Bình Luận Thời Sự
Mười năm vận xấu
Ngô Nhân Dụng
Các nhà tử vi thường tính mỗi mười năm là một giai đoạn ngắn trong đời người. Ðời sống của một quốc gia dài hơn một người, thường một “tiểu hạn” cũng phải tính hàng thế kỷ trở lên. Riêng Mỹ là một nước còn quá trẻ, tính mỗi thời hạn ngắn từng mười năm cho tiện.
Trong vòng 10 năm qua, bắt đầu từ năm 2000, có thể nói là vận hạn của nước Mỹ rất xấu. Hết họa lớn đến nạn nhỏ, sau tai họa từ ngoài đem vào lại tới hoạn nạn gây ra từ bên trong. Nếu tin “Bỉ cực thái lai” thì sau một hạn nhỏ xấu như thế, chắc thập niên sắp tới phải khá hơn.
Tai họa lớn ai cũng biết, là phong trào khủng bố nhắm vào người Mỹ, bắt đầu với vụ đánh sập hai tòa nhà ở New York, năm 2001. Từ đó tới nay, nước Mỹ sống trong phập phồng lo sợ. Khủng bố có nghĩa là gây sợ hãi, những tay chủ mưu al Qeda đã đạt mục đích gây sợ hãi. Chính phủ Mỹ vẫn chưa bắt được bin Laden, người chủ xướng vụ tàn sát man rợ này. Cuối năm 2009, một vụ nổ bom hụt trên chuyến bay từ Nigeria đi sang Detroit đã nhắc nhở tất cả dân chúng Mỹ đừng vui ba ngày Tết mà quên rằng họ vẫn bị kẻ thù rình dập.
Nước Mỹ đã từng bị tấn công bất ngờ trong quá khứ, như vụ Trân Châu Cảng trước đây gần 70 năm. Ðiểm khác biệt giữa thời Ðại chiến vừa qua và lần này là sau gần 9 năm chính phủ Mỹ tới giờ vẫn không diệt được những kẻ gây hấn. Và không biết đến bao giờ mới trừ hết được mầm mống của tai họa này! Lạ thật, bao nhiêu binh hùng tướng mạnh, vũ khí tối tân, nhưng vẫn không tiễu trừ được một nhóm cuồng tín cực đoan vốn không được chính quyền một quốc gia nào hỗ trợ. Mười năm qua, quân đội Mỹ đã có dịp thí nghiệm những thứ vũ khí tinh xảo và đắt tiền nhất, nhưng cả đạo quân đó chưa làm xong được nhiệm vụ của họ. Phải công nhận là nước Mỹ đã gặp một vận hạn rất đen.
Nhưng trên mặt kinh tế số còn đen hơn nhiều. Về quân sự, nước Mỹ vẫn là siêu cường số một, ngân sách quốc phòng Mỹ lớn hơn ngân sách của tất cả các nước khác cộng lại. Nhưng địa vị kinh tế của Mỹ đang bị đe dọa thật, từ nền tảng. Mối lo lớn không phải vì kinh tế Trung Quốc sẽ đuổi kịp Mỹ trong vòng 20 tới 30 năm nữa. Chuyện đó thế nào cũng phải xảy ra, không có chi lạ. Một nước 1,300 triệu dân thì chắc chắn phải sản xuất và tiêu thụ nhiều hơn một nước 300 triệu; đáng lẽ Trung Quốc phải vượt qua Mỹ từ thế kỷ trước, nếu họ không đi một bước lầm lớn là đi theo chế độ cộng sản.
Tai họa thật sự quan trọng đối với nước Mỹ là chính mô hình tổ chức kinh tế của họ đã thất bại và bị nghi ngờ. Sự thất bại xảy ra từ từ, trong suốt 10 năm qua nhưng do những nguyên nhân xa hơn; cuối cùng đã nổ bùng lên trong năm 2007.
Nước Mỹ vẫn hãnh diện về hệ thống luật lệ về kế toán bắt buộc các công ty phải theo và công bố thường xuyên, giúp các nhà đầu tư biết rõ tin tức trung thực trước khi quyết định phân phối tài nguyên; và bắt các nhà quản đốc phải chịu trách nhiệm đối với cổ đông cũng như với xã hội. Phố Wall ở New York cũng hãnh diện về hệ thống tài chánh đầy sáng kiến, đặt ra các khí cụ tài chánh mới để người ta dễ chia sẻ may rủi với nhau, do đó họ sẽ đầu tư hăng hái hơn. Người Mỹ tin rằng cả thế giới nên học theo cách tổ chức kinh tế của họ. Nhất là sau khi kinh tế các nước cộng sản thì sụp đổ còn Âu Châu và Nhật Bản thì trì trệ liên miên trong gần 20 năm.
Nhưng trong 10 năm vừa qua, niềm hãnh diện trên đã bị thử thách, bị tan vỡ, do những tai họa do chính người Mỹ gây ra. Nhiều người Mỹ cũng bắt đầu nghi ngờ về “tính chất ưu việt” của hệ thống tài chánh của họ. Cứ nghe các đại biểu Quốc Hội Mỹ thuộc cả hai đảng nói thì biết, ai cũng đòi phải cải tổ, cải tổ!
Trước hết là những vụ gian lận về kế toán có tổ chức và đại quy mô bị khám phá! Những công ty Enron, WorldCom đã sụp đổ như những tòa lâu đài làm bằng cát trên bãi biển; những vị quản đốc từng được ngưỡng mộ bỗng hiện hình thành những tay đại bịp. Họ đánh lừa được bao nhiêu nhà đầu tư, các ngân hàng, các xí nghiệp cung cấp cho họ hoặc mua hàng của họ, và các nhân viên chính quyền, trong một thời gian khá dài!
Nhưng những vụ bịp bợm đó sẽ được lãng quên vì dù làm khổ nhiều người nhưng chúng không gây tai họa cho cả nước, như những sai lầm tập thể diễn ra trước mắt mọi người với những món nợ địa ốc “tiêu chuẩn thấp.” Bao nhiêu ngân hàng thương mại, các hãng bảo hiểm, ngân hàng đầu tư, quỹ đầu tư, ở Mỹ và từ các nước khác, cùng nhau tham dự vào một cuộc chuyển vận tiền bạc, đi vay rồi đem cho vay; trong khi bất chấp mọi quy tắc về tính thận trọng khi sử dụng tiền do người khác giao phó! Những nhà đại tư bản vẫn được coi là khôn ngoan nhất, bỗng trông giống đám trẻ con nghịch ngợm với những món đồ chơi mà chúng không biết rõ, nên vừa bị phỏng tay vừa làm cháy nhà!
Cuộc khủng hoảng bắt đầu từ những món nợ cho vay bất cẩn đã lôi cả thế giới vào cơn suy thoái kinh tế mà lúc đầu nhiều người đã tưởng sẽ gây ra một cuộc đại khủng hoảng như thời 1930. Ðến nay thì người ta yên tâm chuyện đó sẽ không xảy ra. Nhưng uy tín của cả hệ thống tài chánh của nước Mỹ đã bị suy sụp. Các nhà chính trị trong Quốc Hội đang giành lấy quyền quyết định số phận của các nhà tư bản bằng những thứ luật lệ, ràng buộc mới! Cũng giống như các ông cảnh sát công lộ, họ nhân danh lợi ích của công chúng đang tính dựng lên các rào cản mới, để tránh không cho tai nạn xảy ra lần nữa! Mười năm sau khi kinh tế tư bản tuyên bố đại thắng đối với kinh tế xã hội chủ nghĩa, đến lượt chính kinh tế tư bản phải tự hỏi mình sẽ đi về đâu!
Nhìn lại mười năm vừa qua phải công nhận là cả nước Mỹ đang gặp vận xui. Nhưng chúng ta đều biết, đa số người Mỹ không quan tâm đến vận hạn, không sợ mất uy tín trên thế giới. Dù người dân các nước khác nghĩ thế nào về thế lực quân sự và hệ thống kinh tế của nước Mỹ, dân chúng Mỹ thực sự chỉ lo lắng về đời sống kinh tế của mỗi gia đình họ mà thôi. Họ sẽ an tâm sống nếu vẫn đủ xăng chạy xe đi làm, ngày nghỉ thì coi những trận đấu banh, con cái vẫn đi chơi thể thao, cha mẹ đi mua sắm. Họ cũng không mấy người tin ở số tử vi!
Nhưng dù không tính số tử vi, một người dân bình thường ở Mỹ cũng phải thấy là trong 10 năm qua đời sống kinh tế của họ không thấy tiến bộ. Trong 10 năm qua, kinh tế Mỹ không tạo thêm được bao công việc làm mới. Bỏ qua số người được chính phủ tuyển vô thì tổng số công việc làm trong lãnh vực tư đã giảm bớt chứ không tăng. Các đại công ty vẫn có lời, các ban giám đốc được tặng thưởng, nhưng lợi tức của người dân bình thường không tăng. Sau khi loại bỏ ảnh hưởng do lạm phát tạo ra, lợi tức gia đình ở mức giữa (median household real income) vào năm 2007 đã giảm đi so với năm 1999. Nếu quý vị là chủ nhà trong suốt 10 năm qua thì biết, sau khi trừ bỏ sự gia tăng vì đồng tiền mất giá thì giá một ngôi nhà trung bình ở Mỹ năm nay cũng chỉ bằng giá trước đây 10 năm. Một phần tư các ngôi nhà ở Mỹ hiện trị giá thấp hơn món nợ còn thiếu chưa trả được cho ngân hàng. Nhiều người Mỹ đã “nghèo hơn” vì nhà cửa xuống giá, và cũng không kiếm được thêm trong thị trường chứng khoán. Năm 1999 cả nước ăn mừng khi Chỉ số Dow Jones lên số 10,000; nhiều người tiên đoán nó sẽ tăng lên gấp đôi, gấp ba trong 10 năm. Bây giờ, chỉ số đó cũng chỉ lảng vảng được vài ba trăm trên con số 10,000! Nếu tính ảnh hưởng của lạm phát trong đó thì coi như đã lỗ.
Trước những con số như vậy, nhưng dân Mỹ vẫn không thấy phải bi quan. Tính lạc quan chính là sức mạnh của nước này, vẫn giữ được từ hai thế kỷ nay. So sánh với thế giới bên ngoài thì người Mỹ đáng lạc quan thật. Tổng sản lượng của nước Mỹ từ năm 1980 đến giờ vẫn chiếm 21% GDP của thế giới, không thay đổi, mặc dù GDP của nhiều quốc gia đang phát triển đã tăng lên gấp bội. Vào năm 1999 thì GDP của Trung Quốc chỉ bằng một phần 8 của Mỹ, năm nay đã lên bằng một phần tư! Nhưng nếu ngó sang Âu Châu thì người Mỹ phải lạc quan. Vì trước năm 1970 GDP của Âu Châu chiếm gần 40% thế giới, nay chỉ còn chiếm 25% mà thôi, mà dân số bên đó cao hơn bên này. Nghĩa là mô hình tổ chức kinh tế của nước Mỹ có chạy tốt thật, chứ không phải là ảo tưởng.
Phải nói là mười năm qua nước Mỹ gặp vận xui, trong tay toàn những quân bài xấu! Nhiều người phê bình, không những bài đã xấu lại còn chơi bài dở nữa! Nhưng trên thế giới hiện nay vẫn có hàng triệu người mỗi ngày đang xin chiếu khán vào sống ở nước Mỹ. Nhiều di dân mới thất nghiệp nhưng vẫn giữ giấy bảo lãnh thân nhân vào Mỹ theo bước mình. Nhiều người chấp nhận bước vào nước Mỹ ở bậc thang thấp nhất trong xã hội. Chỉ vì họ tin có ngày họ sẽ leo lên bậc cao hơn; mà thường cứ 10 người thì hơn 9 người đã leo lên được. Lúc đó sẽ có những di dân mới đến, thế chỗ họ ở bậc thang dưới cùng!
Ðó chính là những “quân bài tốt” mà nước Mỹ vẫn nắm được từ hàng trăm năm qua. Và sẽ còn tiếp tục nắm được trong thế kỷ tới. Nhật Bản, Trung Quốc, Nga hoặc Ấn Ðộ không có những quân bài đó. Âu Châu thì đang lo ngăn cản bớt làn sóng di dân. Chỉ có nước Mỹ vẫn là nơi thu hút “nhân tài,” từ những bắp thịt mạnh đến chất xám tốt của cả thế giới đem về dùng. Chúng ta sẽ nhìn vào viễn ảnh tốt đẹp đó trong bài tới nhân dịp đầu năm 2010. Hôm nay chỉ nhìn về vận hạn xấu trong thập niên qua, một lần, để xả hết xui đi. Như Tô Thùy Yên sau khi đi tù trở về, viết: “Sẽ kể lại mười năm chuyện cũ - Một lần kể lại để rồi thôi!”
Ngô Nhân Dụng
Các nhà tử vi thường tính mỗi mười năm là một giai đoạn ngắn trong đời người. Ðời sống của một quốc gia dài hơn một người, thường một “tiểu hạn” cũng phải tính hàng thế kỷ trở lên. Riêng Mỹ là một nước còn quá trẻ, tính mỗi thời hạn ngắn từng mười năm cho tiện.
Trong vòng 10 năm qua, bắt đầu từ năm 2000, có thể nói là vận hạn của nước Mỹ rất xấu. Hết họa lớn đến nạn nhỏ, sau tai họa từ ngoài đem vào lại tới hoạn nạn gây ra từ bên trong. Nếu tin “Bỉ cực thái lai” thì sau một hạn nhỏ xấu như thế, chắc thập niên sắp tới phải khá hơn.
Tai họa lớn ai cũng biết, là phong trào khủng bố nhắm vào người Mỹ, bắt đầu với vụ đánh sập hai tòa nhà ở New York, năm 2001. Từ đó tới nay, nước Mỹ sống trong phập phồng lo sợ. Khủng bố có nghĩa là gây sợ hãi, những tay chủ mưu al Qeda đã đạt mục đích gây sợ hãi. Chính phủ Mỹ vẫn chưa bắt được bin Laden, người chủ xướng vụ tàn sát man rợ này. Cuối năm 2009, một vụ nổ bom hụt trên chuyến bay từ Nigeria đi sang Detroit đã nhắc nhở tất cả dân chúng Mỹ đừng vui ba ngày Tết mà quên rằng họ vẫn bị kẻ thù rình dập.
Nước Mỹ đã từng bị tấn công bất ngờ trong quá khứ, như vụ Trân Châu Cảng trước đây gần 70 năm. Ðiểm khác biệt giữa thời Ðại chiến vừa qua và lần này là sau gần 9 năm chính phủ Mỹ tới giờ vẫn không diệt được những kẻ gây hấn. Và không biết đến bao giờ mới trừ hết được mầm mống của tai họa này! Lạ thật, bao nhiêu binh hùng tướng mạnh, vũ khí tối tân, nhưng vẫn không tiễu trừ được một nhóm cuồng tín cực đoan vốn không được chính quyền một quốc gia nào hỗ trợ. Mười năm qua, quân đội Mỹ đã có dịp thí nghiệm những thứ vũ khí tinh xảo và đắt tiền nhất, nhưng cả đạo quân đó chưa làm xong được nhiệm vụ của họ. Phải công nhận là nước Mỹ đã gặp một vận hạn rất đen.
Nhưng trên mặt kinh tế số còn đen hơn nhiều. Về quân sự, nước Mỹ vẫn là siêu cường số một, ngân sách quốc phòng Mỹ lớn hơn ngân sách của tất cả các nước khác cộng lại. Nhưng địa vị kinh tế của Mỹ đang bị đe dọa thật, từ nền tảng. Mối lo lớn không phải vì kinh tế Trung Quốc sẽ đuổi kịp Mỹ trong vòng 20 tới 30 năm nữa. Chuyện đó thế nào cũng phải xảy ra, không có chi lạ. Một nước 1,300 triệu dân thì chắc chắn phải sản xuất và tiêu thụ nhiều hơn một nước 300 triệu; đáng lẽ Trung Quốc phải vượt qua Mỹ từ thế kỷ trước, nếu họ không đi một bước lầm lớn là đi theo chế độ cộng sản.
Tai họa thật sự quan trọng đối với nước Mỹ là chính mô hình tổ chức kinh tế của họ đã thất bại và bị nghi ngờ. Sự thất bại xảy ra từ từ, trong suốt 10 năm qua nhưng do những nguyên nhân xa hơn; cuối cùng đã nổ bùng lên trong năm 2007.
Nước Mỹ vẫn hãnh diện về hệ thống luật lệ về kế toán bắt buộc các công ty phải theo và công bố thường xuyên, giúp các nhà đầu tư biết rõ tin tức trung thực trước khi quyết định phân phối tài nguyên; và bắt các nhà quản đốc phải chịu trách nhiệm đối với cổ đông cũng như với xã hội. Phố Wall ở New York cũng hãnh diện về hệ thống tài chánh đầy sáng kiến, đặt ra các khí cụ tài chánh mới để người ta dễ chia sẻ may rủi với nhau, do đó họ sẽ đầu tư hăng hái hơn. Người Mỹ tin rằng cả thế giới nên học theo cách tổ chức kinh tế của họ. Nhất là sau khi kinh tế các nước cộng sản thì sụp đổ còn Âu Châu và Nhật Bản thì trì trệ liên miên trong gần 20 năm.
Nhưng trong 10 năm vừa qua, niềm hãnh diện trên đã bị thử thách, bị tan vỡ, do những tai họa do chính người Mỹ gây ra. Nhiều người Mỹ cũng bắt đầu nghi ngờ về “tính chất ưu việt” của hệ thống tài chánh của họ. Cứ nghe các đại biểu Quốc Hội Mỹ thuộc cả hai đảng nói thì biết, ai cũng đòi phải cải tổ, cải tổ!
Trước hết là những vụ gian lận về kế toán có tổ chức và đại quy mô bị khám phá! Những công ty Enron, WorldCom đã sụp đổ như những tòa lâu đài làm bằng cát trên bãi biển; những vị quản đốc từng được ngưỡng mộ bỗng hiện hình thành những tay đại bịp. Họ đánh lừa được bao nhiêu nhà đầu tư, các ngân hàng, các xí nghiệp cung cấp cho họ hoặc mua hàng của họ, và các nhân viên chính quyền, trong một thời gian khá dài!
Nhưng những vụ bịp bợm đó sẽ được lãng quên vì dù làm khổ nhiều người nhưng chúng không gây tai họa cho cả nước, như những sai lầm tập thể diễn ra trước mắt mọi người với những món nợ địa ốc “tiêu chuẩn thấp.” Bao nhiêu ngân hàng thương mại, các hãng bảo hiểm, ngân hàng đầu tư, quỹ đầu tư, ở Mỹ và từ các nước khác, cùng nhau tham dự vào một cuộc chuyển vận tiền bạc, đi vay rồi đem cho vay; trong khi bất chấp mọi quy tắc về tính thận trọng khi sử dụng tiền do người khác giao phó! Những nhà đại tư bản vẫn được coi là khôn ngoan nhất, bỗng trông giống đám trẻ con nghịch ngợm với những món đồ chơi mà chúng không biết rõ, nên vừa bị phỏng tay vừa làm cháy nhà!
Cuộc khủng hoảng bắt đầu từ những món nợ cho vay bất cẩn đã lôi cả thế giới vào cơn suy thoái kinh tế mà lúc đầu nhiều người đã tưởng sẽ gây ra một cuộc đại khủng hoảng như thời 1930. Ðến nay thì người ta yên tâm chuyện đó sẽ không xảy ra. Nhưng uy tín của cả hệ thống tài chánh của nước Mỹ đã bị suy sụp. Các nhà chính trị trong Quốc Hội đang giành lấy quyền quyết định số phận của các nhà tư bản bằng những thứ luật lệ, ràng buộc mới! Cũng giống như các ông cảnh sát công lộ, họ nhân danh lợi ích của công chúng đang tính dựng lên các rào cản mới, để tránh không cho tai nạn xảy ra lần nữa! Mười năm sau khi kinh tế tư bản tuyên bố đại thắng đối với kinh tế xã hội chủ nghĩa, đến lượt chính kinh tế tư bản phải tự hỏi mình sẽ đi về đâu!
Nhìn lại mười năm vừa qua phải công nhận là cả nước Mỹ đang gặp vận xui. Nhưng chúng ta đều biết, đa số người Mỹ không quan tâm đến vận hạn, không sợ mất uy tín trên thế giới. Dù người dân các nước khác nghĩ thế nào về thế lực quân sự và hệ thống kinh tế của nước Mỹ, dân chúng Mỹ thực sự chỉ lo lắng về đời sống kinh tế của mỗi gia đình họ mà thôi. Họ sẽ an tâm sống nếu vẫn đủ xăng chạy xe đi làm, ngày nghỉ thì coi những trận đấu banh, con cái vẫn đi chơi thể thao, cha mẹ đi mua sắm. Họ cũng không mấy người tin ở số tử vi!
Nhưng dù không tính số tử vi, một người dân bình thường ở Mỹ cũng phải thấy là trong 10 năm qua đời sống kinh tế của họ không thấy tiến bộ. Trong 10 năm qua, kinh tế Mỹ không tạo thêm được bao công việc làm mới. Bỏ qua số người được chính phủ tuyển vô thì tổng số công việc làm trong lãnh vực tư đã giảm bớt chứ không tăng. Các đại công ty vẫn có lời, các ban giám đốc được tặng thưởng, nhưng lợi tức của người dân bình thường không tăng. Sau khi loại bỏ ảnh hưởng do lạm phát tạo ra, lợi tức gia đình ở mức giữa (median household real income) vào năm 2007 đã giảm đi so với năm 1999. Nếu quý vị là chủ nhà trong suốt 10 năm qua thì biết, sau khi trừ bỏ sự gia tăng vì đồng tiền mất giá thì giá một ngôi nhà trung bình ở Mỹ năm nay cũng chỉ bằng giá trước đây 10 năm. Một phần tư các ngôi nhà ở Mỹ hiện trị giá thấp hơn món nợ còn thiếu chưa trả được cho ngân hàng. Nhiều người Mỹ đã “nghèo hơn” vì nhà cửa xuống giá, và cũng không kiếm được thêm trong thị trường chứng khoán. Năm 1999 cả nước ăn mừng khi Chỉ số Dow Jones lên số 10,000; nhiều người tiên đoán nó sẽ tăng lên gấp đôi, gấp ba trong 10 năm. Bây giờ, chỉ số đó cũng chỉ lảng vảng được vài ba trăm trên con số 10,000! Nếu tính ảnh hưởng của lạm phát trong đó thì coi như đã lỗ.
Trước những con số như vậy, nhưng dân Mỹ vẫn không thấy phải bi quan. Tính lạc quan chính là sức mạnh của nước này, vẫn giữ được từ hai thế kỷ nay. So sánh với thế giới bên ngoài thì người Mỹ đáng lạc quan thật. Tổng sản lượng của nước Mỹ từ năm 1980 đến giờ vẫn chiếm 21% GDP của thế giới, không thay đổi, mặc dù GDP của nhiều quốc gia đang phát triển đã tăng lên gấp bội. Vào năm 1999 thì GDP của Trung Quốc chỉ bằng một phần 8 của Mỹ, năm nay đã lên bằng một phần tư! Nhưng nếu ngó sang Âu Châu thì người Mỹ phải lạc quan. Vì trước năm 1970 GDP của Âu Châu chiếm gần 40% thế giới, nay chỉ còn chiếm 25% mà thôi, mà dân số bên đó cao hơn bên này. Nghĩa là mô hình tổ chức kinh tế của nước Mỹ có chạy tốt thật, chứ không phải là ảo tưởng.
Phải nói là mười năm qua nước Mỹ gặp vận xui, trong tay toàn những quân bài xấu! Nhiều người phê bình, không những bài đã xấu lại còn chơi bài dở nữa! Nhưng trên thế giới hiện nay vẫn có hàng triệu người mỗi ngày đang xin chiếu khán vào sống ở nước Mỹ. Nhiều di dân mới thất nghiệp nhưng vẫn giữ giấy bảo lãnh thân nhân vào Mỹ theo bước mình. Nhiều người chấp nhận bước vào nước Mỹ ở bậc thang thấp nhất trong xã hội. Chỉ vì họ tin có ngày họ sẽ leo lên bậc cao hơn; mà thường cứ 10 người thì hơn 9 người đã leo lên được. Lúc đó sẽ có những di dân mới đến, thế chỗ họ ở bậc thang dưới cùng!
Ðó chính là những “quân bài tốt” mà nước Mỹ vẫn nắm được từ hàng trăm năm qua. Và sẽ còn tiếp tục nắm được trong thế kỷ tới. Nhật Bản, Trung Quốc, Nga hoặc Ấn Ðộ không có những quân bài đó. Âu Châu thì đang lo ngăn cản bớt làn sóng di dân. Chỉ có nước Mỹ vẫn là nơi thu hút “nhân tài,” từ những bắp thịt mạnh đến chất xám tốt của cả thế giới đem về dùng. Chúng ta sẽ nhìn vào viễn ảnh tốt đẹp đó trong bài tới nhân dịp đầu năm 2010. Hôm nay chỉ nhìn về vận hạn xấu trong thập niên qua, một lần, để xả hết xui đi. Như Tô Thùy Yên sau khi đi tù trở về, viết: “Sẽ kể lại mười năm chuyện cũ - Một lần kể lại để rồi thôi!”
Chuyện Có Thật Mà Cứ Như Đùa Ấy
Đoàn Thanh Liêm
(Trích từ các giai thoại chính trị quốc tế)
Nhân dịp đầu năm mới, tôi xin sao lục lại một số chuyện có thật, mà ngộ nghĩnh lượm lặt trong các giai thoại chính trị quốc tế nhằm cống hiến đến quý bạn đọc xem cho vui nhé.
1/ Chuyện của Stalin và Mao Trạch Đông.
Hai vị “đại lãnh tụ cộng sản “ này đều có cá tính và lòng tự ái khác người, nên họ có rất nhiều đụng chạm với nhau. Theo như Kruschev kể lại trong cuốn hồi ký được xuất bản vào cuối đời, thì hai ông đó luôn luôn có sự căng thẳng trong mối quan hệ song phương. Cụ thể là : Khi Mao Trạch Đông chiến thắng và làm chủ toàn thể nước Trung hoa, thì Stalin rất mừng rỡ và hăm hở đề nghị với Mao để cho Liên Xô qua trồng cao su và lập các nhà máy làm đồ hộp về trái cây của xứ nhiệt đới, đó là các thứ mà Liên Xô không thể nào mà có được, vì lý do khí hậu quá lạnh lẽo. Nhưng sau nhiều lần giới chuyên gia gặp gỡ, bàn thảo với nhau, thì Liên Xô cũng không thể tiến hành được một dự án hợp tác Trung-Xô nào đáng kể hết. Trái lại, bên phía Trung quốc thì lại nằng nặc yêu sách, đòi hỏi phía Liên Xô là “ bậc đàn anh” phải chi viện tối đa cho phía mình, với lý do là Trung quốc còn quá nghèo túng, thiếu thốn đủ mọi thứ, nên phải cần xin Liên Xô giúp đỡ làm sao cho thật tiến bộ khấm khá lên mới được. Mà Liên Xô hồi đó vào năm 1950-53, thì vẫn còn chưa phục hồi được sau cuộc tàn phá thời đại thế chiến thứ hai, khiến người dân vẫn còn thiếu thốn khổ cực nhiều bề. Do vậy mà hai bên Stalin và Mao vẫn còn hục hặc lẫn nhau, giữ thế với nhau, mặc dầu bên ngoài thì vẫn phải giữ thể diện, uy tín cho khối cộng sản. Rõ ràng là giữa hai ông chỉ có sự “ bằng mặt”, mà “ không có sự bằng lòng”.
Đàng khác, vẫn theo sự tiết lộ của Kruschev, thì hai vị lãnh tụ này lại còn đụng độ căng thẳng với nhau về mặt quan điểm nữa. Câu chuyện xảy ra đại khái như sau : Mao vẫn tự hào mình là một nhà tư tưởng, nên muốn có một nhà tư tưởng khác từ Liên Xô để cùng hợp tác biên tập lại các bài viết của mình để rồi xuất bản cho công chúng đọc. Lời yêu cầu này được Stalin đáp ứng bằng cách đề cử ông Yudine, là một thứ triết gia trong hàng ngũ cơ quan an ninh (gọi nôm na là chekist = cớm), để qua Bắc kinh làm đại sứ của Liên Xô. Như vậy là thuận tiện cho việc hợp tác biên soạn tác phẩm với Mao Trạch Đông. Nhưng sau mấy buổi hội họp riêng để bàn thảo công việc biên soạn này, thì hai bên lại đâm ra có nhiều sự bất đồng về quan điểm này nọ. Mao thì tự phụ mình là một lý thuyết gia tầm cỡ lớn của một đảng cộng sản lớn lao với bao nhiêu thành tích lãy lừng, do vậy mà cứ giữ lập trường quan điểm của cá nhân mình. Trong khi đó thì đại sứ Yudine cũng tự cho mình mới là người nắm vững tư tưởng chính thống Marxist-Leninist xuất phát từ đảng cộng sản đàn anh Liên Xô. Rút cục là hai bên bế tắc, không thể tiếp tục làm việc chung với nhau được. Và Stalin đành phải rút đại sứ Yudine trở về lại Liên Xô.
Qua một số vụ việc đại khái như thế, Kruschev kết luận là sự nứt rạn, đổ vỡ giữa Liên Xô và Trung cộng đã manh nha ngay từ thời Stalin còn là lãnh đạo đầu thập niên 1950, chứ không phải là do Kruschev gây ra như một số đảng viên đổ vấy tội cho ông ta, lúc ông đã bị các “đàn em” hạ bệ từ năm 1964.
2/ Stalin và Hồ Chí Minh.
Cũng trong cuốn hồi ký nhan đề “Kruschev remembers”, người kế vị Stalin này còn dành cả một chương nói về Hồ Chí Minh, với một mối thiện cảm đối với một người cộng sản kiên trì mà ông gọi đó là “vị thánh tông đồ” của chủ nghĩa Marxist-Leninist (apostle). Ở đây chỉ xin thuật lại chuyện ông Hồ xin tiếp kiến đàn anh Stalin vào hồi năm 1950-51.
Hồi đó ông Hồ còn đang phải ở tại chiến khu Việt bắc và rất bận rộn với cuộc chiến tranh chống Pháp. Nhưng sau khi cộng sản Trung quốc toàn thắng ở lục địa Trung hoa, thì ông Hồ tìm cách đi qua ngả Bắc kinh để đến viếng thăm vị lãnh tụ đàn anh tại Moscow và đồng thời xin Stalin viện trợ thuốc men, võ khí v.v… cho quân đội kháng chiến Việt nam. Theo lời thuật lại của Kruschev, thì Stalin không tiếp đón ông Hồ như là một vị quốc khách, mà chỉ có những cuộc gặp gỡ kín đáo riêng tư mà thôi. Và giới báo chí truyền thông Liên Xô cũng không thấy đề cập gì nhiều về chuyến viếng thăm này của ông Hồ. Về khoản ông Hồ xin Stalin cấp phát cho bộ đội Việt minh một số thuốc chống sốt rét, thì Stalin đồng ý dễ dàng và ra lệnh cho xuất kho thuốc quinine để cung cấp cho ông Hồ. Còn các lời thỉnh cầu khác, thì Stalin nói là đó là trách nhiệm của bên Trung quốc, vì Liên Xô đã phân công cho nước này đặc trách mọi việc chi viện cho phía Việt nam. Do vậy, ông Hồ cứ việc thương lượng với Trung quốc, mà khỏi cần mất công phải đi xa và làm phiền đến Liên Xô nữa.
Nhân tiện cũng xin ghi thêm chi tiết khá lý thú và ngộ nghĩnh này nữa. Đó là trong dịp tiếp kiến với đàn anh Stalin, thì ông Hồ có xin với vị lãnh tụ cho một tấm hình để làm kỷ niệm cho nhân dân Việt nam. Stalin bèn gật đầu và lấy một tờ báo bằng tiếng Anh nhan đề : “ The Soviet Union under reconstruction” (Liên Xô dười thời tái kiến thiết), rồi ký tặng cho vị khách này. Ông Hồ thật hớn hở vui mừng và đem về phòng mình ở nhà khách. Nhưng vài bữa sau, Stalin nghĩ lại và đã sai mật vụ đến tận phòng ông Hồ lúc ấy đi vắng, để lấy lại tờ báo có chữ ký tặng này. Kruschev ghi thêm là ông Stalin vốn có tính đa nghi thái quá, nên sợ ông Hồ lợi dụng bức ảnh có chữ ký đề tặng này để làm chuyện gì không hay chăng, nên đã có chuyện tìm cách lấy lại cái “kỷ niệm mà ông Hồ rất trân trọng” đó.
3/ Đặng Tiểu Bình làm cố vấn cho Liên Xô.
Theo lời thuật lại của Harrison Salisbury nguyên là một chủ bút nổi danh của tờ New York Times, thì vào đầu năm 1956, khi xảy ra vụ nhân dân Ba lan nổi dậy đòi thay đổi chế độ cộng sản ở đây, Kruschev thật bối rối vì còn quá mới mẻ, chưa có thẩm quyền vững vàng của một vị lãnh tụ có tầm vóc như Stalin. Do vậy mà giới lãnh đạo Liên Xô phải cậy nhờ xin ý kiến cố vấn của Trung quốc. Mao bèn cử Đặng Tiểu Bình lúc đó giữ chức Bí thư đảng cộng sản Trung quốc, để qua bàn thảo với giới lãnh đạo Liên Xô anh em. Sau khi nghiên cứu tình hình, thì Đặng nói ngay với các đại diện Liên Xô : “Việc này, các đồng chí phải giải quyết êm thắm bằng cách nhượng bộ với khuynh hướng “cộng sản dân tộc” của Ba lan vậy thôi “. Kruschev đã nghe theo ý kiến này và đã dàn xếp để cho lãnh tụ Gomulka trở về lãnh đạo ở Ba lan. Ông lãnh tụ này trước đây đã từng bị Stalin đưa qua quản chế tại Liên Xô, vì sợ ông này có chủ trương tách Ba lan ra khỏi ảnh hưởng của Liên Xô theo gương của Tito ở Nam Tư. Nhờ vậy, mà chuyện ở Ba lan hồi đó mới được dàn xếp êm thắm.
Nhưng đến tháng 10 cũng trong năm 1956, thì lại có chuyện nổi dậy ở Hungary. Lần này, Liên Xô cũng lại phải nhờ Trung quốc cho ý kiền xem phải giải quyết ra sao. Đặng Tiểu Bình lại cho ý kiến khác hẳn lần trước với chuyện của Ba lan. Ông nói với phía Liên Xô : “ Không được rồi, các đồng chí ơi. Hungary khác, Ba lan khác. Tôi nghĩ là ta phải mạnh tay đàn áp bọn nổi dậy ở Hungary, để tái lập lại uy quyền của đảng cộng sản….” Và rốt cuộc, Liên Xô đã “ngoan ngoãn” nghe theo sự chỉ dẫn của Trung quốc và đem quân đội đi dẹp “chuyện làm loạn của Hungary”. Qua chuyện này, ta không ngạc nhiên về chuyện Đặng Tiểu Bình đã ra lệnh cho quân đội Trung quốc tàn sát chính đồng bào của mình trong vụ Thiên An Môn năm 1989.
Salisbury bình luận : “ Sau trên 100 năm bị các cường quốc Tây phương hạ nhục kể từ trận chiến tranh nha phiến hồi giữa thế kỷ XIX và sau đó là bị các liệt cường túm vào xâu xé nước Tàu, bây giờ Trung cộng đã trở thành một cường quốc được mời tham gia giải quyết vấn đề của Âu châu xa lắc xa lơ. Đó là một dịp để rửa được cái mối nhục quốc thể cả một thế kỷ trước…”
Về mục giai thọai chính trị quốc tế, thì rõ rệt đó là cả một kho tàng đồ sộ, có thể kê khai ra trong nhiều cuốn sách thì mới gọi là tạm đày đủ, thỏa mãn tính hiếu kỳ của quý độc giả được. Nhưng vì bài báo có giới hạn, dịp này người viết chỉ xin ghi ra mấy chuyện tương đối gần gũi với người Việt mình trong vòng mấy chục năm qua mà thôi.
Xin hẹn sẽ tường thuật thêm với các bạn đọc về các chuyện lý thú, ngộ nghĩnh nữa trong một dịp khác vậy nhé.
California, cuối năm Kỷ sửu 2009
Đoàn Thanh Liêm
Đoàn Thanh Liêm
(Trích từ các giai thoại chính trị quốc tế)
Nhân dịp đầu năm mới, tôi xin sao lục lại một số chuyện có thật, mà ngộ nghĩnh lượm lặt trong các giai thoại chính trị quốc tế nhằm cống hiến đến quý bạn đọc xem cho vui nhé.
1/ Chuyện của Stalin và Mao Trạch Đông.
Hai vị “đại lãnh tụ cộng sản “ này đều có cá tính và lòng tự ái khác người, nên họ có rất nhiều đụng chạm với nhau. Theo như Kruschev kể lại trong cuốn hồi ký được xuất bản vào cuối đời, thì hai ông đó luôn luôn có sự căng thẳng trong mối quan hệ song phương. Cụ thể là : Khi Mao Trạch Đông chiến thắng và làm chủ toàn thể nước Trung hoa, thì Stalin rất mừng rỡ và hăm hở đề nghị với Mao để cho Liên Xô qua trồng cao su và lập các nhà máy làm đồ hộp về trái cây của xứ nhiệt đới, đó là các thứ mà Liên Xô không thể nào mà có được, vì lý do khí hậu quá lạnh lẽo. Nhưng sau nhiều lần giới chuyên gia gặp gỡ, bàn thảo với nhau, thì Liên Xô cũng không thể tiến hành được một dự án hợp tác Trung-Xô nào đáng kể hết. Trái lại, bên phía Trung quốc thì lại nằng nặc yêu sách, đòi hỏi phía Liên Xô là “ bậc đàn anh” phải chi viện tối đa cho phía mình, với lý do là Trung quốc còn quá nghèo túng, thiếu thốn đủ mọi thứ, nên phải cần xin Liên Xô giúp đỡ làm sao cho thật tiến bộ khấm khá lên mới được. Mà Liên Xô hồi đó vào năm 1950-53, thì vẫn còn chưa phục hồi được sau cuộc tàn phá thời đại thế chiến thứ hai, khiến người dân vẫn còn thiếu thốn khổ cực nhiều bề. Do vậy mà hai bên Stalin và Mao vẫn còn hục hặc lẫn nhau, giữ thế với nhau, mặc dầu bên ngoài thì vẫn phải giữ thể diện, uy tín cho khối cộng sản. Rõ ràng là giữa hai ông chỉ có sự “ bằng mặt”, mà “ không có sự bằng lòng”.
Đàng khác, vẫn theo sự tiết lộ của Kruschev, thì hai vị lãnh tụ này lại còn đụng độ căng thẳng với nhau về mặt quan điểm nữa. Câu chuyện xảy ra đại khái như sau : Mao vẫn tự hào mình là một nhà tư tưởng, nên muốn có một nhà tư tưởng khác từ Liên Xô để cùng hợp tác biên tập lại các bài viết của mình để rồi xuất bản cho công chúng đọc. Lời yêu cầu này được Stalin đáp ứng bằng cách đề cử ông Yudine, là một thứ triết gia trong hàng ngũ cơ quan an ninh (gọi nôm na là chekist = cớm), để qua Bắc kinh làm đại sứ của Liên Xô. Như vậy là thuận tiện cho việc hợp tác biên soạn tác phẩm với Mao Trạch Đông. Nhưng sau mấy buổi hội họp riêng để bàn thảo công việc biên soạn này, thì hai bên lại đâm ra có nhiều sự bất đồng về quan điểm này nọ. Mao thì tự phụ mình là một lý thuyết gia tầm cỡ lớn của một đảng cộng sản lớn lao với bao nhiêu thành tích lãy lừng, do vậy mà cứ giữ lập trường quan điểm của cá nhân mình. Trong khi đó thì đại sứ Yudine cũng tự cho mình mới là người nắm vững tư tưởng chính thống Marxist-Leninist xuất phát từ đảng cộng sản đàn anh Liên Xô. Rút cục là hai bên bế tắc, không thể tiếp tục làm việc chung với nhau được. Và Stalin đành phải rút đại sứ Yudine trở về lại Liên Xô.
Qua một số vụ việc đại khái như thế, Kruschev kết luận là sự nứt rạn, đổ vỡ giữa Liên Xô và Trung cộng đã manh nha ngay từ thời Stalin còn là lãnh đạo đầu thập niên 1950, chứ không phải là do Kruschev gây ra như một số đảng viên đổ vấy tội cho ông ta, lúc ông đã bị các “đàn em” hạ bệ từ năm 1964.
2/ Stalin và Hồ Chí Minh.
Cũng trong cuốn hồi ký nhan đề “Kruschev remembers”, người kế vị Stalin này còn dành cả một chương nói về Hồ Chí Minh, với một mối thiện cảm đối với một người cộng sản kiên trì mà ông gọi đó là “vị thánh tông đồ” của chủ nghĩa Marxist-Leninist (apostle). Ở đây chỉ xin thuật lại chuyện ông Hồ xin tiếp kiến đàn anh Stalin vào hồi năm 1950-51.
Hồi đó ông Hồ còn đang phải ở tại chiến khu Việt bắc và rất bận rộn với cuộc chiến tranh chống Pháp. Nhưng sau khi cộng sản Trung quốc toàn thắng ở lục địa Trung hoa, thì ông Hồ tìm cách đi qua ngả Bắc kinh để đến viếng thăm vị lãnh tụ đàn anh tại Moscow và đồng thời xin Stalin viện trợ thuốc men, võ khí v.v… cho quân đội kháng chiến Việt nam. Theo lời thuật lại của Kruschev, thì Stalin không tiếp đón ông Hồ như là một vị quốc khách, mà chỉ có những cuộc gặp gỡ kín đáo riêng tư mà thôi. Và giới báo chí truyền thông Liên Xô cũng không thấy đề cập gì nhiều về chuyến viếng thăm này của ông Hồ. Về khoản ông Hồ xin Stalin cấp phát cho bộ đội Việt minh một số thuốc chống sốt rét, thì Stalin đồng ý dễ dàng và ra lệnh cho xuất kho thuốc quinine để cung cấp cho ông Hồ. Còn các lời thỉnh cầu khác, thì Stalin nói là đó là trách nhiệm của bên Trung quốc, vì Liên Xô đã phân công cho nước này đặc trách mọi việc chi viện cho phía Việt nam. Do vậy, ông Hồ cứ việc thương lượng với Trung quốc, mà khỏi cần mất công phải đi xa và làm phiền đến Liên Xô nữa.
Nhân tiện cũng xin ghi thêm chi tiết khá lý thú và ngộ nghĩnh này nữa. Đó là trong dịp tiếp kiến với đàn anh Stalin, thì ông Hồ có xin với vị lãnh tụ cho một tấm hình để làm kỷ niệm cho nhân dân Việt nam. Stalin bèn gật đầu và lấy một tờ báo bằng tiếng Anh nhan đề : “ The Soviet Union under reconstruction” (Liên Xô dười thời tái kiến thiết), rồi ký tặng cho vị khách này. Ông Hồ thật hớn hở vui mừng và đem về phòng mình ở nhà khách. Nhưng vài bữa sau, Stalin nghĩ lại và đã sai mật vụ đến tận phòng ông Hồ lúc ấy đi vắng, để lấy lại tờ báo có chữ ký tặng này. Kruschev ghi thêm là ông Stalin vốn có tính đa nghi thái quá, nên sợ ông Hồ lợi dụng bức ảnh có chữ ký đề tặng này để làm chuyện gì không hay chăng, nên đã có chuyện tìm cách lấy lại cái “kỷ niệm mà ông Hồ rất trân trọng” đó.
3/ Đặng Tiểu Bình làm cố vấn cho Liên Xô.
Theo lời thuật lại của Harrison Salisbury nguyên là một chủ bút nổi danh của tờ New York Times, thì vào đầu năm 1956, khi xảy ra vụ nhân dân Ba lan nổi dậy đòi thay đổi chế độ cộng sản ở đây, Kruschev thật bối rối vì còn quá mới mẻ, chưa có thẩm quyền vững vàng của một vị lãnh tụ có tầm vóc như Stalin. Do vậy mà giới lãnh đạo Liên Xô phải cậy nhờ xin ý kiến cố vấn của Trung quốc. Mao bèn cử Đặng Tiểu Bình lúc đó giữ chức Bí thư đảng cộng sản Trung quốc, để qua bàn thảo với giới lãnh đạo Liên Xô anh em. Sau khi nghiên cứu tình hình, thì Đặng nói ngay với các đại diện Liên Xô : “Việc này, các đồng chí phải giải quyết êm thắm bằng cách nhượng bộ với khuynh hướng “cộng sản dân tộc” của Ba lan vậy thôi “. Kruschev đã nghe theo ý kiến này và đã dàn xếp để cho lãnh tụ Gomulka trở về lãnh đạo ở Ba lan. Ông lãnh tụ này trước đây đã từng bị Stalin đưa qua quản chế tại Liên Xô, vì sợ ông này có chủ trương tách Ba lan ra khỏi ảnh hưởng của Liên Xô theo gương của Tito ở Nam Tư. Nhờ vậy, mà chuyện ở Ba lan hồi đó mới được dàn xếp êm thắm.
Nhưng đến tháng 10 cũng trong năm 1956, thì lại có chuyện nổi dậy ở Hungary. Lần này, Liên Xô cũng lại phải nhờ Trung quốc cho ý kiền xem phải giải quyết ra sao. Đặng Tiểu Bình lại cho ý kiến khác hẳn lần trước với chuyện của Ba lan. Ông nói với phía Liên Xô : “ Không được rồi, các đồng chí ơi. Hungary khác, Ba lan khác. Tôi nghĩ là ta phải mạnh tay đàn áp bọn nổi dậy ở Hungary, để tái lập lại uy quyền của đảng cộng sản….” Và rốt cuộc, Liên Xô đã “ngoan ngoãn” nghe theo sự chỉ dẫn của Trung quốc và đem quân đội đi dẹp “chuyện làm loạn của Hungary”. Qua chuyện này, ta không ngạc nhiên về chuyện Đặng Tiểu Bình đã ra lệnh cho quân đội Trung quốc tàn sát chính đồng bào của mình trong vụ Thiên An Môn năm 1989.
Salisbury bình luận : “ Sau trên 100 năm bị các cường quốc Tây phương hạ nhục kể từ trận chiến tranh nha phiến hồi giữa thế kỷ XIX và sau đó là bị các liệt cường túm vào xâu xé nước Tàu, bây giờ Trung cộng đã trở thành một cường quốc được mời tham gia giải quyết vấn đề của Âu châu xa lắc xa lơ. Đó là một dịp để rửa được cái mối nhục quốc thể cả một thế kỷ trước…”
Về mục giai thọai chính trị quốc tế, thì rõ rệt đó là cả một kho tàng đồ sộ, có thể kê khai ra trong nhiều cuốn sách thì mới gọi là tạm đày đủ, thỏa mãn tính hiếu kỳ của quý độc giả được. Nhưng vì bài báo có giới hạn, dịp này người viết chỉ xin ghi ra mấy chuyện tương đối gần gũi với người Việt mình trong vòng mấy chục năm qua mà thôi.
Xin hẹn sẽ tường thuật thêm với các bạn đọc về các chuyện lý thú, ngộ nghĩnh nữa trong một dịp khác vậy nhé.
California, cuối năm Kỷ sửu 2009
Đoàn Thanh Liêm
Những Ngày Cuối Năm
Trần Khải Như thế là sắp qua một năm của quá nhiều sóng gió, nhiều mệt mỏi, và của quá nhiều bước lùi dân chủ. Năm 2009 sắp qua, và năm 2010 sẽ tới trong vài ngày tới. Đất nước rồi sẽ ra sao nếu không thể chuyển biến tốt hơn?
Nổi bật về phương diện tôn giáo trong năm 2009 là hiện tượng công an hỗ trợ du côn trấn áp, xua đuổi 400 tăng ni sinh Làng Mai, phảỉ bỏ chạy khỏi Tu Viện Bát Nhã, để về Chùa Phước Huệ tạm lánh, nhưng lệnh ra hạn chót là ngày 31-12-2009 nhóm gần 200 tăng ni sinh Làng Mai tạm trú nơi đây phaỉ ra đi tiếp. Nhưng đi đâu thì chưa ai biết. Không lẽ về lại đời thường ở điạ phương?
Một kỷ lục mới là thành quả của Tin Lành nhiều hệ pháí, khi tổ chức chung một buổi Thánh Lễ ngoài trời trứơc Giáng Sinh ở một sân bóng đá thuôc quận Gò Vấp, Saà Gòn, với 40,000 người tham dự, và trong đó tới 8,000 người bước lên tuyên xưng Đức Tin để làm nghi thức tân tòng. Buổi lễ trực tuyến qua nhiều mạng Internet toàn cầu, với tại sân bóng có tới 28 máy chủ để truyền đạt thông tin.
Một tuần sau, một buổi lễ tương tự cho Tin Lành thực hiện ở sân Mỹ Đỉnh, Hà Nội, với 12,000 tín hữu. Nhuũng con số tham dự thánh lễ ngoaì trời của tín đồ Tin Lành Sài Gòn và Hà Nội đều là kỷ lục.
Cần ghi nhận, chính phủ CSVN rất do dự khi cấp giấy phép cho Tin Lành tụ họp ngoaì trời: tại Sài Gòn, nhiều mục sư phải cắm lều ở ngoaà Tòa Đô Chính 3 ngày mới đươc giấy, vừa 48 giờø đồng hồ trước khi làm lễ. Tại Hà Nôäi, tín đồ quỳ ngoaì hè phố, trước sân Mỹ Đình nhiều đêm để cầu nguyện xin giấy phép.
Trường hợp Công Giáo, như thế là bắt đầu Năm Thánh 2010, sau Lễ Khai Mạc Năm Thánh tại Hà Nội, là hy vọng về cải thiện bang giao giữa VN và Vatican. Nhưng Chủ Tịch Nguyễn Minh Triết rời Vatican về Hà Nội, vẫn không có tin gì khích lệ về bang giao, trong khi các tranh chấp về đất vẫn còn nguyên trạng. Chỉ trừ trường hợp Thánh Địa La Vang, nơi được tin là đã có giấy phép đầu tư 25 triệu đô xây thành nơi tiếp đón khách hàng hương tầm cỡ quốc tế.
Một tin ngay trong tuần lễ cuối của năm 2009: cựu trung tá Trần Anh Kim bị kêu án 5 năm rưỡõi tù giam, cộng 3 năm quản chế về hoạt động “âm mưu lật đổ chính phủ.” Ông Trần Anh Kim vừa hoạt động trong Đảng Dân Chủ, vừa trong Khối 8406. Và bản án này là quá nặng và phi lý. Quá nặng vì hoạt động của ông Trần Anh Kim không có gì nguy hiểm đôi với an nguy của chế độ. Phi lý, vì đó chỉ là các hoạt động ôn hòa để đòi hỏi dân chủ, nhân quyền.
Năm 2009 cũng là năm vui như hội, với các màn giễu trên sân khấu quốc tế của Chủ Tịch Nguyễn Minh Triết, và được các băng hình video phóng lên mạng YouTube.com. Trong đó, ông Triết tuyên bố rằng Cuba và VN là 2 nước anh em canh giữ hòa bình thế giới, rằng khi Cuba ngủ thì VN gác, khi VN nghỉ thì Cuba canh giữ.
Hay là khi ông Triết nói về lý do tham nhũng chỉ vì thấy quỹ dư thì “mượn tí, mượn rồi không thấy ai đòi, nên mới mượn thêm...”
Hay là khi ông Triết làm “phân hóa nội bộ chính phủ Obama.”
Tệ hại cũng hiển lộ là khi tin tặc (không rõ, nhưng ai cũng nghi ngờ và đoán là phải có nguồn từ Hà Nội) đánh phá các mạng Talawas.org và http://bauxitevn.info -- hai mạng được giới trí thức trong nước ưa chuộng và quan sát. Tin tặc là ai? Có phải là “kẻ lạ” hay “kẻ quen”? Ai muốn bịt miệng trí thức VN? Và khi đánh phá như thế, thì độc giả vào đọc bauxitevn.info lại tăng vọt, theo ghi nhận của nhà báo Bùi Tín.
Một chuyện bất ngờ mới đọc thấy hôm Thứ Hai 28-12-2009. Đó là một cuốn Danh Nhântừ Điển in ở VN lại ghi rằng chính ông Hồ Chí Minh đã bán cụ Phạn Bội Châu cho thực dân Pháp.
Bản tin nhan đề: “Thành ngữ - Điển tích - Danh nhân Tư` điển (Nxb Văn Học): Lý Thụy đã bán Phan Bội Châu cho thực dân Pháp?” đăng ở mạng X-Cafevn (http://www.x-cafevn.org/node/2524) hôm 29-12-2009, viết:
“Chúng tôi vừa nhận được vài thông tin của một bạn đọc giấu tên, liên quan đến cuốn Thành ngữ - Điển tích - Danh nhân Tư` điển của tác giả Trịnh Vân Thanh (Trịnh Chuyết). Sách được Nhà Xuất bản Văn học xuất bản năm 2008. Các bạn có thể xem chi tiết giới thiệu về cuốn sách ở trang Sachhay.com.
Vị độc giả đã chỉ ra rằng ở trang 742, trong mục nói về Phan Bội Châu, các nhà soạn sách đã viết việc Phan Bội Châu bị bắt như sau:
Năm 1925, nghe theo lời của Lý Thụy và Lâm Đức Thụ, Phan Bội Châu gia nhập vào tổ chức "Toàn thế giới bị áp bức nhược tiểu dân tộc", nhưng sau đó Lý Thuỵ và các đồng chí lập mưu bắt Phan Bội Châu nộp cho thực dân Pháp để:
1 - Tổ chức lấy được một số tiền thưởng (vào khoảng 15 vạn bạc) hầu có đủ phương tiện hoạt động.
2 - Gây một ảnh hưởng sâu rộng trong việc tuyên truyền tinh thần ái quốc trong quốc dân.
Như chúng ta đã biết Hồ Chí Minh trong giai đoạn ấy có bí danh là Lý Thụy. Và như thế, căn cứ vào cuốn tự điển này, chính Hồ Chí Minh đã bán Phan Bội Châu cho thực dân Pháp với những lý do đã nêu trên. Đến nay, vẫn có nhiều tranh cãi trong giới quan tâm về sử Việt về tính xác thực chung quanh sự kiện này...”
Độc giả quan tâm có thể vào xem các bức ảnh chụp trên mạng vừa nói để tham khảo.
Xin đưa tiễn năm 2009 với tất cả những ngậm ngùi, thương tiếc cho những điều tốt đẹp bị vùi dập. Và nơi đây xin chuẩn bị đón năm mới 2010 với nhiều hy vọng, rằng cái thiện tất sẽ thắng cái ác, như lời nhà giáo Phạm Toàn nói trên đài Pháp Quốc RFI hôm Thứ Hai.
Thời gian -- ngày và tháng và năm -- rồi sẽ qua đi. Nhưng tấm lòng chắc chắn rồi sẽ ở lại với lịch sử.
Trần Khải Như thế là sắp qua một năm của quá nhiều sóng gió, nhiều mệt mỏi, và của quá nhiều bước lùi dân chủ. Năm 2009 sắp qua, và năm 2010 sẽ tới trong vài ngày tới. Đất nước rồi sẽ ra sao nếu không thể chuyển biến tốt hơn?
Nổi bật về phương diện tôn giáo trong năm 2009 là hiện tượng công an hỗ trợ du côn trấn áp, xua đuổi 400 tăng ni sinh Làng Mai, phảỉ bỏ chạy khỏi Tu Viện Bát Nhã, để về Chùa Phước Huệ tạm lánh, nhưng lệnh ra hạn chót là ngày 31-12-2009 nhóm gần 200 tăng ni sinh Làng Mai tạm trú nơi đây phaỉ ra đi tiếp. Nhưng đi đâu thì chưa ai biết. Không lẽ về lại đời thường ở điạ phương?
Một kỷ lục mới là thành quả của Tin Lành nhiều hệ pháí, khi tổ chức chung một buổi Thánh Lễ ngoài trời trứơc Giáng Sinh ở một sân bóng đá thuôc quận Gò Vấp, Saà Gòn, với 40,000 người tham dự, và trong đó tới 8,000 người bước lên tuyên xưng Đức Tin để làm nghi thức tân tòng. Buổi lễ trực tuyến qua nhiều mạng Internet toàn cầu, với tại sân bóng có tới 28 máy chủ để truyền đạt thông tin.
Một tuần sau, một buổi lễ tương tự cho Tin Lành thực hiện ở sân Mỹ Đỉnh, Hà Nội, với 12,000 tín hữu. Nhuũng con số tham dự thánh lễ ngoaì trời của tín đồ Tin Lành Sài Gòn và Hà Nội đều là kỷ lục.
Cần ghi nhận, chính phủ CSVN rất do dự khi cấp giấy phép cho Tin Lành tụ họp ngoaì trời: tại Sài Gòn, nhiều mục sư phải cắm lều ở ngoaà Tòa Đô Chính 3 ngày mới đươc giấy, vừa 48 giờø đồng hồ trước khi làm lễ. Tại Hà Nôäi, tín đồ quỳ ngoaì hè phố, trước sân Mỹ Đình nhiều đêm để cầu nguyện xin giấy phép.
Trường hợp Công Giáo, như thế là bắt đầu Năm Thánh 2010, sau Lễ Khai Mạc Năm Thánh tại Hà Nội, là hy vọng về cải thiện bang giao giữa VN và Vatican. Nhưng Chủ Tịch Nguyễn Minh Triết rời Vatican về Hà Nội, vẫn không có tin gì khích lệ về bang giao, trong khi các tranh chấp về đất vẫn còn nguyên trạng. Chỉ trừ trường hợp Thánh Địa La Vang, nơi được tin là đã có giấy phép đầu tư 25 triệu đô xây thành nơi tiếp đón khách hàng hương tầm cỡ quốc tế.
Một tin ngay trong tuần lễ cuối của năm 2009: cựu trung tá Trần Anh Kim bị kêu án 5 năm rưỡõi tù giam, cộng 3 năm quản chế về hoạt động “âm mưu lật đổ chính phủ.” Ông Trần Anh Kim vừa hoạt động trong Đảng Dân Chủ, vừa trong Khối 8406. Và bản án này là quá nặng và phi lý. Quá nặng vì hoạt động của ông Trần Anh Kim không có gì nguy hiểm đôi với an nguy của chế độ. Phi lý, vì đó chỉ là các hoạt động ôn hòa để đòi hỏi dân chủ, nhân quyền.
Năm 2009 cũng là năm vui như hội, với các màn giễu trên sân khấu quốc tế của Chủ Tịch Nguyễn Minh Triết, và được các băng hình video phóng lên mạng YouTube.com. Trong đó, ông Triết tuyên bố rằng Cuba và VN là 2 nước anh em canh giữ hòa bình thế giới, rằng khi Cuba ngủ thì VN gác, khi VN nghỉ thì Cuba canh giữ.
Hay là khi ông Triết nói về lý do tham nhũng chỉ vì thấy quỹ dư thì “mượn tí, mượn rồi không thấy ai đòi, nên mới mượn thêm...”
Hay là khi ông Triết làm “phân hóa nội bộ chính phủ Obama.”
Tệ hại cũng hiển lộ là khi tin tặc (không rõ, nhưng ai cũng nghi ngờ và đoán là phải có nguồn từ Hà Nội) đánh phá các mạng Talawas.org và http://bauxitevn.info -- hai mạng được giới trí thức trong nước ưa chuộng và quan sát. Tin tặc là ai? Có phải là “kẻ lạ” hay “kẻ quen”? Ai muốn bịt miệng trí thức VN? Và khi đánh phá như thế, thì độc giả vào đọc bauxitevn.info lại tăng vọt, theo ghi nhận của nhà báo Bùi Tín.
Một chuyện bất ngờ mới đọc thấy hôm Thứ Hai 28-12-2009. Đó là một cuốn Danh Nhântừ Điển in ở VN lại ghi rằng chính ông Hồ Chí Minh đã bán cụ Phạn Bội Châu cho thực dân Pháp.
Bản tin nhan đề: “Thành ngữ - Điển tích - Danh nhân Tư` điển (Nxb Văn Học): Lý Thụy đã bán Phan Bội Châu cho thực dân Pháp?” đăng ở mạng X-Cafevn (http://www.x-cafevn.org/node/2524) hôm 29-12-2009, viết:
“Chúng tôi vừa nhận được vài thông tin của một bạn đọc giấu tên, liên quan đến cuốn Thành ngữ - Điển tích - Danh nhân Tư` điển của tác giả Trịnh Vân Thanh (Trịnh Chuyết). Sách được Nhà Xuất bản Văn học xuất bản năm 2008. Các bạn có thể xem chi tiết giới thiệu về cuốn sách ở trang Sachhay.com.
Vị độc giả đã chỉ ra rằng ở trang 742, trong mục nói về Phan Bội Châu, các nhà soạn sách đã viết việc Phan Bội Châu bị bắt như sau:
Năm 1925, nghe theo lời của Lý Thụy và Lâm Đức Thụ, Phan Bội Châu gia nhập vào tổ chức "Toàn thế giới bị áp bức nhược tiểu dân tộc", nhưng sau đó Lý Thuỵ và các đồng chí lập mưu bắt Phan Bội Châu nộp cho thực dân Pháp để:
1 - Tổ chức lấy được một số tiền thưởng (vào khoảng 15 vạn bạc) hầu có đủ phương tiện hoạt động.
2 - Gây một ảnh hưởng sâu rộng trong việc tuyên truyền tinh thần ái quốc trong quốc dân.
Như chúng ta đã biết Hồ Chí Minh trong giai đoạn ấy có bí danh là Lý Thụy. Và như thế, căn cứ vào cuốn tự điển này, chính Hồ Chí Minh đã bán Phan Bội Châu cho thực dân Pháp với những lý do đã nêu trên. Đến nay, vẫn có nhiều tranh cãi trong giới quan tâm về sử Việt về tính xác thực chung quanh sự kiện này...”
Độc giả quan tâm có thể vào xem các bức ảnh chụp trên mạng vừa nói để tham khảo.
Xin đưa tiễn năm 2009 với tất cả những ngậm ngùi, thương tiếc cho những điều tốt đẹp bị vùi dập. Và nơi đây xin chuẩn bị đón năm mới 2010 với nhiều hy vọng, rằng cái thiện tất sẽ thắng cái ác, như lời nhà giáo Phạm Toàn nói trên đài Pháp Quốc RFI hôm Thứ Hai.
Thời gian -- ngày và tháng và năm -- rồi sẽ qua đi. Nhưng tấm lòng chắc chắn rồi sẽ ở lại với lịch sử.
Hy vọng của nước Mỹ
Ngô Nhân Dụng Hai cháu ngoại tôi thường vẫn đi vườn trẻ trong một nhà thờ. Tuần trước, nhân mẹ các cháu được mời đàn cho đêm Giáng Sinh, cả gia đình đến xem lễ. Ông mục sư trẻ nói rất có duyên, làm các tín đồ bật cười lên nhiều lần. Ông dùng computer chiếu hình, phim và các câu trong Kinh Thánh, lâu lâu các tín đồ đứng dậy hát nhiều bài rất hay, lời bài hát chiếu trên màn ảnh lớn cho người không thuộc đọc. Vào lúc cuối buổi lễ, ông mời tất cả mọi người lần lượt lên trước bàn thờ “nhận Thiên Chúa vào mình;” và ông nhấn mạnh, “Dù quý vị theo tôn giáo nào hoặc không có tôn giáo cũng xin mời lên dự!” Tôi rời ghế ngồi, bước tới, lần đầu tiên tham dự vào một nghi thức rất thiêng liêng đã được đặt ra từ hai ngàn năm nay. Khi tôi cầm miếng bánh mì nhúng vô ly rượu nho ông mục sư cầm trên tay, ông cười tươi, chúc tụng và cám ơn tôi đã chia vui ngày Thiên Chúa giáng trần.
Tôi chắc ông nói thành thật. Vì ở đây là một thành phố nhỏ, có người lạ tới người ta biết liền. Nhìn tôi là ông có thể đoán cháu ngoại tôi vẫn đem gửi ở đây. Dân ở thành phố Dubuque đi đổ xăng hay vào chợ mua bánh mì là có dịp gặp và chào hỏi một vài người quen. Tôi nhìn thấy độ 4 người Á Ðông trong số khoảng 150 người dự lễ ở nhà thờ. Trong không khí một đêm Giáng Sinh như vậy, ai cũng vui mừng và thành thật với nhau, kể cả những người không tôn giáo.
Người Mỹ rất sùng đạo, tín ngưỡng mạnh hơn dân các nước Âu Châu cùng trình độ phát triển kinh tế. Nhưng lòng mộ đạo của họ không làm cho người khác sợ; như cô Ayaan Hirsi Ali nhận xét. Khi những người Mỹ có đạo nghe trả lời rằng cô vô thần, thì “Họ không dọa giết tôi, mà nói sẽ cầu nguyện cho tôi.” Ðó là một kinh nghiệm mới lạ đối với cô Hirsi Ali; vốn gốc theo Hồi Giáo ở Somali. Cô đã trốn khỏi quê hương để tránh bị đối xử kỳ thị, đã đi qua nhiều nước trước khi định cư tại Hòa Lan. Cô ngạc nhiên khi thấy “Cảnh sát ở đây không đòi hối lộ, mà lại sẵn sàng giúp mình!” Cô tham gia phong trào tranh đấu cho các phụ nữ bị áp bức, rồi đắc cử làm đại biểu Quốc Hội Hòa Lan. Cô cộng tác với một nhà làm phim, về tình trạng các phụ nữ Hồi Giáo bị chồng hành hạ, ngay ở Âu Châu. Nhà làm phim bị ám sát. Trên ngực áo ông ghim một miếng giấy hẹn sẽ giết nốt cô Hirsi Ali. Biết là họ không nói đùa, cô di cư lần nữa, sang Mỹ để “tị nạn.”
Năm ngoái cô Hirsi Ali và hai người Mỹ bạn đồng nghiệp cùng coi ti vi hai ứng cử viên phó tổng thống Mỹ tranh luận với nhau. Một người Mỹ đảng Dân Chủ thì nghe bà Palin nói câu nào cũng chê, còn người kia đảng Cộng Hòa thì không thể nào chịu nổi cái mặt ông Biden trịch thượng. Họ cãi nhau kịch liệt suốt buổi, nghe xong cô Hirsi Ali nghĩ rằng nước Mỹ sắp có nội chiến đến nơi, giống như cảnh chém giết lẫn nhau ở xứ Somali - biết đâu, cô sẽ phải đi tị nạn lần nữa! Nhưng sau khi mùa tranh cử chấm dứt, cô gặp hai đồng nghiệp đó thấy họ vẫn đi với nhau, đang chia nhau ăn một miếng bánh ngọt. Tôi quen hai vợ chồng người Mỹ ở miền Trung Tây, ông chồng luôn luôn bầu Dân Chủ, bà vợ lúc nào cũng Cộng Hòa, nhưng chắc vì đã lớn tuổi nên không bao giờ họ nói chuyện chính trị với nhau, hoặc với các con.
Mùa Hè năm ngoái tôi cũng ở Dubuque mấy tuần, vào lúc mùa tranh cử tổng thống đang mở màn. Có bữa tôi theo con cháu đến coi một ngôi nhà đề bảng bán. Trong lúc mọi người đang đi thăm thú bên trong, tôi vô sự dạo quanh nhà. Một người đàn ông Mỹ to lớn mở cửa bước từ trong chiếc xe vận tải ra bắt tay tôi, chắc ông ta tưởng tôi nhìn thấy ông ở trong xe nên phải ra chào. Chân ông đi hơi khập khiễng. Ðó là ông chủ nhà, nhưng ông phó mặc việc bán nhà cho vợ, ông ra ngồi trong xe “trốn khách.”
Ông Hansen là một người lao động, giới trung lưu tiêu biểu; ông đi làm từ lúc trẻ, lớn lên phải thi lấy bằng tương đương tốt nghiệp trung học để được vô trường kỹ thuật học nghề, và suốt đời ông làm cái nghề thợ nguội đã học. Ông đã về hưu, đang bán nhà để về ở gần các con và cháu nội.
Tôi tò mò hỏi tại sao khu đất nhà ông lại bị thắt nhỏ lại ở phía sau, ông Hansen cho biết khu đất vẫn vuông vắn, chỉ có cái hàng rào bị bẻ quẹo thôi. Vì ông cho ông hàng xóm mượn đất xây cái ga ra để hai xe. Ga ra lớn nên lẹm sang đất nhà ông vì bên đó họ đất không rộng đủ. Vì vậy phải lái cái hàng rào quẹo vào, trông thấy đất thót lại nhưng trên giấy tờ thì mảnh đất của ông vẫn vuông vắn.
Hàng xóm ở đây rất tốt, ông Hansen nói. Chỉ tay vào những tấm bảng tranh cử trên bãi cỏ trước nhà, ông cười, nói: Tụi tôi chỉ cãi nhau hai năm một lần thôi. Thằng đó nó phò đảng Dân Chủ, còn tôi tôi chỉ thích Cộng Hòa. Như để giải thích lý do, ông nói, “Tôi không thể nào chấp nhận được chuyện tự do phá thai! Giản dị như vậy!” Cứ đến mùa bầu cử là ông hàng xóm đem các tấm bảng cổ động cho các ứng cử viên Dân Chủ về cắm dọc con đường trước cửa nhà ông ta. Ðủ loại quảng cáo, từ những người tranh cử hội đồng thị xã, tới đại biểu nghị viện tiểu bang, đại biểu quốc hội liên bang, hay là ứng cử viên tổng thống. Mỗi lần như vậy, ông Hansen lại đi xin mấy tấm bảng của ứng cử viên Cộng Hòa về cắm trước cửa nhà mình để đáp lễ. Trong mùa tranh cử là họ ít khi gặp nhau. Nhưng tháng trước ông Hansen phải vô nhà thương mổ cái đầu gối, nằm dưỡng bệnh mất cả tháng mới đi lại được. Cả tháng trời, mấy người hàng xóm thay phiên nhau cắt cỏ đằng trước đằng sau, mà “cái thằng theo đảng Dân Chủ” cắt giúp nhiều nhất. Vì ở đây ai cũng tử tế như vậy cả!
Trong cuộc sống cá nhân, người Mỹ rất “nhiệt thành” về tôn giáo cũng như chính trị, người không ưa thì bảo là họ quá khích. Nhưng họ đã tập được thói quen là, ở trong gia đình, giữa bạn bè hay xóm làng, khi đối xử với nhau thì hãy đặt những niềm tin và khuynh hướng chính trị của mình ra ngoài. Không ai ép buộc người khác phải theo mình cả, vì vô ích.
Ðây không phải lối sống tự nhiên một sớm một chiều mà một quốc gia tạo nên được. Nếu cứ để yên, loài người ở đâu cũng chứa đầy thành kiến, óc phân biệt, đầy tự ái và mặc cảm, thấy người lạ thì nghi kị, khinh thường, hoặc sợ hãi. Vào thế kỷ 17, những di dân đầu tiên từ Anh Quốc sang tiểu bang Massachusetts có lúc còn giết nhau vì những tín điều và giáo lý khác biệt. Một “nhà hiền giả” nổi danh vào thời lập quốc Mỹ là Benjamen Franklin còn tỏ ý nghi ngờ rằng những người di dân giống Ðức khó mà hội nhập vào lối sống của dân Mỹ! Hai trăm năm sau, dân gốc Ðức chiếm khoảng 50 triệu, ít có ai để ý tổ tiên họ là người gốc Ðức. Một người mang tên Eisenhower đã làm lên đến tổng thống. Và giờ thì đến lượt con trai của một di dân từ Phi Châu đến ở mấy năm rồi lại về, lên làm tổng thống Mỹ!
Bây giờ không còn ai ở Mỹ chủ trương phải giết lẫn nhau vì tín ngưỡng bất đồng hay vì vì xung đột chính trị. Dân xứ này đã tập được thói quen sống lối mới nhờ hai trăm năm được uốn nắn sống theo một bản Hiến Pháp trong đó các quyền tự do và bình đẳng được nhấn mạnh và được thi hành một cách nghiêm mật. Bị luật pháp ràng buộc mãi, dù không muốn thì tính tình người ta cũng đổi. Lâu lâu, thể chế và pháp luật cũng ảnh hưởng đến đạo đức con người; giống như dân Singapore đã tập được thói quen không xả rác, không vẽ bậy lên tường. (Nếu thành phố Westminster cũng làm luật phạt tội xả rác như vậy thì chắc chắn trong vài năm phong tục Little Saigon cũng thay đổi!) Ðối với di dân thì cũng ít có người Mỹ nào còn lo lắng họ “không thể hội nhập” như ông Benjamen Franklin. Vì nhìn chung quanh họ, cũng khó phân biệt được ai là Mỹ ba đời, ai là Mỹ đời thứ nhất. Trên thế giới chỉ có ba nước là di dân dễ “bị đồng hóa” nhanh chóng thành như dân bản xứ mà không cảm thấy bị “mất gốc.” Ðó là Mỹ, Úc Châu, và Canada, những quốc gia được các đám di dân lập thành.
Một sức mạnh của nước Mỹ là di dân từ khắp thế giới đã tìm tới đây để sống. Trong dân số Mỹ hiện nay có 38 triệu người sinh ở nước khác. Không quốc gia nào có nhiều “người ngoại quốc” như vậy. Cả nước Tầu chỉ có một triệu người dân sinh ở ngoại quốc, Nhật Bản có 2 triệu. Ðức là nước đông di dân nhất Âu Châu, có gần 10 triệu. Nhiều nước Tây Âu, đặc biệt là Bắc Âu, có chính sách rất cởi mở đối với di dân, nhờ truyền thống tự do dân chủ lâu đời. Nhưng di dân thành công trong xã hội thì ở Mỹ vẫn đông nhất so với các nước khác.
Một sức mạnh của nước Mỹ là nhiều người khắp thế giới muốn đến sống ở đây. Vì họ thấy những tấm gương thành công của di dân tới trước. Có những người mới đến đời thứ nhất đã thành công, ông Arnold Schwarzenegger, đương kim thống đốc California là một thí dụ. Tỷ phú Soros là một di dân. Một người Cuba, trốn sang Mỹ năm 15 tuổi, chưa hề học hết trung học, là cha dượng của ông Jeff Bezos, một tỷ phú sáng lập công ty Amazon bán sách trên mạng lưới. Không phải các di dân chỉ đến đây lợi dụng nước Mỹ để làm giầu, chính họ đóng góp vào sự thịnh vượng của nước này bằng sáng kiến, phát minh, óc mạo hiểm trong kinh doanh.
Trong số những công ty kỹ thuật tân tiến thành lập ở Mỹ từ 1995 đến 2005, một phần tư là của các di dân mới đời thứ nhất. Trong số những bằng sáng chế của người Mỹ đã trình lấy tác quyền tại các nước khác, cũng có một phần tư là của di dân. Nhưng ngay cả những người lao động không chuyên môn cũng tìm thấy cơ hội. Ở nước Mỹ không có những cuộc biểu tình đập phá của những thanh niên trong đám di dân; chắc vì họ đều bận đi kiếm việc hoặc đang đi làm, chưa ai cảm thấy tuyệt vọng vì lo bị gạt ra bên lề xã hội mãi mãi.
Ở những nước Canada, Úc, Mỹ, người di dân cảm thấy họ thành dân bản xứ một cách dễ dàng, vì nhòm chung quanh thấy hầu như ai cũng là di dân, nếu không phải một đời thì cũng chỉ ba bốn đời. Ðó là một điều khác biệt giữa Mỹ với các nước tiền tiến về kinh tế ở Tây Âu, và những nước chưa phát triển nhưng rộng lớn như Trung Quốc, Ấn Ðộ.
Ðó là một lý do bao nhiêu người trẻ tuổi từ khắp nơi đổ vào nước Mỹ sống. Và họ sẽ sinh con đẻ cái. Trong 50 năm tới, Mỹ là quốc gia duy nhất trong số các cường quốc mà dân số sẽ tăng lên chứ không giảm, và trong dân số vẫn còn nhiều người trẻ. Một lý do khiến kinh tế Nhật Bản có thể còn trì trệ là dân chúng càng ngày càng già. Số người già ở Trung Quốc sẽ tăng vọt lên trong năm, mười năm tới. Hai nước đó sẽ phải chi tiêu rất nhiều cho việc nuôi nấng và chăm sóc sức khỏe cho các cụ! Ai hồ hởi nghĩ rằng kinh tế Trung Quốc sẽ lên cao mãi không ngừng thì cứ nhìn vào kinh nghiệm Nhật Bản. Trước đây 30 năm người ta cũng nghĩ kinh tế Nhật là vô địch hoàn cầu mãi mãi. Mô hình phát triển kinh tế của hai nước này kiềm chế tiêu thụ và tùy thuộc xuất cảng sẽ theo nhau lần lượt lâm vào ngõ bí. Ở nước Nhật, chế độ dân chủ có tính linh động hơn, có thể chuyển hướng chính sách dễ dàng hơn ở Trung Quốc, mà gần 20 năm nay vẫn chưa thay đổi xong. Và Trung Quốc sẽ còn mối lo xã hội sẽ bất ổn vì sự phát triển của cả nước bị một đảng lợi dụng để hưởng lợi, gây ra cảnh tham nhũng và chênh lệch giầu nghèo ngày càng trầm trọng, mà cứ tiếp tục độc tài thì chưa biết làm sao gỡ được.
Kinh tế Mỹ hiện vẫn đứng hàng đầu về sáng chế, phát minh. Bây giờ ai phát minh được cái gì thường đem “trình tòa” ở ngay nước Mỹ để giữ bản quyền cho chắc. Trong năm 2008, Văn phòng Bản Quyền của chính phủ Mỹ đã phát 8731 bằng sáng chế cho người Nam Hàn, 37,000 bằng sáng chế cho các công ty hoặc cá nhân Nhật Bản. Nhưng cũng trong năm đó, có 92,000 bằng sáng chế được phát cho người Mỹ. Ấn Ðộ, Trung Quốc, đều đứng rất xa phía sau. Trong 30 năm qua, chỉ có 8 người Á Châu chiếm các giải Nobel về khoa học, trong đó 8 người Nhật Bản. Rất nhiều người Mỹ được giải Nobel đã di cư từ các nước khác tới. Các đại học ở Mỹ thu hút nhân tài khắp thế giới, vì họ đãi ngộ xứng đáng với ngân sách nghiên cứu lớn và không khí đề cao tự do tư tưởng trong xã hội. Nhưng các “nhân tài” cũng được cả xã hội tưởng thưởng bằng tiền bạc khi các sáng kiến của họ được thương mại hóa và thành công.
Một người bạn trẻ của tôi đã đi học rồi làm việc ở Áo Quốc từ vài chục năm. Sau nhiều lần du lịch sang Mỹ, năm nay đang chuẩn bị cùng gia đình di cư sang ở luôn. Tôi hy vọng giúp các bạn trẻ đó thêm tin tưởng vào lựa chọn của họ. Nhân ngày đầu năm 2010, tôi cũng xin gửi quý vị độc giả Người Việt sống tại Mỹ những hình ảnh lạc quan trên đây, để chúc quý vị một năm mới an lành và thịnh vượng. Quý vị đã sống ở nước Mỹ thì biết những ưu điểm và nhược điểm của xã hội này. Nhưng quý vị có thể giữ niềm tin vào tương lai của con cháu mình. Vì điểm đáng quý nhất của xã hội Mỹ là nó luôn luôn tự tìm tòi các nhược điểm của mình rồi không ngần ngại phô bầy ra cho cả thế giới thấy. Cơ chế dân chủ cho phép dân Mỹ liên tục tranh luận, đối chọi, rồi bỏ thăm chọn lựa, thí nghiệm các phương thuốc mới để sửa chữa những khuyết điểm của nước Mỹ. Niềm hy vọng của nước Mỹ là do chế độ tự do dân chủ tạo ra. Quý vị là di dân, nhưng đừng nghĩ chỉ có mình phải tới đây nhờ vả nước Mỹ. Chính nước Mỹ cũng nhờ có những người như quý vị nên mới được như ngày nay. Cũng như khi bước ra khỏi ngôi giáo đường vào đêm lễ Giáng Sinh, chúng tôi lại được ông mục sư bắt tay cảm ơn lần nữa; chúng tôi biết chính mình cũng đem lại một niềm vui cho ông và các tín hữu trong nhà thờ, trong một đêm lạnh giá tuyết rơi lất phất, khi mọi người vội vã lên xe trở về nhà mở tiệc.
Ngô Nhân Dụng Hai cháu ngoại tôi thường vẫn đi vườn trẻ trong một nhà thờ. Tuần trước, nhân mẹ các cháu được mời đàn cho đêm Giáng Sinh, cả gia đình đến xem lễ. Ông mục sư trẻ nói rất có duyên, làm các tín đồ bật cười lên nhiều lần. Ông dùng computer chiếu hình, phim và các câu trong Kinh Thánh, lâu lâu các tín đồ đứng dậy hát nhiều bài rất hay, lời bài hát chiếu trên màn ảnh lớn cho người không thuộc đọc. Vào lúc cuối buổi lễ, ông mời tất cả mọi người lần lượt lên trước bàn thờ “nhận Thiên Chúa vào mình;” và ông nhấn mạnh, “Dù quý vị theo tôn giáo nào hoặc không có tôn giáo cũng xin mời lên dự!” Tôi rời ghế ngồi, bước tới, lần đầu tiên tham dự vào một nghi thức rất thiêng liêng đã được đặt ra từ hai ngàn năm nay. Khi tôi cầm miếng bánh mì nhúng vô ly rượu nho ông mục sư cầm trên tay, ông cười tươi, chúc tụng và cám ơn tôi đã chia vui ngày Thiên Chúa giáng trần.
Tôi chắc ông nói thành thật. Vì ở đây là một thành phố nhỏ, có người lạ tới người ta biết liền. Nhìn tôi là ông có thể đoán cháu ngoại tôi vẫn đem gửi ở đây. Dân ở thành phố Dubuque đi đổ xăng hay vào chợ mua bánh mì là có dịp gặp và chào hỏi một vài người quen. Tôi nhìn thấy độ 4 người Á Ðông trong số khoảng 150 người dự lễ ở nhà thờ. Trong không khí một đêm Giáng Sinh như vậy, ai cũng vui mừng và thành thật với nhau, kể cả những người không tôn giáo.
Người Mỹ rất sùng đạo, tín ngưỡng mạnh hơn dân các nước Âu Châu cùng trình độ phát triển kinh tế. Nhưng lòng mộ đạo của họ không làm cho người khác sợ; như cô Ayaan Hirsi Ali nhận xét. Khi những người Mỹ có đạo nghe trả lời rằng cô vô thần, thì “Họ không dọa giết tôi, mà nói sẽ cầu nguyện cho tôi.” Ðó là một kinh nghiệm mới lạ đối với cô Hirsi Ali; vốn gốc theo Hồi Giáo ở Somali. Cô đã trốn khỏi quê hương để tránh bị đối xử kỳ thị, đã đi qua nhiều nước trước khi định cư tại Hòa Lan. Cô ngạc nhiên khi thấy “Cảnh sát ở đây không đòi hối lộ, mà lại sẵn sàng giúp mình!” Cô tham gia phong trào tranh đấu cho các phụ nữ bị áp bức, rồi đắc cử làm đại biểu Quốc Hội Hòa Lan. Cô cộng tác với một nhà làm phim, về tình trạng các phụ nữ Hồi Giáo bị chồng hành hạ, ngay ở Âu Châu. Nhà làm phim bị ám sát. Trên ngực áo ông ghim một miếng giấy hẹn sẽ giết nốt cô Hirsi Ali. Biết là họ không nói đùa, cô di cư lần nữa, sang Mỹ để “tị nạn.”
Năm ngoái cô Hirsi Ali và hai người Mỹ bạn đồng nghiệp cùng coi ti vi hai ứng cử viên phó tổng thống Mỹ tranh luận với nhau. Một người Mỹ đảng Dân Chủ thì nghe bà Palin nói câu nào cũng chê, còn người kia đảng Cộng Hòa thì không thể nào chịu nổi cái mặt ông Biden trịch thượng. Họ cãi nhau kịch liệt suốt buổi, nghe xong cô Hirsi Ali nghĩ rằng nước Mỹ sắp có nội chiến đến nơi, giống như cảnh chém giết lẫn nhau ở xứ Somali - biết đâu, cô sẽ phải đi tị nạn lần nữa! Nhưng sau khi mùa tranh cử chấm dứt, cô gặp hai đồng nghiệp đó thấy họ vẫn đi với nhau, đang chia nhau ăn một miếng bánh ngọt. Tôi quen hai vợ chồng người Mỹ ở miền Trung Tây, ông chồng luôn luôn bầu Dân Chủ, bà vợ lúc nào cũng Cộng Hòa, nhưng chắc vì đã lớn tuổi nên không bao giờ họ nói chuyện chính trị với nhau, hoặc với các con.
Mùa Hè năm ngoái tôi cũng ở Dubuque mấy tuần, vào lúc mùa tranh cử tổng thống đang mở màn. Có bữa tôi theo con cháu đến coi một ngôi nhà đề bảng bán. Trong lúc mọi người đang đi thăm thú bên trong, tôi vô sự dạo quanh nhà. Một người đàn ông Mỹ to lớn mở cửa bước từ trong chiếc xe vận tải ra bắt tay tôi, chắc ông ta tưởng tôi nhìn thấy ông ở trong xe nên phải ra chào. Chân ông đi hơi khập khiễng. Ðó là ông chủ nhà, nhưng ông phó mặc việc bán nhà cho vợ, ông ra ngồi trong xe “trốn khách.”
Ông Hansen là một người lao động, giới trung lưu tiêu biểu; ông đi làm từ lúc trẻ, lớn lên phải thi lấy bằng tương đương tốt nghiệp trung học để được vô trường kỹ thuật học nghề, và suốt đời ông làm cái nghề thợ nguội đã học. Ông đã về hưu, đang bán nhà để về ở gần các con và cháu nội.
Tôi tò mò hỏi tại sao khu đất nhà ông lại bị thắt nhỏ lại ở phía sau, ông Hansen cho biết khu đất vẫn vuông vắn, chỉ có cái hàng rào bị bẻ quẹo thôi. Vì ông cho ông hàng xóm mượn đất xây cái ga ra để hai xe. Ga ra lớn nên lẹm sang đất nhà ông vì bên đó họ đất không rộng đủ. Vì vậy phải lái cái hàng rào quẹo vào, trông thấy đất thót lại nhưng trên giấy tờ thì mảnh đất của ông vẫn vuông vắn.
Hàng xóm ở đây rất tốt, ông Hansen nói. Chỉ tay vào những tấm bảng tranh cử trên bãi cỏ trước nhà, ông cười, nói: Tụi tôi chỉ cãi nhau hai năm một lần thôi. Thằng đó nó phò đảng Dân Chủ, còn tôi tôi chỉ thích Cộng Hòa. Như để giải thích lý do, ông nói, “Tôi không thể nào chấp nhận được chuyện tự do phá thai! Giản dị như vậy!” Cứ đến mùa bầu cử là ông hàng xóm đem các tấm bảng cổ động cho các ứng cử viên Dân Chủ về cắm dọc con đường trước cửa nhà ông ta. Ðủ loại quảng cáo, từ những người tranh cử hội đồng thị xã, tới đại biểu nghị viện tiểu bang, đại biểu quốc hội liên bang, hay là ứng cử viên tổng thống. Mỗi lần như vậy, ông Hansen lại đi xin mấy tấm bảng của ứng cử viên Cộng Hòa về cắm trước cửa nhà mình để đáp lễ. Trong mùa tranh cử là họ ít khi gặp nhau. Nhưng tháng trước ông Hansen phải vô nhà thương mổ cái đầu gối, nằm dưỡng bệnh mất cả tháng mới đi lại được. Cả tháng trời, mấy người hàng xóm thay phiên nhau cắt cỏ đằng trước đằng sau, mà “cái thằng theo đảng Dân Chủ” cắt giúp nhiều nhất. Vì ở đây ai cũng tử tế như vậy cả!
Trong cuộc sống cá nhân, người Mỹ rất “nhiệt thành” về tôn giáo cũng như chính trị, người không ưa thì bảo là họ quá khích. Nhưng họ đã tập được thói quen là, ở trong gia đình, giữa bạn bè hay xóm làng, khi đối xử với nhau thì hãy đặt những niềm tin và khuynh hướng chính trị của mình ra ngoài. Không ai ép buộc người khác phải theo mình cả, vì vô ích.
Ðây không phải lối sống tự nhiên một sớm một chiều mà một quốc gia tạo nên được. Nếu cứ để yên, loài người ở đâu cũng chứa đầy thành kiến, óc phân biệt, đầy tự ái và mặc cảm, thấy người lạ thì nghi kị, khinh thường, hoặc sợ hãi. Vào thế kỷ 17, những di dân đầu tiên từ Anh Quốc sang tiểu bang Massachusetts có lúc còn giết nhau vì những tín điều và giáo lý khác biệt. Một “nhà hiền giả” nổi danh vào thời lập quốc Mỹ là Benjamen Franklin còn tỏ ý nghi ngờ rằng những người di dân giống Ðức khó mà hội nhập vào lối sống của dân Mỹ! Hai trăm năm sau, dân gốc Ðức chiếm khoảng 50 triệu, ít có ai để ý tổ tiên họ là người gốc Ðức. Một người mang tên Eisenhower đã làm lên đến tổng thống. Và giờ thì đến lượt con trai của một di dân từ Phi Châu đến ở mấy năm rồi lại về, lên làm tổng thống Mỹ!
Bây giờ không còn ai ở Mỹ chủ trương phải giết lẫn nhau vì tín ngưỡng bất đồng hay vì vì xung đột chính trị. Dân xứ này đã tập được thói quen sống lối mới nhờ hai trăm năm được uốn nắn sống theo một bản Hiến Pháp trong đó các quyền tự do và bình đẳng được nhấn mạnh và được thi hành một cách nghiêm mật. Bị luật pháp ràng buộc mãi, dù không muốn thì tính tình người ta cũng đổi. Lâu lâu, thể chế và pháp luật cũng ảnh hưởng đến đạo đức con người; giống như dân Singapore đã tập được thói quen không xả rác, không vẽ bậy lên tường. (Nếu thành phố Westminster cũng làm luật phạt tội xả rác như vậy thì chắc chắn trong vài năm phong tục Little Saigon cũng thay đổi!) Ðối với di dân thì cũng ít có người Mỹ nào còn lo lắng họ “không thể hội nhập” như ông Benjamen Franklin. Vì nhìn chung quanh họ, cũng khó phân biệt được ai là Mỹ ba đời, ai là Mỹ đời thứ nhất. Trên thế giới chỉ có ba nước là di dân dễ “bị đồng hóa” nhanh chóng thành như dân bản xứ mà không cảm thấy bị “mất gốc.” Ðó là Mỹ, Úc Châu, và Canada, những quốc gia được các đám di dân lập thành.
Một sức mạnh của nước Mỹ là di dân từ khắp thế giới đã tìm tới đây để sống. Trong dân số Mỹ hiện nay có 38 triệu người sinh ở nước khác. Không quốc gia nào có nhiều “người ngoại quốc” như vậy. Cả nước Tầu chỉ có một triệu người dân sinh ở ngoại quốc, Nhật Bản có 2 triệu. Ðức là nước đông di dân nhất Âu Châu, có gần 10 triệu. Nhiều nước Tây Âu, đặc biệt là Bắc Âu, có chính sách rất cởi mở đối với di dân, nhờ truyền thống tự do dân chủ lâu đời. Nhưng di dân thành công trong xã hội thì ở Mỹ vẫn đông nhất so với các nước khác.
Một sức mạnh của nước Mỹ là nhiều người khắp thế giới muốn đến sống ở đây. Vì họ thấy những tấm gương thành công của di dân tới trước. Có những người mới đến đời thứ nhất đã thành công, ông Arnold Schwarzenegger, đương kim thống đốc California là một thí dụ. Tỷ phú Soros là một di dân. Một người Cuba, trốn sang Mỹ năm 15 tuổi, chưa hề học hết trung học, là cha dượng của ông Jeff Bezos, một tỷ phú sáng lập công ty Amazon bán sách trên mạng lưới. Không phải các di dân chỉ đến đây lợi dụng nước Mỹ để làm giầu, chính họ đóng góp vào sự thịnh vượng của nước này bằng sáng kiến, phát minh, óc mạo hiểm trong kinh doanh.
Trong số những công ty kỹ thuật tân tiến thành lập ở Mỹ từ 1995 đến 2005, một phần tư là của các di dân mới đời thứ nhất. Trong số những bằng sáng chế của người Mỹ đã trình lấy tác quyền tại các nước khác, cũng có một phần tư là của di dân. Nhưng ngay cả những người lao động không chuyên môn cũng tìm thấy cơ hội. Ở nước Mỹ không có những cuộc biểu tình đập phá của những thanh niên trong đám di dân; chắc vì họ đều bận đi kiếm việc hoặc đang đi làm, chưa ai cảm thấy tuyệt vọng vì lo bị gạt ra bên lề xã hội mãi mãi.
Ở những nước Canada, Úc, Mỹ, người di dân cảm thấy họ thành dân bản xứ một cách dễ dàng, vì nhòm chung quanh thấy hầu như ai cũng là di dân, nếu không phải một đời thì cũng chỉ ba bốn đời. Ðó là một điều khác biệt giữa Mỹ với các nước tiền tiến về kinh tế ở Tây Âu, và những nước chưa phát triển nhưng rộng lớn như Trung Quốc, Ấn Ðộ.
Ðó là một lý do bao nhiêu người trẻ tuổi từ khắp nơi đổ vào nước Mỹ sống. Và họ sẽ sinh con đẻ cái. Trong 50 năm tới, Mỹ là quốc gia duy nhất trong số các cường quốc mà dân số sẽ tăng lên chứ không giảm, và trong dân số vẫn còn nhiều người trẻ. Một lý do khiến kinh tế Nhật Bản có thể còn trì trệ là dân chúng càng ngày càng già. Số người già ở Trung Quốc sẽ tăng vọt lên trong năm, mười năm tới. Hai nước đó sẽ phải chi tiêu rất nhiều cho việc nuôi nấng và chăm sóc sức khỏe cho các cụ! Ai hồ hởi nghĩ rằng kinh tế Trung Quốc sẽ lên cao mãi không ngừng thì cứ nhìn vào kinh nghiệm Nhật Bản. Trước đây 30 năm người ta cũng nghĩ kinh tế Nhật là vô địch hoàn cầu mãi mãi. Mô hình phát triển kinh tế của hai nước này kiềm chế tiêu thụ và tùy thuộc xuất cảng sẽ theo nhau lần lượt lâm vào ngõ bí. Ở nước Nhật, chế độ dân chủ có tính linh động hơn, có thể chuyển hướng chính sách dễ dàng hơn ở Trung Quốc, mà gần 20 năm nay vẫn chưa thay đổi xong. Và Trung Quốc sẽ còn mối lo xã hội sẽ bất ổn vì sự phát triển của cả nước bị một đảng lợi dụng để hưởng lợi, gây ra cảnh tham nhũng và chênh lệch giầu nghèo ngày càng trầm trọng, mà cứ tiếp tục độc tài thì chưa biết làm sao gỡ được.
Kinh tế Mỹ hiện vẫn đứng hàng đầu về sáng chế, phát minh. Bây giờ ai phát minh được cái gì thường đem “trình tòa” ở ngay nước Mỹ để giữ bản quyền cho chắc. Trong năm 2008, Văn phòng Bản Quyền của chính phủ Mỹ đã phát 8731 bằng sáng chế cho người Nam Hàn, 37,000 bằng sáng chế cho các công ty hoặc cá nhân Nhật Bản. Nhưng cũng trong năm đó, có 92,000 bằng sáng chế được phát cho người Mỹ. Ấn Ðộ, Trung Quốc, đều đứng rất xa phía sau. Trong 30 năm qua, chỉ có 8 người Á Châu chiếm các giải Nobel về khoa học, trong đó 8 người Nhật Bản. Rất nhiều người Mỹ được giải Nobel đã di cư từ các nước khác tới. Các đại học ở Mỹ thu hút nhân tài khắp thế giới, vì họ đãi ngộ xứng đáng với ngân sách nghiên cứu lớn và không khí đề cao tự do tư tưởng trong xã hội. Nhưng các “nhân tài” cũng được cả xã hội tưởng thưởng bằng tiền bạc khi các sáng kiến của họ được thương mại hóa và thành công.
Một người bạn trẻ của tôi đã đi học rồi làm việc ở Áo Quốc từ vài chục năm. Sau nhiều lần du lịch sang Mỹ, năm nay đang chuẩn bị cùng gia đình di cư sang ở luôn. Tôi hy vọng giúp các bạn trẻ đó thêm tin tưởng vào lựa chọn của họ. Nhân ngày đầu năm 2010, tôi cũng xin gửi quý vị độc giả Người Việt sống tại Mỹ những hình ảnh lạc quan trên đây, để chúc quý vị một năm mới an lành và thịnh vượng. Quý vị đã sống ở nước Mỹ thì biết những ưu điểm và nhược điểm của xã hội này. Nhưng quý vị có thể giữ niềm tin vào tương lai của con cháu mình. Vì điểm đáng quý nhất của xã hội Mỹ là nó luôn luôn tự tìm tòi các nhược điểm của mình rồi không ngần ngại phô bầy ra cho cả thế giới thấy. Cơ chế dân chủ cho phép dân Mỹ liên tục tranh luận, đối chọi, rồi bỏ thăm chọn lựa, thí nghiệm các phương thuốc mới để sửa chữa những khuyết điểm của nước Mỹ. Niềm hy vọng của nước Mỹ là do chế độ tự do dân chủ tạo ra. Quý vị là di dân, nhưng đừng nghĩ chỉ có mình phải tới đây nhờ vả nước Mỹ. Chính nước Mỹ cũng nhờ có những người như quý vị nên mới được như ngày nay. Cũng như khi bước ra khỏi ngôi giáo đường vào đêm lễ Giáng Sinh, chúng tôi lại được ông mục sư bắt tay cảm ơn lần nữa; chúng tôi biết chính mình cũng đem lại một niềm vui cho ông và các tín hữu trong nhà thờ, trong một đêm lạnh giá tuyết rơi lất phất, khi mọi người vội vã lên xe trở về nhà mở tiệc.
Lãnh Đạo Tài hay Lãnh Đạo Tồi (?)
Ts. Nguyễn Đình Thắng Khi cần thoát ra khỏi cơn khủng hoảng hay một vấn nạn, chúng ta cần người lãnh đạo.
Lãnh đạo là khả năng dẫn đường, đưa tập thể từ hiện trạng xấu đến một hoàn cảnh tốt đẹp hơn. Tập thể có thể là tổ chức, công ty, cộng đồng, quốc gia, hay cả nhân loại. Người lãnh đạo phải có tầm nhìn xa, chỉ ra được điểm mốc cho cả hành trình. Không những vậy, người lãnh đạo còn phải biết chuyển ý tưởng thành hành động, để đoàn người cùng nhịp bước tiến lên.
Đó là lãnh đạo. Còn lãnh đạo tài là người tạo ra được cơ chế có khả năng tự vận hành dài lâu mà không cần đến mình nữa. Lãnh đạo tài có thể ví như người chế tạo ra chiếc đồng hồ, ai muốn sử dụng chỉ cần lên dây cót mà chẳng cần biết đến người thiết kế ra nó.
Để làm ví dụ, chúng ta hãy so sánh cuộc cách mạng dân chủ Pháp và Hoa Kỳ. Khác với mấy nhà cách mạng dân chủ Pháp, các vị khai sinh ra đất nước Hoa Kỳ đã khéo tạo dựng cơ chế thể hiện các tư tưởng dân chủ qua hiến pháp, hệ thống luật pháp, và những định chế xã hội dân sự.
Nền dân chủ ấy có khả năng tự tồn lâu dài và mọi người dân, trong hành sử bình thường mỗi ngày, góp phần phát huy nền dân chủ qua cơ chế sẵn có. Như vậy các tư tưởng dân chủ không còn lửng lơ ở mức trừu tượng mà đã được cài ngay vào cơ chế vận hành của toàn xã hội, trong từng hoạt động bình thường của người dân và tự tồn qua nhiều thế kỷ. Và cũng chính cơ chế ấy đào tạo nên những lớp người lãnh đạo cho hôm nay và ngày mai.
Người lãnh đạo tài do đó phải có bản lĩnh về tư duy để đề ra những nguyên tắc vận hành cho cơ chế, có khả năng huy động phương tiện và nhân sự để thiết lập cơ chế và, trước khi rút lui vào hậu trường, có đảm lược để chuẩn bị cho lớp người kế thừa duy trì và phát triển cơ chế. Điều cần chú ý là lãnh đạo tài thường không phải là một người mà là một nhóm, mỗi người một sở trường và một phận sự.
Thay vì thiết kế một đồng hồ, người lãnh đạo tồi là người giữ giờ, nghĩa là ai muốn biết giờ giấc đều phải qua tay mình. Mình là cơ chế, cơ chế là mình. Mình là nhất hạng và kiểm soát tất cả, còn mọi người chỉ có vâng phục hay phụ trợ. Mình là cha, là bác còn thiên hạ chỉ là con, là cháu. Người mắc tâm bệnh trầm kha như vậy không thể nào dẫn dắt tập thể đi lên vì “cái tôi” che lấp quyền lợi của tập thể và cản chặn bước tiến của người khác; họ sợ người khác nổi bật hơn mình. Người lãnh đạo tồi sẽ dẫn tập thể đi lòng vòng và có khi xuống hố sâu.
Đó là tình trạng ở nước ta. Người được tôn vinh là “cha già” dân tộc chỉ biết hô hào độc lập, tự do, hạnh phúc nhưng không thiết kế nổi một cơ chế để thể hiện những điều ấy; chỉ biết điều hành quốc gia bằng khẩu hiệu và mưu mô chứ không đề ra được nguyên tắc vận hành trường tồn cho xã hội; tốn rất nhiều thì giờ để tự đánh bóng mình thay vì xây dựng cho đội ngũ lãnh đạo và quản trị đất nước có tài có đức để thay thế mình. Người lãnh đạo với khả năng chỉ có vậy thì đất nước khó mà ngóc đầu lên được.
Xét vậy, người mang “hội chứng lãnh tụ” thì tất nhiên không thể nào là người lãnh đạo tài. Tiếc rằng hội chứng này không chỉ có nơi người cộng sản mà ít nhiều bàng bạc trong hàng ngũ những người Việt tự nhận là tranh đấu cho tự do, dân chủ.
Vì tiền đồ của cộng đồng và của dân tộc, mọi người Việt phải dứt khoát không tôn thờ và cũng không đi tìm lãnh tụ mà hãy cùng nhau tạo dựng nên một đội ngũ lãnh đạo cho ngày hôm nay và mai sau. Ở bước căn bản nhất, chúng ta phải đòi hỏi thái độ nghiêm túc nơi những người muốn đóng vai trò lãnh đạo: phải nêu ra được sách lược để chuyển ý tưởng thành hành động, phải chứng minh được khả năng quán xuyến qua việc thiết lập những cơ chế phát triển cộng đồng ở hải ngoại hay phát triển dân chủ trong nước, và phải đào tạo được những con người giỏi giang và chân chính để nối tiếp vai trò lãnh đạo.
Chúng ta cần những người lãnh đạo tài.
Ts. Nguyễn Đình Thắng Khi cần thoát ra khỏi cơn khủng hoảng hay một vấn nạn, chúng ta cần người lãnh đạo.
Lãnh đạo là khả năng dẫn đường, đưa tập thể từ hiện trạng xấu đến một hoàn cảnh tốt đẹp hơn. Tập thể có thể là tổ chức, công ty, cộng đồng, quốc gia, hay cả nhân loại. Người lãnh đạo phải có tầm nhìn xa, chỉ ra được điểm mốc cho cả hành trình. Không những vậy, người lãnh đạo còn phải biết chuyển ý tưởng thành hành động, để đoàn người cùng nhịp bước tiến lên.
Đó là lãnh đạo. Còn lãnh đạo tài là người tạo ra được cơ chế có khả năng tự vận hành dài lâu mà không cần đến mình nữa. Lãnh đạo tài có thể ví như người chế tạo ra chiếc đồng hồ, ai muốn sử dụng chỉ cần lên dây cót mà chẳng cần biết đến người thiết kế ra nó.
Để làm ví dụ, chúng ta hãy so sánh cuộc cách mạng dân chủ Pháp và Hoa Kỳ. Khác với mấy nhà cách mạng dân chủ Pháp, các vị khai sinh ra đất nước Hoa Kỳ đã khéo tạo dựng cơ chế thể hiện các tư tưởng dân chủ qua hiến pháp, hệ thống luật pháp, và những định chế xã hội dân sự.
Nền dân chủ ấy có khả năng tự tồn lâu dài và mọi người dân, trong hành sử bình thường mỗi ngày, góp phần phát huy nền dân chủ qua cơ chế sẵn có. Như vậy các tư tưởng dân chủ không còn lửng lơ ở mức trừu tượng mà đã được cài ngay vào cơ chế vận hành của toàn xã hội, trong từng hoạt động bình thường của người dân và tự tồn qua nhiều thế kỷ. Và cũng chính cơ chế ấy đào tạo nên những lớp người lãnh đạo cho hôm nay và ngày mai.
Người lãnh đạo tài do đó phải có bản lĩnh về tư duy để đề ra những nguyên tắc vận hành cho cơ chế, có khả năng huy động phương tiện và nhân sự để thiết lập cơ chế và, trước khi rút lui vào hậu trường, có đảm lược để chuẩn bị cho lớp người kế thừa duy trì và phát triển cơ chế. Điều cần chú ý là lãnh đạo tài thường không phải là một người mà là một nhóm, mỗi người một sở trường và một phận sự.
Thay vì thiết kế một đồng hồ, người lãnh đạo tồi là người giữ giờ, nghĩa là ai muốn biết giờ giấc đều phải qua tay mình. Mình là cơ chế, cơ chế là mình. Mình là nhất hạng và kiểm soát tất cả, còn mọi người chỉ có vâng phục hay phụ trợ. Mình là cha, là bác còn thiên hạ chỉ là con, là cháu. Người mắc tâm bệnh trầm kha như vậy không thể nào dẫn dắt tập thể đi lên vì “cái tôi” che lấp quyền lợi của tập thể và cản chặn bước tiến của người khác; họ sợ người khác nổi bật hơn mình. Người lãnh đạo tồi sẽ dẫn tập thể đi lòng vòng và có khi xuống hố sâu.
Đó là tình trạng ở nước ta. Người được tôn vinh là “cha già” dân tộc chỉ biết hô hào độc lập, tự do, hạnh phúc nhưng không thiết kế nổi một cơ chế để thể hiện những điều ấy; chỉ biết điều hành quốc gia bằng khẩu hiệu và mưu mô chứ không đề ra được nguyên tắc vận hành trường tồn cho xã hội; tốn rất nhiều thì giờ để tự đánh bóng mình thay vì xây dựng cho đội ngũ lãnh đạo và quản trị đất nước có tài có đức để thay thế mình. Người lãnh đạo với khả năng chỉ có vậy thì đất nước khó mà ngóc đầu lên được.
Xét vậy, người mang “hội chứng lãnh tụ” thì tất nhiên không thể nào là người lãnh đạo tài. Tiếc rằng hội chứng này không chỉ có nơi người cộng sản mà ít nhiều bàng bạc trong hàng ngũ những người Việt tự nhận là tranh đấu cho tự do, dân chủ.
Vì tiền đồ của cộng đồng và của dân tộc, mọi người Việt phải dứt khoát không tôn thờ và cũng không đi tìm lãnh tụ mà hãy cùng nhau tạo dựng nên một đội ngũ lãnh đạo cho ngày hôm nay và mai sau. Ở bước căn bản nhất, chúng ta phải đòi hỏi thái độ nghiêm túc nơi những người muốn đóng vai trò lãnh đạo: phải nêu ra được sách lược để chuyển ý tưởng thành hành động, phải chứng minh được khả năng quán xuyến qua việc thiết lập những cơ chế phát triển cộng đồng ở hải ngoại hay phát triển dân chủ trong nước, và phải đào tạo được những con người giỏi giang và chân chính để nối tiếp vai trò lãnh đạo.
Chúng ta cần những người lãnh đạo tài.
Thế nào là Văn Minh?
Ngô Nhân Dụng Muốn biết trình độ tinh thần của một xã hội, hãy coi nguyên nhân nào gây ra những cuộc tranh chấp giữa người với người. Tục ngữ ta có câu “Hôn nhân, điền thổ, vạn cổ chi thù.” Thù ghét nhau vì những cuộc hôn nhân bất thành, hoặc vì tranh giành nhau những mảnh ruộng đất, đó là những mối thù lớn. Ruộng đất gây tranh tụng về kinh tế, còn chuyện hôn nhân liên quan tới danh giá của một gia tộc. Nền văn minh làng xã của chúng ta đề cao danh giá, danh giá một giòng họ cũng lớn bằng hoặc còn quan trọng hơn cả quyền lợi kinh tế.
Ở nước Mỹ chúng ta thường thấy các nhà chính trị đem nhau ra tố cáo tội này tội nọ để hất cẳng lẫn nhau. Có người đang được ông tổng thống mời làm bộ trưởng thì bị tố là đã từng thuê một di dân bất hợp pháp giữ con cho mình. Thực ra một người Mỹ khi thuê mướn nhân viên thì không có bổn phận phải điều tra xem người đó có giấy tờ hợp pháp hay không; đó là việc của nhà nước. Nhưng chính trị gia kia bị coi là có tội vì đã không đóng thuế an sinh xã hội cho người làm. Vừa tội trốn thuế, lại thêm tội bóc lột sức lao động của di dân! Thế là phải xin ông tổng thống rút tên mình ra. Có mấy người được ông Obama mời vào nội các nhưng phải rút lui sau khi bị tố giác đã từng quên đóng thuế. Có người Mỹ đã được đề cử làm Thẩm phán Tối cao nhưng phải rút lui vì bị người trong đảng mình tố đã có lúc “nghiêng ngả” không giữ đúng lập trường chống phá thai. Vừa rồi lại có mấy nhà chính trị nổi danh bị tố giác về tội ngoại tình, phải từ bỏ giấc mộng làm ứng cử viên tổng thống. Nếu nước Pháp cũng theo phong tục đó thì chắc các ông tổng thống phải từ chức hết. Nghe mấy chuyện đó thì chúng ta biết phong hóa cả nước Mỹ nó như thế nào. Kể chuyện nước người ta để suy ngẫm về chuyện nước mình.
Ở Việt Nam, chúng ta không có những chính trị gia theo nghĩa bình thường, vì chỉ có một đảng được quyền làm chính trị. Nước ta chỉ có các quan chức, các cán bộ tranh giành nhau địa vị, để có quyền và sinh lợi. Vậy các quan chức này thường viện những lý do nào để tranh giành, hất cẳng lẫn nhau?
Báo Người Việt trong tuần rồi thuật lại một bản tin trên từ các báo Pháp Luật và Dân Trí ở trong nước kể chuyện một quan chức quận Hà Ðông bị mất chức (một chức thanh tra hái ra tiền) vì lỡ tổ chức tiệc cưới cho con trai đặt dư hai mâm cỗ vượt qua quy định của đảng Cộng Sản. Rất nhiều độc giả đã chăm chú đọc tin trên và viết thư bầy tỏ ý kiến. Chỉ có chuyện 2 mâm cỗ mà mất chức! Tưởng nước nhà đã đổi mới rồi, thế mà vẫn còn chuyện các đồng chí dình dập nhau, chờ cơ hội ám hại nhau, và hất cẳng nhau được chỉ vì hai mâm cỗ! Chẳng khác gì chuyện chốn đình trung trước đây 100 năm!
Nếu quý vị không biết hoặc đã quên câu chuyện trên, xin quý vị tìm đọc lại trong báo Người Việt ngày Thứ Ba tuần qua. Một đảng viên cao cấp tên là Nguyễn Hữu Dàng tổ chức tiệc cưới cho con, hai bên nhà trai nhà gái mỗi người mời 40 mâm cỗ. Nhưng ông Dàng đặt thêm 2 mâm nữa. Năm, bẩy tháng sau ông bị đảng ủy quận Hà Ðông tố cáo tội vi phạm “nếp sống văn minh” và bị mất chức thanh tra xây dựng, một chức vụ được các báo mô tả là “hái ra tiền!”
Phần lớn thư góp ý của quý vị độc giả Người Việt đọc câu chuyện trên đã chú ý tới cảnh “chạy chức” và mua quan bán tước trong xã hội Cộng Sản, như tờ báo trong nước đã phân tích. Nhưng câu chuyện này có một khía cạnh đáng chú ý khác, là quan niệm của đảng Cộng Sản Việt Nam về một xã hội văn minh. Thế nào là Xã Hội Văn Minh? Ðó là những chữ được viết rất long trọng trong cương lĩnh của đảng Cộng Sản từ hàng chục năm nay. Họ đang tiếm quyền “lãnh đạo nhà nước và xã hội” của cả nước ta. Họ quan niệm về xã hội văn minh như thế nào, cái đó sẽ ảnh hưởng đến tương lai dân tộc.
Chính quyền một nước cũng có thể xây dựng nếp sống văn minh, trong một chừng mực giới hạn. Chính sách giáo dục, văn hóa của quốc gia có ảnh hưởng tới nếp sống hàng ngày của dân chúng. Trong mục này tuần trước chúng tôi đã nhắc đến kinh nghiệm ở Singapore, “Lâu lâu, thể chế và pháp luật cũng ảnh hưởng đến đạo đức con người; giống như dân Singapore đã tập được thói quen không xả rác, không vẽ bậy lên tường” sau khi có luật trừng phạt rất nặng. Bởi vì, khi bị luật pháp ràng buộc mãi, dù không muốn thì tính tình người ta dần dần cũng thay đổi, các thói quen sống hàng ngày cũng đổi. Nói như vậy lại nhớ đến các xứ Ðức, Nhật Bản, Thụy Sĩ, Thổ Nhĩ Kỳ, là những nơi tôi không thấy người dân xả rác ngoài đường. Một độc giả đã góp ý kiến rằng ở các nước đó người ta phạt tội xả rác rất nặng cho nên người dân mới giữ sạch sẽ. Nhân đây xin cải chính. Tôi đã hỏi người dân mấy xứ này, ở nước họ không có luật lệ cấm xả rác như ở Singapore.
Có hai đường lối cai trị cổ truyền ở Ðông Phương. Dùng hình luật để xây dựng “Nếp Sống Văn Minh” là chủ trương của Pháp gia; các ông Lý Quang Diệu, Mao Trạch Ðông đều theo Hàn Phi Tử. Còn ở các nước Nhật, Thụy Sĩ, họ thiên về lối Nho gia: “phú chi, giáo chi.” Làm sao cho dân đủ ăn đủ mặc rồi giáo hóa họ; những người cầm quyền, các bật trưởng thượng nêu gương và khen người đạo đức thì dân sẽ bắt chước. Cứ như thế, xã hội sẽ dần dần văn minh hơn.
Ðảng Cộng Sản Việt Nam theo lối Mao Trạch Ðông, uốn nắn đảng viên và dân chúng bằng những quy định đến cả cách ăn ở của người ta. Khi đọc bản tin trên báo Pháp Luật trong nước chúng ta mới biết đảng Cộng Sản Việt Nam muốn áp dụng “Nếp Sống Văn Minh” cho cán bộ một cách nghiêm ngặt, không khác gì Singapore cấm dân nhai kẹo cao su. Nghiêm đến mức họ quy định cán bộ làm đám cưới không được mời quá 40 mâm cỗ. Mời 41 mâm là kém văn minh. Chỉ vì ông Nguyễn Hữu Dàng làm sai quy định đó cho nên mới mất cái ghế hái ra tiền!
Nhưng chúng ta vẫn không khỏi thắc mắc tại sao đảng Cộng Sản đã dùng quyền lãnh đạo xã hội để đi quy định những chuyện bắt cán bộ phải theo, như làm đám cưới thì không được làm quá 40 mâm cỗ? Bộ không có chuyện gì thiết thực hơn, quan trọng hơn để đưa vào chương trình xây dựng “Nếp Sống Văn Minh” hay sao? Có quy định nào bắt bước các cán bộ phải biết nói những lời như “xin lỗi,” hay “cảm ơn” hay không? Có luật nào bắt các ông thanh tra mấy ngày phải đi tắm một lần hay không? Chuyện giữ thân thể sạch sẽ cũng biểu hiện nếp sống văn minh lắm chứ? Người lãnh đạo có thói quen hay rửa tay chắc sẽ thấy có ý thức phải giúp cho dân chúng chung quanh mình sống sạch sẽ hơn!
Trong những quy định xây dựng xã hội văn minh, những xã, thôn văn hóa, thế nào người ta cũng ghi đủ các quy tắc sống vệ sinh, giữ sạch sẽ. Nhưng trong một chế độ đã hư hỏng đến tận xương tủy thì bất cứ chính sách, luật lệ, quy định nào cũng chỉ là bánh vẽ, chỉ nói mà không cần thực hiện. Chúng trở thành những võ khí người ta dùng để tấn công nhau, tranh giành quyền lực với nhau. Ngay luật đi đường cũng vậy, luật về vệ sinh nơi công cộng cũng vậy. Cuối cùng, mọi thứ luật lệ có mục đích tốt đẹp tới đâu cũng chỉ tạo cơ hội cho những người có quyền trong tay tham nhũng. Và giữa giai cấp chiếm độc quyền cai trị thì họ sử dụng các quy định lẩm cẩm đó để chờ cơ hội hất cẳng nhau.
Nhắc lại một chuyện cũ để suy ngẫm. Năm 2008, có triển lãm hoa anh đào Nhật tại khu triển lãm Giảng Võ, Hà Nội vào Tháng Tư. Tổng cộng 300 cành hoa anh đào nhỏ kết thành 3 cây hoa anh đào lớn. Nhưng ngay trong ngày khai mạc, nhiều người đã xúm vào bẻ cành, vặt hoa chung đem về làm của riêng. Sang năm 2009, một lực lượng đông hơn 500 công an cảnh sát cầm dùi cui, được lực lượng dân phòng của phường Liễu Giai điều động giúp, để bảo vệ 6 sáu cây hoa anh đào giả sân vận động Quần Ngựa ở Hà Nội, trước khi cho dân coi hoa thật. Những người Nhật Bản tặng hoa chắc phải ngạc nhiên vì chưa thấy quốc gia nào phải dùng đến bấy nhiêu người để bảo vệ mấy cây hoa giả! Ðạo lý, văn minh của người dân nước đó đã xuống đến như thế nào?
Trước cảnh dân Hà Nội nước trước bẻ hoa như vậy, nhà thơ Hoàng Hưng đã nhận xét: “Rõ ràng đây là chuyện mang tính tất yếu, bản chất, hệ thống, sự hư hỏng từ bên trong con người Việt Nam sau một quá trình dài tích tụ phát triển đã lên đến đỉnh cao.”
Cái “đỉnh cao” đó là do một chế độ độc tài tạo ra. Khi một đảng nắm độc quyền cai trị hơn nửa thế kỷ thì tình trạng hư hỏng tất nhiên sẽ xẩy ra. Nhà thơ gọi đó là “tính tất yếu.” Một guồng máy độc tài áp bức lúc nào cũng đi kèm theo một hệ thống gian dối, phô bầy một nếp sống giả trá. Khi đảng độc tài đó lại muốn chỉ huy tất cả mọi mặt trong đời sống người dân, nắm độc quyền từ chính trị, kinh tế đến văn hóa, nghệ thuật, cho đến phong tục, cách ăn mặc nữa, nói năng nữa, thì sự hư hỏng của nhóm người nắm quyền đó sẽ tác hại đến nền móng tinh thần, đạo lý của cả xã hội. Nó hư từ trong bản chất, nó phổ biến từ trên xuống dưới một cách có hệ thống. Nó tích tụ từ hơn nửa thế kỷ nay trong nước Việt Nam, làm hư hỏng, mục nát cả nền móng tinh thần của xã hội.
Người Việt Nam yêu nước đều phải tự hỏi nếu cứ tiếp tục như vậy thì tương lai dân tộc sẽ đi về đâu? Bởi vậy, những nhà trí thức như Hoàng Hưng, Nguyễn Huệ Chi, Hà Sĩ Phu, Nguyễn Quang A, vân vân, đã phải lên tiếng đòi đảng Cộng Sản phải bớt độc tài đi. Không một ai trong những người này tính đến chuyện sẽ lên cầm quyền thay thế cho các ông lý ông xã trong Câu Lạc Bộ Ba Ðình. Nhưng trông thấy nền móng tinh thần của đất nước bị phá hoại suốt nửa thế kỷ, ai cầm lòng được?
Các tờ báo ở trong nước như Pháp Luật đã tường thuật câu chuyện mất chức vì hai mâm cỗ, dù không bình luận cũng cho thấy một hình ảnh về cách sống của đám cán bộ, quan chức Cộng Sản. Người đọc chắc đều hiểu nghĩa bóng ở đằng sau câu chuyện. Trong tay đảng Cộng Sản Việt Nam, một chính sách nghe rất tốt đẹp như “xây dựng xã hội văn minh” cũng trở thành một trò múa rối nhảm nhí. Và mọi quy tắc, luật lệ của đảng đều được các quan chức cán bộ lợi dụng để tranh giành quyền hành, lợi lộc. Sự hư hỏng đến từ bản chất, trong hệ thống, và tích tụ mấy thế hệ rồi. Dân tộc Việt Nam còn phải chịu đựng cái nạn này cho tới bao giờ?
Ngô Nhân Dụng Muốn biết trình độ tinh thần của một xã hội, hãy coi nguyên nhân nào gây ra những cuộc tranh chấp giữa người với người. Tục ngữ ta có câu “Hôn nhân, điền thổ, vạn cổ chi thù.” Thù ghét nhau vì những cuộc hôn nhân bất thành, hoặc vì tranh giành nhau những mảnh ruộng đất, đó là những mối thù lớn. Ruộng đất gây tranh tụng về kinh tế, còn chuyện hôn nhân liên quan tới danh giá của một gia tộc. Nền văn minh làng xã của chúng ta đề cao danh giá, danh giá một giòng họ cũng lớn bằng hoặc còn quan trọng hơn cả quyền lợi kinh tế.
Ở nước Mỹ chúng ta thường thấy các nhà chính trị đem nhau ra tố cáo tội này tội nọ để hất cẳng lẫn nhau. Có người đang được ông tổng thống mời làm bộ trưởng thì bị tố là đã từng thuê một di dân bất hợp pháp giữ con cho mình. Thực ra một người Mỹ khi thuê mướn nhân viên thì không có bổn phận phải điều tra xem người đó có giấy tờ hợp pháp hay không; đó là việc của nhà nước. Nhưng chính trị gia kia bị coi là có tội vì đã không đóng thuế an sinh xã hội cho người làm. Vừa tội trốn thuế, lại thêm tội bóc lột sức lao động của di dân! Thế là phải xin ông tổng thống rút tên mình ra. Có mấy người được ông Obama mời vào nội các nhưng phải rút lui sau khi bị tố giác đã từng quên đóng thuế. Có người Mỹ đã được đề cử làm Thẩm phán Tối cao nhưng phải rút lui vì bị người trong đảng mình tố đã có lúc “nghiêng ngả” không giữ đúng lập trường chống phá thai. Vừa rồi lại có mấy nhà chính trị nổi danh bị tố giác về tội ngoại tình, phải từ bỏ giấc mộng làm ứng cử viên tổng thống. Nếu nước Pháp cũng theo phong tục đó thì chắc các ông tổng thống phải từ chức hết. Nghe mấy chuyện đó thì chúng ta biết phong hóa cả nước Mỹ nó như thế nào. Kể chuyện nước người ta để suy ngẫm về chuyện nước mình.
Ở Việt Nam, chúng ta không có những chính trị gia theo nghĩa bình thường, vì chỉ có một đảng được quyền làm chính trị. Nước ta chỉ có các quan chức, các cán bộ tranh giành nhau địa vị, để có quyền và sinh lợi. Vậy các quan chức này thường viện những lý do nào để tranh giành, hất cẳng lẫn nhau?
Báo Người Việt trong tuần rồi thuật lại một bản tin trên từ các báo Pháp Luật và Dân Trí ở trong nước kể chuyện một quan chức quận Hà Ðông bị mất chức (một chức thanh tra hái ra tiền) vì lỡ tổ chức tiệc cưới cho con trai đặt dư hai mâm cỗ vượt qua quy định của đảng Cộng Sản. Rất nhiều độc giả đã chăm chú đọc tin trên và viết thư bầy tỏ ý kiến. Chỉ có chuyện 2 mâm cỗ mà mất chức! Tưởng nước nhà đã đổi mới rồi, thế mà vẫn còn chuyện các đồng chí dình dập nhau, chờ cơ hội ám hại nhau, và hất cẳng nhau được chỉ vì hai mâm cỗ! Chẳng khác gì chuyện chốn đình trung trước đây 100 năm!
Nếu quý vị không biết hoặc đã quên câu chuyện trên, xin quý vị tìm đọc lại trong báo Người Việt ngày Thứ Ba tuần qua. Một đảng viên cao cấp tên là Nguyễn Hữu Dàng tổ chức tiệc cưới cho con, hai bên nhà trai nhà gái mỗi người mời 40 mâm cỗ. Nhưng ông Dàng đặt thêm 2 mâm nữa. Năm, bẩy tháng sau ông bị đảng ủy quận Hà Ðông tố cáo tội vi phạm “nếp sống văn minh” và bị mất chức thanh tra xây dựng, một chức vụ được các báo mô tả là “hái ra tiền!”
Phần lớn thư góp ý của quý vị độc giả Người Việt đọc câu chuyện trên đã chú ý tới cảnh “chạy chức” và mua quan bán tước trong xã hội Cộng Sản, như tờ báo trong nước đã phân tích. Nhưng câu chuyện này có một khía cạnh đáng chú ý khác, là quan niệm của đảng Cộng Sản Việt Nam về một xã hội văn minh. Thế nào là Xã Hội Văn Minh? Ðó là những chữ được viết rất long trọng trong cương lĩnh của đảng Cộng Sản từ hàng chục năm nay. Họ đang tiếm quyền “lãnh đạo nhà nước và xã hội” của cả nước ta. Họ quan niệm về xã hội văn minh như thế nào, cái đó sẽ ảnh hưởng đến tương lai dân tộc.
Chính quyền một nước cũng có thể xây dựng nếp sống văn minh, trong một chừng mực giới hạn. Chính sách giáo dục, văn hóa của quốc gia có ảnh hưởng tới nếp sống hàng ngày của dân chúng. Trong mục này tuần trước chúng tôi đã nhắc đến kinh nghiệm ở Singapore, “Lâu lâu, thể chế và pháp luật cũng ảnh hưởng đến đạo đức con người; giống như dân Singapore đã tập được thói quen không xả rác, không vẽ bậy lên tường” sau khi có luật trừng phạt rất nặng. Bởi vì, khi bị luật pháp ràng buộc mãi, dù không muốn thì tính tình người ta dần dần cũng thay đổi, các thói quen sống hàng ngày cũng đổi. Nói như vậy lại nhớ đến các xứ Ðức, Nhật Bản, Thụy Sĩ, Thổ Nhĩ Kỳ, là những nơi tôi không thấy người dân xả rác ngoài đường. Một độc giả đã góp ý kiến rằng ở các nước đó người ta phạt tội xả rác rất nặng cho nên người dân mới giữ sạch sẽ. Nhân đây xin cải chính. Tôi đã hỏi người dân mấy xứ này, ở nước họ không có luật lệ cấm xả rác như ở Singapore.
Có hai đường lối cai trị cổ truyền ở Ðông Phương. Dùng hình luật để xây dựng “Nếp Sống Văn Minh” là chủ trương của Pháp gia; các ông Lý Quang Diệu, Mao Trạch Ðông đều theo Hàn Phi Tử. Còn ở các nước Nhật, Thụy Sĩ, họ thiên về lối Nho gia: “phú chi, giáo chi.” Làm sao cho dân đủ ăn đủ mặc rồi giáo hóa họ; những người cầm quyền, các bật trưởng thượng nêu gương và khen người đạo đức thì dân sẽ bắt chước. Cứ như thế, xã hội sẽ dần dần văn minh hơn.
Ðảng Cộng Sản Việt Nam theo lối Mao Trạch Ðông, uốn nắn đảng viên và dân chúng bằng những quy định đến cả cách ăn ở của người ta. Khi đọc bản tin trên báo Pháp Luật trong nước chúng ta mới biết đảng Cộng Sản Việt Nam muốn áp dụng “Nếp Sống Văn Minh” cho cán bộ một cách nghiêm ngặt, không khác gì Singapore cấm dân nhai kẹo cao su. Nghiêm đến mức họ quy định cán bộ làm đám cưới không được mời quá 40 mâm cỗ. Mời 41 mâm là kém văn minh. Chỉ vì ông Nguyễn Hữu Dàng làm sai quy định đó cho nên mới mất cái ghế hái ra tiền!
Nhưng chúng ta vẫn không khỏi thắc mắc tại sao đảng Cộng Sản đã dùng quyền lãnh đạo xã hội để đi quy định những chuyện bắt cán bộ phải theo, như làm đám cưới thì không được làm quá 40 mâm cỗ? Bộ không có chuyện gì thiết thực hơn, quan trọng hơn để đưa vào chương trình xây dựng “Nếp Sống Văn Minh” hay sao? Có quy định nào bắt bước các cán bộ phải biết nói những lời như “xin lỗi,” hay “cảm ơn” hay không? Có luật nào bắt các ông thanh tra mấy ngày phải đi tắm một lần hay không? Chuyện giữ thân thể sạch sẽ cũng biểu hiện nếp sống văn minh lắm chứ? Người lãnh đạo có thói quen hay rửa tay chắc sẽ thấy có ý thức phải giúp cho dân chúng chung quanh mình sống sạch sẽ hơn!
Trong những quy định xây dựng xã hội văn minh, những xã, thôn văn hóa, thế nào người ta cũng ghi đủ các quy tắc sống vệ sinh, giữ sạch sẽ. Nhưng trong một chế độ đã hư hỏng đến tận xương tủy thì bất cứ chính sách, luật lệ, quy định nào cũng chỉ là bánh vẽ, chỉ nói mà không cần thực hiện. Chúng trở thành những võ khí người ta dùng để tấn công nhau, tranh giành quyền lực với nhau. Ngay luật đi đường cũng vậy, luật về vệ sinh nơi công cộng cũng vậy. Cuối cùng, mọi thứ luật lệ có mục đích tốt đẹp tới đâu cũng chỉ tạo cơ hội cho những người có quyền trong tay tham nhũng. Và giữa giai cấp chiếm độc quyền cai trị thì họ sử dụng các quy định lẩm cẩm đó để chờ cơ hội hất cẳng nhau.
Nhắc lại một chuyện cũ để suy ngẫm. Năm 2008, có triển lãm hoa anh đào Nhật tại khu triển lãm Giảng Võ, Hà Nội vào Tháng Tư. Tổng cộng 300 cành hoa anh đào nhỏ kết thành 3 cây hoa anh đào lớn. Nhưng ngay trong ngày khai mạc, nhiều người đã xúm vào bẻ cành, vặt hoa chung đem về làm của riêng. Sang năm 2009, một lực lượng đông hơn 500 công an cảnh sát cầm dùi cui, được lực lượng dân phòng của phường Liễu Giai điều động giúp, để bảo vệ 6 sáu cây hoa anh đào giả sân vận động Quần Ngựa ở Hà Nội, trước khi cho dân coi hoa thật. Những người Nhật Bản tặng hoa chắc phải ngạc nhiên vì chưa thấy quốc gia nào phải dùng đến bấy nhiêu người để bảo vệ mấy cây hoa giả! Ðạo lý, văn minh của người dân nước đó đã xuống đến như thế nào?
Trước cảnh dân Hà Nội nước trước bẻ hoa như vậy, nhà thơ Hoàng Hưng đã nhận xét: “Rõ ràng đây là chuyện mang tính tất yếu, bản chất, hệ thống, sự hư hỏng từ bên trong con người Việt Nam sau một quá trình dài tích tụ phát triển đã lên đến đỉnh cao.”
Cái “đỉnh cao” đó là do một chế độ độc tài tạo ra. Khi một đảng nắm độc quyền cai trị hơn nửa thế kỷ thì tình trạng hư hỏng tất nhiên sẽ xẩy ra. Nhà thơ gọi đó là “tính tất yếu.” Một guồng máy độc tài áp bức lúc nào cũng đi kèm theo một hệ thống gian dối, phô bầy một nếp sống giả trá. Khi đảng độc tài đó lại muốn chỉ huy tất cả mọi mặt trong đời sống người dân, nắm độc quyền từ chính trị, kinh tế đến văn hóa, nghệ thuật, cho đến phong tục, cách ăn mặc nữa, nói năng nữa, thì sự hư hỏng của nhóm người nắm quyền đó sẽ tác hại đến nền móng tinh thần, đạo lý của cả xã hội. Nó hư từ trong bản chất, nó phổ biến từ trên xuống dưới một cách có hệ thống. Nó tích tụ từ hơn nửa thế kỷ nay trong nước Việt Nam, làm hư hỏng, mục nát cả nền móng tinh thần của xã hội.
Người Việt Nam yêu nước đều phải tự hỏi nếu cứ tiếp tục như vậy thì tương lai dân tộc sẽ đi về đâu? Bởi vậy, những nhà trí thức như Hoàng Hưng, Nguyễn Huệ Chi, Hà Sĩ Phu, Nguyễn Quang A, vân vân, đã phải lên tiếng đòi đảng Cộng Sản phải bớt độc tài đi. Không một ai trong những người này tính đến chuyện sẽ lên cầm quyền thay thế cho các ông lý ông xã trong Câu Lạc Bộ Ba Ðình. Nhưng trông thấy nền móng tinh thần của đất nước bị phá hoại suốt nửa thế kỷ, ai cầm lòng được?
Các tờ báo ở trong nước như Pháp Luật đã tường thuật câu chuyện mất chức vì hai mâm cỗ, dù không bình luận cũng cho thấy một hình ảnh về cách sống của đám cán bộ, quan chức Cộng Sản. Người đọc chắc đều hiểu nghĩa bóng ở đằng sau câu chuyện. Trong tay đảng Cộng Sản Việt Nam, một chính sách nghe rất tốt đẹp như “xây dựng xã hội văn minh” cũng trở thành một trò múa rối nhảm nhí. Và mọi quy tắc, luật lệ của đảng đều được các quan chức cán bộ lợi dụng để tranh giành quyền hành, lợi lộc. Sự hư hỏng đến từ bản chất, trong hệ thống, và tích tụ mấy thế hệ rồi. Dân tộc Việt Nam còn phải chịu đựng cái nạn này cho tới bao giờ?
Tại sao người ta cướp hoa?
Ngô Nhân Dụng Dân New York đang nổi giận khi nhật báo Times tiết lộ cửa hàng bán quần áo H&M có chính sách đem vứt bỏ những thứ hàng ế, trước khi vứt đi họ cho nhân viên cắt xé những cái áo, những găng tay để không ai còn dùng được nữa. Cửa hàng này thanh minh rằng họ cũng đã đem tặng các hội từ thiện nhiều quần áo khi không bán được. Nhưng chắc mọi người sẽ không hài lòng với lời giải thích đó. Chắc cả nước Mỹ sẽ lên tiếng phản đối. Còn người Việt Nam, người mình nghĩ gì về cảnh những thanh niên đi cướp hoa ở hội chợ Tết, suốt mấy năm liền? Có ai chịu trách nhiệm hay không?
Xin kể mấy câu chuyện ở nước khác trước đã. Mấy lần đến Thái Lan, sống ở một vùng ngoại ô Bangkock hàng tháng trời, tôi sinh lòng kính trọng người dân Thái chỉ vì thấy trong những ngõ hẻm người ta hay treo những giỏ hoa phong lan trên thân cây, ngay bên ngoài hàng rào; những giỏ lan trổ bông diễm lệ, mà không ai sợ có kẻ đến lấy trộm cả giỏ hoa đem đi mất. Cũng vậy, khi sống một tuần trong một làng nhỏ ở Thụy Sĩ, thấy những quầy bán hoa không có người trông coi, ai mua hoa cứ theo giá đề mà trả tiền vào một cái hộp kim loại để trên bàn, tôi cũng ngạc nhiên và cảm phục. Một nhà khác trong làng, bán sữa và trứng gà cũng vậy, ai muốn mua cứ mở tủ lạnh ra, lấy chai sữa hay hộp trứng gà, trả tiền trong cái lon, cũng đặt trong cái tủ lạnh đó. Không ai trông nom, canh gác.
Trong dân tộc nào cũng có người tốt, người xấu. Nhưng khi đến một xứ, nhìn vào cách cư xử thấy người ta tin cẩn vào tính thật thà của nhau, nghĩ chung quanh mình toàn người lương thiện, gặp người lạ nào trước hết cũng cứ giả thiết đó là một người lương thiện đã, thì mình phải công nhận người dân ở nước đó đa số họ sống có đạo lý, đó là một dân tộc đáng khâm phục.
Hồi ở thành phố Montréal bên Canada, nhà tôi ở gần một vườn hoa hồng, mang tên ông Thủ Tướng Pierre Trudeau - ông là đại biểu của địa hạt Mont Royal này trong Quốc Hội. Vườn trồng rất nhiều giống hoa, đủ thứ màu kể cả những màu lạ, cây cao cây thấp, chỉ toàn là hoa hồng, xếp đặt rất khéo. Cuối Tháng Tư mỗi năm, các gốc hồng được bới ra khỏi lớp lá mục phủ kín suốt Mùa Ðông; những gốc hồng được phơi ra dưới nắng rạo rực trổ mầm non, nụ hoa lên chúm chím, rồi trong một, hai tháng, hoa bắt đầu đua nở.
Một bữa tôi gặp một cô gái đang đi dạo trong vườn, lâu lâu cô nghiêng mình cúi mái tóc vàng xuống để thử mùi hương một đóa hoa. Cô hỏi: Vườn hoa này là của ai vậy? Khi biết đây là một công viên, cô lại thắc mắc: Vườn không có hàng rào, không ai canh gác, thế không sợ đêm có người đến hái trộm hay sao? Không biết trả lời thế nào, tôi chỉ nêu nhận xét là sau khi đã ở đây hàng chục năm, tôi luôn luôn thấy sau mấy tháng Hè các gốc hồng vẫn còn nguyên cành, còn hoa lá đầy đủ. Mà hình như không ai lo lắng chuyện mất trộm cả. Cô cho biết ở xứ cô thì một vườn hoa để trống như thế không thể nào tránh bị người ta hái trộm được. Cô đến từ một nước Tây phương giàu có, tôi xin miễn nói tên để tránh gieo rắc thêm thành kiến bất công về một quốc gia khác. Có thể cô ta quen sống trong một thành phố lớn với những thành phần dân chúng hỗn tạp, cho nên cô mới có những kinh nghiệm đáng buồn như thế.
Chúng ta cũng không nên nuôi một thành kiến xấu về người Việt Nam mình, sau khi đọc bản tin tả cảnh người ta giành giật nhau cướp những cành hoa, những chậu hoa trong những cuộc triển lãm, hội chợ gần đây. Cảnh này đã diễn ra và được báo chí tường thuật từ năm 2007 đến năm nay, khiến nhiều người Việt cảm thấy xấu hổ lây rồi cũng sinh ra thành kiến xấu đối với đồng bào mình. Có người còn vạch ra rằng chuyện đó chỉ thấy xảy ra ở Hà Nội liên tiếp mấy năm, không thấy tại các thành phố lớn khác.
Chúng ta không nên nghĩ oan về đồng bào mình, về đồng bào sống ở Hà Nội. Tôi nghĩ rằng những bạn trẻ đi cướp hoa ở hội chợ mấy năm liền đó chỉ là những nhóm thiểu số, không tiêu biểu cho người dân cả một đô thị được. Chính đám trẻ này có thể là những thanh niên cũng được gia đình giáo dục, hàng ngày họ không sống như vậy. Họ đua nhau cướp giật hoa giống như tham dự một trò chơi, trong lúc ham vui vì tranh đua với chúng bạn, họ không biết, hoặc biết mà không có ý thức được rằng đi cướp hoa như vậy là một hành động xấu. Nói chung, lấy cái gì không phải của mình là một hành động xấu. Họ ít có dịp được thấy những tấm gương tốt để noi theo vì xã hội bây giờ đang gặp lúc đi xuống. Có thể chỉ vì cả xã hội đã làm họ mất đi ý thức bén nhậy về cái xấu và cái tốt, thiện và bất thiện. Nhưng nếu có người chỉ bảo, khi biết có những xã hội nơi người ta có lối sống lành mạnh, thanh cao hơn, chính những thanh niên đó vẫn có khả năng quay trở về, lại thành những người công dân lương hảo.
Mười lăm năm trước đây, ở một khu phía Nam thành phố Los Angeles đã có cảnh cướp phá, hôi của, sau khi mấy người Mỹ gốc Phi Châu biểu tình phản đối cảnh sát ngược đãi một thanh niên cùng màu da. Trước đó mấy chục năm, ở New York cũng có cảnh như vậy. Khi trông thấy hình ảnh những người đàn ông, đàn bà cười tươi như đi xem hội, cùng nhau khiêng những chiếc tủ, chiếc giường cướp lấy từ cửa hàng đi ra, nghễu nghện bước đi trên lề đường ở New York, chúng ta có cảm tưởng như nền đạo lý của cả một nhóm người, hoặc cả một thành phố đang tan rã.
Trông như loài người đang quay trở lại thời man dã, hết đường cứu chữa! Và từ đó, chúng ta phát sinh những thành kiến, phân biệt chủng tộc, thành kiến rất bất công.
Sau vài chục năm, nhớ lại và nghĩ lại, chúng ta phải thấy rằng chính hoàn cảnh xã hội chung quanh chia phần trách nhiệm về những vụ cướp bóc và bạo loạn đó. Khi con người thoát được ra khỏi hoàn cảnh sống trong u tối, tuyệt vọng và hết niềm tin, thì người ta ai cũng có thể quay trở lại sống như những con người lương hảo.
Trong cuốn tiểu thuyết “Beloved” (Cưng Yêu) của nhà văn Toni Morrison (giải Nobel Văn Chương) có nhân vật Baby Suggs, một phụ nữ da đen nô lệ vào giữa thế kỷ 19 ở Mỹ. Bà sống trong xã hội những người nô lệ da đen trong các đồn điền. Họ bị chủ nhân coi như súc vật, như đồ vật, những cái máy làm việc để chủ nhân khai thác sinh lời, những tài sản được mua, bán, dùng làm vật cầm thế, đem cho người khác thuê sử dụng, không phải là những con người. Người đàn bà sinh con chỉ được gần con ba tuần rồi phải ra đồng làm việc, có khi không còn được thấy đứa con của mình nữa. Phần lớn các đứa con không biết bố là ai. Người chồng bị đem bán đi thì người vợ gá nghĩa với người khác. Bà mẹ có 8 đứa con, với 6 người đàn ông khác nhau. Khi bị đối xử như súc vật, người ta cũng tập thói quen sống như súc vật.
Baby Suggs may mắn được bán cho hai vợ chồng trại chủ tốt. May mắn được bán cùng một đứa con trai 10 tuổi. Giá bán thằng bé cao hơn giá bà mẹ vì bà bị tật ở hông, chân đi không vững (như một con chó chỉ có 3 chân, Suggs tự mô tả). Khi làm việc cho bà chủ tốt bụng, lâu lâu Suggs cũng ăn cắp vài món thừa đem về cho con ăn, hay một mảnh khăn mầu cho chính mình. Ðứa con lớn lên xin làm việc thêm trong những ngày được nghỉ, lấy tiền chuộc mẹ. Một nô lệ đàn ông khỏe mạnh thời đó bán được khoảng 900 đô la. Baby Suggs cuối cùng được chủ nhân bán chịu, cho nợ hơn 100 đô la, bà được ký giấy trả tự do.
Tự do để làm gì, Baby Suggs tự hỏi, khi một mụ nô lệ đã ngoài 60 tuổi, chân bước không vững, loạng quạng như một con chó 3 chân?
Nhưng ngay sau khi được “giải phóng,” thành một con người tự do, Suggs nhìn hai bàn tay của mình. Một ý nghĩ chợt đến: Những bàn tay này bây giờ thuộc về mình. Ðây là tay MÌNH (in nghiêng trong sách).” Tự nhiên, Suggs đưa tay sờ lên ngực: Tim mình đập. Ðây là nhịp đập của trái tim CỦA MÌNH.
Trở thành một con người tự do, ông chủ đưa tới gặp hai người da trắng chuyên giúp đỡ các nô lệ được giải phóng, Suggs được họ giới thiệu đi làm phụ bếp ở một quán ăn. Ðược trả lương. Ðây là một điều hoàn toàn mới lạ đối với một người từng làm thân nô lệ: Làm việc, rồi được trả lương! Suggs dành dụm tiền bạc, nuôi ba đứa cháu, và khi có thời giờ thì giúp đỡ người khác. Bà trở thành một bà mẹ của bao nhiêu người da đen tự do khác. Ngôi nhà bà trở thành nơi người ta đến xin bà cố vấn, hoặc họ tới chỉ để gặp gỡ trò chuyện với nhau, nhắn tin cho những người ở xa. Ngôi nhà trở thành nơi che chở, giấu diếm và nuôi nấng những người nô lệ trốn chủ từ xa tới. Bà trở thành một cột trụ của “cộng đồng” da đen trong làng, trở thành một người giảng đạo vào những chiều Chủ Nhật, mặc dù không có nhà thờ mà Suggs cũng không biết đọc để học Thánh Kinh.
Một con người có thể hoàn toàn thay đổi, tự tạo một nhân phẩm cho chính mình, khi hoàn cảnh sống thay đổi. Những người bị đối đãi như súc vật thì dần dần có thể cũng sống theo lối cầm thú. Một người tự do, tự ý thức được giá trị của mình, thì sẽ trở nên một con người có giá trị.
Tại sao người ta đi ăn cướp hoa? Chúng ta có thể tự hỏi, chính mình có thể có lúc cũng xúm lại giành giật mấy cành hoa, mấy bông hoa trong hội chợ hay không? Hoàn cảnh nào có thể đưa mình tới những hành động ăn cướp như vậy? Khi nào thì chúng ta giữ được ý thức đạo đức, và khi nào thì bỗng dưng chính mình lại cư xử như kẻ bất lương? Khi nào thì chúng ta cảm thấy mình là người có giá trị, có phẩm cách, và khi nào thì bỗng dưng không cần nghĩ tới tư cách, đến giá trị của mình nữa?
Tại sao người dân ở ngoại ô Montréal không bẻ trộm hoa trong công viên, ở ngoại ô Bangkok không lấy trộm chậu kiểng trong ngõ hẻm? Tại sao người Thụy Sĩ tin nhau đến mức không cần trông coi cửa hàng bán hoa, bán sữa? Khi dậy học ở Montréal tôi gặp mấy sinh viên người Mã Lai, họ cũng khoe ở vùng quê xứ họ có những quầy bán trái cây bên đường không cần người trông coi, giống như vậy.
Những câu hỏi trên đây nêu ra chỉ để cùng suy nghĩ. Chúng ta đều biết có câu trả lời, nhưng chỉ khi nào cả xã hội cùng tự vấn, tự tra hỏi, thì mới tìm được những câu trả lời thiết thực. Nhiều người cho là cảnh các bạn trẻ cướp hoa xẩy ra là tại thiếu giáo dục gia đình. Nhiều người cho là vì nhà trường đã xuống dốc. Nhưng vì đâu mà cả gia đình lẫn học đường đều thất bại? Phải nhìn vào toàn cảnh xã hội nước ta. Như Giáo Sư Hoàng Tụy mới nhận xét về giáo dục trên tạp chí Tia Sáng vào Tháng Mười năm 2009:
“...Muốn lay chuyển tình hình phải thừa nhận nguyên nhân chủ yếu, nguyên nhân của mọi nguyên nhân, đó là lãnh đạo, quản lý bất cập, bất cập cả tâm lẫn tầm và từ trên xuống dưới.”
Ngô Nhân Dụng Dân New York đang nổi giận khi nhật báo Times tiết lộ cửa hàng bán quần áo H&M có chính sách đem vứt bỏ những thứ hàng ế, trước khi vứt đi họ cho nhân viên cắt xé những cái áo, những găng tay để không ai còn dùng được nữa. Cửa hàng này thanh minh rằng họ cũng đã đem tặng các hội từ thiện nhiều quần áo khi không bán được. Nhưng chắc mọi người sẽ không hài lòng với lời giải thích đó. Chắc cả nước Mỹ sẽ lên tiếng phản đối. Còn người Việt Nam, người mình nghĩ gì về cảnh những thanh niên đi cướp hoa ở hội chợ Tết, suốt mấy năm liền? Có ai chịu trách nhiệm hay không?
Xin kể mấy câu chuyện ở nước khác trước đã. Mấy lần đến Thái Lan, sống ở một vùng ngoại ô Bangkock hàng tháng trời, tôi sinh lòng kính trọng người dân Thái chỉ vì thấy trong những ngõ hẻm người ta hay treo những giỏ hoa phong lan trên thân cây, ngay bên ngoài hàng rào; những giỏ lan trổ bông diễm lệ, mà không ai sợ có kẻ đến lấy trộm cả giỏ hoa đem đi mất. Cũng vậy, khi sống một tuần trong một làng nhỏ ở Thụy Sĩ, thấy những quầy bán hoa không có người trông coi, ai mua hoa cứ theo giá đề mà trả tiền vào một cái hộp kim loại để trên bàn, tôi cũng ngạc nhiên và cảm phục. Một nhà khác trong làng, bán sữa và trứng gà cũng vậy, ai muốn mua cứ mở tủ lạnh ra, lấy chai sữa hay hộp trứng gà, trả tiền trong cái lon, cũng đặt trong cái tủ lạnh đó. Không ai trông nom, canh gác.
Trong dân tộc nào cũng có người tốt, người xấu. Nhưng khi đến một xứ, nhìn vào cách cư xử thấy người ta tin cẩn vào tính thật thà của nhau, nghĩ chung quanh mình toàn người lương thiện, gặp người lạ nào trước hết cũng cứ giả thiết đó là một người lương thiện đã, thì mình phải công nhận người dân ở nước đó đa số họ sống có đạo lý, đó là một dân tộc đáng khâm phục.
Hồi ở thành phố Montréal bên Canada, nhà tôi ở gần một vườn hoa hồng, mang tên ông Thủ Tướng Pierre Trudeau - ông là đại biểu của địa hạt Mont Royal này trong Quốc Hội. Vườn trồng rất nhiều giống hoa, đủ thứ màu kể cả những màu lạ, cây cao cây thấp, chỉ toàn là hoa hồng, xếp đặt rất khéo. Cuối Tháng Tư mỗi năm, các gốc hồng được bới ra khỏi lớp lá mục phủ kín suốt Mùa Ðông; những gốc hồng được phơi ra dưới nắng rạo rực trổ mầm non, nụ hoa lên chúm chím, rồi trong một, hai tháng, hoa bắt đầu đua nở.
Một bữa tôi gặp một cô gái đang đi dạo trong vườn, lâu lâu cô nghiêng mình cúi mái tóc vàng xuống để thử mùi hương một đóa hoa. Cô hỏi: Vườn hoa này là của ai vậy? Khi biết đây là một công viên, cô lại thắc mắc: Vườn không có hàng rào, không ai canh gác, thế không sợ đêm có người đến hái trộm hay sao? Không biết trả lời thế nào, tôi chỉ nêu nhận xét là sau khi đã ở đây hàng chục năm, tôi luôn luôn thấy sau mấy tháng Hè các gốc hồng vẫn còn nguyên cành, còn hoa lá đầy đủ. Mà hình như không ai lo lắng chuyện mất trộm cả. Cô cho biết ở xứ cô thì một vườn hoa để trống như thế không thể nào tránh bị người ta hái trộm được. Cô đến từ một nước Tây phương giàu có, tôi xin miễn nói tên để tránh gieo rắc thêm thành kiến bất công về một quốc gia khác. Có thể cô ta quen sống trong một thành phố lớn với những thành phần dân chúng hỗn tạp, cho nên cô mới có những kinh nghiệm đáng buồn như thế.
Chúng ta cũng không nên nuôi một thành kiến xấu về người Việt Nam mình, sau khi đọc bản tin tả cảnh người ta giành giật nhau cướp những cành hoa, những chậu hoa trong những cuộc triển lãm, hội chợ gần đây. Cảnh này đã diễn ra và được báo chí tường thuật từ năm 2007 đến năm nay, khiến nhiều người Việt cảm thấy xấu hổ lây rồi cũng sinh ra thành kiến xấu đối với đồng bào mình. Có người còn vạch ra rằng chuyện đó chỉ thấy xảy ra ở Hà Nội liên tiếp mấy năm, không thấy tại các thành phố lớn khác.
Chúng ta không nên nghĩ oan về đồng bào mình, về đồng bào sống ở Hà Nội. Tôi nghĩ rằng những bạn trẻ đi cướp hoa ở hội chợ mấy năm liền đó chỉ là những nhóm thiểu số, không tiêu biểu cho người dân cả một đô thị được. Chính đám trẻ này có thể là những thanh niên cũng được gia đình giáo dục, hàng ngày họ không sống như vậy. Họ đua nhau cướp giật hoa giống như tham dự một trò chơi, trong lúc ham vui vì tranh đua với chúng bạn, họ không biết, hoặc biết mà không có ý thức được rằng đi cướp hoa như vậy là một hành động xấu. Nói chung, lấy cái gì không phải của mình là một hành động xấu. Họ ít có dịp được thấy những tấm gương tốt để noi theo vì xã hội bây giờ đang gặp lúc đi xuống. Có thể chỉ vì cả xã hội đã làm họ mất đi ý thức bén nhậy về cái xấu và cái tốt, thiện và bất thiện. Nhưng nếu có người chỉ bảo, khi biết có những xã hội nơi người ta có lối sống lành mạnh, thanh cao hơn, chính những thanh niên đó vẫn có khả năng quay trở về, lại thành những người công dân lương hảo.
Mười lăm năm trước đây, ở một khu phía Nam thành phố Los Angeles đã có cảnh cướp phá, hôi của, sau khi mấy người Mỹ gốc Phi Châu biểu tình phản đối cảnh sát ngược đãi một thanh niên cùng màu da. Trước đó mấy chục năm, ở New York cũng có cảnh như vậy. Khi trông thấy hình ảnh những người đàn ông, đàn bà cười tươi như đi xem hội, cùng nhau khiêng những chiếc tủ, chiếc giường cướp lấy từ cửa hàng đi ra, nghễu nghện bước đi trên lề đường ở New York, chúng ta có cảm tưởng như nền đạo lý của cả một nhóm người, hoặc cả một thành phố đang tan rã.
Trông như loài người đang quay trở lại thời man dã, hết đường cứu chữa! Và từ đó, chúng ta phát sinh những thành kiến, phân biệt chủng tộc, thành kiến rất bất công.
Sau vài chục năm, nhớ lại và nghĩ lại, chúng ta phải thấy rằng chính hoàn cảnh xã hội chung quanh chia phần trách nhiệm về những vụ cướp bóc và bạo loạn đó. Khi con người thoát được ra khỏi hoàn cảnh sống trong u tối, tuyệt vọng và hết niềm tin, thì người ta ai cũng có thể quay trở lại sống như những con người lương hảo.
Trong cuốn tiểu thuyết “Beloved” (Cưng Yêu) của nhà văn Toni Morrison (giải Nobel Văn Chương) có nhân vật Baby Suggs, một phụ nữ da đen nô lệ vào giữa thế kỷ 19 ở Mỹ. Bà sống trong xã hội những người nô lệ da đen trong các đồn điền. Họ bị chủ nhân coi như súc vật, như đồ vật, những cái máy làm việc để chủ nhân khai thác sinh lời, những tài sản được mua, bán, dùng làm vật cầm thế, đem cho người khác thuê sử dụng, không phải là những con người. Người đàn bà sinh con chỉ được gần con ba tuần rồi phải ra đồng làm việc, có khi không còn được thấy đứa con của mình nữa. Phần lớn các đứa con không biết bố là ai. Người chồng bị đem bán đi thì người vợ gá nghĩa với người khác. Bà mẹ có 8 đứa con, với 6 người đàn ông khác nhau. Khi bị đối xử như súc vật, người ta cũng tập thói quen sống như súc vật.
Baby Suggs may mắn được bán cho hai vợ chồng trại chủ tốt. May mắn được bán cùng một đứa con trai 10 tuổi. Giá bán thằng bé cao hơn giá bà mẹ vì bà bị tật ở hông, chân đi không vững (như một con chó chỉ có 3 chân, Suggs tự mô tả). Khi làm việc cho bà chủ tốt bụng, lâu lâu Suggs cũng ăn cắp vài món thừa đem về cho con ăn, hay một mảnh khăn mầu cho chính mình. Ðứa con lớn lên xin làm việc thêm trong những ngày được nghỉ, lấy tiền chuộc mẹ. Một nô lệ đàn ông khỏe mạnh thời đó bán được khoảng 900 đô la. Baby Suggs cuối cùng được chủ nhân bán chịu, cho nợ hơn 100 đô la, bà được ký giấy trả tự do.
Tự do để làm gì, Baby Suggs tự hỏi, khi một mụ nô lệ đã ngoài 60 tuổi, chân bước không vững, loạng quạng như một con chó 3 chân?
Nhưng ngay sau khi được “giải phóng,” thành một con người tự do, Suggs nhìn hai bàn tay của mình. Một ý nghĩ chợt đến: Những bàn tay này bây giờ thuộc về mình. Ðây là tay MÌNH (in nghiêng trong sách).” Tự nhiên, Suggs đưa tay sờ lên ngực: Tim mình đập. Ðây là nhịp đập của trái tim CỦA MÌNH.
Trở thành một con người tự do, ông chủ đưa tới gặp hai người da trắng chuyên giúp đỡ các nô lệ được giải phóng, Suggs được họ giới thiệu đi làm phụ bếp ở một quán ăn. Ðược trả lương. Ðây là một điều hoàn toàn mới lạ đối với một người từng làm thân nô lệ: Làm việc, rồi được trả lương! Suggs dành dụm tiền bạc, nuôi ba đứa cháu, và khi có thời giờ thì giúp đỡ người khác. Bà trở thành một bà mẹ của bao nhiêu người da đen tự do khác. Ngôi nhà bà trở thành nơi người ta đến xin bà cố vấn, hoặc họ tới chỉ để gặp gỡ trò chuyện với nhau, nhắn tin cho những người ở xa. Ngôi nhà trở thành nơi che chở, giấu diếm và nuôi nấng những người nô lệ trốn chủ từ xa tới. Bà trở thành một cột trụ của “cộng đồng” da đen trong làng, trở thành một người giảng đạo vào những chiều Chủ Nhật, mặc dù không có nhà thờ mà Suggs cũng không biết đọc để học Thánh Kinh.
Một con người có thể hoàn toàn thay đổi, tự tạo một nhân phẩm cho chính mình, khi hoàn cảnh sống thay đổi. Những người bị đối đãi như súc vật thì dần dần có thể cũng sống theo lối cầm thú. Một người tự do, tự ý thức được giá trị của mình, thì sẽ trở nên một con người có giá trị.
Tại sao người ta đi ăn cướp hoa? Chúng ta có thể tự hỏi, chính mình có thể có lúc cũng xúm lại giành giật mấy cành hoa, mấy bông hoa trong hội chợ hay không? Hoàn cảnh nào có thể đưa mình tới những hành động ăn cướp như vậy? Khi nào thì chúng ta giữ được ý thức đạo đức, và khi nào thì bỗng dưng chính mình lại cư xử như kẻ bất lương? Khi nào thì chúng ta cảm thấy mình là người có giá trị, có phẩm cách, và khi nào thì bỗng dưng không cần nghĩ tới tư cách, đến giá trị của mình nữa?
Tại sao người dân ở ngoại ô Montréal không bẻ trộm hoa trong công viên, ở ngoại ô Bangkok không lấy trộm chậu kiểng trong ngõ hẻm? Tại sao người Thụy Sĩ tin nhau đến mức không cần trông coi cửa hàng bán hoa, bán sữa? Khi dậy học ở Montréal tôi gặp mấy sinh viên người Mã Lai, họ cũng khoe ở vùng quê xứ họ có những quầy bán trái cây bên đường không cần người trông coi, giống như vậy.
Những câu hỏi trên đây nêu ra chỉ để cùng suy nghĩ. Chúng ta đều biết có câu trả lời, nhưng chỉ khi nào cả xã hội cùng tự vấn, tự tra hỏi, thì mới tìm được những câu trả lời thiết thực. Nhiều người cho là cảnh các bạn trẻ cướp hoa xẩy ra là tại thiếu giáo dục gia đình. Nhiều người cho là vì nhà trường đã xuống dốc. Nhưng vì đâu mà cả gia đình lẫn học đường đều thất bại? Phải nhìn vào toàn cảnh xã hội nước ta. Như Giáo Sư Hoàng Tụy mới nhận xét về giáo dục trên tạp chí Tia Sáng vào Tháng Mười năm 2009:
“...Muốn lay chuyển tình hình phải thừa nhận nguyên nhân chủ yếu, nguyên nhân của mọi nguyên nhân, đó là lãnh đạo, quản lý bất cập, bất cập cả tâm lẫn tầm và từ trên xuống dưới.”
Cuộc cách mạng khăn tang ?
_Vương Bình.
Những ngày gần đây, biến cố Đồng Chiêm mà cụ thể là Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam huy động một lực lượng hùng hậu với những trang thiết bị chống khủng bố chỉ để phá bỏ Thánh Giá Chúa Kitô được giáo dân Đồng Chiêm xây trên Núi Thờ – nơi được xem là chốn linh thiêng, nơi an nghỉ ngàn thu của nhi đồng- đang ngày càng nóng theo từng giờ từng phút. Không cần liệt kê về những hãng thông tấn nước ngoài hay các hãng truyền thông tôn giáo đã đang và sẽ còn theo dõi và đăng tải biến cố này trước thái độ điên cuồng của những người cầm quyền cộng sản Việt Nam không còn tính người đã nhẫn tâm không những phá biểu tượng tôn giáo mà còn đánh đàn bà con gái thân mình bầm nát và máu me loang lổ!
Trong quá khứ, ai trong chúng ta đều biết trên thế giới, đứng trước sự thối nát cũng như xem thường người dân của các thể chế đương quyền khi ra sức lộng hành, đi ngược lại lợi ích của dân tộc, của đất nước,… sẽ dẫn đến hậu quả là người dân thuộc đủ mọi thành phần, không phân biệt tôn giáo, đảng phái, mầu da, tất cả sẽ nổi dậy trở thành một cuộc cách mạng không cần súng đạn, không cần đổ máu mà chúng ta đã có dịp chứng kiến xảy ra ở các nước Đông Âu với những tên gọi rất “nên thơ” như cách mạng nhung, cách mạng hoa hồng,…
Những vành khăn tang xuất hiện ở Đồng Chiêm với cả ngàn người giáo dân từ những em nhỏ đến những vị bô lão đầu chít khăn tang, treo cờ tang chế để cho thế giới biết rằng chính nơi đây, tà quyền cộng sản Việt Nam đã xúc phạm đến niềm tin linh thánh của họ, đập phá Thánh Giá Chúa Kitô là biểu tượng linh thánh tôn giáo của hai tỷ con người trên kắp địa cầu này. Đây là một sự "phạm thánh" niềm tin tôn giáo công khai và hung bạo nhất của cộng sản Việt Nam mà thiết nghĩ trên thế giới này chưa có thể chế nào hung bạo bằng. Nó vượt qua sự tàn ác của chế độ Taleban khi đánh phá tượng Đức Phật là biểu tượng cao quý của các tín đồ Phật giáo.
Nói đến vành khăn tang là nói đến sự đau thương tột cùng của người thân, của tang quyến về sự mất mát, sự ra đi của người thân yêu. Nhưng ở đây – biến cố Đồng Chiêm, nó không dừng lại trong phạm vi gia đình Thiên Chúa Giáo, của giáo xứ Đồng Chiêm, của Tổng giáo phận Hà Nội hay của toàn thể Giáo hội Công Giáo Việt Nam mà là của toàn thể dân tộc Việt Nam và cũng là của toàn thể những người có cùng một niềm tin vào Thánh Giá Chúa Kitô trên toàn thế giới.
Từ nhiều năm qua, dân chúng Việt Nam từ khắp xóm làng đến thành thị, đâu đâu dân chúng cũng oán than và đau khổ vì nhân quyền của người dân bị chà đạp, nhà cửa ruộng vườn bị chiếm đoạt, người lao động vất vả nhưng không đủ cơm ăn mà còn bị cường quyền lạm dụng công sức cho lợi ích riêng tư của bọn cầm quyền... thế nên nảy sinh không biết bao nhiêu "dân oan" về mọi phương diện. Đang khi đó thì những người cầm quyền chỉ biết vinh thân phì da, cho cho quyền lợi riêng tư của họ. Họ sống trong nhung lụa đang khi xã hội lan tràn không những chỉ tham ô thối nát, xa đoạ, mà dân chúng thì nghèo khổ vô cùng. Tiếng than van đã thấu trời xanh.
Vì vậy không chỉ những giáo dân ở Đồng Chiêm phải mang trên đầu vành khăn tang thương đau và oan ức, nhưng xét chung và hiểu sâu xa hơn thì có thể cả toàn dân Việt Nam nếu cần diễn đạt nỗi đau thương oan ức của mình thì cũng đã chít vành khăn tang trên đầu rồi! Thế biết đâu một ngày không xa nào đó sẽ bùng phát lên một cuộc cách mạng “khăn tang”.
Bởi cuộc cách mạng khăn tang này là cơ hội để người dân Việt Nam gióng lên tiếng nói thống thiết của mình trước một chế độ hại dân bán nước, hèn nhát trước ngoại bang xâm chiếm nhưng lại hống hách bắt nạt người dân. Một chế độ đốn hèn như thế chắc chắn một ngày nào đó toàn dân cũng sẽ lên tiếng loại trừ.
Cuộc cách mạng khăn tang này là cuộc cách mạng của toàn thể dân tộc Việt Nam. Bởi mầu trắng khăn tang là mầu tang thương của toàn thể dân tộc chúng ta chứ không phải của riêng tầng lớp giai cấp hay hệ phái tôn giáo nào.
Đến một lúc nào đó, mỗi con dân Việt Nam thuộc mọi tôn giáo, những "dân oan" thuộc mọi lãnh vực, cũng sẽ chít trên đầu vành khăn tang để phản đối tà quyền cộng sản Việt Nam ra tay tàn phá biểu tượng tôn giáo – một biểu tượng mà bất luận là ai không phân biệt mầu da giai cấp, đảng phái, tôn giáo đều tôn trọng; chít lên đầu vành khăn tang là chúng ta chia sẻ với nổi đau mất mát của đồng bào mình cách thiết thực nhất; chít lên đầu vành khăn tang ngay từ bây giờ là chúng ta nói lên tiếng nói hiệp thông của chúng ta với những anh em có cùng hay không cùng tôn giáo bị tà quyền cộng sản Việt Nam bách hại; chít lên đầu chúng ta vành tang trắng để tang cho một dân tộc bị cộng sản chà đạp và đàn áp cách thậm tệ; chít lên đầu chúng ta vành tang trắng để bảo vệ chủ quyền của tổ quốc đang bị bè lũ tư bản đỏ bán đứng cho ngoại xâm.
Và khi mỗi người Việt Nam bị oan ức chít lên đầu vành tang trắng để xem Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam sẽ dùng thủ đoạn gì để đàn áp, bởi đơn giản một điều, khi thấy trên đầu của ai đang đội vành tang trắng thì dù là một kẻ đầu trộm đuôi cướp, đầu đường xó chợ, hạng lưu manh cũng phải kiêng nể. Còn đối với người cộng sản vô thần và khát máu, hãy chờ xem họ có còn lương tri hay không khi đứng trước sự phản kháng của toàn thể dân tộc trước phong trào cách mạng khăn tang này.
Mỗi người con dân đất Việt, ý thức được sự bạt nhược, lưu manh của những người cầm quyền cộng sản Việt Nam, hãy cùng nhau đoàn kết, nắm tay nhau, cùng nhau để tang cho dân tộc, cho đồng bào bị cộng sản áp bức, cho tổ quốc lâm nguy, cho bờ cõi của tổ tiên để lại đang bị cộng sản Việt Nam bán cho ngoại xâm. Ước gì cuộc cách mạng khăn tang sẽ trở thành cuộc cách mạng đánh động lương tâm thế giới, giúp cho người dân Việt Nam sớm có được sự công lý, tự do, nhân quyền và dân chủ đích thực chứ không phải là bánh vẽ do cộng sản VN vẽ ra từ mấy chục năm nay.
Vương Bình
_Vương Bình.
Những ngày gần đây, biến cố Đồng Chiêm mà cụ thể là Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam huy động một lực lượng hùng hậu với những trang thiết bị chống khủng bố chỉ để phá bỏ Thánh Giá Chúa Kitô được giáo dân Đồng Chiêm xây trên Núi Thờ – nơi được xem là chốn linh thiêng, nơi an nghỉ ngàn thu của nhi đồng- đang ngày càng nóng theo từng giờ từng phút. Không cần liệt kê về những hãng thông tấn nước ngoài hay các hãng truyền thông tôn giáo đã đang và sẽ còn theo dõi và đăng tải biến cố này trước thái độ điên cuồng của những người cầm quyền cộng sản Việt Nam không còn tính người đã nhẫn tâm không những phá biểu tượng tôn giáo mà còn đánh đàn bà con gái thân mình bầm nát và máu me loang lổ!
Trong quá khứ, ai trong chúng ta đều biết trên thế giới, đứng trước sự thối nát cũng như xem thường người dân của các thể chế đương quyền khi ra sức lộng hành, đi ngược lại lợi ích của dân tộc, của đất nước,… sẽ dẫn đến hậu quả là người dân thuộc đủ mọi thành phần, không phân biệt tôn giáo, đảng phái, mầu da, tất cả sẽ nổi dậy trở thành một cuộc cách mạng không cần súng đạn, không cần đổ máu mà chúng ta đã có dịp chứng kiến xảy ra ở các nước Đông Âu với những tên gọi rất “nên thơ” như cách mạng nhung, cách mạng hoa hồng,…
Những vành khăn tang xuất hiện ở Đồng Chiêm với cả ngàn người giáo dân từ những em nhỏ đến những vị bô lão đầu chít khăn tang, treo cờ tang chế để cho thế giới biết rằng chính nơi đây, tà quyền cộng sản Việt Nam đã xúc phạm đến niềm tin linh thánh của họ, đập phá Thánh Giá Chúa Kitô là biểu tượng linh thánh tôn giáo của hai tỷ con người trên kắp địa cầu này. Đây là một sự "phạm thánh" niềm tin tôn giáo công khai và hung bạo nhất của cộng sản Việt Nam mà thiết nghĩ trên thế giới này chưa có thể chế nào hung bạo bằng. Nó vượt qua sự tàn ác của chế độ Taleban khi đánh phá tượng Đức Phật là biểu tượng cao quý của các tín đồ Phật giáo.
Nói đến vành khăn tang là nói đến sự đau thương tột cùng của người thân, của tang quyến về sự mất mát, sự ra đi của người thân yêu. Nhưng ở đây – biến cố Đồng Chiêm, nó không dừng lại trong phạm vi gia đình Thiên Chúa Giáo, của giáo xứ Đồng Chiêm, của Tổng giáo phận Hà Nội hay của toàn thể Giáo hội Công Giáo Việt Nam mà là của toàn thể dân tộc Việt Nam và cũng là của toàn thể những người có cùng một niềm tin vào Thánh Giá Chúa Kitô trên toàn thế giới.
Từ nhiều năm qua, dân chúng Việt Nam từ khắp xóm làng đến thành thị, đâu đâu dân chúng cũng oán than và đau khổ vì nhân quyền của người dân bị chà đạp, nhà cửa ruộng vườn bị chiếm đoạt, người lao động vất vả nhưng không đủ cơm ăn mà còn bị cường quyền lạm dụng công sức cho lợi ích riêng tư của bọn cầm quyền... thế nên nảy sinh không biết bao nhiêu "dân oan" về mọi phương diện. Đang khi đó thì những người cầm quyền chỉ biết vinh thân phì da, cho cho quyền lợi riêng tư của họ. Họ sống trong nhung lụa đang khi xã hội lan tràn không những chỉ tham ô thối nát, xa đoạ, mà dân chúng thì nghèo khổ vô cùng. Tiếng than van đã thấu trời xanh.
Vì vậy không chỉ những giáo dân ở Đồng Chiêm phải mang trên đầu vành khăn tang thương đau và oan ức, nhưng xét chung và hiểu sâu xa hơn thì có thể cả toàn dân Việt Nam nếu cần diễn đạt nỗi đau thương oan ức của mình thì cũng đã chít vành khăn tang trên đầu rồi! Thế biết đâu một ngày không xa nào đó sẽ bùng phát lên một cuộc cách mạng “khăn tang”.
Bởi cuộc cách mạng khăn tang này là cơ hội để người dân Việt Nam gióng lên tiếng nói thống thiết của mình trước một chế độ hại dân bán nước, hèn nhát trước ngoại bang xâm chiếm nhưng lại hống hách bắt nạt người dân. Một chế độ đốn hèn như thế chắc chắn một ngày nào đó toàn dân cũng sẽ lên tiếng loại trừ.
Cuộc cách mạng khăn tang này là cuộc cách mạng của toàn thể dân tộc Việt Nam. Bởi mầu trắng khăn tang là mầu tang thương của toàn thể dân tộc chúng ta chứ không phải của riêng tầng lớp giai cấp hay hệ phái tôn giáo nào.
Đến một lúc nào đó, mỗi con dân Việt Nam thuộc mọi tôn giáo, những "dân oan" thuộc mọi lãnh vực, cũng sẽ chít trên đầu vành khăn tang để phản đối tà quyền cộng sản Việt Nam ra tay tàn phá biểu tượng tôn giáo – một biểu tượng mà bất luận là ai không phân biệt mầu da giai cấp, đảng phái, tôn giáo đều tôn trọng; chít lên đầu vành khăn tang là chúng ta chia sẻ với nổi đau mất mát của đồng bào mình cách thiết thực nhất; chít lên đầu vành khăn tang ngay từ bây giờ là chúng ta nói lên tiếng nói hiệp thông của chúng ta với những anh em có cùng hay không cùng tôn giáo bị tà quyền cộng sản Việt Nam bách hại; chít lên đầu chúng ta vành tang trắng để tang cho một dân tộc bị cộng sản chà đạp và đàn áp cách thậm tệ; chít lên đầu chúng ta vành tang trắng để bảo vệ chủ quyền của tổ quốc đang bị bè lũ tư bản đỏ bán đứng cho ngoại xâm.
Và khi mỗi người Việt Nam bị oan ức chít lên đầu vành tang trắng để xem Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam sẽ dùng thủ đoạn gì để đàn áp, bởi đơn giản một điều, khi thấy trên đầu của ai đang đội vành tang trắng thì dù là một kẻ đầu trộm đuôi cướp, đầu đường xó chợ, hạng lưu manh cũng phải kiêng nể. Còn đối với người cộng sản vô thần và khát máu, hãy chờ xem họ có còn lương tri hay không khi đứng trước sự phản kháng của toàn thể dân tộc trước phong trào cách mạng khăn tang này.
Mỗi người con dân đất Việt, ý thức được sự bạt nhược, lưu manh của những người cầm quyền cộng sản Việt Nam, hãy cùng nhau đoàn kết, nắm tay nhau, cùng nhau để tang cho dân tộc, cho đồng bào bị cộng sản áp bức, cho tổ quốc lâm nguy, cho bờ cõi của tổ tiên để lại đang bị cộng sản Việt Nam bán cho ngoại xâm. Ước gì cuộc cách mạng khăn tang sẽ trở thành cuộc cách mạng đánh động lương tâm thế giới, giúp cho người dân Việt Nam sớm có được sự công lý, tự do, nhân quyền và dân chủ đích thực chứ không phải là bánh vẽ do cộng sản VN vẽ ra từ mấy chục năm nay.
Vương Bình
XIN MỞ LÒNG QUẢNG ĐẠI ĐỂ LIÊN ĐỚI VỚI CÁC NÔ LỆ THỜI ĐẠI MỚI
TRÊN ĐẤT MALAYSIA
Tôi là linh mục Trương văn Phúc, S.J., thuộc Tỉnh Dòng Tên Việt Nam.
Nhân dịp tôi được sai đến đất Malaysia để chăm sóc mục vụ cho các công nhân người công giáo và đồng thời cũng tìm cách liên đới với tất cả các công nhân Việt nam đang làm việc tại Địa Phận Melaka - Johor. Tôi đã đi thăm nhiều nơi làm việc, nơi ở và cả nhà tù nơi giam giữ những người Việtnam một cách bất công. Dưới đây, tôi xin chia sẻ một vài điều mắt thấy tai nghe với mong ước xin quý vị, vì tình đồng bào Việt Nam, hãy mở rộng lòng quảng đại để liên đới với các công nhân nhân Việt nam, “ những nô lệ thời đại mới”, trên đất Malaysia.
Ngày 06.03.09
Tôi đến thăm nhóm công nhân ở Masai, Johor Bahru, chị Nguyễn Thị Loan, đến từ vùng Phương Lâm - Đồng Nai, đang làm việc cho công ty Điện ôtô, cho biết: đã mấy tháng trôi qua rồi, mỗi tuần công nhân của nhả máy nơi chị đang làm việc chỉ được làm việc có 1 hoặc 2 ngày thôi. Công ty hiện đang không có việc làm. Những ngày không đi làm việc, các chị không được phép đi đâu cả, vì nhóm quản lý, cũng là nhóm môi giới, đã giữ tất cả các giấy tờ tùy thân của các chị hầu các chị không thể tìm việc làm nơi khác. Các chị xin họ giải quyết cho về nước nhưng không được chấp nhận.
Ngày 07.03.09
Tôi gặp gỡ các bạn công nhân ở Plentong, Johor Bahru. em Hải, một công nhân đến từ vùng Bắc Cạn, đang làm việc cho công ty Venture cho biết, cứ mổi lần các nữ công nhân có việc đi đâu đó về sau 10 giờ tối, thì ông bảo vệ block nhà trọ lại ép các cô phải ngũ với ông với lập luận xàm sở: “ mày đi ngủ với bạn trai được thì mày cũng ngủ với tao được, vì tao cũng là đàn ông vậy”. Hải cũng cho biết hôm gần tết vừa rồi, có một nữ công nhân bị mệt đang khi làm việc, cô này được người quản lý sản xuất đưa vào nhà vệ sinh để ngồi nghỉ ở đó. Thế nhưng, vì thấy lâu không quay trở lại làm việc nên người quản lý nay cửa nhà vệ sinh vào gọi. Khi cửa nhà vệ sinh mở ra thì thấy cô ta đã chết trong nhà vệ sinh.
Ngày 08.03.09
Tôi đến thăm nhóm công nhân vùng Krupong, Melaka. Giang, một cô gái đến từ Phú Thọ, cho biết: cô và các bạn trong nhóm bị bán cho các nơi làm việc đến 2 lần rồi. Lúc còn ở Việt nam, các cô ký hợp đồng làm việc cho một nơi, nhưng qua đến Malaysia, các cô bị đưa tới làm việc moat nơi khác. Chủ hợp đồng củ đã bán các cô cho một công ty khác để kiếm lời. Giang cũng cho biết, khi đến làm việc, nếu ai đó không làm được việc như chủ mong muốn, thì họ bị trả về cho chủ môi giới. Ở đó, họ bị nhốt không cho ăn, bị đánh đập, bị uy hiếp, được răn bảo đôi điều và sau đó là được bán trở lại cho moat công ty khác. Theo những người bạn của Giang cho biết, có ít nhất 2 trường hợp nữ công nhân Việt Nam bị bán làm người giúp việc nhà và cũng là vợ bé của gia đình người Malaysia. Họ gặp các chị này ở chợ, đang khi các chị gánh trái cây đi bán hàng rong. bên cạnh các chị có một người vừa canh gác vừa thu tiền. Hiện các chị đã có con với người Malaysia nhưng chỉ là người giúp việc nhà không được phép liên lạc với bất cứ người Việt nam nào.
Ngày 09.03.09
Báo chí Malaysia đưa tin: tại vùng Penang, cảnh sát đã nổ súng bắn chết 5 người Việt Nam bị nghi là cướp có vũ trang.
Thưởng, một công nhân đang làm việc ở Melaka đến thăm tôi và kể cho tôi nghe tình hình hiện tại của khá nhiều công nhân Việt Nam ở vùng Melaka. Họ chỉ thu nhập hàng tháng được từ 150 RM đến 250 RM ( # 50 - 70 USD), do chỉ có việc làm mỗi tuần được 3 buổi và mỗi buổi chỉ 8 giờ. Họ phải làm việc ăn lương theo số sản phẩm, nên càng ít việc họ càng ít thu nhập. Tuy thu nhập của họ đã quá thấp, vậy mà mỗi tháng họ còn bị những người môi giới thu 100 RM. Do vậy, tình trạng sống của họ nay đã đến mức bần cùng. Nhiều tháng qua, họ không đủ tiền sống chứ chưa nói đến có một chút gởi về phụ giúp gia đình.
Những người bạn của Thưởng kể cho tôi nghe chuyện họ đình công đòi công ty phải tìm việc làm cho công nhân. Công ty đã gọi Đại Sứ Quán Việt nam đến để đối thọai giải quyết. Sau khi nhóm Đại Sứ Quán ra về, tất cả những người có tên trong danh sách nhóm đình công hôm đó đều bị công ty phạt 500 RM trừ vào lương của họ. Thật là bất công và đau xót!
Ngày 11.03.09
Tôi đến thăm các bạn công nhân thuộc công ty Konica vùng ngọai ô Melaka. Bích, một bà mẹ trẻ đến từ Nghệ An, cho biết: hơn một tháng nay nhóm của cô cứ bị công ty hẹn đến 4 lần rồi sẽ có việc cho các cô làm. Thế nhưng đến giờ này thì vẫn thất nghiệp. Bích may mắn vì công ty Konica cho mỗi công nhân 200 RM như một khỏang phụ cấp thất nghiệp.
Tôi được chị Vi, một bà mẹ luống tuổi vùng Hương Sơn - Hà Tĩnh, kể về tình trạng của mình: Chị đến đây qua trung gian môi giới. Công ty của chị chẳng bao lâu sau khi chị đến làm việc thì bị phá sản. Chị bị môi giới nhốt, không cho đi làm ở bất cứ nơi đâu vì lý do chưa tìm được nơi làm việc mới cho chị. Bây giờ chị mới mượn được tiền của bạn bè để đóng cho môi giới 1700 RM hầu để có thể có tự do ra ngòai kiếm việc. Chị hiện tại đi lau dọn nhà cho các gia đình gần nơi chị ở với ao ước có đủ tiền trả nợ và mua vé máy bay về nước. Chia sẻ với tôi, chị bảo: “ Họ ác lắm em ơi! Aùc không tưởng tượng được!”
Ngày 14.03.09
Tôi đi thăm nhóm công nhân vùng Saleng. Lành. cô gái trẻ của vùng Lộc Mỹ - Nghệ An cho biết: cô đã sống nhờ bè bạn giúp đến nay là 3 tháng rồi. Cô bị thất nghiệp do công ty không có việc làm. Các cô không được phép đi đâu cả, và cũng không được giải quyết để tìm việc nơi khác hoặc là cho về nước. Các cô mong sao sớm có việc làm để có cơm an hằng ngày.
Ngày 15.03.09
Tôi đến thăm vùng Ulu Tiram, nơi vừa xảy ra nhiều vụ cướp liên tục tuần vừa qua. Tôi đã gặp 56 bà mẹ nông dân chân chất đến từ Hải Dương, Nghệ An, Hà Tĩnh, đang hoang mang trong nước mắt. Tối hôm 11.03.09 vừa qua, nhà của họ bị nhóm cướp 10 tên xông vào nhà khống chế và cướp đi tất cả những gì họ có: tiền bạc, điện thọai, thẻ ngân hàng… Chúng tôi có mang theo 100 Kg gạo và 120 gói mì gói để bày tỏ tình liên đới với họ, nhưng chừng đó thì thấm vào đâu so với nổi đau mật mát của họ. Do tình hình khủng hỏang kinh tế tòan cầu, nhiều công nhân bi thất nghiệp đã liều mình đi cướp của người khác. Họ làm thành những nhóm hổn hợp Ấn-Indonesia- Việtnam. Thường họ nhắm tấn công các nhà của những người không biết nói tiếng Malaysia hoặc tiếng Anh hòng để không biết báo cho cảnh sát kịp thời. Tôi cũng được biết tuần vừa qua ở Tanjong Lansat, các nhóm cướp cũng đã tấn công và rất nhiều người Việt nam trở thành nạn nhân đang cần được sự giúp đỡ.
Ngày 16.03.09
Ông John Foo, một tình nguyện viên giúp công nhân Việtnam ở Majodi Center đưa tôi đến thăm một gia đình người tàu địa phương. Tôi đến đó để cám ơn gia đình này vì vừa qua họ đã giúp 2 chiếc quan tài để chôn 2 người công nhân Việtnam xấu số, chết trong một giấc ngũ đêm sau khi làm việc tăng ca quá tải. Dạo này một số công ty, như công ty Venture … ép công nhân làm việc đôi lúc không cho nghĩ ăn trưa. Một số công ty còn lấy lý do tiết kiệm điện nên không cho chay quạt thông gió khi các công nhân làm việc. Do vậy, các công nhân bị ngộp và dẫn đến tình trạng tử vong là tất yếu. Khi các công nhân tử vong trong nhà máy thì công ty còn bồi thường chút ít, nhưng khi họ tử vong ở nhà thì công ty hòan tòan phủi tay, không hề bày tỏ liên đới chút nào.
Ông John Foo cũng đem tôi đến gặp chị Phạm Thị Kim Tuyến, một bà mẹ trẻ đến từ Thạnh Phú - Bến Tre. Đây là người mà ông John Foo vừa dùng mưu kế để giúp chị thóat khỏi nhà của ông Jame đang giam giữ chị một cách phi nhân. Chị Tuyến được công ty môi giới Sona tại Sài gòn do ông Trường làm giám đốc đưa đi làm công nhân lại Malaysia vào ngày 20/8/2007. Đến Malaysia, chị được công ty môi giới của ông Jame ( ở vùng Putri Wangse) tiếp nhận. Sau đó, công ty môi giới này đưa chị đi làm ở công ty Sinco. Lương của chị bị môi giới ăn chặn đến 50%. Từ tháng 11/2008 đến nay, chị trở bệnh. Công ty môi giới đã đưa đi khám sức khõe đến 5 lần và kết quả là chị bị suy tim, rối loan chức năng nhiều bộ phận nội tạng. Theo chị cho biết ông Jame đã gọi chị đến văn phòng để lo thủ tục về nước, nhưng khi chi lên văn phòng thì chị bị nhốt chung với chừng 20 người khác trong một căn nhà do vợ ông Jame làm quản giáo. Mấy tháng trôi qua, chị chỉ được ăn mỗi ngày một bữa. Một số người Việt Nam biết nơi này và thỉnh thỏang có tiếp tế cháo cho chị. Cách nay gần một tuần, do nhờ một cuộc đột nhập khám xét nhà của cảnh sát, vợ của ông Jame mới cho nhóm bị nhốt này chuyển sang công việc “ đục tường nhà” như là một trá hình tránh cảnh sát. Chị đã liên lạc được với chị Hồng làm phiên dịch cho cảnh sát địa phương sắp xếp cho chị chạy thoát. May thay, chị Hồng biết ông John Foo và nhờ ông đưa xe đến gần ngôi nhà ấy để chị Tuyết vượt ra cửa là đón ngay. Cuộc vượt ngục thành công. Hiện chị Tuyến đang ở với nhóm công nhân Việtnam ở địa chỉ: No. 7, Jalan Batik 8, Taman Putri Wangse, Ulu Tiram. Chi rất cần được giúp đỡ để có thể về nước trước khi bị nhóm ông Jame lùng bắt trở lại
Ngày 17.03.09
Tôi đến thăm trại tù Pekan Nanes ở địa chỉ 81500 Ponian Johor. Ở đó tôi biết có 57 trường hợp các công nhân Việt nam đang bị giam giữ. Họ vào đây vì không có giấy tờ tùy thân khi đi trên đường. Các công nhân việt nam đến làm việc ở Malaysia đều bị môi giới giữ hết giấy tờ tùy thân. Họ chỉ có một giấy do công ty cấp cho, với giới hạn đi lại trong một vùng nào đó có nhà máy họat động. Chính vì vậy, trong trường hợp họ ra khỏi vùng cho phép, họ sẽ bị bắt vì giấy tờ không hơp lệ. Đến đó, tôi trao một chút quà liên đới với các tù nhân. Tôi cũng được phép gặp một số trường hợp đặc biệt, đó là những trường hợp bị nhốt từ 7 đến 9 tháng không người đến thăm nuôi giúp đở. Trong số những trường hợp này, tôi đã gặp 8 bà mẹ đáng thương:1/ chị Quách Thị Hằng, số tù: 2531.08, 38 tuổi, đến từ hải Dương, bị nhốt ở nay 9 tháng rồi, với tội trạng: lãnh đạo nhóm công nhân đòi tăng lương. Theo chị kể: nhóm chị làm ca đêm mỗi giờ được trả 7 RM nhưng môi giới ăn chặn 5 RM, chỉ trả cho các chị 2 RM mà thôi. Do chị biết một chút tiếng Malaysia, nên chị em nhờ chị viết thư lên công ty. Chị đã bị công ty môi giới lừa và đem nộp cho cảnh sát với lý do không có giấy tờ tùy thân; 2/ Chị Nguyễn Thị Nga, số tù 474.09, 31 tuổi, đến từ Tân Kỳ - Nghệ An, do công ty May của chị bị phá sản, chị trốn chủ môi giới để đi phụ bán quán với mong ước kiếm tiền đủ trả nợ 27.000.000 VNĐ chi phí cho thủ tuc chị đi xuất khâu lao động. Chị bị bắt chẳng bao lâu sau khi trốn khỏi nhà của nhóm môi giới; 3/ chị Hà Thị Dinh, số tù 68.09; 4/ chị Hà Thị Nga, số tù 645.09; 5/ chị Hà Thị Hoa, số tù 646.09. nay là ba bà mẹ true đên từ Phú Thọ, cùng làm công ty may, cùng bị thất nghiệp, cùng trốn, cùng bị bắt khi chưa tìm được việc làm. 3 trường hợp khác:6/ chị Dương Hồng Hạnh; 7/ chị Lê Thị Ngọc; và 8/ chị Đinh Thị Hạnh, số tù 115.09, đều là những người bị bắt trong khi lang thang tìm việc làm do công ty của họ bị phá sản. Theo luật hơp đồng, khi công ty phá sản thi công ty phải trả chi phí vé may bay cho các công nhân về nước. Thế nhưng các công ty ở Malaysia lại mua công nhân từ các môi giới lao động nên họ không chịu trách nhiệm chi trả trong các khỏang này. Hiện nay 8 bà mẹ trong tù này đang sống trong những ngày không có niềm hy vọng. Họ không có bạn bè, thân quen trên đất Malaysia. Họ cho tôi số điện thoại ở gia đình của họ tại Việtnam. Tôi đã liên lạc với gia đình họ và cũng không sao giải quyết được, vì gia đình họ nghèo quá. Tôi có hỏi khỏan chi phí cho mọi thủ tục, kể cả vé máy bay cho một trường hợp từ trong tù về ViệtNam, và được cảnh sát cho biết: mỗi trường hợp mất chừng 1000 RM ( # 300 USD hoặc # 450 SGD). Mong sao các bà mẹ này sớm có người rộng lòng giúp đỡ, để họ sớm đạt ước nguyện đòan tụ với gia đình sau những tháng ngày dài thất vọng trong lao tù.
Còn quá nhiều điều thương tâm đã, đang và sẻ xảy ra cho người công nhân nghèo trên đất Malaysia mà tôi không sao tả hết được. Tôi chỉ biết rõ một điều: những gì tôi kể cho quy vị trên nay chỉ là một vài trường hợp mà tôi được dịp chứng kiến bằng mắt thấy tai nghe. Lòng tôi quặn đau khi thấy người Việt của mình bị bán làm nô lệ, bị trở thành những nạn nhân của bất công. Tôi muốn liên đới với họ, và chắc chắm cũng muốn quý vị rông lòng liên đới với họ. Những chia sẻ của quy vị sẽ phần nào thoa dịu nỗi khổ đau của những anh chị em này, hay ít là góp phần đem lại tự do cho một vài bà mẹ trẻ đáng thương đang ngồi trong lao tù. Theo tôi được biết hiện đang có chừng 130.000 công nhân Việt nam đang làm việc ở Malaysia, trong số này có chừng 30.000 công nhân đang thất nghiệp do ảnh hưởng khủng hỏang kinh tế tòan cầu.Tôi cầu nguyện xin Chúa - Trời chúc phúc cho những tấm long hảo tâm của quý vị qua việc bày tỏ tình liên đới bằng cách này hay cách khác cho những người nghèo Việtnam trên đất Malaysia.
Vai dòng chia sẻ với quý vị. Tôi mong có dịp sẻ kể thêm những gì mình chứng kiến về nổi khổ của người Việt Nam trên đất Malaysia.
Malaysia ngày 18.03.2009
LM. Trương Văn Phúc, S.J.
TRÊN ĐẤT MALAYSIA
Tôi là linh mục Trương văn Phúc, S.J., thuộc Tỉnh Dòng Tên Việt Nam.
Nhân dịp tôi được sai đến đất Malaysia để chăm sóc mục vụ cho các công nhân người công giáo và đồng thời cũng tìm cách liên đới với tất cả các công nhân Việt nam đang làm việc tại Địa Phận Melaka - Johor. Tôi đã đi thăm nhiều nơi làm việc, nơi ở và cả nhà tù nơi giam giữ những người Việtnam một cách bất công. Dưới đây, tôi xin chia sẻ một vài điều mắt thấy tai nghe với mong ước xin quý vị, vì tình đồng bào Việt Nam, hãy mở rộng lòng quảng đại để liên đới với các công nhân nhân Việt nam, “ những nô lệ thời đại mới”, trên đất Malaysia.
Ngày 06.03.09
Tôi đến thăm nhóm công nhân ở Masai, Johor Bahru, chị Nguyễn Thị Loan, đến từ vùng Phương Lâm - Đồng Nai, đang làm việc cho công ty Điện ôtô, cho biết: đã mấy tháng trôi qua rồi, mỗi tuần công nhân của nhả máy nơi chị đang làm việc chỉ được làm việc có 1 hoặc 2 ngày thôi. Công ty hiện đang không có việc làm. Những ngày không đi làm việc, các chị không được phép đi đâu cả, vì nhóm quản lý, cũng là nhóm môi giới, đã giữ tất cả các giấy tờ tùy thân của các chị hầu các chị không thể tìm việc làm nơi khác. Các chị xin họ giải quyết cho về nước nhưng không được chấp nhận.
Ngày 07.03.09
Tôi gặp gỡ các bạn công nhân ở Plentong, Johor Bahru. em Hải, một công nhân đến từ vùng Bắc Cạn, đang làm việc cho công ty Venture cho biết, cứ mổi lần các nữ công nhân có việc đi đâu đó về sau 10 giờ tối, thì ông bảo vệ block nhà trọ lại ép các cô phải ngũ với ông với lập luận xàm sở: “ mày đi ngủ với bạn trai được thì mày cũng ngủ với tao được, vì tao cũng là đàn ông vậy”. Hải cũng cho biết hôm gần tết vừa rồi, có một nữ công nhân bị mệt đang khi làm việc, cô này được người quản lý sản xuất đưa vào nhà vệ sinh để ngồi nghỉ ở đó. Thế nhưng, vì thấy lâu không quay trở lại làm việc nên người quản lý nay cửa nhà vệ sinh vào gọi. Khi cửa nhà vệ sinh mở ra thì thấy cô ta đã chết trong nhà vệ sinh.
Ngày 08.03.09
Tôi đến thăm nhóm công nhân vùng Krupong, Melaka. Giang, một cô gái đến từ Phú Thọ, cho biết: cô và các bạn trong nhóm bị bán cho các nơi làm việc đến 2 lần rồi. Lúc còn ở Việt nam, các cô ký hợp đồng làm việc cho một nơi, nhưng qua đến Malaysia, các cô bị đưa tới làm việc moat nơi khác. Chủ hợp đồng củ đã bán các cô cho một công ty khác để kiếm lời. Giang cũng cho biết, khi đến làm việc, nếu ai đó không làm được việc như chủ mong muốn, thì họ bị trả về cho chủ môi giới. Ở đó, họ bị nhốt không cho ăn, bị đánh đập, bị uy hiếp, được răn bảo đôi điều và sau đó là được bán trở lại cho moat công ty khác. Theo những người bạn của Giang cho biết, có ít nhất 2 trường hợp nữ công nhân Việt Nam bị bán làm người giúp việc nhà và cũng là vợ bé của gia đình người Malaysia. Họ gặp các chị này ở chợ, đang khi các chị gánh trái cây đi bán hàng rong. bên cạnh các chị có một người vừa canh gác vừa thu tiền. Hiện các chị đã có con với người Malaysia nhưng chỉ là người giúp việc nhà không được phép liên lạc với bất cứ người Việt nam nào.
Ngày 09.03.09
Báo chí Malaysia đưa tin: tại vùng Penang, cảnh sát đã nổ súng bắn chết 5 người Việt Nam bị nghi là cướp có vũ trang.
Thưởng, một công nhân đang làm việc ở Melaka đến thăm tôi và kể cho tôi nghe tình hình hiện tại của khá nhiều công nhân Việt Nam ở vùng Melaka. Họ chỉ thu nhập hàng tháng được từ 150 RM đến 250 RM ( # 50 - 70 USD), do chỉ có việc làm mỗi tuần được 3 buổi và mỗi buổi chỉ 8 giờ. Họ phải làm việc ăn lương theo số sản phẩm, nên càng ít việc họ càng ít thu nhập. Tuy thu nhập của họ đã quá thấp, vậy mà mỗi tháng họ còn bị những người môi giới thu 100 RM. Do vậy, tình trạng sống của họ nay đã đến mức bần cùng. Nhiều tháng qua, họ không đủ tiền sống chứ chưa nói đến có một chút gởi về phụ giúp gia đình.
Những người bạn của Thưởng kể cho tôi nghe chuyện họ đình công đòi công ty phải tìm việc làm cho công nhân. Công ty đã gọi Đại Sứ Quán Việt nam đến để đối thọai giải quyết. Sau khi nhóm Đại Sứ Quán ra về, tất cả những người có tên trong danh sách nhóm đình công hôm đó đều bị công ty phạt 500 RM trừ vào lương của họ. Thật là bất công và đau xót!
Ngày 11.03.09
Tôi đến thăm các bạn công nhân thuộc công ty Konica vùng ngọai ô Melaka. Bích, một bà mẹ trẻ đến từ Nghệ An, cho biết: hơn một tháng nay nhóm của cô cứ bị công ty hẹn đến 4 lần rồi sẽ có việc cho các cô làm. Thế nhưng đến giờ này thì vẫn thất nghiệp. Bích may mắn vì công ty Konica cho mỗi công nhân 200 RM như một khỏang phụ cấp thất nghiệp.
Tôi được chị Vi, một bà mẹ luống tuổi vùng Hương Sơn - Hà Tĩnh, kể về tình trạng của mình: Chị đến đây qua trung gian môi giới. Công ty của chị chẳng bao lâu sau khi chị đến làm việc thì bị phá sản. Chị bị môi giới nhốt, không cho đi làm ở bất cứ nơi đâu vì lý do chưa tìm được nơi làm việc mới cho chị. Bây giờ chị mới mượn được tiền của bạn bè để đóng cho môi giới 1700 RM hầu để có thể có tự do ra ngòai kiếm việc. Chị hiện tại đi lau dọn nhà cho các gia đình gần nơi chị ở với ao ước có đủ tiền trả nợ và mua vé máy bay về nước. Chia sẻ với tôi, chị bảo: “ Họ ác lắm em ơi! Aùc không tưởng tượng được!”
Ngày 14.03.09
Tôi đi thăm nhóm công nhân vùng Saleng. Lành. cô gái trẻ của vùng Lộc Mỹ - Nghệ An cho biết: cô đã sống nhờ bè bạn giúp đến nay là 3 tháng rồi. Cô bị thất nghiệp do công ty không có việc làm. Các cô không được phép đi đâu cả, và cũng không được giải quyết để tìm việc nơi khác hoặc là cho về nước. Các cô mong sao sớm có việc làm để có cơm an hằng ngày.
Ngày 15.03.09
Tôi đến thăm vùng Ulu Tiram, nơi vừa xảy ra nhiều vụ cướp liên tục tuần vừa qua. Tôi đã gặp 56 bà mẹ nông dân chân chất đến từ Hải Dương, Nghệ An, Hà Tĩnh, đang hoang mang trong nước mắt. Tối hôm 11.03.09 vừa qua, nhà của họ bị nhóm cướp 10 tên xông vào nhà khống chế và cướp đi tất cả những gì họ có: tiền bạc, điện thọai, thẻ ngân hàng… Chúng tôi có mang theo 100 Kg gạo và 120 gói mì gói để bày tỏ tình liên đới với họ, nhưng chừng đó thì thấm vào đâu so với nổi đau mật mát của họ. Do tình hình khủng hỏang kinh tế tòan cầu, nhiều công nhân bi thất nghiệp đã liều mình đi cướp của người khác. Họ làm thành những nhóm hổn hợp Ấn-Indonesia- Việtnam. Thường họ nhắm tấn công các nhà của những người không biết nói tiếng Malaysia hoặc tiếng Anh hòng để không biết báo cho cảnh sát kịp thời. Tôi cũng được biết tuần vừa qua ở Tanjong Lansat, các nhóm cướp cũng đã tấn công và rất nhiều người Việt nam trở thành nạn nhân đang cần được sự giúp đỡ.
Ngày 16.03.09
Ông John Foo, một tình nguyện viên giúp công nhân Việtnam ở Majodi Center đưa tôi đến thăm một gia đình người tàu địa phương. Tôi đến đó để cám ơn gia đình này vì vừa qua họ đã giúp 2 chiếc quan tài để chôn 2 người công nhân Việtnam xấu số, chết trong một giấc ngũ đêm sau khi làm việc tăng ca quá tải. Dạo này một số công ty, như công ty Venture … ép công nhân làm việc đôi lúc không cho nghĩ ăn trưa. Một số công ty còn lấy lý do tiết kiệm điện nên không cho chay quạt thông gió khi các công nhân làm việc. Do vậy, các công nhân bị ngộp và dẫn đến tình trạng tử vong là tất yếu. Khi các công nhân tử vong trong nhà máy thì công ty còn bồi thường chút ít, nhưng khi họ tử vong ở nhà thì công ty hòan tòan phủi tay, không hề bày tỏ liên đới chút nào.
Ông John Foo cũng đem tôi đến gặp chị Phạm Thị Kim Tuyến, một bà mẹ trẻ đến từ Thạnh Phú - Bến Tre. Đây là người mà ông John Foo vừa dùng mưu kế để giúp chị thóat khỏi nhà của ông Jame đang giam giữ chị một cách phi nhân. Chị Tuyến được công ty môi giới Sona tại Sài gòn do ông Trường làm giám đốc đưa đi làm công nhân lại Malaysia vào ngày 20/8/2007. Đến Malaysia, chị được công ty môi giới của ông Jame ( ở vùng Putri Wangse) tiếp nhận. Sau đó, công ty môi giới này đưa chị đi làm ở công ty Sinco. Lương của chị bị môi giới ăn chặn đến 50%. Từ tháng 11/2008 đến nay, chị trở bệnh. Công ty môi giới đã đưa đi khám sức khõe đến 5 lần và kết quả là chị bị suy tim, rối loan chức năng nhiều bộ phận nội tạng. Theo chị cho biết ông Jame đã gọi chị đến văn phòng để lo thủ tục về nước, nhưng khi chi lên văn phòng thì chị bị nhốt chung với chừng 20 người khác trong một căn nhà do vợ ông Jame làm quản giáo. Mấy tháng trôi qua, chị chỉ được ăn mỗi ngày một bữa. Một số người Việt Nam biết nơi này và thỉnh thỏang có tiếp tế cháo cho chị. Cách nay gần một tuần, do nhờ một cuộc đột nhập khám xét nhà của cảnh sát, vợ của ông Jame mới cho nhóm bị nhốt này chuyển sang công việc “ đục tường nhà” như là một trá hình tránh cảnh sát. Chị đã liên lạc được với chị Hồng làm phiên dịch cho cảnh sát địa phương sắp xếp cho chị chạy thoát. May thay, chị Hồng biết ông John Foo và nhờ ông đưa xe đến gần ngôi nhà ấy để chị Tuyết vượt ra cửa là đón ngay. Cuộc vượt ngục thành công. Hiện chị Tuyến đang ở với nhóm công nhân Việtnam ở địa chỉ: No. 7, Jalan Batik 8, Taman Putri Wangse, Ulu Tiram. Chi rất cần được giúp đỡ để có thể về nước trước khi bị nhóm ông Jame lùng bắt trở lại
Ngày 17.03.09
Tôi đến thăm trại tù Pekan Nanes ở địa chỉ 81500 Ponian Johor. Ở đó tôi biết có 57 trường hợp các công nhân Việt nam đang bị giam giữ. Họ vào đây vì không có giấy tờ tùy thân khi đi trên đường. Các công nhân việt nam đến làm việc ở Malaysia đều bị môi giới giữ hết giấy tờ tùy thân. Họ chỉ có một giấy do công ty cấp cho, với giới hạn đi lại trong một vùng nào đó có nhà máy họat động. Chính vì vậy, trong trường hợp họ ra khỏi vùng cho phép, họ sẽ bị bắt vì giấy tờ không hơp lệ. Đến đó, tôi trao một chút quà liên đới với các tù nhân. Tôi cũng được phép gặp một số trường hợp đặc biệt, đó là những trường hợp bị nhốt từ 7 đến 9 tháng không người đến thăm nuôi giúp đở. Trong số những trường hợp này, tôi đã gặp 8 bà mẹ đáng thương:1/ chị Quách Thị Hằng, số tù: 2531.08, 38 tuổi, đến từ hải Dương, bị nhốt ở nay 9 tháng rồi, với tội trạng: lãnh đạo nhóm công nhân đòi tăng lương. Theo chị kể: nhóm chị làm ca đêm mỗi giờ được trả 7 RM nhưng môi giới ăn chặn 5 RM, chỉ trả cho các chị 2 RM mà thôi. Do chị biết một chút tiếng Malaysia, nên chị em nhờ chị viết thư lên công ty. Chị đã bị công ty môi giới lừa và đem nộp cho cảnh sát với lý do không có giấy tờ tùy thân; 2/ Chị Nguyễn Thị Nga, số tù 474.09, 31 tuổi, đến từ Tân Kỳ - Nghệ An, do công ty May của chị bị phá sản, chị trốn chủ môi giới để đi phụ bán quán với mong ước kiếm tiền đủ trả nợ 27.000.000 VNĐ chi phí cho thủ tuc chị đi xuất khâu lao động. Chị bị bắt chẳng bao lâu sau khi trốn khỏi nhà của nhóm môi giới; 3/ chị Hà Thị Dinh, số tù 68.09; 4/ chị Hà Thị Nga, số tù 645.09; 5/ chị Hà Thị Hoa, số tù 646.09. nay là ba bà mẹ true đên từ Phú Thọ, cùng làm công ty may, cùng bị thất nghiệp, cùng trốn, cùng bị bắt khi chưa tìm được việc làm. 3 trường hợp khác:6/ chị Dương Hồng Hạnh; 7/ chị Lê Thị Ngọc; và 8/ chị Đinh Thị Hạnh, số tù 115.09, đều là những người bị bắt trong khi lang thang tìm việc làm do công ty của họ bị phá sản. Theo luật hơp đồng, khi công ty phá sản thi công ty phải trả chi phí vé may bay cho các công nhân về nước. Thế nhưng các công ty ở Malaysia lại mua công nhân từ các môi giới lao động nên họ không chịu trách nhiệm chi trả trong các khỏang này. Hiện nay 8 bà mẹ trong tù này đang sống trong những ngày không có niềm hy vọng. Họ không có bạn bè, thân quen trên đất Malaysia. Họ cho tôi số điện thoại ở gia đình của họ tại Việtnam. Tôi đã liên lạc với gia đình họ và cũng không sao giải quyết được, vì gia đình họ nghèo quá. Tôi có hỏi khỏan chi phí cho mọi thủ tục, kể cả vé máy bay cho một trường hợp từ trong tù về ViệtNam, và được cảnh sát cho biết: mỗi trường hợp mất chừng 1000 RM ( # 300 USD hoặc # 450 SGD). Mong sao các bà mẹ này sớm có người rộng lòng giúp đỡ, để họ sớm đạt ước nguyện đòan tụ với gia đình sau những tháng ngày dài thất vọng trong lao tù.
Còn quá nhiều điều thương tâm đã, đang và sẻ xảy ra cho người công nhân nghèo trên đất Malaysia mà tôi không sao tả hết được. Tôi chỉ biết rõ một điều: những gì tôi kể cho quy vị trên nay chỉ là một vài trường hợp mà tôi được dịp chứng kiến bằng mắt thấy tai nghe. Lòng tôi quặn đau khi thấy người Việt của mình bị bán làm nô lệ, bị trở thành những nạn nhân của bất công. Tôi muốn liên đới với họ, và chắc chắm cũng muốn quý vị rông lòng liên đới với họ. Những chia sẻ của quy vị sẽ phần nào thoa dịu nỗi khổ đau của những anh chị em này, hay ít là góp phần đem lại tự do cho một vài bà mẹ trẻ đáng thương đang ngồi trong lao tù. Theo tôi được biết hiện đang có chừng 130.000 công nhân Việt nam đang làm việc ở Malaysia, trong số này có chừng 30.000 công nhân đang thất nghiệp do ảnh hưởng khủng hỏang kinh tế tòan cầu.Tôi cầu nguyện xin Chúa - Trời chúc phúc cho những tấm long hảo tâm của quý vị qua việc bày tỏ tình liên đới bằng cách này hay cách khác cho những người nghèo Việtnam trên đất Malaysia.
Vai dòng chia sẻ với quý vị. Tôi mong có dịp sẻ kể thêm những gì mình chứng kiến về nổi khổ của người Việt Nam trên đất Malaysia.
Malaysia ngày 18.03.2009
LM. Trương Văn Phúc, S.J.
Chế độ côn đồ
Ngô Nhân Dụng Lực lượng vũ trang của chế độ Cộng Sản Việt Nam đã chọn lúc 2 giờ sáng ngày 6 Tháng Giêng năm 2010 để triệt hạ một cây Thập Tự Giá do đồng bào Công Giáo Ðồng Chiêm dựng lên trên núi, cũng giống như tấn công trong lúc đang đình chiến nhân ngày Tết. Theo một bản tin của đồng bào Thiên Chúa Giáo, chế độ đã huy động từ 500 đến một ngàn người, gồm công an và cảnh sát và tay sai, với súng ống, dùi cui, lựu đạn cay, mang theo cả chó công an chuyên nghiệp, bao vây phong tỏa giáo xứ Ðồng Chiêm, chặn tất cả các lối đi và khu vực Núi Thờ rồi bắt đầu triệt hạ và đập nát Thánh Giá.
Người không từng sống trong chế độ Cộng Sản thì không thể hiểu được một chính quyền có thể sử dụng bạo lực làm những hành động bất xứng như vậy đối một biểu tượng của tôn giáo. Nhất là sau khi những người đứng đầu chế độ đó như Nguyễn Minh Triết và Nguyễn Tấn Dũng đã tới La Mã bệ kiến Ðức Giáo Hoàng để chuẩn bị tái lập bang giao với Tòa Thánh Vatican.
Nhưng ai đã có kinh nghiệm sống với Cộng Sản Việt Nam thì hiểu. Ðây là một đảng cầm quyền không những vẫn coi các tôn giáo là kẻ thù giống như các chế độ Cộng Sản khác, mà còn thêm một đặc tính nữa là xưa nay họ vẫn quen dùng các thủ đoạn côn đồ với bất cứ người nào không tuân theo chính sách của đảng.
Hành động của chế độ Cộng Sản đập phá Thánh Giá trên ngọn núi chôn các ngôi mộ trong đó có những người theo đạo là một hành động vô luân không xã hội văn minh nào chấp nhận. Nhưng đó là một lối cư xử quen thuộc của một chế độ côn đồ, vì nó cũng không khác gì việc chính quyền Cộng Sản Việt Nam yêu cầu các chính quyền Mã Lai, Indonesia đục, phá những tấm bia tưởng niệm các thuyền nhân thiệt mạng trên con đường vượt biển để chạy trốn chế độ Cộng Sản. Rất may là các người lãnh đạo tại các nước Ðông Nam Á này vẫn còn có tình người và còn biết giữ gìn, tôn kính những giá trị của nền văn minh của nhân loại, cho nên đã họ cho phục hồi lại những tấm bia sau khi người tị nạn Việt Nam ở các nơi lên tiếng phản đối.
Khi giáo dân Ðồng Chiêm yêu cầu những kẻ căm thù tôn giáo hãy ngừng tay lại, đồng bào đã bị công an cảnh sát ném lựu đạn cay, một số đã bị đánh đập tàn nhẫn, hai người vốn là thương binh từng phục vụ cho chế độ đã bị bắt. Công an còn đổ tội cho một người “mang ma túy trên xe” giống như các hào lý thời Pháp thuộc bỏ rượu lậu vào vườn, ruộng người khác rồi đi tố cáo! Hành vi côn đồ của chế độ vẫn tiếp tục: Chính quyền đã bất chấp luật pháp, bất chấp tính người lắp thêm hàng loạt loa vào bốn phía nhà thờ, cứ suốt ngày ra rả để quấy nhiễu người dân ngay trong giấc ngủ! Buổi trưa ngày 11 Tháng Giêng 2010 một chiếc xe chở giáo dân đỗ ngoài cánh đồng lò gạch đã bị xịt hết hơi hai lốp trước. Trên thế giới ít có một chính quyền nào đối xử với dân của mình theo lối bần tiện, tiểu nhân như thế.
Nhưng đó là một đường lối “trước sau như một” của các chế độ bạo tàn. Kinh nghiệm đã cho thấy khi các tay công an tư tưởng, văn hóa của chế độ Cộng Sản không đủ lý lẽ để đối phó họ đã đóng vai côn đồ để đàn áp những người kêu gọi dân chủ cho nước Việt Nam, như các ông Phạm Quế Dương, Hoàng Minh Chính, Nguyễn Văn Ðài, các bà Lê Thị Công Nhân, Trần Khải Thanh Thủy, Hồ Thị Bích Khương, vân vân. Côn đồ luôn luôn là một cánh tay đắc lực, một công cụ cần thiết của chế độ.
Một chế độ quen sử dụng côn đồ, cuối cùng chính họ cũng cư xử như côn đồ, cuối cùng sẽ trở thành côn đồ. Chính sách côn đồ của Cộng Sản Việt Nam cũng không khác gì những chế độ độc tài tàn bạo khác ở Congo hay Tân Cương; nhưng điều nguy hiểm cho cả xã hội ta là những hành động côn đồ đó lại được chế độ biện minh một cách trâng tráo. Họ sẵn sàng chối bỏ những sự thật hiển nhiên về tội lỗi do họ gây ra, mà không mảy may tỏ ra là biết xấu hổ.
Chính những thái độ trâng tráo đó gây tai hại cho nền tảng đạo lý của cả xã hội. Sau khi sống dưới một chế độ tàn bạo mà không biết xấu hổ, sẵn sàng gọi trắng là đen, đen là trắng, bất chấp sự thật; miệng nói chống tham nhũng, tay thò ra đòi tiền hối lộ; kinh nghiệm sống đó khiến cho nhiều người từ người lớn đến trẻ em, sau khi phải chứng kiến cảnh tượng đó lâu ngày cũng sẽ nhiễm thói quen đối xử với nhau như côn đồ và dần dần cũng tập thói quen sống trâng tráo không còn phân biệt thiện và ác nữa. Nền tảng đạo lý của cả xã hội bị phá nát.
Khi có những thanh niên Hà Nội cướp hoa trong những kỳ hội chợ Hoa Anh Ðào, năm này sang năm khác, chúng ta biết rằng các bạn trẻ này sinh ra hư hỏng không phải vì bản tính họ, không phải vì gia đình thiếu giáo dục; lý do chính là vì họ phải sống trong một hoàn cảnh xã hội nhiều thứ xấu quá. Không cần phải nói, ai cũng biết hoàn cảnh xấu đó là do chế độ Cộng Sản tạo ra. Như Soljenitsyn đã nhận xét, một chế độ dùng bạo lực áp bức người dân bao giờ cũng phải kèm theo một guồng máy dối trá để trốn tránh trách nhiệm, để vu oan giá họa cho những người không đồng ý kiến và không chịu khuất phục.
Ðồng bào giáo dân ở Ðồng Chiêm và các nơi khác trong vùng Hà Nội đã tới nhà thờ cầu nguyện, đầu chít khăn tang. Họ để tang cho cả nền đạo lý của đất nước đang bị chế độ Cộng Sản giết chết dần mòn.
Khi đọc bài giảng của Linh Mục Phạm Minh Triều nói với giáo dân xứ Ðồng Chiêm sau khi cây Thánh Giá bị công an côn đồ đập phá, chúng ta có thể biết trong xã hội Việt Nam vẫn có cái Thiện, khác với cái Ác mà chế độ là tiêu biểu. Vị linh mục nói, “Khi mà quyền lực bóng tối đã bao phủ thì chúng không còn cơ hội để nhìn ra ánh sáng.
Nhưng chúng ta không chống đối. Chúng ta không cầu nguyện để rồi Chúa làm cho những con người đã đập Thánh Giá của Chúa phải chết một cách bất ưng hoặc là gặp sự khốn khó. Ðức Tin Công Giáo của chúng ta không cho phép chúng ta làm điều ấy.”
Toàn thể các linh mục Tổng Giáo Phận Hà Nội tham dự kỳ tĩnh tâm tháng tại Tòa Giám Mục đã lên đường tới giáo xứ Ðồng Chiêm để chia sẻ cảnh tang tóc với giáo dân tại đây. Một bản tin viết: Vành khăn tang trắng xóa chít chặt mọi mái đầu từ già đến trẻ.
Cây Thánh Giá bằng tre được dựng vội tại hiện trường với cờ tang ủ rũ, những nén nhang cháy dở, là dấu tích của các hành động đàn áp.
Linh Mục Phạm Minh Triều đặt câu hỏi: “Tại sao không đi ra biên giới phương Bắc mà đòi hải đảo Hoàng Sa đang bị Trung Quốc mở các tour du lịch, lấn chiếm; rồi các ngư dân của chúng ta đang bị đánh đập. Tại sao lại đi đàn áp tôn giáo từ Thái Hà, Tòa Khâm Sứ, rồi xứ Loan Lý, rồi Tam Tòa? Không chỉ Công Giáo, rồi còn chùa Bát Nhã nữa.”
Những gì công an côn đồ Cộng Sản đang làm ở Ðồng Chiêm, tháng trước họ đã diễn cùng một vở tuồng đó ở Bảo Lộc. Cũng dùng đám côn đồ quấy nhiễu (thuê 200 ngàn một ngày, theo lời một chị được thuê từ ngoài Bắc vào Bảo Lộc, chị nói thực với một ni cô). Cũng những ống loa gây ô nhiễm không khí thanh tịnh của nơi tu hành. Và sau 3 tháng, chế độ Cộng Sản đã đạt được mục tiêu: Giải tán 400 tăng ni Bát Nhã, buộc Thượng Tọa Thái Tuận chùa Phước Huệ gạt nước mắt tiễn các đứa con tinh thần của mình ra khỏi chùa. Và chế độ Cộng Sản vẫn giữ thái độ trâng tráo, chối biến trách nhiệm của họ!
Phó trưởng ban thường trực Ban Tôn giáo Chính phủ là Nguyễn Thanh Xuân đã mở một cuộc họp báo quốc tế ở Hà Nội chiều ngày 11 Tháng Giêng để “cung cấp thông tin chính thức” về thành tích phá tan tăng đoàn Bát Nhã của đảng Cộng sản. Ai không sống trong chế độ cộng sản thì không thể hiểu được cảnh tượng một viên chức chính quyền trâng tráo nói trái sự thật một cách tự nhiên như vậy! Những người có liêm sỉ không thể nào hiểu nổi tại sao đến bay giờ chính quyền còn có thể nói rằng các tăng ni Bát Nhã đã “tự nguyện rời khỏi chùa Phước Huệ, chính quyền chưa rõ họ trở về địa phương ra sao.”
Cùng một giọng điệu đó, ông Nguyễn Ngọc Ðông, phó chủ tịch Lâm Ðồng giải thích rằng các “Phật tử thị xã Bảo Lộc và các tăng sĩ tại chùa Phước Huệ” đã “yêu cầu tu sinh rời về địa phương theo ý kiến của GHPGVN.” Tất cả những người có mắt, có tai đều biết đó là những lời dối trá. Ðồng bào Phật tử không ai đang tâm chống các tăng ni đã chọn con đường chỉ biết tu tập để cứu độ chúng sinh. Nếu không có đám công an và đám côn đồ do họ thuê mướn đến quấy phá, làm áp lực, thì chùa Phước Huệ không nỡ lòng nào để các vị tăng ni đó ra đi.
Chế độ Cộng Sản đã chối bỏ trách nhiệm, và tiếp tục nói dối. Họ không dám nhận là chính họ quyết tâm phá không cho các tăng ni Bát Nhã tu tập ở cùng một nơi. Họ vẫn dùng luận điệu gian dối cũ khi giải thích, “Ðây là va chạm giữa các môn phái tôn giáo.” Họ tiếp tục nói dối khi “khẳng định chính quyền địa phương không gây bất cứ sức ép nào đối với các tu sinh.” Tất cả là những lời dối trá.
Linh Mục Phạm Minh Triều nhận xét: “Một tổ chức, một chính quyền nào mà xúc phạm đến biểu tượng tôn giáo thì chính quyền đó đang đi dần vào sự tự sát!” Linh Mục chỉ nói đến một chế độ tự sát, ông không có ý nói đến những con người nắm giữ chế độ đó. Ông đã kêu gọi các giáo dân hãy cầu nguyện cho cả những người đến đập phá Thánh Giá và đánh người ta. Tất cả chúng ta có thể chia sẻ những lời cầu nguyện này. Cầu nguyện cho những người đang đóng vai côn đồ sẽ nhìn thấy hành động của họ là sai lầm mà sửa đổi đi. Cầu cho những quen người nói dối sẽ tỉnh ngộ, thấy việc nói dối đó vô ích và từ nay không tiếp tục nữa. Hai điều nguyện này đạt được thì đó là đại phúc cho nước Việt Nam. Khi đồng bào chúng ta được sống trong một chế độ biết kính trọng tín ngưỡng của dân, biết tôn trọng sự thật, thì nền tảng đạo lý của dân tộc có thể bắt đầu được khôi phục.
Ngô Nhân Dụng Lực lượng vũ trang của chế độ Cộng Sản Việt Nam đã chọn lúc 2 giờ sáng ngày 6 Tháng Giêng năm 2010 để triệt hạ một cây Thập Tự Giá do đồng bào Công Giáo Ðồng Chiêm dựng lên trên núi, cũng giống như tấn công trong lúc đang đình chiến nhân ngày Tết. Theo một bản tin của đồng bào Thiên Chúa Giáo, chế độ đã huy động từ 500 đến một ngàn người, gồm công an và cảnh sát và tay sai, với súng ống, dùi cui, lựu đạn cay, mang theo cả chó công an chuyên nghiệp, bao vây phong tỏa giáo xứ Ðồng Chiêm, chặn tất cả các lối đi và khu vực Núi Thờ rồi bắt đầu triệt hạ và đập nát Thánh Giá.
Người không từng sống trong chế độ Cộng Sản thì không thể hiểu được một chính quyền có thể sử dụng bạo lực làm những hành động bất xứng như vậy đối một biểu tượng của tôn giáo. Nhất là sau khi những người đứng đầu chế độ đó như Nguyễn Minh Triết và Nguyễn Tấn Dũng đã tới La Mã bệ kiến Ðức Giáo Hoàng để chuẩn bị tái lập bang giao với Tòa Thánh Vatican.
Nhưng ai đã có kinh nghiệm sống với Cộng Sản Việt Nam thì hiểu. Ðây là một đảng cầm quyền không những vẫn coi các tôn giáo là kẻ thù giống như các chế độ Cộng Sản khác, mà còn thêm một đặc tính nữa là xưa nay họ vẫn quen dùng các thủ đoạn côn đồ với bất cứ người nào không tuân theo chính sách của đảng.
Hành động của chế độ Cộng Sản đập phá Thánh Giá trên ngọn núi chôn các ngôi mộ trong đó có những người theo đạo là một hành động vô luân không xã hội văn minh nào chấp nhận. Nhưng đó là một lối cư xử quen thuộc của một chế độ côn đồ, vì nó cũng không khác gì việc chính quyền Cộng Sản Việt Nam yêu cầu các chính quyền Mã Lai, Indonesia đục, phá những tấm bia tưởng niệm các thuyền nhân thiệt mạng trên con đường vượt biển để chạy trốn chế độ Cộng Sản. Rất may là các người lãnh đạo tại các nước Ðông Nam Á này vẫn còn có tình người và còn biết giữ gìn, tôn kính những giá trị của nền văn minh của nhân loại, cho nên đã họ cho phục hồi lại những tấm bia sau khi người tị nạn Việt Nam ở các nơi lên tiếng phản đối.
Khi giáo dân Ðồng Chiêm yêu cầu những kẻ căm thù tôn giáo hãy ngừng tay lại, đồng bào đã bị công an cảnh sát ném lựu đạn cay, một số đã bị đánh đập tàn nhẫn, hai người vốn là thương binh từng phục vụ cho chế độ đã bị bắt. Công an còn đổ tội cho một người “mang ma túy trên xe” giống như các hào lý thời Pháp thuộc bỏ rượu lậu vào vườn, ruộng người khác rồi đi tố cáo! Hành vi côn đồ của chế độ vẫn tiếp tục: Chính quyền đã bất chấp luật pháp, bất chấp tính người lắp thêm hàng loạt loa vào bốn phía nhà thờ, cứ suốt ngày ra rả để quấy nhiễu người dân ngay trong giấc ngủ! Buổi trưa ngày 11 Tháng Giêng 2010 một chiếc xe chở giáo dân đỗ ngoài cánh đồng lò gạch đã bị xịt hết hơi hai lốp trước. Trên thế giới ít có một chính quyền nào đối xử với dân của mình theo lối bần tiện, tiểu nhân như thế.
Nhưng đó là một đường lối “trước sau như một” của các chế độ bạo tàn. Kinh nghiệm đã cho thấy khi các tay công an tư tưởng, văn hóa của chế độ Cộng Sản không đủ lý lẽ để đối phó họ đã đóng vai côn đồ để đàn áp những người kêu gọi dân chủ cho nước Việt Nam, như các ông Phạm Quế Dương, Hoàng Minh Chính, Nguyễn Văn Ðài, các bà Lê Thị Công Nhân, Trần Khải Thanh Thủy, Hồ Thị Bích Khương, vân vân. Côn đồ luôn luôn là một cánh tay đắc lực, một công cụ cần thiết của chế độ.
Một chế độ quen sử dụng côn đồ, cuối cùng chính họ cũng cư xử như côn đồ, cuối cùng sẽ trở thành côn đồ. Chính sách côn đồ của Cộng Sản Việt Nam cũng không khác gì những chế độ độc tài tàn bạo khác ở Congo hay Tân Cương; nhưng điều nguy hiểm cho cả xã hội ta là những hành động côn đồ đó lại được chế độ biện minh một cách trâng tráo. Họ sẵn sàng chối bỏ những sự thật hiển nhiên về tội lỗi do họ gây ra, mà không mảy may tỏ ra là biết xấu hổ.
Chính những thái độ trâng tráo đó gây tai hại cho nền tảng đạo lý của cả xã hội. Sau khi sống dưới một chế độ tàn bạo mà không biết xấu hổ, sẵn sàng gọi trắng là đen, đen là trắng, bất chấp sự thật; miệng nói chống tham nhũng, tay thò ra đòi tiền hối lộ; kinh nghiệm sống đó khiến cho nhiều người từ người lớn đến trẻ em, sau khi phải chứng kiến cảnh tượng đó lâu ngày cũng sẽ nhiễm thói quen đối xử với nhau như côn đồ và dần dần cũng tập thói quen sống trâng tráo không còn phân biệt thiện và ác nữa. Nền tảng đạo lý của cả xã hội bị phá nát.
Khi có những thanh niên Hà Nội cướp hoa trong những kỳ hội chợ Hoa Anh Ðào, năm này sang năm khác, chúng ta biết rằng các bạn trẻ này sinh ra hư hỏng không phải vì bản tính họ, không phải vì gia đình thiếu giáo dục; lý do chính là vì họ phải sống trong một hoàn cảnh xã hội nhiều thứ xấu quá. Không cần phải nói, ai cũng biết hoàn cảnh xấu đó là do chế độ Cộng Sản tạo ra. Như Soljenitsyn đã nhận xét, một chế độ dùng bạo lực áp bức người dân bao giờ cũng phải kèm theo một guồng máy dối trá để trốn tránh trách nhiệm, để vu oan giá họa cho những người không đồng ý kiến và không chịu khuất phục.
Ðồng bào giáo dân ở Ðồng Chiêm và các nơi khác trong vùng Hà Nội đã tới nhà thờ cầu nguyện, đầu chít khăn tang. Họ để tang cho cả nền đạo lý của đất nước đang bị chế độ Cộng Sản giết chết dần mòn.
Khi đọc bài giảng của Linh Mục Phạm Minh Triều nói với giáo dân xứ Ðồng Chiêm sau khi cây Thánh Giá bị công an côn đồ đập phá, chúng ta có thể biết trong xã hội Việt Nam vẫn có cái Thiện, khác với cái Ác mà chế độ là tiêu biểu. Vị linh mục nói, “Khi mà quyền lực bóng tối đã bao phủ thì chúng không còn cơ hội để nhìn ra ánh sáng.
Nhưng chúng ta không chống đối. Chúng ta không cầu nguyện để rồi Chúa làm cho những con người đã đập Thánh Giá của Chúa phải chết một cách bất ưng hoặc là gặp sự khốn khó. Ðức Tin Công Giáo của chúng ta không cho phép chúng ta làm điều ấy.”
Toàn thể các linh mục Tổng Giáo Phận Hà Nội tham dự kỳ tĩnh tâm tháng tại Tòa Giám Mục đã lên đường tới giáo xứ Ðồng Chiêm để chia sẻ cảnh tang tóc với giáo dân tại đây. Một bản tin viết: Vành khăn tang trắng xóa chít chặt mọi mái đầu từ già đến trẻ.
Cây Thánh Giá bằng tre được dựng vội tại hiện trường với cờ tang ủ rũ, những nén nhang cháy dở, là dấu tích của các hành động đàn áp.
Linh Mục Phạm Minh Triều đặt câu hỏi: “Tại sao không đi ra biên giới phương Bắc mà đòi hải đảo Hoàng Sa đang bị Trung Quốc mở các tour du lịch, lấn chiếm; rồi các ngư dân của chúng ta đang bị đánh đập. Tại sao lại đi đàn áp tôn giáo từ Thái Hà, Tòa Khâm Sứ, rồi xứ Loan Lý, rồi Tam Tòa? Không chỉ Công Giáo, rồi còn chùa Bát Nhã nữa.”
Những gì công an côn đồ Cộng Sản đang làm ở Ðồng Chiêm, tháng trước họ đã diễn cùng một vở tuồng đó ở Bảo Lộc. Cũng dùng đám côn đồ quấy nhiễu (thuê 200 ngàn một ngày, theo lời một chị được thuê từ ngoài Bắc vào Bảo Lộc, chị nói thực với một ni cô). Cũng những ống loa gây ô nhiễm không khí thanh tịnh của nơi tu hành. Và sau 3 tháng, chế độ Cộng Sản đã đạt được mục tiêu: Giải tán 400 tăng ni Bát Nhã, buộc Thượng Tọa Thái Tuận chùa Phước Huệ gạt nước mắt tiễn các đứa con tinh thần của mình ra khỏi chùa. Và chế độ Cộng Sản vẫn giữ thái độ trâng tráo, chối biến trách nhiệm của họ!
Phó trưởng ban thường trực Ban Tôn giáo Chính phủ là Nguyễn Thanh Xuân đã mở một cuộc họp báo quốc tế ở Hà Nội chiều ngày 11 Tháng Giêng để “cung cấp thông tin chính thức” về thành tích phá tan tăng đoàn Bát Nhã của đảng Cộng sản. Ai không sống trong chế độ cộng sản thì không thể hiểu được cảnh tượng một viên chức chính quyền trâng tráo nói trái sự thật một cách tự nhiên như vậy! Những người có liêm sỉ không thể nào hiểu nổi tại sao đến bay giờ chính quyền còn có thể nói rằng các tăng ni Bát Nhã đã “tự nguyện rời khỏi chùa Phước Huệ, chính quyền chưa rõ họ trở về địa phương ra sao.”
Cùng một giọng điệu đó, ông Nguyễn Ngọc Ðông, phó chủ tịch Lâm Ðồng giải thích rằng các “Phật tử thị xã Bảo Lộc và các tăng sĩ tại chùa Phước Huệ” đã “yêu cầu tu sinh rời về địa phương theo ý kiến của GHPGVN.” Tất cả những người có mắt, có tai đều biết đó là những lời dối trá. Ðồng bào Phật tử không ai đang tâm chống các tăng ni đã chọn con đường chỉ biết tu tập để cứu độ chúng sinh. Nếu không có đám công an và đám côn đồ do họ thuê mướn đến quấy phá, làm áp lực, thì chùa Phước Huệ không nỡ lòng nào để các vị tăng ni đó ra đi.
Chế độ Cộng Sản đã chối bỏ trách nhiệm, và tiếp tục nói dối. Họ không dám nhận là chính họ quyết tâm phá không cho các tăng ni Bát Nhã tu tập ở cùng một nơi. Họ vẫn dùng luận điệu gian dối cũ khi giải thích, “Ðây là va chạm giữa các môn phái tôn giáo.” Họ tiếp tục nói dối khi “khẳng định chính quyền địa phương không gây bất cứ sức ép nào đối với các tu sinh.” Tất cả là những lời dối trá.
Linh Mục Phạm Minh Triều nhận xét: “Một tổ chức, một chính quyền nào mà xúc phạm đến biểu tượng tôn giáo thì chính quyền đó đang đi dần vào sự tự sát!” Linh Mục chỉ nói đến một chế độ tự sát, ông không có ý nói đến những con người nắm giữ chế độ đó. Ông đã kêu gọi các giáo dân hãy cầu nguyện cho cả những người đến đập phá Thánh Giá và đánh người ta. Tất cả chúng ta có thể chia sẻ những lời cầu nguyện này. Cầu nguyện cho những người đang đóng vai côn đồ sẽ nhìn thấy hành động của họ là sai lầm mà sửa đổi đi. Cầu cho những quen người nói dối sẽ tỉnh ngộ, thấy việc nói dối đó vô ích và từ nay không tiếp tục nữa. Hai điều nguyện này đạt được thì đó là đại phúc cho nước Việt Nam. Khi đồng bào chúng ta được sống trong một chế độ biết kính trọng tín ngưỡng của dân, biết tôn trọng sự thật, thì nền tảng đạo lý của dân tộc có thể bắt đầu được khôi phục.

