Bình Luận Thời Sự
Đại sứ VC gian manh .
Ðại sứ Việt Cộng tại Hoa Kỳ, ông Lê Công Phụng, nặng lời chỉ trích dân biểu Cao Quang Ánh, khi ông Phụng trả lời một câu hỏi của đài BBC; ông Phụng nói:
"Chắc nhiều người mừng khi ông Joseph Cao trở thành nghị sĩ người Việt đầu tiên. Chúng tôi chưa tiếp xúc với ông ấy, cũng chưa phê phán. Nhưng tôi nghĩ thế này, đến ông Obama làm đến tổng thống thì ông ấy vẫn là người gốc Kenya.
Bà con người Việt ở đây muốn làm đến tổng thống, thủ tướng thì vẫn là người Việt. Mà nếu lại đi nói xấu Việt Nam, người nghe cũng cảm thấy mình không đứng đắn lắm".
"Chúng tôi mong muốn tất cả những người Việt có gì thì góp ý thẳng thắn với đồng bào trong nước, có gì chỉ trích thì cứ chỉ trích, nhưng không nên chống lại đồng bào mình".
"Còn hệ thống chính trị, có thể có nhiều ý kiến khác nhau, và chúng ta chấp nhận sự khác nhau để cùng tồn tại trong cộng đồng người Việt."
Chỉ nói có một câu 151 chữ mà ông Phụng đã phạm vào vô số lỗi lầm. Lỗi lầm thứ nhất là inconsistency, một lỗi cấu trúc hành văn, nếu phê phán ông trên góc cạnh biên tập. Inconsistency là bất nhất, ông Phụng bất nhất vì câu trước ông nói, "Chúng tôi chưa tiếp xúc với ông ấy, cũng chưa phê phán". Rồi ngay câu sau ông lại nói, "Bà con người Việt ở đây muốn làm đến tổng thống, thủ tướng thì vẫn là người Việt. Mà nếu lại đi nói xấu Việt Nam, người nghe cũng cảm thấy mình không đứng đắn lắm".
Ông bảo ông Ánh "không đứng đắn lắm" thì câu đó có phải là phê phán không? Ông sợ gì, sợ ai mà chối, không dám nhận là mình phê phán ông Ánh?
Nhưng ông Ánh nói gì "chạm nọc" đảng Việt Cộng đến mức ông Phụng chỉ trích ông Ánh là "không đứng đắn lắm"? Ông Ánh chỉ tuyên bố một điều mà mọi người Việt Nam hải ngoại và quốc nội đều đồng ý là cần bắt nhốt Việt Cộng trở vào cũi CPC.
Chỉ phê bình ông Phụng về cái lỗi cấu trúc hành văn, tôi tự cho mình là đã nhân nhượng lắm với ông đại sứ Việt Cộng, đối tượng xét ra không nên nhân nhượng.
Phê bình trên góc cạnh nhân sinh quan, cái lỗi bất nhất của ông Phụng, có thể được ngôn từ dân gian mô tả là "ăn đằng sóng, nói đằng gió", hay ăn nói tráo trở.
Một lỗi nhỏ khác là danh xưng: ông Ánh không là nghị sĩ, mà là dân biểu; lỗi lầm khác nữa, lớn hơn, nằm trong câu "Chắc nhiều người mừng khi ông Joseph Cao trở thành nghị sĩ người Việt đầu tiên", câu này hàm chứa đôi chút ganh ghét đối với "nhiều người" Việt mừng ông Ánh, và chắc chắn trong số "nhiều người" Việt này không có Lê Công Phụng.
Lý do khiến nhiều người mừng ông Ánh, một người Việt Nam đắc cử vào hạ viện liên bang, vì họ là người Việt Nam; ông Phụng không mừng mà còn chỉ trích những người mừng ông Ánh vì ông Phụng không phải là người Việt Nam, mà là người Việt Cộng, những người cũng có máu mủ Việt Nam nhưng lạc giống.
Ông Phụng còn lấy thí dụ Obama ra để "ngụ ngôn" người Việt Nam trong câu, "Nhưng tôi nghĩ thế này, đến ông Obama làm đến tổng thống thì ông ấy vẫn là người gốc Kenya"; nói hươu, nói vượn, nhưng ông Phụng vẫn chỉ nói quanh, ví von, thí dụ lẩm cẩm. Thử đặt giả thuyết một cuộc binh biến tại Kenya đưa một bọn du côn, chuyên cướp của, giết người, phá nhà thờ, phá chùa, hành hạ, giam giữ nhà tu, lên nắm chính quyền Kenya thì liệu ông Obama, gốc người Kenya có ủng hộ bọn du côn này không.
Một câu nói nhảm nữa là, "Chúng tôi mong muốn tất cả những người Việt có gì thì góp ý thẳng thắn với đồng bào trong nước, có gì chỉ trích thì cứ chỉ trích, nhưng không nên chống lại đồng bào mình".
Chưa bao giờ người Việt hải ngoại chống lại "đồng bào trong nước", 4 chữ bị ông Phụng đánh lộn sòng để tự nhận ông là đồng bào của chúng tôi. Ông muốn chúng tôi coi ông như đại sứ Việt Nam, trong lúc thật sự ông chỉ là đại sứ Việt Cộng, đại diện cho một chính quyền đảng cướp, không do bất cứ một cử tri Việt Nam nào bầu ra cả.
Tôi thách thức ông Phụng làm một cuộc thử nghiệm để tìm xem ông là đại sứ Việt Nam hay là đại sứ Việt Cộng: mời ông xuống Houston đi ăn bún chả Canvas với tôi để xem thái độ của người Việt Nam đối với ông như thế nào. Chỉ cần nhận lời tôi mời cũng đủ chứng tỏ ông bản lãnh hơn ông Nguyễn Tấn Dũng nhiều lắm.
Hơn ở chỗ ông Dũng tuy tên là Dũng mà chẳng dũng tí nào, trái lại rất hèn. Đã đến Houston, nơi có trăm rưởi ngàn người Việt Nam sinh sống mà không dám đến thăm người Việt Nam, cũng không dám lú ra cửa sổ khách sạn vẫy tay chào mừng hàng chục ngàn người kéo đến cổng khách sạn dàn chào ông; trong lúc ông tên Công Phụng múa như công, như phụng, dù không múa khoe mã, khoe lông mà múa lưỡi để khoe tài nói lảm nhảm, không đâu vào đâu cả.
Nguyễn Ðạt Thịnh
Ðại sứ Việt Cộng tại Hoa Kỳ, ông Lê Công Phụng, nặng lời chỉ trích dân biểu Cao Quang Ánh, khi ông Phụng trả lời một câu hỏi của đài BBC; ông Phụng nói:
"Chắc nhiều người mừng khi ông Joseph Cao trở thành nghị sĩ người Việt đầu tiên. Chúng tôi chưa tiếp xúc với ông ấy, cũng chưa phê phán. Nhưng tôi nghĩ thế này, đến ông Obama làm đến tổng thống thì ông ấy vẫn là người gốc Kenya.
Bà con người Việt ở đây muốn làm đến tổng thống, thủ tướng thì vẫn là người Việt. Mà nếu lại đi nói xấu Việt Nam, người nghe cũng cảm thấy mình không đứng đắn lắm".
"Chúng tôi mong muốn tất cả những người Việt có gì thì góp ý thẳng thắn với đồng bào trong nước, có gì chỉ trích thì cứ chỉ trích, nhưng không nên chống lại đồng bào mình".
"Còn hệ thống chính trị, có thể có nhiều ý kiến khác nhau, và chúng ta chấp nhận sự khác nhau để cùng tồn tại trong cộng đồng người Việt."
Chỉ nói có một câu 151 chữ mà ông Phụng đã phạm vào vô số lỗi lầm. Lỗi lầm thứ nhất là inconsistency, một lỗi cấu trúc hành văn, nếu phê phán ông trên góc cạnh biên tập. Inconsistency là bất nhất, ông Phụng bất nhất vì câu trước ông nói, "Chúng tôi chưa tiếp xúc với ông ấy, cũng chưa phê phán". Rồi ngay câu sau ông lại nói, "Bà con người Việt ở đây muốn làm đến tổng thống, thủ tướng thì vẫn là người Việt. Mà nếu lại đi nói xấu Việt Nam, người nghe cũng cảm thấy mình không đứng đắn lắm".
Ông bảo ông Ánh "không đứng đắn lắm" thì câu đó có phải là phê phán không? Ông sợ gì, sợ ai mà chối, không dám nhận là mình phê phán ông Ánh?
Nhưng ông Ánh nói gì "chạm nọc" đảng Việt Cộng đến mức ông Phụng chỉ trích ông Ánh là "không đứng đắn lắm"? Ông Ánh chỉ tuyên bố một điều mà mọi người Việt Nam hải ngoại và quốc nội đều đồng ý là cần bắt nhốt Việt Cộng trở vào cũi CPC.
Chỉ phê bình ông Phụng về cái lỗi cấu trúc hành văn, tôi tự cho mình là đã nhân nhượng lắm với ông đại sứ Việt Cộng, đối tượng xét ra không nên nhân nhượng.
Phê bình trên góc cạnh nhân sinh quan, cái lỗi bất nhất của ông Phụng, có thể được ngôn từ dân gian mô tả là "ăn đằng sóng, nói đằng gió", hay ăn nói tráo trở.
Một lỗi nhỏ khác là danh xưng: ông Ánh không là nghị sĩ, mà là dân biểu; lỗi lầm khác nữa, lớn hơn, nằm trong câu "Chắc nhiều người mừng khi ông Joseph Cao trở thành nghị sĩ người Việt đầu tiên", câu này hàm chứa đôi chút ganh ghét đối với "nhiều người" Việt mừng ông Ánh, và chắc chắn trong số "nhiều người" Việt này không có Lê Công Phụng.
Lý do khiến nhiều người mừng ông Ánh, một người Việt Nam đắc cử vào hạ viện liên bang, vì họ là người Việt Nam; ông Phụng không mừng mà còn chỉ trích những người mừng ông Ánh vì ông Phụng không phải là người Việt Nam, mà là người Việt Cộng, những người cũng có máu mủ Việt Nam nhưng lạc giống.
Ông Phụng còn lấy thí dụ Obama ra để "ngụ ngôn" người Việt Nam trong câu, "Nhưng tôi nghĩ thế này, đến ông Obama làm đến tổng thống thì ông ấy vẫn là người gốc Kenya"; nói hươu, nói vượn, nhưng ông Phụng vẫn chỉ nói quanh, ví von, thí dụ lẩm cẩm. Thử đặt giả thuyết một cuộc binh biến tại Kenya đưa một bọn du côn, chuyên cướp của, giết người, phá nhà thờ, phá chùa, hành hạ, giam giữ nhà tu, lên nắm chính quyền Kenya thì liệu ông Obama, gốc người Kenya có ủng hộ bọn du côn này không.
Một câu nói nhảm nữa là, "Chúng tôi mong muốn tất cả những người Việt có gì thì góp ý thẳng thắn với đồng bào trong nước, có gì chỉ trích thì cứ chỉ trích, nhưng không nên chống lại đồng bào mình".
Chưa bao giờ người Việt hải ngoại chống lại "đồng bào trong nước", 4 chữ bị ông Phụng đánh lộn sòng để tự nhận ông là đồng bào của chúng tôi. Ông muốn chúng tôi coi ông như đại sứ Việt Nam, trong lúc thật sự ông chỉ là đại sứ Việt Cộng, đại diện cho một chính quyền đảng cướp, không do bất cứ một cử tri Việt Nam nào bầu ra cả.
Tôi thách thức ông Phụng làm một cuộc thử nghiệm để tìm xem ông là đại sứ Việt Nam hay là đại sứ Việt Cộng: mời ông xuống Houston đi ăn bún chả Canvas với tôi để xem thái độ của người Việt Nam đối với ông như thế nào. Chỉ cần nhận lời tôi mời cũng đủ chứng tỏ ông bản lãnh hơn ông Nguyễn Tấn Dũng nhiều lắm.
Hơn ở chỗ ông Dũng tuy tên là Dũng mà chẳng dũng tí nào, trái lại rất hèn. Đã đến Houston, nơi có trăm rưởi ngàn người Việt Nam sinh sống mà không dám đến thăm người Việt Nam, cũng không dám lú ra cửa sổ khách sạn vẫy tay chào mừng hàng chục ngàn người kéo đến cổng khách sạn dàn chào ông; trong lúc ông tên Công Phụng múa như công, như phụng, dù không múa khoe mã, khoe lông mà múa lưỡi để khoe tài nói lảm nhảm, không đâu vào đâu cả.
Nguyễn Ðạt Thịnh
Ai cũng có một thời tuổi trẻ
Ngô Nhân Dụng
Những trận bão đổ vào miền Trung Việt Nam khiến khắp nơi lại kêu gọi nhau cứu giúp các đồng bào lâm nạn. Chúng tôi lại nhớ trận bão lụt năm Thìn, 1964. Tháng Mười năm đó, báo chí loan tin bão lụt làm hàng chục ngàn đồng bào mất nhà cửa, không đủ thức ăn; nhiều thanh niên, sinh viên đã tự động họp lại bàn chuyện “cứu lụt.” Họ thuộc nhiều đoàn thể, như nam và nữ Hướng Ðạo, thanh niên, sinh viên Phật tử, thanh niên, sinh viên Công Giáo, thanh niên thiện chí, các hội sinh viên ở Văn Khoa, Khoa học, trường Kỹ Thuật Phú Thọ, học sinh Cao Thắng, vân vân. Nhưng khi họp nhau thành lập một tổ chức tạm thời lo việc cứu trợ họ không cần xin phép đoàn thể của họ. Họ cũng không cần phải xin phép chính quyền, lúc đó cụ Phan Khắc Sửu là quốc trưởng. Phong trào “cứu lụt” này chỉ kéo dài trong mấy tháng rồi giải tán, nhưng đã gửi được nhiều đoàn sinh viên, học sinh ra miền Trung đem theo quần áo, chăn mền, thực phẩm và tiền quyên góp được ở Sài Gòn và các thành phố lớn đến tận tay các nạn nhân.
Khi phong trào khởi lên, các báo đài đều loan tin. Sinh viên, học sinh tự động đến ghi tên tham dự. Chính quyền lúc đó không nghi ngờ, không ngăn cản mà còn khuyến khích bằng cách giúp đỡ phương tiện di chuyển. Cụ Phan Khắc Sửu và ông Bộ Tr ưởng Phan Quang Ðán cho mở kho của Bộ Xã Hội, nhờ các thanh niên đem phẩm vật đến tận tay đồng bào, họ biết đường dây đó nhanh chóng hơn guồng máy của nhà nước và không lo bị mất mát. Mỗi đoàn thanh niên từ 50 đến 100 người gồm đủ sinh viên, học sinh các trường, được Bộ Giáo Dục cho nghỉ học, các giáo sư được nghỉ dậy để tham dự việc nghĩa trong hai, ba tuần.
Công tác xã hội đó là một kinh nghiệm sống quý báu cho giới trẻ. Vì họ có dịp chứng kiến những người bị hoạn nạn và mở rộng đức từ bi, chứng kiến cảnh chiến tranh mà trước đó họ chỉ đọc tin tức trên báo chí. Nhờ thế mà họ sống thật trong tình yêu nước thương nòi, thêm ý thức về trách nhiệm của mình đối với đất nước, và nuôi dưỡng lý tưởng phục vụ suốt cuộc đời của họ.
“Ai cũng có một thời trai trẻ,” đó là một câu thơ của một bạn trẻ viết vào thời 1960, 70. Thế hệ lớn lên trong thời đó rất dễ nẩy sinh lòng nhiệt thành muốn phục vụ xã hội chung quanh. Phải nói năm 1964 mở đầu một phong trào thanh niên ở miền Nam Việt Nam, nhờ chính quyền mới cho người dân được tự do hơn. Trong mấy năm sau đó xã hội công dân ở miền Nam phát triển mạnh vì chính quyền tin tưởng vào đám thanh niên có thiện chí. Bao nhiêu đoàn thể trẻ ra đời, một phần phát xuất từ các tôn giáo nhưng đa số là những nhóm người tự nguyện tự động họp nhau. Cứ 10 người, 20 người trẻ họp lại là có thể thành lập một tổ chức, xin Bộ Thanh Niên công nhận và được Bộ Nội Vụ cho phép. Từ đó họ phát triển thành những đoàn thể hàng trăm, hàng ngàn người, từ các thành phố lớn lan ra các tỉnh, quận. Tất cả đều nêu cao lý tưởng phục vụ xã hội, giúp đỡ đồng bào. Chính phủ miền Nam có lúc cũng tổ chức những đoàn thể thanh niên để chi phối hoặc hướng dẫn nhưng không thành công như các tổ chức tự do và tự nguyện của tư nhân. Sau năm 1971 thì phong trào này bớt mạnh vì áp lực của chiến tranh khiến các sinh viên, học sinh phải lo học nhiều hơn, nhiều người phải gia nhập quân đội, và nhiều thanh niên khác được lôi cuốn vào những phong trào chính trị hơn là xã hội.
Nhưng trong khoảng 5, 6 năm từ 1964 trở đi, tuổi trẻ ở miền Nam đã sống những ngày rất đẹp nhờ tự do hoạt động. Các thanh niên, sinh viên họp nhau để hội thảo. Các sinh viên, học sinh họp nhau để làm công tác giúp ích. Các đoàn thể tự nguyện không có cách nào khác là phải sống theo các quy tắc tự do dân chủ, vì thanh niên không thể chấp nhận cách nào khác. Trong khi làm các công việc cụ thể, họ rèn luyện bản thân, họ nuôi dưỡng lý tưởng. Các bạn trẻ này đã trở thành những hạt giống để phát sinh một xã hội công dân năng động, là nền tảng của mọi chế độ dân chủ. Không có một trường học dân chủ nào hữu hiệu bằng các sinh hoạt thanh niên tự do, tự nguyện.
Khi nói đến xây dựng chế độ dân chủ tự do người ta thường nghĩ đến việc thiết lập một bản hiến pháp mới, xây dựng các định chế, lập ra một chính quyền mới, vân vân. Nhưng một chế độ dân chủ có bền vững hay không là do xã hội công dân có đủ mạnh hay không. Khi các công dân một nước, trong từng khu phố, từng làng xóm biết tự động, tự nguyện họp nhau cùng thảo luận và tìm cách giải quyết các nhu cầu chung, không cần đợi chính quyền kêu gọi hoặc ra lệnh, khi đó họ đang sống tự do dân chủ và xây dựng dân chủ. Thói quen đó được huân tập lâu ngày cho thêm bền chặt, thì nền dân chủ sẽ bền vững. Ngày xưa Phan Châu Trinh khuyên dân ta phải bồi bổ dân trí, phải nâng cao dân khí. Phương pháp bồi bổ và nâng cao không gì bằng phát triển xã hội công dân (civil society). Trong nước hiện giờ hay dịch là “xã hội dân sự,” một từ ngữ không diễn tả đầy đủ ý nghĩa của vai trò các công dân tự do, tự nguyện, độc lập và ngang hàng với chính quyền. Trong đảng Cộng Sản Việt Nam cũng đang bàn đến nhu cầu phát triển xã hội dân sự. Nhưng một “xã hội dân sự” do chính quyền tổ chức theo nhu cầu của họ, mà không do các công dân tự nguyện đứng ra làm lấy, thì không phải là “xã hội công dân.” Vì vậy cần phải chính danh trước.
Năm 1964 đánh dấu một thời kỳ giới trẻ ở miền Nam Việt Nam phát triển thành những đoàn thể tự nguyện với lý tưởng phục vụ. Giống như mặt đất bước vào Mùa Xuân, không khí thay đổi trong xã hội thời đó tạo cơ hội cho bao nhiêu thanh niên có dịp sống cuộc đời có ý nghĩa.
Tuần trước, một nhóm anh em cùng hoạt động trong thời gian đó mới họp mặt với nhau ở Thiền Viện Tánh Không, miền Nam California. Ðó là những người đã khởi xướng và hoạt động trong phong trào Thanh Niên Chí Nguyện, thành lập năm 1964. Vị trụ trì thiền viện, thầy Thông Triệt trước khi xuất gia cũng là một Thanh Niên Chí Nguyện, mà nhóm này do anh Trần Ngọc Báu, một bạn cựu chủ tịch Sinh Viên Công Giáo khởi xướng cùng các thanh niên thiện chí khác. Các thanh niên chí nguyện đã huấn luyện được khoảng 300 thanh niên, gởi đi tới các làng thôn hẻo lánh để sống chung và phục vụ đồng bào trong thời gian từng 6 tháng một. Các thanh niên, sinh viên này giúp đồng bào cải thiện về y tế, vệ sinh. Họ mở lớp dậy học và dậy con em trong làng về cách cư xử có đạo lý trong gia đình, trong xã hội. Họ giúp đồng bào sửa sang đường sá, trường học, chợ, cải thiện kỹ thuật canh nông. Ngày nay đã ở tuổi giữa Ðiêu và 80, những thanh niên chí nguyện này gặp nhau vẫn công nhận họ đã dùng tuổi trẻ của mình vào những việc hữu ích. Ðiều đáng tiếc cho phong trào này là sau thời gian công tác ở mỗi làng, họ không thiết lập được những cơ cấu tại chỗ để tiếp tục công việc đang làm. Là Khai dân trí, Hưng dân khí như Phan Châu Trinh đã kêu gọi từ đầu thế kỷ 20.
Cùng thời gian đó, một tổ chức khác phát xuất từ Viện Cao Ðẳng Phật Học là trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội được Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất thành lập, cũng theo đuổi các mục tiêu trên. Ðiểm đặc biệt là các tác viên Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội đến mỗi làng đều ở một thời gian nhiều năm, lần lượt thay phiên nhau giúp đồng bào phát triển về y tế, giáo dục, kinh tế và tổ chức cuộc sống chung với tính cách các công dân, không cần chờ chính quyền giúp đỡ hoặc ra lệnh chỉ huy. Những hạt giống của xã hội công dân được gieo rắc những năm đó ngày nay vẫn còn tiếp tục sống, nhiều tác viên Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội vẫn âm thầm hoạt động phục vụ dù không còn được tập họp trong một tổ chức nào nữa. Vì khi một thanh niên đã quyết định dùng cuộc đời của mình cho có ích thì lý tưởng đó không bao giờ mất.
Thanh Niên Chí Nguyện và Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội chỉ là hai thí dụ trong rất nhiều nỗ lực của thanh niên, sinh viên, học sinh trong thập niên 1960-70 cùng ý thức về nhu cầu phục vụ và quyết tâm theo đuổi lý tưởng giúp ích đồng bào. Có những Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội đã phải sống ba tháng trong một làng mới thuyết phục được đồng bào đào hố cầu tiêu ở mỗi nhà để sống theo lối mới. Có những Thanh Niên Chí Nguyện là sinh viên con nhà giầu ở Sài Gòn đã xung phong làm việc dọn cầu tiêu công cộng trong trại tị nạn để làm gương cho đồng bào ý thức bổn phận giữ vệ sinh chung. Người ta có thể hăng hái và bền chí, nhẫn nại như vậy, vì các bạn trẻ này biết họ đang sống một cuộc sống có ý nghĩa, có lý tưởng, một cuộc đời rất đẹp, đáng sống!
Trong tuần này, chính quyền Cộng Sản sắp đưa một số nhà trí thức trẻ ra tòa. Họ cũng là những thanh niên khát khao sống với lý tưởng, và họ đã chọn con đường đấu tranh cho tự do dân chủ. Bao nhiêu thanh niên khác đang cần được tự do để được sống có ý nghĩa.
Ngay bây giờ ở trong nước ta có hàng triệu thanh niên, sinh viên, và học sinh đang muốn sống cuộc đời có lý tưởng, có ý nghĩa. Dù không được phép chính thức, các đoàn thể như Hướng Ðạo, Gia Ðình Phật Tử, các đoàn thể thanh niên Công Giáo đã hoạt động trở lại. Họ cũng nuôi dưỡng lý tưởng phục vụ. Trong mấy năm vừa qua khi các thiền sinh ở Tu Viện Bát Nhã mở những khóa tu tập cuối tuần, những ngày quán niệm, có hàng ngàn thanh niên, sinh viên, học sinh từ các thành phố đã kéo về tham dự. Tới đó, họ biết thế nào là sống an lạc, hạnh phúc, và họ muốn chọn một đời sống có ý nghĩa.
Chỉ có một điều kiện hiện nay còn thiếu là giới trẻ ở Việt Nam không được hưởng không khí tự do của thời 1964 như chúng tôi đã trải qua. Mà vì thế, xã hội công dân cũng không được phát triển tự do nữa. Nhưng chúng ta biết thanh niên Việt Nam không muốn sống cuộc đời vô vị, kể cả con cái của các đại gia. Họ đều không muốn bê tha trà đình tửu điếm, không muốn sa vào cái bẫy ma túy, nếu có cơ hội nuôi dưỡng lý tưởng vị tha. Ai cũng có một thời tuổi trẻ, và không ai muốn bỏ phí. Chỉ nhìn vào cuộc sống của các thiền sinh Bát Nhã trong những ngày hoạn nạn vừa qua. Họ là những người mới biết và tu tập đạo Phật trong vòng mấy năm! Nhìn họ không sợ hãi, không chán nản, chúng ta có thể tin vào chí khí cao thượng, khát khao sống lý tưởng của tuổi trẻ Việt Nam. Họ là một biểu tượng cho niềm tự hào và niềm hy vọng cho dân tộc.
Cho nên bây giờ khi chúng ta đòi cho người Việt Nam được sống tự do, trước hết phải đòi cho các thanh niên, sinh viên, học sinh được tự do sống có lý tưởng, được tự do phục vụ đồng bào. Như các bạn trẻ Bát Nhã chứng tỏ, tuổi trẻ Việt Nam là một kho tàng chưa được dùng để phục vụ đất nước. Chỉ cần được tự do tập họp và tự do phục vụ, họ cũng sẽ trở thành những viên đá xây dựng xã hội công dân làm nền tảng cho chế độ tự do dân chủ trong tương lai. Nếu không, một thế hệ thanh niên nữa sẽ bị phí phạm.
Ngô Nhân Dụng
Những trận bão đổ vào miền Trung Việt Nam khiến khắp nơi lại kêu gọi nhau cứu giúp các đồng bào lâm nạn. Chúng tôi lại nhớ trận bão lụt năm Thìn, 1964. Tháng Mười năm đó, báo chí loan tin bão lụt làm hàng chục ngàn đồng bào mất nhà cửa, không đủ thức ăn; nhiều thanh niên, sinh viên đã tự động họp lại bàn chuyện “cứu lụt.” Họ thuộc nhiều đoàn thể, như nam và nữ Hướng Ðạo, thanh niên, sinh viên Phật tử, thanh niên, sinh viên Công Giáo, thanh niên thiện chí, các hội sinh viên ở Văn Khoa, Khoa học, trường Kỹ Thuật Phú Thọ, học sinh Cao Thắng, vân vân. Nhưng khi họp nhau thành lập một tổ chức tạm thời lo việc cứu trợ họ không cần xin phép đoàn thể của họ. Họ cũng không cần phải xin phép chính quyền, lúc đó cụ Phan Khắc Sửu là quốc trưởng. Phong trào “cứu lụt” này chỉ kéo dài trong mấy tháng rồi giải tán, nhưng đã gửi được nhiều đoàn sinh viên, học sinh ra miền Trung đem theo quần áo, chăn mền, thực phẩm và tiền quyên góp được ở Sài Gòn và các thành phố lớn đến tận tay các nạn nhân.
Khi phong trào khởi lên, các báo đài đều loan tin. Sinh viên, học sinh tự động đến ghi tên tham dự. Chính quyền lúc đó không nghi ngờ, không ngăn cản mà còn khuyến khích bằng cách giúp đỡ phương tiện di chuyển. Cụ Phan Khắc Sửu và ông Bộ Tr ưởng Phan Quang Ðán cho mở kho của Bộ Xã Hội, nhờ các thanh niên đem phẩm vật đến tận tay đồng bào, họ biết đường dây đó nhanh chóng hơn guồng máy của nhà nước và không lo bị mất mát. Mỗi đoàn thanh niên từ 50 đến 100 người gồm đủ sinh viên, học sinh các trường, được Bộ Giáo Dục cho nghỉ học, các giáo sư được nghỉ dậy để tham dự việc nghĩa trong hai, ba tuần.
Công tác xã hội đó là một kinh nghiệm sống quý báu cho giới trẻ. Vì họ có dịp chứng kiến những người bị hoạn nạn và mở rộng đức từ bi, chứng kiến cảnh chiến tranh mà trước đó họ chỉ đọc tin tức trên báo chí. Nhờ thế mà họ sống thật trong tình yêu nước thương nòi, thêm ý thức về trách nhiệm của mình đối với đất nước, và nuôi dưỡng lý tưởng phục vụ suốt cuộc đời của họ.
“Ai cũng có một thời trai trẻ,” đó là một câu thơ của một bạn trẻ viết vào thời 1960, 70. Thế hệ lớn lên trong thời đó rất dễ nẩy sinh lòng nhiệt thành muốn phục vụ xã hội chung quanh. Phải nói năm 1964 mở đầu một phong trào thanh niên ở miền Nam Việt Nam, nhờ chính quyền mới cho người dân được tự do hơn. Trong mấy năm sau đó xã hội công dân ở miền Nam phát triển mạnh vì chính quyền tin tưởng vào đám thanh niên có thiện chí. Bao nhiêu đoàn thể trẻ ra đời, một phần phát xuất từ các tôn giáo nhưng đa số là những nhóm người tự nguyện tự động họp nhau. Cứ 10 người, 20 người trẻ họp lại là có thể thành lập một tổ chức, xin Bộ Thanh Niên công nhận và được Bộ Nội Vụ cho phép. Từ đó họ phát triển thành những đoàn thể hàng trăm, hàng ngàn người, từ các thành phố lớn lan ra các tỉnh, quận. Tất cả đều nêu cao lý tưởng phục vụ xã hội, giúp đỡ đồng bào. Chính phủ miền Nam có lúc cũng tổ chức những đoàn thể thanh niên để chi phối hoặc hướng dẫn nhưng không thành công như các tổ chức tự do và tự nguyện của tư nhân. Sau năm 1971 thì phong trào này bớt mạnh vì áp lực của chiến tranh khiến các sinh viên, học sinh phải lo học nhiều hơn, nhiều người phải gia nhập quân đội, và nhiều thanh niên khác được lôi cuốn vào những phong trào chính trị hơn là xã hội.
Nhưng trong khoảng 5, 6 năm từ 1964 trở đi, tuổi trẻ ở miền Nam đã sống những ngày rất đẹp nhờ tự do hoạt động. Các thanh niên, sinh viên họp nhau để hội thảo. Các sinh viên, học sinh họp nhau để làm công tác giúp ích. Các đoàn thể tự nguyện không có cách nào khác là phải sống theo các quy tắc tự do dân chủ, vì thanh niên không thể chấp nhận cách nào khác. Trong khi làm các công việc cụ thể, họ rèn luyện bản thân, họ nuôi dưỡng lý tưởng. Các bạn trẻ này đã trở thành những hạt giống để phát sinh một xã hội công dân năng động, là nền tảng của mọi chế độ dân chủ. Không có một trường học dân chủ nào hữu hiệu bằng các sinh hoạt thanh niên tự do, tự nguyện.
Khi nói đến xây dựng chế độ dân chủ tự do người ta thường nghĩ đến việc thiết lập một bản hiến pháp mới, xây dựng các định chế, lập ra một chính quyền mới, vân vân. Nhưng một chế độ dân chủ có bền vững hay không là do xã hội công dân có đủ mạnh hay không. Khi các công dân một nước, trong từng khu phố, từng làng xóm biết tự động, tự nguyện họp nhau cùng thảo luận và tìm cách giải quyết các nhu cầu chung, không cần đợi chính quyền kêu gọi hoặc ra lệnh, khi đó họ đang sống tự do dân chủ và xây dựng dân chủ. Thói quen đó được huân tập lâu ngày cho thêm bền chặt, thì nền dân chủ sẽ bền vững. Ngày xưa Phan Châu Trinh khuyên dân ta phải bồi bổ dân trí, phải nâng cao dân khí. Phương pháp bồi bổ và nâng cao không gì bằng phát triển xã hội công dân (civil society). Trong nước hiện giờ hay dịch là “xã hội dân sự,” một từ ngữ không diễn tả đầy đủ ý nghĩa của vai trò các công dân tự do, tự nguyện, độc lập và ngang hàng với chính quyền. Trong đảng Cộng Sản Việt Nam cũng đang bàn đến nhu cầu phát triển xã hội dân sự. Nhưng một “xã hội dân sự” do chính quyền tổ chức theo nhu cầu của họ, mà không do các công dân tự nguyện đứng ra làm lấy, thì không phải là “xã hội công dân.” Vì vậy cần phải chính danh trước.
Năm 1964 đánh dấu một thời kỳ giới trẻ ở miền Nam Việt Nam phát triển thành những đoàn thể tự nguyện với lý tưởng phục vụ. Giống như mặt đất bước vào Mùa Xuân, không khí thay đổi trong xã hội thời đó tạo cơ hội cho bao nhiêu thanh niên có dịp sống cuộc đời có ý nghĩa.
Tuần trước, một nhóm anh em cùng hoạt động trong thời gian đó mới họp mặt với nhau ở Thiền Viện Tánh Không, miền Nam California. Ðó là những người đã khởi xướng và hoạt động trong phong trào Thanh Niên Chí Nguyện, thành lập năm 1964. Vị trụ trì thiền viện, thầy Thông Triệt trước khi xuất gia cũng là một Thanh Niên Chí Nguyện, mà nhóm này do anh Trần Ngọc Báu, một bạn cựu chủ tịch Sinh Viên Công Giáo khởi xướng cùng các thanh niên thiện chí khác. Các thanh niên chí nguyện đã huấn luyện được khoảng 300 thanh niên, gởi đi tới các làng thôn hẻo lánh để sống chung và phục vụ đồng bào trong thời gian từng 6 tháng một. Các thanh niên, sinh viên này giúp đồng bào cải thiện về y tế, vệ sinh. Họ mở lớp dậy học và dậy con em trong làng về cách cư xử có đạo lý trong gia đình, trong xã hội. Họ giúp đồng bào sửa sang đường sá, trường học, chợ, cải thiện kỹ thuật canh nông. Ngày nay đã ở tuổi giữa Ðiêu và 80, những thanh niên chí nguyện này gặp nhau vẫn công nhận họ đã dùng tuổi trẻ của mình vào những việc hữu ích. Ðiều đáng tiếc cho phong trào này là sau thời gian công tác ở mỗi làng, họ không thiết lập được những cơ cấu tại chỗ để tiếp tục công việc đang làm. Là Khai dân trí, Hưng dân khí như Phan Châu Trinh đã kêu gọi từ đầu thế kỷ 20.
Cùng thời gian đó, một tổ chức khác phát xuất từ Viện Cao Ðẳng Phật Học là trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội được Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất thành lập, cũng theo đuổi các mục tiêu trên. Ðiểm đặc biệt là các tác viên Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội đến mỗi làng đều ở một thời gian nhiều năm, lần lượt thay phiên nhau giúp đồng bào phát triển về y tế, giáo dục, kinh tế và tổ chức cuộc sống chung với tính cách các công dân, không cần chờ chính quyền giúp đỡ hoặc ra lệnh chỉ huy. Những hạt giống của xã hội công dân được gieo rắc những năm đó ngày nay vẫn còn tiếp tục sống, nhiều tác viên Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội vẫn âm thầm hoạt động phục vụ dù không còn được tập họp trong một tổ chức nào nữa. Vì khi một thanh niên đã quyết định dùng cuộc đời của mình cho có ích thì lý tưởng đó không bao giờ mất.
Thanh Niên Chí Nguyện và Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội chỉ là hai thí dụ trong rất nhiều nỗ lực của thanh niên, sinh viên, học sinh trong thập niên 1960-70 cùng ý thức về nhu cầu phục vụ và quyết tâm theo đuổi lý tưởng giúp ích đồng bào. Có những Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội đã phải sống ba tháng trong một làng mới thuyết phục được đồng bào đào hố cầu tiêu ở mỗi nhà để sống theo lối mới. Có những Thanh Niên Chí Nguyện là sinh viên con nhà giầu ở Sài Gòn đã xung phong làm việc dọn cầu tiêu công cộng trong trại tị nạn để làm gương cho đồng bào ý thức bổn phận giữ vệ sinh chung. Người ta có thể hăng hái và bền chí, nhẫn nại như vậy, vì các bạn trẻ này biết họ đang sống một cuộc sống có ý nghĩa, có lý tưởng, một cuộc đời rất đẹp, đáng sống!
Trong tuần này, chính quyền Cộng Sản sắp đưa một số nhà trí thức trẻ ra tòa. Họ cũng là những thanh niên khát khao sống với lý tưởng, và họ đã chọn con đường đấu tranh cho tự do dân chủ. Bao nhiêu thanh niên khác đang cần được tự do để được sống có ý nghĩa.
Ngay bây giờ ở trong nước ta có hàng triệu thanh niên, sinh viên, và học sinh đang muốn sống cuộc đời có lý tưởng, có ý nghĩa. Dù không được phép chính thức, các đoàn thể như Hướng Ðạo, Gia Ðình Phật Tử, các đoàn thể thanh niên Công Giáo đã hoạt động trở lại. Họ cũng nuôi dưỡng lý tưởng phục vụ. Trong mấy năm vừa qua khi các thiền sinh ở Tu Viện Bát Nhã mở những khóa tu tập cuối tuần, những ngày quán niệm, có hàng ngàn thanh niên, sinh viên, học sinh từ các thành phố đã kéo về tham dự. Tới đó, họ biết thế nào là sống an lạc, hạnh phúc, và họ muốn chọn một đời sống có ý nghĩa.
Chỉ có một điều kiện hiện nay còn thiếu là giới trẻ ở Việt Nam không được hưởng không khí tự do của thời 1964 như chúng tôi đã trải qua. Mà vì thế, xã hội công dân cũng không được phát triển tự do nữa. Nhưng chúng ta biết thanh niên Việt Nam không muốn sống cuộc đời vô vị, kể cả con cái của các đại gia. Họ đều không muốn bê tha trà đình tửu điếm, không muốn sa vào cái bẫy ma túy, nếu có cơ hội nuôi dưỡng lý tưởng vị tha. Ai cũng có một thời tuổi trẻ, và không ai muốn bỏ phí. Chỉ nhìn vào cuộc sống của các thiền sinh Bát Nhã trong những ngày hoạn nạn vừa qua. Họ là những người mới biết và tu tập đạo Phật trong vòng mấy năm! Nhìn họ không sợ hãi, không chán nản, chúng ta có thể tin vào chí khí cao thượng, khát khao sống lý tưởng của tuổi trẻ Việt Nam. Họ là một biểu tượng cho niềm tự hào và niềm hy vọng cho dân tộc.
Cho nên bây giờ khi chúng ta đòi cho người Việt Nam được sống tự do, trước hết phải đòi cho các thanh niên, sinh viên, học sinh được tự do sống có lý tưởng, được tự do phục vụ đồng bào. Như các bạn trẻ Bát Nhã chứng tỏ, tuổi trẻ Việt Nam là một kho tàng chưa được dùng để phục vụ đất nước. Chỉ cần được tự do tập họp và tự do phục vụ, họ cũng sẽ trở thành những viên đá xây dựng xã hội công dân làm nền tảng cho chế độ tự do dân chủ trong tương lai. Nếu không, một thế hệ thanh niên nữa sẽ bị phí phạm.
Tám năm - cuộc chiến chưa dứt:
Afghanistan không thể là một Việt Nam thứ hai
Tuesday, October 06, 2009
Hà Tường Cát/Người Việt
Hôm Thứ Hai, Tòa Bạch Ốc nói là Tổng Thống Obama sẽ không rút khỏi cuộc chiến tranh ở Afghanistan và đang cùng các cố vấn thảo luận về đường hướng chiến lược, một sự chọn lựa sẽ có giá trị xác định chính quyền của ông trong năm đầu tiên ở vai trò tổng tư lệnh quân đội.
Tham dự cuộc họp bàn về Afghanistan và Pakistan cùng Tổng Thống Obama sẽ có Phó Tổng Thống Joe Biden, Ngoại Trưởng Hillary Clinton, Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert Gates, tướng tư lệnh chiến trường Stanley McCrystal và các nhà hoạch định chiến lược khác trong Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia. Bí thư báo chí Robert Gibbs cho biết có thể phải nhiều tuần lễ mới đi đến quyết định gia tăng quân số như đề nghị công khai của tướng tư lệnh chiến trường Stanley McCrystal, nhưng giải pháp rút quân không phải là một phương án nằm trong nghị trình thảo luận.
Ngày hôm nay Thứ Tư, chiến tranh Afghanistan bước sang năm thứ 9 và càng ngày càng thêm nhiều dư luận hoài nghi về việc Hoa Kỳ có thể sa lầy tại đây như đã từng trải qua kinh nghiệm ở Việt Nam nếu không có một đường lối nhất quán và chiến lược thích ứng.
Thăm dò dư luận Rasmussen Reports thực hiện hồi cuối Tháng Chín cho biết 38% tỏ bày ý kiến “rất quan ngại” và 28% có phần nào lo lắng là Afghanistan “sẽ trở thành một Việt Nam thứ nhì”. Chỉ có 25% không nghĩ là Afghanistan có thể đi đến một kịch bản tương tự như Việt Nam.
Chiến dịch Afghanistan khởi sự ngày 7 Tháng Mười năm 2001 với mục tiêu công bố là tiêu diệt căn cứ hoạt động của mạng lưới al-Qaeda được coi như đã thực hiện vụ tấn công khủng bố nhắm vào thường dân Hoa Kỳ ngày 11 Tháng Chín trước đó, và đem ra trước tòa án Osama bin Laden cùng các giới chức cao cấp của tổ chức này. Chiến dịch quân sự cũng nhằm loại trừ chính quyền Taliban đã hỗ trợ và dung dưỡng khủng bố.
Chiến sự diễn ra trong hai giai đoạn. Không quân và Hải quân Hoa Kỳ có thêm sự hỗ trợ của Anh, mở cuộc không kích bằng máy bay và hỏa tiễn từ ngày 7 Tháng Mười, trong vòng một tuần lễ đã gây thiệt hại nặng nề cho các căn cứ quân sự, trại huấn luyện cùng những mục tiêu Taliban và al-Qaeda khác.
Tiếp theo đến chiến tranh trên bộ do Liên Minh Phương Bắc - một tập hợp các lực lượng bộ tộc võ trang chống Taliban - với sự yểm trợ hỏa lực của Không quân Hoa Kỳ. Các toán CIA, Lực Lượng Ðặc Biệt giữ nhiệm vụ hướng dẫn phối hợp máy bay oanh tạc và những đơn vị lớn của quân đội Hoa Kỳ cùng đồng minh chưa tham chiến nên giai đoạn đầu này còn được gọi là “chiến tranh đại diện” (proxy war).
Mặc dầu du kích Afghanistan đã từng có kinh nghiệm trong cuộc kháng chiến chống quân đội Liên Xô nhưng chưa hiểu rõ khả năng của quân lực Hoa Kỳ nên đã nhiều lần xuất hiện trên sườn núi, vách đá cao, không bị đe dọa bởi bộ binh đối phương nhưng lại trở thành mồi ngon cho máy bay được gọi tới oanh kích. Chỉ trong vòng hơn một tháng, Liên Minh Phương Bắc chiếm được thủ đô Kabul và những thành phố chính và đến Tháng Mười Hai Taliban và al-Qaeda bị xua đuổi hoàn toàn khỏi Afghanistan.
Thành công của giai đoạn thứ nhất không toàn vẹn. Ðầu não của al-Qaeda và nhiều đơn vị Taliban trốn thoát sang ẩn náu ở vùng biên giới địa thế hiểm trở, lãnh thổ tự trị của các bộ tộc thiểu số ở Pakistan, và dần dần tập hợp lại lực lượng.
Giai đoạn thứ nhì của cuộc chiến từ năm 2002 với sự thành lập Lực Lượng Quốc Tế Trợ Giúp An Ninh (ISAF) ở Afghanistan do NATO chỉ huy. Tới Tháng Bảy năm 2009, ISAF có 64,500 quân của 42 quốc gia trong đó các nước NATO là chính, gồm 29,900 quân Mỹ và 15,000 quân Anh, Ðức, Pháp, Ý... Quân số đó chỉ đủ để giữ an ninh tại Kabul và các thành phố, không tiến hành được những cuộc hành quân tảo thanh, Taliban phát triển hoạt động trở lại trong vùng nông thôn và rừng núi. Hơn một năm sau khi Hoa Kỳ mở cuộc tấn công chính quyền Saddam Hussein ở Iraq, Afghanistan có nhiều lúc trở thành “một cuộc chiến bị bỏ quên”.
Từ thời gian tranh cử năm 2008, ứng cử viên Tổng Thống Obama đã xác định lập trường triệt thoái tuần tự quân đội Hoa Kỳ khỏi Iraq nhưng coi Afghanistan là trận chiến chống khủng bố chủ yếu và cần phải được thanh toán dứt điểm. Cho đến nay ông đã gia tăng sự can dự vào cuộc chiến này bằng quyết định đưa thêm đến chiến trường 21,000 quân, thay Tướng Tư Lệnh David McKiernan bằng Tướng Stanley McCrystal, xác nhận Pakistan cũng như Afghanistan là khu vực chiến tranh để cho phép các máy bay không người lái có thể tấn công bằng hỏa tiễn vào các mục tiêu và viện trợ mỗi năm $2.8 tỷ cho Afghanistan, $1.5 tỷ cho Pakistan cho các chương trình phát triển kinh tế xã hội.
Tổng Thống Obama nói Afghanistan là “mặt trận chính” chống al-Qaeda. Giá trị của lập luận này bị những người hoài nghi đặt thành vấn đề. CIA nói al-Qaeda bây giờ không còn một căn cứ nào ở đây. Cựu tướng thủy quân lục chiến James Jones, cố vấn an ninh quốc gia, trên truyền hình hôm Chủ Nhật nhận định là sức mạnh của al-Qaeda trên lãnh thổ Afghanistan “rất sút giảm, tối đa không có tới 100 nhân sự hoạt động trong quốc nội, không có căn cứ, không có cơ sở để mở cuộc tấn công chúng ta hay đồng minh”. Như vậy cuộc chiến tranh ở Afghanistan là cuộc chiến chống Taliban, đã bị đánh tan từ năm 2001 nhưng đến nay phục hồi đáng kể.
Taliban là phong trào chính trị và tôn giáo quá khích của Hồi Giáo Sunni do dân bộ tộc Pashtun nắm chủ đạo, đã chiếm được chính quyền tại Afghanistan từ 1996 đến 2001. Chủ trương độc đoán và đường lối tàn bạo đã khuất phục được các sắc tộc đối kháng và từ 2004 đã trở lại thành một phong trào nổi dạy chống NATO ở Afghanistan và Pakistan ở lãnh thổ bộ tộc vùng biên giới.
Tài nguyên đáng kể nhất của nền kinh tế Afghanistan là thuốc phiện mà theo ước lượng của CIA trị giá khoảng $4 tỷ trên thị trường buôn lậu. Chính quyền không thu được khoản tiền nào ở đây ngoại trừ dưới hình thức hối lộ cho một số viên chức trung ương cũng như địa phương, nhưng với Taliban đó là nguồn kinh tài chính. Cho đến năm ngoái, ISAF có chiến dịch diệt trừ những ruộng trồng cây thuốc phiện, nhưng đây đã là sinh hoạt truyền thống lâu đời và nguồn sống duy nhất của nhiều khu vực nông thôn cho nên nếu chưa kịp trợ giúp cho dân chúng điều kiện kiếm sống khác thì việc làm này chỉ đưa đến sự chống đối và đẩy họ về phía ủng hộ Taliban.
Trải qua lịch sử, Afghanistan đã nhiều lần bị chiếm đóng nhưng rồi không lực lượng quân sự nào hoàn toàn ổn định được lãnh thổ này và cuối cùng đều phải rút bỏ. Từ Alexander Ðại Ðế thế kỷ thứ 4 trước công nguyên cho đến người Anh và gần đây nhất là quân đội Liên Xô (1979-1989). Vì vậy đem quá ít hay quá nhiều quân đội đến Afghanistan cũng chưa giải quyết được bế tắc, ngoại trừ một lực lượng mạnh và đồn trú lâu dài nhiều năm sẽ trấn áp được những phong trào nổi dạy, bảo đảm an ninh trật tự một thời gian cho đến khi nào rút đi.
Nỗ lực của Hoa Kỳ để xây dựng một chính quyền dân chủ ở Afghanistan là một mục tiêu quá lý tưởng. Căn bản đây là một xã hội nhiều bộ tộc và quyền hành do từ sức mạnh và bạo lực. Chính quyền của Tổng Thống Hamid Karzai thực tế chỉ nắm giữ được vùng thủ đô Kabul, các tỉnh xa miền Ðông và miền Nam hoàn nằm ngoài tầm kiểm soát. Cuộc bầu cử có nhiều bất bình thường vừa qua là một thực tế khó khăn khác tại đất nước còn quá lạc hậu này.
Yếu tố dân tộc và văn hóa Hồi Giáo khiến Taliban dễ dàng thu nạp những phần tử chống lại sự hiện diện của quân đội nước ngoài, và nguồn nhân lực cho quân nổi dậy không thể nào cạn.
Cuối tuần vừa qua trong một trận giao tranh lớn và tổn thất nặng nhất từ nhiều năm, khoảng 300 quân Taliban đã vây hãm trong nhiều giờ và tấn công hai tiền đồn hẻo lánh ở vùng rừng núi quận Kamdesh tỉnh Nuristan, làm 8 quân nhân Hoa Kỳ tử thương. Sự kiện này càng khiến người ta lo ngại chiến tranh ở Afghanistan sẽ kéo dài dù cho Hoa Kỳ tăng cường quân số và sức mạnh lên tới mức nào.
Theo tin tức từ bộ tư lệnh quân sự, trận đánh và những cuộc hành quân truy kích sau đó đã tiêu diệt gần 150 chiến binh Taliban. Tuy nhiên việc này lại khiến người ta so sánh với các cuộc hành quân “lùng và diệt” (search and destroy) thời chiến tranh Việt Nam mà kết quả tính theo thống kê đếm xác địch (body count) không giải quyết được thắng lợi trên toàn chiến trường.
Ðầu Tháng Mười, Tướng Tư Lệnh Pháp Jean-Louis Geogelin nhắc lại rằng Thiếu Tướng Mark Carleton-Smith người Anh đã nhận định là “không có giải pháp quân sự cho cuộc khủng hoảng Afghanistan” và theo ông sẽ là không tưởng để hy vọng một lực lượng đa quốc có thể giải trừ hết những nhóm võ trang ở xứ này. Theo ông, người nông dân Afghanistan chỉ có hai chọn lựa để sống, một là trồng thuốc phiện, hai là theo một lực lượng võ trang nào đó bất kể chính quyền, bộ tộc hay Taliban.
Chiến lược bình định nông thôn mà Tướng McCrystal đưa ra và Tổng Thống Obama đã chấp thuận, chỉ mới vài tháng đã gặp trục trặc. Sau một số những cuộc hành quân tiến sâu vào vùng núi, không có kết quả tiêu diệt được những đơn vị Taliban đáng kể mà chỉ gặp những du kích lẻ tẻ và gây tổn thất, Tướng McCrystal quyết định cho rút quân về để chú trọng bảo vệ an ninh cho trung tâm dân chúng. Giải pháp này giống như quân đội Liên Xô đã phải dùng cuối thập niên 1980 và kết quả là buộc phải rời bỏ Afghanistan.
Sau khi Tổng Thống Obama và ban tham mưu của ông quyết định được một chiến lược thích đáng, ông sẽ còn phải tìm sự ủng hộ của phía Cộng Hòa tại Quốc Hội để phải giải quyết tốt đẹp và mau chóng cuộc chiến không do ông muốn. Nhưng chiến tranh kéo dài chừng nào thì ông sẽ mất tín nhiệm của dân chúng Hoa Kỳ chừng đó. Nhiều quan sát viên tin rằng chính quyền Obama không muốn mắc lỗi lầm như quá khứ của Hoa Kỳ ở Việt Nam, tuy nhiên cuối cùng ông có thể cũng chỉ làm được như Tổng Thống Gerald Ford, người lãnh nhận hậu quả từ những tổng thống tiền nhiệm. (H.C.)
Afghanistan không thể là một Việt Nam thứ hai
Tuesday, October 06, 2009
Hà Tường Cát/Người Việt
Hôm Thứ Hai, Tòa Bạch Ốc nói là Tổng Thống Obama sẽ không rút khỏi cuộc chiến tranh ở Afghanistan và đang cùng các cố vấn thảo luận về đường hướng chiến lược, một sự chọn lựa sẽ có giá trị xác định chính quyền của ông trong năm đầu tiên ở vai trò tổng tư lệnh quân đội.
Tham dự cuộc họp bàn về Afghanistan và Pakistan cùng Tổng Thống Obama sẽ có Phó Tổng Thống Joe Biden, Ngoại Trưởng Hillary Clinton, Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert Gates, tướng tư lệnh chiến trường Stanley McCrystal và các nhà hoạch định chiến lược khác trong Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia. Bí thư báo chí Robert Gibbs cho biết có thể phải nhiều tuần lễ mới đi đến quyết định gia tăng quân số như đề nghị công khai của tướng tư lệnh chiến trường Stanley McCrystal, nhưng giải pháp rút quân không phải là một phương án nằm trong nghị trình thảo luận.
Ngày hôm nay Thứ Tư, chiến tranh Afghanistan bước sang năm thứ 9 và càng ngày càng thêm nhiều dư luận hoài nghi về việc Hoa Kỳ có thể sa lầy tại đây như đã từng trải qua kinh nghiệm ở Việt Nam nếu không có một đường lối nhất quán và chiến lược thích ứng.
Thăm dò dư luận Rasmussen Reports thực hiện hồi cuối Tháng Chín cho biết 38% tỏ bày ý kiến “rất quan ngại” và 28% có phần nào lo lắng là Afghanistan “sẽ trở thành một Việt Nam thứ nhì”. Chỉ có 25% không nghĩ là Afghanistan có thể đi đến một kịch bản tương tự như Việt Nam.
Chiến dịch Afghanistan khởi sự ngày 7 Tháng Mười năm 2001 với mục tiêu công bố là tiêu diệt căn cứ hoạt động của mạng lưới al-Qaeda được coi như đã thực hiện vụ tấn công khủng bố nhắm vào thường dân Hoa Kỳ ngày 11 Tháng Chín trước đó, và đem ra trước tòa án Osama bin Laden cùng các giới chức cao cấp của tổ chức này. Chiến dịch quân sự cũng nhằm loại trừ chính quyền Taliban đã hỗ trợ và dung dưỡng khủng bố.
Chiến sự diễn ra trong hai giai đoạn. Không quân và Hải quân Hoa Kỳ có thêm sự hỗ trợ của Anh, mở cuộc không kích bằng máy bay và hỏa tiễn từ ngày 7 Tháng Mười, trong vòng một tuần lễ đã gây thiệt hại nặng nề cho các căn cứ quân sự, trại huấn luyện cùng những mục tiêu Taliban và al-Qaeda khác.
Tiếp theo đến chiến tranh trên bộ do Liên Minh Phương Bắc - một tập hợp các lực lượng bộ tộc võ trang chống Taliban - với sự yểm trợ hỏa lực của Không quân Hoa Kỳ. Các toán CIA, Lực Lượng Ðặc Biệt giữ nhiệm vụ hướng dẫn phối hợp máy bay oanh tạc và những đơn vị lớn của quân đội Hoa Kỳ cùng đồng minh chưa tham chiến nên giai đoạn đầu này còn được gọi là “chiến tranh đại diện” (proxy war).
Mặc dầu du kích Afghanistan đã từng có kinh nghiệm trong cuộc kháng chiến chống quân đội Liên Xô nhưng chưa hiểu rõ khả năng của quân lực Hoa Kỳ nên đã nhiều lần xuất hiện trên sườn núi, vách đá cao, không bị đe dọa bởi bộ binh đối phương nhưng lại trở thành mồi ngon cho máy bay được gọi tới oanh kích. Chỉ trong vòng hơn một tháng, Liên Minh Phương Bắc chiếm được thủ đô Kabul và những thành phố chính và đến Tháng Mười Hai Taliban và al-Qaeda bị xua đuổi hoàn toàn khỏi Afghanistan.
Thành công của giai đoạn thứ nhất không toàn vẹn. Ðầu não của al-Qaeda và nhiều đơn vị Taliban trốn thoát sang ẩn náu ở vùng biên giới địa thế hiểm trở, lãnh thổ tự trị của các bộ tộc thiểu số ở Pakistan, và dần dần tập hợp lại lực lượng.
Giai đoạn thứ nhì của cuộc chiến từ năm 2002 với sự thành lập Lực Lượng Quốc Tế Trợ Giúp An Ninh (ISAF) ở Afghanistan do NATO chỉ huy. Tới Tháng Bảy năm 2009, ISAF có 64,500 quân của 42 quốc gia trong đó các nước NATO là chính, gồm 29,900 quân Mỹ và 15,000 quân Anh, Ðức, Pháp, Ý... Quân số đó chỉ đủ để giữ an ninh tại Kabul và các thành phố, không tiến hành được những cuộc hành quân tảo thanh, Taliban phát triển hoạt động trở lại trong vùng nông thôn và rừng núi. Hơn một năm sau khi Hoa Kỳ mở cuộc tấn công chính quyền Saddam Hussein ở Iraq, Afghanistan có nhiều lúc trở thành “một cuộc chiến bị bỏ quên”.
Từ thời gian tranh cử năm 2008, ứng cử viên Tổng Thống Obama đã xác định lập trường triệt thoái tuần tự quân đội Hoa Kỳ khỏi Iraq nhưng coi Afghanistan là trận chiến chống khủng bố chủ yếu và cần phải được thanh toán dứt điểm. Cho đến nay ông đã gia tăng sự can dự vào cuộc chiến này bằng quyết định đưa thêm đến chiến trường 21,000 quân, thay Tướng Tư Lệnh David McKiernan bằng Tướng Stanley McCrystal, xác nhận Pakistan cũng như Afghanistan là khu vực chiến tranh để cho phép các máy bay không người lái có thể tấn công bằng hỏa tiễn vào các mục tiêu và viện trợ mỗi năm $2.8 tỷ cho Afghanistan, $1.5 tỷ cho Pakistan cho các chương trình phát triển kinh tế xã hội.
Tổng Thống Obama nói Afghanistan là “mặt trận chính” chống al-Qaeda. Giá trị của lập luận này bị những người hoài nghi đặt thành vấn đề. CIA nói al-Qaeda bây giờ không còn một căn cứ nào ở đây. Cựu tướng thủy quân lục chiến James Jones, cố vấn an ninh quốc gia, trên truyền hình hôm Chủ Nhật nhận định là sức mạnh của al-Qaeda trên lãnh thổ Afghanistan “rất sút giảm, tối đa không có tới 100 nhân sự hoạt động trong quốc nội, không có căn cứ, không có cơ sở để mở cuộc tấn công chúng ta hay đồng minh”. Như vậy cuộc chiến tranh ở Afghanistan là cuộc chiến chống Taliban, đã bị đánh tan từ năm 2001 nhưng đến nay phục hồi đáng kể.
Taliban là phong trào chính trị và tôn giáo quá khích của Hồi Giáo Sunni do dân bộ tộc Pashtun nắm chủ đạo, đã chiếm được chính quyền tại Afghanistan từ 1996 đến 2001. Chủ trương độc đoán và đường lối tàn bạo đã khuất phục được các sắc tộc đối kháng và từ 2004 đã trở lại thành một phong trào nổi dạy chống NATO ở Afghanistan và Pakistan ở lãnh thổ bộ tộc vùng biên giới.
Tài nguyên đáng kể nhất của nền kinh tế Afghanistan là thuốc phiện mà theo ước lượng của CIA trị giá khoảng $4 tỷ trên thị trường buôn lậu. Chính quyền không thu được khoản tiền nào ở đây ngoại trừ dưới hình thức hối lộ cho một số viên chức trung ương cũng như địa phương, nhưng với Taliban đó là nguồn kinh tài chính. Cho đến năm ngoái, ISAF có chiến dịch diệt trừ những ruộng trồng cây thuốc phiện, nhưng đây đã là sinh hoạt truyền thống lâu đời và nguồn sống duy nhất của nhiều khu vực nông thôn cho nên nếu chưa kịp trợ giúp cho dân chúng điều kiện kiếm sống khác thì việc làm này chỉ đưa đến sự chống đối và đẩy họ về phía ủng hộ Taliban.
Trải qua lịch sử, Afghanistan đã nhiều lần bị chiếm đóng nhưng rồi không lực lượng quân sự nào hoàn toàn ổn định được lãnh thổ này và cuối cùng đều phải rút bỏ. Từ Alexander Ðại Ðế thế kỷ thứ 4 trước công nguyên cho đến người Anh và gần đây nhất là quân đội Liên Xô (1979-1989). Vì vậy đem quá ít hay quá nhiều quân đội đến Afghanistan cũng chưa giải quyết được bế tắc, ngoại trừ một lực lượng mạnh và đồn trú lâu dài nhiều năm sẽ trấn áp được những phong trào nổi dạy, bảo đảm an ninh trật tự một thời gian cho đến khi nào rút đi.
Nỗ lực của Hoa Kỳ để xây dựng một chính quyền dân chủ ở Afghanistan là một mục tiêu quá lý tưởng. Căn bản đây là một xã hội nhiều bộ tộc và quyền hành do từ sức mạnh và bạo lực. Chính quyền của Tổng Thống Hamid Karzai thực tế chỉ nắm giữ được vùng thủ đô Kabul, các tỉnh xa miền Ðông và miền Nam hoàn nằm ngoài tầm kiểm soát. Cuộc bầu cử có nhiều bất bình thường vừa qua là một thực tế khó khăn khác tại đất nước còn quá lạc hậu này.
Yếu tố dân tộc và văn hóa Hồi Giáo khiến Taliban dễ dàng thu nạp những phần tử chống lại sự hiện diện của quân đội nước ngoài, và nguồn nhân lực cho quân nổi dậy không thể nào cạn.
Cuối tuần vừa qua trong một trận giao tranh lớn và tổn thất nặng nhất từ nhiều năm, khoảng 300 quân Taliban đã vây hãm trong nhiều giờ và tấn công hai tiền đồn hẻo lánh ở vùng rừng núi quận Kamdesh tỉnh Nuristan, làm 8 quân nhân Hoa Kỳ tử thương. Sự kiện này càng khiến người ta lo ngại chiến tranh ở Afghanistan sẽ kéo dài dù cho Hoa Kỳ tăng cường quân số và sức mạnh lên tới mức nào.
Theo tin tức từ bộ tư lệnh quân sự, trận đánh và những cuộc hành quân truy kích sau đó đã tiêu diệt gần 150 chiến binh Taliban. Tuy nhiên việc này lại khiến người ta so sánh với các cuộc hành quân “lùng và diệt” (search and destroy) thời chiến tranh Việt Nam mà kết quả tính theo thống kê đếm xác địch (body count) không giải quyết được thắng lợi trên toàn chiến trường.
Ðầu Tháng Mười, Tướng Tư Lệnh Pháp Jean-Louis Geogelin nhắc lại rằng Thiếu Tướng Mark Carleton-Smith người Anh đã nhận định là “không có giải pháp quân sự cho cuộc khủng hoảng Afghanistan” và theo ông sẽ là không tưởng để hy vọng một lực lượng đa quốc có thể giải trừ hết những nhóm võ trang ở xứ này. Theo ông, người nông dân Afghanistan chỉ có hai chọn lựa để sống, một là trồng thuốc phiện, hai là theo một lực lượng võ trang nào đó bất kể chính quyền, bộ tộc hay Taliban.
Chiến lược bình định nông thôn mà Tướng McCrystal đưa ra và Tổng Thống Obama đã chấp thuận, chỉ mới vài tháng đã gặp trục trặc. Sau một số những cuộc hành quân tiến sâu vào vùng núi, không có kết quả tiêu diệt được những đơn vị Taliban đáng kể mà chỉ gặp những du kích lẻ tẻ và gây tổn thất, Tướng McCrystal quyết định cho rút quân về để chú trọng bảo vệ an ninh cho trung tâm dân chúng. Giải pháp này giống như quân đội Liên Xô đã phải dùng cuối thập niên 1980 và kết quả là buộc phải rời bỏ Afghanistan.
Sau khi Tổng Thống Obama và ban tham mưu của ông quyết định được một chiến lược thích đáng, ông sẽ còn phải tìm sự ủng hộ của phía Cộng Hòa tại Quốc Hội để phải giải quyết tốt đẹp và mau chóng cuộc chiến không do ông muốn. Nhưng chiến tranh kéo dài chừng nào thì ông sẽ mất tín nhiệm của dân chúng Hoa Kỳ chừng đó. Nhiều quan sát viên tin rằng chính quyền Obama không muốn mắc lỗi lầm như quá khứ của Hoa Kỳ ở Việt Nam, tuy nhiên cuối cùng ông có thể cũng chỉ làm được như Tổng Thống Gerald Ford, người lãnh nhận hậu quả từ những tổng thống tiền nhiệm. (H.C.)
Lệ thuộc Trung Quốc từ bao giờ?
Thursday, October 08, 2009
Ngô Nhân Dụng Tổ tiên người Việt chúng ta bắt đầu bị vua quan người Hán cai trị từ năm nào? Có sử gia coi nước Nam Việt của ông Triệu Ðà hoàn toàn là của người Tầu; kinh đô nước này ở Phiên Ngung thuộc thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Ðông bây giờ. Do đó có thể coi năm 208 trước Công Nguyên, khi Triệu Ðà chiếm nước Âu Lạc, là bắt đầu thời kỳ Bắc thuộc. Nhiều sử gia coi Nam Việt cũng là một nước của người Việt, chính ông Triệu Ðà khi tới đó đã “được đồng hóa” theo phong tục bản xứ. Phần lớn nước Nam Việt nay đã mất, các tỉnh Quảng Ðông, Quảng Tây đã hoàn toàn bị Hán hóa, chỉ còn nước Việt Nam ngày nay là giữ được “tộc phả” của giòng giống Việt. Như vậy thì khi quân Hán chiếm nước Nam Việt, năm 111 trước Công Nguyên, mới bắt đầu thời Bắc thuộc.
Gần đây có những sử gia như Lê Mạnh Thát lại coi thời kỳ lệ thuộc người Trung Hoa chỉ bắt đầu từ năm 43 sau Công Nguyên. Ðó là năm Hai Bà Trưng bị thua và Mã Viện bắt đầu áp dụng chính sách cai trị “trói buộc” (dĩ thằng nhi trị - dùng thừng mà trị). Trước đó, xã hội Việt Nam từ thời Hùng Vương vẫn không thay đổi, dân sống dưới quyền các lạc hầu, lạc tướng, các ông vua Nam Việt hay các thái thú, thứ sử nhà Hán chỉ đóng vai thu thuế nộp cống tiến về Tầu mà thôi.
Chắc giống như nhiều người Việt không chuyên nghiên cứu lịch sử, chúng tôi thích cách nhìn của Lê Mạnh Thát, hoàn toàn với lý do tình cảm. Bởi vì cứ nghĩ thương tổ tiên mình, muốn các cụ lâm vào cảnh nô lệ chậm được ngày nào tốt ngày đó!
Ông Lê Mạnh Thát mới bị cách chức viện trưởng Viện Phật Học Vạn Hạnh, để hai vị sư bị gọi là “quốc doanh” lên thay. Không biết có phải vì sử gia tu sĩ này đã phạm lỗi quá yêu nước, đem cắt ngắn thời kỳ Bắc thuộc hơn một trăm năm, mà mất chức hay không! Có người nghĩ như vậy, vì trong dân chúng Việt Nam bây giờ nhiều người cũng đang lo mối đe dọa lệ thuộc Trung Quốc. Tất cả những vụ Thác Bản Dốc, ải Nam Quan, huyện Tam Sa, các phong trào phản đối về các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, vụ Bô Xít, cho thấy lòng dân đang phẫn uất về một tình trạng lệ thuộc có thật, không thể phủ nhận được. Có những web site của chính phủ Việt Nam “của mình nhưng do Trung Quốc phụ trách” viết theo quan điểm Bắc Kinh. Tờ báo mạng tiếng nói chính thức của đảng Cộng Sản Việt Nam thì đăng cả bản tin Hải Quân Trung Quốc diễu võ dương oai, đương nhiên coi Hoàng Sa, Trường Sa là của người Tầu! Người Việt cũng đang tự hỏi trong thế kỷ 20 nước ta bị lệ thuộc Cộng Sản Trung Quốc bắt đầu từ năm nào? Từ thời ông Nguyễn Tấn Dũng, ông Lê Khả Phiêu, hay Nguyễn Văn Linh? Hay là bắt đầu từ xa hơn nữa?
Ông Tống Văn Công là một đảng viên cộng sản với 50 tuổi đảng mới viết một lá thư chân thành, trong đó ông công nhận đảng của ông có những lỗi lầm đối với lịch sử. Hai sai lầm mà ông nêu lên là, từ thập niên 1950 đã “Nhầm đồng minh giai đoạn là đồng minh chiến lược, trong khi Bắc Kinh từ đầu đã có ý đồ bành trướng của chủ nghĩa Ðại Hán,” và “ Ðường lối cách mạng uốn dần theo ý thức hệ cộng sản.”
Chúng ta rất kính trọng tấm lòng chân thành của ông Tống Văn Công. Nhưng nhận xét của ông về hai lỗi lầm của đảng Cộng Sản vẫn chưa thấu đáo.
Nói rằng “Bắc Kinh từ đầu đã có ý đồ bành trướng của chủ nghĩa Ðại Hán,” là không đúng. Mao Trạch Ðông không yêu thương gì dân Hán. Nếu biết thương, ông ta đã không thi hành những chính sách làm chết vài chục triệu người Hán mà không thấy ghê tay từ cuối thập niên 1950, sau đó mươi năm lại đưa ra các chính sách giết thêm vài chục triệu người Hán nữa. Lý tưởng của Mao Trạch Ðông không phải là Ðại Hán mà là làm cách mạng vô sản thế giới. Ông ta luôn luôn hô hào “chủ nghĩa quốc tế” và chống đối “chủ nghĩa quốc gia” kịch liệt. Khi tiễn phái đoàn 40 cố vấn Trung Quốc đầu tiên sang Việt Nam năm 1950, cả Mao Trạch Ðông nhắc các cố vấn này chuyện ngày xưa Mã Viện đã sang đánh chiếm Việt Nam và người Việt còn thù ghét lắm. Và sau đó Lưu Thiếu Kỳ ủy lạo đoàn cố vấn quân sự cũng kể chuyện Mã Viện và nhắc nhở như vậy. Họ đều khuyên các cố vấn phải tuân thủ “chủ nghĩa quốc tế” trong khi làm nhiệm vụ cách mạng ở Việt Nam.
Hồ Chí Minh cũng chọn “chủ nghĩa quốc tế” giống Mao. Ông Hồ là người lãnh đạo đảng Cộng Sản và chính phủ kháng chiến Việt Nam lúc đó, và ông hoàn toàn đồng ý với Mao Chủ Tịch. Cho nên không thể nói Hồ Chí Minh đã chọn “nhầm đồng minh giai đoạn là đồng minh chiến lược.” Trung Quốc lúc đó không phải chỉ là “đồng minh chiến lược” của Cộng Sản Việt Nam mà có một địa vị còn cao hơn nữa. Ðó là đồng minh trong ý thức hệ, trong tư tưởng, trong đường lối, chính sách, trong tất cả mọi mặt. Theo Oliver Todd thuật lại, Hồ Chí Minh từng nói rằng ông không thấy cần phải viết sách gì để phát triển chủ nghĩa cộng sản nữa, vì tất cả mọi điều cần viết thì đã có Mao Trạch Ðông viết hết rồi.
Trên đời có nhiều hình thức nô lệ, không có thứ nào nguy hiểm bằng nô lệ về tư tưởng. Vì khi đã quyết tâm theo một ý thức hệ của người khác rồi thì họ bảo gì cũng phải nghe, vì họ có thể giải thích mọi hành động theo đúng ý thức hệ. Con đấu tố cha là đã bóc lột mình, vợ tố cáo chồng đã hãm hiếp mình, việc nào cũng có thể biện minh bằng ý thức hệ cả. Ðồng minh chiến lược cũng có khi thay đổi được. Ðồng minh trong tư tưởng thì không thể đổi, trừ khi chính mình tuyên bố từ bỏ ý thức hệ đó.
Chúng ta có thể rộng lượng nghĩ rằng Hồ Chí Minh chỉ “giả bộ” theo ý thức hệ cộng sản thôi, còn trong hành động ông vẫn theo hướng khác để khỏi bị lệ thuộc Trung Quốc. Cho nên, phải nhìn vào hành trạng của chính ông mới biết thực tình Hồ Chí Minh có bị Mao Trạch Ðông lèo lái hay không.
Ông La Quý Ba là “đại diện liên lạc” đầu tiên của Cộng Sản Trung Quốc với Việt Nam, sau khi Hồ Chí Minh sang Bắc Kinh vào Tháng Giêng năm 1950 xin viện trợ. Sau này La Quý Ba được đưa lên làm tổng cố vấn rồi làm đại sứ. Hồi ký của La Quý Ba kể ngày 14 Tháng Mười năm 1950, Hồ Chí Minh viết cho Mao bức thư cảm ơn các cố vấn Trung Quốc, “Chúng tôi đã thắng lợi hoàn toàn trong chiến dịch Thất Khê, Cao Bằng. Nguyên nhân lớn nhất của thắng lợi này là sự viện trợ tận tình của Ðảng Cộng Sản Trung Quốc, Ðảng Cộng Sản Liên Xô, các đồng chí Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Ðông.” Và Hồ Chí Minh nhấn mạnh, “Tóm lại, tôi nghĩ rằng thắng lợi này là thắng lợi của đường lối cách mạng, quốc tế chủ nghĩa của Mao Trạch Ðông.”
Trong các trận Thất Khê, Cao Bằng có hơn một ngàn thanh niên Việt Nam anh dũng hy sinh. Hồ Chí Minh coi đó là một “thắng lợi của đường lối cách mạng, quốc tế chủ nghĩa của Mao Trạch Ðông.” Cũng giống như khi về ở Hang Pắc Bó sau mấy chục năm xa quê hương, Hồ Chí Minh đã đem một ngọn núi và một con suối nguồn của sông đặt tên theo tên Karl Marx và Lenin. Lòng ông ta lúc nào cũng hướng về chủ nghĩa quốc tế cộng sản.
Hồi ký của La Quý Ba kể rằng mùa Ðông năm 1951 Hồ Chí Minh một lần nữa lại bí mật đến Bắc Kinh. La Quý Ba đã theo Hồ tới yết kiến Mao Trạch Ðông tại Di Niên đường, “Người gặp Mao Chủ Tịch như anh em xa cách lâu ngày...” Trong cuộc gặp gỡ đó, La kể, Hồ Chí Minh xin với Mao Trạch Ðông chỉ thị cho La Quý Ba “khi tham gia hội nghị Bộ Chính Trị Trung Ương của chúng tôi” đừng “quá thận trọng, quá khiêm tốn” mà hãy “nêu nhiều ý kiến hơn.” Sau đó, Mao, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ðức nói chuyện riêng với La Quý Ba cũng nhắc nhở La phải “nêu nhiều ý kiến, giúp đỡ nhiều hơn đối với họ.”
Ðọc hồi ký này mới biết là Hồ Chí Minh đã mời La Quý Ba tham dự các cuộc họp của Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam. Ðây là một hành động hiếm khi xảy ra, vì Bộ Chính Trị là cơ quan quyết định tất cả mọi việc trong đảng, trong chính quyền. Vào thế kỷ 19 khi quân Pháp đánh chiếm Việt Nam trong hơn 20 năm, một điều họ đòi hỏi là viên khâm sứ Pháp phải có quyền tham dự các cuộc họp của Cơ Mật Viện trong triều đình Huế. Tám mươi năm sau, Hồ Chí Minh tự ý tặng cho cố vấn Trung Quốc đặc quyền đó. Nếu không phải vì tình đồng chí cùng theo đuổi một cuộc cách mạng thế giới thì không ai làm như vậy. Ông Hồ lúc đó là chủ tịch đảng, chủ tịch nước, những việc ông làm là khuôn phép cho các đồng chí cấp dưới noi theo.
Xin nhắc đến một thí dụ khác trong hành trạng của ông Hồ. Khi cuộc cải cách ruộng đất được phát động theo từng bước đúng bài bản của các cố vấn Trung Cộng, Hồ Chí Minh có lúc muốn tha chết cho bà Nguyễn Thị Năm, một địa chủ đã có công cứu giúp nhiều lãnh tụ cộng sản Việt Nam, có con đi bộ đội và đã hiến của cải cho kháng chiến. Ông Hồ là chủ tịch nước, ông có quyền ân xá. Ông họp cả Bộ Chính Trị để bàn việc đó. Nhưng cuối cùng ông đã không dám ân xá cho một phụ nữ có công với tổ quốc Việt Nam. Chỉ vì một cố vấn Trung Quốc nói: “Con hổ đực, hay hổ cái, con nào cũng ăn thịt người!”
Người đứng đầu một chính phủ, đứng đầu một đảng ở cấp quốc gia, mà không dám làm trái lời một cố vấn Trung Quốc cấp huyện. Trong lịch sử chưa thấy người nào nhịn nhục đến như thế. Vì khi đã nô lệ về tư tưởng, thì sẽ bị ràng buộc trong tất cả mọi hành động.
Có thể nói Lê Duẩn đã phản ứng ngược lại, sau năm 1975 quay đầu theo Liên Xô, chống Trung Quốc đến độ cực đoan cũng vì phẫn uất vì đã thấy Hồ Chí Minh phải nhịn nhục với các cố vấn nhiều quá. Nhắm mắt theo Trung Quốc là dại, chống đối một nước lớn láng giềng đến độ viết cả vào Hiến Pháp, để đi theo một cường quốc ở xa, lại càng dại dột hơn. Ðến năm 1992 sau khi Liên Xô đã sụp đổ, phái đoàn Nguyễn Văn Linh, Ðỗ Mười, Phạm Văn Ðồng sang Thành Ðô xin thần phục trở lại thì lúc đó chính quyền Trung Quốc cũng không còn theo “chủ nghĩa cách mạng quốc tế” của Mao Trạch Ðông nữa rồi. Lúc đó ở Bắc Kinh họ rất mừng vì “chủ nghĩa Ðại Hán” đã thực sự trở thành quốc sách, họ có cơ hội thực hiện ngay. Khi ông Lê Khả Phiêu sang Tầu xin tái lập một “quốc tế cộng sản” mới thì các đồng chí Trung Quốc đã cảm ơn và từ chối! Chủ nghĩa Ðại Hán không cần đến thứ chiêu bài lỗi thời đó nữa.
Vậy thì trong thế kỷ 20 nước ta bắt đầu chịu lệ thuộc Trung Quốc từ năm nào? Từ năm 1992 hay là từ năm 1950? Chắc các sử gia sau này sẽ còn bàn mãi. Nhưng người Việt Nam đang sống trong cảnh lệ thuộc đó thì không quan tâm đến chuyện nó bắt đầu từ bao giờ. Cả nước chỉ mong tìm cách làm sao chấm dứt cảnh lệ thuộc đó mà thôi.
Thursday, October 08, 2009
Ngô Nhân Dụng Tổ tiên người Việt chúng ta bắt đầu bị vua quan người Hán cai trị từ năm nào? Có sử gia coi nước Nam Việt của ông Triệu Ðà hoàn toàn là của người Tầu; kinh đô nước này ở Phiên Ngung thuộc thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Ðông bây giờ. Do đó có thể coi năm 208 trước Công Nguyên, khi Triệu Ðà chiếm nước Âu Lạc, là bắt đầu thời kỳ Bắc thuộc. Nhiều sử gia coi Nam Việt cũng là một nước của người Việt, chính ông Triệu Ðà khi tới đó đã “được đồng hóa” theo phong tục bản xứ. Phần lớn nước Nam Việt nay đã mất, các tỉnh Quảng Ðông, Quảng Tây đã hoàn toàn bị Hán hóa, chỉ còn nước Việt Nam ngày nay là giữ được “tộc phả” của giòng giống Việt. Như vậy thì khi quân Hán chiếm nước Nam Việt, năm 111 trước Công Nguyên, mới bắt đầu thời Bắc thuộc.
Gần đây có những sử gia như Lê Mạnh Thát lại coi thời kỳ lệ thuộc người Trung Hoa chỉ bắt đầu từ năm 43 sau Công Nguyên. Ðó là năm Hai Bà Trưng bị thua và Mã Viện bắt đầu áp dụng chính sách cai trị “trói buộc” (dĩ thằng nhi trị - dùng thừng mà trị). Trước đó, xã hội Việt Nam từ thời Hùng Vương vẫn không thay đổi, dân sống dưới quyền các lạc hầu, lạc tướng, các ông vua Nam Việt hay các thái thú, thứ sử nhà Hán chỉ đóng vai thu thuế nộp cống tiến về Tầu mà thôi.
Chắc giống như nhiều người Việt không chuyên nghiên cứu lịch sử, chúng tôi thích cách nhìn của Lê Mạnh Thát, hoàn toàn với lý do tình cảm. Bởi vì cứ nghĩ thương tổ tiên mình, muốn các cụ lâm vào cảnh nô lệ chậm được ngày nào tốt ngày đó!
Ông Lê Mạnh Thát mới bị cách chức viện trưởng Viện Phật Học Vạn Hạnh, để hai vị sư bị gọi là “quốc doanh” lên thay. Không biết có phải vì sử gia tu sĩ này đã phạm lỗi quá yêu nước, đem cắt ngắn thời kỳ Bắc thuộc hơn một trăm năm, mà mất chức hay không! Có người nghĩ như vậy, vì trong dân chúng Việt Nam bây giờ nhiều người cũng đang lo mối đe dọa lệ thuộc Trung Quốc. Tất cả những vụ Thác Bản Dốc, ải Nam Quan, huyện Tam Sa, các phong trào phản đối về các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, vụ Bô Xít, cho thấy lòng dân đang phẫn uất về một tình trạng lệ thuộc có thật, không thể phủ nhận được. Có những web site của chính phủ Việt Nam “của mình nhưng do Trung Quốc phụ trách” viết theo quan điểm Bắc Kinh. Tờ báo mạng tiếng nói chính thức của đảng Cộng Sản Việt Nam thì đăng cả bản tin Hải Quân Trung Quốc diễu võ dương oai, đương nhiên coi Hoàng Sa, Trường Sa là của người Tầu! Người Việt cũng đang tự hỏi trong thế kỷ 20 nước ta bị lệ thuộc Cộng Sản Trung Quốc bắt đầu từ năm nào? Từ thời ông Nguyễn Tấn Dũng, ông Lê Khả Phiêu, hay Nguyễn Văn Linh? Hay là bắt đầu từ xa hơn nữa?
Ông Tống Văn Công là một đảng viên cộng sản với 50 tuổi đảng mới viết một lá thư chân thành, trong đó ông công nhận đảng của ông có những lỗi lầm đối với lịch sử. Hai sai lầm mà ông nêu lên là, từ thập niên 1950 đã “Nhầm đồng minh giai đoạn là đồng minh chiến lược, trong khi Bắc Kinh từ đầu đã có ý đồ bành trướng của chủ nghĩa Ðại Hán,” và “ Ðường lối cách mạng uốn dần theo ý thức hệ cộng sản.”
Chúng ta rất kính trọng tấm lòng chân thành của ông Tống Văn Công. Nhưng nhận xét của ông về hai lỗi lầm của đảng Cộng Sản vẫn chưa thấu đáo.
Nói rằng “Bắc Kinh từ đầu đã có ý đồ bành trướng của chủ nghĩa Ðại Hán,” là không đúng. Mao Trạch Ðông không yêu thương gì dân Hán. Nếu biết thương, ông ta đã không thi hành những chính sách làm chết vài chục triệu người Hán mà không thấy ghê tay từ cuối thập niên 1950, sau đó mươi năm lại đưa ra các chính sách giết thêm vài chục triệu người Hán nữa. Lý tưởng của Mao Trạch Ðông không phải là Ðại Hán mà là làm cách mạng vô sản thế giới. Ông ta luôn luôn hô hào “chủ nghĩa quốc tế” và chống đối “chủ nghĩa quốc gia” kịch liệt. Khi tiễn phái đoàn 40 cố vấn Trung Quốc đầu tiên sang Việt Nam năm 1950, cả Mao Trạch Ðông nhắc các cố vấn này chuyện ngày xưa Mã Viện đã sang đánh chiếm Việt Nam và người Việt còn thù ghét lắm. Và sau đó Lưu Thiếu Kỳ ủy lạo đoàn cố vấn quân sự cũng kể chuyện Mã Viện và nhắc nhở như vậy. Họ đều khuyên các cố vấn phải tuân thủ “chủ nghĩa quốc tế” trong khi làm nhiệm vụ cách mạng ở Việt Nam.
Hồ Chí Minh cũng chọn “chủ nghĩa quốc tế” giống Mao. Ông Hồ là người lãnh đạo đảng Cộng Sản và chính phủ kháng chiến Việt Nam lúc đó, và ông hoàn toàn đồng ý với Mao Chủ Tịch. Cho nên không thể nói Hồ Chí Minh đã chọn “nhầm đồng minh giai đoạn là đồng minh chiến lược.” Trung Quốc lúc đó không phải chỉ là “đồng minh chiến lược” của Cộng Sản Việt Nam mà có một địa vị còn cao hơn nữa. Ðó là đồng minh trong ý thức hệ, trong tư tưởng, trong đường lối, chính sách, trong tất cả mọi mặt. Theo Oliver Todd thuật lại, Hồ Chí Minh từng nói rằng ông không thấy cần phải viết sách gì để phát triển chủ nghĩa cộng sản nữa, vì tất cả mọi điều cần viết thì đã có Mao Trạch Ðông viết hết rồi.
Trên đời có nhiều hình thức nô lệ, không có thứ nào nguy hiểm bằng nô lệ về tư tưởng. Vì khi đã quyết tâm theo một ý thức hệ của người khác rồi thì họ bảo gì cũng phải nghe, vì họ có thể giải thích mọi hành động theo đúng ý thức hệ. Con đấu tố cha là đã bóc lột mình, vợ tố cáo chồng đã hãm hiếp mình, việc nào cũng có thể biện minh bằng ý thức hệ cả. Ðồng minh chiến lược cũng có khi thay đổi được. Ðồng minh trong tư tưởng thì không thể đổi, trừ khi chính mình tuyên bố từ bỏ ý thức hệ đó.
Chúng ta có thể rộng lượng nghĩ rằng Hồ Chí Minh chỉ “giả bộ” theo ý thức hệ cộng sản thôi, còn trong hành động ông vẫn theo hướng khác để khỏi bị lệ thuộc Trung Quốc. Cho nên, phải nhìn vào hành trạng của chính ông mới biết thực tình Hồ Chí Minh có bị Mao Trạch Ðông lèo lái hay không.
Ông La Quý Ba là “đại diện liên lạc” đầu tiên của Cộng Sản Trung Quốc với Việt Nam, sau khi Hồ Chí Minh sang Bắc Kinh vào Tháng Giêng năm 1950 xin viện trợ. Sau này La Quý Ba được đưa lên làm tổng cố vấn rồi làm đại sứ. Hồi ký của La Quý Ba kể ngày 14 Tháng Mười năm 1950, Hồ Chí Minh viết cho Mao bức thư cảm ơn các cố vấn Trung Quốc, “Chúng tôi đã thắng lợi hoàn toàn trong chiến dịch Thất Khê, Cao Bằng. Nguyên nhân lớn nhất của thắng lợi này là sự viện trợ tận tình của Ðảng Cộng Sản Trung Quốc, Ðảng Cộng Sản Liên Xô, các đồng chí Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Ðông.” Và Hồ Chí Minh nhấn mạnh, “Tóm lại, tôi nghĩ rằng thắng lợi này là thắng lợi của đường lối cách mạng, quốc tế chủ nghĩa của Mao Trạch Ðông.”
Trong các trận Thất Khê, Cao Bằng có hơn một ngàn thanh niên Việt Nam anh dũng hy sinh. Hồ Chí Minh coi đó là một “thắng lợi của đường lối cách mạng, quốc tế chủ nghĩa của Mao Trạch Ðông.” Cũng giống như khi về ở Hang Pắc Bó sau mấy chục năm xa quê hương, Hồ Chí Minh đã đem một ngọn núi và một con suối nguồn của sông đặt tên theo tên Karl Marx và Lenin. Lòng ông ta lúc nào cũng hướng về chủ nghĩa quốc tế cộng sản.
Hồi ký của La Quý Ba kể rằng mùa Ðông năm 1951 Hồ Chí Minh một lần nữa lại bí mật đến Bắc Kinh. La Quý Ba đã theo Hồ tới yết kiến Mao Trạch Ðông tại Di Niên đường, “Người gặp Mao Chủ Tịch như anh em xa cách lâu ngày...” Trong cuộc gặp gỡ đó, La kể, Hồ Chí Minh xin với Mao Trạch Ðông chỉ thị cho La Quý Ba “khi tham gia hội nghị Bộ Chính Trị Trung Ương của chúng tôi” đừng “quá thận trọng, quá khiêm tốn” mà hãy “nêu nhiều ý kiến hơn.” Sau đó, Mao, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ðức nói chuyện riêng với La Quý Ba cũng nhắc nhở La phải “nêu nhiều ý kiến, giúp đỡ nhiều hơn đối với họ.”
Ðọc hồi ký này mới biết là Hồ Chí Minh đã mời La Quý Ba tham dự các cuộc họp của Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam. Ðây là một hành động hiếm khi xảy ra, vì Bộ Chính Trị là cơ quan quyết định tất cả mọi việc trong đảng, trong chính quyền. Vào thế kỷ 19 khi quân Pháp đánh chiếm Việt Nam trong hơn 20 năm, một điều họ đòi hỏi là viên khâm sứ Pháp phải có quyền tham dự các cuộc họp của Cơ Mật Viện trong triều đình Huế. Tám mươi năm sau, Hồ Chí Minh tự ý tặng cho cố vấn Trung Quốc đặc quyền đó. Nếu không phải vì tình đồng chí cùng theo đuổi một cuộc cách mạng thế giới thì không ai làm như vậy. Ông Hồ lúc đó là chủ tịch đảng, chủ tịch nước, những việc ông làm là khuôn phép cho các đồng chí cấp dưới noi theo.
Xin nhắc đến một thí dụ khác trong hành trạng của ông Hồ. Khi cuộc cải cách ruộng đất được phát động theo từng bước đúng bài bản của các cố vấn Trung Cộng, Hồ Chí Minh có lúc muốn tha chết cho bà Nguyễn Thị Năm, một địa chủ đã có công cứu giúp nhiều lãnh tụ cộng sản Việt Nam, có con đi bộ đội và đã hiến của cải cho kháng chiến. Ông Hồ là chủ tịch nước, ông có quyền ân xá. Ông họp cả Bộ Chính Trị để bàn việc đó. Nhưng cuối cùng ông đã không dám ân xá cho một phụ nữ có công với tổ quốc Việt Nam. Chỉ vì một cố vấn Trung Quốc nói: “Con hổ đực, hay hổ cái, con nào cũng ăn thịt người!”
Người đứng đầu một chính phủ, đứng đầu một đảng ở cấp quốc gia, mà không dám làm trái lời một cố vấn Trung Quốc cấp huyện. Trong lịch sử chưa thấy người nào nhịn nhục đến như thế. Vì khi đã nô lệ về tư tưởng, thì sẽ bị ràng buộc trong tất cả mọi hành động.
Có thể nói Lê Duẩn đã phản ứng ngược lại, sau năm 1975 quay đầu theo Liên Xô, chống Trung Quốc đến độ cực đoan cũng vì phẫn uất vì đã thấy Hồ Chí Minh phải nhịn nhục với các cố vấn nhiều quá. Nhắm mắt theo Trung Quốc là dại, chống đối một nước lớn láng giềng đến độ viết cả vào Hiến Pháp, để đi theo một cường quốc ở xa, lại càng dại dột hơn. Ðến năm 1992 sau khi Liên Xô đã sụp đổ, phái đoàn Nguyễn Văn Linh, Ðỗ Mười, Phạm Văn Ðồng sang Thành Ðô xin thần phục trở lại thì lúc đó chính quyền Trung Quốc cũng không còn theo “chủ nghĩa cách mạng quốc tế” của Mao Trạch Ðông nữa rồi. Lúc đó ở Bắc Kinh họ rất mừng vì “chủ nghĩa Ðại Hán” đã thực sự trở thành quốc sách, họ có cơ hội thực hiện ngay. Khi ông Lê Khả Phiêu sang Tầu xin tái lập một “quốc tế cộng sản” mới thì các đồng chí Trung Quốc đã cảm ơn và từ chối! Chủ nghĩa Ðại Hán không cần đến thứ chiêu bài lỗi thời đó nữa.
Vậy thì trong thế kỷ 20 nước ta bắt đầu chịu lệ thuộc Trung Quốc từ năm nào? Từ năm 1992 hay là từ năm 1950? Chắc các sử gia sau này sẽ còn bàn mãi. Nhưng người Việt Nam đang sống trong cảnh lệ thuộc đó thì không quan tâm đến chuyện nó bắt đầu từ bao giờ. Cả nước chỉ mong tìm cách làm sao chấm dứt cảnh lệ thuộc đó mà thôi.
Ai sẽ là Tổng bí thư vào Đại hội 11 năm 2011?
Đầu năm 2011 sẽ diễn ra Đại hội 11 của Đảng cộng sản Việt Nam. Mối quan tâm của nhiều người là ai sẽ là Tổng bí thư của Đảng cộng sản Việt Nam vào Đại hội 11 đó? Ở một nước độc tài 1 đảng như ở nước ta, thì Tổng bí thư của Đảng cầm quyền là to nhất, to hơn Thủ tướng và Chủ tịch nước. Chức vụ đó sẽ có ảnh hưởng quan trọng đến đường lối đối nội và đối ngoại của VN. Hiện nay có 3 ứng cử viên đang muốn ganh đua vào chức vụ này, đó là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Thường trực Ban bí thư Trương Tấn Sang, và Trưởng ban Tổ chức Trung ương Hồ Đức Việt.
Cái mạnh của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, là ông ấy là Thủ tướng, chức vụ quan trọng thứ hai của đất nước sau Tổng bí thư. Nhưng cái yếu của ông ấy là ông ấy không có thực tài, và đang bị nhiều dư luận về gia đình giàu có nứt đố đổ vách của con gái, và của em trai. Vây cánh của ông ấy cũng nhiều, nhưng chủ yếu là giới kinh doanh. Ông Dũng đã từng làm Thứ trưởng Bộ công an, nhưng chỉ hơn 1 năm, và ông ấy cũng không có nhiều thủ đoạn để kéo bè cánh, nên đàn em trong ngành công an đầy quyền lực cũng không nhiều. Phe cánh của ông ấy trong quân đội cũng hầu như không có ai, trừ Nguyễn Chí Vịnh, Tổng cục trưởng, Tổng cục 2. Nhiều người nói chỉ cần Nguyễn Chí Vịnh làm vây cánh cho ông Dũng là đủ để giành lấy chức Tổng bí thư. Nhưng hãy chờ xem.
Trong Bộ chính trị, ông Dũng cũng bị nhiều người ghét. Ông Tổng bí thư Nông Đức Mạnh thù ông Dũng vụ PMU18, vì ông Dũng định làm vụ PMU18 để đánh ông Mạnh, vì con rể ông Mạnh làm việc ở đó. Ông Phạm Gia Khiêm, Bộ trưởng Ngoại giao, và ông Nguyễn Sinh Hùng, Phó thủ tướng Thường trực cũng ghét ông DŨng, vì ông Dũng muốn bẩy 2 ông này sang Quốc Hội, để gài ông Nguyễn Thiện Nhân làm Bộ trưởng Ngoại Giao, và gài ông Hoàng Trung Hải vào thay ông Sinh Hùng. Âm mưu này của ông Dũng đến nay đã thất bại thảm hại, ông Nhân không vào được Bộ chính trị, mà là ông Tô Huy Rứa, vây cánh của ông Hồ Đức Việt. Ông Khiêm, ông Hùng vẫn tại vị.
Cái mạnh của ông Trương Tấn Sang là chức Thường trực Tổng bí thư, giống như chức Phó Tổng bí thư. Ông Sang cùng tuổi với ông Nguyễn Tấn Dũng, sinh năm 1949. Cái yếu của ông Sang là ông ấy không có sự ủng hộ sâu trong Đảng. Người ta biết ống Sang từng có nhiều mâu thuẫn với ông Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, khi ông Sang còn làm Bí thư Sài Gòn. Ông Triết làm Bí thư tính Sông Bé từ năm 1991 đến 1996. Ông Triết ủng hộ kinh tế tư nhân, nhất là công ty của Dũng lò vôi, và ông cũng ủng hộ công ty nước ngoài đầu tư vào Sông Bé, nên kinh tế Sông Bé phát triển rất nhanh.
Ông Triết sinh năm 1942, năm 1996 ông Triết 54 tuổi, được dự kiến sẽ làm Thủ tướng thay ông Kiệt. Nhưng Sông Bé chỉ là tỉnh nhỏ, nên Bộ chính trị dự kiến cho ông Triết về làm Bí thư Sài Gòn, thay ông Sang, để làm bước đệm trước khi làm Thủ tướng. Tháng 1 năm 1997, ông Triết được điều về làm Phó bí thư Sài Gòn, chờ ông Sang (khi đó là Bí thư Sài Gòn) ra Hà Nội, để ông Triết làm Bí thư Sài Gòn. Nhưng ông Sang nhất định không ra Hà Nội. Chờ không được, nên đến tháng 12 năm 1997, ông Triết phải ra Trung ương làm chức Trưởng ban Dân vận Trung ương, để chờ Trung ương giải quyết vấn đề ông Sang.
Năm 1997, ông Lê Khả Phiêu lên làm Tổng bí thư, ông Phiêu quyết tâm gải quyết vấn đề ông Sang, yêu cầu ông Sang phải ra Hà Nội, nếu không sẽ buộc về hưu non. Cuối cùng, đầu năm 2000, ông Sang mới chịu ra Hà Nội, làm chức Trưởng ban Kinh tế trung ương, một chức vụ “ngồi chơi xơi nước”, không có thực quyền. Tháng 1 năm 2000, ông Triết mới về Sài Gòn làm Bí thư được. Chậm mất 3 năm, và nhất là mất đi cơ hội làm Thủ tướng. Ông Triết đành làm chức Bí thư Sài Gòn tới năm 2006, để được bầu làm chức Chủ tịch nước. Nếu ông Sang không ghìm chân ông Triết mất 3 năm đó, thì bây giờ chức Tổng bí thư từ năm đã vào tay ông Triết rồi.
Như vậy quan hệ giữa ông Triết và ông Sang không thể gọi là tốt đẹp được. Ông Sang cũng rất may mắn, khi từ chức Trưởng ban Kinh tế trung ương được vào chức Thường trực Ban bí thư, do việc đấu đá nội bộ hồi Đại hội 10 năm 2006, nên ông Sang ở giữa được lợi.
Bây giờ ông Sang nhân cơ hội năm chức Thường trực Ban bí thư đầy quyền lực, và ông cũng còn trẻ, nên rất hang hái tìm cách nắm chức Tổng bí thư vào năm 2011.
Với ông Hồ Đức Việt, chức Trưởng Ban tổ chức Trung ương ngày nay không còn quyền lực như trước nữa. Ông Việt cũng sinh năm 1944, nhiều hơn ông Sang và ông Dũng 5 tuổi. Nhưng ông Việt có thuận lợi là người miền Bắc, lại quê hương Bác Hồ, và là con ông Hồ Tùng Mậu, nhà cách mạng lão thành cùng thời với Bác Hồ. Cái yếu nhất của ông Việt là tuổi.
Nếu Tổng bí thư là người miền Nam, thì chắc chắn Thủ tướng phải là người miền Bắc, và ngược lại. Chủ tịch nước thì thường là miền Trung, nhưng cũng có thể tùy tình hình, vì chức vụ này không quan trọng lắm.
Nhưng nếu vào Đại hội 11 năm 2011, chức vụ Chủ tịch nước được gộp vào chức Tổng bí thư, tức Tổng bí thư sẽ kiêm Chủ tịch nước, thì chắc chắn Thủ tướng, và Tổng bí thư phải là một người miền Bắc, một người miền Nam.
Nhưng nếu 3 ông nói trên đánh nhau kịch liệt để tranh chức Tổng bí thư, thì có thể người ở giữa sẽ lên, đó là ông Lê Hồng Anh, Bộ trưởng Công an, hiền lành, ít nói, và không tham gia đấu đá với ai cả. Khi đó thì Thủ tướng chắc chắn phải là một người miền Bắc, và rất có thể sẽ là ông Hoàng Trung Hải, sinh năm 1959. Ông Hải trẻ nhất, cũng hiền lành ít nói, và không tham gia đấu đá với ai cả.
Nếu 2 con người hiền lành, trong sạch đó lên lãnh đạo đất nước ta, thì quả là một diễm phúc lớn cho nước Việt Nam ta. ( nhưng đừng bao giờ tin thằng cộng sản , thằng cộng sản nào củng điểu cán vô liêm sỉ )
Hãy chờ xem.
Đầu năm 2011 sẽ diễn ra Đại hội 11 của Đảng cộng sản Việt Nam. Mối quan tâm của nhiều người là ai sẽ là Tổng bí thư của Đảng cộng sản Việt Nam vào Đại hội 11 đó? Ở một nước độc tài 1 đảng như ở nước ta, thì Tổng bí thư của Đảng cầm quyền là to nhất, to hơn Thủ tướng và Chủ tịch nước. Chức vụ đó sẽ có ảnh hưởng quan trọng đến đường lối đối nội và đối ngoại của VN. Hiện nay có 3 ứng cử viên đang muốn ganh đua vào chức vụ này, đó là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Thường trực Ban bí thư Trương Tấn Sang, và Trưởng ban Tổ chức Trung ương Hồ Đức Việt.
Cái mạnh của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, là ông ấy là Thủ tướng, chức vụ quan trọng thứ hai của đất nước sau Tổng bí thư. Nhưng cái yếu của ông ấy là ông ấy không có thực tài, và đang bị nhiều dư luận về gia đình giàu có nứt đố đổ vách của con gái, và của em trai. Vây cánh của ông ấy cũng nhiều, nhưng chủ yếu là giới kinh doanh. Ông Dũng đã từng làm Thứ trưởng Bộ công an, nhưng chỉ hơn 1 năm, và ông ấy cũng không có nhiều thủ đoạn để kéo bè cánh, nên đàn em trong ngành công an đầy quyền lực cũng không nhiều. Phe cánh của ông ấy trong quân đội cũng hầu như không có ai, trừ Nguyễn Chí Vịnh, Tổng cục trưởng, Tổng cục 2. Nhiều người nói chỉ cần Nguyễn Chí Vịnh làm vây cánh cho ông Dũng là đủ để giành lấy chức Tổng bí thư. Nhưng hãy chờ xem.
Trong Bộ chính trị, ông Dũng cũng bị nhiều người ghét. Ông Tổng bí thư Nông Đức Mạnh thù ông Dũng vụ PMU18, vì ông Dũng định làm vụ PMU18 để đánh ông Mạnh, vì con rể ông Mạnh làm việc ở đó. Ông Phạm Gia Khiêm, Bộ trưởng Ngoại giao, và ông Nguyễn Sinh Hùng, Phó thủ tướng Thường trực cũng ghét ông DŨng, vì ông Dũng muốn bẩy 2 ông này sang Quốc Hội, để gài ông Nguyễn Thiện Nhân làm Bộ trưởng Ngoại Giao, và gài ông Hoàng Trung Hải vào thay ông Sinh Hùng. Âm mưu này của ông Dũng đến nay đã thất bại thảm hại, ông Nhân không vào được Bộ chính trị, mà là ông Tô Huy Rứa, vây cánh của ông Hồ Đức Việt. Ông Khiêm, ông Hùng vẫn tại vị.
Cái mạnh của ông Trương Tấn Sang là chức Thường trực Tổng bí thư, giống như chức Phó Tổng bí thư. Ông Sang cùng tuổi với ông Nguyễn Tấn Dũng, sinh năm 1949. Cái yếu của ông Sang là ông ấy không có sự ủng hộ sâu trong Đảng. Người ta biết ống Sang từng có nhiều mâu thuẫn với ông Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, khi ông Sang còn làm Bí thư Sài Gòn. Ông Triết làm Bí thư tính Sông Bé từ năm 1991 đến 1996. Ông Triết ủng hộ kinh tế tư nhân, nhất là công ty của Dũng lò vôi, và ông cũng ủng hộ công ty nước ngoài đầu tư vào Sông Bé, nên kinh tế Sông Bé phát triển rất nhanh.
Ông Triết sinh năm 1942, năm 1996 ông Triết 54 tuổi, được dự kiến sẽ làm Thủ tướng thay ông Kiệt. Nhưng Sông Bé chỉ là tỉnh nhỏ, nên Bộ chính trị dự kiến cho ông Triết về làm Bí thư Sài Gòn, thay ông Sang, để làm bước đệm trước khi làm Thủ tướng. Tháng 1 năm 1997, ông Triết được điều về làm Phó bí thư Sài Gòn, chờ ông Sang (khi đó là Bí thư Sài Gòn) ra Hà Nội, để ông Triết làm Bí thư Sài Gòn. Nhưng ông Sang nhất định không ra Hà Nội. Chờ không được, nên đến tháng 12 năm 1997, ông Triết phải ra Trung ương làm chức Trưởng ban Dân vận Trung ương, để chờ Trung ương giải quyết vấn đề ông Sang.
Năm 1997, ông Lê Khả Phiêu lên làm Tổng bí thư, ông Phiêu quyết tâm gải quyết vấn đề ông Sang, yêu cầu ông Sang phải ra Hà Nội, nếu không sẽ buộc về hưu non. Cuối cùng, đầu năm 2000, ông Sang mới chịu ra Hà Nội, làm chức Trưởng ban Kinh tế trung ương, một chức vụ “ngồi chơi xơi nước”, không có thực quyền. Tháng 1 năm 2000, ông Triết mới về Sài Gòn làm Bí thư được. Chậm mất 3 năm, và nhất là mất đi cơ hội làm Thủ tướng. Ông Triết đành làm chức Bí thư Sài Gòn tới năm 2006, để được bầu làm chức Chủ tịch nước. Nếu ông Sang không ghìm chân ông Triết mất 3 năm đó, thì bây giờ chức Tổng bí thư từ năm đã vào tay ông Triết rồi.
Như vậy quan hệ giữa ông Triết và ông Sang không thể gọi là tốt đẹp được. Ông Sang cũng rất may mắn, khi từ chức Trưởng ban Kinh tế trung ương được vào chức Thường trực Ban bí thư, do việc đấu đá nội bộ hồi Đại hội 10 năm 2006, nên ông Sang ở giữa được lợi.
Bây giờ ông Sang nhân cơ hội năm chức Thường trực Ban bí thư đầy quyền lực, và ông cũng còn trẻ, nên rất hang hái tìm cách nắm chức Tổng bí thư vào năm 2011.
Với ông Hồ Đức Việt, chức Trưởng Ban tổ chức Trung ương ngày nay không còn quyền lực như trước nữa. Ông Việt cũng sinh năm 1944, nhiều hơn ông Sang và ông Dũng 5 tuổi. Nhưng ông Việt có thuận lợi là người miền Bắc, lại quê hương Bác Hồ, và là con ông Hồ Tùng Mậu, nhà cách mạng lão thành cùng thời với Bác Hồ. Cái yếu nhất của ông Việt là tuổi.
Nếu Tổng bí thư là người miền Nam, thì chắc chắn Thủ tướng phải là người miền Bắc, và ngược lại. Chủ tịch nước thì thường là miền Trung, nhưng cũng có thể tùy tình hình, vì chức vụ này không quan trọng lắm.
Nhưng nếu vào Đại hội 11 năm 2011, chức vụ Chủ tịch nước được gộp vào chức Tổng bí thư, tức Tổng bí thư sẽ kiêm Chủ tịch nước, thì chắc chắn Thủ tướng, và Tổng bí thư phải là một người miền Bắc, một người miền Nam.
Nhưng nếu 3 ông nói trên đánh nhau kịch liệt để tranh chức Tổng bí thư, thì có thể người ở giữa sẽ lên, đó là ông Lê Hồng Anh, Bộ trưởng Công an, hiền lành, ít nói, và không tham gia đấu đá với ai cả. Khi đó thì Thủ tướng chắc chắn phải là một người miền Bắc, và rất có thể sẽ là ông Hoàng Trung Hải, sinh năm 1959. Ông Hải trẻ nhất, cũng hiền lành ít nói, và không tham gia đấu đá với ai cả.
Nếu 2 con người hiền lành, trong sạch đó lên lãnh đạo đất nước ta, thì quả là một diễm phúc lớn cho nước Việt Nam ta. ( nhưng đừng bao giờ tin thằng cộng sản , thằng cộng sản nào củng điểu cán vô liêm sỉ )
Hãy chờ xem.
Giải Nobel lạ lùng
Ngô Nhân Dụng Ông Norman E. Borlaug mới qua đời tháng trước. Ông là người Mỹ được tặng giải Nobel Hòa Bình năm 1970, sau Mục Sư Martin Luther King Jr. (1964) và một chục người Mỹ khác. Borlaug là một cậu bé nhà nông ở vùng Trung Tây (Midwest), lúc lớn lên được bố dẫn đi thăm thành phố Minneapolis cậu ngạc nhiên vì lần đầu tiên trông thấy người đói, những người Mỹ đói đang đi xin ăn. Từ đó Borlaug bị ám ảnh, cứ nghĩ phải làm sao giúp người ta khỏi đói. Cậu học về thực vật, nông nghiệp và cố gắng gây giống từ những loại lúa mì khác nhau để tạo những giống lúa mới, có hiệu năng cao hơn và tự chống lại được sâu, rầy.
Năm 1944, sau khi đã làm công việc khảo cứu trong hãng DuPont để phục vụ quân đội trong thời chiến, Borlaug đã bỏ công ty lớn này ra đi, từ chối món lương tăng gấp đôi, để sang Mexico làm công việc nghiên cứu tìm giống lúa mì mới. Tại đây, ông làm việc 12 tiếng một ngày dưới thời tiết nóng và khô. Mexico đang bị nạn đói liên tiếp nhiều năm trước vì sâu rầy phá hại mùa màng. Borlaug không chỉ nghiên cứu trong phòng thí nghiệm mà đích thân ra ngoài ruộng, ông cầy, bừa, gieo hạt, tưới bón, theo dõi hạt nẩy mầm, chờ lúa lớn lên, thí nghiệm các thứ phân bón khác nhau. Sau mấy năm chính ông đem trồng thứ lúa mới có kết quả rõ ràng, một thửa ruộng có thể gặt được nhiều lúa hơn giống lúa cũ, Borlaug mới thuyết phục các nông dân Mexico dùng thử các hạt giống mới. Mấy năm sau, Mexico không còn nạn đói mà trở thành một quốc gia xuất cảng lúa mì. Borlaug vẫn tiếp tục công việc nghiên cứu ở Ấn Ðộ và Pakistan, ngay trong lúc hai quốc gia này đang đánh nhau. Ông nói rằng loài người không thể nào có hòa bình nếu người ta còn đói, và dần dần nông dân hai nước này cũng bắt đầu trồng những giống lúa mới và không bị đói nữa - tuy nhiên họ vẫn tiếp tục đánh nhau vài lần nữa! Ông mất vào ngày 14 Tháng Chín vừa qua, chắc ít có ai nghe báo đài loan tin!
Sau một đời cần cù làm việc, Norman E. Borlaug đã cứu hàng trăm ngàn người khỏi chết đói và hàng tỷ người thoát cảnh đói khổ. Ông xứng đáng được trao giải Nobel Hòa Bình, mặc dù người lập ra giải này không có ý tặng cho những người có công cứu đói như ông. Trong di chúc viết năm 1895, Alfred Nobel yêu cầu giải này đem tặng cho “người nào đã làm nhiều nhất hay việc tốt nhất để xây dựng tình huynh đệ giữa các quốc gia, hoặc giải trừ hay giảm bớt quân lực và xây dựng, phát triển sự tiến bộ của hòa bình.” Các ủy ban tuyển lựa giải Nobel Hòa Bình đã mở rộng thêm tiêu chuẩn ra ngoài những điều ghi trong di chúc trên và tặng giải cho cả những người như ông Norman E. Borlaug hoặc ông Al Gore (2006) một cựu phó tổng thống Mỹ đã góp công vận động cho phong trào bảo vệ môi trường sống. Những nhà tranh đấu cho dân chủ tự do và nhân quyền cũng được trao giải, vì khi thế giới chắc sẽ hòa bình hơn khi quyền làm người, quyền công dân được các chính quyền tôn trọng. Mẹ Theresa được trao giải năm 1979 vì những công cuộc bác ái bà đã theo đuổi suốt đời. Tiêu chuẩn lựa chọn càng ngày càng được mở rộng thêm.
Nhưng khi nghe tin giải Nobel Hòa Bình năm 2009 được trao cho Tổng Thống Mỹ Barack Obama thì hầu hết mọi người phải ngạc nhiên, kể cả ông Obama như ông công khai thú nhận.
Ông Michael Steele, chủ tịch Ủy Ban Quốc Gia đảng Cộng Hòa nói, “Câu hỏi mà người Mỹ đang đặt ra là Tổng Thống Obama đã thực hiện được những gì mà được trao giải?” Cựu Tổng Thống Ba Lan Lech Walesa đồng ý, “Sao mau vậy? Còn sớm quá. Ông ấy đã đóng góp được gì đâu? Ông ấy mới bước lên sân khấu, mới bắt đầu hành động!” Lech Walesa đã được trao giải Nobel Hòa Bình năm 1983, mà thường một người đã lãnh giải ít khi tỏ ý nghi ngờ việc phát giải cho người sau mình. Tuy nhiên Walesa vẫn được tiếng là người chất phác, bộc trực, tính nết một công nhân thợ điện.
Walesa là một thí dụ cho thấy ủy ban tuyển chọn giải Nobel Hòa Bình thường tìm cách dùng giải này gây tác động trên chính trị quốc tế. Ông được trao giải trong lúc đang lãnh đạo công đoàn độc lập Solidarnos đối đầu với đảng Cộng Sản Ba Lan. Mọi người hiểu việc trao giải cho ông là một lời tán thưởng gửi tới một nhà tranh đấu cho tự do dân chủ. Ðó cũng là một lý do khiến trong những năm qua nhiều người đã đề cử Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ để tặng giải Nobel Hòa Bình. Bà Aung San Suu Kyi được tặng giải năm 1991 cũng vì bà lãnh đạo công cuộc tranh đấu cho tự do dân chủ ở Myanmar, Miến Ðiện và đến giờ vẫn bị tù.
Năm 1975, giải được trao cho nhà bác học Andrei Shakarow, người đã lên tiếng chống chế độ độc tài Cộng Sản ở Liên Xô mà vì thế bị tù đầy. Năm sau, giải được trao cho hai phụ nữ đã vận động hòa bình ở Ái Nhĩ Lan, tìm cách chấm dứt cuộc nội chiến ở vùng miền Bắc nước này. Năm 1984, Giám Mục Desmond Tutu ở Nam Phi được tặng giải vì công trình tranh đấu bất bạo động của ông cùng dân da đen ở đây để thay đổi chế độ kỳ thị chủng tộc. Năm 1989, ngay sau khi đảng Cộng Sản Trung Quốc đàn áp đẫm máu các sinh viên, công nhân biểu tình ở Thiên An Môn, giải Nobel Hòa Bình được tặng cho Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, một cử chỉ gián tiếp lên án chế độ độc tài ở Bắc Kinh. Năm 1990, giải Nobel Hòa Bình cũng được tặng cho ông Mikail Gorbachev, chủ tịch đảng Cộng Sản Liên Xô, để tán thưởng ông đã không đưa quân qua các nước Ðông Âu ngăn cản phong trào tự do dân chủ bùng lên ở đó trong năm 1989, như những người lãnh đạo Liên Xô đã làm trong những năm 1956 ở Hungary và 1968 ở Tiệp Khắc.
Walesa cho rằng việc trao giải cho Tổng Thống Obama chắc có ý “khuyến khích” ông tiến tới các hành động cụ thể sau này. Trong quá khứ mục tiêu “khuyến khích” cũng thường được sử dụng. Nhưng hành động khuyến khích của quý vị trong ủy ban tuyển chọn ở Oslo không biết có công hiệu hay không! Năm 1971, giải Hòa Bình được tặng cho Thủ Tướng Ðức Willy Brandt, vì ông là người lãnh đạo đầu tiên ở Tây Ðức đã lên tiếng kêu gọi hòa giải với Ðông Ðức và cả khối Cộng Sản ở Ðông Âu. Chính sách Phương Ðông (OstPolitick) của ông đi trước các quốc gia Tây phương khác, có thể đã tác động trên công luận đưa tới các biến cố ở Ðông Âu sau đó hàng chục năm. Năm 1978, thủ tướng Israel, Menachem Begin và Tổng Thống Ai Cập Anwar Sadat được trao giải Hòa Bình sau khi hai nước ký một hòa ước chấm dứt những cuộc chiến tranh kéo dài suốt 30 năm; đây là một cử chỉ khuyến khích các nước Á Rập khác làm theo, nhưng không thành công. Năm 1994, các thủ tướng Shimon Peres và Ytzhak Rabin của Israel cùng lãnh tụ Palestine ông Yasir Arafat được tặng giải để khuyến khích hai dân tộc tiến đến hòa bình; nhưng tới nay viễn ảnh đó vẫn còn xa vời.
Không có năm nào mà giải Nobel Hòa Bình bị chỉ trích mạnh như năm 1973 khi ủy ban ở Oslo, thủ đô Na Uy, trao giải cho hai ông Henry Kissinger và Lê Ðức Thọ, hai người đã đàm phán trong mấy năm đưa tới Hiệp Ðịnh Paris kết thúc chiến tranh Việt Nam. Người chủ trương chấm dứt chiến tranh Việt Nam là Tổng Thống Nixon còn Kissinger chỉ làm theo lệnh. Còn mọi người đều biết Lê Ðức Thọ ăn gian nói dối khi khẳng định rằng quân đội Bắc Việt không có mặt ở miền Nam! Kissinger đi lãnh giải nhưng Lê Ðức Thọ từ chối vì đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn tiếp tục chiến tranh cho đến khi chiếm được miền Nam Việt Nam mới thôi.
Việc trao giải Nobel Hòa Bình cho Tổng Thống Mỹ Barack Obama cũng là một cử chỉ mang tính cách chính trị. Nhiều người coi đây là một cách bầy tỏ thái độ với cựu Tổng Thống Mỹ Gorges W. Bush, một thái độ không thân thiện của người Âu Châu. Ủy ban tuyển chọn gồm 5 người do Quốc Hội Na Uy cử ra, mà Quốc Hội Na Uy hiện nay do các đảng tả phái chiếm đa số. Họ muốn chứng tỏ ý hoan nghênh ông Obama khi ông thay đổi triết lý ngoại giao của nước Mỹ, từ xung đột chuyển sang hòa hoãn.
Nhưng nếu chỉ tuyên bố những lời hòa hoãn và đọc những bãi diễn văn kêu gọi hòa bình mà được giải Nobel, trước khi đạt được những thành tựu cụ thể, thì việc trao giải cho ông Obama sẽ hạ thấp giá trị cả định chế quốc tế xưa nay vẫn được tôn trọng này. Chính ông Obama đã thú nhận ông cảm thấy “không đáng” được trao giải. Ông có thể từ chối lãnh giải (như Lê Ðức Thọ) được không? Việc từ chối sẽ gây bất lợi cho cả nước Mỹ! Khi vị tổng thống Mỹ từ chối một giải Hòa Bình thì cả thế giới sẽ đặt câu hỏi không biết nước Mỹ đang toan tính gây chiến với ai mà ông ta lại sợ không đi lãnh giải? Ủy ban tuyển chọn ở Oslo đã đặt ông Obama vào một tình thế lưỡng nan. Có lẽ chưa có ai được trao giải thưởng mà lại trở thành một nạn nhân của giải đó như ông Obama.
Và việc trao giải chắc chắn sẽ không ích lợi gì cho ông Obama trong các cuộc đấu tranh chính trị nội bộ ở Mỹ. Dân Mỹ có thể bất mãn vì thấy “người Âu Châu” có ý gây ảnh hưởng trên chính trị nước Mỹ. Năm 1919 Tổng Thống Mỹ Woodrow Wilson được tặng giải Nobel Hòa Bình sau khi ông đề nghị lập Hội Quốc Liên để cho các nước gặp gỡ thường xuyên, tránh gây thêm chiến tranh. Nhưng sau đó Thượng Viện Mỹ nhất định không phê chuẩn việc gia nhập tổ chức quốc tế này, để sau này tổ chức đó tan rã.
Bây giờ Tổng Thống Obama sẽ bị cả nước Mỹ và cả thế giới nhìn vào và thẩm lượng, không phải với tư cách một trong nước Mỹ không thôi mà còn tư cách một người lãnh giải Nobel Hòa Bình. Nếu ông tỏ ra cứng rắn trong trường ngoại giao, thí dụ đưa thêm 40,000 quân sang Afghanistan như đang được yêu cầu, thì người ta sẽ chỉ trích là hiếu chiến. Còn nếu ông tỏ ra mềm mỏng, với Iran hay Cuba thì ông sẽ bị chỉ trích là không làm đúng trách nhiệm của một vị tổng thống mà chỉ lo bảo vệ danh tiếng con người lãnh Giải Nobel Hòa Bình! Ông Obama ăn nói rất giỏi. Ðến ngày sang Oslo lãnh giải chắc ông sẽ tìm cách nói sao cho mọi người đừng trông đợi ở ông nhiều quá! Có thể ông sẽ nhắc đến một câu tục ngữ La tinh để làm vừa lòng cả diều hâu lẫn bồ câu: Muốn có hòa bình phải chuẩn bị chiến tranh! (Si vis Pacem para Bellum).
Ngô Nhân Dụng Ông Norman E. Borlaug mới qua đời tháng trước. Ông là người Mỹ được tặng giải Nobel Hòa Bình năm 1970, sau Mục Sư Martin Luther King Jr. (1964) và một chục người Mỹ khác. Borlaug là một cậu bé nhà nông ở vùng Trung Tây (Midwest), lúc lớn lên được bố dẫn đi thăm thành phố Minneapolis cậu ngạc nhiên vì lần đầu tiên trông thấy người đói, những người Mỹ đói đang đi xin ăn. Từ đó Borlaug bị ám ảnh, cứ nghĩ phải làm sao giúp người ta khỏi đói. Cậu học về thực vật, nông nghiệp và cố gắng gây giống từ những loại lúa mì khác nhau để tạo những giống lúa mới, có hiệu năng cao hơn và tự chống lại được sâu, rầy.
Năm 1944, sau khi đã làm công việc khảo cứu trong hãng DuPont để phục vụ quân đội trong thời chiến, Borlaug đã bỏ công ty lớn này ra đi, từ chối món lương tăng gấp đôi, để sang Mexico làm công việc nghiên cứu tìm giống lúa mì mới. Tại đây, ông làm việc 12 tiếng một ngày dưới thời tiết nóng và khô. Mexico đang bị nạn đói liên tiếp nhiều năm trước vì sâu rầy phá hại mùa màng. Borlaug không chỉ nghiên cứu trong phòng thí nghiệm mà đích thân ra ngoài ruộng, ông cầy, bừa, gieo hạt, tưới bón, theo dõi hạt nẩy mầm, chờ lúa lớn lên, thí nghiệm các thứ phân bón khác nhau. Sau mấy năm chính ông đem trồng thứ lúa mới có kết quả rõ ràng, một thửa ruộng có thể gặt được nhiều lúa hơn giống lúa cũ, Borlaug mới thuyết phục các nông dân Mexico dùng thử các hạt giống mới. Mấy năm sau, Mexico không còn nạn đói mà trở thành một quốc gia xuất cảng lúa mì. Borlaug vẫn tiếp tục công việc nghiên cứu ở Ấn Ðộ và Pakistan, ngay trong lúc hai quốc gia này đang đánh nhau. Ông nói rằng loài người không thể nào có hòa bình nếu người ta còn đói, và dần dần nông dân hai nước này cũng bắt đầu trồng những giống lúa mới và không bị đói nữa - tuy nhiên họ vẫn tiếp tục đánh nhau vài lần nữa! Ông mất vào ngày 14 Tháng Chín vừa qua, chắc ít có ai nghe báo đài loan tin!
Sau một đời cần cù làm việc, Norman E. Borlaug đã cứu hàng trăm ngàn người khỏi chết đói và hàng tỷ người thoát cảnh đói khổ. Ông xứng đáng được trao giải Nobel Hòa Bình, mặc dù người lập ra giải này không có ý tặng cho những người có công cứu đói như ông. Trong di chúc viết năm 1895, Alfred Nobel yêu cầu giải này đem tặng cho “người nào đã làm nhiều nhất hay việc tốt nhất để xây dựng tình huynh đệ giữa các quốc gia, hoặc giải trừ hay giảm bớt quân lực và xây dựng, phát triển sự tiến bộ của hòa bình.” Các ủy ban tuyển lựa giải Nobel Hòa Bình đã mở rộng thêm tiêu chuẩn ra ngoài những điều ghi trong di chúc trên và tặng giải cho cả những người như ông Norman E. Borlaug hoặc ông Al Gore (2006) một cựu phó tổng thống Mỹ đã góp công vận động cho phong trào bảo vệ môi trường sống. Những nhà tranh đấu cho dân chủ tự do và nhân quyền cũng được trao giải, vì khi thế giới chắc sẽ hòa bình hơn khi quyền làm người, quyền công dân được các chính quyền tôn trọng. Mẹ Theresa được trao giải năm 1979 vì những công cuộc bác ái bà đã theo đuổi suốt đời. Tiêu chuẩn lựa chọn càng ngày càng được mở rộng thêm.
Nhưng khi nghe tin giải Nobel Hòa Bình năm 2009 được trao cho Tổng Thống Mỹ Barack Obama thì hầu hết mọi người phải ngạc nhiên, kể cả ông Obama như ông công khai thú nhận.
Ông Michael Steele, chủ tịch Ủy Ban Quốc Gia đảng Cộng Hòa nói, “Câu hỏi mà người Mỹ đang đặt ra là Tổng Thống Obama đã thực hiện được những gì mà được trao giải?” Cựu Tổng Thống Ba Lan Lech Walesa đồng ý, “Sao mau vậy? Còn sớm quá. Ông ấy đã đóng góp được gì đâu? Ông ấy mới bước lên sân khấu, mới bắt đầu hành động!” Lech Walesa đã được trao giải Nobel Hòa Bình năm 1983, mà thường một người đã lãnh giải ít khi tỏ ý nghi ngờ việc phát giải cho người sau mình. Tuy nhiên Walesa vẫn được tiếng là người chất phác, bộc trực, tính nết một công nhân thợ điện.
Walesa là một thí dụ cho thấy ủy ban tuyển chọn giải Nobel Hòa Bình thường tìm cách dùng giải này gây tác động trên chính trị quốc tế. Ông được trao giải trong lúc đang lãnh đạo công đoàn độc lập Solidarnos đối đầu với đảng Cộng Sản Ba Lan. Mọi người hiểu việc trao giải cho ông là một lời tán thưởng gửi tới một nhà tranh đấu cho tự do dân chủ. Ðó cũng là một lý do khiến trong những năm qua nhiều người đã đề cử Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ để tặng giải Nobel Hòa Bình. Bà Aung San Suu Kyi được tặng giải năm 1991 cũng vì bà lãnh đạo công cuộc tranh đấu cho tự do dân chủ ở Myanmar, Miến Ðiện và đến giờ vẫn bị tù.
Năm 1975, giải được trao cho nhà bác học Andrei Shakarow, người đã lên tiếng chống chế độ độc tài Cộng Sản ở Liên Xô mà vì thế bị tù đầy. Năm sau, giải được trao cho hai phụ nữ đã vận động hòa bình ở Ái Nhĩ Lan, tìm cách chấm dứt cuộc nội chiến ở vùng miền Bắc nước này. Năm 1984, Giám Mục Desmond Tutu ở Nam Phi được tặng giải vì công trình tranh đấu bất bạo động của ông cùng dân da đen ở đây để thay đổi chế độ kỳ thị chủng tộc. Năm 1989, ngay sau khi đảng Cộng Sản Trung Quốc đàn áp đẫm máu các sinh viên, công nhân biểu tình ở Thiên An Môn, giải Nobel Hòa Bình được tặng cho Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, một cử chỉ gián tiếp lên án chế độ độc tài ở Bắc Kinh. Năm 1990, giải Nobel Hòa Bình cũng được tặng cho ông Mikail Gorbachev, chủ tịch đảng Cộng Sản Liên Xô, để tán thưởng ông đã không đưa quân qua các nước Ðông Âu ngăn cản phong trào tự do dân chủ bùng lên ở đó trong năm 1989, như những người lãnh đạo Liên Xô đã làm trong những năm 1956 ở Hungary và 1968 ở Tiệp Khắc.
Walesa cho rằng việc trao giải cho Tổng Thống Obama chắc có ý “khuyến khích” ông tiến tới các hành động cụ thể sau này. Trong quá khứ mục tiêu “khuyến khích” cũng thường được sử dụng. Nhưng hành động khuyến khích của quý vị trong ủy ban tuyển chọn ở Oslo không biết có công hiệu hay không! Năm 1971, giải Hòa Bình được tặng cho Thủ Tướng Ðức Willy Brandt, vì ông là người lãnh đạo đầu tiên ở Tây Ðức đã lên tiếng kêu gọi hòa giải với Ðông Ðức và cả khối Cộng Sản ở Ðông Âu. Chính sách Phương Ðông (OstPolitick) của ông đi trước các quốc gia Tây phương khác, có thể đã tác động trên công luận đưa tới các biến cố ở Ðông Âu sau đó hàng chục năm. Năm 1978, thủ tướng Israel, Menachem Begin và Tổng Thống Ai Cập Anwar Sadat được trao giải Hòa Bình sau khi hai nước ký một hòa ước chấm dứt những cuộc chiến tranh kéo dài suốt 30 năm; đây là một cử chỉ khuyến khích các nước Á Rập khác làm theo, nhưng không thành công. Năm 1994, các thủ tướng Shimon Peres và Ytzhak Rabin của Israel cùng lãnh tụ Palestine ông Yasir Arafat được tặng giải để khuyến khích hai dân tộc tiến đến hòa bình; nhưng tới nay viễn ảnh đó vẫn còn xa vời.
Không có năm nào mà giải Nobel Hòa Bình bị chỉ trích mạnh như năm 1973 khi ủy ban ở Oslo, thủ đô Na Uy, trao giải cho hai ông Henry Kissinger và Lê Ðức Thọ, hai người đã đàm phán trong mấy năm đưa tới Hiệp Ðịnh Paris kết thúc chiến tranh Việt Nam. Người chủ trương chấm dứt chiến tranh Việt Nam là Tổng Thống Nixon còn Kissinger chỉ làm theo lệnh. Còn mọi người đều biết Lê Ðức Thọ ăn gian nói dối khi khẳng định rằng quân đội Bắc Việt không có mặt ở miền Nam! Kissinger đi lãnh giải nhưng Lê Ðức Thọ từ chối vì đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn tiếp tục chiến tranh cho đến khi chiếm được miền Nam Việt Nam mới thôi.
Việc trao giải Nobel Hòa Bình cho Tổng Thống Mỹ Barack Obama cũng là một cử chỉ mang tính cách chính trị. Nhiều người coi đây là một cách bầy tỏ thái độ với cựu Tổng Thống Mỹ Gorges W. Bush, một thái độ không thân thiện của người Âu Châu. Ủy ban tuyển chọn gồm 5 người do Quốc Hội Na Uy cử ra, mà Quốc Hội Na Uy hiện nay do các đảng tả phái chiếm đa số. Họ muốn chứng tỏ ý hoan nghênh ông Obama khi ông thay đổi triết lý ngoại giao của nước Mỹ, từ xung đột chuyển sang hòa hoãn.
Nhưng nếu chỉ tuyên bố những lời hòa hoãn và đọc những bãi diễn văn kêu gọi hòa bình mà được giải Nobel, trước khi đạt được những thành tựu cụ thể, thì việc trao giải cho ông Obama sẽ hạ thấp giá trị cả định chế quốc tế xưa nay vẫn được tôn trọng này. Chính ông Obama đã thú nhận ông cảm thấy “không đáng” được trao giải. Ông có thể từ chối lãnh giải (như Lê Ðức Thọ) được không? Việc từ chối sẽ gây bất lợi cho cả nước Mỹ! Khi vị tổng thống Mỹ từ chối một giải Hòa Bình thì cả thế giới sẽ đặt câu hỏi không biết nước Mỹ đang toan tính gây chiến với ai mà ông ta lại sợ không đi lãnh giải? Ủy ban tuyển chọn ở Oslo đã đặt ông Obama vào một tình thế lưỡng nan. Có lẽ chưa có ai được trao giải thưởng mà lại trở thành một nạn nhân của giải đó như ông Obama.
Và việc trao giải chắc chắn sẽ không ích lợi gì cho ông Obama trong các cuộc đấu tranh chính trị nội bộ ở Mỹ. Dân Mỹ có thể bất mãn vì thấy “người Âu Châu” có ý gây ảnh hưởng trên chính trị nước Mỹ. Năm 1919 Tổng Thống Mỹ Woodrow Wilson được tặng giải Nobel Hòa Bình sau khi ông đề nghị lập Hội Quốc Liên để cho các nước gặp gỡ thường xuyên, tránh gây thêm chiến tranh. Nhưng sau đó Thượng Viện Mỹ nhất định không phê chuẩn việc gia nhập tổ chức quốc tế này, để sau này tổ chức đó tan rã.
Bây giờ Tổng Thống Obama sẽ bị cả nước Mỹ và cả thế giới nhìn vào và thẩm lượng, không phải với tư cách một trong nước Mỹ không thôi mà còn tư cách một người lãnh giải Nobel Hòa Bình. Nếu ông tỏ ra cứng rắn trong trường ngoại giao, thí dụ đưa thêm 40,000 quân sang Afghanistan như đang được yêu cầu, thì người ta sẽ chỉ trích là hiếu chiến. Còn nếu ông tỏ ra mềm mỏng, với Iran hay Cuba thì ông sẽ bị chỉ trích là không làm đúng trách nhiệm của một vị tổng thống mà chỉ lo bảo vệ danh tiếng con người lãnh Giải Nobel Hòa Bình! Ông Obama ăn nói rất giỏi. Ðến ngày sang Oslo lãnh giải chắc ông sẽ tìm cách nói sao cho mọi người đừng trông đợi ở ông nhiều quá! Có thể ông sẽ nhắc đến một câu tục ngữ La tinh để làm vừa lòng cả diều hâu lẫn bồ câu: Muốn có hòa bình phải chuẩn bị chiến tranh! (Si vis Pacem para Bellum).
BẢN CHẤT LÁO KHOÉT CỦA CỘNG SẢN HÀ NỘI
Ít ngày trước 30/04/1975, ông Nguyễn Văn Thiệu đã nói một câu bất hủ : "Đừng nghe những gì cộng sản nói. Hãy nhìn những gì cộng sản làm". Không ngờ 34 năm sau, người ta còn nhớ đến câu nói này. Không những nó phổ biến ở trong Nam, mà còn được truyền tụng cả ra ngoài Bắc. Thiệt tình, thì không phải người ta yêu thương gì ông Thiệu mà nhớ lời nói của ông. Chính CSVN, trong thực tế hàng ngày của chế độ, đã chứng minh hùng hồn lời nói của ông Thiệu là đúng. Tức là cộng sản đồng nghĩa với "nói láo", "nói điêu", "ăn gian, nói dối"...
Với chủ trương, chính sách bưng bít thông tin để tuyên truyền, các chế độ cộng sản, từ quan thày Liên Xô, Trung Cộng đến lũ tay sai, chư hầu như Việt Nam đã một trong một thời gian dài mặc tình "có nói thành không, không nói thành có", "đổi trắng, thay đen", "che dấu sự thật". Ngay đến cả những gì liên quan đến lãnh tụ tối cao của họ là ông **** thì cũng chẳng ai chắc là ông sinh ra ngày 19/05/1890 và từ năm 1969 cho đến năm 1989, tức là suốt 20 năm, nhân dân cả nước và quốc tế vẫn tin rằng ông ta đã chết vào ngày 03/09/1969 như lời thông báo của tập đoàn lãnh đạo cộng sản Hà Nội. Kỳ thực ông đã chết đúng ngày Quốc Khánh 2/9 của chế độ. Nói một thời gian dài vì trong suốt hơn 70 năm hiện hữu các chế độ cộng sản với các bức màn sắt, màn tre..., người ta không có những phương tiện kiểm chứng những gì cộng sản nói. Con người dưới chế độ cộng sản ở khắp nơi, do đó phải sống triền miên trong sự dối trá, lừa bịp, không thấy chân lý, không thấy sự thật. Con người sống ngoài các bức màn sắt cũng cứ tưởng là tuyên truyền cộng sản là thật.
Nhưng, với sự xụp đổ của chủ nghĩa cộng sản và khối các quốc gia theo chủ nghĩa ngày cộng với những tiến bộ về khoa học kỹ thuật, nhất là công nghệ thông tin thì cho dù CSVN có muốn gian dối đến đâu, mọi sự thật sẽ được bộc lộ. Những biện bác, chống chế của chế độ mỗi lần sự thật được khui ra, chỉ phơi trần bản chất gian manh của họ trước con mắt nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới. Tuy vậy, tập đoàn lãnh đạo CSN vẫn ngoan cố áp dụng chính sách lừa đảo, sản phẩm của chủ nghĩa Mác-Lênin. Mỗi lần truyền thông quốc tế đề cập đến những vi phạm nhân quyền, đến những vụ đàn áp tôn giáo, đến tình trạng tham nhũng vv... là mỗi lần bộ máy tuyên truyền Hà Nội rống lên là báo chí nước ngoài "phản ánh không trung thực tình hình Việt Nam"... Những lời tuyên bố của bao nhiều đời phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao CSVN chỉ làm cho ký giả nước khoài mỉm cười khinh bỉ. Trong lúc những hình ảnh về dân oan khiếu kiện ở vườn hoa Mai Xuân Thưởng, Hà Nội; về công an, côn đồ đàn áp tín đồ Công Giáo và Phật Giáo tại tòa Khâm Sứ, tại Thái Hà, tại Tam Tòa, Tại Loan Lý, Lăng Cô, tại Chùa Bát Nhã, Lâm Đồng... đã được nhanh chóng tung lên mạng internet toàn cầu, phóng viên các thông tấn xã nước ngoài có mặt tại Việt Nam viết bài trên báo chí thế giới, thì Phan Thúy Thanh, rồi Lê Dũng và mới đây là Nguyễn Phương Nga vẫn trân tráo nói láo một cách không ngượng mồm.
Nhưng chuyện ăn không nói có của cộng sản Hà Nội cũng là chuyện chưa lấy gì làm trầm trọng. Chỉ thương hại cho những kẻ thơ ngây, khờ dại tin lời dối láo của họ mà thôi. Điều trầm trọng là chế độ CSVN đã đẩy dối láo lên đến mức đáng nguyền rủa. Đó là việc bộ máy công quyền của cộng sản Hà Nội đã quy chụp, gán ghép người dân vào những tội danh vô lý. Chúng đã ngụy tạo bằng chứng để kết tội người ngay. Thêm vào đó, tòa án của chế độ chỉ là một sân khấu bi hài mà các diễn viên như chánh án, kiểm sát nhân dân, công tố chỉ là một lũ ngu dốt. Chúng học thuộc tuồng và cuối cùng là đọc bản án đã do đảng cộng sản của chúng viết sẵn. Chúng không đếm xỉa gì đến những biện trạng của luật sư. Thậm chí, rất nhiều phiên tòa, chúng xử lén lút và không có cả luật sư biện hộ.
Điển hình của hành động gian manh này của tập đoàn CSVN là vụ hành hung rồi vu khống và bắt giữ vợ chồng nhà văn nữ Trần Khải Thanh Thủy tối ngày 08/10/2009 mới đây. Từ ngày 6 đến ngày 9/10 vừa qua, chế độ đã dàn dựng các phiên tòa để xử tội "tuyên truyền chống Nhà Nước" đối với 9 bị can. Ngày 8/10, trên đường đi Hải Phòng tới dự phiên tòa xử 6 nhà dân chủ, Bà Thủy đã bị công an chặn xe và đuổi trở ngược về Hà Nội. Tối hôm đó, công an đã giả dạng thường dân xông vào nhà bà Thủy, đánh đập bà và chồng bà, đoạn chúng bắt hai vợ chồng đi bỏ lại đứa con gái 13 tuổi gào khóc ở nhà một mình không ai chăm xóc. Một số bạn bè biết được đã thông báo tin này ra hải ngoại báo động. Nhiều người đã gọi điện thoại về đồn công an Khâm Thiên cũng như phường Trung Phụng hỏi thăm thì công an ở đây đã chối bai bải là không hề có bắt ai cả. Lại một màn nói láo ! Qua ngày 09/10, tờ Dân Trí điện tử, treo nhãn hiệu là "Báo điện tử của TW Hội Khuyến học Việt Nam" đã đi một bản tin theo đó thì bà Trần Khải Thanh Thủy và chồng là ông Đỗ Bá Tân bị bắt và bị khởi tố vì tội "cố ý gây thương tích" và hiện giam giữ tại đồn công an quận Đống Đa, Hà Nội. Theo tờ báo thì hai vợ chồng bà Thủy đã dùng gạch đánh vào đầu, gây thương tích cho một người tên là Nguyễn Mạnh Điệp. Tờ báo còn đăng một tấm hình chụp "Nguyễn Mạnh Điệp bị đánh vỡ đầu" chảy máu. Đài phát thanh và các tờ báo khác trong đó có tờ Lao Động và An Ninh Thủ đô đã dựa theo bài và ảnh của tờ Dân Trí đăng tin với thêm chi tiết là đại tá Vũ Công Long, trưởng công an Quận Đống Đa thông báo là sẽ khởi tố hai vợ chồng bà Thủy. Lệnh khởi tố đã được ký sau đó bởi Thượng tá Nguyễn Văn Thành, phó thủ trưởng cơ quan côngan đô thành, quận Đống Đa.

Anh Nguyễn Mạnh Điệp bị đánh vỡ đầu (ảnh ngụy tạo đăng trên báo Dân Trí do công an cung cấp)

Bà Trần Khải Thanh Thủy bị đánh chảy máu đầu. (hình do cháu Khuê, con gái bà Thủy cung cấp).
Chắc hẳn công an cũng tưởng rằng câu chuyện được bố trí vợ chồng nhà văn Trần Khải Thanh Thủy đánh vỡ đầu ông Nguyễn Mạnh Điệp với tang chứng và hình ảnh rành rành thì ai cũng sẽ tin. Nhưng than ôi ! Thiên bất dung gian. Lưới trời lồng lộng. Đã có người nhớ lời ông Nguyễn Văn Thiệu cảnh báo khi xưa, xăm soi tấm hình. Theo bản tin thì bà Thủy ném gạch vào đầu ộng Điệp, nhưng trên hình thì thấy vết thương ở phía sau lỗ tai bên phải. Người "nghi ngờ" là bà hay cô Diệu Vân đã kiểm chứng và đã nhanh chóng báo động lên trên blog X-Cafevn (http://www.x-cafevn.org/forum/showth...288#post382288) rằng "Bắt Quả Tang Báo Dân Trí Gian Lận". Và đây là những gì Diệu Vân viết trên x-cafevn :
"Tấm hình chụp năm 2005 và được edit lại bằng Photoshop . Data từ phòng lap của Diệu Vân cho biết :
Tấm hình chụp và năm 2005; ngày 28 thàng 2 lúc 10 giờ 22 phút và 41 giây . data: 2005:02:28 10:22:41
Tấm hình trên được dùng Photoshop version 7.0 và được sửa lại năm 2009 ngày 9 tháng 10 lúc 17 giờ 14 phút 08 giây
Nếu các bạn không có phương tiện trác nghiệm thì sau khi download tấm hình và dùng OPEN WITH và chọn WORDPAD mở ra cũng sẽ thấy same Data trong phòng Lab của Diệu Vân . Nhanh chân lên khẻo họ lấy xuống" .
Nhiều người cũng làm tiếp công việc kiểm chứng này thì còn biết thêm tấm hình đã được chụp bằng máy hình Sony DSC-W5 với những chi tiếp trên máy lúc chụp như tốc độ, iso vv...
Tin này cũng đã được chia xẻ với các báo chí và hãng thông tấn nước ngoài với mục đích thông báo là hiện nay chế độ CSVN đang dùng mọi hình thức, phương tiện kể cả những hình thức, phương tiện bỉ ổi nhất, đê tiện nhất để quy chụp người ngay vào những tội danh vô lý của nền luật pháp vô luật của Việt Nam hiện nay.
Rất mong nhân dân ta trong nước hãy cảnh giác đừng vội tin những gì cộng sản tuyên truyền vì chúng là một tập đoàn gian manh nhất thế giới. Dân tộc các nước Đông Âu và cả Liên Xô cũ đã vứt bỏ cả chủ thuyết lẫn bọn người gian trá này từ hai thập kỷ nay rồi
Trần Trọng Nghĩa
Ít ngày trước 30/04/1975, ông Nguyễn Văn Thiệu đã nói một câu bất hủ : "Đừng nghe những gì cộng sản nói. Hãy nhìn những gì cộng sản làm". Không ngờ 34 năm sau, người ta còn nhớ đến câu nói này. Không những nó phổ biến ở trong Nam, mà còn được truyền tụng cả ra ngoài Bắc. Thiệt tình, thì không phải người ta yêu thương gì ông Thiệu mà nhớ lời nói của ông. Chính CSVN, trong thực tế hàng ngày của chế độ, đã chứng minh hùng hồn lời nói của ông Thiệu là đúng. Tức là cộng sản đồng nghĩa với "nói láo", "nói điêu", "ăn gian, nói dối"...
Với chủ trương, chính sách bưng bít thông tin để tuyên truyền, các chế độ cộng sản, từ quan thày Liên Xô, Trung Cộng đến lũ tay sai, chư hầu như Việt Nam đã một trong một thời gian dài mặc tình "có nói thành không, không nói thành có", "đổi trắng, thay đen", "che dấu sự thật". Ngay đến cả những gì liên quan đến lãnh tụ tối cao của họ là ông **** thì cũng chẳng ai chắc là ông sinh ra ngày 19/05/1890 và từ năm 1969 cho đến năm 1989, tức là suốt 20 năm, nhân dân cả nước và quốc tế vẫn tin rằng ông ta đã chết vào ngày 03/09/1969 như lời thông báo của tập đoàn lãnh đạo cộng sản Hà Nội. Kỳ thực ông đã chết đúng ngày Quốc Khánh 2/9 của chế độ. Nói một thời gian dài vì trong suốt hơn 70 năm hiện hữu các chế độ cộng sản với các bức màn sắt, màn tre..., người ta không có những phương tiện kiểm chứng những gì cộng sản nói. Con người dưới chế độ cộng sản ở khắp nơi, do đó phải sống triền miên trong sự dối trá, lừa bịp, không thấy chân lý, không thấy sự thật. Con người sống ngoài các bức màn sắt cũng cứ tưởng là tuyên truyền cộng sản là thật.
Nhưng, với sự xụp đổ của chủ nghĩa cộng sản và khối các quốc gia theo chủ nghĩa ngày cộng với những tiến bộ về khoa học kỹ thuật, nhất là công nghệ thông tin thì cho dù CSVN có muốn gian dối đến đâu, mọi sự thật sẽ được bộc lộ. Những biện bác, chống chế của chế độ mỗi lần sự thật được khui ra, chỉ phơi trần bản chất gian manh của họ trước con mắt nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới. Tuy vậy, tập đoàn lãnh đạo CSN vẫn ngoan cố áp dụng chính sách lừa đảo, sản phẩm của chủ nghĩa Mác-Lênin. Mỗi lần truyền thông quốc tế đề cập đến những vi phạm nhân quyền, đến những vụ đàn áp tôn giáo, đến tình trạng tham nhũng vv... là mỗi lần bộ máy tuyên truyền Hà Nội rống lên là báo chí nước ngoài "phản ánh không trung thực tình hình Việt Nam"... Những lời tuyên bố của bao nhiều đời phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao CSVN chỉ làm cho ký giả nước khoài mỉm cười khinh bỉ. Trong lúc những hình ảnh về dân oan khiếu kiện ở vườn hoa Mai Xuân Thưởng, Hà Nội; về công an, côn đồ đàn áp tín đồ Công Giáo và Phật Giáo tại tòa Khâm Sứ, tại Thái Hà, tại Tam Tòa, Tại Loan Lý, Lăng Cô, tại Chùa Bát Nhã, Lâm Đồng... đã được nhanh chóng tung lên mạng internet toàn cầu, phóng viên các thông tấn xã nước ngoài có mặt tại Việt Nam viết bài trên báo chí thế giới, thì Phan Thúy Thanh, rồi Lê Dũng và mới đây là Nguyễn Phương Nga vẫn trân tráo nói láo một cách không ngượng mồm.
Nhưng chuyện ăn không nói có của cộng sản Hà Nội cũng là chuyện chưa lấy gì làm trầm trọng. Chỉ thương hại cho những kẻ thơ ngây, khờ dại tin lời dối láo của họ mà thôi. Điều trầm trọng là chế độ CSVN đã đẩy dối láo lên đến mức đáng nguyền rủa. Đó là việc bộ máy công quyền của cộng sản Hà Nội đã quy chụp, gán ghép người dân vào những tội danh vô lý. Chúng đã ngụy tạo bằng chứng để kết tội người ngay. Thêm vào đó, tòa án của chế độ chỉ là một sân khấu bi hài mà các diễn viên như chánh án, kiểm sát nhân dân, công tố chỉ là một lũ ngu dốt. Chúng học thuộc tuồng và cuối cùng là đọc bản án đã do đảng cộng sản của chúng viết sẵn. Chúng không đếm xỉa gì đến những biện trạng của luật sư. Thậm chí, rất nhiều phiên tòa, chúng xử lén lút và không có cả luật sư biện hộ.
Điển hình của hành động gian manh này của tập đoàn CSVN là vụ hành hung rồi vu khống và bắt giữ vợ chồng nhà văn nữ Trần Khải Thanh Thủy tối ngày 08/10/2009 mới đây. Từ ngày 6 đến ngày 9/10 vừa qua, chế độ đã dàn dựng các phiên tòa để xử tội "tuyên truyền chống Nhà Nước" đối với 9 bị can. Ngày 8/10, trên đường đi Hải Phòng tới dự phiên tòa xử 6 nhà dân chủ, Bà Thủy đã bị công an chặn xe và đuổi trở ngược về Hà Nội. Tối hôm đó, công an đã giả dạng thường dân xông vào nhà bà Thủy, đánh đập bà và chồng bà, đoạn chúng bắt hai vợ chồng đi bỏ lại đứa con gái 13 tuổi gào khóc ở nhà một mình không ai chăm xóc. Một số bạn bè biết được đã thông báo tin này ra hải ngoại báo động. Nhiều người đã gọi điện thoại về đồn công an Khâm Thiên cũng như phường Trung Phụng hỏi thăm thì công an ở đây đã chối bai bải là không hề có bắt ai cả. Lại một màn nói láo ! Qua ngày 09/10, tờ Dân Trí điện tử, treo nhãn hiệu là "Báo điện tử của TW Hội Khuyến học Việt Nam" đã đi một bản tin theo đó thì bà Trần Khải Thanh Thủy và chồng là ông Đỗ Bá Tân bị bắt và bị khởi tố vì tội "cố ý gây thương tích" và hiện giam giữ tại đồn công an quận Đống Đa, Hà Nội. Theo tờ báo thì hai vợ chồng bà Thủy đã dùng gạch đánh vào đầu, gây thương tích cho một người tên là Nguyễn Mạnh Điệp. Tờ báo còn đăng một tấm hình chụp "Nguyễn Mạnh Điệp bị đánh vỡ đầu" chảy máu. Đài phát thanh và các tờ báo khác trong đó có tờ Lao Động và An Ninh Thủ đô đã dựa theo bài và ảnh của tờ Dân Trí đăng tin với thêm chi tiết là đại tá Vũ Công Long, trưởng công an Quận Đống Đa thông báo là sẽ khởi tố hai vợ chồng bà Thủy. Lệnh khởi tố đã được ký sau đó bởi Thượng tá Nguyễn Văn Thành, phó thủ trưởng cơ quan côngan đô thành, quận Đống Đa.

Anh Nguyễn Mạnh Điệp bị đánh vỡ đầu (ảnh ngụy tạo đăng trên báo Dân Trí do công an cung cấp)

Bà Trần Khải Thanh Thủy bị đánh chảy máu đầu. (hình do cháu Khuê, con gái bà Thủy cung cấp).
Chắc hẳn công an cũng tưởng rằng câu chuyện được bố trí vợ chồng nhà văn Trần Khải Thanh Thủy đánh vỡ đầu ông Nguyễn Mạnh Điệp với tang chứng và hình ảnh rành rành thì ai cũng sẽ tin. Nhưng than ôi ! Thiên bất dung gian. Lưới trời lồng lộng. Đã có người nhớ lời ông Nguyễn Văn Thiệu cảnh báo khi xưa, xăm soi tấm hình. Theo bản tin thì bà Thủy ném gạch vào đầu ộng Điệp, nhưng trên hình thì thấy vết thương ở phía sau lỗ tai bên phải. Người "nghi ngờ" là bà hay cô Diệu Vân đã kiểm chứng và đã nhanh chóng báo động lên trên blog X-Cafevn (http://www.x-cafevn.org/forum/showth...288#post382288) rằng "Bắt Quả Tang Báo Dân Trí Gian Lận". Và đây là những gì Diệu Vân viết trên x-cafevn :
"Tấm hình chụp năm 2005 và được edit lại bằng Photoshop . Data từ phòng lap của Diệu Vân cho biết :
Tấm hình chụp và năm 2005; ngày 28 thàng 2 lúc 10 giờ 22 phút và 41 giây . data: 2005:02:28 10:22:41
Tấm hình trên được dùng Photoshop version 7.0 và được sửa lại năm 2009 ngày 9 tháng 10 lúc 17 giờ 14 phút 08 giây
Nếu các bạn không có phương tiện trác nghiệm thì sau khi download tấm hình và dùng OPEN WITH và chọn WORDPAD mở ra cũng sẽ thấy same Data trong phòng Lab của Diệu Vân . Nhanh chân lên khẻo họ lấy xuống" .
Nhiều người cũng làm tiếp công việc kiểm chứng này thì còn biết thêm tấm hình đã được chụp bằng máy hình Sony DSC-W5 với những chi tiếp trên máy lúc chụp như tốc độ, iso vv...
Tin này cũng đã được chia xẻ với các báo chí và hãng thông tấn nước ngoài với mục đích thông báo là hiện nay chế độ CSVN đang dùng mọi hình thức, phương tiện kể cả những hình thức, phương tiện bỉ ổi nhất, đê tiện nhất để quy chụp người ngay vào những tội danh vô lý của nền luật pháp vô luật của Việt Nam hiện nay.
Rất mong nhân dân ta trong nước hãy cảnh giác đừng vội tin những gì cộng sản tuyên truyền vì chúng là một tập đoàn gian manh nhất thế giới. Dân tộc các nước Đông Âu và cả Liên Xô cũ đã vứt bỏ cả chủ thuyết lẫn bọn người gian trá này từ hai thập kỷ nay rồi
Trần Trọng Nghĩa
Bà Trần Khải Thanh Thủy ngất xỉu trong tù phải cấp cứu
Monday, October 12, 2009
HÀ NỘI (NV) - Ông Ðỗ Bá Tân, chồng bà Thủy vừa được công an quận Ðống Ða thả về nhà khoảng 8 giờ tối (giờ Việt Nam ngày Thứ Hai 12 Tháng Mười, 2009) sau ba ngày giam giữ.
Ông Tân cho báo Người Việt biết, bà Trần Khải Thanh Thủy bị ngất xỉu trong tù của công an quận Ðống Ða nên phải đưa đi cấp cứu ở bệnh viện. Tuy nhiên, sau đó bà bị đưa trở lại nhà giam của công an.
Ông Tân nói với báo Người Việt, rằng “Nhà tôi sau ba ngày bị giam giữ, không có thuốc chữa bệnh, tinh thần căng thẳng (vì các cuộc thẩm vấn liên tục) nên đã ngất xỉu.”
“Hiện giờ, tôi rất lo lắng cho sức khỏe của nhà tôi. Ba ngày không có thuốc, bệnh tiểu đường nặng lên và cơ thể không chịu đựng được.” Ông Tân nói thêm.
Bà Trần Khải Thanh Thủy, 49 tuổi, bị bệnh tiểu đường rất nặng. Từ khi được thả ra khỏi tù hồi Tháng Giêng năm ngoái, bà đã phải vào bệnh viện rất nhiều lần liên quan đến huyết áp và bệnh tiểu đường.
Ông Tân cũng cho hay, bà mẹ của bà Thanh Thủy đã chuyển bệnh án bệnh của con gái để xin công an cho chuyển thuốc chữa bệnh, nhưng chưa thấy được trả lời.
Chiều tối Thứ Sáu, 9 Tháng Mười, 2009, vợ chồng ông bà Ðỗ Bá Tân -Trần Khải Thanh Thủy đã bị công an phường Trung Phụng bắt giữ và “Ngày 9 Tháng Mười, công an quận Ðống Ða đã tiến hành tạm giữ hai đối tượng Trần Khải Thanh Thủy, Ðỗ Bá Tân và ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Trần Khải Thanh Thủy về tội cố ý gây thương tích theo điều 104, Bộ Luật Hình Sự để điều tra theo trình tự pháp luật.” theo bản tin báo Dân Trí.
Báo này dẫn “hồ sơ công an” sau khi “hai bên va chạm” rồi viết chi tiết “khoảng 20h30 ngày 8 Tháng Mười, ông Ðỗ Bá Tân (chồng bà Trần Khải Thanh Thủy) để xe máy cản lối đi lại tại 178 phố chợ Khâm Thiên (phường Trung Phụng, Ðống Ða, Hà Nội). Ông Nguyễn Mạnh Ðiệp (SN 1968, trú tại ngõ 138 Trung Phụng, Ðống Ða) đi qua góp ý và yêu cầu ông Tân dẹp xe để lấy lối đi nên dẫn đến cãi nhau. Ông Tân đã dùng mũ bảo hiểm đập vào mặt ông Ðiệp.”
Nhưng khi trả lời phỏng vấn của Ðài RFA khi bị ép ngồi đợi ở công an phường, bà Thanh Thủy kể cho thính giả của đài nghe sự việc xảy ra khác hẳn. Buổi tối hôm đó, ông Tân đi mua cháo về nhà ăn thì bị một số người tới gây sự. Họ hất đổ cả hộp cháo ông mua về và có thể vì vậy đã dẫn tới phản ứng của ông Tân. Tuy nhiên, thời gian đó, phía ngoài nhà bà Thanh Thủy có một đám đông công an, dân phòng canh giữ. Những người được nêu tên là Nguyễn Mạnh Ðiệp và Nguyễn Văn Thành, hai cán bộ “dân phòng”, tay sai của công an khu vực, là những kẻ đã đánh vợ chồng ông Tân bà Thủy rồi vu cáo ngược lại.
Báo Dân Trí đăng tải tấm hình chụp với chú thích “Ông Nguyễn Mạnh Ðiệp bị đánh vỡ đầu.” Trên hình góc phải phía dưới có hàng số ngày tháng ghi ngày chụp ngày 9 Tháng 10, 2009. Nhưng nhiều bloggers nghi ngờ nên đã khám phá thấy tấm hình này là hình ngụy tạo được chụp lại bằng photoshop. Thật ra, đây là tấm hình cũ chụp từ ngày 28 Tháng Hai, 2005 với những chi tiếp chụp bằng máy gì, giờ và ngày chụp có “căn cước” gốc không thể chối cãi. Ngày 12 Tháng Mười, 2009, người ta thấy báo Dân Trí vẫn giữ tấm hình này trên bản tin và cho thêm mấy chữ trong ngoặc đơn “(Ảnh do cơ quan công an cung cấp)”. Báo Dân Trí gián tiếp nói chúng tôi không ngụy tạo mà công an đưa hình như vậy.
Báo An Ninh Thủ Ðô, báo tuyên truyền của Sở Công An Hà Nội, viết “ông Nguyễn Mạnh Ðiệp, ở ngõ 138, phường Trung Phụng, quận Ðống Ða đi qua ngõ 178, phố Chợ Khâm Thiên, thấy chiếc xe máy của ông Ðỗ Bá Tân, SN 1959, ở nhà số 46, ngõ 178 phố Chợ Khâm Thiên để ở lối đi trong ngõ gây cản trở việc đi lại của người dân đã góp ý và yêu cầu ông Tân để gọn xe lại.”
“Tuy nhiên, ông Tân đã không tiếp thu ý kiến góp ý của ông Ðiệp, dẫn đến hai bên lời qua tiếng lại và ông Tân đã dùng mũ bảo hiểm đập vào mặt ông Ðiệp. Lúc này, Trần Khải Thanh Thủy là vợ ông Tân thấy chồng đang dùng mũ bảo hiểm đánh anh Ðiệp trước cửa nhà đã cầm 2 viên gạch (loại gạch bê tông kích thước 10cmx10cmx5cm) ném vào đầu ông Ðiệp gây thương tích phía sau gáy chảy nhiều máu.
“Cùng lúc đó, ông Nguyễn Văn Thịnh, ở phường Trung Phụng đi ngang qua thấy vụ xô xát đã can ngăn và bị Thủy dùng gạch ném trúng cánh tay phải gây thương tích. Chưa dừng lại ở đó, Thủy chạy vào nhà lấy ra một thanh gỗ dài 102cm, quay ra vụt vào người ông Ðiệp và ông Thịnh. Do vết thương ở gáy chảy nhiều máu, ông Ðiệp bị choáng, ngất và được nhân dân xung quanh đưa vào bệnh viện Ðống Ða cấp cứu.”
Các điều này hoàn toàn khác với sự tường thuật của bà Thanh Thủy. Tuy cũng bị bắt với vợ, ông Tân nay được thả ra và không bị truy tố gì cho thấy, chế độ Hà Nội chỉ có ý dàn dựng vụ việc, kể cả ngụy tạo chứng cứ để bắt tù bà Trần Khải Thanh Thủy.
Báo An Ninh Thủ Ðô, đưa ra tấm hình khác của ông Ðiệp đang được “bác sĩ” săn sóc với máu me mờ mờ nhạt nhạt đầy trên áo, đầu lại quấn băng khác với tấm hình của báo Dân Trí. Trong tấm hình của tờ ANTÐ, trên cổ của ông Ðiệp, có một cái gì đó dài dài khác hoàn toàn với tấm hình của báo Dân Trí. Chứng tỏ, những tấm hình này đều là những tấm hình ngụy tạo, cố tình dàn dựng để tuyên truyền đánh lừa độc giả.
Nhưng đài RFA trưng ra tấm hình chụp bà Thủy bị ném bằng cục gạch chảy máu đầu.
Những ký sự, bài viết của bà phổ biến trên Internet liên quan đến dân oan khiếu kiện, các vụ cưỡng chế giải tỏa đền bù bất công và đàn áp với những lời bình luận rất nặng của bà có thể là nguyên nhân và hậu quả để bà bị bỏ tù trở lại.
Tháng Tư, 2007, bà đã bị “bắt khẩn cấp” với cáo buộc “tuyên truyền chống nhà nước” theo điều 88 Luật Hình Sự. Nhưng trước sự phản ứng mạnh mẽ của dư luận thế giới khi bỏ tù một con bệnh nặng, không cho chữa thuốc, chế độ Hà Nội đã lôi bà ra tòa và chỉ kêu án 9 tháng 10 ngày, đúng với thời gian bà bị giam giữ với tội danh mới “gây rối trật tự công cộng.”
Lần này, từ vị trí nạn nhân, bà lại bị biến thành “bị cáo” để có thể phải ở tù một thời gian theo nhu cầu “tiêu diệt” các tiếng nói đòi hỏi tự do dân chủ và phơi bày những bất công của chế độ. (T.N)
Monday, October 12, 2009
HÀ NỘI (NV) - Ông Ðỗ Bá Tân, chồng bà Thủy vừa được công an quận Ðống Ða thả về nhà khoảng 8 giờ tối (giờ Việt Nam ngày Thứ Hai 12 Tháng Mười, 2009) sau ba ngày giam giữ.
Ông Tân cho báo Người Việt biết, bà Trần Khải Thanh Thủy bị ngất xỉu trong tù của công an quận Ðống Ða nên phải đưa đi cấp cứu ở bệnh viện. Tuy nhiên, sau đó bà bị đưa trở lại nhà giam của công an.
Ông Tân nói với báo Người Việt, rằng “Nhà tôi sau ba ngày bị giam giữ, không có thuốc chữa bệnh, tinh thần căng thẳng (vì các cuộc thẩm vấn liên tục) nên đã ngất xỉu.”
“Hiện giờ, tôi rất lo lắng cho sức khỏe của nhà tôi. Ba ngày không có thuốc, bệnh tiểu đường nặng lên và cơ thể không chịu đựng được.” Ông Tân nói thêm.
Bà Trần Khải Thanh Thủy, 49 tuổi, bị bệnh tiểu đường rất nặng. Từ khi được thả ra khỏi tù hồi Tháng Giêng năm ngoái, bà đã phải vào bệnh viện rất nhiều lần liên quan đến huyết áp và bệnh tiểu đường.
Ông Tân cũng cho hay, bà mẹ của bà Thanh Thủy đã chuyển bệnh án bệnh của con gái để xin công an cho chuyển thuốc chữa bệnh, nhưng chưa thấy được trả lời.
Chiều tối Thứ Sáu, 9 Tháng Mười, 2009, vợ chồng ông bà Ðỗ Bá Tân -Trần Khải Thanh Thủy đã bị công an phường Trung Phụng bắt giữ và “Ngày 9 Tháng Mười, công an quận Ðống Ða đã tiến hành tạm giữ hai đối tượng Trần Khải Thanh Thủy, Ðỗ Bá Tân và ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Trần Khải Thanh Thủy về tội cố ý gây thương tích theo điều 104, Bộ Luật Hình Sự để điều tra theo trình tự pháp luật.” theo bản tin báo Dân Trí.
Báo này dẫn “hồ sơ công an” sau khi “hai bên va chạm” rồi viết chi tiết “khoảng 20h30 ngày 8 Tháng Mười, ông Ðỗ Bá Tân (chồng bà Trần Khải Thanh Thủy) để xe máy cản lối đi lại tại 178 phố chợ Khâm Thiên (phường Trung Phụng, Ðống Ða, Hà Nội). Ông Nguyễn Mạnh Ðiệp (SN 1968, trú tại ngõ 138 Trung Phụng, Ðống Ða) đi qua góp ý và yêu cầu ông Tân dẹp xe để lấy lối đi nên dẫn đến cãi nhau. Ông Tân đã dùng mũ bảo hiểm đập vào mặt ông Ðiệp.”
Nhưng khi trả lời phỏng vấn của Ðài RFA khi bị ép ngồi đợi ở công an phường, bà Thanh Thủy kể cho thính giả của đài nghe sự việc xảy ra khác hẳn. Buổi tối hôm đó, ông Tân đi mua cháo về nhà ăn thì bị một số người tới gây sự. Họ hất đổ cả hộp cháo ông mua về và có thể vì vậy đã dẫn tới phản ứng của ông Tân. Tuy nhiên, thời gian đó, phía ngoài nhà bà Thanh Thủy có một đám đông công an, dân phòng canh giữ. Những người được nêu tên là Nguyễn Mạnh Ðiệp và Nguyễn Văn Thành, hai cán bộ “dân phòng”, tay sai của công an khu vực, là những kẻ đã đánh vợ chồng ông Tân bà Thủy rồi vu cáo ngược lại.
Báo Dân Trí đăng tải tấm hình chụp với chú thích “Ông Nguyễn Mạnh Ðiệp bị đánh vỡ đầu.” Trên hình góc phải phía dưới có hàng số ngày tháng ghi ngày chụp ngày 9 Tháng 10, 2009. Nhưng nhiều bloggers nghi ngờ nên đã khám phá thấy tấm hình này là hình ngụy tạo được chụp lại bằng photoshop. Thật ra, đây là tấm hình cũ chụp từ ngày 28 Tháng Hai, 2005 với những chi tiếp chụp bằng máy gì, giờ và ngày chụp có “căn cước” gốc không thể chối cãi. Ngày 12 Tháng Mười, 2009, người ta thấy báo Dân Trí vẫn giữ tấm hình này trên bản tin và cho thêm mấy chữ trong ngoặc đơn “(Ảnh do cơ quan công an cung cấp)”. Báo Dân Trí gián tiếp nói chúng tôi không ngụy tạo mà công an đưa hình như vậy.
Báo An Ninh Thủ Ðô, báo tuyên truyền của Sở Công An Hà Nội, viết “ông Nguyễn Mạnh Ðiệp, ở ngõ 138, phường Trung Phụng, quận Ðống Ða đi qua ngõ 178, phố Chợ Khâm Thiên, thấy chiếc xe máy của ông Ðỗ Bá Tân, SN 1959, ở nhà số 46, ngõ 178 phố Chợ Khâm Thiên để ở lối đi trong ngõ gây cản trở việc đi lại của người dân đã góp ý và yêu cầu ông Tân để gọn xe lại.”
“Tuy nhiên, ông Tân đã không tiếp thu ý kiến góp ý của ông Ðiệp, dẫn đến hai bên lời qua tiếng lại và ông Tân đã dùng mũ bảo hiểm đập vào mặt ông Ðiệp. Lúc này, Trần Khải Thanh Thủy là vợ ông Tân thấy chồng đang dùng mũ bảo hiểm đánh anh Ðiệp trước cửa nhà đã cầm 2 viên gạch (loại gạch bê tông kích thước 10cmx10cmx5cm) ném vào đầu ông Ðiệp gây thương tích phía sau gáy chảy nhiều máu.
“Cùng lúc đó, ông Nguyễn Văn Thịnh, ở phường Trung Phụng đi ngang qua thấy vụ xô xát đã can ngăn và bị Thủy dùng gạch ném trúng cánh tay phải gây thương tích. Chưa dừng lại ở đó, Thủy chạy vào nhà lấy ra một thanh gỗ dài 102cm, quay ra vụt vào người ông Ðiệp và ông Thịnh. Do vết thương ở gáy chảy nhiều máu, ông Ðiệp bị choáng, ngất và được nhân dân xung quanh đưa vào bệnh viện Ðống Ða cấp cứu.”
Các điều này hoàn toàn khác với sự tường thuật của bà Thanh Thủy. Tuy cũng bị bắt với vợ, ông Tân nay được thả ra và không bị truy tố gì cho thấy, chế độ Hà Nội chỉ có ý dàn dựng vụ việc, kể cả ngụy tạo chứng cứ để bắt tù bà Trần Khải Thanh Thủy.
Báo An Ninh Thủ Ðô, đưa ra tấm hình khác của ông Ðiệp đang được “bác sĩ” săn sóc với máu me mờ mờ nhạt nhạt đầy trên áo, đầu lại quấn băng khác với tấm hình của báo Dân Trí. Trong tấm hình của tờ ANTÐ, trên cổ của ông Ðiệp, có một cái gì đó dài dài khác hoàn toàn với tấm hình của báo Dân Trí. Chứng tỏ, những tấm hình này đều là những tấm hình ngụy tạo, cố tình dàn dựng để tuyên truyền đánh lừa độc giả.
Nhưng đài RFA trưng ra tấm hình chụp bà Thủy bị ném bằng cục gạch chảy máu đầu.
Những ký sự, bài viết của bà phổ biến trên Internet liên quan đến dân oan khiếu kiện, các vụ cưỡng chế giải tỏa đền bù bất công và đàn áp với những lời bình luận rất nặng của bà có thể là nguyên nhân và hậu quả để bà bị bỏ tù trở lại.
Tháng Tư, 2007, bà đã bị “bắt khẩn cấp” với cáo buộc “tuyên truyền chống nhà nước” theo điều 88 Luật Hình Sự. Nhưng trước sự phản ứng mạnh mẽ của dư luận thế giới khi bỏ tù một con bệnh nặng, không cho chữa thuốc, chế độ Hà Nội đã lôi bà ra tòa và chỉ kêu án 9 tháng 10 ngày, đúng với thời gian bà bị giam giữ với tội danh mới “gây rối trật tự công cộng.”
Lần này, từ vị trí nạn nhân, bà lại bị biến thành “bị cáo” để có thể phải ở tù một thời gian theo nhu cầu “tiêu diệt” các tiếng nói đòi hỏi tự do dân chủ và phơi bày những bất công của chế độ. (T.N)
Tại sao họ khinh người Việt Nam?
Ngô Nhân Dụng Vua Lê đánh thắng giặc Minh, Nguyễn Trãi viết trong Bình Ngô Ðại Cáo, là “tuyết thiên cổ vô cùng chi sỉ,” rửa sạch mối sỉ nhục ngàn năm chưa nguôi. Rửa nhục, không phải vì đã đánh được giặc Minh, giết được nhiều quân Minh. Nỗi nhục đã rửa “sạch lầu lầu” vì Lê Thái Tổ đã tha mạng cho tướng sĩ nhà Minh, lại còn cho hộ tống về Tầu để khi đi dọc đường không bị dân chúng căm giận mà ngầm giết bớt. Vua Lê nói: “Ví bằng giết đi cho hả giận một lúc, để gánh lấy tiếng xấu giết kẻ quy hàng đến muôn đời; chi bằng hãy cho sống vạn ức mạng người để dứt mối chiến tranh đến muôn thủa, công việc sẽ chép vào sử sách, tiếng thơm sẽ truyền mãi đến ngàn thu, há chẳng lớn ư?”
Nhiều người Trung Hoa không đọc đoạn sử trên, trong Ðại Việt Thông Sử (bản dịch của Ngô Thế Long, in năm 1978 ở Hà Nội, trang 70). Họ không biết thiện chí của Lê Thái Tổ muốn “dứt mối chiến tranh đến muôn thủa.”
Cuối tháng trước, hàng trăm ngư phủ Việt Nam vừa mới bị lính Tầu đóng trên cảng Cần Cẩu cướp bóc, đánh đập, tra tấn sau khi ghé vào trốn bão trên hòn đảo vốn thuộc nước ta nay đã bị Trung Quốc chiếm. Bọn lính Trung Cộng chiếm đóng Hoàng Sa đã cư xử như loài hải tặc chứ không phải quân đội chính quy của một quốc gia. Hàng trăm ngư dân từ đảo Lý Sơn và Bình Châu bị đánh đau, nhưng hàng triệu người Việt Nam cảm thấy nhục nhã. Một vụ bạo hành phi pháp như vậy mà người cầm quyền không ngăn cản được dù có 3, 4 ngày để hành động, thì đúng là “thiên cổ vô cùng chi sỉ,” một mối nhục ngàn thu không biết bao giờ rửa sạch!
Tại sao quân đội Trung Quốc cho phép tầu Nhật Bản, Hồng Kông vào cảng Cần Cẩu tránh bão một cách trật tự, còn tầu Việt Nam thì bị bắn để ngăn cấm suốt ba ngày; sau cùng phải liều mạng chạy đại vô mới tránh được gió bão? Trong ba ngày đó, cái gọi là Bộ Ngoại Giao của chính quyền Hà Nội đã làm gì? Sau đó, họ đã làm gì khi dân trở về cho biết họ bị bọn “hải tặc” đánh đập, tra tấn, cướp bóc? Ở một nước dân chủ tự do thì Quốc Hội đã lập một ủy ban điều tra độc lập để tìm hiểu cho rõ ngọn ngành. Nếu chính quyền biết trọng danh dự của dân tộc thì phải lập thức gọi đại sứ Trung Quốc tới Bộ Ngoại Giao lớn tiếng phản đối ngay từ ngày 30 Tháng Chín khi các ngư phủ Việt Nam về tới bến. Phải yêu cầu họ điều tra, trừng phạt những tên lính Trung Cộng phạm tội và bồi thường thiệt hại cho các nạn nhân. Trong khi chờ đợi, phải triệu hồi đại sứ mình về nước để tỏ thái độ phản đối cho tới lúc nào giải quyết ổn thỏa mới thôi. Phải thưa kiện Trung Cộng trước tòa án quốc tế và họp báo chính thức lên án trên những tên hải tặc mặc quần áo lính Trung Quốc! Nhân dịp này, nêu lại vấn đề chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trước công luận thế giới. Ðó là những hành động tối thiểu, cần thiết để bảo vệ danh dự quốc gia. Các nước văn minh đều hành xử như vậy.
Người Trung Quốc cũng đang tranh chấp với Nhật Bản về chủ quyền trong vùng biển Ðông của họ, là Ðiếu Ngư Ðài với mấy hòn đảo diện tích tổng cộng chỉ có 7 cây số vuông, hiện do người Nhật chiếm đóng, đặt tên là Senkaku.
Ngay sau vụ các thanh niên Nhật Bản tới xây hải đăng trên đảo những năm 1978 và 1996, có những đoàn thanh niên từ Hồng Kông, Ðài Loan, rồi sau đó đến người Trung Quốc tổ chức đi thuyền đến Ðiếu Ngư Ðài cắm cờ quốc gia của họ lên đảo.
Tháng Ba năm 2004 một nhóm bẩy thanh niên từ lục địa Trung Quốc đổ bộ lên Ðiếu Ngư Ðài, họ bị quân tuần phòng Nhật Bản bắt. Tình cảnh những người này không giống như các ngư phủ Việt Nam đã bị Trung Cộng bắt giữ gần đây, vì những người Việt bị bắt hoàn toàn vô tình, không ai có ý tiến vào Hoàng Sa để xác nhận chủ quyền. Nhưng năm 2004 chính phủ Bắc Kinh phản đối, buộc Nhật trả các thanh niên của họ về nước.
Ðài Loan là một nước nhỏ so với Nhật Bản, mà hai bên giao thương rất mật thiết, quyền lợi kinh tế rất lớn. Nhưng không phải vì thế mà chính phủ Ðài Bắc khiếp nhược, im lặng và tảng lờ khi dân Ðài Loan bị xúc phạm vì Ðiếu Ngư Ðài. Tháng Sáu năm 2005 một chiếc tầu đánh cá tư nhân của Ðài Loan tới gần Ðiếu Ngư Ðài bị tầu tuần duyên Nhật Bản ngăn chặn, giữ để xét hỏi. Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc đã phản đối kịch liệt, gửi một chiến hạm tới quanh Ðiếu Ngư Ðài để bầy tỏ sự tức giận của dân chúng Ðài Loan. Trên chiếc tầu này có ông bộ trưởng quốc phòng và vị chủ tịch Quốc Hội, cho thấy chính quyền một nước tự do dân chủ tự nhiên phải chứng tỏ họ biết lo chung mối lo của nhân dân.
So sánh các biến cố trên với những vụ các “tàu lạ” đâm vào mạng sườn tầu Việt Nam giữa đêm, hoặc bắt cóc các ngư dân Việt Nam đòi tiền chuộc trong vùng Hoàng Sa, và đến vụ đánh đập, cướp bóc các ngư dân Lý Sơn và Bình Châu bây giờ, thì thấy khác nhau xa. Khác không phải vì người Nhật biết cư xử lịch sự văn minh hơn người Trung Quốc. Khác không phải là chính phủ Nhật biết kính nể dân Trung Hoa dù ở lục địa hay ở Ðài Loan. Khác là vì từ chính phủ Bắc Kinh cho đến những người lính Trung Cộng đóng ở cảng Cần Cẩu không ai cần tỏ ra biết kính trọng dân Việt Nam.
Chúng ta phải tự hỏi tại sao quân Trung Cộng trong cảng Cần Cẩu biết kính trọng luật hàng hải quốc tế để đối xử với tầu, thuyền nước khác theo lối loài người văn minh, mà lại trở mặt, biến thành những hải tặc dã man khi gặp người Việt Nam?
Không thể nghĩ rằng chính phủ Bắc Kinh có chính sách kỳ thị, ra lệnh cho quân lính của họ coi người Việt Nam như quân thù. Chính quyền một nước lớn thường vẫn phải tỏ ra họ tôn trọng những luật pháp quốc tế. Ngoài ra, chính phủ nào cũng phải ra lệnh cho quân lính cứu người trong lúc lâm nạn, không để quốc gia họ bị mang tiếng bất nhân. Hành động dã man của quân lính Trung Cộng có thể do họ vẫn được lệnh đối xử với ngư dân Việt Nam như vậy, để cho mọi người Việt Nam khác phải sợ mà lánh xa. Hoặc chính những người lính này thấy cơ hội có thể cướp bóc thì không ngần ngại ăn cướp ngay. Khi không ăn cướp được thì tra tấn. Quân lính Trung Cộng chiếm đóng Hoàng Sa thì cũng là người, những người được huấn luyện quân phong, quân kỷ. Tại sao họ đang tâm cướp bóc, đánh đập người Việt Nam như thế? Người Việt đã làm gì để đến nỗi bị họ thù ghét?
Xem cách họ táng tận lương tâm, tra khảo man rợ thì thấy không phải là họ chỉ thù ghét mà đúng ra là họ khinh rẻ. Họ coi khinh các ngư phủ Việt Nam, khinh mọi người Việt Nam. Ðối với kẻ thù, người ta cũng còn có khi tỏ lòng kính trọng và ra tay giúp đỡ khi hoạn nạn để chứng tỏ mình hào hiệp. Chỉ khi nào trong lòng khinh bỉ, nhìn những người trước mặt mình mà không coi đó là những con người ngang hàng, thì họ mới đối xử theo lối của loài muông thú.
Vậy tại sao những người lính Trung Cộng lại coi khinh người Việt Nam như thế?
Năm 1974 sau khi đánh chiếm được Hoàng Sa, quân Trung Cộng còn kính trọng những người lính Hải quân Việt Nam Cộng Hòa bị bắt; đưa tù binh về Hải Nam chữa vết thương và cung cấp lương thực, rồi trả các tù binh trở về theo quy luật quốc tế, mặc dù hai nước không có quan hệ ngoại giao. Người lính Trung Cộng hồi 35 năm trước khác người lính bây giờ hay sao? Hay là cách họ nhìn người Việt Nam từ đó tới nay đã thay đổi?
Chúng ta cứ nhìn thấy cách chính quyền Bắc Kinh đối xử với chính quyền Hà Nội mà suy ra. Ðối với chính quyền Bắc Kinh, đảng Cộng Sản Việt Nam là một bọn người vô ơn bạc nghĩa. Lê Duẩn đã sửa cả hiến pháp ghi những lời lên án Trung Quốc, rồi hoàn toàn thần phục Liên Xô để chống Trung Quốc, gây nên hai cuộc chiến tranh biên giới. Mười năm sau, Liên Xô và các nước Cộng Sản Ðông Âu sụp đổ, viện trợ giảm dần cho tới lúc cạn kiệt. Từ năm 1992, đảng Cộng Sản Việt Nam đã “quy hàng” một cách nhục nhã. Nguyễn Văn Linh, Ðỗ Mười, xin được vào triều kiến nhưng Ðặng Tiểu Bình chỉ cho phép đến thành phố Thành Ðô gặp gỡ, lại bắt phải đem Phạm Văn Ðồng đi theo. Suốt những năm trước guồng máy tuyên truyền ở Hà Nội vẫn gọi ông ta là Ðặng Lưu Manh, bây giờ toàn bộ nhóm lãnh đạo mất chỗ dựa ở Mát Cơ Va nên phải trở lại cầu cạnh Ðặng Lưu Manh. Hỏi có ai thấy thế mà không khinh bỉ?
Thái độ khinh bỉ đó đã thấm từ trên xuống dưới. Cho nên dân Trung Hoa bây giờ nhiều người cũng coi thường mọi người dân Việt Nam. Ðọc các bản hồi ký của những viên cố vấn Trung Cộng đã sang giúp Việt Nam đánh Pháp chúng ta thấy thái độ khinh thường đó. Tất cả các hồi ký đều mô tả những quyết định và chuẩn bị chiến lược, việc thi hành các trận đánh, áp dụng các chiến thuật, đều do các cố vấn quyết định, từ trận Cao Bằng đến Ðiện Biên Phủ. Tướng sĩ Việt Nam thì bị mô tả là sợ khó, chóng mệt mỏi, phải có các cố vấn Trung Quốc thúc đẩy mới đánh tiếp. Có lúc Trần Canh dọa nếu không đánh tiếp thì ông ta về Bắc Kinh, không trở lại nữa, thế là phải nghe lời ông ta! Không những thế, các tướng cố vấn Trung Cộng như Trần Canh, Vi Quốc Thanh, lúc nào cũng điện về Bắc Kinh hỏi ý kiến, được Quân ủy Trung ương Trung Cộng chuẩn ý trước khi cho bên Việt Nam thi hành. Người Việt Nam biết tự trọng tất nhiên phải nghi ngờ các lời tự thuật đó, không thể tin là đúng hoàn toàn. Nhưng điều đáng nói ở đây là thái độ của giới quân sự Trung Quốc đối với Việt Nam là một thái độ khinh thường, coi rẻ. Các bạn trẻ ở Việt Nam hãy tìm trên mạng lưới sẽ đọc được tất cả những thứ hồi ký đó để tự mình suy xét.
Cũng giống như thái độ của quân đội, nhiều dân thường bên Trung Quốc cũng mang lòng khinh rẻ người Việt, nước Việt. Chúng ta đã thấy trên nhiều mạng lưới của giới trẻ Trung Quốc họ đưa lên những kế hoạch đánh chiếm Việt Nam như thế nào, dùng bao nhiêu quân, đánh vào những đâu. Rồi họ bàn cãi, tranh luận với nhau, coi chuyện đánh Việt Nam như một trò chơi điện tử.
Trước các hành vi đó, chính quyền Cộng Sản Việt Nam không dám ngỏ một lời phản đối. Trái lại, mỗi khi có người Việt Nam nào dám đặt vấn đề với Trung Quốc thì chính quyền Cộng Sản bắt bớ, bỏ tù. Báo chí cả nước không được nói đến những vấn đề “nhậy cảm.” Nhìn thấy cách cư xử đó, người không khinh cũng phải sinh lòng khinh rẻ.
Trong vụ lính Trung Quốc cướp và đánh các ngư dân Việt Nam tránh bão, mạng lưới một tờ báo vừa cho đăng tin này, với những hình ảnh và lời phỏng vấn, tường thuật, thì chỉ vài giờ sau đã bị cắt ngay. Nhật báo Người Việt đã đọc và lưu lại bài đó trước khi bị cắt cho nên mới có cơ hội loan tin.
Tư cách chính quyền một nước hèn hạ như vậy, làm sao người ta không khinh được?
Mối nhục “thiên cổ vô cùng chi sỉ” ở đó mà ra!
Ngô Nhân Dụng Vua Lê đánh thắng giặc Minh, Nguyễn Trãi viết trong Bình Ngô Ðại Cáo, là “tuyết thiên cổ vô cùng chi sỉ,” rửa sạch mối sỉ nhục ngàn năm chưa nguôi. Rửa nhục, không phải vì đã đánh được giặc Minh, giết được nhiều quân Minh. Nỗi nhục đã rửa “sạch lầu lầu” vì Lê Thái Tổ đã tha mạng cho tướng sĩ nhà Minh, lại còn cho hộ tống về Tầu để khi đi dọc đường không bị dân chúng căm giận mà ngầm giết bớt. Vua Lê nói: “Ví bằng giết đi cho hả giận một lúc, để gánh lấy tiếng xấu giết kẻ quy hàng đến muôn đời; chi bằng hãy cho sống vạn ức mạng người để dứt mối chiến tranh đến muôn thủa, công việc sẽ chép vào sử sách, tiếng thơm sẽ truyền mãi đến ngàn thu, há chẳng lớn ư?”
Nhiều người Trung Hoa không đọc đoạn sử trên, trong Ðại Việt Thông Sử (bản dịch của Ngô Thế Long, in năm 1978 ở Hà Nội, trang 70). Họ không biết thiện chí của Lê Thái Tổ muốn “dứt mối chiến tranh đến muôn thủa.”
Cuối tháng trước, hàng trăm ngư phủ Việt Nam vừa mới bị lính Tầu đóng trên cảng Cần Cẩu cướp bóc, đánh đập, tra tấn sau khi ghé vào trốn bão trên hòn đảo vốn thuộc nước ta nay đã bị Trung Quốc chiếm. Bọn lính Trung Cộng chiếm đóng Hoàng Sa đã cư xử như loài hải tặc chứ không phải quân đội chính quy của một quốc gia. Hàng trăm ngư dân từ đảo Lý Sơn và Bình Châu bị đánh đau, nhưng hàng triệu người Việt Nam cảm thấy nhục nhã. Một vụ bạo hành phi pháp như vậy mà người cầm quyền không ngăn cản được dù có 3, 4 ngày để hành động, thì đúng là “thiên cổ vô cùng chi sỉ,” một mối nhục ngàn thu không biết bao giờ rửa sạch!
Tại sao quân đội Trung Quốc cho phép tầu Nhật Bản, Hồng Kông vào cảng Cần Cẩu tránh bão một cách trật tự, còn tầu Việt Nam thì bị bắn để ngăn cấm suốt ba ngày; sau cùng phải liều mạng chạy đại vô mới tránh được gió bão? Trong ba ngày đó, cái gọi là Bộ Ngoại Giao của chính quyền Hà Nội đã làm gì? Sau đó, họ đã làm gì khi dân trở về cho biết họ bị bọn “hải tặc” đánh đập, tra tấn, cướp bóc? Ở một nước dân chủ tự do thì Quốc Hội đã lập một ủy ban điều tra độc lập để tìm hiểu cho rõ ngọn ngành. Nếu chính quyền biết trọng danh dự của dân tộc thì phải lập thức gọi đại sứ Trung Quốc tới Bộ Ngoại Giao lớn tiếng phản đối ngay từ ngày 30 Tháng Chín khi các ngư phủ Việt Nam về tới bến. Phải yêu cầu họ điều tra, trừng phạt những tên lính Trung Cộng phạm tội và bồi thường thiệt hại cho các nạn nhân. Trong khi chờ đợi, phải triệu hồi đại sứ mình về nước để tỏ thái độ phản đối cho tới lúc nào giải quyết ổn thỏa mới thôi. Phải thưa kiện Trung Cộng trước tòa án quốc tế và họp báo chính thức lên án trên những tên hải tặc mặc quần áo lính Trung Quốc! Nhân dịp này, nêu lại vấn đề chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trước công luận thế giới. Ðó là những hành động tối thiểu, cần thiết để bảo vệ danh dự quốc gia. Các nước văn minh đều hành xử như vậy.
Người Trung Quốc cũng đang tranh chấp với Nhật Bản về chủ quyền trong vùng biển Ðông của họ, là Ðiếu Ngư Ðài với mấy hòn đảo diện tích tổng cộng chỉ có 7 cây số vuông, hiện do người Nhật chiếm đóng, đặt tên là Senkaku.
Ngay sau vụ các thanh niên Nhật Bản tới xây hải đăng trên đảo những năm 1978 và 1996, có những đoàn thanh niên từ Hồng Kông, Ðài Loan, rồi sau đó đến người Trung Quốc tổ chức đi thuyền đến Ðiếu Ngư Ðài cắm cờ quốc gia của họ lên đảo.
Tháng Ba năm 2004 một nhóm bẩy thanh niên từ lục địa Trung Quốc đổ bộ lên Ðiếu Ngư Ðài, họ bị quân tuần phòng Nhật Bản bắt. Tình cảnh những người này không giống như các ngư phủ Việt Nam đã bị Trung Cộng bắt giữ gần đây, vì những người Việt bị bắt hoàn toàn vô tình, không ai có ý tiến vào Hoàng Sa để xác nhận chủ quyền. Nhưng năm 2004 chính phủ Bắc Kinh phản đối, buộc Nhật trả các thanh niên của họ về nước.
Ðài Loan là một nước nhỏ so với Nhật Bản, mà hai bên giao thương rất mật thiết, quyền lợi kinh tế rất lớn. Nhưng không phải vì thế mà chính phủ Ðài Bắc khiếp nhược, im lặng và tảng lờ khi dân Ðài Loan bị xúc phạm vì Ðiếu Ngư Ðài. Tháng Sáu năm 2005 một chiếc tầu đánh cá tư nhân của Ðài Loan tới gần Ðiếu Ngư Ðài bị tầu tuần duyên Nhật Bản ngăn chặn, giữ để xét hỏi. Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc đã phản đối kịch liệt, gửi một chiến hạm tới quanh Ðiếu Ngư Ðài để bầy tỏ sự tức giận của dân chúng Ðài Loan. Trên chiếc tầu này có ông bộ trưởng quốc phòng và vị chủ tịch Quốc Hội, cho thấy chính quyền một nước tự do dân chủ tự nhiên phải chứng tỏ họ biết lo chung mối lo của nhân dân.
So sánh các biến cố trên với những vụ các “tàu lạ” đâm vào mạng sườn tầu Việt Nam giữa đêm, hoặc bắt cóc các ngư dân Việt Nam đòi tiền chuộc trong vùng Hoàng Sa, và đến vụ đánh đập, cướp bóc các ngư dân Lý Sơn và Bình Châu bây giờ, thì thấy khác nhau xa. Khác không phải vì người Nhật biết cư xử lịch sự văn minh hơn người Trung Quốc. Khác không phải là chính phủ Nhật biết kính nể dân Trung Hoa dù ở lục địa hay ở Ðài Loan. Khác là vì từ chính phủ Bắc Kinh cho đến những người lính Trung Cộng đóng ở cảng Cần Cẩu không ai cần tỏ ra biết kính trọng dân Việt Nam.
Chúng ta phải tự hỏi tại sao quân Trung Cộng trong cảng Cần Cẩu biết kính trọng luật hàng hải quốc tế để đối xử với tầu, thuyền nước khác theo lối loài người văn minh, mà lại trở mặt, biến thành những hải tặc dã man khi gặp người Việt Nam?
Không thể nghĩ rằng chính phủ Bắc Kinh có chính sách kỳ thị, ra lệnh cho quân lính của họ coi người Việt Nam như quân thù. Chính quyền một nước lớn thường vẫn phải tỏ ra họ tôn trọng những luật pháp quốc tế. Ngoài ra, chính phủ nào cũng phải ra lệnh cho quân lính cứu người trong lúc lâm nạn, không để quốc gia họ bị mang tiếng bất nhân. Hành động dã man của quân lính Trung Cộng có thể do họ vẫn được lệnh đối xử với ngư dân Việt Nam như vậy, để cho mọi người Việt Nam khác phải sợ mà lánh xa. Hoặc chính những người lính này thấy cơ hội có thể cướp bóc thì không ngần ngại ăn cướp ngay. Khi không ăn cướp được thì tra tấn. Quân lính Trung Cộng chiếm đóng Hoàng Sa thì cũng là người, những người được huấn luyện quân phong, quân kỷ. Tại sao họ đang tâm cướp bóc, đánh đập người Việt Nam như thế? Người Việt đã làm gì để đến nỗi bị họ thù ghét?
Xem cách họ táng tận lương tâm, tra khảo man rợ thì thấy không phải là họ chỉ thù ghét mà đúng ra là họ khinh rẻ. Họ coi khinh các ngư phủ Việt Nam, khinh mọi người Việt Nam. Ðối với kẻ thù, người ta cũng còn có khi tỏ lòng kính trọng và ra tay giúp đỡ khi hoạn nạn để chứng tỏ mình hào hiệp. Chỉ khi nào trong lòng khinh bỉ, nhìn những người trước mặt mình mà không coi đó là những con người ngang hàng, thì họ mới đối xử theo lối của loài muông thú.
Vậy tại sao những người lính Trung Cộng lại coi khinh người Việt Nam như thế?
Năm 1974 sau khi đánh chiếm được Hoàng Sa, quân Trung Cộng còn kính trọng những người lính Hải quân Việt Nam Cộng Hòa bị bắt; đưa tù binh về Hải Nam chữa vết thương và cung cấp lương thực, rồi trả các tù binh trở về theo quy luật quốc tế, mặc dù hai nước không có quan hệ ngoại giao. Người lính Trung Cộng hồi 35 năm trước khác người lính bây giờ hay sao? Hay là cách họ nhìn người Việt Nam từ đó tới nay đã thay đổi?
Chúng ta cứ nhìn thấy cách chính quyền Bắc Kinh đối xử với chính quyền Hà Nội mà suy ra. Ðối với chính quyền Bắc Kinh, đảng Cộng Sản Việt Nam là một bọn người vô ơn bạc nghĩa. Lê Duẩn đã sửa cả hiến pháp ghi những lời lên án Trung Quốc, rồi hoàn toàn thần phục Liên Xô để chống Trung Quốc, gây nên hai cuộc chiến tranh biên giới. Mười năm sau, Liên Xô và các nước Cộng Sản Ðông Âu sụp đổ, viện trợ giảm dần cho tới lúc cạn kiệt. Từ năm 1992, đảng Cộng Sản Việt Nam đã “quy hàng” một cách nhục nhã. Nguyễn Văn Linh, Ðỗ Mười, xin được vào triều kiến nhưng Ðặng Tiểu Bình chỉ cho phép đến thành phố Thành Ðô gặp gỡ, lại bắt phải đem Phạm Văn Ðồng đi theo. Suốt những năm trước guồng máy tuyên truyền ở Hà Nội vẫn gọi ông ta là Ðặng Lưu Manh, bây giờ toàn bộ nhóm lãnh đạo mất chỗ dựa ở Mát Cơ Va nên phải trở lại cầu cạnh Ðặng Lưu Manh. Hỏi có ai thấy thế mà không khinh bỉ?
Thái độ khinh bỉ đó đã thấm từ trên xuống dưới. Cho nên dân Trung Hoa bây giờ nhiều người cũng coi thường mọi người dân Việt Nam. Ðọc các bản hồi ký của những viên cố vấn Trung Cộng đã sang giúp Việt Nam đánh Pháp chúng ta thấy thái độ khinh thường đó. Tất cả các hồi ký đều mô tả những quyết định và chuẩn bị chiến lược, việc thi hành các trận đánh, áp dụng các chiến thuật, đều do các cố vấn quyết định, từ trận Cao Bằng đến Ðiện Biên Phủ. Tướng sĩ Việt Nam thì bị mô tả là sợ khó, chóng mệt mỏi, phải có các cố vấn Trung Quốc thúc đẩy mới đánh tiếp. Có lúc Trần Canh dọa nếu không đánh tiếp thì ông ta về Bắc Kinh, không trở lại nữa, thế là phải nghe lời ông ta! Không những thế, các tướng cố vấn Trung Cộng như Trần Canh, Vi Quốc Thanh, lúc nào cũng điện về Bắc Kinh hỏi ý kiến, được Quân ủy Trung ương Trung Cộng chuẩn ý trước khi cho bên Việt Nam thi hành. Người Việt Nam biết tự trọng tất nhiên phải nghi ngờ các lời tự thuật đó, không thể tin là đúng hoàn toàn. Nhưng điều đáng nói ở đây là thái độ của giới quân sự Trung Quốc đối với Việt Nam là một thái độ khinh thường, coi rẻ. Các bạn trẻ ở Việt Nam hãy tìm trên mạng lưới sẽ đọc được tất cả những thứ hồi ký đó để tự mình suy xét.
Cũng giống như thái độ của quân đội, nhiều dân thường bên Trung Quốc cũng mang lòng khinh rẻ người Việt, nước Việt. Chúng ta đã thấy trên nhiều mạng lưới của giới trẻ Trung Quốc họ đưa lên những kế hoạch đánh chiếm Việt Nam như thế nào, dùng bao nhiêu quân, đánh vào những đâu. Rồi họ bàn cãi, tranh luận với nhau, coi chuyện đánh Việt Nam như một trò chơi điện tử.
Trước các hành vi đó, chính quyền Cộng Sản Việt Nam không dám ngỏ một lời phản đối. Trái lại, mỗi khi có người Việt Nam nào dám đặt vấn đề với Trung Quốc thì chính quyền Cộng Sản bắt bớ, bỏ tù. Báo chí cả nước không được nói đến những vấn đề “nhậy cảm.” Nhìn thấy cách cư xử đó, người không khinh cũng phải sinh lòng khinh rẻ.
Trong vụ lính Trung Quốc cướp và đánh các ngư dân Việt Nam tránh bão, mạng lưới một tờ báo vừa cho đăng tin này, với những hình ảnh và lời phỏng vấn, tường thuật, thì chỉ vài giờ sau đã bị cắt ngay. Nhật báo Người Việt đã đọc và lưu lại bài đó trước khi bị cắt cho nên mới có cơ hội loan tin.
Tư cách chính quyền một nước hèn hạ như vậy, làm sao người ta không khinh được?
Mối nhục “thiên cổ vô cùng chi sỉ” ở đó mà ra!
Anh hùng lúc sa cơ
Nguyễn Thượng Long "…hành động dũng cảm của thầy giáo Vũ Hùng đã nêu một tấm gương có ý nghĩa: "rửa mặt" cho cả một giáo giới đang ơ hờ, câm lặng đến bạc nhược trước các thế lực nội xâm, ngoại xâm đang cấu kết với nhau…"
(Ghi chép về phiên toà xét xử nhà giáo Vũ Hùng tại Hà Nội sáng ngày 7/10/2009)
Vì những cơ may cũng là hy hữu, ngày 7/10/2009 tôi đã hoàn toàn được tự do để cùng một số đồng nghiệp của GD – ĐT Hà Đông có mặt trước cổng Toà án nhân dân thành phố Hà Nội ngày xét xử vụ án thầy giáo Vũ Hùng bị ghép tội vi phạm điều 88 Bộ luật hình sự của nước CHXHCN Việt Nam. Điều 88 là điều luật sẽ trừng phạt những ai can tội làm ra, lưu giữ và phát tán những tài liệu có nội dung tuyên truyền chống lại nhà nước CHXHCN Việt Nam với khung hình phạt là từ 3 đến 20 năm tù giam sau đó là những thời gian quản chế.
Nói là một phiên toà công khai mà tất cả chúng tôi đều phải chấp nhận là những công dân hè phố trong suốt thời gian diễn ra phiên toà. Cũng là một điều lạ là lần này không thấy sự ra quân rầm rộ của hệ thống truyền thông lề phải, không thấy không khí xung trận của các ngòi bút sát thủ của tướng quân Hữu Ước ngày bắt giữ những người treo biểu ngữ ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định…. Nội vụ phiên toà chỉ thực sự vỡ oà khi chiếc xe đặc chủng chở phạm của công an chở thầy giáo Hùng hú còi lao ra đường Hai Bà Trưng từ phía cổng sau của Toà án. Chiếc xe nhanh chóng mất hút trong lòng Hà Nội. Từ xa tôi thấy cô Mai lọt vào giữa vòng vây của một đám đông các ký giả cả ta cả tây, các đồng nghiệp, học trò của thầy Hùng do thiếu 1 trong 3 loại giấy tờ nên cũng phải làm công dân hè phố như chúng tôi.
Trong đám đông đó, tôi thoáng thấy bóng nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, nguyên giáo viên Hà Tây, bà Trần Thị Lệ, thân mẫu của nữ luật sư nổi tiếng "Bông Hồng thép" Lê Thị Công Nhân đang thụ án tương tự như tội danh hôm nay toà vừa áp đặt cho thầy Hùng. Tôi còn kịp nhận ra nhiều gương mặt dân oan nổi tiếng khác nữa. Nhường cho đám đông huyên náo đang khao khát săn tin, tôi lánh vào bóng rợp của một cây hoa sữa bên đường và buồn bã ngắm nhìn dòng người, dòng đời, dòng xe cộ… đang dửng dưng, ơ hờ trôi qua mắt tôi. Cùng là công dân Hà Đông, tôi chỉ thực sự tiếp cận được cô Lý Tuyết Mai ở cửa chiếc xe đến đón cô và phụ thân của thầy Vũ Hùng. Nhận ra tôi, cô Mai cho biết sau hơn một năm bị giam giữ, thầy Vũ Hùng xuất hiện trước vành móng ngựa là một hình hài trắng xanh, với chiếc đầu trọc, không mặc đồ sọc dưa và đặc biệt nhất là không hề thấy anh ấy dùng các cụm từ: Tôi đã …Tôi thấy như thế là có tội…Tôi xin được hưởng lượng khoan hồng... Qua những trả lời vắn tắt của cô Mai, tôi biết thầy Vũ Hùng một lần nữa lại công khai nhận là người trực tiếp viết biểu ngữ, và theo thầy Hùng nội dung của biểu ngữ đó không hề có tội và không hề trái với ý nguyện của nhân dân Việt Nam hiện nay. Cô Mai cũng chia sẻ với tôi sự ngạc nhiên về một nguyện vọng mà thầy Vũ Hùng đã trình bày trước toà rằng: "Tôi có nguyện vọng sớm được đoàn tụ với người thân trong gia đình". Tôi nghĩ, đây là kết quả của một thương lượng có lợi cho tất cả mọi người, rất nhân bản và chấp nhận được. Không ai có thể dựa vào tình tiết này để xuyên tạc và bóp méo hình ảnh thầy Vũ Hùng.
Người đời có câu: "Anh hùng gặp lúc sa cơ cũng hèn!" là để lý giải và kêu gọi sự cảm thông cho kẻ vì lỡ bước mà không còn giữ được tiết tháo của một bậc cái thế. Câu châm ngôn này không còn mấy ý nghĩa trước những gì mà thầy Vũ Hùng đã thể hiện công khai trước toà. Sau hơn một năm bị bắt giữ bởi hành động treo biểu ngữ trên thành cầu Nam Thăng Long với các nội dung:
"Tham nhũng là hút máu dân
Lạm phát và tăng giá là giết dân
Mất biển, đảo là có tội với tổ tiên
Đề nghị Đảng cộng sản Việt Nam thực thi đa nguyên, đa đảng"
Đúng như những gì mà một nhà dân chủ hàng đầu ở Hà Nội đã lên tiếng trước công luận: Chính ông tổng bí thư Nông Đức Mạnh và 15 ông trong bộ chính trị phải gương mẫu mà cùng nhau hô to 3 nội dung trên của biểu ngữ này. Còn nội dung thứ tư, xin để cho người dân được quyền biểu đạt nguyện vọng của họ một cách ôn hoà. Việc đảng cộng sản Việt Nam có thực thi, không thực thi hay chưa thể thực thi nội dung thứ tư của biểu ngữ là tuỳ thuộc vào trình độ trưởng thành về chính trị của đảng, là tuỳ thuộc vào những điều kiện khách quan hay chủ quan của thời cuộc và không ai gọi là có tội khi người đó ao ước Việt Nam có đa nguyên, đa đảng.
Việc phiên toà buổi sáng 7/10/2009 vừa qua tuyên phạt thầy Hùng 3 năm tù giam và 3 năm quản chế bởi tội danh vi phạm điều 88 là quá khiên cưỡng và thiếu tính thuyết phục. Một lần nữa người đời lại có thêm một dẫn chứng hùng hồn về sự tồn tại của những phiên toà "bỏ túi", những hình án "bỏ túi" chỉ tìm thấy ở CHXHCN Việt Nam.
Sau hơn một năm thầy Hùng bị giam giữ, người ta không thể trình ra được bất cứ một đoạn âm thanh nào, một đoạn video nào làm bằng chứng cho việc thầy Hùng đã thú nhận tội và xin được hưởng lượng khoan hồng, và nhà cầm quyền Việt Nam cũng không thể có thêm bất cứ một lời khai nào từ thầy Hùng để bắt giữ nốt hai thanh niên khác trong tình trạng bịt mặt xuất hiện trong cùng một bức ảnh do một người nào đó đã chụp lúc thầy Hùng treo biểu ngữ trên thành cầu Nam Thăng Long. Bức ảnh đó đã gây xôn xao cư dân mạng suốt một thời gian dài. Bức ảnh đó cũng là một thách đố không thể chấp nhận được đối với cơ quan an ninh Việt Nam, cơ quan đó đã từng tự hào là chưa từng thất bại trước bất cứ đối thủ nào kể cả Trung ương tình báo cục Hoa Kì (CIA).
Tinh thần và khí phách của thầy giáo Vũ Hùng trước phiên toà sơ thẩm ngày 7/10/2009 xứng đáng là biểu tượng quật khởi của tuổi trẻ Việt Nam trước lịch sử. Với cộng đồng những người làm giáo dục – đào tạo chúng tôi, hành động dũng cảm của thầy giáo Vũ Hùng đã nêu một tấm gương có ý nghĩa: "rửa mặt" cho cả một giáo giới đang u mê đi vì những hối thúc mưu sinh thật gieo neo. Cũng vì cuộc kiếm ăn thê thảm đó, giáo giới Việt Nam như ngày càng dễ thích nghi với lối sống ơ hờ, câm lặng đến bạc nhược trước các thế lực nội xâm, ngoại xâm đang cấu kết với nhau xô đẩy Tổ Quốc của Con Lạc Cháu Hồng đối diện với những hiểm hoạ thật khôn lường.
Những gì đã diễn ra suốt hơn một năm nay liên quan tới người đồng nghiệp Vũ Hùng của tôi đã đủ để tôi nói rằng: "ANH HÙNG" gặp lúc sa cơ vẫn …ANH HÙNG"
Xin ngả mũ chào người đồng nghiệp trẻ Vũ Hùng!
Xin chúc gia đình, người thân của thầy giáo trẻ Vũ Hùng sớm tìm được sự thăng bằng trong những bình yên của một khúc ngoặt mới, thử thách mới. Tổ Quốc và Nhân dân Việt Nam chân chính mãi mãi vinh danh Nhà Giáo Vũ Hùng
Lịch sử không quên những người con dũng cảm như nhà giáo Vũ Hùng.
Hà Đông những ngày thu tàn tháng 10 - 2009
Nguyễn Thượng Long
Nguyễn Thượng Long "…hành động dũng cảm của thầy giáo Vũ Hùng đã nêu một tấm gương có ý nghĩa: "rửa mặt" cho cả một giáo giới đang ơ hờ, câm lặng đến bạc nhược trước các thế lực nội xâm, ngoại xâm đang cấu kết với nhau…"
(Ghi chép về phiên toà xét xử nhà giáo Vũ Hùng tại Hà Nội sáng ngày 7/10/2009)
Vì những cơ may cũng là hy hữu, ngày 7/10/2009 tôi đã hoàn toàn được tự do để cùng một số đồng nghiệp của GD – ĐT Hà Đông có mặt trước cổng Toà án nhân dân thành phố Hà Nội ngày xét xử vụ án thầy giáo Vũ Hùng bị ghép tội vi phạm điều 88 Bộ luật hình sự của nước CHXHCN Việt Nam. Điều 88 là điều luật sẽ trừng phạt những ai can tội làm ra, lưu giữ và phát tán những tài liệu có nội dung tuyên truyền chống lại nhà nước CHXHCN Việt Nam với khung hình phạt là từ 3 đến 20 năm tù giam sau đó là những thời gian quản chế.
Nói là một phiên toà công khai mà tất cả chúng tôi đều phải chấp nhận là những công dân hè phố trong suốt thời gian diễn ra phiên toà. Cũng là một điều lạ là lần này không thấy sự ra quân rầm rộ của hệ thống truyền thông lề phải, không thấy không khí xung trận của các ngòi bút sát thủ của tướng quân Hữu Ước ngày bắt giữ những người treo biểu ngữ ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định…. Nội vụ phiên toà chỉ thực sự vỡ oà khi chiếc xe đặc chủng chở phạm của công an chở thầy giáo Hùng hú còi lao ra đường Hai Bà Trưng từ phía cổng sau của Toà án. Chiếc xe nhanh chóng mất hút trong lòng Hà Nội. Từ xa tôi thấy cô Mai lọt vào giữa vòng vây của một đám đông các ký giả cả ta cả tây, các đồng nghiệp, học trò của thầy Hùng do thiếu 1 trong 3 loại giấy tờ nên cũng phải làm công dân hè phố như chúng tôi.
Trong đám đông đó, tôi thoáng thấy bóng nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, nguyên giáo viên Hà Tây, bà Trần Thị Lệ, thân mẫu của nữ luật sư nổi tiếng "Bông Hồng thép" Lê Thị Công Nhân đang thụ án tương tự như tội danh hôm nay toà vừa áp đặt cho thầy Hùng. Tôi còn kịp nhận ra nhiều gương mặt dân oan nổi tiếng khác nữa. Nhường cho đám đông huyên náo đang khao khát săn tin, tôi lánh vào bóng rợp của một cây hoa sữa bên đường và buồn bã ngắm nhìn dòng người, dòng đời, dòng xe cộ… đang dửng dưng, ơ hờ trôi qua mắt tôi. Cùng là công dân Hà Đông, tôi chỉ thực sự tiếp cận được cô Lý Tuyết Mai ở cửa chiếc xe đến đón cô và phụ thân của thầy Vũ Hùng. Nhận ra tôi, cô Mai cho biết sau hơn một năm bị giam giữ, thầy Vũ Hùng xuất hiện trước vành móng ngựa là một hình hài trắng xanh, với chiếc đầu trọc, không mặc đồ sọc dưa và đặc biệt nhất là không hề thấy anh ấy dùng các cụm từ: Tôi đã …Tôi thấy như thế là có tội…Tôi xin được hưởng lượng khoan hồng... Qua những trả lời vắn tắt của cô Mai, tôi biết thầy Vũ Hùng một lần nữa lại công khai nhận là người trực tiếp viết biểu ngữ, và theo thầy Hùng nội dung của biểu ngữ đó không hề có tội và không hề trái với ý nguyện của nhân dân Việt Nam hiện nay. Cô Mai cũng chia sẻ với tôi sự ngạc nhiên về một nguyện vọng mà thầy Vũ Hùng đã trình bày trước toà rằng: "Tôi có nguyện vọng sớm được đoàn tụ với người thân trong gia đình". Tôi nghĩ, đây là kết quả của một thương lượng có lợi cho tất cả mọi người, rất nhân bản và chấp nhận được. Không ai có thể dựa vào tình tiết này để xuyên tạc và bóp méo hình ảnh thầy Vũ Hùng.
Người đời có câu: "Anh hùng gặp lúc sa cơ cũng hèn!" là để lý giải và kêu gọi sự cảm thông cho kẻ vì lỡ bước mà không còn giữ được tiết tháo của một bậc cái thế. Câu châm ngôn này không còn mấy ý nghĩa trước những gì mà thầy Vũ Hùng đã thể hiện công khai trước toà. Sau hơn một năm bị bắt giữ bởi hành động treo biểu ngữ trên thành cầu Nam Thăng Long với các nội dung:
"Tham nhũng là hút máu dân
Lạm phát và tăng giá là giết dân
Mất biển, đảo là có tội với tổ tiên
Đề nghị Đảng cộng sản Việt Nam thực thi đa nguyên, đa đảng"
Đúng như những gì mà một nhà dân chủ hàng đầu ở Hà Nội đã lên tiếng trước công luận: Chính ông tổng bí thư Nông Đức Mạnh và 15 ông trong bộ chính trị phải gương mẫu mà cùng nhau hô to 3 nội dung trên của biểu ngữ này. Còn nội dung thứ tư, xin để cho người dân được quyền biểu đạt nguyện vọng của họ một cách ôn hoà. Việc đảng cộng sản Việt Nam có thực thi, không thực thi hay chưa thể thực thi nội dung thứ tư của biểu ngữ là tuỳ thuộc vào trình độ trưởng thành về chính trị của đảng, là tuỳ thuộc vào những điều kiện khách quan hay chủ quan của thời cuộc và không ai gọi là có tội khi người đó ao ước Việt Nam có đa nguyên, đa đảng.
Việc phiên toà buổi sáng 7/10/2009 vừa qua tuyên phạt thầy Hùng 3 năm tù giam và 3 năm quản chế bởi tội danh vi phạm điều 88 là quá khiên cưỡng và thiếu tính thuyết phục. Một lần nữa người đời lại có thêm một dẫn chứng hùng hồn về sự tồn tại của những phiên toà "bỏ túi", những hình án "bỏ túi" chỉ tìm thấy ở CHXHCN Việt Nam.
Sau hơn một năm thầy Hùng bị giam giữ, người ta không thể trình ra được bất cứ một đoạn âm thanh nào, một đoạn video nào làm bằng chứng cho việc thầy Hùng đã thú nhận tội và xin được hưởng lượng khoan hồng, và nhà cầm quyền Việt Nam cũng không thể có thêm bất cứ một lời khai nào từ thầy Hùng để bắt giữ nốt hai thanh niên khác trong tình trạng bịt mặt xuất hiện trong cùng một bức ảnh do một người nào đó đã chụp lúc thầy Hùng treo biểu ngữ trên thành cầu Nam Thăng Long. Bức ảnh đó đã gây xôn xao cư dân mạng suốt một thời gian dài. Bức ảnh đó cũng là một thách đố không thể chấp nhận được đối với cơ quan an ninh Việt Nam, cơ quan đó đã từng tự hào là chưa từng thất bại trước bất cứ đối thủ nào kể cả Trung ương tình báo cục Hoa Kì (CIA).
Tinh thần và khí phách của thầy giáo Vũ Hùng trước phiên toà sơ thẩm ngày 7/10/2009 xứng đáng là biểu tượng quật khởi của tuổi trẻ Việt Nam trước lịch sử. Với cộng đồng những người làm giáo dục – đào tạo chúng tôi, hành động dũng cảm của thầy giáo Vũ Hùng đã nêu một tấm gương có ý nghĩa: "rửa mặt" cho cả một giáo giới đang u mê đi vì những hối thúc mưu sinh thật gieo neo. Cũng vì cuộc kiếm ăn thê thảm đó, giáo giới Việt Nam như ngày càng dễ thích nghi với lối sống ơ hờ, câm lặng đến bạc nhược trước các thế lực nội xâm, ngoại xâm đang cấu kết với nhau xô đẩy Tổ Quốc của Con Lạc Cháu Hồng đối diện với những hiểm hoạ thật khôn lường.
Những gì đã diễn ra suốt hơn một năm nay liên quan tới người đồng nghiệp Vũ Hùng của tôi đã đủ để tôi nói rằng: "ANH HÙNG" gặp lúc sa cơ vẫn …ANH HÙNG"
Xin ngả mũ chào người đồng nghiệp trẻ Vũ Hùng!
Xin chúc gia đình, người thân của thầy giáo trẻ Vũ Hùng sớm tìm được sự thăng bằng trong những bình yên của một khúc ngoặt mới, thử thách mới. Tổ Quốc và Nhân dân Việt Nam chân chính mãi mãi vinh danh Nhà Giáo Vũ Hùng
Lịch sử không quên những người con dũng cảm như nhà giáo Vũ Hùng.
Hà Đông những ngày thu tàn tháng 10 - 2009
Nguyễn Thượng Long

