Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Re: Bình Luận Thời Sự

Post by nangchieu »

Việt Nam trong thế cờ mới của Mỹ
July 29, 2021

Hiếu Chân/Người Việt
Quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam đang có bước phát triển mới đáng chú ý. Nhưng tương lai của mối quan hệ này như thế nào vẫn chưa biết trước được. Có điều, hoạt động dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam sẽ khó khăn hơn.
Image
Thêm ba triệu liều vaccine Moderna do Mỹ trao tặng về tới Việt Nam, theo thông cáo báo chí của Đại Sứ Quán Mỹ tại Việt Nam hôm 25 Tháng Bảy. (Hình: Tổng Lãnh Sự Quán Mỹ tại Sài Gòn cung cấp)
Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Lloyd Austin sẽ đến thăm Việt Nam trong hai ngày, từ Thứ Tư, 28 Tháng Bảy. Ông là giới chức cao cấp đầu tiên trong nội các của chính phủ Biden đến thăm “quốc gia cựu thù.”

Mỹ đẩy mạnh viếng thăm và hỗ trợ Việt Nam

Trước khi lên đường, Bộ Trưởng Austin cho báo chí biết chuyến đi của ông có mục đích thắt chặt quan hệ an ninh quốc phòng giữa Mỹ và các đối tác Đông Nam Á, đồng thời tái khẳng định cam kết của Mỹ bảo vệ tự do hải hành, chống lại cái mà ông gọi là “những yêu sách chủ quyền vô căn cứ và không có ích lợi gì” của Trung Quốc trên vùng Biển Đông nhiều tranh chấp.

Phó Tổng Thống Mỹ Kamala Harris được biết cũng sẽ đến Việt Nam vào giữa Tháng Tám, chuyến công du Đông Nam Á đầu tiên của bà từ khi nhậm chức phó tổng thống. Reuters cho biết bà Harris sẽ đến thăm Việt Nam và Singapore nhưng chi tiết của chuyến đi chưa được công bố, chỉ biết bà sẽ tập trung bàn vấn đề kiểm soát đại dịch COVID-19 đang bùng phát mạnh ở Đông Nam Á.

Về COVID-19, có lẽ để tạo thuận lợi cho chuyến viếng thăm của Phó Tổng Thống Harris, chính phủ Mỹ mới đây đã gia tăng rất nhanh việc viện trợ vaccine cho Việt Nam giữa lúc Hà Nội choáng váng vì đại dịch hoành hành dữ dội, cả nước đã ghi nhận hơn 100,000 ca nhiễm virus. Cuối tuần qua Việt Nam đã nhận được ba triệu liều vaccine Moderna do Mỹ hỗ trợ thông qua cơ chế COVAX, nâng tổng số vaccine mà Mỹ viện trợ cho Việt Nam lên đến năm triệu liều, theo thông tin từ Đại Sứ Quán Mỹ tại Hà Nội hôm 24 Tháng Bảy. Đại Sứ Việt Nam tại Mỹ Hà Kim Ngọc cho biết Mỹ cũng đang xem xét viện trợ cho Việt Nam thêm nhiều vaccine nữa trong thời gian tới, trang web của chính phủ Việt Nam đưa tin hôm 25 Tháng Bảy.

Mặc dù hoạt động viện trợ vaccine của chính phủ Mỹ chỉ thuần túy mang tính chất nhân đạo, không kèm theo bất kỳ điều kiện chính trị hoặc kinh tế nào, nhưng sự hào phóng mà Mỹ dành riêng cho Việt Nam giữa lúc nguồn cung cấp vaccine trên toàn cầu bị khan hiếm trầm trọng là điều rất có ý nghĩa.


Nên để ý, Việt Nam là nước duy nhất ở Đông Nam Á bị Trung Quốc gạt ra ngoài chương trình “ngoại giao vaccine” của Bắc Kinh; Trung Quốc có viện trợ cho Hà Nội nửa triệu liều vaccine COVID-19 do Trung Quốc sản xuất nhưng chỉ để chích cho công dân Trung Quốc làm ăn sinh sống ở Việt Nam và những người Việt sinh sống gần biên giới Trung Quốc, có nhu cầu qua lại Trung Quốc để làm ăn chứ không nhằm giúp Việt Nam kiểm soát đại dịch.

Sự viện trợ vaccine hào phóng của Mỹ, cùng với các nền dân chủ khác như Nhật và Úc, là hết sức ý nghĩa trong thời điểm hiện nay; nó cho người dân Việt Nam nhìn thấy rõ, ai thực sự là bạn của Việt Nam trong lúc nguy nan.

Cũng trong chuỗi hoạt động viện trợ của Mỹ dành cho Việt Nam, báo chí trong nước cho biết tàu Cảnh Sát Biển CSB 8021, nguyên là tàu USCGC John Midgett của Lực Lượng Tuần Duyên Mỹ được Washington chuyển giao cho Hà Nội, đã về tới Việt Nam hôm 23 Tháng Bảy. Con tàu sẽ được bổ sung vào lực lượng Cảnh Sát Biển Việt Nam, “chứng minh cho hợp tác an ninh hàng hải chặt chẽ giữa hai nước và giúp bảo đảm trật tự dựa trên luật lệ ở Biển Đông,” theo thông tin từ Đại Sứ Quán Mỹ.


Trong lĩnh vực thương mại và tiền tệ khá phức tạp và tế nhị, Mỹ dường như cũng ưu ái với Việt Nam khi quyết định không trừng phạt Hà Nội về hành vi thao túng tỷ giá tiền tệ để giành lợi thế cho hàng hóa xuất cảng vào Mỹ. Do giá trị hàng hóa Việt Nam nhập cảng vào Mỹ tăng nhanh, chính quyền Trump trước đây đã đưa Việt Nam vào danh sách các nước “thao túng tiền tệ” cùng với Trung Quốc và chuẩn bị các biện pháp trừng phạt như tăng thuế lên hàng hóa Việt Nam bán sang Mỹ.

Nhưng mới đây Bộ Trưởng Tài Chính Mỹ Janet Yellen và Thống Đốc Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam Nguyễn Thị Hồng đã đàm phán và đi đến thỏa thuận “một giải pháp ổn thỏa cho vấn đề bị điều tra và do đó không có hành động thương mại nào được tiến hành vào lúc này.”

Hôm 23 Tháng Bảy, Đại Diện Thương Mại Mỹ Katherine Tai (Đới Kỳ) ra thông báo tán thành thỏa thuận của Bộ Tài Chính, và sẽ phối hợp với Bộ Tài Chính để theo dõi việc thi hành của Việt Nam trong những ngày tới thay vì áp đặt các biện pháp trừng phạt thương mại. Báo chí quốc tế bình luận rằng đây là một “thắng lợi” của Hà Nội và Việt Nam có thể tiếp tục xuất siêu vào Mỹ mà không lo bị trả đũa do cán cân thương mại mất cân bằng.

Trong một sự việc khá bất ngờ, báo Công An Nhân Dân tường thuật chi tiết buổi tiếp Đại Biện Lâm Thời Đại Sứ Quán Mỹ Christopher Klein. Bài báo có tiêu đề “Hợp tác an ninh giữa Việt Nam-Hoa Kỳ sẽ ngày càng chặt chẽ,” cho biết “Thứ Trưởng Lương Tam Quang nhấn mạnh, Bộ Công An Việt Nam tiếp tục là đối tác tin cậy, quan trọng của nhiều cơ quan hữu quan Hoa Kỳ như Bộ Ngoại Giao, Bộ An Ninh Nội Địa, Bộ Nội Vụ, Bộ Tư Pháp, Cơ Quan Điều Tra Liên Bang (FBI), Cơ Quan Phòng, Chống Ma Túy (DEA), Cơ Quan Tình Báo Trung Ương (CIA)…”

Nên để ý từ trước đến nay, bộ máy công an Cộng Sản Việt Nam luôn luôn coi các cơ quan tình báo Mỹ như CIA là những kẻ thù nguy hiểm, không đội trời chung vì cho rằng các cơ quan này âm mưu kích động các cuộc nổi dậy ở trong nước để lật đổ chế độ Cộng Sản.

Những động tác ngoại giao và viện trợ dồn dập như vậy chứng tỏ Việt Nam đang là một ưu tiên trong chính sách đối ngoại của chính quyền Biden vốn đang rất bận rộn với rất nhiều bài toán cả trong nước và quốc tế. Nó cũng cho thấy vị trí của Việt Nam ngày càng được coi trọng trong các tính toán địa chiến lược của Mỹ ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương.

Việt Nam là đối tác quan trọng ở Đông Nam Á

Những hoạt động như vậy cũng báo trước một biến chuyển mới trong quan hệ Mỹ-Việt, khi chính quyền Biden nỗ lực lôi kéo Việt Nam xa khỏi quỹ đạo của Trung Quốc và nếu Việt Nam chưa có thể tham gia liên minh các nền dân chủ chống lại chế độ độc tài đảng trị của Trung Quốc thì ít ra cũng không là vật cản trong cuộc cạnh tranh địa chính trị nóng bỏng hiện nay ở khu vực Đông Nam Á.

Nỗ lực đó đã được xác định trong văn kiện Hướng Dẫn Chiến Lược An Ninh Quốc Gia Tạm Thời (Interim National Security Strategic Guidelines) mà chính quyền Biden công bố hồi Tháng Ba; trong đó Việt Nam và Singapore được xác định rõ là đối tác quan trọng mà Washington cần hợp tác trong cuộc đối đầu với Trung Quốc – “đối thủ cạnh tranh duy nhất có khả năng kết hợp sức mạnh kinh tế, ngoại giao, quân sự và công nghệ để đặt ra một thách thức lâu dài cho một hệ thống quốc tế ổn định và cởi mở.”

Nhìn lại thời kỳ từ khi Mỹ xóa bỏ cấm vận và bình thường hóa quan hệ với Việt Nam từ năm 1995 đến nay, quan hệ Việt-Mỹ đã có nhiều bước tiến, nhất là từ sau năm 2009 khi Trung Quốc bắt đầu gia tăng áp lực lên Việt Nam trong vấn đề tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông.

Lo sợ trước sự bành trướng ngày càng hung hăng của Trung Quốc, nhất là sau khi Bắc Kinh đưa giàn khoan dầu khổng lồ Hải Dương 981 vào sâu trong thềm lục địa Việt Nam hồi Tháng Năm, 2014, làm dấy lên những cuộc biểu tình bạo động ở trong nước và một cuộc khủng hoảng trong quan hệ Việt-Trung thì Hà Nội bắt đầu gia tăng cảnh giác với Bắc Kinh, đồng thời thắt chặt thêm mối quan hệ về an ninh quốc phòng với Washington.

Có những lúc dư luận trong nước đã xôn xao về chuyện Hải Quân Mỹ có thể quay lại hải cảng Cam Ranh, lập căn cứ quân sự để theo dõi các căn cứ mới của Trung Quốc ở Trường Sa; tin đồn lan truyền mạnh nhất là sau chuyến viếng thăm bất ngờ tới Cam Ranh của Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Leon Panetta giữa năm 2012.

Nhưng vẫn hoài nghi dai dẳng

Tuy nhiên, Việt Nam và Mỹ khó có thể tiến xa tới mức quan hệ đối tác chiến lược toàn diện như quan hệ hiện thời giữa Việt Nam với Trung Quốc, Nhật, Ấn Độ, Nam Hàn và một số nước Đông Nam Á. Có nhiều nguyên nhân cản trở mối quan hệ Việt Mỹ, chẳng hạn như sự khác biệt về thể chế chính trị, thiếu sự tin cậy lẫn nhau do quá khứ chiến tranh chưa xa và thành tích nhân quyền kém cỏi của chính thể công an trị tại Hà Nội.

Nhiều nhà quan sát chính trị nhận định, cho đến nay giới lãnh đạo Hà Nội vẫn nghi ngờ Mỹ có mưu toan chấm dứt sự độc quyền quyền lực của đảng Cộng Sản Việt Nam thông qua “diễn biến hòa bình,” tiến tới một thể chế đa đảng theo mô hình phương Tây.


Những năm gần đây, Washington đã có những động tác làm dịu nỗi hoài nghi của Hà Nội. Tổng Thống Barack Obama đã chính thức tuyên bố Mỹ không có ý định làm việc để thay đổi thể chế chính trị của Việt Nam và ông đã đón tiếp Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đến thăm Tòa Bạch Ốc – một việc phá vỡ nghi thức ngoại giao quốc tế vì ông Trọng chỉ là lãnh đạo của một đảng chính trị, không phải là một nguyên thủ quốc gia được người dân bầu lên trong một cuộc bầu cử tự do và công bằng.

Trong nỗ lực gác lại quá khứ, Mỹ cũng đã thực hiện nhiều chương trình hợp tác với Việt Nam để giải quyết những di sản buồn của chiến tranh như giúp nhau tìm kiếm hài cốt quân nhân tử trận của hai bên, tẩy rửa chất độc dioxin ở Biên Hòa và Đà Nẵng.

Tuy nhiên, nỗi lo sợ “theo Mỹ mất đảng,” mất quyền lực độc tôn đã làm cho giới lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam thận trọng trước mọi hành động hợp tác của Mỹ cho dù các cuộc khảo sát dư luận cho thấy đa số người dân Việt Nam có thiện cảm với Mỹ. Cuộc khảo sát thường niên năm 2020 của Viện Nghiên Cứu Đông Nam Á ở Singapore công bố đầu năm nay ghi nhận 84% người Việt Nam được hỏi trả lời rằng họ tin tưởng vào Mỹ, tỷ lệ cao nhất ở khu vực.

Nỗi hoài nghi đối với chính phủ Mỹ, cộng với bệnh hoang tưởng Cộng Sản đã làm nảy sinh cái quan niệm về “thế lực thù địch,” liên kết “thù trong giặc ngoài” luôn chực chờ để lật đổ chế độ; và từ đó dẫn đến chính sách đàn áp dã man những người hoặc có tư tưởng chống đối, hoặc cổ vũ cho tự do, dân chủ, nhân quyền dù Việt Nam đã tham gia các công ước Liên Hiệp Quốc về quyền dân sự và chính trị.

Chính quyền Biden sẽ chú trọng hợp tác về an ninh

Chính quyền Biden đặt dân chủ, nhân quyền làm trọng tâm trong chính sách đối ngoại với các nước và sự tiếp cận của Washington đối với các vấn đề toàn cầu. Trong trường hợp Việt Nam, chính quyền Biden đứng trước một lựa chọn khá tế nhị: hoặc gây sức ép buộc chính quyền Cộng Sản ở Hà Nội phải tôn trọng tự do và nhân quyền của người dân như đã ghi trong hiến pháp của họ, hoặc làm ngơ với những vi phạm nhân quyền để tăng cường hợp tác về an ninh quốc phòng trong cuộc cạnh tranh với Trung Quốc.

Điều trần trước Thượng Viện Mỹ hôm 13 Tháng Bảy, ông Marc Knapper, người được Tổng Thống Biden đề cử làm tân đại sứ Mỹ ở Việt Nam, cam kết sẽ thúc đẩy mối quan hệ an ninh với Hà Nội nhưng ông cũng đồng thời thúc giục Hà Nội tôn trọng nhân quyền, theo tin của đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA). Tuy nhiên trong bốn mục tiêu mà ông Knapper nêu ra thì hợp tác về an ninh vẫn là ưu tiên hàng đầu. Ông đặc biệt nhấn mạnh đến việc Mỹ mở rộng hợp tác an ninh và giúp tăng cường năng lực hàng hải của Việt Nam giữa bối cảnh hai nước “cùng quan tâm đến việc tuân thủ luật pháp quốc tế, chống lại hành vi khiêu khích ở Biển Đông và khu vực sông Mekong.”

Trung Quốc đang ngày càng bộc lộ thái độ thù địch với Mỹ, như những cuộc đàm phán ngoại giao giữa hai nước gần đây cho thấy. Và Mỹ cũng đang đẩy nhanh tiến trình hình thành khối liên minh dân chủ để chống lại ảnh hưởng của Bắc Kinh. Trong hoàn cảnh đó, việc Mỹ quan tâm nhiều tới hợp tác an ninh với Việt Nam và có phần “ưu ái” cho Hà Nội là điều dễ hiểu. Suy cho cùng, quyền lợi quốc gia vẫn là tối hậu.

Các chính trị gia có thể đưa ra nhiều lời cam kết về tự do, dân chủ, nhân quyền nhưng khi phải xử lý những tình huống cụ thể trong thực tiễn chính trị, đa phần họ đều hành động theo lợi ích chiến lược của đất nước. Phong trào đấu tranh của các nhà dân chủ, người bất đồng chính kiến ở trong nước Việt Nam do vậy sẽ phải “đơn thương độc mã” đối đầu với những cuộc đàn áp khốc liệt của nhà cầm quyền Cộng Sản mà không hy vọng có sự hỗ trợ hoặc bênh vực của chính phủ Mỹ trong thời gian tới.

Sự mở rộng hợp tác về an ninh Việt-Mỹ góp phần quan trọng vào chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương của Mỹ, cũng đồng thời có lợi ích sống còn cho Việt Nam trong việc bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông – sinh lộ của dân tộc. Nhưng Hà Nội có vượt qua được nỗi hoài nghi cố hữu để nắm lấy cơ hội và thoát ra khỏi vòng kim cô của anh láng giềng “16 chữ vàng, 4 tốt” hay không là điều chưa biết chắc được. [qd]

hoangphong
Posts: 423
Joined: Tue Feb 12, 2019 7:20 am

Re: Bình Luận Thời Sự

Post by hoangphong »

Đây, lẽ phải là quan trọng
Nhã Duy
2 tháng 8, 2021

Image
Ông Alexender Vindman và quyển sách của mình, phát hành ngày 3 Tháng Tám 2021 (Twitter nhân vật)

Một ngày Tháng Bảy năm 2019, Trung Tá Giám Đốc Cơ Quan Âu Châu Sự Vụ thuộc ban Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ là Alexander Vindman bước vào phòng em trai sinh đôi của mình là Trung Tá Luật Sư Eugene Vindman cũng thuộc ban an ninh quốc gia. Anh đóng cửa văn phòng rồi nói nhỏ với em trai, “Eugene, nếu những gì anh đã nghe mà được công bố, tổng thống sẽ bị truất phế”.

Là một trong những cố vấn ban an ninh quốc gia và là người gốc Ukraine, Trung Tá Vindman là cố vấn và có mặt khi diễn ra cuộc điện đàm giữa Tổng Thống Donald Trump với Tổng Thống Ukraine là Volodymyr Zelensky vào ngày 25 Tháng Bảy 2019. Trong cuộc trò chuyện, Trump đã lạnh lùng áp lực Zelensky phải điều tra cha con Phó Tổng thống Joe Biden để nhận được viện trợ và được mời sang Bạch Ốc. Dù đó là một điều vô cùng cấp thiết với quốc gia có thể mang lại uy tín cho một tân tổng thống trẻ đang đối diện sự đe dọa của Nga, Zelensky đã khôn khéo và im lặng từ chối vì không muốn trở thành một quân cờ can dự vào chính trường Hoa Kỳ.

Điều Trump áp lực Zelensky đã đi ngược lại chính sách và quyền lợi quốc gia Hoa Kỳ tại Châu Âu, cũng như có dấu hiệu lạm quyền khi yêu cầu quốc gia khác can dự vào vấn đề chính trị và nền an ninh quốc gia. Đó là một tội phản quốc. Donald Trump cùng các thuộc cấp của mình hiểu rõ điều này nhưng Trump vẫn tự tin rằng, trong số những thuộc cấp bao quanh mình, nỗi sợ hãi hay lòng trung thành sẽ buộc họ phải im lặng.


Nhưng điều này không đúng với Trung Tá Alexander Vindman. Dù đó là thử thách một đời người, là sự nguy hiểm cùng rủi ro đánh đổi cả sự nghiệp mà Vindman đã gầy dựng và cống hiến cho quốc gia thứ hai của mình trong nhiều năm trời.

Theo cha cùng người anh cả 11 tuổi sang Mỹ tị nạn từ Kiev năm lên ba tuổi sau khi mẹ mất tại Ukraine, anh em Vindman lớn lên trong gia cảnh rất khó khăn tại New York. Như những người tị nạn tay không đến Mỹ, cha của Vindman là một kỹ sư công chánh ở quê nhà, phải làm nhiều việc tay chân vất vả để nuôi các con nhỏ. Ông làm việc ban ngày, ban đêm học thêm tiếng Anh. Rồi ông cũng trở thành một kỹ sư để chăm lo các con có được một đời sống tốt hơn và ăn học thành tài. Sự hy sinh to lớn của người cha đã được đáp trả.

Anh em Vindman trở thành những người thành công. Hơn mức bình thường. Anh trai Vindman là Leonid Vindman tốt nghiệp cao học, gia nhập lực lượng trừ bị rồi trở thành Phó Chủ Tịch tập đoàn tài chính JP Morgan Chase, hiện là một nhà sáng lập kiêm quản trị một tập đoàn tài chính. Người anh em sinh đôi của Vindman là Eugene Vindman, trở thành luật sư quân đội, giữ nhiều vị trí quan trọng trong quân pháp và hiện vẫn tại ngũ với cấp bậc Đại Tá. Em út là Alex Vindman là một sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến. Tất cả anh em nhà Vindman đều chọn con đường binh ngũ và phục vụ quốc gia như vậy.

Riêng Vindman thì gia nhập lực lượng trừ bị ngay từ những năm đại học và đi theo binh nghiệp như một sĩ quan Bộ Binh sau khi tốt nghiệp đại học. Vindman phục vụ tại Nam Hàn và Đức, trước khi được điều sang chiến trường Iraq như người lính tác chiến và bị thương tại đây. Với cống hiến và thành tích như vậy, Vindman đã nhận được huân chương Purple Heart cùng nhiều huân chương khác.

Thông thạo tiếng Nga và Ukraine, tốt nghiệp Cao Học tại Harvard về đối ngoại, trong hơn 20 năm quân ngũ, Vindman tận tụy phục vụ cho quốc gia bất kể đảng phái và đời tổng thống nào. Sau nhiệm vụ tác chiến, anh lần lượt được chọn vào các nhiệm vụ phân tích tình báo, cố vấn đối ngoại cao cấp của quân đội trong các vấn đề liên quan Nga, Ukraine và Châu Âu; sau này còn được cố vấn an ninh quốc gia cấp cao Fiona Hill mời vào ban cố vấn an ninh quốc gia tại Bạch Ốc – một nhiệm vụ thường là của một thiếu tướng trong khi Vindman mới là trung tá.

Khi Vindman bàn bạc với cha về câu chuyện của Donald Trump, cha anh đã hết lòng ngăn cản tiết lộ. Đã sống hàng chục năm dưới chế độ cộng sản, ông hiểu rõ sự bạo tàn của những kẻ độc tài. Ông nói con trai rằng, nếu tiết lộ và còn ở lại trong chế độ Liên Xô cộng sản, Vindman sẽ bị bắn ngay trong tù. Ông khuyên con trai cứ im lặng và phục tùng theo lời tổng thống. Mặt khác, thế hệ thứ nhất của cộng đồng người gốc Ukraine vốn có xu hướng nghiêng về đảng Cộng Hòa và cha anh cũng vậy. Nhưng trong cuộc bầu cử 2020, ông và nhiều cử tri Ukraine khác đã bầu cho Tổng Thống Joe Biden vì thái độ thân thiện của Donald Trump với Putin và Nga đã làm họ chuyển hướng.

Bất chấp lời khuyên của cha, lòng danh dự và trách nhiệm của một người sĩ quan Hoa Kỳ chính trực và can đảm, Vindman đã không im lặng và quyết định báo cáo lại điều anh đã nghe. Đó là lý do khi xuất hiện trong quân phục với đầy huân chương trong phiên điều trần Quốc Hội, anh đã mở đầu một cách đầy cảm xúc khi thưa riêng với cha mình rằng: “Thưa cha, con đang ngồi tại điện Capitol hôm nay để điều trần trước các nhà dân cử chuyên nghiệp, nó là bằng chứng cho việc cha đã quyết định đúng đắn hơn 40 năm trước. Đừng lo lắng, con sẽ ổn khi nói ra sự thật”.

Điều trần của Trung Tá Alexander Vindman là một cú sốc cho nền dân chủ và an ninh quốc gia Hoa Kỳ. Nó làm sửng sốt người dân Mỹ và cả thế giới khi có một tổng thống Mỹ dám thực hiện những hành động bị xem là phản quốc như vậy. Donald Trump bị đưa ra Quốc Hội luận tội để truất phế. Với thế đa số của đảng Cộng Hòa tại Thượng Viện cùng Bộ Tư Pháp trong tay mình, Donald Trump thoát tội lần thứ nhất như mọi người đã biết.

Donald Trump thẳng tay trả thù anh em Vindman. Cả hai anh em bị sa thải cùng ngày. Thay vì sẽ được huấn luyện tại Học Viện Quân Sự rồi thăng cấp Đại Tá theo kế hoạch, Vindman hiểu rằng sự nghiệp của mình đã chấm dứt. Anh có thể bị đưa ra một trạm radar lạnh lẽo và hoang vắng tại Alaska và buộc phải chấp nhận theo quân lịnh nếu còn tại ngũ. Vindman quyết định xuất ngũ. Ở tuổi 45, anh quay về đời sống dân sự, trở thành nhà nghiên cứu chính sách, tiếp tục theo học tiến sĩ về đối ngoại tại Đại học Johns Hopkins và viết sách trong hơn một năm qua.

Bên trên là tóm lược những gì người dân Mỹ và thế giới sẽ đọc được trong cuốn hồi ký “Đây, lẽ phải là quan trọng: Một câu chuyện người Mỹ” (Here, Right Matters: An American Story) của Trung Tá hồi hưu Alexander Vindman được nhà xuất bản Harper phát hành tuần này. Cuốn sách được giới thiệu trên Amazon là “câu chuyện của những người hùng thầm lặng đã mang lại an toàn cho chúng ta, nhưng hơn hết, là lời kêu gọi chung tay với những người không phản bội lại nước Mỹ”.

Cho đến khi những tấm màn nhung được lần lượt kéo lên và những kẻ phản quốc phải bị trả giá, những mê muội hay ngộ nhận rằng, ai mới đích thực là người ái quốc hay kẻ phản quốc sẽ rõ ràng hơn với nhiều người. Còn với Trung Tá Alexender Vindman, một sĩ quan Hoa Kỳ yêu nước, người từng đổ máu để bảo vệ quốc gia cưu mang gia đình mình và tiếp tục đánh đổi sự nghiệp để bảo vệ nền dân chủ và an ninh quốc gia Hoa Kỳ, chắc chắn sẽ được nhớ đến không chỉ ở thời điểm hiện tại…

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Re: Bình Luận Thời Sự

Post by saohom »

Châu Âu phô diễn sức mạnh, thách thức Trung Quốc ở Biển Đông
Anh, Pháp tham gia tập trận với Hoa Kỳ và các đối tác ngay cửa ngõ Biển Đông

Hiếu Chân

Image
Tàu sân bay HMS Queen Elizabeth đang đi qua Eo biển Malacca trong lúc khinh hạm HMS Richmond trong nhóm tác chiến phối hợp huấn luyện với Hải quân Hoàng gia Malaysia và Hải quân Singapore. Ảnh Royal Navy, Anh.

Sau khi đến Biển Đông gần đây, nhóm tác chiến tàu sân bay mới, lớn nhất của Vương quốc Anh – HMS Queen Elizabeth – sẽ cùng với Mỹ, Nhật Bản, Úc và New Zealand, và với một cường quốc châu Âu khác là Pháp, tham gia các cuộc tập trận trên biển Philippines.

Bước đột phá của tàu sân bay HMS Queen Elizabeth là một phần trong xu hướng của các nước lớn ở châu Âu gửi hỏa lực hải quân đến Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, thể hiện sự ủng hộ nỗ lực của Hoa Kỳ trong việc kiềm chế tham vọng quân sự hóa Biển Đông của Trung Quốc.

Anh và Pháp đã cùng với Mỹ và Nhật Bản cho rằng các tuyên bố chủ quyền và hoạt động quân sự của Trung Quốc ở Biển Đông vi phạm Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS).

“Khi chứng kiến cán cân quyền lực nghiêng về khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương, chúng tôi đã cam kết làm việc với các đối tác của mình ở đây để bảo vệ các giá trị dân chủ, giải quyết các mối đe dọa chung và giữ an toàn cho quốc gia của chúng tôi”, Bộ trưởng Quốc phòng Anh Ben Wallace cho biết trong một thông cáo báo chí hồi Tháng Bảy.

Tàu sân bay của Anh khởi hành vào Tháng Năm và tham gia các cuộc tập trận với Hải quân Ấn Độ ở Ấn Độ Dương vào Tháng Bảy trước khi quá cảnh qua eo biển Luzon phía Nam Đài Loan hôm Chủ nhật. Sau các cuộc tập trận trên biển Philippines, tàu ​​sẽ cập cảng Nhật Bản vào Tháng Chín.

Hồi Tháng Năm, Pháp đã điều một tàu khu trục nhỏ và một tàu tấn công đến gần quần đảo Trường Sa đang tranh chấp ở Biển Đông, nơi Bắc Kinh đã xây dựng các căn cứ quân sự. Một tàu ngầm tấn công chạy bằng năng lượng hạt nhân của Pháp cũng đã đi qua Biển Đông vào đầu năm nay, các máy bay chiến đấu và máy bay vận tải của Pháp cũng sẽ tham gia tập trận trong tháng này trên khu vực Đông Nam Á, trong một khu vực chạy từ Ấn Độ đến Úc.

Tàu khu trục nhỏ Bayern của Đức đã khởi hành hôm Thứ Hai trên đường đến Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương với 230 thành viên thủy thủ đoàn. Con tàu sẽ đi qua Biển Đông vào cuối năm nay, ghé thăm các hải cảng ở Úc, Việt Nam, Nam Hàn và Nhật Bản.

Châu Âu không hẳn là một lực lượng quân sự đáng kể ở châu Á. Vương quốc Anh chẳng hạn, chỉ có tổng cộng khoảng 340 quân nhân thuộc lực lượng chính quy ở châu Á, chiếm 0,2% lực lượng chính quy của Anh và 6% hoặc lực lượng Anh được triển khai ở nước ngoài.


Tuy nhiên sự tham gia ngày càng sâu rộng của Anh, Pháp và Đức ở một nơi xa xôi của thế giới mà họ có ít quyền lợi trực tiếp phản ánh quan niệm rằng tầm ảnh hưởng quốc tế của một quốc gia luôn gắn liền với sự hiện diện của quốc gia đó ở châu Á, châu lục đang phát triển nhanh. Điều đó đặc biệt quan trọng khi Trung Quốc, cường quốc kinh tế lớn nhất khu vực, đang cố mở rộng ảnh hưởng thông qua việc đe dọa, mua chuộc và cưỡng bức các nước trong khu vực.

Cho dù Anh và Pháp chỉ có lực lượng quân sự hạn chế ở châu Á, tư cách thành viên thường trực, có quyền phủ quyết của họ trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc có thể là một vị thế ngoại giao quan trọng mà Trung Quốc không thể coi thường; và vị thế đó cung cấp một “quân bài” để chơi trong các cuộc đàm phán kinh tế với Bắc Kinh.

Các động thái của Anh, Pháp và Đức tất nhiên đã làm cho Trung Quốc phẫn nộ.

Trong một bài xã luận tuần trước tờ Thời báo Hoàn cầu trực thuộc đảng Cộng sản Trung Quốc cảnh báo: “Trung Quốc đang tăng cường khả năng quân sự của mình ở Biển Đông và các tàu sân bay do Mỹ và các đồng minh triển khai sẽ rất dễ bị tổn thương trước các cuộc xung đột quân sự cực đoan”. Tờ báo này cho rằng hành động của Anh và Pháp đưa chiến hạm vào Biển Đông có thể gây tai hại cho quan hệ giữa chính phủ hai nước này với Bắc Kinh. Hồ Tích Tiến (Hu Xijin), tổng biên tập Thời báo Hoàn cầu nói rằng cả Anh, Pháp và Đức đều “không đủ sức mạnh để đánh nhau với Trung Quốc trên Biển Đông”. “Và tôi tin họ hiểu rõ điều đó,” Hồ nói.

Quân đội Trung Quốc có kế hoạch tập trận ở Biển Đông từ Thứ Sáu đến Thứ Ba tuần sau.

Ở các nước Đông Nam Á có những ý kiến ngược nhau về diễn biến trên biển. Tại Indonesia, những người có quan điểm tích cực cho rằng, việc các nước châu Âu phái tàu chiến đến khu vực là “một phản ứng cho Trung Quốc thấy rằng Biển Đông không thuộc về nước họ.” Nhưng cũng có ý kiến khuyên can “Mỹ và châu Âu nên kiềm chế trước những hành động có thể kích động Trung Quốc một cách thái quá.”

Nick Childs, chuyên gia cấp cao về lực lượng hải quân và an ninh hàng hải tại Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế có trụ sở tại London, cho biết động thái của các nước châu Âu ở châu Á là “phản ánh thực tế trọng tâm kinh tế đang chuyển sang phần đó của thế giới… Ngoài ra, các quốc gia khác nhau có các chính sách và cách tiếp cận hơi khác nhau”, ông nói thêm.

(theo Asia Nikkei Review)

hoangphong
Posts: 423
Joined: Tue Feb 12, 2019 7:20 am

Re: Bình Luận Thời Sự

Post by hoangphong »

Câu chuyện Việt nam cuối tuần
Thành ngữ tiếng Anh "what goes around comes around" chẳng phải chỉ là bài học luân lý trong xã hội phương Tây mà nó cũng áp dụng cho bất cứ xã hội hay văn hóa nào. Bởi hiểu sang tiếng Việt thì thành ngữ này đại loại cũng tương tự như "gieo gì gặt nấy" vậy.

Nhắc điều này vì những ngày qua, vào đọc thử báo chí cùng mạng xã hội trong nước thì bên cạnh chuyện khủng hoảng, cách ly vì Covid còn là chuyện tin giả. Hầu như trang báo lớn nhỏ nào cũng đưa tin, phân tích về nạn tin giả. Tin giả ngay trong xã hội Việt Nam.

Vài năm qua, không ít người dân trong nước đã hào hứng, hồn nhiên tham gia chuyện phát tán tin giả liên quan đến dịch bệnh và chính trường nước Mỹ. Nó có sự tiếp tay của vô số người được xem là văn nghệ sĩ, trí thức, giới tranh đấu cho đến chính giới truyền thông trong nước. Sự binh chống, cuồng mê ảo tưởng lãnh tụ bên nửa vòng trái đất chẳng ảnh hưởng gì đến mình đã làm lắm kẻ cũng hung hăng "chống Mỹ cứu nước", cũng gân cổ bào chữa lãnh tụ này, tấn công tổng thống khác và xem thường dịch bệnh theo những kẻ tung hứng nền dân chủ nước Mỹ.

Những chuyện đó xem như chẳng ảnh hưởng hay là điều đáng quan tâm của nhà cầm quyền. Miễn đừng chửi lãnh đạo của nước nhà hay "nước bạn" là cứ tự do. Cũng là một thứ tự do có giấy phép. Vậy là dân ta tha hồ lên mạng phao theo tin giả nước Mỹ, hung hăng đổ bộ sang đến Mỹ để tấn công từ các tổng thống, dân biểu, giới chức của đảng "phe địch" bằng những suy diễn ngô nghê, đơn giản.

Và bằng thái độ vô giáo dục và kém văn minh dùng đối xử với nhau trong nước, họ chửi mắng, tấn công cả những người gốc Việt lên tiếng phản đối những kẻ độc tài đang phá nát nước Mỹ bên này. Một cuộc lên đồng ké theo chính trường nước Mỹ không kém phần náo nhiệt và hài hước.

Nhưng đã nói bên trên, "what goes around comes around", tất cả những điều này đang quay trở lại, tát thẳng vào mặt xã hội Việt Nam hôm nay. Những kẻ nào từng gân cổ cãi sùi mép rằng Covid là đòn phép của "đám Dân Chủ" muốn hạ bệ "tổng thống Trump", là chuyện cảm vặt bị Mỹ khai khống số người chết vì lý do chính trị, là... đủ cái là, thì hôm nay đã có cơ hội chứng nghiệm sự nguy hiểm thật sự của dịch bệnh ra sao. Cũng như lắm kẻ đã có cơ hội tham gia "diễn tập" nạn tin giả cùng với giới mê Trump gốc Việt tại Mỹ, thì nay nạn tin giả bùng phát hay lan tràn ở Việt Nam có gì lạ đâu mà báo động với báo cháy. Vun trồng điều xấu thì sẽ đâm chồi cái ác. Cái xã hội mà người tốt trở thành thiểu số sẽ chẳng bao giờ đưa quốc gia đi xa, theo lắm kẻ gân cổ và mơ mộng "ra biển lớn".

Không có gì tự nhiên hay đi ra ngoài quy luật của tự nhiên. Mọi thứ đều có lý do của nó. Chỉ có tìm lý do để hiểu tại sao điều gì với dân ta cũng "tự hào quá Việt Nam ơi" thì thú thật, sao mà thấy khó quá.

Nhã Duy

User avatar
mexanh
Posts: 517
Joined: Tue Nov 04, 2008 4:18 am

Re: Bình Luận Thời Sự

Post by mexanh »

Phóng sự ảnh: Kabul thất thủ!


Binh lính Taliban hoàn toàn làm chủ Kabul (ảnh: Haroon Sabawoon/Anadolu Agency/Getty Images)
16 tháng 8, 2021

Thứ Hai 16 Tháng Tám 2021, hàng ngàn người đã chen lấn hoảng loạn vào Phi trường Quốc tế Hamid Karzai vì sợ Taliban giết hại. Một số video cho thấy hàng trăm người đã chạy đuổi hòng leo lên được chiếc vận tải cơ C-17 của quân đội Hoa Kỳ. Một số người thậm chí bám lên cạnh thân của máy bay; một số người khác rơi từ không trung khi máy bay cất cánh – theo AP.

Cảnh hỗn loạn đã khiến bảy người chết, trong đó có vài rơi khi cố bám vào máy bay. Nhân viên-viên chức tòa Đại sứ Hoa Kỳ đã được di tản; cờ Mỹ đã hạ xuống. Các ngoại giao đoàn khác cũng tiến hành nhanh chiến dịch di tản. Trả lời phỏng vấn truyền hình, Cố vấn an ninh Quốc gia Hoa Kỳ Jake Sullivan trách quân đội chính quy Afghanistan đã không nỗ lực chiến đấu…

Image
Không chỉ đường phố, Taliban đã kiểm soát cả Dinh Tổng thống và Dinh Thủ tướng (ảnh: Sayed Khodaiberdi Sadat/Anadolu Agency/Getty Images)

Image
Đường phố Kabul ngày 16 Tháng Tám 2021 (ảnh: Sayed Khodaiberdi Sadat/Anadolu Agency/Getty Images)

Image
Kabul rơi vào tay Taliban một cách chóng vánh (ảnh: Sayed Khodaiberdi Sadat/Anadolu Agency/Getty Images)

Image
Taliban tịch thu nhiều quân trang quân dụng của quân đội chính quy Afghanistan (ảnh: Sayed Khodaiberdi Sadat/Anadolu Agency/Getty Images)

Image
Taliban tịch thu nhiều quân trang quân dụng của quân đội chính quy Afghanistan (ảnh: Sayed Khodaiberdi Sadat/Anadolu Agency/Getty Images)

Image
Lực lượng Taliban đã làm chủ Kabul. Trong ảnh là chiến binh Taliban gần khu vực Phi trường quốc tế Hamid Karzai ngày 16 Tháng Tám 2021 (ảnh: Haroon Sabawoon/Anadolu Agency/Getty Images)

Image
Hàng ngàn người Afghanistan chen lấn và leo rào để vào Phi trường quốc tế Hamid Karzai trong cuộc tháo chạy hỗn loạn (ảnh: Haroon Sabawoon/Anadolu Agency/Getty Images)

User avatar
mexanh
Posts: 517
Joined: Tue Nov 04, 2008 4:18 am

Re: Bình Luận Thời Sự

Post by mexanh »

Sự sụp đổ tất yếu của Kabul bắt đầu từ khi nào?
Minh Đăng
15 tháng 8, 2021


Image
Lực lượng an ninh quốc gia tuần hành đường phố Kabul ngày 15 Tháng Tám 2021, khi Taliban bắt đầu tràn vào thủ đô “không bằng vũ lực hoặc chiến tranh mà chỉ thương lượng với phía bên kia để vào thành phố một cách hòa bình” – như lời một phát ngôn viên Taliban (ảnh: Haroon Sabawoon/Anadolu Agency via Getty Images)

New York Times đã điểm lại một số “lỗi kỹ thuật” chết người trong cuộc chiến Afghanistan. Và hậu quả là như đang thấy: Kabul thất thủ, vào ngày 15 Tháng Tám 2021! Mỹ hoàn toàn thất bại!

Một năm sau khi Taliban bị quét khỏi Kabul, một nhóm đại sứ các nước NATO, với dẫn đầu của nhà ngoại giao Mỹ R. Nicholas Burns, đã đến thủ đô Afghanistan để thị sát tình hình. Trên trực thăng Black Hawk, họ đến nhiều vùng Afghanistan; đi bộ tại những khu phố vắng vẻ Kandahar và nhấm trà với các thủ lĩnh sắc tộc địa phương. Báo cáo từ Bộ tư lệnh Trung ương Hoa Kỳ cho biết Taliban chỉ còn là một lực lượng tan nát. “Vài người trong chúng tôi bảo: Không thể nhanh như thế được” – lời kể của Burns. Sự hoài nghi tương tự không tồn tại ở Washington. Khảo sát CIA cùng thời điểm cũng lạc quan cho biết Taliban đã bị giập tơi tả đến nỗi không thể trở thành mối đe dọa. Quân đội Mỹ tự tin đến mức bắt đầu rút lực lượng đặc nhiệm tinh nhuệ khỏi Afghanistan để chuẩn bị đưa đến Iraq. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ lúc đó, Donald Rumsfeld, đã không bổ sung quân đội Mỹ để củng cố an ninh Afghanistan, như đề nghị từ Ngoại trưởng (lúc đó) Colin Powell.

Sau khi lật đổ chính thể Taliban Tháng Mười Hai 2001, Ngoại trưởng Colin Powell và Cố vấn an ninh quốc gia Condoleezza Rice đã tranh luận đốp chát đề tài mang nội dung củng cố hình ảnh Mỹ trên trường thế giới bằng cách không thể để mất Afghanistan. Tháng Hai 2002, tại Phòng tình huống, Powell đề nghị quân đội Mỹ nên gia nhập lực lượng gìn giữ hòa bình quốc tế trong chiến dịch tuần hành Kabul đồng thời giúp chính quyền của Tổng thống đầu tiên (giai đoạn “hậu Taliban”) – Hamid Karzai – mở rộng quyền lực khỏi phạm vi thủ đô. Tuy nhiên, Bộ trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld cho rằng nếu Mỹ bày tỏ dấu hiệu ủng hộ, quân đội các nước đồng minh NATO sẽ không tăng quân số mà đùn trách nhiệm cho Mỹ. Năm 2002, Mỹ bắt đầu đưa 8,000 quân đến Afghanistan, chỉ nhằm săn lùng tàn quân Taliban và Al-Qaeda chứ không tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình; trong khi đó, 4,000 lính lực lượng gìn giữ hòa bình quốc tế lại hiếm khi đi khỏi ranh giới Kabul!



Chủ trương Mỹ là chỉ hỗ trợ Afghanistan tự xây dựng quân đội. Phần trách nhiệm trên tổng thể cấu trúc tái thiết được chia như sau: Mỹ sẽ huấn luyện 70,000 lính cho Afghanistan; Nhật chịu trách nhiệm giải giáp khoảng 100,000 chiến binh (tàn quân Taliban); Anh lãnh phần kiểm soát, ngăn chặn canh tác-chế biến thuốc phiện; Ý giúp xây dựng bộ máy tư pháp; và Ðức đào tạo 62,000 cảnh sát. Sự phân chia cho thấy chẳng ai chịu trách nhiệm chung và làm lộ ra nhiều lỗ hổng.

Thời điểm đó, tại Afghanistan, có rất ít viên chức Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và Ngũ Giác Đài đến nỗi 13 nhóm CIA với nhiệm vụ chính thật ra là săn lùng tàn quân Taliban lại bị yêu cầu phải cắm chốt tại nhiều tỉnh xa nhằm giúp duy trì công tác xây dựng chính trị – như tiết lộ của cựu Phó giám đốc CIA John E. McLaughlin. Do tập trung vào Iraq, tiến trình tái thiết Afghanistan cũng bị ngó lơ. Ðến khoảng đầu năm 2003, văn phòng Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tại Afghanistan mới sắp xếp xong nhân sự với ban bệ ít ỏi.
Image
Tòa Đại sứ Hoa Kỳ tại Kabul, Afghanistan, mở cửa ngày 17 Tháng Mười Hai 2001 lần đầu tiên kể từ năm 1989 (ảnh: Paula Bronstein/Getty Images)

Ngày 1 Tháng Năm 2003, khi Tổng thống Bush xuất hiện trên một hàng không mẫu hạm với phát biểu cuộc chiến Iraq xem như đã hoàn thành, Bộ trưởng Quốc phòng Rumsfeld có mặt tại buổi họp báo với Tổng thống Afghanistan Hamid Karzai tại Kabul cũng hồ hởi nhận định tình hình lạc quan cho Afghanistan. Ba tuần sau, nhiều công nhân viên chức nhà nước Afghanistan bị “bỏ đói” vì không nhận được lương trong nhiều tháng đã biểu tình tại Kabul, đòi Karzai từ chức. Cùng lúc, việc đào tạo quân đội Afghanistan bắt đầu cho thấy khó khăn hơn được nghĩ. Liên tục chứng kiến tình trạng đào ngũ, quân đội Afghanistan lúc đó chỉ vỏn vẹn 2,000 lính. Nỗ lực xây dựng lực lượng cảnh sát của Ðức thậm chí còn chậm hơn; và cố gắng của Anh trong hạn chế tình trạng canh tác anh túc cũng thất bại. Tàn binh Taliban lẩn sang Pakistan trước đó nay bắt đầu lẻn vào và giết các nhân viên thiện nguyện, khiến chiến dịch tái thiết miền Nam Afghanistan bị trì hoãn…

Một thay đổi nhân sự đã làm thay đổi chính sách Afghanistan của Mỹ, khi Zalmay Khalilzad (người Mỹ gốc Afghanistan, viên chức cấp cao tại Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ) được bổ nhiệm Đại sứ Afghanistan. Thuộc “trường phái” tân bảo thủ, Khalilzad đến Kabul vào dịp Lễ Tạ ơn 2003, mang theo gần $2 tỉ để thực hiện chương trình tái thiết (quân đội Mỹ giúp xây trường học…). Tháng Một 2004, Afghanistan đạt đến sự dàn xếp trong thiết lập Hiến pháp mới. Tháng Mười cùng năm, Karzai đắc cử tổng thống, vào thời điểm NATO bắt đầu tăng quân số. Cơ cấu chính trị xem như đã thiết lập xong nhưng tình hình cũng chẳng mấy lạc quan. Tàn binh Taliban tiếp tục rỉ rả tấn công.

Tháng Chín 2005, khi các bộ trưởng quốc phòng NATO họp tại Berlin để bàn kế hoạch củng cố an ninh Afghanistan, Ngũ Giác Đài bất ngờ thả một “quả bom” khi cho biết đang xem xét rút 3,000 lính Mỹ (20% quân số Mỹ) khỏi Afghanistan, ở thời điểm mà tướng Tư lệnh trưởng Bộ binh Mỹ tại Afghanistan, Karl W. Eikenberry, đề nghị chuyển quân đến phía Ðông để chặn đứng dấu hiệu trở lại từ Taliban. Ðề xuất đã không được thực hiện. Ba tháng sau khi Ngũ Giác Đài “hù” rút quân, Phòng ngân sách-quản lý Toà Bạch Ốc cắt 1/3 viện trợ Afghanistan. Viện trợ Mỹ cho Afghanistan giảm 38%, từ 4.3 tỉ USD năm tài khóa 2005 còn 3.1 tỉ USD năm tài khóa 2006.



Tháng Hai 2006, Ronald E. Neumann (người thay Zalmay Khalilzad tại Kabul; từ chức vào Tháng Sáu 2007) – khi dự báo một cuộc tấn công qui mô từ Taliban – đã gửi điện tín khẩn về Washington nhưng thông tin không được quan tâm đúng mức. Mùa Xuân 2006, Taliban mở cuộc tấn công bạo nhất kể từ năm 2001, đánh quân Anh, Canada, Hà Lan túi bụi tại khu vực Nam Afghanistan. Số vụ khủng bố liều chết tăng gấp năm (136 vụ) và số vụ cài bom vệ đường tăng gấp đôi… Sau khi cắt ngân sách viện trợ Afghanistan năm 2006, Washington dự tính bơm $9 tỉ cho Afghanistan năm 2007. Tuy nhiên, vấn đề cực kỳ quan trọng thời điểm đó là sự chia rẽ trong hàng ngũ NATO. Washington than phiền đồng minh NATO không sẵn sàng liều mạng đối mặt Taliban; tại châu Âu, các thành viên NATO kêu rằng Mỹ chưa bao giờ tập trung vào chiến dịch tái thiết; và hơn nữa, các cuộc oanh kích làm thiệt mạng thường dân càng khiến người Afghanistan thù ghét phương Tây…

Đến thời Barack Obama, một trong những chuyển biến trong chính sách là thái độ không ủng hộ Karzai (trong ấn bản ngày 9 Tháng Hai 2009, tờ Newsweek từng giật tít bài viết mang tựa “Obama’s Vietnam”). Chính phủ Obama cho rằng Karzai không chỉ bất lực trong cuộc chiến tiêu diệt Taliban mà còn để đất nước ngập trong tham nhũng (tân Ngoại trưởng Hillary Clinton, trong diễn văn nhậm chức, gọi Afghanistan là “quốc gia thuốc phiện” – narcostate).

Trong quyển In the Graveyard of Empires (phát hành năm 2009), Seth Jones – nhà phân tích chính trị thuộc RAND Corporation, Giáo sư Đại học Georgetown và Naval Postgraduate School – chỉ ra rằng cuộc chiến của Mỹ tại Afghanistan chỉ mang lại tổn thất bởi nhiều yếu tố, từ việc các căn cứ quân sự Al-Qaeda nằm tại Pakistan (chứ không phải Afghanistan) đến căn bệnh ung thư tham nhũng với di chứng nghiêm trọng trong bộ máy chính quyền sở tại Afghanistan, từ vấn đề tôn giáo đến truyền thống sắc tộc phức tạp nước này…

Có thể rút ra một số nguyên nhân chính khiến cuộc chiến Afghanistan thất bại:

1/ Chủ quan, khinh địch;

2/ Thất bại trong việc sử dụng Tổng thống Pakistan Pervez Musharraf và không lột tả được chính xác bức tranh tôn giáo chính trị hóa nước này (Taliban luôn được Hồi giáo Pakistan ủng hộ);

3/ Thất bại trong việc xây dựng cảm tình đối với người địa phương Afghanistan;

4/ Thất bại trong việc xây dựng chính phủ đầu tiên Hamid Karzai để họ có thể tự bươn chải và phủ sóng quyền lực để ngăn chặn ảnh hưởng Taliban;

5/ Sự bất hòa giữa Mỹ và các thành viên NATO;

6/ Cuối cùng, đó là sự bất hòa trong nội bộ Mỹ đối với chính sách Afghanistan, giữa Quốc hội và Tòa Bạch Ốc; giữa Dân chủ và Cộng hòa và giữa Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng.

hoangphong
Posts: 423
Joined: Tue Feb 12, 2019 7:20 am

Re: Bình Luận Thời Sự

Post by hoangphong »

Phát biểu của tổng thống Joe Biden về Afghanistan
Chiều hôm nay, ngày 16 tháng 8, Tổng Thống Joe Biden đã xuất hiện trên các hệ thống truyền hình quốc gia để trình bày vấn đề Afghanistan đến người dân Mỹ, trong đó ông đưa ra các lý do cùng quyết định tại sao ông đã chọn rút quân khỏi Afghanistan cùng việc di tản tại Kabul hiện nay.

Bên dưới là trích đoạn một vài điểm đáng chú ý từ phát biểu của tổng thống Joe Biden.

"Chúng ta đến Afghanistan 20 năm trước với những mục đích rõ ràng là truy tìm những kẻ tấn công chúng ta trong vụ 911 và không để al Qaeda dùng Afghanistan để tấn công Mỹ lần nữa. Chúng ta đã làm được. Đã hạ al-Qaeda và tiêu diệt bin Laden cách đây một thập niên. Nhiệm vụ của chúng ta chưa bao giờ nhằm để xây dựng hay kiến tạo một nền dân chủ thống nhất và tập trung tại đất nước này.

-Khi tôi nhậm chức thì tổng thống Trump đã để lại một thỏa thuận với Taliban là rút quân khỏi Afghanistan trước ngày 1 tháng Năm, chỉ hơn ba tháng sau khi tôi nhậm chức.

-Chỉ có một thực tế lạnh lùng, hoặc là rút quân theo thỏa thuận hoặc gởi thêm hàng ngàn quân đến chiến đấu tại Afghanistan, kéo cuộc xung đột này qua thập niên thứ ba.

-Tôi dứt khoát đưa ra quyết định của mình. Sau 20 năm, tôi đã biết được một điều là chẳng bao giờ là thời điểm thích hợp để rút quân. Tôi đã luôn hứa là sẽ luôn thẳng thắn với người dân thì sự thật là, điều này đã diễn ra nhanh hơn chúng tôi dự đoán.

- Điều gì đã xảy ra? Các nhà lãnh đạo Afghanistan đã bỏ cuộc và trốn chạy khỏi đất nước họ, còn quân đội Afghanistan sụp đổ, không cố gắng chiến đấu. Lính Mỹ không thể và không nên tham gia và chết trong một cuộc chiến mà các lực lượng Afghanistan không sẵn sàng chiến đấu cho chính họ.

-Chúng ta đã chi hơn một ngàn tỉ đô la, huấn luyện và trang bị cho họ 300 ngàn quân có đầy đủ vũ khí, còn lớn hơn cả quân đội của một số đồng minh NATO chúng ta. Cung cấp mọi thứ họ cần, trả lương cho họ, cho họ mọi cơ hội để quyết định tương lai của mình, chỉ không thể cho họ một ý chí chiến đấu cho cái tương lai đó.

-Tôi cũng kêu gọi họ vận động ngoại giao, tìm kiếm dàn xếp chính trị với Taliban nhưng lời khuyên này đã bị từ chối thẳng thừng. Tổng thống Ghani khẳng định là lực lượng Afghanistan sẽ chiến đấu, nhưng rõ ràng ông ta đã sai.

-Vì vậy, tôi để câu hỏi này lại với những người đang tranh luận là chúng ta nên ở lại: Các bạn muốn tôi gởi thêm bao nhiêu thế hệ con cái chúng ta để chiến đấu cho người Afghanistan, còn họ thì không? Cần bao nhiêu sinh mạng người Mỹ nữa, điều có đáng làm hay không? Còn muốn bao nhiêu dãy bia mộ tại nghĩa trang quốc gia Arlington nữa?

-Tôi rất rõ ràng với câu trả lời của mình là, tôi sẽ không lặp lại những sai lầm mà chúng ta đã mắc phải trong quá khứ, sai lầm khi sa lầy và chiến đấu vô thời hạn trong một cuộc xung đột không vì lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ.

-Tôi biết rằng có những thắc mắc về việc tại sao không di tản các thường dân Afghanistan sớm hơn. Một phần vì một số người Afghanistan không muốn di tản sớm hơn vì họ vẫn còn hy vọng vào quốc gia của mình. Phần khác là chính phủ Afghanistan không để chúng tôi thực hiện cuộc di tản quy mô vì lo sợ gây hoảng loạn.

-Lính Mỹ đang thực hiện cuộc di tản này một cách chuyên nghiệp và hữu hiệu vốn dĩ, dù không phải không nguy hiểm. Chúng tôi đã cảnh cáo Taliban rằng, nếu tấn công vào người hay làm gián đoạn việc di tản này thì lính Mỹ sẽ có mặt lập tức và trả đũa mạnh mẽ. Chúng ta sẽ bảo vệ công dân của chúng ta bằng loại vũ lực dữ dội nhất nếu cần thiết.

-Những gì đang xảy ra bây giờ có thể đã dễ dàng xảy ra năm năm trước hoặc 15 năm sau. Chúng ta phải thành thật là nhiệm vụ của chúng ta tại Afghanistan đã có nhiều sai lầm trong hai thập niên vừa qua. Tôi là tổng thống thứ tư, hai Cộng Hòa và hai Dân Chủ, tôi sẽ không để lại trách nhiệm này cho tổng thống thứ năm.

-Kéo dài cuộc chiến không vì quyền lợi quốc gia, không phải điều người dân mong muốn và không phải điều mà người lính chúng ta đã hy sinh quá nhiều trong hai thập niên qua, phải gánh chịu thêm.

-Tôi biết quyết định của mình sẽ bị chỉ trích, nhưng tôi thà nhận tất cả những chỉ trích đó còn hơn là để quyết định này lại cho một tổng thống Mỹ khác. Bởi đây là quyết định đúng đắn, là lựa chọn thích hợp cho nước Mỹ.

Nhã Duy chuyển dịch

Video Tổng thống Joe Biden phát biểu từ Bạch Ốc

https://www.youtube.com/watch?v=02grem9YXkg

Image
Ảnh: Tổng Thống Joe Biden thăm binh lính Mỹ tại Afghanistan khi ông là phó tổng thống

User avatar
bichphuong
Posts: 654
Joined: Mon Apr 25, 2016 12:10 am
Been thanked: 1 time

Re: Bình Luận Thời Sự

Post by bichphuong »

Chia rẽ trầm trọng giữa những người Mỹ gốc Việt vì Trump?
August 20, 2021



Là người Mỹ gốc Việt, sống trên xứ sở này, chúng ta cần nhìn nhận một sự thật đau lòng, rằng di sản tệ hại và đau khổ của chiến tranh Việt Nam đã và đang định hình nhiều lựa chọn của người Mỹ gốc Việt trong những cuộc bầu cử Quốc Hội và Tổng Thống tại Hoa Kỳ, rất dễ để nhận thấy sự phân cực chính trị ngay bên trong lòng cộng đồng người Việt tại Mỹ nhất là từ cuộc bầu cử Tổng Thống năm 2016.

Ngày nay, có hơn hai triệu người Mỹ gốc Việt – những người tị nạn trước đây và con cháu của họ – đang sống tại Hoa Kỳ. Họ là nhóm người Mỹ gốc Á lớn thứ tư tại Hoa Kỳ.

Trong nhiều năm kể từ khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc, người Mỹ gốc Việt – đặc biệt là thế hệ những người già, thế hệ đầu tiên mà đến nay, người trẻ nhất theo tôi nghĩ, cũng phải vào khoảng 70 – thường liên kết với đảng Cộng hòa vì lập trường chống cộng nhiệt thành của đảng này từ thời chiến tranh khoảng thập niên 70 – 80.

Nhưng nếu nói cho tận tường, thì cũng có một số không nhỏ những người già, với nhận định hời hợt, không tìm hiểu cặn kẻ chỉ biết ủng hộ đảng Cộng Hòa, chỉ đơn giản là vì tên của đảng này có hai chữ Cộng Hòa, và miền Nam Việt Nam trước kia dưới chính thể cũng có hai chữ Cộng Hòa, vì thế tôi ủng hộ đảng Cộng Hòa, đơn giản và hoàn toàn sai lầm đến tội nghiệp.

Từ ngày đất nước này có một tên rối loạn nhân cách xuất hiện, học đòi làm chính trị, và gia nhập đảng Cộng Hòa năm 1987, đến năm 1999 thì thay đổi đảng phái, gia nhập đảng Độc Lập của New York, chỉ 2 năm sau đó, vào tháng 08.2001 thì gia nhập vào đảng Dân Chủ, rồi 8 năm sau, tên 45 lại quay trở lại với đảng Cộng Hòa vào tháng 09.2009, nhưng cũng chỉ 2 năm, đến tháng 12.2011, tên 45 rời bỏ đảng Cộng Hòa, tuyên bố không có đảng phái, hoạt động độc lập, rồi 2 năm sau, 04.2012, Trump gia nhập trở lại Đảng Cộng Hòa.


Nói đến tiểu sử hoạt động chính trị của tên 45 thì tôi cũng tự hỏi mình, nếu năm 2012, tên 45 này gia nhập đảng Dân Chủ, thì một số người Mỹ gốc Việt tại Mỹ và một số người Việt trong nước nếu điên cuồng, nhắm mắt ủng hộ tên 45 thì sẽ ủng hộ đảng Dân Chủ, có phải như vậy không?

Và như vậy, một số người Mỹ gốc Việt sẽ không ủng hộ tên 45 vì đảng chính trị mà tên này đang theo không có hai chữ Cộng Hòa trong đó? Nếu vậy đảng Dân Chủ đã thiếu may mắn khi tên 45 đã không gia nhập đảng này năm 2012 thay vì đảng Cộng Hòa?

Không chỉ cùng một thế hệ mà người Mỹ gốc Việt đã có những bất đồng sâu sắc bởi người bênh kẻ chống, người ủng hộ đảng Dân Chủ kẻ ủng hộ đảng Cộng Hòa, người theo Trump kẻ theo ông Biden mà còn có sự chia rẽ giữa thế hệ thứ nhất và những thế hệ thứ 2, thứ 3.

Vậy thì, với câu hỏi, tên 45 đã hứa những gì khi tranh cử, đã làm được trong 4 năm qua mà khiến một số người Mỹ gốc Việt tại Mỹ và khá đông những người Việt trong nước điên cuồng ủng hộ, tôi dùng chữ điên cuồng là chính xác không sai, vì chỉ có những cái đầu điên cuồng, ủng hộ vô điều kiện một con người bị rối loạn nhân cách, phân biệt chủng tộc, kỳ thị chính những kẻ đang điên cuồng ủng hộ mình, họ không chịu tìm hiểu cặn kẻ về con người này.

Một thí dụ rõ nhất mà tôi rất lấy làm ngạc nhiên, khi một số người Việt cuồng tên 45 đã bất chấp các chính sách chống nhập cư hà khắc của tên 45 đang nhắm vào các cộng đồng thiểu số, có cả người Việt, vậy mà tên 45 vẫn giành được sự ủng hộ trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt và tăng sự ủng hộ trong năm nay lên 48%, tăng 16% so với năm 2016.

Đúng là thực sự khó hiểu!

Khi Trump đang cố gắng bằng mọi cách tại Tòa án Tối cao Hoa Kỳ để chấm dứt Đạo luật Chăm sóc Giá cả phải chăng, mà chúng ta hay gọi là Obamacare, thì trong số gần 150.000 người Mỹ gốc Việt đang được hưởng những lợi ích với bảo hiểm y tế theo Đạo luật Chăm sóc Giá cả phải chăng thì họ vẫn ủng hộ tên 45 mà không hề nghĩ đến, nếu đạo luật y tế này bị bỏ thì họ sẽ dựa vào đâu để sống, để được chữa bệnh, và vấn đề này lại càng làm cho tôi trở nên thực sự khó hiểu hơn về những người cuồng Trump bất chấp, người ta muốn đốt nhà mình, muốn đuổi mình ra đường mà vẫn quỳ lạy xì xụp, tôn thờ hơn cả ông bà tổ tiên cha mẹ.

Một số người Mỹ gốc Việt thường dựa vào những lời lẽ hùng biện và thông điệp chống cộng ‘cứng rắn với Trung Quốc’ của tên 45 đã gây được tiếng vang với một cộng đồng bảo thủ vốn xem chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa đế quốc Trung Quốc là những kẻ thù không đội trời chung, nhưng ngưng ở đây, tôi muốn hỏi một số người Việt cuồng Trump, tên 45 chống Trung Quốc chổ nào, quý vị có thể đưa ra dẫn chứng được không?


Quý vị có biết Trump và con gái Ivanka Trump đang có hàng trăm cơ sở làm ăn, resorts, sân chơi golf, thương hiệu quần áo, đồ gia dụng, khách sạn tại TQ, chống cái gì, nếu Tập Cận Bình chỉ cần ho lên một tiếng là tất cả business của tên 45 và con gái phải đóng cửa, tên 45 đã làm suy suyển, sứt mẻ gì để TQ hay chưa, có bắn chìm chiếc tàu, chiếc máy bay nào của TQ chưa? Hay tên 45 chỉ nhận được những hồng ân của Tập Cận Bình ban phát qua việc để các nhà bank tại lục địa cho tên 45 vay để xây khách sạn, resorts mà tên 45 không cần phải bỏ ra một đồng vốn nào.

Các vị cuồng Trump nào còn nghĩ tên 45 đánh thuế TQ mạnh mẽ, là việc mà chưa có vị TT Mỹ nào trước đây dám làm, có đúng vậy không?

Nhưng các vị cuồng Trump quên rằng, TQ chẳng có trả thêm đồng xu thuế nào mà Mỹ đánh lên hàng hóa nhập khẩu của TQ vào Mỹ cả, đánh thuế cao bao nhiêu thì các nhà xuất khẩu của TQ tăng giá lên bấy nhiêu, còn các nhà nhập khẩu của Mỹ, muốn nhập hàng vô với giá mắc hơn thì khi bán ra, họ bắt buộc phải nâng giá bán lên, và người tiêu dùng Mỹ chính là những người phải trả số tiền chênh lệch với giá mua cao hơn trước, vậy ai là người phải trả tiền áp thuế Mỹ đánh lên hàng xuất khẩu của TQ vào Mỹ, đó là người tiêu dùng Mỹ, trong đó có chúng tôi và một số người Việt cuồng tên 45.

Và một trong những vấn đề gây tranh cãi nhất trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt với sự lầm tưởng rằng, thượng nghị sĩ Joe Biden trước đây đã từng phản đối việc tiếp nhận người tị nạn Việt Nam sau chiến tranh. Vào tháng 10.2020, ông Biden đã giải quyết quan niệm sai lầm này trong một bài viết trên một tờ báo Việt ngữ nổi tiếng.

Nhưng đối với nhiều người Việt Nam lớn tuổi, cổ hủ và cố chấp, điều đó là không đủ để thay đổi quan điểm của họ. Lỡ cuồng tên 45 thì phải tiếp tục cuồng, bất kể tên cuồng có tệ hại đến đâu.

Ngoài ra, với tư duy thiển cận, không chịu đọc tin tức tiếng Anh, báo chí nước ngoài, một số người Việt lớn tuổi chỉ đọc báo tiếng Việt của Epoch Times tức Đại Kỷ Nguyên với những tin tức một chiều từ nhóm thuyết âm mưu QAnon, kiến thức không có, lại dễ bị nhồi sọ bởi những tờ báo như Đại Kỷ Nguyên khiến họ mất đì tính tự chủ, tự tìm hiểu, tự học hỏi.

Trong cuộc bầu cử Tổng Thống Mỹ năm 2020, một người Mỹ gốc Việt, 54 tuổi, đã trả lời phóng viên khi được hỏi, anh sẽ bầu cho ai và đảng nào?

Người đàn ông tên Matthew Trương, trả lời không một chút ngần ngại, tôi ủng hộ ông Trump, vì ông ấy chống TQ giúp VN và tôi không muốn thấy Hoa Kỳ trở thành một nước cộng sản.

Phóng viên hỏi ngược lại, ông Trump làm điều gì mà anh cho là ông ấy giúp TQ? Tại sao nước Mỹ sẽ trở thành cộng sản, nếu ông Biden và đảng Dân Chủ thắng? Người đàn ông không thể trả lời những câu hỏi này để khẳng định lập trường, quan điểm của mình.

Cộng đồng người Mỹ gốc Việt, đặc biệt là những người thuộc làn sóng nhập cư đầu tiên đến Hoa Kỳ thuộc thế hệ thứ nhất, cứ cho rằng các chính sách Trung Quốc của Trump phục vụ lợi ích của họ ở quê hương, đó là một lý do họ theo đuổi, nhưng nếu chỉ tập trung vào vấn đề này có nghĩa là họ sẽ nhắm mắt bỏ qua các khía cạnh xấu xí tệ hại về nhân cách, bản tính khác trong con người của một kẻ nham hiểm, gian hùng.

Và đây là một xu hướng đáng lo ngại: Nhiều người Mỹ gốc Việt – đặc biệt là thế hệ thứ nhất, những người nhập cư lớn tuổi với trình độ tiếng Anh thấp – đã trở nên ngày càng bảo thủ triệt để hơn, hoặc tỏ ra đồng cảm với những quan điểm đến từ nhóm thuyết âm mưu QAnon và các đảng viên Cộng Hòa cực đoan để ủng hộ Trump.

Vấn đề chống cộng sản hay chống Trung Quốc đã đè nặng lên tâm trí của những người Mỹ gốc Việt thuộc thế hệ đầu tiên. Nhiều người đã tham gia vào chính trị khi có các tổng thống của Đảng Cộng hòa, đó là điều khiến họ quan tâm đến chính trị. Họ coi GOP là bảo thủ xã hội và chống cộng, điều này phù hợp hơn với các giá trị của họ.

Sau khi bỏ lại một đất nước do cộng sản nắm quyền, họ có thể không màng đến chính trị mà chỉ tập trung vào đời sống và tương lai của con cháu. Tuy nhiên, họ đang bị dẫn dắt bởi làn sóng thông tin sai lệch bằng tiếng Việt và tiếng Anh, những quan điểm cánh hữu cực đoan này hiện đang bị một thiểu số không đáng kể âm thầm nắm giữ, chúng là ai?

Việt Linh

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Re: Bình Luận Thời Sự

Post by nangchieu »

Chính trị hóa đời sống của đảng Cộng hòa tiếp tục dìm nước Mỹ trong đại dịch

Jackhammer Nguyễn

Canada đã vượt qua Mỹ về tỷ lệ chích ngừa chống Covid-19, mặc dù nước này khởi đầu việc chích ngừa khó khăn hơn do thiếu vaccine.

Các phân tích và khảo sát cho thấy, hai lý do làm cho Canada đang thành công hơn so với Mỹ trong việc chích ngừa

Canada had a 'slow start'; now inoculation rates are surpassing the U.S.
"I think the key thing is there has been less politicization of the vaccine rollout," said Dr. Jesse Papenburg, ...


, thứ nhất là nước này ít tin vịt hơn, thứ hai là nước này ít bị chia rẽ và chính trị hóa như nước Mỹ.
Trong hai lý do này, lý do chính trị hóa là quan trọng hơn. Dĩ nhiên, cuộc sống thì không thể tách rời khỏi chính trị, chính sách, nhưng khi nói chính trị hóa, chúng tôi không nói đến những vấn đề liên quan đến ý thức hệ, quan điểm phát triển, quan điểm đạo đức… chưa biết là đúng hay là sai, chẳng hạn như chuyện phá thai, chuyện đồng tính, chuyện trợ cấp xã hội…

Chính trị hóa mà chúng tôi muốn nói ở đây là những vấn đề mà bất cứ đảng phái chính trị nào cũng phải công nhận, cho nên nó không còn là chính trị nữa, chẳng hạn như công thức hóa học của nước là H2O (hai nguyên tử hydro và một nguyên tử ô xy tạo thành một phân tử nước), hay Covid-19 gây ra đại dịch chết người… là những điều hiển nhiên.

Thế nhưng, điều kỳ lạ đã diễn ra khi đại dịch Covid-19 lại trở thành chính trị. Đeo khẩu trang và đi chích ngừa là biểu hiện của đảng Dân chủ, còn ngược lại là đảng Cộng hòa. Một vấn đề thuần túy khoa học, phi chính trị, phi đảng phái đã trở thành chính trị.

Có hai nguyên nhân của vụ việc này.

Thứ nhất là khả năng điều hành quốc gia kém cỏi của Donald Trump, một kẻ dân túy bất tài. Ông ta nhìn vào chỉ số chứng khoán, xem nó là yếu tố duy nhất biểu hiện sự thành công, để lấy điểm với người Mỹ. Ông ta sợ rằng nếu công bố đại dịch lúc nó mới bắt đầu lan tỏa, sử dụng biện pháp như cách ly, sẽ làm cho chỉ số chứng khoán bị sụt giảm, ảnh hưởng đến hình ảnh cầm quyền của ông ta. Từ đó sinh ra việc phủ nhận dịch bệnh (gọi Covid-19 là giả tạo do đảng Dân chủ đối lập dựng nên), từ phủ nhận dịch bệnh đưa đến những hành động quái gỡ như chế giễu những người đeo khẩu trang.

Càng quái gỡ hơn nữa là, một mặt ông ta tuyên bố mình có công trong chuyện sản xuất ra vaccine (công trạng trong chuyện này là của các nhà khoa học), mặt khác, ông ta không thúc đẩy nhóm cử tri “ruột” của mình đi chích ngừa, vì biết rằng nhóm này chống vaccine, và bản thân ông ta cũng đã chích ngừa, nhưng lén lút chích.

Nhưng yếu tố Trump chỉ là nguyên nhân gần của những chuyện chính trị hóa quái gỡ đời sống Mỹ. Nguyên nhân quan trọng là sự phân cực trong chính bản thân nước Mỹ, giữa các vùng bờ biển trù phú và các bang ở giữa nghèo nàn hơn, giữa những đại đô thị và những vùng thôn quê. Toàn cầu hóa và tự động hóa trong mấy chục năm qua làm cho sự phân rẽ này càng lớn.

Điều đáng tiếc là, có vẻ như nhóm người Mỹ quan tâm đến những thay đổi mạnh do toàn cầu hóa và tự động hóa gây ra, lại nằm về một phía của chính trị Mỹ là đảng Dân chủ. Đảng này hay nói về những chuyện thay đổi đó, như là sự thay đổi của khí hậu, đòi hỏi phải có cách sống khác đi, không đốt nhiều nhiên liệu hóa thạch nữa, hay là việc làm ngày càng ít so với dân số cần phải thiết lập một hệ thống an sinh xã hội.

Dân chúng sớm hay muộn cũng phải quan tâm đến những vấn đề nói trên, nhưng đảng Cộng hòa lại không biết bàn đến những vấn đề đó, mà chỉ loay hoay với những cái gọi là “giá trị” cũ kỹ, như là tự do phát biểu (có ai cấm đâu?), tự do súng ống (đánh với quân đội Mỹ ư?)… Từ đó sinh ra những phát biểu ngô nghê, những hành động lạ lùng của các nhân vật Cộng hòa, chẳng hạn như khi Hạ viện ra quy định đeo khẩu trang trở lại vì dịch bùng phát, nhóm Cộng hòa bèn nhặng xị chỉ trích, hay là nữ dân biểu Marjorie Greene nói là cháy rừng tại California do Bill Gates thí nghiệm tia laser bắn lên vũ trụ (sic)…

Vì không còn những gì cần thiết cho đời sống dân chúng hiện nay, các nhân vật Cộng hòa sợ mình thua trong cuộc cạnh tranh chính trị, bèn hành động phá hoại chính nền dân chủ của nước Mỹ như là hùa với Trump la lối rằng, bầu cử 2020 là gian lận (nơi nào họ thắng thì không gian lận), dẫn đến cuộc bạo loạn 6/1, tấn công điện Capitol.

Những hành động này tạo tiền lệ rất xấu cho nước Mỹ, kể từ nay, hễ đảng chính trị nào thua cuộc thì cứ la toáng lên là bị gian lận. Hành động của họ đả phá cả thế độc lập của nền tư pháp Hoa Kỳ vì toàn bộ các tòa án từ cấp tiểu bang, đến Tối cao Pháp viện đều phủ nhận chuyện gian lận bầu cử.

Họ đi đến cả việc ra những luật rất phản động để hạn chế tự do bầu cử của dân chúng ở những vùng mà họ kiểm soát.

***

Ở Việt Nam, đảng Cộng sản cũng chính trị hóa đời sống của đất nước từ khi họ mới cầm quyền, học sinh từ tiểu học đã bắt đầu học chính trị, và các lĩnh vực lịch sử, khoa học xã hội, thực chất đều là những bài học chính trị.

Có những so sánh thú vị về chính trị hóa đời sống Mỹ và chính trị hóa ở Việt Nam.

Nếu chính trị hóa tại Việt Nam là chính sách của một nhà nước độc đảng, thì chính hóa tại Mỹ là của một đảng đang thất thế.

Chính trị hóa ở Việt Nam tạo một phản ứng là dân chúng không màng đến chính trị nữa, rất phù hợp với mong muốn của đảng Cộng sản, nhưng có hại về lâu dài cho quốc gia.

Chính trị hóa chuyện dịch bệnh của đảng Cộng hòa ở Mỹ thì đang dẫn đến con số nhập viện và chết chóc ở những vùng họ kiểm soát tăng lên, vì dân chúng không chịu chích ngừa, và vì thế, đại dịch kéo dài chưa biết đến khi nào mới kết thúc.

hoangphong
Posts: 423
Joined: Tue Feb 12, 2019 7:20 am

Re: Bình Luận Thời Sự

Post by hoangphong »

Phi trường Kabul bị tấn công bằng rốc két trong lúc Mỹ sắp hoàn tất rút quân
August 30, 2021
KABUL, Afghanistan (NV) – Một số quả đạn rốc két đã bắn về hướng phi trường Kabul vào lúc sáng sớm ngày Thứ Hai, 30 Tháng Tám, trong lúc quân đội Mỹ đang có các nỗ lực sau cùng để hoàn tất cuộc di tản và rút quân khỏi Afghanistan, dự trù kết thúc vào ngày Thứ Ba.

Theo bản tin của hãng thông tấn UPI, Tòa Bạch Ốc trong bản thông cáo ngắn cho biết là cố vấn an ninh Jake Sullivan và Chánh Văn Phòng Ron Klain đã báo cáo cho Tổng Thống Joe Biden hay về cuộc tấn công bằng rốc két nhắm vào phi trường Hamid Karzai International.
Image
Các quân nhân Mỹ lên phi cơ ở phi trường Kabul. (Hình: Aamir Qureshi/AFP via Getty Images)
Phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc Jen Psaki nói rằng: “Tổng Thống được báo cáo rằng hoạt động tại phi trường Kabul vẫn tiếp tục, và ông đã tái xác nhận lệnh cho các cấp chỉ huy là phải gia tăng nỗ lực làm tất cả những gì có thể làm được để bảo toàn lực lượng.”

Hiện chưa rõ là cuộc pháo kích có gây tổn thất gì không. Có tin nói rằng rốc két phóng đi từ dàn phóng lưu động, đặt trên một chiếc xe dân sự.
Image
Các giới chức Taliban xem xét chiếc xe tình nghi được sử dụng làm dàn phóng rốc két lưu động. (Hình: Wakil Kohsar/AFP via Getty Images)
Phi trường Kabul đầy sự hỗn độn trong hai tuần qua, nơi có cuộc di tản lớn nhất trong lịch sử, chỉ trong thời gian ngắn ngủi, sau khi Taliban nhanh chóng chiếm quyền kiểm soát thủ đô Afghanistan hồi giữa tháng này.

Quân đội Mỹ đã lập cầu không vận, di tản công dân Mỹ, người dân Afghanistan làm việc cho chính phủ và quân đội Mỹ, cùng là những người Afghanistan khác có thể bị đe dọa tính mạng, từ phi trường Kabul ra khỏi quốc gia này. Cho tới nay, số di tản là hơn 100,000 người và Tổng Thống Biden giữ nguyên hạn định rút quân là ngày 31 Tháng Tám.


Vào chiều tối ngày Chủ Nhật, Bộ Ngoại Giao Mỹ đưa ra thông cáo nói rằng Taliban đã hứa hẹn để cho tất cả các công dân ngoại quốc cũng như bất cứ người dân Afghanistan nào được ngoại quốc đón nhận, có thể ra đi mà không bị cản trở.
Image
Các ống, tình nghi dùng để phóng rốc két, đặt trong chiếc xe. (Hình: Wakil Kohsar/AFP via Getty Images)

Có gần 100 quốc gia loan báo sẽ tiếp tục có nỗ lực bảo đảm việc ra đi an toàn khỏi Afghanistan của các công dân, nhân viên, người Afghanistan bị đe dọa và những người đã làm việc cho họ trong suốt 20 năm chiến tranh vừa qua.

Bản thông cáo này nói sẽ tiếp tục cấp giấy tờ di chuyển cho những người dân Afghanistan hội đủ điều kiện và cũng đã “có sự hứa hẹn rõ ràng từ phía Taliban là những người này có thể đến quốc gia chúng tôi.”

Trong ngày Chủ Nhật, một cuộc không tập bằng drone của Mỹ tại Kabul đánh trúng một xe chở chất nổ gần phi trường. Cuộc tấn công này xảy ra ít ngày sau khi có 13 quân nhân Mỹ và gần 200 người Afghanistan thiệt mạng trong cuộc nổ bom tự sát của khủng bố tại cổng vào phi trường.

Thành phần ISIS tại Afghanistan, có Islamic State -Khorasan (ISIS-K) nhận trách nhiệm về vụ nổ bom.

Vào tối ngày Chủ Nhật, phát ngôn viên Bộ Chỉ Huy Trung Bộ Mỹ (USCENTCOM), Đại Tá Bill Urban, nói quân đội Mỹ có biết về báo cáo tổn thất nhân mạng thường dân, có thể từ cuộc không tập này.

Một số nguồn tin tại chỗ nói rằng chiếc drone phóng hỏa tiễn, đánh trúng chiếc xe chở chất nổ, và có thể có cả các tay nổ bom tự sát ngồi trong. Tuy nhiên, do có quá nhiều thuốc nổ nên có thể đã gây vạ lây cho thường dân. (V.Giang)

Post Reply