Bình Luận Thời Sự
Nguyễn Tấn Dũng lấy tiền đâu để “kích”?
Ngô Nhân Dụng
Ngày hôm qua đại diện Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế đã công bố những nhận xét về nền kinh tế Việt Nam, sau ba ngày họp bàn giữa phái đoàn của IMF với chính quyền Hà Nội. Phái đoàn IMF có vẻ bi quan hơn về hy vọng phát triển của Việt Nam, so với dự tính của chính phủ Nguyễn Tấn Dũng.
Kế hoạch “kích thích kinh tế” mà đảng Cộng Sản mới đưa ra đã giảm tiêu chí về tỷ lệ tăng trưởng. Trước đây chỉ tiêu được ấn định là kinh tế sẽ tăng thêm 6.7% trong năm 2009, nay chỉ hy vọng là 6.5%. Nhưng các chuyên gia của IMF thấy ngay mức gia tăng đó cũng khó đạt được.
Trong năm 2007, khi Việt Nam nhận được nhiều tiền đầu tư nước ngoài và doanh nhân trong nước cũng hăng hái trước kỳ vọng việc gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới, Tổng Sản Lượng Nội Ðịa Việt Nam đã tăng thêm được 8.5%. Một quốc gia như nước ta, vì dân số trẻ, mỗi năm số người bắt đầu đi làm rất đông, cho nên phải gia tăng sản xuất với tỷ lệ cao như vậy mới tạo đủ công việc làm cho lớp thanh niên lần đầu tiên bước vào thị trường nhân dụng.
Một quốc gia ở trình độ phát triển còn thấp thì rất dễ đạt tỷ lệ tăng trưởng cao như vậy, nếu người cầm quyền không phạm những sai lầm gây trở ngại. Thứ nhất vì số người làm việc tăng lên thì sức sản xuất tăng theo khi tiền đầu tư cũng tăng thêm để sử dụng khối lao động mới đó. Thứ hai vì sản năng của người lao động còn ở trình độ thấp thì rất dễ tăng cao hơn, khi dùng thêm máy móc, thiết bị mới. Thí dụ số người làm việc tăng 3% mà hiệu năng sản xuất lại tăng thêm 5% thì tổng số sản xuất phải tăng được hơn 8%. Những nước nghèo hiệu năng sản xuất tăng rất nhanh vì có nhiều thứ máy móc thiết bị lần đầu tiên được đem dùng. Ðó là chưa kể những yếu tố khác giúp vào việc phát triển như gia tăng đầu tư, gia tăng tiêu thụ. Trong mươi năm qua Trung Quốc đạt được tỷ lệ tăng trưởng trên dưới 10% chính nhờ vào các yếu tố thuận lợi tự nhiên đó. Trong thập niên 1970, nền kinh tế những nước Ðại Hàn, Ðài Loan, Hồng Kông đã gia tăng theo tốc độ đó cho nên mới trở thành những con rồng.
Nhưng sức phát triển của kinh tế nước ta đã giảm, từ 8.5% năm trước xuống chỉ còn khoảng 6.25% năm nay, theo ước tính của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế. Và cơ quan tài chính quốc tế này tiên đoán sang năm 2009 GDP của Việt Nam sẽ chỉ tăng chừng 5%, không tăng 6.5% như chính phủ Nguyễn Tấn Dũng ước tính.
Tình hình bi quan ở Việt Nam trong năm 2009 có thể thấy trước được. Một là số hàng xuất cảng sẽ xuống, khi kinh tế thế giới trì trệ hoặc suy thoái khiến người ta bớt mua hàng và cũng bớt đầu tư ở Việt Nam. Hai là số tiền do người Việt ở nước ngoài gửi về cũng giảm. Vì người Việt Nam sống ở Nga, ở Úc, ở Mỹ hay Ðài Loan đều phải “thắt lưng buộc bụng” không thể gửi tiền về nước nhiều như trước. Nếu số tiền “viện trợ nhân đạo” của người Việt hải ngoại giảm đi vài tỷ Mỹ kim, con số đó cũng khá lớn đối với kinh tế nước ta. Theo nhận xét của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế thì kinh tế năm 2007 đã tăng trưởng mạnh là nhờ hai dòng tiền tệ vào Việt Nam: Tiền đầu tư trực tiếp của nước ngoài, và tiền do người Việt ở ngoại quốc gửi về. Cả hai nguồn đó thế nào cũng giảm trong năm tới. Bữa rồi công nhân Việt Nam làm việc ở Ðài Bắc biểu tình yêu cầu chính phủ Ðài Loan đừng mướn thêm người ngoại quốc nữa, để họ khỏi bị bớt việc làm. Một cô than rằng cô tốn tiền mới được đi Ðài Loan mà sang đây lại ít việc quá, không kiếm được bao nhiêu. Cô thổ lộ trong 10 tháng vừa rồi mới gửi được một ngàn đô la về cho gia đình. Với số 80,000 lao động Việt Nam ở Ðài Loan không thôi, vì bị bớt công việc mỗi người gửi về nước ít hơn trước một ngàn đô la, thì tổng cộng cũng giảm mất 80 triệu. Nhân con số đó lên cho hàng triệu người Việt vẫn gửi tiền về, có thể thấy ngân khoản “viện trợ không bồi hoàn” này lên tới hàng tỷ.
Những người cầm quyền trong nước cũng biết tình huống đó, cho nên chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã mở kế hoạch “kích cầu,” tức là kích thích số tiêu thụ ở trong nước. Ở bên Mỹ, Tổng thống tân cử Obama dự tính sẽ dùng gần một ngàn tỷ mỹ kim cho kế hoạch kích cầu (stimulus) kinh tế Mỹ. Kinh tế Việt Nam nhỏ gần bằng một phần mười của Mỹ, dân số Việt Nam chỉ bằng trên một phần ba dân số Mỹ, cho nên trước đây đảng Cộng Sản Việt Nam tính kế hoạch “kích cầu” ở nước ta chỉ có một tỷ! Nay, thấy viện trợ Nhật Bản cũng giảm, tiền Việt kiều gửi về cũng giảm, xuất cảng xuống mà mà đầu tư nước ngoài cũng xuống, ngày Thứ Ba vừa rồi đảng Cộng Sản cho phép tăng ngân khoản kích cầu lên 6 tỷ Mỹ kim.
Số tiền này được bơm vào nền kinh tế theo nhiều ngả. Chẳng hạn nhiều mặt hàng xuất cảng sẽ được bớt thuế để bán ra ngoài rẻ hơn, dễ hơn. Hàng nhập cảng được bớt thuế để kích thích cho dân tiêu thụ nhiều hơn và giúp các nhà sản xuất trong nước dễ mua được các đồ từ bên ngoài. Các xí nghiệp cỡ trung và nhỏ sẽ được bớt thuế 30% trong năm 2009. Nhiều công ty sẽ được đóng thuế chậm lại, trong 9 tháng đầu năm 2009 chưa phải đóng thuế. Tất cả các biện pháp đó sẽ cho phép các xí nghiệp giữ được nhiều tiền trong két, với hy vọng họ sẽ sản xuất thêm, không tăng giá hàng, do đó kích thích người dân tiêu thụ nhiều hơn. Còn về phần chính phủ, họ sẽ thu được ít tiền, ước tính sẽ giảm bớt số thu tới 6 tỷ. Cái giá phải trả để kích thích kinh tế!
Kế hoạch trên đã được nhiều xí nghiệp và nhà đầu tư ở Việt Nam hoan nghênh. Ông Dominic Scriven, người sáng lập Quỹ đầu tư Dragon Capital từ nhiều năm trước, nói rằng, “Ðây là lần đầu tiên tôi thấy họ đưa ra một kế hoạch có chi tiết như vậy!”
Nhưng ông Scriven lại đặt một câu hỏi: Nhà nước cộng sản sẽ lấy tiền đâu ra?
Bên Trung Quốc, họ cũng có một kế hoạch kích cầu với mấy ngàn tỷ nhân dân tệ, cỡ gần 600 tỷ đô la. Nhưng chính phủ Bắc Kinh khôn lắm, họ đẩy cho các tỉnh, các thành phố phải chi tiền, dễ nhà nước trung ương chi rất ít. Mà có chi nhiều họ cũng không lo vì Bắc Kinh có vài ngàn tỷ đô la dự trữ, tích lũy từ hàng chục năm nay. Số tiền đó vẫn tiếp tục tăng lên, vì cán cân thương mại của họ lúc nào cũng thặng dư. Cộng Sản Trung Quốc có tiền, muốn kích thích tha hồ kích thích. Những nước Á Châu khác cũng vậy, nước nào cũng đang gặp cảnh khó khăn vì hàng xuất cảng xuống, nước nào cũng tính phải kích cầu. Nhưng cán cân mậu dịch của họ vững chắc, ngoại tệ dự trữ đầy đủ, không lo thiếu tiền. Nếu sợ thiếu, cần đi vay tiền bên ngoài, chính phủ các nước Á Ðông vẫn có thể đi vay được vì nền kinh tế của họ đủ bảo đảm cho việc vay nợ.
Còn những chính sách kinh tế của đảng Cộng Sản Việt Nam đã đưa tình hình tài chánh nước ta vào một cảnh ngộ khác hẳn. Cán cân thương mại khiếm hụt, và mức khiếm hụt vẫn tăng. Ði vay bây giờ rất khó vì kinh tế bất ổn. Lấy tiền đâu để “kích cầu?”
Có một cách là in thêm tiền.
Trong kế hoạch cứu nguy kinh tế của ông Nguyễn Tấn Dũng, có mục tăng thêm số tiền lưu hành trong nước. Họ sẽ cho phép các ngân hàng được cho vay nhiều hơn, bằng cách giảm số dự trữ bắt buộc. Họ sẽ tăng ngân khoản cho các dự án và công trình lớn của nhà nước. Và nhà nước sẽ đứng ra bảo đảm nợ cho các xí nghiệp trung và nhỏ khi họ đi vay. Khi chọn những xí nghiệp nào sẽ được bảo đảm, chắc sẽ ưu tiên cho các xí nghiệp quốc doanh!
Tất cả những biện pháp trên đều là những kế hoạch trao thêm tiền cho các ngân hàng của đảng, cho các đơn vị quản lý dự án kiểu PMU, cho các doanh nghiệp nhà nước. Tức là trao thêm tiền cho các đảng viên cốt cán để các đồng chí này được chi tiêu thoải mái hơn!
Vậy thì “Lấy tiền ở đâu ra?” ngân hàng nhà nước nằm trong tay Ðảng Cộng Sản, họ có quyền in thêm tiền! Ðảng in thêm tiền cho các đảng viên chi.
Hậu quả là khi số tiền lưu hành tăng lên như vậy thì tỷ lệ lạm phát sẽ tăng theo. Lạm phát năm nay đã lên đến mức chóng mặt. Dân còn chịu đựng được là nhờ ai cũng biết “chui.” Nhưng sức chui của con người cũng có giới hạn, dù là con người Việt Nam đã chui quen suốt mấy chục năm sống dưới chế độ cộng sản. Lạm phát sẽ tăng, giá cả lên thì người dân nghèo với lợi tức cố định sẽ bị thiệt thòi nhất, còn những ông Huỳnh Ngọc Sỹ không lo. Khi lạm phát là 20%, giá sinh hoạt tăng khiến đồng tiền giảm giá trị 20%, thì coi như người dân bị đánh thuế 20% trên lợi tức của mình.
Có một cách để giảm bớt gánh nặng cho dân. Là giảm bớt những khoản chi tiêu của ngân sách nhà nước, trong đó có khoản chi cho đảng Cộng Sản Việt Nam. Từ trước đến nay không ai biết đảng Cộng Sản Việt Nam sống bằng cách nào cả. Ở nước Mỹ, một đảng chính trị như Dân Chủ hay Cộng Hòa đều phải công bố cho mọi người biết họ thu được bao nhiêu tiền, do ai góp. Mà họ thường thu được nhiều nhất vào những mùa tranh cử. Người ta biết ông Barack Obama đã được bao nhiêu người đóng góp tổng cộng bao nhiêu. Người ta cũng biết Ủy Ban Trung Ương của mỗi đảng Dân Chủ hay Cộng Hòa mỗi năm, mỗi tháng thu được bao nhiêu và chi cho những mục nào. Khi báo chí bới ra là bà Palin mua hàng trăm ngàn đô la tiền “trang bị” thì họ giải thích rõ với dân là món tiền đó do đảng Cộng Hòa chi chứ không phải quỹ tranh cử của Nghị Sĩ John McCain chi. Ai muốn coi sổ sách cũng được, và các nhà báo đã coi!
Còn đảng Cộng Sản Việt Nam thì không ai biết họ lấy tiền đâu ra mà ở mỗi địa phương trụ sở của đảng lớn ngang với trụ sở cơ quan hành chánh, có khi còn lớn hơn! Ai góp tiền cho đảng? Ðảng lấy tiền đâu để trả lương các vị lãnh đạo trong nội bộ đảng, từ cao đến thấp?
Số tiền chi cho đảng Cộng Sản phải lớn ngang với ngân sách quốc gia dành cho guồng máy hành chánh, mà chắc phải lớn hơn! Không ai được quyền ngó vào những món chi thu đó! Ðây là một niềm bí mật. Tính chất bí mật đó là đầu mối của bao nhiêu vụ tham nhũng mà các lãnh tụ cộng sản không ai dám đụng vào. Vì họ phải đặt quyền lợi của đảng lên trên tất cả các quyền lợi khác, đúng như ông Hồ Chí Minh vẫn dậy họ. Muốn biết ông Hồ dậy thế nào, xin đọc lại những bài ông viết về “Ðạo Ðức Cách Mạng” (Trong cuốn Vì Ðộc Lập Tự Do, Vì Chủ Nghĩa Xã Hội). Rất giản dị: Người có đạo đức là người đặt quyền lợi của đảng lên trên hết!
Bây giờ nếu các ông trong Bộ Chính Trị muốn thực hiện được kế hoạch kích cầu 6 tỷ đô la, các ông phải cắt bớt món ngân sách mà 84 triệu dân Việt Nam đang góp vào quỹ của đảng Cộng Sản! Nếu không thì cả nước sẽ ngay ngáy lo lạm phát vì không ai biết ông Nguyễn Tấn Dũng lấy tiền đâu ra mà kích cầu - ngoài cách in thêm giấy bạc?
Ngô Nhân Dụng
Ngày hôm qua đại diện Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế đã công bố những nhận xét về nền kinh tế Việt Nam, sau ba ngày họp bàn giữa phái đoàn của IMF với chính quyền Hà Nội. Phái đoàn IMF có vẻ bi quan hơn về hy vọng phát triển của Việt Nam, so với dự tính của chính phủ Nguyễn Tấn Dũng.
Kế hoạch “kích thích kinh tế” mà đảng Cộng Sản mới đưa ra đã giảm tiêu chí về tỷ lệ tăng trưởng. Trước đây chỉ tiêu được ấn định là kinh tế sẽ tăng thêm 6.7% trong năm 2009, nay chỉ hy vọng là 6.5%. Nhưng các chuyên gia của IMF thấy ngay mức gia tăng đó cũng khó đạt được.
Trong năm 2007, khi Việt Nam nhận được nhiều tiền đầu tư nước ngoài và doanh nhân trong nước cũng hăng hái trước kỳ vọng việc gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới, Tổng Sản Lượng Nội Ðịa Việt Nam đã tăng thêm được 8.5%. Một quốc gia như nước ta, vì dân số trẻ, mỗi năm số người bắt đầu đi làm rất đông, cho nên phải gia tăng sản xuất với tỷ lệ cao như vậy mới tạo đủ công việc làm cho lớp thanh niên lần đầu tiên bước vào thị trường nhân dụng.
Một quốc gia ở trình độ phát triển còn thấp thì rất dễ đạt tỷ lệ tăng trưởng cao như vậy, nếu người cầm quyền không phạm những sai lầm gây trở ngại. Thứ nhất vì số người làm việc tăng lên thì sức sản xuất tăng theo khi tiền đầu tư cũng tăng thêm để sử dụng khối lao động mới đó. Thứ hai vì sản năng của người lao động còn ở trình độ thấp thì rất dễ tăng cao hơn, khi dùng thêm máy móc, thiết bị mới. Thí dụ số người làm việc tăng 3% mà hiệu năng sản xuất lại tăng thêm 5% thì tổng số sản xuất phải tăng được hơn 8%. Những nước nghèo hiệu năng sản xuất tăng rất nhanh vì có nhiều thứ máy móc thiết bị lần đầu tiên được đem dùng. Ðó là chưa kể những yếu tố khác giúp vào việc phát triển như gia tăng đầu tư, gia tăng tiêu thụ. Trong mươi năm qua Trung Quốc đạt được tỷ lệ tăng trưởng trên dưới 10% chính nhờ vào các yếu tố thuận lợi tự nhiên đó. Trong thập niên 1970, nền kinh tế những nước Ðại Hàn, Ðài Loan, Hồng Kông đã gia tăng theo tốc độ đó cho nên mới trở thành những con rồng.
Nhưng sức phát triển của kinh tế nước ta đã giảm, từ 8.5% năm trước xuống chỉ còn khoảng 6.25% năm nay, theo ước tính của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế. Và cơ quan tài chính quốc tế này tiên đoán sang năm 2009 GDP của Việt Nam sẽ chỉ tăng chừng 5%, không tăng 6.5% như chính phủ Nguyễn Tấn Dũng ước tính.
Tình hình bi quan ở Việt Nam trong năm 2009 có thể thấy trước được. Một là số hàng xuất cảng sẽ xuống, khi kinh tế thế giới trì trệ hoặc suy thoái khiến người ta bớt mua hàng và cũng bớt đầu tư ở Việt Nam. Hai là số tiền do người Việt ở nước ngoài gửi về cũng giảm. Vì người Việt Nam sống ở Nga, ở Úc, ở Mỹ hay Ðài Loan đều phải “thắt lưng buộc bụng” không thể gửi tiền về nước nhiều như trước. Nếu số tiền “viện trợ nhân đạo” của người Việt hải ngoại giảm đi vài tỷ Mỹ kim, con số đó cũng khá lớn đối với kinh tế nước ta. Theo nhận xét của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế thì kinh tế năm 2007 đã tăng trưởng mạnh là nhờ hai dòng tiền tệ vào Việt Nam: Tiền đầu tư trực tiếp của nước ngoài, và tiền do người Việt ở ngoại quốc gửi về. Cả hai nguồn đó thế nào cũng giảm trong năm tới. Bữa rồi công nhân Việt Nam làm việc ở Ðài Bắc biểu tình yêu cầu chính phủ Ðài Loan đừng mướn thêm người ngoại quốc nữa, để họ khỏi bị bớt việc làm. Một cô than rằng cô tốn tiền mới được đi Ðài Loan mà sang đây lại ít việc quá, không kiếm được bao nhiêu. Cô thổ lộ trong 10 tháng vừa rồi mới gửi được một ngàn đô la về cho gia đình. Với số 80,000 lao động Việt Nam ở Ðài Loan không thôi, vì bị bớt công việc mỗi người gửi về nước ít hơn trước một ngàn đô la, thì tổng cộng cũng giảm mất 80 triệu. Nhân con số đó lên cho hàng triệu người Việt vẫn gửi tiền về, có thể thấy ngân khoản “viện trợ không bồi hoàn” này lên tới hàng tỷ.
Những người cầm quyền trong nước cũng biết tình huống đó, cho nên chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã mở kế hoạch “kích cầu,” tức là kích thích số tiêu thụ ở trong nước. Ở bên Mỹ, Tổng thống tân cử Obama dự tính sẽ dùng gần một ngàn tỷ mỹ kim cho kế hoạch kích cầu (stimulus) kinh tế Mỹ. Kinh tế Việt Nam nhỏ gần bằng một phần mười của Mỹ, dân số Việt Nam chỉ bằng trên một phần ba dân số Mỹ, cho nên trước đây đảng Cộng Sản Việt Nam tính kế hoạch “kích cầu” ở nước ta chỉ có một tỷ! Nay, thấy viện trợ Nhật Bản cũng giảm, tiền Việt kiều gửi về cũng giảm, xuất cảng xuống mà mà đầu tư nước ngoài cũng xuống, ngày Thứ Ba vừa rồi đảng Cộng Sản cho phép tăng ngân khoản kích cầu lên 6 tỷ Mỹ kim.
Số tiền này được bơm vào nền kinh tế theo nhiều ngả. Chẳng hạn nhiều mặt hàng xuất cảng sẽ được bớt thuế để bán ra ngoài rẻ hơn, dễ hơn. Hàng nhập cảng được bớt thuế để kích thích cho dân tiêu thụ nhiều hơn và giúp các nhà sản xuất trong nước dễ mua được các đồ từ bên ngoài. Các xí nghiệp cỡ trung và nhỏ sẽ được bớt thuế 30% trong năm 2009. Nhiều công ty sẽ được đóng thuế chậm lại, trong 9 tháng đầu năm 2009 chưa phải đóng thuế. Tất cả các biện pháp đó sẽ cho phép các xí nghiệp giữ được nhiều tiền trong két, với hy vọng họ sẽ sản xuất thêm, không tăng giá hàng, do đó kích thích người dân tiêu thụ nhiều hơn. Còn về phần chính phủ, họ sẽ thu được ít tiền, ước tính sẽ giảm bớt số thu tới 6 tỷ. Cái giá phải trả để kích thích kinh tế!
Kế hoạch trên đã được nhiều xí nghiệp và nhà đầu tư ở Việt Nam hoan nghênh. Ông Dominic Scriven, người sáng lập Quỹ đầu tư Dragon Capital từ nhiều năm trước, nói rằng, “Ðây là lần đầu tiên tôi thấy họ đưa ra một kế hoạch có chi tiết như vậy!”
Nhưng ông Scriven lại đặt một câu hỏi: Nhà nước cộng sản sẽ lấy tiền đâu ra?
Bên Trung Quốc, họ cũng có một kế hoạch kích cầu với mấy ngàn tỷ nhân dân tệ, cỡ gần 600 tỷ đô la. Nhưng chính phủ Bắc Kinh khôn lắm, họ đẩy cho các tỉnh, các thành phố phải chi tiền, dễ nhà nước trung ương chi rất ít. Mà có chi nhiều họ cũng không lo vì Bắc Kinh có vài ngàn tỷ đô la dự trữ, tích lũy từ hàng chục năm nay. Số tiền đó vẫn tiếp tục tăng lên, vì cán cân thương mại của họ lúc nào cũng thặng dư. Cộng Sản Trung Quốc có tiền, muốn kích thích tha hồ kích thích. Những nước Á Châu khác cũng vậy, nước nào cũng đang gặp cảnh khó khăn vì hàng xuất cảng xuống, nước nào cũng tính phải kích cầu. Nhưng cán cân mậu dịch của họ vững chắc, ngoại tệ dự trữ đầy đủ, không lo thiếu tiền. Nếu sợ thiếu, cần đi vay tiền bên ngoài, chính phủ các nước Á Ðông vẫn có thể đi vay được vì nền kinh tế của họ đủ bảo đảm cho việc vay nợ.
Còn những chính sách kinh tế của đảng Cộng Sản Việt Nam đã đưa tình hình tài chánh nước ta vào một cảnh ngộ khác hẳn. Cán cân thương mại khiếm hụt, và mức khiếm hụt vẫn tăng. Ði vay bây giờ rất khó vì kinh tế bất ổn. Lấy tiền đâu để “kích cầu?”
Có một cách là in thêm tiền.
Trong kế hoạch cứu nguy kinh tế của ông Nguyễn Tấn Dũng, có mục tăng thêm số tiền lưu hành trong nước. Họ sẽ cho phép các ngân hàng được cho vay nhiều hơn, bằng cách giảm số dự trữ bắt buộc. Họ sẽ tăng ngân khoản cho các dự án và công trình lớn của nhà nước. Và nhà nước sẽ đứng ra bảo đảm nợ cho các xí nghiệp trung và nhỏ khi họ đi vay. Khi chọn những xí nghiệp nào sẽ được bảo đảm, chắc sẽ ưu tiên cho các xí nghiệp quốc doanh!
Tất cả những biện pháp trên đều là những kế hoạch trao thêm tiền cho các ngân hàng của đảng, cho các đơn vị quản lý dự án kiểu PMU, cho các doanh nghiệp nhà nước. Tức là trao thêm tiền cho các đảng viên cốt cán để các đồng chí này được chi tiêu thoải mái hơn!
Vậy thì “Lấy tiền ở đâu ra?” ngân hàng nhà nước nằm trong tay Ðảng Cộng Sản, họ có quyền in thêm tiền! Ðảng in thêm tiền cho các đảng viên chi.
Hậu quả là khi số tiền lưu hành tăng lên như vậy thì tỷ lệ lạm phát sẽ tăng theo. Lạm phát năm nay đã lên đến mức chóng mặt. Dân còn chịu đựng được là nhờ ai cũng biết “chui.” Nhưng sức chui của con người cũng có giới hạn, dù là con người Việt Nam đã chui quen suốt mấy chục năm sống dưới chế độ cộng sản. Lạm phát sẽ tăng, giá cả lên thì người dân nghèo với lợi tức cố định sẽ bị thiệt thòi nhất, còn những ông Huỳnh Ngọc Sỹ không lo. Khi lạm phát là 20%, giá sinh hoạt tăng khiến đồng tiền giảm giá trị 20%, thì coi như người dân bị đánh thuế 20% trên lợi tức của mình.
Có một cách để giảm bớt gánh nặng cho dân. Là giảm bớt những khoản chi tiêu của ngân sách nhà nước, trong đó có khoản chi cho đảng Cộng Sản Việt Nam. Từ trước đến nay không ai biết đảng Cộng Sản Việt Nam sống bằng cách nào cả. Ở nước Mỹ, một đảng chính trị như Dân Chủ hay Cộng Hòa đều phải công bố cho mọi người biết họ thu được bao nhiêu tiền, do ai góp. Mà họ thường thu được nhiều nhất vào những mùa tranh cử. Người ta biết ông Barack Obama đã được bao nhiêu người đóng góp tổng cộng bao nhiêu. Người ta cũng biết Ủy Ban Trung Ương của mỗi đảng Dân Chủ hay Cộng Hòa mỗi năm, mỗi tháng thu được bao nhiêu và chi cho những mục nào. Khi báo chí bới ra là bà Palin mua hàng trăm ngàn đô la tiền “trang bị” thì họ giải thích rõ với dân là món tiền đó do đảng Cộng Hòa chi chứ không phải quỹ tranh cử của Nghị Sĩ John McCain chi. Ai muốn coi sổ sách cũng được, và các nhà báo đã coi!
Còn đảng Cộng Sản Việt Nam thì không ai biết họ lấy tiền đâu ra mà ở mỗi địa phương trụ sở của đảng lớn ngang với trụ sở cơ quan hành chánh, có khi còn lớn hơn! Ai góp tiền cho đảng? Ðảng lấy tiền đâu để trả lương các vị lãnh đạo trong nội bộ đảng, từ cao đến thấp?
Số tiền chi cho đảng Cộng Sản phải lớn ngang với ngân sách quốc gia dành cho guồng máy hành chánh, mà chắc phải lớn hơn! Không ai được quyền ngó vào những món chi thu đó! Ðây là một niềm bí mật. Tính chất bí mật đó là đầu mối của bao nhiêu vụ tham nhũng mà các lãnh tụ cộng sản không ai dám đụng vào. Vì họ phải đặt quyền lợi của đảng lên trên tất cả các quyền lợi khác, đúng như ông Hồ Chí Minh vẫn dậy họ. Muốn biết ông Hồ dậy thế nào, xin đọc lại những bài ông viết về “Ðạo Ðức Cách Mạng” (Trong cuốn Vì Ðộc Lập Tự Do, Vì Chủ Nghĩa Xã Hội). Rất giản dị: Người có đạo đức là người đặt quyền lợi của đảng lên trên hết!
Bây giờ nếu các ông trong Bộ Chính Trị muốn thực hiện được kế hoạch kích cầu 6 tỷ đô la, các ông phải cắt bớt món ngân sách mà 84 triệu dân Việt Nam đang góp vào quỹ của đảng Cộng Sản! Nếu không thì cả nước sẽ ngay ngáy lo lạm phát vì không ai biết ông Nguyễn Tấn Dũng lấy tiền đâu ra mà kích cầu - ngoài cách in thêm giấy bạc?
Chừng Nào Bí Thư Sài Gòn Lê Thanh Hải Từ Chức?
[img]http://www.cauduongcang.com/UserImages/ ... 2018-8.jpg[/img]
Lê Thanh Hải, con dê tế thần.
Vụ án tham nhũng PCI đang đặt lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam ở vào thế cỡi lưng cọp khi chính phủ Nhật Bản tuyên bố ngưng mọi viện trợ ODA từ năm 2009 cho đến khi nào Hà Nội giải quyết thỏa đáng vụ tham nhũng xây dựng xa lộ Đông Tây tại Sài Gòn. Theo nhiều tin tức tổng hợp thì kể từ ngày 4 tháng 12, khi Đại sứ Nhật tại Việt Nam đọc thông báo chính thức trong Hội nghị các nhà Tài trợ, Bộ chính trị Cộng sản Việt Nam đã họp liên tục nhằm tìm biện pháp đối phó. Vì quyết định ngưng viện trợ ODA của Nhật không chỉ làm thiệt hại cho Hà Nội một số dự án đã và đang tiến hành phải ngưng như đường xe điện ngầm Hà Nội, hệ thống môi trường vệ sinh tại Hải Phòng, hệ thống thoát nước tại Hà Nội và một số dự án xây dựng tại các tỉnh phía Nam, mà còn làm mất uy tín của Cộng sản Việt Nam đối với các nhà tài trợ khác. Cộng sản Việt Nam – thông qua Bộ ngoại giao – đang cố tìm cách giải thích với phía Nhật Bản để mong tìm sự thông cảm, nhưng phía Nhật đã áp lực mạnh mẽ là Hà Nội phải hành xử trách nhiệm như người Nhật đã từng nhận trách nhiệm. Tại sao Nhật lại áp lực mạnh mẽ lên Cộng sản Việt Nam như vậy?
Xây dựng xa lộ Đông Tây tại Sài Gòn
Khi vụ án tham nhũng bị khui ra ở Nhật do 4 nhân viên của Công ty tư vấn Thái Bình Dương (PCI) tự thú là đã đưa khoảng 2,5 triệu Mỹ Kim cho cán bộ Cộng sản Việt Nam tại Sài Gòn để được trúng thầu xây dựng xa lộ Đông Tây do quỹ ODA của Nhật tài trợ, thì phía Bộ ngoại giao Cộng sản Việt Nam đã lên tiếng yêu cầu Nhật không nên cho loan tải rộng rãi trên báo chí và cung cấp chi tiết các dữ kiện, có như vậy thì phía Cộng sản Việt Nam mới xúc tiến việc điều tra. Thái độ của Cộng sản Việt Nam vào lúc đó coi chuyện tham nhũng xa lộ Đông Tây do công ty PCI tiết lộ là chuyện của ai đó chứ không phải của họ.
Đến tháng 10, khi 4 cán bộ công ty PCI của Nhật bị truy tố ra tòa với những lời khai liên hệ đến việc đưa hối lộ khoảng 820 ngàn Mỹ Kim cho Huỳnh Ngọc Sĩ, phó sở giao thông vận tải thành phố Sài Gòn kiêm chủ nhiệm ban quản lý xa lộ Đông Tây, thì tòa án Nhật Bản yêu cầu phía Cộng sản Việt Nam phải hợp tác, đưa những cán bộ Thành phố Sài Gòn đã nhận hối lộ ra đối chất trước tòa tại Tokyo. Bộ ngoại giao và Bộ công an Cộng sản Việt Nam viện lý do là Tòa án Nhật Bản chưa cung cấp chi tiết hồ sơ nên không thể thực hiện theo yêu cầu.
Bên cạnh hai thái độ bất hợp tác nói trên, nhiều cán bộ Cộng sản Việt Nam đã có những phát biểu trên báo chí mang tính chất bao che cho những cán bộ tham nhũng tại Sài Gòn, đồng thời phê phán Nhật Bản đã ỷ thế chèn ép phía đối tác Cộng sản Việt Nam. Đã nhiều lần phía cơ quan điều tra vụ án tham nhũng PCI của Nhật bắn tiếng cho nhân viên Tòa án tối cao Sài Gòn, Bộ ngoại giao Cộng sản Việt Nam là Nhật sẽ ngưng toàn bộ viện trợ ODA cho đến khi nào Cộng sản Việt Nam tỏ thái độ hợp tác với Nhật trong việc giải quyết vụ tham nhũng PCI. Như vậy, trước khi Đại sứ Nhật công bố quyết định ngưng viện trợ ODA vào ngày 4 tháng 12, chắc chắn là Bộ chính trị Cộng sản Việt Nam đã biết đến lời cảnh cáo này. Tại sao Bộ chính trị biết điều này mà không chịu giải quyết để cho đến khi Nhật tuyên bố công khai cúp viện trợ ODA thì mới họp hành, cử Trương Tấn Sang, Hồ Việt Đức vào Sài Gòn điều tra, cử Phạm Gia Khiêm sang Tokyo để chuẩn bị chuyến đi Nhật cầu cứu của Nguyễn Tấn Dũng. Tình cảnh của Bộ chính trị Cộng sản Việt Nam hiện nay như đám gà nuốt phải dây thung. Có hai nguyên do khiến Bộ chính trị Cộng sản Việt Nam đã án binh bất động trước lời cảnh cáo của Nhật Bản trong thời gian qua.
Thứ nhất là coi thường sự đe dọa của Nhật vì nghĩ là Nhật sẽ không ngưng viện trợ ODA như hồi xảy ra vụ tham nhũng PMU 18 vào năm 2006. Lúc đó, cựu Thủ Tướng Koizumi thân chinh đến Việt Nam để tìm hiểu, cũng như cho nhiều phái đoàn sang Việt Nam điều tra, nhưng rốt cuộc lại cho chìm xuồng. Do đó mà Bộ chính trị Cộng sản Việt Nam đã không thèm để ý.
Thứ hai là những đòi hỏi của Nhật Bản đã đặt Bộ chính trị Cộng sản Việt Nam ở vào thế khó xử khi đòi hỏi những người trách nhiệm lớn nhất phải tự xử về vụ tham nhũng PCI. Tức là đặt lãnh đạo Bộ chính trị Cộng sản Việt Nam phải nhận trách nhiệm về những bê bối nói trên.
Lê Thanh Hải, con dê tế thần.
Có lẽ nguyên do thứ hai là điều khiến cho Nhật phải làm áp lực mạnh và đặt Bộ chính trị Cộng sản Việt Nam ở vào thế phải tự xử. Bởi vì nếu Nhật không áp lực, sẽ khó nói với công chúng Nhật Bản về số tiền thuế mang đi cho tham nhũng tại Việt Nam tiêu xài hoang phí mà không có một biện pháp nào chế tài. Điều mà chính phủ Nhật Bản đòi hỏi không phải mang ông Huỳnh Ngọc Sĩ hay những cán bộ trách nhiệm dự án trong Ủy ban nhân dân thành phố Sài Gòn ra tòa kết tội, vì những người này chỉ là nạn nhân của một chuỗi tham nhũng trong Thành Ủy Sài Gòn và có liên hệ đến cấp Trung Ương. Một cá nhân Huỳnh Ngọc Sĩ sẽ không dám ra giá cho công ty Nhật trúng thầu đóng cho họ 15% tiền nhận thầu, nếu không được bao che từ bên trên.
Tại thành phố Sài Gòn có hai đường dây bao che tham nhũng nổi tiếng. Đường dây thứ nhất là do chính ông Lê Thanh Hải, Bí Thư Thành Ủy Sài Gòn, Ủy viên Bộ chính trị điều động. Đường dây thứ hai là do chính ông Trương Tấn Sang, Thường Trực Ban Bí Thư, người nắm rất nhiều đường dây tham ô trong nội bộ đảng hiện nay. Cả hai đều là những người cật ruột của phe Nguyễn Tấn Dũng.
Bắt ông Trương Tấn Sang từ chức rất khó và nhất là ghép vào tội tham ô trong vai trò Thường trực Ban Bí Thư hiện nay của ông ta. Do đó chỉ còn lại ông Lê Thanh Hải, Ủy viên Bộ chính trị phải nhận trách nhiệm từ chức Bí thư Thành Ủy Sài Gòn. Bởi ông Lê Thanh Hải không từ chức thì chắc chắn Nhật Bản sẽ không mở lại viện trợ ODA. Đa số ý kiến trong Bộ chính trị là ông Lê Thanh Hải phải từ chức vì nguồn viện trợ của Nhật quá lớn và quan trọng cho Hà Nội vào lúc này. Sau khi ông Lê Thanh Hải từ chức thì Bộ chính trị Cộng sản Việt Nam có thể sẽ kéo ông ta ra Hà Nội, vẫn giữ tư cách Ủy viên Bộ chính trị nhưng ngồi chơi xơi nước một thời gian – tương tự như vụ ông Trương Tấn Sang bị tố cáo tham nhũng với người Hoa vào cuối thập niên 90; lúc đó ông Đỗ Mười đã phải kéo ông Sang ra Hà Nội cho ngồi chơi xơi nước cho nguội dư luận trước khi được cử làm Trưởng ban kinh tế Trung ương đảng.
Cái khó của Bộ chính trị Cộng sản Việt Nam là làm sao ông Lê Thanh Hải từ chức mà không gây nguy hại đến uy tín của chế độ. Bởi ông Lê Thanh Hải vừa là Bí thư thành ủy Sài Gòn, vừa là Ủy viên bộ chính trị. Chắc chắn là khi ông Lê Thanh Hải nhận trách nhiệm tự xử dưới hình thức nào đi nữa, uy tín của Bộ chính trị Cộng sản Việt Nam sẽ sút giảm và đánh mất niềm tin rất lớn trong khối đảng viên CSVN. Nhưng điều quan trọng là khi Lê Thanh Hải ra đi, sẽ là dịp cho phe Nông Đức Mạnh trả thù phe Nguyễn Tấn Dũng về vụ án PMU 18 đã bắt giữ hàng loạt nhân sự gồm Bùi Tiến Dũng, Nguyễn Việt Tiến của phe Nông Đức Mạnh.
Tóm lại, vụ án PCI đang đặt Bộ chính trị Cộng sản Việt Nam rơi vào thế rất khó xử trước hai áp lực của Nhật và của nội bộ đảng. Ông Lê Thanh Hải sẽ là con dê tế thần để cứu uy tín của đảng và chính phủ Cộng sản Việt Nam đang xuống dốc thê thảm hiện nay.
Trung Điền
Dec 17 2008
[img]http://www.cauduongcang.com/UserImages/ ... 2018-8.jpg[/img]
Lê Thanh Hải, con dê tế thần.
Vụ án tham nhũng PCI đang đặt lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam ở vào thế cỡi lưng cọp khi chính phủ Nhật Bản tuyên bố ngưng mọi viện trợ ODA từ năm 2009 cho đến khi nào Hà Nội giải quyết thỏa đáng vụ tham nhũng xây dựng xa lộ Đông Tây tại Sài Gòn. Theo nhiều tin tức tổng hợp thì kể từ ngày 4 tháng 12, khi Đại sứ Nhật tại Việt Nam đọc thông báo chính thức trong Hội nghị các nhà Tài trợ, Bộ chính trị Cộng sản Việt Nam đã họp liên tục nhằm tìm biện pháp đối phó. Vì quyết định ngưng viện trợ ODA của Nhật không chỉ làm thiệt hại cho Hà Nội một số dự án đã và đang tiến hành phải ngưng như đường xe điện ngầm Hà Nội, hệ thống môi trường vệ sinh tại Hải Phòng, hệ thống thoát nước tại Hà Nội và một số dự án xây dựng tại các tỉnh phía Nam, mà còn làm mất uy tín của Cộng sản Việt Nam đối với các nhà tài trợ khác. Cộng sản Việt Nam – thông qua Bộ ngoại giao – đang cố tìm cách giải thích với phía Nhật Bản để mong tìm sự thông cảm, nhưng phía Nhật đã áp lực mạnh mẽ là Hà Nội phải hành xử trách nhiệm như người Nhật đã từng nhận trách nhiệm. Tại sao Nhật lại áp lực mạnh mẽ lên Cộng sản Việt Nam như vậy?
Xây dựng xa lộ Đông Tây tại Sài Gòn
Khi vụ án tham nhũng bị khui ra ở Nhật do 4 nhân viên của Công ty tư vấn Thái Bình Dương (PCI) tự thú là đã đưa khoảng 2,5 triệu Mỹ Kim cho cán bộ Cộng sản Việt Nam tại Sài Gòn để được trúng thầu xây dựng xa lộ Đông Tây do quỹ ODA của Nhật tài trợ, thì phía Bộ ngoại giao Cộng sản Việt Nam đã lên tiếng yêu cầu Nhật không nên cho loan tải rộng rãi trên báo chí và cung cấp chi tiết các dữ kiện, có như vậy thì phía Cộng sản Việt Nam mới xúc tiến việc điều tra. Thái độ của Cộng sản Việt Nam vào lúc đó coi chuyện tham nhũng xa lộ Đông Tây do công ty PCI tiết lộ là chuyện của ai đó chứ không phải của họ.
Đến tháng 10, khi 4 cán bộ công ty PCI của Nhật bị truy tố ra tòa với những lời khai liên hệ đến việc đưa hối lộ khoảng 820 ngàn Mỹ Kim cho Huỳnh Ngọc Sĩ, phó sở giao thông vận tải thành phố Sài Gòn kiêm chủ nhiệm ban quản lý xa lộ Đông Tây, thì tòa án Nhật Bản yêu cầu phía Cộng sản Việt Nam phải hợp tác, đưa những cán bộ Thành phố Sài Gòn đã nhận hối lộ ra đối chất trước tòa tại Tokyo. Bộ ngoại giao và Bộ công an Cộng sản Việt Nam viện lý do là Tòa án Nhật Bản chưa cung cấp chi tiết hồ sơ nên không thể thực hiện theo yêu cầu.
Bên cạnh hai thái độ bất hợp tác nói trên, nhiều cán bộ Cộng sản Việt Nam đã có những phát biểu trên báo chí mang tính chất bao che cho những cán bộ tham nhũng tại Sài Gòn, đồng thời phê phán Nhật Bản đã ỷ thế chèn ép phía đối tác Cộng sản Việt Nam. Đã nhiều lần phía cơ quan điều tra vụ án tham nhũng PCI của Nhật bắn tiếng cho nhân viên Tòa án tối cao Sài Gòn, Bộ ngoại giao Cộng sản Việt Nam là Nhật sẽ ngưng toàn bộ viện trợ ODA cho đến khi nào Cộng sản Việt Nam tỏ thái độ hợp tác với Nhật trong việc giải quyết vụ tham nhũng PCI. Như vậy, trước khi Đại sứ Nhật công bố quyết định ngưng viện trợ ODA vào ngày 4 tháng 12, chắc chắn là Bộ chính trị Cộng sản Việt Nam đã biết đến lời cảnh cáo này. Tại sao Bộ chính trị biết điều này mà không chịu giải quyết để cho đến khi Nhật tuyên bố công khai cúp viện trợ ODA thì mới họp hành, cử Trương Tấn Sang, Hồ Việt Đức vào Sài Gòn điều tra, cử Phạm Gia Khiêm sang Tokyo để chuẩn bị chuyến đi Nhật cầu cứu của Nguyễn Tấn Dũng. Tình cảnh của Bộ chính trị Cộng sản Việt Nam hiện nay như đám gà nuốt phải dây thung. Có hai nguyên do khiến Bộ chính trị Cộng sản Việt Nam đã án binh bất động trước lời cảnh cáo của Nhật Bản trong thời gian qua.
Thứ nhất là coi thường sự đe dọa của Nhật vì nghĩ là Nhật sẽ không ngưng viện trợ ODA như hồi xảy ra vụ tham nhũng PMU 18 vào năm 2006. Lúc đó, cựu Thủ Tướng Koizumi thân chinh đến Việt Nam để tìm hiểu, cũng như cho nhiều phái đoàn sang Việt Nam điều tra, nhưng rốt cuộc lại cho chìm xuồng. Do đó mà Bộ chính trị Cộng sản Việt Nam đã không thèm để ý.
Thứ hai là những đòi hỏi của Nhật Bản đã đặt Bộ chính trị Cộng sản Việt Nam ở vào thế khó xử khi đòi hỏi những người trách nhiệm lớn nhất phải tự xử về vụ tham nhũng PCI. Tức là đặt lãnh đạo Bộ chính trị Cộng sản Việt Nam phải nhận trách nhiệm về những bê bối nói trên.
Lê Thanh Hải, con dê tế thần.
Có lẽ nguyên do thứ hai là điều khiến cho Nhật phải làm áp lực mạnh và đặt Bộ chính trị Cộng sản Việt Nam ở vào thế phải tự xử. Bởi vì nếu Nhật không áp lực, sẽ khó nói với công chúng Nhật Bản về số tiền thuế mang đi cho tham nhũng tại Việt Nam tiêu xài hoang phí mà không có một biện pháp nào chế tài. Điều mà chính phủ Nhật Bản đòi hỏi không phải mang ông Huỳnh Ngọc Sĩ hay những cán bộ trách nhiệm dự án trong Ủy ban nhân dân thành phố Sài Gòn ra tòa kết tội, vì những người này chỉ là nạn nhân của một chuỗi tham nhũng trong Thành Ủy Sài Gòn và có liên hệ đến cấp Trung Ương. Một cá nhân Huỳnh Ngọc Sĩ sẽ không dám ra giá cho công ty Nhật trúng thầu đóng cho họ 15% tiền nhận thầu, nếu không được bao che từ bên trên.
Tại thành phố Sài Gòn có hai đường dây bao che tham nhũng nổi tiếng. Đường dây thứ nhất là do chính ông Lê Thanh Hải, Bí Thư Thành Ủy Sài Gòn, Ủy viên Bộ chính trị điều động. Đường dây thứ hai là do chính ông Trương Tấn Sang, Thường Trực Ban Bí Thư, người nắm rất nhiều đường dây tham ô trong nội bộ đảng hiện nay. Cả hai đều là những người cật ruột của phe Nguyễn Tấn Dũng.
Bắt ông Trương Tấn Sang từ chức rất khó và nhất là ghép vào tội tham ô trong vai trò Thường trực Ban Bí Thư hiện nay của ông ta. Do đó chỉ còn lại ông Lê Thanh Hải, Ủy viên Bộ chính trị phải nhận trách nhiệm từ chức Bí thư Thành Ủy Sài Gòn. Bởi ông Lê Thanh Hải không từ chức thì chắc chắn Nhật Bản sẽ không mở lại viện trợ ODA. Đa số ý kiến trong Bộ chính trị là ông Lê Thanh Hải phải từ chức vì nguồn viện trợ của Nhật quá lớn và quan trọng cho Hà Nội vào lúc này. Sau khi ông Lê Thanh Hải từ chức thì Bộ chính trị Cộng sản Việt Nam có thể sẽ kéo ông ta ra Hà Nội, vẫn giữ tư cách Ủy viên Bộ chính trị nhưng ngồi chơi xơi nước một thời gian – tương tự như vụ ông Trương Tấn Sang bị tố cáo tham nhũng với người Hoa vào cuối thập niên 90; lúc đó ông Đỗ Mười đã phải kéo ông Sang ra Hà Nội cho ngồi chơi xơi nước cho nguội dư luận trước khi được cử làm Trưởng ban kinh tế Trung ương đảng.
Cái khó của Bộ chính trị Cộng sản Việt Nam là làm sao ông Lê Thanh Hải từ chức mà không gây nguy hại đến uy tín của chế độ. Bởi ông Lê Thanh Hải vừa là Bí thư thành ủy Sài Gòn, vừa là Ủy viên bộ chính trị. Chắc chắn là khi ông Lê Thanh Hải nhận trách nhiệm tự xử dưới hình thức nào đi nữa, uy tín của Bộ chính trị Cộng sản Việt Nam sẽ sút giảm và đánh mất niềm tin rất lớn trong khối đảng viên CSVN. Nhưng điều quan trọng là khi Lê Thanh Hải ra đi, sẽ là dịp cho phe Nông Đức Mạnh trả thù phe Nguyễn Tấn Dũng về vụ án PMU 18 đã bắt giữ hàng loạt nhân sự gồm Bùi Tiến Dũng, Nguyễn Việt Tiến của phe Nông Đức Mạnh.
Tóm lại, vụ án PCI đang đặt Bộ chính trị Cộng sản Việt Nam rơi vào thế rất khó xử trước hai áp lực của Nhật và của nội bộ đảng. Ông Lê Thanh Hải sẽ là con dê tế thần để cứu uy tín của đảng và chính phủ Cộng sản Việt Nam đang xuống dốc thê thảm hiện nay.
Trung Điền
Dec 17 2008
Diều hâu vào Biển Đông
Tác giả: Vũ Hải Đăng
Ẩn sau sự hữu hảo bề ngoài giữa bang giao hai nước, luôn có những âm mưu đen tối. Lịch sử Việt Nam có nhắc đến một sự việc như vậy, đó là mối tình Mị Châu - Trọng Thuỷ.
Tương truyền, Trọng Thuỷ là "gián điệp" của Bắc Triều sang nước ta, được Vua An Dương Vương tin dùng, gả nàng Mị Châu làm vợ. Trọng Thuỷ ăn cắp kỹ nghệ chế tác vũ khí của nước Âu Lạc. Do đó mà quân của An Dương Vương đã để thua quân Triệu Đà, khiến cả Hoàng tộc bị giặc truy sát.
Khi nàng Mị Châu và Vua cha chạy đến cùng đường (biển Nghệ An), Thần Kim Quy hiện lên nói: "Giặc ở ngay sau lưng nhà Vua đó". An Dương Vương quay lại thấy nàng Mị Châu, hiểu ra sự việc, ông liền rút gươm chém đầu nàng, rồi ông tự vẫn.
Đó là truyền thuyết được lưu truyền trong dân gian. Tuy nhiên, có thể thấy câu truyện đó là hư cấu của sự kiện có thật trong lịch sử. Qua đó chúng ta thấy bọn Bắc Triều luôn mang dã tâm xâm lược, thôn tính nước ta, chúng luôn theo đuổi chiến lược diều hâu.
Lịch sử Đảng CSVN tô hồng chiến công "giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước", bên cạnh đó họ ca ngợi Liên Xô, Trung Quốc là những đồng minh, những người bạn tốt nhất của cách mạng Việt Nam..!
Những cuộc "đi đêm" giữa Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc, những ký kết cắt đất, nhượng biển giữa hai nhà cầm quyền Cộng sản, và những phi vụ "gián điệp", "mua chuộc" giới lãnh đạo mà Trung Quốc tiến hành ở Việt Nam v.v... tất cả đều bị sử Đảng xóa dấu vết, chúng được đánh bóng thành những lời đường mật về "16 chữ vàng" và "4 tốt"...
Mang đất đai, biển cả của Tổ tiên dâng cho ngoại bang, hoặc vì nhu nhược ươn hèn mà để mất đất đai, biển cả vào tay giặc, thì sử sách sẽ ghi tên những kẻ đó vào tội bán nước, phản quốc. Và con cháu đời đời sẽ bêu rếu tên bọn chúng, như đã bêu rếu: Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, và nay là Đỗ Mười, Lê Đức Anh...
Biển Đông
Nhóm lãnh đạo chóp bu: Nguyễn Tấn Dũng, Lê Hồng Anh, Trương Tấn Sang, Nông Đức Mạnh và Nguyễn Phú Trọng tiếp tục mắc mưu Trung Quốc, họ ham mồi nên đã mắc câu:
Sự kiện Công an Cộng sản Việt Nam đàn áp phong trào yêu nước của giới Trí thức, Học sinh, Sinh viên và Văn nghệ sĩ: đe dọa, bắt bớ những người tham gia biểu tình chống Trung Quốc hồi cuối năm 2007, đầu năm 2008. Gần đây, bức xúc trước việc Trung Quốc gây sức ép buộc Tập đoàn dầu khí ExxonMobil của Mỹ và BP của Anh phải rút khỏi dự án hợp tác với Việt Nam khai thác dầu khí ở vùng biển Trường Sa. Tiếp đó, Trung Quốc công bố "dự án vĩ đại" thăm dò, khai thác dầu khí trong vùng nước sâu ở Biển Đông của Việt Nam trị giá gần 30 tỷ USD, nhiều người dân Việt Nam đã bày tỏ sự bức xúc, căm phẫn, kêu gọi sự đồng thuận toàn dân trước nguy cơ mất nước, nhưng họ không nhận được sự đồng tình, ủng hộ nào từ phía Nhà nước Cộng sản Việt Nam, ngược lại, họ đã bị sách nhiễu, đe dọa, thậm chí bắt bớ giam giữ.
Nhiều người dự đoán sau Olympic Bắc Kinh, Trung Quốc sẽ "rảnh tay" để tiến xuống phía Nam. Sự thật là Cộng sản Việt Nam biết được âm mưu đó của Bắc Triều, họ thực hiện một loạt chuyến ngoại giao con thoi sang Mỹ, EU, Nga, Ấn Độ, và các nước Đông Nam Á, nhằm tăng cường hợp tác quân sự, tìm kiếm sự ủng hộ của các nước này đối với vấn đề Biển Đông.
Trong lần đến thăm Việt Nam của Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ John Negroponte, khi trả lời Báo chí liên quan đến vấn đề Biển Đông và sự tham gia hợp tác khai thác dầu khí của các công ty Mỹ, Thứ trưởng Negroponte cho rằng: "Chúng tôi tin những tranh chấp như thế này phải được xử lý hòa bình, theo những cách thức không đưa đến việc chiếm đoạt", ông Negroponte nhấn mạnh.
Sự ủng hộ đó của Mỹ không đủ cứu Việt Nam, vì nhóm lãnh đạo chóp bu trong Đảng CSVN đã mắc mưu Trung Quốc, một âm mưu thâm độc đã được các thế hệ lãnh đạo của Đảng CSTQ liên tục thực hiện, đó là mưu kế "Rút củi đáy nồi": gián điệp, mua chuộc, phân hóa tiến tới làm tan rã Đảng CSVN, làm suy yếu nước ta, tạo thời cơ cho việc chiếm đoạt mọi nguồn lợi trên Biển Đông và tài nguyên quốc gia của Việt Nam. Mọi sự kiện đã nói lên tất cả.
Khách biến thành Chủ
Bằng chứng lịch sử và Cơ sở pháp lý để xác định chủ quyền quốc gia, điều này có nghĩa lý gì khi chúng ta yếu: lý lẽ thuộc về kẻ mạnh, nó chỉ dùng trong trường hợp cần sự phân xử từ một nước, hay một thế lực trung gian. Còn trong cuộc đối đầu giữa dân tộc ta và ngoại xâm phương Bắc từ hàng ngàn năm nay, chỉ có một nguyên tắc duy nhất được cha ông ta áp dụng, đó là: "Chớ để họ lấn dần, nếu các ngươi dám lấy một thước núi, một tấc sông của Tổ tiên để lại mà đút mồi cho giặc, thì tội phải tru di - Lê Thánh Tông".
Do cách tuyên truyền mị dân của Nhà nước Cộng sản Việt Nam , nên nhiều người nghĩ rằng "Các chiến sĩ hải quân Việt Nam vẫn vững tay súng, bảo vệ vững chắc chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Đất liền luôn hướng tới Trường Sa, gửi gắm các anh những tình cảm yêu thương, chia sẻ, động viên...". Họ quên mất rằng, chủ quyền quốc gia phải là quá trình xác lập, khẳng định liên tục qua hoạt động Kinh tế, Ngoại giao và Quân sự.
Một nhà nghiên cứu đã viết: Trung Quốc đã tổ chức thăm dò ở các vùng biển sát thềm lục địa (và nằm trong vùng đặc quyền) của Việt Nam , đơn phương công bố dự án khai thác dầu khí ở vùng nước sâu trên Biển Đông với trị giá lên tới 29 tỉ USD. Trên thực tế, họ đã từng bước thiết lập chủ quyền tại đây, dù không có cơ sở pháp lý và bằng chứng lịch sử.
Đó là chính sách "Tằm ăn lá dâu" (lấn chiếm dần đến hết) mà Trung Quốc đã thực hiện rất tốt. Chúng ta thử hình dung: Trung Quốc từng bước cho xây dựng các Giàn khoan trên Biển Đông, với sự bảo vệ của nhiều Tàu chiến, trước sự phản ứng yếu ớt của Việt Nam, các Giàn khoan đó mọc lên sừng sững, tung bay phất phới cờ đỏ sao vàng Trung Quốc. Lúc này, Khách biến thành Chủ, họ kẻ xâm lược, ngang nhiên dẫm đạp trên linh hồn Tổ tiên ta, còn chúng ta, đứng trên mảnh đất thiêng liêng của Tổ tiên mà như đứng trong phòng Khách của người láng giềng Trung Quốc.
Các Ngư dân Việt Nam nếu vô tình "xâm phạm" lãnh hải do Trung Quốc chiếm đoạt, nơi mà cha ông ta vẫn thường xuyên qua lại và đánh bắt hải vật, nơi biết bao người con Việt Nam đã ngã xuống để bảo vệ chủ quyền Tổ quốc, nơi linh hồn Tổ tiên ta còn nằm lại cùng biển cả mênh mông, thì họ bị đối xử bằng bạo lực, bằng súng đạn của kẻ thù. Cái chết đến với họ rất đau đớn. Nhưng cái chết đó khiến người sống còn đau đớn hơn gấp nhiều lần.
Tất cả đều bị lịch sử Đảng CSVN, bộ máy tuyên truyền của Đảng CSVN bưng bít, giấu giếm. Họ đã giấu đi một sự thật lịch sử, rằng Đảng CSVN chưa bao giờ Thống nhất trọn vẹn giang sơn bờ cõi. Hoàng Sa, Trường Sa và một phần biên giới phía Bắc đang bị lấn chiếm dần, và trên thực tế đã thuộc quyền kiểm soát của Trung Quốc.
Trên mặt trận tuyên truyền, tâm lý chiến, Trung Quốc đã thắng Việt Nam , họ ghi điểm rất ngoạn mục.
Chiến lược ngoại giao diều hâu của Trung Quốc
Ngoại giao Chính trị, Trung Quốc mua chuộc, phân hóa được giới lãnh đạo Việt Nam. Ngoại giao Kinh tế, Trung Quốc khống chế, chi phối, lũng đoạn nền Kinh tế Việt Nam. Ngoại giao Văn hóa, Trung Quốc thực hiện chiến lược "Hán Hóa" và "Nô dịch tư tưởng" thông qua phim ảnh, văn học - nghệ thuật...
Đảng, chính quyền Cộng sản Việt Nam cùng với quân đội của nó sẽ gục ngã, tan rã nhanh chóng trước sức mạnh của Đế chế Cộng sản Trung Hoa, nếu nó không biết dựa vào sự đoàn kết, đồng thuận toàn dân. Sự thật, con diều hâu Trung Quốc đang quắp móng vuốt vào đất mẹ Việt Nam, dòng máu căm hờn đang chảy sôi sục trong trái tim Việt Nam .
Hành động bán rẻ chủ quyền quốc gia, danh dự Tổ Quốc, tự trọng Dân tộc của Cộng sản Việt Nam là không thể biện minh được, nó chỉ có thể được giải thích rằng: Bọn quan chức đội lốt Cộng sản, phản bội Chủ nghĩa Mác, làm tay sai cho Bắc Triều, bọn chúng cần giữ Chế độ này, giữ Đảng CS hơn giữ Nước.
Ngược lại, Cộng sản Trung Quốc từ lâu đã phản bội lý tưởng Cộng sản. CNXH đặc sắc Trung Quốc thực chất là Chủ nghĩa Dân tộc cực đoan, Chủ nghĩa Bá quyền nước lớn, theo đuổi chính sách diều hâu: ăn cướp, bòn rút, bắt nạt các nước yếu.
Bi kịch của Dân tộc Việt Nam bắt đầu từ đây, một Học thuyết với tên gọi "Quốc tế Vô sản" (Tinh thần Vô sản quốc tế). Khi truyền vào Trung Quốc nó bị "Hán Hóa", được Mao Trạch Đông giải thích thành "Thuyết Ba Thế giới". Đặng Tiểu Bình kế thừa và phát triển thành "Thuyết Đông-Tây Nam -Bắc" trong bối cảnh mở cửa hội nhập.
Nếu như Thuyết Ba Thế Giới phân thế giới làm ba: Những nước giàu, nước nghèo và những nước đang thoát nghèo để đi lên khá giả, trong đó có Việt Nam . Còn Thuyết Đông-Tây Nam -Bắc thì phân thế giới theo địa lý: Phương Bắc giàu có, Phương Nam nghèo đói. Phương Tây là các cường quốc phát triển, còn Phương Đông là các nước đang phát triển. Có thể thấy, Trung Quốc đã loại bỏ đối đầu Ý thức hệ giữa "hai phe", họ sẵn sàng quan hệ với tất cả các nước, tất cả vì mục tiêu phát triển, vì lợi ích quốc gia.
Tư tưởng Đặng Tiểu Bình đã vượt qua Chế độ Xã hội và Hình thái ý thức Xã hội: "Xét về quan hệ ngoại giao, chủ yếu cần xuất phát từ bản thân lợi ích chiến lược của nước mình... Không nên so đo, e ngại về sự khác biệt trong Chế độ Xã hội và Hình thái ý thức Xã hội".
Vậy là xét về bản chất, chính sách ngoại giao của Trung Quốc đối với Việt Nam là: "Vừa kết bạn, vừa không quá thân, không liên minh, cũng không thù địch". Trung Quốc không đứng đầu một Khối đồng minh nào, tự họ trở thành một cực trong Thế giới đa cực. Trên bàn cờ Ngoại giao Trung Quốc, Việt Nam có ý nghĩa khá quan trọng, nước ta là "Tấm lá chắn đỏ" ngăn chặn Trào lưu Dân chủ hóa từ phương Nam , là bàn đạp để Trung Quốc tiến xuống Đông Nam Á.
Trung Quốc đã vờn cho Việt Nam mệt nhoài, lúc thì vuốt ve, lúc thì dùng vũ lực, vừa không cho Việt Nam có cơ hội thân phương Tây để phát triển, vừa khiến Việt Nam phải lệ thuộc hoàn toàn vào Trung Quốc, dẫn đến tình trạng trì trệ kéo dài ở nước ta, làm cho đất nước ngày càng tụt hậu so với Trung Quốc và Thế giới.
Sau 30 năm Trung Quốc cải cách mở cửa và theo đuổi chiến lược ngoại giao diều hâu, họ đã đạt được những thành công lớn. Giờ đây, Việt Nam không còn là đối thủ xứng tầm, đã tụt hậu quá xa, sự chênh lệch về trình độ phát triển, về Kinh tế và Quốc phòng của Việt Nam so với Trung Quốc đủ lớn để họ tiếp tục thực hiện giai đoạn hai của chiến lược diều hâu, đó là "Tiến vào Biển Đông, kiểm soát toàn bộ Đông Nam Á, tạo thế ảnh hưởng đối trọng với Mỹ và Nga".
Con bồ câu Cộng sản Việt Nam vẫn còn bàng hoàng sửng sốt, họ không hiểu vì sao Trung Quốc, một quốc gia cùng theo lý tưởng XHCN, từng đứng về phe Cộng sản, lại trở mặt xưng bá Thiên Hạ, quay lại ăn hiếp, bắt nạt người anh em nhỏ bé cũ.
Trói buộc Ý thức hệ làm giảm sức mạnh Dân tộc
"Vì Tổ quốc Việt Nam XHCN", đây là một câu khẩu hiệu hết sức phản động. Tổ quốc Việt Nam ta, nơi quê cha đất mẹ, một đất nước có bề dày lịch sử văn hóa hàng ngàn năm. Còn cái gọi là XHCN, hay CNXH khoa học Mác - Lênin, đó chỉ là một Học thuyết ra đời cách đây chưa đầy 200 năm tại Châu Âu, nó chỉ tồn tại trên giấy tờ, chứ chưa bao giờ xuất hiện trên cõi đời.
Từ khi Ngô Quyền đại phá quân Nam Hán, mở ra kỷ nguyên độc lập tự chủ, nước ta tuy vẫn chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Bắc, nhưng chưa bao giờ bị lệ thuộc vào Ý thức hệ Trung Hoa. Cha ông ta luôn tạo cho mình một ý thức dân tộc mang bản sắc riêng. Thời Nhà Lý, Vua Lý Thánh Tông đặt Quốc hiệu Đại Việt, có ý muốn nước Nam ta sánh ngang hàng với Đại Tống ở phương Bắc. Thời Nhà Trần, Vua Trần Nhân Tông xuất gia tu hành tại Yên Tử, sáng lập ra Thiền Phái Trúc Lâm mang bản sắc Đại Việt...
Sống bên cạnh một nước đầy tham vọng như Trung Quốc, cha ông ta đã khéo léo vận dụng sách lược mềm dẻo, nhưng kiên quyết trong những vấn đề mang tính nguyên tắc: tiếp thu có chọn lọc Văn minh và Ý thức hệ Trung Hoa, tạo dựng bản sắc Văn hóa Đại Việt, nhờ đó đã giữ vững biên cương phía Bắc, mở rộng bờ cõi xuống phương Nam, và tiến ra Biển Đông.
Ý thức hệ Trung Hoa, coi Vua (Hoàng Đế) là Thiên Tử, quyền lực Hoàng Đế lớn như Trời (Thiên Triều). CNXH đặc sắc Trung Quốc, thực chất là một biến tướng của Chủ nghĩa Mác, nó đã bị Hán Hóa, được biểu hiện ra với đầy đủ bản chất tư tưởng Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình và Ý thức hệ Trung Hoa.
Trung Quốc đã biến hình thành Chủ nghĩa Bá quyền, Đế quốc Thực dân kiểu mới, con quái vật ghê sợ đó đang hút máu, bóc lột tận xương tủy các dân tộc bé nhỏ ở Châu Á, Châu Phi và Mỹ Latinh. Bọn Bá quyền Trung Quốc trói buộc các dân tộc mà nó xâm chiếm vào một "quỹ đạo" chết người, quỹ đạo của sự Độc tài, Lệ thuộc, Trì trệ và yếu nghèo mà Việt Nam là một ví dụ điển hình.
Trong mỗi chuyến đi Ngoại giao sang Trung Quốc, các nhà Lãnh đạo của Việt Nam luôn nhận được lời căn dặn, đúng hơn là lời đe dọa: "Trung Hoa - Việt Nam , Sơn Thủy Tương Liên, Văn Hóa Tương Thông, Lý Tưởng Tương Đồng, Vận Mệnh Tương Quan".
Lý Tưởng Tương Đồng, Vận Mệnh Tương Quan, ở đây là Lý tưởng XHCN và Vận mệnh của hai Đảng Cộng sản Trung Quốc và Việt Nam . Một lời đe dọa trắng trợn, ý nói sự tồn vong của Đảng CSVN phụ thuộc vào Đảng CSTQ, Trung Quốc mà đổi màu, thì Việt Nam cũng đổi màu theo.
Thoát khỏi quỹ đạo Trung Quốc
Trung Quốc tiến gần tới chiếm đoạt Biển Đông, Cộng Sản Việt Nam cắt Đất, nhượng Biển để giữ Chế độ. Bất cứ ai chống Trung Quốc xâm lược là chống Đảng CSVN. Sự thật là những người biểu tình chống Trung Quốc đều bị kết tội gây rối, bị chụp mũ là có thế lực bên ngoài kích động, lợi dụng.
Người dân có quyền được nói lên chính kiến của mình, có quyền được biết, được đòi hỏi sự công khai, minh bạch về đường lối, chủ trương của Nhà nước đối với vấn đề Hoàng Sa - Trường Sa. Nhưng họ chỉ nhận được sự im lặng đáng sợ.
Không ai biết những cuộc "đi đêm" giữa hai Chính quyền Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc sẽ dẫn đến tấn thảm kịch ghê sợ như thế nào, tương lai của Dân tộc Việt Nam, Tổ quốc Việt Nam sẽ ra sao, và việc mất nước có phải chỉ còn là vấn đề thời gian?
"Giặc ở ngay sau lưng nhà Vua đó", câu truyện lịch sử này nhắc chúng ta ghi nhớ, cảnh giác trước âm mưu thâm độc của ngoại xâm phương Bắc, tỉnh táo trước chiến lược diều hâu của Bắc Triều. Chúng ta đang đứng trước nguy cơ mất nước từ chính giặc nội xâm: Phe thân Tàu trong Trung ương Đảng CSVN và các Gián điệp Trung Quốc cài cắm tại Việt Nam .
"Quân đội ta Trung với Đảng", lời thề này không có ý nghĩa gì trong thời điểm hiện nay, khi mà Đảng CSVN đã đưa đất nước đi vào quỹ đạo lệ thuộc bởi Trung Quốc, bị trói chặt vào đó.
Muốn thoát khỏi quỹ đạo Trung Quốc, Việt Nam không còn con đường nào khác, ngoài con đường Dân chủ hóa.
Việt Nam, ngày 18-12-2008
Vũ Hải Đăng
Tác giả: Vũ Hải Đăng
Ẩn sau sự hữu hảo bề ngoài giữa bang giao hai nước, luôn có những âm mưu đen tối. Lịch sử Việt Nam có nhắc đến một sự việc như vậy, đó là mối tình Mị Châu - Trọng Thuỷ.
Tương truyền, Trọng Thuỷ là "gián điệp" của Bắc Triều sang nước ta, được Vua An Dương Vương tin dùng, gả nàng Mị Châu làm vợ. Trọng Thuỷ ăn cắp kỹ nghệ chế tác vũ khí của nước Âu Lạc. Do đó mà quân của An Dương Vương đã để thua quân Triệu Đà, khiến cả Hoàng tộc bị giặc truy sát.
Khi nàng Mị Châu và Vua cha chạy đến cùng đường (biển Nghệ An), Thần Kim Quy hiện lên nói: "Giặc ở ngay sau lưng nhà Vua đó". An Dương Vương quay lại thấy nàng Mị Châu, hiểu ra sự việc, ông liền rút gươm chém đầu nàng, rồi ông tự vẫn.
Đó là truyền thuyết được lưu truyền trong dân gian. Tuy nhiên, có thể thấy câu truyện đó là hư cấu của sự kiện có thật trong lịch sử. Qua đó chúng ta thấy bọn Bắc Triều luôn mang dã tâm xâm lược, thôn tính nước ta, chúng luôn theo đuổi chiến lược diều hâu.
Lịch sử Đảng CSVN tô hồng chiến công "giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước", bên cạnh đó họ ca ngợi Liên Xô, Trung Quốc là những đồng minh, những người bạn tốt nhất của cách mạng Việt Nam..!
Những cuộc "đi đêm" giữa Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc, những ký kết cắt đất, nhượng biển giữa hai nhà cầm quyền Cộng sản, và những phi vụ "gián điệp", "mua chuộc" giới lãnh đạo mà Trung Quốc tiến hành ở Việt Nam v.v... tất cả đều bị sử Đảng xóa dấu vết, chúng được đánh bóng thành những lời đường mật về "16 chữ vàng" và "4 tốt"...
Mang đất đai, biển cả của Tổ tiên dâng cho ngoại bang, hoặc vì nhu nhược ươn hèn mà để mất đất đai, biển cả vào tay giặc, thì sử sách sẽ ghi tên những kẻ đó vào tội bán nước, phản quốc. Và con cháu đời đời sẽ bêu rếu tên bọn chúng, như đã bêu rếu: Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, và nay là Đỗ Mười, Lê Đức Anh...
Biển Đông
Nhóm lãnh đạo chóp bu: Nguyễn Tấn Dũng, Lê Hồng Anh, Trương Tấn Sang, Nông Đức Mạnh và Nguyễn Phú Trọng tiếp tục mắc mưu Trung Quốc, họ ham mồi nên đã mắc câu:
Sự kiện Công an Cộng sản Việt Nam đàn áp phong trào yêu nước của giới Trí thức, Học sinh, Sinh viên và Văn nghệ sĩ: đe dọa, bắt bớ những người tham gia biểu tình chống Trung Quốc hồi cuối năm 2007, đầu năm 2008. Gần đây, bức xúc trước việc Trung Quốc gây sức ép buộc Tập đoàn dầu khí ExxonMobil của Mỹ và BP của Anh phải rút khỏi dự án hợp tác với Việt Nam khai thác dầu khí ở vùng biển Trường Sa. Tiếp đó, Trung Quốc công bố "dự án vĩ đại" thăm dò, khai thác dầu khí trong vùng nước sâu ở Biển Đông của Việt Nam trị giá gần 30 tỷ USD, nhiều người dân Việt Nam đã bày tỏ sự bức xúc, căm phẫn, kêu gọi sự đồng thuận toàn dân trước nguy cơ mất nước, nhưng họ không nhận được sự đồng tình, ủng hộ nào từ phía Nhà nước Cộng sản Việt Nam, ngược lại, họ đã bị sách nhiễu, đe dọa, thậm chí bắt bớ giam giữ.
Nhiều người dự đoán sau Olympic Bắc Kinh, Trung Quốc sẽ "rảnh tay" để tiến xuống phía Nam. Sự thật là Cộng sản Việt Nam biết được âm mưu đó của Bắc Triều, họ thực hiện một loạt chuyến ngoại giao con thoi sang Mỹ, EU, Nga, Ấn Độ, và các nước Đông Nam Á, nhằm tăng cường hợp tác quân sự, tìm kiếm sự ủng hộ của các nước này đối với vấn đề Biển Đông.
Trong lần đến thăm Việt Nam của Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ John Negroponte, khi trả lời Báo chí liên quan đến vấn đề Biển Đông và sự tham gia hợp tác khai thác dầu khí của các công ty Mỹ, Thứ trưởng Negroponte cho rằng: "Chúng tôi tin những tranh chấp như thế này phải được xử lý hòa bình, theo những cách thức không đưa đến việc chiếm đoạt", ông Negroponte nhấn mạnh.
Sự ủng hộ đó của Mỹ không đủ cứu Việt Nam, vì nhóm lãnh đạo chóp bu trong Đảng CSVN đã mắc mưu Trung Quốc, một âm mưu thâm độc đã được các thế hệ lãnh đạo của Đảng CSTQ liên tục thực hiện, đó là mưu kế "Rút củi đáy nồi": gián điệp, mua chuộc, phân hóa tiến tới làm tan rã Đảng CSVN, làm suy yếu nước ta, tạo thời cơ cho việc chiếm đoạt mọi nguồn lợi trên Biển Đông và tài nguyên quốc gia của Việt Nam. Mọi sự kiện đã nói lên tất cả.
Khách biến thành Chủ
Bằng chứng lịch sử và Cơ sở pháp lý để xác định chủ quyền quốc gia, điều này có nghĩa lý gì khi chúng ta yếu: lý lẽ thuộc về kẻ mạnh, nó chỉ dùng trong trường hợp cần sự phân xử từ một nước, hay một thế lực trung gian. Còn trong cuộc đối đầu giữa dân tộc ta và ngoại xâm phương Bắc từ hàng ngàn năm nay, chỉ có một nguyên tắc duy nhất được cha ông ta áp dụng, đó là: "Chớ để họ lấn dần, nếu các ngươi dám lấy một thước núi, một tấc sông của Tổ tiên để lại mà đút mồi cho giặc, thì tội phải tru di - Lê Thánh Tông".
Do cách tuyên truyền mị dân của Nhà nước Cộng sản Việt Nam , nên nhiều người nghĩ rằng "Các chiến sĩ hải quân Việt Nam vẫn vững tay súng, bảo vệ vững chắc chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Đất liền luôn hướng tới Trường Sa, gửi gắm các anh những tình cảm yêu thương, chia sẻ, động viên...". Họ quên mất rằng, chủ quyền quốc gia phải là quá trình xác lập, khẳng định liên tục qua hoạt động Kinh tế, Ngoại giao và Quân sự.
Một nhà nghiên cứu đã viết: Trung Quốc đã tổ chức thăm dò ở các vùng biển sát thềm lục địa (và nằm trong vùng đặc quyền) của Việt Nam , đơn phương công bố dự án khai thác dầu khí ở vùng nước sâu trên Biển Đông với trị giá lên tới 29 tỉ USD. Trên thực tế, họ đã từng bước thiết lập chủ quyền tại đây, dù không có cơ sở pháp lý và bằng chứng lịch sử.
Đó là chính sách "Tằm ăn lá dâu" (lấn chiếm dần đến hết) mà Trung Quốc đã thực hiện rất tốt. Chúng ta thử hình dung: Trung Quốc từng bước cho xây dựng các Giàn khoan trên Biển Đông, với sự bảo vệ của nhiều Tàu chiến, trước sự phản ứng yếu ớt của Việt Nam, các Giàn khoan đó mọc lên sừng sững, tung bay phất phới cờ đỏ sao vàng Trung Quốc. Lúc này, Khách biến thành Chủ, họ kẻ xâm lược, ngang nhiên dẫm đạp trên linh hồn Tổ tiên ta, còn chúng ta, đứng trên mảnh đất thiêng liêng của Tổ tiên mà như đứng trong phòng Khách của người láng giềng Trung Quốc.
Các Ngư dân Việt Nam nếu vô tình "xâm phạm" lãnh hải do Trung Quốc chiếm đoạt, nơi mà cha ông ta vẫn thường xuyên qua lại và đánh bắt hải vật, nơi biết bao người con Việt Nam đã ngã xuống để bảo vệ chủ quyền Tổ quốc, nơi linh hồn Tổ tiên ta còn nằm lại cùng biển cả mênh mông, thì họ bị đối xử bằng bạo lực, bằng súng đạn của kẻ thù. Cái chết đến với họ rất đau đớn. Nhưng cái chết đó khiến người sống còn đau đớn hơn gấp nhiều lần.
Tất cả đều bị lịch sử Đảng CSVN, bộ máy tuyên truyền của Đảng CSVN bưng bít, giấu giếm. Họ đã giấu đi một sự thật lịch sử, rằng Đảng CSVN chưa bao giờ Thống nhất trọn vẹn giang sơn bờ cõi. Hoàng Sa, Trường Sa và một phần biên giới phía Bắc đang bị lấn chiếm dần, và trên thực tế đã thuộc quyền kiểm soát của Trung Quốc.
Trên mặt trận tuyên truyền, tâm lý chiến, Trung Quốc đã thắng Việt Nam , họ ghi điểm rất ngoạn mục.
Chiến lược ngoại giao diều hâu của Trung Quốc
Ngoại giao Chính trị, Trung Quốc mua chuộc, phân hóa được giới lãnh đạo Việt Nam. Ngoại giao Kinh tế, Trung Quốc khống chế, chi phối, lũng đoạn nền Kinh tế Việt Nam. Ngoại giao Văn hóa, Trung Quốc thực hiện chiến lược "Hán Hóa" và "Nô dịch tư tưởng" thông qua phim ảnh, văn học - nghệ thuật...
Đảng, chính quyền Cộng sản Việt Nam cùng với quân đội của nó sẽ gục ngã, tan rã nhanh chóng trước sức mạnh của Đế chế Cộng sản Trung Hoa, nếu nó không biết dựa vào sự đoàn kết, đồng thuận toàn dân. Sự thật, con diều hâu Trung Quốc đang quắp móng vuốt vào đất mẹ Việt Nam, dòng máu căm hờn đang chảy sôi sục trong trái tim Việt Nam .
Hành động bán rẻ chủ quyền quốc gia, danh dự Tổ Quốc, tự trọng Dân tộc của Cộng sản Việt Nam là không thể biện minh được, nó chỉ có thể được giải thích rằng: Bọn quan chức đội lốt Cộng sản, phản bội Chủ nghĩa Mác, làm tay sai cho Bắc Triều, bọn chúng cần giữ Chế độ này, giữ Đảng CS hơn giữ Nước.
Ngược lại, Cộng sản Trung Quốc từ lâu đã phản bội lý tưởng Cộng sản. CNXH đặc sắc Trung Quốc thực chất là Chủ nghĩa Dân tộc cực đoan, Chủ nghĩa Bá quyền nước lớn, theo đuổi chính sách diều hâu: ăn cướp, bòn rút, bắt nạt các nước yếu.
Bi kịch của Dân tộc Việt Nam bắt đầu từ đây, một Học thuyết với tên gọi "Quốc tế Vô sản" (Tinh thần Vô sản quốc tế). Khi truyền vào Trung Quốc nó bị "Hán Hóa", được Mao Trạch Đông giải thích thành "Thuyết Ba Thế giới". Đặng Tiểu Bình kế thừa và phát triển thành "Thuyết Đông-Tây Nam -Bắc" trong bối cảnh mở cửa hội nhập.
Nếu như Thuyết Ba Thế Giới phân thế giới làm ba: Những nước giàu, nước nghèo và những nước đang thoát nghèo để đi lên khá giả, trong đó có Việt Nam . Còn Thuyết Đông-Tây Nam -Bắc thì phân thế giới theo địa lý: Phương Bắc giàu có, Phương Nam nghèo đói. Phương Tây là các cường quốc phát triển, còn Phương Đông là các nước đang phát triển. Có thể thấy, Trung Quốc đã loại bỏ đối đầu Ý thức hệ giữa "hai phe", họ sẵn sàng quan hệ với tất cả các nước, tất cả vì mục tiêu phát triển, vì lợi ích quốc gia.
Tư tưởng Đặng Tiểu Bình đã vượt qua Chế độ Xã hội và Hình thái ý thức Xã hội: "Xét về quan hệ ngoại giao, chủ yếu cần xuất phát từ bản thân lợi ích chiến lược của nước mình... Không nên so đo, e ngại về sự khác biệt trong Chế độ Xã hội và Hình thái ý thức Xã hội".
Vậy là xét về bản chất, chính sách ngoại giao của Trung Quốc đối với Việt Nam là: "Vừa kết bạn, vừa không quá thân, không liên minh, cũng không thù địch". Trung Quốc không đứng đầu một Khối đồng minh nào, tự họ trở thành một cực trong Thế giới đa cực. Trên bàn cờ Ngoại giao Trung Quốc, Việt Nam có ý nghĩa khá quan trọng, nước ta là "Tấm lá chắn đỏ" ngăn chặn Trào lưu Dân chủ hóa từ phương Nam , là bàn đạp để Trung Quốc tiến xuống Đông Nam Á.
Trung Quốc đã vờn cho Việt Nam mệt nhoài, lúc thì vuốt ve, lúc thì dùng vũ lực, vừa không cho Việt Nam có cơ hội thân phương Tây để phát triển, vừa khiến Việt Nam phải lệ thuộc hoàn toàn vào Trung Quốc, dẫn đến tình trạng trì trệ kéo dài ở nước ta, làm cho đất nước ngày càng tụt hậu so với Trung Quốc và Thế giới.
Sau 30 năm Trung Quốc cải cách mở cửa và theo đuổi chiến lược ngoại giao diều hâu, họ đã đạt được những thành công lớn. Giờ đây, Việt Nam không còn là đối thủ xứng tầm, đã tụt hậu quá xa, sự chênh lệch về trình độ phát triển, về Kinh tế và Quốc phòng của Việt Nam so với Trung Quốc đủ lớn để họ tiếp tục thực hiện giai đoạn hai của chiến lược diều hâu, đó là "Tiến vào Biển Đông, kiểm soát toàn bộ Đông Nam Á, tạo thế ảnh hưởng đối trọng với Mỹ và Nga".
Con bồ câu Cộng sản Việt Nam vẫn còn bàng hoàng sửng sốt, họ không hiểu vì sao Trung Quốc, một quốc gia cùng theo lý tưởng XHCN, từng đứng về phe Cộng sản, lại trở mặt xưng bá Thiên Hạ, quay lại ăn hiếp, bắt nạt người anh em nhỏ bé cũ.
Trói buộc Ý thức hệ làm giảm sức mạnh Dân tộc
"Vì Tổ quốc Việt Nam XHCN", đây là một câu khẩu hiệu hết sức phản động. Tổ quốc Việt Nam ta, nơi quê cha đất mẹ, một đất nước có bề dày lịch sử văn hóa hàng ngàn năm. Còn cái gọi là XHCN, hay CNXH khoa học Mác - Lênin, đó chỉ là một Học thuyết ra đời cách đây chưa đầy 200 năm tại Châu Âu, nó chỉ tồn tại trên giấy tờ, chứ chưa bao giờ xuất hiện trên cõi đời.
Từ khi Ngô Quyền đại phá quân Nam Hán, mở ra kỷ nguyên độc lập tự chủ, nước ta tuy vẫn chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Bắc, nhưng chưa bao giờ bị lệ thuộc vào Ý thức hệ Trung Hoa. Cha ông ta luôn tạo cho mình một ý thức dân tộc mang bản sắc riêng. Thời Nhà Lý, Vua Lý Thánh Tông đặt Quốc hiệu Đại Việt, có ý muốn nước Nam ta sánh ngang hàng với Đại Tống ở phương Bắc. Thời Nhà Trần, Vua Trần Nhân Tông xuất gia tu hành tại Yên Tử, sáng lập ra Thiền Phái Trúc Lâm mang bản sắc Đại Việt...
Sống bên cạnh một nước đầy tham vọng như Trung Quốc, cha ông ta đã khéo léo vận dụng sách lược mềm dẻo, nhưng kiên quyết trong những vấn đề mang tính nguyên tắc: tiếp thu có chọn lọc Văn minh và Ý thức hệ Trung Hoa, tạo dựng bản sắc Văn hóa Đại Việt, nhờ đó đã giữ vững biên cương phía Bắc, mở rộng bờ cõi xuống phương Nam, và tiến ra Biển Đông.
Ý thức hệ Trung Hoa, coi Vua (Hoàng Đế) là Thiên Tử, quyền lực Hoàng Đế lớn như Trời (Thiên Triều). CNXH đặc sắc Trung Quốc, thực chất là một biến tướng của Chủ nghĩa Mác, nó đã bị Hán Hóa, được biểu hiện ra với đầy đủ bản chất tư tưởng Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình và Ý thức hệ Trung Hoa.
Trung Quốc đã biến hình thành Chủ nghĩa Bá quyền, Đế quốc Thực dân kiểu mới, con quái vật ghê sợ đó đang hút máu, bóc lột tận xương tủy các dân tộc bé nhỏ ở Châu Á, Châu Phi và Mỹ Latinh. Bọn Bá quyền Trung Quốc trói buộc các dân tộc mà nó xâm chiếm vào một "quỹ đạo" chết người, quỹ đạo của sự Độc tài, Lệ thuộc, Trì trệ và yếu nghèo mà Việt Nam là một ví dụ điển hình.
Trong mỗi chuyến đi Ngoại giao sang Trung Quốc, các nhà Lãnh đạo của Việt Nam luôn nhận được lời căn dặn, đúng hơn là lời đe dọa: "Trung Hoa - Việt Nam , Sơn Thủy Tương Liên, Văn Hóa Tương Thông, Lý Tưởng Tương Đồng, Vận Mệnh Tương Quan".
Lý Tưởng Tương Đồng, Vận Mệnh Tương Quan, ở đây là Lý tưởng XHCN và Vận mệnh của hai Đảng Cộng sản Trung Quốc và Việt Nam . Một lời đe dọa trắng trợn, ý nói sự tồn vong của Đảng CSVN phụ thuộc vào Đảng CSTQ, Trung Quốc mà đổi màu, thì Việt Nam cũng đổi màu theo.
Thoát khỏi quỹ đạo Trung Quốc
Trung Quốc tiến gần tới chiếm đoạt Biển Đông, Cộng Sản Việt Nam cắt Đất, nhượng Biển để giữ Chế độ. Bất cứ ai chống Trung Quốc xâm lược là chống Đảng CSVN. Sự thật là những người biểu tình chống Trung Quốc đều bị kết tội gây rối, bị chụp mũ là có thế lực bên ngoài kích động, lợi dụng.
Người dân có quyền được nói lên chính kiến của mình, có quyền được biết, được đòi hỏi sự công khai, minh bạch về đường lối, chủ trương của Nhà nước đối với vấn đề Hoàng Sa - Trường Sa. Nhưng họ chỉ nhận được sự im lặng đáng sợ.
Không ai biết những cuộc "đi đêm" giữa hai Chính quyền Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc sẽ dẫn đến tấn thảm kịch ghê sợ như thế nào, tương lai của Dân tộc Việt Nam, Tổ quốc Việt Nam sẽ ra sao, và việc mất nước có phải chỉ còn là vấn đề thời gian?
"Giặc ở ngay sau lưng nhà Vua đó", câu truyện lịch sử này nhắc chúng ta ghi nhớ, cảnh giác trước âm mưu thâm độc của ngoại xâm phương Bắc, tỉnh táo trước chiến lược diều hâu của Bắc Triều. Chúng ta đang đứng trước nguy cơ mất nước từ chính giặc nội xâm: Phe thân Tàu trong Trung ương Đảng CSVN và các Gián điệp Trung Quốc cài cắm tại Việt Nam .
"Quân đội ta Trung với Đảng", lời thề này không có ý nghĩa gì trong thời điểm hiện nay, khi mà Đảng CSVN đã đưa đất nước đi vào quỹ đạo lệ thuộc bởi Trung Quốc, bị trói chặt vào đó.
Muốn thoát khỏi quỹ đạo Trung Quốc, Việt Nam không còn con đường nào khác, ngoài con đường Dân chủ hóa.
Việt Nam, ngày 18-12-2008
Vũ Hải Đăng
Dấu hiệu suy thoái kinh tế Việt Nam
Tác giả: trangdenonline
Trong những tin khác về kinh tế, những tín hiệu suy giảm, suy thoái kinh tế đã lấp ló ở Việt Nam qua tình trạng mãi lực giảm nghiêm trọng, cũng như chỉ số giá tiêu dùng giảm 4 tháng liền.
Theo lời Bộ trưởng Kế hoạch đầu tư Cộng sản Việt Nam là Võ Hồng Phúc xác định trong phiên họp trong tuần qua tại Hà Nội, thì chỉ số giá tiêu dùng tháng 12 so với tháng 11 giảm 0.7%. Như vậy chỉ số giá tiêu dùng toàn quốc đã ở sút giảm bốn tháng liên tiếp và như nhận định của ông Bộ trưởng, đây là dấu hiệu ngày càng rõ của suy thoái kinh tế. Tuy bóng ma suy thoái đã lấp ló, nhưng trên thực tế lạm phát 2008 của Việt Nam vẫn ở mức 21% so với năm 2007. Tiến sĩ Nguyễn Quang A, Viện trưởng viện nghiên cứu phát triển ở Hà Nội đưa ra nhận định và cho rằng kinh tế Việt Nam đang khó khăn thì đã là điều chắc chắn, tức là có sự suy giảm tăng trưởng.
Việt Nam chưa phải là suy thoái, bởi vì suy thoái nghĩa là tăng trưởng âm, Việt Nam vẫn tăng trưởng dương chưa thể gọi là suy thoái được. Trong khi đó một tờ báo chuyên về kinh tế tiêu dùng ở Saigon là tờ Saigon Tiếp Thị đã thực hiện cuộc điều tra tiêu dùng thường xuyên kể từ tháng 10, kết quả cho thấy sức mua của thị trường Saigon trong tháng 11 giảm 25% tức một phần tư so với tháng 10. Các chuyên viên điều tra của tờ báo ghi nhận rằng dân chúng Saigon giảm số lần mua sắm khoảng 17%. Tuy nhiên số tiền mà người dân thành phố chi tiêu cho mỗi lần mua sắm chỉ giảm không đáng kể khoảng 1%.
Cuộc điều tra của tờ báo này được cho biết là tiến hành theo phương pháp ghi nhận trực tiếp việc tiêu dùng hàng ngày tại các gia đình, được chọn theo phân tầng kinh tế xã hội. Các chuyên viên điều tra cho biết họ tập trung vào nhóm các sản phẩm tiêu dùng thường xuyên gồm 23 ngành hàng, bao gồm các nhóm nhu cầu như ăn uống, học hành, vui chơi, giải trí, y tế và chăm sóc sức khỏe. Đối với người dân, thì đi đâu người ta cũng kêu than, xăng giảm 4 lần nhưng tất cả các sinh hoạt thì không giảm mà còn lên, thành ra mãi lực rất kém. Nhiều người cho biết năm nay Giáng Sinh và Tết nhất người ta sẽ hạn chế mua bán rất nhiều.
Kinh tế và đầu tư sụt giảm, nhiều công nhân Việt Nam đang đối diện với nỗi lo mất công ăn việc làm. Sức mua giảm, những doanh nghiệp lớn bây giờ làm ăn xiểng liểng vỡ nợ, những xí nghiệp ngành may lớn thu dụng nhiều nhân công, bây giờ đóng cửa rất nhiều. Một nhân viên ngân hàng cho biết năm nay không có thưởng cuối năm ngay cả ở ngân hàng và các doanh nghiệp khác. Một tiểu thương bán lẻ ở Saigon cho biết có sự cảm nhận rõ ràng về tình trạng sức mua giảm sút trên thị trường, bây giờ mọi người đã cảm nhận được khủng hoảng kinh tế toàn cầu ảnh hưởng đến Việt Nam thành ra họ đã dè dặt, một số người lo sợ mất việc mặc dù chưa thất nghiệp cũng không dám tiêu xài mạnh tay. Những công ty trực tiếp xuất cảng thì bây giờ không còn đơn hàng rõ ràng bị ảnh hưởng.
Tác giả: trangdenonline
Trong những tin khác về kinh tế, những tín hiệu suy giảm, suy thoái kinh tế đã lấp ló ở Việt Nam qua tình trạng mãi lực giảm nghiêm trọng, cũng như chỉ số giá tiêu dùng giảm 4 tháng liền.
Theo lời Bộ trưởng Kế hoạch đầu tư Cộng sản Việt Nam là Võ Hồng Phúc xác định trong phiên họp trong tuần qua tại Hà Nội, thì chỉ số giá tiêu dùng tháng 12 so với tháng 11 giảm 0.7%. Như vậy chỉ số giá tiêu dùng toàn quốc đã ở sút giảm bốn tháng liên tiếp và như nhận định của ông Bộ trưởng, đây là dấu hiệu ngày càng rõ của suy thoái kinh tế. Tuy bóng ma suy thoái đã lấp ló, nhưng trên thực tế lạm phát 2008 của Việt Nam vẫn ở mức 21% so với năm 2007. Tiến sĩ Nguyễn Quang A, Viện trưởng viện nghiên cứu phát triển ở Hà Nội đưa ra nhận định và cho rằng kinh tế Việt Nam đang khó khăn thì đã là điều chắc chắn, tức là có sự suy giảm tăng trưởng.
Việt Nam chưa phải là suy thoái, bởi vì suy thoái nghĩa là tăng trưởng âm, Việt Nam vẫn tăng trưởng dương chưa thể gọi là suy thoái được. Trong khi đó một tờ báo chuyên về kinh tế tiêu dùng ở Saigon là tờ Saigon Tiếp Thị đã thực hiện cuộc điều tra tiêu dùng thường xuyên kể từ tháng 10, kết quả cho thấy sức mua của thị trường Saigon trong tháng 11 giảm 25% tức một phần tư so với tháng 10. Các chuyên viên điều tra của tờ báo ghi nhận rằng dân chúng Saigon giảm số lần mua sắm khoảng 17%. Tuy nhiên số tiền mà người dân thành phố chi tiêu cho mỗi lần mua sắm chỉ giảm không đáng kể khoảng 1%.
Cuộc điều tra của tờ báo này được cho biết là tiến hành theo phương pháp ghi nhận trực tiếp việc tiêu dùng hàng ngày tại các gia đình, được chọn theo phân tầng kinh tế xã hội. Các chuyên viên điều tra cho biết họ tập trung vào nhóm các sản phẩm tiêu dùng thường xuyên gồm 23 ngành hàng, bao gồm các nhóm nhu cầu như ăn uống, học hành, vui chơi, giải trí, y tế và chăm sóc sức khỏe. Đối với người dân, thì đi đâu người ta cũng kêu than, xăng giảm 4 lần nhưng tất cả các sinh hoạt thì không giảm mà còn lên, thành ra mãi lực rất kém. Nhiều người cho biết năm nay Giáng Sinh và Tết nhất người ta sẽ hạn chế mua bán rất nhiều.
Kinh tế và đầu tư sụt giảm, nhiều công nhân Việt Nam đang đối diện với nỗi lo mất công ăn việc làm. Sức mua giảm, những doanh nghiệp lớn bây giờ làm ăn xiểng liểng vỡ nợ, những xí nghiệp ngành may lớn thu dụng nhiều nhân công, bây giờ đóng cửa rất nhiều. Một nhân viên ngân hàng cho biết năm nay không có thưởng cuối năm ngay cả ở ngân hàng và các doanh nghiệp khác. Một tiểu thương bán lẻ ở Saigon cho biết có sự cảm nhận rõ ràng về tình trạng sức mua giảm sút trên thị trường, bây giờ mọi người đã cảm nhận được khủng hoảng kinh tế toàn cầu ảnh hưởng đến Việt Nam thành ra họ đã dè dặt, một số người lo sợ mất việc mặc dù chưa thất nghiệp cũng không dám tiêu xài mạnh tay. Những công ty trực tiếp xuất cảng thì bây giờ không còn đơn hàng rõ ràng bị ảnh hưởng.
TRUNG QUỐC LỢI GÌ TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM?
Trần Gia Phụng
1.- TỔNG QUAN
Chiến tranh Việt Nam kéo dài trong 30 năm, từ 1946 đến 1975, có thể chia thành ba giai đoạn.
Giai đoạn thứ nhất từ 1946 đến 1949: Khi Pháp đưa quân tái chiếm Việt Nam, Hồ Chí Minh, mặt trận Việt Minh (VM) và chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) nhượng bộ và thỏa hiệp với Pháp, ký liên tiếp hai thỏa ước để duy trì quyền lực của VM và đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD). Tuy nhiên, Pháp không ngừng tiến quân và ép VM đến đường cùng. Hồ Chí Minh liền họp trung ương đảng CSĐD trong hai ngày 18 và 19-12-1946 tại Vạn Phúc (Hà Đông) để tham khảo. Cuộc họp đi đến quyết định tấn công Pháp vào tối 19-12-1946.(1) Thế là chiến tranh không tuyên chiến bùng nổ. Từ năm 1946 đến năm 1949, VM vừa đánh, vừa đàm, vừa trốn chạy lên miền rừng núi để chờ đợi thời cơ..
Giai đoạn thứ hai từ 1950 đến 1954: Trong cuộc tranh chấp tại Trung Quốc, Mao Trạch Đông và đảng Cộng Sản Trung Quốc (CSTQ) thành công. Tưởng Giới Thạch và Quốc Dân Đảng chạy ra Đài Loan. Mao Trạch Đông công bố thành lập chính thể Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (gọi tắt là Trung Quốc).
Hồ Chí Minh và VM cầu viện CSTQ. Nhờ sự giúp đỡ về mọi mặt của của Trung Quốc, VM phản công từ năm 1950 và cuối cùng chiến thắng năm 1954. Chẳng những VM, mà cả Việt Nam se phải trả giá cho sự cầu viện và chiến thắng nầy. Hiệp định Genève ngày 20-7-1954, chia hai đất nước ở sông Bến Hải, vùng vĩ tuyến 17. Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (tức VM cộng sản) ở miền Bắc, Quốc Gia Việt Nam (hậu thân là Việt Nam Cộng Hòa) ở miền Nam. Trước khi ký hiệp định Genève, VM đã đưa ra kế hoạch gài người ở lại miền Nam, trường kỳ mai phục để chống lại QGVN.(2)
Giai đoạn thứ ba từ 1960 đến 1975: Từ năm 1955, Bắc Việt bắt đầu kiếm cách gây hấn, đòi hỏi Nam Việt phải tổ chức tổng tuyển cử vào năm 1956 theo dự kiến trong điều 7 bản "Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương" ngày 21-7-1954. Cần chú ý, bản tuyên bố cuối cùng nầy không có chữ ký của bất cứ phái đoàn nào, kể cả phái đoàn VM tức VNDCCH.
Một bản tuyên bố không có chữ ký không thể là một văn bản pháp lý có tính cưỡng hành, mà chỉ có tính cách dự kiến tương lai mà thôi. Phái đoàn QGVN chẳng những không ký hiệp định Genève, mà còn không tham dự vào bản "Tuyên bố cuối cùng... ", nên tự cho rằng không bị ràng buộc vào điều 7 của bản tuyên bố nầy và không chấp nhận tổng tuyển cử.
Lấy lý do Nam Việt không chấp nhận tổng tuyển cử, Bắc Việt quyết định tấn công Nam Việt. Đầu tiên, Ban Bí thư Trung ương đảng Lao Động (LĐ, hậu thân của đảng CSĐD) ra chỉ thị ngày 24-5-1958, tổ chức học tập chủ thuyết Mác-Lê để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Bắc Việt và tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Nam Việt.
Vào cuối năm nầy, Lê Duẫn được bí mật gởi vào Nam để nghiên cứu tình hình. Khi trở ra Bắc, bản báo cáo của Lê Duẫn đã đưa đến quyết định của Uỷ ban Trung ương đảng LĐ tại hội nghị lần thứ 15 ở Hà Nội ngày 13-5-1959, theo đó đảng LĐ ra nghị quyết thống nhất đất nước (tức đánh chiếm miền Nam bằng võ lực) và đưa miền Bắc tiến lên xã hội chủ nghĩa. (Nghị quyết đăng trên Nhân Dân ngày 14-5-1959)
Nghị quyết trên đây được lập lại trong Đại hội 3 đảng LĐ, khai diễn từ ngày 5-9 đến ngày 10-9-1960 tại Hà Nội, mệnh danh là "Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà", đưa ra hai mục tiêu lớn của đảng LĐ là xây dựng miền Bắc tiến lên Xã hội chủ nghĩa và "giải phóng" miền Nam bằng võ lực. (3) Thế là chiến tranh tái phát từ năm 1960 đến năm 1975. Cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm Nam Việt ngày 30-4-1975.
Trong ba giai đoạn trên đây của cuộc chiến ba mươi năm ở Việt Nam, Trung Quốc đã giúp phía VM cộng sản từ giai đoạn thứ hai tức từ năm 1950 trở đi. Sự giúp đỡ của Trung Quốc cho phe cộng sản Việt Nam đã quá rõ ràng, không cần nhắc lại. Ở đây, chỉ xin thử bàn Trung Quốc đã hưởng lợi gì sau khi giúp phe CSVN thắng thế?
2.- TRONG GIAI ĐOẠN 1950-1954
An ninh biên giới nam Trung Quốc: Khi CHNDTH được thành lập ngày 1-10-1949, chiến tranh giữa VM và Pháp đã diễn ra được ba năm. Cuối năm 1949, Hồ Chí Minh gởi hai đại diện là Lý Bích Sơn và Nguyễn Đức Thủy đến Bắc Kinh xin viện trợ.(4a) Theo sự thỏa thuận giữa hai bên, chính phủ VNDCCH thừa nhận chính phủ CHNDTH ngày 15-1-1950. Ngay sau đó, CHNDTH công nhận trở lại chính phủ VNDCCH ngày 18-1-1950.
Ngày 30-1-1950, Hồ Chí Minh đến Bắc Kinh cầu viện. Sau đó, Hồ Chí Minh tiếp tục qua Liên Xô ngày 3-2-1950 để xin Liên Xô viện trợ, nhưng Joseph Stalin, lãnh tụ Liên Xô, trả lời với Hồ Chí Minh rằng việc giúp đỡ VM bước đầu là công việc của CHNDTH.( 4b) Nguyên lúc đó, Liên Xô mới ra khỏi thế chiến thứ hai, vừa lo tái thiết đất nước, vừa lo tổ chức thống trị các nước Đông Âu mà Liên Xô mới chiếm được sau thế chiến thứ hai, và Liên Xô ít có quyền lợi ở Viễn đông, nên Liên Xô ít chú trọng đến Việt Nam.
Ngày 17-2-1950, Hồ Chí Minh rời Moscow, trở về Bắc Kinh. Tại đây, một hiệp ước phòng thủ hỗ tương giữa VM và Trung Quốc được ký kết, theo đó hai bên hợp tác để tiễu trừ thổ phỉ (ám chỉ Quốc Dân Đảng Trung Hoa và biệt kích Pháp).(5) Hiệp ước nầy cho thấy rõ chủ đích phòng thủ biên giới của CHNDTH khi viện trợ cho VM.
Nguyên khi Cộng Sản Trung Quốc (CSTQ) chiếm được lục địa, thì Tưởng Giới Thạch và Quốc Dân Đảng Trung Hoa (QDĐTH) chạy ra Đài Loan, cố thủ ở đây. Ngoài ra, khoảng 30,000 quân QDĐTH tràn qua Việt Nam. Số quân nầy bị quân Pháp tước khí giới và tập trung ở vùng mỏ than Đông Triều.(6)
Cần chú ý, cuối năm 1949, đảo Hài Nam (ở gần Việt Nam) vẫn còn bất ổn. Cho đến ngày 1-5-1950, CSTQ mới đánh chiếm được đảo Hải Nam. Từ đó Hải Nam chính thức thuộc Trung Quốc, trở thành đặc khu trực thuộc tỉnh Quảng Đông của CHNDTH. Vì vậy, đảng CSTQ rất lo ngại về tình hình biên giới phía nam, sợ Hoa Kỳ hay Pháp giúp tàn quân QDĐTH trở về quấy phá biên giới phía NamTrung Quốc.
Trung Quốc gởi võ khí, đạn dược qua giúp VM chống Pháp để giữ yên và tạo một vùng trái độn giữa Việt Nam và nam Trung Quốc. Số võ khí, đạn dược nầy do quân QDĐTH bỏ lại lục địa trước khi tháo chạy ra Đài Loan. Chẳng những thế, đảng CSTQ còn gởi cố vấn chính trị và quân sự sang giúp VM.
Chính tướng Trần Canh (Chen Geng), một danh tướng thân cận của Mao Trạch Đông, được gởi sang làm cố vấn cho Hồ Chí Minh, đã giúp VM chiến thắng trận đầu tiên tại Đồng Khê ngày 16-9-1950. Đồng Khê ở phía nam Cao Bằng, phía bắc Thất Khê. (Thất Khê ở phía bắc Lạng Sơn).
Cũng nhờ chiến thuật công đồn đả viện do Trần Canh cố vấn, tại vùng Cao Bằng-Lạng Sơn, VM cử đại đoàn (sư đoàn) 308, trung đoàn 209 và một tiểu đoàn độc lập, mở hai trận phục kích riêng lẻ gần Đồng Khê, bắt được hai trung tá Lepage (8-10-1950) và Charton (10-10-1950).(7) Số tù binh Pháp bị bắt trong các trận nầy lên đến 4,000 binh sĩ, 354 hạ sĩ quan và 98 sĩ quan, trong đó có hai sĩ quan cấp trung tá.
Từ đây, VM làm chủ vùng Cao Bằng, Đồng Khê, Thất Khê, khai thông hoàn toàn khu vực biên giới giữa Trung Quốc và chiến khu Việt Bắc của VM, tạo một vùng an toàn cho VM dọc biên giới Việt Hoa, giúp việc chuyển vận hàng viện trợ của Trung Quốc cho VM được dễ dàng.
Sau trận nầy, Trung Quốc yên tâm rằng từ đây tàn quân QDĐTH không còn ẩn trốn trong vùng rừng núi biên giới giữa Trung Quốc với Việt Nam, liền rút đại tướng Trần Canh về Bắc Kinh tháng 11-1950. Lúc đó, chiến tranh Cao Ly (Triều Tiên) bùng nổ ngày 25-6-1950. Tháng 6-1951, Trần Canh được lãnh đạo Trung Quốc gởi qua cầm quân ở Cao Ly.
Như thế, đảng CSTQ giúp VM và đảng CSĐD chống Pháp ở Việt Nam năm 1950 trước tiên vì nhu cầu an ninh biên giới phía nam của Trung Quốc, như trước đây nhà Thanh gởi quân qua đánh Pháp ở Bắc Kỳ để cầm chân và không cho quân Pháp tràn qua biên giới của nhà Thanh.
Ngang hàng với các cường quốc: Đảng CSTQ làm chủ lục địa và thành lập chế độ CHNDTH ngày 1-10-1949. Lúc đó, Trung Quốc chỉ là một nước chậm tiến, nông nghiệp lạc hậu, bị các cường quốc tây phương xem nhẹ, chưa được cho thay thế ghế hội viên của Trung Hoa Dân Quốc ở Liên Hiệp Quốc.
Sau khi hiệp ước đình chiến ở Cao Ly (Triều Tiên) được ký kết tại Bàn Môn Điếm (Panmunjon) ngày 27-7-1953, và khi chiến tranh Việt Nam càng ngày càng quyết liệt, Liên Xô đề nghị với Hoa Kỳ, Anh, Pháp họp cùng Trung Quốc vào tháng 8-1953 để giải quyết những tranh chấp còn lại ở Triều Tiên và chiến tranh Việt Nam. Đề nghị nầy bị tam cường tây phương bác bỏ, vì cả ba nước không thừa nhận Trung Quốc là một cường quốc ngang hàng với họ.(8a)
Tháng 2-1954, Liên Xô lập lại ý kiến nầy. Trước tình hình ở Đông Dương càng ngày càng xấu về phía quân đội Liên Hiệp Pháp và càng ngày càng thắng thế về phía bộ đội VM, Hoa Kỳ, Anh, Pháp đành phải chấp nhận mời Trung Quốc đến họp để giải quyết chuyện Đông Dương.( 8b)
Dầu vậy, các nước Tây phương vẫn chưa xem trọng Trung Quốc. Trưởng phái đoàn Hòa Kỳ đầu tiên tại hội nghị Genève là ngoại trưởng John Foster Dulles. Khi gặp trưởng phái đoàn Trung Quốc tại Genève là thủ tướng kiêm ngoại trưởng Châu Ân Lai, John Foster Dulles vẫn không thèm bắt tay xã giao.(9)
Như thế, từ một nước mới được thành lập, kinh tế lạc hậu, nhờ chiến tranh Việt Nam, Trung Quốc được ngồi ngang hàng với các cường quốc Tây phương tại hội nghị Genève. Đây là một thắng lợi ngoại giao quan trọng của Trung Quốc mà Trung Quốc không đóng góp xương máu trên chiến trường.
Trong sách Đêm giữa ban ngày, tác giả Vũ Thư Hiên viết rằng trong chiến tranh chống lại miền Nam từ năm 1960, Lê Duẫn, bí thư thứ nhất đảng LĐ (năm 1976 đổi là tổng bí thư), đã từng nói: "Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc."(10) Thật ra, ngay từ năm 1950, VM cũng đã đánh cho Trung Quốc.
Cố vấn hay chỉ huy: Vào thế kỷ 19, Pháp đến xâm lăng và bảo hộ Việt Nam. Nước Pháp xa Việt Nam, nằm ở miền ôn đới. Người Pháp thuộc chủng tộc da trắng, chịu ảnh hưởng của nền văn hóa và văn minh khác hẳn người Việt. Người Pháp đến Việt Nam để khai thác và bóc lột, nhưng người Pháp không thích hợp với phong thổ Việt Nam, nên người Pháp ít ở lại Việt Nam.
Sau thế chiến thứ hai tức sau năm 1945, tuy Pháp muốn tái chiếm Việt Nam, nhưng người Việt Nam luôn luôn có tinh thần độc lập, sẵn sàng đứng lên chống Pháp, như trước đây đã từng chiến đấu chống Pháp. Cuộc kháng chiến có thể khó khăn nhưng trào lưu chung trên thế giới lúc đó là giải trừ thuộc địa, nên trước sau gì nước ta cũng có thể tự lực đánh đuổi được người Pháp, mà không nhất thiết phải dựa vào Trung Quốc mới có thể thành công. Các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm trong lịch sử trước đây rất cam khổ, nhưng dân tộc Việt luôn luôn tự lực bảo vệ nền độc lập dân tộc mà không cần ngoại quốc viện trợ. Còn những lần các triều đại Việt Nam nhờ đến Trung Quốc, đều bị Trung Quốc xâm lăng. Ví dụ cuối đời Trần và cuối đời Lê là những bài học rõ nét nhất.
Trong sách Mặt thật, tác giả Thành Tín, tức Bùi Tín, nguyên đại tá bộ đội cộng sản, nguyên phó tổng biên tập báo Nhân Dân, đã viết: “...Nếu như hồi ấy đường lối đấu tranh đại loại như của cụ Phan [Châu Trinh] đề xướng được chấp nhận và thành hiện thực thì đất nước ta có thể khác hẳn hiện nay, vừa có độc lập thống nhất, có dân chủ và phát triển, có thể tránh được chiến tranh và tránh bị cỗ máy nghiền mà chủ nghĩa Staline, chủ nghĩa Mao đã đưa đến thông qua đảng cộng sản với biết bao hậu quả nặng nề mà chưa biết đến bao giờ mới khắc phục được...” (11)
Lịch sử bang giao Việt Hoa cho thấy rằng các nhà cầm quyền Trung Quốc nguy hiểm không kém gì thực dân Pháp, nếu không muốn nói là nguy hiểm hơn. Bằng chứng là vào thế kỷ 15, nhà Minh xâm lăng, khai thác và bóc lột Đại Việt tàn bạo không khác gì thực dân Pháp (xin xem Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi). Nhà Minh còn rất thâm độc, tịch thu hết sách vở, tài liệu, bia đá, nhân tài của Đại Việt đem về Trung Hoa, nghĩa là nhà Minh chủ trương tiêu diệt toàn bộ văn hóa Đại Việt.
Từ thời cổ xưa, các triều đại quân chủ Trung Quốc không ngừng bành trướng lãnh thổ. Trung Quốc đã xâm chiếm và đồng hóa tất cả các nước chung quanh Trung Quốc, như Mãn Châu, Tân Cương, Mông Cổ, Tây Tạng, Vân Nam, nhưng Trung Quốc chỉ xâm lăng Việt Nam chứ không xâm chiếm được Việt Nam vĩnh viễn.
Đối với Việt Nam, Trung Quốc luôn luôn tự tôn, cho rằng Việt Nam là phiên thuộc của Trung Quốc. Tác giả Sở Cuồng Lê Dư kể lại rằng, ngay cả nhà cách mạng Tôn Dật Tiên (Trung Quốc) cũng đã nói với chính khách Nhật Bản là tử tước Khuyển Dưỡng Nghị, tức Inukai Ki, rằng: “Người Việt Nam vốn nô lệ căn tính. Ngày xưa họ bị chúng tôi đô hộ, ngày nay họ bị Pháp đô hộ. Dân tộc ấy không có tương lai.” (12) Dầu Tôn Dật Tiên phát biểu như thế, Việt Nam là nước duy nhất nằm sát Trung Quốc và kháng cự lại được nền đô hộ của Trung Quốc.
Người Trung Quốc thuộc chủng tộc da vàng, có nền văn hóa và văn minh gần giống người Việt. Vì vậy, khác với người Pháp, người Trung Quốc rất dễ hòa lẫn với người Việt, nghĩa là người Trung Quốc đến Việt Nam, và có thể ở lại sinh sống tại Việt Nam.
Dưới thời quân chủ, khoảng từ 2 đến 4 năm, do yếu thế, triều đình Việt cử sứ thần sang Trung Hoa triều cống một lần, nhưng vua nước Việt, tức nguyên thủ quốc gia, chưa bao giờ sang Bắc Kinh bệ kiến các hoàng đế Trung Hoa, trừ lần Lê Chiêu Thống lưu vong năm 1789, và Phạm Công Trị giả vua Quang Trung sang Thanh năm 1790.
Trong khi đó, từ năm 1950 đến năm 1954, Hồ Chí Minh, nguyên thủ nhà nước VNDCCH, bốn lần sang Bắc Kinh hội kiến các lãnh tụ CSTH để xin cầu viện. Đó là các lần: 1) Đến Bắc Kinh 30-1-1950 rồi qua Moscow. 2) Đến Nam Ninh ngày 5-2-1951. 3) Đến Bắc Kinh cuối tháng 9-1952, rồi đi Moscow. 4) Đến Bắc Kinh cuối tháng 3-1954, rồi đi Moscow.
Ngang nhiên hơn nữa, năm 1954, Châu Ân Lai gọi Hồ Chí Minh sang Liễu Châu nói là hội họp và thảo luận, nhưng thực chất là ra lệnh cho Hồ Chí Minh phải ký hiệp định Genève chia hai nước Việt Nam. Thế là Hồ Chí Minh đành nghe theo.( 13) Chưa có thời đại nào mà chính quyền Trung Hoa chi phối mạnh mẽ, gần như chỉ huy nhà nước Việt Nam như CHNDTH đối với VNDCCH.
2.- TRONG GIAI ĐOẠN 1960-1975
Trung Quốc xâm lăng Việt Nam: Sau khi nhờ CSTQ để chống Pháp, nhất là chuẩn bị cầu viện để tiến đánh miền Nam, đương nhiên VNDCCH phải biết điều với Trung Quốc. Sự biết điều nầy thấy rõ qua công hàm ngày 14-9-1958 do Phạm Văn Đồng, thủ tướng Bắc Việt ký, tán thành quyết định về lãnh hải của Trung Quốc và triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc. Phạm Văn Đồng ký công hàm trên phải được sự chuẩn thuận của Hồ Chí Minh và bộ chính trị đảng Lao Động.
Trong khi giúp đỡ Bắc Việt để tiến đánh Nam Việt, Trung Quốc theo dõi diễn tiến tình hình chiến tranh Việt Nam, sẵn sàng chuẩn bị ra tay để thủ lợi. Ngày 27-1-1973, tại Paris bốn bên lâm chiến ở Việt Nam (Việt Nam Cộng Hòa, Hoa Kỳ, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam) ký kết “Hiệp định chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam”, theo đó Hoa Kỳ rút quân hoàn toàn ra khỏi Việt Nam.
Đây là thời cơ thuận tiện để Trung Quốc ra tay, vì Hoa Kỳ rút đi, VNCH bận rộn một mình chống đỡ những cuộc tấn công của VNDCCH và MTDTGPMN. Trung Quốc liền đưa hạm đội hùng hậu đánh chiếm hải đảo Hoàng Sa của VNCH. Biết rằng khó thắng, nhưng Hải quân VNCH do Ngụy Văn Thà chỉ huy, cương quyết bảo vệ quê hương, tiếp nối truyền thống anh dũng của tổ tiên chúng ta.
Ngụy Văn Thà và đồng đội hy sinh. Trung Quốc một lần nữa xâm lăng Việt Nam. Bắc Việt cộng sản im lặng, không lên tiếng. Đây là khởi đầu của thời kỳ Trung Quốc tiến xuống các hải đảo phía nam.
Trung Quốc bắt tay với Hoa Kỳ và vào Liên Hiệp Quốc: Sau hiệp định Genève (20-7-1954), Hoa Kỳ vào Việt Nam nhắm mục đích giúp Nam Việt chận đứng sự bành trướng của khối cộng sản. Sau một thời gian có mặt tại Việt Nam, từ thập niên 60, Hoa Kỳ nhận ra hai điều:
Thứ nhất, các nước cộng sản không phải là một khối chặt chẽ, mà họ là những thực thể riêng biệt, với những quyền lợi mâu thuẫn nhau khá trầm trọng. Hoa Kỳ không bỏ lỡ cơ hội kiếm cách khai thác mâu thuẫn giữa các nước cộng sản, đúng ra là giữa Liên Xô và Trung Quốc để làm thế nào ly gián họ, và tránh cho họ xích lại gần nhau như trước. Vì vậy, người Hoa Kỳ bắt đầu xét duyệt lại chính sách toàn cầu của Hoa Kỳ.
Thứ hai, nếu Hoa Kỳ càng giúp VNCH (Nam Việt) chống lại VNDCCH (Bắc Việt), thì Liên Xô và Trung Quốc ở thế cùng liên kết để giúp Bắc Việt chống lại Hoa Kỳ, tức Hoa Kỳ tạo nên một hoàn cảnh thuận lợi cho Liên Xô và Trung Quốc tạm gác những mâu thuẫn song phương, để cùng nhau cứu giúp một nước cộng sản thứ ba. Nói cách khác, làm như thế, chẳng khác gì Hoa Kỳ tạo cơ hội cho hai nước Liên Xô và Trung Quốc xích lại với nhau.
Trên quan niệm địa lý chính trị học (geopolitics), vào cuối thập niên 60 và đầu thập niên 70, người Hoa Kỳ còn ngộ ra rằng "Bắc Việt không thể tàn phá Hoa Kỳ trong vòng nửa giờ, hoặc tiêu hủy các thành phố, giết một nửa dân số, nhưng với hỏa tiển nguyên tử, Liên Xô có thể làm được việc đó. Trung Quốc tuy chưa ngang tầm của Liên Xô vì ít vũ khí nguyên tử, nhưng lại đe dọa phần còn lại của Á châu vì ý hệ chính trị cứng rắn và vì dân số đông đảo của họ."(14 a)
Chẳng những thế, các chính trị gia Hoa Kỳ lúc đó còn đi xa hơn, cho rằng "hy sinh Việt Nam mới thật là đáng giá. Còn hơn là hao phí thêm nhiều sinh mạng người Mỹ và hàng tỷ mỹ kim để chống đỡ Việt Nam với chẳng có hy vọng thắng lợi, tại sao không thỏa thuận thua cuộc để đổi lấy sự mở cửa của Trung Quốc nhắm làm yếu đi kẻ thù thực sự là Liên Xô."(14b)
Chính vì vậy, Hoa Kỳ đã thay đổi chiến lược toàn cầu, bắt đầu rút lui khỏi Việt Nam và kiếm cách bắt tay với Trung Quốc. Bill Sullivan, nguyên là đại sứ Hoa Kỳ tại Lào, lúc đó là thứ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ đặc trách Đông Á và Thái Bình Dương, trong một cuộc phỏng vấn, đã cho biết kết quả cuộc chuyển hướng ngoại giao của Hoa Kỳ: "Làm cho người Trung Quốc tách rời khỏi Liên Xô và nghiêng về phía chúng ta, đối với chúng ta còn quan trọng hơn nhiều việc chiến thắng ở Việt Nam." (14b)
Sự giao thiệp giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc bắt đầu bằng cuộc đấu bóng bàn giao hữu giữa hai đội bóng bàn Hoa Kỳ và Trung Quốc ngày 14-4-1971 dưới sự tiếp đón và chứng kiến của thủ tướng Châu Ân Lai tại Đại sảnh đường Nhân dân Bắc Kinh. Sau đó, ngày 9-7-1971, Henri Kissinger, cố vấn an ninh quốc gia của tổng thống Hoa Kỳ, có mặt ở Bắc Kinh và được Châu Ân Lai tiếp kiến.
Ngày 25-10-1971, Đại hội đồng thứ 26 của Liên Hiệp Quốc biểu quyết chấp nhận CHNDTH được giữ ghế đại biểu Trung Quốc thay cho Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) mà không bị Hoa Kỳ phủ quyết, nghĩa là Hoa Kỳ bỏ rơi Đài Loan, đồng minh lâu năm của Hoa Kỳ, để bắt tay với CHNDTH. Cần để ý thêm là Trung Quốc là hội viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, có quyền bỏ phiếu phủ quyết những vần đề quan trọng đưa ra trước Liên Hiệp Quốc.
Sau đó, tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon viếng thăm Trung Quốc một tuần bắt đầu từ ngày 21-2-1972 mà Nixon cho rằng đây là “một tuần lễ sẽ làm thay đổi thế giới.”(15) Cuộc viếng thăm nầy đưa đến "Thông cáo chung Thượng Hải" ngày 28-2 theo đó hai bên đưa ra những quan điểm hoàn toàn khác nhau, chỉ trừ một điều là cùng nhau tôn trọng sự khác biệt giữa hai bên và hứa sẽ kiếm cách cải thiện bang giao song phương.
Như thế, rõ ràng Trung Quốc lợi dụng Bắc và Nam Việt Nam đang đánh nhau trong giai đoạn từ 1960 đến 1975 để đánh chiến hải đảo Hoàng Sa, mở đầu cuộc bành trướng xuống phương nam. Đồng thời cũng nhờ chiến tranh Việt Nam lần nầy, Trung Quốc bắt tay được với Hoa Kỳ, được vào Liên Hiệp Quốc, được giữ ghế thường trực tại Hội đồng bảo an. Từ đó, quan trọng nhất là Trung Quốc thoát ra khỏi tình trạng bị cô lập, mở mang giao dịch với các nước trên thế giới và càng ngày càng thăng tiến trong sinh hoạt chính trị quốc tế.
KẾT LUẬN
Trong chiến tranh ba mươi năm vừa qua trên đất nước Việt Nam (1946-1975), có thể nói Trung Quốc đã hưởng lợi tối đa nhờ Trung Quốc đã viện trợ võ khí, đạn dược, quân trang quân dụng và làm cố vấn về chính trị lẫn quân sự cho VNDCCH từ 1950 trở đi.
Thành lập năm 1949, tuy vẫn còn là một nước lạc hậu về kinh tế, nhờ chiến tranh Việt Nam, Trung Quốc được xếp ngang hàng với các cường quốc Tây phương năm 1954, bắt tay với Hoa Kỳ và vào Liên Hiệp Quốc năm 1971, giải tỏa thế cô lập, và thăng tiến nhanh chóng trên đường giao thương quốc tế.
Riêng đối với Việt Nam, cả ngàn năm qua, các triều đại Trung Quốc phải đem binh hùng tướng mạnh để chinh phục nước Việt, nhưng đều thất bại. Người Việt luôn luôn bảo vệ chủ quyền đất nước, gìn giữ độc lập dân tộc. Từ năm 1950, khi cầu viện Trung Quốc để chống Pháp, Hồ Chí Minh và đảng CSĐD đã tự hạ mình làm phiên thuộc, thần phục Trung Quốc, hoàn toàn vâng lệnh Trung Quốc, từ những phong trào chính trị như rèn cán chỉnh quân (chỉnh huấn), cải cách ruộng đất (thổ cải), đến những chiến dịch hành quân, kể cả chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.(16) Chưa bao giờ nhà cầm quyền Trung Quốc kiểm soát Việt Nam chặt chẽ như vậy.
Cũng cả hàng ngàn năm qua, biết bao nhiêu lần Trung Quốc muốn chinh phục Việt Nam để tìm đường xuống Đông Nam Á, nhưng đều bị đẩy lui. Cho đến thế kỷ 20, vì thần phục Trung Quốc, Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng và đảng Lao Động đã ký công hàm tán thành quyết định về lãnh hải của Trung Quốc và triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc, mở đường cho Trung Quốc xuống phía nam. Sau đó, năm 1974 Bắc Việt và đảng Lao Động đồng lõa làm ngơ để Trung Quốc thôn tính hải đảo Hoàng Sa, cam tâm nhìn người nước ngoài xâu xé một phần lãnh thổ của tổ quốc Việt Nam kính yêu.
Cả ngàn năm qua, các vua chúa Trung Hoa không chiếm được một tấc đất của Việt Nam, không làm sụp đổ ải Nam Quan. Chỉ đến thế kỷ 20, CSTQ chiếm đất, chiếm đảo của chúng ta, không phải do tài ba của CSTQ, mà do Hồ Chí Minh và tập đoàn lãnh đạo CSVN, rước voi về giày mộ tổ, đúng theo kế hoạch thâm độc của cường quyền phương Bắc là “dĩ Việt chế Việt” (dùng người Việt chế ngự người Việt).
Như thế, trong chiến tranh ba mươi năm vừa qua trên đất nước Việt Nam, Hồ Chí Minh và đảng CSĐD nhờ CSTQ để đánh Pháp, không khác gì nhờ một kẻ cướp đuổi một tên trộm. Tên trộm bỏ chạy thì kẻ cướp vào nhà. Đây không phải chỉ là những sai lầm chiến lược của Hồ Chí Minh và đảng Lao Động Việt Nam, mà đây chính là tội lỗi phản quốc lớn nhất trong lịch sử Việt Nam từ cổ chí kim. Những tội lỗi nầy hiện đưa đến những hậu quả tai hại mà người Việt Nam ngày nay đang phải đối mặt.
TRẦN GIA PHỤNG(21-12-2008)
CHÚ THÍCH
1. Trung Tâm Từ Điển Bách Khoa Quân Sự, Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, Hà Nội: Nxb. Quân Đội Nhân Dân, 2004, tt. 503-504.
2. Tiền Giang, “Chu Ân Lai và Hội nghị Genève”, Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, chương 27, bản dịch của Tam Dương, "Hội nghị Liễu Châu then chốt", tạp chí Thế Kỷ 21, California: số 219 (7-2007) và số 220 (8-2007).
3. Chính Đạo, Việt Nam niên biểu 1939-1975, Tập I-C: 1955-1963, Houston: Nxb. Văn Hoá, 2000, tt. 152, 180.
4. Qiang Zhai, China & Vietnam Wars, 1950-1975, The University of North Carolina Press, 2000, tr. 13 (4a), tr. 17 (4b).
5. Bernard Fall, Le Viet-Minh, Paris: Max Leclerc et Compagnie, 1960, tr. 119.
6. Đoàn Thêm, Hai mươi năm qua, 1945-1964, Sài Gòn: 1965, California: Nxb Xuân Thu tái bản, không đề năm, tr. 62.
7. Qiang Zhai, sđd. tt. 29-31.
8. Chính Đạo, Việt Nam niên biểu 1939-1975, Tập B: 1947-1954, Houston: Nxb. Văn Hoá, 1997, tr. 334 (8a), tr. 370 (8b).
9. Henry Kissinger, White House Years, Toronto: Little, Brown and Company, 1979, tr. 1054.
10. Vũ Thư Hiên, Đêm giữa ban ngày (hồi ký chính trị của một người không làm chính trị), Nxb. Văn Nghệ, California, 1997, tr. 422, phần chú thích.
11. Thành Tín, Mặt thật, USA: Nxb. Saigon Press, 1993, tr. 102.
12. Hoàng Văn Chí, Từ thực dân đến cộng sản, [nguyên bản bằng Anh văn], bản dịch của Mạc Định, Paris: 1962, tr. 22.
13. Tiền Giang, báo đã dẫn.
14. Roger Warner, Shooting at the Moon [Bắn trăng], Steerforth Press, South Royalton, Vermont, 1996, tr. 333-334 (14a), 336 (14b).
15. John S. Bowman, tổng biên tập, The Vietnam War, Day by Day [Chiến tranh Việt Nam, việc từng ngày], Mallard Press, New York, 1989, tr. 190.
16. Được tin Pháp chiếm Điện Biên Phủ (ĐBP) ngày 22-11-1953, tướng Vi Quốc Thanh, đứng đầu bộ tư lệnh cố vấn quân sự Trung Quốc tại Việt Nam, một mặt yêu cầu VM đưa quân bao vây ĐBP, một mặt báo về Bắc Kinh. Bắc Kinh cho rằng chiến dịch ĐBP chẳng những quan trọng về quân sự và chính trị, mà còn ảnh hưởng quốc tế, nên hứa hẹn sẽ viện trợ cho VM tối đa để tấn công ĐBP. Từ đó, Bắc Kinh tăng viện võ khí, cao xạ, gởi cả những chuyên viên đào chiến hào đã có kinh nghiệm trong chiến tranh Triều Tiên sang giúp VM. Đồng thời Bắc Kinh và bộ tư lệnh cố vấn Trung Quốc chỉ huy thật sát chiến dịch ĐBP.(Qiang Zhai, sđd. tt. 46-49.)
Trần Gia Phụng
1.- TỔNG QUAN
Chiến tranh Việt Nam kéo dài trong 30 năm, từ 1946 đến 1975, có thể chia thành ba giai đoạn.
Giai đoạn thứ nhất từ 1946 đến 1949: Khi Pháp đưa quân tái chiếm Việt Nam, Hồ Chí Minh, mặt trận Việt Minh (VM) và chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) nhượng bộ và thỏa hiệp với Pháp, ký liên tiếp hai thỏa ước để duy trì quyền lực của VM và đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD). Tuy nhiên, Pháp không ngừng tiến quân và ép VM đến đường cùng. Hồ Chí Minh liền họp trung ương đảng CSĐD trong hai ngày 18 và 19-12-1946 tại Vạn Phúc (Hà Đông) để tham khảo. Cuộc họp đi đến quyết định tấn công Pháp vào tối 19-12-1946.(1) Thế là chiến tranh không tuyên chiến bùng nổ. Từ năm 1946 đến năm 1949, VM vừa đánh, vừa đàm, vừa trốn chạy lên miền rừng núi để chờ đợi thời cơ..
Giai đoạn thứ hai từ 1950 đến 1954: Trong cuộc tranh chấp tại Trung Quốc, Mao Trạch Đông và đảng Cộng Sản Trung Quốc (CSTQ) thành công. Tưởng Giới Thạch và Quốc Dân Đảng chạy ra Đài Loan. Mao Trạch Đông công bố thành lập chính thể Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (gọi tắt là Trung Quốc).
Hồ Chí Minh và VM cầu viện CSTQ. Nhờ sự giúp đỡ về mọi mặt của của Trung Quốc, VM phản công từ năm 1950 và cuối cùng chiến thắng năm 1954. Chẳng những VM, mà cả Việt Nam se phải trả giá cho sự cầu viện và chiến thắng nầy. Hiệp định Genève ngày 20-7-1954, chia hai đất nước ở sông Bến Hải, vùng vĩ tuyến 17. Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (tức VM cộng sản) ở miền Bắc, Quốc Gia Việt Nam (hậu thân là Việt Nam Cộng Hòa) ở miền Nam. Trước khi ký hiệp định Genève, VM đã đưa ra kế hoạch gài người ở lại miền Nam, trường kỳ mai phục để chống lại QGVN.(2)
Giai đoạn thứ ba từ 1960 đến 1975: Từ năm 1955, Bắc Việt bắt đầu kiếm cách gây hấn, đòi hỏi Nam Việt phải tổ chức tổng tuyển cử vào năm 1956 theo dự kiến trong điều 7 bản "Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương" ngày 21-7-1954. Cần chú ý, bản tuyên bố cuối cùng nầy không có chữ ký của bất cứ phái đoàn nào, kể cả phái đoàn VM tức VNDCCH.
Một bản tuyên bố không có chữ ký không thể là một văn bản pháp lý có tính cưỡng hành, mà chỉ có tính cách dự kiến tương lai mà thôi. Phái đoàn QGVN chẳng những không ký hiệp định Genève, mà còn không tham dự vào bản "Tuyên bố cuối cùng... ", nên tự cho rằng không bị ràng buộc vào điều 7 của bản tuyên bố nầy và không chấp nhận tổng tuyển cử.
Lấy lý do Nam Việt không chấp nhận tổng tuyển cử, Bắc Việt quyết định tấn công Nam Việt. Đầu tiên, Ban Bí thư Trung ương đảng Lao Động (LĐ, hậu thân của đảng CSĐD) ra chỉ thị ngày 24-5-1958, tổ chức học tập chủ thuyết Mác-Lê để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Bắc Việt và tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Nam Việt.
Vào cuối năm nầy, Lê Duẫn được bí mật gởi vào Nam để nghiên cứu tình hình. Khi trở ra Bắc, bản báo cáo của Lê Duẫn đã đưa đến quyết định của Uỷ ban Trung ương đảng LĐ tại hội nghị lần thứ 15 ở Hà Nội ngày 13-5-1959, theo đó đảng LĐ ra nghị quyết thống nhất đất nước (tức đánh chiếm miền Nam bằng võ lực) và đưa miền Bắc tiến lên xã hội chủ nghĩa. (Nghị quyết đăng trên Nhân Dân ngày 14-5-1959)
Nghị quyết trên đây được lập lại trong Đại hội 3 đảng LĐ, khai diễn từ ngày 5-9 đến ngày 10-9-1960 tại Hà Nội, mệnh danh là "Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà", đưa ra hai mục tiêu lớn của đảng LĐ là xây dựng miền Bắc tiến lên Xã hội chủ nghĩa và "giải phóng" miền Nam bằng võ lực. (3) Thế là chiến tranh tái phát từ năm 1960 đến năm 1975. Cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm Nam Việt ngày 30-4-1975.
Trong ba giai đoạn trên đây của cuộc chiến ba mươi năm ở Việt Nam, Trung Quốc đã giúp phía VM cộng sản từ giai đoạn thứ hai tức từ năm 1950 trở đi. Sự giúp đỡ của Trung Quốc cho phe cộng sản Việt Nam đã quá rõ ràng, không cần nhắc lại. Ở đây, chỉ xin thử bàn Trung Quốc đã hưởng lợi gì sau khi giúp phe CSVN thắng thế?
2.- TRONG GIAI ĐOẠN 1950-1954
An ninh biên giới nam Trung Quốc: Khi CHNDTH được thành lập ngày 1-10-1949, chiến tranh giữa VM và Pháp đã diễn ra được ba năm. Cuối năm 1949, Hồ Chí Minh gởi hai đại diện là Lý Bích Sơn và Nguyễn Đức Thủy đến Bắc Kinh xin viện trợ.(4a) Theo sự thỏa thuận giữa hai bên, chính phủ VNDCCH thừa nhận chính phủ CHNDTH ngày 15-1-1950. Ngay sau đó, CHNDTH công nhận trở lại chính phủ VNDCCH ngày 18-1-1950.
Ngày 30-1-1950, Hồ Chí Minh đến Bắc Kinh cầu viện. Sau đó, Hồ Chí Minh tiếp tục qua Liên Xô ngày 3-2-1950 để xin Liên Xô viện trợ, nhưng Joseph Stalin, lãnh tụ Liên Xô, trả lời với Hồ Chí Minh rằng việc giúp đỡ VM bước đầu là công việc của CHNDTH.( 4b) Nguyên lúc đó, Liên Xô mới ra khỏi thế chiến thứ hai, vừa lo tái thiết đất nước, vừa lo tổ chức thống trị các nước Đông Âu mà Liên Xô mới chiếm được sau thế chiến thứ hai, và Liên Xô ít có quyền lợi ở Viễn đông, nên Liên Xô ít chú trọng đến Việt Nam.
Ngày 17-2-1950, Hồ Chí Minh rời Moscow, trở về Bắc Kinh. Tại đây, một hiệp ước phòng thủ hỗ tương giữa VM và Trung Quốc được ký kết, theo đó hai bên hợp tác để tiễu trừ thổ phỉ (ám chỉ Quốc Dân Đảng Trung Hoa và biệt kích Pháp).(5) Hiệp ước nầy cho thấy rõ chủ đích phòng thủ biên giới của CHNDTH khi viện trợ cho VM.
Nguyên khi Cộng Sản Trung Quốc (CSTQ) chiếm được lục địa, thì Tưởng Giới Thạch và Quốc Dân Đảng Trung Hoa (QDĐTH) chạy ra Đài Loan, cố thủ ở đây. Ngoài ra, khoảng 30,000 quân QDĐTH tràn qua Việt Nam. Số quân nầy bị quân Pháp tước khí giới và tập trung ở vùng mỏ than Đông Triều.(6)
Cần chú ý, cuối năm 1949, đảo Hài Nam (ở gần Việt Nam) vẫn còn bất ổn. Cho đến ngày 1-5-1950, CSTQ mới đánh chiếm được đảo Hải Nam. Từ đó Hải Nam chính thức thuộc Trung Quốc, trở thành đặc khu trực thuộc tỉnh Quảng Đông của CHNDTH. Vì vậy, đảng CSTQ rất lo ngại về tình hình biên giới phía nam, sợ Hoa Kỳ hay Pháp giúp tàn quân QDĐTH trở về quấy phá biên giới phía NamTrung Quốc.
Trung Quốc gởi võ khí, đạn dược qua giúp VM chống Pháp để giữ yên và tạo một vùng trái độn giữa Việt Nam và nam Trung Quốc. Số võ khí, đạn dược nầy do quân QDĐTH bỏ lại lục địa trước khi tháo chạy ra Đài Loan. Chẳng những thế, đảng CSTQ còn gởi cố vấn chính trị và quân sự sang giúp VM.
Chính tướng Trần Canh (Chen Geng), một danh tướng thân cận của Mao Trạch Đông, được gởi sang làm cố vấn cho Hồ Chí Minh, đã giúp VM chiến thắng trận đầu tiên tại Đồng Khê ngày 16-9-1950. Đồng Khê ở phía nam Cao Bằng, phía bắc Thất Khê. (Thất Khê ở phía bắc Lạng Sơn).
Cũng nhờ chiến thuật công đồn đả viện do Trần Canh cố vấn, tại vùng Cao Bằng-Lạng Sơn, VM cử đại đoàn (sư đoàn) 308, trung đoàn 209 và một tiểu đoàn độc lập, mở hai trận phục kích riêng lẻ gần Đồng Khê, bắt được hai trung tá Lepage (8-10-1950) và Charton (10-10-1950).(7) Số tù binh Pháp bị bắt trong các trận nầy lên đến 4,000 binh sĩ, 354 hạ sĩ quan và 98 sĩ quan, trong đó có hai sĩ quan cấp trung tá.
Từ đây, VM làm chủ vùng Cao Bằng, Đồng Khê, Thất Khê, khai thông hoàn toàn khu vực biên giới giữa Trung Quốc và chiến khu Việt Bắc của VM, tạo một vùng an toàn cho VM dọc biên giới Việt Hoa, giúp việc chuyển vận hàng viện trợ của Trung Quốc cho VM được dễ dàng.
Sau trận nầy, Trung Quốc yên tâm rằng từ đây tàn quân QDĐTH không còn ẩn trốn trong vùng rừng núi biên giới giữa Trung Quốc với Việt Nam, liền rút đại tướng Trần Canh về Bắc Kinh tháng 11-1950. Lúc đó, chiến tranh Cao Ly (Triều Tiên) bùng nổ ngày 25-6-1950. Tháng 6-1951, Trần Canh được lãnh đạo Trung Quốc gởi qua cầm quân ở Cao Ly.
Như thế, đảng CSTQ giúp VM và đảng CSĐD chống Pháp ở Việt Nam năm 1950 trước tiên vì nhu cầu an ninh biên giới phía nam của Trung Quốc, như trước đây nhà Thanh gởi quân qua đánh Pháp ở Bắc Kỳ để cầm chân và không cho quân Pháp tràn qua biên giới của nhà Thanh.
Ngang hàng với các cường quốc: Đảng CSTQ làm chủ lục địa và thành lập chế độ CHNDTH ngày 1-10-1949. Lúc đó, Trung Quốc chỉ là một nước chậm tiến, nông nghiệp lạc hậu, bị các cường quốc tây phương xem nhẹ, chưa được cho thay thế ghế hội viên của Trung Hoa Dân Quốc ở Liên Hiệp Quốc.
Sau khi hiệp ước đình chiến ở Cao Ly (Triều Tiên) được ký kết tại Bàn Môn Điếm (Panmunjon) ngày 27-7-1953, và khi chiến tranh Việt Nam càng ngày càng quyết liệt, Liên Xô đề nghị với Hoa Kỳ, Anh, Pháp họp cùng Trung Quốc vào tháng 8-1953 để giải quyết những tranh chấp còn lại ở Triều Tiên và chiến tranh Việt Nam. Đề nghị nầy bị tam cường tây phương bác bỏ, vì cả ba nước không thừa nhận Trung Quốc là một cường quốc ngang hàng với họ.(8a)
Tháng 2-1954, Liên Xô lập lại ý kiến nầy. Trước tình hình ở Đông Dương càng ngày càng xấu về phía quân đội Liên Hiệp Pháp và càng ngày càng thắng thế về phía bộ đội VM, Hoa Kỳ, Anh, Pháp đành phải chấp nhận mời Trung Quốc đến họp để giải quyết chuyện Đông Dương.( 8b)
Dầu vậy, các nước Tây phương vẫn chưa xem trọng Trung Quốc. Trưởng phái đoàn Hòa Kỳ đầu tiên tại hội nghị Genève là ngoại trưởng John Foster Dulles. Khi gặp trưởng phái đoàn Trung Quốc tại Genève là thủ tướng kiêm ngoại trưởng Châu Ân Lai, John Foster Dulles vẫn không thèm bắt tay xã giao.(9)
Như thế, từ một nước mới được thành lập, kinh tế lạc hậu, nhờ chiến tranh Việt Nam, Trung Quốc được ngồi ngang hàng với các cường quốc Tây phương tại hội nghị Genève. Đây là một thắng lợi ngoại giao quan trọng của Trung Quốc mà Trung Quốc không đóng góp xương máu trên chiến trường.
Trong sách Đêm giữa ban ngày, tác giả Vũ Thư Hiên viết rằng trong chiến tranh chống lại miền Nam từ năm 1960, Lê Duẫn, bí thư thứ nhất đảng LĐ (năm 1976 đổi là tổng bí thư), đã từng nói: "Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc."(10) Thật ra, ngay từ năm 1950, VM cũng đã đánh cho Trung Quốc.
Cố vấn hay chỉ huy: Vào thế kỷ 19, Pháp đến xâm lăng và bảo hộ Việt Nam. Nước Pháp xa Việt Nam, nằm ở miền ôn đới. Người Pháp thuộc chủng tộc da trắng, chịu ảnh hưởng của nền văn hóa và văn minh khác hẳn người Việt. Người Pháp đến Việt Nam để khai thác và bóc lột, nhưng người Pháp không thích hợp với phong thổ Việt Nam, nên người Pháp ít ở lại Việt Nam.
Sau thế chiến thứ hai tức sau năm 1945, tuy Pháp muốn tái chiếm Việt Nam, nhưng người Việt Nam luôn luôn có tinh thần độc lập, sẵn sàng đứng lên chống Pháp, như trước đây đã từng chiến đấu chống Pháp. Cuộc kháng chiến có thể khó khăn nhưng trào lưu chung trên thế giới lúc đó là giải trừ thuộc địa, nên trước sau gì nước ta cũng có thể tự lực đánh đuổi được người Pháp, mà không nhất thiết phải dựa vào Trung Quốc mới có thể thành công. Các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm trong lịch sử trước đây rất cam khổ, nhưng dân tộc Việt luôn luôn tự lực bảo vệ nền độc lập dân tộc mà không cần ngoại quốc viện trợ. Còn những lần các triều đại Việt Nam nhờ đến Trung Quốc, đều bị Trung Quốc xâm lăng. Ví dụ cuối đời Trần và cuối đời Lê là những bài học rõ nét nhất.
Trong sách Mặt thật, tác giả Thành Tín, tức Bùi Tín, nguyên đại tá bộ đội cộng sản, nguyên phó tổng biên tập báo Nhân Dân, đã viết: “...Nếu như hồi ấy đường lối đấu tranh đại loại như của cụ Phan [Châu Trinh] đề xướng được chấp nhận và thành hiện thực thì đất nước ta có thể khác hẳn hiện nay, vừa có độc lập thống nhất, có dân chủ và phát triển, có thể tránh được chiến tranh và tránh bị cỗ máy nghiền mà chủ nghĩa Staline, chủ nghĩa Mao đã đưa đến thông qua đảng cộng sản với biết bao hậu quả nặng nề mà chưa biết đến bao giờ mới khắc phục được...” (11)
Lịch sử bang giao Việt Hoa cho thấy rằng các nhà cầm quyền Trung Quốc nguy hiểm không kém gì thực dân Pháp, nếu không muốn nói là nguy hiểm hơn. Bằng chứng là vào thế kỷ 15, nhà Minh xâm lăng, khai thác và bóc lột Đại Việt tàn bạo không khác gì thực dân Pháp (xin xem Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi). Nhà Minh còn rất thâm độc, tịch thu hết sách vở, tài liệu, bia đá, nhân tài của Đại Việt đem về Trung Hoa, nghĩa là nhà Minh chủ trương tiêu diệt toàn bộ văn hóa Đại Việt.
Từ thời cổ xưa, các triều đại quân chủ Trung Quốc không ngừng bành trướng lãnh thổ. Trung Quốc đã xâm chiếm và đồng hóa tất cả các nước chung quanh Trung Quốc, như Mãn Châu, Tân Cương, Mông Cổ, Tây Tạng, Vân Nam, nhưng Trung Quốc chỉ xâm lăng Việt Nam chứ không xâm chiếm được Việt Nam vĩnh viễn.
Đối với Việt Nam, Trung Quốc luôn luôn tự tôn, cho rằng Việt Nam là phiên thuộc của Trung Quốc. Tác giả Sở Cuồng Lê Dư kể lại rằng, ngay cả nhà cách mạng Tôn Dật Tiên (Trung Quốc) cũng đã nói với chính khách Nhật Bản là tử tước Khuyển Dưỡng Nghị, tức Inukai Ki, rằng: “Người Việt Nam vốn nô lệ căn tính. Ngày xưa họ bị chúng tôi đô hộ, ngày nay họ bị Pháp đô hộ. Dân tộc ấy không có tương lai.” (12) Dầu Tôn Dật Tiên phát biểu như thế, Việt Nam là nước duy nhất nằm sát Trung Quốc và kháng cự lại được nền đô hộ của Trung Quốc.
Người Trung Quốc thuộc chủng tộc da vàng, có nền văn hóa và văn minh gần giống người Việt. Vì vậy, khác với người Pháp, người Trung Quốc rất dễ hòa lẫn với người Việt, nghĩa là người Trung Quốc đến Việt Nam, và có thể ở lại sinh sống tại Việt Nam.
Dưới thời quân chủ, khoảng từ 2 đến 4 năm, do yếu thế, triều đình Việt cử sứ thần sang Trung Hoa triều cống một lần, nhưng vua nước Việt, tức nguyên thủ quốc gia, chưa bao giờ sang Bắc Kinh bệ kiến các hoàng đế Trung Hoa, trừ lần Lê Chiêu Thống lưu vong năm 1789, và Phạm Công Trị giả vua Quang Trung sang Thanh năm 1790.
Trong khi đó, từ năm 1950 đến năm 1954, Hồ Chí Minh, nguyên thủ nhà nước VNDCCH, bốn lần sang Bắc Kinh hội kiến các lãnh tụ CSTH để xin cầu viện. Đó là các lần: 1) Đến Bắc Kinh 30-1-1950 rồi qua Moscow. 2) Đến Nam Ninh ngày 5-2-1951. 3) Đến Bắc Kinh cuối tháng 9-1952, rồi đi Moscow. 4) Đến Bắc Kinh cuối tháng 3-1954, rồi đi Moscow.
Ngang nhiên hơn nữa, năm 1954, Châu Ân Lai gọi Hồ Chí Minh sang Liễu Châu nói là hội họp và thảo luận, nhưng thực chất là ra lệnh cho Hồ Chí Minh phải ký hiệp định Genève chia hai nước Việt Nam. Thế là Hồ Chí Minh đành nghe theo.( 13) Chưa có thời đại nào mà chính quyền Trung Hoa chi phối mạnh mẽ, gần như chỉ huy nhà nước Việt Nam như CHNDTH đối với VNDCCH.
2.- TRONG GIAI ĐOẠN 1960-1975
Trung Quốc xâm lăng Việt Nam: Sau khi nhờ CSTQ để chống Pháp, nhất là chuẩn bị cầu viện để tiến đánh miền Nam, đương nhiên VNDCCH phải biết điều với Trung Quốc. Sự biết điều nầy thấy rõ qua công hàm ngày 14-9-1958 do Phạm Văn Đồng, thủ tướng Bắc Việt ký, tán thành quyết định về lãnh hải của Trung Quốc và triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc. Phạm Văn Đồng ký công hàm trên phải được sự chuẩn thuận của Hồ Chí Minh và bộ chính trị đảng Lao Động.
Trong khi giúp đỡ Bắc Việt để tiến đánh Nam Việt, Trung Quốc theo dõi diễn tiến tình hình chiến tranh Việt Nam, sẵn sàng chuẩn bị ra tay để thủ lợi. Ngày 27-1-1973, tại Paris bốn bên lâm chiến ở Việt Nam (Việt Nam Cộng Hòa, Hoa Kỳ, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam) ký kết “Hiệp định chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam”, theo đó Hoa Kỳ rút quân hoàn toàn ra khỏi Việt Nam.
Đây là thời cơ thuận tiện để Trung Quốc ra tay, vì Hoa Kỳ rút đi, VNCH bận rộn một mình chống đỡ những cuộc tấn công của VNDCCH và MTDTGPMN. Trung Quốc liền đưa hạm đội hùng hậu đánh chiếm hải đảo Hoàng Sa của VNCH. Biết rằng khó thắng, nhưng Hải quân VNCH do Ngụy Văn Thà chỉ huy, cương quyết bảo vệ quê hương, tiếp nối truyền thống anh dũng của tổ tiên chúng ta.
Ngụy Văn Thà và đồng đội hy sinh. Trung Quốc một lần nữa xâm lăng Việt Nam. Bắc Việt cộng sản im lặng, không lên tiếng. Đây là khởi đầu của thời kỳ Trung Quốc tiến xuống các hải đảo phía nam.
Trung Quốc bắt tay với Hoa Kỳ và vào Liên Hiệp Quốc: Sau hiệp định Genève (20-7-1954), Hoa Kỳ vào Việt Nam nhắm mục đích giúp Nam Việt chận đứng sự bành trướng của khối cộng sản. Sau một thời gian có mặt tại Việt Nam, từ thập niên 60, Hoa Kỳ nhận ra hai điều:
Thứ nhất, các nước cộng sản không phải là một khối chặt chẽ, mà họ là những thực thể riêng biệt, với những quyền lợi mâu thuẫn nhau khá trầm trọng. Hoa Kỳ không bỏ lỡ cơ hội kiếm cách khai thác mâu thuẫn giữa các nước cộng sản, đúng ra là giữa Liên Xô và Trung Quốc để làm thế nào ly gián họ, và tránh cho họ xích lại gần nhau như trước. Vì vậy, người Hoa Kỳ bắt đầu xét duyệt lại chính sách toàn cầu của Hoa Kỳ.
Thứ hai, nếu Hoa Kỳ càng giúp VNCH (Nam Việt) chống lại VNDCCH (Bắc Việt), thì Liên Xô và Trung Quốc ở thế cùng liên kết để giúp Bắc Việt chống lại Hoa Kỳ, tức Hoa Kỳ tạo nên một hoàn cảnh thuận lợi cho Liên Xô và Trung Quốc tạm gác những mâu thuẫn song phương, để cùng nhau cứu giúp một nước cộng sản thứ ba. Nói cách khác, làm như thế, chẳng khác gì Hoa Kỳ tạo cơ hội cho hai nước Liên Xô và Trung Quốc xích lại với nhau.
Trên quan niệm địa lý chính trị học (geopolitics), vào cuối thập niên 60 và đầu thập niên 70, người Hoa Kỳ còn ngộ ra rằng "Bắc Việt không thể tàn phá Hoa Kỳ trong vòng nửa giờ, hoặc tiêu hủy các thành phố, giết một nửa dân số, nhưng với hỏa tiển nguyên tử, Liên Xô có thể làm được việc đó. Trung Quốc tuy chưa ngang tầm của Liên Xô vì ít vũ khí nguyên tử, nhưng lại đe dọa phần còn lại của Á châu vì ý hệ chính trị cứng rắn và vì dân số đông đảo của họ."(14 a)
Chẳng những thế, các chính trị gia Hoa Kỳ lúc đó còn đi xa hơn, cho rằng "hy sinh Việt Nam mới thật là đáng giá. Còn hơn là hao phí thêm nhiều sinh mạng người Mỹ và hàng tỷ mỹ kim để chống đỡ Việt Nam với chẳng có hy vọng thắng lợi, tại sao không thỏa thuận thua cuộc để đổi lấy sự mở cửa của Trung Quốc nhắm làm yếu đi kẻ thù thực sự là Liên Xô."(14b)
Chính vì vậy, Hoa Kỳ đã thay đổi chiến lược toàn cầu, bắt đầu rút lui khỏi Việt Nam và kiếm cách bắt tay với Trung Quốc. Bill Sullivan, nguyên là đại sứ Hoa Kỳ tại Lào, lúc đó là thứ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ đặc trách Đông Á và Thái Bình Dương, trong một cuộc phỏng vấn, đã cho biết kết quả cuộc chuyển hướng ngoại giao của Hoa Kỳ: "Làm cho người Trung Quốc tách rời khỏi Liên Xô và nghiêng về phía chúng ta, đối với chúng ta còn quan trọng hơn nhiều việc chiến thắng ở Việt Nam." (14b)
Sự giao thiệp giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc bắt đầu bằng cuộc đấu bóng bàn giao hữu giữa hai đội bóng bàn Hoa Kỳ và Trung Quốc ngày 14-4-1971 dưới sự tiếp đón và chứng kiến của thủ tướng Châu Ân Lai tại Đại sảnh đường Nhân dân Bắc Kinh. Sau đó, ngày 9-7-1971, Henri Kissinger, cố vấn an ninh quốc gia của tổng thống Hoa Kỳ, có mặt ở Bắc Kinh và được Châu Ân Lai tiếp kiến.
Ngày 25-10-1971, Đại hội đồng thứ 26 của Liên Hiệp Quốc biểu quyết chấp nhận CHNDTH được giữ ghế đại biểu Trung Quốc thay cho Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) mà không bị Hoa Kỳ phủ quyết, nghĩa là Hoa Kỳ bỏ rơi Đài Loan, đồng minh lâu năm của Hoa Kỳ, để bắt tay với CHNDTH. Cần để ý thêm là Trung Quốc là hội viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, có quyền bỏ phiếu phủ quyết những vần đề quan trọng đưa ra trước Liên Hiệp Quốc.
Sau đó, tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon viếng thăm Trung Quốc một tuần bắt đầu từ ngày 21-2-1972 mà Nixon cho rằng đây là “một tuần lễ sẽ làm thay đổi thế giới.”(15) Cuộc viếng thăm nầy đưa đến "Thông cáo chung Thượng Hải" ngày 28-2 theo đó hai bên đưa ra những quan điểm hoàn toàn khác nhau, chỉ trừ một điều là cùng nhau tôn trọng sự khác biệt giữa hai bên và hứa sẽ kiếm cách cải thiện bang giao song phương.
Như thế, rõ ràng Trung Quốc lợi dụng Bắc và Nam Việt Nam đang đánh nhau trong giai đoạn từ 1960 đến 1975 để đánh chiến hải đảo Hoàng Sa, mở đầu cuộc bành trướng xuống phương nam. Đồng thời cũng nhờ chiến tranh Việt Nam lần nầy, Trung Quốc bắt tay được với Hoa Kỳ, được vào Liên Hiệp Quốc, được giữ ghế thường trực tại Hội đồng bảo an. Từ đó, quan trọng nhất là Trung Quốc thoát ra khỏi tình trạng bị cô lập, mở mang giao dịch với các nước trên thế giới và càng ngày càng thăng tiến trong sinh hoạt chính trị quốc tế.
KẾT LUẬN
Trong chiến tranh ba mươi năm vừa qua trên đất nước Việt Nam (1946-1975), có thể nói Trung Quốc đã hưởng lợi tối đa nhờ Trung Quốc đã viện trợ võ khí, đạn dược, quân trang quân dụng và làm cố vấn về chính trị lẫn quân sự cho VNDCCH từ 1950 trở đi.
Thành lập năm 1949, tuy vẫn còn là một nước lạc hậu về kinh tế, nhờ chiến tranh Việt Nam, Trung Quốc được xếp ngang hàng với các cường quốc Tây phương năm 1954, bắt tay với Hoa Kỳ và vào Liên Hiệp Quốc năm 1971, giải tỏa thế cô lập, và thăng tiến nhanh chóng trên đường giao thương quốc tế.
Riêng đối với Việt Nam, cả ngàn năm qua, các triều đại Trung Quốc phải đem binh hùng tướng mạnh để chinh phục nước Việt, nhưng đều thất bại. Người Việt luôn luôn bảo vệ chủ quyền đất nước, gìn giữ độc lập dân tộc. Từ năm 1950, khi cầu viện Trung Quốc để chống Pháp, Hồ Chí Minh và đảng CSĐD đã tự hạ mình làm phiên thuộc, thần phục Trung Quốc, hoàn toàn vâng lệnh Trung Quốc, từ những phong trào chính trị như rèn cán chỉnh quân (chỉnh huấn), cải cách ruộng đất (thổ cải), đến những chiến dịch hành quân, kể cả chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.(16) Chưa bao giờ nhà cầm quyền Trung Quốc kiểm soát Việt Nam chặt chẽ như vậy.
Cũng cả hàng ngàn năm qua, biết bao nhiêu lần Trung Quốc muốn chinh phục Việt Nam để tìm đường xuống Đông Nam Á, nhưng đều bị đẩy lui. Cho đến thế kỷ 20, vì thần phục Trung Quốc, Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng và đảng Lao Động đã ký công hàm tán thành quyết định về lãnh hải của Trung Quốc và triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc, mở đường cho Trung Quốc xuống phía nam. Sau đó, năm 1974 Bắc Việt và đảng Lao Động đồng lõa làm ngơ để Trung Quốc thôn tính hải đảo Hoàng Sa, cam tâm nhìn người nước ngoài xâu xé một phần lãnh thổ của tổ quốc Việt Nam kính yêu.
Cả ngàn năm qua, các vua chúa Trung Hoa không chiếm được một tấc đất của Việt Nam, không làm sụp đổ ải Nam Quan. Chỉ đến thế kỷ 20, CSTQ chiếm đất, chiếm đảo của chúng ta, không phải do tài ba của CSTQ, mà do Hồ Chí Minh và tập đoàn lãnh đạo CSVN, rước voi về giày mộ tổ, đúng theo kế hoạch thâm độc của cường quyền phương Bắc là “dĩ Việt chế Việt” (dùng người Việt chế ngự người Việt).
Như thế, trong chiến tranh ba mươi năm vừa qua trên đất nước Việt Nam, Hồ Chí Minh và đảng CSĐD nhờ CSTQ để đánh Pháp, không khác gì nhờ một kẻ cướp đuổi một tên trộm. Tên trộm bỏ chạy thì kẻ cướp vào nhà. Đây không phải chỉ là những sai lầm chiến lược của Hồ Chí Minh và đảng Lao Động Việt Nam, mà đây chính là tội lỗi phản quốc lớn nhất trong lịch sử Việt Nam từ cổ chí kim. Những tội lỗi nầy hiện đưa đến những hậu quả tai hại mà người Việt Nam ngày nay đang phải đối mặt.
TRẦN GIA PHỤNG(21-12-2008)
CHÚ THÍCH
1. Trung Tâm Từ Điển Bách Khoa Quân Sự, Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, Hà Nội: Nxb. Quân Đội Nhân Dân, 2004, tt. 503-504.
2. Tiền Giang, “Chu Ân Lai và Hội nghị Genève”, Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, chương 27, bản dịch của Tam Dương, "Hội nghị Liễu Châu then chốt", tạp chí Thế Kỷ 21, California: số 219 (7-2007) và số 220 (8-2007).
3. Chính Đạo, Việt Nam niên biểu 1939-1975, Tập I-C: 1955-1963, Houston: Nxb. Văn Hoá, 2000, tt. 152, 180.
4. Qiang Zhai, China & Vietnam Wars, 1950-1975, The University of North Carolina Press, 2000, tr. 13 (4a), tr. 17 (4b).
5. Bernard Fall, Le Viet-Minh, Paris: Max Leclerc et Compagnie, 1960, tr. 119.
6. Đoàn Thêm, Hai mươi năm qua, 1945-1964, Sài Gòn: 1965, California: Nxb Xuân Thu tái bản, không đề năm, tr. 62.
7. Qiang Zhai, sđd. tt. 29-31.
8. Chính Đạo, Việt Nam niên biểu 1939-1975, Tập B: 1947-1954, Houston: Nxb. Văn Hoá, 1997, tr. 334 (8a), tr. 370 (8b).
9. Henry Kissinger, White House Years, Toronto: Little, Brown and Company, 1979, tr. 1054.
10. Vũ Thư Hiên, Đêm giữa ban ngày (hồi ký chính trị của một người không làm chính trị), Nxb. Văn Nghệ, California, 1997, tr. 422, phần chú thích.
11. Thành Tín, Mặt thật, USA: Nxb. Saigon Press, 1993, tr. 102.
12. Hoàng Văn Chí, Từ thực dân đến cộng sản, [nguyên bản bằng Anh văn], bản dịch của Mạc Định, Paris: 1962, tr. 22.
13. Tiền Giang, báo đã dẫn.
14. Roger Warner, Shooting at the Moon [Bắn trăng], Steerforth Press, South Royalton, Vermont, 1996, tr. 333-334 (14a), 336 (14b).
15. John S. Bowman, tổng biên tập, The Vietnam War, Day by Day [Chiến tranh Việt Nam, việc từng ngày], Mallard Press, New York, 1989, tr. 190.
16. Được tin Pháp chiếm Điện Biên Phủ (ĐBP) ngày 22-11-1953, tướng Vi Quốc Thanh, đứng đầu bộ tư lệnh cố vấn quân sự Trung Quốc tại Việt Nam, một mặt yêu cầu VM đưa quân bao vây ĐBP, một mặt báo về Bắc Kinh. Bắc Kinh cho rằng chiến dịch ĐBP chẳng những quan trọng về quân sự và chính trị, mà còn ảnh hưởng quốc tế, nên hứa hẹn sẽ viện trợ cho VM tối đa để tấn công ĐBP. Từ đó, Bắc Kinh tăng viện võ khí, cao xạ, gởi cả những chuyên viên đào chiến hào đã có kinh nghiệm trong chiến tranh Triều Tiên sang giúp VM. Đồng thời Bắc Kinh và bộ tư lệnh cố vấn Trung Quốc chỉ huy thật sát chiến dịch ĐBP.(Qiang Zhai, sđd. tt. 46-49.)
Ngăn Chận Biểu Tình?
Trần Khải Không phải tự nhiên mà ông Thủ Tướng CSVN tiên đoán rằng năm 2009 sẽ là năm nhiều gay go, khó khăn để rồi ra chỉ thị cho ngành công an là phải cấm ngặt biểu tình, một hiện tượng đã xảy ra trong các năm gần đây do công nhân đình công, dân oan khiếu kiện đòi đất và mới năm nay là giaó dân Công Giaó đòi đất. Tình hình kinh tế suy sụp hơn, tất nhiên các căng thẳng sẽ dễ dàng bùng nổ hơn.
Nhưng câu hỏi cần đặt ra là, biểu tình là một quyền tự nhiên của con người để gây chú ý về các nỗi oan ức, tại sao lại ngăn chận? Và khi ngăn chận như thế, phảỉ chăng là muốn dẹp hết mọi tiếng nói oan ức, bịt cho kín bưng các lời ta thán?
Thêm nữa, chúng ta có thể thấy một khía cạnh khác, rằng tình hình nhà nứơc CSVN nhượng đất, nhượng đảo không còn giấu nữa được, vì cuộc cách mạng thông tin Internet đã đưa các thông tin naỳ đi khắp nơi, thì các cuộc biểu tình tương lai hẳn là sẽ nhiều sức mạnh vô lường, vì tình cảm giữ đất, giữ đảo sẽ là chất keo nối kết tất cả các thành phần dân tộc, chứ không còn là tiếng nói riêng của một thành phần nào hết.
Vì thực tế trong quá khứ, những cuộc biểu tình hàng chục ngàn người của công nhân, cả ngàn người của phong trào dân oan, và nhiều ngàn giaó dân tại nhiều nơi vẫn không làm cho chế độ CSVN lay động. Nhưng, nếu cuộc biểu tình đòi ải Nam Quan, đòi chiếm lại Hoàng Sa, đòi giữ chặt Trường Sa bùng nổ, thì đây sẽ là khởi đầu cho một ngòi nổ cho quả bom nguyên tử trong lòng người, vì mất đất, mất đảo cũng có nghĩa là nhà nứớc và Đảng CSVN hoàn toàn không còn tính khả tín nào hết, ngay cả đối với các cán bộ, công nhân viên và bộ đội CSVN.
Thêm nữa, biểu tình để đòi giữ đất, giữ đảo có thể sẽ nhanh chóng phựt lửa như chaý rừng, và không ai có thể ngăn nổi nữa... Đó là viễn ảnh mà Đảng CSVN lo sợ nhất, vì giây phút đó, có thể chính lực lượng quân đội CSVN sẽ quay súng lại vây bắt chính những người đã cắt đất, nhượng đảo... Nếu suy luận naỳ đúng, có thể rằng cái chết của Tưoơng Công An Thi Văn Tám mấy tuần trứớc đây là để bưng bít, và dập tắt những chiến binh, công an có suy tư độc lập dân tộc?
Bản tin từ thông tấn nhà nứơc “Cổng TTĐT Chính phủ” hôm 22-12-2008, nhan đề “Không để xảy ra biểu tình, bạo loạn, khủng bố” đã ghi lời chỉ thị của Thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng giao cho ngành Công an trong năm 2009, trong đó là “Không để xảy ra biểu tình, bạo loạn, khủng bố, bảo đảm an toàn các sự kiện lớn trong năm...”
Bản tin còn cho thấy tính trong năm tới giờ, “Năm 2008, lực lượng công an đã điều tra đề nghị truy tố hơn 670 vụ liên quan đến xâm phạm an ninh quốc gia.”
Như thế, nghĩa là trung bình mỗi ngày có 2 “vụ liên quan đến xâm phạm an ninh quốc gia.”
Bản tin nhà nước cho biết ông Dũng nói như thế trong Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 64 tổ chức tại TP. Sài Gòn sáng 22/12, và chỉ thị công an, “ngành phải làm tốt vai trò nòng cốt trong việc đấu tranh và phòng chống tội phạm, chủ động nắm chắc tình hình, phát hiện sớm mầm mống tội phạm đối lập để xử lý kịp thời, không để xảy ra biểu tình, bạo loạn, khủng bố, bảo đảm an toàn các sự kiện, các hội nghị lớn trong năm.”
Đặc biệt, Đài VOA trong bản tin ngày 23-12-2008 ghi nhận lời ông Dũng nhìn nhận năm 2009 sẽ là rất gay go, “Thủ Tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng cảnh báo trước các viên chức cấp cao của lực lượng công an cảnh sát rằng 2009 sẽ là một năm kinh tế đầy khó khăn và ngăn chặn các cuộc biểu tình sẽ là một trong những vai trò nòng cốt của lực lượng này.
Hãy nghĩ thêm một diễn tiến mới: trong thời gian vài năm qua, nhiều nhà dân chủ đã treo truyyền đơn kêu gọi giữ đảo, giữ đất, nhiều đảng phái (gần nhất tuần này, là Đảng DCND) thả truyền đơn theo bong bóng bay để đòi gìn giữ cõi bờ... Cuộc chiến vì dân chủ thực sự không còn nằm ở bàn phím máy điện toán... mà đã ra tận đường phố. Như thế, nếu trận lửa rừng dân chủ bắt đầu mời gọi được chính các giới quân đội, công an, cán bộ... thì chế độ CSVN không thể minh giaỉ gì nổi trứơc các tội quá lớn khi làm co cụm mất lãnh thổ...
Tuần naỳ, trang web http://x-cafevn.org đã đưa lên lời kêu gọi, “Kêu Gọi Toàn Quốc Biểu Tình Phản Đối TQ Xâm Lược Tối Chủ Nhật 28/12/2008...”
Và khi tuổi trẻ lên tiếng, chế độ bắt buộc phải hù dọa trứơc, bằng chỉ thị của Thủ Tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng, là phải “không để xảy ra biểu tình, bạo loạn, khủng bố, bảo đảm an toàn các sự kiện, các hội nghị lớn trong năm.”
Đặc biệt, lời kêu gọi biểu tình từ giới trẻ còn là đúng dịp có trận đá bóng. Trong lời kêu gọi từ các bạn trẻ “x-cà” trên, chúng ta đọc thấy tấm lòng sáng rực:
“Bác Ptttman và bác Cùi bắp đề nghị nên biểu tình vào tối 28/12. Thấy ý tưởng hay, tôi góp thêm vài ý kiến bổ sung và post vào đây cho các bác bàn. Đề nghị các bác admins/mods không chuyển bài qua bên Ngoại Giao - Biên Giới.
Tối chủ nhật, 28/12/2008 biểu tình trên cả nước phản đối TQ xâm lược.
Những lần gần đây chúng ta biểu tình ban ngày không thành công, lần này chúng ta hãy chuyển sang biểu tình vào ban đêm. Đội tuyển VN sẽ gặp Thái Lan ở trận chung kết lượt đi trên đất bạn vào ngày 24-12-08 và 4 ngày sau đó, ngày 28-12-08, sân Mỹ Đình sẽ lại có một ngày rực lửa vì những hy vọng mang tên VN trong trận chung kết lượt về. Khả năng thắng của VN rất lớn, nhưng thắng hay thua chúng ta cũng có thể xuống đường.
Với một rừng người như thế, tôi tin rằng không một lực lượng CA nào có thể dẹp được. Kế hoạch cụ thể như thế nào thì xin các bạn bàn tiếp.” (hết trích)
Tuổi trẻ Hà Nội đã lên tiếng. Và Thủ Tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng đã đáp lời bằng chỉ thị cho công an...
Tại sao nhà nứơc không ngầm khuyến khích giới trẻ biểu tình để giữ đất, giữ đảo? Không phải như thế, mới tạo được sức mạnh để kình chống nổi các áp lực từ nhà nứớc Bắc Kinh?
Và hãy nhớ, chỉ đơn giản đè bẹp, đàn áp thì về lâu dài sẽ có phản lực. Haỹ nhớ như thế.
TRẦN KHẢI
Trần Khải Không phải tự nhiên mà ông Thủ Tướng CSVN tiên đoán rằng năm 2009 sẽ là năm nhiều gay go, khó khăn để rồi ra chỉ thị cho ngành công an là phải cấm ngặt biểu tình, một hiện tượng đã xảy ra trong các năm gần đây do công nhân đình công, dân oan khiếu kiện đòi đất và mới năm nay là giaó dân Công Giaó đòi đất. Tình hình kinh tế suy sụp hơn, tất nhiên các căng thẳng sẽ dễ dàng bùng nổ hơn.
Nhưng câu hỏi cần đặt ra là, biểu tình là một quyền tự nhiên của con người để gây chú ý về các nỗi oan ức, tại sao lại ngăn chận? Và khi ngăn chận như thế, phảỉ chăng là muốn dẹp hết mọi tiếng nói oan ức, bịt cho kín bưng các lời ta thán?
Thêm nữa, chúng ta có thể thấy một khía cạnh khác, rằng tình hình nhà nứơc CSVN nhượng đất, nhượng đảo không còn giấu nữa được, vì cuộc cách mạng thông tin Internet đã đưa các thông tin naỳ đi khắp nơi, thì các cuộc biểu tình tương lai hẳn là sẽ nhiều sức mạnh vô lường, vì tình cảm giữ đất, giữ đảo sẽ là chất keo nối kết tất cả các thành phần dân tộc, chứ không còn là tiếng nói riêng của một thành phần nào hết.
Vì thực tế trong quá khứ, những cuộc biểu tình hàng chục ngàn người của công nhân, cả ngàn người của phong trào dân oan, và nhiều ngàn giaó dân tại nhiều nơi vẫn không làm cho chế độ CSVN lay động. Nhưng, nếu cuộc biểu tình đòi ải Nam Quan, đòi chiếm lại Hoàng Sa, đòi giữ chặt Trường Sa bùng nổ, thì đây sẽ là khởi đầu cho một ngòi nổ cho quả bom nguyên tử trong lòng người, vì mất đất, mất đảo cũng có nghĩa là nhà nứớc và Đảng CSVN hoàn toàn không còn tính khả tín nào hết, ngay cả đối với các cán bộ, công nhân viên và bộ đội CSVN.
Thêm nữa, biểu tình để đòi giữ đất, giữ đảo có thể sẽ nhanh chóng phựt lửa như chaý rừng, và không ai có thể ngăn nổi nữa... Đó là viễn ảnh mà Đảng CSVN lo sợ nhất, vì giây phút đó, có thể chính lực lượng quân đội CSVN sẽ quay súng lại vây bắt chính những người đã cắt đất, nhượng đảo... Nếu suy luận naỳ đúng, có thể rằng cái chết của Tưoơng Công An Thi Văn Tám mấy tuần trứớc đây là để bưng bít, và dập tắt những chiến binh, công an có suy tư độc lập dân tộc?
Bản tin từ thông tấn nhà nứơc “Cổng TTĐT Chính phủ” hôm 22-12-2008, nhan đề “Không để xảy ra biểu tình, bạo loạn, khủng bố” đã ghi lời chỉ thị của Thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng giao cho ngành Công an trong năm 2009, trong đó là “Không để xảy ra biểu tình, bạo loạn, khủng bố, bảo đảm an toàn các sự kiện lớn trong năm...”
Bản tin còn cho thấy tính trong năm tới giờ, “Năm 2008, lực lượng công an đã điều tra đề nghị truy tố hơn 670 vụ liên quan đến xâm phạm an ninh quốc gia.”
Như thế, nghĩa là trung bình mỗi ngày có 2 “vụ liên quan đến xâm phạm an ninh quốc gia.”
Bản tin nhà nước cho biết ông Dũng nói như thế trong Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 64 tổ chức tại TP. Sài Gòn sáng 22/12, và chỉ thị công an, “ngành phải làm tốt vai trò nòng cốt trong việc đấu tranh và phòng chống tội phạm, chủ động nắm chắc tình hình, phát hiện sớm mầm mống tội phạm đối lập để xử lý kịp thời, không để xảy ra biểu tình, bạo loạn, khủng bố, bảo đảm an toàn các sự kiện, các hội nghị lớn trong năm.”
Đặc biệt, Đài VOA trong bản tin ngày 23-12-2008 ghi nhận lời ông Dũng nhìn nhận năm 2009 sẽ là rất gay go, “Thủ Tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng cảnh báo trước các viên chức cấp cao của lực lượng công an cảnh sát rằng 2009 sẽ là một năm kinh tế đầy khó khăn và ngăn chặn các cuộc biểu tình sẽ là một trong những vai trò nòng cốt của lực lượng này.
Hãy nghĩ thêm một diễn tiến mới: trong thời gian vài năm qua, nhiều nhà dân chủ đã treo truyyền đơn kêu gọi giữ đảo, giữ đất, nhiều đảng phái (gần nhất tuần này, là Đảng DCND) thả truyền đơn theo bong bóng bay để đòi gìn giữ cõi bờ... Cuộc chiến vì dân chủ thực sự không còn nằm ở bàn phím máy điện toán... mà đã ra tận đường phố. Như thế, nếu trận lửa rừng dân chủ bắt đầu mời gọi được chính các giới quân đội, công an, cán bộ... thì chế độ CSVN không thể minh giaỉ gì nổi trứơc các tội quá lớn khi làm co cụm mất lãnh thổ...
Tuần naỳ, trang web http://x-cafevn.org đã đưa lên lời kêu gọi, “Kêu Gọi Toàn Quốc Biểu Tình Phản Đối TQ Xâm Lược Tối Chủ Nhật 28/12/2008...”
Và khi tuổi trẻ lên tiếng, chế độ bắt buộc phải hù dọa trứơc, bằng chỉ thị của Thủ Tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng, là phải “không để xảy ra biểu tình, bạo loạn, khủng bố, bảo đảm an toàn các sự kiện, các hội nghị lớn trong năm.”
Đặc biệt, lời kêu gọi biểu tình từ giới trẻ còn là đúng dịp có trận đá bóng. Trong lời kêu gọi từ các bạn trẻ “x-cà” trên, chúng ta đọc thấy tấm lòng sáng rực:
“Bác Ptttman và bác Cùi bắp đề nghị nên biểu tình vào tối 28/12. Thấy ý tưởng hay, tôi góp thêm vài ý kiến bổ sung và post vào đây cho các bác bàn. Đề nghị các bác admins/mods không chuyển bài qua bên Ngoại Giao - Biên Giới.
Tối chủ nhật, 28/12/2008 biểu tình trên cả nước phản đối TQ xâm lược.
Những lần gần đây chúng ta biểu tình ban ngày không thành công, lần này chúng ta hãy chuyển sang biểu tình vào ban đêm. Đội tuyển VN sẽ gặp Thái Lan ở trận chung kết lượt đi trên đất bạn vào ngày 24-12-08 và 4 ngày sau đó, ngày 28-12-08, sân Mỹ Đình sẽ lại có một ngày rực lửa vì những hy vọng mang tên VN trong trận chung kết lượt về. Khả năng thắng của VN rất lớn, nhưng thắng hay thua chúng ta cũng có thể xuống đường.
Với một rừng người như thế, tôi tin rằng không một lực lượng CA nào có thể dẹp được. Kế hoạch cụ thể như thế nào thì xin các bạn bàn tiếp.” (hết trích)
Tuổi trẻ Hà Nội đã lên tiếng. Và Thủ Tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng đã đáp lời bằng chỉ thị cho công an...
Tại sao nhà nứơc không ngầm khuyến khích giới trẻ biểu tình để giữ đất, giữ đảo? Không phải như thế, mới tạo được sức mạnh để kình chống nổi các áp lực từ nhà nứớc Bắc Kinh?
Và hãy nhớ, chỉ đơn giản đè bẹp, đàn áp thì về lâu dài sẽ có phản lực. Haỹ nhớ như thế.
TRẦN KHẢI
Dân Chủ giúp xã hội bình an
Ngô Nhân Dụng Trong thế kỷ vừa qua loài người đã trải qua nhiều cuộc cách mạng mà những người khởi xướng thường bắt đầu với các khát vọng hướng về điều thiện, nhưng kết quả lại mang lại thêm nhiều khổ đau cho nhân loại. Có những lý thuyết gia ước mong xây dựng thiên đường trên trái đất, nhưng cuối cùng xô đẩy nhân loại vào những cuộc chém giết. Có những người tự coi mình là có thiện chí, rồi xách dao xách súng đi giải phóng xã hội, khăng khăng bắt mọi người phải chịu cho mình giải phóng. Kết quả là họ gây ra những tàn hại không khác gì các bạo chúa khát máu. Bởi vì tự trong lòng họ, chính họ thiếu sáng suốt và không bình an.
Tục truyền khi chúa Giê Su ra đời ở Bethleem, những thiên thần đã hô to: Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm. Ðọc Kinh Bình An chúng ta thấy những lời cầu mong chính mình có khả năng đem tình yêu thương vào nơi oán thù, đối đãi với nhau với tấm lòng khoan dung, tha thứ. Nếu con người sống một mình thì không cần nhắc nhở tấm lòng khoan dung. Nhưng khi có 2 người sống chung, hay một xã hội sống chung, thì đức khoan dung, tha thứ là cách biểu lộ tình yêu thương cụ thể, nhờ thế mọi người cùng được hạnh phúc.
Nếu chúng ta có tôn giáo, tin tưởng ở một con đường cứu rỗi, chúng ta có thể tập sống đức khoan dung, tập cho đến mức mỗi lần phát tâm đều tự nhiên chỉ thấy tình thương yêu. Lúc đó chính lòng mình cũng bình an nhờ đức khoan dung.
Nhưng vượt trên các cá nhân, thì một tập thể, một gia đình, một xã hội, người ta phải làm gì để thể hiện đức khoan dung?
Loài người đã thử nghiệm nhiều phương pháp sống với nhau sao cho an lành. Không phải chỉ huấn luyện cho từng người nuôi lòng thiện, mà phải tạo cơ duyên cho cả xã hội gieo rắc được mầm thiện. Các chế độ chính trị từ xưa đã nuôi cao vọng đó. Có lúc một cách tổ chức xã hội đem lại kết quả tốt một thời gian, rồi lại sinh ra các biến chứng tai hại, phải tìm ra phương cách khác. Từ thế kỷ 18, và kéo dài cho tới bây giờ, một cách sống chung mang lại nhiều kết quả tốt cho xã hội chính là lối sống với các thủ tục gọi là dân chủ tự do.
Có nhiều thứ đáng nói về đặc tính của một chế độ dân chủ tự do, nhưng hôm nay ngày Giáng Sinh nên nói tới một điều thôi. Ðó là trong một xã hội dân chủ tự do chúng ta có thể sống khoan dung với nhau, dù còn nhiều cá nhân chưa tu thân cho đủ để chính họ biết sống khoan dung trong chính đời sống hàng ngày.
Nhiều chế độ độc tài cũng luôn rao giảng điều thiện, thí dụ như “xây dựng con người xã hội chủ nghĩa,” ngầm ý nói rằng có một mẫu người lý tưởng mà chế độ muốn ai cũng bắt chước. Nhưng kết quả lại khác, chính những kẻ đáng lẽ phải làm gương cho những người khác lấy làm mẫu mực, chính họ đã phạm những tội ác không thể tha thứ. Mà vì cần che giấu những lỗi lầm đó, những người này phải sống một cách giả trá. Hậu quả là cả xã hội chung quanh cũng phải tập sống giả trá. Cái ác đã mạo danh cái thiện, làm hủy hoại nền đạo lý chung mà một dân tộc đã xây dựng từ ngàn năm mới thành. Khi chúng ta khám phá ra không bao giờ nên truyền bá điều thiện bằng những phương tiện ác, như thù hận, chém giết, thì đã nhiều người bị chết oan, nhiều thế hệ sa ngã.
Gần đây trên tờ báo Tuổi Trẻ ở Sài Gòn, một người trẻ ký tên Phạm Duy Nghĩa đã bàn đến hiện tượng đó một cách dè dặt. Phạm Duy Nghĩa viết rằng: “Một dạo ngây thơ, chúng ta tưởng con người dưới chế độ chúng ta sẽ miễn dịch với cái ác, mầm mống tội phạm những tưởng chỉ có trong chế độ người bóc lột người.”
Khi nghe Phạm Duy Nghĩa nói đến “chế độ chúng ta” thì người đọc nghĩ anh muốn nói đến “Ðảng Cộng Sản chúng ta” chứ không phải là “Dân tộc Việt Nam chúng ta.” Nếu được tự do chọn lựa chắc người Việt Nam đủ khôn ngoan để biết rằng loài người không thể nào “miễn dịch,” hoàn toàn tránh được với những mầm mống ác. Nhưng chính những người cầm đầu đảng Cộng Sản, từ thời 1930 họ cũng biết điều đó. Nếu có những người ngây thơ, đó là một số những người nông dân chất phác mà lòng căm thù dễ bị kích thích để giúp đảng Cộng Sản làm những việc ác. Dân tộc Việt Nam không ngây thơ như vậy. Những chế độ đưa ra hình ảnh con người lý tưởng đều tự biến họ thành những tôn giáo mới, những người theo họ trở thành tín đồ, rồi đưa hình ảnh lãnh tụ lên như thờ phượng các giáo chủ; đó chính là những chế độ rất đáng nghi ngờ!
Chế độ dân chủ tự do không dựa trên những ảo tưởng như vậy. Chế độ Dân Chủ giả thiết rằng loài người rất phức tạp, mỗi người một ý, mỗi người một sở thích, và quyền lợi thế nào cũng có lúc xung đột với nhau. Không những thế, ngay cả khi mọi người đều đồng ý với nhau về các giá trị chung, như công bằng, bác ái, tự do, trật tự, hòa hợp, vân vân, thì ngay cả khu cùng tin vào hệ thống giá trị đó, lúc hành động cũng có nhiều xung khắc. Có lúc xã hội phải lựa chọn giá trị này mà hy sinh một giá trị khác. Khi nào thì chúng ta thấy tự do là điều tối quan trọng (Người ta vẫn hô: Tự do hay là chết)? Khi nào thì chúng ta phải hy sinh bớt tự do để sống hòa hợp và trật tự hơn (Xin vui lòng vặn nhỏ máy phát thanh để hàng xóm được yên tĩnh nghỉ ngơi)? Khi nào thì việc thực hiện công bằng sẽ làm chúng ta phải đặt nhẹ tấm lòng bác ái? Biết bao nhiêu thứ giá trị chung của nhân loại tự chúng có khi cũng xung đột với nhau. Và con người phải lựa chọn, gia giảm liều lượng mỗi thứ cho thích hợp với từng con bệnh xã hội, từng thời điểm, từng nền văn hóa khác nhau.
Muốn sống được với nhau an lành thì chắc loài người phải đặt ra một số quy tắc cùng tôn trọng khi cần lựa chọn chung cho nhiều người cùng sống trong một quốc gia. Trong lịch sử đã có những người đóng vai minh quân, một mình lựa chọn cho tất cả thần dân. Nhiều người trong số đó đã tạo được các triều đại bình an, thịnh vượng. Nhưng sau khi họ chết đi rồi, không có gì bảo đảm là con cháu họ sẽ tiếp tục những triều đại vàng son khác. Ông Nguyễn Hiến Lê trong cuốn Sử Trung Quốc mới xuất bản đã nhận xét rằng trong các triều đại ở Trung Hoa có quá nhiều vị hoàng đế tàn bạo hay bất lực; ông so sánh thấy thời Ðế Quốc La Mã có nhiều vị hoàng đế anh minh kế tiếp nhau hơn. Tại sao? Vì các hoàng đế Trung Hoa theo chế độ cha truyền con nối, nếu may mắn thì được ông con tốt như ông bố, nhưng xác suất rất thấp, thí dụ trong mười lần mới có một lần ông vua con cũng tốt như ông vua bố, xác suất 10%. Nói theo sử gia Will Durant thì người dân phải chịu một cuộc đánh cá, một canh bạc của di truyền học, trúng thì ăn, thua thì đánh chịu. Trong khi đó, một thời kỳ tại đế quốc La Mã các vị hoàng đế cần được nguyên lão nghị viện bầu cử. Với thủ tục đó, xác suất để có được những minh quân đã tăng lên cao hơn, thí dụ 50% trúng thay vì 10%! Ðến khi người La Mã cũng chơi trò cha truyền con nối thì dân chúng lại phải gánh chịu trò đỏ đen của số mệnh, và đế quốc tàn lụi dần!
Cho đến nay chế độ dân chủ tự do có những quy tắc tương đối hữu hiệu nhất để người dân một nước cùng lựa chọn với nhau thể thức sống chung thành quốc gia. Nhờ những thể thức đó có thể đạt được mục đích sống bình an trong xã hội. Chế độ dân chủ tự do đã định chế hóa đức khoan dung, nhờ thế mà tấm lòng khoan dung của mỗi người cũng dễ nẩy nở hơn. Người Mỹ đã từng coi chế độ nô lệ là bình thường nhưng nay có thể bầu một ông tổng thống da đen chính vì họ tập sống quen thể thức tự do dân chủ.
Chúng ta đã sống qua thế kỷ 20 với những người khoe mình muốn đem lại hạnh phúc cho dân bằng đấu tranh giai cấp, cưỡng bách tập thể hóa, rồi bắt người ta xếp hàng vào trại cải tạo! Chính những người lãnh tụ như Karl Marx, Lenin trong lòng họ không thấy được bình an. Cho nên họ mới hô hào cải tạo cả loài người bằng phương pháp cưỡng bách. Cuối cùng tư tưởng của họ đưa tới những lãnh tụ như Stalin, như Kim Nhật Thành, Hồ Chí Minh, Pol Pot.
Người ta không thể đem cả một xã hội làm thí nghiệm cải tạo loài người, như chơi trò đen đỏ. Cần phải ấn định các thủ tục, các quy tắc sống chung để xã hội được bình an, bảo đảm đức khoan dung được thể hiện, nghĩa là chấp nhận các ý kiến đối lập, và sau cùng để cho người dân bỏ phiếu tự do lựa chọn! Người dân có thể nhầm chọn lựa các người cai trị không giỏi. Nhưng ít nhất họ không phải là nạn nhân của các người tưởng mình có từ tâm nhưng làm toàn những việc chỉ gây ra tai họa.
Tác giả Phạm Duy Nghĩa than rằng xã hội Việt Nam bây giờ nhiều cảnh giết người, cướp của, hiếp đáp, băng đảng. Và anh khuyến cáo mọi người hãy học điều thiện, “tìm lại đức tin và tín ngưỡng,” “tìm lại gia phong đã rách,” để “hàng triệu người dân nghĩ thiện tì sẽ hành xử thiện.”
Ðó là những đề nghị và ước mong rất đáng kính. Nhưng muốn cho người dân tập sống thiện chúng ta cần tạo khung cảnh xã hội chung quanh khuyến khích điều thiện. Làm cách nào để cơ chế xã hội “khuyến khích điều thiện?” Cần phải xây dựng một cơ chế tự do dân chủ.
Trong ngày Giáng Sinh có lẽ chúng ta nên nói về hy vọng nhiều hơn là ôn lại những quá khứ đen tối đó. Từ mấy chục năm gần đây phải nói rằng chế độ dân chủ tự do mỗi ngày được đem ra áp dụng ở nhiều nước hơn. Ngay cả các chế độ độc tài cũng cứ phải mạo danh tự gọi mình là dân chủ. Năm 1947 trên thế giới có khoảng 39 nước có thể coi là theo chế độ dân chủ tự do. Từ khi bức tường Berlin sụp đổ, con số đã tăng lên, nay có hơn 120 quốc gia đang áp dụng thể chế dân chủ. Theo đà này thì chúng ta có thể tin nhân loại sẽ sống khoan dung với nhau hơn, hy vọng cũng sẽ bình an hơn.
Dù theo bất cứ tôn giáo nào, ngày lễ lớn hôm nay có thể giúp chúng ta cơ hội tìm về một cõi bình an cho chính mình. Chúng tôi xin chúc quí vị độc giả hưởng những giờ phút an lạc một cuối tuần trong dịp lễ Giáng Sinh năm nay.
Ngô Nhân Dụng Trong thế kỷ vừa qua loài người đã trải qua nhiều cuộc cách mạng mà những người khởi xướng thường bắt đầu với các khát vọng hướng về điều thiện, nhưng kết quả lại mang lại thêm nhiều khổ đau cho nhân loại. Có những lý thuyết gia ước mong xây dựng thiên đường trên trái đất, nhưng cuối cùng xô đẩy nhân loại vào những cuộc chém giết. Có những người tự coi mình là có thiện chí, rồi xách dao xách súng đi giải phóng xã hội, khăng khăng bắt mọi người phải chịu cho mình giải phóng. Kết quả là họ gây ra những tàn hại không khác gì các bạo chúa khát máu. Bởi vì tự trong lòng họ, chính họ thiếu sáng suốt và không bình an.
Tục truyền khi chúa Giê Su ra đời ở Bethleem, những thiên thần đã hô to: Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm. Ðọc Kinh Bình An chúng ta thấy những lời cầu mong chính mình có khả năng đem tình yêu thương vào nơi oán thù, đối đãi với nhau với tấm lòng khoan dung, tha thứ. Nếu con người sống một mình thì không cần nhắc nhở tấm lòng khoan dung. Nhưng khi có 2 người sống chung, hay một xã hội sống chung, thì đức khoan dung, tha thứ là cách biểu lộ tình yêu thương cụ thể, nhờ thế mọi người cùng được hạnh phúc.
Nếu chúng ta có tôn giáo, tin tưởng ở một con đường cứu rỗi, chúng ta có thể tập sống đức khoan dung, tập cho đến mức mỗi lần phát tâm đều tự nhiên chỉ thấy tình thương yêu. Lúc đó chính lòng mình cũng bình an nhờ đức khoan dung.
Nhưng vượt trên các cá nhân, thì một tập thể, một gia đình, một xã hội, người ta phải làm gì để thể hiện đức khoan dung?
Loài người đã thử nghiệm nhiều phương pháp sống với nhau sao cho an lành. Không phải chỉ huấn luyện cho từng người nuôi lòng thiện, mà phải tạo cơ duyên cho cả xã hội gieo rắc được mầm thiện. Các chế độ chính trị từ xưa đã nuôi cao vọng đó. Có lúc một cách tổ chức xã hội đem lại kết quả tốt một thời gian, rồi lại sinh ra các biến chứng tai hại, phải tìm ra phương cách khác. Từ thế kỷ 18, và kéo dài cho tới bây giờ, một cách sống chung mang lại nhiều kết quả tốt cho xã hội chính là lối sống với các thủ tục gọi là dân chủ tự do.
Có nhiều thứ đáng nói về đặc tính của một chế độ dân chủ tự do, nhưng hôm nay ngày Giáng Sinh nên nói tới một điều thôi. Ðó là trong một xã hội dân chủ tự do chúng ta có thể sống khoan dung với nhau, dù còn nhiều cá nhân chưa tu thân cho đủ để chính họ biết sống khoan dung trong chính đời sống hàng ngày.
Nhiều chế độ độc tài cũng luôn rao giảng điều thiện, thí dụ như “xây dựng con người xã hội chủ nghĩa,” ngầm ý nói rằng có một mẫu người lý tưởng mà chế độ muốn ai cũng bắt chước. Nhưng kết quả lại khác, chính những kẻ đáng lẽ phải làm gương cho những người khác lấy làm mẫu mực, chính họ đã phạm những tội ác không thể tha thứ. Mà vì cần che giấu những lỗi lầm đó, những người này phải sống một cách giả trá. Hậu quả là cả xã hội chung quanh cũng phải tập sống giả trá. Cái ác đã mạo danh cái thiện, làm hủy hoại nền đạo lý chung mà một dân tộc đã xây dựng từ ngàn năm mới thành. Khi chúng ta khám phá ra không bao giờ nên truyền bá điều thiện bằng những phương tiện ác, như thù hận, chém giết, thì đã nhiều người bị chết oan, nhiều thế hệ sa ngã.
Gần đây trên tờ báo Tuổi Trẻ ở Sài Gòn, một người trẻ ký tên Phạm Duy Nghĩa đã bàn đến hiện tượng đó một cách dè dặt. Phạm Duy Nghĩa viết rằng: “Một dạo ngây thơ, chúng ta tưởng con người dưới chế độ chúng ta sẽ miễn dịch với cái ác, mầm mống tội phạm những tưởng chỉ có trong chế độ người bóc lột người.”
Khi nghe Phạm Duy Nghĩa nói đến “chế độ chúng ta” thì người đọc nghĩ anh muốn nói đến “Ðảng Cộng Sản chúng ta” chứ không phải là “Dân tộc Việt Nam chúng ta.” Nếu được tự do chọn lựa chắc người Việt Nam đủ khôn ngoan để biết rằng loài người không thể nào “miễn dịch,” hoàn toàn tránh được với những mầm mống ác. Nhưng chính những người cầm đầu đảng Cộng Sản, từ thời 1930 họ cũng biết điều đó. Nếu có những người ngây thơ, đó là một số những người nông dân chất phác mà lòng căm thù dễ bị kích thích để giúp đảng Cộng Sản làm những việc ác. Dân tộc Việt Nam không ngây thơ như vậy. Những chế độ đưa ra hình ảnh con người lý tưởng đều tự biến họ thành những tôn giáo mới, những người theo họ trở thành tín đồ, rồi đưa hình ảnh lãnh tụ lên như thờ phượng các giáo chủ; đó chính là những chế độ rất đáng nghi ngờ!
Chế độ dân chủ tự do không dựa trên những ảo tưởng như vậy. Chế độ Dân Chủ giả thiết rằng loài người rất phức tạp, mỗi người một ý, mỗi người một sở thích, và quyền lợi thế nào cũng có lúc xung đột với nhau. Không những thế, ngay cả khi mọi người đều đồng ý với nhau về các giá trị chung, như công bằng, bác ái, tự do, trật tự, hòa hợp, vân vân, thì ngay cả khu cùng tin vào hệ thống giá trị đó, lúc hành động cũng có nhiều xung khắc. Có lúc xã hội phải lựa chọn giá trị này mà hy sinh một giá trị khác. Khi nào thì chúng ta thấy tự do là điều tối quan trọng (Người ta vẫn hô: Tự do hay là chết)? Khi nào thì chúng ta phải hy sinh bớt tự do để sống hòa hợp và trật tự hơn (Xin vui lòng vặn nhỏ máy phát thanh để hàng xóm được yên tĩnh nghỉ ngơi)? Khi nào thì việc thực hiện công bằng sẽ làm chúng ta phải đặt nhẹ tấm lòng bác ái? Biết bao nhiêu thứ giá trị chung của nhân loại tự chúng có khi cũng xung đột với nhau. Và con người phải lựa chọn, gia giảm liều lượng mỗi thứ cho thích hợp với từng con bệnh xã hội, từng thời điểm, từng nền văn hóa khác nhau.
Muốn sống được với nhau an lành thì chắc loài người phải đặt ra một số quy tắc cùng tôn trọng khi cần lựa chọn chung cho nhiều người cùng sống trong một quốc gia. Trong lịch sử đã có những người đóng vai minh quân, một mình lựa chọn cho tất cả thần dân. Nhiều người trong số đó đã tạo được các triều đại bình an, thịnh vượng. Nhưng sau khi họ chết đi rồi, không có gì bảo đảm là con cháu họ sẽ tiếp tục những triều đại vàng son khác. Ông Nguyễn Hiến Lê trong cuốn Sử Trung Quốc mới xuất bản đã nhận xét rằng trong các triều đại ở Trung Hoa có quá nhiều vị hoàng đế tàn bạo hay bất lực; ông so sánh thấy thời Ðế Quốc La Mã có nhiều vị hoàng đế anh minh kế tiếp nhau hơn. Tại sao? Vì các hoàng đế Trung Hoa theo chế độ cha truyền con nối, nếu may mắn thì được ông con tốt như ông bố, nhưng xác suất rất thấp, thí dụ trong mười lần mới có một lần ông vua con cũng tốt như ông vua bố, xác suất 10%. Nói theo sử gia Will Durant thì người dân phải chịu một cuộc đánh cá, một canh bạc của di truyền học, trúng thì ăn, thua thì đánh chịu. Trong khi đó, một thời kỳ tại đế quốc La Mã các vị hoàng đế cần được nguyên lão nghị viện bầu cử. Với thủ tục đó, xác suất để có được những minh quân đã tăng lên cao hơn, thí dụ 50% trúng thay vì 10%! Ðến khi người La Mã cũng chơi trò cha truyền con nối thì dân chúng lại phải gánh chịu trò đỏ đen của số mệnh, và đế quốc tàn lụi dần!
Cho đến nay chế độ dân chủ tự do có những quy tắc tương đối hữu hiệu nhất để người dân một nước cùng lựa chọn với nhau thể thức sống chung thành quốc gia. Nhờ những thể thức đó có thể đạt được mục đích sống bình an trong xã hội. Chế độ dân chủ tự do đã định chế hóa đức khoan dung, nhờ thế mà tấm lòng khoan dung của mỗi người cũng dễ nẩy nở hơn. Người Mỹ đã từng coi chế độ nô lệ là bình thường nhưng nay có thể bầu một ông tổng thống da đen chính vì họ tập sống quen thể thức tự do dân chủ.
Chúng ta đã sống qua thế kỷ 20 với những người khoe mình muốn đem lại hạnh phúc cho dân bằng đấu tranh giai cấp, cưỡng bách tập thể hóa, rồi bắt người ta xếp hàng vào trại cải tạo! Chính những người lãnh tụ như Karl Marx, Lenin trong lòng họ không thấy được bình an. Cho nên họ mới hô hào cải tạo cả loài người bằng phương pháp cưỡng bách. Cuối cùng tư tưởng của họ đưa tới những lãnh tụ như Stalin, như Kim Nhật Thành, Hồ Chí Minh, Pol Pot.
Người ta không thể đem cả một xã hội làm thí nghiệm cải tạo loài người, như chơi trò đen đỏ. Cần phải ấn định các thủ tục, các quy tắc sống chung để xã hội được bình an, bảo đảm đức khoan dung được thể hiện, nghĩa là chấp nhận các ý kiến đối lập, và sau cùng để cho người dân bỏ phiếu tự do lựa chọn! Người dân có thể nhầm chọn lựa các người cai trị không giỏi. Nhưng ít nhất họ không phải là nạn nhân của các người tưởng mình có từ tâm nhưng làm toàn những việc chỉ gây ra tai họa.
Tác giả Phạm Duy Nghĩa than rằng xã hội Việt Nam bây giờ nhiều cảnh giết người, cướp của, hiếp đáp, băng đảng. Và anh khuyến cáo mọi người hãy học điều thiện, “tìm lại đức tin và tín ngưỡng,” “tìm lại gia phong đã rách,” để “hàng triệu người dân nghĩ thiện tì sẽ hành xử thiện.”
Ðó là những đề nghị và ước mong rất đáng kính. Nhưng muốn cho người dân tập sống thiện chúng ta cần tạo khung cảnh xã hội chung quanh khuyến khích điều thiện. Làm cách nào để cơ chế xã hội “khuyến khích điều thiện?” Cần phải xây dựng một cơ chế tự do dân chủ.
Trong ngày Giáng Sinh có lẽ chúng ta nên nói về hy vọng nhiều hơn là ôn lại những quá khứ đen tối đó. Từ mấy chục năm gần đây phải nói rằng chế độ dân chủ tự do mỗi ngày được đem ra áp dụng ở nhiều nước hơn. Ngay cả các chế độ độc tài cũng cứ phải mạo danh tự gọi mình là dân chủ. Năm 1947 trên thế giới có khoảng 39 nước có thể coi là theo chế độ dân chủ tự do. Từ khi bức tường Berlin sụp đổ, con số đã tăng lên, nay có hơn 120 quốc gia đang áp dụng thể chế dân chủ. Theo đà này thì chúng ta có thể tin nhân loại sẽ sống khoan dung với nhau hơn, hy vọng cũng sẽ bình an hơn.
Dù theo bất cứ tôn giáo nào, ngày lễ lớn hôm nay có thể giúp chúng ta cơ hội tìm về một cõi bình an cho chính mình. Chúng tôi xin chúc quí vị độc giả hưởng những giờ phút an lạc một cuối tuần trong dịp lễ Giáng Sinh năm nay.
Đụng độ giữa dân chúng và công an ở Yên Sơn,
nhiều người bị đánh ngất xỉu
Tác giả: Hà Giang, RFA
Thêm một vụ xô xát giữa dân chúng và công an khi đúng vào ngày Lễ Giáng Sinh 25/12/08, chính quyền đã huy động công an bộ đội, đưa xe ủi đất vào thôn xã Yên Sơn, để giải quyết tranh chấp đất đai.
Ngay sau khi được tin, thông tín viên Hà Giang của Ban Việt Ngữ RFA đã liên lạc tìm hiểu sự việc và có bài tường trình như sau.
Gần 100 công an, bộ đội
Trong lúc việc tranh chấp đất tại Kiên Giang cách đây một tuần khiến một số người dân bị công an bắn trọng thương vẫn còn đang trong tình trạng căng thẳng, chưa giải quyết được, thì sáng ngày 25/12/08, đúng vào ngày lễ Giáng Sinh, dư luận lại thêm một lần xôn xao vì vừa có thêm một vụ cưỡng chiếm đất nữa xẩy ra tại xã Yên Sơn, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội.
Theo lời ông Nguyễn Anh Kim, một trong những người dân xã Yên Sơn, thì vào lúc 9h30 sáng ngày 25/12/08, một lực lượng gồm khoảng 100 công an và bộ đội, do thượng tá công an Hà Đình Khởi, và huyện đội trưởng Nguyễn Thái Ngọc chỉ huy, đã đưa xe ủi đất vào thôn Sơn Trung – xã Yên Sơn - huyện Quốc Oai – thành phố Hà Nội để cưỡng chiếm, và ủi đi đất canh tác của người dân ở đây.
Ông Kim cho biết, vùng đất hiện đang bị tranh chấp gọi là đất 5% đã được giao cho dân ở đây canh tác gần 50 năm nay, để họ có phương tiện tự túc lương thực:
“Đất họ giao cho mình từ năm 1960, tức là ngày xưa tất cả ruộng đất trâu bò đều đưa vào hợp tác xã nông nghiệp. Sau khi vào hợp tác xã thì cái số đất 5% gia đình ngay cạnh nhà thì để, còn thì ruộng nương thì ở thật xa, nhà nước dành ra 5% để chia cho dân, mỗi một khẩu là khoảng 2 thước để tự túc lương thực, hoa mầu”.
Theo đúng luật thì trước khi muốn thu hồi đất, chính quyền địa phương phải nhận được lệnh thu hồi từ tỉnh hay huyện ban xuống, phải có trách nhiệm thông báo cho người sử dụng đất biết lý do thu hồi và dự kiến về mức bồi thường v.v…, vì thế khi lực lượng cưỡng chế này bất ngờ xuất hiện, người dân ở đây đã dàn hàng để ngăn cản đoàn người đến lấy đất của họ.
Ông Nguyễn Anh Kim giải thích:
“Đúng ra thì phải có quy hoạch ở cấp tỉnh hay huyện cơ, xã làm thì không đúng luật của nhà nước thì chúng tôi không đồng ý, chưa có lệnh của nhà nước thì ở địa phương là không có quyền lấy (đất) ra, và khi lấy (đất) ra thì phải được thông báo trước và phải bồi thường tài sản của dân, mà họ dùng biện pháp cưỡng chế, họ dùng cả bộ đội công an bắt ép dân phải trả đất.”
Xô xát, đánh đập
Khi đội ngũ cưỡng chế đất gặp sự phản kháng của người dân thì họ đã cầu cứu và được yểm trợ bằng một lực lượng công an và bộ đội hùng hậu, bà Nguyễn Thị Mùi, một nông dân cũng bị mất đất ở thôn Sơn Trung tường thuật:
“Khi họ vào đến làng, dân ra đông lắm, chắn xe không cho vào làng, khi chắn đông lắm thì bắt đầu xe máy húc nó quay trở lại, nó bảo thế này thì không làm được. Thế thì hai người chạy đi gọi điện, thì lại có một toán bộ đội và công an đông quá, thế là chúng em sợ dãn ra hai bên, chỉ có một số chúng em lăn vào giữ xe của bên lực lượng thuê người về để lấy đất đấy”.
Quyết tâm lấy cho bằng được đất, bất chấp mọi sự phản kháng, lực lượng công an và bộ đội huyện đã thẳng tay đàn áp, kéo, lôi, xách những người dân cản đường và ném họ đi như ném con vật, họ đấm đá và dùng dùi cui điện đánh vào dân, làm nhiều người bị ngất xỉu, phải mang đi cấp cứu.
“Họ lấy cái dùi cui điện họ dí, mấy cháu nhỏ và mấy bà già bị ngất xỉu, phải khiêng đi cấp cứu”.
Những người bị hành hung gồm có anh Nguyễn Thế Đồng, khoảng 28 tuổi, bị đấm vào bụng, và bị dí dùi cui điện, bà Ba Đoan, chị Nguyễn Thị Khanh, cụ Nguyễn Thị Tâm đã bị đánh chết ngất ra đường. Bà Nguyễn Thị Mùi kể tiếp:
“Họ hất bà già rồi quăng xách như là xách lợn ấy, có hai bà bị ngất. Người ta cản thì có cháu Nguyễn Thế Đồng, tức nó là nó thấy ông nó hơn 80 tuổi rồi, đứng giữ xe nói rằng thì tôi có mỗi hai thước đất rau, mà giờ tôi già như thế này rồi, tôi không làm được gì, thì để cho tôi làm rau tôi ăn. Khi xô đẩy nhau thì ông ấy bị ngã ra, cháu Đồng vào đỡ ông, thì một anh công an thúc tay vào bụng cháu, dí dùi cui vào rồi cháu nằm quèo ngay ra đấy”.
Dư luận bất bình
Trước khí thế đông đảo của lực lượng cưỡng chế, người dân dù biết mình đã bị tước đoạt đất đai một cách trái phép, nhưng vì không một tấc sắt trong tay, họ chỉ chống cự một cách yếu ớt và không làm được gì hơn nên đành để bị mất đất, mất phương tiện sinh nhai duy nhất của mình. Bà Mùi cho biết.
“Khi mà đập tường nhà em, vào chặt cây nhà em, thì em chạy về là kéo vợ chồng em ra, khi em chạy vào, thì năm người công an nhấc hai người hai chân, nhấc đầu, hai người hai tay, nhấc em ra ngoài, còn nhà em lúc bấy giờ là 6 người ghìm nhà em.
Chúng em giờ đành là sức yếu, thì chả làm gì được cả, thế thì bây giờ đành là mất đất, họ lấp cả ngày hôm nay, cả đêm hôm qua.
Vâng, dân bức xúc quá nhiều, mà người ta cũng chì mặt những người cán bộ rằng là, tại sao bức hiếp dân như thế, thuê lực lượng công an với bộ đội về để ức hiếp dân, để cướp của dân, nhưng họ cứ phớt lờ, họ không nói gì cả.”
Theo luật pháp hiện nay tại Việt Nam, quyền sở hữu đất đai vẫn còn thuộc nhà nước, và việc giải tỏa nhà đất thường thì không được giải quyết thỏa đáng, nên dư luận quan ngại rằng, hoàn cảnh và nỗi niềm của người dân thôn Sơn Trung–xã Yên Sơn-huyện Quốc Oai, Hà Nội là một vấn nạn chung rất khó có được một giải pháp ổn thỏa.
Hà Giang, thông tín viên RFA
nhiều người bị đánh ngất xỉu
Tác giả: Hà Giang, RFA
Thêm một vụ xô xát giữa dân chúng và công an khi đúng vào ngày Lễ Giáng Sinh 25/12/08, chính quyền đã huy động công an bộ đội, đưa xe ủi đất vào thôn xã Yên Sơn, để giải quyết tranh chấp đất đai.
Ngay sau khi được tin, thông tín viên Hà Giang của Ban Việt Ngữ RFA đã liên lạc tìm hiểu sự việc và có bài tường trình như sau.
Gần 100 công an, bộ đội
Trong lúc việc tranh chấp đất tại Kiên Giang cách đây một tuần khiến một số người dân bị công an bắn trọng thương vẫn còn đang trong tình trạng căng thẳng, chưa giải quyết được, thì sáng ngày 25/12/08, đúng vào ngày lễ Giáng Sinh, dư luận lại thêm một lần xôn xao vì vừa có thêm một vụ cưỡng chiếm đất nữa xẩy ra tại xã Yên Sơn, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội.
Theo lời ông Nguyễn Anh Kim, một trong những người dân xã Yên Sơn, thì vào lúc 9h30 sáng ngày 25/12/08, một lực lượng gồm khoảng 100 công an và bộ đội, do thượng tá công an Hà Đình Khởi, và huyện đội trưởng Nguyễn Thái Ngọc chỉ huy, đã đưa xe ủi đất vào thôn Sơn Trung – xã Yên Sơn - huyện Quốc Oai – thành phố Hà Nội để cưỡng chiếm, và ủi đi đất canh tác của người dân ở đây.
Ông Kim cho biết, vùng đất hiện đang bị tranh chấp gọi là đất 5% đã được giao cho dân ở đây canh tác gần 50 năm nay, để họ có phương tiện tự túc lương thực:
“Đất họ giao cho mình từ năm 1960, tức là ngày xưa tất cả ruộng đất trâu bò đều đưa vào hợp tác xã nông nghiệp. Sau khi vào hợp tác xã thì cái số đất 5% gia đình ngay cạnh nhà thì để, còn thì ruộng nương thì ở thật xa, nhà nước dành ra 5% để chia cho dân, mỗi một khẩu là khoảng 2 thước để tự túc lương thực, hoa mầu”.
Theo đúng luật thì trước khi muốn thu hồi đất, chính quyền địa phương phải nhận được lệnh thu hồi từ tỉnh hay huyện ban xuống, phải có trách nhiệm thông báo cho người sử dụng đất biết lý do thu hồi và dự kiến về mức bồi thường v.v…, vì thế khi lực lượng cưỡng chế này bất ngờ xuất hiện, người dân ở đây đã dàn hàng để ngăn cản đoàn người đến lấy đất của họ.
Ông Nguyễn Anh Kim giải thích:
“Đúng ra thì phải có quy hoạch ở cấp tỉnh hay huyện cơ, xã làm thì không đúng luật của nhà nước thì chúng tôi không đồng ý, chưa có lệnh của nhà nước thì ở địa phương là không có quyền lấy (đất) ra, và khi lấy (đất) ra thì phải được thông báo trước và phải bồi thường tài sản của dân, mà họ dùng biện pháp cưỡng chế, họ dùng cả bộ đội công an bắt ép dân phải trả đất.”
Xô xát, đánh đập
Khi đội ngũ cưỡng chế đất gặp sự phản kháng của người dân thì họ đã cầu cứu và được yểm trợ bằng một lực lượng công an và bộ đội hùng hậu, bà Nguyễn Thị Mùi, một nông dân cũng bị mất đất ở thôn Sơn Trung tường thuật:
“Khi họ vào đến làng, dân ra đông lắm, chắn xe không cho vào làng, khi chắn đông lắm thì bắt đầu xe máy húc nó quay trở lại, nó bảo thế này thì không làm được. Thế thì hai người chạy đi gọi điện, thì lại có một toán bộ đội và công an đông quá, thế là chúng em sợ dãn ra hai bên, chỉ có một số chúng em lăn vào giữ xe của bên lực lượng thuê người về để lấy đất đấy”.
Quyết tâm lấy cho bằng được đất, bất chấp mọi sự phản kháng, lực lượng công an và bộ đội huyện đã thẳng tay đàn áp, kéo, lôi, xách những người dân cản đường và ném họ đi như ném con vật, họ đấm đá và dùng dùi cui điện đánh vào dân, làm nhiều người bị ngất xỉu, phải mang đi cấp cứu.
“Họ lấy cái dùi cui điện họ dí, mấy cháu nhỏ và mấy bà già bị ngất xỉu, phải khiêng đi cấp cứu”.
Những người bị hành hung gồm có anh Nguyễn Thế Đồng, khoảng 28 tuổi, bị đấm vào bụng, và bị dí dùi cui điện, bà Ba Đoan, chị Nguyễn Thị Khanh, cụ Nguyễn Thị Tâm đã bị đánh chết ngất ra đường. Bà Nguyễn Thị Mùi kể tiếp:
“Họ hất bà già rồi quăng xách như là xách lợn ấy, có hai bà bị ngất. Người ta cản thì có cháu Nguyễn Thế Đồng, tức nó là nó thấy ông nó hơn 80 tuổi rồi, đứng giữ xe nói rằng thì tôi có mỗi hai thước đất rau, mà giờ tôi già như thế này rồi, tôi không làm được gì, thì để cho tôi làm rau tôi ăn. Khi xô đẩy nhau thì ông ấy bị ngã ra, cháu Đồng vào đỡ ông, thì một anh công an thúc tay vào bụng cháu, dí dùi cui vào rồi cháu nằm quèo ngay ra đấy”.
Dư luận bất bình
Trước khí thế đông đảo của lực lượng cưỡng chế, người dân dù biết mình đã bị tước đoạt đất đai một cách trái phép, nhưng vì không một tấc sắt trong tay, họ chỉ chống cự một cách yếu ớt và không làm được gì hơn nên đành để bị mất đất, mất phương tiện sinh nhai duy nhất của mình. Bà Mùi cho biết.
“Khi mà đập tường nhà em, vào chặt cây nhà em, thì em chạy về là kéo vợ chồng em ra, khi em chạy vào, thì năm người công an nhấc hai người hai chân, nhấc đầu, hai người hai tay, nhấc em ra ngoài, còn nhà em lúc bấy giờ là 6 người ghìm nhà em.
Chúng em giờ đành là sức yếu, thì chả làm gì được cả, thế thì bây giờ đành là mất đất, họ lấp cả ngày hôm nay, cả đêm hôm qua.
Vâng, dân bức xúc quá nhiều, mà người ta cũng chì mặt những người cán bộ rằng là, tại sao bức hiếp dân như thế, thuê lực lượng công an với bộ đội về để ức hiếp dân, để cướp của dân, nhưng họ cứ phớt lờ, họ không nói gì cả.”
Theo luật pháp hiện nay tại Việt Nam, quyền sở hữu đất đai vẫn còn thuộc nhà nước, và việc giải tỏa nhà đất thường thì không được giải quyết thỏa đáng, nên dư luận quan ngại rằng, hoàn cảnh và nỗi niềm của người dân thôn Sơn Trung–xã Yên Sơn-huyện Quốc Oai, Hà Nội là một vấn nạn chung rất khó có được một giải pháp ổn thỏa.
Hà Giang, thông tín viên RFA
Trung Quốc cần thay đổi chính trị
Ngô Nhân Dụng Năm 1978, Ðặng Tiểu Bình được phục hồi với quyền lực cao nhất Trung Quốc và đến cuối năm ông bắt đầu cải tổ kinh tế. Tuần trước, ông Hồ Cẩm Ðào đã long trọng kỷ niệm 30 năm chương trình thay đổi này, kể công đảng Cộng Sản đã mở cửa nên dân chúng mới được ấm no. Không ai dám hỏi: “Còn cái tội đóng kín cả nước, thí nghiệm các chính sách tập thể hóa khiến cả xã hội chìm trong cảnh nghèo nàn chậm tiến, làm 30 triệu người chết đói, thì tội đó ai chịu?”
Người ta có thể bỏ qua chuyện quá khứ trước năm 1978. Nhưng khi nhìn đến hiện tại và tương lai, người ta vẫn phải đặt câu hỏi: Tại sao trong 30 năm nay đảng Cộng Sản vẫn kìm hãm tốc độ của việc cải tổ, không cho toàn dân được tự do kinh doanh và sống trong một xã hội có luật pháp bảo đảm, như các nước tiền tiến trên thế giới? Cụ thể hơn, tại sao bây giờ đảng Cộng Sản vẫn không chịu cải tổ về chính trị để những người dân thấp cổ bé miệng được tham dự vào quá trình quyết định số phận của chính mình, như trong việc chọn người lãnh đạo địa phương và trung ương? Ðó là những câu hỏi mà nhiều người dân Trung Hoa đang nêu lên, bằng lời nói và bằng hành động. Lời nói, có bản Hiến Chương 08, còn các công nhân đình công khắp nơi đã dùng hành động đình công để nêu ý kiến đòi quyền tự do lập nghiệp đoàn.
Trước kia, các đảng Cộng Sản Liên Xô, Trung Quốc cũng như Việt Nam thường hay vẽ ra những “kế hoạch” dài hạn và ngắn hạn. Các kế hoạch đó không biết thực hiện được hay không nhưng đọc thấy báo cáo lúc nào cũng rất hay.
Tuy nhiên, công việc gọi là “cải tổ” ở Trung Quốc hay là “đổi mới kinh tế” ở Việt Nam thì không có một “kế hoạch” nào cả. Tất cả chỉ gồm những ý kiến nhỏ được thử nghiệm dần dần, nói theo lối ông Ðặng Tiểu Bình ví von, giống như dùng bàn chân “dò đá qua sông.” Công cuộc cải tổ bắt đầu từ chính sách thả lỏng cho nông dân được làm khoán, làm nhiều ăn nhiều, làm ít ăn ít, ý kiến đó đã tự phát sinh vì chính các nông dân đói quá phải làm liều và thành công, sau đó được nêu lên làm gương cho các nơi khác theo.
Tháng 12 năm 1978, một nhóm nông dân thuộc “công xã nhân dân” làng Tiểu Cương, tỉnh An Huy vì đói quá nên đã họp bí mật và ký kết với nhau: Họ sẽ chia ngũ cốc thu hoạch được theo sức đóng góp của các xã viên, ai làm nhiều được hưởng nhiều, thay vì chia đồng đều theo tiêu chuẩn của nhà nước. Hành động này vào thời đó có thể bị kết tội “phản cách mạng,” đáng chém đầu! Ðằng nào cũng chết, những viễn ảnh chết đói chắc chắn sẽ xẩy ra nếu không dám liều, còn viễn ảnh bị giết vì tội “phản động” thì may ra còn có thể thoát. Khi các cán bộ cấp trên biết bản thỏa hiệp bí mật này, họ phải làm ngơ vì biết nông dân đang chết đói dần mòn. Tới vụ mùa năm đó, số sản xuất của công xã tăng vọt lên, và cả xã thoát khỏi nạn đói. Khi chính quyền cộng sản ở trung ương biết chuyện xẩy ra ở Tiểu Cương, không những họ làm ngơ không truy tội, họ còn đến tận nơi nghiên cứu rồi từ đó cho phép áp dụng trên toàn quốc. Ðó chính là bước đầu công cuộc “cải tổ kinh tế” của Ðặng Tiểu Bình, cho phép người Trung Hoa trở về “làm ăn theo lối cũ.” Không phải các “lãnh tụ” anh minh nẩy ra ý kiến và lập kế hoạch đổi mới kinh tế ở Trung Quốc. Chính các nông dân đã khơi mào cuộc cách mạng này! Dân làng Tiểu Cương may mắn hơn ông Kim Ngọc ở Vĩnh Phú nước ta, chỉ vì muốn giúp dân đỡ đói mà bị hạ tầng công tác!
Sở dĩ Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Trung Quốc lúc đó đã đồng ý với Ðặng Tiểu Bình, bởi vì họ không có đường nào khác. Sáu, bẩy trăm triệu dân Trung Hoa đã kiệt quệ sau những chiến dịch lớn huy động toàn dân như “chống hữu phái,” “trăm hoa đua nở,” “bước nhẩy vọt” hoặc cuộc “cách mạng văn hóa vô sản” điên rồ của Mao Trạch Ðông. Nếu không thay đổi, có thể sinh đại loạn.
Nhưng trong 30 năm qua, công việc đổi mới kinh tế ở Trung Quốc vẫn theo lối “dò đá qua sông” của Ðặng Tiểu Bình. Cộng Sản Trung Quốc đã “dò đá” dưới lòng sông bằng cả hai bàn chân, và hai bàn chân của họ thường không đồng ý với nhau, có khi chân nọ còn đá chân kia nữa. Sau khi cởi trói cho nông thôn, kết quả trông thấy là nông dân được tự do dùng ruộng đất đã gia tăng năng suất lao động; bước thứ nhì Ðặng Tiểu Bình muốn cải tổ các lãnh vực công nghiệp và thương mại, đã bị cản trở ngay từ trong Bộ Chính Trị. Nhiều lãnh tụ “cộng sản chân chính” không chịu tiến thêm bước nữa. Bàn chân trái chống lại bàn chân phải, vì họ không thể chấp nhận được việc mở cửa giao thương với các nước tư bản. Họ cũng không thể chấp nhận cho tư nhân tổ chức việc sản xuất và trao đổi hàng hóa, những hành động vẫn bị chủ nghĩa Mác Lênin kết án là bóc lột. Chính ông Ðặng Tiểu Bình đã dùng uy tín của riêng ông đưa bàn chân phải tiến thêm bước nữa, khi ông mở một cuộc du hành đến các khu chế xuất ở Thẩm Quyến, Hạ Môn. Các ngôi làng nhỏ đã biến thành những thành phố, không khác gì dân làng Tiểu Cương đã thoát nạn đói. Ðặng Tiểu Bình dùng cơ hội đó ca ngợi những tiến bộ kinh tế đạt được sau khi bắt chước cách tổ chức sản xuất và tiếp thị theo lối tư bản. Bàn chân phải báo tin cho chân trái biết rằng kết quả thấy tốt, cần phải tiến tới! Những bước thay đổi sau cũng vậy, đều là những bước dò đá qua sông chen lẫn với những cuộc xung đột giữa chân phải và chân trái, có khi tiến khi lui. Hiện nay khuynh hướng của cộng sản Trung Quốc là ngừng lại, phe thoái bộ có vẻ đang thắng thế.
Con đường cải tổ kinh tế mò mẫm và ngập ngừng của đảng Cộng Sản Trung Quốc tạo ra hai hậu quả xấu đáng lẽ có thể tránh được.
Về mặt kinh tế, chính sách rụt rè cản trở việc xây dựng những định chế tài chánh cần thiết cho nền kinh tế thị trường, những định chế đó cũng giống như hạ tầng cơ sở vật chất của kinh tế. Vì phải thỏa hiệp với tư tưởng bảo thủ trì hoãn việc cải tổ, tới nay hệ thống ngân hàng ở Trung Quốc vẫn chưa thay đổi cho đủ, để đóng đúng vai trò của nó là thu hút tiền vốn của toàn dân để chuyển tới những xí nghiệp có khả năng sử dụng vốn với hiệu năng cao nhất. Ở Trung Quốc hiện nay, nhà nước, tức là đảng Cộng Sản, làm công việc huy động và phân phối vốn, chứ không phải một hệ thống ngân hàng thực. Một bộ máy thư lại không thể nào làm thay công việc của một hệ thống ngân hàng tự do được. Bên cạnh hệ thống ngân hàng, các định chế khác như thị trường chứng khoán vẫn tỏ ra còn ấu trĩ và lỏng lẻo, cũng không đóng được vai trò “trung gian tài chánh” (financial intermediation) qua đó xã hội chia sẻ và phân tản rủi ro cùng lợi nhuận. Các thị trường chứng khoán ở Trung Quốc hiện nay có vẻ như những sòng bài nhiều hơn là thị trường thật sự.
Hậu quả xấu thứ hai là về mặt xã hội. Ðảng Cộng Sản vẫn thu hẹp các cuộc tranh luận về đường lối quốc gia bên trong nội bộ đảng, hạn chế sự tham gia của người ngoài vào một thiểu số các nhà trí thức được đảng trợ cấp để nghiên cứu, nhưng không được tự quyết định ngay cả việc phổ biến các công trình nghiên cứu của mình.
Vì giới hạn sự tham dự của nhân dân như vậy, cho nên lớp người hiện nay đang tranh luận quyết định đường lối sống cho hơn một tỷ người Trung Hoa là các đảng viên cao cấp, họ nằm trong những mạng lưới khai thác quyền lực để chia nhau tài lợi. Ðó là một mạng lưới tham nhũng. Các chính sách họ bàn nhau không phản ảnh quyền lợi chung của quốc gia mà trước hết là để phục vụ quyền lợi của mỗi nhóm.
Khi những nhóm đang nắm quyền tranh luận để quyết định đường lối, họ sẽ thiên về việc giữ người tình trạng hiện có, là tình trạng mà họ đã quen, đã biết cách khai thác và đang hưởng lợi. Vì vậy, họ sẽ tập trung thêm quyền quyết định vào guồng máy nhà nước, ở trung ương cũng như ở các tỉnh. Và họ sẽ ngăn cản những bước cải tổ cần thiết khác. Ngược lại, những người bị gạt ra bên lề sẽ tìm cách ngóc đầu dậy và phản đối. Sự chênh lệch giầu nghèo, do chính sách kinh tế tạo ra, càng làm cho mâu thuẫn giữa bên thống trị và bên bị trị gay gắt hơn. Hai lớp người bị gạt ra bên ngoài những cuộc tranh luận về đường lối quốc gia là các nhà trí thức độc lập và giới nông dân lao động.
Tuần trước trong mục này đã tường thuật về Hiến Chương 08, khởi đầu với 300 nhà trí thức, ký bản hiến chương đòi tự do và thay đổi hệ thống chính trị, nhân ngày Quốc tế Nhân quyền. Nhóm này đã được mấy ngàn người khác ký tên thêm ủng hộ.
Những yêu cầu của Hiến Chương 08 như bãi bỏ chế độ hộ khẩu, cho nông dân được mua bán ruộng đất tự do có thể coi là những đòi hỏi cơ bản để cởi trói cho nông dân Trung Quốc hiện giờ. Hiện Trung Quốc có hơn một trăm triệu nông dân đi tìm việc ở thành phố, không hộ khẩu, tức là mất hầu hết những quyền lợi xã hội của các công dân. Cơn suy yếu kinh tế đang diễn ra đang đẩy các nông dân đó trở về làng. Báo chí của đảng Cộng Sản cho biết năm nay đã có gần 5 triệu người trở về làng trước khi có đợt hồi hương ăn Tết. Báo chí nhà nước cũng tiên đoán sang năm sẽ có gần 7 triệu công nhân lưu động này thất nghiệp, nhưng con số chắc sẽ cao hơn. Những đòi hỏi tự do của giới trí thức đang trùng hợp với quyền lợi thiết thực của giới lao động, đó là một hiện tượng mà chính quyền cộng sản đang lo theo dõi.
Một lực lượng khác cũng đang đòi hỏi cải tổ nhanh hơn, là các công nhân. Theo báo chí của đảng cộng sản, trong năm nay số những cuộc đình công đã lên tới 60,000 vụ, tăng gấp đôi so với năm 2007. Một đặc điểm trong những cuộc đình công này là tình trạng lan tràn, nơi nọ hưởng ứng nơi kia, nhờ mạng lưới Internet. Ðiểm đặc biệt thứ hai là, ngoài việc đòi hỏi những quyền lợi về lương bổng như trước đây, các đại biểu công nhân đã công khai đòi quyền tự thành lập công đoàn độc lập của chính họ. Hiện nay ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam, chỉ có một tổng công đoàn do đảng Cộng Sản kiểm soát.
Một điều đáng chú ý là các công nhân đình công đưa ra các đòi hỏi trên vẫn không bị bắt, cho thấy lực lượng của họ đủ mạnh khiến chính quyền phải nể nang. Ngược lại, chính quyền tìm cách cho công nhân được thỏa mãn những yêu cầu khác. Ở thành phố Thẩm Quyến, nơi bắt đầu cuộc cải tổ kinh tế sâu rộng của Ðặng Tiểu Bình gần 30 năm trước, bây giờ lại đi bước đầu trong việc sửa đổi luật lao động, cho phép các công nhân được đình công hợp pháp dễ dàng hơn. Thành phố này đã công nhận quyền thương thuyết tập thể các quyền lợi của người lao động, một bước để tiến tới các công đoàn độc lập. Thẩm Quyến cũng là nơi tỏ ý muốn thí nghiệm cho dân trực tiếp bàu cử những người lãnh đạo thành phố. Ý kiến này đã được đưa ra như một dự thảo kế hoạch để thăm dò, đảng Cộng Sản không thích nhưng đa số dân chúng tất nhiên hưởng ứng. Trong tuần trước, ông Du Khả Bình, thuộc viện nghiên cứu xã hội của đảng Cộng Sản đã đăng một bài trên báo chính thức bầy tỏ ý kiến Trung Quốc cần tiến thêm một bước căn bản, là cải tổ chính trị. Du Khả Bình (Yu Keping) là tác giả cuốn “Dân chủ là điều tốt ở Ðông cũng như Tây,” (Dân Chủ Cá Hảo Ðông Tây). Ông đề cao tính chất quang minh trong chế độ tự do dân chủ (transparency, người Trung Hoa lục địa dịch là Thấu Minh Ðộ). Ông Du Khả Bình là phó chủ tịch ủy ban dịch thuật nhà nước, nên ý kiến của ông còn rất bảo thủ; ông chỉ đề nghị chuyển hóa chế độ một cách tiệm tiến chứ chưa dám đòi thay đổi chính thể. Trong bài báo mới, ông đã nói đến công cuộc “Dân Chủ hóa,” mặc dù còn dè dặt không cụ thể như nhóm Hiến Chương 08. Nhưng càng nhiều người nói đến nhu cầu dân chủ hóa càng tốt!
Sau 30 năm cải cách kinh tế, Trung Quốc đang bước vào một giai đoạn mới, vì người dân đang chứng tỏ ý thức về quyền lợi công dân của họ. Họ không chấp nhận cảnh một đảng độc quyền quyết định mọi việc cho cả quốc gia. Từ giới trí thức đến các công nhân và nông dân, họ đòi được tham dự. Không thể để yên cho một nhóm người trong đảng Cộng Sản quyết định mọi việc theo lối mò mẫm của họ. Ðể lập thế cân bằng với nhà nước, một xã hội công dân đang thành hình, các nhà trí thức đã tự lên tiếng, các công nhân đã tự hành động. Những người đóng vai công dân đang đòi được hưởng đủ các quyền công dân.
Ngô Nhân Dụng Năm 1978, Ðặng Tiểu Bình được phục hồi với quyền lực cao nhất Trung Quốc và đến cuối năm ông bắt đầu cải tổ kinh tế. Tuần trước, ông Hồ Cẩm Ðào đã long trọng kỷ niệm 30 năm chương trình thay đổi này, kể công đảng Cộng Sản đã mở cửa nên dân chúng mới được ấm no. Không ai dám hỏi: “Còn cái tội đóng kín cả nước, thí nghiệm các chính sách tập thể hóa khiến cả xã hội chìm trong cảnh nghèo nàn chậm tiến, làm 30 triệu người chết đói, thì tội đó ai chịu?”
Người ta có thể bỏ qua chuyện quá khứ trước năm 1978. Nhưng khi nhìn đến hiện tại và tương lai, người ta vẫn phải đặt câu hỏi: Tại sao trong 30 năm nay đảng Cộng Sản vẫn kìm hãm tốc độ của việc cải tổ, không cho toàn dân được tự do kinh doanh và sống trong một xã hội có luật pháp bảo đảm, như các nước tiền tiến trên thế giới? Cụ thể hơn, tại sao bây giờ đảng Cộng Sản vẫn không chịu cải tổ về chính trị để những người dân thấp cổ bé miệng được tham dự vào quá trình quyết định số phận của chính mình, như trong việc chọn người lãnh đạo địa phương và trung ương? Ðó là những câu hỏi mà nhiều người dân Trung Hoa đang nêu lên, bằng lời nói và bằng hành động. Lời nói, có bản Hiến Chương 08, còn các công nhân đình công khắp nơi đã dùng hành động đình công để nêu ý kiến đòi quyền tự do lập nghiệp đoàn.
Trước kia, các đảng Cộng Sản Liên Xô, Trung Quốc cũng như Việt Nam thường hay vẽ ra những “kế hoạch” dài hạn và ngắn hạn. Các kế hoạch đó không biết thực hiện được hay không nhưng đọc thấy báo cáo lúc nào cũng rất hay.
Tuy nhiên, công việc gọi là “cải tổ” ở Trung Quốc hay là “đổi mới kinh tế” ở Việt Nam thì không có một “kế hoạch” nào cả. Tất cả chỉ gồm những ý kiến nhỏ được thử nghiệm dần dần, nói theo lối ông Ðặng Tiểu Bình ví von, giống như dùng bàn chân “dò đá qua sông.” Công cuộc cải tổ bắt đầu từ chính sách thả lỏng cho nông dân được làm khoán, làm nhiều ăn nhiều, làm ít ăn ít, ý kiến đó đã tự phát sinh vì chính các nông dân đói quá phải làm liều và thành công, sau đó được nêu lên làm gương cho các nơi khác theo.
Tháng 12 năm 1978, một nhóm nông dân thuộc “công xã nhân dân” làng Tiểu Cương, tỉnh An Huy vì đói quá nên đã họp bí mật và ký kết với nhau: Họ sẽ chia ngũ cốc thu hoạch được theo sức đóng góp của các xã viên, ai làm nhiều được hưởng nhiều, thay vì chia đồng đều theo tiêu chuẩn của nhà nước. Hành động này vào thời đó có thể bị kết tội “phản cách mạng,” đáng chém đầu! Ðằng nào cũng chết, những viễn ảnh chết đói chắc chắn sẽ xẩy ra nếu không dám liều, còn viễn ảnh bị giết vì tội “phản động” thì may ra còn có thể thoát. Khi các cán bộ cấp trên biết bản thỏa hiệp bí mật này, họ phải làm ngơ vì biết nông dân đang chết đói dần mòn. Tới vụ mùa năm đó, số sản xuất của công xã tăng vọt lên, và cả xã thoát khỏi nạn đói. Khi chính quyền cộng sản ở trung ương biết chuyện xẩy ra ở Tiểu Cương, không những họ làm ngơ không truy tội, họ còn đến tận nơi nghiên cứu rồi từ đó cho phép áp dụng trên toàn quốc. Ðó chính là bước đầu công cuộc “cải tổ kinh tế” của Ðặng Tiểu Bình, cho phép người Trung Hoa trở về “làm ăn theo lối cũ.” Không phải các “lãnh tụ” anh minh nẩy ra ý kiến và lập kế hoạch đổi mới kinh tế ở Trung Quốc. Chính các nông dân đã khơi mào cuộc cách mạng này! Dân làng Tiểu Cương may mắn hơn ông Kim Ngọc ở Vĩnh Phú nước ta, chỉ vì muốn giúp dân đỡ đói mà bị hạ tầng công tác!
Sở dĩ Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Trung Quốc lúc đó đã đồng ý với Ðặng Tiểu Bình, bởi vì họ không có đường nào khác. Sáu, bẩy trăm triệu dân Trung Hoa đã kiệt quệ sau những chiến dịch lớn huy động toàn dân như “chống hữu phái,” “trăm hoa đua nở,” “bước nhẩy vọt” hoặc cuộc “cách mạng văn hóa vô sản” điên rồ của Mao Trạch Ðông. Nếu không thay đổi, có thể sinh đại loạn.
Nhưng trong 30 năm qua, công việc đổi mới kinh tế ở Trung Quốc vẫn theo lối “dò đá qua sông” của Ðặng Tiểu Bình. Cộng Sản Trung Quốc đã “dò đá” dưới lòng sông bằng cả hai bàn chân, và hai bàn chân của họ thường không đồng ý với nhau, có khi chân nọ còn đá chân kia nữa. Sau khi cởi trói cho nông thôn, kết quả trông thấy là nông dân được tự do dùng ruộng đất đã gia tăng năng suất lao động; bước thứ nhì Ðặng Tiểu Bình muốn cải tổ các lãnh vực công nghiệp và thương mại, đã bị cản trở ngay từ trong Bộ Chính Trị. Nhiều lãnh tụ “cộng sản chân chính” không chịu tiến thêm bước nữa. Bàn chân trái chống lại bàn chân phải, vì họ không thể chấp nhận được việc mở cửa giao thương với các nước tư bản. Họ cũng không thể chấp nhận cho tư nhân tổ chức việc sản xuất và trao đổi hàng hóa, những hành động vẫn bị chủ nghĩa Mác Lênin kết án là bóc lột. Chính ông Ðặng Tiểu Bình đã dùng uy tín của riêng ông đưa bàn chân phải tiến thêm bước nữa, khi ông mở một cuộc du hành đến các khu chế xuất ở Thẩm Quyến, Hạ Môn. Các ngôi làng nhỏ đã biến thành những thành phố, không khác gì dân làng Tiểu Cương đã thoát nạn đói. Ðặng Tiểu Bình dùng cơ hội đó ca ngợi những tiến bộ kinh tế đạt được sau khi bắt chước cách tổ chức sản xuất và tiếp thị theo lối tư bản. Bàn chân phải báo tin cho chân trái biết rằng kết quả thấy tốt, cần phải tiến tới! Những bước thay đổi sau cũng vậy, đều là những bước dò đá qua sông chen lẫn với những cuộc xung đột giữa chân phải và chân trái, có khi tiến khi lui. Hiện nay khuynh hướng của cộng sản Trung Quốc là ngừng lại, phe thoái bộ có vẻ đang thắng thế.
Con đường cải tổ kinh tế mò mẫm và ngập ngừng của đảng Cộng Sản Trung Quốc tạo ra hai hậu quả xấu đáng lẽ có thể tránh được.
Về mặt kinh tế, chính sách rụt rè cản trở việc xây dựng những định chế tài chánh cần thiết cho nền kinh tế thị trường, những định chế đó cũng giống như hạ tầng cơ sở vật chất của kinh tế. Vì phải thỏa hiệp với tư tưởng bảo thủ trì hoãn việc cải tổ, tới nay hệ thống ngân hàng ở Trung Quốc vẫn chưa thay đổi cho đủ, để đóng đúng vai trò của nó là thu hút tiền vốn của toàn dân để chuyển tới những xí nghiệp có khả năng sử dụng vốn với hiệu năng cao nhất. Ở Trung Quốc hiện nay, nhà nước, tức là đảng Cộng Sản, làm công việc huy động và phân phối vốn, chứ không phải một hệ thống ngân hàng thực. Một bộ máy thư lại không thể nào làm thay công việc của một hệ thống ngân hàng tự do được. Bên cạnh hệ thống ngân hàng, các định chế khác như thị trường chứng khoán vẫn tỏ ra còn ấu trĩ và lỏng lẻo, cũng không đóng được vai trò “trung gian tài chánh” (financial intermediation) qua đó xã hội chia sẻ và phân tản rủi ro cùng lợi nhuận. Các thị trường chứng khoán ở Trung Quốc hiện nay có vẻ như những sòng bài nhiều hơn là thị trường thật sự.
Hậu quả xấu thứ hai là về mặt xã hội. Ðảng Cộng Sản vẫn thu hẹp các cuộc tranh luận về đường lối quốc gia bên trong nội bộ đảng, hạn chế sự tham gia của người ngoài vào một thiểu số các nhà trí thức được đảng trợ cấp để nghiên cứu, nhưng không được tự quyết định ngay cả việc phổ biến các công trình nghiên cứu của mình.
Vì giới hạn sự tham dự của nhân dân như vậy, cho nên lớp người hiện nay đang tranh luận quyết định đường lối sống cho hơn một tỷ người Trung Hoa là các đảng viên cao cấp, họ nằm trong những mạng lưới khai thác quyền lực để chia nhau tài lợi. Ðó là một mạng lưới tham nhũng. Các chính sách họ bàn nhau không phản ảnh quyền lợi chung của quốc gia mà trước hết là để phục vụ quyền lợi của mỗi nhóm.
Khi những nhóm đang nắm quyền tranh luận để quyết định đường lối, họ sẽ thiên về việc giữ người tình trạng hiện có, là tình trạng mà họ đã quen, đã biết cách khai thác và đang hưởng lợi. Vì vậy, họ sẽ tập trung thêm quyền quyết định vào guồng máy nhà nước, ở trung ương cũng như ở các tỉnh. Và họ sẽ ngăn cản những bước cải tổ cần thiết khác. Ngược lại, những người bị gạt ra bên lề sẽ tìm cách ngóc đầu dậy và phản đối. Sự chênh lệch giầu nghèo, do chính sách kinh tế tạo ra, càng làm cho mâu thuẫn giữa bên thống trị và bên bị trị gay gắt hơn. Hai lớp người bị gạt ra bên ngoài những cuộc tranh luận về đường lối quốc gia là các nhà trí thức độc lập và giới nông dân lao động.
Tuần trước trong mục này đã tường thuật về Hiến Chương 08, khởi đầu với 300 nhà trí thức, ký bản hiến chương đòi tự do và thay đổi hệ thống chính trị, nhân ngày Quốc tế Nhân quyền. Nhóm này đã được mấy ngàn người khác ký tên thêm ủng hộ.
Những yêu cầu của Hiến Chương 08 như bãi bỏ chế độ hộ khẩu, cho nông dân được mua bán ruộng đất tự do có thể coi là những đòi hỏi cơ bản để cởi trói cho nông dân Trung Quốc hiện giờ. Hiện Trung Quốc có hơn một trăm triệu nông dân đi tìm việc ở thành phố, không hộ khẩu, tức là mất hầu hết những quyền lợi xã hội của các công dân. Cơn suy yếu kinh tế đang diễn ra đang đẩy các nông dân đó trở về làng. Báo chí của đảng Cộng Sản cho biết năm nay đã có gần 5 triệu người trở về làng trước khi có đợt hồi hương ăn Tết. Báo chí nhà nước cũng tiên đoán sang năm sẽ có gần 7 triệu công nhân lưu động này thất nghiệp, nhưng con số chắc sẽ cao hơn. Những đòi hỏi tự do của giới trí thức đang trùng hợp với quyền lợi thiết thực của giới lao động, đó là một hiện tượng mà chính quyền cộng sản đang lo theo dõi.
Một lực lượng khác cũng đang đòi hỏi cải tổ nhanh hơn, là các công nhân. Theo báo chí của đảng cộng sản, trong năm nay số những cuộc đình công đã lên tới 60,000 vụ, tăng gấp đôi so với năm 2007. Một đặc điểm trong những cuộc đình công này là tình trạng lan tràn, nơi nọ hưởng ứng nơi kia, nhờ mạng lưới Internet. Ðiểm đặc biệt thứ hai là, ngoài việc đòi hỏi những quyền lợi về lương bổng như trước đây, các đại biểu công nhân đã công khai đòi quyền tự thành lập công đoàn độc lập của chính họ. Hiện nay ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam, chỉ có một tổng công đoàn do đảng Cộng Sản kiểm soát.
Một điều đáng chú ý là các công nhân đình công đưa ra các đòi hỏi trên vẫn không bị bắt, cho thấy lực lượng của họ đủ mạnh khiến chính quyền phải nể nang. Ngược lại, chính quyền tìm cách cho công nhân được thỏa mãn những yêu cầu khác. Ở thành phố Thẩm Quyến, nơi bắt đầu cuộc cải tổ kinh tế sâu rộng của Ðặng Tiểu Bình gần 30 năm trước, bây giờ lại đi bước đầu trong việc sửa đổi luật lao động, cho phép các công nhân được đình công hợp pháp dễ dàng hơn. Thành phố này đã công nhận quyền thương thuyết tập thể các quyền lợi của người lao động, một bước để tiến tới các công đoàn độc lập. Thẩm Quyến cũng là nơi tỏ ý muốn thí nghiệm cho dân trực tiếp bàu cử những người lãnh đạo thành phố. Ý kiến này đã được đưa ra như một dự thảo kế hoạch để thăm dò, đảng Cộng Sản không thích nhưng đa số dân chúng tất nhiên hưởng ứng. Trong tuần trước, ông Du Khả Bình, thuộc viện nghiên cứu xã hội của đảng Cộng Sản đã đăng một bài trên báo chính thức bầy tỏ ý kiến Trung Quốc cần tiến thêm một bước căn bản, là cải tổ chính trị. Du Khả Bình (Yu Keping) là tác giả cuốn “Dân chủ là điều tốt ở Ðông cũng như Tây,” (Dân Chủ Cá Hảo Ðông Tây). Ông đề cao tính chất quang minh trong chế độ tự do dân chủ (transparency, người Trung Hoa lục địa dịch là Thấu Minh Ðộ). Ông Du Khả Bình là phó chủ tịch ủy ban dịch thuật nhà nước, nên ý kiến của ông còn rất bảo thủ; ông chỉ đề nghị chuyển hóa chế độ một cách tiệm tiến chứ chưa dám đòi thay đổi chính thể. Trong bài báo mới, ông đã nói đến công cuộc “Dân Chủ hóa,” mặc dù còn dè dặt không cụ thể như nhóm Hiến Chương 08. Nhưng càng nhiều người nói đến nhu cầu dân chủ hóa càng tốt!
Sau 30 năm cải cách kinh tế, Trung Quốc đang bước vào một giai đoạn mới, vì người dân đang chứng tỏ ý thức về quyền lợi công dân của họ. Họ không chấp nhận cảnh một đảng độc quyền quyết định mọi việc cho cả quốc gia. Từ giới trí thức đến các công nhân và nông dân, họ đòi được tham dự. Không thể để yên cho một nhóm người trong đảng Cộng Sản quyết định mọi việc theo lối mò mẫm của họ. Ðể lập thế cân bằng với nhà nước, một xã hội công dân đang thành hình, các nhà trí thức đã tự lên tiếng, các công nhân đã tự hành động. Những người đóng vai công dân đang đòi được hưởng đủ các quyền công dân.
Cuối năm nói chuyện nhân quyền và thể diện
Tác giả: Nguyễn Thị Lan Anh
Cuối năm tây, thị trường Việt Nam ảm đạm lạnh lẽo như gió mùa đông bắc. Tha hồ cho quảng cáo kích cầu từ ba nhà – nhà nước, nhà sản xuất, nhà phân phối – người dân Sài Gòn vẫn không hào phóng mở rộng hầu bao. Tuy đèn mầu, nhạc giáng sinh, sự hoạt náo tưng bừng trên phố Lê Lợi, Nguyễn Huệ, quảng trường Nhà Thờ Đức Bà tạm thời cuốn họ vào không khí lễ hội, nhưng không thể cất giúp họ mặc cảm tự ti. Nguyên nhân sự tự ti nọ, bắt nguồn từ bốn năm chuyện phạm nhân quyền, nhục quốc thể gần đây.
Nhân quyền – cẩu quyền
Bạn đọc ở xa, lên internet đọc tin trong nước, chẳng lạ gì việc tập đoàn massage Tân Hoàng Phát ở TPHCM bị ‘đánh sập’. Nhưng để có đầu có đuôi, kẻ viết bài xin tóm tắt lại nội vụ: từ năm 2004 tới nay, trên địa bàn Thủ Đức, bỗng xuất hiện cặp vợ chồng tuổi ngoại tam tuần, thích xây công viên văn hóa, làm nhà cho người nghèo, ủng hộ quỹ từ thiện giúp cụ già neo đơn, trẻ nhỏ mồ côi…Ông đại diện ban điều hành tổ dân phố, bà tổ trưởng tổ 47 đều khen họ hiền lành, tốt bụng. Riêng bà vợ còn được xét tặng danh hiệu ‘Người tốt việc tốt’ cấp quận năm 2007. Vậy mà, đùng một cái, ngày 6 tháng 12 mới đây, mặt nạ đạo đức của vợ chồng nọ bị công an Thành phố phối hợp với công an quận Thủ Đức lột trần. Chồng – Phan Cao Trí, vợ – Phan thị Yến, hiện nguyên hình là hai con sói hung tợn. Nạn nhân của chúng, các cô bé quàng khăn đỏ, 100% là gái Tây Nam Bộ trẻ đẹp, non nớt (có em mới mười bốn mười lăm tuổi) nghe lời dụ dỗ hứa hẹn, ngoan ngoãn theo lên Sài Gòn, chui vào miệng sói, để rồi bị giam lỏng, bị ép học kỹ thuật kích dục, hàng ngày hành nghề dưới chiêu bài ‘kỹ thuật viên mát xa’ trong hệ thống 5 cơ sở của Tân Hoàng Phát rải từ Bình Dương tới Đồng Nai, Sài Gòn.
Đọc phóng sự trên báo Pháp Luật, Tuổi Trẻ, Công An Nhân Dân…về thủ đoạn chăn dắt, bóc lột nô lệ gớm ghiếc như thời Trung cổ của ông bà chủ Tân Hoàng Phát và đám tay chân, người đọc cả nước bàng hoàng, phẫn nộ, còn dân ở khu vực chung quanh thì cười khẩy. Họ bảo chuyện khách đến mát xa, say xỉn gây gổ đánh nhau, chuyện kỹ thuật viên bị ‘xử đẹp’ diễn ra hàng ngày ai cũng biết, chỉ các quan thành phố, quận, phường xã, là ‘đui huyền mù’!
Tính tới nay, khi đế chế Tân Hoàng Phát đã bị xóa sổ, bước đầu, có hơn 50 nạn nhân của nó dám viết đơn tố cáo từng bị bỏ đói, bị nhốt vào chuồng chó vì không biết chiều khách; bị đánh đập phải liều nhảy lầu để trốn; bị bắt nộp vài chục triệu để ‘chuộc thân’; tiền lương, tiền boa bị thu hết, phải viết giấy nợ khống; phải mua phấn son, quần áo ‘nội bộ’ với giá đắt gấp nhiều lần bên ngoài…Nội vụ thế nào, còn phải chờ kết quả điều tra của công an, nhưng tựu trung dư luận rất ngạc nhiên vì giữa lòng Sài Gòn hoa lệ, nơi pháp luật xã hội chủ nghĩa luôn được đề cao về tính nghiêm minh, mà nhân phẩm con người bị đánh lộn sòng với ‘chó phẩm’ thì không thể ‘ngửi’ nổi.
Vụ Tân Hoàng Phát chưa nguôi, báo chí đã ‘tương’ thêm một bài về chiến công của cảnh sát quận Tân Phú trong việc khám phá ‘đường dây coi mắt’. Tại một ngôi nhà trong hẻm đường Trịnh Đình Trọng – Tân Phú, 106 cô gái trẻ đang chen chúc chờ ‘trình diễn’ cho các khách nam người Hàn Quốc coi. Ai cũng hồi hộp mong được ‘chấm đậu’, được khách cưới làm vợ, đưa về Hàn Quốc. Khi công an ập vào, chủ ‘đường dây’ phía Việt Nam là Vòng A Mùi, ‘trưởng đoàn’ phía Hàn Quốc là Jang Hong Il cùng bốn chú rể, sáu thân nhân chú rể, 12 người môi giới, tất cả đều bị đưa về trụ sở cảnh sát.
Tại đấy, theo khai nhận của trưởng đoàn Jang thì nếu mai mối thành công, mỗi khách Hàn Quốc phải trả cho ông số tiền từ 6.000đô-10.000đô. Cộng tác với Jang là Vòng A Mùi. Khi Jang có yêu cầu cho khách Hàn ‘xem hàng’, Mùi lập tức sai em và con đi gom gái từ 10 ‘lò’ khác nhau trên địa bàn Sài Gòn, đem đến những địa điểm bí mật ‘trình diễn’ cho khách chọn. Được biết, nhiều ‘thí sinh’, và cả ‘ban tổ chức’ họ Vòng, từng là ‘khách quen’ của công an trong đợt truy quét hồi tháng 7- 2008. Đợt đó, đông vui hơn đợt này, có tới 121 cô gái tranh nhau cơ hội lọt mắt xanh của 3 người Hàn Quốc tại khách sạn D.Q- Gò Vấp. Lúc ngồi làm tường trình, nhiều cô không biết chữ, ngay cả ký tên, cũng phải ’ ịn mực điểm chỉ’.
Bộ dạng hơn trăm cô gái Nam Bộ ngồi tại trụ sở công an, khi lên báo, trông vừa đáng thương, vừa đáng… đè ra quất mấy roi vào đít vì toàn da trắng tóc dài mà khờ khạo như trẻ con. Cô nào cũng nói xoen xoét ‘lấy chồng để báo hiếu, trả nợ cha mẹ. Sang đó sống chung, mình tốt với họ, thì họ tốt với mình’.
Các cô gái nhà nghèo, thất học, không hiểu chuyện đời đã đành, nhưng còn những người hiểu chuyện, là những người lớn. Họ đâu hết mà để bọn trẻ làm kỳ cục quá xá. Đánh nhau với giặc ngoại xâm bao nhiêu năm mới giành được độc lập tự do. Rốt cuộc chỉ hành xử quyền tự do đó vào mỗi việc đem thân đi bán, thì .... Nhưng thôi, dù sao cũng là chuyện trong nhà, đóng cửa bảo nhau, không như chuyện ‘ngoài nhà’ sau đây.
Lấy mo che mặt
Nó là chuyện bà Vũ Mộc Anh, bí thư thứ nhất đại sứ quán Việt Nam tại Nam Phi. Bà này bị cho là có tham gia buôn bán sừng tê giác. Đài BBC đưa tin, ngày 21 tháng 11 cảnh sát Nam Phi đã có buổi làm việc với báo Mail & Guardian về nội vụ (Mail & Guardian là tờ báo đầu tiên đưa tin từ băng ghi hình bà Anh của chương trình truyền hình 50/50 thực hiện cách đó 2 tháng và đã phát vào ngày 17-11). Ngay sau thông tin này, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã phải triệu hồi bà Vũ Mộc Anh về nước làm tường trình.
Sừng tê giác xấu xí ô dề, đen thui, hao hao sừng trâu, chả biết quý gì đến nỗi…Nhiều người đọc bình thường thắc mắc thế. Có lẽ họ quên truyền thuyết An DươngVương kể sau khi chém con gái xong, vua cầm sừng tê bảy tấc rẽ nước đi xuống biển. Chi tiết hoang đường đó, cho thấy người xưa coi sừng tê thần thông quảng đại cỡ...tiềm thủy đỉnh. Ngoài ra, cứ lời các cụ đông y bí truyền, thì sừng tê còn có tác dụng cải tử hoàn sinh, kích dục (nếu có sừng này, e tay và miệng các kỹ thuật viên tập đoàn mát xa Tân Hoàng Phát thất nghiệp hết). Chính vì sừng tê quý hiếm thế nên bản thân loài động vật có sừng này bị săn bắn ráo riết. Trên thị trường đông dược ngầm ở Hà Nội để mua được 100 gram sừng tê thứ thiệt, phải trảù ít nhất 30 triệu đồng. Cứ thế nhân lên…. Bảo sao bà Vũ Mộc Anh không hy sinh thể diện quốc gia!
Bạn đọc đừng lo bà Anh hy sinh lẻ loi cô độc. Vì sau bà, ông Đặng Xuân Hợp, Phó cơ trưởng của Việt Nam Airlines, cũng ‘oanh liệt hy sinh’ tại Nhật Bản vì bị tình nghi vận chuyển hàng ăn trộm. Trên mặt các báo Tokyo, Yomiuri, Asahi, báo Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Pháp Luật… ngày 18-12, Phó cơ trưởng Đặng Xuân Hợp đều xuất hiện với bộ mặt xấu hổ, thành tích xấu hổ: giúp các tu nghiệp sinh Việt Nam chuyển hàng ăn trộm về nước ‘mỗi lần được 100USD’. Từ vụ ông Hợp, báo chí có dịp xới lại hàng loạt những chuyện chuyển hàng, chuyển ngân bất minh của các tiếp viên, phi công Việt Nam từ năm 2006 trở lại đây (bị hải quan bắt giữ ở sân bay Nhật, Hàn, Úc, Đức, Việt Nam…). Xới đến đâu, người đọc thở dài đến đó. Nhưng rồi thương, cũng cố chống chế ‘chỉ cá biệt, cò con thôi. Cấp thấp chúng nó mới thế’. Nghĩ vậy là lầm! Vì vụ PCI gây rúng động dư luận Việt – Nhật còn chưa nguội chút nào. Có tích mới dịch nên tuồng! Để độc giả dễ theo dõi tuồng, kẻ viết bài xin ngược dòng thời gian, nói về tích.
Số là từ khi dự án ‘Đại lộ Đông Tây’ và ‘Cải tạo môi trường nước’ được triển khai ở TPHCM, ông Huỳnh Ngọc Sĩ, Phó Giám đốc Sở Giao thông Công chánh TPHCM đã được cử làm Giám đốc Ban Quản lý dự án (PMU). Được ông Giám đốc PMU ủng hộ, công ty tư vấn Thái Bình Dương (PCI) đã trúng thầu trong các dịch vụ tư vấn xây dựng. Từ năm 2001 đến năm 2006, số tiền PCI ‘đền ơn’ ông Giám đốc PMU là 2,43 triệu đô la. Chỉ riêng tháng 12 năm 2003 và tháng 8 năm 2006 đã là 820.000 đô la. Nội vụ sẽ mãi nằm trong vòng bí mật, nếu bốn cựu viên chức chóp bu của PCI Nhật Bản là cựu chủ tịch, cựu quản lý, cựu giám đốc điều hành, cựu giám đốc văn phòng không bị truy tố hôm 25/8/2008 tại chính quốc vì tội hối lộ, vi phạm luật chống cạnh tranh không bình đẳng. Vụ việc nghiêm trọng đến nỗi chính phủ Nhật phải ra quyết định ngưng cấp viện vốn vay ODA cho Việt Nam năm tới, đóng băng luôn vốn vay năm nay, chừng 700 triệu đô la ‘cho tới khi ủy ban điều tra chung đưa ra được các biện pháp hữu hiệu và đúng đắn để chống tham nhũng’.
Mặc dù Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đều tỏ quyết tâm không bao che, không chậm trễ, né tránh trong vụ PCI, nhưng phải gần nửa năm sau khi tin xấu xì ra trên báo chí Nhật Bản, thì mãi cho tới ngày 9 tháng 12, Bộ Công An Việt Nam mới khởi tố vụ án nhận hối lộ liên quan tới ông Huỳnh Ngọc Sĩ. Nhân chữ Sĩ tên ông, dư luận cắc cớ hỏi nhau gần 2, 5 triệu đô la hối lộ nọ, ông Sĩ ăn một mình sao hết. Chắc phải điều đủ bộ tướng sĩ tượng xe. Nhưng gặp nạn, tướng, tượng, xe không thấy, chỉ Sĩ chịu tội một mình. Tội thay!
Trộm nghĩ, người phạm pháp xưa nay thường bị gán cho động cơ là ‘đói ăn vụng, túng làm càn’. Nhưng bà Anh, ông Hợp, ông Sĩ lại không hề thuộc diện túng đói. Nghĩa là không có lý do để buôn lậu, vận chuyển hàng trái phép, nhận hối lộ. Đã không túng đói, mà lại là cán bộ trung kiên, được giáo dục đến nơi đến chốn về lòng trung thành với Đảng, về ý thức trách nhiệm với màu cờ tổ quốc. Đến như thế mà còn vì tiền vứt bỏ thể diện quốc gia, thì trách sao những cô gái mát xa kích dục ở Tân Hoàng Phát, những cô gái tham gia ‘trình diễn’ cho khách Hàn chọn như chọn cá chọn rau, vốn là gái quê Nam Bộ nghèo, thất học, dại khờ thứ thiệt, lại chẳng coi nhân phẩm như ‘cẩu phẩm’
Viết tới đây, bỗng nhớ lại lời phát biểu của công dân Ngô Quang Kiệt trong cuộc họp đòi đất ở Hà Nội dạo nọ. Tuy không phải là quan chức hay trí thức khoa bảng với học hàm học vị lê thê in trên name card, nhưng không phải người vô học, vô danh, nghĩa là không thể phát biểu hồ đồ, vậy mà chẳng hiểu nghĩ ngợi thế nào, ông Kiệt lại phóng ngôn – đại khái là cảm thấy nhục nhã khi cầm tấm hộ chiếu Việt Nam lúc đi nước ngoài gì đó...Khỏi nói cũng biết nhờ câu nói mang mầu sắc ‘phỉ báng lịch sử, đi ngược lại dân tộc’ này, ông Kiệt đã có tên trong sách kỷ lục ghi nét.
Oan ưng thế nào, không biết rõ không dám lạm bàn, chỉ nhân điểm mấy vụ ‘hót’ kể trên, để thấy rằng lời lẽ tầm bậy (!) của ông Ngô nọ, e hơi bị.... không sai. Và sự tự ti mặc cảm của người Sài Gòn dịp cuối năm, e không phải là không đúng.
Tác giả: Nguyễn Thị Lan Anh
Cuối năm tây, thị trường Việt Nam ảm đạm lạnh lẽo như gió mùa đông bắc. Tha hồ cho quảng cáo kích cầu từ ba nhà – nhà nước, nhà sản xuất, nhà phân phối – người dân Sài Gòn vẫn không hào phóng mở rộng hầu bao. Tuy đèn mầu, nhạc giáng sinh, sự hoạt náo tưng bừng trên phố Lê Lợi, Nguyễn Huệ, quảng trường Nhà Thờ Đức Bà tạm thời cuốn họ vào không khí lễ hội, nhưng không thể cất giúp họ mặc cảm tự ti. Nguyên nhân sự tự ti nọ, bắt nguồn từ bốn năm chuyện phạm nhân quyền, nhục quốc thể gần đây.
Nhân quyền – cẩu quyền
Bạn đọc ở xa, lên internet đọc tin trong nước, chẳng lạ gì việc tập đoàn massage Tân Hoàng Phát ở TPHCM bị ‘đánh sập’. Nhưng để có đầu có đuôi, kẻ viết bài xin tóm tắt lại nội vụ: từ năm 2004 tới nay, trên địa bàn Thủ Đức, bỗng xuất hiện cặp vợ chồng tuổi ngoại tam tuần, thích xây công viên văn hóa, làm nhà cho người nghèo, ủng hộ quỹ từ thiện giúp cụ già neo đơn, trẻ nhỏ mồ côi…Ông đại diện ban điều hành tổ dân phố, bà tổ trưởng tổ 47 đều khen họ hiền lành, tốt bụng. Riêng bà vợ còn được xét tặng danh hiệu ‘Người tốt việc tốt’ cấp quận năm 2007. Vậy mà, đùng một cái, ngày 6 tháng 12 mới đây, mặt nạ đạo đức của vợ chồng nọ bị công an Thành phố phối hợp với công an quận Thủ Đức lột trần. Chồng – Phan Cao Trí, vợ – Phan thị Yến, hiện nguyên hình là hai con sói hung tợn. Nạn nhân của chúng, các cô bé quàng khăn đỏ, 100% là gái Tây Nam Bộ trẻ đẹp, non nớt (có em mới mười bốn mười lăm tuổi) nghe lời dụ dỗ hứa hẹn, ngoan ngoãn theo lên Sài Gòn, chui vào miệng sói, để rồi bị giam lỏng, bị ép học kỹ thuật kích dục, hàng ngày hành nghề dưới chiêu bài ‘kỹ thuật viên mát xa’ trong hệ thống 5 cơ sở của Tân Hoàng Phát rải từ Bình Dương tới Đồng Nai, Sài Gòn.
Đọc phóng sự trên báo Pháp Luật, Tuổi Trẻ, Công An Nhân Dân…về thủ đoạn chăn dắt, bóc lột nô lệ gớm ghiếc như thời Trung cổ của ông bà chủ Tân Hoàng Phát và đám tay chân, người đọc cả nước bàng hoàng, phẫn nộ, còn dân ở khu vực chung quanh thì cười khẩy. Họ bảo chuyện khách đến mát xa, say xỉn gây gổ đánh nhau, chuyện kỹ thuật viên bị ‘xử đẹp’ diễn ra hàng ngày ai cũng biết, chỉ các quan thành phố, quận, phường xã, là ‘đui huyền mù’!
Tính tới nay, khi đế chế Tân Hoàng Phát đã bị xóa sổ, bước đầu, có hơn 50 nạn nhân của nó dám viết đơn tố cáo từng bị bỏ đói, bị nhốt vào chuồng chó vì không biết chiều khách; bị đánh đập phải liều nhảy lầu để trốn; bị bắt nộp vài chục triệu để ‘chuộc thân’; tiền lương, tiền boa bị thu hết, phải viết giấy nợ khống; phải mua phấn son, quần áo ‘nội bộ’ với giá đắt gấp nhiều lần bên ngoài…Nội vụ thế nào, còn phải chờ kết quả điều tra của công an, nhưng tựu trung dư luận rất ngạc nhiên vì giữa lòng Sài Gòn hoa lệ, nơi pháp luật xã hội chủ nghĩa luôn được đề cao về tính nghiêm minh, mà nhân phẩm con người bị đánh lộn sòng với ‘chó phẩm’ thì không thể ‘ngửi’ nổi.
Vụ Tân Hoàng Phát chưa nguôi, báo chí đã ‘tương’ thêm một bài về chiến công của cảnh sát quận Tân Phú trong việc khám phá ‘đường dây coi mắt’. Tại một ngôi nhà trong hẻm đường Trịnh Đình Trọng – Tân Phú, 106 cô gái trẻ đang chen chúc chờ ‘trình diễn’ cho các khách nam người Hàn Quốc coi. Ai cũng hồi hộp mong được ‘chấm đậu’, được khách cưới làm vợ, đưa về Hàn Quốc. Khi công an ập vào, chủ ‘đường dây’ phía Việt Nam là Vòng A Mùi, ‘trưởng đoàn’ phía Hàn Quốc là Jang Hong Il cùng bốn chú rể, sáu thân nhân chú rể, 12 người môi giới, tất cả đều bị đưa về trụ sở cảnh sát.
Tại đấy, theo khai nhận của trưởng đoàn Jang thì nếu mai mối thành công, mỗi khách Hàn Quốc phải trả cho ông số tiền từ 6.000đô-10.000đô. Cộng tác với Jang là Vòng A Mùi. Khi Jang có yêu cầu cho khách Hàn ‘xem hàng’, Mùi lập tức sai em và con đi gom gái từ 10 ‘lò’ khác nhau trên địa bàn Sài Gòn, đem đến những địa điểm bí mật ‘trình diễn’ cho khách chọn. Được biết, nhiều ‘thí sinh’, và cả ‘ban tổ chức’ họ Vòng, từng là ‘khách quen’ của công an trong đợt truy quét hồi tháng 7- 2008. Đợt đó, đông vui hơn đợt này, có tới 121 cô gái tranh nhau cơ hội lọt mắt xanh của 3 người Hàn Quốc tại khách sạn D.Q- Gò Vấp. Lúc ngồi làm tường trình, nhiều cô không biết chữ, ngay cả ký tên, cũng phải ’ ịn mực điểm chỉ’.
Bộ dạng hơn trăm cô gái Nam Bộ ngồi tại trụ sở công an, khi lên báo, trông vừa đáng thương, vừa đáng… đè ra quất mấy roi vào đít vì toàn da trắng tóc dài mà khờ khạo như trẻ con. Cô nào cũng nói xoen xoét ‘lấy chồng để báo hiếu, trả nợ cha mẹ. Sang đó sống chung, mình tốt với họ, thì họ tốt với mình’.
Các cô gái nhà nghèo, thất học, không hiểu chuyện đời đã đành, nhưng còn những người hiểu chuyện, là những người lớn. Họ đâu hết mà để bọn trẻ làm kỳ cục quá xá. Đánh nhau với giặc ngoại xâm bao nhiêu năm mới giành được độc lập tự do. Rốt cuộc chỉ hành xử quyền tự do đó vào mỗi việc đem thân đi bán, thì .... Nhưng thôi, dù sao cũng là chuyện trong nhà, đóng cửa bảo nhau, không như chuyện ‘ngoài nhà’ sau đây.
Lấy mo che mặt
Nó là chuyện bà Vũ Mộc Anh, bí thư thứ nhất đại sứ quán Việt Nam tại Nam Phi. Bà này bị cho là có tham gia buôn bán sừng tê giác. Đài BBC đưa tin, ngày 21 tháng 11 cảnh sát Nam Phi đã có buổi làm việc với báo Mail & Guardian về nội vụ (Mail & Guardian là tờ báo đầu tiên đưa tin từ băng ghi hình bà Anh của chương trình truyền hình 50/50 thực hiện cách đó 2 tháng và đã phát vào ngày 17-11). Ngay sau thông tin này, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã phải triệu hồi bà Vũ Mộc Anh về nước làm tường trình.
Sừng tê giác xấu xí ô dề, đen thui, hao hao sừng trâu, chả biết quý gì đến nỗi…Nhiều người đọc bình thường thắc mắc thế. Có lẽ họ quên truyền thuyết An DươngVương kể sau khi chém con gái xong, vua cầm sừng tê bảy tấc rẽ nước đi xuống biển. Chi tiết hoang đường đó, cho thấy người xưa coi sừng tê thần thông quảng đại cỡ...tiềm thủy đỉnh. Ngoài ra, cứ lời các cụ đông y bí truyền, thì sừng tê còn có tác dụng cải tử hoàn sinh, kích dục (nếu có sừng này, e tay và miệng các kỹ thuật viên tập đoàn mát xa Tân Hoàng Phát thất nghiệp hết). Chính vì sừng tê quý hiếm thế nên bản thân loài động vật có sừng này bị săn bắn ráo riết. Trên thị trường đông dược ngầm ở Hà Nội để mua được 100 gram sừng tê thứ thiệt, phải trảù ít nhất 30 triệu đồng. Cứ thế nhân lên…. Bảo sao bà Vũ Mộc Anh không hy sinh thể diện quốc gia!
Bạn đọc đừng lo bà Anh hy sinh lẻ loi cô độc. Vì sau bà, ông Đặng Xuân Hợp, Phó cơ trưởng của Việt Nam Airlines, cũng ‘oanh liệt hy sinh’ tại Nhật Bản vì bị tình nghi vận chuyển hàng ăn trộm. Trên mặt các báo Tokyo, Yomiuri, Asahi, báo Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Pháp Luật… ngày 18-12, Phó cơ trưởng Đặng Xuân Hợp đều xuất hiện với bộ mặt xấu hổ, thành tích xấu hổ: giúp các tu nghiệp sinh Việt Nam chuyển hàng ăn trộm về nước ‘mỗi lần được 100USD’. Từ vụ ông Hợp, báo chí có dịp xới lại hàng loạt những chuyện chuyển hàng, chuyển ngân bất minh của các tiếp viên, phi công Việt Nam từ năm 2006 trở lại đây (bị hải quan bắt giữ ở sân bay Nhật, Hàn, Úc, Đức, Việt Nam…). Xới đến đâu, người đọc thở dài đến đó. Nhưng rồi thương, cũng cố chống chế ‘chỉ cá biệt, cò con thôi. Cấp thấp chúng nó mới thế’. Nghĩ vậy là lầm! Vì vụ PCI gây rúng động dư luận Việt – Nhật còn chưa nguội chút nào. Có tích mới dịch nên tuồng! Để độc giả dễ theo dõi tuồng, kẻ viết bài xin ngược dòng thời gian, nói về tích.
Số là từ khi dự án ‘Đại lộ Đông Tây’ và ‘Cải tạo môi trường nước’ được triển khai ở TPHCM, ông Huỳnh Ngọc Sĩ, Phó Giám đốc Sở Giao thông Công chánh TPHCM đã được cử làm Giám đốc Ban Quản lý dự án (PMU). Được ông Giám đốc PMU ủng hộ, công ty tư vấn Thái Bình Dương (PCI) đã trúng thầu trong các dịch vụ tư vấn xây dựng. Từ năm 2001 đến năm 2006, số tiền PCI ‘đền ơn’ ông Giám đốc PMU là 2,43 triệu đô la. Chỉ riêng tháng 12 năm 2003 và tháng 8 năm 2006 đã là 820.000 đô la. Nội vụ sẽ mãi nằm trong vòng bí mật, nếu bốn cựu viên chức chóp bu của PCI Nhật Bản là cựu chủ tịch, cựu quản lý, cựu giám đốc điều hành, cựu giám đốc văn phòng không bị truy tố hôm 25/8/2008 tại chính quốc vì tội hối lộ, vi phạm luật chống cạnh tranh không bình đẳng. Vụ việc nghiêm trọng đến nỗi chính phủ Nhật phải ra quyết định ngưng cấp viện vốn vay ODA cho Việt Nam năm tới, đóng băng luôn vốn vay năm nay, chừng 700 triệu đô la ‘cho tới khi ủy ban điều tra chung đưa ra được các biện pháp hữu hiệu và đúng đắn để chống tham nhũng’.
Mặc dù Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đều tỏ quyết tâm không bao che, không chậm trễ, né tránh trong vụ PCI, nhưng phải gần nửa năm sau khi tin xấu xì ra trên báo chí Nhật Bản, thì mãi cho tới ngày 9 tháng 12, Bộ Công An Việt Nam mới khởi tố vụ án nhận hối lộ liên quan tới ông Huỳnh Ngọc Sĩ. Nhân chữ Sĩ tên ông, dư luận cắc cớ hỏi nhau gần 2, 5 triệu đô la hối lộ nọ, ông Sĩ ăn một mình sao hết. Chắc phải điều đủ bộ tướng sĩ tượng xe. Nhưng gặp nạn, tướng, tượng, xe không thấy, chỉ Sĩ chịu tội một mình. Tội thay!
Trộm nghĩ, người phạm pháp xưa nay thường bị gán cho động cơ là ‘đói ăn vụng, túng làm càn’. Nhưng bà Anh, ông Hợp, ông Sĩ lại không hề thuộc diện túng đói. Nghĩa là không có lý do để buôn lậu, vận chuyển hàng trái phép, nhận hối lộ. Đã không túng đói, mà lại là cán bộ trung kiên, được giáo dục đến nơi đến chốn về lòng trung thành với Đảng, về ý thức trách nhiệm với màu cờ tổ quốc. Đến như thế mà còn vì tiền vứt bỏ thể diện quốc gia, thì trách sao những cô gái mát xa kích dục ở Tân Hoàng Phát, những cô gái tham gia ‘trình diễn’ cho khách Hàn chọn như chọn cá chọn rau, vốn là gái quê Nam Bộ nghèo, thất học, dại khờ thứ thiệt, lại chẳng coi nhân phẩm như ‘cẩu phẩm’
Viết tới đây, bỗng nhớ lại lời phát biểu của công dân Ngô Quang Kiệt trong cuộc họp đòi đất ở Hà Nội dạo nọ. Tuy không phải là quan chức hay trí thức khoa bảng với học hàm học vị lê thê in trên name card, nhưng không phải người vô học, vô danh, nghĩa là không thể phát biểu hồ đồ, vậy mà chẳng hiểu nghĩ ngợi thế nào, ông Kiệt lại phóng ngôn – đại khái là cảm thấy nhục nhã khi cầm tấm hộ chiếu Việt Nam lúc đi nước ngoài gì đó...Khỏi nói cũng biết nhờ câu nói mang mầu sắc ‘phỉ báng lịch sử, đi ngược lại dân tộc’ này, ông Kiệt đã có tên trong sách kỷ lục ghi nét.
Oan ưng thế nào, không biết rõ không dám lạm bàn, chỉ nhân điểm mấy vụ ‘hót’ kể trên, để thấy rằng lời lẽ tầm bậy (!) của ông Ngô nọ, e hơi bị.... không sai. Và sự tự ti mặc cảm của người Sài Gòn dịp cuối năm, e không phải là không đúng.

