Bình Luận Thời Sự
Gọi lại tên chế độ côn đồ
Ngô Nhân Dụng Sau bài “Chế Ðộ Côn Ðồ” trên báo Người Việt đầu tuần này, một số độc giả đã góp ý kiến. Người viết bao giờ cũng cảm ơn quý vị đã đọc báo, đặc biệt là biết ơn quý vị đã bỏ công viết mấy lời bày tỏ ý kiến.
Trong số các bức thư phản hồi về bài này, chúng tôi xin trích đăng lại một bức thư sau đây, vì thấy có nhiều ngộ nhận cần bàn lại. Những ngộ nhận này không phải chỉ hiểu lầm riêng về bài “Chế Ðộ Côn Ðồ” mà liên hệ tới nhiều vấn đề khác, rất đáng làm cho rõ ràng, sáng tỏ hơn.
Lá thư của một độc giả ký tên Thanh, ngày 12 Tháng Giêng, năm 2010, viết như sau: “Tôi không hiểu sao lại có bài viết quá hằn học như thế này, nơi tôi ở có nhiều tôn giáo sinh sống trong đó có cả người Công Giáo, họ sống hòa thuận, vui vẻ và đi cầu nguyện theo ý mình mà không có bất kỳ một xem xét nào của chính quyền địa phương. Tôi dám khẳng định những nơi tôi đã đi thì tự do tôn giáo thật tốt đẹp như địa phận Hải Phòng, Ðức Cha Thiên quản, các giáo xứ đều thấy vô cùng thỏa mái bày tỏ ý nguyện của mình trong nhà chung và trò chuyện với các linh mục, không hề thấy có chuyện nào bị ngăn cản mà chỉ thấy mình cần làm tốt hơn các việc xã hội để mọi người cùng chung sống vui vẻ và hạnh phúc. Như nhận thức của tôi người viết bài viết “Chế Ðộ Côn Ðồ” không phải vì tôn giáo mà vì mục tiêu chính trị nằm trong các tôn giáo, như vậy thì chẳng nên chút nào vì tuyệt đại da số người dân trong đó có người dân các tôn giáo khác nhau đã đổ máu để xây dựng nên chế độ này và đang được hưởng thành quả tốt đẹp của nó, không thể vì một vài khúc mắc nhỏ lại được nêu lên như một sự kiện chính trị để lật đổ xã hội và là kẻ làm nô lệ cho kẻ khác thống trị được. Mong tác giả bình tĩnh và kiềm chế tư tưởng trước khi viết bài tương tự.” Ký tên: Thanh.
Người viết rất kính trọng quyền phát biểu với thiện chí. Ðáng lẽ có thể viết thư riêng để trả lời nhưng chúng tôi e ngại rằng nhiều vị có thể cũng chia sẻ những ý kiến trên dù không nói ra, cho nên xin giãi bày chung ở đây để tránh những hiểu lầm có hại chung.
Ðiều đầu tiên nên bàn cho rõ là vấn đề tự do tôn giáo. Tác giả bức thư cho biết ông đã trông thấy những giáo dân đi lễ không bị ngăn cản, họ bày tỏ ý kiến thoải mái, từ đó ông kết luận rằng, “Tôi khẳng định những nơi tôi đã đi thì tự do tôn giáo thật tốt đẹp.”
Ðây là lối suy luận theo phương pháp quy nạp, nghe có vẻ hợp lý nhưng không đúng tinh thần khoa học. Bởi vì tự do không có nghĩa là người ta được phép làm cái gì, mà là có ai bị ngăn trở, bị cấm đoán hay không (Isaiah Berlin đã bàn trong bài “Hai khái niệm về tự do” - Two Concepts of Liberty, năm 1958). Dù chỉ một người bị cấm đoán, mất tự do vì bị cưỡng chế, thì xã hội không có tự do.
Thí dụ, chúng ta biết các nhà văn ở Việt Nam không được tự do. Người ta có thể đưa bạn tới các tiệm sách, chỉ cho thấy hàng ngàn cuốn sách vẫn được bày bán, cả nước có 600 tờ báo, để chứng tỏ rằng nước Việt Nam có tự do phát biểu, tự do sáng tác. Nhưng hỏi nhà văn Bùi Ngọc Tấn thì biết, tiểu thuyết của ông in ra là bị thu hồi, sau đó muốn xuất bản phải sửa bản thảo theo yêu cầu của nhà nước. Sách của Dương Thu Hương có được xuất bản tự do ở Việt Nam hay không? Lại hỏi các nhà báo trong nước đang làm việc, xem khi viết thì họ phải nghe những mệnh lệnh của ai, những điều gì bị cấm không được nhắc tới. Chỉ kể vài thí dụ đó thôi, tự nhiên, ai cũng hiểu là các người viết văn, viết báo ở nước ta không có tự do.
Muốn biết tôn giáo ở nước ta có được tự do hay không thì không nên căn cứ vào những buổi lễ có hàng chục ngàn người tham dự. Nó cũng giống hàng ngàn cuốn sách, hàng trăm tờ báo đang được bày bán. Phải hỏi Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ có được tự do đi thăm các ngôi chùa thuộc giáo hội của ngài hay không? Hãy hỏi các tăng ni Tu viện Bát Nhã, xem họ có được tự do tu học với nhau hay không? Tại sao họ bị cấm cản, xua đuổi để lâm vào cảnh tan đàn sẻ nghé?
Còn một vấn đề quan trọng nữa, là lời khẳng định của vị độc giả trên lại thiếu tính chất khoa học. Cần biết cách suy luận khoa học như thế nào, thì chúng ta hiểu tại sao lời khẳng định trên là một thứ sai lầm rất dễ mắc phải, cần phải tránh. Ðây là một vấn đề triết lý về công việc nghiên cứu khoa học, nhưng không có gì khó hiểu cả. Ðầu thế kỷ 20, Karl Popper đã giúp các nhà khoa học hiểu rõ hơn bản chất những khám phá của họ, gọi là những “hiểu biết khoa học.” Một câu nói, một lời phát biểu, một mệnh đề, chỉ được coi thuộc phạm vi kiến thức khoa học khi nó có thể bị phủ nhận, có cách để chứng minh là nó sai; chứ không phải vì nó có thể được chứng minh bằng cách quan sát cho thấy nó đúng. Vì những hiện tượng chúng ta có thể quan sát được, những thứ gọi là sự thật khách quan thì vô vàn. Và cũng có vô vàn cách giải thích các hiện tượng đó, ai cũng có thể tìm ra một cách giải thích.
Cho nên một ý kiến chỉ được coi là khoa học khi nào nó có thể dùng thực nghiệm để phản bác, chứ không phải để chứng minh. Khi nào tìm cách phản bác một giả thuyết bằng thực nghiệm mà không bác bỏ được, thì tạm coi đó là một hiểu biết khoa học - cho đến khi có phương pháp quan sát kỹ hơn để thấy nó sai. Bản chất của khoa học rất khiêm tốn như vậy.
Thí dụ, một người tuyên bố rằng, “vì con cóc kêu nên trời mưa.” Nhiều người quan sát thấy quả nhiên khi cóc kêu thì trời mưa thật, chuyện xảy ra rất nhiều lần. Ý kiến đó có thể gọi là khoa học hay chăng? Muốn biết, phải tìm xem có khi nào cóc kêu mà trời không mưa hay không, hoặc trời mưa dù không thấy cóc kêu hay không. Nếu không bao giờ thấy cả, thì lý thuyết Con Cóc là Cậu Ông Trời là một lý thuyết khoa học. Những người quen suy luận một cách khoa học thì không tin rằng vì cóc kêu nên trời mưa, vì đã chứng kiến những lần hai hiện tượng đó không đi đôi với nhau. Lối suy nghĩ khoa học như vậy giúp chúng ta không suy luận hồ đồ.
Vị độc giả viết bức thư trên đây chỉ trích rằng “người viết bài viết ‘Chế độ côn đồ’ không phải vì tôn giáo mà vì mục tiêu chính trị nằm trong các tôn giáo.”
Khi bàn về các quyền tự do thì chúng ta chắc chắn bàn về chính trị, không bàn chuyện tôn giáo nữa. Vì tự do, dù trong phạm vi nào cũng là một quyền chính trị. Tự do tôn giáo chỉ được thực hiện khi người dân không bị cấm đoán thi hành những quyền tự do khác. Tại sao giáo dân ở Tam Tòa mất tự do tôn giáo? Vì họ mất quyền tự do sử dụng một mảnh đất vẫn thuộc về chủ quyền của nhà thờ từ bao nhiêu đời trước và chưa bao giờ bị trưng dụng hợp pháp. Tại sao các tăng ni Bát Nhã bị mất quyền tự do tôn giáo? Vì họ không có quyền tự do hội họp để sống như một tăng đoàn (sangha), vì họ không có quyền tự do cư trú; Thầy Thái Thuận đã chấp thuận cho họ được ở trong chùa Phước Huệ rồi nhưng bị áp lực phải để họ ra đi. (Xin đừng cãi rằng chính quyền không hề có áp lực. Ðó là lối nói dối trá không ai tin; ở đây mình đang nói chuyện giữa những người đứng đắn; không thể nói chuyện với quý vị côn đồ được vì họ không theo những quy tắc đạo lý giống mình. Ai muốn tin những lời dối trá thì xin đi chỗ khác, chúng tôi xin cảm ơn).
Bây giờ đến lời ca ngợi, “tuyệt đại da số người dân trong đó có người dân các tôn giáo khác nhau đã đổ máu để xây dựng nên chế độ này và đang được hưởng thành quả tốt đẹp của nó.” Chúng tôi hoàn toàn đồng ý rằng rất nhiều người Việt Nam thuộc đủ các tôn giáo đã đổ máu để xây dựng nên chế độ hiện đang cai trị dân ta. Họ đổ máu chỉ vì lòng yêu nước, không ai chối cãi được. Họ đã bị lừa dối thế nào, chúng ta không bàn ở đây. Nhưng chính vì đã đổ máu, họ có quyền đòi hỏi chế độ đó phải tôn trọng các quyền tự do của các công dân, như ở các nước văn minh người dân vẫn được hưởng. Nhiều đảng viên cộng sản cũng đã nói thẳng rằng họ không ngờ đã xây dựng chế độ hiện nay; họ phải nói ra vì không muốn chia sẻ trách nhiệm về những tội ác của chế độ đó.
Và chúng ta cũng không biết những “thành quả tốt đẹp” nên kể là những thành quả nào? Nhưng chắc chắn việc đập phá cây thánh giá ở trên ngọn đồi có mồ mả chôn cất là một “thành quả” mà người dân không chấp nhận, dù thuộc bất cứ tôn giáo nào.
Bây giờ đến lời kết tội, “không thể vì một vài khúc mắc nhỏ lại được nêu lên như một sự kiện chính trị để lật đổ xã hội và là kẻ làm nô lệ cho kẻ khác thống trị được.” Khi một chính quyền mang súng ống, lựu đạn cay tới đàn áp, thuê du côn đến đánh đập dân chúng, từ các giáo dân ở Thái Hà, Ðồng Chiêm, tới các tăng ni ở Bát Nhã, thì những người có lương tâm trông thấy cảnh đó có thể nào giữ im lặng được hay không? Lên tiếng phản đối như vậy có nhất thiết là muốn “lật đổ xã hội” hay không? Người ta muốn chế độ phải thay đổi, trả các quyền tự do căn bản cho dân, thì đó là xây dựng cho xã hội tốt hơn, chứ sao lại coi là “lật đổ xã hội?” Tại sao cứ có người mở miệng phê bình những cái xấu, cái ác của chế độ thì vu cho người ta là muốn nước Việt Nam “làm nô lệ cho kẻ khác thống trị”?
Ðó là những lối nói “cả vú lấp miệng em” quen thuộc từ thời Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, một thói xấu đã bị cụ Phan Khôi bác bỏ và chế nhạo ngay từ thời 1956. Hễ ai phê bình cái xấu, cái ác, cái sai lầm của chế độ cộng sản độc tài thì lập tức bọn lãnh tụ này ra lệnh đám văn nô tố cáo người ta là “Việt gian, phản động, tay sai đế quốc,” vân vân. Thời Hồ Chí Minh như vậy, thời Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng bây giờ vẫn còn, nghệ thuật gian dối, kỹ thuật đàn áp có vẻ còn tinh vi hơn.
Bài này là mấy ý kiến để đáp lại một bức thư, vì người viết thư nhân danh một người sống ở Việt Nam. Tôi mong rằng nếu đồng bào trong nước còn ai nghĩ giống như ông ta thì đây là một dịp để giải thích rõ ràng. Bức thư trên kết tội người viết là “quá hằn học” khi viết bài “Chế Ðộ Côn Ðồ.” Nếu trong khi biện luận chúng tôi đã để cho người đọc cảm thấy có lời lẽ “hằn học” thì chúng tôi xin quý vị tha lỗi. Khi nghĩ đến cảnh người ta đập phá một cây thánh giá, chúng tôi không theo đạo Chúa nhưng cũng cảm thấy rất đau. Chúa thì không sợ đau đớn. Ðau đớn cho nền đạo lý của nước Việt Nam mình.
Nhưng một chế độ chuyên sử dụng các thủ đoạn côn đồ đối với các nhà tu và các tín đồ tôn giáo thì cuối cùng phải gọi nó là cái gì nếu không phải là Chế Ðộ Côn Ðồ? Nếu hai chữ “Côn Ðồ” có vẻ hằn học quá thì xin sửa lại, chỉ gọi nó bằng tên thật thôi. Gọi là Chế độ Hồ Chí Minh? Hay là chế độ Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng cũng đủ rồi?
Ngô Nhân Dụng Sau bài “Chế Ðộ Côn Ðồ” trên báo Người Việt đầu tuần này, một số độc giả đã góp ý kiến. Người viết bao giờ cũng cảm ơn quý vị đã đọc báo, đặc biệt là biết ơn quý vị đã bỏ công viết mấy lời bày tỏ ý kiến.
Trong số các bức thư phản hồi về bài này, chúng tôi xin trích đăng lại một bức thư sau đây, vì thấy có nhiều ngộ nhận cần bàn lại. Những ngộ nhận này không phải chỉ hiểu lầm riêng về bài “Chế Ðộ Côn Ðồ” mà liên hệ tới nhiều vấn đề khác, rất đáng làm cho rõ ràng, sáng tỏ hơn.
Lá thư của một độc giả ký tên Thanh, ngày 12 Tháng Giêng, năm 2010, viết như sau: “Tôi không hiểu sao lại có bài viết quá hằn học như thế này, nơi tôi ở có nhiều tôn giáo sinh sống trong đó có cả người Công Giáo, họ sống hòa thuận, vui vẻ và đi cầu nguyện theo ý mình mà không có bất kỳ một xem xét nào của chính quyền địa phương. Tôi dám khẳng định những nơi tôi đã đi thì tự do tôn giáo thật tốt đẹp như địa phận Hải Phòng, Ðức Cha Thiên quản, các giáo xứ đều thấy vô cùng thỏa mái bày tỏ ý nguyện của mình trong nhà chung và trò chuyện với các linh mục, không hề thấy có chuyện nào bị ngăn cản mà chỉ thấy mình cần làm tốt hơn các việc xã hội để mọi người cùng chung sống vui vẻ và hạnh phúc. Như nhận thức của tôi người viết bài viết “Chế Ðộ Côn Ðồ” không phải vì tôn giáo mà vì mục tiêu chính trị nằm trong các tôn giáo, như vậy thì chẳng nên chút nào vì tuyệt đại da số người dân trong đó có người dân các tôn giáo khác nhau đã đổ máu để xây dựng nên chế độ này và đang được hưởng thành quả tốt đẹp của nó, không thể vì một vài khúc mắc nhỏ lại được nêu lên như một sự kiện chính trị để lật đổ xã hội và là kẻ làm nô lệ cho kẻ khác thống trị được. Mong tác giả bình tĩnh và kiềm chế tư tưởng trước khi viết bài tương tự.” Ký tên: Thanh.
Người viết rất kính trọng quyền phát biểu với thiện chí. Ðáng lẽ có thể viết thư riêng để trả lời nhưng chúng tôi e ngại rằng nhiều vị có thể cũng chia sẻ những ý kiến trên dù không nói ra, cho nên xin giãi bày chung ở đây để tránh những hiểu lầm có hại chung.
Ðiều đầu tiên nên bàn cho rõ là vấn đề tự do tôn giáo. Tác giả bức thư cho biết ông đã trông thấy những giáo dân đi lễ không bị ngăn cản, họ bày tỏ ý kiến thoải mái, từ đó ông kết luận rằng, “Tôi khẳng định những nơi tôi đã đi thì tự do tôn giáo thật tốt đẹp.”
Ðây là lối suy luận theo phương pháp quy nạp, nghe có vẻ hợp lý nhưng không đúng tinh thần khoa học. Bởi vì tự do không có nghĩa là người ta được phép làm cái gì, mà là có ai bị ngăn trở, bị cấm đoán hay không (Isaiah Berlin đã bàn trong bài “Hai khái niệm về tự do” - Two Concepts of Liberty, năm 1958). Dù chỉ một người bị cấm đoán, mất tự do vì bị cưỡng chế, thì xã hội không có tự do.
Thí dụ, chúng ta biết các nhà văn ở Việt Nam không được tự do. Người ta có thể đưa bạn tới các tiệm sách, chỉ cho thấy hàng ngàn cuốn sách vẫn được bày bán, cả nước có 600 tờ báo, để chứng tỏ rằng nước Việt Nam có tự do phát biểu, tự do sáng tác. Nhưng hỏi nhà văn Bùi Ngọc Tấn thì biết, tiểu thuyết của ông in ra là bị thu hồi, sau đó muốn xuất bản phải sửa bản thảo theo yêu cầu của nhà nước. Sách của Dương Thu Hương có được xuất bản tự do ở Việt Nam hay không? Lại hỏi các nhà báo trong nước đang làm việc, xem khi viết thì họ phải nghe những mệnh lệnh của ai, những điều gì bị cấm không được nhắc tới. Chỉ kể vài thí dụ đó thôi, tự nhiên, ai cũng hiểu là các người viết văn, viết báo ở nước ta không có tự do.
Muốn biết tôn giáo ở nước ta có được tự do hay không thì không nên căn cứ vào những buổi lễ có hàng chục ngàn người tham dự. Nó cũng giống hàng ngàn cuốn sách, hàng trăm tờ báo đang được bày bán. Phải hỏi Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ có được tự do đi thăm các ngôi chùa thuộc giáo hội của ngài hay không? Hãy hỏi các tăng ni Tu viện Bát Nhã, xem họ có được tự do tu học với nhau hay không? Tại sao họ bị cấm cản, xua đuổi để lâm vào cảnh tan đàn sẻ nghé?
Còn một vấn đề quan trọng nữa, là lời khẳng định của vị độc giả trên lại thiếu tính chất khoa học. Cần biết cách suy luận khoa học như thế nào, thì chúng ta hiểu tại sao lời khẳng định trên là một thứ sai lầm rất dễ mắc phải, cần phải tránh. Ðây là một vấn đề triết lý về công việc nghiên cứu khoa học, nhưng không có gì khó hiểu cả. Ðầu thế kỷ 20, Karl Popper đã giúp các nhà khoa học hiểu rõ hơn bản chất những khám phá của họ, gọi là những “hiểu biết khoa học.” Một câu nói, một lời phát biểu, một mệnh đề, chỉ được coi thuộc phạm vi kiến thức khoa học khi nó có thể bị phủ nhận, có cách để chứng minh là nó sai; chứ không phải vì nó có thể được chứng minh bằng cách quan sát cho thấy nó đúng. Vì những hiện tượng chúng ta có thể quan sát được, những thứ gọi là sự thật khách quan thì vô vàn. Và cũng có vô vàn cách giải thích các hiện tượng đó, ai cũng có thể tìm ra một cách giải thích.
Cho nên một ý kiến chỉ được coi là khoa học khi nào nó có thể dùng thực nghiệm để phản bác, chứ không phải để chứng minh. Khi nào tìm cách phản bác một giả thuyết bằng thực nghiệm mà không bác bỏ được, thì tạm coi đó là một hiểu biết khoa học - cho đến khi có phương pháp quan sát kỹ hơn để thấy nó sai. Bản chất của khoa học rất khiêm tốn như vậy.
Thí dụ, một người tuyên bố rằng, “vì con cóc kêu nên trời mưa.” Nhiều người quan sát thấy quả nhiên khi cóc kêu thì trời mưa thật, chuyện xảy ra rất nhiều lần. Ý kiến đó có thể gọi là khoa học hay chăng? Muốn biết, phải tìm xem có khi nào cóc kêu mà trời không mưa hay không, hoặc trời mưa dù không thấy cóc kêu hay không. Nếu không bao giờ thấy cả, thì lý thuyết Con Cóc là Cậu Ông Trời là một lý thuyết khoa học. Những người quen suy luận một cách khoa học thì không tin rằng vì cóc kêu nên trời mưa, vì đã chứng kiến những lần hai hiện tượng đó không đi đôi với nhau. Lối suy nghĩ khoa học như vậy giúp chúng ta không suy luận hồ đồ.
Vị độc giả viết bức thư trên đây chỉ trích rằng “người viết bài viết ‘Chế độ côn đồ’ không phải vì tôn giáo mà vì mục tiêu chính trị nằm trong các tôn giáo.”
Khi bàn về các quyền tự do thì chúng ta chắc chắn bàn về chính trị, không bàn chuyện tôn giáo nữa. Vì tự do, dù trong phạm vi nào cũng là một quyền chính trị. Tự do tôn giáo chỉ được thực hiện khi người dân không bị cấm đoán thi hành những quyền tự do khác. Tại sao giáo dân ở Tam Tòa mất tự do tôn giáo? Vì họ mất quyền tự do sử dụng một mảnh đất vẫn thuộc về chủ quyền của nhà thờ từ bao nhiêu đời trước và chưa bao giờ bị trưng dụng hợp pháp. Tại sao các tăng ni Bát Nhã bị mất quyền tự do tôn giáo? Vì họ không có quyền tự do hội họp để sống như một tăng đoàn (sangha), vì họ không có quyền tự do cư trú; Thầy Thái Thuận đã chấp thuận cho họ được ở trong chùa Phước Huệ rồi nhưng bị áp lực phải để họ ra đi. (Xin đừng cãi rằng chính quyền không hề có áp lực. Ðó là lối nói dối trá không ai tin; ở đây mình đang nói chuyện giữa những người đứng đắn; không thể nói chuyện với quý vị côn đồ được vì họ không theo những quy tắc đạo lý giống mình. Ai muốn tin những lời dối trá thì xin đi chỗ khác, chúng tôi xin cảm ơn).
Bây giờ đến lời ca ngợi, “tuyệt đại da số người dân trong đó có người dân các tôn giáo khác nhau đã đổ máu để xây dựng nên chế độ này và đang được hưởng thành quả tốt đẹp của nó.” Chúng tôi hoàn toàn đồng ý rằng rất nhiều người Việt Nam thuộc đủ các tôn giáo đã đổ máu để xây dựng nên chế độ hiện đang cai trị dân ta. Họ đổ máu chỉ vì lòng yêu nước, không ai chối cãi được. Họ đã bị lừa dối thế nào, chúng ta không bàn ở đây. Nhưng chính vì đã đổ máu, họ có quyền đòi hỏi chế độ đó phải tôn trọng các quyền tự do của các công dân, như ở các nước văn minh người dân vẫn được hưởng. Nhiều đảng viên cộng sản cũng đã nói thẳng rằng họ không ngờ đã xây dựng chế độ hiện nay; họ phải nói ra vì không muốn chia sẻ trách nhiệm về những tội ác của chế độ đó.
Và chúng ta cũng không biết những “thành quả tốt đẹp” nên kể là những thành quả nào? Nhưng chắc chắn việc đập phá cây thánh giá ở trên ngọn đồi có mồ mả chôn cất là một “thành quả” mà người dân không chấp nhận, dù thuộc bất cứ tôn giáo nào.
Bây giờ đến lời kết tội, “không thể vì một vài khúc mắc nhỏ lại được nêu lên như một sự kiện chính trị để lật đổ xã hội và là kẻ làm nô lệ cho kẻ khác thống trị được.” Khi một chính quyền mang súng ống, lựu đạn cay tới đàn áp, thuê du côn đến đánh đập dân chúng, từ các giáo dân ở Thái Hà, Ðồng Chiêm, tới các tăng ni ở Bát Nhã, thì những người có lương tâm trông thấy cảnh đó có thể nào giữ im lặng được hay không? Lên tiếng phản đối như vậy có nhất thiết là muốn “lật đổ xã hội” hay không? Người ta muốn chế độ phải thay đổi, trả các quyền tự do căn bản cho dân, thì đó là xây dựng cho xã hội tốt hơn, chứ sao lại coi là “lật đổ xã hội?” Tại sao cứ có người mở miệng phê bình những cái xấu, cái ác của chế độ thì vu cho người ta là muốn nước Việt Nam “làm nô lệ cho kẻ khác thống trị”?
Ðó là những lối nói “cả vú lấp miệng em” quen thuộc từ thời Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, một thói xấu đã bị cụ Phan Khôi bác bỏ và chế nhạo ngay từ thời 1956. Hễ ai phê bình cái xấu, cái ác, cái sai lầm của chế độ cộng sản độc tài thì lập tức bọn lãnh tụ này ra lệnh đám văn nô tố cáo người ta là “Việt gian, phản động, tay sai đế quốc,” vân vân. Thời Hồ Chí Minh như vậy, thời Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng bây giờ vẫn còn, nghệ thuật gian dối, kỹ thuật đàn áp có vẻ còn tinh vi hơn.
Bài này là mấy ý kiến để đáp lại một bức thư, vì người viết thư nhân danh một người sống ở Việt Nam. Tôi mong rằng nếu đồng bào trong nước còn ai nghĩ giống như ông ta thì đây là một dịp để giải thích rõ ràng. Bức thư trên kết tội người viết là “quá hằn học” khi viết bài “Chế Ðộ Côn Ðồ.” Nếu trong khi biện luận chúng tôi đã để cho người đọc cảm thấy có lời lẽ “hằn học” thì chúng tôi xin quý vị tha lỗi. Khi nghĩ đến cảnh người ta đập phá một cây thánh giá, chúng tôi không theo đạo Chúa nhưng cũng cảm thấy rất đau. Chúa thì không sợ đau đớn. Ðau đớn cho nền đạo lý của nước Việt Nam mình.
Nhưng một chế độ chuyên sử dụng các thủ đoạn côn đồ đối với các nhà tu và các tín đồ tôn giáo thì cuối cùng phải gọi nó là cái gì nếu không phải là Chế Ðộ Côn Ðồ? Nếu hai chữ “Côn Ðồ” có vẻ hằn học quá thì xin sửa lại, chỉ gọi nó bằng tên thật thôi. Gọi là Chế độ Hồ Chí Minh? Hay là chế độ Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng cũng đủ rồi?
Ðối phó với Tôn Quốc Tường
Nguyễn Ðạt Thịnh Tôn Quốc Tường là ai? Tại sao lại phải đối phó với hắn?
Tường là đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Trung Cộng tại Việt Nam . Và việc hắn làm là cấm không cho ngư dân rên siết cầu cứu trong lúc bị lính Trung Cộng hành hạ, ngược đãi, bắn giết.Báo giới quốc nội đang co rúm lại sợ sệt sau cuộc họp báo của Tường tại Hà Nội, yêu cầu họ theo gương báo chí Tầu, không đã động gì đến việc lính Tầu hiếp đáp ngư dân Việt Nam .
Tác giả bài báo đăng trên VietnamNet ngày mùng 7 tháng Giêng 2010 không phải là biên tập viên của tờ báo, mà chỉ là một độc giả, ông “độc giả” Khương Duy, tờ báo online phải tách bạch phân trần như vậy để tránh trách nhiệm có tư tưởng chống Tôn Quốc Tường, vì Khương Duy mổ xẻ hơi “kỹ” lời tuyên bố của Tường.
Ông “độc giả viết, “bài tường thuật buổi họp báo ngày 6/1 tại Hà Nội đăng trên VietNamNet khiến tôi không thể không suy ngẫm. Trong bài viết này, chỉ xin bình luận về lời khuyên của ông Tường rằng "Không nên đưa tin những việc xấu như thế này. Phóng viên Việt Nam phải kiểm tra lại, báo chí Trung Quốc ít đưa tin về tranh chấp trên biển, tranh chấp về nghề cá và chúng tôi luôn xuất phát từ đại cục, tuy rằng chúng tôi có lý nhưng chúng tôi thấy cũng không nên đưa tin."
Ông toàn quyền bảo truyền thông Việt Nam “chuyện đâu pỏ đó, chớ có làm ầm lên”; mặc dù không tham dự buổi họp báo của ông Tường, nhưng tôi vẫn biết là trong buổi họp báo này không có phóng viên ngoại quốc, hoặc nếu có, thì những phóng viên này cũng chỉ đại diện cho truyền thông Trung Hoa.
Tôi đoán được điều này vì nếu có phóng viên Pháp AFP, hay phóng viên Mỹ AP thì những người này sẽ hỏi lại ông “việc báo chí Việt Nam tường thuật ngư phủ Việt Nam bị hà hiếp, bắn giết, có thật không? Nếu có ông không được ngăn cấm họ làm trọng trách thông tin; và nếu không có, ông cứ sử dụng quyền đính chánh.”
“Những việc xấu như thế này" mà ông Tôn Quốc Tường nhắc đến là những việc gây xôn xao gần đây, khi những ngư dân Việt Nam lên tiếng về cách đối xử thiếu nhân đạo và trái luật pháp quốc tế của đội kiểm ngư, tuần tra trên phần biển mà Trung Cộng gọi là của Trung Cộng.
Ðộc giả Khương Duy viết tiếp, “Xin thưa với ông Đại sứ rằng, vì tôn trọng cách ứng xử "xuất phát từ đại cục" mà báo chí Việt Nam, và cả nhân dân Việt Nam đã thôi không nhắc đến những chuyện buồn trong mối quan hệ giữa hai nước trong vài thập niên cuối thế kỷ XX.
Diễn biến cuộc chiến nơi biên giới Việt Trung năm 1979 chỉ được nhắc đến vài dòng trong sách Lịch sử.
Trận hải chiến không cân sức trên biển chục năm sau trên bãi Gạc Ma - nơi những người lính hải quân nhân dân Việt Nam nắm tay nhau chiến đấu đến hơi thở cuối cùng - cũng chỉ gần đây mới được hé lộ đôi điều.”
“Người dân Việt Nam vốn yêu chuộng hoà bình, biết khi nào nên cầm súng chiến đấu, khi nào nên bắt tay làm hoà, lẽ nào không thấm nhuần cách ứng xử lấy đại cục làm trọng ấy sao?” Ông Khương Duy nhẹ nhàng phản đối Tường, điều mà VietnamNet không dám làm.”
Câu hỏi cần đặt ra là “tại sao Tường lại nói với báo chí Việt Nam , mà không chỉ thị thẳng cho nhà nước Việt Cộng?” Và câu trả lời đương nhiên thứ nhất là “vì nếu báo chí Việt Nam không đăng lời tố giác của ngư dân Việt Nam thì người Việt Nam không biết, người ngoại quốc lại càng mù tịt.
Câu trả lời thứ nhì là “sau khi toàn quyền Tường đã lên tiếng yêu cầu mà truyền thông Việt Nam còn đăng những việc lính Trung Cộng bóp cổ, bắt bớ, tịch thu tầu cá của ngư dân Việt Nam để đòi tiền chuộc, và vợ con ngư dân bán nhà đem tiền đến ngân hàng đóng tiền chuộc mạng chồng,” Tường sẽ dùng oai toàn quyền mẫu quốc ra lệnh cho Nguyễn Tấn Dũng bịp miệng báo chí.
Việc VietnamNet phải nói rõ là bài báo nhận định về câu tuyên bố của Tường chỉ là ý kiến của độc giả, ý kiến mà tờ báo không chủ trương, không chịu trách nhiệm, cho thấy là báo chí sợ Tường, và sau một vài bài phản đối dư luận sẽ im ắng dù ngư dân tiếp tục bị uy hiếp.
Tôi có một đề nghị với những người đồng nghiệp của tôi trong quốc nội: xin quý bạn gắp cục than hồng nóng bỏng Tôn Thất Tường đó, bỏ vào tay chúng tôi; nói cách khác, xin quý vị giúp truyền thông hải ngoại nhập cuộc.
Giúp bằng cách gài nhiếp ảnh viên trên những chiếc tầu cá Việt Nam ra khơi; thử tưởng tượng bức ảnh (phổ biến trên báo Tầu) hai chiếc ca nô Tầu kẹp uy hiếp chiếc tầu cá Việt Nam vào giữa, lính Trung Cộng nhẩy lên tầu cá thái độ, dù nhìn xa cũng đã thấy rất hung hăng.
Chỉ cần một loạt hình ảnh như vậy được chụp gần, chụp từ trong tầu cá, và được phổ biến trên mạng, trên báo và trên bill board, là chúng ta đã đạt được một kết quả rất lớn và rất rộng, như hải ngoại đã phổ biến tấm ảnh bịt miệng Linh mục Nguyễn Văn Lý.
Hơn nữa, hải ngoại còn có thể liên lạc với quốc nội bằng điện thoại để phỏng vấn những ngư phủ nạn nhân của giặc cờ đen hải tặc.
Ðừng quên nhược điểm của “chú ba” Tôn Quốc Tường là ngoài việc bóp miệng báo chí Việt Nam , hắn còn là mại bản của tiệm chạp phô “Chung Cuốc.”
Chú chệt Tôn Quốc Cường và những chú chệt lớn hơn quan “đại sứ toàn quyền” rất sợ khách hàng tẩy chay những cửa hàng “hầm pà lằng” 99 cents “hẩu lớ, hẩu lớ” của “các chú”.
Gài một nhiếp ảnh viên xuống tầu cá không khó đến mức không làm được; xin quý bạn đồng nghiệp quốc nội hình dung kết quả to lớn đạt được trên tầm vóc quốc tế mà tạo ra sự cộng tác cần thiết giữa truyền thông quốc nội và hải ngoại.
Sau khi phổ biến hình ảnh “hải tặc Tầu” trên toàn thế giới, chúng ta sẽ mời ông toàn quyền Tôn Quốc Tường ra hải ngoại họp báo.
Nguyễn Ðạt Thịnh
Nguyễn Ðạt Thịnh Tôn Quốc Tường là ai? Tại sao lại phải đối phó với hắn?
Tường là đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Trung Cộng tại Việt Nam . Và việc hắn làm là cấm không cho ngư dân rên siết cầu cứu trong lúc bị lính Trung Cộng hành hạ, ngược đãi, bắn giết.Báo giới quốc nội đang co rúm lại sợ sệt sau cuộc họp báo của Tường tại Hà Nội, yêu cầu họ theo gương báo chí Tầu, không đã động gì đến việc lính Tầu hiếp đáp ngư dân Việt Nam .
Tác giả bài báo đăng trên VietnamNet ngày mùng 7 tháng Giêng 2010 không phải là biên tập viên của tờ báo, mà chỉ là một độc giả, ông “độc giả” Khương Duy, tờ báo online phải tách bạch phân trần như vậy để tránh trách nhiệm có tư tưởng chống Tôn Quốc Tường, vì Khương Duy mổ xẻ hơi “kỹ” lời tuyên bố của Tường.
Ông “độc giả viết, “bài tường thuật buổi họp báo ngày 6/1 tại Hà Nội đăng trên VietNamNet khiến tôi không thể không suy ngẫm. Trong bài viết này, chỉ xin bình luận về lời khuyên của ông Tường rằng "Không nên đưa tin những việc xấu như thế này. Phóng viên Việt Nam phải kiểm tra lại, báo chí Trung Quốc ít đưa tin về tranh chấp trên biển, tranh chấp về nghề cá và chúng tôi luôn xuất phát từ đại cục, tuy rằng chúng tôi có lý nhưng chúng tôi thấy cũng không nên đưa tin."
Ông toàn quyền bảo truyền thông Việt Nam “chuyện đâu pỏ đó, chớ có làm ầm lên”; mặc dù không tham dự buổi họp báo của ông Tường, nhưng tôi vẫn biết là trong buổi họp báo này không có phóng viên ngoại quốc, hoặc nếu có, thì những phóng viên này cũng chỉ đại diện cho truyền thông Trung Hoa.
Tôi đoán được điều này vì nếu có phóng viên Pháp AFP, hay phóng viên Mỹ AP thì những người này sẽ hỏi lại ông “việc báo chí Việt Nam tường thuật ngư phủ Việt Nam bị hà hiếp, bắn giết, có thật không? Nếu có ông không được ngăn cấm họ làm trọng trách thông tin; và nếu không có, ông cứ sử dụng quyền đính chánh.”
“Những việc xấu như thế này" mà ông Tôn Quốc Tường nhắc đến là những việc gây xôn xao gần đây, khi những ngư dân Việt Nam lên tiếng về cách đối xử thiếu nhân đạo và trái luật pháp quốc tế của đội kiểm ngư, tuần tra trên phần biển mà Trung Cộng gọi là của Trung Cộng.
Ðộc giả Khương Duy viết tiếp, “Xin thưa với ông Đại sứ rằng, vì tôn trọng cách ứng xử "xuất phát từ đại cục" mà báo chí Việt Nam, và cả nhân dân Việt Nam đã thôi không nhắc đến những chuyện buồn trong mối quan hệ giữa hai nước trong vài thập niên cuối thế kỷ XX.
Diễn biến cuộc chiến nơi biên giới Việt Trung năm 1979 chỉ được nhắc đến vài dòng trong sách Lịch sử.
Trận hải chiến không cân sức trên biển chục năm sau trên bãi Gạc Ma - nơi những người lính hải quân nhân dân Việt Nam nắm tay nhau chiến đấu đến hơi thở cuối cùng - cũng chỉ gần đây mới được hé lộ đôi điều.”
“Người dân Việt Nam vốn yêu chuộng hoà bình, biết khi nào nên cầm súng chiến đấu, khi nào nên bắt tay làm hoà, lẽ nào không thấm nhuần cách ứng xử lấy đại cục làm trọng ấy sao?” Ông Khương Duy nhẹ nhàng phản đối Tường, điều mà VietnamNet không dám làm.”
Câu hỏi cần đặt ra là “tại sao Tường lại nói với báo chí Việt Nam , mà không chỉ thị thẳng cho nhà nước Việt Cộng?” Và câu trả lời đương nhiên thứ nhất là “vì nếu báo chí Việt Nam không đăng lời tố giác của ngư dân Việt Nam thì người Việt Nam không biết, người ngoại quốc lại càng mù tịt.
Câu trả lời thứ nhì là “sau khi toàn quyền Tường đã lên tiếng yêu cầu mà truyền thông Việt Nam còn đăng những việc lính Trung Cộng bóp cổ, bắt bớ, tịch thu tầu cá của ngư dân Việt Nam để đòi tiền chuộc, và vợ con ngư dân bán nhà đem tiền đến ngân hàng đóng tiền chuộc mạng chồng,” Tường sẽ dùng oai toàn quyền mẫu quốc ra lệnh cho Nguyễn Tấn Dũng bịp miệng báo chí.
Việc VietnamNet phải nói rõ là bài báo nhận định về câu tuyên bố của Tường chỉ là ý kiến của độc giả, ý kiến mà tờ báo không chủ trương, không chịu trách nhiệm, cho thấy là báo chí sợ Tường, và sau một vài bài phản đối dư luận sẽ im ắng dù ngư dân tiếp tục bị uy hiếp.
Tôi có một đề nghị với những người đồng nghiệp của tôi trong quốc nội: xin quý bạn gắp cục than hồng nóng bỏng Tôn Thất Tường đó, bỏ vào tay chúng tôi; nói cách khác, xin quý vị giúp truyền thông hải ngoại nhập cuộc.
Giúp bằng cách gài nhiếp ảnh viên trên những chiếc tầu cá Việt Nam ra khơi; thử tưởng tượng bức ảnh (phổ biến trên báo Tầu) hai chiếc ca nô Tầu kẹp uy hiếp chiếc tầu cá Việt Nam vào giữa, lính Trung Cộng nhẩy lên tầu cá thái độ, dù nhìn xa cũng đã thấy rất hung hăng.
Chỉ cần một loạt hình ảnh như vậy được chụp gần, chụp từ trong tầu cá, và được phổ biến trên mạng, trên báo và trên bill board, là chúng ta đã đạt được một kết quả rất lớn và rất rộng, như hải ngoại đã phổ biến tấm ảnh bịt miệng Linh mục Nguyễn Văn Lý.
Hơn nữa, hải ngoại còn có thể liên lạc với quốc nội bằng điện thoại để phỏng vấn những ngư phủ nạn nhân của giặc cờ đen hải tặc.
Ðừng quên nhược điểm của “chú ba” Tôn Quốc Tường là ngoài việc bóp miệng báo chí Việt Nam , hắn còn là mại bản của tiệm chạp phô “Chung Cuốc.”
Chú chệt Tôn Quốc Cường và những chú chệt lớn hơn quan “đại sứ toàn quyền” rất sợ khách hàng tẩy chay những cửa hàng “hầm pà lằng” 99 cents “hẩu lớ, hẩu lớ” của “các chú”.
Gài một nhiếp ảnh viên xuống tầu cá không khó đến mức không làm được; xin quý bạn đồng nghiệp quốc nội hình dung kết quả to lớn đạt được trên tầm vóc quốc tế mà tạo ra sự cộng tác cần thiết giữa truyền thông quốc nội và hải ngoại.
Sau khi phổ biến hình ảnh “hải tặc Tầu” trên toàn thế giới, chúng ta sẽ mời ông toàn quyền Tôn Quốc Tường ra hải ngoại họp báo.
Nguyễn Ðạt Thịnh
Không thể đồng lõa với tội ác
Ngô Nhân Dụng Nghe tin công ty Google công bố lời đe dọa sẽ rút khỏi thị trường Trung Quốc nếu không giải quyết được vấn đề tin tặc, chúng ta chứng kiến một cuộc va chạm giữa hai lối sống và lối suy nghĩ khác nhau.
Ðây không phải là một xung đột giữa văn minh Trung Hoa và văn minh Tây phương, như những người thích triết lý có thể làm ra cho to chuyện. Ðây chỉ là biểu hiện sự xung khắc giữa hai lối sống mới và cũ, ở bất cứ nơi nào trên thế giới. Một bên là lối sống và lối suy nghĩ của những người làm công việc kinh doanh tự do, sống được nhờ xã hội có tự do. Bên kia là nếp sống và nếp suy nghĩ quen thuộc của những người có đầu óc gia trưởng, đặc biệt đó lại là những người chiếm được quyền điều khiển một quốc gia theo lối độc tài đảng trị. Hai nền nếp, hai “văn hóa” khác nhau, rất khó sống chung.
Công ty Google Inc. là hiện tượng kinh doanh độc đáo trong kinh tế thị trường; chỉ trong một xã hội tự do mới sinh ra được một công ty trẻ, đầy sáng kiến, đã ra đời, lớn lên, đứng hàng đầu thế giới trong ngành của mình nhờ sáng kiến và phát minh. Chính phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa là tiêu biểu cho một chế độ độc tài với những quan chức có tham vọng đặt tất cả xã hội trong bàn tay kiểm soát của họ.
Khi thiết lập Google vào năm 1999, hai người trẻ tuổi đã chọn một châm ngôn: Không làm ác (Don't be Evil); chứng tỏ ngoài mục tiêu lợi nhuận họ làm công việc kinh doanh với một lý tưởng. Châm ngôn này khiến người ta nghĩ tới khẩu hiệu Ahimsa (Chữ Phạn, nghĩa là Bất hại) của Thánh Gandhi, mà người Tây phương thường dịch theo nghĩa hẹp là Bất bạo động. Công ty đứng hàng đầu thế giới về kỹ thuật tra tìm trong các mạng lưới, hai thanh niên ngoài 20 tuổi, Page và Brin trở thành những tỷ phú. Google Inc đã bị chính quyền Trung Quốc ngăn cản nhiều lần, khiến các người ở lục địa không thể vào được mạng này mà tra tìm tài liệu. Năm 2006, Google Inc thành lập một công ty riêng, Google.cn để hoạt động ở Trung Quốc trong khuôn khổ những ràng buộc có sẵn, trong đó có việc phải tự kiểm duyệt, không cho thân chủ truy cập được nhiều mạng lưới mà Bắc Kinh cấm đoán.
Tuần trước, Google đã thú nhận rằng cái giá mà họ sẵn lòng trả để được hoạt động ở Trung Quốc quá đắt. Vì mạng lưới của Google.cn đã liên tiếp bị “tin tặc” xâm nhập, nhắm vào các nhà hoạt động cho tự do dân chủ để xem lén các thư tín mà họ trao đổi qua dịch vụ điện thư gmail của Google. Ai cũng biết dưới một chế độ kiểm soát dân chặt chẽ như cộng sản Trung Hoa, bọn “giặc tin học” này có thể do công an chủ trương, hoặc đạt dưới sự bảo trợ của guồng máy công an; không khác gì những tổ chức buôn bán ma túy ở Việt Nam! Từ năm ngoái, nhân dịp kỷ niệm 60 năm thành lập chế độ cộng sản và 20 năm sau cuộc thảm sát ở Thiên An Môn, chính quyền cộng sản đã tăng cường việc kiểm duyệt và cấm đoán tin tức trên mạng. Hoạt động của các mạng lưới cung cấp Facebook, YouTube, Twitter đã bị ngăn cản. Sau khi công bố nhận định về nạn “tin tặc,” Google ngưng không làm công việc kiểm duyệt các mạng lưới đi qua họ như chính phủ Bắc Kinh đòi hỏi, vì trái với tinh thần tôn trọng quyền tự do phát biểu.
Ngay sau khi Google tuyên bố có thể rút khỏi thị trường Trung Quốc, có 60 ngàn người lên tiếng trong một ngày đầu, phần lớn ủng hộ quyết định này. Một người Trung Hoa nhận xét rằng nếu không có Google thì nước này sẽ trở về “thời đồ đá của Internet.” Tuy mạng tra tìm Baidu.com của người Trung Quốc chiếm tới 60, 70% thị trường trong khi Google chỉ chiếm được phần còn lại, nhưng trình độ kỹ thuật và kết quả phong phú khi sử dụng Google hiện nay chưa công ty nào bằng.
Nhiều công ty nước ngoài đã từng bị làm khó dễ ở Trung Quốc và từng phản đối. Trong lời tuyên bố chính thức Google cũng nói bọn “tin tặc” đã từng đột nhập vào nhiều công ty khác. Có nguồn tin cho biết tới 20 công ty bị ăn cắp thường xuyên. Nhưng chưa có một công ty nào dùng những lời lẽ nặng nề như bản tuyên bố chính thức của Google khi họ đe dọa sẽ rút khỏi thị trường Trung Quốc. Ngay sau khi Google ngưng làm công việc kiểm duyệt, nhiều người Trung Hoa trong nước đã thử vào mạng tra tìm của công ty để tìm tài liệu về những đề tài trước đây không được phổ biến. Thí dụ, họ đã viết những chữ Thiên An Môn 1989 để tìm những tài liệu trước đây vẫn bị cấm.
Nhiều người có thể cho là quyết định của Google tương đối dễ vì số lợi nhuận của họ kiếm được ở trong nước Trung Hoa rất nhỏ so với tổng số. Nhưng nếu công ty này thực sự rút ra ngoài, uy tín của cả chế độ cộng sản ở Bắc Kinh sẽ bị sa sút. Từ 30 năm nay, các công ty quốc tế đã đóng vai đồng minh khách quan của chế độ Bắc Kinh, giúp họ thay đổi nền kinh tế. Nhưng họ sẽ phải đặt lại câu hỏi có nên tiếp tục hỗ trợ một độc tài chuyên vi phạm nhân quyền hay không.
Một tuần sau khi Google tuyên bố có thể rút chân ra, chính quyền Trung Quốc chỉ đưa ra một phản ứng chung chung, đại ý nói các công ty ngoài đều phải tuân thủ luật lệ ở nước họ. Trước lời tố cáo những hoạt động ăn cắp tin tức trong mạng lưới, Bắc Kinh còn nêu lên vấn đề “an ninh” trên Internet, mà theo họ, “Muốn bảo vệ an ninh trong Internet thì phải hướng dẫn các ý kiến phổ biến trên đó.”
Ðây là một quan niệm về “an ninh” theo lối suy nghĩ của chế độ độc tài. Ðối với Google, an ninh là bảo vệ các thông tin trên mạng không bị kẻ cắp đọc trộm, lấy trộm. Ðối với các cán bộ công an thì an ninh là truy tầm được những người có ý kiến khác với đường lối của đảng Cộng Sản. Gần đây, một nhà tranh đấu cho dân chủ là ông Lưu Hiểu Ba đã bị kết án 11 năm tù vì trao đổi các thông tin đòi hỏi dân chủ tự do cho người Trung Hoa. Trong tháng trước, họa sĩ Ai Weiwei (Ải Vị Vị) ở Bắc Kinh đã biết các email của ông qua mạng lưới Google đã bị đột nhập nhiều lần và bị chép lại, ngay cả trương mục ngân hàng của ông cũng bị người vào tìm đọc! Ông là người đã tổ chức các cuộc hội thảo về dân quyền ngay giữa thủ đô. Từ Tháng Tám năm ngoái, cả vùng Tân Cương đã không được tự do vào Internet, sau cuộc biểu tình của người Uyghur bị tàn sát khiến 200 người chết. Ðây là một vùng đất rộng gấp 3 lần tiểu bang Texas nhưng Internet bị hạn chế đến nỗi các doanh nhân muốn nhận và gửi email phải đi xa hàng ngàn cây số, có người bay về Bắc Kinh cho đỡ mất thời giờ, có người đi sang nước Kazackhstan để viết email. Một người dân đã than: Chúng tôi đã trở thành những người điếc! Tình cảnh giống như thời 1970, mọi thông tin đều nghe qua loa phóng thanh của nhà nước!
Thông tin là huyết mạch của thị trường, của đời sống kinh tế. Người ta đo tình trạng dân trí bằng số lượng thông tin mà người dân nhận được, ngày xưa là số người đọc báo, ngày nay thêm số người vào Internet. Mặc dù các nguồn thông tin bị hạn chế, 300 triệu người Trung Hoa đang dùng Internet, lớn bằng dân số nước Mỹ.
Ðối với một chế độ độc tài thì điều quan tâm duy nhất của họ không phải là phúc lợi của người dân, mà là sự an toàn nhất thời của các những người nắm quyền. Nhưng đối với một công ty quốc tế thì điều quan trọng nhất là giữ được lòng tin của thân chủ, đặc biệt là đối với một công ty chuyên về thông tin. Cho nên, quyết định có thể rút khỏi thị trường Trung Hoa của Google là theo đúng quyền lợi kinh doanh của họ, vì nếu mất lòng tin của công chúng thì về lâu về dài chính họ sẽ bị thiệt hại. Ðó là chưa kể là quyết định trên cũng theo đúng tý tưởng “Không làm điều ác” trong châm ngôn của họ.
Người ta có thể làm điều ác một cách thụ động khi nhắm mắt đồng lõa với việc ác; như việc ăn cắp tin tức; nhất là khi những tay tin tặc này thuộc Bộ Công An của một chế độ có ghế ngồi thường trực trong Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc. Năm 2008, một nhà tranh đấu Dân Chủ ở Trung Quốc đã lên án cả 2 công ty Google và Yahoo! Vì hai mạng lưới tra tìm này đều kiểm duyệt không cho ai tìm đọc được mạng lưới của ông. Ông Guo Quan lên án hai công ty này là “những con chó vẫy đuôi theo lệnh của chế độ cộng sản.” Ông Quách Tuyền sau đó đã bị kết án tù 10 năm vì đòi tự do dân chủ.
Một công ty làm việc thông tin không có thể đóng vai “con chó vẫy đuôi” theo lệnh của người khác được. Nhất là nghe theo lệnh một đảng độc tài tham nhũng đã sẵn sàng giết các người gốc thiểu số ở Tân Cương, và đưa xe thiết giáp đàn áp sinh viên, công nhân của họ ở Thiên An Môn.
Ngô Nhân Dụng Nghe tin công ty Google công bố lời đe dọa sẽ rút khỏi thị trường Trung Quốc nếu không giải quyết được vấn đề tin tặc, chúng ta chứng kiến một cuộc va chạm giữa hai lối sống và lối suy nghĩ khác nhau.
Ðây không phải là một xung đột giữa văn minh Trung Hoa và văn minh Tây phương, như những người thích triết lý có thể làm ra cho to chuyện. Ðây chỉ là biểu hiện sự xung khắc giữa hai lối sống mới và cũ, ở bất cứ nơi nào trên thế giới. Một bên là lối sống và lối suy nghĩ của những người làm công việc kinh doanh tự do, sống được nhờ xã hội có tự do. Bên kia là nếp sống và nếp suy nghĩ quen thuộc của những người có đầu óc gia trưởng, đặc biệt đó lại là những người chiếm được quyền điều khiển một quốc gia theo lối độc tài đảng trị. Hai nền nếp, hai “văn hóa” khác nhau, rất khó sống chung.
Công ty Google Inc. là hiện tượng kinh doanh độc đáo trong kinh tế thị trường; chỉ trong một xã hội tự do mới sinh ra được một công ty trẻ, đầy sáng kiến, đã ra đời, lớn lên, đứng hàng đầu thế giới trong ngành của mình nhờ sáng kiến và phát minh. Chính phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa là tiêu biểu cho một chế độ độc tài với những quan chức có tham vọng đặt tất cả xã hội trong bàn tay kiểm soát của họ.
Khi thiết lập Google vào năm 1999, hai người trẻ tuổi đã chọn một châm ngôn: Không làm ác (Don't be Evil); chứng tỏ ngoài mục tiêu lợi nhuận họ làm công việc kinh doanh với một lý tưởng. Châm ngôn này khiến người ta nghĩ tới khẩu hiệu Ahimsa (Chữ Phạn, nghĩa là Bất hại) của Thánh Gandhi, mà người Tây phương thường dịch theo nghĩa hẹp là Bất bạo động. Công ty đứng hàng đầu thế giới về kỹ thuật tra tìm trong các mạng lưới, hai thanh niên ngoài 20 tuổi, Page và Brin trở thành những tỷ phú. Google Inc đã bị chính quyền Trung Quốc ngăn cản nhiều lần, khiến các người ở lục địa không thể vào được mạng này mà tra tìm tài liệu. Năm 2006, Google Inc thành lập một công ty riêng, Google.cn để hoạt động ở Trung Quốc trong khuôn khổ những ràng buộc có sẵn, trong đó có việc phải tự kiểm duyệt, không cho thân chủ truy cập được nhiều mạng lưới mà Bắc Kinh cấm đoán.
Tuần trước, Google đã thú nhận rằng cái giá mà họ sẵn lòng trả để được hoạt động ở Trung Quốc quá đắt. Vì mạng lưới của Google.cn đã liên tiếp bị “tin tặc” xâm nhập, nhắm vào các nhà hoạt động cho tự do dân chủ để xem lén các thư tín mà họ trao đổi qua dịch vụ điện thư gmail của Google. Ai cũng biết dưới một chế độ kiểm soát dân chặt chẽ như cộng sản Trung Hoa, bọn “giặc tin học” này có thể do công an chủ trương, hoặc đạt dưới sự bảo trợ của guồng máy công an; không khác gì những tổ chức buôn bán ma túy ở Việt Nam! Từ năm ngoái, nhân dịp kỷ niệm 60 năm thành lập chế độ cộng sản và 20 năm sau cuộc thảm sát ở Thiên An Môn, chính quyền cộng sản đã tăng cường việc kiểm duyệt và cấm đoán tin tức trên mạng. Hoạt động của các mạng lưới cung cấp Facebook, YouTube, Twitter đã bị ngăn cản. Sau khi công bố nhận định về nạn “tin tặc,” Google ngưng không làm công việc kiểm duyệt các mạng lưới đi qua họ như chính phủ Bắc Kinh đòi hỏi, vì trái với tinh thần tôn trọng quyền tự do phát biểu.
Ngay sau khi Google tuyên bố có thể rút khỏi thị trường Trung Quốc, có 60 ngàn người lên tiếng trong một ngày đầu, phần lớn ủng hộ quyết định này. Một người Trung Hoa nhận xét rằng nếu không có Google thì nước này sẽ trở về “thời đồ đá của Internet.” Tuy mạng tra tìm Baidu.com của người Trung Quốc chiếm tới 60, 70% thị trường trong khi Google chỉ chiếm được phần còn lại, nhưng trình độ kỹ thuật và kết quả phong phú khi sử dụng Google hiện nay chưa công ty nào bằng.
Nhiều công ty nước ngoài đã từng bị làm khó dễ ở Trung Quốc và từng phản đối. Trong lời tuyên bố chính thức Google cũng nói bọn “tin tặc” đã từng đột nhập vào nhiều công ty khác. Có nguồn tin cho biết tới 20 công ty bị ăn cắp thường xuyên. Nhưng chưa có một công ty nào dùng những lời lẽ nặng nề như bản tuyên bố chính thức của Google khi họ đe dọa sẽ rút khỏi thị trường Trung Quốc. Ngay sau khi Google ngưng làm công việc kiểm duyệt, nhiều người Trung Hoa trong nước đã thử vào mạng tra tìm của công ty để tìm tài liệu về những đề tài trước đây không được phổ biến. Thí dụ, họ đã viết những chữ Thiên An Môn 1989 để tìm những tài liệu trước đây vẫn bị cấm.
Nhiều người có thể cho là quyết định của Google tương đối dễ vì số lợi nhuận của họ kiếm được ở trong nước Trung Hoa rất nhỏ so với tổng số. Nhưng nếu công ty này thực sự rút ra ngoài, uy tín của cả chế độ cộng sản ở Bắc Kinh sẽ bị sa sút. Từ 30 năm nay, các công ty quốc tế đã đóng vai đồng minh khách quan của chế độ Bắc Kinh, giúp họ thay đổi nền kinh tế. Nhưng họ sẽ phải đặt lại câu hỏi có nên tiếp tục hỗ trợ một độc tài chuyên vi phạm nhân quyền hay không.
Một tuần sau khi Google tuyên bố có thể rút chân ra, chính quyền Trung Quốc chỉ đưa ra một phản ứng chung chung, đại ý nói các công ty ngoài đều phải tuân thủ luật lệ ở nước họ. Trước lời tố cáo những hoạt động ăn cắp tin tức trong mạng lưới, Bắc Kinh còn nêu lên vấn đề “an ninh” trên Internet, mà theo họ, “Muốn bảo vệ an ninh trong Internet thì phải hướng dẫn các ý kiến phổ biến trên đó.”
Ðây là một quan niệm về “an ninh” theo lối suy nghĩ của chế độ độc tài. Ðối với Google, an ninh là bảo vệ các thông tin trên mạng không bị kẻ cắp đọc trộm, lấy trộm. Ðối với các cán bộ công an thì an ninh là truy tầm được những người có ý kiến khác với đường lối của đảng Cộng Sản. Gần đây, một nhà tranh đấu cho dân chủ là ông Lưu Hiểu Ba đã bị kết án 11 năm tù vì trao đổi các thông tin đòi hỏi dân chủ tự do cho người Trung Hoa. Trong tháng trước, họa sĩ Ai Weiwei (Ải Vị Vị) ở Bắc Kinh đã biết các email của ông qua mạng lưới Google đã bị đột nhập nhiều lần và bị chép lại, ngay cả trương mục ngân hàng của ông cũng bị người vào tìm đọc! Ông là người đã tổ chức các cuộc hội thảo về dân quyền ngay giữa thủ đô. Từ Tháng Tám năm ngoái, cả vùng Tân Cương đã không được tự do vào Internet, sau cuộc biểu tình của người Uyghur bị tàn sát khiến 200 người chết. Ðây là một vùng đất rộng gấp 3 lần tiểu bang Texas nhưng Internet bị hạn chế đến nỗi các doanh nhân muốn nhận và gửi email phải đi xa hàng ngàn cây số, có người bay về Bắc Kinh cho đỡ mất thời giờ, có người đi sang nước Kazackhstan để viết email. Một người dân đã than: Chúng tôi đã trở thành những người điếc! Tình cảnh giống như thời 1970, mọi thông tin đều nghe qua loa phóng thanh của nhà nước!
Thông tin là huyết mạch của thị trường, của đời sống kinh tế. Người ta đo tình trạng dân trí bằng số lượng thông tin mà người dân nhận được, ngày xưa là số người đọc báo, ngày nay thêm số người vào Internet. Mặc dù các nguồn thông tin bị hạn chế, 300 triệu người Trung Hoa đang dùng Internet, lớn bằng dân số nước Mỹ.
Ðối với một chế độ độc tài thì điều quan tâm duy nhất của họ không phải là phúc lợi của người dân, mà là sự an toàn nhất thời của các những người nắm quyền. Nhưng đối với một công ty quốc tế thì điều quan trọng nhất là giữ được lòng tin của thân chủ, đặc biệt là đối với một công ty chuyên về thông tin. Cho nên, quyết định có thể rút khỏi thị trường Trung Hoa của Google là theo đúng quyền lợi kinh doanh của họ, vì nếu mất lòng tin của công chúng thì về lâu về dài chính họ sẽ bị thiệt hại. Ðó là chưa kể là quyết định trên cũng theo đúng tý tưởng “Không làm điều ác” trong châm ngôn của họ.
Người ta có thể làm điều ác một cách thụ động khi nhắm mắt đồng lõa với việc ác; như việc ăn cắp tin tức; nhất là khi những tay tin tặc này thuộc Bộ Công An của một chế độ có ghế ngồi thường trực trong Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc. Năm 2008, một nhà tranh đấu Dân Chủ ở Trung Quốc đã lên án cả 2 công ty Google và Yahoo! Vì hai mạng lưới tra tìm này đều kiểm duyệt không cho ai tìm đọc được mạng lưới của ông. Ông Guo Quan lên án hai công ty này là “những con chó vẫy đuôi theo lệnh của chế độ cộng sản.” Ông Quách Tuyền sau đó đã bị kết án tù 10 năm vì đòi tự do dân chủ.
Một công ty làm việc thông tin không có thể đóng vai “con chó vẫy đuôi” theo lệnh của người khác được. Nhất là nghe theo lệnh một đảng độc tài tham nhũng đã sẵn sàng giết các người gốc thiểu số ở Tân Cương, và đưa xe thiết giáp đàn áp sinh viên, công nhân của họ ở Thiên An Môn.
Một ký ức đẹp về Trần Huỳnh Duy Thức

Trần Huỳnh Duy Thức (ngoài cùng bên trái) ra tòa cùng với Nguyễn Tiến Trung, Lê Thăng Long và Lê Công Định hôm 20 tháng 1. (Hình: AP)
16 năm tù, chỉ vì muốn quê hương trở nên tốt đẹp hơn
Phương Nam (riêng cho Người Việt) LTS. Ngay sau khi phiên xử các nhà dân chủ, gồm Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Công Ðịnh, Lê Thăng Long, Nguyễn Tiến Trung kết thúc, Tòa Soạn Người Việt nhận được bài viết của một độc giả “quen biết với Trần Huỳnh Duy Thức” từ hồi còn ở Việt Nam. Bài viết bao hàm một số kỷ niệm xưa, cảm động. Xin giới thiệu cùng độc giả.
***
Tôi quen Thức trong công việc, và rồi trở thành “anh em.”
Thức nhỏ tuổi hơn tôi, nên gọi tôi bằng “anh,” nhưng về tài năng, Thức xứng đáng là thầy tôi.
Tôi cảm nhận được tài năng ngay từ buổi đầu gặp gỡ Thức ngay tại công ty của em. Dáng người thư sinh, mảnh khảnh. Thức là người hiền hòa.
Tôi thích, và khâm phục Thức không phải ở sự thành đạt của Thức, mà ở lòng nhiệt thành. Tôi nhớ mãi cái bắt tay đầu tiên với bạn, và tôi cảm được sự trân trọng của một tổng giám đốc rất trẻ.
Nhiều người thừa nhận, rằng chính Thức và công ty của anh đã mang lại hơi thở công nghệ thông tin cho Sài Gòn, và cả Việt Nam, ngay từ thời lãnh vực này còn rất sơ khai tại Việt Nam.
Hiểu theo nghĩa ấy, chính Trần Huỳnh Duy Thức là người mở cánh cửa hội nhập với thế giới tự do, bằng chính tài năng và bản lĩnh của Thức, và của EIS, OCI.
Chúng tôi có một kỷ niệm chung. Xin kể lại với các bạn.
Lâu rồi, khi phái đoàn cựu Tổng Thống Bill Clinton sang thăm Việt Nam, một buổi gặp gỡ được tổ chức tại Saigon Solfware Park ở đường Trương Ðịnh. Người dẫn đầu phái đoàn Hoa Kỳ là Ðại Sứ Peterson cùng phu nhân, là bà Lê Vi. Phía Việt Nam tham dự khá đông, gồm rất nhiều giám đốc, tổng giám đốc các công ty, doanh nghiệp tiếng tăm, trong đó có người bạn trẻ của tôi: Trần Huỳnh Duy Thức.
Mở đầu buổi gặp gỡ, ông đại sứ Peterson “xin phép có đôi lời.” Ông bắt đầu bằng một câu chuyện bất ngờ:
“Kính thưa quý vị. Trước khi chúng ta cùng ngồi bàn luận để bắt tay hợp tác thương mại với nhau, tôi muốn kể một câu chuyện nhỏ ngoài lề. Mới hôm qua đây thôi, ngài Tổng Thống của chúng tôi (Bill Clinton) đến thăm một cơ quan lớn của Nhà nước Việt Nam ở Hà Nội. Ông bất ngờ tiếp xúc một người lính bảo vệ của phía Việt Nam. TT Clinton hỏi người lính, thông qua thông dịch viên, “Ông nghĩ sao về người Mỹ chúng tôi?” Và thật ngạc nhiên, người lính trả lời rất nhanh, “Thà tôi mất ngàn người bạn còn hơn được một kẻ thù!” Một câu trả lời rất nhanh và rất ngắn mang nhiều thù hận khiến tổng thống của chúng tôi ngỡ ngàng. Ông Tổng thống rất buồn, và đã chia sẻ điều ấy với tôi. Và ngay hôm nay, tôi có một điều muốn nhắn nhủ cùng tất cả quý vị ở đây: nếu ai cũng có ý nghĩ như người lính kia thì xin đừng ngồi trong khán phòng này với chúng tôi, bởi lòng thù hận sẽ không thể nào trở thành tình thân hữu.”
Câu chuyện của Ðại Sứ Peterson kết thúc. Không một tiếng vỗ tay. Sự im lặng bao trùm căn phòng rộng lớn.
Tôi có mặt trong căn phòng ấy, vào lúc ấy, và tôi nhớ rõ đã quay sang nhìn Trần Huỳnh Duy Thức. Thức nhìn về phía tôi, nháy mắt, vừa thân tình vừa đồng cảm.
Buổi hội thảo kết thúc, Thức đã về từ lúc nào. Bỗng dưng, tôi nhận được một tin nhắn qua điện thoại. Tin nhắn của Thức. Tôi không nhớ chính xác lời nhắn, nhưng nhớ rõ ý, “Không biết chừng nào Việt Nam mới hết những người lính căm thù!”
Nhiều năm trôi qua, hôm nay lại được tin của Thức, qua Tivi, báo, đài. Bạn tôi, em tôi, cũng là thầy tôi, hôm nay trở thành tội phạm ngay trên chính quê hương mình.
Trần Huỳnh Duy Thức bị kết tội nặng nhất, 16 năm tù, chỉ vì muốn quê hương anh trở nên tốt đẹp hơn.
Trần Huỳnh Duy Thức (ngoài cùng bên trái) ra tòa cùng với Nguyễn Tiến Trung, Lê Thăng Long và Lê Công Định hôm 20 tháng 1. (Hình: AP)
16 năm tù, chỉ vì muốn quê hương trở nên tốt đẹp hơn
Phương Nam (riêng cho Người Việt) LTS. Ngay sau khi phiên xử các nhà dân chủ, gồm Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Công Ðịnh, Lê Thăng Long, Nguyễn Tiến Trung kết thúc, Tòa Soạn Người Việt nhận được bài viết của một độc giả “quen biết với Trần Huỳnh Duy Thức” từ hồi còn ở Việt Nam. Bài viết bao hàm một số kỷ niệm xưa, cảm động. Xin giới thiệu cùng độc giả.
***
Tôi quen Thức trong công việc, và rồi trở thành “anh em.”
Thức nhỏ tuổi hơn tôi, nên gọi tôi bằng “anh,” nhưng về tài năng, Thức xứng đáng là thầy tôi.
Tôi cảm nhận được tài năng ngay từ buổi đầu gặp gỡ Thức ngay tại công ty của em. Dáng người thư sinh, mảnh khảnh. Thức là người hiền hòa.
Tôi thích, và khâm phục Thức không phải ở sự thành đạt của Thức, mà ở lòng nhiệt thành. Tôi nhớ mãi cái bắt tay đầu tiên với bạn, và tôi cảm được sự trân trọng của một tổng giám đốc rất trẻ.
Nhiều người thừa nhận, rằng chính Thức và công ty của anh đã mang lại hơi thở công nghệ thông tin cho Sài Gòn, và cả Việt Nam, ngay từ thời lãnh vực này còn rất sơ khai tại Việt Nam.
Hiểu theo nghĩa ấy, chính Trần Huỳnh Duy Thức là người mở cánh cửa hội nhập với thế giới tự do, bằng chính tài năng và bản lĩnh của Thức, và của EIS, OCI.
Chúng tôi có một kỷ niệm chung. Xin kể lại với các bạn.
Lâu rồi, khi phái đoàn cựu Tổng Thống Bill Clinton sang thăm Việt Nam, một buổi gặp gỡ được tổ chức tại Saigon Solfware Park ở đường Trương Ðịnh. Người dẫn đầu phái đoàn Hoa Kỳ là Ðại Sứ Peterson cùng phu nhân, là bà Lê Vi. Phía Việt Nam tham dự khá đông, gồm rất nhiều giám đốc, tổng giám đốc các công ty, doanh nghiệp tiếng tăm, trong đó có người bạn trẻ của tôi: Trần Huỳnh Duy Thức.
Mở đầu buổi gặp gỡ, ông đại sứ Peterson “xin phép có đôi lời.” Ông bắt đầu bằng một câu chuyện bất ngờ:
“Kính thưa quý vị. Trước khi chúng ta cùng ngồi bàn luận để bắt tay hợp tác thương mại với nhau, tôi muốn kể một câu chuyện nhỏ ngoài lề. Mới hôm qua đây thôi, ngài Tổng Thống của chúng tôi (Bill Clinton) đến thăm một cơ quan lớn của Nhà nước Việt Nam ở Hà Nội. Ông bất ngờ tiếp xúc một người lính bảo vệ của phía Việt Nam. TT Clinton hỏi người lính, thông qua thông dịch viên, “Ông nghĩ sao về người Mỹ chúng tôi?” Và thật ngạc nhiên, người lính trả lời rất nhanh, “Thà tôi mất ngàn người bạn còn hơn được một kẻ thù!” Một câu trả lời rất nhanh và rất ngắn mang nhiều thù hận khiến tổng thống của chúng tôi ngỡ ngàng. Ông Tổng thống rất buồn, và đã chia sẻ điều ấy với tôi. Và ngay hôm nay, tôi có một điều muốn nhắn nhủ cùng tất cả quý vị ở đây: nếu ai cũng có ý nghĩ như người lính kia thì xin đừng ngồi trong khán phòng này với chúng tôi, bởi lòng thù hận sẽ không thể nào trở thành tình thân hữu.”
Câu chuyện của Ðại Sứ Peterson kết thúc. Không một tiếng vỗ tay. Sự im lặng bao trùm căn phòng rộng lớn.
Tôi có mặt trong căn phòng ấy, vào lúc ấy, và tôi nhớ rõ đã quay sang nhìn Trần Huỳnh Duy Thức. Thức nhìn về phía tôi, nháy mắt, vừa thân tình vừa đồng cảm.
Buổi hội thảo kết thúc, Thức đã về từ lúc nào. Bỗng dưng, tôi nhận được một tin nhắn qua điện thoại. Tin nhắn của Thức. Tôi không nhớ chính xác lời nhắn, nhưng nhớ rõ ý, “Không biết chừng nào Việt Nam mới hết những người lính căm thù!”
Nhiều năm trôi qua, hôm nay lại được tin của Thức, qua Tivi, báo, đài. Bạn tôi, em tôi, cũng là thầy tôi, hôm nay trở thành tội phạm ngay trên chính quê hương mình.
Trần Huỳnh Duy Thức bị kết tội nặng nhất, 16 năm tù, chỉ vì muốn quê hương anh trở nên tốt đẹp hơn.
Massachusetts chấm dứt tình trạng độc đảng
Ngô Nhân Dụng Cử tri tiểu bang Massachusetts đã nhắc lại cho Tổng Thống Barack Obama và đảng Dân Chủ nghe một ý kiến của Lord Acton: Quyền hành sinh nhũng lạm, quyền hành tuyệt đối thì nhũng lạm tuyệt đối (Power tends to corrupt; absolute power corrupts absolutely). Ðảng Dân Chủ đảng kiểm soát cả quyền hành pháp và 2 viện Quốc Hội Mỹ. Trong cuộc bầu cử bổ túc ngày Thứ Ba, 19 Tháng Giêng, 2010, tại Massachusetts, các cử tri đã chọn ứng cử viên Cộng Hòa Scott Brown, với tỷ lệ thắng 52%-47%. Tuy chỉ thay đổi một nghị sĩ, nhưng cán cân quyền lực tại Quốc Hội sẽ hoàn toàn thay đổi. Tất cả chương trình lập pháp của ông Obama và đảng Dân Chủ bị đe dọa không thể tiến hành được như họ mong muốn. Trước khi ông Brown đắc cử, quyền lực của đảng Dân Chủ quá lớn, và bây giờ dân Massachusetts bắt họ phải giảm bớt quyền.
Khi ông Brown tuyên thệ chính thức, đảng Cộng Hòa sẽ có 41 nghị sĩ; họ có thể sử dụng quyền “Nói liên miên không nghỉ” (Filibuster) để không cho Thượng Viện ngưng thảo luận mà bỏ phiếu về bất cứ dự luật nào. Theo thủ tục này, cần phải có 60 nghị sĩ mới đủ phiếu để quyết định ngưng thảo luận. Trước đây đảng Dân Chủ nắm được đủ 60 phiếu, nên có thể thông qua một dự luật cải tổ bảo hiểm y tế mà không bị cản trở. Có thể nói là họ nắm quyền hành tuyệt đối. Nay, bản dự luật mới sau khi tổng hợp với dự luật mà Hạ Viện đã đồng ý, sẽ phải đưa ra bỏ phiếu lần nữa. Và bây giờ, biết ông Brown có thể bỏ lá phiếu thứ 41 để sử dụng thủ tục Filibuster, đảng Dân Chủ không thể cứ một mình tiến tới nữa. Họ sẽ phải tìm cách thỏa hiệp với phe đối lập để có một đạo luật mới về bảo hiểm y tế. Nếu không, thì cả chương trình Cải tổ Y tế sẽ tan biến, sau khi đã được ông tổng thống và đảng Dân Chủ cổ động, bàn cãi và soạn đi soạn lại gần suốt một năm qua. Hậu quả là ông Obama sẽ mất hết uy tín, và nhiều đại biểu quốc hội Dân Chủ chắc chắn sẽ thất cử vào Tháng Mười Một năm nay.
Việc đắc cử của ông Scott Brown có ý nghĩa đặc biệt vì Massachusetts là một tiểu bang lâu nay ủng hộ đảng Dân Chủ. Từ năm 1952, khi ông John F. Kennedy chiếm được cái ghế nghị sĩ tại tiểu bang Massachusetts, các em ông và những người được gia đình Kennedy ủng hộ thay phiên nhau ngồi vào ghế đó. Từ năm 1972, cả hai ghế nghị sĩ ở tiểu bang này đều thuộc đảng Dân Chủ. Ông Ted Kennedy đã thắng cử liên tiếp từ năm 1962, mới tạ thế gần đây. Suốt cuộc đời chính trị của ông đã lao tâm lao lực vận động cho việc cải tổ hệ thống y tế ở Mỹ. Khi đang tranh cử, ông Brown được hỏi rằng ông sẽ làm gì nếu được ngồi vào cái ghế nghị sĩ của ông Kennedy. Ông trả lời, “Với tất cả lòng kính trọng (đối với Ted Kennedy), tôi phải nói lại rằng đây không phải là cái ghế của Kennedy, không phải cái ghế của đảng Dân Chủ; đây là cái ghế nghị sĩ của mọi người dân.”
Và kết quả là số người dân Massachusetts muốn thay đổi đã cao hơn số người muốn “như cũ.” Một tháng trước đây không ai có thể ngờ rằng cuộc cờ chính trị ở Quốc Hội Mỹ lại thay đổi lớn như vậy, do lá phiếu chênh lệch của 100,000 cử tri quyết định. Vì tiểu bang Massachusetts cho tới giờ vẫn có 35% cử tri ghi tên thuộc đảng Dân Chủ, chỉ có 12% tự nhận là Cộng Hòa. Nhưng nhiều cử tri Dân Chủ đã bỏ phiếu cho ứng cử viên đối lập, vì họ thất vọng và muốn dạy một bài học cho ông tổng thống, hoặc cho đảng Dân Chủ ở Quốc Hội, hoặc cả hai. Số phiếu quyết định sự thay đổi là của những cử tri độc lập, khi ghi danh đi bầu họ tự coi không thuộc đảng nào cả. Số người này chiếm 49% tổng số cử tri. Ông Brown đã chiếm được 64% số phiếu của những người độc lập, bà Martha Coakley đảng Dân Chủ chỉ được 34%. Một cuộc phỏng vấn các cử tri đi bầu ngày Thứ Ba cho thấy 55% vẫn còn tín nhiệm Tổng Thống Obama. Nhưng đa số vẫn muốn gửi một nghị sĩ đối lập vào Thượng Viện. Các cử tri đã phán quyết, “(Với tất cả lòng kính trọng,) chúng tôi không muốn một đảng nắm quyền hành tuyệt đối điều khiển việc quốc gia.”
Kết quả cuộc bỏ phiếu ở Massachusetts cũng cho thấy khuynh hướng chung của cử tri trên toàn thể nước Mỹ. Ðó là bài học mà ông Obama và đảng Dân Chủ phải tiếp nhận, khi nghĩ tới cuộc bầu cử vào Tháng Mười Một năm nay. Hiện nay đảng Dân Chủ chiếm đa số 78 ghế dân biểu ở Hạ Viện nhưng không có gì chắc chắn. Có 49 dân biểu đó đắc cử năm 2008 tại những đơn vị mà đa số đã bầu cho ông Nghị Sĩ John McCain. Nếu uy tín của đảng Dân Chủ xuống và nếu đảng Cộng Hòa đưa ra được những ứng cử viên mới thì họ có thể chiếm đa số ở Hạ Viện sau kỳ bầu cử tới. Ðặc biệt là ở tiểu bang California, nơi có nhiều người Việt Nam cư ngụ. Năm nay Nghị Sĩ Barbara Boxer, Dân Chủ, sẽ phải tái tranh cử. Nếu một tiểu bang “lúc nào cũng bầu Dân Chủ” như Massachusetts đã đổi ý kiến, thì dân California cũng có thể làm như vậy. Theo một cuộc nghiên cứu dư luận gần đây Bà Boxer đang được 46% cử tri tín nhiệm nếu bỏ phiếu ngay bây giờ, chỉ hơn đối thủ Cộng Hòa mà Bà Carly Fiorina, cựu chủ tịch công ty Hewlett Packard, 3%. Tuy nhiên tỷ số chênh lệch 46%-43% rất mong manh, mà trong 10 tháng nữa sẽ còn rất nhiều biến chuyển. (Hai ứng cử viên Cộng Hòa khác chỉ được khoảng 40% nếu họ được đảng chọn ra tranh cử).
Dân Mỹ thường bỏ phiếu bầu Quốc Hội cho đảng đối lập của ông tổng thống đương nhiệm, vì họ có khuynh hướng muốn phân tản quyền hành để giữ các định chế độc lập và cân bằng trong guồng máy cai trị. Năm ngoái, hai ứng cử viên Cộng Hòa đã thắng chức thống đốc ở các tiểu bang Virginia và New Jersey. Nhưng cuộc đắc thắng của Scott Brown có những nguyên nhân cụ thể hơn: Người ta bắt đầu chán ông Obama và đảng Dân Chủ, vì không cảm thấy họ chia sẻ những mối lo trực tiếp của đa số dân chúng. Dân Massachusetts cũng lo lắng về tình trạng kinh tế, về triển vọng phải đóng thuế nhiều hơn, như mọi người Mỹ khác. Và họ bất mãn trước cảnh chính phủ trợ giúp các ngân hàng và các đại công ty trong khi tỷ số thất nghiệp lên tới 10%. Những chương trình bảo vệ môi trường sống, phát triển các năng lượng mới, và cải tổ hệ thống y tế để thêm 47 triệu người được bảo hiểm, tất cả là những ý tưởng rất đáng theo đuổi, nhưng không phải là mối quan tâm hàng đầu mỗi ngày của đa số người dân. Người dân lo trước mắt là các vấn đề thất nghiệp và thuế, và ông Scott Brown đã tấn công thẳng vào các vấn đề đó.
Một điều khiến các cử tri Mỹ chán ngán giới chính trị là họ đã chứng kiến các cuộc mặc cả ở Quốc Hội để đúc kết ra một dự luật cải tổ y tế, cho thấy các nhà chính trị vẫn “tầm thường, nhỏ nhặt” như cũ: Họ giành giật nhau những quyền lợi riêng cho địa phương hay cho những nhóm thế lực đứng đằng sau. Nghị Sĩ Ben Nelson, Dân Chủ, tiểu bang Nebraska đã khăng khăng không chịu đồng ý với đảng mình, cho tới khi được nhượng bộ, trong đó có một điều khoản buộc chính phủ liên bang phải cung cấp thêm tiền cho chương trình Medicaid ở Nebraska - mà các tiểu bang khác không được hưởng! Các nghị sĩ Dân Chủ khác im lặng chấp nhận cuộc mặc cả đó! Nghị Sĩ Joseph Lieberman, độc lập, Connecticutt, bỏ phiếu theo lập trường đảng Dân Chủ nhưng đã chống chương trình bảo hiểm công đến cùng và phe Dân Chủ đã nhượng bộ. Ông Lieberman đang bị chỉ trích là ông chỉ muốn bảo vệ quyền lợi của các công ty bảo hiểm tập trung tại tiểu bang này. Một người từ tiểu bang Wisconsin đã bỏ mọi công việc đi tới Massachusetts vận động cho ông Brown, đã giải thích, “Tôi ghét tình trạng bất quân bình quyền lực ở thủ đô Washington, tôi ghét sự lạm dụng quyền hành và giành quyền lợi bí mật cho những thế lực riêng biệt.”
Khi các nhà chính trị sử dụng quyền bỏ phiếu của mình trong Quốc Hội, họ có quyền giành các quyền lợi cho địa phương hoặc cho những nhóm người ủng hộ mình nếu không đi ngược với quyền lợi chung của quốc gia. Nhưng nếu hành vi của họ tỏ ra không cao thượng, không tôn trọng đạo công bằng và những quy tắc luân lý đơn giản khác, thì họ chỉ chứng tỏ đã trở thành những con người kiêu ngạo, coi thường dư luận, sẵn sàng lạm dụng quyền lực, và họ sẽ bị dân chúng trừng phạt bằng lá phiếu.
Trước khi ông Scott Brown chính thức tuyên thệ thành nghị sĩ (sẽ phải đợi vài tuần lễ), đảng Dân Chủ có thể vẫn đưa một dự luật cải tổ y tế ra mỗi viện Quốc Hội bỏ phiếu. Nhưng từ Tổng Thống Obama đến các đại biểu Dân Chủ đều đã bác bỏ ý kiến này. Vì làm như vậy là quá ngạo ngược, khinh thường lá phiếu của người dân. Họ cũng có thể áp dụng nhiều thủ tục khác để thông qua một dự luật như ý muốn. Thí dụ, nếu Hạ Viện đem biểu quyết chấp thuận dự luật đã được Thượng Viện thông qua, với vài thay đổi nhỏ, thì khi đem trở lại Thượng Viện để tái duyệt đảng Cộng Hòa sẽ không thể dùng thủ tục Filibuster được nữa như khi cứu xét một dự luật hoàn toàn mới. Nhưng chắc đảng Dân Chủ sẽ không theo kế này; vì nếu làm như vậy cũng là một cách tránh né khôn ngoan nhưng không đáng kính trọng.
Người dân không cần các chính trị gia phải hoàn hảo, nhưng ít nhất họ cũng phải tỏ ra có tư cách đáng kính chứ không để người ta khinh. Một nhà chính trị tự làm mất phẩm cách của mình tức là cũng làm mất danh dự của những người dân đã bỏ phiếu cho mình, và làm nhục cả quốc gia.
Kết quả cuộc bầu cử nghị sĩ ở Massachusetts giúp chúng ta hiểu thêm tâm lý của các cử tri nước Mỹ. Và hiểu thêm về sinh hoạt chính trị tự do dân chủ. Trong một nước dân chủ, người dân tránh hết sức để không trao quyền lực vào tay một nhóm người, một đảng phái nào. Bao giờ cũng phải giữ thế cân bằng giữa các định chế để kiểm soát lẫn nhau. Nước Mỹ sống ổn định trong 200 năm và đạt được những tiến bộ kinh tế cao nhất thế giới chính là nhờ thế cân bằng đó.
Ngô Nhân Dụng Cử tri tiểu bang Massachusetts đã nhắc lại cho Tổng Thống Barack Obama và đảng Dân Chủ nghe một ý kiến của Lord Acton: Quyền hành sinh nhũng lạm, quyền hành tuyệt đối thì nhũng lạm tuyệt đối (Power tends to corrupt; absolute power corrupts absolutely). Ðảng Dân Chủ đảng kiểm soát cả quyền hành pháp và 2 viện Quốc Hội Mỹ. Trong cuộc bầu cử bổ túc ngày Thứ Ba, 19 Tháng Giêng, 2010, tại Massachusetts, các cử tri đã chọn ứng cử viên Cộng Hòa Scott Brown, với tỷ lệ thắng 52%-47%. Tuy chỉ thay đổi một nghị sĩ, nhưng cán cân quyền lực tại Quốc Hội sẽ hoàn toàn thay đổi. Tất cả chương trình lập pháp của ông Obama và đảng Dân Chủ bị đe dọa không thể tiến hành được như họ mong muốn. Trước khi ông Brown đắc cử, quyền lực của đảng Dân Chủ quá lớn, và bây giờ dân Massachusetts bắt họ phải giảm bớt quyền.
Khi ông Brown tuyên thệ chính thức, đảng Cộng Hòa sẽ có 41 nghị sĩ; họ có thể sử dụng quyền “Nói liên miên không nghỉ” (Filibuster) để không cho Thượng Viện ngưng thảo luận mà bỏ phiếu về bất cứ dự luật nào. Theo thủ tục này, cần phải có 60 nghị sĩ mới đủ phiếu để quyết định ngưng thảo luận. Trước đây đảng Dân Chủ nắm được đủ 60 phiếu, nên có thể thông qua một dự luật cải tổ bảo hiểm y tế mà không bị cản trở. Có thể nói là họ nắm quyền hành tuyệt đối. Nay, bản dự luật mới sau khi tổng hợp với dự luật mà Hạ Viện đã đồng ý, sẽ phải đưa ra bỏ phiếu lần nữa. Và bây giờ, biết ông Brown có thể bỏ lá phiếu thứ 41 để sử dụng thủ tục Filibuster, đảng Dân Chủ không thể cứ một mình tiến tới nữa. Họ sẽ phải tìm cách thỏa hiệp với phe đối lập để có một đạo luật mới về bảo hiểm y tế. Nếu không, thì cả chương trình Cải tổ Y tế sẽ tan biến, sau khi đã được ông tổng thống và đảng Dân Chủ cổ động, bàn cãi và soạn đi soạn lại gần suốt một năm qua. Hậu quả là ông Obama sẽ mất hết uy tín, và nhiều đại biểu quốc hội Dân Chủ chắc chắn sẽ thất cử vào Tháng Mười Một năm nay.
Việc đắc cử của ông Scott Brown có ý nghĩa đặc biệt vì Massachusetts là một tiểu bang lâu nay ủng hộ đảng Dân Chủ. Từ năm 1952, khi ông John F. Kennedy chiếm được cái ghế nghị sĩ tại tiểu bang Massachusetts, các em ông và những người được gia đình Kennedy ủng hộ thay phiên nhau ngồi vào ghế đó. Từ năm 1972, cả hai ghế nghị sĩ ở tiểu bang này đều thuộc đảng Dân Chủ. Ông Ted Kennedy đã thắng cử liên tiếp từ năm 1962, mới tạ thế gần đây. Suốt cuộc đời chính trị của ông đã lao tâm lao lực vận động cho việc cải tổ hệ thống y tế ở Mỹ. Khi đang tranh cử, ông Brown được hỏi rằng ông sẽ làm gì nếu được ngồi vào cái ghế nghị sĩ của ông Kennedy. Ông trả lời, “Với tất cả lòng kính trọng (đối với Ted Kennedy), tôi phải nói lại rằng đây không phải là cái ghế của Kennedy, không phải cái ghế của đảng Dân Chủ; đây là cái ghế nghị sĩ của mọi người dân.”
Và kết quả là số người dân Massachusetts muốn thay đổi đã cao hơn số người muốn “như cũ.” Một tháng trước đây không ai có thể ngờ rằng cuộc cờ chính trị ở Quốc Hội Mỹ lại thay đổi lớn như vậy, do lá phiếu chênh lệch của 100,000 cử tri quyết định. Vì tiểu bang Massachusetts cho tới giờ vẫn có 35% cử tri ghi tên thuộc đảng Dân Chủ, chỉ có 12% tự nhận là Cộng Hòa. Nhưng nhiều cử tri Dân Chủ đã bỏ phiếu cho ứng cử viên đối lập, vì họ thất vọng và muốn dạy một bài học cho ông tổng thống, hoặc cho đảng Dân Chủ ở Quốc Hội, hoặc cả hai. Số phiếu quyết định sự thay đổi là của những cử tri độc lập, khi ghi danh đi bầu họ tự coi không thuộc đảng nào cả. Số người này chiếm 49% tổng số cử tri. Ông Brown đã chiếm được 64% số phiếu của những người độc lập, bà Martha Coakley đảng Dân Chủ chỉ được 34%. Một cuộc phỏng vấn các cử tri đi bầu ngày Thứ Ba cho thấy 55% vẫn còn tín nhiệm Tổng Thống Obama. Nhưng đa số vẫn muốn gửi một nghị sĩ đối lập vào Thượng Viện. Các cử tri đã phán quyết, “(Với tất cả lòng kính trọng,) chúng tôi không muốn một đảng nắm quyền hành tuyệt đối điều khiển việc quốc gia.”
Kết quả cuộc bỏ phiếu ở Massachusetts cũng cho thấy khuynh hướng chung của cử tri trên toàn thể nước Mỹ. Ðó là bài học mà ông Obama và đảng Dân Chủ phải tiếp nhận, khi nghĩ tới cuộc bầu cử vào Tháng Mười Một năm nay. Hiện nay đảng Dân Chủ chiếm đa số 78 ghế dân biểu ở Hạ Viện nhưng không có gì chắc chắn. Có 49 dân biểu đó đắc cử năm 2008 tại những đơn vị mà đa số đã bầu cho ông Nghị Sĩ John McCain. Nếu uy tín của đảng Dân Chủ xuống và nếu đảng Cộng Hòa đưa ra được những ứng cử viên mới thì họ có thể chiếm đa số ở Hạ Viện sau kỳ bầu cử tới. Ðặc biệt là ở tiểu bang California, nơi có nhiều người Việt Nam cư ngụ. Năm nay Nghị Sĩ Barbara Boxer, Dân Chủ, sẽ phải tái tranh cử. Nếu một tiểu bang “lúc nào cũng bầu Dân Chủ” như Massachusetts đã đổi ý kiến, thì dân California cũng có thể làm như vậy. Theo một cuộc nghiên cứu dư luận gần đây Bà Boxer đang được 46% cử tri tín nhiệm nếu bỏ phiếu ngay bây giờ, chỉ hơn đối thủ Cộng Hòa mà Bà Carly Fiorina, cựu chủ tịch công ty Hewlett Packard, 3%. Tuy nhiên tỷ số chênh lệch 46%-43% rất mong manh, mà trong 10 tháng nữa sẽ còn rất nhiều biến chuyển. (Hai ứng cử viên Cộng Hòa khác chỉ được khoảng 40% nếu họ được đảng chọn ra tranh cử).
Dân Mỹ thường bỏ phiếu bầu Quốc Hội cho đảng đối lập của ông tổng thống đương nhiệm, vì họ có khuynh hướng muốn phân tản quyền hành để giữ các định chế độc lập và cân bằng trong guồng máy cai trị. Năm ngoái, hai ứng cử viên Cộng Hòa đã thắng chức thống đốc ở các tiểu bang Virginia và New Jersey. Nhưng cuộc đắc thắng của Scott Brown có những nguyên nhân cụ thể hơn: Người ta bắt đầu chán ông Obama và đảng Dân Chủ, vì không cảm thấy họ chia sẻ những mối lo trực tiếp của đa số dân chúng. Dân Massachusetts cũng lo lắng về tình trạng kinh tế, về triển vọng phải đóng thuế nhiều hơn, như mọi người Mỹ khác. Và họ bất mãn trước cảnh chính phủ trợ giúp các ngân hàng và các đại công ty trong khi tỷ số thất nghiệp lên tới 10%. Những chương trình bảo vệ môi trường sống, phát triển các năng lượng mới, và cải tổ hệ thống y tế để thêm 47 triệu người được bảo hiểm, tất cả là những ý tưởng rất đáng theo đuổi, nhưng không phải là mối quan tâm hàng đầu mỗi ngày của đa số người dân. Người dân lo trước mắt là các vấn đề thất nghiệp và thuế, và ông Scott Brown đã tấn công thẳng vào các vấn đề đó.
Một điều khiến các cử tri Mỹ chán ngán giới chính trị là họ đã chứng kiến các cuộc mặc cả ở Quốc Hội để đúc kết ra một dự luật cải tổ y tế, cho thấy các nhà chính trị vẫn “tầm thường, nhỏ nhặt” như cũ: Họ giành giật nhau những quyền lợi riêng cho địa phương hay cho những nhóm thế lực đứng đằng sau. Nghị Sĩ Ben Nelson, Dân Chủ, tiểu bang Nebraska đã khăng khăng không chịu đồng ý với đảng mình, cho tới khi được nhượng bộ, trong đó có một điều khoản buộc chính phủ liên bang phải cung cấp thêm tiền cho chương trình Medicaid ở Nebraska - mà các tiểu bang khác không được hưởng! Các nghị sĩ Dân Chủ khác im lặng chấp nhận cuộc mặc cả đó! Nghị Sĩ Joseph Lieberman, độc lập, Connecticutt, bỏ phiếu theo lập trường đảng Dân Chủ nhưng đã chống chương trình bảo hiểm công đến cùng và phe Dân Chủ đã nhượng bộ. Ông Lieberman đang bị chỉ trích là ông chỉ muốn bảo vệ quyền lợi của các công ty bảo hiểm tập trung tại tiểu bang này. Một người từ tiểu bang Wisconsin đã bỏ mọi công việc đi tới Massachusetts vận động cho ông Brown, đã giải thích, “Tôi ghét tình trạng bất quân bình quyền lực ở thủ đô Washington, tôi ghét sự lạm dụng quyền hành và giành quyền lợi bí mật cho những thế lực riêng biệt.”
Khi các nhà chính trị sử dụng quyền bỏ phiếu của mình trong Quốc Hội, họ có quyền giành các quyền lợi cho địa phương hoặc cho những nhóm người ủng hộ mình nếu không đi ngược với quyền lợi chung của quốc gia. Nhưng nếu hành vi của họ tỏ ra không cao thượng, không tôn trọng đạo công bằng và những quy tắc luân lý đơn giản khác, thì họ chỉ chứng tỏ đã trở thành những con người kiêu ngạo, coi thường dư luận, sẵn sàng lạm dụng quyền lực, và họ sẽ bị dân chúng trừng phạt bằng lá phiếu.
Trước khi ông Scott Brown chính thức tuyên thệ thành nghị sĩ (sẽ phải đợi vài tuần lễ), đảng Dân Chủ có thể vẫn đưa một dự luật cải tổ y tế ra mỗi viện Quốc Hội bỏ phiếu. Nhưng từ Tổng Thống Obama đến các đại biểu Dân Chủ đều đã bác bỏ ý kiến này. Vì làm như vậy là quá ngạo ngược, khinh thường lá phiếu của người dân. Họ cũng có thể áp dụng nhiều thủ tục khác để thông qua một dự luật như ý muốn. Thí dụ, nếu Hạ Viện đem biểu quyết chấp thuận dự luật đã được Thượng Viện thông qua, với vài thay đổi nhỏ, thì khi đem trở lại Thượng Viện để tái duyệt đảng Cộng Hòa sẽ không thể dùng thủ tục Filibuster được nữa như khi cứu xét một dự luật hoàn toàn mới. Nhưng chắc đảng Dân Chủ sẽ không theo kế này; vì nếu làm như vậy cũng là một cách tránh né khôn ngoan nhưng không đáng kính trọng.
Người dân không cần các chính trị gia phải hoàn hảo, nhưng ít nhất họ cũng phải tỏ ra có tư cách đáng kính chứ không để người ta khinh. Một nhà chính trị tự làm mất phẩm cách của mình tức là cũng làm mất danh dự của những người dân đã bỏ phiếu cho mình, và làm nhục cả quốc gia.
Kết quả cuộc bầu cử nghị sĩ ở Massachusetts giúp chúng ta hiểu thêm tâm lý của các cử tri nước Mỹ. Và hiểu thêm về sinh hoạt chính trị tự do dân chủ. Trong một nước dân chủ, người dân tránh hết sức để không trao quyền lực vào tay một nhóm người, một đảng phái nào. Bao giờ cũng phải giữ thế cân bằng giữa các định chế để kiểm soát lẫn nhau. Nước Mỹ sống ổn định trong 200 năm và đạt được những tiến bộ kinh tế cao nhất thế giới chính là nhờ thế cân bằng đó.
Nô Lệ Và Ac Quỷ
Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh Tấn thảm kịch động đất ở Haiti đã làm chấn động lòng người trên khắp thế giới với khoảng 200,000 người chết, và những cảnh lôi các xác chết dưới những đống gạch vụn của hàng trăm tòa nhà sụp đổ ở Thủ đô Port-au-Prince đã hiện rõ trên màn hình TV suốt một tuần qua. Thảm họa này do Trời gây ra chăng? Trước khi đổ lỗi cho ông Trời, hãy nhìn đến các "ông" người. Và những cuộc tranh cãi của các tay phát ngôn nhà nghề và các ông thầy rao giảng trên TV và Internet đã làm dư luận chú ý.
Haiti là một đảo quốc nằm trong Biển Caribean, phía dưới tiểu bang Florida của Mỹ. Các đảo quốc này gồm có Cuba, Cộng hòa Dominican, Guinea. Haiti nằm chung một đảo với Dominican. Nhìn hình ảnh trên TV người ta thấy rất nhiều người da đen. Vậy người da đen ở đâu đến? Cố nhiên từ Phi châu đến và đó là hậu quả nạn buôn nguời làm nô lệ của một số các nước Âu châu. Nguời da trắng đầu tiên phát hiện ra Mỹ Châu, kể cả Haiti, là Christopher Columbus năm 1492. Từ đó Haiti trở thành thuộc địa của Tây Ban Nha. Năm 1697, Tây Ban Nha nhường thuộc địa này cho Pháp. Dân Haiti hiện nay theo thống kê mới nhất có lối 9 triệu người, đa số hơn một nửa là giới trẻ, tức là nguời Haiti hiện nay rất xa với thế hệ đầu tiên tức thế hệ nô lệ người Phi châu thuộc nhiều chủng tộc khác nhau do bọn buôn nguời bắt đem qua. Ngày nay ngôn ngữ chính của họ là tiếng Pháp và hầu hết đều theo Cơ đốc giáo. Lịch sử buôn người làm nô lệ đã cho thấy Haiti là nơi chính yếu nhốt người nô lệ để đưa vào Mỹ bán.
Hãy trở lại ngày nay. Tuần trước ngay sau khi thảm họa xẩy ra. Tiến sĩ Pat Robertson, một Mục Sư rao giảng Phúc âm trên TV, đưa ra lý thuyết nói những người bị bắt 200 năm trước đã "giao kết với quỷ" để cố thoát khỏi sự kìm kẹp của một nhóm đáng ghét dưới chế độ Hoàng đế Pháp Napoleon Bonaparte. Chính sự giao kết đó đã tạo ra một lời nguyền khủng khiếp đưa đến nạn động đất hiện nay. Lời rao giảng này chưa đầy một tích tắc đã truyền đi khắp nước Mỹ và có ngay những nụ cười hoài nghi thường đã có trong giới thức giả về nền văn hóa Mỹ. Bởi vì thuyết huyền thoại Robertson đã đi ngược lại sự kiện lịch sử. Sau khi có cuộc cách mạng ở Pháp năm 1794, có tới 500,000 người nô lệ da đen làm việc trong các đồn điền trồng mía và cà-phê đã nổi lên chống lại chủ nhân thuộc địa béo bở của họ là người Pháp. Ở đây chúng tôi nghĩ đến các đồn điền cao su của mấy ông thực dân Pháp ở Việt Nam.
Một chuyên gia lịch sử của báo Pháp Le Monde, Jerome Gautheret viết: Haiti là "địa ngục trần gian", thời xưa mỗi năm Pháp đưa sang Haiti 50,000 nô lệ để trám vào...số người chết quá cao trong số người nô lệ. Trong một xã hội quá mong manh như vậy, lệnh của Hoàng đế Pháp lúc đó chỉ là lệnh "phải coi chừng". Vì có nạn khủng bố và bạo lực, thời có cuộc cách mạng Pháp đã cố chấn chỉnh lại. Thế nhưng ở Paris, trong khi tổ chức "Bạn của những người da đen" kêu gọi bình đẳng cho mọi con người tự do, ở Haiti một đảng chuyên quyền độc đảng lại tìm cách giữ nguyên trạng vì mối lợi lớn riêng của chúng. Dân Haiti cũng làm cách mạng năm 1804 sau 13 năm tranh đấu cho nền độc lập, chính phủ đầu tiên do một lãnh tụ Haiti Jean-Jacques Dessalines được thành lập và ông này tự xưng là Hoàng Đế. Hai năm sau ông này bị ám sát, nội chiến bùng nổ với những vụ giết chóc đẫm máu.
Năm 1915, Tổng Thống Woodrow Wilson ra lệnh cho Thủy quân Lục chiến Mỹ chiếm Haiti, nhưng vì nội chiến Haiti kéo dài quân Mỹ rút lui năm 1934. Năm 1957 một bác sĩ theo đạo Voodoo của một thiểu số gốc Haiti là Francois Duvalier được bầu làm Tổng Thống, cai trị theo kiểu độc đoán của một chế độ cảnh sát trị. Năm 1971, con trai của Duvalier tuyên bố lên "nối ngôi" làm Tổng Thống suốt đời. Nội chiến vẫn tiếp diễn. Năm 1990, ông Jean-Bertrand Aristide đắc cử Tổng Thống trong một cuộc bầu cử tự do. Nhưng chỉ trong 8 tháng, Aristide bị một cuộc cách mạng lật đổ. Hàng chục ngàn dân Haiti lúc đó dùng thuyền vượt biên qua Florida tị nạn. Nhưng tại sao dân Haiti, sau khi lật đổ được ách cai trị của thực dân Pháp, lại không biết đoàn kết để nội chiến nối tiếp dài dài?
Chúng tôi nghĩ có một nguyên nhân rất quan trọng. Năm xưa những người da đen bị bọn buôn người bắt là những người cùng một mầu da nhưng thuộc các dân tộc, bộ tộc khác nhau vì Phi Châu không phải chỉ có một nước. Chính vì sự khác biệt đó nên những người bị bắt làm nô lệ rất khó tìm đươc sự đoàn kết đồng thuận. Các dân tộc trên thế giới cùng một gốc, có cùng một nền văn hóa cổ xưa nên vẫn thường có tinh thần dân tộc rất mạnh. Năm 1994 Tổng Thống Bill Clinton cho 20,000 quân Mỹ đến Haiti. Aristide trở về nước làm Tổng Thống năm 2001, nhưng nạn nghèo đói và bệnh nan y HIV lan tràn, Aristide bị cưỡng bách từ chức năm 2004. Thêm vào đó từ năm 2005 đến 2008, nạn bão lốc hoành hành làm dân Haiti phải di tản, mất nhà mất cửa. Vì thế đảo quốc Haiti được đặt dưới sự bảo trợ của LHQ. Cựu Tổng Thống Clinton được cử làm đặc phái viên LHQ ở Haiti.
Sau trận động đất ở Haiti, người ta thấy một thiểu số thuộc phe chính trị cực đoan đã mượn cơ hội động đất này để chỉ trích, sau khi Tổng Thống Obama ra lệnh viện trợ, kêu gọi LHQ và toàn thế giới cứu giúp người dân Haiti. Chẳng hạn nhà bình luận hữu phái, nổi tiếng ăn nói dữ dằn trên radio, Rush Limbaugh hôm thứ tư Jan 14 nói: "Vụ Haiti động đất là một cơ hội cho Obama lợi dụng. Chúng ta đã viện trợ cho Haiti rồi, nhưng Obama bây giờ đòi tăng thuế đánh vào dân Mỹ". Và Limbaugh vạch ra "chuyện xấu" của đảng Dân Chủ, kể lại trước đây TNS Harry Reid của đảng này hiện là Trưởng khối đa số tại Thượng viện, trong lúc tranh cử năm 2008 đã nói Obama có thể thắng cử vì ông ta có mầu da đen lợt và không biết nói theo thanh âm của bọn "negro" (tên gọi miệt thị người da đen). TNS Reid đã xin lỗi và TT Obama đã tha lỗi. Lời lẽ của Limbaugh đã bị chính những nhà bình luận hữu phái nổi tiếng trên TV như Pat Buchanan phê phán nặng, nói những lời tuyên bố của Limbaugh "không có lý do tốt, đáng bị lên án".
Limbaugh hoàn toàn ủng hộ lời rao giảng của Robertson. Nhưng một bản tuyên bố của Robertson ngay sau đó đã được phát ngôn nhân của ông này công bố, trong đó nói: "Tiến sĩ Robertson không hề nói nạn động đất ở Haiti là do sự phẫn nộ của Chúa Trời gây ra. Tình thương của Robertson đối với người dân Haiti thật rõ rệt. Ông đã kêu gọi cầu nguyện cho họ. Các nhân viên dưới quyền ông đã từng làm việc cho hàng ngàn dân Haiti hồi năm ngoái và hiện họ đang nỗ lực trong chương trình cứu trợ và phục hồi dân Haiti". Những tin tức trên đây đã do báo "Christian Science Monitor" và bản tin Pháp từ Paris phổ biến trên Internet. Chúng tôi nghĩ đó là những tin rất xác đáng. Nạn kỳ thị mầu da đã bị tư duy loài người của Thế kỷ 21 hoàn toàn gạt bỏ. Nô lệ không giao kết với ác quỷ. Kẻ giao kết với quỷ chính là bọn thực dân, bọn buôn người thời xưa coi những người da mầu như súc vật.
SƠN ĐIỀN NGUYỄN VIẾT KHÁNH
Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh Tấn thảm kịch động đất ở Haiti đã làm chấn động lòng người trên khắp thế giới với khoảng 200,000 người chết, và những cảnh lôi các xác chết dưới những đống gạch vụn của hàng trăm tòa nhà sụp đổ ở Thủ đô Port-au-Prince đã hiện rõ trên màn hình TV suốt một tuần qua. Thảm họa này do Trời gây ra chăng? Trước khi đổ lỗi cho ông Trời, hãy nhìn đến các "ông" người. Và những cuộc tranh cãi của các tay phát ngôn nhà nghề và các ông thầy rao giảng trên TV và Internet đã làm dư luận chú ý.
Haiti là một đảo quốc nằm trong Biển Caribean, phía dưới tiểu bang Florida của Mỹ. Các đảo quốc này gồm có Cuba, Cộng hòa Dominican, Guinea. Haiti nằm chung một đảo với Dominican. Nhìn hình ảnh trên TV người ta thấy rất nhiều người da đen. Vậy người da đen ở đâu đến? Cố nhiên từ Phi châu đến và đó là hậu quả nạn buôn nguời làm nô lệ của một số các nước Âu châu. Nguời da trắng đầu tiên phát hiện ra Mỹ Châu, kể cả Haiti, là Christopher Columbus năm 1492. Từ đó Haiti trở thành thuộc địa của Tây Ban Nha. Năm 1697, Tây Ban Nha nhường thuộc địa này cho Pháp. Dân Haiti hiện nay theo thống kê mới nhất có lối 9 triệu người, đa số hơn một nửa là giới trẻ, tức là nguời Haiti hiện nay rất xa với thế hệ đầu tiên tức thế hệ nô lệ người Phi châu thuộc nhiều chủng tộc khác nhau do bọn buôn nguời bắt đem qua. Ngày nay ngôn ngữ chính của họ là tiếng Pháp và hầu hết đều theo Cơ đốc giáo. Lịch sử buôn người làm nô lệ đã cho thấy Haiti là nơi chính yếu nhốt người nô lệ để đưa vào Mỹ bán.
Hãy trở lại ngày nay. Tuần trước ngay sau khi thảm họa xẩy ra. Tiến sĩ Pat Robertson, một Mục Sư rao giảng Phúc âm trên TV, đưa ra lý thuyết nói những người bị bắt 200 năm trước đã "giao kết với quỷ" để cố thoát khỏi sự kìm kẹp của một nhóm đáng ghét dưới chế độ Hoàng đế Pháp Napoleon Bonaparte. Chính sự giao kết đó đã tạo ra một lời nguyền khủng khiếp đưa đến nạn động đất hiện nay. Lời rao giảng này chưa đầy một tích tắc đã truyền đi khắp nước Mỹ và có ngay những nụ cười hoài nghi thường đã có trong giới thức giả về nền văn hóa Mỹ. Bởi vì thuyết huyền thoại Robertson đã đi ngược lại sự kiện lịch sử. Sau khi có cuộc cách mạng ở Pháp năm 1794, có tới 500,000 người nô lệ da đen làm việc trong các đồn điền trồng mía và cà-phê đã nổi lên chống lại chủ nhân thuộc địa béo bở của họ là người Pháp. Ở đây chúng tôi nghĩ đến các đồn điền cao su của mấy ông thực dân Pháp ở Việt Nam.
Một chuyên gia lịch sử của báo Pháp Le Monde, Jerome Gautheret viết: Haiti là "địa ngục trần gian", thời xưa mỗi năm Pháp đưa sang Haiti 50,000 nô lệ để trám vào...số người chết quá cao trong số người nô lệ. Trong một xã hội quá mong manh như vậy, lệnh của Hoàng đế Pháp lúc đó chỉ là lệnh "phải coi chừng". Vì có nạn khủng bố và bạo lực, thời có cuộc cách mạng Pháp đã cố chấn chỉnh lại. Thế nhưng ở Paris, trong khi tổ chức "Bạn của những người da đen" kêu gọi bình đẳng cho mọi con người tự do, ở Haiti một đảng chuyên quyền độc đảng lại tìm cách giữ nguyên trạng vì mối lợi lớn riêng của chúng. Dân Haiti cũng làm cách mạng năm 1804 sau 13 năm tranh đấu cho nền độc lập, chính phủ đầu tiên do một lãnh tụ Haiti Jean-Jacques Dessalines được thành lập và ông này tự xưng là Hoàng Đế. Hai năm sau ông này bị ám sát, nội chiến bùng nổ với những vụ giết chóc đẫm máu.
Năm 1915, Tổng Thống Woodrow Wilson ra lệnh cho Thủy quân Lục chiến Mỹ chiếm Haiti, nhưng vì nội chiến Haiti kéo dài quân Mỹ rút lui năm 1934. Năm 1957 một bác sĩ theo đạo Voodoo của một thiểu số gốc Haiti là Francois Duvalier được bầu làm Tổng Thống, cai trị theo kiểu độc đoán của một chế độ cảnh sát trị. Năm 1971, con trai của Duvalier tuyên bố lên "nối ngôi" làm Tổng Thống suốt đời. Nội chiến vẫn tiếp diễn. Năm 1990, ông Jean-Bertrand Aristide đắc cử Tổng Thống trong một cuộc bầu cử tự do. Nhưng chỉ trong 8 tháng, Aristide bị một cuộc cách mạng lật đổ. Hàng chục ngàn dân Haiti lúc đó dùng thuyền vượt biên qua Florida tị nạn. Nhưng tại sao dân Haiti, sau khi lật đổ được ách cai trị của thực dân Pháp, lại không biết đoàn kết để nội chiến nối tiếp dài dài?
Chúng tôi nghĩ có một nguyên nhân rất quan trọng. Năm xưa những người da đen bị bọn buôn người bắt là những người cùng một mầu da nhưng thuộc các dân tộc, bộ tộc khác nhau vì Phi Châu không phải chỉ có một nước. Chính vì sự khác biệt đó nên những người bị bắt làm nô lệ rất khó tìm đươc sự đoàn kết đồng thuận. Các dân tộc trên thế giới cùng một gốc, có cùng một nền văn hóa cổ xưa nên vẫn thường có tinh thần dân tộc rất mạnh. Năm 1994 Tổng Thống Bill Clinton cho 20,000 quân Mỹ đến Haiti. Aristide trở về nước làm Tổng Thống năm 2001, nhưng nạn nghèo đói và bệnh nan y HIV lan tràn, Aristide bị cưỡng bách từ chức năm 2004. Thêm vào đó từ năm 2005 đến 2008, nạn bão lốc hoành hành làm dân Haiti phải di tản, mất nhà mất cửa. Vì thế đảo quốc Haiti được đặt dưới sự bảo trợ của LHQ. Cựu Tổng Thống Clinton được cử làm đặc phái viên LHQ ở Haiti.
Sau trận động đất ở Haiti, người ta thấy một thiểu số thuộc phe chính trị cực đoan đã mượn cơ hội động đất này để chỉ trích, sau khi Tổng Thống Obama ra lệnh viện trợ, kêu gọi LHQ và toàn thế giới cứu giúp người dân Haiti. Chẳng hạn nhà bình luận hữu phái, nổi tiếng ăn nói dữ dằn trên radio, Rush Limbaugh hôm thứ tư Jan 14 nói: "Vụ Haiti động đất là một cơ hội cho Obama lợi dụng. Chúng ta đã viện trợ cho Haiti rồi, nhưng Obama bây giờ đòi tăng thuế đánh vào dân Mỹ". Và Limbaugh vạch ra "chuyện xấu" của đảng Dân Chủ, kể lại trước đây TNS Harry Reid của đảng này hiện là Trưởng khối đa số tại Thượng viện, trong lúc tranh cử năm 2008 đã nói Obama có thể thắng cử vì ông ta có mầu da đen lợt và không biết nói theo thanh âm của bọn "negro" (tên gọi miệt thị người da đen). TNS Reid đã xin lỗi và TT Obama đã tha lỗi. Lời lẽ của Limbaugh đã bị chính những nhà bình luận hữu phái nổi tiếng trên TV như Pat Buchanan phê phán nặng, nói những lời tuyên bố của Limbaugh "không có lý do tốt, đáng bị lên án".
Limbaugh hoàn toàn ủng hộ lời rao giảng của Robertson. Nhưng một bản tuyên bố của Robertson ngay sau đó đã được phát ngôn nhân của ông này công bố, trong đó nói: "Tiến sĩ Robertson không hề nói nạn động đất ở Haiti là do sự phẫn nộ của Chúa Trời gây ra. Tình thương của Robertson đối với người dân Haiti thật rõ rệt. Ông đã kêu gọi cầu nguyện cho họ. Các nhân viên dưới quyền ông đã từng làm việc cho hàng ngàn dân Haiti hồi năm ngoái và hiện họ đang nỗ lực trong chương trình cứu trợ và phục hồi dân Haiti". Những tin tức trên đây đã do báo "Christian Science Monitor" và bản tin Pháp từ Paris phổ biến trên Internet. Chúng tôi nghĩ đó là những tin rất xác đáng. Nạn kỳ thị mầu da đã bị tư duy loài người của Thế kỷ 21 hoàn toàn gạt bỏ. Nô lệ không giao kết với ác quỷ. Kẻ giao kết với quỷ chính là bọn thực dân, bọn buôn người thời xưa coi những người da mầu như súc vật.
SƠN ĐIỀN NGUYỄN VIẾT KHÁNH
Haiti: Chiến Dịch Cứu Trợ Lớn Nhứt Của Mỹ
Vi Anh Cuộc động đất 7 độ Richter tàn phá Haiti là một cuộc khủng hoảng nhân đạo trầm trọng nhưt trong nhiều thập niên gần đây. Và cũng là một chiến dịch cứu trợ ngoại quốc lớn nhứt của Mỹ cho đến bây giờ.
Ong Tổng Thơ Ký Liên Hiệp Quốc đến nước này tuyên bố đó là cuộc khủng hoảng nhân đạo trầm trọng nhứt mấy chục năm qua. Cần phải cứu trợ nhân đạo khẩn cấp, đảo quốc đang hổn độn. Theo Ong ba việc phải làm ngay: khẩn cấp cứu nguy người đang bị kẹt càng nhiều càng tốt, cứu trợ nạn nhân, và khẩn cấp phối họp công cuộc cứu trợ của các nước đưa đến nước uống, đồ ăn, thuốc men cần thiết.
Theo con số của Tổ Chức Y Tế Thế Giới, có từ 40.000 đến 50.000 người chết, 250.000 bị thương, và 1 triệu rưởi người không nhà. Trung Quốc tuyên bố 8 người Hoa chết; Canada 8 chết, 1.362 mất tích; Pháp 12 chết, 30 đến 35 mất tích - là những con số ban đầu người ngoại quốc ghi nhận vào ngày Thứ Bảy.
Tổ chức Bác sĩ Không Biên Giới nói "chưa bao giờ thấy những thương tích trầm trọng như vậy". Sáng hội này đã có 30 người tình nguyện có mặt tại chỗ và đang huy động và đưa thêm 70 người nữa từ các nước đến đây.
Tình trạng mất an ninh bắt đầu lan tràn khắp đảo quốc, gây khó khăn cho việc cứu trợ. Dân chúng sợ cướp bóc, hôi của, phải di tản hướng từ thủ đô ra các vùng không bị động đất. Dù Tổng Thống René Préval trấn an "chánh quyền không còn khả năng điều hành nhưng không sụp đổ" nhưng không làm yên lòng dân chúng đang hoảng loạn. Ngày Chủ Nhựt cảnh sát ở thủ đô phải can thiệp bằng súng ở Port-au-Prince trong một vụ cướp, một trong 1 người chết vì đạn mới 30 tuổi.
Cả thế giới bàng hoàng hướng về Haiti. Liên Au khẩn cấp bàn bạc xuất chi 100 triệu Euros cứu cấp và sẽ cứu trợ thêm, lên đến 420 triệu Euros. Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc họp vào sáng Thứ Hai 18-1 để duyệt xét tình hình và tăng cường sự hiện diện để cứu trợ.
Nhưng Mỹ là nước mở một chiến dịch cứu trợ qui mô nhứt, như lời Tổng Thống Obama tuyên bố vài giờ sau cuộc động đất xảy ra. "Hoa Kỳ sẽ phản ứng mau chóng và mạnh mẽ''. TT Obama điều 10 ngàn quân nhân trừ bị Mỹ đến hiện trường. Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Mỹ Robert Gates cho biết từ 9.000 tới 10.000 binh sĩ Mỹ sẽ có mặt ở Haiti hoặc đang trong chuyến hải hành trực chỉ Port Au Prince. Lực lượng Mỹ kể cả thủy quân lục chiến sẽ tiếp tay 7.000 người thuộc lực lượng bảo vệ hòa bình LHQ và 2.000 cảnh sát tham gia công tác bảo vệ an ninh trật tự cho Haiti. Lập cầu không vận khổng lồ tiếp tế khẩn cấp cho Haiti, máy bay Hercule C-130 cất cánh liên tục. Quân nhân và chuyên viên Mỹ bảo đảm việc điều hòa phi cảng Port au Prince duy nhứt của Haiti do chánh quyền Haiti giao phó. Dùng căn cứ Guantanamo của Mỹ đặt tại Cuba làm địa điểm trung chuyển hậu cần. Lập căn cứ tiền tuyến cứu trợ và bộ tư lịnh cứu trợ trên hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson.TT Obama nhờ hai người tiền nhiệm George W. Bush và Bill Clinton tiếp tay huy động quỹ cứu trợ . Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton bay đi Haiti thị sát tại chỗ và gặp TT René Préval. Bà Hillary Clinton trấn an và nhấn mạnh "Mỹ sẽ viện trợ tức thì và dài hạn." Như TT Obama đã nói, chúng tôi sẽ đến đây hôm nay, ngày mai, và tiếp sau đó". ''Mỹ đến đây để yểm trợ Haiti, chứ không phải để thay thế chính quyền Haiti''. Bà muốn TT Haiti triệu tập Quốc Hội nếu ai còn sống sót, tuyên bố tình trạng lâm nguy, ban hành tình trạng thiết quân luật,và chánh thức mời các nước đến giúp để hợp thức hóa sự có mặt của các binh đoàn ngoại quốc.
Hành động nhanh chóng và quyết liệt của Mỹ gây một ít thắc mắc và than phiền. Nhứt là Pháp có nhiều ảnh hưởng xa xưa với Haiti, tên thủ đô Port au Prince của Haiti bây giờ còn là chữ Pháp. Hội Y Sĩ Không Biên Giới Pháp nổi giận với Washington. Cánh cứu trợ người Pháp phản kháng các chuyên viên người Mỹ điều hành phi trường Port-au-Prince vì máy bay của họ không đáp được do nhịp độ nhận máy bay đáp xuống quá chậm, vì phi trường bị hư hại nặng. Hôm thứ sáu một chiếc khác cũng của Hội Y Sĩ Không Biên Giới Pháp phải quay đi, khiến Bộ trưởng bộ hợp tác Alain Joyandet của Pháp nổi giận với Washington. Sau cùng máy bay này đáp được, và phủ Tổng thống Pháp đã hòa giải mối căng thẳng vì biết rõ đó là vì lý do kỹ thuật. Chính Ngoại Trưởng Mỹ mong mỏi có một hiệp ước khẩn cấp có Liên Hiệp Quốc tham dự để họp thức hóa sự có mặt của quân nhân Mỹ trong công tác cứu trợ này. Đúng, muốn hay không muốn Haiti vẫn là nước ở sau nhà của Mỹ. Anh hưởng của Mỹ đối với nước này là cần đứng trên phương diện địa lý chiến lược. Trong chánh trị chung mà không có riêng sẽ vô hồn. Riêng mà không có chung là ích kỷ. Đối với Mỹ, yếu tố chung và riêng trong chiến dịch cứu trợ qui mô nhứt này đều có. Nhưng lý do chánh để Mỹ mở một chiến dịch cứu trợ ngoại quốc qui mô nhứt từ đó tới giờ là lý do cao cả. Một về nạn nhân, cuộc động đất này là một cuộc động đất rất lớn nhưng lại xảy ra ở một nước giao thông quốc tế trắc trở, nhân dân nghèo nàn, chánh trị và an ninh mong manh; hơn 80% sống dưới mức nghèo khó. Do vậy tai họa trở thành thảm khốc hơn. Một ngày thường người Haiti phải vật lộn với sự sống nghèo khó đã khổ sở rồi, bây giờ phải vật lộn với cái chết do thiên tai giáng xuống, thảm khốc lại càng nghiệt ngã hơn nữa. Con số chết, bị thương, mất tích, tài sản tiêu tan nói trên chỉ là con số ban đầu, con số thực chưa cơ quan nào biết. Trời đất đã gây đau khổ rồi, thì con người đành phải lo cứu giúp nhau.
Về tình hình xã hội, tai họa động đất lại xảy ra ngay thủ dô Port au Prince, trung tâm địa chấn chỉ cách thủ đô vài cây số, gây tai họa quá sức tưởng tượng là một điều dáng suy gẩm cho các quốc gia chậm tiến hay đang phát triễn. Như các nước đang ở trong tình trạng này, nạn bùng nổ dân số ở đô thị vì phong trào đô thị hóa làm nhu cầu nhà ở quá cần kíp nên bất chấp các nguyên tắc căn bản về an toàn xây dựng. Ngay Phủ Tổng Thống mà còn sập phân nửa thì huống hồ gì nhân dân.
Sự sụp đổ Phủ Tổng Thống như một lâu đài bằng giấy tượng trưng cho chánh quyền hết sức bất ổn của nước này. Sau ba thập niên độc tài của Duvalier thân Liên xô là những cuộc đảo chánh, chỉnh lý liên tục. Chỉ mấy năm nay mới ổn định chánh trị với Ong Aristide, nhờ sự bảo hộ của Liên Hiệp Quốc. Nhưng Haiti không ổn định với thiên tai địa họa vì hệ thống tiên đoán, báo động lạc hậu, hệ thống phòng chống của chánh quyền yếu kém. Năm 2008, bốn cơn lốc tàn phá xứ sở này trong một năm, nhân dân nổi lên vì đói.
Thiên tai động đất ỏ Haiti làm cho thế giới chú ý thêm xứ sở này. Nhân Loại cứu ngặt rồi phải nghĩ đến cứu nghèo, cứu khổ một số đồng loại từ lâu rất bạc phận này. Khẩn cấp cứu sinh mạng con người rồi còn cứu nguy tình hình y tế quá tồi tệ. Và tổ chức Liên Hiệp Quốc, cơ quan bảo trợ, Mỹ đệ nhứt siêu cường thế giới, nước giàu mạnh nhứt Tây Bán Cầu không thể nào để cho một bộ phận của cộng đồng thế giới chìm sâu trong biển khồ nghèo nàn, bất ổn nữa. Ở một mức độ nào đó, cái rủi của Haiti là cái may của nước này. Cuộc khủng hoảng nhân đạo ỏ Haiti, chiến dịch cứu trợ lớn nhứt của Mỹ và thế giới sẽ giúp cho lịch sử nghèo nàn, lạc hậu, bất ổn chánh trị, xã hội của Haiti vượt qua khúc quanh để tiến đến một chế độ kinh tế, chánh trị tốt hơn cho người dân.
VI ANH
Vi Anh Cuộc động đất 7 độ Richter tàn phá Haiti là một cuộc khủng hoảng nhân đạo trầm trọng nhưt trong nhiều thập niên gần đây. Và cũng là một chiến dịch cứu trợ ngoại quốc lớn nhứt của Mỹ cho đến bây giờ.
Ong Tổng Thơ Ký Liên Hiệp Quốc đến nước này tuyên bố đó là cuộc khủng hoảng nhân đạo trầm trọng nhứt mấy chục năm qua. Cần phải cứu trợ nhân đạo khẩn cấp, đảo quốc đang hổn độn. Theo Ong ba việc phải làm ngay: khẩn cấp cứu nguy người đang bị kẹt càng nhiều càng tốt, cứu trợ nạn nhân, và khẩn cấp phối họp công cuộc cứu trợ của các nước đưa đến nước uống, đồ ăn, thuốc men cần thiết.
Theo con số của Tổ Chức Y Tế Thế Giới, có từ 40.000 đến 50.000 người chết, 250.000 bị thương, và 1 triệu rưởi người không nhà. Trung Quốc tuyên bố 8 người Hoa chết; Canada 8 chết, 1.362 mất tích; Pháp 12 chết, 30 đến 35 mất tích - là những con số ban đầu người ngoại quốc ghi nhận vào ngày Thứ Bảy.
Tổ chức Bác sĩ Không Biên Giới nói "chưa bao giờ thấy những thương tích trầm trọng như vậy". Sáng hội này đã có 30 người tình nguyện có mặt tại chỗ và đang huy động và đưa thêm 70 người nữa từ các nước đến đây.
Tình trạng mất an ninh bắt đầu lan tràn khắp đảo quốc, gây khó khăn cho việc cứu trợ. Dân chúng sợ cướp bóc, hôi của, phải di tản hướng từ thủ đô ra các vùng không bị động đất. Dù Tổng Thống René Préval trấn an "chánh quyền không còn khả năng điều hành nhưng không sụp đổ" nhưng không làm yên lòng dân chúng đang hoảng loạn. Ngày Chủ Nhựt cảnh sát ở thủ đô phải can thiệp bằng súng ở Port-au-Prince trong một vụ cướp, một trong 1 người chết vì đạn mới 30 tuổi.
Cả thế giới bàng hoàng hướng về Haiti. Liên Au khẩn cấp bàn bạc xuất chi 100 triệu Euros cứu cấp và sẽ cứu trợ thêm, lên đến 420 triệu Euros. Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc họp vào sáng Thứ Hai 18-1 để duyệt xét tình hình và tăng cường sự hiện diện để cứu trợ.
Nhưng Mỹ là nước mở một chiến dịch cứu trợ qui mô nhứt, như lời Tổng Thống Obama tuyên bố vài giờ sau cuộc động đất xảy ra. "Hoa Kỳ sẽ phản ứng mau chóng và mạnh mẽ''. TT Obama điều 10 ngàn quân nhân trừ bị Mỹ đến hiện trường. Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Mỹ Robert Gates cho biết từ 9.000 tới 10.000 binh sĩ Mỹ sẽ có mặt ở Haiti hoặc đang trong chuyến hải hành trực chỉ Port Au Prince. Lực lượng Mỹ kể cả thủy quân lục chiến sẽ tiếp tay 7.000 người thuộc lực lượng bảo vệ hòa bình LHQ và 2.000 cảnh sát tham gia công tác bảo vệ an ninh trật tự cho Haiti. Lập cầu không vận khổng lồ tiếp tế khẩn cấp cho Haiti, máy bay Hercule C-130 cất cánh liên tục. Quân nhân và chuyên viên Mỹ bảo đảm việc điều hòa phi cảng Port au Prince duy nhứt của Haiti do chánh quyền Haiti giao phó. Dùng căn cứ Guantanamo của Mỹ đặt tại Cuba làm địa điểm trung chuyển hậu cần. Lập căn cứ tiền tuyến cứu trợ và bộ tư lịnh cứu trợ trên hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson.TT Obama nhờ hai người tiền nhiệm George W. Bush và Bill Clinton tiếp tay huy động quỹ cứu trợ . Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton bay đi Haiti thị sát tại chỗ và gặp TT René Préval. Bà Hillary Clinton trấn an và nhấn mạnh "Mỹ sẽ viện trợ tức thì và dài hạn." Như TT Obama đã nói, chúng tôi sẽ đến đây hôm nay, ngày mai, và tiếp sau đó". ''Mỹ đến đây để yểm trợ Haiti, chứ không phải để thay thế chính quyền Haiti''. Bà muốn TT Haiti triệu tập Quốc Hội nếu ai còn sống sót, tuyên bố tình trạng lâm nguy, ban hành tình trạng thiết quân luật,và chánh thức mời các nước đến giúp để hợp thức hóa sự có mặt của các binh đoàn ngoại quốc.
Hành động nhanh chóng và quyết liệt của Mỹ gây một ít thắc mắc và than phiền. Nhứt là Pháp có nhiều ảnh hưởng xa xưa với Haiti, tên thủ đô Port au Prince của Haiti bây giờ còn là chữ Pháp. Hội Y Sĩ Không Biên Giới Pháp nổi giận với Washington. Cánh cứu trợ người Pháp phản kháng các chuyên viên người Mỹ điều hành phi trường Port-au-Prince vì máy bay của họ không đáp được do nhịp độ nhận máy bay đáp xuống quá chậm, vì phi trường bị hư hại nặng. Hôm thứ sáu một chiếc khác cũng của Hội Y Sĩ Không Biên Giới Pháp phải quay đi, khiến Bộ trưởng bộ hợp tác Alain Joyandet của Pháp nổi giận với Washington. Sau cùng máy bay này đáp được, và phủ Tổng thống Pháp đã hòa giải mối căng thẳng vì biết rõ đó là vì lý do kỹ thuật. Chính Ngoại Trưởng Mỹ mong mỏi có một hiệp ước khẩn cấp có Liên Hiệp Quốc tham dự để họp thức hóa sự có mặt của quân nhân Mỹ trong công tác cứu trợ này. Đúng, muốn hay không muốn Haiti vẫn là nước ở sau nhà của Mỹ. Anh hưởng của Mỹ đối với nước này là cần đứng trên phương diện địa lý chiến lược. Trong chánh trị chung mà không có riêng sẽ vô hồn. Riêng mà không có chung là ích kỷ. Đối với Mỹ, yếu tố chung và riêng trong chiến dịch cứu trợ qui mô nhứt này đều có. Nhưng lý do chánh để Mỹ mở một chiến dịch cứu trợ ngoại quốc qui mô nhứt từ đó tới giờ là lý do cao cả. Một về nạn nhân, cuộc động đất này là một cuộc động đất rất lớn nhưng lại xảy ra ở một nước giao thông quốc tế trắc trở, nhân dân nghèo nàn, chánh trị và an ninh mong manh; hơn 80% sống dưới mức nghèo khó. Do vậy tai họa trở thành thảm khốc hơn. Một ngày thường người Haiti phải vật lộn với sự sống nghèo khó đã khổ sở rồi, bây giờ phải vật lộn với cái chết do thiên tai giáng xuống, thảm khốc lại càng nghiệt ngã hơn nữa. Con số chết, bị thương, mất tích, tài sản tiêu tan nói trên chỉ là con số ban đầu, con số thực chưa cơ quan nào biết. Trời đất đã gây đau khổ rồi, thì con người đành phải lo cứu giúp nhau.
Về tình hình xã hội, tai họa động đất lại xảy ra ngay thủ dô Port au Prince, trung tâm địa chấn chỉ cách thủ đô vài cây số, gây tai họa quá sức tưởng tượng là một điều dáng suy gẩm cho các quốc gia chậm tiến hay đang phát triễn. Như các nước đang ở trong tình trạng này, nạn bùng nổ dân số ở đô thị vì phong trào đô thị hóa làm nhu cầu nhà ở quá cần kíp nên bất chấp các nguyên tắc căn bản về an toàn xây dựng. Ngay Phủ Tổng Thống mà còn sập phân nửa thì huống hồ gì nhân dân.
Sự sụp đổ Phủ Tổng Thống như một lâu đài bằng giấy tượng trưng cho chánh quyền hết sức bất ổn của nước này. Sau ba thập niên độc tài của Duvalier thân Liên xô là những cuộc đảo chánh, chỉnh lý liên tục. Chỉ mấy năm nay mới ổn định chánh trị với Ong Aristide, nhờ sự bảo hộ của Liên Hiệp Quốc. Nhưng Haiti không ổn định với thiên tai địa họa vì hệ thống tiên đoán, báo động lạc hậu, hệ thống phòng chống của chánh quyền yếu kém. Năm 2008, bốn cơn lốc tàn phá xứ sở này trong một năm, nhân dân nổi lên vì đói.
Thiên tai động đất ỏ Haiti làm cho thế giới chú ý thêm xứ sở này. Nhân Loại cứu ngặt rồi phải nghĩ đến cứu nghèo, cứu khổ một số đồng loại từ lâu rất bạc phận này. Khẩn cấp cứu sinh mạng con người rồi còn cứu nguy tình hình y tế quá tồi tệ. Và tổ chức Liên Hiệp Quốc, cơ quan bảo trợ, Mỹ đệ nhứt siêu cường thế giới, nước giàu mạnh nhứt Tây Bán Cầu không thể nào để cho một bộ phận của cộng đồng thế giới chìm sâu trong biển khồ nghèo nàn, bất ổn nữa. Ở một mức độ nào đó, cái rủi của Haiti là cái may của nước này. Cuộc khủng hoảng nhân đạo ỏ Haiti, chiến dịch cứu trợ lớn nhứt của Mỹ và thế giới sẽ giúp cho lịch sử nghèo nàn, lạc hậu, bất ổn chánh trị, xã hội của Haiti vượt qua khúc quanh để tiến đến một chế độ kinh tế, chánh trị tốt hơn cho người dân.
VI ANH
Tin tặc và Tàn tặc
Ngô Nhân Dụng Khi loài người tụ họp lại sống chung thành quốc gia thì có những người làm việc cai trị, gọi là chính quyền. Trong từ “chính quyền,” chữ “chính” để nói đến công việc cai trị, không có ý khen hay chê; cũng giống như khi ta nói “guồng máy hành chính” không nhất thiết đó là một guồng máy đứng đắn. Chữ “chính” này phân biệt với chữ “chính” khác có nghĩa là ngay, thẳng, như khi nói chính đáng, chính trực, công chính, vân vân. (Nếu chúng ta vẫn viết bằng chữ Nôm thay vì dùng mẫu tự ABC như hiện nay thì ai cũng biết hai chữ cùng đọc là Chính nhưng viết khác nhau, không thể hiểu lầm được).
Khi trong xã hội có một chính quyền làm công việc cai trị, thì dù nó tốt hay xấu, mọi người cũng trông đợi chính quyền đó phải theo một số quy tắc hành sử tối thiểu để trông có tư cách, cho người ngoài kính nể. Một chính quyền có thể đánh thuế cao, bắt dân làm siu dịch nặng nề, nó có thể tham nhũng hoặc thanh liêm, nó nhân đạo hoặc dùng hình luật tàn ác, có thể dũng cảm bảo vệ danh dự quốc gia, hoặc run sợ trước ngoại bang. Nhưng có những điều mà ai cũng nghĩ là một chính quyền một nước thường không bao giờ làm, để không làm nhục quốc gia. Thí dụ, nhà cầm quyền thì không đi ăn trộm, ăn cắp của dân. Ðã nắm độc quyền dùng bạo lực chính thức qua guồng máy công an, quân đội, thì một chính quyền không cần làm những việc thuộc lãnh vực dành riêng cho giới anh chị, côn đồ, du đãng. Một chính quyền cũng không cần thuê mướn côn đồ du đãng làm việc thay cho guồng máy nhà nước. Làm những việc trộm cắp, côn đồ du đãng như thế là đi ngược với đạo lý, phá hoại nền tảng nhân nghĩa của xã hội.
Tin tặc là một hành động trộm cắp. Các chính quyền Cộng Sản ở Trung Quốc và Việt Nam đang bị tố cáo là họ đóng vai “tin tặc,” nghĩa là cho người lẻn vào các mạng lưới điện tử để phá hoại cho nó tê liệt hoặc ăn trộm những thông tin người ta trao đổi với nhau trong đó. Ở bên Tàu, công ty Googgle đã công khai tố cáo bọn tin tặc (chữ Tin ở đây có ý nói đến ngành “tin học” chứ cũng không có nghĩa là tin tưởng hay niềm tin). Chính phủ Bắc Kinh không biết làm sao rửa được mặt khi một công ty quốc tế lớn dọa bỏ thị trường Trung Hoa chỉ vì các hồ sơ tin học trong mạng của họ bị ăn cắp. Công ty này nói thẳng rằng những thông tin bị trộm đều dính tới các nhà tranh đấu cho quyền làm người, cho quyền tự do dân chủ của người Trung Hoa. Không nói, ai cũng biết thủ phạm các vụ ăn trộm này phải là do chính quyền độc tài đảng trị ở Bắc Kinh sai khiến. Cơ Quan Tình Báo Anh MI 5 đã thông báo nhiều đại công ty nước họ làm ăn ở Trung Hoa lục địa là các công ty này đã bị tin tặc lẻn vào ăn trộm tài liệu riêng. Chính quyền có thể nào làm những việc mờ ám như thế hay không?
Ngày xưa có những vị hoàng đế Trung Hoa đi làm việc lén lút, giả dạng thường dân lẻn ra ngoài cấm thành tìm chỗ trăng hoa giải trí, nhưng họ không đi ăn trộm ăn cắp. Bây giờ, những người nối nghiệp họ đang dùng guồng máy nhà nước đóng vai trộm cắp. Nghĩ thấu đáo thì trước cảnh đó mọi người Trung Hoa phải thấy xấu hổ. Một chính quyền không dám ra lệnh cấm người ta dùng Internet, cũng không dám công khai kiểm duyệt các mạng lưới, mà phải lén lút đi ăn trộm, như vậy gọi là thứ chính quyền gì?
Ở Việt Nam cũng vậy. Mạng lưới bô xít của nhóm học giả Nguyễn Huệ Chi đã bị tin tặc phá hoại mấy tháng trời liên tiếp, vì hàng chục ngàn người Việt Nam đã vào đó bầy tỏ nỗi bất bình đối với chính sách cai trị của đảng Cộng Sản. Không dám cấm, bèn phá. Bọn tin tặc phá, những người dân chủ trương mạng lưới lại dùng kỹ thuật chống đỡ để phục hồi sinh hoạt. Ðược nửa ngày, các tay phá hoại lại tấn công lần nữa, người dân lại tự cứu chữa; cứ giằng qua, kéo lại, không khác trò trẻ con. Cũng vậy, mạng lưới Xcafe được hàng chục ngàn người Việt ra vào trao đổi ý kiến, đúng ngày tòa án Cộng Sản đem 4 người đòi dân chủ ra xử, bọn côn đồ bất ngờ tấn công làm cho cả mạng lưới bị tê liệt. Một chính quyền tự trọng không ai làm những việc phá phách lén lút như thế.
Phải gọi các anh chị em làm công việc tấn công các mạng lưới này là “côn đồ,” vì hành động chuyên nghiệp đánh phá những người lương thiện thường được diễn tả bằng hai chữ đó. Nguyên nghĩa chữ “côn” chỉ có nghĩa là cây gậy dùng để đánh người ta. Côn đồ là bọn người chuyên đánh lộn, tệ nhất trong đó là những người “đâm thuê chém mướn.” Nhiều người làm nghề côn đồ để sống, họ đi đánh người mà không cần phải thù ghét hay oán giận các nạn nhân. Nếu có ai thuê là họ làm. Bây giờ có những anh chị em làm công việc côn đồ trong phòng lạnh, ngồi trước những cái máy vi tính; giống như bất cứ một chuyên gia kỹ thuật nào khác đang làm việc ở bưu điện hay ngân hàng. Có những anh chị em được trả lương thấp hơn vì không chuyên môn, chỉ được thuê đi biểu tình chống các giáo dân không cho họ dựng Thánh Giá trên đất của nhà thờ ở Ðồng Chiêm; hoặc biểu tình trước cửa chùa Phước Huệ đòi xua đuổi các ni, sư đi nơi khác. Biểu tình mỗi ngày lãnh 200,000 đồng, làm việc một tuần lễ là có một số vốn đem về nuôi chồng, nuôi con, nhiều người coi đó là một nghề bình thường. Có những vị thuộc đẳng cấp thấp hơn nữa, được thuê mướn đến chửi rủa và đổ chất nhơ bẩn trước cửa những người lên tiếng đòi dân chủ. Những hành động này gọi chung là côn đồ vì nó giống như nghề đâm thuê chém mướn xưa kia. Và chúng ta cũng phải tự hỏi, một chính quyền chuyên sử dụng các kỹ thuật gia côn đồ tin học, côn đồ biểu tình, côn đồ chửi bới để đánh, phá người dân theo lối ném đá giấu tay như vậy, là thứ chính quyền gì?
Mạnh Tử có một tên gọi, là Tàn Tặc. Tặc là kẻ phá hoại điều Nhân, Tàn là người phá hoại đạo Nghĩa.
Chúng ta đều biết Mạnh Tử đã xác định “Dân vi quý, quân vi khinh,” khinh nghĩa là coi nhẹ hơn. Nhưng nhiều ý kiến của Mạnh Tử có thể được coi là “cách mạng” so với thời đại của ông, khi mà mọi người trong nước Trung Hoa vẫn quen công nhận quyền hành của các ông vua là tuyệt đối. Mạnh Tử thuật lúc gặp Lương Tương Vương, ông vua hỏi: “Khi nào thiên hạ định” (Thiên hạ ô hồ định?) Tôi (Mạnh Tử) đáp rằng, “Khi chỉ có một người nắm quyền thì định” (Ðịnh vu nhất). “Ai có khả năng gom vào một chính quyền?” (Thục năng nhất chi?) Trả lời: “Ai không thích giết người có thể thống nhất thiên hạ” (Bất thị sát nhân giả, năng nhất chi). Ông vua lại hỏi, “Ai ban quyền (thống nhất) cho người đó?” (Thục năng dữ chi?) Trả lời: “Tất cả thiên hạ không ai không có cái quyền ban cho này.” (Thiên hạ mạc bất dữ dã).
Qua đoạn văn trên (Lương Huệ Vương, thượng, chương 6) chúng ta không những biết Mạnh Tử quan niệm chính quyền là do sự ủy nhiệm của mọi người dân (thiên hạ); mà còn thấy thầy Mạnh coi tất cả mọi người dân bình đẳng trong việc ủy quyền này (Thiên hạ mạc bất dữ dã). Suốt hai ngàn năm qua các vua chúa Trung Hoa và Việt Nam đã bỏ qua những ý kiến tiến bộ đó, cho tới bây giờ hầu như vẫn vậy.
Ý kiến táo bạo nhất của Mạnh Tử là ông xác định quyền của người dân được lật đổ chính quyền. Vào thời chiến quốc Trung Hoa chưa biết tục lệ bầu cử. Vậy làm cách nào thay đổi chính quyền? Mạnh Tử nói thẳng là người dân có quyền giết vua. Trong Lương Huệ Vương, hạ, chương 8, Vua Tề Tuyên Vương hỏi chuyện Thành Thang đánh vua Kiệt, Vũ đuổi vua Trụ; Mạnh Tử đáp, “Sử chép đúng thế.” Tuyên Vương lại hỏi, “Như vậy thì bầy tôi có thể thí vua sao?” (Thần thí kỳ quân khả hồ?) Mạnh Tử trả lời, “Kẻ làm hại điều nhân, gọi là Tặc; làm hại điều nghĩa, gọi là Tàn. Kẻ Tàn và Tặc, chỉ gọi là một thằng người mà thôi. Tôi nghe chuyện chém đầu một người tên Trụ chứ không nghe chuyện thí vua.” (Tặc nhân giả, vị chi Tặc, tặc nghĩa giả, vị chi Tàn; Tàn, Tặc chi nhân, vị chi nhất phu. Văn trù nhất phu Trụ hĩ, vị văn thí quân dã.)
Khi một ông vua không xứng đáng thì người dân có quyền lật đổ, hình ảnh giết vua chỉ là tượng trưng. Tuyên Vương vẫn coi Kiệt Trụ là vua, dùng chữ “thí quân,” động từ “thí” chỉ việc giết vua. Mạnh Tử thấy Kiệt, Trụ không xứng đáng nắm chính quyền, coi họ cũng chỉ là những người thường, cho nên không dùng động từ “thí” mà dùng chữ “trù,” nghĩa là chặt đầu. Mạnh Tử công nhận: Người dân có quyền lật đổ những chính quyền không xứng đáng khi chính quyền đó làm hại đạo nhân và nghĩa.
Những chính quyền sử dụng côn đồ và tin tặc đúng là những chế độ tàn tặc. Họ hủy hoại cả nhân nghĩa. Vì người dân, người lớn đến trẻ em, phải chứng kiến những hành động trộm, cướp, côn đồ xẩy ra trước mắt mà không thấy ai bị trừng phạt; ngược lại còn thấy cả guồng máy tuyên truyền hô hoán những lời gian dối để hỗ trợ các hành động côn đồ đó. Lâu ngày, người ta sẽ quên cách sống theo đạo lý bình thường, không còn biết thế nào là nhân nghĩa nữa. Ðó có phải là một tội đối với lịch sử hay không?
Ngô Nhân Dụng Khi loài người tụ họp lại sống chung thành quốc gia thì có những người làm việc cai trị, gọi là chính quyền. Trong từ “chính quyền,” chữ “chính” để nói đến công việc cai trị, không có ý khen hay chê; cũng giống như khi ta nói “guồng máy hành chính” không nhất thiết đó là một guồng máy đứng đắn. Chữ “chính” này phân biệt với chữ “chính” khác có nghĩa là ngay, thẳng, như khi nói chính đáng, chính trực, công chính, vân vân. (Nếu chúng ta vẫn viết bằng chữ Nôm thay vì dùng mẫu tự ABC như hiện nay thì ai cũng biết hai chữ cùng đọc là Chính nhưng viết khác nhau, không thể hiểu lầm được).
Khi trong xã hội có một chính quyền làm công việc cai trị, thì dù nó tốt hay xấu, mọi người cũng trông đợi chính quyền đó phải theo một số quy tắc hành sử tối thiểu để trông có tư cách, cho người ngoài kính nể. Một chính quyền có thể đánh thuế cao, bắt dân làm siu dịch nặng nề, nó có thể tham nhũng hoặc thanh liêm, nó nhân đạo hoặc dùng hình luật tàn ác, có thể dũng cảm bảo vệ danh dự quốc gia, hoặc run sợ trước ngoại bang. Nhưng có những điều mà ai cũng nghĩ là một chính quyền một nước thường không bao giờ làm, để không làm nhục quốc gia. Thí dụ, nhà cầm quyền thì không đi ăn trộm, ăn cắp của dân. Ðã nắm độc quyền dùng bạo lực chính thức qua guồng máy công an, quân đội, thì một chính quyền không cần làm những việc thuộc lãnh vực dành riêng cho giới anh chị, côn đồ, du đãng. Một chính quyền cũng không cần thuê mướn côn đồ du đãng làm việc thay cho guồng máy nhà nước. Làm những việc trộm cắp, côn đồ du đãng như thế là đi ngược với đạo lý, phá hoại nền tảng nhân nghĩa của xã hội.
Tin tặc là một hành động trộm cắp. Các chính quyền Cộng Sản ở Trung Quốc và Việt Nam đang bị tố cáo là họ đóng vai “tin tặc,” nghĩa là cho người lẻn vào các mạng lưới điện tử để phá hoại cho nó tê liệt hoặc ăn trộm những thông tin người ta trao đổi với nhau trong đó. Ở bên Tàu, công ty Googgle đã công khai tố cáo bọn tin tặc (chữ Tin ở đây có ý nói đến ngành “tin học” chứ cũng không có nghĩa là tin tưởng hay niềm tin). Chính phủ Bắc Kinh không biết làm sao rửa được mặt khi một công ty quốc tế lớn dọa bỏ thị trường Trung Hoa chỉ vì các hồ sơ tin học trong mạng của họ bị ăn cắp. Công ty này nói thẳng rằng những thông tin bị trộm đều dính tới các nhà tranh đấu cho quyền làm người, cho quyền tự do dân chủ của người Trung Hoa. Không nói, ai cũng biết thủ phạm các vụ ăn trộm này phải là do chính quyền độc tài đảng trị ở Bắc Kinh sai khiến. Cơ Quan Tình Báo Anh MI 5 đã thông báo nhiều đại công ty nước họ làm ăn ở Trung Hoa lục địa là các công ty này đã bị tin tặc lẻn vào ăn trộm tài liệu riêng. Chính quyền có thể nào làm những việc mờ ám như thế hay không?
Ngày xưa có những vị hoàng đế Trung Hoa đi làm việc lén lút, giả dạng thường dân lẻn ra ngoài cấm thành tìm chỗ trăng hoa giải trí, nhưng họ không đi ăn trộm ăn cắp. Bây giờ, những người nối nghiệp họ đang dùng guồng máy nhà nước đóng vai trộm cắp. Nghĩ thấu đáo thì trước cảnh đó mọi người Trung Hoa phải thấy xấu hổ. Một chính quyền không dám ra lệnh cấm người ta dùng Internet, cũng không dám công khai kiểm duyệt các mạng lưới, mà phải lén lút đi ăn trộm, như vậy gọi là thứ chính quyền gì?
Ở Việt Nam cũng vậy. Mạng lưới bô xít của nhóm học giả Nguyễn Huệ Chi đã bị tin tặc phá hoại mấy tháng trời liên tiếp, vì hàng chục ngàn người Việt Nam đã vào đó bầy tỏ nỗi bất bình đối với chính sách cai trị của đảng Cộng Sản. Không dám cấm, bèn phá. Bọn tin tặc phá, những người dân chủ trương mạng lưới lại dùng kỹ thuật chống đỡ để phục hồi sinh hoạt. Ðược nửa ngày, các tay phá hoại lại tấn công lần nữa, người dân lại tự cứu chữa; cứ giằng qua, kéo lại, không khác trò trẻ con. Cũng vậy, mạng lưới Xcafe được hàng chục ngàn người Việt ra vào trao đổi ý kiến, đúng ngày tòa án Cộng Sản đem 4 người đòi dân chủ ra xử, bọn côn đồ bất ngờ tấn công làm cho cả mạng lưới bị tê liệt. Một chính quyền tự trọng không ai làm những việc phá phách lén lút như thế.
Phải gọi các anh chị em làm công việc tấn công các mạng lưới này là “côn đồ,” vì hành động chuyên nghiệp đánh phá những người lương thiện thường được diễn tả bằng hai chữ đó. Nguyên nghĩa chữ “côn” chỉ có nghĩa là cây gậy dùng để đánh người ta. Côn đồ là bọn người chuyên đánh lộn, tệ nhất trong đó là những người “đâm thuê chém mướn.” Nhiều người làm nghề côn đồ để sống, họ đi đánh người mà không cần phải thù ghét hay oán giận các nạn nhân. Nếu có ai thuê là họ làm. Bây giờ có những anh chị em làm công việc côn đồ trong phòng lạnh, ngồi trước những cái máy vi tính; giống như bất cứ một chuyên gia kỹ thuật nào khác đang làm việc ở bưu điện hay ngân hàng. Có những anh chị em được trả lương thấp hơn vì không chuyên môn, chỉ được thuê đi biểu tình chống các giáo dân không cho họ dựng Thánh Giá trên đất của nhà thờ ở Ðồng Chiêm; hoặc biểu tình trước cửa chùa Phước Huệ đòi xua đuổi các ni, sư đi nơi khác. Biểu tình mỗi ngày lãnh 200,000 đồng, làm việc một tuần lễ là có một số vốn đem về nuôi chồng, nuôi con, nhiều người coi đó là một nghề bình thường. Có những vị thuộc đẳng cấp thấp hơn nữa, được thuê mướn đến chửi rủa và đổ chất nhơ bẩn trước cửa những người lên tiếng đòi dân chủ. Những hành động này gọi chung là côn đồ vì nó giống như nghề đâm thuê chém mướn xưa kia. Và chúng ta cũng phải tự hỏi, một chính quyền chuyên sử dụng các kỹ thuật gia côn đồ tin học, côn đồ biểu tình, côn đồ chửi bới để đánh, phá người dân theo lối ném đá giấu tay như vậy, là thứ chính quyền gì?
Mạnh Tử có một tên gọi, là Tàn Tặc. Tặc là kẻ phá hoại điều Nhân, Tàn là người phá hoại đạo Nghĩa.
Chúng ta đều biết Mạnh Tử đã xác định “Dân vi quý, quân vi khinh,” khinh nghĩa là coi nhẹ hơn. Nhưng nhiều ý kiến của Mạnh Tử có thể được coi là “cách mạng” so với thời đại của ông, khi mà mọi người trong nước Trung Hoa vẫn quen công nhận quyền hành của các ông vua là tuyệt đối. Mạnh Tử thuật lúc gặp Lương Tương Vương, ông vua hỏi: “Khi nào thiên hạ định” (Thiên hạ ô hồ định?) Tôi (Mạnh Tử) đáp rằng, “Khi chỉ có một người nắm quyền thì định” (Ðịnh vu nhất). “Ai có khả năng gom vào một chính quyền?” (Thục năng nhất chi?) Trả lời: “Ai không thích giết người có thể thống nhất thiên hạ” (Bất thị sát nhân giả, năng nhất chi). Ông vua lại hỏi, “Ai ban quyền (thống nhất) cho người đó?” (Thục năng dữ chi?) Trả lời: “Tất cả thiên hạ không ai không có cái quyền ban cho này.” (Thiên hạ mạc bất dữ dã).
Qua đoạn văn trên (Lương Huệ Vương, thượng, chương 6) chúng ta không những biết Mạnh Tử quan niệm chính quyền là do sự ủy nhiệm của mọi người dân (thiên hạ); mà còn thấy thầy Mạnh coi tất cả mọi người dân bình đẳng trong việc ủy quyền này (Thiên hạ mạc bất dữ dã). Suốt hai ngàn năm qua các vua chúa Trung Hoa và Việt Nam đã bỏ qua những ý kiến tiến bộ đó, cho tới bây giờ hầu như vẫn vậy.
Ý kiến táo bạo nhất của Mạnh Tử là ông xác định quyền của người dân được lật đổ chính quyền. Vào thời chiến quốc Trung Hoa chưa biết tục lệ bầu cử. Vậy làm cách nào thay đổi chính quyền? Mạnh Tử nói thẳng là người dân có quyền giết vua. Trong Lương Huệ Vương, hạ, chương 8, Vua Tề Tuyên Vương hỏi chuyện Thành Thang đánh vua Kiệt, Vũ đuổi vua Trụ; Mạnh Tử đáp, “Sử chép đúng thế.” Tuyên Vương lại hỏi, “Như vậy thì bầy tôi có thể thí vua sao?” (Thần thí kỳ quân khả hồ?) Mạnh Tử trả lời, “Kẻ làm hại điều nhân, gọi là Tặc; làm hại điều nghĩa, gọi là Tàn. Kẻ Tàn và Tặc, chỉ gọi là một thằng người mà thôi. Tôi nghe chuyện chém đầu một người tên Trụ chứ không nghe chuyện thí vua.” (Tặc nhân giả, vị chi Tặc, tặc nghĩa giả, vị chi Tàn; Tàn, Tặc chi nhân, vị chi nhất phu. Văn trù nhất phu Trụ hĩ, vị văn thí quân dã.)
Khi một ông vua không xứng đáng thì người dân có quyền lật đổ, hình ảnh giết vua chỉ là tượng trưng. Tuyên Vương vẫn coi Kiệt Trụ là vua, dùng chữ “thí quân,” động từ “thí” chỉ việc giết vua. Mạnh Tử thấy Kiệt, Trụ không xứng đáng nắm chính quyền, coi họ cũng chỉ là những người thường, cho nên không dùng động từ “thí” mà dùng chữ “trù,” nghĩa là chặt đầu. Mạnh Tử công nhận: Người dân có quyền lật đổ những chính quyền không xứng đáng khi chính quyền đó làm hại đạo nhân và nghĩa.
Những chính quyền sử dụng côn đồ và tin tặc đúng là những chế độ tàn tặc. Họ hủy hoại cả nhân nghĩa. Vì người dân, người lớn đến trẻ em, phải chứng kiến những hành động trộm, cướp, côn đồ xẩy ra trước mắt mà không thấy ai bị trừng phạt; ngược lại còn thấy cả guồng máy tuyên truyền hô hoán những lời gian dối để hỗ trợ các hành động côn đồ đó. Lâu ngày, người ta sẽ quên cách sống theo đạo lý bình thường, không còn biết thế nào là nhân nghĩa nữa. Ðó có phải là một tội đối với lịch sử hay không?
CHẾ ĐỘ VIỆT CỘNG TỰ DIỄN BIẾN
THÀNH CHẾ ĐỘ LƯU MANH CÔN ĐỒ
Lý Đại Nguyên Kẻ lãnh đạo tư tưởng Cộngđảng, cầm vận mệnh truyền thông báo chí trong nước, Tô Huy Rứa, ủy viên Bộ Chính Trị, trưởng ban Tuyên Giáo Trung Ương, ngày 03/08/2009 đã cho đăng một bài trên báo Nhân Dân điện tử, với nhận định: “Đảng Cộng Sản Việtnam đang đứng trước một bối cảnh quốc tế phức tạp”. “Xu hướng cạnh tranh giữa các nước lớn sẽ ngày càng gay gắt, quyết liệt hơn, đặc biệt trên điạ bàn chiến lược, trong đó có biển Đông”. Đồng thời Tô Huy Rứa vẫn xác định đường lối chính trị của cộng đảng ở Đại Hội XI sắp tới là: “Chống Tự Diển Biến”, “tiếp tục làm sáng tỏ nhận thức, quan niệm về Chủ Nghĩa Xã Hội và con đường đi lên Chủ Nghĩa Xã Hội…” Theo đó Tô Huy Rứa cảnh báo về nguy cơ chuyển biến nội bộ đảng, thậm chí còn cao hơn “Diễn Biến Hòa Bình”.
Hiện tượng ‘tự diễn biến nội bộ đảng’ có nghiã là trong tư tưởng và trong thực tế quyền hành và quyền lợi riêng tư của mỗi đảng viên, từ Bộ Chính Trị trở xuống tới các Chi Bộ Cơ Sở, đại đa số, đã không còn tin tưởng tuyệt đối vào thứ Chủ Nghĩa Xã Hội chết tiệt đó và không còn trung thành với chủ trương, đường lối, sách lược lệ thuộc quốc tế của Trung Ương Đảng nữa. Mỗi đảngviên đang tự thủ thân, lập thế, để lúc nào đó cùng ‘ù té chạy’. Điều không may cho Dân Tộc và Quốc Dân Việt Nam là, trong sự ‘tự diễn biến’ ấy, những đảng viên, nhất là những người lãnh đạo đảng Việtcộng lại không hướng theo ‘Diễn Biến Hòa Bình’, dựa trên nhu cầu, nguyện ước chân chính thiết thực của toàn dân và dân tộc là Dân Chủ Hóa chế độ. Đa Nguyên Hóa tư tưởng. Tự Do Hóa xã hội. Tư Nhân Hóa truyền thông. Tư Hữu Hóa Ruộng Đất. Tư Doanh Hóa kinh tế. Toàn Cầu Hóa thị trường…theo hướng vận hành thăng hóa của Nhận Thức Nhân Chủ Nhân Văn thời đại. Mà chỉ lo mất quyền lực, lợi lộc của cá nhân và bè đảng.
Trong khi đó, dù ngoài miệng phải hô to, rống lớn là phải: “Tiến Lên Chủ Nghĩa Xã Hội”. Nhưng tất cả đảng viên từ trên xuống dưới đều biết thật rõ là thứ chủ nghĩa không tưởng quái ác đó đã chết tiệt thật rồi, không còn sống lại được nữa. Cái chế độ có tên là Chủ Nghĩa Xã Hội ở Việtnam hiện nay, nó đã tự diễn biến thành “Chủ Nghĩa Tư Bản Gia Tộc Man Rợ” không giống bất cứ ai.
Đảng viên có quyền có thế đều đã được đảng cho phép trở thành “Tư Bản Tư Doanh”, để từ đó kéo Gia Đình Dòng Tộc vào, biến các Công Ty Quốc Doanh, kể cả vốn liếng của nhà nước thành Tư Hữu Tư Doanh, độc quyền làm kinh tế thị trường. Các công ty Tư Doanh Thường Dân, kể cả các công ty Liên Doanh với Nước Ngoài cũng dễ bị các công ty Tư Doanh Đảng Viên chèn ép cho đến mất nghiệp. Trường hợp mới nhất xẩy ra với công ty Liên Doanh Việt-Úc, hãng hàng không giá rẻ Jetstar Pacific. Chính vì đảng viên quyền thế tham nhũng và được làm giầu không cần vốn, nên họ bằng mọi cách, mọi giá phải bám lấy quyền lực quốc gia, kể cả việc cam tâm làm nô lệ cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc là Tầucộng. Trong khi dân chúng Việtnam đang bừng lên khí thế đòi Tự Do Dân Chủ và chống Giặc Tầu Xâm Lăng.
Việtcộng hoàn toàn mất chính nghĩa trước dư luận quốc dân và quốc tế. Chúng không thể bám vào bất cứ thứ danh nghĩa cao đẹp nào để lừa mị toàn dân và che mắt thế giới nhằm duy trì chính quyền cộng sản độc đảng, độc tài, độc ác, tham nhũng được nữa. Nên từ tâm điạ độc ác, tham tàn và quán tính bất nhân, bất nghĩa, bất trung, bất tín, vô liêm sỉ của mỗi đảng viên đương quyền, đương thế, chúng đã tự diễn biến, biến luôn chế độ ‘xã hội chủ nghĩa’ thành chế độ ‘lưu manh côn đồ’ theo với bản tính, bản chất ngu xuẩn, xấu, sai, ác của chúng.
Tại biến cố Thái Hà, Bát Nhã, Tam Tòa, Đồng Chiêm… và còn nhiều cơ sở của các tôn giáo khác nữa. Việtcộng đã cho Công An, Dân Phòng đội lốt “Lưu Manh Côn Đồ” để đánh đập tàn nhẫn những Giáo Dân, Giáo Sĩ, Tăng, Ni, nhằm chiếm đất, chiếm chùa, trước sự điều động trực tiếp của các viên chức địa phương. Để rồi Hànội đỗ thừa cho dân chúng tự phát, và trách nhiệm thuộc về địa phương, khi bị báo chí quốc tế chất vấn. Nhưng toàn dân và cả dư luận quốc tế đều biết thật chính xác, là trong chế độ cộng sản toàn trị, trung ương tập quyền, tất cả mọi hoạt động của địa phương, nhất là có tính chính trị, nhậy cảm thuộc về tôn giáo, thì phải do Trung Ương chỉ đạo. Có như vậy báo chí, truyền thanh, truyền hình trong nước mới nhất loạt vu cáo cho hàng Giáo sĩ, Tăng sĩ có lỗi kích động dân chúng ‘chống lại nhà nước nhân dân’. Khiến cho Thiền Sư Nhất Hạnh, một tăng sĩ nổi tiếng trên thế giới, sẵn sàng hợp tác với Việtcộng, Ông đã nhiều lần đưa Tăng Đoàn Làng Mai tại Pháp về Việtnam giảng pháp và tiếp xúc với giới cầm quyền Hànội, để dư luận thế giới cho là Việtnam đã cởi mở về tự do tôn giáo. Nhờ đó chính phủ Hoakỳ đã lấy tên Việt Nam ra khỏi danh sách CPC, “các nước cần đặc biệt quan tâm về tự do tôn giáo”.
Rồi qua vụ chế độ Lưu Manh Côn Đồ Việtcộng đánh đuổi 400 Tăng, Ni trẻ tu học theo phưong pháp Làng Mai tại chùa Bát Nhã Lâm Đồng, và không cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam của nhà nước, được chứa chấp làm cho thiền sư Nhất Hạnh phải lên tiếng: “Bát Nhã Là Một Công Án Thiền”. Theo ông: “Nếu nghĩ rằng Bát Nhã là vấn đề của 400 tu sinh đang gặp khó khăn, đang cần một giải pháp hợp tình hợp lý thì đó không phải là một công án. Chỉ khi nào thấy rằng Bát Nhã là vấn đề chính của bản thân ta, nó liên hệ trực tiếp đến hạnh phúc, đau khổ của ta, của tương lai ta, và tương lai đất nước dân tộc ta, và chừng nào chưa giải quyết được công án Bát Nhã thì ta còn ngủ không yên, ăn không yên, làm việc không yên thì lúc ấy Bát Nhã mới thực sự là công án”. Là người tu thiền, cho Bát Nhã Là Một Công Án Thiền, đối với thiền sư Nhất Hạnh đó là một chướng ngại, khổ đau, phải thường xuyên quán chiếu để tự ngộ, tự thắng đó là lẽ đương nhiên. Nhưng dù vậy, vẫn không làm sao cho dư luận nguôi ngoai được sự chịu đựng khốn khổ của 400 người trẻ đang bị chế độ Lưu Manh Côn Đồ nghiền nát. Chỉ vì đất nước chưa có Tự Do Tôn Giáo, chưa có Sự Thật, Công Lý. Dân Chủ, Công Bằng.
Về phía Thiên Chúa Giáo, hồng y Phạm Minh Mẫn, Tổng Giáo Phận Saigòn, người đã có lần cho là: “nên bỏ cờ vàng, giữ cờ đỏ” làm cho giáo dân và người tỵ nạn cộng sản phản đối mạnh mẽ. Ngày 25/01/10, cũng đã phải lên tiếng về nguyên nhân tranh chấp giữa Giáo Hội và Nhà Nước Việtcộng như sau: “Tôi thấy có một nguyên nhân chính, đó là đi ngược chiều với truyền thống văn hóa cùng những giá trị đạo đức của dân tộc. Nền văn hóa cùng những giá trị đó từ ngàn xưa được xây dựng trên tình nghĩa đồng bào tôn trọng lẫn nhau, tương thân tương trợ lẫn nhau, chứ không phải trên hệ thống quyền lực cùng bạo lực loại trừ đồng bào, đồng loại.
Lịch sử cho thấy công cuộc phát triển xã hội tự do và dân chủ, bình đẳng và công bằng, văn minh và khoa học, mà thiếu tình nghĩa đồng bào, thiếu tình nghĩa huynh đệ đại đồng, luôn để lại nhiều vấn đề nan giải, cản trở sự phát triển toàn diện của con người và đất nước”. Đến đây cho thấy, dù cho các nhà lãnh đạo tinh thần vốn có thái độ ôn hòa, sẵn sàng đối thoại, hợp tác với Việtcộng, như Hồng Y Phạm Minh Mẫn, Thiền Sư Thích Nhất Hạnh cũng không còn chịu đựng được cái chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa tự quái hóa thành chế độ Lưu Manh Côn Đồ, coi ‘Dân là Kẻ Thù’, coi ‘Tầu là Thầy Tổ’. Không biết bọn họ sống được với ai nữa đây??? Little Saigon ngày
26/01/2010.
THÀNH CHẾ ĐỘ LƯU MANH CÔN ĐỒ
Lý Đại Nguyên Kẻ lãnh đạo tư tưởng Cộngđảng, cầm vận mệnh truyền thông báo chí trong nước, Tô Huy Rứa, ủy viên Bộ Chính Trị, trưởng ban Tuyên Giáo Trung Ương, ngày 03/08/2009 đã cho đăng một bài trên báo Nhân Dân điện tử, với nhận định: “Đảng Cộng Sản Việtnam đang đứng trước một bối cảnh quốc tế phức tạp”. “Xu hướng cạnh tranh giữa các nước lớn sẽ ngày càng gay gắt, quyết liệt hơn, đặc biệt trên điạ bàn chiến lược, trong đó có biển Đông”. Đồng thời Tô Huy Rứa vẫn xác định đường lối chính trị của cộng đảng ở Đại Hội XI sắp tới là: “Chống Tự Diển Biến”, “tiếp tục làm sáng tỏ nhận thức, quan niệm về Chủ Nghĩa Xã Hội và con đường đi lên Chủ Nghĩa Xã Hội…” Theo đó Tô Huy Rứa cảnh báo về nguy cơ chuyển biến nội bộ đảng, thậm chí còn cao hơn “Diễn Biến Hòa Bình”.
Hiện tượng ‘tự diễn biến nội bộ đảng’ có nghiã là trong tư tưởng và trong thực tế quyền hành và quyền lợi riêng tư của mỗi đảng viên, từ Bộ Chính Trị trở xuống tới các Chi Bộ Cơ Sở, đại đa số, đã không còn tin tưởng tuyệt đối vào thứ Chủ Nghĩa Xã Hội chết tiệt đó và không còn trung thành với chủ trương, đường lối, sách lược lệ thuộc quốc tế của Trung Ương Đảng nữa. Mỗi đảngviên đang tự thủ thân, lập thế, để lúc nào đó cùng ‘ù té chạy’. Điều không may cho Dân Tộc và Quốc Dân Việt Nam là, trong sự ‘tự diễn biến’ ấy, những đảng viên, nhất là những người lãnh đạo đảng Việtcộng lại không hướng theo ‘Diễn Biến Hòa Bình’, dựa trên nhu cầu, nguyện ước chân chính thiết thực của toàn dân và dân tộc là Dân Chủ Hóa chế độ. Đa Nguyên Hóa tư tưởng. Tự Do Hóa xã hội. Tư Nhân Hóa truyền thông. Tư Hữu Hóa Ruộng Đất. Tư Doanh Hóa kinh tế. Toàn Cầu Hóa thị trường…theo hướng vận hành thăng hóa của Nhận Thức Nhân Chủ Nhân Văn thời đại. Mà chỉ lo mất quyền lực, lợi lộc của cá nhân và bè đảng.
Trong khi đó, dù ngoài miệng phải hô to, rống lớn là phải: “Tiến Lên Chủ Nghĩa Xã Hội”. Nhưng tất cả đảng viên từ trên xuống dưới đều biết thật rõ là thứ chủ nghĩa không tưởng quái ác đó đã chết tiệt thật rồi, không còn sống lại được nữa. Cái chế độ có tên là Chủ Nghĩa Xã Hội ở Việtnam hiện nay, nó đã tự diễn biến thành “Chủ Nghĩa Tư Bản Gia Tộc Man Rợ” không giống bất cứ ai.
Đảng viên có quyền có thế đều đã được đảng cho phép trở thành “Tư Bản Tư Doanh”, để từ đó kéo Gia Đình Dòng Tộc vào, biến các Công Ty Quốc Doanh, kể cả vốn liếng của nhà nước thành Tư Hữu Tư Doanh, độc quyền làm kinh tế thị trường. Các công ty Tư Doanh Thường Dân, kể cả các công ty Liên Doanh với Nước Ngoài cũng dễ bị các công ty Tư Doanh Đảng Viên chèn ép cho đến mất nghiệp. Trường hợp mới nhất xẩy ra với công ty Liên Doanh Việt-Úc, hãng hàng không giá rẻ Jetstar Pacific. Chính vì đảng viên quyền thế tham nhũng và được làm giầu không cần vốn, nên họ bằng mọi cách, mọi giá phải bám lấy quyền lực quốc gia, kể cả việc cam tâm làm nô lệ cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc là Tầucộng. Trong khi dân chúng Việtnam đang bừng lên khí thế đòi Tự Do Dân Chủ và chống Giặc Tầu Xâm Lăng.
Việtcộng hoàn toàn mất chính nghĩa trước dư luận quốc dân và quốc tế. Chúng không thể bám vào bất cứ thứ danh nghĩa cao đẹp nào để lừa mị toàn dân và che mắt thế giới nhằm duy trì chính quyền cộng sản độc đảng, độc tài, độc ác, tham nhũng được nữa. Nên từ tâm điạ độc ác, tham tàn và quán tính bất nhân, bất nghĩa, bất trung, bất tín, vô liêm sỉ của mỗi đảng viên đương quyền, đương thế, chúng đã tự diễn biến, biến luôn chế độ ‘xã hội chủ nghĩa’ thành chế độ ‘lưu manh côn đồ’ theo với bản tính, bản chất ngu xuẩn, xấu, sai, ác của chúng.
Tại biến cố Thái Hà, Bát Nhã, Tam Tòa, Đồng Chiêm… và còn nhiều cơ sở của các tôn giáo khác nữa. Việtcộng đã cho Công An, Dân Phòng đội lốt “Lưu Manh Côn Đồ” để đánh đập tàn nhẫn những Giáo Dân, Giáo Sĩ, Tăng, Ni, nhằm chiếm đất, chiếm chùa, trước sự điều động trực tiếp của các viên chức địa phương. Để rồi Hànội đỗ thừa cho dân chúng tự phát, và trách nhiệm thuộc về địa phương, khi bị báo chí quốc tế chất vấn. Nhưng toàn dân và cả dư luận quốc tế đều biết thật chính xác, là trong chế độ cộng sản toàn trị, trung ương tập quyền, tất cả mọi hoạt động của địa phương, nhất là có tính chính trị, nhậy cảm thuộc về tôn giáo, thì phải do Trung Ương chỉ đạo. Có như vậy báo chí, truyền thanh, truyền hình trong nước mới nhất loạt vu cáo cho hàng Giáo sĩ, Tăng sĩ có lỗi kích động dân chúng ‘chống lại nhà nước nhân dân’. Khiến cho Thiền Sư Nhất Hạnh, một tăng sĩ nổi tiếng trên thế giới, sẵn sàng hợp tác với Việtcộng, Ông đã nhiều lần đưa Tăng Đoàn Làng Mai tại Pháp về Việtnam giảng pháp và tiếp xúc với giới cầm quyền Hànội, để dư luận thế giới cho là Việtnam đã cởi mở về tự do tôn giáo. Nhờ đó chính phủ Hoakỳ đã lấy tên Việt Nam ra khỏi danh sách CPC, “các nước cần đặc biệt quan tâm về tự do tôn giáo”.
Rồi qua vụ chế độ Lưu Manh Côn Đồ Việtcộng đánh đuổi 400 Tăng, Ni trẻ tu học theo phưong pháp Làng Mai tại chùa Bát Nhã Lâm Đồng, và không cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam của nhà nước, được chứa chấp làm cho thiền sư Nhất Hạnh phải lên tiếng: “Bát Nhã Là Một Công Án Thiền”. Theo ông: “Nếu nghĩ rằng Bát Nhã là vấn đề của 400 tu sinh đang gặp khó khăn, đang cần một giải pháp hợp tình hợp lý thì đó không phải là một công án. Chỉ khi nào thấy rằng Bát Nhã là vấn đề chính của bản thân ta, nó liên hệ trực tiếp đến hạnh phúc, đau khổ của ta, của tương lai ta, và tương lai đất nước dân tộc ta, và chừng nào chưa giải quyết được công án Bát Nhã thì ta còn ngủ không yên, ăn không yên, làm việc không yên thì lúc ấy Bát Nhã mới thực sự là công án”. Là người tu thiền, cho Bát Nhã Là Một Công Án Thiền, đối với thiền sư Nhất Hạnh đó là một chướng ngại, khổ đau, phải thường xuyên quán chiếu để tự ngộ, tự thắng đó là lẽ đương nhiên. Nhưng dù vậy, vẫn không làm sao cho dư luận nguôi ngoai được sự chịu đựng khốn khổ của 400 người trẻ đang bị chế độ Lưu Manh Côn Đồ nghiền nát. Chỉ vì đất nước chưa có Tự Do Tôn Giáo, chưa có Sự Thật, Công Lý. Dân Chủ, Công Bằng.
Về phía Thiên Chúa Giáo, hồng y Phạm Minh Mẫn, Tổng Giáo Phận Saigòn, người đã có lần cho là: “nên bỏ cờ vàng, giữ cờ đỏ” làm cho giáo dân và người tỵ nạn cộng sản phản đối mạnh mẽ. Ngày 25/01/10, cũng đã phải lên tiếng về nguyên nhân tranh chấp giữa Giáo Hội và Nhà Nước Việtcộng như sau: “Tôi thấy có một nguyên nhân chính, đó là đi ngược chiều với truyền thống văn hóa cùng những giá trị đạo đức của dân tộc. Nền văn hóa cùng những giá trị đó từ ngàn xưa được xây dựng trên tình nghĩa đồng bào tôn trọng lẫn nhau, tương thân tương trợ lẫn nhau, chứ không phải trên hệ thống quyền lực cùng bạo lực loại trừ đồng bào, đồng loại.
Lịch sử cho thấy công cuộc phát triển xã hội tự do và dân chủ, bình đẳng và công bằng, văn minh và khoa học, mà thiếu tình nghĩa đồng bào, thiếu tình nghĩa huynh đệ đại đồng, luôn để lại nhiều vấn đề nan giải, cản trở sự phát triển toàn diện của con người và đất nước”. Đến đây cho thấy, dù cho các nhà lãnh đạo tinh thần vốn có thái độ ôn hòa, sẵn sàng đối thoại, hợp tác với Việtcộng, như Hồng Y Phạm Minh Mẫn, Thiền Sư Thích Nhất Hạnh cũng không còn chịu đựng được cái chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa tự quái hóa thành chế độ Lưu Manh Côn Đồ, coi ‘Dân là Kẻ Thù’, coi ‘Tầu là Thầy Tổ’. Không biết bọn họ sống được với ai nữa đây??? Little Saigon ngày
26/01/2010.
Vô cảm
Thursday, January 28, 2010
Ngô Nhân Dụng Trên con đường vào công viên, tôi thấy một phụ nữ đang lúi húi lượm những trái thông khô trên mặt đất, bỏ vô cái túi ni lông xách trên tay. Người đàn bà da trắng đã lớn tuổi ngẩng lên cười, giải thích: “Ðem về đốt lò sưởi.” Chiều hôm đó chúng tôi cũng bắt chước. Trong khi đi tìm những trái thông khô để nhặt lên bỏ vô túi, tôi chợt nhớ đến một tiếng Việt lâu lắm không dùng: Ðộng từ Mót. Tôi đi “mót quả thông.” Các bạn trẻ không quen nghe, có thể không hiểu động từ này.
Trước đây 50, 60 năm, ở làng quê tôi sống, người ta đi “mót lúa, mót ngô, mót đỗ.” Một bữa đi qua thửa ruộng thấy mấy người đang đi mót những hạt thóc còn bỏ sót, tôi cũng tính bước xuống tìm nhặt, mẹ tôi níu lại, không cho. Thời gian đó, gia đình tôi cũng ăn cơm độn ngô, độn khoai hay sắn (khoai mì). Mẹ bảo: Nhà mình còn có cái ăn, mình không mót tranh của họ.
Tức là trong làng đã có một “giao ước” với nhau, không thành văn, nhưng ai cũng đồng ý. Người còn miếng ăn thì không đi mót lúa, mót ngô. Ðể cho những người nghèo nhất làng còn cơ hội kiếm được mấy hạt cơm hạt bắp. Nếu cũng đi mót lúa thì mình ăn tranh của họ hay sao? Trong nền văn minh nào cũng vậy, ngoài những luật lệ thành văn có những tập tục giúp chúng ta ăn ở cho phải đạo làm người. Khi lúa chín, các hạt thóc thuộc quyền sở hữu của chủ ruộng. Nhưng sau khi gặt hái xong rồi, còn lại những hạt thóc rơi vãi bỏ đó cũng “phí của giời,” được coi là của chung, ai muốn vào mót cũng được. Nhưng mọi người lại đồng ý nên để dành những hạt thóc rơi đó cho những người nghèo nhất làng, không được “tranh ăn” với họ. Ai vi phạm quy tắc này chắc sẽ bị người làng khinh rẻ. Người ta không sợ luật pháp bằng sợ bị người khác khinh rẻ, đó cũng là một nền tảng của đạo lý.
Nói đến những chuyện trên, lại nhớ đến chữ “mót” mới được dùng trong câu chuyện được báo chí trong nước đăng tuần trước. Ba phụ nữ vào đồn điền Trường Ngọc ở Ban Mê Thuột “mót cà phê,” những trái cà phê rơi vãi sau khi công nhân đồn điền đã làm xong việc. Ðồn điền có chó canh, bà Phạm Thị Ngắn chạy chậm chân bị một con chó Béc giê quật ngã.
Người trông đàn chó đi xe máy tới, bà Ngọc van xin, ông ta nói: “Ai bảo vào? Cho chết.” Rồi thả đàn chó 5 con ra tấn công. Bà Ngắn bị đàn chó cắn chết. Ông cai chó đồn điền huýt sáo thu binh. Hai cô gái khác chạy kịp leo lên cây, chứng kiến cảnh đàn chó ăn thịt bà Ngắn, kéo lê thi hài bà hàng chục thước. Ai cũng phải cảm thấy xấu hổ vì không ngờ người Việt Nam lại đối xử phi nhân với nhau như thế.
Ðọc bản tin trên thì phải thấy là những người dân nghèo nhất ở làng tôi, sống trước đây 50, 60 năm, là những người may mắn. Họ sống trong một xã hội mọi người đối xử với nhau có tình cảm, có bao dung, biết thương hại. Sống trong một làng với nhau, biết thương xót nhau một cách kín đáo, nên để cho người nghèo đi mót những hạt thóc, hạt ngô rơi vãi sau mùa gặt. Ngày nay, người mình sống trong một khung cảnh khác hẳn, cho nên câu chuyện phi nhân trên mới xảy ra.
Trong cuốn phiếm luận “Nhân Nào Quả Ðó,” nhà văn Vương Trí Nhàn có lúc tóm tắt vài quy tắc sống, mà ông gọi là những Luật Miệng, bất thành văn trong xã hội chung quanh ông: “Chỉ biết đến đồng tiền mang về, còn như uy tín, danh dự, việc ấy không quan trọng. Chỉ biết nhà mình, còn việc chung của cả xã hội hơi đâu mà lo cho mệt!” (xuất bản năm 2004 ở Hà Nội, trang 33).
Có phải vì người ta quen sống với những quy tắc này mà trong xã hội có những chuyện như ông cai đồn điền thả chó săn ra cắn chết người, chuyện cha mẹ đánh chết con, hay chuyện bố mẹ chồng trói con dâu bỏ ra đường mà đánh đập không cho hàng xóm can hay không?
Nhưng những “luật miệng” mà Vương Trí Nhàn nêu ra thì ở nước nào cũng thấy có, không riêng gì ở nước ta. Tham tiền là một động cơ thúc đẩy cho kinh tế phát triển. Chỉ những người đi tu họa chăng mới từ bỏ được dục vọng đó. Quyền tư hữu cũng là một nền tảng của sự phát triển văn minh, bỏ cái quyền tư hữu đi, những người chủ trương công hữu tha hồ vơ vét vào túi riêng, đạo đức xã hội càng xuống thấp. Người dân những nước văn minh nhất cũng thường cũng lo cho mình, cho gia đình mình, trước khi lo cho người chung quanh. Những người như bà Mẹ Tê Rê Sa rất hiếm cho nên chúng ta mới tán thán và kính trọng.
Nhưng tại sao ở nhiều xã hội khác, họ vẫn theo những “luật miệng” đó mà phong tục không suy đồi như những cảnh phi nhân mà báo chí ở nước ta tường thuật?
Có lẽ bởi vì ai cũng biết lòng tham và óc ích kỷ vốn có sẵn trong loài người cho nên ở các xã hội văn minh người ta lo tìm cách hạn chế các tật đó. Ðể sống đúng tư cách con người hơn. Khi lòng tham và óc ích kỷ được phóng tay thả lỏng không biết đâu là giới hạn thì nó sẽ làm cho cả phong hóa xuống thấp, con người không còn nghĩ đến danh dự, uy tín nữa.
Có cái gì để hạn chế lòng tham và lòng ích kỷ? Một phần là luật lệ, phần nữa là người ta trông mà bắt chước lẫn nhau, nhất là trông lên những người nắm quyền bính.
Ở các xã hội văn minh người ta tôn trọng quyền tư hữu, nhưng không cho phép ai nhân danh quyền đó mà giết người một cách phi nhân như cảnh xua đàn chó ra cho chúng ăn thịt người, rồi thản nhiên nói: Cho chết. Luật lệ các thành phố thường bắt buộc những chủ nhà nuôi chó dữ phải yết bảng báo cho công chúng biết, để người ta tránh. Phải đặt nhiều tấm bảng như vậy, sao cho ai vô tình cũng phải trông thấy. Ở các xã hội tiến bộ có rất nhiều luật hạn chế việc sử dụng quyền tư hữu để bảo vệ sự an toàn của người khác, nói chung là của công chúng. Anh lái một chiếc xe chở dầu, khí đốt, thì phải viết hàng chữ lớn báo động: “Chất dễ cháy, dễ nổ,” cho người khác đề phòng. Khi mua một món hàng gói bằng bao ni lông, ai cũng thấy trên bao viết rõ những hàng chữ đủ lớn cảnh cáo công chúng phải coi chừng đừng để trẻ em chơi với cái bao ni lông, có thể bị chết ngạt. Người bỏ rác có chất độc hại, chất nổ ở nơi công cộng thì bị phạt, vì những người đi lượm rác vô tình có thể bị tai nạn. Một lối đi trong cửa hàng mới lau rửa bằng nước phải để tấm bảng “Ðường trơn trượt. Coi chừng té” để mọi người biết mà đề phòng.
Những luật lệ như vậy đặt ra thường để hạn chế quyền của những người có tiền và có quyền trong xã hội. Cho nên khi những người có quyền và có nhiều tiền mà không bị bắt buộc thì họ không tự ý đặt ra những thứ luật lệ như vậy. Chỉ khi nào công chúng, tất cả mọi người dân đòi hỏi, những đại diện của họ, từ các nghị viên thành phố cho đến các đại biểu quốc hội, mới làm ra luật để bảo vệ công chúng. Chỉ cần một tai nạn xảy ra là cả nước xôn xao, người ta phải tìm hiểu tại sao và làm cách nào tránh những tai nạn tương tự. Khi đó, các đại biểu của dân làm ra các luật lệ mới. Tất nhiên điều đó chỉ diễn ra khi các đại biểu là do dân chúng tự do lựa chọn, chứ không phải do một đảng cầm quyền chọn trước trong phe cánh của mình. Chỉ khi nào các đại biểu biết mình chịu trách nhiệm trực tiếp với cử tri, chứ không phải chỉ cần làm theo “lệnh trên” của đảng là đủ, thì chúng ta mới có những luật lệ bảo vệ người dân trước những kẻ nhiều tiền và nắm quyền bính.
Cho nên, khi được một đài phát thanh quốc tế phỏng vấn về vụ thả chó cắn chết người, Sử gia Hà Văn Thịnh ở Việt Nam không phê phán ông chủ đồn điền cà phê mà lại nói, “Cái buồn lớn nhất của tôi là có nhiều người bất tài đang nắm cương vị lãnh đạo.”
Những người nắm cương vị lãnh đạo không cảm thấy trách nhiệm họ là phải bảo vệ sự an toàn của công chúng, trong đó có những người nghèo khổ phải đi mót cà phê, những em bé đi lượm rác. Cho nên mới không có luật lệ hạn chế quyền của các vị chủ nhân, hoặc có những luật lệ từ thời Pháp thuộc nhưng bây giờ không ai thi hành. Người ta không thi hành, biết vì nếu có tai nạn thì họ cũng được tha, nhờ quyền thế hoặc nhờ tiền đút lót.
Ông Hà Văn Thịnh đã nêu ra những thí dụ cho thấy những kẻ có quyền thế ở Việt Nam thuộc một giai cấp được ưu đãi. Họ sống bên trên luật pháp. Ông kể trường hợp 3 nông dân ở Lâm Ðồng ăn trộm hai con vịt để nhậu, ra tòa bị tổng cộng 13 năm tù; còn một ông giám đốc ở Hà Nội lái xe không có bằng, đâm chết hai người, chỉ bị 36 tháng tù treo! Mạng hai con người không lớn bằng 2 con vịt!
Ông Hà Văn Thịnh nhận xét, “Hàng ngàn năm người dân bị sức ép, phải luồn cúi, phải chịu đựng, phải khom lưng lại. Và phải chấp nhận tất cả mọi điều đó. Nó làm cho mệt mỏi chai lỳ. à Vô cảm hầu như trở thành một căn bệnh, căn bệnh kinh niên của xã hội bây giờ. Họ thấy đấy nhưng mà họ (mặc) kệ, mỗi người lo thân mình.” Câu cuối cùng cũng là nhận xét của nhà văn Vương Trí Nhàn, đã nêu trên đây.
Nhưng khi báo chí trong nước cũng như ở nước ngoài đều loan tin và bàn luận về cái chết thảm thương của bà Phạm Thị Nhắn, thì chúng ta có thể thấy là xã hội Việt Nam cũng không hoàn toàn vô cảm như ông Hà Văn Thịnh lo lắng. Cái chết của bà sẽ không vô ích, nếu như nó thúc đẩy sự thay đổi trong xã hội Việt Nam. Người Việt Nam vẫn còn rất nhậy cảm trước những hành động tàn nhẫn, bất công. Không ai chấp nhận cách đối xử tàn ác, phi nhân đối với những phụ nữ nghèo phải đi mót.
Như nhà văn Vương Trí Nhàn dẫn lời Tchekov trong cuốn sách của ông: “Người Trí thức là lương tâm của một dân tộc.” Các nhà văn, các sử gia, các người viết báo, đều là những nhà trí thức. Lương tâm của dân tộc không chấp nhận người Việt Nam sống với nhau một cách phi nhân như những kẻ thả chó cắn chết người. Muốn chấm dứt cảnh phi nhân đó, phải đặt ra luật lệ hạn chế quyền của những kẻ có tiền và có quyền thế. Phải trả lại cho mọi người dân quyền chọn những kẻ cầm quyền, từ trung ương tới địa phương. Những người chiếm độc quyền lãnh đạo mà không chịu sự kiểm soát của người dân bỏ phiếu thì họ sẽ tiếp tục để mặc cho xã hội sống phi nhân như vậy.
Thursday, January 28, 2010
Ngô Nhân Dụng Trên con đường vào công viên, tôi thấy một phụ nữ đang lúi húi lượm những trái thông khô trên mặt đất, bỏ vô cái túi ni lông xách trên tay. Người đàn bà da trắng đã lớn tuổi ngẩng lên cười, giải thích: “Ðem về đốt lò sưởi.” Chiều hôm đó chúng tôi cũng bắt chước. Trong khi đi tìm những trái thông khô để nhặt lên bỏ vô túi, tôi chợt nhớ đến một tiếng Việt lâu lắm không dùng: Ðộng từ Mót. Tôi đi “mót quả thông.” Các bạn trẻ không quen nghe, có thể không hiểu động từ này.
Trước đây 50, 60 năm, ở làng quê tôi sống, người ta đi “mót lúa, mót ngô, mót đỗ.” Một bữa đi qua thửa ruộng thấy mấy người đang đi mót những hạt thóc còn bỏ sót, tôi cũng tính bước xuống tìm nhặt, mẹ tôi níu lại, không cho. Thời gian đó, gia đình tôi cũng ăn cơm độn ngô, độn khoai hay sắn (khoai mì). Mẹ bảo: Nhà mình còn có cái ăn, mình không mót tranh của họ.
Tức là trong làng đã có một “giao ước” với nhau, không thành văn, nhưng ai cũng đồng ý. Người còn miếng ăn thì không đi mót lúa, mót ngô. Ðể cho những người nghèo nhất làng còn cơ hội kiếm được mấy hạt cơm hạt bắp. Nếu cũng đi mót lúa thì mình ăn tranh của họ hay sao? Trong nền văn minh nào cũng vậy, ngoài những luật lệ thành văn có những tập tục giúp chúng ta ăn ở cho phải đạo làm người. Khi lúa chín, các hạt thóc thuộc quyền sở hữu của chủ ruộng. Nhưng sau khi gặt hái xong rồi, còn lại những hạt thóc rơi vãi bỏ đó cũng “phí của giời,” được coi là của chung, ai muốn vào mót cũng được. Nhưng mọi người lại đồng ý nên để dành những hạt thóc rơi đó cho những người nghèo nhất làng, không được “tranh ăn” với họ. Ai vi phạm quy tắc này chắc sẽ bị người làng khinh rẻ. Người ta không sợ luật pháp bằng sợ bị người khác khinh rẻ, đó cũng là một nền tảng của đạo lý.
Nói đến những chuyện trên, lại nhớ đến chữ “mót” mới được dùng trong câu chuyện được báo chí trong nước đăng tuần trước. Ba phụ nữ vào đồn điền Trường Ngọc ở Ban Mê Thuột “mót cà phê,” những trái cà phê rơi vãi sau khi công nhân đồn điền đã làm xong việc. Ðồn điền có chó canh, bà Phạm Thị Ngắn chạy chậm chân bị một con chó Béc giê quật ngã.
Người trông đàn chó đi xe máy tới, bà Ngọc van xin, ông ta nói: “Ai bảo vào? Cho chết.” Rồi thả đàn chó 5 con ra tấn công. Bà Ngắn bị đàn chó cắn chết. Ông cai chó đồn điền huýt sáo thu binh. Hai cô gái khác chạy kịp leo lên cây, chứng kiến cảnh đàn chó ăn thịt bà Ngắn, kéo lê thi hài bà hàng chục thước. Ai cũng phải cảm thấy xấu hổ vì không ngờ người Việt Nam lại đối xử phi nhân với nhau như thế.
Ðọc bản tin trên thì phải thấy là những người dân nghèo nhất ở làng tôi, sống trước đây 50, 60 năm, là những người may mắn. Họ sống trong một xã hội mọi người đối xử với nhau có tình cảm, có bao dung, biết thương hại. Sống trong một làng với nhau, biết thương xót nhau một cách kín đáo, nên để cho người nghèo đi mót những hạt thóc, hạt ngô rơi vãi sau mùa gặt. Ngày nay, người mình sống trong một khung cảnh khác hẳn, cho nên câu chuyện phi nhân trên mới xảy ra.
Trong cuốn phiếm luận “Nhân Nào Quả Ðó,” nhà văn Vương Trí Nhàn có lúc tóm tắt vài quy tắc sống, mà ông gọi là những Luật Miệng, bất thành văn trong xã hội chung quanh ông: “Chỉ biết đến đồng tiền mang về, còn như uy tín, danh dự, việc ấy không quan trọng. Chỉ biết nhà mình, còn việc chung của cả xã hội hơi đâu mà lo cho mệt!” (xuất bản năm 2004 ở Hà Nội, trang 33).
Có phải vì người ta quen sống với những quy tắc này mà trong xã hội có những chuyện như ông cai đồn điền thả chó săn ra cắn chết người, chuyện cha mẹ đánh chết con, hay chuyện bố mẹ chồng trói con dâu bỏ ra đường mà đánh đập không cho hàng xóm can hay không?
Nhưng những “luật miệng” mà Vương Trí Nhàn nêu ra thì ở nước nào cũng thấy có, không riêng gì ở nước ta. Tham tiền là một động cơ thúc đẩy cho kinh tế phát triển. Chỉ những người đi tu họa chăng mới từ bỏ được dục vọng đó. Quyền tư hữu cũng là một nền tảng của sự phát triển văn minh, bỏ cái quyền tư hữu đi, những người chủ trương công hữu tha hồ vơ vét vào túi riêng, đạo đức xã hội càng xuống thấp. Người dân những nước văn minh nhất cũng thường cũng lo cho mình, cho gia đình mình, trước khi lo cho người chung quanh. Những người như bà Mẹ Tê Rê Sa rất hiếm cho nên chúng ta mới tán thán và kính trọng.
Nhưng tại sao ở nhiều xã hội khác, họ vẫn theo những “luật miệng” đó mà phong tục không suy đồi như những cảnh phi nhân mà báo chí ở nước ta tường thuật?
Có lẽ bởi vì ai cũng biết lòng tham và óc ích kỷ vốn có sẵn trong loài người cho nên ở các xã hội văn minh người ta lo tìm cách hạn chế các tật đó. Ðể sống đúng tư cách con người hơn. Khi lòng tham và óc ích kỷ được phóng tay thả lỏng không biết đâu là giới hạn thì nó sẽ làm cho cả phong hóa xuống thấp, con người không còn nghĩ đến danh dự, uy tín nữa.
Có cái gì để hạn chế lòng tham và lòng ích kỷ? Một phần là luật lệ, phần nữa là người ta trông mà bắt chước lẫn nhau, nhất là trông lên những người nắm quyền bính.
Ở các xã hội văn minh người ta tôn trọng quyền tư hữu, nhưng không cho phép ai nhân danh quyền đó mà giết người một cách phi nhân như cảnh xua đàn chó ra cho chúng ăn thịt người, rồi thản nhiên nói: Cho chết. Luật lệ các thành phố thường bắt buộc những chủ nhà nuôi chó dữ phải yết bảng báo cho công chúng biết, để người ta tránh. Phải đặt nhiều tấm bảng như vậy, sao cho ai vô tình cũng phải trông thấy. Ở các xã hội tiến bộ có rất nhiều luật hạn chế việc sử dụng quyền tư hữu để bảo vệ sự an toàn của người khác, nói chung là của công chúng. Anh lái một chiếc xe chở dầu, khí đốt, thì phải viết hàng chữ lớn báo động: “Chất dễ cháy, dễ nổ,” cho người khác đề phòng. Khi mua một món hàng gói bằng bao ni lông, ai cũng thấy trên bao viết rõ những hàng chữ đủ lớn cảnh cáo công chúng phải coi chừng đừng để trẻ em chơi với cái bao ni lông, có thể bị chết ngạt. Người bỏ rác có chất độc hại, chất nổ ở nơi công cộng thì bị phạt, vì những người đi lượm rác vô tình có thể bị tai nạn. Một lối đi trong cửa hàng mới lau rửa bằng nước phải để tấm bảng “Ðường trơn trượt. Coi chừng té” để mọi người biết mà đề phòng.
Những luật lệ như vậy đặt ra thường để hạn chế quyền của những người có tiền và có quyền trong xã hội. Cho nên khi những người có quyền và có nhiều tiền mà không bị bắt buộc thì họ không tự ý đặt ra những thứ luật lệ như vậy. Chỉ khi nào công chúng, tất cả mọi người dân đòi hỏi, những đại diện của họ, từ các nghị viên thành phố cho đến các đại biểu quốc hội, mới làm ra luật để bảo vệ công chúng. Chỉ cần một tai nạn xảy ra là cả nước xôn xao, người ta phải tìm hiểu tại sao và làm cách nào tránh những tai nạn tương tự. Khi đó, các đại biểu của dân làm ra các luật lệ mới. Tất nhiên điều đó chỉ diễn ra khi các đại biểu là do dân chúng tự do lựa chọn, chứ không phải do một đảng cầm quyền chọn trước trong phe cánh của mình. Chỉ khi nào các đại biểu biết mình chịu trách nhiệm trực tiếp với cử tri, chứ không phải chỉ cần làm theo “lệnh trên” của đảng là đủ, thì chúng ta mới có những luật lệ bảo vệ người dân trước những kẻ nhiều tiền và nắm quyền bính.
Cho nên, khi được một đài phát thanh quốc tế phỏng vấn về vụ thả chó cắn chết người, Sử gia Hà Văn Thịnh ở Việt Nam không phê phán ông chủ đồn điền cà phê mà lại nói, “Cái buồn lớn nhất của tôi là có nhiều người bất tài đang nắm cương vị lãnh đạo.”
Những người nắm cương vị lãnh đạo không cảm thấy trách nhiệm họ là phải bảo vệ sự an toàn của công chúng, trong đó có những người nghèo khổ phải đi mót cà phê, những em bé đi lượm rác. Cho nên mới không có luật lệ hạn chế quyền của các vị chủ nhân, hoặc có những luật lệ từ thời Pháp thuộc nhưng bây giờ không ai thi hành. Người ta không thi hành, biết vì nếu có tai nạn thì họ cũng được tha, nhờ quyền thế hoặc nhờ tiền đút lót.
Ông Hà Văn Thịnh đã nêu ra những thí dụ cho thấy những kẻ có quyền thế ở Việt Nam thuộc một giai cấp được ưu đãi. Họ sống bên trên luật pháp. Ông kể trường hợp 3 nông dân ở Lâm Ðồng ăn trộm hai con vịt để nhậu, ra tòa bị tổng cộng 13 năm tù; còn một ông giám đốc ở Hà Nội lái xe không có bằng, đâm chết hai người, chỉ bị 36 tháng tù treo! Mạng hai con người không lớn bằng 2 con vịt!
Ông Hà Văn Thịnh nhận xét, “Hàng ngàn năm người dân bị sức ép, phải luồn cúi, phải chịu đựng, phải khom lưng lại. Và phải chấp nhận tất cả mọi điều đó. Nó làm cho mệt mỏi chai lỳ. à Vô cảm hầu như trở thành một căn bệnh, căn bệnh kinh niên của xã hội bây giờ. Họ thấy đấy nhưng mà họ (mặc) kệ, mỗi người lo thân mình.” Câu cuối cùng cũng là nhận xét của nhà văn Vương Trí Nhàn, đã nêu trên đây.
Nhưng khi báo chí trong nước cũng như ở nước ngoài đều loan tin và bàn luận về cái chết thảm thương của bà Phạm Thị Nhắn, thì chúng ta có thể thấy là xã hội Việt Nam cũng không hoàn toàn vô cảm như ông Hà Văn Thịnh lo lắng. Cái chết của bà sẽ không vô ích, nếu như nó thúc đẩy sự thay đổi trong xã hội Việt Nam. Người Việt Nam vẫn còn rất nhậy cảm trước những hành động tàn nhẫn, bất công. Không ai chấp nhận cách đối xử tàn ác, phi nhân đối với những phụ nữ nghèo phải đi mót.
Như nhà văn Vương Trí Nhàn dẫn lời Tchekov trong cuốn sách của ông: “Người Trí thức là lương tâm của một dân tộc.” Các nhà văn, các sử gia, các người viết báo, đều là những nhà trí thức. Lương tâm của dân tộc không chấp nhận người Việt Nam sống với nhau một cách phi nhân như những kẻ thả chó cắn chết người. Muốn chấm dứt cảnh phi nhân đó, phải đặt ra luật lệ hạn chế quyền của những kẻ có tiền và có quyền thế. Phải trả lại cho mọi người dân quyền chọn những kẻ cầm quyền, từ trung ương tới địa phương. Những người chiếm độc quyền lãnh đạo mà không chịu sự kiểm soát của người dân bỏ phiếu thì họ sẽ tiếp tục để mặc cho xã hội sống phi nhân như vậy.

