Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

VĂN HÓA BÁN NƯỚC

Đỗ Thái Nhiên
Văn hóa là quá trình đưa đời người, xã hội loài người tiến lên văn minh. Trên con đường tìm tới văn minh, có rất nhiều cá nhân hoặc tập thể đã lạc bước đi vào thế giới phản văn minh. Tuy nhiên, do thói quen thông thường của ngôn ngữ dân gian: nhiều hiện tượng phản văn hóa vẫn được gọi là văn hóa. Văn hóa Marx Lenine, văn hóa trọng nam, khinh nữ là các loại phản văn hóa điển hình. Trong lãnh vực bang giao quốc tế, khi một nhà cầm quyền vì tham vọng vinh thân phì gia đã bán đứng quốc gia mình, đồng bào mình cho ngoại bang, nhà cầm quyền kia đã thực sự bộc lộ văn hóa phản văn hóa, gọi tắt là văn hóa bán nước. Thế nào là sự khác biệt về tâm lý chính trị giữa văn hóa ái quốc và văn hóa bán nước? Câu trả lời nằm ở bản tin sau đây:

Ngày 23/06/2009 thư viện Nixon tại nam California công bố một đoạn băng trong số 150 giờ thu âm và 30 nghìn trang tài liệu có liên quan đến Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, tổng Thống Nixon và ông Henri A. Kissinger. Tài liệu vừa nêu cho biết: ông Nixon đã yêu cầu ông Kissinger nói cho tổng thống VNCH biết là quốc hội Mỹ sẽ cắt viện trợ nếu Saigon chống hòa đàm Ba Lê. Tại một đoạn băng khác, Nixon không ngần ngại xác nhận: Để buộc tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ký vào hòa đàm Ba Lê, Nixon sẳn sàng “Cắt đầu ông Thiệu, nếu cần thiết” (cut off his head, if necessary). Lời lẽ thô tục của Nixon cho thấy tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã cố gắng hết sức mình trong việc bảo vệ quyền lợi của Miền Nam Việt Nam nói riêng và Việt Nam nói chung.

Mặt khác, ngày nay các nguồn sử liệu khác nhau đã chứng minh: tổng thống Ngô Đình Diệm nhiều lần bác bỏ ý muốn của chánh phủ Mỹ trong kế hoạch mang binh lính Hoa Kỳ vào lãnh thổ Việt Nam để trực tiếp chiến đấu chống CS . Trong quan điểm của tổng thống Diệm: Chỉ có người Việt Nam mới có khả năng và thẩm quyền giải quyết vấn đề Việt Nam. Thái độ yêu nước kiên cường của Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã bị chính quyền Hoa Kỳ hồi bấy giờ trả đủa bằng vụ thảm sát Tổng Thống Diệm cùng bào đệ của ông là ông Ngô đình Nhu ngày 02/11/1963.

Quan hệ không mấy tốt đẹp, nếu không muốn nói là tệ hại, giữa hai vị tổng thống của Miền Nam Việt Nam với Hoa kỳ đã nêu bật sự thật rằng: mỗi người có một hoàn cảnh lịch sử khác nhau, thế nhưng, cả hai đều nhiệt tình yêu nước. Bên cạnh hai vị tổng thống yêu nước, Miền Nam Việt Nam trước 1975 còn có cả một quân đội yêu nước, một xã hội yêu nước. Tại sao lòng yêu nước lai là một tình cảm phổ biến như thế kia? Thưa rằng đường vận động tình cảm chẳng khác nào một vòng trôn ốc trong không gian. Nó biểu thị: tình cảm của mỗi người xuất phát từ buổi ấu thời rồi phát triển dần ra cả về phẩm lẩn lượng. Tuổi ấu thơ yêu cha mẹ, yêu anh chị em, tuổi thiếu nhi yêu hàng xóm láng giềng, yêu bạn bè, yêu trường yêu lớp. Tuổi thành niên yêu quê hương, yêu quốc gia, dân tộc. Tại Miền Nam Việt Nam trước 1975, giáo dục học đường cũng như giáo dục xã hội đã dưỡng dục tình cảm con người theo đúng biểu đồ hình trôn ốc vừa nói. Nhờ vậy, mặc dầu bị chiến tranh quấy phá, xã hội Miền Nam Việt Nam trước đây vẫn là một xã hội đằm thắm tình người. Tình đối với Mẹ Cha chính là tình tạc dạ ghi ơn:

“Bây giờ cá lý hóa long
Đền ơn Cha Mẹ ẳm bồng ngày xưa.”

Tình đối với nước non thể hiện qua cung cách dân gian vẽ lại bức tranh quê hương:

“Hải Vân bát ngát ngàn trùng
Hòn Hồng ở đấy là trong vịnh Hàn
Xưa nay qua đấy còn truyền
Lối đi lô giản thẳng miền ra khơi.”

Những diễn tả vừa trình bày tuy khái quát nhưng đủ để thể hiện rằng sinh hoạt tình cảm của con người rất được xã hội Miền Nam Việt Nam trân trọng nuôi dưỡng và phát triển. Cao điểm của tình cảm kia là lòng yêu nước. Nói chung, tình cảm là linh hồn của văn hóa. Vì vậy văn hóa của Miền Nam Việt Nam chính là văn hóa ái quốc.

Bây giờ hãy khảo sát giáo dục tình cảm dưới chế độ CSVN. Ngay từ những ngày còn nằm trong nôi, trẻ con đã được giáo dục theo kiểu:

“Yêu biết mấy nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng, con gọi Stalin”
Tố Hữu

Và sau đây, hãy nhìn vào trong tim của người CS để hiểu được thế nào là tình vợ chồng, tình con cái đối với cha mẹ và lòng tự trọng của giới cầm bút dưới quyền thống trị của CS:

“Ông Stalin ơi! Ông Stalin ơi!
Hởi ơi,ông mất! Đất trời có không?
Thương cha, thương mẹ, thưong chồng
Thương mình thương một, thương ông thương mười!
Tố Hữu

Song song với giáo dục thần thánh hóa lãnh tụ, nhà cầm quyền Hà Nội còn thường xuyên nhồi nhet vào đầu óc của người dân phương châm “Trung với đảng, hiếu với dân”. Trung với đảng thì rõ ràng và cụ thể: ai không trung với đảng tức là chọn con đường đối mặt với công an. Đặc biệt ý nghĩa của nhóm chữ “hiếu với dân” đã được CSVN giải thích bằng hình ảnh đảng cướp đất, cướp nhà của người dân, đảng bỏ mặc cho dân bị đè bẹp dưới họa Tây Nguyên, đảng quay lưng lại với cảnh cùng cực của ngư dân khi ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc cấm đánh cá ngay trên biển của Việt Nam.

Từ “Tiếng đầu lòng, con goi Stalin” cho đến con đường “Trung với đảng, hiếu với dân” là cả một quá trình “trồng người” của CS. Người do CS giáo dục và đào tạo là những người chỉ biết nhắm mắt bảo vệ quyền lợi của đảng và hoàn toàn vô cảm trước những khổ đau của người dân, trước những suy tàn của tổ quốc. Đó là cội nguồn tâm lý chính trị giải thích sự ra đời của văn hóa bán nước. Sau đây là tin tức bán nước điển hình:

Ngày 16/06/2009, trên đài BBC, LS Lê Quốc Quân cho biết: LS Lê Công Định và LS Lê Quốc Quân đang chuẩn bị tiến hành thủ tục khởi kiện Trung Quốc trước tòa án quốc tếvề việc Bắc Kinh ra quyết định cấm ngư dân Việt Nam đánh cá trên biển Việt Nam. Lo sợ các LS Việt Nam sẽ làm phiền lòng Trung Quốc, ngày 13/06/2009 CSVN vội vàng tống giam LS Lê Công Định bằng lệnh bắt khẩn cấp. Đặc biệt hơn nữa, ngày CSVN tống giam LS Định cũng chính là ngày Hà Nội linh đình đón rước đoàn đại biểu đảng CS Trung Quốc. Nhân dịp này Nông Đức Mạnh kính cẩn trình lên triều đình Bắc Kinh rằng: “Đảng, nhà nước, và nhân dân Việt Nam trước sau như nột, luôn coi trọng và sẽ làm hết sức mình để giữ gìn và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác truyền thống giữa hai đảng, hai nước và nhân dân hai nước.” (Hết lời dẫn).

Đối nội CSVN thẳng tay đàn áp người dân yêu nước để vừa tạo thuận lợi cho Trung Quốc tự do xâm lấn Việt Nam, vừa củng cố quyền hành của triều đình Hà Nội. Đối ngoại CSVN tiếp tục vòng tay cúi đầu trước Trung Quốc để ôm ảo vọng là Trung Quốc sẽ tận tình bảo vệ CSVN ở ngôi vị thống trị Việt Nam miên viễn.
Càng ngày càng có nhiều sự kiện cho thấy một cách hiển nhiên là CSVN đã và đang bán nước cho Trung Quốc. Hành động bán nước kia xuất phát từ tâm lý của những người sinh ra, lớn lên và hấp thụ trọn vẹn văn hóa bán nước. Đối với CSVN, bán nước là bản chất hằng cửu chứ không là hiện tượng nhất thời. Đó là lý do giải thích tại sao từ rất lâu quần chúng Việt Nam đã nêu bật ý kiến CSVN chỉ có thể bị thay thế chứ không thể sửa sai.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Sách mới về chiến tranh VN khiến truyền thông Mỹ không vui

Image
Cuốn sách mới về chiến tranh Việt Nam kể lại nhiều sự thật mà giới truyền thông Hoa Kỳ trước đây tránh né,
đang dẫn đầu về số bán ở Amazon.
SACRAMENTO - Ngày 15 Tháng Tám sắp tới, Viện Bảo Tàng Quân Sự thuộc tiểu bang California sẽ có một buổi giới thiệu cuốn sách mới về chiến tranh Việt Nam nhan đề “Ride the Thunder” (tạm dịch Cưỡi Sấm Sét). Trong ngày hôm ấy tác giả Richard Botkin sẽ diễn giải về nội dung cuốn sách và ký tên lưu niệm.

Theo tin báo điện tử của World Net Daily, hiện nay trên mạng ở trang nhà của Amazon.com, cuốn này đang dẫn đầu số bán về thể loại chiến tranh Việt Nam và cũng dẫn đầu số mua trong giới cựu chiến binh. Ðồng thời Ride the Thunder cũng đứng hạng hai vế lượng sách bán trong đề mục Asian History.

Theo viện bảo tàng này, tác giả Botkin đã khai mào một trào lưu mới khi “kể lại câu chuyện anh hùng của một số Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ và Nam Việt Nam. Họ đã chiến đấu tuyệt vời và làm khơi dậy ngọn sóng triều của cuộc chiến trong khi các nhà làm chính sách đã buông tay đầu hàng.”

Botkin kể lại chuyện Ðại Úy John Ripley với hành động táo bạo khi phá sập cây cầu Ðông Hà; chuyện Thiếu Tá Lê Bá Bình cùng bảy trăm chiến binh TQLC đã ngăn chận được làn sóng tấn công của hai mươi ngàn quân Bắc Việt như thế nào. Trong đó cũng không quên nhắc đến kỳ công của Trung Tá Gerry Turley trong trận “Mùa Hè Ðỏ Lửa” từ một khách mời ghé lại vùng Hỏa Tuyến để thăm một số sĩ quan cố vấn, vì kẹt bởi cuộc tấn công bất ngờ năm 72, đã bất đắc dĩ trở thành vai trò lãnh đạo bên cạnh Tướng Giai can đảm ngăn trở được Quân Khu I khỏi bị tràn ngập bởi làn sóng “đỏ.”

Trong cuộc phỏng vấn đặc biệt dành riêng cho World Net Daily, tác giả Botkin giải thích người Mỹ hiểu sai về chiến tranh Việt Nam như thế nào - bởi vì họ ở xa đến 8,000 dặm, và chỉ nghe thuật lại một chiều. Botkin nói, “Về phía người Mỹ, theo tôi tất cả đều bị nghe những thông tin về cuộc chiến đã bị bóp méo và không trung thực. Ða số người Mỹ kể cả những người đã phục vụ ở Việt Nam đều không nhận thức được sự hy sinh của người dân Nam Việt Nam. Họ chính là những người yêu chuộng tự do.”

Botkin sưu tập những thông tin cho thấy quân Cộng Sản thường xuyên tấn công người dân vô tội trong có đàn bà, người già và trẻ em bằng hành động pháo kích bừa bãi. Năm 1968, quân Bắc Việt tàn sát từ ba đến sáu ngàn người và đem chôn trong những hố chôn tập thể. Biết bao gia đình phải chịu tang tóc, đau khổ và tủi nhục mà người Mỹ chưa bao giờ hiểu đến, trong khi họ dễ dàng tin theo những tài liệu tuyên truyền của đối phương do giới truyền thông Tây phương chưng ra để phê bình cuộc chiến. Giới truyền thông này đã làm hoen ố đi nỗ lực của Hoa Kỳ và Nam Việt Nam, góp phần vào sự xoay chiều của lập trường ủng hộ cuộc chiến.

Theo Botkin năm 68 là năm nổ bùng trận chiến thu phục nhân tâm người dân Hoa Kỳ qua màn ảnh truyền hình, và đối phương đã biết tận dụng lối tường thuật một chiều của báo chí Tây phương gây ảnh hưởng tốt cho mình thêm.

Botkin lưu ý rằng báo chí và phim ảnh Hoa Kỳ vẫn luôn miêu tả người Việt như là những kẻ tham nhũng thối nát, hèn yếu, khiếp nhược và phản bội hơn là những con người muốn chiến đấu cho tự do. Ông ta nói rằng “Ride the Thunder” trưng ra cho mọi người những câu chuyện truyền cảm mà truyền thông trước đây tránh né không muốn nhắc đến. Ðó là những câu chuyện về tình thân hữu, sự can trường, lòng yêu nước và lòng can đảm.

Ngày 23 Tháng Giêng năm 1973, Tổng Thống Mỹ Nixon công bố “Hòa Bình trong Danh Dự” trong một bài diễn văn phổ biến toàn thế giới trên hệ thống truyền hình.

Botkin kết luận, “Chúng ta nói vậy để rút chân ra khỏi Việt Nam cho có danh chính ngôn thuận. Lịch sử đầy dẫy những bài học cho thấy Cộng Sản ngồi xuống đặt bút ký biết bao hiệp định mà họ thấy có lợi, rồi sau đó lại phủi tay rũ bỏ. Ðúng là rút quân trong danh dự, hay ‘Hòa Bình trong Danh Dự’ - mà thật ra chẳng có chi là danh dự mà cũng chẳng có hòa bình gì ráo.” (T.P.)

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Công An làm chủ

Ngô Nhân Dụng

Một người bạn tôi trên 70 tuổi mới đi Việt Nam trở về California tỏ ra rất phấn khởi. Anh chỉ về nước thăm gia đình, sống ba tuần lễ cùng các bà chị và các cháu rất thân thiết. Anh vui mừng kể người cháu trai con Chị Ba làm nhà lớn cho mẹ ở, mời cậu lúc nào muốn cứ về nước sống, cháu dành sẵn cho cậu một phòng rộng rãi có đủ tiện nghi không khác gì bên Mỹ. Anh cháu này lớn lên sau năm 1975, khi kinh tế đổi mới anh chuyên làm nền, móng cho những ngôi cao ốc mà người ta đã xây trong mươi năm qua, đi thầu lại của các nhà thầu lớn, chỉ nhờ thế mà gây nên sự nghiệp.

Ðiều này chứng tỏ trong thời kỳ “đổi mới” này những người biết làm ăn là có cơ hội kiếm ra tiền, ra rất nhiều tiền. Ðây là một điểm đáng mừng. Người bạn tôi vốn tính rất chất phác, thành thật, dễ tin người, hay bị lừa, tôi đã biết từ gần nửa thế kỷ nay. Anh đã vượt biên từ năm 1978, sau khi thấy sống không nổi dưới chế độ Cộng Sản, dù anh là một người lao động thật sự; khi sang Mỹ vẫn sống bằng mấy nghề tay chân, có lúc theo tầu đi đánh cá. Không thể nói là anh có ý nói tốt cho chế độ Cộng Sản. Tôi thành thật chia sẻ niềm vui vì anh bạn tôi có người cháu giỏi giang và may mắn.

Sau khi mô tả cảnh sống sung túc của gia đình người cháu mà anh chứng kiến, ông bạn tôi kể thêm rằng anh chỉ rời nhà bà chị đi chơi một chuyến mấy ngày, nhờ anh cháu lái xe đưa đi. “Nó biểu cậu muốn đi đâu cũng được, mà nó đưa tôi đi khắp, vui quá! Tới chỗ nào có lính, cảnh sát, hay bảo vệ, công an đứng gác nó chỉ huơ tay một cái họ vẫy cho đi qua luôn. Ði chỗ nào cũng được, không ai cần xét hỏi giấy tờ chi hết, sướng thế đấy!”

Anh bạn tôi giải thích thêm: “Vì cái xe nó mượn là xe công an, nó mượn thằng bạn công an vẫn mần ăn với nó. Thẳng chả để một cái mũ công an của nó nằm chình ình dưới kiếng xe ngay đằng trước tay lái, thế là đi đâu cũng lọt!”

Nhìn anh bạn hãnh diện, hả hê, tôi không hỏi anh mấy câu này: Tại sao người cháu anh được phép lái xe của công an mặc dù anh ta chỉ là một nhà thầu chứ không phải là công an? Tại sao một anh công an lại có quyền cho mượn xe công dùng vào việc tư, chỉ để lái đi chơi? Tại sao một cái mũ của anh công an nào đó, không rõ cấp bậc cao tới đâu, mà lại có phép lạ khiến cho các tay cảnh sát, bảo vệ, công an khác phải kính trọng và quơ tay cho đi tự do như vậy?

Chắc hẳn người cháu anh bạn tôi phải là tay giỏi giang và may mắn, như hầu hết những người thành công trên thế giới này. Nhưng trong sự thành công của anh ta, bao nhiêu phần nhờ tài giỏi giang và may mắn, còn bao nhiêu phần là nhờ “thân thiết” với giới công an? Hay là sự thành công của anh hoàn toàn nhờ giỏi giang và may mắn, nhưng sau khi thành công anh bắt buộc phải thân thiết với các vị công an? Nếu không thân thì làm sao có thể mượn oai hùm như vậy?

Câu chuyện nhỏ trên đây là một vài nét nhỏ nằm trong toàn cảnh bức bích họa mô tả xã hội Việt Nam bây giờ. Từ chuyện nhỏ tới chuyện lớn, có thể nói nước Việt Nam bây giờ là do “Ðảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý,” và... “Công An làm chủ.”

Mà khi nói “Công An làm chủ” thì công an làm chủ nhân thật sự chứ không phải chỉ đứng tên suông, giống như “Nhân Dân làm chủ” mà vẫn cúi đầu để cho Ðảng và Nhà nước muốn làm gì thì làm!

Cho nên không ở quốc gia nào có cảnh một người lái xe bị công an thổi còi, dừng xe lại chậm mấy phút là có thể bị anh công an bạt tai. Có cảnh một nông dân ở Kontum đi về tới đầu làng bị công an hỏi, cãi lại, thế là bị công an đánh vỡ đầu. Ðó là những chuyện nhỏ.

Còn chuyện lớn như ma túy, ma túy tràn ngập khắp các phố phường, gần một nửa số thanh thiếu niên bị mắc vào ma túy. Mà công an thì nhan nhản, ở đâu cũng có mặt, ai động chân động tay đều biết hết. Nhưng ma túy vẫn lộng hành. Nếu không phải chính công an nuôi và bảo đảm thì làm sao bọn buôn ma túy sống được?

Một vụ đàn áp đang làm giới Phật tử ở trong nước kinh ngạc đã xẩy ra ở tỉnh Lâm Ðồng gần một năm nay, mà thành phần chủ động trong việc đàn áp cũng là công an. Gần 400 tăng ni và cư sĩ đang tu tập tại Tu Viện Bát Nhã thuộc xã Damb ri, tỉnh Lâm Ðồng đã bị đuổi khỏi tu viện. Họ mới xuất gia từ năm sau 2003 và theo pháp môn Thiền định, lúc đầu đã được chấp nhận. Nhưng từ năm 2008 tình hình bắt đầu thay đổi... Người đứng tên chủ nhân tu viện này, Thích Ðồng Hạnh, tục danh là Võ Thành Nguyên, đã báo tin cho các tăng ni trẻ tuổi này rằng ông không bảo lãnh cho các tăng ni tạm trú tại chùa theo quy chế hộ khẩu như trước nữa. Tức là gần 400 vị tu sĩ không được phép cư ngụ, phải giải tán. Ông cũng cho biết quyết định này không thuộc thẩm quyền của ông, cũng không thuộc quyền của các chức sắc trong Giáo Hội Phật Giáo tỉnh Lâm Ðồng.

Vậy thuộc thẩm quyền nào? Ðảng? Nhà nước? Hay là ai khác? Chỉ biết rằng trong tháng trước, mấy vị tu sĩ chức sắc của giáo hội tỉnh đến thăm các tăng ni trên cũng bị hành hung! Công an vẫn theo thói thuê côn đồ đến những căn nhà của các tăng ni trẻ trong tu viện để đàn áp không khác gì phương pháp họ đã dùng đối với cụ Hoàng Minh Chính lúc sinh thời, hay đối với nhà văn Trần Khải Thanh Thủy gần đây. Họ dọa đốt nhà, dọa phong tỏa không cho tiếp tế thực phẩm, và đã cắt điện, cắt nước, và hăm dọa các nhà tu hành trong lứa tuổi đôi mươi.

Những tăng ni này mới xuất gia vì muốn theo phương pháp tu học của Hòa Thượng Thích Nhất Hạnh tại Làng Mai. Lúc đầu họ được phép cư ngụ tại đó, khi chính quyền Cộng Sản còn cần mời Hòa Thượng Thích Nhất Hạnh về nước để mượn tiếng tô điểm cho chế độ. Và chính Làng Mai đã giúp khoảng 15 tỷ đồng, khoảng một triệu Mỹ kim để xây dựng thêm và mua thêm đất cho tu viện.

Tại sao có những chuyện rắc rối xẩy ra với các tăng ni ở Bát Nhã? Một nguồn tin phát xuất từ các vị tăng sĩ trong tỉnh Lâm Ðồng cho biết đó là do lệnh của Thiếu Tướng Trần Tư, thuộc Tổng Cục An Ninh. Công an muốn giải tán đám môn đệ của Làng Mai. Mà mệnh lệnh có thể phát ra từ Trung Quốc.

Năm 2008, khi Hòa Thượng Nhất Hạnh về dự lễ Vesak thì chính phủ Trung Quốc đã yêu cầu chính quyền Hà Nội trục xuất ông. Nguyên do vì trước đó ông đã tuyên bố tại La Mã (Roma) những lời ủng hộ cuộc tranh đấu của nhân dân Tây Tạng, khi được báo chí phỏng vấn. Ông cũng đề nghị ban tổ chức lễ Vesak của Liên Hiệp Quốc nên mời Ðức Ðạt Lai Lạt Ma tới Việt Nam tham dự lễ này. Những ý kiến đó khiến chính phủ Bắc Kinh nổi giận.

Từ đó, những tai họa bắt đầu đổ lên đầu đám tăng ni trẻ tuổi. Hơn mười tăng ni từ Làng Mai về nước đã lần lượt bị chấm dứt chiếu khán không được phép ở lại Việt Nam. Bây giờ chỉ còn những tăng ni mới tu học, gia đình họ bị công an làm áp lực phải kêu gọi con em trở về nhà. Trong khi đó thì công an áp dụng chính sách hộ khẩu đòi đuổi họ ra khỏi chùa! Ðiều khiến dư luận trong nước ai cũng bầy tỏ niềm kính trọng là các vị tăng ni dù còn trẻ nhưng vẫn kiên trì bất bạo động. Khi bị đám du côn đe dọa và khiêu khích thì các nhà tu mới xuất gia được dăm bẩy năm này chỉ ngồi xuống, thiền định, niệm danh hiệu Quán Thế Âm. Họ đã đủ sức tự bảo vệ lẫn nhau và chứng tỏ cho đám công an biết sức mạnh tâm linh không hề lay chuyển trước bạo lực. Nhà thơ Hoàng Hưng ở tận Hà Nội cũng phải động lòng trước cảnh các tăng ni bị đàn áp ở Tu Viện Bát Nhã, trên đài RFI ông đã yêu cầu đảng Cộng Sản và Nhà nước phải can thiệp chấm dứt cuộc đàn áp tàn bạo và vô lý này.

Nhưng nhà thơ đã mất công nói chuyện với cái đầu gối! Vì trong vụ Bát Nhã, không ai biết đảng Cộng Sản và Nhà nước của họ chủ trương thế nào cả. Họ hoàn toàn im lặng, giao phó mọi việc cho công an. Chỉ biết là có những đám côn đồ kéo đến một trăm, hai trăm người, hành hung và hăm dọa giết các tu sĩ, kéo dài trong mấy tuần lễ. Chuyện tầy đình như thế, cả nước chỉ biết tin qua các mạng lưới còn báo chí của đảng Cộng Sản thì theo lệnh cứ hoàn toàn im lặng. Cả bộ máy nhà nước Cộng Sản không hề làm một việc gì hay nói một câu nào để chứng tỏ là họ biết và quan tâm đến những tội ác đang diễn ra ở Tu Viện Bát Nhã.

Như vậy thì chỉ có thể kết luận là cả Ðảng và Nhà nước Cộng Sản hiện nay không có mặt trong nước Việt Nam! Mọi việc đều do công an làm chủ!

Có thể trong vụ này Ðảng và Nhà nước Cộng Sản đã chịu thua thật sự. Vì họ đã tính lợi dụng ông Hòa Thượng Nhất Hạnh khi mời ông về nước, cốt chứng tỏ họ tôn trọng Phật Giáo. Ông đã về Việt Nam hai lần, nhưng bây giờ đảng Cộng Sản phải trả giá và cái giá có vẻ quá cao đối với họ. Chỉ trong mấy năm trời Làng Mai đã gieo được những hạt giống mới, đã nẩy mầm, đã trở thành những cây xanh tốt. Nhóm tăng ni trẻ tuổi đã chứng tỏ họ có tu tập Phật pháp vững vàng. Họ bắt đầu được các Phật tử địa phương kính trọng, rồi đến những Phật tử mỗi tuần từ miền Nam và miền Trung bắt đầu kéo về tu viện để học cách thực hành Phật Giáo theo phương pháp mới.

Ðảng Cộng Sản không thể chấp nhận những ảnh hưởng trên quần chúng ngoài tầm kiểm soát của họ, dù chỉ là những cái mầm mới nhú ở một tu viện trên cao nguyên Lâm Ðồng. Nhưng điều nan giải nhất với đảng Cộng Sản Việt Nam là họ cũng không thể kiểm soát được Hòa Thượng Nhất Hạnh khi ông bầy tỏ quan điểm đối với Trung Quốc. Không những đã ủng hộ việc dân Tây Tạng đòi quyền tự chủ, ông còn khuyên họ hãy kiên nhẫn, lấy dân tộc Việt Nam làm gương. Người Việt Nam đã bị Hán tộc cai trị cả ngàn năm, sau cùng vẫn dành được độc lập, người Tây Tạng nên biết điều đó.

Có lẽ đó là giọt nước làm tràn ly. Ðảng Cộng Sản Trung Quốc không thể nào chấp nhận được những ý kiến như vậy. Từ đó, công an Cộng Sản Việt Nam phải đàn áp! Ở một nước mà công an làm chủ thì chỉ cần nắm được công an là nắm được tất cả. Hàng lậu chuyển đi cũng lọt khi được công an bảo lãnh. Ma túy chuyển vào cũng được, làm tiêu hao sức lực thanh niên. Và khi cần đàn áp trả thù ai thì công an cũng sẵn sàng!

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image

Vợ Trung tá Kim nói chồng 'vì nước, vì dân'

Vợ của cựu Trung tá vừa bị chính quyền bắt vì cáo buộc tuyên truyền chống nhà nước nói với BBC ông là người vì nước vì dân và đã được nhà nước Việt Nam tặng thưởng nhiều huân huy chương.

Bà Nguyễn Thị Thơm nói trong ngày ông Trần Anh Kim bị bắt ông nói với bà ông ''chỉ chống tham nhũng'' chứ không làm gì sai.

Bà Thơm nói hôm 9/7/2009 bà đã tới trại nơi ông Kim bị giam ở Thái Bình nhưng không được gặp.

Kể về hôm ông Kim bị bắt bà nói:

''Lúc bấy giờ khoảng 8h ngày 7 tháng 7 năm 2009, công an ập vào nhà và có phải đến dưới 100 công an đứng từ ngoài đường vào trong nhà, ập vào giật cửa và khóa tay Trần Anh Kim.

''... Lục hết nhà cửa, hòm xiểng, tủ giả và toàn bộ tiện nghi máy tính rồi điện thoại, các giấy tờ của Trần Anh Kim và đóng vào hộp niêm phong.

''Trong cái buổi khám xét đấy thì vào khoảng một tiếng rưỡi.

''Xong đâu đấy thì họ xích tay Trần Anh Kim và khuân đồ đạc niêm phong ra xe thì xe để rất nhiều ngoài đường và tống Trần Anh Kim lên cái thùng đằng sau bịt kín và đưa đi.''

Bà Thơm, người trở thành vợ ông Kim hồi năm 2004, nói hôm 7/7 khi bà đang làm tại nhà máy may thì được hai, ba xe công an tới 'áp tải' về để chứng kiến việc công an bắt ông Kim.

Theo lời bà Thơm, ông Kim nói với bà: ''Họ đọc lệnh bắt anh tạm giam bốn tháng nhưng anh không có tội, anh chỉ chống tham nhũng chứ không có tội gì cả.''

'Bí thư đảng ủy'

Cả cuộc đời tuổi trẻ thì đi nằm rừng rú chiến đấu, hy sinh xương máu của mình để bảo vệ đất nước, bảo vệ tổ quốc, đến tuổi già thì bị còng tay, xích tay rồi đưa vào trại giam.
Bà Nguyễn Thị Thơm, vợ cựu Trung tá Trần Anh Kim
Bà Thơm cũng nói công an đã ''lập chốt'' và theo dõi ông Kim từ vài năm nay. Vợ của cựu Trung tá Kim nói bà là công nhân may và không liên quan gì tới những việc chồng làm.

''Cái việc của anh ấy làm anh ấy chỉ nói là anh ấy chống tham nhũng chứ không có làm cái gì khác cả.

''Công việc của tôi và của anh ấy khác nhau nên chúng tôi chỉ tin tưởng nhau và tôi ít khi đi sâu vào việc của anh Kim.

''Trần Anh Kim là con người có bản lĩnh vững vàng, có lối sống trong sáng, có tấm lòng yêu tổ quốc và yêu dân tộc mình''

''Anh là thương binh có nhiều công lao đối với sự nghiệp đấu tranh bảo vệ tổ quốc, bảo vệ dân tộc.

''Anh đã từng làm bí thư đảng ủy, Phó chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự Thái Bình, đã được nhà nước tặng huân, huy chương, bằng Tổ quốc Ghi công, bằng khen, giấy khen rất nhiều.

Bà Thơm nói chồng bà ''không có lương'' và chỉ trước Tết vừa rồi mới đòi lại được chế độ thương binh để đi khám chữa các vết thương của ông.

Bà nói gia đình ông Kim đều thông cảm với ông:

''Họ cũng lo lắng, thương anh Kim, cả cuộc đời tuổi trẻ thì đi nằm rừng rú chiến đấu, hy sinh xương máu của mình để bảo vệ đất nước, bảo vệ tổ quốc, đến tuổi già thì bị còng tay, xích tay rồi đưa vào trại giam.''

Trong khi đó chính quyền Việt Nam nói ông Kim đã viết và ''phát tán'' hàng chục tài liệu chống nhà nước.

Báo Việt Nam cũng trích lời cơ quan an ninh nói ông Kim đã từng bị tù vị ''tội kinh tế'' khi còn trong quân ngũ.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

" Lần đầu tiên một triều đại nhận là yêu nước lại đàn áp người bày tỏ "

Tuy hai nước Việt - Trung đã có quan hệ ngoại giao bình thường, nhưng thế lực bành trướng Bắc kinh vẫn không ngừng xúc tiến chiến lược bao vây, xâm lấn, xâm nhập phá hoại nhiều mặt nhằm kiềm chế, khống chế đi tới thôn tính đất nước ta.Trung Quốc đại lục với Đài Loan tuy xung khắc nhau về chính trị nhưng lại đồng hành trong chủ nghĩa bành trướng (gần đây thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, thiếu tướng Lê Văn Cương, kỹ sư Doãn Mạnh Dũng lại nhấn mạnh và nêu thêm những cảnh báo cập nhật).Bộ chính trị biết rất rõ điều đó, thế thì tại sao tổng bí thư Nông Đức Mạnh lại tự tiện đem một nguồn tài nguyên quốc gia
quan trọng trên một địa bàn chiến lược hiểm yếu vào bậc nhất để hợp tác làm ăn với thế lực ấy? Khi ký thông cáo chung này, tổng bí thư Nông Đức Mạnh đứng trên lập trường chính trị nào? Lập trường Tổ Quốc trên hết, quyền dân trên hết, hay lập trường ý thức hệ giai cấp là thống soái, bộ chỉnh trị là cơ quan quyền lực trùm lên đất nước, Quốc hội trong thực chất cũng chỉ là cơ quan thừa hành của Bộ chính trị?

Sau thông cáo chung nêu trên, việc hợp tác với Trung Quốc khai thác bô-xít Tây Nguyên đã được âm thầm xúc tiến theo qui trình lộn ngược một cách khuất tất, đến khi lộ ra thì mọi người mới giật mình trước tình trạng mà đại biểu quốc hội Dương Trung Quốc gọi là “việc đã rồi”.Xin mời đọc lại những dòng tâm huyết gửi Bộ chính trị của thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên đại sứ nước ta tại Trung Quốc từ năm 1974 đến năm 1989: “…mãi đến gần đây được đọc thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và hàng trăm ý kiến không đồng tình của các nhà khoa học, cán bộ và người dân ở khắp Bắc - Trung - Nam, tôi mới biết ta đồng ý cho Trung Quốc khai thác bauxit ở Tây Nguyên. Nguy hiểm quá!”.

Tôi (BMQ) xin nhắc lại: “Nguy hiểm quá!”!

Chủ thể gây ra tình hình nguy hiểm ấy là ai?

Là Bộ chính trị.

Cùng với tiếng than sửng sốt của vị tướng lão thành cách mạng 70 tuổi đảng là tiếng cảnh báo gay gắt khẩn thiết của nhiều nhà khoa học, nhà văn hóa, nhà quân sự: đây là thảm họa hủy diệt môi trường thiên nhiên và văn hóa, gây xáo động xã hội, là tạo chỗ đứng chân cho thế lực bành trướng tại mái nhà Việt Nam và Đông Dương.

Theo tôi, Bộ chính trị đã phạm mấy sai lầm hết sức nghiêm trọng như sau:

-Làm ngược lại chủ trương của Đảng trước đại hội 9 và trái với báo cáo chính trị của đại hội 9.

-Xa rời lập trường dân tộc, làm hại cho đất nước, làm lợi cho thế lực bành trướng, vi phạm Hiến pháp, luật pháp, tự cho mình vượt quyền cơ quan quyền lực cao nhất là quốc hội để đem tài nguyên quốc gia đi hợp tác với một đối tượng đang chiếm đóng một phần lãnh thổ nước ta.

-Không chấp hành chủ trương dân biết dân bàn của Đảng, đặt toàn Đảng toàn dân trước một việc đã rồi, giấu diếm nhân dân để làm việc sai trái.

Các việc làm sai trái nêu trên không diễn ra đơn lẻ, tình cờ, mà diễn ra một cách có hệ thống liên quan chặt chẽ với các việc sai trái khác như:

-Dung túng cho tổng cục 2 tiến hành hoạt động phá hoại có hệ thống kéo dài

-Phá hội trường Ba Đình, một di tích lịch sử liên quan đến chủ tịch Hồ Chí Minh và nhiều sự kiện trọng đại của Đảng và Nhà nước (tôi chắc rằng cái ngày mà mảng tường đầu tiên của hội trường Ba Đình vỡ toang dưới những nhát búa choòng trong tay các công nhân Việt Nam thì mấy ông trùm bành trướng ở Bắc kinh rung đùi nâng cốc bảo nhau: Hảo lớ! Việt Nam lại vừa được ban cho một bài học nữa, nhưng lần này do chính Hà Nội thực hiện tại Ba Đình lịch sử!).

-Mở rộng Hà Nội một cách vô căn cứ.

-Đàn áp những người biểu tình chống giặc bành trướng xâm chiếm Hoàng Sa Trường Sa.Trong lịch sử dân tộc ta, lần đầu tiên có một triều đại tự nhận là yêu nước lại đàn áp người dân xuống đường bày tỏ lòng yêu nước!

-Cấm đoán việc tái bản và xuất bản các công trình nghiên cứu, các tác phẩm văn học nghệ thuật về đề tài chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc, về cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, về cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và giúp nước bạn Cam-pu-chia thoát họa diệt chủng, về cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc, về cuộc chiến chống bành trướng Trung Quốc trên biển Đông…, trong khi đó thì vừa dung túng cho nhà xuất bản Văn Học in trên bìa 4 cuốn “Ma chiến hữu” những lời ca tụng cuộc chiến tranh Trung Quốc xâm lấn nước ta năm 1979 lại vừa đàn áp nhà xuất bản Đà Nẵng, báo Du lịch vì 2 cơ quan này đã mạnh dạn đề cập đến các đề tài nêu trên, đồng thời suốt nhiều năm dài kể cả trong dịp kỷ niệm 30 năm (1979 – 2009) lại không tổ chức tưởng niệm xứng đáng các liệt sĩ đã hy sinh tại các mặt trận ấy.Tất cả những việc làm đó gây hậu quả rõ rệt là làm suy yếu tinh thần chiến đấu của quân đội ta, nhân dân ta, suy yếu nội lực dân tộc.

Bảo rằng khai thác bô-xít Tây Nguyên là chủ trương lớn của Đảng, vậy mục tiêu dân chủ ghi trong di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh và trong cương lĩnh chính trị từ đại hội Đảng lần thứ 9 không phải là chủ trương lớn ư? Nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng nói rõ sự thật, dân biết dân bàn công khai, đó không là chủ trương lớn ư? Bộ chính trị hầu như không làm gì để thực hiện mà lại luôn hoạt động chống lại các chủ trương lớn ấy, trong khi ngấm ngầm và hối hả lao vào xúc tiến “chủ trương lớn” khai thác bô-xít Tây Nguyên bất chấp bao nhiêu cảnh báo và phản đối.

Còn nhiều vấn đề nghiêm trọng khác nữa, tôi chỉ nêu một số việc nổi cộm nhất.

Tóm lại, theo nhận xét của riêng tôi, các việc làm của Bộ chính trị mà tôi vừa kể chính là hành vi nội xâm, là hành động Lê Chiêu Thống hiện đại núp sau thẻ đỏ ngồi giữa nhà đỏ.Bộ chính trị cần “tự xem lại mình” (cụm từ của ủy viên Bộ chính trị Nguyễn Minh Triết) xem có đúng thế không? Tôi thấy sự thật đúng là như thế, một sự thật đau lòng chưa từng có trong cuộc đời tôi, mà chắc chắn là cả trong cuộc đời đại đa số đảng viên và toàn thể những người dân Việt đã một lòng theo Đảng.

Trong Bộ chính trị có bao nhiêu phần trăm biểu quyết tán thành các quyết định sai lầm nêu trên? Bao nhiêu phần trăm không tán thành? Tôi chưa biết.Nhưng bây giờ thì thấy ít nhất có một nửa thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng biểu thị thái độ muốn nhích chân tách khỏi trách nhiệm về các quyết định sai lầm đó để đến đứng gần hơn với đại tướng Võ Nguyên Giáp, với nhân dân.Nhiều anh em bảo tôi, cái nửa này là giả, cái nửa hiện ra ở Hải Phòng mới là thật, nhưng tôi cứ tạm tin lời phát biểu của thủ tướng với đại tướng Võ Nguyên Giáp hôm 07.05.2009 là thật lòng, vì thủ tướng từng tuyên bố rất hùng hồn: “Tôi ghét nhất sự dối trá”.

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, tác giả của lời phát biểu gây được nhiều chú ý.thiện cảm “tôi thấy cần phải tự xem lại mình” bây giờ đang nghĩ gì? Ông thuộc vào cái phần trăm đa số hay phần trăm thiểu số trong Bộ chính trị?

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng thì tỏ rõ một thái độ công chức chỉn chu và lạnh lùng:“Không phải bất kỳ vấn đề nào cũng đưa ra lấy ý kiến của Quốc hội mà còn tùy thuộc vào quy mô, tầm cỡ của các dự án. Trong khi đó, quy mô mỗi dự án bô-xít Tân Rai và Nhân Cơ mới chỉ là hơn 600 triệu đôla".Người đứng đầu cơ quan đại diện cho dân được Hiến pháp qui định là cơ quan quyền lực tối cao lại dửng dưng đứng ngoài mối bức xúc nóng bỏng của nhân dân về an ninh quốc phòng mà ông thừa biết đã được nói giùm qua bức thư của lão thành cách mạng Nguyễn Trọng Vĩnh:”Chúng ta đều biết Trung Quốc xây dựng căn cứ hải quân hùng mạnh ở Tam Á đảo Hải Nam, nói thẳng ra là không phải để chống kẻ thù xâm lược nào, mà là đe doạ Việt Nam và sẵn sàng chờ thời cơ thôn tính nốt Trường Sa của chúng ta, sau khi đã nhanh tay chiếm Hoàng Sa từ tay Chính quyền Sài Gòn. Nay lại để Trung Quốc khai thác bauxit ở Tây Nguyên thì sẽ có năm, bảy nghìn hoặc một vạn công nhân hay quân nhân Trung Quốc đến cư trú và hoạt động tại đây, sẽ hình thành một “thị trấn Trung Hoa”, một “căn cứ quân sự” trên địa bàn chiến lược vô cùng xung yếu của chúng ta (vũ khí đưa vào thì không khó gì). Phía Bắc nước ta, trên biển có căn cứ hải quân hùng mạnh, phía Tây Nam nước ta có căn cứ lục quân trang bị đầy đủ thì độc lập, chủ quyền mà chúng ta đã phải đổi bằng hàng triệu sinh mạng cùng xương máu sẽ như thế nào?!”

Còn bộ trưởng Bộ quốc phòng Phùng Quang Thanh?

Không biết giờ đây đại tướng bộ trưởng Bộ quốc phòng Phùng Quang Thanh nghĩ gi? Liệu trong ông còn đập trái tim của người lính Việt Nam? Trước tình hình nguy hiểm này, ông có thấy cần phải gọi hồn các đồng đội đã bỏ mình ở biên giới Tây Nam, ở Cam-pu-chia, ở biên giới phía Bắc, trên biển Đông, hãy bật mồ đứng dậy hỏi thẳng Bộ chính trị: tại sao mấy chục năm qua lại cấm không cho sách báo nhắc gì đến họ? Ông ăn nói thế nào đây với các gia đình liệt sĩ, gia đình quân nhân, với các chiến sĩ, sĩ quan đang ngày đêm phơi mình sương gió giữ từng tấc đất tấc biển khi Bộ chính trị âm thầm để cho những binh đội trá hình của Trung Quốc luồn vào cắm ở Tây Nguyên? Những người lính lấy đâu tinh thần để xông lên diệt giặc khi họ biết rằng nếu họ bỏ mình vì Tổ Quốc thì những người lãnh đạo tối cao cũng sẽ không cho nhắc nhở gì tới sự hy sinh của họ? Họ làm sao còn đủ ý chí cầm nổi khẩu súng nhằm về phía giặc khi nhận ra thực chất họ đang phải sống thân phận của người canh giữ túi vàng két bạc cho những kẻ ngồi trên đầu họ ngoài miệng luôn cao giọng hô to Tổ Quốc nhưng bàn tay ngấm ngầm đưa giặc vào ngự trên sống lưng Tổ Quốc?

Tóm lại, Bộ chính trị đang tự đặt mình vào vị trí để nhân dân xem xét về tư cách yêu nước.

Và Bộ chính trị đang đẩy toàn thể đảng viên vào tình thế nếu giữ tư cách đảng viên thì mất tư cách yêu nước.

Nay mai khi đưa ra thảo luận ở Quốc hội, nếu các đại biểu là đảng viên làm theo chỉ thị của Bộ chính trị phải biểu quyết cho thực hiện dự án khai thác bô-xít Tây Nguyên (như đã từng làm với vụ phá hội trường Ba Đình và vụ mở rộng Hà Nội) thì nhân dân sẽ coi các đại biểu đó không còn tư cách yêu nước, không còn tư cách đại diện cho dân mà chỉ là cánh tay nối dài của Bộ chính trị.

Lão thành cách mạng Nguyễn Trọng Vĩnh nghiêm khắc cảnh tỉnh:

“Đành rằng các đồng chí có quyền, muốn làm gì cũng được, quyết định thế nào cũng được, nhưng cũng nên quan tâm dư luận, lắng nghe những lời phân tích lợi, hại, phải, trái mà suy nghĩ cân nhắc. Từ xưa đến nay, ở triều đại nào cũng vậy, chủ trương, chính sách ích quốc, lợi dân thì được dân ủng hộ, chủ trương chính sách sai trái tổn quốc, hại dân thì dân oán. Dân oán, mất lòng tin thì khó yên ổn và thịnh vượng được. “Quan nhất thời, dân vạn đại”, “vua cũng nhất thời, dân vạn đại”.

Lâu nay Bộ chính trị luôn hành xử theo cung cách “lẽ phải thuộc về kẻ mạnh” thâu tóm quyền lực độc tôn vào tay mình, lấy quyền lực thay cho lẽ phải, coi thường ý kiến của các lão thành, của giới trí thức và nhân dân, coi thường sức mạnh của lẽ phải.

Nhưng nhân dân và đại đa số đảng viên tuy không còn tin ở Bộ chính trị nữa song không bao giờ mất niềm tin ở sức mạnh của lẽ phải, một sức mạnh muôn đời, muôn nơi, muôn người và nhất định sẽ chiến thắng bạo quyền.Ngay giữa lòng Bộ chính trị, nơi chóp đỉnh bộ máy quyền lực luôn ở thế độc tôn không có sự giám sát độc lập, không có cơ chế hãm, khiến con người từng ngày từng giờ bị cuốn theo mê lộ của những tham vọng vị kỷ, thì hạt mầm sức mạnh của lẽ phải vẫn luôn tồn tại, dù rất nhỏ nhoi và chỉ mới thoáng hiện ở một nửa con người thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong buổi đến thăm đại tướng Võ Nguyên Giáp nhân dịp kỷ niệm 55 năm chiến thắng Điện Biên Phủ.Và tôi tin rằng không chỉ có một nửa con người thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và dẫu một nửa này chưa phải là sự thành tâm thì ít ra cũng là một sự thức thời.

Thức thời để nhận thấy rằng đã xuất hiện ngay trong Đảng một đòi hỏi phải tách Đảng ra làm hai, đại đa số đảng viên tử tế tất yếu sẽ tiến tới một sự lựa chọn xé rào mới bằng bản lĩnh và phương pháp Kim Ngọc và Võ Văn Kiệt, dứt khoát không tiếp tục cam chịu làm con rối, làm bình phong cho trò xiếc về tổ chức mà nguyên phó ban tổ chức trung ương Nguyễn Đình Hương đã thẳng thắn vạch rõ là thủ đoạn sắp đặt nhân sự trong tay một nhóm người.Cái con người tách đôi của thủ thướng Nguyễn Tấn Dũng chính là biểu hiện cái sự thật đau đớn và ghê tởm kinh niên không còn che giấu được nữa: trong lòng một đảng cầm quyền cùng chung danh xưng từ lâu đã chứa đựng hai đảng đối nghịch nhau về tiêu chí chính trị, về lẽ sống, lối sống, mức sống.

Tách Đảng ra làm hai chính là đáp ứng một yêu cầu cả khách quan lẫn chủ quan không gì cưỡng nổi, như thế vừa dễ xử cho mọi đảng viên vừa là thức thời trước sức ép của qui luật: một đảng của số ít các quan chức hoạt động để giữ ghế, một đảng của số đông các đảng viên tử tế nguyện dâng trọn đời vì dân vì nước, quyết giữ trọn tư cách yêu nước, tư cách người chiến sĩ cách mạng chiến đấu vì độc lập dân tộc và vì quyền tự do của mỗi con người.Hai đảng thi đua nhau, cạnh tranh nhau làm đầy tớ thật sự của nhân dân, dân thấy đảng nào đúng là đầy tớ thật của mình thì dân chọn và tự nguyện đóng góp gạo mắm để nuôi.Vậy thôi, đơn giản và rõ ràng vậy thôi, cần chi lý lẽ vòng vo tam quốc về chỉnh đốn với xây dựng, về phê với tự phê lặp đi lặp lại đến phát nhàm.

Bùi Minh Quốc

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Công An chứng tỏ vẫn làm chủ
Friday, July 10, 2009

Ngô Nhân Dụng

Sau khi bắt Luật Sư Lê Công Ðịnh, nhà kinh doanh Trần Huỳnh Duy Thức, công an Cộng Sản đã bắt Kỹ Sư Nguyễn Tiến Trung, cả ba cùng bị ghép tội “chống nhà nước.” Tội danh này căn cứ vào những điều luật rất mơ hồ cho phép chế độ Cộng Sản có thể áp dụng tùy tiện, theo lối giải thích của công an. Những vụ bắt bớ liên tiếp đó khiến dân Việt Nam đặt câu hỏi: Tại sao họ làm dữ liên tiếp như vậy?

Có người cho là Ðảng Cộng Sản Việt Nam đang lo chính các đảng viên cũng đang căm phẫn trước các chính sách nhu nhược của chính quyền trước các đồng chí Bắc Kinh. Các cuộc biểu tình chống vụ Hoàng Sa, Trường Sa năm trước đã lôi cuốn rất nhiều đảng viên lão thành. Nay lại thêm các mỏ Bô Xít, những vụ Trung Quốc bắt giam ngư phủ Việt Nam. Mầm nổi loạn càng có vẻ lớn hơn khi hàng ngày người ta nghe tin nhân dân Iran đang đòi dân chủ. Nay lại thêm cảnh dân Uyghur bị tàn sát ở Tân Cương khiến người Việt ai cũng phải nghĩ tới số phận mình, nếu có lúc mình trở thành dân thiểu số ngay trong nước Việt Nam!

Có giả thuyết khác cho là các đồng chí Bắc Kinh đang thúc giục Cộng Sản Việt Nam phải dẹp tan các cuộc chống đối nhắm vào Trung Quốc, từ vụ Bô Xít tới những vụ bắt cóc ngư dân Việt Nam ngoài biển Ðông. Muốn chứng tỏ Ðảng mạnh, dám dùng bàn tay sắt cho nên Ðảng hãy bắt ngay hai người tranh đấu cho dân chủ trước. Những người khác phải coi đó mà sợ, từ các đảng viên cho tới những nhà trí thức ngoài đảng đang muốn đẩy mạnh cuộc tranh đấu chống Trung Quốc lên cao phải coi đó mà biết sợ. Ðảng Cộng Sản Việt Nam nhất quyết “không khoan nhượng” đối với những kẻ thù của các đồng chí Trung Quốc!

Ngày hôm qua, công an Cộng Sản Việt Nam lại chứng tỏ thêm một lần nữa là họ cương quyết bảo vệ chế độ của họ như thế nào. Công an cửa khẩu Tân Sơn Nhất đã ra lệnh “tạm hoãn xuất cảnh đối với ông Mai Thái Lĩnh,” trong lúc ông đã có hộ chiếu passport, có chiếu khán visa nhập cảnh do chính phủ Mỹ cấp, đã cầm thẻ lên tầu, đang chuẩn bị bước vào cửa máy bay thì bị chặn! Công an đưa một cẳng chân ra cản, cả cuộc vận hành đưa Mai Thái Lĩnh đi du lịch ngưng chạy! Ðây là một vụ biểu dương sức mạnh của công an, nên phân tích cho rõ.

Từ khi xin được hộ chiếu và visa, mua vé máy bay của hãng Eva, du khách Mai Thái Lĩnh đi ra phi trường trình vé và lấy thẻ lên tàu, cân hành lý, gửi hành lý, chứng kiến cả bộ máy phức tạp vô hình vận chuyển chạy từng bước một để đưa mình lên đường từ Việt Nam sang Mỹ. Bộ máy vô hình này bao gồm hệ thống hành chánh và luật lệ xuất nhập cảnh của hai quốc gia, guồng máy thương mại của các công ty máy bay và cơ quan hàng không quốc tế nối liền Saigon với Taipei và Los Angeles qua Thái Bình Dương. Tất cả những ai từng đi du lịch nước ngoài đều đã trải qua kinh nghiệm đó, và ai cũng thấy là bộ máy liên quốc và quốc tế này chạy rất nhuần nhuyễn, như có một “bàn tay vô hình” điều khiển. Bao nhiêu giao dịch rắc rối, phức tạp biến thành những hoạt động chuyển hồ sơ qua máy điện toán của công ty hàng không, của các ngân hàng, của các cơ quan ngoại giao dùng luật lệ mỗi nước và quốc tế, chỉ để giúp một du khách bay một chuyến đi xa, từ Mỹ qua Nga, từ Pháp sang Tầu, hay từ Việt Nam sang Mỹ, đi một cách nhanh chóng, nhẹ nhàng và không vấp váp.

Nhưng đối với du khách Mai Thái Lĩnh ngày hôm qua, cả guồng máy đó ngưng chạy. Chỉ do một lệnh của công an. Công an nói ngưng là ngưng! Chúng ta có thêm một bằng cớ nữa về tình trạng “công an làm chủ” trong nước Việt Nam. Lý do được nêu lên là “bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.” Vì Mai Thái Lĩnh là một người trong nhóm các nhà trí thức tranh đấu đòi tự do dân chủ ở thành phố Ðà Lạt. Họ từng nhiều lần chỉ trích chế độ, như ngày hôm qua trên nhật báo Người Việt ông Hà Sĩ Phu trong nhóm này đã tố cáo tình trạng dân tính, dân tộc Việt Nam bị đe dọa vì sự bành trướng của người Trung Quốc, với sự tiếp tay đồng lõa của Ðảng Cộng Sản Việt Nam. Như Hà Sĩ Phu nói, mất nước chưa đau bằng mất dân tộc, mất dân tính. Mai Thái Lĩnh là bạn của Hà Sĩ Phu, mà tính cũng nói thẳng không khác nhau. Bị cấm đi, cũng giống như vẫn bị cấm nói.

Cũng giống như việc bắt giam Lê Công Ðịnh và Nguyễn Tiến Trung, lần nào công an cũng nêu lý do “an ninh.” Bất cứ lúc nào họ cũng có thể kiếm cớ buộc tội những người không cúi đầu vâng lệnh công an là “âm mưu lật đổ chính quyền xã hội chủ nghĩa.” khi an ninh được đề cao là mục tiêu ưu tiên số một, thì công an phải làm chủ! Mà họ đang làm chủ thật. Chỉ cần gán tội “âm mưu lật đổ chế độ” là tha hồ bắt.

Khi được phỏng vấn về vụ bắt giữ Nguyễn Tiến Trung, Giáo Sư Carl Thayer tại Úc Châu đã nêu thắc mắc về lối kết tội các nhà tranh đấu tự do dân chủ bất bạo động, “Làm sao họ có thể lật đổ chính quyền bởi lời nói và những hành động độc lập và ôn hòa?”

Ông Thayer cũng hỏi, tại sao Ðảng Cộng Sản “họ không bắt giam cựu Thủ Tướng Võ Văn Kiệt” vì khi còn sống ông ta cũng “có những ý kiến chỉ trích chính phủ?” Và tại sao “họ không coi Tướng Võ Nguyên Giáp là người tuyên truyền chống nhà nước” khi ông ta cũng viết thư chống vụ Bô Xít mấy lần?

Khi đặt những câu hỏi đó, Giáo Sư Carl Thayer, một nhà chuyên nghiên cứu Cộng Sản Việt Nam từ bao năm qua, giả thiết rằng có một Ðảng Cộng Sản, và Ðảng đó có những chủ trương, chính sách rõ ràng, và ông vạch ra rằng họ đã tự mâu thuẫn khi thi hành các chính sách đó. Nhưng Giáo Sư Carl Thayer cũng thừa biết là không có “Một Ðảng Cộng Sản.” Vì trong nước Việt Nam bây giờ “Ðảng lãnh đạo, nhà nước quản lý” như “công an làm chủ!”

Cũng biết như vậy cho nên chính Giáo sư Thayer đưa ra giả thuyết rằng việc bắt giữ ông Nguyễn Tiến Trung là một hành động của “một nhóm” trong đảng Cộng Sản Việt Nam.

Trong cuộc phỏng vấn trên, ông Thayer giải thích, “...hiện giờ Việt Nam đang ở trong giai đoạn tiến tới đại hội Ðảng... Vậy nên có hai khả năng là Bộ Công An muốn chứng tỏ sức mạnh của một nhóm có ảnh hưởng lớn hoặc đây là một nỗ lực tạo khuôn khổ hoạt động cho tương lai.”

Ông Thayer đã nói thẳng nhưng còn dè dặt. Chúng ta có thể nói rõ hơn. Bên trong đảng Cộng Sản hiện nay từ trên xuống dưới đang “bắt đầu tổ chức lại.” Trong cái hoạt động gọi là “cơ cấu người” vào dự đại hội sang năm, và vào Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng, vào Bộ Chính Trị sau đại hội đó, các cuộc chạy đua phe phái đã bắt đầu. Cánh công an ra tay trước. Ra lệnh dùng bàn tay sắt đánh đấm bên ngoài, bắt giam Lê Công Ðịnh và Nguyễn Tiến Trung, chặn chân Mai Thái Lĩnh ngay cửa máy bay cho biết tay. Nhưng bàn tay sắt đó khi đưa lên đánh đấm thì cũng đe dọa luôn cả các “đồng chí” ở bên trong Ðảng. Các quốc gia chí biết thân thì hãy để cho công an nhiều quyền “cơ cấu” người của họ. Theo đúng đường lối “công an làm chủ.”

Khi “công an làm chủ” thì cách xếp đặt tốt nhất là họ phải làm chủ ngay từ trong đại hội Ðảng tất cả cùng theo một nghị trình của công an. Muốn làm chủ được đại hội Ðảng thì cần phải làm chủ ngay từ lúc đang chuẩn bị đại hội, trong việc tuyển chọn người đi họp đại hội. Cứ như vậy mới thực hiện được nguyên tắc công an làm chủ.

Nhưng chúng ta đang chứng kiến những dấu hiệu cho thấy sức đề kháng của dân tộc Việt Nam đang chuyển mình để biểu hiện công khai chống lại chính quyền Cộng Sản, dù do công an điều khiển hay không. Qua những vụ bắt giam Lê Công Ðịnh, Trần Huỳnh Duy Thức, và Nguyễn Tiến Trung, ta thấy những người bị cáo buộc chống nhà nước này ở lớp tuổi còn trẻ, chỉ có cựu Trung Tá Trần Anh Kim là người đã lớn tuổi, đã từng đi lính trong chế độ Cộng Sản.

Ðặc biệt là Nguyễn Tiến Trung, 26 tuổi, anh thuộc lớp người được chế độ Cộng Sản nuôi dưỡng. Nhưng khi được đi học ở nước ngoài, anh đã khám phá ra những lối sống trong tự do dân chủ, khác hẳn ở Việt Nam. Khi thấy nhân dân những nước khác sống tự do, thịnh vượng, hạnh phúc anh mong muốn đồng bào mình cũng được như vậy. Anh lập phong trào Thanh Niên Dân Chủ tập hợp những người cùng thế hệ được may mắn học thành tài, cùng nhau tranh đấu cho đồng bào có ngày được sống tự do. Anh và các bạn trong phong trào này đã nhất định sẽ trở về trong nước tranh đấu ngay trong lòng chế độ, với mục đích thay đổi một cách ôn hòa.

Những thanh niên ước mong đất nước dân chủ hóa đều phải chọn một trong hai đường: Hoặc đấu tranh từ bên hệ thống để thay đổi trong vòng pháp luật của họ; hoặc đấu tranh thẳng trên hệ thống, đòi thay đổi tất cả cơ cấu chính trị và pháp luật hiện hành. Nguyễn Tiến Trung và các Thanh niên Dân Chủ đã chọn con đường thứ nhất. Hà Sĩ Phu và các bạn chọn con đường thứ hai. Nguyễn Tiến Trung đã tuân lệnh nhập ngũ, nhưng sau cùng lại bị giải ngũ, vì vẫn đòi sống tự do theo pháp luật, không chịu tuyên thệ trung thành với Ðảng Cộng Sản. Anh bị bắt vì bị gán tội chống chế độ Cộng Sản, tức là tội đấu tranh trên chế độ. Trần Anh Kim bị kết tội muốn công khai hóa Ðảng Dân Chủ Việt Nam, nếu đúng thì anh đã chấp nhận đấu tranh trên chế độ chứ không thể mỏi miệng kêu gào bên trong khuôn khổ chế độ ngặt nghèo này.

Nhiều thanh niên và trí thức khác ở Việt Nam, những người đã đi biểu tình chống vụ xâm lăng Hoàng Sa, những người ký kiến nghị phản đối vụ khai mỏ Bô Xít, họ cũng đang phân vân giữa hai con đường: đấu tranh từ bên trong hệ thống; hay đánh thẳng ngay lên hệ thống đang cai trị nước ta. Những đảng viên Cộng Sản cũng đặt câu hỏi tương tự: Thay đổi từ bên trong đảng, hay đứng ta ngoài cùng nhân dân đòi Ðảng Cộng Sản phải thay đổi? Họ sẽ phải tự hỏi: Trong một hệ thống chính trị do “công an làm chủ” thì cả cái Ðảng Cộng Sản mà họ nằm trong đó còn ý nghĩa gì không?

Khi công an Cộng Sản đàn áp bắt bớ một loạt những người vì những tội chống nhà nước, âm mưu lật đổ nhà nước, các thanh niên và trí thức sẽ thấy họ không có lựa chọn nào khác. Vì thấy tranh đấu theo lối cũ không hy vọng thay đổi được số phận đồng bào, họ sẽ phải đứng dậy thay đổi tất cả hệ thống chính trị và pháp luật ở Việt Nam. Nếu không, người Việt sống trên đất Việt vẫn có thể bị đối xử không khác gì người Uyghur sống ở Tân Cương!

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Trông người Uyghur nghĩ đến mình
Thursday, July 09, 2009

Ngô Nhân Dụng
Ðọc những bản tin về xung đột chủng tộc ở Urumqi, thủ phủ khu tự trị Tân Cương trong mấy ngày qua, người Việt Nam, nhất là người dân Hà Nội phải tưởng nhớ và biết ơn tổ tiên mình. Phải tới Ðền Ngọc Sơn thắp hương tạ ơn Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn, nhân đó cũng tạ ơn những Trưng Nữ Vương, Triệu Thị Trinh, cho tới Mai Thúc Loan, Phùng Hưng, Dương Diên Nghệ, Ngô Quyền. Nếu không có những vị anh hùng liệt nữ đó, chắc số phận dân Việt mình cũng không khác gì người Uyghur đang sống trong quê hương của họ.

Người Uyghur, báo chí tiếng Anh cũng viết là Uighur, người Trung Hoa phiên âm mà người Việt đọc là “Duy Ngô Nhĩ,” thuộc giống dân Thổ (Turk) đã sống chung với nhiều sắc dân Trung Á trong vùng này. Cùng thời gian đó người Việt sống ở châu thổ sông Hồng, sông Mã. Khi quân Hán sang chiếm nước Nam Việt ở Quảng Ðông hơn một trăm năm trước Công Nguyên và chiếm cả đất nước của Hùng Vương ta thì một cánh quân Hán khác cũng đánh bại đế quốc Hung Nô và tiến chiếm vùng đất sống của người Uyghur. Nhà Hán lập An Thành Ðô Hộ Phủ cai trị vùng này, còn người Việt thì được nhập vào đế quốc nhà Hán, đặt thành châu, quận, suýt nữa đã bị Hán hóa.

Vào đời Ðường, từ đầu thế kỷ thứ bảy, vùng Tân Cương, Thanh Hải được đổi tên là An Tây Ðô Hộ Phủ cũng giống như An Nam Ðô Hộ Phủ cai trị người Việt lúc đó. Vào giữa thế kỷ thứ tám, khi người Tây Tạng tấn công đến tận kinh đô Tràng An năm 763 thì “nhân lúc bên Tầu có loạn” người Uyghur cũng nổi lên lập quyền tự trị. Tiếp theo đó nhiều thế kỷ các đại hãn gốc Uyghur, Mông Cổ rồi Khiết Ðan (từ Mãn Châu) thay phiên nhau cai trị. Trong cùng thời gian đó ở nước ta, mỗi lần “nhân lúc bên Tầu có loạn” dân Việt Nam lại cùng các thủ lãnh địa phương, và đôi khi cùng quan cai trị người gốc Hán, cũng nổi lên tự lập. Những vị anh hùng từ Phùng Hưng đến Dương Diên Nghệ đã “tiếp lửa” giữ nóng tinh thần độc lập của dân tộc, nhờ thế những thế hệ sau Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, cùng toàn dân bảo vệ được giang sơn.

Khi Trần Thái Tông, Nhân Tông, và Trần Quốc Tuấn lãnh đạo dân Việt chống cự cuộc xâm lăng của quân Mông Cổ (1284-1288) thì người Uyghur bắt đầu bị đế quốc Mông Cổ cai trị từ năm 1218. Sau khi nhà Nguyên đổ, vùng này đặt dưới quyền những đại hãn thuộc các nhóm người Trung Á theo Hồi Giáo, cho tới thế kỷ 18 bị nhà Thanh chiếm, dần dần họ chính thức sáp nhập thành tỉnh Tân Cương (Cương giới mới, theo quan điểm người Hán). Giữa thế kỷ 19 khi nhà Thanh bị các nước Tây phương bắt nạt thì người Uyghur và người Hồi trong tỉnh Tân Cương đã nổi lên giành độc lập nhưng không được lâu. Năm 1933 dân Uyghur lại nổi lên thành lập Cộng Hòa Ðông Thổ “East Turkestan” hoặc “Uyghuristan.” Quốc gia này chết đi sống lại, cho đến năm 1949 thì bị Hồng quân Trung Hoa chiếm lãnh hoàn toàn.

Người Việt may mắn hơn dân Uyghur, đã giữ được độc lập suốt từ thế kỷ 13, nhờ toàn dân theo những vị anh hùng như Lê Lợi, Nguyễn Huệ cùng kháng cự tham vọng bành trướng của người Hán. Nếu không, thì bây giờ dân Việt có thể chỉ là một sắc dân thiểu số ngay trên đất nước mình, có thể đã biến thành một tỉnh thuộc nước Trung Hoa!

Tại Tây Tạng và Tân Cương, hai “khu tự trị” lớn rộng bằng một phần tư Trung Quốc, các sắc dân cố thổ ở đó giờ đây đã trở thành những sắc tộc nhỏ trong một nước hơn một tỷ người. Ở Tây Tạng, kể từ khi Cộng Sản cai trị họ đã đem người Hán di dân tới từ năm 1950, sau hơn nửa thế kỷ bây giờ số dân Tây Tạng ít hơn người Hán. Tại Tân Cương, người Uyghur còn chiếm đa số, 45% trong số 20 triệu dân trong tỉnh, và người Hán di dân chỉ chiếm dưới 40% (năm 1949 chỉ có 6% dân là người Hán). Nhưng dân Uyghur đã bị áp lực đồng hóa và đối xử phân biệt từ nửa thế kỷ nay. Tuy gọi là các “khu tự trị” nhưng các vùng của người thiểu số này bị chính quyền trung ương ở Bắc Kinh cai trị trực tiếp một cách khắt khe hơn những tỉnh khác trong nước Trung Hoa. Những cuộc biểu tình của nông dân Trung Hoa tại các tỉnh khác không bị đàn áp đẫm máu như tại Tây Tạng hoặc Tân Cương. Vị “tỉnh trưởng” Tân Cương là người Uyghur nhưng người mạnh nhất đảng Cộng Sản ở đây là Vương Lạc Tuyền (Wang Lequan), cũng là một thành viên Bộ Chính Trị, và Bí Thư Lật Trí (Li Zhi) đều là người Hán và họ mới nắm quyền hành tối hậu.

Cuộc nổi dậy và bạo loạn tại thủ phủ Urumqi trong mấy ngày vừa qua là biểu hiện những uất ức của người Uyghur chồng chất từ khi bị Cộng Sản Trung Quốc chiếm đóng. Có một hố sâu phân cách giữa mức sống của người Hán di dân và người Uyghur cũng như các sắc tộc bản thổ khác. Từ hai chục năm qua, tức là sau khi Cộng Sản Trung Quốc bắt đầu đổi mới kinh tế, thì họ cũng bắt đầu mở những đợt di dân ào ạt vào Tân Cương, hiện nay người Hán chiếm hơn 75% dân số trong thủ phủ Urumqi. Người Hán giữ guồng máy hành chánh, chỉ huy quân đội, họ làm chủ các cơ sở thương mại, làm công nhân những công trường xây cất và hầm mỏ, trong khi người Uyghur vẫn theo các nghề nghiệp cổ truyền.

Chính sách đồng hóa của chính quyền Trung Cộng được đội lốt dưới ý thức hệ Cộng Sản. Họ ép người dân Uyghur bỏ các phong tục Hồi Giáo cổ truyền để theo “nếp sống văn minh” của chủ nghĩa Cộng Sản, đặc biệt là Cộng Sản Trung Hoa. Có lúc các phụ nữ người Uyghur bị cấm không được che tóc và mặt theo tín ngưỡng Hồi Giáo. Trẻ em không được học tiếng Uyghur mà phải học tiếng Phổ thông của người Hán. Cộng Sản Trung Quốc đã phổ biến những bài ca như Ðông Phương Hồng, những điệu nhảy “nông tác vũ,” bên ngoài là ca ngợi chế độ Cộng Sản, bên trong là âm mưu đồng hóa một sắc dân. Có nhà thờ Hồi Giáo bị biến thành trụ sở công cộng, cũng giống như các chùa và nhà thờ ở Việt Nam đã bị sung công trong thời Cộng Sản Việt Nam tập thể hóa nông nghiệp theo mẫu của Mao Trạch Ðông. Ở Tân Cương, đây là một thứ “diễn biến hòa bình” triệt để, dùng chủ nghĩa Cộng Sản để tiêu diệt bản sắc của các giống dân thiểu số chung quanh nước Trung Hoa.

Cuộc nổi dậy vừa qua bắt đầu với một cuộc biểu tình ôn hòa của người Uyghur trong thủ phủ Urumqi. Họ chỉ yêu cầu chính quyền địa phương, mà người đứng đầu Nur Bekri (Bạch Khắc Lực theo chữ Hán) là một người Uyghur, phải ra giải thích cho dân hiểu về vụ hai công nhân người Uyghur đã bị đánh chết trong một cuộc đụng độ với người Hán ở Quảng Ðông, vào ngày 25 Tháng Sáu trước. Họ chỉ yêu cầu mở cuộc điều tra chứ không đòi hỏi gì hơn. Có thể nói, cuộc biểu tình này tự nó cũng chỉ có mấy trăm người, rất ôn hòa, cũng giống như những đoàn “dân oan” người Việt đã kéo lên Hà Nội. Tại các tỉnh khác ở Trung Quốc đã có những cuộc biểu tình hàng chục ngàn nông dân chống chính quyền. Tại Urumqi, người Uyghur là thiểu số, họ sống trong những khu nghèo nhất phía Nam thành phố, trước đây các vụ nổi dậy thường xảy ra ở những thành phố khác. Nhưng lần này chính quyền Cộng Sản đã không đáp ứng. Hiện chưa ai biết tại sao cuộc biểu tình đó đã biến thành bạo động, nhưng có nhiều phần vì cảnh sát, công an đã đàn áp tàn bạo quá khiến người dân phẫn uất. Họ đi đập phá các cửa hàng của người Hán và đánh người Hán. Theo tin của chính phủ Bắc Kinh có 156 người chết trong ngày Chủ Nhật vừa qua, nhưng họ không biết bao nhiều người là người Hán, bao nhiêu là người Uyghur. Có thể phần lớn là người Uyghur bị công an bắn chết.

Hai ngày sau, đến lượt người Hán trong thành phố biểu tình bạo động trả đũa người Uyghur, và đám cảnh sát, công an của chế độ chờ rất lâu mới can thiệp. Không biết có bao nhiêu người chết. Hồ Cẩm Ðào đang ở Ý để dự Hội nghị kinh tế G-20 phải bỏ về nước. Ðiều này cho thấy tình hình rất trầm trọng, vì xưa nay các lãnh tụ Trung Cộng không bao giờ để mất thể diện dễ dàng và công khai như vậy. Hồ Cẩm Ðào là người đã đứng đầu khu Tự Trị Tây Tạng và ra lệnh đàn áp cuộc nổi dậy năm 1989.

Chính quyền Bắc Kinh đã trút hết tội lên một người Uyghur lưu vong là bà Rebiya Kadeer. Bà vốn là một doanh gia người Uyghur có ảnh hưởng lớn ở Tân Cương, cho tới khi bà bị bắt bỏ tù 5 năm vì có tư tưởng chống chính sách bành trướng và đồng hóa của người Hán. Vì cả thế giới can thiệp nên Bắc Kinh trả tự do cho bà, sau đó bà di cư sang Mỹ năm 2005. Bà đã từng được Tổng Thống George W. Bush tiếp kiến, để bà giải thích những cuộc nổi dậy của người Uyghur không liên quan gì tới phong trào khủng bố al Qaeda như chính quyền Bắc Kinh gán ghép. Có 22 người Uyghur bị bắt ở Afghanistan và bị giam ở trại Guantanamo. Một số người được phóng thích bị chính phủ Bắc Kinh đòi trục xuất về Trung Quốc, nhưng chính phủ Mỹ đã đưa họ tới những nước khác chịu tiếp nhận họ.

Ngày hôm qua Bộ Chính Trị Ðảng Cộng Sản Trung Quốc đã ra lệnh tái lập trật tự ở Tân Cương bằng mọi giá. Tân Cương là một vùng có giá trị chiến lược, nằm sát biên thùy những nước Nga, Iran, Afghanistan, nhất là các nước Trung Á cùng theo Hồi Giáo và ngôn ngữ và chủng tộc liên hệ với người Uyghur. Ðây là một điểm chính trên con Ðường Tơ Lụa nối Trung Quốc sang vùng Trung Ðông và Ðịa Trung Hải. Tỉnh này cũng có nhiều mỏ dầu, khí, và sẽ là con đường vận chuyển chính của những ống dẫn dầu, khí từ các nước Trung Á sang Trung Quốc, và có thể kéo dài qua Nhật Bản. Cho nên chính quyền Cộng Sản Trung Quốc phải dẹp yên những vụ rối loạn.

Ðiều tội nghiệp cho người dân Uyghur là họ chỉ đòi hỏi những điều rất giản dị trong cuộc biểu tình vừa qua: Xin điều tra vụ 2 đồng bào của họ bị giết ở Quảng Ðông. Bây giờ có hàng trăm người đã chết, hàng ngàn người bị bắt. Và mối hận thù giữa người Hán và người Uyghur sẽ còn kéo dài, không biết đến bao giờ. Những thường dân vô tội đó, thuộc cả hai bên, đều là những nạn nhân của một chế độ độc tài quen thói đàn áp, bắt nạt dân. Nếu người dân Trung Quốc, cả người Hán lẫn người Uyghur, được chính quyền tôn trọng hơn, thì sẽ khác. Trong các xã hội tự do dân chủ có rất nhiều con đường để giải quyết những xung đột quyền lợi và giải tỏa những khác biệt về văn hóa. Nếu báo chí được tự do thì những xung khắc đều có thể được phơi bầy, thảo luận, giải thích. Nếu dân được tự do bỏ phiếu thì họ sẽ chọn người cầm quyền có uy tín để hóa giải các xung khắc. Trong một chế độ độc tài thì những xung đột nhỏ cũng có thể biến thành bạo động lớn.

Cuối cùng, lại phải nói người Việt mình may mắn. Nếu không giữ được quyền tự chủ từ hai ngàn năm qua thì bây giờ nước mình cũng chỉ là một “khu tự trị” của nước Ðại Hán. Và không biết trong khu tự trị đó thì người gốc Việt sẽ bị đối xử ra sao! Hiện nay cũng có một phong trào di dân của các công nhân Trung Quốc sang Việt Nam; họ cũng tập họp thành những làng riêng biệt, họ làm công nhân ở các hầm mỏ và các công trường xây dựng giống như ở Tân Cương. Trong nửa thế kỷ, số dân Hán ở Tân Cương đã tăng từ 6% lên 40%, chưa kể các quân nhân đồn trú và gia đình họ. Năm chục năm nữa thì ở Việt Nam sẽ có bao nhiêu người Trung Quốc? Trung Quốc hiện nay có trên 20 triệu thanh niên không thể kiếm được vợ vì thiếu phụ nữ. Bao nhiêu người trong số được đang tình nguyện sang làm việc ở Việt Nam?

Trong người lại nghĩ đến ta, sau 2000 năm kinh nghiệm người Việt vẫn cứ phải “cẩn trọng!”

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Hệ thống y tế cũ kỹ

Ngô Nhân Dụng
Hệ thống bảo hiểm y tế hiện nay ở Mỹ dựa trên nơi làm việc, rất khó thay đổi. Nhân viên các công ty, tổ chức, hay cơ quan đóng bảo hiểm theo chương trình của sở làm và được sở làm góp thêm để trợ giúp. Những người về hưu và những người nghèo được chính phủ lo trong các chương trình xã hội. Từ nay đến cuối năm, dù dự luật nào sẽ được Quốc Hội thông qua thì chắc cũng bảo đảm là những người đang có bảo hiểm y tế do nơi làm việc cung cấp sẽ có quyền giữ nguyên tình trạng bảo hiểm của mình, không cần thay đổi nếu không muốn. Ðây là điều mà chính ông Barack Obama đã cam kết từ khi ông tranh cử, để giảm bớt những ý kiến chống đối.

Tại một số quốc gia khác thì chính phủ phụ trách việc bảo hiểm y tế cho tất cả mọi người, như tại Anh Quốc, Canada, Thụy Ðiển. Một số quốc gia theo một hệ thống hỗn hợp, cả công và tư, như Thụy Sĩ, Hòa Lan. Cuộc thảo luận về cải tổ hệ thống bảo hiểm y tế ở Mỹ sẽ tiến tới một hệ thống hỗn hợp mà hiện nay đang thành hình trong các ủy ban tại Quốc Hội. Ða số người Mỹ thấy cần thay đổi hệ thống hiện tại, nhưng cũng muốn ngân sách đừng bị khiếm hụt quá!

Chính hệ thống bảo hiểm y tế dựa trên sở làm hiện nay đã thành hình do hoàn cảnh tạo nên chứ không phải do một chính quyền hay Quốc Hội nào hoạch định cả. Nguồn gốc của hệ thống này là hoàn cảnh đặc biệt thời Ðại Chiến Thứ Hai. Khi đó, các xí nghiệp ở Mỹ đều thiếu công nhân vì thanh niên đi động viên. Các xí nghiệp lại không thể cạnh tranh với nhau bằng cách tăng lương, vì chính phủ đang cấm tăng lương cũng như tăng giá, để giữ kinh tế ổn định trong thời chiến. Một số xí nghiệp lớn đã nghĩ ra cách thu hút nhân lực là giúp các công nhân một phần tiền đóng bảo hiểm y tế. Sau khi chiến tranh đã chấm dứt, những xí nghiệp đã đóng bảo hiểm y tế cho nhân viên và công nhân của mình rồi cũng không thể bãi bỏ được, ngược lại, các xí nghiệp khác cũng phải làm theo, nếu không thì mất hết những người có khả năng cao nhất. Một hệ thống bảo hiểm dựa trên sở làm thành hình, không cần ai đề xướng hoặc thảo luận.

Nhưng sau khi đã thành hình, có những quyền lợi nẩy sinh ra đối với nhiều người sống trong hệ thống này. Và họ vận động các đại biểu Quốc Hội để bảo vệ các quyền lợi đó bằng luật lệ về thuế khóa. Thứ nhất là các chủ nhân. Số tiền mà họ đóng góp cho quỹ bảo hiểm của nhân viên phải được coi như một loại chi phí về nhân lực, giống như tiền trả lương. Do đó, được trừ vào số tiền thu nhập để giảm bớt tiền thuế.

Ngược lại, đối với công nhân và nhân viên đi làm thì họ được hưởng một số tiền đóng bảo hiểm y tế do công ty góp giúp cho mình, một thứ lợi ích thêm cũng giống như tăng lương, nhưng họ lại không phải đóng thuế lương bổng.

Các đại biểu Quốc Hội đồng ý làm luật bảo vệ quyền lợi của các chủ nhân (được trừ thuế) và của nhân viên, công nhân các xí nghiệp (không phải đóng thuế lợi tức) một cách tự nhiên. Nhưng họ đã tạo ra những tình trạng bất bình đảng, bất công trong xã hội. Bất bình đẳng, vì các xí nghiệp mua bảo hiểm y tế cho nhân viên thì tiền chi ra được trừ thuế, còn những người khác tự mua bảo hiểm y tế cho chính họ lại không được trừ. Một người mất việc phải tự mình mua bảo hiểm sẽ không được trừ một đồng thuế nào, so với người đang có việc làm. Cũng vậy, nhân viên các xí nghiệp không phải đóng thuế trên những số tiền mà chủ nhân trả thay cho mình trong quỹ bảo hiểm y tế, nhưng một người tự làm chủ, làm thợ cho chính mình thì kiếm được bao nhiêu phải đóng thuế trước, còn lại mới lấy tiền đóng bảo hiểm.

Nhiều người đồng ý đây là một tình trạng thiếu công bằng. Một số đại biểu Quốc Hội đã có ý kiến nên coi những số tiền trợ cấp của các xí nghiệp về bảo hiểm y tế cho nhân viên giống như các thứ lương bổng, lợi tức khác, do đó buộc người thụ hưởng phải đóng thuế. Nhưng ý kiến này khó lòng được Quốc Hội thông qua, vì số người bị đóng thứ thuế mới này sẽ rất đông. Số tiền thu được, nếu bắt họ đóng thuế sẽ rất cao, lên tới vài trăm tỷ Mỹ kim một năm, chính phủ nào cũng muốn thu nhưng không dám vì sẽ bị chống đối rất mạnh!

Chỉ những người thất nghiệp là sẽ không chống, vì họ sẽ phải bỏ tiền túi ra đóng bảo hiểm và không được trừ thuế. Nhật báo Wall Street mới kể trường hợp một kỹ sư tin học làm việc cho một phân bộ của công ty General Motors, ông bị mất việc khi công ty phá sản. Hồi mới vào làm cho công ty này, thập niên 1990, ông phải thay thận, chi phí thay thận do chính phủ trả, nhưng tất cả các chi phí khác do hệ thống bảo hiểm y tế của công ty lo. Chương trình bảo hiểm của công ty tốt quá, ông từ chối không nhận chính phủ lo phần hậu giải phẫu để cho bảo hiểm tư lo được hưởng nhiều tiện ích hơn.

Tháng Tám năm ngoái ông mất việc, nhưng vẫn muốn được bảo hiểm như cũ, ông phải đóng 1,400 đô la mỗi tháng - gấp đôi số trả tiền nhà. Bây giờ lại thêm một cái thận nữa bị hư. Ông phải bỏ tiền túi mấy chục ngàn đô la để chẩn bệnh trước khi được chính phủ trợ cấp giải phẫu thay thận lần nữa. Trong vòng 18 tháng, ông cho biết đã chi tiêu hết tiền tiết kiệm của mình. Ðang đi làm lãnh lương hơn trăm ngàn một năm, bây giờ ông phải thắt lưng buộc bụng. Bà vợ ông cũng mất việc làm trong một nhà thương, nay bà mới kiếm được việc làm trong bếp tại một cửa hàng McDonald. Nhưng khi làm việc 30 giờ một tuần, lãnh lương về thì lại bị trừ mất 150 đồng trợ cấp phiếu thực phẩm (food stamps).

Hệ thống bảo hiểm y tế dựa trên sở làm đã ra đời hơn 40 năm nay, mà tình trạng kinh tế, xã hội tại nước Mỹ đã thay đổi rất nhiều. Hồi giữa thế kỷ trước, khi một công nhân Mỹ đi làm thì có thể làm rất lâu, có khi suốt đời ở một công ty. Ngày nay người ta đổi việc luôn, nhiều người đổi cả nghề vì có những công việc cũ không còn ai làm ở Mỹ nữa. Hiện giờ, ở lứa tuổi 42, một người Mỹ trung bình thay đổi sở làm 11 lần! Khi đổi sở thì cũng thường thay đổi hãng bảo hiểm y tế.

Một điều thay đổi khác nữa là các công ty Mỹ hiện nay cạnh tranh với các địch thủ trên toàn thế giới, chứ không còn như trước. Tất cả các nước giầu đều có hệ thống bảo hiểm y tế công cộng cho toàn dân, chỉ trừ nước Mỹ. Một công ty Mỹ phải cạnh tranh với một công ty Canada, Ðức, Thụy Ðiển, thì bị thiệt thòi vì ở những nước kia các xí nghiệp không phải chi tiêu về bảo hiểm y tế cho nhân viên. Ðối với những công ty chế tạo ở Mỹ, trung bình mỗi giờ phải trả thêm 2.38 đô la chi phí về y tế cho nhân viên và công nhân; còn ở các nước buôn bán nhiều với Mỹ trung bình các xí nghiệp chỉ chi thêm dưới một đô la về y tế. Trong vụ các công ty xe hơi ở Mỹ bị phá sản gần đây, ban giám đốc các công ty GM, Ford hay hay Chrysler ở Windsor, Canada dễ xoay trở hơn so với trụ sở chính ở Detroit, vì họ không phải đóng bảo hiểm y tế cho nhân viên và công nhân.

Ðể giảm bớt chi phí trong lúc kinh tế khó khăn, nhiều công ty Mỹ đã cắt bớt hoặc bãi bỏ luôn các chương trình bảo hiểm y tế. Từ năm 2000 đến nay, số công ty bỏ bảo hiểm chiếm khoảng 10%. Nhân viên và công nhân của họ sẽ phải tự lo lấy, không khác gì những người mất việc.

Vì vậy, một nguyên nhân lớn khiến nhiều người phải khai phá sản là do không đủ tiền trả chi phí về y tế. Một cuộc nghiên cứu đăng trong Tạp chí Y Tế Mỹ (American Journal of Medecine) cho biết trong sáu năm qua hai phần ba các vụ khai phá sản cá nhân liên quan đến chi phí về y tế. Một điều đáng kinh ngạc là trong số những người khai phá sản vì không trả được tiền bệnh viện hoặc bác sĩ lại có 3/4 là những người đang có bảo hiểm y tế đàng hoàng. Lý do vì không phải chương trình bảo hiểm nào cũng đầy đủ, có khi người bệnh phải tự lấy tiền túi trả một số chi phí cho bệnh viện hoặc y sĩ vì bảo hiểm không trả!

Hiện tượng này cho chúng ta thấy một điều đáng nghi ngờ, là hệ thống bảo hiểm y tế hiện tại cho phép “người tiêu thụ” có quyền tự do lựa chọn. Ðó là một huyền thoại. Ða số người Mỹ đi làm thì phải chọn trong số những chương trình bảo hiểm y tế mà xí nghiệp chủ nhân chọn cho họ, không có cách nào khác. Hơn một nửa các xí nghiệp ở Mỹ chỉ cung cấp một kế hoạch bảo hiểm y tế duy nhất, vì họ không kham nổi nhiều lựa chọn khác nhau, khi chi phí quá tốn kém.

Một trong những lý do khiến chi phí y tế ở Mỹ tính trên đầu người cao gấp đôi các nước tiên tiến khác là sự lãng phí, khi đồng tiền được trả cho những công việc không thật sự là dịch vụ y tế, như các chi phí hành chánh. Hệ thống bảo hiểm dựa trên sở làm khiến mỗi công ty, xí nghiệp tự tìm lấy nhà bảo hiểm riêng, và các hãng bảo hiểm và những người môi giới bảo hiểm tự tìm cách thu hút khách hàng, những công việc đó đều tốn tiền. Theo Viện McKinsey Global Institute thì tổng số chi phí riêng về khoản này đã tăng thêm 75 tỷ đô la trong chi phí bảo hiểm y tế ở nước Mỹ. Ai trả số tiền đó? Tất nhiên, đó là những người mua bảo hiểm.

Tuy biết rằng hệ thống y tế hiện tại cần thay đổi lớn, nhưng thay đổi như thế nào là điều sẽ còn tranh cãi vì có nhiều nhóm có quyền lợi riêng không muốn bị mất. Trong mục này chúng tôi sẽ trình bày thêm những vấn đề khác trong cuộc thảo luận về cải tổ y tế hiện nay.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Hòa dịu hay hèn yếu?

Ngô Nhân Dụng

Sáng ngày 16 Tháng Bảy 2009 chín ngư phủ Việt Nam bị tầu lạ đâm chìm ngoài biển Ðông ngày hôm trước đã về tới Quảng Ngãi nhờ các tầu bạn cứu đưa về. Một người thoát nạn kể, “Trong đêm khuya mịt mù giữa biển cả, giữa lúc các thuyền viên chợp mắt nghỉ ngơi trong khoang tàu thì bỗng dưng một chiếc tàu tông thẳng từ đằng sau tới.”

Những vụ tầu đánh cá Việt Nam bị tầu Trung Quốc tấn công đã tăng lên trong mấy năm qua, và chưa bao giờ “hung bạo” như trong năm 2009 này. Chỉ trong vòng hai tháng qua, ba tàu đánh cá của dân xã Nghĩa An, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi bị tàu lạ đâm chìm vào ban đêm trên biển. Từ Tháng Giêng, một tàu đánh cá của ngư dân Phú Yên đã bị một tàu lạ đâm chìm ở vùng biển Ðại Lãnh, chín ngư dân mất tích. Ðến Tháng Ba, một tàu đánh cá ở Bạc Liêu bị một tàu lạ khác đâm chìm, hai người tử nạn và hai người mất tích. Ðầu Tháng Năm, một tàu ngư dân thuộc huyện Ðức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, khi đang vây bắt cá ở cách bờ chừng 65 hải lý thì bất ngờ bị một tàu nước ngoài đến yêu cầu dỡ lưới đi nơi khác, nếu không sẽ gặp rắc rối. Ngày 22 Tháng Năm, một tàu cá khác từ huyện Ðức Phổ, Quảng Ngãi đã bị một tàu nước ngoài tấn công ngay trên nơi thả lưới, lấy đi hơn một nửa số cá vừa đánh bắt được. Bọn cướp trên chiếc tàu lạ này còn dùng lưỡi lê đâm thủng thuyền thúng dùng làm xuồng cứu nạn.

Chính phủ Trung Quốc đã “ra lệnh” từ Tháng Sáu đến Tháng Tám không cho tàu đánh cá vào vùng Hoàng Sa mà họ coi là thuộc chủ quyền của họ. Ngay đầu Tháng Sáu, một chiếc tàu của ngư dân huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An đã bị hai tàu lạ tấn công, phải bỏ lưới thoát thân.

Riêng tỉnh Quảng Ngãi bị chú ý đặc biệt, đến nay đã có 33 chiếc tàu đánh cá với 373 ngư dân là bị Trung Cộng bắt, riêng năm 2007 đã có 9 ngư dân bị giết chết hoặc bị thương. Những người này bị buộc phải nộp tiền chuộc từ 50 đến 70 ngàn Yuan tức từ 9 đến 11 ngàn đô-la mới được trả tự do. Tại họa đến với dân Quảng Ngãi chắc vì quần đảo Hoàng Sa thuộc vùng này.

Như thường lệ, phản ứng của chính quyền Cộng Sản ở Việt Nam lúc nào cũng rất yếu ớt. Những người bênh vực đảng và nhà nước Cộng Sản thường biện minh rằng Việt Nam là một nước nhỏ, sức không chống nổi Trung Quốc cho nên phải giữ thái độ hòa dịu, mềm dẻo. Hòa dịu có nghĩa là không gây hấn, không đe dọa ai hết. Nhưng không có nghĩa là tiếp tục chịu nhục mãi. Khi dân nước mình bị đe dọa, bị tấn công ngay trên mặt biển của mình, mà không có những biện pháp trả đũa ngoại giao mạnh mẽ, đó là một điều nhục nhã. Ngay khi ngư dân Việt Nam bị bắt cóc đòi tiền chuộc, một chính quyền biết tự trọng ít nhất phải triệu hồi đại sứ của mình ở Bắc Kinh về để bày tỏ nỗi bất bình. Phải đưa nội vụ ra trước những tòa án quốc tế để kiện.

Nhưng Ðảng Cộng Sản Việt Nam hoàn toàn đứng về phía các đồng chí Trung Quốc của họ. Cứ đọc các báo trong nước thì thấy rõ báo chí bị kiểm soát để bảo vệ “tình hữu hảo” giữa hai đảng Cộng Sản như thế nào. Trong những bài báo tường thuật vụ “tàu lạ” đâm vào tàu Việt Nam, không báo, đài nào dám gọi tên hay bàn bạc rằng đó là những “tầu Trung Quốc!” Những người chỉ huy các báo sợ đụng tới cái tên đó sẽ mang vạ! Mặc dù vậy, nhiều nhà báo yêu nước vẫn tiết lộ được điều đó bằng cách nói khéo là những người trên “tầu lạ” ra lệnh cho các ngư phủ Việt Nam bằng tiếng Trung Quốc! Tuy nhiên chỉ được một vài ngày, sau đó cả chi tiết về ngôn ngữ đó cũng không được nhắc tới nữa! Sau này các nhà báo Việt Nam sẽ có dịp viết hồi ký, cho biết những ai ra lệnh cho họ không được đụng tới tên Trung Quốc! Nhưng chính vì đảng Cộng Sản “kính nể” Trung Quốc quá đáng nên họ “được đằng chân lân đằng đầu!” Người dân Trung Quốc cũng coi rẻ người dân Việt Nam! Và các ngư phủ Việt Nam đang là nạn nhân của chính sách “ngoại giao mềm dẻo” đến độ “hèn yếu” này!

Năm ngoái đã xảy ra một cuộc đụng độ tương tự giữa Ðài Loan và Nhật Bản trong vùng Ðiếu Ngư Ðài. Chiếc tàu đánh cá Liên Hòa của Ðài Loan bị một tàu tuần duyên Nhật Bản đâm rồi bị chìm vào Tháng Sáu, 2008. Chính phủ Ðài Loan đã phản đối mạnh mẽ. Dù ai cũng biết sức lực Ðài Loan yếu hơn Nhật, nhưng ông thủ tướng Ðài Loan vẫn dọa “không gạt bỏ việc dùng vũ lực” để giải quyết biến cố này! Chính phủ Ðài Bắc triệu hồi “đại diện” của họ ở Tokyo về nước (tương đương với đại sứ vì hai nước không trao đổi ngoại giao chính thức), rồi cho 5 tuần duyên hải hộ tống một đoàn tàu chở dân Ðài Loan “biểu tình” tới sát Ðiếu Ngư Ðài, chạy vòng quanh cách đảo khoảng 700 mét. Bốn ngày sau, người đại diện Nhật Bản ở Ðài Bắc phải chính thức xin lỗi vị thuyền trưởng tàu Liên Hòa, lúc đó cuộc tranh chấp mới yên.

Người Nhật phải kính trọng dân Ðài Loan vì chính quyền Ðài Loan không hèn nhát. Cách chính quyền Bắc Kinh đối xử với các nước khác trong vùng biển tranh chấp khác hẳn cách họ đối đãi với dân Việt Nam. Ngày 25 Tháng Sáu, Indonesia đã bắt 75 ngư phủ người Tàu đánh cá trong vùng Trường Sa, mà chính phủ Trung Quốc chỉ lễ phép khiếu nại và xin trả tự do cho dân của họ. Cũng trong tháng đó, Phi Luật Tân đã bắt giữ 25 ngư phủ người Trung Hoa trong vùng tranh chấp Trường Sa, mà chính phủ Manilla không sợ bị Trung Quốc “trừng phạt.”

Trung Quốc đối xử khác biệt là do chính quyền Việt Nam không dám có phản ứng mạnh mẽ sau những vụ chủ quyền và quyền sống của người dân nước Việt bị xâm phạm trắng trợn, như mới xảy ra ở Quảng Ngãi gần đây. Nếu một chính quyền nhát quá không dám làm mạnh thì tối thiểu cũng phải để cho dân trong nước mình được tự do biểu tình phản đối trước các tòa đại sứ, lãnh sự quán. Hoặc dân chúng kéo nhau đi thuyền đến vùng biển tranh chấp bày tỏ lòng phẫn uất của mình, giống như các thanh niên Hồng Kông và Ðài Loan đã nhiều lần đi thuyền đến Ðiếu Ngư Ðài.

Ðiếu Ngư Ðài chỉ là một nhóm chừng 5, 7 hòn đá lớn nổi trên mặt biển với diện tích tổng cộng chỉ có 7 cây số vuông, hiện do người Nhật chiếm đóng, họ gọi tên là Senkaku. Nhưng từ năm 1971 hai chính phủ Trung Hoa, ở lục địa và Ðài Loan, đều khẳng định mấy đảo này là của họ, với tên Ðiếu Ngư Ðài.

Tất cả những vụ “đụng độ” về các hòn đảo này thường do người dân yêu nước xướng xuất, mà chính quyền không ngăn cản. Từ năm 1978, Hội Thanh Niên Nhật Bản đã hai lần quyên góp tiền để xây dựng những hải đăng trên hai hòn đảo lớn ở Senkaku, để xác định chủ quyền. Lần thứ nhì vào Tháng Chín năm 1996 khiến dư luận cả thế giới chú ý, chính phủ Mỹ phải lên tiếng tuyên bố đứng trung lập - cũng như một phụ tá Bộ Ngoại Giao Mỹ mới nói với Quốc Hội vào ngày Thứ Tư, 15 Tháng Năm, 2009 rằng Mỹ hoàn toàn đứng ngoài trong vụ tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc trong vùng biển Ðông. Ngay sau đó, có những đoàn thanh niên từ Hồng Kông, Ðài Loan, rồi sau đó đến Trung Quốc đã tổ chức đi thuyền đến Ðiếu Ngư Ðài cắm cờ quốc gia của họ lên đảo. Một thanh niên Hồng Kông đã chết đuối trong một chuyến hành trình phản kháng đó.

Tháng Ba năm 2004 một nhóm bảy thanh niên từ lục địa đổ bộ lên Ðiếu Ngư Ðài, họ bị quân tuần phòng Nhật Bản bắt; chính phủ Bắc Kinh phản đối và đòi Nhật trả họ về nước. Ðể chứng tỏ thanh niên Nhật Bản cũng không sợ, vào Tháng Tư, một nhóm ái quốc ở Nhật lái một chiếc xe vận tải đâm vào tòa lãnh sự Trung Quốc ở Osaka cho bốc cháy.

Tháng Bảy 2004, thanh niên Bắc Kinh đã biểu tình trước Tòa Ðại Sứ Nhật Bản phản đối việc khai thác dầu khí ở hải phận quanh Ðiếu Ngư Ðài. Hai năm trước đây, tòa đại sứ và lãnh sự Trung Cộng ở Hà Nội và Sài Gòn đều đóng cửa im ỉm để mặc cho cảnh sát công an Việt Cộng đối phó khi các thanh niên Việt Nam tới biểu tình phản đối vụ Hoàng Sa. Khi dân Trung Quốc biểu tình chống đối, Tòa Ðại Sứ Nhật Bản ở Bắc Kinh đã cử hai nhân viên ra nhận lá thư phản kháng. Cũng theo cách đối xử lịch sự như vậy, vào năm 2006 tầu tuần duyên Nhật Bản chỉ ngăn cản những tầu “biểu tình” của một nhóm thanh niên Hồng Kông không cho họ đổ bộ lên đảo, mà không để xảy ra một vụ xô xát nào.

Tháng Sáu năm 2005 một chiếc tầu đánh cá tư nhân của Ðài Loan bị tầu tuần duyên Nhật Bản ngăn chặn xét hỏi khi tới Ðiếu Ngư Ðài. Chính phủ Ðài Loan đã gửi một chiến hạm tới sát gần Ðiếu Ngư Ðài để bày tỏ sự tức giận của dân chúng Ðài Loan; trên chiếc tầu này có ông bộ trưởng quốc phòng và vị chủ tịch Quốc Hội. Quân đội Nhật Bản không có một hành động nào ngăn cản chiếc tàu đó, và sang Tháng Bảy thì chính quyền hai nước bắt đầu cuộc thương thuyết về vùng đánh cá, mặc dù không ai bàn đến vấn đề chủ quyền trên Ðiếu Ngư Ðài. So sánh với các vụ “tàu lạ” đâm vào mạn sườn tầu Việt Nam giữa đêm, hoặc bắt cóc các ngư dân Việt Nam đòi tiền chuộc trong vùng Hoàng Sa thấy khác hẳn. Khác không phải vì người Nhật biết cư xử lịch sự văn minh hơn người Trung Quốc; mà khác ở chỗ chính phủ Tokyo kính nể dân Trung Hoa, còn chính phủ Bắc Kinh không cần kính trọng dân Việt Nam.

Trong cuộc tranh chấp về Ðiếu Ngư Ðài, phía Nhật Bản có những nhóm thanh niên tìm cách bày tỏ tình tự dân tộc mạnh mẽ. Ðối lại, dân Trung Hoa ở cả hai bên eo biển cũng đều tìm cơ hội biểu dương chủ quyền của nước họ. Dân trong lục địa Trung Quốc không hoạt động mạnh bằng người ở Hồng Kông và Ðài Loan. Có lẽ vì ở Hồng Kông và Ðài Loan dân chúng đã quen nếp sống tự do, xã hội công dân tự động phát triển phong phú tại cả hai nơi này. Các công dân hai xứ đó vẫn có thói quen tự đứng ra tổ chức các sinh hoạt chính trị, văn hóa, xã hội cho chính mình, họ cũng được tự động thể hiện tinh thần ái quốc. Còn dân Trung Hoa trong lục địa không quen thi hành quyền công dân của mình bằng những việc bày tỏ thái độ chung. Dân các nước Cộng Sản vẫn có thói quen chờ mệnh lệnh của Ðảng; khi Ðảng xúi giục hoặc cho phép thì dân mới hành động.

Dân Việt Nam còn kém may mắn hơn. Việc tổ chức biểu tình vốn đã khó khăn vì dân không có thói quen tự mình hành động, tệ hơn nữa là những người yêu nước còn bị chính quyền ngăn cấm, không cho bày tỏ phẫn uất trước những hành động xâm lăng, đe dọa và gây hấn của Trung Quốc.

Người Việt tị nạn ở khắp thế giới có thể biểu tình yêu cầu chính phủ các nước như Úc, Pháp, Mỹ, Canada, vân vân, can thiệp với chính quyền Trung Quốc để họ ngưng các vụ tấn công tàu đánh cá Việt Nam? Nhưng họ sẽ hỏi, “Tại sao chính quyền ở Việt Nam không làm việc đó?”

Trong hoàn cảnh này, chỉ có cách là chính đồng bào chúng ta ở Quảng Ngãi, ở Nghệ An và các thành phố khác phải bày tỏ thái độ. Cần phải can đảm như dân Ðài Loan, dân Hồng Kông. Nếu người dân Việt Nam cũng tiếp tục ngoan ngoãn như chính quyền Cộng Sản thì sẽ còn nhiều vụ “tàu lạ” đâm vào tàu đánh cá Việt Nam nữa! Vì người Trung Quốc, hay người Nhật Bản cũng vậy, họ không thể kính trọng một dân tộc ngoan ngoãn quá! Cả nước từ trên xuống dưới phải “hòa dịu” mãi sẽ thành ra “hèn yếu!”

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Hồi Ký Về Một Đảng Hèn
Đang nằm xem cuốn "hồi ký của một thằng hèn" thì nghe loáng thoáng tên Trần Anh Kim và Nguyễn Tiến Trung, vội vàng nhỏm dạy; đúng là hai năm rõ mười thật.

Cho đến giờ phút này, hàng loạt các tờ báo hại nước, hại dân như Dân trí, Người Lao Động, Công an nhân dân v.v đã tường trình tỉ mỉ về việc bắt nóng này.

Thế là lần lượt những người con ưu tú của đất nước cứ phải rời nhiệm sở vào trong ngục tù cộng sản, bắt đầu là Hoàng Minh Chính, Dương Thu Hương Nguyễn Thanh Giang, Hà Sĩ Phu, Trần Khuê, Phạm Quế Dương. Sau đó là những gương mặt khả ái, trẻ trung hơn như Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình, Lê Chí Quang, Nguyễn Bắc Truyền, Nguyễn văn Hải, Trần Quốc Hiền, Nguyễn Phong, Lê thị Công Nhân, Nguyễn văn Đài, tiếp theo là hàng loạt các chiến sĩ dân chủ treo băng zone, biểu ngữ, bóng bay nhân quyền cổ võ cho dân chủ tự do, nhân quyền, đả đảo tham nhũng như Nguyễn Xuân Nghĩa, Vũ Hùng, Phạm thị Thanh Nghiên, Lê thị Kim Thu v.v vào bóc lịch trong tù, đợi ngày tự do dân chủ về với quê hương khốn khổ của mình. Bây giờ lại là Lê Công Định, Trần Anh Kim và Nguyễn Tiến Trung.

Giữa đau thương uất hận, giữa bàng hoàng tê tái, tôi tự hỏi sao mình không viết về cái đảng hèn hạ này nhỉ? Cuốn "hồi ký của một thằng hèn" đang bán đắt như tôm tươi, bao nhiêu người tìm mua, khiến chưa đầy một tháng đã hết veo, "báo hại" nhà xuất bản lại tiếp tục tái bản lần nữa, mà biết đâu còn cả lần 3, lần 4 ? Tới khi nào mặt thật của tấm huân chương đảng lộ ra, đặc biệt trong lĩnh vực văn hoá nghệ thuật, chuyên đề cao cái dốt, cái láo, cái đê hèn, mạt vận, đè bẹp và bóp chết nghệ thuật từ trong trứng, nước, chỉ vì các quan lãnh đạo, phân biệt khái niệm giữa trí thức và tri thức cũng không biết, không phân biệt nổi âm n và l. Suốt ngày ăn khoai sắn trừ bữa mà vẫn thấy khoái khẩu vì món "lông sản phụ" do bà con uý lạo, cung cấp... Ngay trong quốc nội, cánh anh em dân chủ vừa có một cuốn tung về... nguồn cội, đã sao chép ra cả trăm bản để "phân phát nội bộ" theo gíá dịch vụ phô tô mà cứ hết veo veo, hết trăm bản này lại trăm bản khác. Trên mạng om sòm đã đành, dưới đất cũng om sòm không kém: Bà đã đọc hồi ký của nhạc sĩ Tô Hải chưa? Leo ôi, nếu Nguyễn Khải dám công bố "Đi tìm cái tôi đã mất" sớm hơn, hẳn có vài trăm văn nghệ sĩ đi tìm gặp Nguyễn Khải để tìm lại cái tự do, dân chủ trong sáng tác của họ do Nguyễn Khải, Tố Hữu, Cù Huy Cận, Nguyễn Chí Thanh lấy mất... Cho đến lúc xuống mồ thì cái đảng trả cho họ không bằng một móng tay so với những gì họ bị vùi dập, tra tấn . Cái mà "thằng hèn" Tô Hải nhận được từ đảng chỉ là "Đảng đã cho ông thối khắm niềm tin, giữa thiện, gian biết đâu mà ngờ, ôi đảng Việt gian ơi, mi chết cho dân nhờ".

Không đủ tài, đủ sức để viết cả cuốn 500 trang về cái chính đảng hèn mạt khốn nạn, đê tiện trong việc đàn áp nhân dân thì mình viết một bài báo dăm bảy trang với tiêu đề: Hồi ký về một đảng hèn vậy

Ngay trong lĩnh vực quân sự. Kể từ thời điểm 2-1979, khi bành chướng xua quân sang đánh Việt Nam theo kiểu chiến dịch thịt đè người, gần hai ngày trời quân Trung Quốc tràn vào Lạng Sơn cướp của, giết người, bộ trưởng bộ công an Trần Quốc Hoàn mới biết, vội đưa quân lên để chỉ đạo công tác sơ tán bà con, nhặt xác, mai táng đồng bào mình. Khắp ba miền đất nước, đã vang lên những lời ngợi ca xác đáng, hơn cả nghìn tiếng chửi đích đáng nhất:

Hoan hô công an đảng ta
Đánh giặc thì dốt đánh ta rõ tài

Nghĩa là thà bị giặc Tàu đánh còn hơn đánh nó, môi hở thì răng lạnh nhưng môi bị răng cắn cho bật máu hết lần này lần khác, theo cách này cách khác cũng không dám mở miệng phàn nàn tố cáo. Kể cả một việc đơn giản nhất là mếu máo cũng không, chỉ một động tác căn bản là ngậm chặt miệng để môi không hở, để răng không lạnh, cũng không lộ cái xấu của răng ra cho thiên hạ dòm, dù máu xốí xả, môi tấy đau.

Ngược lại bất cứ người nào thuộc hàng ngũ khai quốc công thần như nhóm xét lại Vũ Đình Huỳnh, tướng Đặng Văn Giang, Hoàng Minh Chính, Dương Bạch Mai, Hoàng văn Thái, Lê Trọng Tấn, hay nhóm nhân văn giai phẩm Nguyễn Hữu Đang, Thuỵ An, Trần Dần, Lê Đạt, v.v cứ có ý chê bai đảng( dù chỉ là một cái lắc đầu, buột miệng hoặc có ý đóng góp ý kiến cho đảng hoàn thiện, giữ được niềm tin yêu của quần chúng là lập tức bị đánh tơi bời, khói lửa, hoặc chết rục xương trong tù (Lê Trọng Tấn), hoặc biến thành kẻ tầm thường, ngơ ngẩn ở ngoài đời, không qúa khứ, không tương lai, chỉ có hiện tại tiều tuỵ đói khổ, bần hàn, một tấc đất cắm dùi không có, một chỗ yên nghỉ vĩnh hằng nghìn đời cũng chỉ biết trông vào vũng đất sâu ngay dưới gốc tre, tự bò ra đó mà chết (Nguyễn Hữu Đang) 30 năm đã trôi qua, cái chết của bộ trưởng bộ quốc phòng tương lai Hoàng Văn Thái vẫn còn ám ảnh quân dân Việt Nam - khi đó, chỉ còn vài hôm là ngày nhậm chức, ông bỗng ôm bụng quằn quại, trăng trối với vợ: "Người ta giết tôi" rồi thỉu đi... Bà vợ, tê tái trong dòng nước mắt uất hận, nghẹn ngào kể lại cho tất cả những người đến thăm: "Họ đã giết chồng tôi ".

Bây giờ đến thời điểm bão động đầy trời, internet tràn ngập các mạng, Việt Nam không còn là ốc đảo nữa mà đảng vẫn tiếp tục hành xử theo kiểu: nói dối, ăn cướp và sát nhân. Nói bằng ngôn ngữ hiện đại là: Mị dân, tham nhũng và khủng bố, đặc biệt trong thời buổi Hán hoá này... Trung Quốc tràn vào Việt Nam với đủ các dạng du lịch, lao động, cổ vũ cho ngày rước đuốc, lập làng, lập nhóm, đánh đập tàn sát người Việt Nam, bắt bớ ngư dân, khiến các câu ca lại càng được thể vang lên tươi roi rói trên miệng mỗi người dân:

Tổ sư một lũ công an,
Với tàu" hảo lớ" với ta...liệu hồn

Coi đất mẹ Việt Nam như một cô gái hơ hớ xuân thì, lũ Trung cộng muốn làm gì thì làm, bắt ai, đánh ai, từ các quan thái thú đến các chú khuyển nằm canh thái thú, không những không lên tiếng mà mỗi lần răng cắn bập vào môi, dù đau điếng vẫn phải tươi cười giả lả bắt tay khen: Hảo lớ, hảo lớ.

Trong khi người dân trong nước, bất kể bày tỏ thái độ gì: Lên án nhà nước Việt Nam tham tàn bạo ngược, ăn trên ngồi trốc, để tham nhũng lộng hành, để người dân đói khát, hoặc biểu tình phản đối Trung Quốc lấn chiếm hai hòn đảo Hoàng Sa, Trường Sa, hay tụ tập khiếu kiện đông người đều bị công an Việt Nam trợn mắt quát: Muốn vào tù hả?Liệu hồn.

Vì sợ một Lê Công Định sẽ viết đơn khởi kiện Trung Quốc trong việc xâm lấn biển chung, cấm ngư dân đánh bắt cá trên vùng biển Việt Nam mà đảng ra lệnh bắt nóng Định vào 13-6-2009, để rồi trên cơ sở những lời "khai nhận " của Định" có nhắc đến Nguyễn Tiến Trung mà ngày 7-7- Trung bị bắt... sau cựu trung tá quân đội Trần Anh Kim một ngày.

Ngay sau ngày Trung về nước họ đã dùng kỷ luật quân đội để bóp nghẹt mọi ý chí trong Trung, nhưng đã không làm được điều đó, ngược lại Trung vẫn trung thành với lý tưởng của mình, coi đảng cộng sản là tội đồ của dân tộc, là sự tụt hậu của thế giới, là đống rác cũ của lịch sử Việt Nam cũng như nhân loại. Qúa cay cú, đảng phải loại Trung ra khỏi ý định ban đầu, để tiếp tục đưa Trung vào tù với ý đồ nếu không tháo được ngòi nổ, như đã từng làm với Định, cũng vô hiệu hoá được vai trò của Trung trong đảng của mình, làm giảm uy tín của Trung đối với quần chúng, đặc biệt là tầng lớp thanh niên, trí thức.

Nhìn bức ảnh khi Trung bị bắt, thấy ê chề cho cái gọi là công an Việt Nam, một lũ tội đồ của dân tộc đang cúi đầu nhận tội vi phạm luật pháp và nhân quyền trước cá nhân Trung và Thế giới.

Không hề lo sợ, Trung hiên ngang kiêu hãnh ngẩng cao đầu, bình thản xem trò hề của đảng, ngang nhiên thách thức thế lực thù địch đang tràn vào mọi ngõ ngách khe kẽ trong nhà để cố tình đưa Trung vào tù.

Cá tính quyết định số phận, chính cá tính trung thực thẳng thắn, luôn ngẩng cao đầu trong bất kỳ trường hợp nào, sẽ làm nên cuộc đời Trung sau này... Trong điều kiện bất công, bất hạnh ở Việt Nam, Trung chọn cho mình hai chữ bất, đó là bất tuân trước đảng cộng sản ươn hèn khốn nạn, và bất khuất trước bạo lực cường quyền. Còn lại tất cả các chữ bất khác trong 12 chữ bất của ông bà để lại (với mục đích cảnh báo, răn dạy) gồm: Bất trung, bất hiếu, bất nghĩa, bất ổn v.v Trung không phạm phải một chữ bất nào. Thừa giấy làm chi chẳng vẽ voi, thừa nhận thức làm chi chả viết về đảng mù Việt gian, cho dù chúng đang hạ quyết tâm phá tan đảng dân chủ, cũng như đảng Thăng Tiến trước đó để bảo vệ ngôi vị độc tài của mình đi chăng nữa, nhưng làm sao chúng có thể tồn tại nổi? Như một chân lý vĩnh hằng, bất biến, vận mệnh của dân tộc Việt Nam - nhờ những người như Trung, sẽ thăng hoa trong bất hạnh, còn đảng cướp sạch , vì những kẻ hôn quân ám chúa, bán nước hại dân, liếm bùa trung cộng sẽ suy tàn trong vận may


Hà Nội 8-7-2009

Trần Khải Thanh Thủy

Post Reply