Bình Luận Thời Sự
Phép lạ của tự do dân chủ
Ngô Nhân Dụng
Sống lâu cũng có điều hay, khi được thấy những chuyện mà mình tưởng cả đời không bao giờ xảy ra. Bà Ann Nixon Cooper năm nay 106 tuổi. Bà mới đi bỏ phiếu, bầu cho ông Barack Obama, 47 tuổi. Suốt 100 năm qua, người phụ nữ da đen này không ngờ có ngày được thấy một người gốc Phi Châu được bầu làm tổng thống Mỹ. Bà nhớ lại, trong cuộc đời suốt 100 năm có lúc bà muốn đi bỏ phiếu cũng không được.
Ở nước Mỹ nửa thế kỷ trước lá phiếu có khi là một món xa xỉ dành riêng cho một số người sử dụng, trong đó không có bà Ann Cooper.
Ðừng nói gì những người 100 tuổi. Nhiều người Mỹ trẻ hơn cũng không ngờ có ngày một người da mầu có thể làm tổng thống. Trong thập niên 1960, nhà hài hước Dick Grogory da đen nói đùa: “Người ta hay hỏi tôi liệu một anh mọi đen (negro) có thể được bầu làm tổng thống hay không. Tôi trả lời rằng, có chứ, khó gì, nếu hắn tranh cử với một anh gốc Puerto Rican!”
Mà cũng đừng nói chuyện mầu da. Loài người chúng ta có thể viện rất nhiều lý do để nhìn nhau với cái tâm phân biệt. Năm nay, khi cựu Thống Ðốc Romney còn tranh cử trong đảng Cộng Hòa, các báo Mỹ đã đặt câu hỏi, “Nước Mỹ đã sẵn sàng chấp nhận một người theo đạo Mormon làm tổng thống hay chưa?” Mormon là một tôn giáo thiểu số, ít người hiểu họ. Năm 2000, khi Nghị Sĩ Lieberman ứng cử phó tổng thống trong liên danh Al Gore, nhiều nhà bình luận đã thấy “có vấn đề;” là nếu ông Gore gặp chuyện chẳng may thì một “người gốc Do Thái” sẽ thành tổng thống Mỹ! Ðó là những cách họ nhắc nhở, đánh thức dậy cái tâm phân biệt nơi người khác.
Chính những người Mỹ gốc da đen không phải ai cũng muốn bỏ phiếu cho các ứng cử viên cùng mầu da. Khi ông Jesse Jackson tranh cử sơ bộ trong đảng Dân Chủ, nhiều người da đen ủng hộ đối thủ. Năm 1992 và 1996, người da đen ủng hộ ông Bill Clinton, chính ông này được họ coi là “người da đen đầu tiên” làm tổng thống. Năm nay, đa số cử tri Mỹ da đen chọn bà Hillary Clinton chứ không phải ông Barack Obama trong những cuộc bỏ phiếu sơ bộ đầu tiên, trước khi ông có vẻ sẽ thắng. Ở những tiểu bang như Virginia, North Carolina, các lãnh tụ da đen ở địa phương đều cổ động cho bà nghị sĩ New York. Năm 2004, Al Sharpton tranh cử độc lập, 90% người da đen không bỏ phiếu cho ông ta. Khi tranh cử, những lãnh tụ da đen đã được bầu lên cao nhất là chức thống đốc tiểu bang. Những người Mỹ da đen nổi bật đã bước vào hàng ngũ lãnh đạo quốc gia qua những ngả khác con đường bầu cử; như các ông Marshall, ông Thomas đã lần lượt vào ngồi trong Tối Cao Pháp Viện.
Khi nhìn ông Obama nói trước đám đông trong đêm bầu cử, nhiều người như bà Oprah, Mục Sư Jesse Jackson đều rưng rưng nước mắt. Họ đứng im lặng giữa đám đông, nhìn những người chung quanh reo hò, người da đen cũng như da trắng. Chứng kiến lịch sử đang thay đổi, họ không cầm được giọt lệ. Ðây là cảnh mà nhiều người Mỹ gốc Phi Châu đã mơ ước, đã chờ đợi, nhưng ít ai hy vọng sẽ thấy trong đời mình. Nói kiểu người Việt Nam ngày xưa: Họa tới Tết Congo mới thấy!
Tết Congo đã tới, không riêng cho những người gốc Congo ở Mỹ. Khắp thế giới người ta cũng không ngờ nước Mỹ thay đổi “nhanh” như vậy. Trong vòng một thế kỷ rưỡi, từ thân phận những người nô lệ, nay có một người sắp làm nguyên thủ quốc gia!
Trên con đường dẫn tới một ngôi đền cổ du khách chen chúc tại thành phố Kom Ombo, Ai Cập, tôi thấy mấy người đàn ông đang ngồi coi báo. Một thanh niên bản xứ bán đồ kỷ niệm, nghĩ tôi là người Trung Hoa, cười chào: “Nị hảo?” Tôi nghiêng đầu chăm chú nhìn bức hình ông bà Obama đang tới thăm ông bà Bush ở Tòa Bạch Ốc, trên trang nhất một tờ báo in những hàng chữ Á Rập bay bướm, để khỏi phải trả lời những lời rao bán hàng. Chàng thanh niên Ai Cập cũng nhìn bức hình, rồi quay lại nhìn tôi, anh ta nắm bàn tay phải, đưa ngón tay cái chỉ lên trời (một cữ chỉ rất Mỹ), rồi nói bằng tiếng Anh: “Good! Very good!” Chàng thanh niên Ai Cập này nhoẻn miệng cười, như muốn chia sẻ niềm vui với một “người Tầu” xa lạ! Anh đã phát biểu một ý kiến chính trị, quên cả công việc bán hàng của mình. Chia sẻ một niềm vui quan trọng hơn việc thương mại!
Nhưng cái gì thật sự là “good” ở đây? Tại sao một thanh niên sống bên bờ sông Nile sâu thẳm dài 6000 cây số này lại quan tâm và lại muốn phê phán việc dân Mỹ bầu tổng thống của họ; để chia sẻ với một du khách lạ từ Phương Ðông tới?
Có thể đoán, hình như nhiều người muốn truyền tai cho nhau nghe những “tiếng kêu trên đồng vắng.” Những lời báo hiệu của hy vọng. Ðó là niềm hy vọng thế giới này có thể thay đổi.
Nếu dân chúng Mỹ, đã bị các kẻ thù của nước Mỹ chỉ trích bao năm về phân biệt chủng tộc, có thể thay đổi xã hội của họ nhanh như vậy, thì tại sao chúng ta, người Châu Á, người Châu Phi, không hy vọng chính mình sẽ thay đổi số phận xã hội mình? Người Ai Cập, người Kenya, người Trung Quốc, người Việt Nam chắc cũng đang tự hỏi như vậy.
Niềm hy vọng thay đổi của giới trẻ thế giới không đặt vào một ông tổng thống Mỹ mới được bầu. Ông ta không thay đổi nước Mỹ, chính nước Mỹ thay đổi đã tạo ra biến cố này. Ðiều thay đổi trong xã hội Mỹ không phải do một cá nhân thực hiện được. Ðó là do những định chế chính trị tạo nhân duyên hằng thế kỷ.
Ai cũng phải đặt câu hỏi: Người dân Mỹ, nói riêng dân da đen ở Mỹ, họ đã sử dụng “khí cụ” nào để thực hiện sự thay đổi trong năm 2008 này? Họ không xuống đường, không bạo động, không đảo chính. Họ đã dùng các định chế tự do dân chủ.
Dân tộc này thiết lập những thủ tục chung sống với nhau đặt trên một số nguyên tắc, các nguyên tắc đó cho phép xã hội thay đổi trong trật tự và hòa bình. Những quy tắc này đã được thí nghiệm ở bên kia bờ Ðịa Trung Hải, với Desmosthene bên Hy Lạp thời Thượng cổ, với Magna Carta bên Anh quốc trong thời phong kiến, với bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền trong cuộc cách mạng Pháp. Nhưng trong hai trăm năm nay dân Mỹ đã cải thiện các quy tắc sống đoàn thể đó, đặt ra những “luật chơi dân chủ;” với lối bầu, chọn tổng thống mà nhiều người còn thấy là kỳ quặc. Mà kết quả là, khi áp dụng các luật chơi đó, trong trận đá banh mới nhất này, một người Mỹ cha gốc Kenya, mẹ gốc Tô Cách Lan và Ái Nhĩ Lan, đã đắc cử tổng thống.
Một chuyện phi thường! Nhưng đã trở thành chuyện bình thường, mà một chế độ tự do dân chủ có thể đem lại! Khi tôi đi từ Los Angeles qua New York, 3 ngày sau khi dân Mỹ bỏ phiếu, tôi đã nhìn những người Mỹ da đen, da trắng đi lại, làm việc chung quanh. Sau khi một biến cố lịch sử xẩy ra, tôi muốn coi nét mặt của những người Mỹ bình thường này có lộ ra nét xúc động nào hay chăng. Không ai khóc. Không ai reo hò. Trên màn ảnh ti vi ở các phi trường người ta tha hồ loan tin và bình luận. Người dân Mỹ vẫn tiếp tục cuộc sống bình nhật. Những người da đen đẩy xe chở hành lý vẫn đẩy xe. Những người da trắng ngồi trước cái laptop trong phòng đợi vẫn chăm chú làm việc. Chính đời sống bình thường đó đã có tính cách phi thường. Phép lạ xảy ra đã được khơi mầm từ hàng ngàn năm trước, khi loài người đặt ra thủ tục bỏ phiếu cho đa số quyết định. Phép lạ xảy ra bây giờ vì từ hàng ngàn năm trước người ta đã nghĩ ra phải hạn chế quyền hành của vua chúa, người cai trị phải tham khảo ý kiến của người bị trị. Máu đã đổ trong các cuộc cách mạng ở Pháp, ở Nga, để loài người cùng dò dẫm tìm cách nào sống chung với nhau bình đẳng và phồn thịnh. Loài người đã đem máu xương mình ra thí nghiệm để tìm ra những thủ tục chung sống yên ổn với nhau, tạo nên những cuộc sống bình thường và thay đổi liên tục.
Ðịnh chế dân chủ cho phép xã hội thay đổi trong hòa bình, trật tự. Ðây không phải chỉ là sự thành công của một cá nhân. Ðây cũng là một vở kịch bi hùng mà nhân vật chính là thể chế dân chủ tự do. Một lần nữa, Thần Tự Do đang đưa cao ngọn đuốc tỏa ánh sáng hy vọng khắp mặt trái đất!
Chúng ta có thể tưởng nhớ những người Hungary đã vùng lên năm 1956 và bị đàn áp tàn nhẫn. Năm đó, nhà thơ Thanh Tâm Tuyền ở Việt Nam đã chia sẻ: “Hãy cho anh khóc bằng mắt em!” Chúng ta có thể nhớ lại những thanh niên Trung Hoa rước tượng Nữ Thần Tự Do ở Quảng Trường Thiên An Môn vào Tháng Năm năm 1989. Họ cũng bị tàn sát. Nhưng cuối cùng, chúng ta có thể tin. Khát vọng Tự Do của loài người sẽ thắng.
Chiến thắng của chế độ tự do dân chủ không diễn ra trong sắt máu nữa. Ðó là một cuộc xây dựng trường kỳ, từng năm, từng tháng, từng ngày, khi người dân được tự do phát biểu, tự do hội họp, và tự do lựa chọn bằng lá phiếu.
Ký giả Rania Al Malky viết trên một tờ báo độc lập ở Cairo giải thích rằng cuộc bầu cử ở Mỹ vừa qua cho thấy “sự kiện dân tộc Mỹ tuân thủ các nguyên tắc của chế độ dân chủ tự do đã cho phép dân chúng Mỹ có thể thay đổi lịch sử, chỉ bằng việc sử dụng lá phiếu.” Bà Al Malky lại nghĩ tới dân tộc của bà. Bà tự hỏi đến bao giờ người Ai Cập mới được phép thay đổi nước họ bằng lá phiếu như vậy.
Không phải chỉ có người Ai Cập. Nhiều nhà trí thức ở các nước nhược tiểu cũng đang đặt câu hỏi như nữa ký giả Malky. Trong đó có người Việt Nam chúng ta. Ðến bao giờ người Việt Nam mới có cơ hội dùng lá phiếu để thay đổi vận mệnh dân tộc mình? Chúng ta có phải chờ 100 năm nữa hay không?
Trong khi chờ đợi, người dân những nước còn chế độ độc tài đành đóng vai những “anh lùn đi xem hội, reo hò theo miệng người khác” còn chính mình chẳng được thấy gì cả.
Ngô Nhân Dụng
Sống lâu cũng có điều hay, khi được thấy những chuyện mà mình tưởng cả đời không bao giờ xảy ra. Bà Ann Nixon Cooper năm nay 106 tuổi. Bà mới đi bỏ phiếu, bầu cho ông Barack Obama, 47 tuổi. Suốt 100 năm qua, người phụ nữ da đen này không ngờ có ngày được thấy một người gốc Phi Châu được bầu làm tổng thống Mỹ. Bà nhớ lại, trong cuộc đời suốt 100 năm có lúc bà muốn đi bỏ phiếu cũng không được.
Ở nước Mỹ nửa thế kỷ trước lá phiếu có khi là một món xa xỉ dành riêng cho một số người sử dụng, trong đó không có bà Ann Cooper.
Ðừng nói gì những người 100 tuổi. Nhiều người Mỹ trẻ hơn cũng không ngờ có ngày một người da mầu có thể làm tổng thống. Trong thập niên 1960, nhà hài hước Dick Grogory da đen nói đùa: “Người ta hay hỏi tôi liệu một anh mọi đen (negro) có thể được bầu làm tổng thống hay không. Tôi trả lời rằng, có chứ, khó gì, nếu hắn tranh cử với một anh gốc Puerto Rican!”
Mà cũng đừng nói chuyện mầu da. Loài người chúng ta có thể viện rất nhiều lý do để nhìn nhau với cái tâm phân biệt. Năm nay, khi cựu Thống Ðốc Romney còn tranh cử trong đảng Cộng Hòa, các báo Mỹ đã đặt câu hỏi, “Nước Mỹ đã sẵn sàng chấp nhận một người theo đạo Mormon làm tổng thống hay chưa?” Mormon là một tôn giáo thiểu số, ít người hiểu họ. Năm 2000, khi Nghị Sĩ Lieberman ứng cử phó tổng thống trong liên danh Al Gore, nhiều nhà bình luận đã thấy “có vấn đề;” là nếu ông Gore gặp chuyện chẳng may thì một “người gốc Do Thái” sẽ thành tổng thống Mỹ! Ðó là những cách họ nhắc nhở, đánh thức dậy cái tâm phân biệt nơi người khác.
Chính những người Mỹ gốc da đen không phải ai cũng muốn bỏ phiếu cho các ứng cử viên cùng mầu da. Khi ông Jesse Jackson tranh cử sơ bộ trong đảng Dân Chủ, nhiều người da đen ủng hộ đối thủ. Năm 1992 và 1996, người da đen ủng hộ ông Bill Clinton, chính ông này được họ coi là “người da đen đầu tiên” làm tổng thống. Năm nay, đa số cử tri Mỹ da đen chọn bà Hillary Clinton chứ không phải ông Barack Obama trong những cuộc bỏ phiếu sơ bộ đầu tiên, trước khi ông có vẻ sẽ thắng. Ở những tiểu bang như Virginia, North Carolina, các lãnh tụ da đen ở địa phương đều cổ động cho bà nghị sĩ New York. Năm 2004, Al Sharpton tranh cử độc lập, 90% người da đen không bỏ phiếu cho ông ta. Khi tranh cử, những lãnh tụ da đen đã được bầu lên cao nhất là chức thống đốc tiểu bang. Những người Mỹ da đen nổi bật đã bước vào hàng ngũ lãnh đạo quốc gia qua những ngả khác con đường bầu cử; như các ông Marshall, ông Thomas đã lần lượt vào ngồi trong Tối Cao Pháp Viện.
Khi nhìn ông Obama nói trước đám đông trong đêm bầu cử, nhiều người như bà Oprah, Mục Sư Jesse Jackson đều rưng rưng nước mắt. Họ đứng im lặng giữa đám đông, nhìn những người chung quanh reo hò, người da đen cũng như da trắng. Chứng kiến lịch sử đang thay đổi, họ không cầm được giọt lệ. Ðây là cảnh mà nhiều người Mỹ gốc Phi Châu đã mơ ước, đã chờ đợi, nhưng ít ai hy vọng sẽ thấy trong đời mình. Nói kiểu người Việt Nam ngày xưa: Họa tới Tết Congo mới thấy!
Tết Congo đã tới, không riêng cho những người gốc Congo ở Mỹ. Khắp thế giới người ta cũng không ngờ nước Mỹ thay đổi “nhanh” như vậy. Trong vòng một thế kỷ rưỡi, từ thân phận những người nô lệ, nay có một người sắp làm nguyên thủ quốc gia!
Trên con đường dẫn tới một ngôi đền cổ du khách chen chúc tại thành phố Kom Ombo, Ai Cập, tôi thấy mấy người đàn ông đang ngồi coi báo. Một thanh niên bản xứ bán đồ kỷ niệm, nghĩ tôi là người Trung Hoa, cười chào: “Nị hảo?” Tôi nghiêng đầu chăm chú nhìn bức hình ông bà Obama đang tới thăm ông bà Bush ở Tòa Bạch Ốc, trên trang nhất một tờ báo in những hàng chữ Á Rập bay bướm, để khỏi phải trả lời những lời rao bán hàng. Chàng thanh niên Ai Cập cũng nhìn bức hình, rồi quay lại nhìn tôi, anh ta nắm bàn tay phải, đưa ngón tay cái chỉ lên trời (một cữ chỉ rất Mỹ), rồi nói bằng tiếng Anh: “Good! Very good!” Chàng thanh niên Ai Cập này nhoẻn miệng cười, như muốn chia sẻ niềm vui với một “người Tầu” xa lạ! Anh đã phát biểu một ý kiến chính trị, quên cả công việc bán hàng của mình. Chia sẻ một niềm vui quan trọng hơn việc thương mại!
Nhưng cái gì thật sự là “good” ở đây? Tại sao một thanh niên sống bên bờ sông Nile sâu thẳm dài 6000 cây số này lại quan tâm và lại muốn phê phán việc dân Mỹ bầu tổng thống của họ; để chia sẻ với một du khách lạ từ Phương Ðông tới?
Có thể đoán, hình như nhiều người muốn truyền tai cho nhau nghe những “tiếng kêu trên đồng vắng.” Những lời báo hiệu của hy vọng. Ðó là niềm hy vọng thế giới này có thể thay đổi.
Nếu dân chúng Mỹ, đã bị các kẻ thù của nước Mỹ chỉ trích bao năm về phân biệt chủng tộc, có thể thay đổi xã hội của họ nhanh như vậy, thì tại sao chúng ta, người Châu Á, người Châu Phi, không hy vọng chính mình sẽ thay đổi số phận xã hội mình? Người Ai Cập, người Kenya, người Trung Quốc, người Việt Nam chắc cũng đang tự hỏi như vậy.
Niềm hy vọng thay đổi của giới trẻ thế giới không đặt vào một ông tổng thống Mỹ mới được bầu. Ông ta không thay đổi nước Mỹ, chính nước Mỹ thay đổi đã tạo ra biến cố này. Ðiều thay đổi trong xã hội Mỹ không phải do một cá nhân thực hiện được. Ðó là do những định chế chính trị tạo nhân duyên hằng thế kỷ.
Ai cũng phải đặt câu hỏi: Người dân Mỹ, nói riêng dân da đen ở Mỹ, họ đã sử dụng “khí cụ” nào để thực hiện sự thay đổi trong năm 2008 này? Họ không xuống đường, không bạo động, không đảo chính. Họ đã dùng các định chế tự do dân chủ.
Dân tộc này thiết lập những thủ tục chung sống với nhau đặt trên một số nguyên tắc, các nguyên tắc đó cho phép xã hội thay đổi trong trật tự và hòa bình. Những quy tắc này đã được thí nghiệm ở bên kia bờ Ðịa Trung Hải, với Desmosthene bên Hy Lạp thời Thượng cổ, với Magna Carta bên Anh quốc trong thời phong kiến, với bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền trong cuộc cách mạng Pháp. Nhưng trong hai trăm năm nay dân Mỹ đã cải thiện các quy tắc sống đoàn thể đó, đặt ra những “luật chơi dân chủ;” với lối bầu, chọn tổng thống mà nhiều người còn thấy là kỳ quặc. Mà kết quả là, khi áp dụng các luật chơi đó, trong trận đá banh mới nhất này, một người Mỹ cha gốc Kenya, mẹ gốc Tô Cách Lan và Ái Nhĩ Lan, đã đắc cử tổng thống.
Một chuyện phi thường! Nhưng đã trở thành chuyện bình thường, mà một chế độ tự do dân chủ có thể đem lại! Khi tôi đi từ Los Angeles qua New York, 3 ngày sau khi dân Mỹ bỏ phiếu, tôi đã nhìn những người Mỹ da đen, da trắng đi lại, làm việc chung quanh. Sau khi một biến cố lịch sử xẩy ra, tôi muốn coi nét mặt của những người Mỹ bình thường này có lộ ra nét xúc động nào hay chăng. Không ai khóc. Không ai reo hò. Trên màn ảnh ti vi ở các phi trường người ta tha hồ loan tin và bình luận. Người dân Mỹ vẫn tiếp tục cuộc sống bình nhật. Những người da đen đẩy xe chở hành lý vẫn đẩy xe. Những người da trắng ngồi trước cái laptop trong phòng đợi vẫn chăm chú làm việc. Chính đời sống bình thường đó đã có tính cách phi thường. Phép lạ xảy ra đã được khơi mầm từ hàng ngàn năm trước, khi loài người đặt ra thủ tục bỏ phiếu cho đa số quyết định. Phép lạ xảy ra bây giờ vì từ hàng ngàn năm trước người ta đã nghĩ ra phải hạn chế quyền hành của vua chúa, người cai trị phải tham khảo ý kiến của người bị trị. Máu đã đổ trong các cuộc cách mạng ở Pháp, ở Nga, để loài người cùng dò dẫm tìm cách nào sống chung với nhau bình đẳng và phồn thịnh. Loài người đã đem máu xương mình ra thí nghiệm để tìm ra những thủ tục chung sống yên ổn với nhau, tạo nên những cuộc sống bình thường và thay đổi liên tục.
Ðịnh chế dân chủ cho phép xã hội thay đổi trong hòa bình, trật tự. Ðây không phải chỉ là sự thành công của một cá nhân. Ðây cũng là một vở kịch bi hùng mà nhân vật chính là thể chế dân chủ tự do. Một lần nữa, Thần Tự Do đang đưa cao ngọn đuốc tỏa ánh sáng hy vọng khắp mặt trái đất!
Chúng ta có thể tưởng nhớ những người Hungary đã vùng lên năm 1956 và bị đàn áp tàn nhẫn. Năm đó, nhà thơ Thanh Tâm Tuyền ở Việt Nam đã chia sẻ: “Hãy cho anh khóc bằng mắt em!” Chúng ta có thể nhớ lại những thanh niên Trung Hoa rước tượng Nữ Thần Tự Do ở Quảng Trường Thiên An Môn vào Tháng Năm năm 1989. Họ cũng bị tàn sát. Nhưng cuối cùng, chúng ta có thể tin. Khát vọng Tự Do của loài người sẽ thắng.
Chiến thắng của chế độ tự do dân chủ không diễn ra trong sắt máu nữa. Ðó là một cuộc xây dựng trường kỳ, từng năm, từng tháng, từng ngày, khi người dân được tự do phát biểu, tự do hội họp, và tự do lựa chọn bằng lá phiếu.
Ký giả Rania Al Malky viết trên một tờ báo độc lập ở Cairo giải thích rằng cuộc bầu cử ở Mỹ vừa qua cho thấy “sự kiện dân tộc Mỹ tuân thủ các nguyên tắc của chế độ dân chủ tự do đã cho phép dân chúng Mỹ có thể thay đổi lịch sử, chỉ bằng việc sử dụng lá phiếu.” Bà Al Malky lại nghĩ tới dân tộc của bà. Bà tự hỏi đến bao giờ người Ai Cập mới được phép thay đổi nước họ bằng lá phiếu như vậy.
Không phải chỉ có người Ai Cập. Nhiều nhà trí thức ở các nước nhược tiểu cũng đang đặt câu hỏi như nữa ký giả Malky. Trong đó có người Việt Nam chúng ta. Ðến bao giờ người Việt Nam mới có cơ hội dùng lá phiếu để thay đổi vận mệnh dân tộc mình? Chúng ta có phải chờ 100 năm nữa hay không?
Trong khi chờ đợi, người dân những nước còn chế độ độc tài đành đóng vai những “anh lùn đi xem hội, reo hò theo miệng người khác” còn chính mình chẳng được thấy gì cả.
Lá thư ngỏ phản dối của Đinh Lâm Thanh gữi cho Bà
Anh Đào Traxel người tổ chức buỗi quyên tiền cho cô Tim tại Paris ngày 22-11-2008.
NÓI CHUYỆN VỚI BÀ ANH ĐÀO TRAXEL
Thưa Bà Anh Đào Traxel.
Mấy ngày qua cộng đồng người Việt tỵ nạn tại Pháp và cá nhân tôi đã nhiều lần đề cập đến danh tánh cũng như phản đối việc làm của bà khi bà tổ chức xin tiền và gắn huy chương cho cô Aline Rebeaud vào ngày 22.11.2008. Nhưng tiếc thay, lý trí và lương tâm của bà đã mất khi bà quay mặt phản lại cộng đồng, mọi tiền vét túi người Việt hải ngoại để đưa về dâng cho kẻ thù không đội trời chung là đảng cọng sản !
Trước hành động thiếu thiện chí và khiêu khích của bà, hôm nay một lần nữa, với tư cách thành viên của cộng đồng người Việt tự do tại Pháp, một từ nhân chính trị, một thuyền nhân và một người tranh đấu cho tự do nhân quyền, tôi công khai nói chuyện trực tiếp với bà.
Tôi nghĩ rằng thân phận của bà là một cô bé tỵ nạn Việt Nam, trên đường chạy trốn cọng sản người thân có thể đã chết, hoặc vì một lý do gì đó, bỏ rơi bà ở một phi trường tại Pháp. Bà may mắn được ông bà Jacques Chirac, lúc bấy giời là Đô Trưởng thành phố Paris đưa về nhận làm con nuôi. Cuộc đời của bà gặp vận tốt, từ một cô bé bị bỏ rơi nơi công cọng bước ngay lên tột đỉnh danh vọng trong một sớm một chiều. Nhưng dù thế nào cũng đừng quên rằng bà là một thuyền nhân đã vượt biết bao gian khổ và nguy hiểm để đánh đổi mạng sống với biển cả đi tìm tự do. Bây giờ bà còn chấp nhận thân phận của một người vượt biên hay tự cho rằng nhờ cọng sản vào cướp nước mà bà có cơ may làm con nuôi của một tổng thống ? Nếu bà còn chút suy tư của một người mất nước thì tôi xin hân hạnh tâm tình cùng bà. Nhưng bà cho rằng nhờ cọng sản đổi đời từ một cô bé 'lọ lem' lên làm 'công chúa' thì tôi xem bà như hạng người chợ trời, vượt biên vì kinh tế và không đáng đề cập đến nữa!
Trường hợp bà còn giữ trong người giòng máu ty nạn thì tôi mong rằng bà hãy suy nghĩ việc làm của bà và tự xử sự bằng cách :
1. Trước tiên, hãy tìm hiểu con người của cô Tim Aline Rebeaud hay bất chấp nhắm mắt tuân theo chỉ thị của Hà Nội để rồi mượn cơ hội từ thiện đánh bóng cá nhân bà ? Nếu bà không rõ thì tôi lướt qua quá khứ và mục đích hành động của cô Tim : Đến Việt Nam như một sinh viên 'du lịch balô', tỏ ra có thiện cảm và hành động tốt đối với thành phần trẻ em nghèo đói, vô gia cư và tật nguyền. Nhưng hình ảnh một cô gái da trắng tóc vàng là miếng mồi ngon, là công cụ tốt của Hà Nội. Cô đã lọt vào mắt cơ quan tình báo và gián điệp cọng sản trong kế hoạch đào tạo nhân sự với mục đích và âm mưu đen tối sau nầy. Trước khi xử dụng, công sản đã 'cấy vào người' cô Tim trong nhiều năm các chương trình huấn luyện tình báo, kiều vận, văn hóa vận cũng như 'móc túi vận' tại nội địa cũng như ở Thái Lan. Sau khi thấm nhuần đường lối và bị 'dính chàm' một vấn đề gì đó, cô Tim phải chấp nhận vai trò 'từ thiện dỗm' của mình để cọng sản bóng đưa ra nước ngoài. Mở đường là Thúy Nga đưa cô ta lên tận mây xanh trong chương trình ca nhạc nhằm đánh động lòng người. Tiếp đến Hà nội ra lệnh cho các đám nằm vùng, cò mồi ham danh mê tiền, lập kế hoạch đưa đi khắp năm châu để vét túi thiên hạ. Từ thiện chỉ là màn kịch mà kế hoạch chủ yếu là đánh phá Cờ Quốc Gia Vàng Ba Sọc Đỏ, tạo cơ hội phân tán, chia rẽ tập thể cộng đồng người Việt hải ngoại. Đây là mục đính chính việc xuất ngoại của cô Tim.. Bà đừng cảm động vớ vẩn trước vài giọt nước mắt cá sấu và những lời thuyết phục rắn độc, vì làm từ thiện là nghề chính thức của cô ta để cô sống thải mái, vừa có tiền đi chu du khắp thế giới vừa được thiên hạ tôn sùng như một thần tượng. Nhưng thưa bà, bộ mặt cô Tim đã rớt xuống, những ai còn chạy theo ăn bã đều đồng lõa với tội ác.
2. Hủy bỏ đêm Gala móc túi (vừa bán vé vào cửa vừa dùng những người đẹp ngữa nón đi từng bàn xin tiền – đã sắp sẵn mỗi bàn một hai cò mồi bỏ tiền vào mũ một cách hậu hỉ, mục đích làm gương…để câu khách mời !!!). Nhân tiện đây tôi hỏi bà có biết sự thật này không ? Chín mươi phần trăm (90%) tiền thu được phải trao cho Mặt Trận Tổ Quốc, nghĩa là đưa cho cọng sản. Mười phần trăm (10%) là tiền lương của cô Tim và Một phần trăm (1%) có thể đến tay các em bé. Đây là lời tố cáo của một nhà văn nhà báo trong nước, cô Trần Khải Thanh Thủy. Chúng tôi đã tận tình trình bày, nếu bà không chấp thuận, chúng tôi bắt buộc sẽ vạch hành động của bà và các nhóm cò mồi Việt cũng như địa phương ra trước công luận và giới truyền thông Pháp.
3. Trong trường hợp bất khả kháng đối với bà cũng như với người ngoại quốc, chúng tôi đề nghị bà cho treo cờ Quốc Gia Vàng Ba Sọc Đỏ bên ngoài cũng như bên trong hội trường. Nếu cô Tim Aline Rebeaud chống đối bỏ ra về thì chúng tôi sẽ có thái độ với cô ta, còn cô ta chấp nhận, thì yêu cầu cô Tim và tất cả phải đứng thẳng người và nghiêm chỉnh trong lúc chào Quốc Kỳ.
Bà phải nhớ rằng, toàn thể người Việt tự do tại Pháp đã ủng hộ triệt để ông Jacques Chirac trúng cử trong các kỳ bầu tổng thống. Chắc bà cũng hiểu, ngoài việc ông Chirac là người chống chế độ cọng sản mà còn một lý do thầm kín bên trong nữa : Đó chính là chúng tôi ủng hộ một đồng hương, một thuyền nhân tỵ nạn đứng phía sau liên danh ứng cử. Người đó là chính bà, bà có biết không ? Bây giờ bà trả ơn cho đồng bào, những người ủng hộ bà, ủng hộ cha nuôi của bà bằng hành động phản bội, đâm ngay dao vào tim những người đã một thời âu yếm thiết tha nghĩ đến bà !!!
Đinh Lâm Thanh
Paris, 19 Novembre 2008
Anh Đào Traxel người tổ chức buỗi quyên tiền cho cô Tim tại Paris ngày 22-11-2008.
NÓI CHUYỆN VỚI BÀ ANH ĐÀO TRAXEL
Thưa Bà Anh Đào Traxel.
Mấy ngày qua cộng đồng người Việt tỵ nạn tại Pháp và cá nhân tôi đã nhiều lần đề cập đến danh tánh cũng như phản đối việc làm của bà khi bà tổ chức xin tiền và gắn huy chương cho cô Aline Rebeaud vào ngày 22.11.2008. Nhưng tiếc thay, lý trí và lương tâm của bà đã mất khi bà quay mặt phản lại cộng đồng, mọi tiền vét túi người Việt hải ngoại để đưa về dâng cho kẻ thù không đội trời chung là đảng cọng sản !
Trước hành động thiếu thiện chí và khiêu khích của bà, hôm nay một lần nữa, với tư cách thành viên của cộng đồng người Việt tự do tại Pháp, một từ nhân chính trị, một thuyền nhân và một người tranh đấu cho tự do nhân quyền, tôi công khai nói chuyện trực tiếp với bà.
Tôi nghĩ rằng thân phận của bà là một cô bé tỵ nạn Việt Nam, trên đường chạy trốn cọng sản người thân có thể đã chết, hoặc vì một lý do gì đó, bỏ rơi bà ở một phi trường tại Pháp. Bà may mắn được ông bà Jacques Chirac, lúc bấy giời là Đô Trưởng thành phố Paris đưa về nhận làm con nuôi. Cuộc đời của bà gặp vận tốt, từ một cô bé bị bỏ rơi nơi công cọng bước ngay lên tột đỉnh danh vọng trong một sớm một chiều. Nhưng dù thế nào cũng đừng quên rằng bà là một thuyền nhân đã vượt biết bao gian khổ và nguy hiểm để đánh đổi mạng sống với biển cả đi tìm tự do. Bây giờ bà còn chấp nhận thân phận của một người vượt biên hay tự cho rằng nhờ cọng sản vào cướp nước mà bà có cơ may làm con nuôi của một tổng thống ? Nếu bà còn chút suy tư của một người mất nước thì tôi xin hân hạnh tâm tình cùng bà. Nhưng bà cho rằng nhờ cọng sản đổi đời từ một cô bé 'lọ lem' lên làm 'công chúa' thì tôi xem bà như hạng người chợ trời, vượt biên vì kinh tế và không đáng đề cập đến nữa!
Trường hợp bà còn giữ trong người giòng máu ty nạn thì tôi mong rằng bà hãy suy nghĩ việc làm của bà và tự xử sự bằng cách :
1. Trước tiên, hãy tìm hiểu con người của cô Tim Aline Rebeaud hay bất chấp nhắm mắt tuân theo chỉ thị của Hà Nội để rồi mượn cơ hội từ thiện đánh bóng cá nhân bà ? Nếu bà không rõ thì tôi lướt qua quá khứ và mục đích hành động của cô Tim : Đến Việt Nam như một sinh viên 'du lịch balô', tỏ ra có thiện cảm và hành động tốt đối với thành phần trẻ em nghèo đói, vô gia cư và tật nguyền. Nhưng hình ảnh một cô gái da trắng tóc vàng là miếng mồi ngon, là công cụ tốt của Hà Nội. Cô đã lọt vào mắt cơ quan tình báo và gián điệp cọng sản trong kế hoạch đào tạo nhân sự với mục đích và âm mưu đen tối sau nầy. Trước khi xử dụng, công sản đã 'cấy vào người' cô Tim trong nhiều năm các chương trình huấn luyện tình báo, kiều vận, văn hóa vận cũng như 'móc túi vận' tại nội địa cũng như ở Thái Lan. Sau khi thấm nhuần đường lối và bị 'dính chàm' một vấn đề gì đó, cô Tim phải chấp nhận vai trò 'từ thiện dỗm' của mình để cọng sản bóng đưa ra nước ngoài. Mở đường là Thúy Nga đưa cô ta lên tận mây xanh trong chương trình ca nhạc nhằm đánh động lòng người. Tiếp đến Hà nội ra lệnh cho các đám nằm vùng, cò mồi ham danh mê tiền, lập kế hoạch đưa đi khắp năm châu để vét túi thiên hạ. Từ thiện chỉ là màn kịch mà kế hoạch chủ yếu là đánh phá Cờ Quốc Gia Vàng Ba Sọc Đỏ, tạo cơ hội phân tán, chia rẽ tập thể cộng đồng người Việt hải ngoại. Đây là mục đính chính việc xuất ngoại của cô Tim.. Bà đừng cảm động vớ vẩn trước vài giọt nước mắt cá sấu và những lời thuyết phục rắn độc, vì làm từ thiện là nghề chính thức của cô ta để cô sống thải mái, vừa có tiền đi chu du khắp thế giới vừa được thiên hạ tôn sùng như một thần tượng. Nhưng thưa bà, bộ mặt cô Tim đã rớt xuống, những ai còn chạy theo ăn bã đều đồng lõa với tội ác.
2. Hủy bỏ đêm Gala móc túi (vừa bán vé vào cửa vừa dùng những người đẹp ngữa nón đi từng bàn xin tiền – đã sắp sẵn mỗi bàn một hai cò mồi bỏ tiền vào mũ một cách hậu hỉ, mục đích làm gương…để câu khách mời !!!). Nhân tiện đây tôi hỏi bà có biết sự thật này không ? Chín mươi phần trăm (90%) tiền thu được phải trao cho Mặt Trận Tổ Quốc, nghĩa là đưa cho cọng sản. Mười phần trăm (10%) là tiền lương của cô Tim và Một phần trăm (1%) có thể đến tay các em bé. Đây là lời tố cáo của một nhà văn nhà báo trong nước, cô Trần Khải Thanh Thủy. Chúng tôi đã tận tình trình bày, nếu bà không chấp thuận, chúng tôi bắt buộc sẽ vạch hành động của bà và các nhóm cò mồi Việt cũng như địa phương ra trước công luận và giới truyền thông Pháp.
3. Trong trường hợp bất khả kháng đối với bà cũng như với người ngoại quốc, chúng tôi đề nghị bà cho treo cờ Quốc Gia Vàng Ba Sọc Đỏ bên ngoài cũng như bên trong hội trường. Nếu cô Tim Aline Rebeaud chống đối bỏ ra về thì chúng tôi sẽ có thái độ với cô ta, còn cô ta chấp nhận, thì yêu cầu cô Tim và tất cả phải đứng thẳng người và nghiêm chỉnh trong lúc chào Quốc Kỳ.
Bà phải nhớ rằng, toàn thể người Việt tự do tại Pháp đã ủng hộ triệt để ông Jacques Chirac trúng cử trong các kỳ bầu tổng thống. Chắc bà cũng hiểu, ngoài việc ông Chirac là người chống chế độ cọng sản mà còn một lý do thầm kín bên trong nữa : Đó chính là chúng tôi ủng hộ một đồng hương, một thuyền nhân tỵ nạn đứng phía sau liên danh ứng cử. Người đó là chính bà, bà có biết không ? Bây giờ bà trả ơn cho đồng bào, những người ủng hộ bà, ủng hộ cha nuôi của bà bằng hành động phản bội, đâm ngay dao vào tim những người đã một thời âu yếm thiết tha nghĩ đến bà !!!
Đinh Lâm Thanh
Paris, 19 Novembre 2008
Sóng ngầm dưới mặt Biển Đông
Dương Danh Huy và Lê Minh Phiếu
Quỹ Nghiên cứu Biển Đông - www.seasfoundation.org
Việt Nam và Trung Quốc hiện nay đang đàm phán phân định chủ quyền đoạn từ Quảng Bình, Quảng Trị đến Huế, Đà Nẵng.
Tuyên bố chung của Thủ tướng hai nước ngày 25/10/2008 nói, “Hai bên tiếp tục thúc đẩy một cách vững chắc đàm phán phân định khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và tích cực trao đổi về vấn đề hợp tác cùng phát triển, sớm khởi động khảo sát chung ở khu vực này”.
Cuộc đàm phán này đã diễn ra từ vài năm, Việt Nam và Trung Quốc đang “từng bước thu hẹp khác biệt”, lãnh đạo hai bên “nhất trí đẩy nhanh tiến trình đàm phán” và đẩy nhanh việc khởi động khảo sát chung.
Nhưng đến nay phạm vi chính xác của vùng đàm phán hay khảo sát chung, những đòi hỏi và lập luận mà hai bên đưa ra, cũng như những thoả thuận đã đạt được vẫn chưa được công bố.
Cuộc đàm phán này có ý nghĩa rất quan trọng đối với Việt Nam. Kết quả của nó sẽ ảnh hưởng đến ranh giới biển của Việt Nam ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và bên ngoài vùng biển này. Đặc biệt, nó có thể ảnh hưởng tới chủ quyền đối với Hoàng Sa.
Nhưng đây là cuộc đàm phán rất phức tạp và Việt Nam phải đối diện rất nhiều thử thách. Trước hết vì nó liên quan đến Hoàng Sa, nhưng những thử thách đó cũng xuất phát từ những khu vực ngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa.
Yếu tố Hoàng Sa
Trong tầm ảnh hưởng có thể của Hoàng Sa, Việt Nam và Trung Quốc sẽ dựa vào Hoàng Sa để đòi hỏi những vùng nội thuỷ, lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế cho Hoàng Sa.
Trên thực tế, năm 1996 Trung Quốc tuyên bố đường cơ sở thẳng xung quanh Hoàng Sa, đòi hỏi một vùng nội thuỷ diện tích 17.400 km² bên trong và một vùng lãnh hải 12 hải lý bên ngoài đường cơ sở đó.
Nhưng đường cơ sở này vi phạm UNCLOS. Trung Quốc cũng có thể sẽ đòi hỏi vùng đặc quyền kinh tế rộng hơn những vùng này và lấn sang phía bên Việt Nam của đường trung tuyến.
Nếu Việt Nam chấp nhận những đòi hỏi này thì có nghĩa là Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với Hoàng Sa và vùng đặc quyền kinh tế mà Việt Nam được hưởng sẽ bị thu hẹp.
Ngược lại, Việt Nam có thể dựa trên chủ quyền đối với Hoàng Sa để đòi hỏi những vùng biển bên kia đường trung tuyến. Tuy nhiên, Trung Quốc, với lợi thế là nước mạnh và đang chiếm đóng Hoàng Sa (dù sự chiếm đóng đó bất hợp pháp theo luật quốc tế), sẽ khó mà chấp nhận những yêu sách đó của Việt Nam.
Như vậy, Việt Nam khó đạt được công bằng trong đàm phán về vùng biển trong tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa cho đến khi nào vấn đề chủ quyền Hoàng Sa được giải quyết một cách công bằng, ví dụ như thông qua Toà án Công lý Quốc tế.
Bên ngoài Hoàng Sa
Bên ngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa, Trung Quốc cũng tranh chấp ngay cả những vùng biển rõ ràng thuộc về Việt Nam.
Năm 2004 Trung Quốc kéo giàn khoan dầu Kantan 3 tới hoạt động tại khu vực có toạ độ 17°26'42" Bắc, 108°19'05" Đông, cách Việt Nam 63 hải lý và cách Trung Quốc 67 hải lý , cách các đảo gần nhất thuộc quần đảo Hoàng Sa 205 hải lý, tức là ngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa.
Bộ Ngoại giao Việt Nam đã phản đối với lý do “Căn cứ vào luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982, khu vực này hoàn toàn thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam” .
Đáp lại, Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố là khu vực này nằm bên Trung Quốc của vùng biển ngoài của Vịnh Bắc Bộ, do đó Trung Quốc cho rằng sự phản đối của Việt Nam không có cơ sở và không thể chấp nhận được .
Cho tới nay Công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc đã công bố một số lô dầu khí lấn sang bên Việt Nam của đường trung tuyến. Trong những lô dầu khí này, vùng LD29-1 nằm hoàn toàn bên Việt Nam và phân nửa vùng LD20-1 nằm bên Việt Nam của đường trung tuyến.
Theo bản đồ năm 2002 của Công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc thì hai vùng dầu khí này đang được triển khai. Vùng lấn sang bên Việt Nam nằm ngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa, cách bờ biển đất liền của Việt Nam và đảo Hải Nam của Trung Quốc dưới 75 hải lý, cách các đảo gần nhất thuộc quần đảo Hoàng Sa từ 160 hải lý tới 215 hải lý.
Vẫn tồn tại nhiều thử thách để Việt Nam đạt được sự công bằng trong việc phân định chủ quyền và hợp tác với Trung Quốc trong vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ
Việc Trung Quốc thừa nhận chủ quyền đối với một khu vực dù cách Việt Nam 63 hải lý, cách Trung Quốc 67 hải lý, bên ngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa, và đối với những khu vực tương tự, nói lên phần nào thử thách mà Việt Nam phải đối diện trong đàm phán.
Trong vùng biển ngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa, Việt Nam phải vượt qua những thử thách này để đạt được một hiệp định ranh giới biển công bằng. Một hiệp ranh giới biển công bằng rất cần thiết cho việc bảo vệ chủ quyền trước những trường hợp xâm lấn như trên.
Những điều trên cho thấy, đằng sau tuyên bố chung của Việt Nam và Trung Quốc, vẫn tồn tại nhiều thử thách để Việt Nam đạt được sự công bằng trong việc phân định chủ quyền và hợp tác với Trung Quốc trong vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ.
Hơn lúc nào hết, chúng ta cần quan tâm về cuộc đàm phán phân định và trao đổi hợp tác ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, cần tìm hiểu thêm về sự công bằng cho đất nước và để biết rõ về những thử thách đang đối diện để đạt được sự công bằng ấy.
Ý chí, kiến thức của mỗi người sẽ làm nên sức mạnh từ toàn dân và điều này sẽ giúp Việt Nam đối phó với những thử thách nhằm bảo toàn chủ quyền của đất nước mà tiền nhân đã để lại.
Bài viết thể hiện quan điểm của hai tác giả: Dương Danh Huy từ Anh và Lê Minh Phiếu từ Pháp. Tài liệu tham khảo xem trong các đường dẫn ở bên phải trang
Dương Danh Huy và Lê Minh Phiếu
Quỹ Nghiên cứu Biển Đông - www.seasfoundation.org
Việt Nam và Trung Quốc hiện nay đang đàm phán phân định chủ quyền đoạn từ Quảng Bình, Quảng Trị đến Huế, Đà Nẵng.
Tuyên bố chung của Thủ tướng hai nước ngày 25/10/2008 nói, “Hai bên tiếp tục thúc đẩy một cách vững chắc đàm phán phân định khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và tích cực trao đổi về vấn đề hợp tác cùng phát triển, sớm khởi động khảo sát chung ở khu vực này”.
Cuộc đàm phán này đã diễn ra từ vài năm, Việt Nam và Trung Quốc đang “từng bước thu hẹp khác biệt”, lãnh đạo hai bên “nhất trí đẩy nhanh tiến trình đàm phán” và đẩy nhanh việc khởi động khảo sát chung.
Nhưng đến nay phạm vi chính xác của vùng đàm phán hay khảo sát chung, những đòi hỏi và lập luận mà hai bên đưa ra, cũng như những thoả thuận đã đạt được vẫn chưa được công bố.
Cuộc đàm phán này có ý nghĩa rất quan trọng đối với Việt Nam. Kết quả của nó sẽ ảnh hưởng đến ranh giới biển của Việt Nam ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và bên ngoài vùng biển này. Đặc biệt, nó có thể ảnh hưởng tới chủ quyền đối với Hoàng Sa.
Nhưng đây là cuộc đàm phán rất phức tạp và Việt Nam phải đối diện rất nhiều thử thách. Trước hết vì nó liên quan đến Hoàng Sa, nhưng những thử thách đó cũng xuất phát từ những khu vực ngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa.
Yếu tố Hoàng Sa
Trong tầm ảnh hưởng có thể của Hoàng Sa, Việt Nam và Trung Quốc sẽ dựa vào Hoàng Sa để đòi hỏi những vùng nội thuỷ, lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế cho Hoàng Sa.
Trên thực tế, năm 1996 Trung Quốc tuyên bố đường cơ sở thẳng xung quanh Hoàng Sa, đòi hỏi một vùng nội thuỷ diện tích 17.400 km² bên trong và một vùng lãnh hải 12 hải lý bên ngoài đường cơ sở đó.
Nhưng đường cơ sở này vi phạm UNCLOS. Trung Quốc cũng có thể sẽ đòi hỏi vùng đặc quyền kinh tế rộng hơn những vùng này và lấn sang phía bên Việt Nam của đường trung tuyến.
Nếu Việt Nam chấp nhận những đòi hỏi này thì có nghĩa là Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với Hoàng Sa và vùng đặc quyền kinh tế mà Việt Nam được hưởng sẽ bị thu hẹp.
Ngược lại, Việt Nam có thể dựa trên chủ quyền đối với Hoàng Sa để đòi hỏi những vùng biển bên kia đường trung tuyến. Tuy nhiên, Trung Quốc, với lợi thế là nước mạnh và đang chiếm đóng Hoàng Sa (dù sự chiếm đóng đó bất hợp pháp theo luật quốc tế), sẽ khó mà chấp nhận những yêu sách đó của Việt Nam.
Như vậy, Việt Nam khó đạt được công bằng trong đàm phán về vùng biển trong tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa cho đến khi nào vấn đề chủ quyền Hoàng Sa được giải quyết một cách công bằng, ví dụ như thông qua Toà án Công lý Quốc tế.
Bên ngoài Hoàng Sa
Bên ngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa, Trung Quốc cũng tranh chấp ngay cả những vùng biển rõ ràng thuộc về Việt Nam.
Năm 2004 Trung Quốc kéo giàn khoan dầu Kantan 3 tới hoạt động tại khu vực có toạ độ 17°26'42" Bắc, 108°19'05" Đông, cách Việt Nam 63 hải lý và cách Trung Quốc 67 hải lý , cách các đảo gần nhất thuộc quần đảo Hoàng Sa 205 hải lý, tức là ngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa.
Bộ Ngoại giao Việt Nam đã phản đối với lý do “Căn cứ vào luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982, khu vực này hoàn toàn thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam” .
Đáp lại, Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố là khu vực này nằm bên Trung Quốc của vùng biển ngoài của Vịnh Bắc Bộ, do đó Trung Quốc cho rằng sự phản đối của Việt Nam không có cơ sở và không thể chấp nhận được .
Cho tới nay Công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc đã công bố một số lô dầu khí lấn sang bên Việt Nam của đường trung tuyến. Trong những lô dầu khí này, vùng LD29-1 nằm hoàn toàn bên Việt Nam và phân nửa vùng LD20-1 nằm bên Việt Nam của đường trung tuyến.
Theo bản đồ năm 2002 của Công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc thì hai vùng dầu khí này đang được triển khai. Vùng lấn sang bên Việt Nam nằm ngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa, cách bờ biển đất liền của Việt Nam và đảo Hải Nam của Trung Quốc dưới 75 hải lý, cách các đảo gần nhất thuộc quần đảo Hoàng Sa từ 160 hải lý tới 215 hải lý.
Vẫn tồn tại nhiều thử thách để Việt Nam đạt được sự công bằng trong việc phân định chủ quyền và hợp tác với Trung Quốc trong vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ
Việc Trung Quốc thừa nhận chủ quyền đối với một khu vực dù cách Việt Nam 63 hải lý, cách Trung Quốc 67 hải lý, bên ngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa, và đối với những khu vực tương tự, nói lên phần nào thử thách mà Việt Nam phải đối diện trong đàm phán.
Trong vùng biển ngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa, Việt Nam phải vượt qua những thử thách này để đạt được một hiệp định ranh giới biển công bằng. Một hiệp ranh giới biển công bằng rất cần thiết cho việc bảo vệ chủ quyền trước những trường hợp xâm lấn như trên.
Những điều trên cho thấy, đằng sau tuyên bố chung của Việt Nam và Trung Quốc, vẫn tồn tại nhiều thử thách để Việt Nam đạt được sự công bằng trong việc phân định chủ quyền và hợp tác với Trung Quốc trong vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ.
Hơn lúc nào hết, chúng ta cần quan tâm về cuộc đàm phán phân định và trao đổi hợp tác ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, cần tìm hiểu thêm về sự công bằng cho đất nước và để biết rõ về những thử thách đang đối diện để đạt được sự công bằng ấy.
Ý chí, kiến thức của mỗi người sẽ làm nên sức mạnh từ toàn dân và điều này sẽ giúp Việt Nam đối phó với những thử thách nhằm bảo toàn chủ quyền của đất nước mà tiền nhân đã để lại.
Bài viết thể hiện quan điểm của hai tác giả: Dương Danh Huy từ Anh và Lê Minh Phiếu từ Pháp. Tài liệu tham khảo xem trong các đường dẫn ở bên phải trang
Tự Chọn, Tự Chịu
VI ANH . Việt Báo Thứ Sáu, 11/21/2008, 5:18:00 PM
Tin AFP, ngày 13 - 11- 2008, Quốc Hội VNCS đã thông qua tu chính án cho luật quốc tịch VN. Vẫn giữ nguyên tắc một quốc tịch lâu nay của Hà Nội. Nhưng lần đầu tiên chấp nhận một ngoại lệ cho phép một số trường hợp được có song tịch. Có hiệu lực kể từ 1-7- 2009. Thời hạn có thể gởi đơn xin giữ quốc tịch Việt Nam là 5 năm. Đối tượng cụ thể không ai khác là những người Việt rời khỏi nước đi tỵ nạn CS sau năm 1975 và đàn hậu duệ. Luật mới không đương nhiên lùa vào, mà đương sự phải làm đơn giữ quốc tịch Việt Nam. Và luật không phủ nhận quốc tịch mới mà đương sự đã nhập nơi quốc gia định cư. Luật tu chỉnh tỏ ra mềm dẻo hơn, dành cho đối tượng đương sự quyền tự do chọn lựa, chớ không khiên cưỡng lùa "Việt Kiều" vào quốc tịch VN theo nguyên tắc huyết pháp lâu nay của CS Hà nội. Hệ luận: người nào đã nhập tịch và có quốc tịch mới ở quốc gia định cư như Mỹ, Gia nã đại, Anh, Pháp, Úc, v.v. mà tự chọn xin giữ quốc tịch VNCS theo luật mới này thì sẽ tự chịu những ràng buộc của cả rừng luật VNCS với kiểu thi hành theo luật rừng của cán bộ đảng viên CS, thì không than trách ai, vào đâu được.
Tán vào có Chủ nhiệm Câu lạc bộ Doanh nghiệp Việt Kiều ở TP. HCM, Ô Nguyễn Ngọc My - cố nhiên - : hồ hởi, phấn khởi", "Bà con ở nước ngoài muốn có hai quốc tịch hay không, đó là quyền tự do mỗi người. Nhưng họ được quyền đó, và đấy là việc đáng mừng."
Theo AFP trích lời một giới chức Bộ Tư pháp Việt Nam nói rằng, luật mới không có nghĩa là Nhà nước Việt Nam khuyến khích việc giữ hai quốc tịch, nhưng chỉ là công nhận một thực tế, bởi vì theo ông, ''tình hình hiện nay không còn phù hợp với chính sách mở cửa và hội nhập của Việt Nam ''.
Cỗ võ có Thông Tấn Xã Việt Nam cho biết nguyên tắc một quốc tịch cứng ngắc của Việt Nam lâu nay không còn phù hợp với thực tiễn cuộc sống từ đó dẫn đến nhiều vi phạm.Theo chính phủ, luật mới nhằm đáp ứng nguyện vọng của một bộ phận người Việt Nam dù đã nhập quốc tịch nước ngoài nhưng vẫn muốn giữ quốc tịch Việt Nam hoặc những người về đầu tư, sinh sống trong nước muốn trở lại quốc tịch Việt Nam, nhưng vẫn không bỏ quốc tịch nước ngoài, để không bị mất những quyền lợi về mặt xã hội, chẳng hạn như tiền hưu bổng."
Bình tâm phân tích, tìm hiểu ý của nhà lập pháp, Hãng tin độc lập AFP của Pháp dẫn lời Ô. Dương Trung Quốc, một đại biểu nhân dân (dân biểu) của Quốc Hội vừa thông qua tu chánh án ấy nói: ''Trên nguyên tắc, một khi trở lại quốc tịch Việt Nam, những người có hộ chiếu Việt Nam (passport) sẽ có quyền bầu cử, có thể sẽ bị kêu nghĩa vụ quân sự và được phép đứng tên mua nhà như những công dân Việt Nam khác."
Nhưng Luật sư Tạ văn Tài là giáo sư về chính trị học trước 1975 tại Học Viện Quốc Gia Hành Chánh và các trường đại học khác ở Miền Nam như Đại Học Cần Thơ, qua Mỹ tiếp tục dạy đại học, trình bày trên đài RFA: đại ý luật mới hại nhiều hơn lợi cho người Việt hải ngoại. Về quyền lợi chánh trị là ứng cử, thì dù có quốc tịch Việt đi nữa, mà Đảng không cử , Mặt Trận Tổ Quốc không giới thiệu, cơ quan hay tổ dân phố không "bình nghị" [danh từ VNCH lâu quá ít nghe ai nói mà Gs Tạ văn Tài còn nhớ và sử dụng -- rất đáng khen; từ CS hiện giờ là] không "hiệp thương", thì cũng bị bác bỏ, không đượïc ứng cử. Điễn hình như ông Nguyễn Đăng Hưng, Việt Kiều về nước biết bao nhiêu năm rồi đó chứ nhưng mà rốt cuộc ra cũng bị bác bỏ. Về quân dịch, Gs Tạ văn Tài cho là không thể bắt "thi hành nghĩa vụ quân sự" đối với con cái của người xin quốc tịch VN, đã sanh ngoài VN. Cha mẹ có quốc tịch Mỹ và xin giữ quốc tịch Việt thì luật VN chỉ chi phối cha me; con đến 18 tuổi có quyền chọn lựa quốc tịch của mình. Về hình và hộ sự, việc có hai quốc tịch không cần thiết, xin giữ quốc tịch Việt vô bỗ. Quốc tịch Việt hay Mỹ mà vào VN, phạm luật hình, kể cả những lừa đảo về dân sự thì cũng bị toà án CS kết tội, công an CS "làm việc" như thường.
Trái lại việc xin giữ quốc tịch VN và quốc tịch mới sẽ phát sanh nhiều rắc rối pháp luật do tương tranh giữa hai quốc tịch. Rắc rối tuy nhỏ nhưng rất lôi thôi phiền toái dai dẳng. Về thuế khoá phải chứng minh nếu không có thể phải đóng hai nơi, nếu chưa có hiệp ước giữa Hà nội và nước định nh cư. Về hôn thú, ly di, qui chế tài sản chung, và riêng của hai người hôn phối vô cùng phức tạp. Chẳng hạn "Bây giờ bên Mỹ hai người bất đồng ý kiến nhau là ly dị liền, tha hồ bỏ nhau, nhưng bên Việt Nam thì luật gia đình Việt Nam chặt chẽ hơn, họ tôn trọng cơ chế gia đình hơn nên quá trình ly dị diễn ra không dễ dàng như bên Mỹ."
Nhưng Gs Tạ văn Tài nhận định kỳ này CS Hà nội "khôn hơn nhiều so với ngày xưa!" Không cái kiểu mời Việt Kiều về nước mà coi như đương nhiên còn quốc tịch VN, thì ai đâu có thì giờ dư và tiền phí để làm thủ tục xin vào quốc tịch VN. Bây giờ họ "khôn hơn" nói Việt Kiều vẫn còn giữ quốc tịch mới đã nhập tịch nơi quốc gia định cư và vẫn có thể xin giữ quốc tịch Việt và có quyền có hai quốc tịch, miển làm đơn xin trong thời hạn 5 năm. CS Hà nội không khiên cưỡng, áp chế đương nhiên lùa vào để luật VNCS chi phối như khi trước, xúc phạm người Việt hải ngoại.
Sau cùng, vấn đề còn lại là chuyện của người Việt tỵ nạn CS đã nhập quốc tịch của quốc gia định cư. Luật quốc tịch sửa đổi của CS Hà nội dành cho người Việt tỵ nạn quyền tự chọn lựa, xin giữ quốc tịch VN hay không, chớ không lùa vào rọ như luật cũ hễ sanh ra từ cha mẹ VN là đương nhiên theo quốc tịch VN. Có quyền lợi như mua nhà, kinh doanh ở VN mà vẫn tiếp tục giữ quốc tịch ngoại quốc. Nhưng cũng phải có nghĩa vụ tuân hành mọi luật lệ của CS Hà nội, và có thể gặp nhiều trường hợp tranh chấp pháp lý giữa hai nước. Phàm ở đời có quyền tư do chọn lựa và quyết định thì cũng có trách nhiệm chịu những hậu quả về quyết định của mình.
Đặc biệt đối với Mỹ, chánh quyền Mỹ không quan tâm đối với người Mỹ gốc Việt đi hay ở Mỹ. Cứ cầm passport lên phi trưòng là đi túy ý. Mỹ không cầm cộng. Ở thì hưởng quyền lợi và làm nghĩa vụ công dân Mỹ. Nhứt là người Mỹ gốc Việt lớn tuổi đa số nghèo, không đóng thuế mà được trợ cấp gia cư, phúc lợi y tế, tiền mặt để sống suốt đời. Đi VN ở luôn, xin lại quốc tịch VN thì mất quyền lợi ở Mỹ; thế thôi. Trừ những người dính líu kinh tế chánh trị với CS Hà nội thì không biết thích hay không thích xin giữ quốc tịch VN. Chớ nếu xét số người Việt đang xếp hàng chờ hàng chục năm để được Mỹ xét cho đoàn tụ gia đình ở Mỹ và số người ở Mỹ mong mỏi được vào quốc tịch Mỹ rất đông. Số người này rất đông, chắc chắn đông hơn số người muốân xin giữ Việt tịch vì lý do dính líu kinh tế và chánh trị với chế độ CS Hà nội.
VI ANH
VI ANH . Việt Báo Thứ Sáu, 11/21/2008, 5:18:00 PM
Tin AFP, ngày 13 - 11- 2008, Quốc Hội VNCS đã thông qua tu chính án cho luật quốc tịch VN. Vẫn giữ nguyên tắc một quốc tịch lâu nay của Hà Nội. Nhưng lần đầu tiên chấp nhận một ngoại lệ cho phép một số trường hợp được có song tịch. Có hiệu lực kể từ 1-7- 2009. Thời hạn có thể gởi đơn xin giữ quốc tịch Việt Nam là 5 năm. Đối tượng cụ thể không ai khác là những người Việt rời khỏi nước đi tỵ nạn CS sau năm 1975 và đàn hậu duệ. Luật mới không đương nhiên lùa vào, mà đương sự phải làm đơn giữ quốc tịch Việt Nam. Và luật không phủ nhận quốc tịch mới mà đương sự đã nhập nơi quốc gia định cư. Luật tu chỉnh tỏ ra mềm dẻo hơn, dành cho đối tượng đương sự quyền tự do chọn lựa, chớ không khiên cưỡng lùa "Việt Kiều" vào quốc tịch VN theo nguyên tắc huyết pháp lâu nay của CS Hà nội. Hệ luận: người nào đã nhập tịch và có quốc tịch mới ở quốc gia định cư như Mỹ, Gia nã đại, Anh, Pháp, Úc, v.v. mà tự chọn xin giữ quốc tịch VNCS theo luật mới này thì sẽ tự chịu những ràng buộc của cả rừng luật VNCS với kiểu thi hành theo luật rừng của cán bộ đảng viên CS, thì không than trách ai, vào đâu được.
Tán vào có Chủ nhiệm Câu lạc bộ Doanh nghiệp Việt Kiều ở TP. HCM, Ô Nguyễn Ngọc My - cố nhiên - : hồ hởi, phấn khởi", "Bà con ở nước ngoài muốn có hai quốc tịch hay không, đó là quyền tự do mỗi người. Nhưng họ được quyền đó, và đấy là việc đáng mừng."
Theo AFP trích lời một giới chức Bộ Tư pháp Việt Nam nói rằng, luật mới không có nghĩa là Nhà nước Việt Nam khuyến khích việc giữ hai quốc tịch, nhưng chỉ là công nhận một thực tế, bởi vì theo ông, ''tình hình hiện nay không còn phù hợp với chính sách mở cửa và hội nhập của Việt Nam ''.
Cỗ võ có Thông Tấn Xã Việt Nam cho biết nguyên tắc một quốc tịch cứng ngắc của Việt Nam lâu nay không còn phù hợp với thực tiễn cuộc sống từ đó dẫn đến nhiều vi phạm.Theo chính phủ, luật mới nhằm đáp ứng nguyện vọng của một bộ phận người Việt Nam dù đã nhập quốc tịch nước ngoài nhưng vẫn muốn giữ quốc tịch Việt Nam hoặc những người về đầu tư, sinh sống trong nước muốn trở lại quốc tịch Việt Nam, nhưng vẫn không bỏ quốc tịch nước ngoài, để không bị mất những quyền lợi về mặt xã hội, chẳng hạn như tiền hưu bổng."
Bình tâm phân tích, tìm hiểu ý của nhà lập pháp, Hãng tin độc lập AFP của Pháp dẫn lời Ô. Dương Trung Quốc, một đại biểu nhân dân (dân biểu) của Quốc Hội vừa thông qua tu chánh án ấy nói: ''Trên nguyên tắc, một khi trở lại quốc tịch Việt Nam, những người có hộ chiếu Việt Nam (passport) sẽ có quyền bầu cử, có thể sẽ bị kêu nghĩa vụ quân sự và được phép đứng tên mua nhà như những công dân Việt Nam khác."
Nhưng Luật sư Tạ văn Tài là giáo sư về chính trị học trước 1975 tại Học Viện Quốc Gia Hành Chánh và các trường đại học khác ở Miền Nam như Đại Học Cần Thơ, qua Mỹ tiếp tục dạy đại học, trình bày trên đài RFA: đại ý luật mới hại nhiều hơn lợi cho người Việt hải ngoại. Về quyền lợi chánh trị là ứng cử, thì dù có quốc tịch Việt đi nữa, mà Đảng không cử , Mặt Trận Tổ Quốc không giới thiệu, cơ quan hay tổ dân phố không "bình nghị" [danh từ VNCH lâu quá ít nghe ai nói mà Gs Tạ văn Tài còn nhớ và sử dụng -- rất đáng khen; từ CS hiện giờ là] không "hiệp thương", thì cũng bị bác bỏ, không đượïc ứng cử. Điễn hình như ông Nguyễn Đăng Hưng, Việt Kiều về nước biết bao nhiêu năm rồi đó chứ nhưng mà rốt cuộc ra cũng bị bác bỏ. Về quân dịch, Gs Tạ văn Tài cho là không thể bắt "thi hành nghĩa vụ quân sự" đối với con cái của người xin quốc tịch VN, đã sanh ngoài VN. Cha mẹ có quốc tịch Mỹ và xin giữ quốc tịch Việt thì luật VN chỉ chi phối cha me; con đến 18 tuổi có quyền chọn lựa quốc tịch của mình. Về hình và hộ sự, việc có hai quốc tịch không cần thiết, xin giữ quốc tịch Việt vô bỗ. Quốc tịch Việt hay Mỹ mà vào VN, phạm luật hình, kể cả những lừa đảo về dân sự thì cũng bị toà án CS kết tội, công an CS "làm việc" như thường.
Trái lại việc xin giữ quốc tịch VN và quốc tịch mới sẽ phát sanh nhiều rắc rối pháp luật do tương tranh giữa hai quốc tịch. Rắc rối tuy nhỏ nhưng rất lôi thôi phiền toái dai dẳng. Về thuế khoá phải chứng minh nếu không có thể phải đóng hai nơi, nếu chưa có hiệp ước giữa Hà nội và nước định nh cư. Về hôn thú, ly di, qui chế tài sản chung, và riêng của hai người hôn phối vô cùng phức tạp. Chẳng hạn "Bây giờ bên Mỹ hai người bất đồng ý kiến nhau là ly dị liền, tha hồ bỏ nhau, nhưng bên Việt Nam thì luật gia đình Việt Nam chặt chẽ hơn, họ tôn trọng cơ chế gia đình hơn nên quá trình ly dị diễn ra không dễ dàng như bên Mỹ."
Nhưng Gs Tạ văn Tài nhận định kỳ này CS Hà nội "khôn hơn nhiều so với ngày xưa!" Không cái kiểu mời Việt Kiều về nước mà coi như đương nhiên còn quốc tịch VN, thì ai đâu có thì giờ dư và tiền phí để làm thủ tục xin vào quốc tịch VN. Bây giờ họ "khôn hơn" nói Việt Kiều vẫn còn giữ quốc tịch mới đã nhập tịch nơi quốc gia định cư và vẫn có thể xin giữ quốc tịch Việt và có quyền có hai quốc tịch, miển làm đơn xin trong thời hạn 5 năm. CS Hà nội không khiên cưỡng, áp chế đương nhiên lùa vào để luật VNCS chi phối như khi trước, xúc phạm người Việt hải ngoại.
Sau cùng, vấn đề còn lại là chuyện của người Việt tỵ nạn CS đã nhập quốc tịch của quốc gia định cư. Luật quốc tịch sửa đổi của CS Hà nội dành cho người Việt tỵ nạn quyền tự chọn lựa, xin giữ quốc tịch VN hay không, chớ không lùa vào rọ như luật cũ hễ sanh ra từ cha mẹ VN là đương nhiên theo quốc tịch VN. Có quyền lợi như mua nhà, kinh doanh ở VN mà vẫn tiếp tục giữ quốc tịch ngoại quốc. Nhưng cũng phải có nghĩa vụ tuân hành mọi luật lệ của CS Hà nội, và có thể gặp nhiều trường hợp tranh chấp pháp lý giữa hai nước. Phàm ở đời có quyền tư do chọn lựa và quyết định thì cũng có trách nhiệm chịu những hậu quả về quyết định của mình.
Đặc biệt đối với Mỹ, chánh quyền Mỹ không quan tâm đối với người Mỹ gốc Việt đi hay ở Mỹ. Cứ cầm passport lên phi trưòng là đi túy ý. Mỹ không cầm cộng. Ở thì hưởng quyền lợi và làm nghĩa vụ công dân Mỹ. Nhứt là người Mỹ gốc Việt lớn tuổi đa số nghèo, không đóng thuế mà được trợ cấp gia cư, phúc lợi y tế, tiền mặt để sống suốt đời. Đi VN ở luôn, xin lại quốc tịch VN thì mất quyền lợi ở Mỹ; thế thôi. Trừ những người dính líu kinh tế chánh trị với CS Hà nội thì không biết thích hay không thích xin giữ quốc tịch VN. Chớ nếu xét số người Việt đang xếp hàng chờ hàng chục năm để được Mỹ xét cho đoàn tụ gia đình ở Mỹ và số người ở Mỹ mong mỏi được vào quốc tịch Mỹ rất đông. Số người này rất đông, chắc chắn đông hơn số người muốân xin giữ Việt tịch vì lý do dính líu kinh tế và chánh trị với chế độ CS Hà nội.
VI ANH
Obama: Vị hoàng tử bước ra từ thế giới tưởng tượng?

Barack Obama - Vị hoàng tử bước ra từ thế giới tưởng tượng (Ảnh: Time)
Một số hoàng tử được sinh ra trong cung điện. Số khác sinh ra trong nghèo khổ. Nhưng hiếm hoi có người được sinh ra trong trí tưởng tượng, bên ngoài những va chạm của lịch sử và hy vọng. Barack Obama chưa từng bàn luận về cách mà mọi người kỳ vọng ở ông. Bất cứ cơ hội nào nói về chủ đề này, chỉ là một câu lặp lại: “Tôi không phải là người tạo ra lịch sử. Mà là bạn”.
Thực tế, khi ông nhìn ra quang cảnh bên ngoài vào buổi tối cuộc bầu cử lịch sử 4.11, qua tấm kính chống đạn, trong một công viên được đặt tên của vị tướng thời Nội chiến tại Mỹ, ông đã nhìn thấy sự thật trên gương mặt của người dân Mỹ.
“Chúng ta là những người mà chúng ta mong đợi, ông thường nói. Nhưng mọi người đang mong đợi ông, mong đợi một người có thể kết thúc điều mà King (tên của mục sư da đen Martin Luther King - người đấu tranh cho quyền bình đẳng của người da đen ở Mỹ với câu nói bất hủ “I have a dream”. King cũng đồng thời có nghĩa một ông vua - PV) đã bắt đầu.
“Nếu có bất cứ ai ngoài kia vẫn còn hoài nghi về việc liệu nước Mỹ có là mảnh đất nơi mọi điều đều có thể xảy ra”, vị tân Tổng thống Mỹ nói. “Những ai vẫn còn băn khoăn liệu giấc mơ của những người đã sáng lập ra nước Mỹ có còn tồn tại ở thời đại chúng ta, vẫn còn có những câu hỏi về quyền lực của nền dân chủ tại Mỹ. Đêm nay chính là câu trả lời cho các bạn”.

Ảnh hậu trường: Lau tấm kính chắn đạn, chuẩn bị cho lễ đăng quang tổng thống của Obama tại sân Grant Park (Ảnh: Time)
Obama không giành chiến thắng vì màu da của ông. Cũng không phải ông đã giành chiến thắng bất chấp màu da của mình. Ông đã chiến thắng bởi tại thời khắc nguy hiểm trong chặng hành trình của một đất nước còn trẻ lại có nhiều người cùng đoàn kết đến thế để cố gắng cứu vớt nó. Và đó là chiến thắng của tất cả mọi người.
Nhớ về ngày này, các bậc cha mẹ có thể kể cho con cháu mình về khoảng khắc họ đón chúng từ trường học để chúng được trực tiếp chứng kiến ứng viên người Mỹ gốc Phi đã tạo ra lịch sử. Một cuộc bầu cử tại một trong những nền dân chủ lâu đời nhất thế giới cũng giống như một cuộc bầu cử tương tự tại một quốc gia mới lập nền dân chủ, khi các công dân, già trẻ, gái trai đổ ra đường khiêu vũ, hò hét ăn mừng cho chiến thắng của người mà họ bầu chọn. Giống như dư vị của một cuộc cách mạng.
Viết lại cuốn sách
“Bà đã về nhà”, Obama nói với đám đông yên lặng tại Charlotte, N.C. đêm trước ngày bầu cử 4.11, về người bà đã nuôi ông lớn, đã góp phần tạo nên cá tính của ông, nhưng lại ra đi khi chưa kịp chứng kiến chiến thắng của người cháu. "Bà là một trong những người anh hùng thầm lặng trên khắp nước Mỹ”, ông nói, lần đầu tiên, nước mắt tràn trên khuôn mặt. "Họ không nổi tiếng. Tên tuổi của họ không xuất hiện trên báo chí, nhưng mỗi ngày và tất cả mọi ngày, họ đã làm việc chăm chỉ để cống hiến cho đất nước”.
Vào thời khắc của cơn nguy khốn nhãn tiền, nước Mỹ đã quyết định đặt vận mệnh của mình vào tay một người đàn ông được sinh ra bởi một người mẹ da trắng duy tâm và người cha là một sinh viên người Phi. Người đàn ông đã lớn lên trong nghèo khó, nhưng luôn nỗ lực hết sức để được nhận vào các trường tốt nhất, đã cố gắng để vươn lên từ thế giới chính trường khắc nghiệt ở Chicago tới Thượng viện Mỹ và giờ đây là Tòa Bạch Ốc.

Vào thời khắc nguy khốn, nước Mỹ đã
chọn Obama (Ảnh: Time)
Những thành công đó, nếu so với những gì mà các thành viên gia đình Bush, hay Kennedy thậm chí là Roosevelt hay Adam hoặc bất cứ hoàng tử Mỹ nào khác được sinh ra trong quyền lực đạt được, chính là sự tượng trưng cho hành trình cấp tiến như câu nói thúc giục giấc mơ cho những trẻ em Mỹ ngay từ nhà trẻ: “Bất cứ ai lớn lên cũng có thể trở thành Tổng thống”!
Một quốc gia cần đến những tổng thống vĩ đại trong những thời đại không quan trọng. Một quốc gia chỉ cần đến vị tổng thống đó, khi tương lai đang đe dọa khạc ra những con quái thú.
Chúng ta đã được nghe quá nhiều về những cử tri trẻ, lần đầu tiên bỏ phiếu, đã lựa chọn Obama mà dễ dàng quên đi những cử tri khác, những người chưa từng đi bỏ phiếu kể từ sau cuộc chiến của Mỹ tại Việt Nam. Những người chưa bao giờ nghĩ rằng họ có thể bỏ phiếu cho một người da đen, hay một người dân chủ.
Nhưng rất nhiều người Mỹ đang sống trong thập kỷ tồi tệ nhất của cuộc đời họ, và họ mắc phải vấn đề về kiểm soát cơn giận. Họ thấy một cuộc chiến tốn kém và vô nghĩa, một thành phố bị nuốt chửng, và giờ đây là một nền kinh tế ngập ngụa trong các khoản nợ nước ngoài và các vòng kìm kẹp. Tất cả tạo nên cơn bão hoàn hảo của các điềm xấu.
Nhưng thậm chí, ngay cả những người vĩ đại cũng hiếm khi giành chiến thắng trong cuộc dạo chơi này. Ronald Reagan không làm được điều đó. John Kennedy cũng không. Những người, với tầm nhìn rõ nhất, thường phải đấu tranh với những điều khó khăn nhất để người khác thấy được những điều họ làm.
Một đêm diễn thuyết tại Iowa (Ảnh: Time)
Nếu như một năm trước, đáp án cho câu hỏi “Ai trong số 2 ứng cử viên Đảng Dân chủ có thể thắng cử” là Hillary Clinton, thì ít lâu sau đó, Obama, từ một thượng nghị sĩ vô danh, đã lội ngược dòng, tạo nên sự hàn gắn trong những chia rẽ của Đảng Dân chủ. Ông đã xây một nhờ thờ mới, chạm được vào trái tim những cử tri đã mất đi sự tin tưởng ở chính phủ, hoặc chưa từng có sự tin tưởng vào ai. “Chúng ta cần phải bắt đầu lại”, ông thường nói, “cất giọng nhỏ nhẹ, cẩn trọng lắng nghe, tìm giải pháp và giữ lời”.
Vào một đêm mùa đông lạnh giá hồi tháng Giêng tại Iowa, trong một cuộc diễn thuyết, Obama đã thực sự khiến cử tri Mỹ tin vào một điều có thể. "Họ nói rằng ngày này sẽ không bao giờ đến. Họ nói rằng đất nước này đã bị chia rẽ, bị vỡ mộng không thể cùng sát cánh bên nhau, chung vai vì một mục đích. Nhưng vào đêm nay, tại thời khắc này của lịch sử - bạn đã làm được điều mà những người yếm thế nói rằng chúng ta không thể làm được”, Obama nói.
Ông đã giành được sự ủng hộ của cử tri nữ mà không có sự giúp đỡ của các hiệp hội phụ nữ. Ông đã nhận được phiếu ủng hộ của người da đen mà không viện đến lợi thế về mầu da. Và điều quan trọng nhất, Obama đã giành được “trái bóng vàng” của chính trị Mỹ: Những cử tri trẻ - những đối tượng không chỉ đem lại cho chiến dịch tranh cử của ông hơi thở thơi thới của hy vọng và nhiệt huyết, mà còn thổi luồng gió xuân đến cả những thế hệ già cả.
Hai người đàn ông, hai tầm nhìn

Ảnh hậu trường: "Sớm mai" - Obama nói chuyện với một nhân viên vào buổi sáng sớm trên đường đến Iowa (Nguồn: Time)
Trong bối cảnh nước Mỹ đang đối mặt với một nền kinh tế ốm yếu và một Tổng thống bị mất lòng tin, chính trị gia kỳ cựu McCain chỉ như con cừu tế thần của Đảng Cộng hoà. Trong lúc cuộc đua chưa kết thúc, tất cả chỉ là một sự lựa chọn. Đó không chỉ là trắng hay đen, đỏ hay xanh, già hay trẻ, dù có trọn vẹn một thế hệ ở giữa những điều đó.
Xuyên suốt cuộc hành trình, McCain và Obama đã mang những nhìn nhận rất khác biệt về sự thay đổi.
McCain nhìn nhận sự thay đổi như một thách thức, phép thử cho sự cứng rắn của ông. Obama lại cho đó là cơ hội, phép thử của tài linh hoạt. McCain cho rằng thay đổi là cải tổ hệ thống. Obama nói về nó như sự tái thiết từ nền tảng. McCain không dùng email. Và mỗi cơ hội có thể, ông lại hô hào những giá trị bất biến dù ở hoàn cảnh nào: Trách nhiệm, lòng tự trọng và quốc gia trên hết.
Đối lập với điều đó, Obama, rõ ràng, là người mang thuyết duy thực với con mắt tinh tường. Ông chính là trải nghiệm của những thay đổi - chuyển đổi những đất nước, các nền văn hoá và nghề nghiệp. Thậm chí cả tên của ông: Barry cũng trở thành Barack. “Bạn không thể ngăn cản thay đổi đến”, ông tranh luận. “Bạn chỉ có thể đánh dấu nó và tìm cách đi cùng nó. Nếu bạn thông minh kèm theo chút may mắn, bạn có thể biến nó thành người bạn của mình”.
Nếu sự lựa chọn đó vẫn chưa đủ rõ, McCain đã vẽ ra đường cách biệt sắc nét hơn. Việc lựa chọn Phó Tổng thống luôn hứa hẹn những phức tạp lớn đối với một phi công đơn độc từng bác bỏ ý tưởng về một bạn đồng hành ở mọi phương diện. Nhưng giờ đây, hiến pháp lại buộc ông phải chọn lựa một người cùng cánh. McCain, rõ ràng, không phải tuýp người muốn tìm ai đó để giúp ông điều hành đất nước. Nhưng, nếu tìm ai đó có thể giúp ông chiến thắng?
Sự lựa chọn đó, cuối cùng, là Sarah Palin - nữ Thống đốc xinh đẹp đến từ Alaska. Bà Palin tự gọi mình là gương mặt mới, người không thể chịu được “những anh chàng tốt nhưng cũ kỹ”. Nhưng Palin lại chọn cách chơi lại “những nốt nhạc” quá khứ: Một người mẹ của 5 đứa con đến từ một thị trấn miền biên, người cổ vũ cho những giá trị của một nước Mỹ đơn giản hơn, an toàn hơn trước một thị trường đa sắc, đa văn hoá, đầy thách thức tài chính và cạnh tranh toàn cầu mà Obama đang sống.
Sự góp mặt của bà Palin càng tô điểm thêm cho sự đối lập: Bà lớn tiếng tuyên bố “chúng ta hầu như không biết về Barack Obama” trước cả khi cởi bỏ áo khoác. Bà liên hồi cảnh báo rằng ông Obama không đủ phẩm chất để làm Tổng thống, thậm chí ngay cả khi chính những lãnh đạo trong Đảng Cộng hoà tự hỏi liệu bà đã sẵn sàng cho cương vị Phó Tổng thống? Bà hoan hỉ viếng thăm “nước Mỹ thực sự”, đến thăm “những khu vực ủng hộ nước Mỹ trong quốc gia rộng lớn này”.
Bà Palin không ngờ rằng chính các mũi dùi công kích đó lại là lời mời gọi để Obama đứng lên chứng tỏ tương lai mà nước Mỹ có thể vươn tới. “Không có bất cứ khu vực nào là nước Mỹ thực, hay giả mạo trên đất nước này”, Obama phản pháo. “Chúng ta là một quốc gia. Tất cả chúng ta đều tự hào về điều đó. Tất cả chúng ta đều là những người yêu nước”.
Vào giữa tháng 9, ứng cử viên McCain, với sự phụ tá của Palin, đã thu hẹp dần khoảng cách về giới từng là mối lo trong chiến dịch tranh cử của ông. Đây là tín hiệu vui đầu tiên trên suốt chặng đường dài tranh cử. McCain luôn nhấn mạnh rằng ông là người duy nhất đã được thử thách trong một cuộc khủng hoảng. Và điều đó đã mang lại kết quả, cho tới khi chính trị gia này được thử thách trong một cuộc khủng hoảng.
Cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ, nhẽ ra có thể chôn vùi chiến thắng của Obama, nhưng hoá ra lại chắp cho ông đôi cánh mới. Nó đã khiến cử tri đánh giá sát sao nhất về tiên liệu của ông trong thực tế. Nó đã trao cho Obama, trong suốt 3 tuần tranh cử cuối cùng và 3 cuộc tranh luận trực tiếp, một vũ đài để chứng tỏ tài năng của một nhà lãnh đạo, điều mà nếu trải qua hàng thập kỷ tranh cãi ở Thượng viện cũng không thể mang lại.

Ảnh hậu trường: Obama tĩnh lặng trong hành lang vắng trước khi lên diễn thuyết
(Ảnh: Time) Vào ngày ngân hàng Lehman Brothers chính thức công bố sụp đổ, ông McCain đang dẫn trước Obama 2 điểm. Kết quả trưng cầu ý kiến trên tờ Wall Street Journal hồi tháng 9 về ai là người có chính sách thuế tốt hơn, ông McCain đánh bại Obama với tỉ lệ 41% so với 37%. Ông McCain luôn hô hào về sự vững mạnh của nền kinh tế Mỹ, rằng ông “về cơ bản là người bãi bỏ quy định” vào thời điểm mà các quy định, cơ bản, đã trở nên chậm chạp.
Vào thời điểm McCain quyết định tạm ngừng chiến dịch tranh cử, trở lại Washington để tìm biện pháp giải cứu nền kinh tế toàn cầu đã bị đóng cửa bởi chính đảng Cộng hoà, vị chính trị gia này đã trao cho Obama một vũ khí lợi hại tương tự như bản thân cuộc khủng hoảng. Thời gian bỗng trở nên đáng sợ, và McCain bỗng chốc trở thành người “không đáng tin cậy”, “bốc đồng”, thiếu thận trọng. Ông đã rơi vào cái bẫy không thể thoát ra trong suốt nhiều tuần sau đó. Bất cứ nỗ lực nào để làm một điều gì đó gây chú ý, hay tạo sự khác biệt, chỉ càng làm cho cái hố thêm sâu.
Mỗi lần McCain thay đổi, như phe tranh cử của ông yêu cầu, sự xa cách của ông với cử tri càng lớn. Cứ 6/10 cử tri cho rằng McCain chỉ mất thời gian vào việc chỉ trích ông Obama, hơn là làm rõ vị trí và tầm nhìn về nền kinh tế.
Ba cuộc tranh luận trực tiếp giữa hai ứng cử viên đã diễn ra vào đúng tâm điểm cuộc khủng hoảng. Cử tri được quyền phán xét vị Tổng thống tương lai một cách trực diện nhất. Không còn những đám đông ủng hộ, không có người viết diễn văn đứng sau để cứu họ.
Cử tri, trước đó, được phe Cộng hoà nhồi nhét rằng Obama là một kẻ cấp tiến nguy hiểm, người bắt tay với khủng bố. Nhưng bằng thái độ mềm mỏng và nhạy cảm, Obama đã thuyết phục cử tri và làm giảm khoảng cách với McCain. Vào giữa tháng 10, chỉ có 1/3 cử tri cho rằng McCain có thể đưa nước Mỹ đến những thay đổi thực sự. Chiến dịch tranh cử của McCain không thể hồi phục lại sau đó.
Con đường phía trước

Barack Obama trở về nhà sau một cuộc vận động tranh cử (Ảnh: Time)
Lịch sử hiện đại là một câu chuyện cảnh báo về những Tổng thống mới mưu mẹo hơn và khuyến khích các nhà lập pháp lơ đễnh với quyền lực. Trong cuộc chạy đua bất thành vào Thượng viện Bắc Carolina, Elizabeth Dole đã từng đưa ra một quảng cáo mang tính dự đoán rằng “những kẻ tự do này muốn kiểm soát hoàn toàn chính phủ, vào thời gian có khủng hoảng. Kiểm soát toàn bộ mọi mắt xích của chính phủ. Không còn sự kiểm soát và cân bằng. Không còn thảo luận. Không còn tự do”. Nếu những người Dân chủ như đối thủ của bà giành chiến thắng, bà cảnh báo “họ sẽ nhận được một cuốn séc để trống”.
Sự rạn nứt đã bắt đầu từ trước các cuộc bỏ phiếu. Chủ tịch Uỷ ban Dịch vụ Tài chính Hạ viện Mỹ Barney Frank tuyên bố về việc cắt giảm ngân sách quân sự 25% và đánh thuế “rất nhiều những kẻ giàu có đang nhở nhơ bên ngoài”. Tổ chức ân xá quốc tế đưa ra thời hạn chót để đóng cửa nhà tù Gitmo, còn ACLU muốn xem lại danh sách những nghi phạm bị theo dõi trong vòng 100 ngày.
Obama sẽ đứng về bên nào? Phe tự do của Ted Kennedy già yếu mà ông tái tạo cảm hứng, phe bảo thủ Dân chủ Blue Dog mà ông đang bị ràng buộc, hay những người mới đến từ các quận màu tím hoặc thậm chí màu đỏ mà cuộc sống phụ thuộc vào các chương trình nghị sự ôn hoà?
Obama đã nói về sự cần thiết phải ấn định lại các quyền, nhưng nếu cố dò hỏi về cách thức, ông bất ngờ biến mất như bọt biển. Ông Obama cam kết chấm dứt cuộc chiến tại Iraq một cách đầy trách nhiệm, nhưng căng thẳng giữa việc chấm dứt hay đảm nhận trách nhiệm vẫn tiếp diễn. Ông bỏ phiếu cho kế hoạch 700 tỉ USD giải cứu tài chính phố Wall, nhưng có quá nhiều lời phàn nàn về kế hoạch này hơn là về khoản tiền có giá trị trong đó. Và thời hạn ba tháng từ nay cho đến lễ nhậm chức hoàn toàn không có sự khoan nhượng đối với một vị tổng thống mới.
Obama đã cảnh giác ở mọi góc độ, để không tự buộc mình vào quá nhiều chi tiết. Nhưng bản thân ông đã đưa ra rất nhiều lời cam kết. Thượng nghị sĩ Hillary Clinton không hề ảo tưởng về điều đang chờ đón phía trước. “Tôi nhớ rất rõ, ngay sau khi Bill (cựu Tổng thống Bill Clinton) thắng cử, chúng tôi đã phát hiện ra thâm hụt ngân sách lớn gấp 2 lần so với khoản được công bố”, bà tiết lộ trên tờ Time. "Nhìn vào chính quyền hiện nay, tôi nghĩ rằng chúng tôi sẽ thấy rất nhiều rắn đang trốn dưới những tảng đá, khi bắt đầu đi dồn chúng lại”, bà nói.
Obama có một đội ngũ nhân viên sẵn sàng cộng tác chặt chẽ với Bộ Ngân khố và Ngũ giác Đài trong trường hợp chiến thắng. Họ đã trình hàng loạt cái tên cho Cơ quan Điều tra Liên bang Mỹ, để chắc chắn họ không có vưóng mắc gì về an ninh trong thời gian sớm nhất. McCain đã chế giễu động thái này của Obama, nhưng, một mặt nào đó, sự chuẩn bị của vị tân Tổng thống cho tiến trình chuyển giao quyền lực đã phản ánh thực tế rằng, phần còn lại của thế giới sẽ không đợi đến lễ nhậm chức ngày 20.1 để biết xem ông nghĩ gì. Vào thời điểm như hiện nay, bất cứ điều gì tương tự không thể được xem là sự chuẩn bị thái quá.

Con đường phía trước còn dài (Ảnh: Time)
Cam kết của ông Obama về đoàn kết dân tộc sẽ chẳng có nghĩa gì, nếu ông chỉ làm những điều hiển nhiên dễ dàng. Ông sẽ phải tìm ra những người Cộng hoà thực sự để đưa vào trong danh sách nội các thực sự. Ông phải sử dụng quyền lực của mình theo cách có thể khiến cả hai đảng cùng mất lòng, để tạo sức nặng cho những từ ngữ mà chúng ta cần phải nghe, chứ không chỉ là những từ trên đầu lưỡi, như sự khổ hạnh, sự hy sinh, trách nhiệm đối với con cái.
Khoản nợ quốc gia đã vượt 10 nghìn tỉ USD vào tháng 9, và vào tháng tới, khoản nợ này sẽ tăng thêm 500 tỉ USD – cú lao nhanh nhất, xa nhất vào điểm đỏ tài chính trong hơn 50 năm qua. Liệu Obama có thể chấm dứt được tình trạng tiêu chuẩn kép giữa cách thức mà Washington làm việc và cách mà bất cứ nơi nào khác làm, những kẻ hở mà nó bảo vệ, những cảm giác chung mà nó chống lại?
“Chiến thắng này, nếu đơn độc, sẽ không phải là sự thay đổi chúng ta tìm kiếm”, ông Obama tuyên bố tối 4.11. “Đó chỉ là cơ hội cho chúng ta để tạo nên sự thay đổi. Và điều đó không xảy ra nếu chúng ta quay trở lại con đường cũ. Nó không thể xảy ra nếu thiếu các bạn”.
Nước Mỹ đã có những nhà lãnh đạo mà người dân cho là xứng đáng. Nếu chúng ta đưa họ lên, rồi quẳng họ xuống mà từ chối ủng hộ họ, thì không có Tổng thống nào, dù có khả năng hùng biện đến đâu, dù có những ý tưởng sâu sắc đến đâu về những việc cần làm, có thể đưa nước Mỹ đến nơi mà chúng ta từ chối đi tới. Hành trình này không chấm dứt vào ngày Bầu cử, đó là điều mà Obama đã nhắc đi, nhắc lại khi ông nói về khả năng những người bình thường làm nên những điều diệu kỳ. Vì thế, nước Mỹ, đơn thuần, đang ở giai đoạn cuối của sự bắt đầu.
Thúy Phương (dịch từ TIME Magazine)

Barack Obama - Vị hoàng tử bước ra từ thế giới tưởng tượng (Ảnh: Time)
Một số hoàng tử được sinh ra trong cung điện. Số khác sinh ra trong nghèo khổ. Nhưng hiếm hoi có người được sinh ra trong trí tưởng tượng, bên ngoài những va chạm của lịch sử và hy vọng. Barack Obama chưa từng bàn luận về cách mà mọi người kỳ vọng ở ông. Bất cứ cơ hội nào nói về chủ đề này, chỉ là một câu lặp lại: “Tôi không phải là người tạo ra lịch sử. Mà là bạn”.
Thực tế, khi ông nhìn ra quang cảnh bên ngoài vào buổi tối cuộc bầu cử lịch sử 4.11, qua tấm kính chống đạn, trong một công viên được đặt tên của vị tướng thời Nội chiến tại Mỹ, ông đã nhìn thấy sự thật trên gương mặt của người dân Mỹ.
“Chúng ta là những người mà chúng ta mong đợi, ông thường nói. Nhưng mọi người đang mong đợi ông, mong đợi một người có thể kết thúc điều mà King (tên của mục sư da đen Martin Luther King - người đấu tranh cho quyền bình đẳng của người da đen ở Mỹ với câu nói bất hủ “I have a dream”. King cũng đồng thời có nghĩa một ông vua - PV) đã bắt đầu.
“Nếu có bất cứ ai ngoài kia vẫn còn hoài nghi về việc liệu nước Mỹ có là mảnh đất nơi mọi điều đều có thể xảy ra”, vị tân Tổng thống Mỹ nói. “Những ai vẫn còn băn khoăn liệu giấc mơ của những người đã sáng lập ra nước Mỹ có còn tồn tại ở thời đại chúng ta, vẫn còn có những câu hỏi về quyền lực của nền dân chủ tại Mỹ. Đêm nay chính là câu trả lời cho các bạn”.

Ảnh hậu trường: Lau tấm kính chắn đạn, chuẩn bị cho lễ đăng quang tổng thống của Obama tại sân Grant Park (Ảnh: Time)
Obama không giành chiến thắng vì màu da của ông. Cũng không phải ông đã giành chiến thắng bất chấp màu da của mình. Ông đã chiến thắng bởi tại thời khắc nguy hiểm trong chặng hành trình của một đất nước còn trẻ lại có nhiều người cùng đoàn kết đến thế để cố gắng cứu vớt nó. Và đó là chiến thắng của tất cả mọi người.
Nhớ về ngày này, các bậc cha mẹ có thể kể cho con cháu mình về khoảng khắc họ đón chúng từ trường học để chúng được trực tiếp chứng kiến ứng viên người Mỹ gốc Phi đã tạo ra lịch sử. Một cuộc bầu cử tại một trong những nền dân chủ lâu đời nhất thế giới cũng giống như một cuộc bầu cử tương tự tại một quốc gia mới lập nền dân chủ, khi các công dân, già trẻ, gái trai đổ ra đường khiêu vũ, hò hét ăn mừng cho chiến thắng của người mà họ bầu chọn. Giống như dư vị của một cuộc cách mạng.
Viết lại cuốn sách
“Bà đã về nhà”, Obama nói với đám đông yên lặng tại Charlotte, N.C. đêm trước ngày bầu cử 4.11, về người bà đã nuôi ông lớn, đã góp phần tạo nên cá tính của ông, nhưng lại ra đi khi chưa kịp chứng kiến chiến thắng của người cháu. "Bà là một trong những người anh hùng thầm lặng trên khắp nước Mỹ”, ông nói, lần đầu tiên, nước mắt tràn trên khuôn mặt. "Họ không nổi tiếng. Tên tuổi của họ không xuất hiện trên báo chí, nhưng mỗi ngày và tất cả mọi ngày, họ đã làm việc chăm chỉ để cống hiến cho đất nước”.
Vào thời khắc của cơn nguy khốn nhãn tiền, nước Mỹ đã quyết định đặt vận mệnh của mình vào tay một người đàn ông được sinh ra bởi một người mẹ da trắng duy tâm và người cha là một sinh viên người Phi. Người đàn ông đã lớn lên trong nghèo khó, nhưng luôn nỗ lực hết sức để được nhận vào các trường tốt nhất, đã cố gắng để vươn lên từ thế giới chính trường khắc nghiệt ở Chicago tới Thượng viện Mỹ và giờ đây là Tòa Bạch Ốc.

Vào thời khắc nguy khốn, nước Mỹ đã
chọn Obama (Ảnh: Time)
Những thành công đó, nếu so với những gì mà các thành viên gia đình Bush, hay Kennedy thậm chí là Roosevelt hay Adam hoặc bất cứ hoàng tử Mỹ nào khác được sinh ra trong quyền lực đạt được, chính là sự tượng trưng cho hành trình cấp tiến như câu nói thúc giục giấc mơ cho những trẻ em Mỹ ngay từ nhà trẻ: “Bất cứ ai lớn lên cũng có thể trở thành Tổng thống”!
Một quốc gia cần đến những tổng thống vĩ đại trong những thời đại không quan trọng. Một quốc gia chỉ cần đến vị tổng thống đó, khi tương lai đang đe dọa khạc ra những con quái thú.
Chúng ta đã được nghe quá nhiều về những cử tri trẻ, lần đầu tiên bỏ phiếu, đã lựa chọn Obama mà dễ dàng quên đi những cử tri khác, những người chưa từng đi bỏ phiếu kể từ sau cuộc chiến của Mỹ tại Việt Nam. Những người chưa bao giờ nghĩ rằng họ có thể bỏ phiếu cho một người da đen, hay một người dân chủ.
Nhưng rất nhiều người Mỹ đang sống trong thập kỷ tồi tệ nhất của cuộc đời họ, và họ mắc phải vấn đề về kiểm soát cơn giận. Họ thấy một cuộc chiến tốn kém và vô nghĩa, một thành phố bị nuốt chửng, và giờ đây là một nền kinh tế ngập ngụa trong các khoản nợ nước ngoài và các vòng kìm kẹp. Tất cả tạo nên cơn bão hoàn hảo của các điềm xấu.
Nhưng thậm chí, ngay cả những người vĩ đại cũng hiếm khi giành chiến thắng trong cuộc dạo chơi này. Ronald Reagan không làm được điều đó. John Kennedy cũng không. Những người, với tầm nhìn rõ nhất, thường phải đấu tranh với những điều khó khăn nhất để người khác thấy được những điều họ làm.
Một đêm diễn thuyết tại Iowa (Ảnh: Time)
Nếu như một năm trước, đáp án cho câu hỏi “Ai trong số 2 ứng cử viên Đảng Dân chủ có thể thắng cử” là Hillary Clinton, thì ít lâu sau đó, Obama, từ một thượng nghị sĩ vô danh, đã lội ngược dòng, tạo nên sự hàn gắn trong những chia rẽ của Đảng Dân chủ. Ông đã xây một nhờ thờ mới, chạm được vào trái tim những cử tri đã mất đi sự tin tưởng ở chính phủ, hoặc chưa từng có sự tin tưởng vào ai. “Chúng ta cần phải bắt đầu lại”, ông thường nói, “cất giọng nhỏ nhẹ, cẩn trọng lắng nghe, tìm giải pháp và giữ lời”.
Vào một đêm mùa đông lạnh giá hồi tháng Giêng tại Iowa, trong một cuộc diễn thuyết, Obama đã thực sự khiến cử tri Mỹ tin vào một điều có thể. "Họ nói rằng ngày này sẽ không bao giờ đến. Họ nói rằng đất nước này đã bị chia rẽ, bị vỡ mộng không thể cùng sát cánh bên nhau, chung vai vì một mục đích. Nhưng vào đêm nay, tại thời khắc này của lịch sử - bạn đã làm được điều mà những người yếm thế nói rằng chúng ta không thể làm được”, Obama nói.
Ông đã giành được sự ủng hộ của cử tri nữ mà không có sự giúp đỡ của các hiệp hội phụ nữ. Ông đã nhận được phiếu ủng hộ của người da đen mà không viện đến lợi thế về mầu da. Và điều quan trọng nhất, Obama đã giành được “trái bóng vàng” của chính trị Mỹ: Những cử tri trẻ - những đối tượng không chỉ đem lại cho chiến dịch tranh cử của ông hơi thở thơi thới của hy vọng và nhiệt huyết, mà còn thổi luồng gió xuân đến cả những thế hệ già cả.
Hai người đàn ông, hai tầm nhìn

Ảnh hậu trường: "Sớm mai" - Obama nói chuyện với một nhân viên vào buổi sáng sớm trên đường đến Iowa (Nguồn: Time)
Trong bối cảnh nước Mỹ đang đối mặt với một nền kinh tế ốm yếu và một Tổng thống bị mất lòng tin, chính trị gia kỳ cựu McCain chỉ như con cừu tế thần của Đảng Cộng hoà. Trong lúc cuộc đua chưa kết thúc, tất cả chỉ là một sự lựa chọn. Đó không chỉ là trắng hay đen, đỏ hay xanh, già hay trẻ, dù có trọn vẹn một thế hệ ở giữa những điều đó.
Xuyên suốt cuộc hành trình, McCain và Obama đã mang những nhìn nhận rất khác biệt về sự thay đổi.
McCain nhìn nhận sự thay đổi như một thách thức, phép thử cho sự cứng rắn của ông. Obama lại cho đó là cơ hội, phép thử của tài linh hoạt. McCain cho rằng thay đổi là cải tổ hệ thống. Obama nói về nó như sự tái thiết từ nền tảng. McCain không dùng email. Và mỗi cơ hội có thể, ông lại hô hào những giá trị bất biến dù ở hoàn cảnh nào: Trách nhiệm, lòng tự trọng và quốc gia trên hết.
Đối lập với điều đó, Obama, rõ ràng, là người mang thuyết duy thực với con mắt tinh tường. Ông chính là trải nghiệm của những thay đổi - chuyển đổi những đất nước, các nền văn hoá và nghề nghiệp. Thậm chí cả tên của ông: Barry cũng trở thành Barack. “Bạn không thể ngăn cản thay đổi đến”, ông tranh luận. “Bạn chỉ có thể đánh dấu nó và tìm cách đi cùng nó. Nếu bạn thông minh kèm theo chút may mắn, bạn có thể biến nó thành người bạn của mình”.
Nếu sự lựa chọn đó vẫn chưa đủ rõ, McCain đã vẽ ra đường cách biệt sắc nét hơn. Việc lựa chọn Phó Tổng thống luôn hứa hẹn những phức tạp lớn đối với một phi công đơn độc từng bác bỏ ý tưởng về một bạn đồng hành ở mọi phương diện. Nhưng giờ đây, hiến pháp lại buộc ông phải chọn lựa một người cùng cánh. McCain, rõ ràng, không phải tuýp người muốn tìm ai đó để giúp ông điều hành đất nước. Nhưng, nếu tìm ai đó có thể giúp ông chiến thắng?
Sự lựa chọn đó, cuối cùng, là Sarah Palin - nữ Thống đốc xinh đẹp đến từ Alaska. Bà Palin tự gọi mình là gương mặt mới, người không thể chịu được “những anh chàng tốt nhưng cũ kỹ”. Nhưng Palin lại chọn cách chơi lại “những nốt nhạc” quá khứ: Một người mẹ của 5 đứa con đến từ một thị trấn miền biên, người cổ vũ cho những giá trị của một nước Mỹ đơn giản hơn, an toàn hơn trước một thị trường đa sắc, đa văn hoá, đầy thách thức tài chính và cạnh tranh toàn cầu mà Obama đang sống.
Sự góp mặt của bà Palin càng tô điểm thêm cho sự đối lập: Bà lớn tiếng tuyên bố “chúng ta hầu như không biết về Barack Obama” trước cả khi cởi bỏ áo khoác. Bà liên hồi cảnh báo rằng ông Obama không đủ phẩm chất để làm Tổng thống, thậm chí ngay cả khi chính những lãnh đạo trong Đảng Cộng hoà tự hỏi liệu bà đã sẵn sàng cho cương vị Phó Tổng thống? Bà hoan hỉ viếng thăm “nước Mỹ thực sự”, đến thăm “những khu vực ủng hộ nước Mỹ trong quốc gia rộng lớn này”.
Bà Palin không ngờ rằng chính các mũi dùi công kích đó lại là lời mời gọi để Obama đứng lên chứng tỏ tương lai mà nước Mỹ có thể vươn tới. “Không có bất cứ khu vực nào là nước Mỹ thực, hay giả mạo trên đất nước này”, Obama phản pháo. “Chúng ta là một quốc gia. Tất cả chúng ta đều tự hào về điều đó. Tất cả chúng ta đều là những người yêu nước”.
Vào giữa tháng 9, ứng cử viên McCain, với sự phụ tá của Palin, đã thu hẹp dần khoảng cách về giới từng là mối lo trong chiến dịch tranh cử của ông. Đây là tín hiệu vui đầu tiên trên suốt chặng đường dài tranh cử. McCain luôn nhấn mạnh rằng ông là người duy nhất đã được thử thách trong một cuộc khủng hoảng. Và điều đó đã mang lại kết quả, cho tới khi chính trị gia này được thử thách trong một cuộc khủng hoảng.
Cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ, nhẽ ra có thể chôn vùi chiến thắng của Obama, nhưng hoá ra lại chắp cho ông đôi cánh mới. Nó đã khiến cử tri đánh giá sát sao nhất về tiên liệu của ông trong thực tế. Nó đã trao cho Obama, trong suốt 3 tuần tranh cử cuối cùng và 3 cuộc tranh luận trực tiếp, một vũ đài để chứng tỏ tài năng của một nhà lãnh đạo, điều mà nếu trải qua hàng thập kỷ tranh cãi ở Thượng viện cũng không thể mang lại.

Ảnh hậu trường: Obama tĩnh lặng trong hành lang vắng trước khi lên diễn thuyết
(Ảnh: Time) Vào ngày ngân hàng Lehman Brothers chính thức công bố sụp đổ, ông McCain đang dẫn trước Obama 2 điểm. Kết quả trưng cầu ý kiến trên tờ Wall Street Journal hồi tháng 9 về ai là người có chính sách thuế tốt hơn, ông McCain đánh bại Obama với tỉ lệ 41% so với 37%. Ông McCain luôn hô hào về sự vững mạnh của nền kinh tế Mỹ, rằng ông “về cơ bản là người bãi bỏ quy định” vào thời điểm mà các quy định, cơ bản, đã trở nên chậm chạp.
Vào thời điểm McCain quyết định tạm ngừng chiến dịch tranh cử, trở lại Washington để tìm biện pháp giải cứu nền kinh tế toàn cầu đã bị đóng cửa bởi chính đảng Cộng hoà, vị chính trị gia này đã trao cho Obama một vũ khí lợi hại tương tự như bản thân cuộc khủng hoảng. Thời gian bỗng trở nên đáng sợ, và McCain bỗng chốc trở thành người “không đáng tin cậy”, “bốc đồng”, thiếu thận trọng. Ông đã rơi vào cái bẫy không thể thoát ra trong suốt nhiều tuần sau đó. Bất cứ nỗ lực nào để làm một điều gì đó gây chú ý, hay tạo sự khác biệt, chỉ càng làm cho cái hố thêm sâu.
Mỗi lần McCain thay đổi, như phe tranh cử của ông yêu cầu, sự xa cách của ông với cử tri càng lớn. Cứ 6/10 cử tri cho rằng McCain chỉ mất thời gian vào việc chỉ trích ông Obama, hơn là làm rõ vị trí và tầm nhìn về nền kinh tế.
Ba cuộc tranh luận trực tiếp giữa hai ứng cử viên đã diễn ra vào đúng tâm điểm cuộc khủng hoảng. Cử tri được quyền phán xét vị Tổng thống tương lai một cách trực diện nhất. Không còn những đám đông ủng hộ, không có người viết diễn văn đứng sau để cứu họ.
Cử tri, trước đó, được phe Cộng hoà nhồi nhét rằng Obama là một kẻ cấp tiến nguy hiểm, người bắt tay với khủng bố. Nhưng bằng thái độ mềm mỏng và nhạy cảm, Obama đã thuyết phục cử tri và làm giảm khoảng cách với McCain. Vào giữa tháng 10, chỉ có 1/3 cử tri cho rằng McCain có thể đưa nước Mỹ đến những thay đổi thực sự. Chiến dịch tranh cử của McCain không thể hồi phục lại sau đó.
Con đường phía trước

Barack Obama trở về nhà sau một cuộc vận động tranh cử (Ảnh: Time)
Lịch sử hiện đại là một câu chuyện cảnh báo về những Tổng thống mới mưu mẹo hơn và khuyến khích các nhà lập pháp lơ đễnh với quyền lực. Trong cuộc chạy đua bất thành vào Thượng viện Bắc Carolina, Elizabeth Dole đã từng đưa ra một quảng cáo mang tính dự đoán rằng “những kẻ tự do này muốn kiểm soát hoàn toàn chính phủ, vào thời gian có khủng hoảng. Kiểm soát toàn bộ mọi mắt xích của chính phủ. Không còn sự kiểm soát và cân bằng. Không còn thảo luận. Không còn tự do”. Nếu những người Dân chủ như đối thủ của bà giành chiến thắng, bà cảnh báo “họ sẽ nhận được một cuốn séc để trống”.
Sự rạn nứt đã bắt đầu từ trước các cuộc bỏ phiếu. Chủ tịch Uỷ ban Dịch vụ Tài chính Hạ viện Mỹ Barney Frank tuyên bố về việc cắt giảm ngân sách quân sự 25% và đánh thuế “rất nhiều những kẻ giàu có đang nhở nhơ bên ngoài”. Tổ chức ân xá quốc tế đưa ra thời hạn chót để đóng cửa nhà tù Gitmo, còn ACLU muốn xem lại danh sách những nghi phạm bị theo dõi trong vòng 100 ngày.
Obama sẽ đứng về bên nào? Phe tự do của Ted Kennedy già yếu mà ông tái tạo cảm hứng, phe bảo thủ Dân chủ Blue Dog mà ông đang bị ràng buộc, hay những người mới đến từ các quận màu tím hoặc thậm chí màu đỏ mà cuộc sống phụ thuộc vào các chương trình nghị sự ôn hoà?
Obama đã nói về sự cần thiết phải ấn định lại các quyền, nhưng nếu cố dò hỏi về cách thức, ông bất ngờ biến mất như bọt biển. Ông Obama cam kết chấm dứt cuộc chiến tại Iraq một cách đầy trách nhiệm, nhưng căng thẳng giữa việc chấm dứt hay đảm nhận trách nhiệm vẫn tiếp diễn. Ông bỏ phiếu cho kế hoạch 700 tỉ USD giải cứu tài chính phố Wall, nhưng có quá nhiều lời phàn nàn về kế hoạch này hơn là về khoản tiền có giá trị trong đó. Và thời hạn ba tháng từ nay cho đến lễ nhậm chức hoàn toàn không có sự khoan nhượng đối với một vị tổng thống mới.
Obama đã cảnh giác ở mọi góc độ, để không tự buộc mình vào quá nhiều chi tiết. Nhưng bản thân ông đã đưa ra rất nhiều lời cam kết. Thượng nghị sĩ Hillary Clinton không hề ảo tưởng về điều đang chờ đón phía trước. “Tôi nhớ rất rõ, ngay sau khi Bill (cựu Tổng thống Bill Clinton) thắng cử, chúng tôi đã phát hiện ra thâm hụt ngân sách lớn gấp 2 lần so với khoản được công bố”, bà tiết lộ trên tờ Time. "Nhìn vào chính quyền hiện nay, tôi nghĩ rằng chúng tôi sẽ thấy rất nhiều rắn đang trốn dưới những tảng đá, khi bắt đầu đi dồn chúng lại”, bà nói.
Obama có một đội ngũ nhân viên sẵn sàng cộng tác chặt chẽ với Bộ Ngân khố và Ngũ giác Đài trong trường hợp chiến thắng. Họ đã trình hàng loạt cái tên cho Cơ quan Điều tra Liên bang Mỹ, để chắc chắn họ không có vưóng mắc gì về an ninh trong thời gian sớm nhất. McCain đã chế giễu động thái này của Obama, nhưng, một mặt nào đó, sự chuẩn bị của vị tân Tổng thống cho tiến trình chuyển giao quyền lực đã phản ánh thực tế rằng, phần còn lại của thế giới sẽ không đợi đến lễ nhậm chức ngày 20.1 để biết xem ông nghĩ gì. Vào thời điểm như hiện nay, bất cứ điều gì tương tự không thể được xem là sự chuẩn bị thái quá.

Con đường phía trước còn dài (Ảnh: Time)
Cam kết của ông Obama về đoàn kết dân tộc sẽ chẳng có nghĩa gì, nếu ông chỉ làm những điều hiển nhiên dễ dàng. Ông sẽ phải tìm ra những người Cộng hoà thực sự để đưa vào trong danh sách nội các thực sự. Ông phải sử dụng quyền lực của mình theo cách có thể khiến cả hai đảng cùng mất lòng, để tạo sức nặng cho những từ ngữ mà chúng ta cần phải nghe, chứ không chỉ là những từ trên đầu lưỡi, như sự khổ hạnh, sự hy sinh, trách nhiệm đối với con cái.
Khoản nợ quốc gia đã vượt 10 nghìn tỉ USD vào tháng 9, và vào tháng tới, khoản nợ này sẽ tăng thêm 500 tỉ USD – cú lao nhanh nhất, xa nhất vào điểm đỏ tài chính trong hơn 50 năm qua. Liệu Obama có thể chấm dứt được tình trạng tiêu chuẩn kép giữa cách thức mà Washington làm việc và cách mà bất cứ nơi nào khác làm, những kẻ hở mà nó bảo vệ, những cảm giác chung mà nó chống lại?
“Chiến thắng này, nếu đơn độc, sẽ không phải là sự thay đổi chúng ta tìm kiếm”, ông Obama tuyên bố tối 4.11. “Đó chỉ là cơ hội cho chúng ta để tạo nên sự thay đổi. Và điều đó không xảy ra nếu chúng ta quay trở lại con đường cũ. Nó không thể xảy ra nếu thiếu các bạn”.
Nước Mỹ đã có những nhà lãnh đạo mà người dân cho là xứng đáng. Nếu chúng ta đưa họ lên, rồi quẳng họ xuống mà từ chối ủng hộ họ, thì không có Tổng thống nào, dù có khả năng hùng biện đến đâu, dù có những ý tưởng sâu sắc đến đâu về những việc cần làm, có thể đưa nước Mỹ đến nơi mà chúng ta từ chối đi tới. Hành trình này không chấm dứt vào ngày Bầu cử, đó là điều mà Obama đã nhắc đi, nhắc lại khi ông nói về khả năng những người bình thường làm nên những điều diệu kỳ. Vì thế, nước Mỹ, đơn thuần, đang ở giai đoạn cuối của sự bắt đầu.
Thúy Phương (dịch từ TIME Magazine)
DÂN MỸ THỰC SỰ MUỐN ĐỔI THAY
KHI BẦU BARACK OBAMA LÀM TỔNG THỐNG
Lý Đại Nguyên
Lần đầu tiên trong lịch sử 232 năm lập quốc, cử tri Hoakỳ vừa chọn bầu một thanh niên gốc Phichâu vào ghế Tổng Thống của mình, đó là ông Barack Hussein Obama, thuộc đảng Dân Chủ. Thắng lợi của ông Obama chấm dứt 8 năm cầm quyền đầy hung hiểm của tổng thống George W. Bush thuộc đảng Cộng Hòa. Đến đây, phải nhận một sự thật là dân Mỹ đã thoát ra khỏi tâm lý kỳ thị mầu da, để khằng định nước Mỹ là một Hiệp Chúng Quốc đích thực. Tượng trưng cho Thế Giới Thu Nhỏ, thành mẫu mực của một Xã Hội Phát Triển Toàn Diện trong tiến trình Kinh Tế Toàn Cầu Hóa và Dân Chủ Hóa Toàn Cầu. Nhưng trước đó, nước Mỹ đã trở thành đối tựơng cần phải tiêu diệt của Phong Trào Khủng Bố Quốc Tế al-Qaeda. Vì Mỹ là một Siêu Cường, đỡ đầu cho Quốc Gia Do Thái, kẻ tử thù của khối Ả Rập Hồi Giáo. Vụ tấn công 911 của al-Qaeda vào Trung Tâm Thương Mại Quốc Tế New York, và Bộ Quốc Phòng Mỹ tại Hoa Thịnh Đốn đã làm cho “Con Đại Bàng Mỹ chuyển cánh”, giáng những đòn phủ đầu xuống các nước nuôi dưỡng, và ủng hộ cho Khủng Bố. Cuộc chiến chớp nhoáng đánh tan chính quyền Taliban tại Afghanitan, sào huyệt của Osama bin Laden lãnh tụ al-Qaeda. Rồi thừa thắng tiêu diệt luôn chính quyền độc tài Saddam Hussein tại Iraq. Đến đây là TT Bush đã không còn tuân thủ nguyên tắc khởi chiến truyền thống của nước Mỹ nữa. Tức là chỉ đánh trả để đạt chiến thắng cuối cùng, chứ không tấn công trước. Có lẽ chính vì thế, cuộc chiến Iraq đã thắng về quân sự, nhưng sa lầy về an ninh và ổn định chính trị, nên bị kéo dài, hao tốn cả danh dự lẫn tài lực quá nhiều, làm cho dân Mỹ oán ghét, thế giới lên án. Tạo cơ hội cho Iran có thế chống Mỹ.
Từ sau Chiến Tranh Lạnh, tiến trình Kinh Tế Thị Trường Toàn Cầu Hóa là một xu hướng không thề đảo ngược, các nước dù Dân Chủ, hay Độc Tài, kể cả Cộng Sản, cũng mặc nhiên phải tự nguyện gia nhập. Các khối liên quốc gia xuất hiện để cân bằng lực lượng kinh tế với các cuờng quốc. Thị Trường Chung Âu Châu trở thành Liên Âu lần lần quy tụ hầu hết các nước Tây Âu, rồi Đông Âu vào hệ thống tiền tệ Euro. Các nước Đông Nam Á thành ASEAN, mở rộng thành Tự Do Mậu Dịch Á Châu AFTA, đến Á Châu Thái Bình Dương APEC, rồi Hợp Tác Á, Âu là ASEM . Hoakỳ cùng Canada và Mễ Tây Cơ cũng thành lập Thị Trường Chung Bắc Mỹ NAFTA. Từ đó các xí nghiệp kỹ nghệ sản xuất của Mỹ chuyển qua Mễ để có công nhân rẻ. Công nhân Mỹ thất nghiệp. Vốn của Tài Phiệt Mỹ đổ vào các Công Ty Đa Quốc Gia, đem đầu tư vào Trungcộng và các nước đang phát triển. Nuớc Mỹ trở thành Thị Trường Tiêu Thụ sản phẩm gia công của các nước đó. Mỹ nhiễm nhiên là con nợ lớn nhất của cả thế giới, số nợ hiện nay đã lên trên 12.000 tỷ USD. Tuy nhiên Tư Bản Mỹ vẫn là ông chủ lớn nhất hoàn vũ. Kinh tế Mỹ mất dần nội lực. Chính quyền Bush buộc phải làm trái với nguyên tắc đánh thuế lũy tiến, để áp dụng phương pháp giảm thuế cho nhà giầu, nhằm thu hút vốn đầu tư từ quốc nội tới quốc tế trở về.
Nhưng rồi các ngân hàng và các công ty tài chánh Mỹ đã tự bán rẻ vị thế siêu đẳng của mình, ỷ vào thế Tự Do Mậu Dịch, chính quyền không can thiệp vào thị trường, nhiều doanh nghiệp tài chánh vô trách nhiệm, bất lương không bị truy tố. Thế là cả lũ kéo nhau xuống hố phá sản. Trận bão tài chánh từ Hoakỳ cuốn luôn hệ thống thị trường tài chánh quốc tế vào cơn cuồng loạn. Chính phủ Mỹ và các nước Dân Chủ tiên tiến phải đổ tiền vào để cứu các ngân hàng. Nói trắng ra là tạm thời “Quốc Hữu Hóa” các công ty tài chánh để khỏi phải phá sản. Lấy lại niềm tin của dân chúng. Vì dân chúng ở các nước Dân Chủ Tư Bản Tiên Tiến thì tiền bạc đều gởi ở nhà Bank. Dân vừa là chủ nợ vừa là con nợ của nhà Bank. Trong thế giới Tư Bản, vốn là gốc của kinh tế. Hệ thống nhà Bank nắm nguồn vốn, là nội lực của kinh tế, là huyết mạch của xã hội, kể cả là hơi thở của chính quyền nữa. Nên mới gọi đó là nơi tập trung “siêu quyền lực” ban phát mệnh lệnh cho thị trường, nhịp sống cho xã hội, nhịp thở của chính quyền. Nhưng sau trận bão tài chánh này, hệ thống tài chánh của Siêu Cường Mỹ, của thế giới đã phải nhờ các Chính Quyền can thiệp, nên thứ quyền lực siêu hình đó đã lọt vào tay chính quyền của mỗi nước, mà mỗi nước không tự cứu mình nổi, phải cùng hợp tác với nhau để có biện pháp chung. Nhưng nước Mỹ lại vẫn là nước đứng đầu của nền kinh tế thị trường thế giới. Chính vì vậy mà chính quyền Dân Chủ Obama tới đây, có một vị thế và trách nhiệm vô cùng lớn lao và khó khăn.
Lẽ dĩ nhiên, khuynh hướng bảo hộ mậu dịch cố hữu của đàng Dân Chủ đã lỗi thời, và giấc mơ Xã Hội Chủ Nghĩa hoang tưởng của ông Obama đã chết tiệt. Nhu cầu của nền chính trị và kinh tế Mỹ cũng như toàn thế giới ngày nay, đang mở ra hướng đi từ Nhận Thức Nhân Chủ Nhân Văn, về các Xã Hội Tự Do Công Bằng của Kinh tế Thị Trường Toàn Cầu Hóa và Chính Trị Dân Chủ Hóa Toàn Cầu, được Điều Hợp bởi hệ thống Luật Pháp Trong Sáng Công Chính, nhằm bảo vệ Giá Trị và Quyền Lợi Con Người, an toàn Xã Hội, an ninh Quốc Gia, hòa bình Thế Giới. Không riêng gì nước Mỹ, mà bất cứ quốc gia nào đi ngược lại với nhu cầu của Nhân Loại để đánh mất niềm tin của Con Người, cũng khó tồn tại bền vững. Chính sự đánh mất niềm tin của Người Dân vào các Công Ty Tài Chánh hiện nay, đã làm cho vị thế siêu quyền lực của họ bỗng nhiên bị mất toi. Với niềm tin của cử tri Mỹ vào vai trò lãnh đạo của Tân Tổng Thống Dân Chủ Obama, cho cả đa số Thượng Viện và Hạ Viện trong tay, mà không đáp ứng được với nhu cầu của Quốc Dân Mỹ và nguyện vọng của toàn Thế Giới, thì đó là một trọng tội.
Sự thật thì nạn Khủng Bố Quốc Tế vẫn còn đó. Dù chính quyền Cộng Hòa Bush có làm mất lòng dân đến đâu, thì cũng phải công bằng, mà nhận rằng: Từ vụ khủng bố 911, nước Mỹ rộng lớn là thế, người dân có tự do là thế, những cuộc tập họp khổng lồ là thế, mà bọn Khủng Bố Quốc Tế không thể có bất cứ cuộc bạo loạn nào, thì về mặt an ninh nội địa, chính quyền Cộng Hòa Bush đã có công rất lớn. Hiện nay mầm chiến tranh vẫn còn đầy rẫy, cuộc chạy đua vũ trang đang được khơi dậy, nếu cái gọi là “Thay Đổi” của chính quyền Dân Chủ Obama chỉ đi chệch hướng phát triển của truyền thống Tự Do, Dân Chủ, Đạo Đức của Quốc Dân Hoa Kỳ một bước, là rất dễ rơi vào cảnh phải dùng tới chiến tranh để xóa bàn làm lại. Tệ hơn là tạo ra loạn động nội tại lung tung, làm cho Hoakỷ tự đánh mất vai trò lãnh đạo thế giới của một Siêu Cường kinh tế, chính trị, quân sự và kỹ thuật cao của mình.
KHI BẦU BARACK OBAMA LÀM TỔNG THỐNG
Lý Đại Nguyên
Lần đầu tiên trong lịch sử 232 năm lập quốc, cử tri Hoakỳ vừa chọn bầu một thanh niên gốc Phichâu vào ghế Tổng Thống của mình, đó là ông Barack Hussein Obama, thuộc đảng Dân Chủ. Thắng lợi của ông Obama chấm dứt 8 năm cầm quyền đầy hung hiểm của tổng thống George W. Bush thuộc đảng Cộng Hòa. Đến đây, phải nhận một sự thật là dân Mỹ đã thoát ra khỏi tâm lý kỳ thị mầu da, để khằng định nước Mỹ là một Hiệp Chúng Quốc đích thực. Tượng trưng cho Thế Giới Thu Nhỏ, thành mẫu mực của một Xã Hội Phát Triển Toàn Diện trong tiến trình Kinh Tế Toàn Cầu Hóa và Dân Chủ Hóa Toàn Cầu. Nhưng trước đó, nước Mỹ đã trở thành đối tựơng cần phải tiêu diệt của Phong Trào Khủng Bố Quốc Tế al-Qaeda. Vì Mỹ là một Siêu Cường, đỡ đầu cho Quốc Gia Do Thái, kẻ tử thù của khối Ả Rập Hồi Giáo. Vụ tấn công 911 của al-Qaeda vào Trung Tâm Thương Mại Quốc Tế New York, và Bộ Quốc Phòng Mỹ tại Hoa Thịnh Đốn đã làm cho “Con Đại Bàng Mỹ chuyển cánh”, giáng những đòn phủ đầu xuống các nước nuôi dưỡng, và ủng hộ cho Khủng Bố. Cuộc chiến chớp nhoáng đánh tan chính quyền Taliban tại Afghanitan, sào huyệt của Osama bin Laden lãnh tụ al-Qaeda. Rồi thừa thắng tiêu diệt luôn chính quyền độc tài Saddam Hussein tại Iraq. Đến đây là TT Bush đã không còn tuân thủ nguyên tắc khởi chiến truyền thống của nước Mỹ nữa. Tức là chỉ đánh trả để đạt chiến thắng cuối cùng, chứ không tấn công trước. Có lẽ chính vì thế, cuộc chiến Iraq đã thắng về quân sự, nhưng sa lầy về an ninh và ổn định chính trị, nên bị kéo dài, hao tốn cả danh dự lẫn tài lực quá nhiều, làm cho dân Mỹ oán ghét, thế giới lên án. Tạo cơ hội cho Iran có thế chống Mỹ.
Từ sau Chiến Tranh Lạnh, tiến trình Kinh Tế Thị Trường Toàn Cầu Hóa là một xu hướng không thề đảo ngược, các nước dù Dân Chủ, hay Độc Tài, kể cả Cộng Sản, cũng mặc nhiên phải tự nguyện gia nhập. Các khối liên quốc gia xuất hiện để cân bằng lực lượng kinh tế với các cuờng quốc. Thị Trường Chung Âu Châu trở thành Liên Âu lần lần quy tụ hầu hết các nước Tây Âu, rồi Đông Âu vào hệ thống tiền tệ Euro. Các nước Đông Nam Á thành ASEAN, mở rộng thành Tự Do Mậu Dịch Á Châu AFTA, đến Á Châu Thái Bình Dương APEC, rồi Hợp Tác Á, Âu là ASEM . Hoakỳ cùng Canada và Mễ Tây Cơ cũng thành lập Thị Trường Chung Bắc Mỹ NAFTA. Từ đó các xí nghiệp kỹ nghệ sản xuất của Mỹ chuyển qua Mễ để có công nhân rẻ. Công nhân Mỹ thất nghiệp. Vốn của Tài Phiệt Mỹ đổ vào các Công Ty Đa Quốc Gia, đem đầu tư vào Trungcộng và các nước đang phát triển. Nuớc Mỹ trở thành Thị Trường Tiêu Thụ sản phẩm gia công của các nước đó. Mỹ nhiễm nhiên là con nợ lớn nhất của cả thế giới, số nợ hiện nay đã lên trên 12.000 tỷ USD. Tuy nhiên Tư Bản Mỹ vẫn là ông chủ lớn nhất hoàn vũ. Kinh tế Mỹ mất dần nội lực. Chính quyền Bush buộc phải làm trái với nguyên tắc đánh thuế lũy tiến, để áp dụng phương pháp giảm thuế cho nhà giầu, nhằm thu hút vốn đầu tư từ quốc nội tới quốc tế trở về.
Nhưng rồi các ngân hàng và các công ty tài chánh Mỹ đã tự bán rẻ vị thế siêu đẳng của mình, ỷ vào thế Tự Do Mậu Dịch, chính quyền không can thiệp vào thị trường, nhiều doanh nghiệp tài chánh vô trách nhiệm, bất lương không bị truy tố. Thế là cả lũ kéo nhau xuống hố phá sản. Trận bão tài chánh từ Hoakỳ cuốn luôn hệ thống thị trường tài chánh quốc tế vào cơn cuồng loạn. Chính phủ Mỹ và các nước Dân Chủ tiên tiến phải đổ tiền vào để cứu các ngân hàng. Nói trắng ra là tạm thời “Quốc Hữu Hóa” các công ty tài chánh để khỏi phải phá sản. Lấy lại niềm tin của dân chúng. Vì dân chúng ở các nước Dân Chủ Tư Bản Tiên Tiến thì tiền bạc đều gởi ở nhà Bank. Dân vừa là chủ nợ vừa là con nợ của nhà Bank. Trong thế giới Tư Bản, vốn là gốc của kinh tế. Hệ thống nhà Bank nắm nguồn vốn, là nội lực của kinh tế, là huyết mạch của xã hội, kể cả là hơi thở của chính quyền nữa. Nên mới gọi đó là nơi tập trung “siêu quyền lực” ban phát mệnh lệnh cho thị trường, nhịp sống cho xã hội, nhịp thở của chính quyền. Nhưng sau trận bão tài chánh này, hệ thống tài chánh của Siêu Cường Mỹ, của thế giới đã phải nhờ các Chính Quyền can thiệp, nên thứ quyền lực siêu hình đó đã lọt vào tay chính quyền của mỗi nước, mà mỗi nước không tự cứu mình nổi, phải cùng hợp tác với nhau để có biện pháp chung. Nhưng nước Mỹ lại vẫn là nước đứng đầu của nền kinh tế thị trường thế giới. Chính vì vậy mà chính quyền Dân Chủ Obama tới đây, có một vị thế và trách nhiệm vô cùng lớn lao và khó khăn.
Lẽ dĩ nhiên, khuynh hướng bảo hộ mậu dịch cố hữu của đàng Dân Chủ đã lỗi thời, và giấc mơ Xã Hội Chủ Nghĩa hoang tưởng của ông Obama đã chết tiệt. Nhu cầu của nền chính trị và kinh tế Mỹ cũng như toàn thế giới ngày nay, đang mở ra hướng đi từ Nhận Thức Nhân Chủ Nhân Văn, về các Xã Hội Tự Do Công Bằng của Kinh tế Thị Trường Toàn Cầu Hóa và Chính Trị Dân Chủ Hóa Toàn Cầu, được Điều Hợp bởi hệ thống Luật Pháp Trong Sáng Công Chính, nhằm bảo vệ Giá Trị và Quyền Lợi Con Người, an toàn Xã Hội, an ninh Quốc Gia, hòa bình Thế Giới. Không riêng gì nước Mỹ, mà bất cứ quốc gia nào đi ngược lại với nhu cầu của Nhân Loại để đánh mất niềm tin của Con Người, cũng khó tồn tại bền vững. Chính sự đánh mất niềm tin của Người Dân vào các Công Ty Tài Chánh hiện nay, đã làm cho vị thế siêu quyền lực của họ bỗng nhiên bị mất toi. Với niềm tin của cử tri Mỹ vào vai trò lãnh đạo của Tân Tổng Thống Dân Chủ Obama, cho cả đa số Thượng Viện và Hạ Viện trong tay, mà không đáp ứng được với nhu cầu của Quốc Dân Mỹ và nguyện vọng của toàn Thế Giới, thì đó là một trọng tội.
Sự thật thì nạn Khủng Bố Quốc Tế vẫn còn đó. Dù chính quyền Cộng Hòa Bush có làm mất lòng dân đến đâu, thì cũng phải công bằng, mà nhận rằng: Từ vụ khủng bố 911, nước Mỹ rộng lớn là thế, người dân có tự do là thế, những cuộc tập họp khổng lồ là thế, mà bọn Khủng Bố Quốc Tế không thể có bất cứ cuộc bạo loạn nào, thì về mặt an ninh nội địa, chính quyền Cộng Hòa Bush đã có công rất lớn. Hiện nay mầm chiến tranh vẫn còn đầy rẫy, cuộc chạy đua vũ trang đang được khơi dậy, nếu cái gọi là “Thay Đổi” của chính quyền Dân Chủ Obama chỉ đi chệch hướng phát triển của truyền thống Tự Do, Dân Chủ, Đạo Đức của Quốc Dân Hoa Kỳ một bước, là rất dễ rơi vào cảnh phải dùng tới chiến tranh để xóa bàn làm lại. Tệ hơn là tạo ra loạn động nội tại lung tung, làm cho Hoakỷ tự đánh mất vai trò lãnh đạo thế giới của một Siêu Cường kinh tế, chính trị, quân sự và kỹ thuật cao của mình.
Dân Chủ là cách sống ổn định
Ngô Nhân Dụng
Các chế độ cộng sản thường viện lẽ cần bảo vệ ổn định xã hội nên phải độc tài. Như thế nào gọi là ổn định? Nhìn vào cảnh những nông dân Việt Nam khiếu kiện về đất đai, những vụ đình công ngoài vòng pháp luật ở Hà Nội, Sài Gòn, Ðà Nẵng, Hải Phòng, không thấy gì ổn định. Nhưng bên Trung Quốc gần đây các cuộc biểu tình ôn hòa đã biến thành bạo động nữa. Khẩu hiệu “xã hội hài hòa” của ông Hồ Cẩm Ðào không thể hiện được, khi nào xã hội còn đầy tham nhũng, bất công. Nhưng thiếu sót lớn nhất là không có những phương tiện bình thường, giản dị để người dân được lên tiếng nói.
Trong tỉnh Quảng Ðông phát triển nhanh nhất Trung Quốc, hàng ngàn công nhân thất nghiệp đã kéo nhau tới trước các hãng xưởng mới đóng cửa. Họ đến đòi chủ nhân phải trả hết số lương còn thiếu. Khi nhiều xí nghiệp quịt lương của nhân viên, mối liên hệ giữa con người với con người có được hài hòa hay không? Ở các nước tư bản thật sự, các chủ nhân không dám làm như vậy vì còn có pháp luật. Khi nhân viên ở một nước cộng sản mất việc mà không thể trông cậy vào hệ thống pháp luật để đòi tiền lương còn thiếu, khi họ phải tự mình kéo thành đám đông đi biểu tình đòi nợ, như vậy thì xã hội có sống trong nền nếp ổn định hay không? Ở Thẩm Quyến vào đầu Tháng Mười Một 2008, dân chúng biểu tình bạo động sau khi cảnh sát ở một trạm canh giết một thanh niên lái xe gắn máy cãi lệnh. Ở một thành phố khác cũng trong tỉnh Quảng Ðông, mười ngày sau lại xẩy ra một vụ tương tự, dân cũng biểu tình. Tại sao họ không đợi nhà chức trách điều tra những vụ giết người, mà phải biểu tình bạo động? Tại sao một vụ vi phạm luật giao thông mà cũng dẫn tới cảnh chết người? Nếu những chuyện như vậy năm thì mười họa mới xẩy ra thì hiểu được. Nhưng chỉ trong vòng 10 ngày trong cùng một tỉnh có tới hai vụ thì xã hội này có nếp sống đầy bạo lực!
Mỗi năm ở Trung Quốc có hàng trăm ngàn cuộc biểu tình với số lượng lớn từ hàng trăm người trở lên. Chính phủ Bắc Kinh đã mở cửa cho phép các báo, đài nhà nước loan tin về các cuộc biểu tình này, vì họ biết rằng không thể bịt miệng dân mãi được. Các mạng lưới điện tử đã đóng vai thúc đẩy đảng cộng sản phải nới lỏng chế độ kiểm duyệt tin tức. Vì họ biết nếu nhà nước không loan tin thì dân chúng sẽ được nghe các nguồn tin khác. Cho nên chính sách của đảng cộng sản hiện giờ là “kiểm duyệt tin bằng cách loan tin trước.”
Cho nên chúng ta mới biết ở thành phố Trùng Khánh, hàng trăm tài xế taxi đã biểu tình phản đối cảnh sát dung túng cho những chiếc xe taxi “lậu” cướp khách của họ. Chính quyền thành phố phải họp mặt với đại diện các tài xế suốt ba giờ. Ở nhiều nơi khác giới lái taxi cũng đình công hưởng ứng. Các người lái taxi phản đối nạn tham nhũng và sự thông đồng giữa nhà nước cộng sản và các chủ nhân cho thuê xe chạy taxi bóc lột giới tài xế. Nhiều chiếc xe taxi bị phá vì tài xế không tham dự cuộc đình công, cho thấy người ta sẵn sàng gây bạo động.
Ngày 8 tháng 11 ở Bắc Kinh, hơn 400 người biểu tình trước tòa thị chính để phản đối một cuộc “lạc quyên” lừa bịp. Tân Hoa Xã loan tin như vậy, chỉ khiến người đọc thắc mắc thêm. Tại sao bị kẻ gian lừa bịp mà lại đem nhau tới tòa đô chính phản đối? Ai lạc quyên? Họ nhân danh đảng và nhà nước ở cấp thành phố hay trung ương khi yêu cầu dân đóng góp? Ðể làm gì? Những ông lớn nào dính líu? Không ai biết.
Vụ biểu tình đang được cả thế giới chú ý là người dân ở thị xã Lũng Nam, tỉnh Cam Túc. Bản tin của nhà nước cộng sản cho biết hàng ngàn người đã biểu tình, và chỉ loan tin có 60 cảnh sát viên bị dân đánh. Nhưng những nguồn tin độc lập nêu lên con số mười ngàn người, với nhiều biến chuyển rõ hơn.
Vụ biểu tình ở Lũng Nam bắt đầu với 30 người dân “khiếu kiện về đất đai,” một lý do thông thường nhất, ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam hiện nay. Những người này đã nộp đơn khiếu oan từ năm 2006 vì chính quyền chiếm đất không bồi thường thỏa đáng; ngày Thứ Hai vừa qua họ lại “biểu tình hâm nóng” nỗi oan khuất để nhắc nhở nhà nước khỏi quên. Qua ngày hôm sau, có thêm khoảng 2,000 người dân khác tới dự biểu tình, và vấn đề được nêu lên đã thay đổi. Người ta phản đối chính quyền thị xã Lũng Nam đã quyết định đổi nơi thiết lập “trụ sở ủy ban nhân dân” sau trận động đất cũ. Người biểu tình đã đánh lại công an, cảnh sát bằng gậy sắt, xích sắt; ném đá, ném gạch, ném cả chậu cây kiểng vào đám công an; chiếm một xe cứu hỏa, đốt các xe hơi khác của công an, đốt cả xe đạp và xe gắn máy; dân cũng kéo tới đập vỡ cửa kính trụ sở nhà nước và chiếm cả một văn phòng trong một ngày. Số người biểu tình lên tới 10,000 người, theo nguồn tin của Asia News.
Cuộc biểu tình ở Lũng Nam đông người vì nông dân ở các làng mạc chung quanh cũng kéo về tham dự, mỗi nhóm người đến với những khẩu hiệu, những nỗi oan ức và yêu sách mới. Một người Trung Hoa nói với nhà báo: “Tôi trước là cán bộ nhà nước, nhưng nay tôi ủng hộ người dân.”
Ngày Thứ Tư, cuộc biểu tình đã bị đàn áp và chính quyền tuyên bố tình trạng giới nghiêm trong thành phố 2 triệu 6 dân và Tân Hoa Xã báo tin “tình hình đã ổn định!” Nhưng trong thành phố còn nhiều đám khói bốc lên.
Vì đâu một cuộc biểu tình “bình thường” của 30 người dân mất đất khiếu kiện (đã kéo dài từ 2 năm nay) bỗng nhiên biến thành vụ bạo động khiến hàng trăm người dân bị bắt? Nguyên nhân chính được nêu lên là dân chúng phản đối việc chính quyền đổi địa điểm trụ sở huyện Võ Ðô từ thị xã Lũng Nam tới một thành phố khác, trong kế hoạch xây dựng lại sau vụ động đất vào tháng Năm vừa qua.
Cuộc động đất ở Tứ Xuyên hồi Tháng Năm lan sang tới huyện Võ Ðô, tiếp theo lại một trận động đất vào ngày 21 tháng 6, tất cả khiến cho gần 2 triệu người trong huyện mất nhà cửa. Lấy lý do vùng này có thể bị động đất nữa, chi đảng cộng sản địa phương quyết định dời trụ sở ủy ban nhân dân huyện từ Lũng Nam đi nơi khác.
Tại sao dân chúng lại phản đối quyết định dời địa chỉ của trụ sở nhà nước? Lý do chắc không đơn giản. Cuộc biểu tình biến thành bạo động cho thấy phải có nhiều nguyên nhân tiềm ẩn khác, nhiều nỗi phẫn uất được tích tụ từ bao năm, chỉ chờ dịp bùng nổ. Trên các mạng lưới nhiều người than thở rằng dân chúng huyện Võ Ðô đã khổ vì các cán bộ cộng sản tham nhũng cửa quyền, những vụ chiếm đất không bồi thường đầy đủ trong bao nhiêu năm qua. Cam Túc là một tỉnh vùng biên cương, tiếp giáp với vùng Tây Vực, có nhiều nhóm dân thiểu số bị người Hán cai trị; cũng là tỉnh đã diễn ra những cuộc biểu tình của người Tây Tạng trong Mùa Hè vừa qua.
Quyết định dời trụ sở huyện có thể đúng, có thể sai, người ngoài không biết được nguyên ủy. Nhưng khi những người dân bị ảnh hưởng của quyết định trên đã bầy tỏ ý kiến phản đối bằng cách bạo động, chúng ta thấy chắc các cán bộ đã quyết định đơn phương và bất ngờ, dân không được hỏi ý kiến. Cách cai trị của đảng cộng sản không bao giờ minh bạch, công khai. Mỗi chi bộ đảng cộng sản là một “hội kín,” họ quyết định gì cũng chỉ có họ biết với nhau, đó là nguyên nhân chính tạo ra những bất mãn chồng chất.
Người dân thì lúc nào cũng nghi ngờ cán bộ quyết định điều gì đều vì quyền lợi của chính họ. Mỗi quyết định lớn đều tạo ra cơ hội tham nhũng, việc dời trụ sở huyện Võ Ðô hay mở rộng thủ đô Hà Nội đều có những lý do chấm mút cả. Khi trụ sở huyện đổi chỗ, khi đất thành phố được quy hoạch lại, giá nhà ở nơi cũ sẽ xuống giá, địa điểm mới sẽ lên giá! Các quan chức nào được ăn nhiều trong các kế hoạch đó?
Khi cán bộ đảng ở Lũng Nam giải thích rằng họ phải đổi địa điểm cơ quan nhà nước vì Lũng Nam ở trong vùng động đất, người dân đã hỏi lại rằng nếu lo động đất thì tại sao không cho cả 2.6 triệu người dân đổi địa chỉ theo? Ðây là một câu hỏi cho thấy dân không tin tưởng vào bất cứ lời giải thích nào nữa. Một người dân Lũng Nam đã than với nhà báo rằng bà ta thuộc lớp người nghèo, trụ sở huyện thay đổi thì bà ta cũng không được, không mất gì cả. Nhưng, bà vẫn thấy, “Khi trụ sở huyện còn ở đây thì dù tôi không có việc làm cũng vẫn đi mót rác được, đủ cơm ăn. Bây giờ họ đổi trụ sở huyện đi nơi khác, tìm đâu ra rác nữa để mà mót?” Bà than: “Bây giờ còn có cơm ăn, mai mốt sẽ phải ăn bắp trừ cơm thôi!”
Cuộc biểu tình bạo động ở Lũng Nam chỉ là một trong hàng trăm ngàn cuộc phản đối của nhân dân Trung Hoa đối với chính quyền cộng sản. Một chế độ như thế không thể coi là ổn định được. Các nước cộng sản như Việt Nam, Trung Quốc, Bắc Hàn đều là những thùng thuốc nổ chỉ lo sẽ có lúc bùng lên. Lý do chính là vì người dân không được hưởng những quyền tự do tối thiểu: Tự do báo chí để được phát biểu ý kiến bất đồng; tự do hội họp để cùng nêu lên những ý kiến chung. Tóm lại là chưa có tự do dân chủ.
Một đặc tính thiết yếu của chế độ dân chủ là người dân được góp ý kiến trong những quyết định liên can tới đời sống của họ, chuyện nhỏ cũng như chuyện lớn.
Người dân các nước như Pháp, Canada, Mỹ đều chấp nhận phải có một nhóm người cầm quyền bính và quyết định thay cho mình; về những công việc chung, như xây cầu, làm đường, tăng thuế hay giảm thuế. Không người dân nào đòi tự mình quyết định lấy tất cả mọi việc.
Nhưng nếu có người thấy chính quyền “làm bậy” thì sao? Thí dụ, nếu ông, bà thị trưởng phá bỏ một công viên để làm trường học, hoặc ông tổng thống định làm thêm hai hàng không mẫu hạm nữa, mà người dân không đồng ý thì sao? Ở một nước tự do dân chủ người ta có quyền nói: Chúng tôi chống dự án này. Có quyền kêu gọi những ai đồng ý với mình cùng lên tiếng nói, có khi lên tiếng với tư cách một đảng đối lập. Nói mãi mà chính quyền vẫn làm trái ý mình thì sao? Thì đến kỳ bầu cử tới mình sẽ bỏ phiếu chống, và hô hào mọi người chống bà thị trưởng hoặc ông tổng thống “ngu dốt” hoặc tham nhũng này.
Người ta không cần phải bạo động để bầy tỏ ý kiến. Ðó là đặc tính của thể chế dân chủ. Lý do là vì người ta biết có thể thay đổi chính quyền, thay đổi xã hội chung quanh mình bằng lá phiếu. Trong các nước dân chủ lâu lâu cũng xẩy ra những cuộc biểu tình bạo động. Nhưng đó là những biến cố họa hiếm, khi có những xúc động mạnh bị dồn nén lâu ngày cần bùng nổ ra, có lý do chính đáng hoặc không chính đáng.
Còn ở các nước độc tài thì những cuộc biểu tình bạo động xẩy ra rất nhiều. Chính vì những người dân ở đó không có cơ hội phát biểu các ý kiến trái ngược với ý nhà nước. Ðến khi người dân không chịu nổi sự áp bức nữa, thì chỉ còn cách là bạo động. Cho nên chính thể chế dân chủ tự do mới bảo đảm cho xã hội được ổn định, hòa bình trong lâu dài
Ngô Nhân Dụng
Các chế độ cộng sản thường viện lẽ cần bảo vệ ổn định xã hội nên phải độc tài. Như thế nào gọi là ổn định? Nhìn vào cảnh những nông dân Việt Nam khiếu kiện về đất đai, những vụ đình công ngoài vòng pháp luật ở Hà Nội, Sài Gòn, Ðà Nẵng, Hải Phòng, không thấy gì ổn định. Nhưng bên Trung Quốc gần đây các cuộc biểu tình ôn hòa đã biến thành bạo động nữa. Khẩu hiệu “xã hội hài hòa” của ông Hồ Cẩm Ðào không thể hiện được, khi nào xã hội còn đầy tham nhũng, bất công. Nhưng thiếu sót lớn nhất là không có những phương tiện bình thường, giản dị để người dân được lên tiếng nói.
Trong tỉnh Quảng Ðông phát triển nhanh nhất Trung Quốc, hàng ngàn công nhân thất nghiệp đã kéo nhau tới trước các hãng xưởng mới đóng cửa. Họ đến đòi chủ nhân phải trả hết số lương còn thiếu. Khi nhiều xí nghiệp quịt lương của nhân viên, mối liên hệ giữa con người với con người có được hài hòa hay không? Ở các nước tư bản thật sự, các chủ nhân không dám làm như vậy vì còn có pháp luật. Khi nhân viên ở một nước cộng sản mất việc mà không thể trông cậy vào hệ thống pháp luật để đòi tiền lương còn thiếu, khi họ phải tự mình kéo thành đám đông đi biểu tình đòi nợ, như vậy thì xã hội có sống trong nền nếp ổn định hay không? Ở Thẩm Quyến vào đầu Tháng Mười Một 2008, dân chúng biểu tình bạo động sau khi cảnh sát ở một trạm canh giết một thanh niên lái xe gắn máy cãi lệnh. Ở một thành phố khác cũng trong tỉnh Quảng Ðông, mười ngày sau lại xẩy ra một vụ tương tự, dân cũng biểu tình. Tại sao họ không đợi nhà chức trách điều tra những vụ giết người, mà phải biểu tình bạo động? Tại sao một vụ vi phạm luật giao thông mà cũng dẫn tới cảnh chết người? Nếu những chuyện như vậy năm thì mười họa mới xẩy ra thì hiểu được. Nhưng chỉ trong vòng 10 ngày trong cùng một tỉnh có tới hai vụ thì xã hội này có nếp sống đầy bạo lực!
Mỗi năm ở Trung Quốc có hàng trăm ngàn cuộc biểu tình với số lượng lớn từ hàng trăm người trở lên. Chính phủ Bắc Kinh đã mở cửa cho phép các báo, đài nhà nước loan tin về các cuộc biểu tình này, vì họ biết rằng không thể bịt miệng dân mãi được. Các mạng lưới điện tử đã đóng vai thúc đẩy đảng cộng sản phải nới lỏng chế độ kiểm duyệt tin tức. Vì họ biết nếu nhà nước không loan tin thì dân chúng sẽ được nghe các nguồn tin khác. Cho nên chính sách của đảng cộng sản hiện giờ là “kiểm duyệt tin bằng cách loan tin trước.”
Cho nên chúng ta mới biết ở thành phố Trùng Khánh, hàng trăm tài xế taxi đã biểu tình phản đối cảnh sát dung túng cho những chiếc xe taxi “lậu” cướp khách của họ. Chính quyền thành phố phải họp mặt với đại diện các tài xế suốt ba giờ. Ở nhiều nơi khác giới lái taxi cũng đình công hưởng ứng. Các người lái taxi phản đối nạn tham nhũng và sự thông đồng giữa nhà nước cộng sản và các chủ nhân cho thuê xe chạy taxi bóc lột giới tài xế. Nhiều chiếc xe taxi bị phá vì tài xế không tham dự cuộc đình công, cho thấy người ta sẵn sàng gây bạo động.
Ngày 8 tháng 11 ở Bắc Kinh, hơn 400 người biểu tình trước tòa thị chính để phản đối một cuộc “lạc quyên” lừa bịp. Tân Hoa Xã loan tin như vậy, chỉ khiến người đọc thắc mắc thêm. Tại sao bị kẻ gian lừa bịp mà lại đem nhau tới tòa đô chính phản đối? Ai lạc quyên? Họ nhân danh đảng và nhà nước ở cấp thành phố hay trung ương khi yêu cầu dân đóng góp? Ðể làm gì? Những ông lớn nào dính líu? Không ai biết.
Vụ biểu tình đang được cả thế giới chú ý là người dân ở thị xã Lũng Nam, tỉnh Cam Túc. Bản tin của nhà nước cộng sản cho biết hàng ngàn người đã biểu tình, và chỉ loan tin có 60 cảnh sát viên bị dân đánh. Nhưng những nguồn tin độc lập nêu lên con số mười ngàn người, với nhiều biến chuyển rõ hơn.
Vụ biểu tình ở Lũng Nam bắt đầu với 30 người dân “khiếu kiện về đất đai,” một lý do thông thường nhất, ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam hiện nay. Những người này đã nộp đơn khiếu oan từ năm 2006 vì chính quyền chiếm đất không bồi thường thỏa đáng; ngày Thứ Hai vừa qua họ lại “biểu tình hâm nóng” nỗi oan khuất để nhắc nhở nhà nước khỏi quên. Qua ngày hôm sau, có thêm khoảng 2,000 người dân khác tới dự biểu tình, và vấn đề được nêu lên đã thay đổi. Người ta phản đối chính quyền thị xã Lũng Nam đã quyết định đổi nơi thiết lập “trụ sở ủy ban nhân dân” sau trận động đất cũ. Người biểu tình đã đánh lại công an, cảnh sát bằng gậy sắt, xích sắt; ném đá, ném gạch, ném cả chậu cây kiểng vào đám công an; chiếm một xe cứu hỏa, đốt các xe hơi khác của công an, đốt cả xe đạp và xe gắn máy; dân cũng kéo tới đập vỡ cửa kính trụ sở nhà nước và chiếm cả một văn phòng trong một ngày. Số người biểu tình lên tới 10,000 người, theo nguồn tin của Asia News.
Cuộc biểu tình ở Lũng Nam đông người vì nông dân ở các làng mạc chung quanh cũng kéo về tham dự, mỗi nhóm người đến với những khẩu hiệu, những nỗi oan ức và yêu sách mới. Một người Trung Hoa nói với nhà báo: “Tôi trước là cán bộ nhà nước, nhưng nay tôi ủng hộ người dân.”
Ngày Thứ Tư, cuộc biểu tình đã bị đàn áp và chính quyền tuyên bố tình trạng giới nghiêm trong thành phố 2 triệu 6 dân và Tân Hoa Xã báo tin “tình hình đã ổn định!” Nhưng trong thành phố còn nhiều đám khói bốc lên.
Vì đâu một cuộc biểu tình “bình thường” của 30 người dân mất đất khiếu kiện (đã kéo dài từ 2 năm nay) bỗng nhiên biến thành vụ bạo động khiến hàng trăm người dân bị bắt? Nguyên nhân chính được nêu lên là dân chúng phản đối việc chính quyền đổi địa điểm trụ sở huyện Võ Ðô từ thị xã Lũng Nam tới một thành phố khác, trong kế hoạch xây dựng lại sau vụ động đất vào tháng Năm vừa qua.
Cuộc động đất ở Tứ Xuyên hồi Tháng Năm lan sang tới huyện Võ Ðô, tiếp theo lại một trận động đất vào ngày 21 tháng 6, tất cả khiến cho gần 2 triệu người trong huyện mất nhà cửa. Lấy lý do vùng này có thể bị động đất nữa, chi đảng cộng sản địa phương quyết định dời trụ sở ủy ban nhân dân huyện từ Lũng Nam đi nơi khác.
Tại sao dân chúng lại phản đối quyết định dời địa chỉ của trụ sở nhà nước? Lý do chắc không đơn giản. Cuộc biểu tình biến thành bạo động cho thấy phải có nhiều nguyên nhân tiềm ẩn khác, nhiều nỗi phẫn uất được tích tụ từ bao năm, chỉ chờ dịp bùng nổ. Trên các mạng lưới nhiều người than thở rằng dân chúng huyện Võ Ðô đã khổ vì các cán bộ cộng sản tham nhũng cửa quyền, những vụ chiếm đất không bồi thường đầy đủ trong bao nhiêu năm qua. Cam Túc là một tỉnh vùng biên cương, tiếp giáp với vùng Tây Vực, có nhiều nhóm dân thiểu số bị người Hán cai trị; cũng là tỉnh đã diễn ra những cuộc biểu tình của người Tây Tạng trong Mùa Hè vừa qua.
Quyết định dời trụ sở huyện có thể đúng, có thể sai, người ngoài không biết được nguyên ủy. Nhưng khi những người dân bị ảnh hưởng của quyết định trên đã bầy tỏ ý kiến phản đối bằng cách bạo động, chúng ta thấy chắc các cán bộ đã quyết định đơn phương và bất ngờ, dân không được hỏi ý kiến. Cách cai trị của đảng cộng sản không bao giờ minh bạch, công khai. Mỗi chi bộ đảng cộng sản là một “hội kín,” họ quyết định gì cũng chỉ có họ biết với nhau, đó là nguyên nhân chính tạo ra những bất mãn chồng chất.
Người dân thì lúc nào cũng nghi ngờ cán bộ quyết định điều gì đều vì quyền lợi của chính họ. Mỗi quyết định lớn đều tạo ra cơ hội tham nhũng, việc dời trụ sở huyện Võ Ðô hay mở rộng thủ đô Hà Nội đều có những lý do chấm mút cả. Khi trụ sở huyện đổi chỗ, khi đất thành phố được quy hoạch lại, giá nhà ở nơi cũ sẽ xuống giá, địa điểm mới sẽ lên giá! Các quan chức nào được ăn nhiều trong các kế hoạch đó?
Khi cán bộ đảng ở Lũng Nam giải thích rằng họ phải đổi địa điểm cơ quan nhà nước vì Lũng Nam ở trong vùng động đất, người dân đã hỏi lại rằng nếu lo động đất thì tại sao không cho cả 2.6 triệu người dân đổi địa chỉ theo? Ðây là một câu hỏi cho thấy dân không tin tưởng vào bất cứ lời giải thích nào nữa. Một người dân Lũng Nam đã than với nhà báo rằng bà ta thuộc lớp người nghèo, trụ sở huyện thay đổi thì bà ta cũng không được, không mất gì cả. Nhưng, bà vẫn thấy, “Khi trụ sở huyện còn ở đây thì dù tôi không có việc làm cũng vẫn đi mót rác được, đủ cơm ăn. Bây giờ họ đổi trụ sở huyện đi nơi khác, tìm đâu ra rác nữa để mà mót?” Bà than: “Bây giờ còn có cơm ăn, mai mốt sẽ phải ăn bắp trừ cơm thôi!”
Cuộc biểu tình bạo động ở Lũng Nam chỉ là một trong hàng trăm ngàn cuộc phản đối của nhân dân Trung Hoa đối với chính quyền cộng sản. Một chế độ như thế không thể coi là ổn định được. Các nước cộng sản như Việt Nam, Trung Quốc, Bắc Hàn đều là những thùng thuốc nổ chỉ lo sẽ có lúc bùng lên. Lý do chính là vì người dân không được hưởng những quyền tự do tối thiểu: Tự do báo chí để được phát biểu ý kiến bất đồng; tự do hội họp để cùng nêu lên những ý kiến chung. Tóm lại là chưa có tự do dân chủ.
Một đặc tính thiết yếu của chế độ dân chủ là người dân được góp ý kiến trong những quyết định liên can tới đời sống của họ, chuyện nhỏ cũng như chuyện lớn.
Người dân các nước như Pháp, Canada, Mỹ đều chấp nhận phải có một nhóm người cầm quyền bính và quyết định thay cho mình; về những công việc chung, như xây cầu, làm đường, tăng thuế hay giảm thuế. Không người dân nào đòi tự mình quyết định lấy tất cả mọi việc.
Nhưng nếu có người thấy chính quyền “làm bậy” thì sao? Thí dụ, nếu ông, bà thị trưởng phá bỏ một công viên để làm trường học, hoặc ông tổng thống định làm thêm hai hàng không mẫu hạm nữa, mà người dân không đồng ý thì sao? Ở một nước tự do dân chủ người ta có quyền nói: Chúng tôi chống dự án này. Có quyền kêu gọi những ai đồng ý với mình cùng lên tiếng nói, có khi lên tiếng với tư cách một đảng đối lập. Nói mãi mà chính quyền vẫn làm trái ý mình thì sao? Thì đến kỳ bầu cử tới mình sẽ bỏ phiếu chống, và hô hào mọi người chống bà thị trưởng hoặc ông tổng thống “ngu dốt” hoặc tham nhũng này.
Người ta không cần phải bạo động để bầy tỏ ý kiến. Ðó là đặc tính của thể chế dân chủ. Lý do là vì người ta biết có thể thay đổi chính quyền, thay đổi xã hội chung quanh mình bằng lá phiếu. Trong các nước dân chủ lâu lâu cũng xẩy ra những cuộc biểu tình bạo động. Nhưng đó là những biến cố họa hiếm, khi có những xúc động mạnh bị dồn nén lâu ngày cần bùng nổ ra, có lý do chính đáng hoặc không chính đáng.
Còn ở các nước độc tài thì những cuộc biểu tình bạo động xẩy ra rất nhiều. Chính vì những người dân ở đó không có cơ hội phát biểu các ý kiến trái ngược với ý nhà nước. Ðến khi người dân không chịu nổi sự áp bức nữa, thì chỉ còn cách là bạo động. Cho nên chính thể chế dân chủ tự do mới bảo đảm cho xã hội được ổn định, hòa bình trong lâu dài
Thị trường xuống, tiền chạy đi đâu?
Ngô Nhân Dụng Sau hai ngày, mỗi ngày mất gần 500 điểm, hôm qua chỉ số Công Nghiệp Dow Jones (DJIA) đã lên trở lại, cũng tăng gần 500 điểm. Vì thị trường New York nghe tin tổng thống tân cử Barack Obama đang chuẩn bị mời ông Timothy J. Geithner làm bộ trưởng Bộ Tài Chánh (gọi là Bộ Ngân Khố).
Bản tin rất vắn tắt chỉ cho biết cơ quan Ðiều Tra Liên Bang (FBI) đã đang chính thức đi dò hỏi những bạn bè quen biết và người cộng sự về ông Geithner. Giới đầu tư cũng bén nhậy như nhà báo, họ đoán ngay là ông Obama đã nhờ FBI điều tra về nhân vật này, một dấu hiệu cho thấy ông ta đang được nhắm cho một chức vụ quan trọng trong chính phủ sắp tới.
Mà ông Geithner thì chắc chỉ làm bộ trưởng Ngân Khố. Hiện ông đang là thống đốc Quỹ Dự Trữ Liên Bang vùng New York, là nhân vật đứng thứ nhì trong ban lãnh đạo Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang (Fed), tức ngân hàng trung ương nước Mỹ, chỉ sau ông Chủ Tịch Ben Bernanke. Mọi hoạt động của Fed, như cho các ngân hàng vay tiền, mua và bán công trái trong thị trường, đều do chi nhánh Fed ở New York phụ trách, vì thành phố New York là trung tâm tài chánh của Mỹ. Gần đây ông luôn luôn ở bên ông Chủ Tịch Fed và Bộ Trưởng Henry Paulson trong những kế hoạch cứu nguy thị trường. Những vụ môi giới để các ngân hàng đầu tư lớn kết hợp hoặc mua bán lẫn nhau, cũng như việc trợ giúp để cứu các ngân hàng lâm nạn, đều thực hiện qua văn phòng Fed ở New York.
Chiều hôm qua, thị trường phấn chấn tăng thêm 494 điểm, tức tăng 6.5%, sau khi bản tin về ông Thống Ðốc Geithner được truyền đi, không phải vì người ta hy vọng ông này có phép lạ cứu vãn nền kinh tế Mỹ. Ðiều quan trọng là giới đầu tư thấy có dấu hiệu vị tổng thống tân cử quan tâm đến vấn đề kinh tế nên mới sớm lo việc tìm một người quen việc kế nhiệm ông bộ trưởng Paulson, thay vì trong mấy ngày qua chỉ lo những chức vụ khác về ngoại giao, tư pháp, quốc phòng. Ông Geithner chắc sẽ cộng tác ngay với ông Paulson sau khi được chỉ định, trước khi ông Obama nhậm chức, vì họ đã cộng tác sẵn rồi. Thị trường muốn chuyện đó càng sớm càng tốt.
Trong hai tuần qua có quá nhiều tin xấu về tương lai kinh tế Mỹ khiến cho thị trường xuống nặng, riêng trong tuần này đã mất 5.3% sau khi mất hơn 10% trong hai ngày rồi gỡ lại được trong ngày Thứ Sáu. Hôm Thứ Tư chỉ chỉ Số Dow Jones mất 427 điểm, xuống dưới con số 8,000, một ngưỡng cửa báo hiệu sự sa sút. Ngày Thứ Năm DJ lại mất thêm 445 điểm, xuống chỉ còn 7552. Vào Tháng Mười năm ngoái có lúc chỉ số DJ đã lên tới 14,164, con số cao nhất cho tới giờ. Ngày Thứ Sáu, chỉ số DJ cứ nhấp nhỉnh lên xuống mãi, mặc dù trước đó các thị trường ở Á Châu đã tăng lên; cho tới khi nghe tin về ông Geithner thị trường mới tăng vọt lên, như thể tất cả mọi người đang mong mỏi một tin vui, bất cứ tin mừng nào cũng được, để có lý do mua cổ phiếu trở lại!
Tính từ mức kỷ lục 14,164 vào ngày 9 tháng 10 năm 2007 tới chiều Thứ Sáu 21 Tháng Mười Một 2008 chỉ còn là 8046, chỉ số Dow Jones đã bị mất gần một nửa. Chỉ số này chỉ bao gồm 30 cổ phần của các công ty lớn nhất ghi danh trên thị trường New York nhưng thuộc đủ mọi ngành hoạt động kinh tế, có thể coi là tiêu biểu cho tất cả thị trường, gồm gần 3000 công ty ghi danh. Khi cựu Tổng Thống Clinton nhậm chức đầu năm 1992, Dow Jones ở mức 3,241. Số ông này hên, khi ông mãn nhiệm đầu năm 2001, chỉ số Dow Jones đã tăng gấp ba thành 10,587. Kể từ đó đến giờ, còn 2 tháng nữa Tổng Thống Bush rời khỏi chức vụ, chỉ số Dow Jones đã mất đi 20%.
Vào lúc thị trường lên cao nhất hơn một năm trước đây, trị giá cổ phiếu của tất cả các công ty ghi danh trên thị trường New York là vào khoảng 28 ngàn tỷ Mỹ kim. Cho tới giờ, đã giảm mất 43%, coi như cổ đông của các công ty ghi danh ở New York đã mất 12 ngàn tỷ Mỹ kim! Một vị độc giả Người Việt đã đặt câu hỏi: Khi thị trường chứng khoán xuống, giá trị các cổ phiếu bị mất như vậy, thì những đồng tiền bị mất đó chạy đi đâu? Mười hai ngàn tỷ đô la Mỹ, không phải là nhỏ nó mất vào đâu rồi?
Câu hỏi đó có thể đặt ra trên hai bình diện. Một là đối với từng cá nhân hay từng quỹ đầu tư mua bán các cổ phần. Hai là đối với cả thị trường và nền kinh tế nói chung. Xin bàn tới chuyện thứ nhất trước.
Quý vị mua một số, thí dụ 100 cổ phần của công ty A, khi giá cổ phần đang từ 100 đồng tụt xuống chỉ còn 70 đồng, quý vị đã mất tổng cộng 3,000 đồng. Tất cả các chủ nhân cổ phần công ty A đều mất 30% giá trị trong cùng giờ phút đó. Nếu công ty A đã phát hành 10 triệu cổ phần thì khi cổ phần đang từ 100 xuống 70 đồng, giá trị cả công ty đã mất 30% tức là mất 300 triệu đồng. Những món tiền mất đó không chạy sang Tây hay sang Tầu, nó biến mất ngay tại chỗ, không đi đâu cả. Những người nào đang giữ các cổ phần đó thì vẫn là chủ nhân các cổ phần như cũ, với giá trị thấp hơn. Họ có thể chờ một ngày thị trường nó lên lại, từ 70 lên 100. Lúc đó cũng không thể nói là có đồng những tiền nào nó mới chạy vào túi mình được!
Bởi vì giá trị cổ phần một công ty là do cách nhìn của hàng triệu người mua và bán cổ phần, họ đều ước tính, thẩm lượng và quyết định mua hay bán. Người ta mua hoặc bán vì tính toán khác nhau, có nhu cầu khác nhau. Trước hết, họ tính giá cổ phần cao thấp tùy theo khả năng sinh lợi của công ty trong tương lai. Có những công ty chưa làm ra đồng lợi nhuận nào nhưng giá cổ phần vẫn lên vùn vụt, vì người ta thấy trong tương lai nó sẽ lời rất lớn. Ngược lại, khi người ta thấy tương lai công ty sẽ khó kiếm lời hoặc sẽ lỗ thì họ không muốn giữ cổ phần, đem bán đi, thế là giá xuống.
Như vậy thì đối với các nhà đầu tư giá trị các cổ phần trong tay chỉ là những con số, những giá trị “biểu kiến,” ghi trên giấy. Chỉ khi nào quý vị bán các cổ phần đó rồi, đồng tiền giữ trong túi hay gửi trong ngân hàng, đó mới là tiền thật. Nhưng khi đó thì quý vị không làm chủ các cổ phần nữa. Người mua cổ phần của quý vị có thể sẽ thấy giá trị cổ phần lên hoặc xuống, như tất cả các cổ đông khác. Nếu giá lên, người mua đó sẽ được lợi (có thêm tiền, nếu đem bán ngay) và quý vị sẽ cảm thấy mình bị mất tiền (đúng ra là mất cơ hội có thêm tiền). Nếu cổ phần xuống giá, người đó sẽ thấy mình mất tiền; nhưng nếu cứ giữ các cổ phần đó không bán thì chưa chắc sẽ mất.
Tình trạng này cũng không khác gì chuyện giá trị một ngôi nhà. Ví dụ quý vị đã trả hết nợ ngôi nhà của mình; khi thấy hàng xóm có ngôi nhà giống hệt bán được giá một triệu, quý vị có thể nghĩ rằng mình đang là triệu phú, với cái nhà giá một triệu trong tay. Nhưng gặp lúc thị trường nhà cửa xuống như bây giờ, nếu đem bán người mua chỉ trả giá 800 ngàn thôi, thì quý vị thấy mình không còn là triệu phú nữa! Ngôi nhà mình làm chủ mới bị “mất giá” 200 ngàn! Có phải là mình bị mất 200 ngàn thật hay không? Nhìn quanh, vẫn thấy mình ở ngôi nhà như cũ, không có gì thay đổi cả. Con số tiền mất 200 ngàn chỉ có thật nếu trước đây quý vị định bán mà không bán, rồi bây giờ bắt buộc phải bán đành chịu thiệt thòi vì không thể đợi ngày giá nhà lên trở lại.
Ðó là nói chuyện “được” và “mất” đối với những người mua bán cổ phần trong thị trường chứng khoán. Nhưng còn đối với một công ty, với tất cả thị trường, tất cả nền kinh tế thì sao?
Thí dụ một cổ phần công ty General Motors có lúc giá lên tới hơn 39 đô la. Vào Tháng Hai năm 2008 đã xuống chỉ còn 28 đô la. Ngày hôm qua giá cổ phần GM chỉ còn 2.79 đô la, so với đầu năm nay đã mất 90% giá trị! Nếu tính số 593 triệu cổ phần GM được mua bán trong thị trường, mỗi cổ phần giảm 90% giá trị, thì công ty này đã mất hơn 15 tỷ đô la!
Số tiền đó mất đi đâu? Không đi đâu cả. Cũng giống như giá một ngôi nhà xuống khi dân cư trong vùng bỏ đi ở nơi khác ở, giá trị của công ty GM xuống vì thị trường nhận thấy nó không còn triển vọng sinh lời như trước nữa. Công ty vẫn còn những cơ xưởng, những máy móc, và hầu hết lực lượng nhân viên như cũ, nhưng giá trị xuống vì số tiền lời trong tương lai sẽ xuống. Người mua cổ phần tính giá theo kỳ vọng về lợi nhuận so với rủi ro. Các yếu tố như nhu cầu người tiêu thụ, triển vọng kinh tế ở nước Mỹ và thế giới xuống, tình trạng cạnh tranh gay gắt, vân vân, ảnh hưởng tới dự đoán lời lỗ và khiến giá trị của công ty xuống. Một bản tin cho biết quốc hội và chính phủ có chịu giúp công ty hay không cũng làm thay đổi giá trị cổ phần. GM mất 15 tỷ đô la vì thị trường thấy nó không đáng giá như cũ, 15 tỷ đô la tan ra mây khói mà không có đồng tiền nào chạy đi đâu cả!
Ðiều đó cũng đúng với cả thị trường chứng khoán. Từ tổng số giá trị 28 ngàn tỷ vào lúc cao nhất xuống chỉ còn 16 ngàn tỷ bây giờ, cả thị trường New York đã mất giá 12 tỷ. Số tiền đó mất vì hầu hết các công ty ghi danh trong thị trường đã xuống giá. Các công ty đó xuống giá vì triển vọng kiếm lời của họ xuống; mà đó là do tương lai cả nền kinh tế Mỹ và thế giới đang xuống.
Giá trị các cổ phần trên thị trường sẽ lên khi nào kinh tế có triển vọng lên. Chắc phải hàng năm nữa mới hy vọng lên trở lại, vì cơn suy thoái năm nay có vẻ sẽ trầm trọng hơn mấy lần gần đây nhất. Cho nên, khi thị trường nghe tin ông tổng thống tân cử Obama định mời ông Geithner làm bộ trưởng Tài Chánh, một người đã từng cộng tác với ông bộ trưởng đương nhiệm, người ta cảm thấy hy vọng là hai người sắp làm việc với nhau rồi. Chính sách kinh tế của chính phủ có triển vọng sẽ rõ ràng hơn, không ở trong trạng thái chờ đợi và lúng túng của một chính phủ đang chờ giải nhiệm nữa. Chính phủ và quốc hội cũng sẽ hợp tác với nhau dễ dàng hơn, không bị nhiều nỗi tị hiềm ngăn cản nữa. Ðó là lý do khiến thị trường hưng phấn trở lại trong ngày Thứ Sáu. Ít nhất cũng được một ngày. Còn tuần sau, sẽ có những tin tức kinh tế mới, thị trường sẽ lên hay xuống tùy theo các tin tức xấu nhẹ hoặc xấu nặng hơn! Người ta lại có cảm tưởng thị trường đang được thêm tiền hay đang bị mất tiền, mặc dù không có đồng tiền nào chạy đi đâu cả!
Ngô Nhân Dụng Sau hai ngày, mỗi ngày mất gần 500 điểm, hôm qua chỉ số Công Nghiệp Dow Jones (DJIA) đã lên trở lại, cũng tăng gần 500 điểm. Vì thị trường New York nghe tin tổng thống tân cử Barack Obama đang chuẩn bị mời ông Timothy J. Geithner làm bộ trưởng Bộ Tài Chánh (gọi là Bộ Ngân Khố).
Bản tin rất vắn tắt chỉ cho biết cơ quan Ðiều Tra Liên Bang (FBI) đã đang chính thức đi dò hỏi những bạn bè quen biết và người cộng sự về ông Geithner. Giới đầu tư cũng bén nhậy như nhà báo, họ đoán ngay là ông Obama đã nhờ FBI điều tra về nhân vật này, một dấu hiệu cho thấy ông ta đang được nhắm cho một chức vụ quan trọng trong chính phủ sắp tới.
Mà ông Geithner thì chắc chỉ làm bộ trưởng Ngân Khố. Hiện ông đang là thống đốc Quỹ Dự Trữ Liên Bang vùng New York, là nhân vật đứng thứ nhì trong ban lãnh đạo Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang (Fed), tức ngân hàng trung ương nước Mỹ, chỉ sau ông Chủ Tịch Ben Bernanke. Mọi hoạt động của Fed, như cho các ngân hàng vay tiền, mua và bán công trái trong thị trường, đều do chi nhánh Fed ở New York phụ trách, vì thành phố New York là trung tâm tài chánh của Mỹ. Gần đây ông luôn luôn ở bên ông Chủ Tịch Fed và Bộ Trưởng Henry Paulson trong những kế hoạch cứu nguy thị trường. Những vụ môi giới để các ngân hàng đầu tư lớn kết hợp hoặc mua bán lẫn nhau, cũng như việc trợ giúp để cứu các ngân hàng lâm nạn, đều thực hiện qua văn phòng Fed ở New York.
Chiều hôm qua, thị trường phấn chấn tăng thêm 494 điểm, tức tăng 6.5%, sau khi bản tin về ông Thống Ðốc Geithner được truyền đi, không phải vì người ta hy vọng ông này có phép lạ cứu vãn nền kinh tế Mỹ. Ðiều quan trọng là giới đầu tư thấy có dấu hiệu vị tổng thống tân cử quan tâm đến vấn đề kinh tế nên mới sớm lo việc tìm một người quen việc kế nhiệm ông bộ trưởng Paulson, thay vì trong mấy ngày qua chỉ lo những chức vụ khác về ngoại giao, tư pháp, quốc phòng. Ông Geithner chắc sẽ cộng tác ngay với ông Paulson sau khi được chỉ định, trước khi ông Obama nhậm chức, vì họ đã cộng tác sẵn rồi. Thị trường muốn chuyện đó càng sớm càng tốt.
Trong hai tuần qua có quá nhiều tin xấu về tương lai kinh tế Mỹ khiến cho thị trường xuống nặng, riêng trong tuần này đã mất 5.3% sau khi mất hơn 10% trong hai ngày rồi gỡ lại được trong ngày Thứ Sáu. Hôm Thứ Tư chỉ chỉ Số Dow Jones mất 427 điểm, xuống dưới con số 8,000, một ngưỡng cửa báo hiệu sự sa sút. Ngày Thứ Năm DJ lại mất thêm 445 điểm, xuống chỉ còn 7552. Vào Tháng Mười năm ngoái có lúc chỉ số DJ đã lên tới 14,164, con số cao nhất cho tới giờ. Ngày Thứ Sáu, chỉ số DJ cứ nhấp nhỉnh lên xuống mãi, mặc dù trước đó các thị trường ở Á Châu đã tăng lên; cho tới khi nghe tin về ông Geithner thị trường mới tăng vọt lên, như thể tất cả mọi người đang mong mỏi một tin vui, bất cứ tin mừng nào cũng được, để có lý do mua cổ phiếu trở lại!
Tính từ mức kỷ lục 14,164 vào ngày 9 tháng 10 năm 2007 tới chiều Thứ Sáu 21 Tháng Mười Một 2008 chỉ còn là 8046, chỉ số Dow Jones đã bị mất gần một nửa. Chỉ số này chỉ bao gồm 30 cổ phần của các công ty lớn nhất ghi danh trên thị trường New York nhưng thuộc đủ mọi ngành hoạt động kinh tế, có thể coi là tiêu biểu cho tất cả thị trường, gồm gần 3000 công ty ghi danh. Khi cựu Tổng Thống Clinton nhậm chức đầu năm 1992, Dow Jones ở mức 3,241. Số ông này hên, khi ông mãn nhiệm đầu năm 2001, chỉ số Dow Jones đã tăng gấp ba thành 10,587. Kể từ đó đến giờ, còn 2 tháng nữa Tổng Thống Bush rời khỏi chức vụ, chỉ số Dow Jones đã mất đi 20%.
Vào lúc thị trường lên cao nhất hơn một năm trước đây, trị giá cổ phiếu của tất cả các công ty ghi danh trên thị trường New York là vào khoảng 28 ngàn tỷ Mỹ kim. Cho tới giờ, đã giảm mất 43%, coi như cổ đông của các công ty ghi danh ở New York đã mất 12 ngàn tỷ Mỹ kim! Một vị độc giả Người Việt đã đặt câu hỏi: Khi thị trường chứng khoán xuống, giá trị các cổ phiếu bị mất như vậy, thì những đồng tiền bị mất đó chạy đi đâu? Mười hai ngàn tỷ đô la Mỹ, không phải là nhỏ nó mất vào đâu rồi?
Câu hỏi đó có thể đặt ra trên hai bình diện. Một là đối với từng cá nhân hay từng quỹ đầu tư mua bán các cổ phần. Hai là đối với cả thị trường và nền kinh tế nói chung. Xin bàn tới chuyện thứ nhất trước.
Quý vị mua một số, thí dụ 100 cổ phần của công ty A, khi giá cổ phần đang từ 100 đồng tụt xuống chỉ còn 70 đồng, quý vị đã mất tổng cộng 3,000 đồng. Tất cả các chủ nhân cổ phần công ty A đều mất 30% giá trị trong cùng giờ phút đó. Nếu công ty A đã phát hành 10 triệu cổ phần thì khi cổ phần đang từ 100 xuống 70 đồng, giá trị cả công ty đã mất 30% tức là mất 300 triệu đồng. Những món tiền mất đó không chạy sang Tây hay sang Tầu, nó biến mất ngay tại chỗ, không đi đâu cả. Những người nào đang giữ các cổ phần đó thì vẫn là chủ nhân các cổ phần như cũ, với giá trị thấp hơn. Họ có thể chờ một ngày thị trường nó lên lại, từ 70 lên 100. Lúc đó cũng không thể nói là có đồng những tiền nào nó mới chạy vào túi mình được!
Bởi vì giá trị cổ phần một công ty là do cách nhìn của hàng triệu người mua và bán cổ phần, họ đều ước tính, thẩm lượng và quyết định mua hay bán. Người ta mua hoặc bán vì tính toán khác nhau, có nhu cầu khác nhau. Trước hết, họ tính giá cổ phần cao thấp tùy theo khả năng sinh lợi của công ty trong tương lai. Có những công ty chưa làm ra đồng lợi nhuận nào nhưng giá cổ phần vẫn lên vùn vụt, vì người ta thấy trong tương lai nó sẽ lời rất lớn. Ngược lại, khi người ta thấy tương lai công ty sẽ khó kiếm lời hoặc sẽ lỗ thì họ không muốn giữ cổ phần, đem bán đi, thế là giá xuống.
Như vậy thì đối với các nhà đầu tư giá trị các cổ phần trong tay chỉ là những con số, những giá trị “biểu kiến,” ghi trên giấy. Chỉ khi nào quý vị bán các cổ phần đó rồi, đồng tiền giữ trong túi hay gửi trong ngân hàng, đó mới là tiền thật. Nhưng khi đó thì quý vị không làm chủ các cổ phần nữa. Người mua cổ phần của quý vị có thể sẽ thấy giá trị cổ phần lên hoặc xuống, như tất cả các cổ đông khác. Nếu giá lên, người mua đó sẽ được lợi (có thêm tiền, nếu đem bán ngay) và quý vị sẽ cảm thấy mình bị mất tiền (đúng ra là mất cơ hội có thêm tiền). Nếu cổ phần xuống giá, người đó sẽ thấy mình mất tiền; nhưng nếu cứ giữ các cổ phần đó không bán thì chưa chắc sẽ mất.
Tình trạng này cũng không khác gì chuyện giá trị một ngôi nhà. Ví dụ quý vị đã trả hết nợ ngôi nhà của mình; khi thấy hàng xóm có ngôi nhà giống hệt bán được giá một triệu, quý vị có thể nghĩ rằng mình đang là triệu phú, với cái nhà giá một triệu trong tay. Nhưng gặp lúc thị trường nhà cửa xuống như bây giờ, nếu đem bán người mua chỉ trả giá 800 ngàn thôi, thì quý vị thấy mình không còn là triệu phú nữa! Ngôi nhà mình làm chủ mới bị “mất giá” 200 ngàn! Có phải là mình bị mất 200 ngàn thật hay không? Nhìn quanh, vẫn thấy mình ở ngôi nhà như cũ, không có gì thay đổi cả. Con số tiền mất 200 ngàn chỉ có thật nếu trước đây quý vị định bán mà không bán, rồi bây giờ bắt buộc phải bán đành chịu thiệt thòi vì không thể đợi ngày giá nhà lên trở lại.
Ðó là nói chuyện “được” và “mất” đối với những người mua bán cổ phần trong thị trường chứng khoán. Nhưng còn đối với một công ty, với tất cả thị trường, tất cả nền kinh tế thì sao?
Thí dụ một cổ phần công ty General Motors có lúc giá lên tới hơn 39 đô la. Vào Tháng Hai năm 2008 đã xuống chỉ còn 28 đô la. Ngày hôm qua giá cổ phần GM chỉ còn 2.79 đô la, so với đầu năm nay đã mất 90% giá trị! Nếu tính số 593 triệu cổ phần GM được mua bán trong thị trường, mỗi cổ phần giảm 90% giá trị, thì công ty này đã mất hơn 15 tỷ đô la!
Số tiền đó mất đi đâu? Không đi đâu cả. Cũng giống như giá một ngôi nhà xuống khi dân cư trong vùng bỏ đi ở nơi khác ở, giá trị của công ty GM xuống vì thị trường nhận thấy nó không còn triển vọng sinh lời như trước nữa. Công ty vẫn còn những cơ xưởng, những máy móc, và hầu hết lực lượng nhân viên như cũ, nhưng giá trị xuống vì số tiền lời trong tương lai sẽ xuống. Người mua cổ phần tính giá theo kỳ vọng về lợi nhuận so với rủi ro. Các yếu tố như nhu cầu người tiêu thụ, triển vọng kinh tế ở nước Mỹ và thế giới xuống, tình trạng cạnh tranh gay gắt, vân vân, ảnh hưởng tới dự đoán lời lỗ và khiến giá trị của công ty xuống. Một bản tin cho biết quốc hội và chính phủ có chịu giúp công ty hay không cũng làm thay đổi giá trị cổ phần. GM mất 15 tỷ đô la vì thị trường thấy nó không đáng giá như cũ, 15 tỷ đô la tan ra mây khói mà không có đồng tiền nào chạy đi đâu cả!
Ðiều đó cũng đúng với cả thị trường chứng khoán. Từ tổng số giá trị 28 ngàn tỷ vào lúc cao nhất xuống chỉ còn 16 ngàn tỷ bây giờ, cả thị trường New York đã mất giá 12 tỷ. Số tiền đó mất vì hầu hết các công ty ghi danh trong thị trường đã xuống giá. Các công ty đó xuống giá vì triển vọng kiếm lời của họ xuống; mà đó là do tương lai cả nền kinh tế Mỹ và thế giới đang xuống.
Giá trị các cổ phần trên thị trường sẽ lên khi nào kinh tế có triển vọng lên. Chắc phải hàng năm nữa mới hy vọng lên trở lại, vì cơn suy thoái năm nay có vẻ sẽ trầm trọng hơn mấy lần gần đây nhất. Cho nên, khi thị trường nghe tin ông tổng thống tân cử Obama định mời ông Geithner làm bộ trưởng Tài Chánh, một người đã từng cộng tác với ông bộ trưởng đương nhiệm, người ta cảm thấy hy vọng là hai người sắp làm việc với nhau rồi. Chính sách kinh tế của chính phủ có triển vọng sẽ rõ ràng hơn, không ở trong trạng thái chờ đợi và lúng túng của một chính phủ đang chờ giải nhiệm nữa. Chính phủ và quốc hội cũng sẽ hợp tác với nhau dễ dàng hơn, không bị nhiều nỗi tị hiềm ngăn cản nữa. Ðó là lý do khiến thị trường hưng phấn trở lại trong ngày Thứ Sáu. Ít nhất cũng được một ngày. Còn tuần sau, sẽ có những tin tức kinh tế mới, thị trường sẽ lên hay xuống tùy theo các tin tức xấu nhẹ hoặc xấu nặng hơn! Người ta lại có cảm tưởng thị trường đang được thêm tiền hay đang bị mất tiền, mặc dù không có đồng tiền nào chạy đi đâu cả!
Tây Tạng: duy trì đường lối đấu tranh ôn hoà
Tác giả: Thanh Phương
Mặc dù đường lối đấu tranh ôn hòa của đức Đạt Lai Lạt Ma cho tới nay chẳng đi đến đâu, nhưng đức Đạt Lai Lạt Ma, năm nay đã 73 tuổi và sức khoẻ ngày càng suy yếu, vẫn được coi là gương mặt tiêu biểu duy nhất cho cuộc đấu tranh của người Tây Tạng.
Cộng đồng Tây Tạng lưu vong vẫn ủng hộ đường lối đấu tranh ôn hoà của đức Đạt Lai Lạt Ma.
Vì biết rằng Trung Quốc sẽ không bao giờ trao trả độc lập cho Tây Tạng, cho nên đức Đạt Lai Lạt Ma từ lâu đã chọn con đường ''trung dung'', tức là đòi một quyền tự trị rộng rãi về mặt văn hóa cho người Tây Tạng. Nhưng gần đây Ngài đã nhìn nhận rằng, đường lối đấu tranh ôn hòa nhằm đòi quyền tự trị cho Tây Tạng đã thất bại. Chính vì vậy, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã triệu tập các đại biểu đại diện cho cộng đồng Tây Tạng lưu vong đến Đại hội ở Dharamsala, Ấn Độ, để bàn thảo về đường lối đấu tranh mới.
Một bộ phận trong cộng đồng người Tây Tạng lưu vong, nhất là giới trẻ, đã đòi phải có một đường lối đấu tranh cứng rắn hơn với Trung Quốc và phải nhắm đến mục tiêu đòi độc lập, chứ không chỉ đòi tự trị.
Thế nhưng, cuối cùng, hôm nay các đại biểu dự Đại hội Dharamsala lại quyết định vẫn ủng hộ đường lối đấu tranh ôn hòa của đức Đạt Lai Lạt Ma. Lý do là vì nhiều đại biểu sợ rằng nếu từ bỏ đường lối ôn hòa này, họ sẽ mất sự hậu thuẫn của quốc tế và Trung Quốc sẽ lại càng không muốn đối thoại.
Như vậy là đức Đạt Lai Lạt Ma, năm nay đã 73 tuổi và sức khoẻ ngày càng suy kiệt, vẫn được coi là gương mặt tiêu biểu duy nhất cho cuộc đấu tranh của người Tây Tạng. Ngài vẫn là hiện thân cho niềm hy vọng của sáu triệu Tây Tạng sống trong và ở nước ngoài.
Thế nhưng, như đã nói ở trên, đường lối đấu tranh ôn hòa của đức Đạt Lai Lạt Ma cho tới nay chẳng đi đến đâu. Cụ thể là từ năm 2002 các đặc sứ của lãnh đạo Tây Tạng vẫn thương lượng với chính quyền Trung Quốc. Nhưng các cuộc đàm phán mới nhất vào đầu tháng 11 đã thất bại, vì Bắc Kinh tuyên bố dứt khoát là sẽ không bao giờ chấp nhận một nền độc lập của Tây Tạng, dù dưới bất kỳ hình thức nào. Hôm qua (21/11/2008) Bắc Kinh một lần nữa lên án đường lối trung dung của đức Đạt Lai Lạt Ma đòi tự trị, cho rằng đây chỉ là một mưu toan đòi độc lập cho Tây Tạng.
Cho nên, tuy vẫn ủng hộ đường lối đấu tranh ôn hòa của đức Đạt Lai Lạt Ma, các đại biểu Tây Tạng lưu vong cũng dự trù sẽ xét lại lập trường nếu như Trung Quốc trong tương lai vẫn không chấp nhận cho Tây Tạng được hưởng quyền tự trị. Nói cách khác, họ vẫn để ngỏ phương án chuyển sang đường lối đấu tranh cứng rắn hơn để giành độc lập cho Tây Tạng. Mặt khác, Đại hội Dharamsala cũng đề nghị các lãnh đạo Tây Tạng tạm ngưng gởi các đặc sứ đến đàm phán với đại diện Trung Quốc cho nến khi nào họ thấy là Bắc Kinh thật sự muốn đối thoại nghiêm chỉnh.
Tóm lại, Đại hội Dharamsala đã không đánh dấu sự chuyển hướng đấu tranh của cộng đồng người Tây Tạng lưu vong, nhưng rõ ràng là nó cũng đã phản ánh thay đổi phần nào trong lập trường của họ trước thái độ kiên quyết của Trung Quốc, dứt khoát không muốn cho Tây Tạng được hưởng quyền tự trị giống như Hồng Kông hay Macao.
.Thanh Phương
Tác giả: Thanh Phương
Mặc dù đường lối đấu tranh ôn hòa của đức Đạt Lai Lạt Ma cho tới nay chẳng đi đến đâu, nhưng đức Đạt Lai Lạt Ma, năm nay đã 73 tuổi và sức khoẻ ngày càng suy yếu, vẫn được coi là gương mặt tiêu biểu duy nhất cho cuộc đấu tranh của người Tây Tạng.
Cộng đồng Tây Tạng lưu vong vẫn ủng hộ đường lối đấu tranh ôn hoà của đức Đạt Lai Lạt Ma.
Vì biết rằng Trung Quốc sẽ không bao giờ trao trả độc lập cho Tây Tạng, cho nên đức Đạt Lai Lạt Ma từ lâu đã chọn con đường ''trung dung'', tức là đòi một quyền tự trị rộng rãi về mặt văn hóa cho người Tây Tạng. Nhưng gần đây Ngài đã nhìn nhận rằng, đường lối đấu tranh ôn hòa nhằm đòi quyền tự trị cho Tây Tạng đã thất bại. Chính vì vậy, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã triệu tập các đại biểu đại diện cho cộng đồng Tây Tạng lưu vong đến Đại hội ở Dharamsala, Ấn Độ, để bàn thảo về đường lối đấu tranh mới.
Một bộ phận trong cộng đồng người Tây Tạng lưu vong, nhất là giới trẻ, đã đòi phải có một đường lối đấu tranh cứng rắn hơn với Trung Quốc và phải nhắm đến mục tiêu đòi độc lập, chứ không chỉ đòi tự trị.
Thế nhưng, cuối cùng, hôm nay các đại biểu dự Đại hội Dharamsala lại quyết định vẫn ủng hộ đường lối đấu tranh ôn hòa của đức Đạt Lai Lạt Ma. Lý do là vì nhiều đại biểu sợ rằng nếu từ bỏ đường lối ôn hòa này, họ sẽ mất sự hậu thuẫn của quốc tế và Trung Quốc sẽ lại càng không muốn đối thoại.
Như vậy là đức Đạt Lai Lạt Ma, năm nay đã 73 tuổi và sức khoẻ ngày càng suy kiệt, vẫn được coi là gương mặt tiêu biểu duy nhất cho cuộc đấu tranh của người Tây Tạng. Ngài vẫn là hiện thân cho niềm hy vọng của sáu triệu Tây Tạng sống trong và ở nước ngoài.
Thế nhưng, như đã nói ở trên, đường lối đấu tranh ôn hòa của đức Đạt Lai Lạt Ma cho tới nay chẳng đi đến đâu. Cụ thể là từ năm 2002 các đặc sứ của lãnh đạo Tây Tạng vẫn thương lượng với chính quyền Trung Quốc. Nhưng các cuộc đàm phán mới nhất vào đầu tháng 11 đã thất bại, vì Bắc Kinh tuyên bố dứt khoát là sẽ không bao giờ chấp nhận một nền độc lập của Tây Tạng, dù dưới bất kỳ hình thức nào. Hôm qua (21/11/2008) Bắc Kinh một lần nữa lên án đường lối trung dung của đức Đạt Lai Lạt Ma đòi tự trị, cho rằng đây chỉ là một mưu toan đòi độc lập cho Tây Tạng.
Cho nên, tuy vẫn ủng hộ đường lối đấu tranh ôn hòa của đức Đạt Lai Lạt Ma, các đại biểu Tây Tạng lưu vong cũng dự trù sẽ xét lại lập trường nếu như Trung Quốc trong tương lai vẫn không chấp nhận cho Tây Tạng được hưởng quyền tự trị. Nói cách khác, họ vẫn để ngỏ phương án chuyển sang đường lối đấu tranh cứng rắn hơn để giành độc lập cho Tây Tạng. Mặt khác, Đại hội Dharamsala cũng đề nghị các lãnh đạo Tây Tạng tạm ngưng gởi các đặc sứ đến đàm phán với đại diện Trung Quốc cho nến khi nào họ thấy là Bắc Kinh thật sự muốn đối thoại nghiêm chỉnh.
Tóm lại, Đại hội Dharamsala đã không đánh dấu sự chuyển hướng đấu tranh của cộng đồng người Tây Tạng lưu vong, nhưng rõ ràng là nó cũng đã phản ánh thay đổi phần nào trong lập trường của họ trước thái độ kiên quyết của Trung Quốc, dứt khoát không muốn cho Tây Tạng được hưởng quyền tự trị giống như Hồng Kông hay Macao.
.Thanh Phương
Thái Độ Phi Chánh Trị
Tác giả: GS Nguyễn Văn Bông Trong những năm qua, tại miền Nam tự do nầy cuộc sinh hoạt chánh trị đã xoay vòng trong mâu thuẫn. Và một trong những mâu thuẫn trầm trọng nhứt có lẽ là thái độ phi chánh trị của đa số công dân và những nhà lãnh đạo trong lúc chính yếu tố chánh trị quyết định sự sống còn của đất nước.
Thật vậy, vì chánh trị và nhân danh chánh trị người ta quay cuồng trong những trò chơi khốn nạn, ném đá giấu tay, người ta dám có những hành động bán nước hại dân để rồi, dư luận xảo trá, bịp bợm, xôi thịt, bè phái được gắn liền với danh từ chánh trị. Và từ đó, công dân chán ghét chánh trị cho chánh trị là một địa hạt không liên quan đến mình, trở về cuộc sống riêng tư và chuyên môn, phó mặc sinh hoạt chánh trị cho những “anh hùng chuyên môn tán dóc”. Thái độ thụ động và bàng quan nầy là một trở ngại cho công cuộc chống Cộng hiện nay và nếu còn tiếp tục sẽ có hậu quả không hay cho tương lai nền dân chủ.
Nếu sự sống cô đơn là ảo tưởng, nếu mối tương quan xã hội là một dữ kiện không thể tránh của con người ngày nay thì dầu chánh trị có được xem là bệnh dịch hạch hay là địa hạt nào của những xảo trá, xôi thịt, con người không thể thoát vòng kềm tỏa của chánh trị. Và dầu có cố ý sống trong tháp ngà hay vô tình lánh xa xã hội, khung cảnh cũng như trật tự pháp lý và những vấn đề chánh trị vẫn chi phối và quấy nhiễu chúng ta.
Trong cuộc sinh hoạt chánh trị hiện nay, người ta nhận thấy có hai trào lưu tư tưởng, hai khuynh hướng. Tuy khác biệt nhau, nhưng chung qui chỉ là hai hình thức của thái độ phi chánh trị. Khuynh hướng thứ nhứt đưa đến sự phủ nhận tính cách chánh trị của hoạt động mình. Khuynh hướng thứ hai nhằm đề cao thái độ thụ động của công dân trước thời cuộc.
Vì tầm quan trọng của vấn đề trước viễn ảnh đấu tranh chánh trị, chúng ta thử phân tách và phê bình hai khuynh hướng phổ thông nầy.
Có những người mà hoạt động của họ cũng như hành vi của họ mật thiết liên quan đến sinh hoạt chánh trị. Nhưng họ quả quyết rằng những hành động ấy không có tánh cách chánh trị, họ phủ nhận những hành động của họ, lập trường của họ không có tánh cách chánh trị. Tại sao?
Thái độ phi chánh trị vừa nêu, nghĩ cho cùng, chỉ là một ảo tưởng. Sở dĩ có như thế là vì những người này có một quan niệm quá hẹp hòi, quá khắt khe về chánh trị, đôi khi lại chống chánh trị. Hoặc họ cho rằng chánh trị là cái gì chỉ liên quan đến chánh đảng, đến bè phái. Vì vậy, khi mà hoạt động của họ có vẻ trên đảng phái hay ngoài đảng phái thì cho đó là những hành vi không có tánh cách chánh trị. Hoặc họ cho rằng chánh trị là cái gì liên quan đến ý thức hệ, đến sự đấu tranh giành quyền lực, cho nên khi hoạt động của họ bề ngoài có tánh cách kỹ thuật, dựa trên kinh nghiệm thực hành, thì không bao giờ họ nhận rằng hành vi ấy là hành vi chánh trị.
Tại sao thái độ vừa nêu là ảo tưởng?
Chúng ta đã biết rằng có nhiều người mà hành vi của họ hoàn toàn có tánh cách chánh trị, nhưng họ quả quyết phủ nhận tánh cách ấy. Tại sao?
Vì quan niệm quá chật hẹp về chánh trị. Họ không chấp nhận được rằng chánh trị chi phối những địa hạt quan trọng và rộng rãi giữa mối tương quan của con người, chớ không phải vì vỏn vẹn nằm trong lãnh vực định chế và chánh quyền. Họ từ khước việc xem xét, việc cân nhắc những hậu quả chánh trị của hành vi mà họ cho rằng chỉ có tánh cách riêng tư.
Tâm trạng này là tâm trạng của rất nhiều người.
Đó là trường hợp của những đạo sĩ, những vị tu hành. Những vị này, trong những ngày cách mạng, giữa lúc chánh biến, có những hành vi như: góp tiền để giúp tù nhân chánh trị, cho ở trong nhà mình, giấu trong nhà mình những kẻ đối lập chánh trị. Đó là những hành vi hoàn toàn và không thể chối cãi có tánh cách chánh trị. Nhưng vì lòng từ thiện của họ, vì họ cho rằng làm như thế ngoài mục đích chánh trị, mà trái lại vì đó là bổn phận, vì đó là để tránh cho con người những đau khổ. Họ thành thật cho rằng không vì lý do chánh trị, nhưng họ quên rằng những hành vi ấy có hậu quả chánh trị.
Đó là trường hợp của những người cầm bút, của văn sĩ, nghề nghiệp của họ đưa đến một lập trường chánh trị, hoặc có hậu quả chánh trị mà họ không ý thức. Những người cầm bút trong những bộ tiểu thuyết hay những quyển tùy bút, tiểu luận v.. v.. khi họ tố cáo những tệ đoan trong xã hội, khi họ miêu tả chánh giới với những đặc điểm như loạn luân, lãng mạn, những con buôn chánh trị, khi họ tố cáo những thối nát của chánh quyền, thì dù muốn dù không dù cho họ có phủ nhận rằng họ không bao giờ có ý định phán đoán giá trị xã hội mà họ phác họa hay phân tích, dù muốn dù không, hành vi của họ có tánh cách chánh trị, có hậu quả chánh trị, và đôi khi, nhận định của họ có ảnh hưởng sâu rộng trong cuộc sinh hoạt chánh trị.
Đó là trường hợp của những nhà BÁC HỌC: khi họ tố cáo thảm họa của thí nghiệm nguyên tử hay chiến tranh nguyên tử, lời tuyên bố hay hành vi của họ hoàn toàn có tánh cách khách quan, trên cả ý thức hệ và đảng phái chánh trị. Vẫn biết rằng hành vi ấy chỉ nhằm mục tiêu cao cả, nhân đạo và sự tồn vong của nhân loại, nhưng họ không thể ngăn cản được sự kiện là lời tuyên bố của họ sẽ được khai thác trên phương diện chánh trị, lời tuyên bố của họ không thể có ảnh hưởng chánh trị và là một yếu tố quan trọng trong lãnh vực bang giao quốc tế.
Đây là một vài ví dụ tâm trạng thường thường của nhiều người tưởng mình đứng ngoài chánh trị. Lập trường phi chánh trị này dựa trên những hành vi mà người ta cho rằng tự nó không có tánh cách chánh trị, nhưng đó chỉ là ảo tưởng vì, dù tự do không có tánh cách chánh trị, nó vẫn là hành vi có hậu quả chánh trị. Mà tất cả những hành vi có hậu quả chánh trị là những hành vi chánh trị.
Thái độ phi chánh trị này, chúng ta lại tìm thấy được đề cao bởi những tổ chức, nhưng đây không phải là những ảo tưởng: nó trở thành một chiến thuật.
Vì chánh trị có tiếng không tốt cho nên các lãnh tụ nghiệp đoàn, hiệp hội hay tôn giáo ngại rằng có một thái độ chánh trị rõ rệt hoặc dùng những danh từ hơi chánh trị một chút có thể làm sứt mẻ tình đoàn kết của nhơn viên và làm cho họ hoảng sợ. Bởi vậy, các nhà lãnh đạo khôn khéo luôn quả quyết rằng lập trường của mình hay quyết định của mình chỉ nhằm việc bảo vệ quyền lợi của đoàn thể ngoài mọi tranh chấp chánh trị. Họ cố tránh những danh từ chánh trị và chỉ nêu lên nào là quyền lợi nghiệp đoàn, nào là quốc gia dân tộc. Mặc dầu họ trực tiếp can thiệp vào chánh quyền và sự can thiệp có tánh cách chánh trị không thể chối cãi, họ cũng vẫn tuyên bố chỉ nhơn danh đoàn thể và đứng ngoài đảng phái và tranh chấp chánh trị.
Tuy nhiên, đó chỉ là thái độ phi chánh trị bề ngoài và ai cũng thừa hiểu rằng những tổ chức không mục tiêu chánh trị luôn luôn có những hành vi chánh trị. Sở dĩ nhà lãnh đạo bao trùm lên những hành vi chánh trị một bức màn có vẻ khách quan, trung lập, đó chỉ là một chiến thuật nhằm đạt được kết quả mong muốn mà thôi.
Thái độ phi chánh trị không những là một ảo tưởng hay ngụy trang mà còn là khuynh hướng đề cao thái độ thụ động của công dân trước thời cuộc. Khuynh hướng này rất phổ thông nhứt là sau một cuộc khủng hoảng chánh trị. Người ta tố cáo chánh trị lấn áp sinh hoạt quốc gia và làm hỏng mọi việc. Người ta lý luận rằng con người trong xã hội chỉ lo sống, một cuộc sống hằng ngày, an thân với những lo âu sung sướng cá nhơn hay gia đình của họ. Đó là vấn đề chính của đa số công dân. Còn những ai theo dõi các vấn đề quốc gia, có ý thức chánh trị, cũng như có ý muốn tham gia vào cuộc sinh hoạt chánh trị rất là hiếm có. Và như vậy rất tốt vì, theo lý luận này, quốc gia nào trong ấy công dân tham gia, thảo luận quá nhiều về chánh trị, quốc gia ấy đến ngày tàn.
Theo khuynh hướng vừa nêu, chánh trị là cái gì cao siêu, phức tạp, khó khăn mà chỉ có một nhóm người am hiểu và đủ thẩm quyền giải quyết. Những kẻ chủ trương thái độ thụ động của công dân là con người dân chủ, hay đúng hơn họ chấp nhận nguyên tắc dân chủ, nhưng họ quan niệm rằng, giữa hai cuộc bầu cử, công dân nên trở về công việc riêng tư, hằng ngày của họ. Tóm lại, thái độ xem sự thụ động của công dân là triệu chứng tốt đẹp của cuộc sinh hoạt chánh trị dựa trên hai ý tưởng chánh:
- QUẦN CHÚNG VÔ THẨM QUYỀN để quyết định những vấn đề trọng đại của quốc gia và, nếu có sự am hiểu đi nữa họ chắc chắn sẽ quyết định theo quyền lợi riêng tư của họ.
- QUYỀN LỰC VÔ CHÁNH TRỊ , tức là một quyền lực tối thượng để giải quyết những vấn đề trọng đại, trên những tranh chấp nhỏ nhen về quyền lợi trong sinh hoạt chánh trị bình thường.
Cần phải khẳng định ngay rằng luận cứ vừa nêu không đứng vững. Quần chúng vô thẩm quyền? Đó là sự xác định vô căn cứ. Thường thường chánh quyền hay bao trùm một màn bí mật trên các vấn đề quốc sự, để rồi núp sau tha hồ định đoạt. Thật ra không có một vấn đề chánh trị nào mà không thể giải thích rõ ràng, và sự kiện quần chúng vô thẩm quyền chỉ là sự bịa đặt hầu gạt sự tham gia của công dân ra ngoài cuộc sinh hoạt chánh trị.
Một quyền lực vô chánh trị, siêu chánh trị để giải quyết những vấn đề trọng đại? Luận cứ chỉ phản ảnh của một ảo tưởng. Cho rằng có thể lấy một quyết định chánh trị và chỉ dựa trên một tiêu chuẩn, hay quan điểm không chánh trị chỉ ảo tưởng. Khi phải quyết định về phương diện chánh trị, tác giả của nó lấy một quyết định chánh trị và đương nhiên là một nhơn vật chánh trị.
Vẫn biết rằng khi mà công dân có một thái độ tách rời chánh trị, không chú ý nhiều đến cuộc sinh hoạt chánh trị, có thể đó là triệu chứng của một cuộc sinh hoạt ổn định. Khi mà guồng máy chánh trị, hành chánh của quốc gia chạy đều và trong nước có thanh bình, thịnh vượng thì lẽ tất nhiên các vấn đề chánh trị kém phần sôi nổi. Vẫn biết rằng nhà cầm quyền cần có một chút tự do, một phần tự trị nào đối với dư luận. Chánh quyền không thể thi hành sứ mạng của mình một cách hữu hiệu nếu dư luận cứ thọc gậy bánh xe, gán cho danh từ “con rùa” khi mới cầm quyền chưa đầy một tháng. Nếu sự tham gia của công dân đưa đến hậu quả như vậy thì sự tham gia nguy hiểm hơn sự bất tham gia. Những chỉ trích việc tham gia chánh trị của công dân làm cho chúng ta phải để ý đến mực tự trị tương đối của chánh quyền. Nhưng không vì lẽ đó mà lại đề cao thái độ thụ động của công dân trước thời cuộc.
Thái độ phi chánh trị là nguyên nhơn của sự suy đồi chánh trị. Rất nhiều chế độ đã bị lật đổ vì đã trốn chánh trị, đã từ khước sự tham gia của công dân. Thay vì giữa chánh quyền và nhơn dân nên có một luồng điện thông cảm và cùng giải quyết các vấn đề, người ta chỉ thấy trong chế độ nầy những diễn văn rườm rà, những danh từ trống rỗng, một tinh thần vô trách nhiệm.
Sinh hoạt chánh trị tại Việt Nam đã dứt khoát hay chưa với thái độ phi chánh trị nầy.
Nguyễn Văn Bông
Tác giả: GS Nguyễn Văn Bông Trong những năm qua, tại miền Nam tự do nầy cuộc sinh hoạt chánh trị đã xoay vòng trong mâu thuẫn. Và một trong những mâu thuẫn trầm trọng nhứt có lẽ là thái độ phi chánh trị của đa số công dân và những nhà lãnh đạo trong lúc chính yếu tố chánh trị quyết định sự sống còn của đất nước.
Thật vậy, vì chánh trị và nhân danh chánh trị người ta quay cuồng trong những trò chơi khốn nạn, ném đá giấu tay, người ta dám có những hành động bán nước hại dân để rồi, dư luận xảo trá, bịp bợm, xôi thịt, bè phái được gắn liền với danh từ chánh trị. Và từ đó, công dân chán ghét chánh trị cho chánh trị là một địa hạt không liên quan đến mình, trở về cuộc sống riêng tư và chuyên môn, phó mặc sinh hoạt chánh trị cho những “anh hùng chuyên môn tán dóc”. Thái độ thụ động và bàng quan nầy là một trở ngại cho công cuộc chống Cộng hiện nay và nếu còn tiếp tục sẽ có hậu quả không hay cho tương lai nền dân chủ.
Nếu sự sống cô đơn là ảo tưởng, nếu mối tương quan xã hội là một dữ kiện không thể tránh của con người ngày nay thì dầu chánh trị có được xem là bệnh dịch hạch hay là địa hạt nào của những xảo trá, xôi thịt, con người không thể thoát vòng kềm tỏa của chánh trị. Và dầu có cố ý sống trong tháp ngà hay vô tình lánh xa xã hội, khung cảnh cũng như trật tự pháp lý và những vấn đề chánh trị vẫn chi phối và quấy nhiễu chúng ta.
Trong cuộc sinh hoạt chánh trị hiện nay, người ta nhận thấy có hai trào lưu tư tưởng, hai khuynh hướng. Tuy khác biệt nhau, nhưng chung qui chỉ là hai hình thức của thái độ phi chánh trị. Khuynh hướng thứ nhứt đưa đến sự phủ nhận tính cách chánh trị của hoạt động mình. Khuynh hướng thứ hai nhằm đề cao thái độ thụ động của công dân trước thời cuộc.
Vì tầm quan trọng của vấn đề trước viễn ảnh đấu tranh chánh trị, chúng ta thử phân tách và phê bình hai khuynh hướng phổ thông nầy.
Có những người mà hoạt động của họ cũng như hành vi của họ mật thiết liên quan đến sinh hoạt chánh trị. Nhưng họ quả quyết rằng những hành động ấy không có tánh cách chánh trị, họ phủ nhận những hành động của họ, lập trường của họ không có tánh cách chánh trị. Tại sao?
Thái độ phi chánh trị vừa nêu, nghĩ cho cùng, chỉ là một ảo tưởng. Sở dĩ có như thế là vì những người này có một quan niệm quá hẹp hòi, quá khắt khe về chánh trị, đôi khi lại chống chánh trị. Hoặc họ cho rằng chánh trị là cái gì chỉ liên quan đến chánh đảng, đến bè phái. Vì vậy, khi mà hoạt động của họ có vẻ trên đảng phái hay ngoài đảng phái thì cho đó là những hành vi không có tánh cách chánh trị. Hoặc họ cho rằng chánh trị là cái gì liên quan đến ý thức hệ, đến sự đấu tranh giành quyền lực, cho nên khi hoạt động của họ bề ngoài có tánh cách kỹ thuật, dựa trên kinh nghiệm thực hành, thì không bao giờ họ nhận rằng hành vi ấy là hành vi chánh trị.
Tại sao thái độ vừa nêu là ảo tưởng?
Chúng ta đã biết rằng có nhiều người mà hành vi của họ hoàn toàn có tánh cách chánh trị, nhưng họ quả quyết phủ nhận tánh cách ấy. Tại sao?
Vì quan niệm quá chật hẹp về chánh trị. Họ không chấp nhận được rằng chánh trị chi phối những địa hạt quan trọng và rộng rãi giữa mối tương quan của con người, chớ không phải vì vỏn vẹn nằm trong lãnh vực định chế và chánh quyền. Họ từ khước việc xem xét, việc cân nhắc những hậu quả chánh trị của hành vi mà họ cho rằng chỉ có tánh cách riêng tư.
Tâm trạng này là tâm trạng của rất nhiều người.
Đó là trường hợp của những đạo sĩ, những vị tu hành. Những vị này, trong những ngày cách mạng, giữa lúc chánh biến, có những hành vi như: góp tiền để giúp tù nhân chánh trị, cho ở trong nhà mình, giấu trong nhà mình những kẻ đối lập chánh trị. Đó là những hành vi hoàn toàn và không thể chối cãi có tánh cách chánh trị. Nhưng vì lòng từ thiện của họ, vì họ cho rằng làm như thế ngoài mục đích chánh trị, mà trái lại vì đó là bổn phận, vì đó là để tránh cho con người những đau khổ. Họ thành thật cho rằng không vì lý do chánh trị, nhưng họ quên rằng những hành vi ấy có hậu quả chánh trị.
Đó là trường hợp của những người cầm bút, của văn sĩ, nghề nghiệp của họ đưa đến một lập trường chánh trị, hoặc có hậu quả chánh trị mà họ không ý thức. Những người cầm bút trong những bộ tiểu thuyết hay những quyển tùy bút, tiểu luận v.. v.. khi họ tố cáo những tệ đoan trong xã hội, khi họ miêu tả chánh giới với những đặc điểm như loạn luân, lãng mạn, những con buôn chánh trị, khi họ tố cáo những thối nát của chánh quyền, thì dù muốn dù không dù cho họ có phủ nhận rằng họ không bao giờ có ý định phán đoán giá trị xã hội mà họ phác họa hay phân tích, dù muốn dù không, hành vi của họ có tánh cách chánh trị, có hậu quả chánh trị, và đôi khi, nhận định của họ có ảnh hưởng sâu rộng trong cuộc sinh hoạt chánh trị.
Đó là trường hợp của những nhà BÁC HỌC: khi họ tố cáo thảm họa của thí nghiệm nguyên tử hay chiến tranh nguyên tử, lời tuyên bố hay hành vi của họ hoàn toàn có tánh cách khách quan, trên cả ý thức hệ và đảng phái chánh trị. Vẫn biết rằng hành vi ấy chỉ nhằm mục tiêu cao cả, nhân đạo và sự tồn vong của nhân loại, nhưng họ không thể ngăn cản được sự kiện là lời tuyên bố của họ sẽ được khai thác trên phương diện chánh trị, lời tuyên bố của họ không thể có ảnh hưởng chánh trị và là một yếu tố quan trọng trong lãnh vực bang giao quốc tế.
Đây là một vài ví dụ tâm trạng thường thường của nhiều người tưởng mình đứng ngoài chánh trị. Lập trường phi chánh trị này dựa trên những hành vi mà người ta cho rằng tự nó không có tánh cách chánh trị, nhưng đó chỉ là ảo tưởng vì, dù tự do không có tánh cách chánh trị, nó vẫn là hành vi có hậu quả chánh trị. Mà tất cả những hành vi có hậu quả chánh trị là những hành vi chánh trị.
Thái độ phi chánh trị này, chúng ta lại tìm thấy được đề cao bởi những tổ chức, nhưng đây không phải là những ảo tưởng: nó trở thành một chiến thuật.
Vì chánh trị có tiếng không tốt cho nên các lãnh tụ nghiệp đoàn, hiệp hội hay tôn giáo ngại rằng có một thái độ chánh trị rõ rệt hoặc dùng những danh từ hơi chánh trị một chút có thể làm sứt mẻ tình đoàn kết của nhơn viên và làm cho họ hoảng sợ. Bởi vậy, các nhà lãnh đạo khôn khéo luôn quả quyết rằng lập trường của mình hay quyết định của mình chỉ nhằm việc bảo vệ quyền lợi của đoàn thể ngoài mọi tranh chấp chánh trị. Họ cố tránh những danh từ chánh trị và chỉ nêu lên nào là quyền lợi nghiệp đoàn, nào là quốc gia dân tộc. Mặc dầu họ trực tiếp can thiệp vào chánh quyền và sự can thiệp có tánh cách chánh trị không thể chối cãi, họ cũng vẫn tuyên bố chỉ nhơn danh đoàn thể và đứng ngoài đảng phái và tranh chấp chánh trị.
Tuy nhiên, đó chỉ là thái độ phi chánh trị bề ngoài và ai cũng thừa hiểu rằng những tổ chức không mục tiêu chánh trị luôn luôn có những hành vi chánh trị. Sở dĩ nhà lãnh đạo bao trùm lên những hành vi chánh trị một bức màn có vẻ khách quan, trung lập, đó chỉ là một chiến thuật nhằm đạt được kết quả mong muốn mà thôi.
Thái độ phi chánh trị không những là một ảo tưởng hay ngụy trang mà còn là khuynh hướng đề cao thái độ thụ động của công dân trước thời cuộc. Khuynh hướng này rất phổ thông nhứt là sau một cuộc khủng hoảng chánh trị. Người ta tố cáo chánh trị lấn áp sinh hoạt quốc gia và làm hỏng mọi việc. Người ta lý luận rằng con người trong xã hội chỉ lo sống, một cuộc sống hằng ngày, an thân với những lo âu sung sướng cá nhơn hay gia đình của họ. Đó là vấn đề chính của đa số công dân. Còn những ai theo dõi các vấn đề quốc gia, có ý thức chánh trị, cũng như có ý muốn tham gia vào cuộc sinh hoạt chánh trị rất là hiếm có. Và như vậy rất tốt vì, theo lý luận này, quốc gia nào trong ấy công dân tham gia, thảo luận quá nhiều về chánh trị, quốc gia ấy đến ngày tàn.
Theo khuynh hướng vừa nêu, chánh trị là cái gì cao siêu, phức tạp, khó khăn mà chỉ có một nhóm người am hiểu và đủ thẩm quyền giải quyết. Những kẻ chủ trương thái độ thụ động của công dân là con người dân chủ, hay đúng hơn họ chấp nhận nguyên tắc dân chủ, nhưng họ quan niệm rằng, giữa hai cuộc bầu cử, công dân nên trở về công việc riêng tư, hằng ngày của họ. Tóm lại, thái độ xem sự thụ động của công dân là triệu chứng tốt đẹp của cuộc sinh hoạt chánh trị dựa trên hai ý tưởng chánh:
- QUẦN CHÚNG VÔ THẨM QUYỀN để quyết định những vấn đề trọng đại của quốc gia và, nếu có sự am hiểu đi nữa họ chắc chắn sẽ quyết định theo quyền lợi riêng tư của họ.
- QUYỀN LỰC VÔ CHÁNH TRỊ , tức là một quyền lực tối thượng để giải quyết những vấn đề trọng đại, trên những tranh chấp nhỏ nhen về quyền lợi trong sinh hoạt chánh trị bình thường.
Cần phải khẳng định ngay rằng luận cứ vừa nêu không đứng vững. Quần chúng vô thẩm quyền? Đó là sự xác định vô căn cứ. Thường thường chánh quyền hay bao trùm một màn bí mật trên các vấn đề quốc sự, để rồi núp sau tha hồ định đoạt. Thật ra không có một vấn đề chánh trị nào mà không thể giải thích rõ ràng, và sự kiện quần chúng vô thẩm quyền chỉ là sự bịa đặt hầu gạt sự tham gia của công dân ra ngoài cuộc sinh hoạt chánh trị.
Một quyền lực vô chánh trị, siêu chánh trị để giải quyết những vấn đề trọng đại? Luận cứ chỉ phản ảnh của một ảo tưởng. Cho rằng có thể lấy một quyết định chánh trị và chỉ dựa trên một tiêu chuẩn, hay quan điểm không chánh trị chỉ ảo tưởng. Khi phải quyết định về phương diện chánh trị, tác giả của nó lấy một quyết định chánh trị và đương nhiên là một nhơn vật chánh trị.
Vẫn biết rằng khi mà công dân có một thái độ tách rời chánh trị, không chú ý nhiều đến cuộc sinh hoạt chánh trị, có thể đó là triệu chứng của một cuộc sinh hoạt ổn định. Khi mà guồng máy chánh trị, hành chánh của quốc gia chạy đều và trong nước có thanh bình, thịnh vượng thì lẽ tất nhiên các vấn đề chánh trị kém phần sôi nổi. Vẫn biết rằng nhà cầm quyền cần có một chút tự do, một phần tự trị nào đối với dư luận. Chánh quyền không thể thi hành sứ mạng của mình một cách hữu hiệu nếu dư luận cứ thọc gậy bánh xe, gán cho danh từ “con rùa” khi mới cầm quyền chưa đầy một tháng. Nếu sự tham gia của công dân đưa đến hậu quả như vậy thì sự tham gia nguy hiểm hơn sự bất tham gia. Những chỉ trích việc tham gia chánh trị của công dân làm cho chúng ta phải để ý đến mực tự trị tương đối của chánh quyền. Nhưng không vì lẽ đó mà lại đề cao thái độ thụ động của công dân trước thời cuộc.
Thái độ phi chánh trị là nguyên nhơn của sự suy đồi chánh trị. Rất nhiều chế độ đã bị lật đổ vì đã trốn chánh trị, đã từ khước sự tham gia của công dân. Thay vì giữa chánh quyền và nhơn dân nên có một luồng điện thông cảm và cùng giải quyết các vấn đề, người ta chỉ thấy trong chế độ nầy những diễn văn rườm rà, những danh từ trống rỗng, một tinh thần vô trách nhiệm.
Sinh hoạt chánh trị tại Việt Nam đã dứt khoát hay chưa với thái độ phi chánh trị nầy.
Nguyễn Văn Bông

