta bằng đạn pháo, thì ta “bắn lại” bằng tình hữu nghị!”. Sau đó tướng Anh ra lệnh “cho rút từng phần các đơn vị chủ lực về phía sau, về tuyến hai để đưa dân quân, bộ đội địa phương và bộ đội biên phòng lên tuyến một”. Đây là sách lược “Tháo ngòi nổ xung đột biên giới Việt – Trung” của Lê Đức Anh.(6)

Ý định này tướng Anh cũng đã trình bày thẳng với Đại sứ TQ tại VN Trương Đức Duy trong cuộc gặp bí mật cùng dùng cơm tại bộ Quốc phòng. Khuất Biên Hòa thuật lại lời của Lê Đức Anh nhắn với lãnh đạo CSTQ qua Trương Đức Duy: “Đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược, công lao của VN là chính nhưng là công chung của hai Đảng, hai nước. Vậy mà bây giờ tại sao lại xung đột với nhau. Việc này không phải do dân và bộ đội gây ra, mà do lãnh đạo của hai nước gây ra. Đề nghị đồng chí Đại sứ báo cáo với lãnh đạo của TQ. Tôi mới nhận chức nhưng cũng sẽ báo cáo với lãnh đạo của VN; để lãnh đạo hai nước gặp nhau giải quyết việc này”.(7)

Nếu so sánh với Công hàm của TT Phạm Văn Đồng gởi TT TQ Chu Ân Lai 18.9.1958 nhìn nhận quần đảo Hoàng sa là lãnh thổ TQ thì quyết định của Lê Đức Anh ra lệnh không cho các đơn vị Hải quân VN đóng trên Gạc-ma không được nổ súng ngày 14.3.1988 để Hải quân TQ chiếm đảo và giết hại 64 binh sĩ VN đang đồn trú là việc càng hiểu được trong cách tính toán “đảng trước nước sau” của họ không có gì xa lạ. Vì dám “Tháo ngòi nổ xung đột biên giới Việt – Trung” suốt cả trên ngàn cây số thì “tháo ngòi nổ” ở Gạc-ma không phải là chuyện lớn dưới con mắt của Lê Đức Anh, Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười khi ấy!

Một dẫn chứng quan trọng khác càng chứng tỏ rõ ràng thêm về ý đồ của Lê Đức Anh tin tưởng và tùng phục BK. Nhân dịp kỷ niệm 33 năm thành lập Quân chủng Hải quân VN (7.5.1955-7.5.1988) Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh đã tới thăm đảo Trường Sa lớn. “Chuyến thăm đảo diễn ra ngay sau khi TQ đánh chiếm Gạc-ma rạng sáng 14.3.88 làm 64 chiến sĩ trên tàu HQ 604 hy sinh”. Trong dịp này Lê Đức Anh đã có bài diễn văn, trong đó không một lần nói tới hay kết án việc tầu chiến TQ đã giết hại 64 binh sĩ Hải quân VN hai tháng trước vẫn đang gây chấn động và căm thù trong mọi giới, nhưng lại ca ngợi sự giúp đỡ của TQ trong chiến tranh và tình hữu nghị giữa hai nước và còn tin tưởng rằng, CSTQ ngày nay khác với TQ phong kiến trước đây:

“Với mối quan hệ giữa ta và TQ: Trong những năm 50 và những năm 60 quan hệ giữa VN và TQ đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta trong những năm từ 1965 đến 1970 là rất to lớn và hiệu quả. Nhân dân VN vô cùng biết ơn sự giúp đỡ to lớn đó của nhân dân TQ đã dành cho mình.

Mặt khác, thắng lợi của chúng ta cũng đã góp phần đáng kể phá vỡ sự bao vây của đế quốc Mỹ đối với nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Năm 1976, Đoàn đại biểu cao cấp của Đảng và Nhà nước ta đi thăm và cảm ơn các nước và bầu bạn trên thế giới đã ủng hộ và giúp đỡ VN đánh thắng đế quốc Mỹ. Tới TQ, các đồng chí lãnh đạo của Đảng ta đã cảm ơn sự giúp đỡ to lớn của TQ đối với sự nghiệp chống Mỹ của nhân dân VN, thì người lãnh đạo cao nhất của TQ lúc bấy giờ đã nói: TQ cảm ơn VN, chính nhờ VN chống Mỹ mà Tổng thống Mỹ đã phải thân hành đến TQ để cầu thân với TQ”.

Nói tóm lại, cả hai nước đã giúp đỡ lẫn nhau trên nhiều lĩnh vực, với tinh thần anh em sâu đậm. Chúng ta đinh ninh rằng tình sâu nghĩa nặng đó sẽ kéo dài mãi mãi và nhất định nó sẽ xóa nhòa, đi đến xóa hẳn trong ký ức của dân tộc VN những tội lỗi mà các triều đại phong kiến TQ đã gây đau khổ cho dân tộc VN suốt hàng ngàn năm đô hộ."(8)

Trong khi đó thái độ giã từ Mạc tư khoa và quay về với BK đã không còn úp mở mà trở thành công khai. Đầu tháng 6.1990 báo chí đưa tin Nguyễn Văn Linh thăm Sứ quán Liên xô và TQ cùng một ngày(9), cử chỉ này là lần đầu tiên sau hơn cả chục năm. Chỉ hơn hai tuần trước khi gặp bí mật ở Thành đô, Đỗ Mười đã công khai hoan nghênh tuyên bố của Thủ tướng TQ Lý Bằng trong chuyến thăm Singapore là “hi vọng sẽ bình thường hóa quan hệ với VN”.(10) Để vận động cho giải pháp hòa với BK, phía HN đã tuyên bố rút quân khỏi Campuchia, đồng thời nhượng bộ yêu sách của BK về “giải pháp đỏ” để Sihanouk và phe Pol pot tham gia chính quyền liên hiệp ở Campuchia.

Cuối tháng 8.90 TBT Giang Trạch Dân và TT Lý Bằng đã mời Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười sang Thành đô họp bí mật để thảo luận về bình thường hóa quan hệ giữa hai nước và giải quyết cuộc chiến Campuchia. BK còn ngỏ là mong cả Cố vấn Phạm Văn Đồng cùng sang vì sẽ có mặt Đặng Tiểu Bình. Họ còn nói, chọn Thành đô để giữ bí mật, vì vào dịp đó TQ đang chuẩn bị Đại hội Thể thao Á châu lần thứ 11 (ASIAD) ở BK từ 22.9-7.10. Hội nghị đã họp tại nhà khách “Kim Ngưu“ trong hai ngày 3 – 4. 9.1990. Ngày 2.9 phái đoàn gồm Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng không có bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch sang Thành đô. Sau hai ngày họp hai bên đã kí “Biên bản tóm tắt” gồm 8 điểm. Theo Trần Quang Cơ thì trong đó 7 điểm liên quan tới vấn đề Campuchia, chỉ có một điểm nói về tái lập quan hệ Việt-Trung.(11)

Kết quả Hội nghị Thành đô đã tạo thêm mâu thuẫn ngay trong BCT và gây bất bình gay gắt giữa phe Hun sen với HN. Trong cuộc họp đông đủ của BCT từ 15-17.5.91 ít tuần trước ĐH 7 để tổng kết công tác ngoại giao, Phạm Văn Đồng và Võ Văn Kiệt chỉ trích Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười đã vội vàng, hớ hênh và mắc bẫy BK trong việc chuẩn bị cũng như trong khi đàm phán. Còn Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Lê Đức Anh thì lại bào chữa cho thái độ của họ. Trong khi hai bên nói là phải giữ “bí mật“ về Hội nghị Thành đô, thì Nguyễn Cơ Thạch đã cho biết, BK đã cho phe Hun sen xem băng ghi âm về cuộc hội đàm Trung-Việt cốt để gây chia rẽ. Không những thế BK còn bắn tin để các nước Tây phương biết về cuộc gặp này cũng với mục tiêu tương tự.(12) Nhưng giữa khi ấy HN lại cố tình làm rùm beng chuyến đi của Võ Nguyên Giáp là “khách quí đặc biệt của chính phủ TQ” (19.9) sang dự Đại hội Thể thao Á châu lần thứ 11 và đây là chuyến thăm BK đầu tiên sau hơn 10 năm (26.9).(13) Nhưng vào đúng dịp Võ Nguyên Giáp đang có mặt ở BK thì trong cuộc họp báo ngày 20.9 khi các ký giả nước ngoài hỏi về chuyến đi bí mật sang TQ của TBT Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch HĐBT Đỗ Mười và Cố vấn Phạm Văn Đồng có thực hay không và nội dung các vấn đề thảo luận giữa hai bên. Phát ngôn viên bộ Ngoại giao CSVN đã gián tiếp xác nhận về cuộc họp bí mật này: “Theo yêu cầu của phía TQ, có những cuộc gặp giữa VN và TQ cần phải giữ bí mật”.(14) Tờ Bangkok Post ngày 19.9.90 đã “công khai hoá bản Thoả thuận Thành Đô”, cho biết VN đã đồng ý với TQ về giải pháp giải quyết cuộc chiến Campuchia theo yêu sách của BK.(15)

Vài năm sau cựu Thứ trưởng bộ Ngoại giao Trần Quang Cơ, người đã tham gia trực tiếp trong nhiều cuộc đàm phán trong tiến trình chuẩn bị cho Hội nghị Thành đô từ 1987, đã nhận định về nguyên nhân và hậu quả của Hội nghị này đối với VN:

“Sở dĩ ta dễ dàng bị mắc lừa ở Thành Đô là vì chính ta đã tự lừa ta. Ta đã tự tạo ra ảo tưởng là TQ sẽ giương cao ngọn cờ CNXH, thay thế cho Liên Xô làm chỗ dựa vững chắc cho cách mạng VN và CNXH thế giới, chống lại hiểm hoạ “diễn biễn hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc do Mỹ đứng đầu.”(16)

Nhưng theo tính toán của nhóm cầm đầu CSVN khi ấy, đặc biệt là Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Lê Đức Anh, việc đạt tới thỏa thuận ở Thành Đô 1990 là một thành công lớn. Vì nó giúp cho họ giải quyết được nhiều khó khăn nan giải trước mắt: 1. Trong thời điểm Liên xô sụp đổ mà được BK che chở, một nước CS lớn với hơn một tỉ người, là một đảm bảo an ninh và thế ngoại giao tốt. 2. Giải quyết được cuộc chiến tranh sa lầy ở Campuchia suốt 10 năm hao người tốn của. Nó còn giúp HN không còn phải đương đầu với cuộc chiến ở biên giới phía Bắc. 3. Nhờ đó có thể giảm quân số, giải quyết nạn đói trầm trọng. 4. Hòa với BK và chấm dứt chiến tranh Campuchia còn giúp HN giải tỏa được bao vây ngoại giao và kinh tế của Mỹ và Tây phương, tạo thế thuận lợi hơn trong việc đàm phán về kinh tế-thương mại với Mỹ, EU và các nước trong khu vực Đông á và Đông nam á để thiết lập thị trường mới và thu hút vốn đầu tư để sớm phục hồi nền kinh tế VN đang trong thời kỳ suy vong.

Âu Dương Thệ

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Ai kế vị Nguyễn Phú Trọng?
Ngô Nhân Dụng

May 3, 2019

Image
Ông Đinh Thế Huynh, thường trực Ban Bí Thư, đột ngột phát bệnh và rời khỏi chính trường.
Nay, ông Nguyễn Phú Trọng , tổng bí thư kiêm chủ tịch nước, cũng đột ngột phát bệnh. Mới đây, hôm 3 Tháng Năm, ông Trọng vắng mặt
trong tang lễ ông Lê Đức Anh, cựu chủ tịch nước, dù ông Trọng là “trưởng ban lễ tang.”
Nếu có lúc tỉnh táo, ông Nguyễn Phú Trọng nên chính thức đề cử một, hoặc hai người kế vị trong hai chức vụ của ông. Thứ nhất, để chứng tỏ ông kính trọng gần 100 triệu người dân Việt Nam. Thứ nhì, ông có thể nhờ thế mà sống lâu hơn.

Xin bàn về vấn đề thứ hai trước, vì nói ra thấy hơi khó hiểu.


Nên cử người sẽ lên thay nếu chẳng may mình có mệnh hệ nào, vì thời xưa các ông vua theo lối đó thường sống lâu hơn! Nhận xét này dựa trên số thống kê các hoàng đế bên Tàu, vì chưa ai nghiên cứu chuyện này trong lịch sử Việt Nam.

Từ đời Tần Thủy Hoàng đến đời vua Phổ Nghi nhà Thanh (221 Trước Công Nguyên đến 1911) nước Tàu có 282 ông hoàng đế. Trong số đó có 152 người, hơn một nửa được chết tự nhiên, nghĩa là không bị giết hoặc bị truất phế. Những ông vua Tàu cai trị lâu nhất là những người đã tấn phong một thái tử kế vị mình. Có 130 ông, mà hơn một nửa đã phong thái tử trong vòng năm năm sau khi lên ngôi.

Một nhà nghiên cứu sử đã tính xác suất trị vì lâu của các ông vua Tàu này là 64%. Chỉ định một người kế vị trung thành và có khả năng thì sống lâu hơn, Yuhua Wang dùng phương pháp thống kê đi tới kết luận này.

Tại sao những ông vua chọn thái tử sớm lại có hy vọng không bị giết hoặc truất phế nhiều hơn những người không làm vậy?

Một lý do, Wang giải thích, là phần lớn những vụ giết vua hay lật đổ ông vua là do âm mưu của chính đám cận thần và quan lớn trong triều. Có 76 ông vua lâm vào cảnh này, trong đó có 34 người bị đám quan trong triều giết còn 41 người bi truất phế. Chỉ có 32 trường hợp vua chết hoặc mất chức vì dân nổi loạn; và bốn người chết vì ngoại xâm.

Chế độ Cộng Sản không khác gì các vua chúa phong kiến bên Tàu thời xưa. Mao Trạch Đông bị Lâm Bưu mưu sát, may mắn thoát nạn.

Stalin chết tự nhiên hay do đám cận thần gây ra, đến nay vẫn là một bí ẩn.

Stalin đã bị tai biến mạch máu não (stroke) mấy lần nhưng đều qua khỏi. Ông ta luôn nghi ngờ các bác sĩ âm mưu giết mình, vì họ gốc Do Thái. Ngày 28 Tháng Hai, 1953, Stalin ăn nhậu với đám cận thần, hai người đưa ông về tận nhà nghỉ là Nikita Khrushchev và Lavrentiy Beria.

Sáng hôm sau, Stalin không thức dậy như mọi ngày, nhưng đám mật vụ bảo vệ ông ta không ai dám vào đánh thức. Bước vô phòng ông Chúa Đỏ có thể bị mất mạng hoặc đày đi Siberia như chơi.

Sau 6 giờ chiều, họ mới báo cáo Bộ An Ninh, nhưng viên bộ trưởng không dám quyết định. Sau cùng, gọi cho Beria, trùm mật vụ NKVD vẫn được Stalin sủng ái. Beria gọi cho đám lãnh tụ khác, nhưng không ai dám quyết định phải làm gì.

Xưa nay mấy người đó đã tập thói quen nghe lệnh chứ không tự quyết định. Nếu Stalin vẫn khỏe mạnh, ông ta sẽ hỏi “Đứa nào ra lệnh mở cửa phòng tao?”

Không ai muốn phải đưa đầu ra nhận tội “khi quân.”

Họ cũng không dám gọi bác sĩ vì không biết bác sĩ nào đang bị Stalin nghi ngờ! Cứ như thế, gần buổi trưa ngày hôm sau họ mới đưa thầy thuốc tới, mở đại phòng vào coi. Stalin đang nằm dưới sàn nhà, sùi bọt mép, hấp hối. Khrushchev và Beria đều có mặt. Họ bảo các bác sĩ chạy tới nhà tù, tham khảo ý kiến của mấy bác sĩ giỏi nhất đã bị Stalin tống giam.

Nếu Stalin chỉ bị stroke nhẹ như mọi khi thì nếu được săn sóc ngay chắc sẽ qua khỏi. Người ta nghi ngờ Khrushchev hoặc Beria, hoặc cả hai, cố tình trì hoãn việc cứu chữa vì họ đều muốn Stalin chết. Chính những ông này cũng không biết ngày nào ông Chúa Đỏ tính chuyện loại bỏ hoặc giết mình!

Các hoàng đế Trung Hoa cũng thường lo đám cận thần ám hại, như các ông tổng bí thư hay chủ tịch đảng Cộng Sản ngày nay.

Đám quan lại và thái giám đều biết rõ hệ thống quản trị việc nước hơn người thường bên ngoài, hơn tất cả những lãnh tụ dân nổi loạn. Đám này lại có thể vận dụng nhiều tiền bạc, tay sai và biết rõ thời cơ hơn mọi người. Ngay cả khi dân chúng nổi loạn hoặc quân ngoại quốc xâm lăng, đám lãnh tụ trong cung đình cũng có thể nhân cơ hội mà lật đổ hoàng đế, chính mình chiếm lấy quyền hay tôn phò chủ mới.

Cho nên các hoàng đế Trung Hoa sớm chỉ định người kế vị có thể sống lâu hơn, vì đám cận thần có thể không còn nghĩ đến chuyện chính mình sẽ đoạt ngôi nữa. Đặng Tiểu Bình chắc đã rút bài học trong sử Tàu, cho nên đã chỉ định trước đến hai đời kế vị, Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào.

Cho nên ông Nguyễn Phú Trọng, khi nào ông tỉnh táo lại, nên chính thức cửa người sẽ lên thay mình làm tổng bí thư và chủ tịch nước.

Trong đám “cận thần” của ông Trọng bây giờ, không thiếu gì người nuôi mộng nắm một trong hai chức đó. Trần Quốc Vượng, Nguyễn Xuân Phúc, Vương Đình Huệ, Nguyễn Thị Kim Ngân, Phạm Minh Chính, cho tới Ngô Xuân Lịch, Tô Lâm, ai mà chẳng hy vọng? Đó là chỉ kể mấy tên nổi bật thôi, còn những Malenkov hay Hoa Quốc Phong nào khác sẽ từ sau rèm bước ra sân khấu?

Nhưng lý do quan trọng hơn khiến ông Trọng nên lo ủy nhiệm người sẽ lên thay mình, là ông phải tỏ ra kính trọng người dân Việt Nam một chút. Một chút thôi. Giả bộ thôi cũng được. Nhưng không nên ngang nhiên để lộ thói khinh thường hàng trăm triệu người dân như thế này.

Vì đảng Cộng Sản hiện nắm toàn quyền điều khiển nước Việt Nam. Mà ông Nguyễn Phú Trọng đang nắm quyền hành lớn nhất trong đảng. Người dân Việt có quyền biết ông chúa trùm của đảng còn khả năng sử dụng quyền hành của ông hay không! Nếu ông lâm vào tình trạng hôn mê thì ai là người thay thế ông, dù chỉ cần thay trong một ngày hay một giờ?

Làm tổng bí thư, làm chủ tịch nước, không phải chỉ làm những việc như là gửi điện văn chúc mừng hay viết thư chia buồn. Nếu chỉ có thế thì đứa nào chẳng làm được?

Tại các quốc gia tự do dân chủ, người dân biết nếu người cầm đầu nước phải đánh thuốc mê để vào phòng mổ thì ai là người tạm nắm quyền trong thời gian đó dù chỉ một hai giờ. Người ta kính trọng dân. Trong chế độ độc tài họ bất cần. Tệ nhất là chế độ Cộng Sản, cả guồng máy cầm quyền trùm trong bóng tối mênh mông.

Nếu ông Nguyễn Phú Trọng tỉnh dậy rồi mà vẫn không tìm ra ai có thể thay thế mình, thì thôi, hết chỗ nói! (Ngô Nhân Dụng)

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image

Những dấu hiệu về sự sụp đổ toàn diện của CSVN
Thành Đỗ
(Danlambao) - Vào cuối thế kỷ thứ IV sau công nguyên, Đế quốc Tây La Mã sụp đổ sau gần 500 năm thống trị như một siêu cường hùng mạnh nhất thế giới. Theo các sử gia, kết quả này là do hàng trăm yếu tố khác nhau gây nên, từ thua trận, thuế má bất ổn, cho tới thiên tai và thậm chí là biến đổi khí hậu, thêm nạn kiêu binh, hống hách, tàn ác và tham nhũng tràn lan là những yếu tố chính đưa đến sụp đổ toàn diện của siêu cường thời cổ đại này.

Nghiên cứu và so sánh lịch sử các đế chế trong quá khứ, mỗi triều đại phồn thịnh được một thời gian và tàn lụi dần theo đúng một quá trình tuần tự của bốn giai đoạn: Khởi đầu, phát huy, yếu dần và sụp đổ... Tại Việt Nam, các dấu hiệu được nghiên cứu và ghi nhận sau đây cũng cho ta thấy được sự thống trị của đảng CSVN đang đi vào giai đoạn chót, như một cỗ xe lao xuống dốc không phanh và vực thẳm của lịch sử thì đang ở cuối con đường trước mắt.

Trong khuôn khổ bài viết này, tôi chỉ xin chia sẻ những hiện trạng xã hội Việt Nam mà ai ai cũng có khả năng nhìn thấy, những hiện tượng báo hiệu ngày tàn của chế độ đang đến càng lúc càng gần mà ngay chính Đảng cầm quyền họ cũng thấy nhưng không thể làm thay đổi bánh xe lịch sử được.

1. Hố sâu giữa người giàu và nghèo trong xã hội

Trong khi bị các thế lực từ bên ngoài tấn công, bên trong thì đảng CSVN cũng bị mục ruỗng do xảy ra nhiều cuộc khủng hoảng tài chính, kinh tế khá nghiêm trọng, sự bòn rút ngân sách không thương xót, do tham nhũng để làm giàu một cách có hệ thống, cấu kết nhau, phá nát nhiều chính sách nghiêm chỉnh xây dựng đất nước.

Cùng lúc, với các bội chi trong hơn 30 năm vung tay quá trán dẫn đến tình trạng ngân khố bị thâm hụt nặng, nơ công ngất ngưởng, dẩn đến sưu cao thuế nặng và tình trạng lạm phát đã làm gia tăng thêm khoảng cách giữa người giàu và người nghèo. Với hy vọng trốn thuế, tránh tài sản bất minh bị truy nã, nhiều người thuộc tầng lớp giàu có đã ôm tiền bỏ trốn ra nước ngoài, theo IMF (Quỹ tiền tệ quốc tế), năm 2017, đã thất thoát khoảng 19 tỷ đô la gởi từ VN ra ngoại quốc.

2. Quân đội làm kinh tế

Những cuộc chạy đua vũ khí chiến tranh liên tiếp xảy đến trong vòng 20 năm gần đây trong cả vùng Châu á Thái Bình Dương, đối với chế độ là liều thuốc cực độc, Mua vũ khí để mong có lại quả 30 đến 40%, tiền tươi, thóc thật.

Cùng thời gian này, đảng cộng sản còn bị lung lay tận gốc vì quân đội cũng thiếu nhân sự có thực tài, bộ máy đảng thao túng quân đội vì toàn là “con quan thành quan con” chỉ để làm kinh tế và đánh golf thay vì đánh giặc.

Thời bình mà quân đội VN bị lạm phát tướng, quân đội có đến ngoài 415 sĩ quan cấp tướng trong năm 2018, năm 2014 còn có đến 489 tướng.

Để so sánh, quân đội Mỹ có 652 tướng, với một quân số 3,5 lần đống hơn VN.

Quân đội Pháp, một đế quốc sừng sỏ khác, với các lãnh thổ khắp hoàn cầu, lực lượng nguyên tử và không gian, quân đội hùng mạnh nhưng năm 2019, họ cũng chỉ có đến 376 tướng Ngân sách nào mà chịu nổi cho các tướng đánh golf và làm áp phe này.

Quân đội / Công an làm kinh tế là một sai lầm to lớn của các nước độc tài cộng sản.

3. Tham nhũng và bất ổn chính trị

Quản lý một vùng lãnh thổ rộng lớn, kéo dài từ Bắc đến Nam đối với đảng, nhân sự khả năng kém là khó khăn, thì chính sách lãnh đạo không nhất quán và kém hiệu quả càng khiến cho vấn đề thêm trầm trọng, tạo ra các “lãnh chúa”, nghe lệnh trung ương rồi để đó và tạo bè cánh để chia phần về kinh tế là chính.

Cuộc nội chiến âm thầm trong đảng càng lúc càng khốc liệt trước đại hội đảng đã đẩy “đế chế cộng sản” vào tình trạng hỗn loạn sóng ngầm. Rồi sẽ có ngày mà cả đội hộ vệ có nhiệm vụ canh gác và bảo vệ "hoàng đế" cũng ra tay ám sát và tùy ý tấn phong các hoàng đế mới, thậm chí còn bán đấu giá vị trí này cho ai trả giá cao nhất như đã xảy ra đế chế La mã.

Sự mục nát về chính trị còn lan cả sang cánh quốc hội, cánh tay nối dài của đảng, nơi cũng không thể kiểm soát được gì nữa do nạn tham nhũng cũng như năng lực yếu kém của những đại biểu cơ quan này toàn là đảng viên và cũng là “quan con &quan cha”.

Khi tình hình chính trị xấu đi, niềm tự hào của công dân suy giảm, người công dân mất đi lòng tin vào giới lãnh đạo như hiện nay thì ngày tàn của chế độ đã điểm.

4. Người Hán xuất hiện và sự di cư của các tộc miền Bắc vào Nam

Các đợt di dân miền Bắc vào Nam ồ ạt, không kiểm soát, cộng thêm việc di dân Hán tộc vào miền Bắc và Trung Việt Nam, một phần xuất phát từ việc người Hán chủ tâm xâm chiếm châu Đông Nam Á và gây ra nhiều cuộc di cư ồ ạt vào cuối thế kỷ thứ 20, mặt khác, khi các chiến binh miền Bắc và cả Hán tộc càn quét tới, họ đã đánh đuổi nhiều triệu người Nam Việt ra ngoài biên giới.

Những đối xử thô bạo với người Nam Việt, mà theo các nhà sử học, nhiều viên chức Bắc việt thậm chí còn buộc những người Nam, thua trận, đói khát, tan hàng, họ, gia đình họ bị đày lên vùng rừng sâu nước độc để cướp lấy tài sản và buộc họ lao ra biển để chết, người còn ở lại thì hoặc bán thân, bán con đi làm nô lệ ở nước ngoài như phương cách để sinh tồn.

Do đối xử tàn ác với người Nam việt, triệt con đường sống của họ, chế độ cộng sản Bắc việt đã tạo ra kẻ thù nguy hiểm ngay trong chính biên giới của mình, chờ ngày tốt để ra tay.

Khi sự áp bức trở nên quá sức chịu đựng, người Nam rồi sẽ nổi dậy và họ cuối cùng cũng sẽ đánh tan quân đội xâm chiếm mà thôi. Lịch sử đã chứng minh quá nhiều lần.

5. Kinh tế lụn bại

Nền kinh tế mà đảng quản lý phụ thuộc vào sức lực nô lệ, gia công cho nước ngoài, khiến các thành phố phát triển thành “ổ chuột”, chung quanh các đô thị lớn và tội phạm theo đó phát triển mạnh tạo một xã hội bất ổn, hống hách cửa quyền và vượt khỏi tầm kiểm soát, ranh giới giữa quyền lực và tội phạm lu mờ.

Các sinh hoạt kinh tế truyền thống như cày cấy, đồng áng theo đó bị bỏ rơi vì nông dân không còn có thể sinh sống được, các nghề thủ công truyền thống tay chân không thể cạnh tranh với các mặt hàng từ bên kia biên giới phía Bắc tràn sang do tham nhũng tiếp tay trong đảng và sức mạnh quyền lực/quân đội thường mang lại những hỗ trợ cho giới có tiền, có quyền thay gì để bảo vệ pháp luật, bảo vệ người dân, người cô thế, hay để bảo vệ bờ cõi.

Người dân họ xem gọi côn an / côn đồ như nhau, bảo kê nhau để cướp. Khổ này nó chồng lên thêm khổ khác trên đầu người dân Việt.

6. Thiên Chúa giáo và những giá trị truyền thống tôn giáo bị đánh mất

Sự suy tàn của đảng CSVN đi đôi với sự nở rộ của đạo Thiên Chúa, và một số người cho rằng sự trỗi dậy của đức tin này cũng sẽ góp phần vào sự sụp đổ của chế độ cộng sản.

Họ không sống hòa bình với Thiên Chúa giáo mà tìm cách lũng đoạn và khống chế, đàn áp Thiên Chúa giáo như họ đã thành công với Phật giáo, tạo ra được những chức sắc Phật giáo như diễn viên hài rẻ tiền trước mắt công luận để người dân mất niềm tin vào các lãnh tụ tôn giáo.

Họ cũng tạo ra các lệnh, các nghị quyết để hợp pháp hóa Thiên Chúa giáo theo ý đảng và biến nó trở thành quốc doanh giáo. Người cộng sản họ thần thánh hóa các vua của họ. Thiên Chúa giáo, thì không coi vua như thần thánh, đồng thời họ đặt niềm tin vào và tôn thờ Chúa trời độc tôn thay vì nhà vua như người cộng sản mong muốn. Cùng với đó, Giáo hoàng Vatican và những người đứng đầu giáo hội cũng đóng vai trò lớn hơn trong các vấn đề chính trị trong hội nhập toàn cầu hóa, càng làm cho việc cai trị và quan hệ với Thiên Chúa giáo càng trở nên phức tạp hơn. Hơn nữa, tài sản giáo hội Thiên Chúa giáo tại Việt Nam quá nhiều qua nhiều giai đoạn lịch sử, làm thèm thuồng các quan chức bộ máy đảng, chỉ mong sao chiếm đoạt để chia lô bán nền như mới đây tại Thủ Thiêm với dòng Mến Thánh Giá, nuốt không trôi, phải ói ra lại nhưng ức lắm.

Tuy việc Thiên Chúa giáo tại Việt Nam có thể đã đóng một vai trò nhỏ trong việc làm xói mòn lòng tin vào đảng, nhưng đa phần các học giả ngày nay cho rằng, ảnh hưởng của nó, một tổ chức chặt chẽ làm lu mờ bộ máy đảng, tham ô, kiêu binh và tàn ác nhưng lại kém cỏi về hành chính, kinh tế và cả về quân sự trước ngoại bang phương Bắc.

7. Sự suy yếu về sức mạnh của quân đội

Mặc dù phần lớn lịch sử đều ghi nhận nhiều huyền thoại về quân đội cụ Hồ, đứng hàng thứ 6 trên thế giới, đánh tan hai đế quốc sừng sỏ nhất hành tinh, nhưng nay, họ trong giai đoạn suy tàn, hình ảnh của những đoàn quân hùng dũng bắt đầu có sự đổi khác, nay xúc cát đem bán cho Trung cộng xây cất hải đảo tại Hoàng-Trường Sa.

Hàng ngũ đoàn quân thiện chiến nay cũng đã tỉnh ngủ sau cú lừa “sinh Bắc tử Nam” để “giải phóng miền Nam” mà thật ra là đoàn quân đi giết, cướp tài sản đồng bào miền Nam chở về Bắc.

Dù các binh lính gốc Nam nay cũng có mặt trong quân ngũ, nhưng họ lại rất ít, không nắm thực quyền, không được tin cậy hoặc họ không hề trung thành với đế chế cộng sản, những viên chỉ huy đói khát quyền lực thường chỉ là người Bắc có lý luận. Trên thực tế, nhiều người trong Nam, họ không mặn mà gì với đảng

Nếu có đảo chánh, họ buông súng thay vì theo lệnh trên là phải bắn thẳng vào người dân.

Từ hơn 100 năm nay, sự tồn vong của các chế độ độc tài là tương đối ngắn, họ đều chịu chung số phận “đoản mệnh”, ngay cả độc tài cộng sản đông Âu, họ tồn tại không đủ lâu nhưng đã để lại một di sản bi đát cho nhân loại và không xây dựng hay để lại được một nền văn minh nào đáng kể và họ không được người dân thương tiếc.

Ngày nay, trên thế giới, cộng sản tại một vài nước cũng đang từng bước bị đào thải như một ý thức hệ lỗi thời còn sót lại của thế kỷ trước.

Gần đây thôi, Vị tổng thống thứ 45 của nước Mỹ, ông Donald Trump, ngày 25/09/2018, trước hội đồng Liên hiệp quốc tại New York, ông đã tuyên chiến với chủ nghĩa xã hội, thậm chí là Trung Quốc, hứa là sẽ tiêu diệt các chế độ này.

Riêng người cộng sản Việt Nam, hiện đang đi vào giai đoạn chót trong tiến trình tự nhiên đào thải của xã hội mới, trật tự mới vì chế độ này không còn sức sáng tạo và đã mục nát.

Paris 15/05/2019

Thành Đỗ
(Danlambao)

hoangphong
Posts: 423
Joined: Tue Feb 12, 2019 7:20 am

Post by hoangphong »

Image

Thằng Hề đi phó hội
Hồ Chí Phèo
(Danlambao) - Cười là liều thuốc bổ nên từ xa xưa trong xã hội đã có những người biết làm cho người khác cười, và có nghề nghiệp chuyên môn chỉ làm cho người ta cười, Trên thế giới, khi muốn cười, người ta bỏ tiền mua vé để nghe, xem các diễn viên hài (comedian), người pha trò (joker) hay anh hề (Clown). Tuy cách thức để làm cho khán giả cười khác nhau như cách dùng ngôn ngữ, điệu bộ, quần áo…, Nhưng comedian, joker, clown đều phải có kiến thức, biết sáng tạo… không tạo sự nhàm chán và nhất là chỉ diễn trò hề rẻ tiền, không có chiều sâu.

Ngoài những người có chuyên môn trên, cũng có rất nhiều người làm chúng ta cười do câu nói đùa cợt trơn hoặc có ẩn ý phê phán. Sau 30/4/1975 rất nhiều câu nói, những truyện cười chế nhạo chủ nghĩa độc tài cộng sản cũng như các lãnh tụ của đỉnh cao trí tuệ. Đương nhiên các tay độc tài nào cũng là các kẻ sắt máu, những kẻ không bao giờ thích đùa.

Không thích đùa, nhưng không hiểu sao những câu nói, hành động… của các lãnh tụ độc tài cộng sản lại hay làm người ta cười hề hề. Nên gọi các lãnh tụ CS này là các thằng hề của thế kỷ 21 có gì là sai nhỉ?

Bỏ qua chuyện thời sự lãnh đạo Đảng Ta đang toát mồ hôi để bưng bít chuyện “bí mật quốc gia” về sức khỏe của Tổng Tịch hay nôm na là Tổng Chết, ta xoay sang chuyện “phó hội”.

Tàu sẽ làm chủ xị cho hội nghị “vành đai và con đường” ở Bắc Kinh. Việt Nam được mời tham dự. “Được mời” là ngôn từ ngoại giao chứ thực tế là thằng anh hung hãn phía Bắc “biểu” thằng em hiền như cục đất qua đây tao dạy. Việc quốc gia đại sự, “số 1” không đi được vì bí mật quốc gia thì thông thường “số 2” đi thay. Nhưng khổ quá lại vì bí mật quốc gia, đi xa đến xuất ngoại dễ có chiều đi luôn không về. Nhất là khi có đủ mọi thứ bí mật lung tung như tơ vò hiện nay. Thế nên đảng chọn ngay anh Hề cho đi phó hội thay.

Theo đúng truyền thống “không thích đùa” của Đảng, Hề Ta không bao giờ muốn làm hề như các comedian, joker… vì hoàn toàn không có khả năng. Tuy nhiên mỗi lần Hề Ta xuất hiện, không cần bộ dạng, nói năng gì cũng đủ người dân ôm bụng cười. Những chữ “Mát dzê, Lờ cờ mờ, thành phố bốn không…” cũng như ngủ gật, quạt phành phạch… trong các cuộc gặp quốc tế đã gắn liền tên tuổi với Hề Ta.

Hề Ta mới đi thăm nước Cộng Hòa Séc và ngày 18/4 có tiếp xúc với người Việt ở khu Sapa, thủ đô Prague. Tại cuộc gặp mặt mà người ta phải trả tiền để tham dự, Hề Ta hừng chí “nghĩ sao nói vậy”, khi xem việc ông Donald Trump cầm vẩy vẩy lá cờ VN “là bọn phản động, lưu vong người Việt rã rời chân tay luôn”. Không biết có phản động nào, kể cả những kẻ phản động Séc đã từng đập tan đảng CS Tiệp khắc, có run sợ, rã rời chân tay không? Đương nhiên ai biết quá rõ Hề Ta thì cười và còn vỗ tay tán thưởng màn hề!

Người “không thích đùa” mà lại làm trò cười cho thiên hạ chế riễu thường là có vấn đề về tâm thần. Hề Ta chắc phải bị một chứng tâm thần nào nên cái đầu mới nghiên qua như thế! Ai cũng biết ông Trump vốn một thương gia, cờ hiệu của Amazon, Apple, Huawei… ông ta phân biệt ngay. Còn lá cờ đỏ chét thì trên đó có một sao, nhiều sao hay búa lưỡi liềm… ông để ý làm gì? Màu đỏ là màu cảnh báo, hãy coi chừng. Thấy đèn đỏ phải ngừng xe, cờ đỏ ở bãi biển sóng lớn không nên bơi xa, chồng thấy vợ mặc quần xì-líp màu đỏ thì nên ngưng chiến, đừng lộn xộn. Ông Trump khi vẫy cờ đỏ, không chừng ông ta đang đùa: “Hà hà… Cấm biểu tình nhá… Hà hà... cấm nói xấu lung tung nhá… Hà hà cấm… cấm lộn xộn… Hà hà…”. Tuy không phân biệt được cờ Tàu cờ Ta nhưng chắc chắn ông Trump hiểu ở các xứ sở có cờ đỏ chét, mọi thứ tự do người dân Mỹ đang được hưởng đều bị cấm đoán. Nói ra chuyện ông Tổng thống xứ tư bản cựu thù cầm trong tay lá cờ đỏ để “hù” người phản động chống chế độ độc tài cộng sản, Hề Ta không hiểu nổi mình đang biểu diễn màn hề.

Ngoài lý do Số 2, Số 3… còn bận rộn bí mật cấu xé nhau tranh ghế, còn một lý do khác Hề Ta được sai đi phó hội.

Đại đế nước anh em phương Bắc nhìn mặt biết ngay là người không thích đùa. Đại đế dạy dỗ mấy đứa em nghiêm khắc lắm! Không đúng ý, Đại đế theo chính sách bợp tai, đá đít ngay. Dù mặt chai lì, luôn kiên trì theo đảng, theo đại đế, nhưng bợp tai sơ sơ cũng đau, dù Đại đế có an ủi “bợp tai để tai thông, lắng nghe cho tốt hơn”. Ai sợ chứ Hề Ta chẳng sợ! Có bợp tai bên mặt, đầu đã nghiên rồi nghiên thêm có sao? Bợp bên trái thì nghiêng thẳng lại tí, càng tốt!

Trong lần phó hội này nếu người dân thấy Hề Ta ngồi nghiêm chỉnh, không ngủ gật khi Đại đế đọc diễn văn, chỉ có cách giải thích: Hề Ta đã ăn một bợp tai.

Trong khi cùng quan khách xem múa hát, không thấy Hề Ta quạt phạch phạch, chứng tỏ Hề đã bị bợp tai thứ hai.

Trong khi chúi mũi đọc diễn văn, không thấy Hề Ta nói đến tên nước “Cờ Nờ” vì đã bị bợp tai thứ ba.

Trong diễn văn không thấy Hề Ta ca ngợi “vành đai và con đường” chứng tỏ Hề rất ngây ngô khi cho con đường này dẫn đến thiên đường cộng sản. Làm gì có thiên đường cộng sản? Người dân phản động cũng đồng ý cho Hề xứng đáng bợp tai thứ tư.

Không dám khoe khoang ông Trump đến nước mình vẫy vẫy cờ đỏ vì đã ăn bợp tai thứ năm. Không biết trade-war là gì à?

Có lẽ còn nhiều bợp tai lắm như lỡ miệng, nghĩ sao nói vậy về Hoàng sa, Trường sa, về đường lưỡi bò, biển Đông…

Phải chờ xem khi Hề Ta về, đo lại độ nghiên của cái đầu để xác định có bao nhiêu bợp tai. Cũng có thể có cái may, khi Đại đế thấy Hề Ta ngoan ngoan chịu được bao nhiêu cái bợp tai mà vẫn kiên trì bám đảng, bám đại đế. Trung đến thế nỡ long nào không chuẩn thuận cho nó kế thừa Số 1? Lúc đấy Số 2, Số 3,… chỉ còn cách lăn ra dãy chết vì “ứt ân áu”.

Hồ Chí Phèo

Post Reply