Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Ðêm qua sân trước một cành mai
Sunday, August 30, 2009
Ngô Nhân Dụng

Ðấy là hình ảnh trong thơ của một thiền sư đời Lý ở nước ta. Trời vào cuối mùa Xuân, tưởng rằng bao nhiêu hoa đã rụng hết. Nhưng không phải vậy đâu, nhìn ra sân trước, một bông hoa mai mới nở trên cành. Một niềm vui đang nở dậy, chúng ta được thấy thì muốn đem chia sẻ với tất cả mọi người qua một câu thơ.

Hình ảnh gần 400 thiền sinh trong tu viện Bát Nhã thản nhiên chuyên trì tu tập theo pháp môn của họ cũng giống như một bông hoa nở trong khung cảnh đêm tối của xã hội Việt Nam vào cuối mùa Xuân, khi hầu hết các bông hoa đang tàn tạ. Các thiền sinh Bát Nhã đã tặng cho mọi người một niềm vui, một hy vọng. Tin ở tính Thiện của con người. Tin ở truyền thống đạo lý của tổ tiên. Tin rằng “thật thà là cha quỷ quái.” Tin rằng “Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài.”

Câu chuyện những thiền sinh trẻ tuổi tại Bát Nhã đang tu hành nghiêm mật, vững chãi và thảnh thơi, có khả năng khơi lại niềm tin. Dù theo bất cứ tôn giáo nào, chúng ta có thể nhìn vào cảnh họ đang sống mà thêm tin tưởng vào các giá trị tinh thần, tin tưởng sức mạnh tâm linh có khả năng vượt lên trên những dục vọng, sân hận và ngu tối. Khổng Tử nói, “Quân tử đức phong,” người quân tử có sức mạnh như gió thổi. Gió thổi, đám cỏ dại sẽ dẹp xuống. Người sống đức hạnh sẽ cảm hóa được mọi người, những kẻ tiểu nhân sẽ mất ảnh hưởng. Khổng Tử cũng ví đức hạnh của người quân tử giống như hương thơm của bông hoa lan mọc giữa núi rừng. Và một người quân tử sống trong một làng thì cũng có sức giáo hóa hàng xóm chung quanh. Mà trong nước Việt Nam của chúng ta suốt thế kỷ qua, những kẻ tiểu nhân đang lộng hành thật. Khắp đất nước nơi nào cũng đang cần những bông hoa lan quý.

Ðồng tiền đang ngự trị khắp nơi, người nghèo đang lo kiếm đủ miếng ăn, người giầu lo tích lũy thêm của cải. Giới thống trị tiếp tục sử dụng bạo lực và dối trá để bảo vệ quyền hành. Tất cả những thứ đó giống như cỏ dại mọc trên đất nước Việt Nam trong những năm qua. Ma túy tràn lan. Phụ nữ phải bán mình. Thanh niên bơ vơ sống không lý tưởng. Những bạn trẻ Nguyễn Văn Ðài, Lê Thị Công Nhân bị đầy ải chỉ vì dám thản nhiên cất lên tiếng nói của lương tâm. Các thanh niên trí thức làm “blog” đòi bảo vệ quê hương bị sách nhiễu, bị bắt giam. Các quan chức có quyền biểu diễn khả năng mua được nhiều gái đẹp, đánh bạc với hàng triệu đô la nhờ ăn cắp của công. Những “đại gia” tranh đua nhau mua xe hơi Rolls Royce, mua máy bay riêng. Báo chí loan tin về các người giầu nhất, giầu nhì, và các “siêu sao,” bên cạnh những cảnh cha mẹ bán con, các em bé đi ăn xin. Thanh niên nhìn vào đâu để thấy những tấm gương giúp họ xây dựng lý tưởng cho cuộc đời? Bất cứ ai kiên trì sống theo đạo lý không để cho dục vọng và lòng ích kỷ làm chủ mình cũng là một bông hoa để tặng cho giới trẻ Việt Nam.

Tên tu viện Bát Nhã gợi lại một câu chuyện đáng suy ngẫm. Hồi 1960 ở miền Nam có phong trào đọc truyện kiếm hiệp của Kim Dung. Một dịch giả rất thông thạo chữ Hán dịch chuyện, đã tả những nhà sư đánh võ có món Ban Nhược Chưởng. Cứ nghe ba chữ Ban Nhược Chưởng chẳng ai biết nó là gì, nhưng ai cũng mê. Nhưng những ai đã biết qua kinh Phật thì biết rằng dịch giả này đã đọc sai. Hai chữ Ban Nhược trong chữ Hán đó, người theo đạo Phật biết phải đọc là Bát Nhã. Các người dịch kinh Phật ở Trung Hoa đời trước thấy dịch chữ Phạn ra là Trí, hay là Trí Ðộ, cũng dễ gây hiểu lầm, cho nên phiên âm ra. Ðọc hai chữ Ban Nhược theo lối phát âm đời Ðường nghe giống chữ “Pra nha” trong tiếng Phạn, người Việt đọc là Bát Nhã. Một món võ phát xuất từ chùa Thiếu Lâm chắc phải gọi là Bát Nhã chưởng chứ không phải là Ban Nhược chưởng!

Câu chuyện trên đây cho thấy vào thế kỷ 20 ngay cả những dịch giả thông thạo chữ Hán ở nước ta cũng nhiều người không biết kinh kệ Phật Giáo. Mà nói chung giới trí thức nước ta trong thế kỷ trước đều như vậy. Phần lớn người ta mang một hình ảnh về đạo Phật theo lối cúng kiếng phổ thông, giới trí thức được giáo dục từ thời Pháp thuộc tự tách mình ra khỏi truyền thống mà không biết. Ðến thời cộng sản tình trạng này càng nặng nề. Những người theo chủ nghĩa Cộng Sản vốn khinh thường các tôn giáo. Họ coi những kẻ tu hành là loại người “không sản xuất” ăn bám vào xã hội. Cho nên họ chỉ tính lợi dụng tôn giáo để đạt các mục tiêu chính trị.

Nhưng các tôn giáo là những nền tảng giữ vững đạo lý chung. Những người tu hành nêu tấm gương sống đạo giúp cho mọi người dân giữ gìn đạo lý, như một nhà văn cộng sản rất kiên cường cũng có lúc tỉnh ra, viết, “Chùa là cái thiện của làng.”

Ðiều nguy hiểm cho xã hội là chính những người có tôn giáo cũng không đủ niềm tin mạnh để sống xứng đáng với tín ngưỡng của mình. Khi đó họ không giúp ích được cho xã hội. Nhưng khi chúng ta thấy một người, một nhóm người sống với hạnh nguyện vững chãi, thái độ thong dong, không sợ hãi, không bị mua chuộc, không ganh ghét, không hận thù, thì mọi người chung quanh dù theo tôn giáo nào cũng tự nhiên thấy một niềm an ủi và khích lệ giúp mình sống đạo cho xứng đáng với tín ngưỡng của mình. Ðó là những bông hoa đang nở trong lúc Xuân tàn này.

Nước Việt Nam đang cần phục hồi niềm tin vào các giá trị đạo lý, cần những ngọn gió quét sạch đám cỏ dại. Những bạn trẻ đang tu tập nghiêm mật trong tu viện Bát Nhã cho chúng ta hy vọng là điều đó sẽ được thể hiện. Như sư chú Pháp Hội trả lời trong một cuộc phỏng vấn, các thiền sinh có rất ít nhu cầu. Bị cắt điện, họ dùng đèn cầy khi cần thiết. Ðồng bào sống chung quanh tu viện, người Phật tử cũng như người Công Giáo, đã lén vượt vòng vây của công an tiếp tế cho họ, từ cây nến đến hạt gạo nấu cơm. Có nhiều ăn nhiều, có ít ăn ít, nhịn đói ngồi thiền cũng chẳng sao. Bị cắt nước, họ chỉ cần đi múc nước giếng từ xa. Nhu cầu quan trọng nhất của các thiền sinh này là chuyên cần tu tập, giữ gìn hạnh nguyện xuất gia.

Trong đạo Phật có hàng vạn phương pháp tu trì để hướng đến giải thoát. Ðảng Cộng Sản Việt Nam muốn tất cả mọi Phật tử và người xuất gia phải quy tụ trong một tổ chức cho họ dễ kiểm soát. Vì họ không biết gì về đạo Phật. Cũng vì họ vốn khinh thường các tôn giáo. Mà cũng vì có những người có tôn giáo tiếp tay cho họ. Ðảng Cộng Sản muốn biến vụ Bát Nhã thành một cuộc tranh chấp giữa nhóm thiền sinh này với giáo hội Phật Giáo chính thức được nhà nước công nhận. Ðó là một thủ thuật gian dối. Nếu không có công an làm áp lực thì chẳng nhà sư nào trong giáo hội đó thấy cần phải bắt buộc nhưng người xuất gia khác phải ra khỏi những tu viện mà chính nhờ có họ nên mới được dựng lên. Hòa Thượng Thích Tâm Châu đã kêu gọi vị sư thuộc giáo hội của nhà nước hãy nói chuyện với các thiền sinh ở Bát Nhã. Ðây là lời kêu gọi những người con Phật hãy đoàn kết với nhau, không nên để quyền lực chính trị thao túng nữa. Lời kêu gọi này đặt trách nhiệm lên tất cả những người lãnh đạo giáo hội đang nghe lệnh Ban Tôn giáo của đảng Cộng Sản. Quý vị này là những người đã học Phật Pháp. Trong hàng vạn pháp môn của nhà Phật, tại sao họ không tôn trọng phương pháp tu tập của 400 thiền sinh, mà phương pháp đó đã chứng tỏ con đường giải thoát là có thật, hiệu quả là đã đào tạo được những tăng ni sống đạo giữa đời, vững chãi và thảnh thơi như vậy? Mà giải tán đám thiền sinh này rồi có giải tán được tâm nguyện giải thoát của họ hay không?

Trong ba ngày nữa các thiền sinh này có thể sẽ bị đuổi ra khỏi những ngôi tự viện mà đồng bào Phật tử khắp thế giới, người Việt cũng như người ngoại quốc, đã hỗ trợ để xây dựng lên. Nhưng dù các bạn trẻ này có bị đưa đi bất cứ nơi nào trong nước Việt Nam, mỗi người, mỗi nhóm người sẽ mang theo hạnh nguyện là nhưng bông hoa mới nở cống hiến cho đất nước. Dù trong nhóm 400 người đó sau này chỉ có một số người vững vàng hạnh tu mãi mãi, thì đó cũng là một tặng phẩm quý báu cho dân tộc. Ðức của người quân tử như ngọn gió, tập hợp nhưng ngọn gió đó lại, chúng ta sẽ có ngày thấy nền đạo lý dân tộc sống lại. Chúng ta sẽ thấy hồn thiêng sông núi là có thật, con cháu của những Chu Văn An, Nguyễn Ðình Chiểu sẽ sống xứng đáng với di sản đạo lý của tổ tông.

Ðừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết

Ðêm qua sân trước một nhành mai.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Hồn nước còn mãi
Tuesday, September 01, 2009

Ngô Nhân Dụng
Lần đầu tiên khi về xã Long Kiến ở miền Cù Lao Ông Chưởng, theo dòng Cửu Long đi cho tới xã Hòa Hảo, tôi bỗng cảm thấy con người ta cũng đang sống giữa cõi linh thiêng. Ðời sống hàng ngày hòa vào thế giới thiêng liêng. Nói thiêng liêng, không phải là thiên đường hay tiên cảnh, mà chính là cái tâm cung kính hiện ra trong cõi hạ giới này. Mỗi buổi chiều nghe tiếng Sấm Giảng ngâm nga vang đi khắp thôn xóm. Trong đó là những lời dậy của tiên tổ bao đời của giòng giống Việt đang cất lên như những lời ru của mẹ. Chúng ta cảm thấy như phước đức ông bà làm lành lánh dữ từ bao đời phảng phất trong không gian. Gặp những cô bác nông dân mặc áo nâu bước theo nhau đi về phía nhà nhà giảng, nghĩ tới những ông Bụt trong chuyện cổ tích đến từng nhà khuyến thiện.

Ở một làng quê Bắc Ninh nơi tôi sống những năm dưới mười tuổi, tôn giáo không chiếm một không gian tinh thần sâu và rộng như vậy. Nhưng đời sống cũng nhuốm vẻ thiêng liêng vì thái độ cung kính của mọi người khi đối xử với nhau. Ra ngoài đường gặp những cụ già tóc bạc chống gậy bước đi là tất cả mọi người cúi đầu, chào lớn tiếng và dừng chân nhường bước. Từ bao nhiêu thế hệ, tiếng trẻ ê a đọc sách trong nhà cụ đồ, hay trong những ngôi trường chỉ có một lớp học, đã là dấu hiệu của một xã hội có lễ nghĩa. Nền trật tự trong làng xóm đặt trên căn bản đạo nghĩa truyền lại tự nhiều đời. Mọi người đều đồng ý tuân theo các quy tắc sống, chỉ vì tổ tiên đã sống với nền nếp thuần mỹ như vậy. Ai làm sai đạo nghĩa thì làng xóm chê cười và tự biết xấu hổ. Trong làng có nhà thờ hay chùa chiền, nhưng cha mẹ dậy con cái về luân lý có thể không viện dẫn lý do tín ngưỡng. Người ta phải ăn ở với nhau như thế, như thế, vì làm người thì phải sống vậy. Một nền luân lý chỉ dựa trên con người, trên bổn phận giữa con người với nhau, không thần thánh nào can thiệp. Niềm tin chung chia sẻ với nhau về đạo làm người đã khiến cuộc sống của mỗi người trở thành có phẩm giá, đáng được tôn kính, giống như trong tôn giáo nói cuộc sống đã được thánh hóa, trở thành thiêng liêng. Ði tới đâu gặp người Việt Nam ai cũng sống trong nền nếp như vậy, chúng ta thấy hồn dân tộc.

Trong vùng đồng bào Hòa Hảo sống, cõi thiêng liêng cũng không phải hoàn toàn do tôn giáo ngự trị. Ði tới nơi nào chúng ta cũng thấy những miếu nhỏ dựng bên đường. Mà bên trong tấm màn đỏ che cửa miếu, không thấy hình tượng tôn giáo mà chỉ có một tấm bản đồ Việt Nam. Không ai thờ tấm bản đồ như một vị thần. Ðó là hình ảnh nhắc nhở sợi dây liên kết mỗi người với tất cả mọi người cùng chung giòng giống Việt Nam. Trong cảnh sống đó, nói đến “hồn thiêng dân tộc,” người ta biết hồn thiêng đó có thật, đang sống trong chính mình.

Không biết bây giờ ở nơi nào trong nước Việt Nam người ta có thể cảm thấy một tình tự sâu xa như vậy? Hơn ba chục năm sống xa quê nhà có lúc tôi chớt sống trở lại kinh nghiệm cũ, khi thấy người dân một nước chia sẻ với nhau một tâm hồn. Thái Lan là một xứ nhiều thần thánh. Ði quẹo một góc đường lại thấy một cái tháp, với hình một ngôi đền thu nhỏ, trông như các bàn thờ “Ông Thiên” trong sân nhà ở miền Nam Việt Nam. Trong những “chùa một cột tí hon” đó thường bầy tượng Phật, cũng có khi là hình những vị thần linh Ấn Ðộ Giáo. Trong khu campus của Ðại Học Mahidol cũng có những ban thờ như vậy ở đầu cầu hay góc sân. Mấy sinh viên đi qua cũng nhiều người dừng chân lễ chiêm bái. Không biết họ có cầu khấn chuyện nhân duyên hay thi cử hay không. Nhưng nhìn hai cô cậu mặc đồng phục xanh trắng nắm tay nhau vừa bước từ trên cầu xuống bỗng buông ra, chắp tay, cúi đầu cung kính, rồi quay đi tay lại nắm tay, nói cười ríu rít tự nhiên như trước, người ngoại quốc có cảm tưởng dân tộc này vẫn giữ được một nền văn hóa riêng đáng kính trọng.

Văn hóa một dân tộc gồm cả con người và các thần linh. Tạ Trí Ðại Trường đã viết một cuốn sách nghiên cứu với tựa đề “Thần, Người, và Ðất Việt.” Niềm tin ở các giá trị thiêng liêng không nhất thiết thuộc về một tôn giáo nào. Tôn thờ các thần thánh vì đó là những giá trị đáng gìn giữ cho mọi người sống thuận thảo, chứ không phải do lòng sợ hãi gây ra. Người ta có thể sợ các ông công an khu vực, nhưng không ai đem hình họ ra thờ cả; đem tiền hối lộ chắc ăn hơn. Người nông dân miền Bắc lễ những pho tượng ở gốc cây đa, gốc đề cũng không phải muốn hối lộ thần linh để xin xỏ ân huệ. Lòng sùng kính các vị thần, dù là Trời, Ðất hay là Tiên, Phật, thành hoàng, Thánh Mẫu, có thể phát xuất từ một ước vọng trong lòng: Muốn hòa cá nhân mình vào trời đất, vũ trụ. Muốn nối kết cá nhân nhỏ bé của mình với bầu trời, mặt đất, núi sông, với gia đình, tổ tiên, làng xã, dân tộc. Một khát vọng vươn lên cao, vượt trên cái thân phận hèn mọn, hữu hạn và vô thường của mình, bằng cách hòa mình vào một cộng đồng lớn gồm cả con người lẫn thiên nhiên, giữa hiện tại với quá khứ và tương lai. Ðó là một tình cảm rất cao quý, khi mọi người cùng chia sẻ chúng ta có một hồn thiên dân tộc.

Người Thái không chỉ dâng hoa, dâng trái cây trước các ban thờ Phật ngoài đường như vậy, mà còn đặt hoa trước những bức hình quốc vương nữa. Ở làng Hòa Hảo người Việt thờ bản đồ Việt Nam, ở Thái Lan họ thờ hình ông vua, cũng là tượng trưng cho dân tộc họ. Hình quốc vương trưng bầy khắp nơi, dọc các đại lộ, các góc đường, trước cửa vào đại học, có khi cả quốc vương và hoàng hậu. Trong những quán ăn bên đường cũng treo hình các hoàng đế Ramaa IV hay Rama V. Dân vẫn tôn kính các ông vua anh minh từ thế kỷ 19, cùng thời với vua Thiệu Trị, Tự Ðức ở nước ta, nhưng họ đã gửi con qua Âu Châu du học hoặc quan sát lâu ngày. Họ có cách nhìn thế giới khác hẳn các ông vua nhà Nguyễn chỉ biết tôn thờ văn hóa và pháp độ độc tài của nhà Thanh bên Trung Quốc. Dân tộc Thái được hưởng phúc hàng thế kỷ nhờ hòa bình liên tục, hồn thiêng dân tộc của họ có thật.

Có lẽ mỗi quốc gia đều phải tạo ra và chia sẻ với nhau một tấm lòng tôn kính trang nghiêm như vậy, đối với các định chế, biểu tượng hay niềm tin tưởng chung. Ít có quốc gia nào phức tạp như hai nước Mỹ và Canada. Người Mỹ theo đủ các tôn giáo, gay go tranh cãi về chính trị, nhưng hầu hết ai cũng hãnh diện khi nói tới Washington, Lincoln; ai cũng kính trọng bản hiến pháp giống như các tín đồ tôn kính thánh thư. Người Canada không đồng ý với nhau về địa vị nữ hoàng, vị quốc trưởng chính thức, người nói tiếng Pháp và nói tiếng Anh không ngừng tranh đấu đòi tiếng nói và văn hóa của mình phải được tôn trọng. Nhưng tất cả mọi người Canada đều muốn quốc gia phải thể hiện tinh thần công bình; người công chức phải chính trực; người dân phải tôn trọng luật pháp; và ai không thể hiện lối sống lễ độ, đức hiếu khách thì chưa phải là “người mình.” Khi có người ngoại quốc chê bai hệ thống bảo hiểm y tế toàn dân của Canada thì từ chính trị gia bảo thủ đến cấp tiến đều lên tiếng phản bác. Vì cả nước họ hãnh diện về định chế công cộng này.

Trong một quốc gia mà mọi người cùng kính trọng một số định chế và giá trị chung, thì mỗi người cũng cảm thấy mình được chia sẻ giá trị đó, chính mình trở thành có giá trị. Mọi người cùng tôn trọng thể thống quốc gia, phát triển tinh thần công dân đặt công ích lên trên tư lợi, nhờ thế cũng tôn trọng luật pháp.

Một dân tộc cần những giá trị thiêng liêng giúp giảm bớt tinh thần cá nhân, óc vị kỷ, một cách tự nhiên. Từ người trí thức đến người dân quê đều tôn trọng những quy tắc đạo lý chung, dù bắt nguồn từ những nguyên do khác nhau, thần linh hay thế tục. Nhờ thế người ta mới tạo nên một “hồn nước.”

Mối tương quan giữa con người và quốc gia ở nước Mỹ và nhiều nước Âu Châu có tính cách thuần lý, như đã được ký kết trong những bản hợp đồng. Hồn nước của họ không cần các thần linh, dù sống hay chết, mà nối kết qua tinh thần trọng pháp luật. Tại những nước Á Châu người dân không sống với truyền thống văn hóa thuần lý như vậy.

Dân Thái Lan may mắn, họ chia sẻ một tấm lòng chung. Họ đều kính trọng một ông vua, nhờ thế cũng tôn trọng kỷ cương của quốc gia, mặc dù ông vua không bao giờ phải hô khẩu hiệu hay đọc những bài diễn văn hùng hồn nẩy lửa. Họ mời các thần linh đến ở từng góc phố, để trẻ em đi qua cũng biết vái lạy. Người trí thức được tự do thảo luận, báo chí được tự do phê bình chính phủ, nhiều gia đình còn giữ nếp đưa con trai gửi vào chùa, cạo đầu làm sư trong một năm. Trong nền nếp đó, nhiều kẻ nổi máu gian tham có khi cũng biết xấu hổ mà chùn lại, không dám phá vỡ cái trật tự tinh thần chung của dân tộc. Ở Mỹ và Canada không có những “đại gia” khoe khoang của cải và ăn chơi để dọa đời, trong khi ai cũng biết họ chẳng có tài cán nào ngoài cái địa vị được nắm tiền công quỹ trong tay! Vì người ta biết xấu hổ, và xã hội tự do khiến cái gì xấu cũng được phơi bầy.

Nước Việt Nam chúng ta chưa bao giờ mất hồn nước, nhưng hiện nay hồn nước rất yếu ớt sau nữa thế kỷ tai họa vì một chủ nghĩa ngoại lai và một chế độ độc tài chuyên chế làm bất cứ việc ác nào cũng không ngại, vì họ lấy cứu cánh “giải phóng giai cấp vô sản thế giới” biện minh cho mọi thủ đoạn tàn ác. Cộng Sản Việt Nam đã phá vỡ nhiều giá trị thiêng liêng trong xã hội. Họ nuôi ảo vọng xây dựng xã hội mới, con người mới, từ tín ngưỡng đến gia đình, đạo lý. Cho nên không ngần ngại cắt đứt những sợi dây vô hình ràng buộc dân tộc trong cuộc sống chung. Ðó là một tội lớn. Phải mất hàng thế hệ nữa mới hy vọng phục hồi hồn nước.

Gần đây đã có những tin mừng. Trong nước mới nổi lên nhưng phong trào hướng về tổ tiên để kêu gọi lòng yêu nước, bảo vệ giang sơn. Không biết đến bao giờ thì ở mỗi góc phố có ban thờ treo một tấm bản đồ Việt Nam, như đồng bào ta vẫn làm ở vùng Hòa Hảo hồi xưa? Nhiều bạn trẻ ở đô thị đã dùng mạng lưới dõng dạc đòi cho dân Việt có những quyền sống tư do căn bản của con người. Ðó là những cuộc vận động tinh thần, để tạo nên những khát vọng chung, nhưng niềm tin tưởng chung, cho mọi người cùng giòng giống Việt Nam, chứ không nên chỉ coi đó là những hành động chính trị. Giới trẻ Việt Nam đang muốn thắp lên những ngọn lửa thiêng liêng, muốn hướng về những lý tưởng vượt lên trên cuộc sống tầm thường hàng ngày. Những bạn trẻ đứng lên kêu gọi đó cũng khiến chúng ta tin tưởng giống như khi nhìn thái độ im lặng thản nhiên của các thiền sinh trẻ tu học ở Bát Nhã, Lâm Ðồng. Họ sẽ đóng góp phần phục hồi những giá trị thiêng liêng, trong hồn nước Việt Nam. Những giá trị tinh thần là có thật. Mỗi người hãy phục hồi lại các giá trị trong gốc rễ của chính mình. Sẽ đến ngày tất cả cùng nhìn thấy hồn thiêng sông núi Việt Nam lại trở về, không một chủ nghĩa nông cạn, không một chế độ hẹp hòi nào phá được.

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Con người gây tranh cãi

Lữ Giang
Trong chiến tranh và sau chiến tranh Việt Nam, con người nổi tiếng nhất trên lãnh vực nghệ thuật lại là con người gây nhiều tranh cãi trên lãnh vực chính trị, nhất giữa những người ở hai bên chiến tuyến đối nghịch, đó là Trịnh Công Sơn. Sự tranh cãi đã gia tăng khi mới đây Trịnh Cung và Liên Thành đã đưa ra ánh sáng một số bí mật mới liên quan đến cuộc đời chính trị của Trịnh Công Sơn. Sự tranh cãi đã lên cao khi có sự can thiệp của nhà cầm quyền Việt Nam.

Ngày 13.8.2009, UBND tỉnh Bình Định đã ra quyết định đình chỉ phát hành cuốn sách "Trịnh Công Sơn - Vết chân dã tràng" của tác giả Nguyễn Thị Thanh Thúy, bút hiệu là Ban Mai, vì lý do cuốn sách này vi phạm Luật Xuất Bản.

Tin tức cho biết, theo sự đánh giá của hội đồng thẩm định địa phương, tác phẩm này “có nội dung thiếu khách quan; xuyên tạc sự thật lịch sử; xúc phạm những trí thức, nhạc sĩ khác...” UBND tỉnh Bình Định cũng đề nghị xem xét, xử lý vi phạm của NXB Lao Động, Trung Tâm Văn Hóa Ngôn Ngữ Đông-Tây về việc ấn hành tác phẩm này.

Được biết, cuốn sách “Trịnh Công Sơn – Vết chân dã tràng” đã được Nhà Xuất Bản Lao Động và Trung Tâm Văn Hóa Ngôn Ngữ Đông-Tây xuất bản từ tháng 8/2008, nhưng đến nay mới được nhà cầm quyền nêu lên. Sự phê phán được tập trung vào Chương IV của cuốn sách dưới đề tựa "Trịnh Công Sơn và chiến tranh Việt Nam", trong đó trích lại hầu hết những lời ca của Trịnh Công Sơn liên quan đến cuộc chiến Việt Nam, chẳng hạn như:

Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu,

Một trăm năm nô lệ giặc Tây,

Hai mươi năm nội chiến từng ngày...

hay

Với da vàng Việt nam vỡ nát,

Xương thịt đó thiêng liêng vô cùng,

với những câu nhận định của tác giả Ban Mai như: "Cho đến ngày nay, quan điểm về tên gọi cuộc chiến vẫn là điều tranh cãi", "Cái bi thảm nhất là ở chỗ: cùng là người Việt Nam, nhưng người Việt lại bắn giết người Việt"... Tác giả còn đi xa hơn khi đặt câu hỏi: “Thân phận da vàng người Việt ngày nay đã thực sự thoát đời nô lệ ngoại bang chưa?"...

Một bài báo đăng trên nhật báo Nhân Dân của đảng CSVN đã viết rằng cuốn sách "phỉ báng xương máu của bao thế hệ cha anh đã ngã xuống tô thắm nền hòa bình của đất Việt".

Trước khi bàn về tác phẩm của tác giải Ban Mai, chúng tôi xin trình bày lại rõ ràng hơn tiểu sử của Trịnh Công Sơn và những bí mật về sự dính líu của ông vào cả hai bên đối đầu trong cuộc chiến Việt Nam, vì đây là những điểm then chốt đã đưa tới những tranh cãi.

VÀI NÉT VỀ TRỊNH CÔNG SƠN

Vì tiểu sử Trịnh Công Sơn không có gì “oanh liệt” và dính líu quá nhiều đến VNCH nên các bài và sách trong nước khi viết về tiểu sử Trịnh Công Sơn thường cố gắng đơn giản hoá, “huyền thoại hoá” và bịa đặt thêm để tô điểm cho Trịnh Công Sơn. Đa số đã mô tả về tiểu sử Trịnh Công Sơn gióng hệt nhau như sau:

Trịnh Công Sơn sinh ngày 28 tháng 2 năm 1939 tại Lạc Giao, tỉnh Dak Lak. Ông lớn lên ở Huế, tốt nghiệp tú tài ban Triết tại Chasseloup Laubat, Sài Gòn, tốt nghiệp Đại học Sư phạm (khoa Triết học) tại Qui Nhơn. Sau đó ông trốn lính, vào Bảo Lộc tỉnh Lâm Đồng và làm nghề dạy học.

Chỉ một đoạn ngắn này thôi cũng đã sai quá nhiều chỗ: Trịnh Công Sơn không hề học trường Chasseloup Laubat, không hề tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Quy Nhơn, vì lúc đó Quy Nhơn chưa có trường đại học và dù Quy Nhơn có trường đại học đi nữa, Trịnh Công Sơn cũng không vào được vì Trịnh Công Sơn chưa hề có Tú Tài Toàn Phần. Trịnh Công Sơn cũng không hề trốn lính lên Bảo Lộc dạy học.

Trịnh Công Sơn sinh vào giờ Thìn, ngày 10 tháng Giêng năm Kỷ Mão, tức ngày 28.2.1939, tại xã Lạc Giao (nay là phường Thống Nhất, Ban Mê Thuột), tỉnh Dak Lak.

Năm 1943 Trịnh Công Sơn theo gia đình chuyển về Huế. Ông học trường tiểu học Nam Giao (nay là Trường An), sau đó vào học trường Pellerin của các Sư Huynh dòng La San (Institut des Frères des écoles chrétiennes do Saint Jean-Baptiste de La Salle lập), rồi qua học trường Thiên Hựu (Institut de la Providence) của Hội Thừa Sai Paris (Société des Missions Étrangères de Paris) ở Huế. Đây là hai trường nổi tiếng ở Huế, dạy chương trình Pháp, nhưng Trịnh Công Sơn chỉ mới lấy được bằng Tú Tài I (tức Tú Tài Bán Phần) rồi ngưng học.

Năm 1962, Trường Sư Phạm Qui Nhơn được thành lập để đào tạo hàng loạt những Giáo Học Bổ Túc, cung ứng cho các tỉnh thuộc Vùng II. Tiêu chuẩn tối thiểu để nộp đơn là bằng Trung Học đệ nhất cấp. Có hai loại khoá học: “Khoá Thường Xuyên" học hai năm và "Khóa Cấp Tốc", học một năm. Khi ra trường, đa số được bổ đi dạy tại các trường tiểu học ở các vùng quê. Trịnh Công Sơn đã thi đậu vào khoá đầu tiên (khoá 1) của trường này. Sĩ số giáo sinh là ba trăm người. Đa số là người Huế, chiếm khoảng 60%. Số còn lại thuộc các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Đà Lạt, Lâm Đồng, PleiKu, KonTum. Khoá 1 khai giảng ngày 22.4.1962. Ông Bùi Khương, cùng học khoá 1 với Trịnh Công Sơn, cho biết khóa 1 đã ra trường cấp tốc chỉ sau một năm thụ huấn.

Những người cùng học khoá 1 với Trịnh Công Sơn ở Trường Sư Phạm Qui Nhơn có kể lại một số sinh hoạt của Trịnh Công Sơn tại trường nầy như sau:

Lúc đó, Trịnh Công Sơn say mê sáng tác và lưu tâm nhiều đến phối khí hòa âm. Chính trong thời gian này, Trịnh Công Sơn đã sáng tác bài "Biển nhớ" và trường ca “Dã tràng xe cát”.

Mùa Giáng sinh 1962, Trịnh Công Sơn đã cùng với một số bạn bè thành lập một ban Kích Động Nhạc để vui chơi và thử nghiệm. Trong thời gian học ở trường Pellerin và Thiên Hựu, Trịnh Công Sơn đã chịu ảnh hưởng khá nhiều của loại nhạc plain chant (bình ca) và chorale (hợp xướng) của Công Giáo. Do đó, theo yêu cầu của nhà trường và cũng vì muốn thử sức mình trong lãnh vực này, Trịnh Công Sơn đã phối hợp với các sinh viên trường Sư Phạm Ghềnh Ráng thành lập một Ban Hợp Xướng trình diễn trong dịp lễ Giáng Sinh.

Tốt nghiệp khoá 1 Trường Sư Phạm Quy Nhơn, Trịnh Công Sơn được bổ nhiệm đi dạy học ở Bảo Lộc, Lâm Đồng. Sau đó Trịnh Công Sơn làm hiệu trưởng một trường tiểu học ở Bảo Lộc.

Trước 30.4.1975, tại Quy Nhơn không hề có trường đại học nào. Trường Cao Đẳng Sư Phạm Quy Nhơn mới được nhà cầm quyền CSVN thành lập năm 1977 với nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng giáo viên trung học phổ thông cho các tỉnh khu vực duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên. Như vậy không thể có chuyện Trịnh Công Sơn học Trường Đại Học Sư Phạm Quy Nhơn ban Triết.

Ngày 5.12.2003, Trường Cao Đẳng Sư Phạm Quy Nhơn được đổi thành Trường Đại Học Quy Nhơn.

DÍNH LÍU VÀO CHÍNH TRỊ

Sau khi chính phủ Ngô Đình Diệm bị lật đổ, phong trào đấu tranh của Phật Giáo để tiến tới nắm chính quyền ngày càng lên mạnh, trong đó các bạn bè của Trịnh Công Sơn ở Huế đang đóng vai trò then chốt trong chiến dịch này, dưới quyền lãnh đạo của hai Thượng Toạ Thích Trí Quang và Thích Thiện Minh. Do đó, năm 1965 Trịnh Công Sơn đã tự ý bỏ dạy học, trở về Huế hoạt động.

Đám bạn bè chính của Trịnh Công Sơn đang hoạt động chống chính phủ VNCH lúc đó gồm có Ngô Kha, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trần Viết Ngạc, Lê Khắc Cầm, Thái Ngọc San, Chu Sơn, Đỗ Long Vân, Nguyễn Văn, Lê Tử Thành, Bửu Ý, Nguyễn Tuấn Khanh, Phan Duy Nhân, Lê Hiếu Đằng... Trong đám bạn bè và “chiến hữu” này có hai người thân nhất và có ảnh hưởng nhiều nhất đối với Trịnh Công Sơn nhất là Ngô Kha và Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Đầu tháng 4/1966, khi nghe tin chính phủ Nguyễn Cao Kỳ đưa quân ra Đà Nẵng dẹp loạn, theo lệnh của Thượng Tọa Thích Trí Quang, ngày 5.4.1966 “Đoàn Thanh Niên Quyết Tử” được thành lập, lúc đầu gồm 66 sinh viên, do Nguyễn Đắc Xuân, sinh viên Đại Học Sư Phạm Huế làm Đoàn Trưởng. Ngày 8.4.1966, một bộ phận của đoàn này được gởi vào chi viện cho Đà Nẵng. Theo Thiếu Tá Liên Thành, cựu Trưởng Ty Cảnh Sát Huế, chính Đoàn Thanh Niên Quyết Tử này đã phá kho súng của 2 Ty Cảnh Sát Quảng Trị và Huế, lấy khoảng 4000 ngàn súng gồm tiểu liên, Shotgun, và súng lục, 120 thùng lựu đạn M 26, khoảng 100 xe Jeep Cảnh Sát và toàn bộ máy móc truyền tin rồi dùng xe, máy móc truyền tin và súng của Cảnh Sát tuần tiểu và canh gác trong thành phố. Cũng chính đoàn này về sau, đã theo lệnh Thích Trí Quang, đưa hàng trăm bàn thờ xuống đường.

Theo lời kêu gọi của Thích Trí Quang, gần nửa quân nhân Phật tử thuộc Sư Đoàn I Bô Binh, các đơn vị Địa Phương Quân, Nghĩa Quân đã buông súng trở về thành phố tham gia cuộc nổi loạn. Đầu tháng 5/1966, Ngô Kha đã tập hợp các quân nhân ly khai này lại thành một tổ chức mang tên “Chiến Đoàn Nguyễn Đại Thức” để chống lại chính quyền.

BỊ ĐẨY VỀ PHÍA KẺ THÙ

Những nỗ lực tạo bạo loạn để cuớp chính quyền của nhóm Thích Trí Quang đã bị Quân Đôi VNCH dẹp tan, Giáo Hội Phật Giáo Ấn Quang liền đứng hẵn về phe Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Nhiều thành phần chủ chốt trong nhóm tranh đấu của Thích Trí Quang đã bỏ thành phố đi vào chiến khu theo Việt Cộng, chẳng hạn như Hoàng Phủ Ngọc Tường (dạy học), Hoàng Phủ Ngọc Phan (SV Y Khoa), Nguyễn Đắc Xuân (SV Đại Học Sư Phạm), Trần Quang Long (SV Đại Học Sư Phạm), Lê Minh Trường (Sinh Viên Mỹ Thuật), Huỳnh Sơn Trà (SV Y Khoa), Nguyễn Văn Sơ (SV Đại Học Sư Phạm), Ngô Yên Thi (SV Văn Khoa), Trần Bá Chữ (SV Đại Học Sư Phạm) v.v. Đa số còn lại bị cơ quan an ninh VNCH bắt giữ, một số ẩn trốn trong quần chúng.

Theo cựu Thiếu Tá Liên Thành, Cảnh Sát Huế đã khám phá ra Trịnh Công Sơn là một trong những người đã giúp đưa hai anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường (giáo sư trường Quốc Học) và Hoàng Phủ Ngọc Phan (SV Y Khoa) vào chiến khu. Hai tên này đã từ nhà sách Khánh Quỳnh đến nhà tên Nguyễn Chính, một cán bộ cộng sản, ở đường Nguyễn Trường Tộ, bên này cầu Phủ Cam, rồi sau đó qua nhà Trịnh Công Sơn ở bên kia cầu Phủ Cam. Lê Cảnh Đạm, lúc đó đang làm Tổng Thư Ký Đại Học Y Khoa Huế, với sự hộ tống của Tôn Thất Dương Tiềm, đã lái chiếc xe màu trắng của bà Tuần Chi (nguyên hiệu trưởng trường Đồng Khánh) đến đón Tường và Phan lên chùa Thiên Mụ rồi từ đó, đi bộ vượt Long Hồ, Ngọc Hồ, vượt nguồn tả sông Huơng đến mật khu sau núi Kim Phụng.

LỆ THUỘC VÀO ĐÀN ANH

Như chúng tôi đã nói ở trên, Hoàng Phủ Ngọc Tường và Ngô Kha là hai người thân nhất và có ảnh hưởng nhất đối với Trịnh Công Sơn, cả hai đã trở thành cán bộ cộng sản, một tên hoạt động trong chiến khu còn một tên hoạt động nội thành.

1.- Hoàng Phủ Ngọc Tường: Quê xã Triệu Long, huyện Triệu Hải, tỉnh Quảng Trị, sinh ngày 9.9.1937 tại thành phố Huế. Ông học hết bậc trung học ở Huế rồi vào Sài Gòn học khóa I Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn, ban Việt Hán, và tốt nghiệp năm 1960. Trở về Huế, ông dạy triết ở trường Quốc Học và học Đại Học Văn Khoa Huế. Năm 1964, ông đậu cử nhân triết.

Sau khi cuộc nổi loạn của nhóm Thích Trí Quang bị dẹp tan, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã đi vào chiến khu và được giao nhiệm vụ viết báo ở Ban Tuyến Huấn Thành Uỷ Huế.

Trong biến cố Tết Mậu Thân, Hà Nội cho thành lập Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc, Dân Chủ và Hoà Bình do giáo sư Lê Văn Hảo làm chủ tịch, Hoà Thượng Thích Đôn Hậu và bà Tuần Chi làm phó chủ tịch, Hoàng Phủ Ngọc Tường làm tổng thư ký. Những người này được đưa tới Chỉ Huy Sở Tiền Phương của Mặt Trận Huế ở núi Kim Phụng, phía tây Huế. Hoàng Phủ Ngọc Tường được giao phụ trách viết “Lời hiệu triệu” của Liên Minh, thu băng và đem phát thanh trên các đường phố Huế. “Lời hiệu triệu” kêu gọi quần chúng nổi dậy.

Nhiều nhân chứng cho biết Hoàng Phủ Ngọc Tường là người chủ trì các phiên xử tại trường tiểu học Gia Hội, tuyên án tử hình rất nhiều người. Nhưng Hoàng Phủ Ngọc Tường phủ nhận điều này và nói rằng lúc đó ông đang ở núi Kim Phụng với các thành viên trong Liên Minh. Dù sự thật như thế nào đi nữa, Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng là kẻ đồng loả với những người phạm tội ác chống lại nhân loại.

Sau vụ Mậu Thân thất bại, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã trở lại chiến khu ở vùng A Lưới, phía tây nam Huế, nhưng không được giao nhiệm vụ gì. Năm 1972, khi Cộng quân chiếm được một phần tỉnh Quảng Trị, Hoàng Phủ Ngọc Tường được cử làm Trưởng Ty Văn hoá tỉnh Quảng Trị. Nhưng chức vụ này chỉ có trên danh nghĩa.

Sau khi Việt Cộng chiếm miền Nam, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã về lại Huế và được giao cho giữ chức Phó chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Bình Trị Thiên. Trịnh Công Sơn đã từ Sài Gòn ra Huế với hy vọng sẽ núp bóng Hoàng Phủ Ngọc Tường và bạn bè cũ để nối tiếp sự nghiệp của mình. Nhưng, theo Trịnh Cung, bỗng dưng cả thành phố Huế lên cơn sốt đả đảo Trịnh Công Sơn và Phạm Duy. Các biểu ngữ được giăng ở các trường đại học và Trịnh Công Sơn phải lên Đài truyền hình Huế đọc bài tự kiểm điểm. Sau đó, Trịnh Công Sơn phải đi vùng kinh tế mới cuốc đất làm rẩy. Khoảng năm 1978, Trịnh Công Sơn mới có thể trở về Sài Gòn. Sau khi Trịnh Công Sơn qua đời, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã viết cuốn “Cây đàn lia và hoàng tử bé” để nói về Trịnh Công Sơn.

Có tài liệu nói rằng Hoàng Phủ Ngọc Tường là đảng viên đảng CSVN, nhưng chúng tôi không tin, vì đảng CSVN không bao giờ thu nhận một trí thức thường có những triết lý vụn vặt như Hoàng Phủ Ngọc Tường. Ông chỉ được phụ trách một số công tác lặt vặt như Chủ tịch Hội Văn nghệ Quảng Trị, Tổng biên tập tạp chí Sông Hương, Cửa Việt, v.v.

Hoàng Phủ Ngọc Tường đã bị tai biến mạch máu não và bị liệt nữa người cách đây khoảng 10 năm và hiện đang sống với vợ là Lâm Thị Mỹ Dạ ở 280/8 Phan Bội Châu, thành phố Huế.

2.- Ngô Kha: Trịnh Công Sơn chịu ảnh hưởng của Ngô Kha nhiều hơn Hoàng Phủ Ngọc Tường vì những lý do sau đây: Mặc dù lớn hơn Trịnh Công Sơn đến 4 tuổi, Ngô Kha là em rể của Trịnh Công Sơn. Trịnh Công Sơn có 2 người em trai và 5 người em gái. Người em gái lớn nhất là Trịnh Vĩnh Thúy đã lấy Ngô Kha. Ngô Kha lại là người có học thức, rất sâu sắc, có đầu óc thực tế và có mưu lược, nên được Trịnh Công Sơn mến phục. Trịnh Công Sơn thường hành động theo sự hướng dẫn hay chỉ đạo của Ngô Kha.

Ngô Kha sinh năm 1935 tại làng Thế Lại, thành phố Huế, tốt nghiêp Đại Học Sư Phạm Huế khoá 1 (1958-1959) về môn Văn, và dạy Việt Văn tại trường Quốc Học, Huế. Năm 1962, Ngô Kha đậu thêm cử nhân luật khoa ở Huế.

Trong cuộc bạo loạn của Phật Giáo năm 1966, Ngô Kha thuộc thành phần chỉ đạo, đúng đàng sau giựt dây anh em hoạt động. Như đã nói ở trên, chính Ngô Kha đã dứng ra lập “Chiến Đoàn Nguyễn Đại Thức” để chống lại Quân Lực VNCH. Sau khi Huế thất thủ, Ngô Kha không đi vào chiến khu như Hoàng Phủ Ngọc Tường mà ở lại nội thành hoạt động dưới sự chỉ đạo của Thành Ủy Huế. Ngô Kha đã bị bắt và bị đưa đi an trí ở Phú Quốc hai năm rồi bốn năm, đến năm 1970 mới được thả về. Năm 1971, Ngô Kha đã bị bắt lại, nhưng cũng được phóng thich sau một thời gian ngắn. Tuy nhiên, Ngô Kha vẫn tiếp tục hoạt động cho Cộng Sản.

Ngô Kha đã lập nhóm trí thức đấu tranh Tự Quyết gồm Trần Viết Ngạc, Lê Khắc Cầm, Thái Ngọc San, Chu Sơn và Trịnh Công Sơn. Năm 1972, Ngô Kha lại lập thêm Mặt Trận Văn Hóa Dân Tộc Miền Trung do chính Ngô Kha làm Chủ Tịch, đặt dưới sự chỉ đạo của Thành ủy Huế.

Trịnh Cung kể lại: Chúng tôi đi bộ từ ngã tư Phú Nhuận về hướng cầu Kiệu, khi gần đến chân cầu, Ngô Kha nói với tôi: “Cậu vào chiến khu với mình đi, có người dẫn đường đang chờ”. Anh không đi vào rừng mà về Huế rồi bị bắt và chịu một cái chết bi thảm.

Theo dõi các hoạt động của Ngô Kha, Cảnh Sát Huế đã quyết định bắt Ngô Kha vào ngày 30.1.1973 và sau đó Ngô Kha bị mất tích luôn. Năm 1981, nhà cầm quyền CSVN ở Huế đã có quyết định công nhận Ngô Kha là liệt sĩ.

Chu Sơn, một thành viên trong nhóm Tự Quyết của Ngô Kha bị cảnh sát bắt năm 1974, có tiết lộ rằng ngày 28.1.1973, trước khi bị bắt 2 ngày, Ngô Kha có viết cho ông một lá thư khá dài nói lên những suy nghĩ của mình trước thời cuộc và cách thế ứng xử của ông trong một giai đoạn quan yếu của chiến tranh. Ngô Kha cũng đã tiết lộ:

“Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng, đồng bào miền Bắc, chính phủ và đảng Cọng sản ở Hà Nội cổ vũ và ủng hộ nhiệt tình phong trào Phật giáo và xem phong trào này như là một đồng minh, một bộ phận của mặt trận chính trị đánh Mỹ”.

Cựu Thiếu Tá Liên Thành cho biết cảnh sát đã theo dõi và biết Trịnh Công Sơn thường liên lạc với Lê Khắc Cầm - em ruột của giáo sư Lê khắc Phò - một cán bộ quan trọng của cơ quan Thành Ủy Huế. Nhưng chúng tôi tin rằng tầm cở như Trịnh Công Sơn không đủ uy tín để được Thành Ủy Huế giao cho làm bất cứ công tác gì. Trịnh Công Sơn chỉ làm liên lạc giữa Ngô Kha và Lê Khắc Cầm mà thôi, vì lúc đó Ngô Kha đang bị theo dõi rất sát, không dám tiếp xúp với các cán bộ của Thành Ủy nên phải qua trung gian của Trịnh Công Sơn.

ĐIỆP VIÊN CỦA CẢNH SÁT

Biết được Trịnh Công Sơn thường quan hệ với nhóm bạn bè đi theo Cộng Sản hay thân cộng ở Huế, Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên - Huế quyết định dùng Trịnh Công Sơn làm mật báo viên của Cảnh Sát Đặt Biệt trong giới học sinh, sinh viên và trí thức ở Huế. Trịnh Công Sơn đang ở vào tình trạng có thể bị bắt giữ bất cứ lúc nào vì trốn quân dịch và có bằng chứng đang liên lạc với Việt Cộng, nên khi Cảnh Sát yêu cầu, Trịnh Công Sơn đành chấp nhận.

Trịnh Công Sơn được cấp một Sự vụ lệnh đặc biệt trong đó chứng nhận Trịnh Công Sơn là viên chức Cảnh Sát Đặc Biệt thuộc BCH/CSQG Thừa Thiên-Huế. Yêu cầu các cơ quan Quân, Dân, Chính giúp đỡ trong khi thừa hành phận sự. Nhiệm vụ của Trịnh Công Sơn là cung cấp cho CSĐB các tin tức về địch mà Cảnh Sát cần biết như danh tánh các tổ chức và cá nhân hoạt động dân vận và trí vận cho Thành Ủy Huế, các đường dây liên lạc và trạm liên lạc nội thành của Việt Cộng, kế hoạch hành động của địch, v.v.

Vì Trịnh Công Sơn có khi ở Huế, có khi đi nơi khác nên công tác cũng có lúc gián đoạn, nhưng Trịnh Công Sơn đã làm việc cho CSĐB đến ngày Huế mất. Có những tin tức Trịnh Công Sơn đã báo cáo chính xác, nhưng cũng có những tin không báo cáo. Trịnh Công Sơn thường không báo cáo về các trạm liên lạc và nơi hội họp của nhóm Bửu Chỉ, Ngô Kha, Trần Hoài, Hoàng thị Thọ, Phạm thị Xuân Quế, v.v.

ĐƯỢC THUÊ LÀM NHẠC PHẢN CHIẾN

Kể từ năm 1968, nhóm tư bản quốc phòng đàng sau hậu trường ở Mỹ quyết định đi tới chấm dứt cuộc chiến tại Việt Nam vì mục tiêu của họ đã đạt. Một chiến dịch phản chiến đã được các cơ quan truyền thông lớn của Mỹ phát động. Các nhóm phản chiến còn đưa Thiền Sư Nhất Hạnh từ Pháp qua Mỹ để yểm trợ cho phong trào này.

Ở Việt Nam, cơ quan tình báo Hoa Kỳ cũng đã thuê Trịnh Công Sơn đặt nhạc phản chiến để làm giảm xuống tinh thần chiến đấu của cả hai bên.

Ôi da vàng Việt Nam vỡ nát

Xương thịt đó thiêng liêng vô cùng.

Khắp đất nước tràn đầy xác người:

Xác người nằm quanh đây, trong mưa lạnh này.

(Bài ca dành cho những xác người – 1968)

Huế Sài Gòn Hà Nội

Hai mươi năm tiếng khóc lầm than

Huế Sài Gòn Hà Nội trong ta đau trái tim

Việt Nam.

(Huế – Sài Gòn – Hà Nội – 1969)


Những tiếng hát như thế mà cứ vang lên, ai mà còn chiến đấu được?

Ngoài ba tập “Ca Khúc Da Vàng”, “Kinh Việt Nam” và “Ta Phải Thấy Mặt Trời”, Mỹ còn giúp cho Trịnh Công Sơn thực biện một cuốn phim mang tên “Đất Khổ” được dịch ra tiến Anh là “Land of Sorrows” để nói lên cảnh bi đát của một gia đình ở Huế trong chiến tranh. Đây là một cuốn phim dài khoảng 20 phút được trình diển và quay rất “professional”.

Nhưng không may cho Trịnh Công Sơn, những chi phiếu được Asia Foundation (một cơ quan tài trợ tình báo văn hoá của Mỹ) trả cho Trịnh Công Sơn vẫn còn găm lại trên các tập nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn được lưu giữ tại trụ sở của tổ chức này ở phía sau Quốc Hội VNCH sau 30.4.1975 và Công An CSVN đã lấy được. Có lẽ vì thế phong trào chống Trịnh Công Sơn đã được phát động ngay sau khi CSVN chiếm miền Nam một thời gian ngắn.

BỊ ĐẨY VÀO CON ĐƯỜNG NGHIỆT NGÃ

Những sự kiện chúng tôi vừa trình bày trên cho thấy tham vọng thành lập một chính quyền Phật Giáo tại miền Nam và hoàn cảnh đã đưa đất nước, Giáo Hội Phật Giáo Ấn Quang và những người theo họ đi vào những con đường nghiệt ngã với những hậu quả nghiêm trọng còn kéo dài theo luật nhân quả chưa biết đến bao giờ mới dứt.

Nếu không có tham vọng nói trên, những tuổi trẻ lúc đó chưa chắc đã đi theo Việt Cộng. Việt Cộng đã đón tiếp và dùng họ nhưng không tin, vì tuy cùng đứng chung một chiến tuyến nhưng mỗi bên đã nhìn về một hướng khác nhau.

Năm 1992, Trịnh Công Sơn đã viết:

"Có những ngày tuyệt vọng cùng cực, tôi và cuộc đời đã tha thứ cho nhau. Từ buổi con người sống quá rẻ rúng tôi biết rằng vinh quang chỉ là điều dối trá... Tôi không muốn khuyến khích sự khổ hạnh, nhưng mỗi chúng ta hãy thử sống cùng một lúc vừa kẻ chiến thắng vừa kẻ chiến bại. Nỗi vinh nhục đã mang ta ra khỏi đời sống để đưa đến những đấu trường..."

(Trịnh Công Sơn, Những Bài Ca Không Năm Tháng, nxb Âm Nhạc, 1995, trang 271).

Bài ca "Nối vòng tay lớn" của Trịnh Công Sơn cho đến nay vẫn chưa thực hiện được:

Rừng núi dang tay nối lại biển xa

Ta đi vòng tay lớn mãi để nối sơn hà

Mặt đất bao la, anh em ta về

Gặp nhau mừng như bão cát quay cuồng trời rộng

Bàn tay ta nắm nối laị một vòng Việt-nam.

Nhưng chúng tôi tin rằng khi thế hệ chiến tranh Việt Nam không còn nữa, sẽ không còn sự phân tích hay tranh cãi Trịnh Công Sơn đứng bên này, bên kia hay bên nớ, và nhạc và lời ca của Trịnh Công Sơn chắc chắn sẽ trở thành một loại nhạc và lời ca đứng hàng đầu trong thời đại chúng ta.

Trong bài sau chúng tôi sẽ bàn đến cuốn “Trịnh Công Sơn. Vết chân dã tràng” của Ban Mai.

Lữ Giang

(Ngày 1.9.2009)

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Tự do mới tạo được niềm tin

Ngô Nhân Dụng
Cô cháu nội tôi còn bé mà đã biết phát biểu ý kiến không hề sợ hãi. Có chuyện gì không hài lòng, cháu lên tiếng một cách quả quyết, “Oe oe! Oe oe!” Và cứ như vậy nhất định không ngưng trước khi được người trên chú ý.

Mẹ cháu dỗ dành, “Mế Mế!” Anh trai cháu cũng phụ họa, “Mế Mế!” (Muội muội, đọc theo lối Hán Việt, tức là em bé gái). Ông nội thử đoán ý cháu, “Nhân dân phản kháng chắc vì khát nước đấy.” Mẹ cháu cho con uống nước. Uống xong, “nhân dân” lại tiếp tục phản kháng không khoan nhượng, “Oe Oe! Oe oe! Oe oe!”

Cuối cùng mẹ cháu đưa giả thuyết là nhân dân đang làu bàu vì đói. Bố cháu ghé xe vào một tiệm ăn. Nhưng vào trong tiệm, Mế Mế lại không màng gì đến thức ăn. Cháu chỉ chạy tung tăng nhìn quanh từng bàn, lũn cũn bước từ bàn này sang bàn khác, miệng cười tươi làm quen với hết người nọ đến người kia.

Giới lãnh đạo nhất trí kết luận là Mế Mế không khát nước mà cũng không đói, cháu chỉ muốn ra khỏi chiếc xe tù túng để được chạy qua chạy lại cho đỡ cuồng cẳng! Nhờ lên tiếng một cách cương quyết và dai dẳng, cuối cùng cuộc tranh đấu của cô bé đã thành công vẻ vang. Nếu không lên tiếng thì làm sao bố mẹ biết được ý nguyện của mình! Mà đối với tầng lớp nhân dân tuổi mới 18 tháng, phương pháp lên tiếng có hiệu quả nhất chỉ là “Oe Oe! Oe Oe!”

Bài học cho người lớn là: Khi được tự do phát biểu ý kiến (Oe Oe), một đứa trẻ cũng biết nó muốn gì. Và đứa trẻ hơn một tuổi cũng có những nhu cầu khác ngoài chuyện thức ăn, nước uống: Nhu cầu được tự do. Trong việc tề gia, chúng ta theo nhiều đường lối khác nhau. Có nhà theo lối “mẹ lãnh đạo, bố quản lý, các con làm chủ.” Nhà khác thì “bố lãnh đạo, mẹ quản lý, các con cứ yên phận làm con!” Những mô hình này cũng có khi dùng trong việc trị quốc.

Ở Việt Nam hiện nay, mô hình thứ nhì đang áp dụng. Công an lãnh đạo, đảng và nhà nước lo việc quản lý. Còn nhân dân, muôn đời vẫn là nhân dân. Ðảng và nhà nước đối xử với nhân dân như con cháu, chút chít trong nhà, không hơn.

Nhưng nghe đảng bảo ban ra lệnh mãi có lúc nhân dân cũng muốn lên tiếng phản kháng “Oe Oe” mấy tiếng chứ? Có, hiện nay nhiều người đang lên tiếng. Trong mấy năm qua nhiều nhà trí thức đã lên tiếng về các vấn đề chung. Nghe những tiếng nói đó, tinh thần cả xã hội đã phấn khởi một thời gian, cho đến khi bị dập tắt trở lại.

Khi báo chí chính thức không được phép lên tiếng thì người ta dùng các phương tiện truyền thông mới. Bị bịt miệng không cho nói thì có người bày tỏ ý kiến bằng cách “mặc áo!” Anh Lê Minh Phát đã mặc chiếc áo trên đó có những lời phản đối việc khai thác bô xít ở Tây Nguyên. Các ông Nông Ðức Mạnh và Nguyễn Tấn Dũng đã bảo đó là một chủ trương lớn của đảng và nhà nước. Cho nên anh Phát bị làm việc lên, làm việc xuống, cuối cùng anh được lệnh không được mặc cái áo “Oe Oe” nữa. Anh phản đối việc Trung Quốc chiếm các đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng đảng và nhà nước không muốn ai làm mất lòng các đồng chí Trung Quốc. Nhân dân có muốn “Oe Oe” cũng không được!

Các đồng nghiệp của chúng tôi là Bùi Thanh Hiếu, còn gọi là Người Buôn Gió và nhà báo Phạm Ðoan Trang đã bị bắt chỉ vì muốn“Oe Oe” trên mạng cho mọi người cùng nghe. Họ đều bị công an sách nhiễu, bắt bớ, thẩm vấn như những kẻ phạm tội. Người Buôn Gió đã bị bắt rồi, công an còn tịch thâu cả máy vi tính của anh. Công an còn đến tận nhà cha mẹ anh để lục soát, cho thấy chế độ hiện nay vẫn không khác gì vua quan thời phong kiến: con bị tình nghi thì cha mẹ cũng bị nghi ngờ! Nhà báo blogger nổi tiếng Huy Ðức chủ trì mạng Osin từ bao năm. Anh bị mất việc làm trong Sài Gòn Tiếp Thị, một tờ báo của đảng. Những nhà báo Huy Ðức, Bùi Thanh Hiếu, cũng như chư tăng trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, các Luật Sư Nguyễn Văn Ðài, Lê Thị Công Nhân chỉ muốn góp sức xây dựng một nước Việt Nam có tín nghĩa, có luật lệ rõ ràng. Bao giờ thì họ được tự do lên tiếng? Nếu không ai được nói ngoài các nghị quyết của đảng thì làm sao xây dựng được xã hội chính trực, ngay thẳng?

Chế độ độc tài nào cũng sợ người dân lên tiếng nói vì họ biết dân chỉ tin những lời nói trung thực, thẳng thắn, không còn ai tin lời nói của bọn cầm quyền nữa. Vì đảng đã quen nói một đằng, làm một nẻo từ lâu, nhưng bây giờ họ thực hiện chính sách đó trên căn bản tư tưởng.

Ðảng Cộng Sản Việt Nam đang tự chuyển hóa biến các cán bộ cao cấp thành những nhà tư bản. Họ không còn là những “đảng Cộng Sản” như họ vẫn hô khẩu hiệu đi theo các ông Marx và Lenin nữa. Trong thực tế, xã hội Trung Hoa và Việt Nam hiện nay là tư bản hoang sơ nhưng vẫn còn di sản của thời phong kiến. Ðảng Cộng Sản muốn làm kinh tế tư bản trong khuôn khổ một xã hội phong kiến! Trong chế độ tư bản người dân còn được lên tiếng. Còn trong chế độ phong kiến thì khác, vua quan là cha mẹ của dân, không đứa nào được phép “Oe Oe” một tiếng. Tuyên bố theo Marx Lenin, nhưng hành động theo phương pháp Tần Thủy Hoàng. Ðó là đường lối “nói một đàng, làm một nẻo” ở trình độ căn bản nhất.

Những lương dân đọc Người Buôn Gió, đọc Ô Sin, chỉ muốn đề đạt lên các nhà lãnh đạo đảng một câu hỏi là: Tại sao quý vị không thành thật một lần trong đời, trong đời sống cá nhân cũng như đời sống đảng, bằng cách tuyên bố thẳng rằng quý vị đã ngưng, stop, thôi hẳn, từ nay không theo đuổi chủ ngãi Mác Lê nin nữa? Hơn 20 năm trước ông Hà Sĩ Phu đã dõng dạc tuyên bố “Chia tay ý thức hệ” mà không ai chịu nghe, bây giờ cứ làm theo cũng chưa muộn.

Khi một đảng chính trị tự đặt mình vào tình trạng phải tự mâu thuẫn với chính mình; cương lĩnh, lý thuyết mâu thuẫn với hành động thực tế, thì chỉ làm cho người dân khinh bỉ. Nguy hiểm hơn, thái độ dối trá đó sẽ làm hư hỏng luôn giềng mối tinh thần của cả quốc gia. Khi một ông vua hay một đảng cầm quyền nói một đằng, làm một nẻo, thì trong xã hội không còn ai thấy cần tôn trọng chữ Tín nữa. Không lấy chữ Tín làm căn bản của mọi tương quan, mọi giao tế xã hội, thì xã hội đó không còn một hệ thống giá trị để chia sẻ cùng nhau. Hơn thế nữa, xã hội không có chữ Tín thì cũng không thể phát triển tinh thần tôn trọng luật pháp, là nền tảng của mọi sinh hoạt kinh tế, chính trị trong thế giới hiện đại. Tái lập chữ Tín trong xã hội là điều quan trọng và đáng theo đuổi hơn là thực hiện bất cứ một chủ nghĩa mơ hồ và không tưởng nào.

Sự thay đổi trong đường lối căn bản này là hệ quả của những biến chuyển căn để trong xã hội. Chế độ toàn trị (totalitarian) đã biến dần sang một chế độ độc tài (authoritarian) bình thường. Guồng máy của đảng và nhà nước không hoàn toàn kiểm soát được toàn thể đời sống xã hội nữa. Ðời sống mỗi cá nhân được giải phóng một phần nào, không còn hoàn toàn tùy thuộc vào sự xếp đặt của đảng và nhà nước. Xã hội công dân đang tự tách rời khỏi chế độ chính trị.

Một vấn đề lớn là guồng máy quản lý xã hội cũ vốn được các ông Stalin, Mao Trạch Ðông vẽ ra để trị dân trong một tương quan kinh tế đơn giản, dưới xin, trên cho, có cấp bậc trên dưới rõ ràng. Nay guồng máy đó không còn thích hợp để cai quản một xã hội phức tạp, các tương quan cũ bị đứt, vỡ, và các tương quan mới đang ra đời. Tương quan cũ dựa trên quyền hành, bây giờ thêm tương quan mới đặt trên lợi lộc. Ðảng Cộng Sản không dám xóa bỏ hệ cấp quyền hành, nhưng vẫn phải chấp nhận hệ thống duy lợi trên con đường tự tư bản hóa. Hệ thống duy lợi dựa trên tiền bạc, nhưng chưa đặt ra các luật lệ ràng buộc, kiểm soát việc kiềm lời như trong các nước thị trường tư bản lâu đời. Hai mạng lưới chính trị dựa trên quyền hành và kinh tế dựa trên lợi lộc chồng chéo lên nhau, đẻ ra tham nhũng. Ý thức hệ được tuyên dương thì đề cao một xã hội bình đẳng, mà trong thực tế thì chính chế độ đó lại nuôi dưỡng tình trạng giầu nghèo chênh lệch, tham nhũng, bất công. Người dân còn biết tin cái gì?

Kể từ khi chiếm chính quyền, Cộng Sản Việt Nam đã nỗ lực xóa bỏ giềng mối cũ của xã hội cổ truyền, những “quan hệ sản xuất” và “quan hệ xã hội.” Họ thấy không cần những quy tắc hiếu đễ, tiết nghĩa trong xã hội cũ. Họ xóa bỏ những tương quan mà xã hội cũ vẫn tôn trọng. Từ tình hàng xóm láng giềng cho đến niềm tin tôn giáo, tương quan vợ chồng, cha con, bằng hữu, vân vân, cần dẹp bỏ hết để đảng Cộng Sản xây dựng một xã hội mới trong đó điều quan trọng nhất là lập trường chính trị. Chế độ cộng sản không cần đạo lý, không cần pháp luật, chỉ cần chính trị. Nước Việt Nam đang đứng trước cảnh đã mất nền tảng cũ, lại mất luôn cả cái nền tảng mới mà đảng chưa hoàn thành. Ðó là thảm cảnh của một dân tộc: Vô pháp, vô thiên, “Trên không có trời, dưới không luật lệ.” Ðảng Cộng Sản phá giỏi, nhưng không xây dựng được nền tảng đạo lý mới. Muốn thay đổi tình trạng đó thì phải cho mọi người được sống tự do, xã hội công dân phải tự do phát triển, nhà tu được tự do xây nhà thờ, tự do lập am miếu, chùa chiền, và nhà báo phải được viết tự do.

Ðiều đáng lo nhất là lo cho thế hệ tương lai, những em bé bây giờ đang lớn, từ các em bé bằng tuổi cô cháu nội của tôi bây giờ. Nhìn cháu mình, không ai tránh khỏi không nghĩ đến những đứa cháu đang sống thiếu thốn. Có cháu mới 9 tuổi đã đảm đang đóng vai làm mẹ cho em mình. Một câu chuyện đáng kể lại làm gương cho trẻ em khắp thế giới. Nhiều trẻ em may mắn sống trong các xã hội bình an và thịnh vượng sẽ không hiểu nổi tại sao có những nơi một em bé phải cực nhọc như thế.

Cô cháu nội tôi số gặp may. Bữa trước bố mẹ cho cháu đi coi một sở thú ở thành phố Madison, tiểu bang Wisconsin. Khi trở về thành phố Dubuque, tiểu bang Iowa, cách xa hai giờ lái xe, mới biết cái nón của Mế Mế rớt đâu mất. Cái nón rẻ tiền nhưng cháu đội đã quen, rất thích. Lâu lâu cháu lại chỉ tay lên đầu, nhìn bố, nhìn mẹ, như hỏi: “Mũ đâu rồi?” Ði ngoài đường nắng quá, đội cho cháu cái mũ của Mẹ, cháu lắc đầu không chịu. Cái mũ của ông nội, cháu cũng không chịu. Ðúng là một đứa bé tí xíu cũng dám bầy tỏ ý kiến muốn cái gì, nếu được tự do, không sợ hãi. Hôm sau, tìm không đâu thấy mũ con, bố cháu gọi điện thoại tới sở thú hỏi. Ấy thế mà có người đã thấy cái mũ đó và văn phòng họ vẫn giữ! Không những giữ hộ, nhân viên ở sở thú còn đồng ý sẽ gửi cái mũ qua bưu điện về địa chỉ cha mẹ cháu ở thành phố New York, cách xa cả ngàn cây số. Và họ không đòi tiền cước phí. Cô nhân viên cho biết nếu cha mẹ cháu muốn thì cứ gửi tiền tặng cho quỹ sở thú, để góp phần giữ gìn một nơi cho mọi người, người lớn và con nít cùng du ngoạn và học hỏi!

Tại sao trong một xã hội con người có thể đối xử với nhau tử tế như vậy? Bao giờ thì trẻ em trong nước Việt Nam được thấy chung qunh toàn những người tử tế như vậy? Bao giờ thì Bùi Thanh Hiếu, Huy Ðức, được tự do lên tiếng để cùng mọi người Việt Nam xây dựng một xã hội có đạo lý và có pháp luật?

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Image


Thế đánh của Mỹ và thế đỡ của Trung Cộng



Ngày 19 tháng Tám nghị sĩ Jim Webb họp báo tại Hà Nội và tuyên bố là ông không thảo luận với nhà nước Việt Cộng về số phận của những nhà dân chủ bị bắt mà chỉ thảo luận với họ về tình trạng Biển Ðông.Ông trình bầy tình trạng Trung Cộng dành quyền làm chủ 80% Biển Ðông lấn ép toàn bộ 6 quốc gia sống trên bờ biển này.Ông nói, “Hoa Kỳ cần minh định rõ hơn thái độ bênh vực chủ quyền (của những quốc gia) tại vùng biển tranh chấp.

“Bênh vực” không nhất thiết mang ý nghĩa quân sự; tôi chỉ muốn nói về thế đứng ngoại giao và về ý chí của Hoa Kỳ muốn duy trì một tình trạng thăng bằng hải lực với Trung Quốc, thăng bằng thôi chứ không đối phó với họ.”
Nguyên là một sĩ quan hải quân Hoa Kỳ phục vụ tại Việt Nam, Webb sau đó đã giữ vai trò bộ trưởng hải quân, và có tầm nhìn chiến lược về hải chiến.

“Tôi muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của Ðông Nam Á đối với Hoa Kỳ,” Webb nói. “Và ngoại trưởng Clinton cũng nhấn mạnh quan điểm này.”

Mười ngày sau cuộc họp báo của Webb, bộ quốc phòng Việt Cộng tuyên bố thành lập Vùng 2 hải quân để bảo vệ chủ quyền thềm lục địa phía Nam, bao gồm vùng đặc quyền kinh tế giáp Trường Sa.

Truyền thông trong nước loan báo nhiệm vụ chính của hải quân Vùng 2 là "quản lý, bảo vệ chủ quyền vùng biển từ Bình Thuận đến Bạc Liêu, trong đó có khu vực trọng điểm là vùng biển có các cụm kinh tế - khoa học - dịch vụ thuộc thềm lục địa phía Nam".

Khu vực trọng điểm này là vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, giáp ranh quần đảo Trường Sa hiện vẫn đang tranh chấp.

Tại đây, Việt Nam đang duy trì hàng chục nhà giàn DK1 (dầu khí?), là nơi đặt các cụm kinh tế - khoa học - dịch vụ nói ở trên.

Vùng 2 hải quân còn có trách nhiệm bảo vệ, tìm kiếm, cấp cứu ngư dân.

Chỉ huy trưởng Vùng 2 hải quân là đại tá Nguyễn Văn Tuyến và chính ủy là đại tá Mai Tiến Tuyên.

VnExpress trích lời ông Tuyên nói một nhiệm vụ khác của hải quân Vùng 2 còn là bảo vệ cho "đường hàng hải quốc tế đi qua khu vực biển Đông" (một quan tâm của Hoa Kỳ).

Thành lập Vùng 2 hải quân là thái độ mới nhất của Việt Cộng trong việc cấu tạo một tiềm năng hải quân có khả năng đối phó với chính sách lấn ép của Trung Cộng trên Biển Ðông.

Việt Cộng còn đi xa hơn nữa: chúng loan báo đài Tiếng nói Việt Nam sẽ mở rộng tầm sóng rộng đến 3,500 cây số hướng ra Biển Ðông, bao gồm toàn bộ khu vực lãnh hải Việt Nam và hầu hết những vùng đánh bắt cá xa bờ của ngư dân.

Dù công bố là đài phát thanh chỉ có mục đích loan báo cho ngư dân hành nghề trên biển cả những tin tức thời tiết nhằm phòng tránh thiên tai, và cấp cứu ngư dân, nhưng việc làm này cũng cho thấy dụng tâm khẳng định chủ quyền trên Biển Ðông của Việt Nam.


Trung Cộng nhìn thấy những khó khăn Webb tạo ra cho chúng; chúng ý thức được là hải lực của chúng thừa sức đánh tan cơ cấu “Vùng 2 Hải Quân” của Việt Cộng, nhưng việc làm đó không êm thắm như bắt ngư dân, đâm vỡ ngư thuyền Việt Nam mà chúng đã làm trong suốt nhiều tháng qua để bảo vệ cái “lưỡi bò” chúng thè xuống Biển Ðông.

Hơn nữa Webb không chỉ thăm Việt Nam mà còn thăm đủ 5 quốc gia ven biển Thái Bình để gây dựng sức mạnh bó đũa cho Ðông Nam Á. Trung Cộng không muốn chạm trán với tất cả những quốc gia này.

Hơn nữa, chỉ cần nắm được Việt Cộng là chúng đã nắm được phần quan trọng nhất trên nguồn tài nguyên hải sản nằm trong lòng biển và nguồn nhiên liệu ngầm duói đáy biển. Và muốn “nắm” Việt Cộng chúng chỉ cần nắm 3 tên thái thú tại phủ Ba Ðình.

Do đó chúng tổ chức một bàn thảo cách thức "tăng cường lòng tin trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc".

Bộ ngoại giao Việt Cộng cho hay cuộc hội thảo có sự tham gia của hơn 100 đại biểu của cả hai bên đã diễn ra hào hứng. Phía Trung Cộng chỉ có 14 đại biểu, đa số là giới học giả. Thành phần phía Việt Cộng đa dạng hơn, gồm cả đại biểu các địa phương có biên giới với Trung Quốc và đại diện các ngành như hải quân, biên phòng, thủy sản, quản lý thị trường và hải quan.

Website của bộ ngoại giao Việt Cộng còn nói cuộc hội thảo đã diễn ra trong không khí "hữu nghị và cầu thị".

Chủ tâm của Trung Cộng là xả xú páp để sức ép quá nặng trong nồi xúp de xì bớt ra, sức ép do thái độ hà hiếp của chúng trên Biển Ðông tạo nên. Webb khai thác sức ép này để thúc đẩy Việt Cộng tạo ra Vùng 2 Hải Quân.

Chúng xả xú páp bằng cách thỏa mãn những đòi hỏi của Việt Cộng trên Biển Ðông (mở biển cho ngư dân trở ra đánh cá), và trên bộ (nhượng bộ những đòi hỏi của những tỉnh cực bắc Việt Nam có biên giới chung với Trung Cộng).

Tuần sau hay tuần sau nữa, cuộc hội thảo "tăng cường lòng tin trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc" sẽ bế mạc trên những “nhượng bộ” của Trung Cộng, được công bố rộng rãi và long trọng. Ngần đó đủ rửa mặt cho 3 chú thái thú và làm nhẹ đi cao trào chống Trung Cộng tại Việt Nam.

Mọi việc coi như không có gì quan trọng, nhưng Trung Cộng đã hoá giải được một độc chưởng của Hoa Kỳ: thế căng cứng, chờ đợi của những quốc gia Ðông Nam Á, nhất là Việt Nam, để sẵn sàng đối phó với anh du côn Trung Cộng; từ từ xẹp xuống.

Xú páp được xả ra, sức ép giảm xuống, Trung Cộng tránh được một tột điểm đối phó quân sự, để từ từ mưu đồ cuộc lấn ép kế tiếp.

Nguyễn Ðạt Thịnh

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Phải Nhìn Cho Ra Sự Thật

Hương Trà
cùng nhóm bạn trẻ
Trong thời gian qua, trên các trang Web toàn cầu có rất nhiều bài viết khen và chê về sự nhận tội của: Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức, ông Trần Anh Kim (cựu trung tá quân đội của ĐCSVN), đặc biệt còn có màn phụ hoạ của LS Lê Công Định nữa.

Trong thời đại văn minh và đa nguyên về mọi mặt như hiện nay thì mọi người đều có quyền đưa ra những suy nghĩ riêng. Tuy nhiên, chúng ta nên tự đặt mình vào trường hợp của những người có tầm vóc và uy tín ảnh hưởng đến sự mất còn của ĐCSVN để mà nhận định.

Một thân một mình giữa 4 bức tường đối diện với rừng công an có đầy đủ chuyên môn, nghiệp vụ điều tra theo chiều hướng của đảng đề ra, luôn luôn trung thành với đảng và sẵn sàng thi hành mọi tội ác. Sự nhận tội để được sinh tồn trong trường hợp hoàn toàn mất tự do về mọi mặt như thế là điều dễ hiểu, chính vị linh mục anh hùng Nguyễn Văn Lý đã từng nói: đừng tin vào những lời khai nhận của ngài trong thời gian bị chính quyền CS giam cầm. Nếu có trách thì chúng ta nên trách các chính sách và hành động bội ước của các nhà lãnh đạo các nước tự do dân chủ trên thế giới, nhất là Hoa kỳ đã vì quyền lợi riêng mà giúp cho ĐCSVN tiếp tục tồn tại, tiếp tục vi phạm tất cả những công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị mà CSVN đã tự nguyện ký kết thi hành.

Chúng ta đã hết lòng cảm phục anh thư LS Lê Thị Công Nhân, LS nguyễn Văn Đài, LM Nguyễn Văn Lý, anh Nguyễn Phong, LS Lê Chí Quang, anh Phạm Bá Hải, anh Nguyễn Văn Hải, Trương Minh Đức, chị Phạm Thanh Nghiên, anh Phạm Văn Trội, chị Hồ Thị Bích Khương và tất cả những người hiện đang bị CSVN giam cầm chỉ vì tranh đấu ôn hoà cho tự do dân chủ. Có thể trong thời gian của những năm về trước tình hình nguy ngập của ĐCSVN chưa nghiêm trọng như bây giờ, cũng có thể sau những lần thất bại trước LS Lê Thị Công Nhân và LS Nguyễn Văn Đài….., công an đã rút ra được kinh nghiệm bằng tất cả sự khát máu để áp dụng vào Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Công Định và ông Trần Anh Kim để bắt buộc họ phải chọn con đường duy nhất là nhận tội và xin được khoan hồng. Do đó, chắc chắn đây là một sự ghép nối, dàn cảnh của công an.

Chúng tôi nghĩ rằng, với những gì mà 4 nhà tranh đấu của chúng ta đã làm cho quê hương đất nước trong thời gian chưa bị bắt, là những hành động dũng cảm và anh hùng. Chúng ta nên bình tĩnh chờ đợi một phiên toà công khai trong thời gian tới. Hiện nay chúng ta nên nghĩ rằng, đối với công luận và quốc tế thì mọi lời khai nhận của một người bị ép cung, mất tự do về mọi mặt và không có luật sư bảo vệ đúng theo pháp luật đều vô giá trị, bởi vì theo luật pháp quốc tế và cả VN đều có quy định: một người chỉ được xem có tội là khi nào được toà án kết tội trong một phiên toà công khai có đầy đủ luật sư biện bộ. Việc làm này của công an và các cơ quan báo chí, các đài phát thanh, truyền hình khi đưa hình ảnh và lời nhận tội của 4 nhà dân chủ ra trước dư luận chứng tỏ chính quyền CSVN đã trắng trợn vi phạm luật pháp chỉ làm trò cười cho thiên hạ mà thôi. Hãy xem cuộc phỏng vấn của phóng viên Tôn Vân Anh với nhà hoạt động đối lập nước CS Balan ngày 21/8/2009 vừa qua được đăng trên trang web Talawas ngày 23/8/2009 thì sẽ rõ các mưu mô chước quỷ của công an thời cộng sản.

Nhân loại đã từng chứng kiến và lên án những hành động giết người dã man của các chế độ độc tài, trong đó có chủ nghĩa cộng sản. Nhân dân VN đã từng chịu đựng rất nhiều cảnh đau thương kể từ khi có sự hiện diện của ĐCSVN. Hàng trăm ngàn người dân vô tội phải chịu chết oan trong các đợt đấu tố của thời cải cách ruộng đất và phong trào nhân văn giai phẩm ở miền bắc VN (1954 – 1957 ), những mồ chôn tập thể đã được tìm thấy ở khe đá mài (Huế) sau khi quân đội CS rút lui (Tết Mậu Thân 1968), những cuộc thanh trừng các đảng phái và những người quốc gia yêu nước không cộng sản dưới chiêu bài Việt nam Độc lập Đồng minh Hội do Hồ Chí Minh kêu gọi; những cuộc giựt mìn xe đò, pháo kích vào chợ búa đông người, pháo kích vào trường học (điển hình là trường tiểu học Cai Lậy năm 1972),… Đó là những bằng chứng có thật cho dù thẳm sâu trong lòng dân tộc, tất cả đều muốn quên đi để hướng về một tương lai tươi sáng của đất nước trong tinh thần đoàn kết và xoá bỏ hận thù. Nhưng thật là trớ trêu và đau lòng cho dân tộc VN khi những nhà lãnh đạo CSVN vẫn đi theo vết nhơ cũ, vẫn tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa CS đã bị cả cộng đồng thế giới phế bỏ. Những hành động dâng đảo Hoàng sa-Trường sa, dâng Ải nam quan, thác Bản giốc, dâng lãnh hải của đất nước cho bọn người Trung Cộng kẻ thù truyền kiếp của dân tộc qua công hàm của thủ tướng Phạm văn Đồng ngày 14/9/1958, qua các hiệp định biên giới trên đất liền và vùng biển năm 1999 và 2000, đàn áp các thành phần yêu nước sinh viên biểu tình chống TQ xâm lăng, thầm lén để cho TQ khai thác Bauxite Tây nguyên bất chấp sự can ngăn có tình có lý đầy tính thuyết phục về chuyên môn khoa học của đại tướng Võ nguyên Giáp và các tướng lãnh đầy kinh nghiệm về dã tâm xâm lược của TQ như thiếu tướng Nguyễn trọng Vĩnh, trung tướng Đồng sĩ Nguyên, thiếu tướng CA Lê văn Cương…. và trên 2000 trí thức khoa học ưu tú trong và ngoài nước. Chấp nhận sự lợi và hại trong một canh bạc 50/50 theo như lời tuyên bố của ông Đoàn Văn Kiển (chủ tịch Tập đoàn TKS VN và cũng là chủ đầu tư hợp tác với TQ khai thác quặng Bô-xít Tây nguyên), và việc thủ tướng Nguyễn tấn Dũng cho rằng đây là một chủ trương lớn, là đại dự án và không thể dừng lại đã khiến cho đất nước và dân tộc đang đi dần về điểm chết.

Chúng tôi đã nghe những lời kể của các bậc lão thành đã từng kinh qua các thời kỳ của đảng, đọc những cuốn sách và hồi ký của những người đã từng là những cán bộ, đảng viên cao cấp của đảng nhưng đã thức thời như: giáo sư TS Hoàng Minh Chính, trung tướng Trần Độ, thiếu tướng Nguyễn Hộ, đại tá Bùi Tín, ông Vũ thư Hiên, ông Nguyễn minh Cần, ông Vi đức Hồi. Chúng tôi cũng có đọc tài liệu tối mật trong cuộc họp mật của cơ quan tình báo Hoa nam TQ và tổng cục 2 VN mà theo đó TQ khẳng định rằng: Hồ chủ tịch có nói VN và TQ như môi với răng, răng hở thì môi lạnh, điều này chứng tỏ rằng VN và TQ là 2 thành phần trong một cơ thể, nếu sau này khi VN là một tỉnh hay một vùng tự trị của TQ rồi, thì chuyện khai thác Bô-xít có thể được cấp trên xét lại cho dừng để chuyển qua khai thác ở các nước Châu Phi những nước mà có chính quyền tham nhũng, tham tiền. Chúng tôi cũng được biết trung tâm thương mại Hồng Vận thành phố Móng cái do người TQ xây dựng đã ngừng thi công bởi vì VN phát hiện phía TQ đã bí mật đào đường hầm thông qua biên giới, và không biết còn bao nhiêu đường hầm khác mà VN chưa phát hiện. Không biết lực lượng công an và quân đội những người đã hết lòng vì đảng để ra tay trấn áp các thành phần yêu nước sẽ nghĩ gì trước những việc làm đầy tai hại cho tương lai của đất nước như hiện nay của các nhà lãnh đạo đảng?

Chúng tôi nghĩ trong thâm tâm của các nhà lãnh đạo ĐCSVN vẫn biết rằng chế độ CS sẽ không bao giờ phù hợp cho sự đi lên của đất nước, sẽ không bao giờ được sự đồng thuận của toàn dân, sẽ không bao giờ theo kịp trí tuệ của nền văn minh nhân loại. Vì thế cho nên, con cái của họ đều cho đi du học ở các nước dân chủ đa nguyên.

Đồng bào VN tỵ nạn CS ở nước ngoài được đảng cho là phản quốc sau ngày 30/4/1975, hiện nay được đổi thành Việt kiều yêu nước, khúc ruột ngàn dậm của tổ quốc. Sỡ dĩ Việt kiều của chúng ta được như thế là cũng nhờ sống và làm việc ở các nước có nền dân chủ đa nguyên. Trong số gần 3 triệu kiều bào VN thì hôm nay đã có hơn 300 ngàn người đã thành đạt, thành tài, có rất nhiều người là kỹ sư, tiến sĩ và nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới. Hàng năm số tiền Việt kiều gởi về nước để giúp đỡ thân nhân, làm từ thiện, cất nhà cho người nghèo, xây dựng trường học, cầu cống, giúp điều trị bệnh nhân nghèo,… với số tiền rất lớn 9-10 tỷ đôla. Thử hỏi nếu Việt kiều của ta sống ở các nước theo CNXH như TQ, Bắc Hàn, Cuba thì có được như thế không? Nguyễn Tiến Trung cũng xuất thân từ gia đình đảng viên cán bộ, nhưng vì ý thức được tình yêu quê hương đất nước cho nên mới chấp nhận dấng thân.

Tất cả những người tranh đấu cho dân chủ nhân quyền chỉ muốn ĐCSVN thay đổi tư duy phù hợp với trào lưu văn minh của nhân loại, không ai chủ trương tiêu diệt ĐCS cả. Với thể chế đa nguyên thì sự cạnh tranh là để cùng nhau tiến bộ. Nếu đường lối của ĐCSVN được toàn dân ủng hộ trong một cuộc bầu cử tự do thì đảng vẫn có quyền lãnh đạo đất nước, cho dù ai nắm quyền thì lực lượng quân đội và công an vẫn là nồng cốt để bảo vệ đất nước và cuộc sống yên lành của người dân. Chúng tôi xin các chiến sĩ quân đội và công an đừng vì miếng cơm manh áo, danh lợi riêng tư mà tiếp tục dấng sâu vào tội lỗi.

Chủ trương của đảng đề ra là Xã hội công bằng dân chủ văn minh, nhưng thực tế xã hội có công bằng, có dân chủ và có văn minh không?

Đảng cũng tự hào là đã chiến thắng đế quốc Mỹ, Pháp hùng mạnh nhất thế giới, nhưng thực tế ngày nay nếu không có Mỹ, Pháp và các nước dân chủ đa nguyên giúp đỡ thì VN bây giờ sẽ ra sao? Hằng ngày các nhà lãnh đạo CSVN lúc nào cũng ca ngợi TQ, lúc nào cũng trung thành với 16 chữ vàng và 4 tốt, nhưng trên thực tế TQ đối với VN như thế nào thì chắc mọi người đều rõ chúng tôi khỏi cần trưng bằng chứng. Đảng cũng chủ trương một nhà nước pháp quyền, nghĩa là không ai có quyền sống trên luật pháp, nhưng thực tế lại âm thầm ký hiệp định dâng đất, dâng biển cho TQ, âm thầm cho TQ khai thác quặng bauxite ở Tây nguyên một đại dự án gây nguy hiểm đến sự mất còn của đất nước và cuộc sống của người dân, đặt quốc hội và nhân dân vào chuyện đã rồi. Khi LS Cù Huy Hà Vũ kiện thủ tướng Nguyễn tấn Dũng vi hiến thì không có toà án nào dám xử. Các quyết định mà thủ tướng Dũng ban hành như: cấm báo chí tư nhân, cấm tập họp đông người, cấm thành lập các hội đoàn độc lập đều vi phạm Điều 69 Hiến Pháp. Gần đây lại ban hành tiếp Quyết Định 97 không cho các nhà khoa học phản biện công khai, chỉ được phép gởi kiến nghị đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Vậy đây có phải là hành động sống trên luật pháp hay không?

Chúng tôi nghĩ với thể chế chính trị dân chủ đa nguyên chưa phải là tốt nhất, nhưng chắc chắn nó sẽ tốt hơn Chủ nghĩa Cộng sản rất nhiều bởi vì nó đã giới hạn tối đa quyền độc tài, độc đoán và tham nhũng của các cấp lãnh đạo chính quyền, nó cũng phát huy được sức mạnh và quyền làm chủ của nhân dân trong mọi vấn đề của đất nước, cũng như nhân tài của đất nước có đủ điều kiện để phát huy, chớ không phải như sự lãnh đạo của ĐCSVN hiện nay, chỉ có đảng viên mới được quyền lãnh đạo dù chỉ là một cơ quan thấp nhất. Lúc nào đảng cũng tự hào là được sự đồng thuận của nhân dân, nhưng tại sao lại sợ đa nguyên?.

Hiện nay phong trào đòi lại tên thành phố Sài gòn do Linh mục Nguyễn Hữu Lễ khởi xướng đang trình chiếu phim tư liệu sự thật Hồ chí Minh trên khắp thế giới, nếu ĐCSVN có bằng chứng là Linh mục Lễ vu khống thì thưa Linh mục Lễ ra toà án quốc tế, còn cứ tiếp tục im lặng hoặc phản bác vu vơ thì có nghĩa việc làm của LM Nguyễn Hữu Lễ là đúng.

Sống trên đời, con người phải chịu cái hậu quả của những việc mà mình đã làm, đó là sự công bằng của nhân- duyên- quả nhưng vì nó vô hình nên chúng ta không thấy. Marx nói: tất cả vật chất trong vũ trụ luôn luôn nguyên vẹn, không thêm mà cũng không bớt, điều này chỉ đúng một phần bởi vì, ngoài vật chất là vật hữu hình nó còn có phi vật chất là thứ mà chúng ta không nhìn thấy, nhưng nó đóng vai trò rất quan trọng cho cuộc đời của chúng ta sau này. Cái gì đã hướng dẫn cho chiếc xe đi từ nơi này đến nơi khác: đó là anh tài xế. Chiếc xe rồi có ngày nó cũng sẽ theo thời gian mà hư hoại không sử dụng được. Nếu trong lúc xe còn tốt mà anh tài xế biết dành dụm tiền thì anh sẽ mua được chiếc xe khác mới hơn, ngược lại anh sẽ không có xe để sử dụng đành phải đi bộ.

Trở lại con người, những hành động thiện và ác của ngày hôm nay sẽ quyết định cho tương lai ở mai sau. Có thể trong tiền kiếp các nhà lãnh đạo VN đã làm nhiều việc thiện cho nên ngày nay được hưởng. Nhưng nếu họ không biết tạo nhân lành để còn tiếp tục hưởng lâu dài thì sau này khi hết phước ăn năn cũng chẳng kịp. Đừng nghĩ tôn giáo là á phiện như lời nói của ông tổ Marx-Lênin, đừng nghĩ chết là hết để rồi cứ tự do làm hại người khác, bắt người khác phải đi theo những việc làm bất thiện của mình. Nhà ngoại cảm Phan thị Bích Hằng trước đây cũng xuất thân từ gia đình cán bộ đảng viên không tôn giáo, nhưng hôm nay vẫn phải vào chùa quy y theo Phật. Nhà của cựu TBT Lê khả Phiêu bây giờ vẫn thờ Phật, cựu thủ tướng Phạm văn Đồng (tác nhân ký công hàm dâng HS-TS cho TQ) sau khi về hưu đã vào chùa quy y và hàng ngày ngồi thiền theo Phật,… đó là cái thực tế quá rõ ràng. Cựu thủ tướng Võ văn Kiệt trong thời gian cuối đời đã nhìn ra được lẽ thật và đã phát biểu rằng: “đất nước này là của chung, không phải của riêng ĐCSVN,… Trước kia tôi nghĩ yêu nước là yêu xả hội chủ nghĩa, nhưng nay nghĩ lại yêu nước còn có nhiều đường,… Quản lý nhà nước mà viện vào những điều chưa hợp lý của luật pháp để truy bức dân là không có đạo lý”. Nhà ngoại giao kỳ cựu của đảng là ông Dương danh Dy trả lời với phóng viên Mặc Lâm đài RFA: “Mắt tôi đã từng thấy thế hệ cha anh bị TQ mang lòng tin ra để đánh lừa, thế hệ của tôi cũng bị TQ mang lòng tin ra để đánh lừa. Tôi hy vọng và mong rằng thế hệ sau tôi sẽ không mắc những cái nhược điểm đó nữa”.

Nhưng nếu muốn được như vậy thì chỉ có cách duy nhất là các nhà lãnh đạo CSVN chấp nhận con đường dân chủ đa nguyên để cho toàn dân có quyền tham chính, có quyền tự do định đoạt tương lai của đất nước. Cộng đồng thế giới sẽ không bao giờ bỏ rơi chúng ta. TQ dù có hung hăng đến đâu đi nữa cũng sẽ không bao giờ dám uy hiếp ta. Hãy nhìn tấm gương của đảo quốc Đài Loan trước bọn người TQ.

Các chiến sĩ quân đội và công an nên hiểu rằng quý vị là những người trực tiếp thi hành mệnh lệnh của một thiểu số người lãnh đạo trong đảng, trực tiếp mang tội với nhân dân, trực tiếp gieo nhân và trực tiếp nhận quả mà mình đã gieo.

Mọi sự vật trên thế gian này rồi cũng sẽ có ngày hư hoại, không thể trường tồn mãi mãi được. Chỉ có sự thật và sự tiến hoá của xã hội phù hợp theo thời gian mới mãi được trường tồn. Đây mới là chân lý.

Việt Nam, ngày 1/09/2009
Hương Trà cùng nhóm bạn trẻ

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Căng gu ru nhất thế giới

Ngô Nhân Dụng
Ngày Thứ Hai này người Việt ở Úc sẽ đổ về thủ đô Camberra biểu tình trước trụ sở Quốc Hội. Bà con sẽ gửi cho thủ tướng Úc một câu mà người Việt ai cũng thuộc lòng: “Ðừng nghe những gì Cộng Sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng Sản làm.” Thủ Tướng Kevin Rudd cần mang theo cẩm nang đó trong túi, lâu lâu lại mở ra coi cho khỏi quên, khi gặp ông Nông Ðức Mạnh, tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam. Ông Rudd làm thủ tướng một nước dân chủ cho nên chắc chắn ông ta phải lắng nghe tiếng nói của các công dân trong lớp tuổi đi bỏ phiếu. Cho nên xin nhờ đồng bào Việt ở Úc đưa cho ông thủ tướng của quý vị một đề nghị nữa. Trong lúc hai ông Rudd và Nông gặp nhau thế nào họ cũng trao đổi quà kỷ niệm. Bà con hãy đưa cho ông Rudd một món để nhờ tặng ông Nông, quà tặng là hình nộm một con kanguru với một chữ viết trên đó, Non! (Nhớ có dấu chấm tán thán). Non, trong tiếng Pháp đọc là Nông y như tên ông Nông Ðức Mạnh, và lại có nghĩa là Không! Ý nghĩa món quà đó là: Ðừng có bầy trò Kanguru nữa! Căng gu ru (còn gọi là đại thử) là một con vật không may mắn, bị đem tên ra để gọi những phiên tòa giả hình, bịp bợm. Ở Việt Nam chế độ công an làm chủ sắp sửa đưa các bạn Lê Công Ðịnh, Trần Huỳnh Duy Thức, Trần Kim Ánh, Lê Thăng Long và Nguyễn Tiến Trung ra tòa. Mà ai cũng biết đó sẽ là một thứ “Tòa án căng gu ru,” xử án theo lối mì ăn liền, trên bảo kết tội nào thì tuyên án đúng tội đó, trên bảo bỏ tù thì bỏ tù, bảo tha thì tha. Trong các chế độ Cộng Sản xưa và nay tòa án vẫn căng gu ru như vậy.

Luật Sư Trần Lâm là người sẽ biện hộ cho các người sắp phải ra tòa, đã nói rằng ông tin tưởng tòa án sẽ có quyền phán xử chứ không đến nỗi căng gu ru như thế đâu. Nếu đúng như lời ông thầy cãi nói thì thật là đại phước. Chỉ sợ trong cả hệ thống tư pháp căng gu ru thì từ quan tòa đến trạng sư đều căng gu ru, không ai quan tâm đến các nguyên tắc pháp lý cả!

Luật Sư Trần Lâm ca ngợi những bị cáo thân chủ của ông là những người “yêu nước,” mặc dù họ có những ý kiến khác với chính sách của nhà nước. Nói như vậy rất nguy hiểm. Vì ở tòa án thường người ta chỉ đem luật ra xử, chứ không cần biết bị cáo nhân có yêu nước, yêu nhà, yêu vợ, thương con hay không! Mà khi nói đến luật lệ thì ở trong nước Việt Nam ai nói khác, nói ngược ý kiến của đảng và nhà nước là đủ bị ghép tội “âm mưu lật đổ chính quyền của giai cấp vô sản” rồi! Ðiều 4 trong hiến pháp cho đảng Cộng Sản độc quyền “lãnh đạo nhà nước và xã hội.” Nhắc lại: Cả nhà nước lẫn xã hội, trong đó có các bạn Lê Công Ðịnh, Trần Huỳnh Duy Thức, Trần Kim Ánh, Lê Thăng Long và Nguyễn Tiến Trung. Khi các bạn dám có ý kiến khác với đảng Cộng Sản tức là các bạn “vi phạm hiến pháp,” cái tội nặng tầy đình! Cho nên quan tòa có thể sẽ đồng ý với Luật Sư Trần Lâm rằng các “bị can” có ý kiến với đảng Cộng Sản, và kết luận rằng họ đáng đi tù!

Cách tốt nhất là Luật Sư Trần Lâm nên chứng minh rằng các “bị can” trên không hề chống đảng mà còn đang theo đuổi những mục tiêu “không khác gì đảng Cộng Sản!” Chứng minh dễ lắm. Bởi vì cả cái đảng đó cũng rất căng gu ru, lúc nào cũng tuyên truyền toàn những điều hay, chuyện đẹp ca - chỉ khi làm thì làm khác thôi! Ông Trần Lâm chỉ cần tìm trong những bài diễn văn hoa mỹ của các lãnh tụ đảng từ thời 1930 đến giờ, thế nào cũng thấy những câu nói với nội dung không khác gì các bạn trẻ đang viết trên mạng lưới hoặc gửi email!

Nhưng nhớ lại những phiên tòa cũ thì chúng ta lại lo. Vì thấy có những người làm đúng các khẩu hiệu mà đảng Cộng Sản hô hào, họ cũng bị đem kết án tù. Các ông Trần Khuê, Phạm Quế Dương, Nguyễn Ðan Quế trước đây chỉ mới nêu ra ý kiến lập một hội chống tham nhũng, mà lại nói rõ là hội của họ “giúp đảng và nhà nước chống tham nhũng!” Vậy mà đảng với nhà nước không chịu, vẫn sai lính bắt, ghép cho họ tội to lớn là làm “gián điệp!’ Nhưng cuối cùng ra tòa xét xử thì đảng đổi ý kiến, bảo quan tòa đổi lại tội trạng thành “lạm dụng những quyền tự do, dân chủ.” Tòa án căng gu ru, cả hệ thống tư pháp, cả chế độ cai trị đều căng gu ru như vậy đấy! Vẫn kể lại chuyện cũ, trong phiên xử sơ thẩm nhà báo Nguyễn Vũ Bình, một đảng viên Cộng Sản muốn góp ý kiến để làm cho đảng sạch sẽ hơn, bà vợ ông nhận được giấy báo tin. Bà được mời đến một phòng xử, ngồi đợi đó với hy vọng được nhìn thấy mặt chồng. Nhưng trong lúc bà ngồi chờ như thế, phiên tòa xử chồng bà lại diễn ra ở một phòng khác! Cả hệ thống pháp luật được đem ra sử dụng để đánh lừa một phụ nữ hiền lành, không làm hại gì đến ai hết cả! Thật không có xứ nào trên thế giới mà phong cách căng gu ru đạt trình độ cao như hệ thống tư pháp nước Việt Nam! Không biết tại sao loài người lại đi lăng mạ con đại thử, tức “kangaroo,” một con vật rất dễ thương, biểu tượng của Úc Châu bằng cách đem tên nó đặt cho những tòa án bịp.

“Tòa án căng gu ru” bây giờ đã trở thành một tên quốc tế. Các nhà ngữ học Úc Châu cho biết cái tên “tòa án căng gu ru” không phải do người Úc đặt ra. Nghiên cứu kỹ càng thì biết cái tên này đã được sử dụng vào giữa thế kỷ 19, trong thời có cuộc chạy đua tìm vàng ở California! Lần đầu tiên tên gọi này được viết trên giấy là năm 1853.

Những người đi tìm vàng ở California 150 năm trước sống ở những nơi hầu như chưa có pháp luật. Nhưng họ cũng theo một thứ tinh thần công lý; khi một người bị tố cáo là chiếm chỗ đất mà người khác đã “xí phần” thì họ thường họp nhau lại đem “bị cáo” ra xử. Nhưng tòa án xử theo áp lực của đám đông hò hét, theo lối “tòa án nhân dân” chứ không cần luật lệ, không cần thủ tục, không có luật sư, cũng không cần nhân chứng.

Chúng tôi xin xác nhận mình không có ý nói xấu tất cả các vị quan tòa và các luật sư đang làm việc ở Việt Nam. Họ có thể là những người rất đáng kính trọng trong đời tư; có thể là những người chăm chỉ, hiền lành, sống trung hậu vì đã được cha mẹ dậy dỗ đàng hoàng. Nhưng họ có cái tật là đảng viên thì phải tuyệt đối trung thành với đảng Cộng Sản, chăm chắm làm đúng bổn phận với đảng, đúng như lời dậy của Hồ Chí Minh về “đạo đức cách mạng.” Ðảng là luật pháp, đảng là lương tâm. Các quan tòa được giáo dục và đào tạo như vậy thì tất nhiên sẽ xử theo lối căng gu ru! Họ phải chủ tọa các phiên tòa theo phong cách căng gu ru, đưa ra những bản án căng gu ru. Vì tất cả hệ thống pháp lý của các chế độ Cộng Sản, từ Nga Xô, Trung Quốc, Bắc Hàn cho đến Việt Nam, nó căng gu ru như thế. Khi tra cứu để hiểu chữ “kangooroo” trên mạng lưới Google, tôi đã tìm được một câu chuyện tòa án căng gu ru xẩy ra ở Việt Nam, trong một tài liệu của Cơ Quan Phát Triển Liên Hiệp Quốc. Ðây là một dịp hiếm hoi mà luật pháp Việt Nam, tòa án Việt Nam được nhắc đến làm thí dụ cho cả thế giới đọc.

Câu chuyện bắt đầu năm 1992, ở Tuyên Quang. Có hai công an mặc thường phục đi xe đụng một em bé con trai 10 tuổi. Sau đó xẩy ra một vụ ẩu đả giữa gia đình em bé và nhiều tay công an. Một người trong gia đình bị đánh ngất đi. Sáu người trong gia đình em bé bị truy tố ra tòa về tội làm mất trật tự. Họ có luật sư nhưng tòa không cho luật sư nào biện hộ. Công an đã đọc trước tòa một bản lời khai của các “nhân chứng,” các nhân chứng này không có mặt tại tòa. Gia đình nạn nhân đưa hai nhân chứng khác tới phản đối những lời khai trong bản báo cáo là sai sự thật, nhưng tòa bỏ qua. Sau đó sáu “bị can” bị phạt mỗi người ba tháng tù treo.

Trong đám sáu bị can này có một cô giáo, cô này đã đậu cử nhân luật, cô lên tiếng phản đối phiên tòa không hợp lệ. Cô bị đánh đập ngay trong phòng xử án, cho tới lúc cô cũng ngất xỉu. Tòa ra lệnh đưa cô trở lại phòng giam để thẩm vấn thêm; nhưng đêm hôm đó cô được tha, cũng chẳng biết tại sao họ lại tha.

Câu chuyện tưởng là yên, cho tới ba năm sau, 1995, cô giáo trên bị công an đến tận trường bắt. Sau đó, cô lại bị truy tố, đem ra tòa xử, và bị kết án sáu tháng tù vì cái tội ba năm trước đã lên tiếng khóc “oe oe” mất trật tự trong tòa. Cô lại “oe oe” phản đối cung cách phiên xử trái luật, vì cô đã học luật không nói không nhịn được, nhưng tòa án làm ngơ!

Câu chuyện trên, do ông Trần Ðình Hoành kể lại, được ghi vào tài liệu của UNPD, rồi được công ty Google nêu lên làm thí dụ về Tòa Án Căng Gu Ru, sẽ tạo thêm “danh giá” cho hệ thống tư pháp Việt Nam, cả thế giới phải biết đến. Nhờ có đảng lãnh đạo, dân tộc Việt Nam bốn ngàn năm văn hiến sẽ được khen ngợi là có nền tư pháp căng gu ru nhất thế giới!

Cho nên, khi ông Thủ Tướng Kevin Rudd gặp ông Nông Ðức Mạnh, bà con người Việt tại Úc hãy gửi ông ta tặng cho ông Nông một hình nộm con kanguru tiêu biểu của xứ Úc. Viết chữ “Non” trên đó, và giải thích đó là cách đọc chữ Nông theo lối quốc tế! Ðể gửi một thông điệp: Hãy ngưng ngay các phiên tòa căng gu ru!

Còn riêng ông Kevin Rudd, ông có thể vẫn tặng cho ông Nông Ðức Mạnh một hình nộm con căng gu ru nhồi bông to béo, viết một chữ “No-1” cũng to béo ai nhìn qua cũng phải thấy. Món quà tặng sẽ chính thức giải nghĩa cho ông Nông Ðức Mạnh nghe là: “Tình Thân thiện Việt-Úc là Số Một, Number One!” Nhưng giữa người Úc với nhau, giữa người Việt với nhau, chúng ta có thể hiểu thông điệp khác. Món quà này nghĩa là: “Kanguru Number One!” Tòa án của ông Nông Ðức Mạnh được bầu là căng gu ru nhất thế giới!

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Nông Đức Mạnh "Trận" Thứ Nhất

Canberra, ngày 7 tháng 9 năm 2009

Cộng Đồng Người Việt Tự Do - Úc Châu là một trong những Cộng Đồng chống Cộng hàng đầu. Quả thật không sai. Trong suốt bao năm qua, từ những sự kiện như VTV4, chương trình "Duyên Dáng Việt Nam", những khi các lãnh tụ CS bước chân đến Úc, những buổi trình diễn văn nghệ của các đoàn văn công VC, cho đến những dịp tưởng niệm ngày Quốc Hận 30 tháng 4 hàng năm, v.v., bao giờ cũng có từ hàng ngàn cho đến hàng chục ngàn người Việt yêu tự do trên khắp đất Úc đi biểu tình phản đối CSVN.

Những thành quả tốt đẹp nầy một phần nhờ vào tài năng lãnh đạo của Ban Chấp Hành Cộng Đồng Người Việt Tự Do Liên Bang Úc Châu cùng với tinh thần đấu tranh cho tự do, dân chủ của đồng hương Úc Châu đã đập tan những chiến dịch tuyên truyền hay những âm mưu gây rối, đánh phá Cộng Đồng NVTD/UC của CSVN.

Tuần qua, để phản đối hai buổi trình diễn văn nghệ "Tứ Đại Thiên Vương" của đoàn văn công Việt Cộng đến trình diễn ở Melbourne (ngày 28 và 30/08/09), CDNVTD/Vic cùng với sự hiêp lực của CDNVTD/NSW và Hội Cựu Quân Nhân NSW đã biểu tình trước Crown Casino với hơn 400 đồng hương tham dự. Trong khi đó vỏn vẹn chỉ có khoảng 100 người đi xem văn nghệ trong một hội trường có cả ngàn ghế để trống.

Sáng hôm nay, Thứ Hai ngày 7 tháng 9 năm 2009, mặc dù cái lạnh của cuối đông còn sót lại và cơn mưa xuân dai dắt, trước tiền đình Quốc Hội Liên Bang Úc Châu, hơn 800 đồng hương đến từ các tiểu bang trên khắp nước Úc để phản đối phái đoàn CSVN. Cầm đầu phái đoàn là Nông Đức Mạnh, tổng bí thư đảng CSVN, người được tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới đặt cho biệt danh là "Tên Ác Thú của Tự Do Ngôn Luận" - Press Freedom Predator (http://www. rsf.org/en- predateur1087- Nong_Duc_ Manh.html) . Bất chấp dư luận quốc tế, tên Ác Thú nầy thi hành nhiệm vụ là phải tận diệt Tự Do Báo Chí ở Việt Nam.

Trong mấy tuần qua, sự việc liên tiếp bắt bớ và giam cầm các blogger ở Việt Nam cũng không ngoài bàn tay của Nông Đức Mạnh. Xấu hổ thay CSVN quá hèn nhát, cố tâm đàn áp những người không một tấc sắt trong tay, họ chỉ dùng ngòi bút nói lên tiếng nói từ lương tâm của mình cho đất nước, cho quê hương và dân tộc.

CDNVTD/UC biểu tình hôm nay là để cực lực lên án CSVN hèn nhát dâng nạp lãnh thổ, lãnh hải cho Trung Cộng, đàn áp giáo dân các Giáo xứ Thái Hà, Tam Tòa và những nhà đấu tranh cho tự do và dân chủ trong nước, đồng thời cũng để lên án việc Thủ tướng chính phủ Úc, Kevin Rudd, tiếp đón Nông Đức Mạnh - một kẻ thù của Tự Do Ngôn Luận.

Ngày mai, ngày 8 tháng 9 năm 2009, trước Quốc Hội Tiểu Bang NSW, nơi hơn 30 ngàn Người Việt Tỵ Nạn cư ngụ và cũng là nơi có đông người Việt nhất nước Úc, Nông Đức Mạnh một lần nữa sẽ không tránh khỏi sự phản đối kịch liệt của đồng bào Sydney. Cuộc biểu tình này được dự kiến là sẽ quy mô và rầm rộ hơn.

Image

Image

[imghttp://www.take2tango.com/MyFiles/image/News/0 ... anh-04.jpg][/img]

Image

Image

[i,g]http://www.take2tango.com/MyFiles/image ... anh-05.jpg[/img]

Image

Image

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

VĂN HÓA THAM NHŨNG
Trần Khải
Khi tham nhũng trở thành một lý tưởng, làm cách nào có thể gột rửa, thanh tẩy, và bứng đi gốc rễ văn hóa cội nguồn tham nhũng? Câu hỏi này kể như bế tắc, không thể tìm giải pháp được nơi các chế độ độc tài toàn trị, vì bất kỳ tiếng nói dị biệt nào cũng sẽ bị cả guồng máy quyền lực tham nhũng vùi dập thê thảm.

Nhưng khi tham nhũng đã trở thành lý tưởng cho cả một em bé gái 6 tuổi, thì dân tộc đó sẽ hy vọng những gì nơi tương lai?

Bản tin thông tấn AFP ngày 8-9-2009 loan tin rằng một bé gái 6 tuổi được giới truyền thông Trung Quốc chú ý ngay trong ngày đầu em bé tới trường khi em bày tỏ ước mơ sẽ trở nên một “cán bộ tham nhũng” khi lớn lên.
Bé gái này tuyên bố ước mơ trên trong cuộc phỏng vấn truyền hình và đoạn phim được phóng lên một trang web miền Nam Trung Hoa, làm các nhà viết blog mô tả lời của em bé như “một phản chiếu của hiện thực xã hội,” theo tờ nhật báo Southern Metropolis Daily.

Khuôn mặt bé gái được làm mờ đi để che giấu căn cước. Bé nói, “Khi em lớn lên, em muốn làm một cán bộ.”
Người phỏng vấn hỏi, “Cán bộ thế nào em muốn làm?”
Bé trả lời, “Một cán bộ tham nhũng, vì cán bộ tham nhũng có nhiều thứ lắm.”

Nhiều trẻ em khác trong đoạn phim được hỏi cùng câu hỏi, trong đó nhiều em nói là muốn làm cô giáo, trong khi nhiều em nói là không biết nên muốn làm gì.

Bản tin AFP nói là nhiều diễn đàn liên mạng đã ca ngợi bé gái này về viễn kiến “thực tế” về cuộc đời, trong khi nhiều cư dân mạng giễu cợt về nạn tham nhũng ở Hoa Lục.

Một bình luận viết, “Chủ nghĩa xã hội đã trở thành ấn bản mới của ‘Bộ Trang Phục Mới của Hoàng Đế’ rồi.”
Một cư dân mạng khác viết: “Cái xấu xí của đời sống đã làm hỏng trẻ em rồi – làm sao chúng ta có thể giáo dục thế hệ kế tiếp?”
Nếu trường hợp này xảy ra tại Việt Nam? Có em bé Việt Nam nào mơ ước như thế không? Kể cả trong tiềm thức? Và rồi lớn lên, em bé sẽ kiếm chồng Đài Loan, Hàn Quốc, hay chịu làm vợ bé cho các cán bộ tham nhũng?

Không có gì làm mất phẩm giá phụ nữ hơn thế nữa, khi đẩy các thế hệ tương lai vào các chọn lựa bất nhân như thế.
Tuy nhiên, thực tế là nhiều thiếu nữ Việt Nam đang lâm vào cảnh như thế. Thậm chí, phải chịu về Sài Gòn, tụ họp vài chục cô để “thi hoa hậu... khoe hàng” nhằm kiếm chồng Đài Loan, Hàn Quốc.

Bản tin ABC News hôm 7-9-2009 nói lên ngay nhan đề về thực tiễn xã hội Trung Quốc, “The Return of the Chinese Concubine?” (Trở Lại Thời của Hầu Thiếp Trung Hoa?).

Trong bản tin kể về nhiều cán bộ Trung Hoa giàu xụ, trường hợp đổ bể gần nhất là Chen Shaoji, vừa mất chức cấp chỉ huy tỉnh Quảng Đông vì tham nhũng, mà bị lộ chỉ vì cô vợ bé nổi giận kể ra – cô còn là một xướng ngôn viên đaì truyền hình.

Trường hợp khác, hồi tháng 7-2009, tòa TQ kết án tử hình Chen Tonghai, chủ tịch công ty quốc doanh dầu Sinopec về tội nhận hối lộ 29 triệu Mỹ Kim. Cô vợ bé của Chen làm chủ một công ty địa ốc và có thể mua đất liên hệ tới công ty dầu Sinopec dưới giá thị trường, theo bài báo trên tờ tạp chí kinh doanh Caijing.

Làm thế nào cứu được tâm hồn thơ mộng cho các em bé? Sẽ không thể nào cứu nổi, nếu ba mẹ em phải sống trong hoàn cảnh cực khổ, vất vả kiếm sống, trong khi trước mắt là hoạt cảnh lên xe xuống ngựa huy hoàng của các cán bộ tham nhũng.

Và cũng sẽ không thể nào cứu nổi tâm hồn thơ mộng cần thiết, nếu các em bé này là con chaú cán bộ tham nhũng, khi các em sẽ bị lôi kéo vào guồng máy và phải biện hộ, bênh vực cho cơ chế.

Và cũng sẽ không thể nào cứu nổi sự trong trắng độc đáo của các nền văn hóa dân tộc – dù là tại Trung Quốc, Việt Nam, Cuba, Bắc Hàn... -- khi đã bị nhuộm bẩn bởi các chế độ độc tài toàn trị mà bất kỳ ai phản biện, nói khác đi đều sẽ bị bắt giam vì lý do an ninh. Khi nền văn hóa tham nhũng đã thay thế cho nền văn hóa dân tộc, thì bậc thang giá trị duy nhất chỉ sẽ là quyền lực và tiền thôi.

TRẦN KHẢI

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Phép lạ truyền thống Á Ðông

Ngô Nhân Dụng

Ở nước Mỹ có những nơi người ta không có thó quen khóa cửa xe khi đậu ngoài đường ban đêm. Tại Brattleborrough, tiểu bang Vertmont, khi tôi cẩn thận khóa cửa xe trước khi vào nhà, người bạn Mỹ cười: “Anh vẫn làm như ở thành phố lớn nhỉ?” Tại thị xã Dubuque, Iowa, có 100,000 dân, gia đình con gái tôi cũng không quen khóa xe khi đậu trước cửa nhà qua đêm. Ban ngày, cả nhà đi làm hoặc đi học, lúc đi cũng không khóa cửa nhà. Tất nhiên trong các thành phố lớn thì khác.

Nhưng ở Nhật Bản, thủ đô Tokyo là một thành phố lớn 26 triệu người, một ký giả Mỹ ở đó 5 năm trời, cũng ngạc nhiên vì trong xóm không ai lo nạn trộm cắp. Các con anh đi xe đạp về nhà bỏ xe trước cửa không bao giờ phải khóa. Và không bao giờ bị mất. Ðứa con gái 9 tuổi được một cô bạn Nhật rủ đi chơi sở thú, mỗi chuyến đi xe điện mất 90 phút, đổi tầu ba lần, nhưng cha mẹ cô bé người Nhật không tỏ vẻ gì lo âu. Anh coi đây là một phép lạ!

Sau những năm 1970, chúng ta thường nghe nói đến “Phép lạ kinh tế” của những con rồng nhỏ Á Ðông: Những nước Ðài Loan, Nam Hàn, Singapore và lãnh thổ Hồng Kông phát triển kinh tế nhanh chóng. Một nhà báo Mỹ đã nhìn thấy một thứ phép lạ khác: Phép lạ xã hội trong vùng đất này.

T.R. Reid đã sống nhiều năm ở Nhật Bản và đi khắp miền Ðông Châu Á. Năm 1997 có một cuộc khủng hoảng tài chánh và khủng hoảng kinh tế ở vùng này. Năm sau, Reid giúp hướng dẫn một đoàn quay phim Mỹ đi làm một phim tài liệu về ảnh hưởng của tình trạng kinh tế suy sụp trên xã hội Nhật Bản. Ði mãi, nhà sản xuất hỏi nhà báo: Ðâu? Khủng hoảng đâu? Ði tìm những nơi tụ tập người vô gia cư coi? Phải tìm ra một cảnh gia đình tan vỡ để phỏng vấn chứ? Ðoàn quay phim thất vọng.

T. R. Reid kể vào giữa thập niên 1990 anh đã chứng kiến cảnh suy sụp của thị trường chứng khoán Tokyo và bao nhiêu người phá sản vì trái bong bóng trong thị trường địa ốc cũng bể vỡ. Ba bốn năm sau kinh tế vẫn tiếp tục đi xuống, anh đã tới phỏng vấn vị tổng giám đốc cảnh sát quốc gia, để hỏi xem số người phạm pháp đã tăng lên như thế nào. Người chỉ huy cảnh sát cả nước Nhật lễ phép trả lời anh rằng số tội phạm đã giảm xuống trong 20 năm qua, và trong hai năm gần đây vẫn tiếp tục giảm. Reid giải thích rằng theo các cuộc nghiên cứu xã hội học ở Mỹ thì khi kinh tế xuống tình trạng phạm pháp, số gia đình ly dị thế nào cũng tăng, vì thế anh mới đặt câu hỏi. Ông cảnh sát trưởng chỉ biết gật đầu một cách lịch sự: “À, ra thế.”

Sau khi đi thăm các quốc gia khác trong vùng, T.R. Reid khám phá ra một phép lạ khác ngoài phép lạ kinh tế, đó là một “phép lạ xã hội” mà các dân tộc này đã thực hiện được, mà người Tây phương chưa nhìn thấy. Kinh tế không quyết định lối sống của con người trong xã hội khi đối đãi với nhau. Những số thống kê cho thấy tỷ lệ tội phạm ở nhiều thành phố Mỹ cao gấp hàng chục lần, có nơi hàng trăm lần tỷ lệ ở Tokyo. Trong những năm kinh tế khủng hoảng sau năm 1997, số người phạm pháp ở Nhật Bản, Nam Hàn và Ðài Loan, từ tội sát nhân đến trộm cắp không tăng lên. Những quốc gia này đã tạo được một nền tảng tinh thần vững chắc, từ hàng ngàn năm, nền tảng đạo đức đó không lên xuống theo chỉ số thị trường và thống kê về tổng sản lượng nội địa. Ðó là một phép lạ xã hội làm một người Tây phương kinh ngạc.

Reid nhận thấy nền tảng đạo lý truyền thống trong các nước Á Ðông này là do lối giáo dục Khổng Giáo. Vì ông hàng xóm người Nhật của anh luôn luôn giải thích các điều anh thắc mắc về cách cư xử của người Nhật bằng một câu mở đầu: “Ðức Khổng Tử nói rằng...”

Những nhà kinh tế Nhật Bản mà tôi đọc giải thích cả nền đạo lý của nước họ là do ảnh hưởng đạo Khổng, được dậy theo lối các triết gia đời Tống bên Trung Quốc. Những quy tắc sống như Lễ, Nghĩa, Liêm, Sỉ được các ông Trình, ông Chu đề cao đã tạo nên tinh thần các võ sĩ đời xưa cũng như cách hành động của các doanh nhân bây giờ. Lề lối quản trị xí nghiệp cũng như guồng máy hành chánh đều theo tinh thần Tống Nho. Nhiều tác giả Việt Nam trước đây hay trút hết mọi suy đồi trong xã hội mình vào thế kỷ 19 là do Tống Nho gây nên. Nhưng thứ Tống Nho đã gây ra tình trạng trì trệ về trí thức và ỷ lại về tinh thần đó thực ra do những Âu Dương Tu, Tư Mã Quang để lại. Ho đã củng cố chế độ nhà Tống bằng cách thiết lập một kỷ cương cho chế độ quân chủ tập quyền; họ ấn định phương pháp tuyển mộ quan lại bằng khoa cử, dần dần sinh ra bọn hủ Nho trọng khoa cử và bằng cấp, chỉ biết học thuộc lòng rồi lập lại nhưng điều học trong sách; còn trong hành động thì chỉ biết vâng lời vua quan. Chính đó là mầm mống gây nên cảnh suy đồi của giới trí thức Nho Giáo ở Trung Quốc và Việt Nam, trong nhiều thế kỷ. Người Nhật cũng theo Tống Nho nhưng không tổ chức thi cử, trọng thực tài và thực dụng, chỉ dậy nhau các đạo nghĩa sống ở đời theo “Trình Chu sự nghiệp.”

Ðến thế kỷ 20 vừa qua, hai nước Việt Nam và Trung Hoa đã thay đổi bằng cách du nhập chủ nghĩa Mác Lê Nin và đem guồng máy cai trị kiểu Stalin vào áp dụng trong việc chính trị. Những định chế thượng tầng này trong bản chất không khác gì chủ trương tôn quân và lối học từ chương nô lệ đời trước. Các chế độ Cộng Sản chỉ thay thế ông Vua bằng Ðảng. Các cán bộ, đảng viên đóng vai trò các hủ nho mới, tuyệt đối trung thành với đảng, cố học thuộc lòng các khẩu hiệu do các lãnh tụ nói ra, và không chấp nhận cho ai bất đồng ý kiến.

Cuốn sách mà Mao Trạch Ðông đọc hàng ngày không phải là sách của Karl Marx mà của Tư Mã Quang. Chế độ chính trị mà đảng Cộng Sản Trung Quốc lập ra không khác gì chế độ nhà Thanh, trừ các tên gọi. Cũng một chính quyền tập trung quyền hành, cũng một guồng máy thư lại làm tay sai cho Vua, hoặc Ðảng, và cả nước phải tôn thờ những ông thánh mới, học thuộc lòng cuốn Sách Ðỏ của Mao Chủ Tịch coi là một cuốn sách vạn năng. Nhà Nguyễn ở nước ta đã thiết lập một chế độ theo khuôn khổ nhà Thanh cai trị dân Hán. Luật Gia Long thay thế Luật Hồng Ðức cũng đề cao quân quyền; đề cao quyền của người đàn ông và giảm quyền phụ nữ; cũng ngăn cấm không cho học trò được viết những ý kiến mới dù chỉ cho bạn bè cùng đọc; cũng cấm dân không được phê bình quan lại, vân vân. Ðó là một guồng máy cai trị của một nhóm thiểu số ở Trung Quốc dùng để kiểm soát khối dân đa số. Nhưng đã được áp dụng vào nước ta từ thế kỷ 19.

Chủ nghĩa Mác Lênin gieo vào Trung Quốc gặp đúng mảnh đất đã được nhà Mãn Thanh chuẩn bị, chỉ cần hô ra những khẩu hiệu mới. Hồ Chí Minh theo đúng con đường mà Mao Trạch Ðông vạch ra; không khác gì Vua Gia Long theo Thanh triều. Hai nước cộng sản Trung Hoa và Việt Nam đả kích Khổng Giáo để thay thế ý thức hệ cũ bằng chủ nghĩa Cộng Sản. Nhưng họ học Mác Xít theo lối dậy của Stalin cho nên vẫn là lối học nô lệ cũ. Như Hồ Chí Minh thường nói với các cán bộ: Bác Stalin không thể nào nhầm được. Vì tinh thần nô lệ tư tưởng và “suy tôn Ðảng như suy tôn Vua” như vậy cho nên các chế độ Cộng Sản đã không giúp được hai dân tộc Việt Nam và Trung Hoa thoát khỏi nền nếp mà đám hủ Nho đã tạo ra trên hai quốc gia này trong các thế kỷ trước.

Trong khi đó, các nước Á Ðông khác may mắn không theo chủ nghĩa Cộng Sản và tự giải phóng khỏi những gông xiềng quá khứ. Họ không tôn thờ Nho học nữa, mà cũng không cần nhập cảng một chủ nghĩa, một lý thuyết nào thay thế Nho Giáo. Nhưng vì các quốc gia này vẫn bảo vệ truyền thống cho nên những tinh túy trong nền đạo lý cũ vẫn được cả xã hội đề cao. Lễ Nghĩa Liêm Sỉ là cách sống với mọi người. Chính nền đạo lý mà Nho Giáo đã tạo ra ở các nước Á Ðông là một nguyên nhân giúp các nước này bước vào thế kỷ 21 với sức mạnh kinh tế và niềm tự tin vào dân tộc của họ.

Ðọc cuốn sách “Ông Khổng Tử bên hàng xóm” của T.R. Reid (Confucius lives next door), thấy ký giả này thán phục khi mô tả những đức tính của người Nhật trong việc cư xử với láng giềng, trong trường học, trong sở làm, đối với người ngoại quốc, vân vân. Người đọc phải thấy là người Nhật được cha mẹ, ông bà dậy dỗ những điều chẳng khác gì người Việt Nam mình, ít nhất là trong các gia đình Việt Nam vẫn giữ lễ giáo. Mà trong tất cả các trường học ở miền Nam trước năm 1975 các thầy cô cũng dậy học sinh như vậy. Phải tôn trọng của công? Phải giữ lời hứa? Phải kính trọng người lớn tuổi? Phải hòa thuận với xóm làng? Phải lễ phép với thầy giáo, cô giáo? Phải giúp đỡ người hoạn nạn? Nếu ai đã được học Gia Huấn Ca thì đều biết đó là những quy tắc luân lý bình thường mà gia đình Việt Nam nào cũng phải dậy con cái. Hiện nay ở nước ta các gia đình có lễ giáo vẫn dậy con cái như thế, không khác gì người Nhật Bản cả. Mà hàng ngàn năm trước đây, người Việt Nam vẫn dậy con như thế. Vậy tại sao một người ngoại quốc như T.D. Reid đã thán phục xã hội Nhật Bản sống đạo đức và an hòa trong khi hiện nay chính nhiều người Việt Nam cũng nhiều lúc đau lòng vì phong hóa, đạo đức xuống dốc? Khi so sánh nước mình với các con rồng Nhật Bản, Nam Hàn, Ðài Loan, Singapore, chỉ có một điểm khác biệt lớn, là các nước đó không sống dưới một chế độ độc tài Cộng Sản như ở nước ta.

Cho nên nếu có một chế độ chính trị thích hợp, dân tộc Việt Nam vẫn có thể phục hồi được truyền thống Lễ Nghĩa Liêm Sỉ không khác gì các nước Á Ðông khác. Phải có một chế độ đề cao chữ Tín thì trẻ em đến trường học chữ Tín dễ dàng hơn. Phải xóa bỏ hệ thống tham nhũng, thì trẻ em và người lớn mới tin ở điều Thiện. Phải chấm dứt chế độ độc quyền chính trị thì những người có thiện chí và có khả năng mới được tiến lên thay thế những người chỉ quen nịnh hót và luồn lọt. Chúng ta có thể tin tưởng rằng dân tộc Việt Nam có khả năng đó.

Một điều đáng lo là nhiều người quá quan tâm đến vấn đề kinh tế, chỉ muốn bắt chước các con rồng Á Ðông trên mặt phát triển kinh tế mà quên mất mối lo về xã hội. Sức mạnh của các quốc gia đó nằm trong truyền thống đạo lý của họ, tạo nên phép lạ mà một người Mỹ phải kính trọng. Dân Việt Nam cũng có đủ các hạt giống tốt đó, chỉ cần được tưới tẩm, vun trồng trở lại mà thôi.

Sẽ có ngày người dân Việt sống ở một thị xã như Cà Mau, Hội An, Bắc Giang có thể để xe trước cửa nhà mà không cần khóa, đêm không khóa cổng cũng vẫn ngủ ngon. Người ta ra đường không lo bị trấn lột. Trẻ em biết lễ phép, làng xóm sống hòa thuận. Sẽ có ngày phép lạ xã hội cũng xuất hiện với nước ta.
Last edited by nangchieu on Fri Sep 11, 2009 3:23 am, edited 1 time in total.

Post Reply