Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
saulong
Posts: 114
Joined: Thu Aug 06, 2009 6:02 pm

Post by saulong »

Image

“HỒI GIÁO HOÁ” PARIS:
MỘT CẢNH BÁO VỚI TÂY PHƯƠNG VÀ NƯỚC MỸ _

Dale Hurd

Thứ sáu ở Paris. Một camera được giấu kín cho thấy các đường phố bị phong toả bởi những đám đông khổng lồ những tín đồ đạo Hồi, được tăng cường bằng một lực lượng an ninh riêng. Điều này trái pháp luật ở Pháp: việc thờ phượng nơi công cộng, các đường phố bị phong toả và lực lượng an ninh riêng. Nhưng cảnh sát nhận được lệnh không can thiệp.

Điều đó cho thấy rằng cho dù một số người trong chính phủ Pháp muốn cứng rắn với những người Hồi giáo và cấm mang khăn trùm mặt, thì những thành phần khác trong chính phủ Pháp vẫn tiếp tục cho Hồi giáo một quy chế ưu đãi.

Một công dân Pháp bình thường đã theo dõi sự “Hồi giáo hoá” Paris, đã quyết định rằng thế giới cần phải nhìn thấy những gì đang xảy ra cho thành phố của anh. Anh dùng camera giấu kín để bắt đầu gửi các băng hình lên YouTube. Mạng sống anh đã bị đe doạ và vì thế anh dùng biệt danh “Maxime Lepante”. Camera của anh cho thấy rằng các tín đồ Hồi giáo “đang phong toả các đường phố với các rào chắn. Họ đang cầu nguyện trên đất này. Các cư dân quận này nội bất xuất ngoại bất nhập trong thời gian người Hồi giáo cầu nguyện. Một số nói người Hồi phải cầu nguyện ngoài đường vì họ cần một nhà thờ rộng hơn. Nhưng Leoante đã quan sát kỹ các xe hơi đến từ các vùng khác ở Paris và anh cho rằng đó là một sự phô trương hằng tuần quyền lực Hồi giáo đang tăng cao. Anh nói: “Họ đến đó để tỏ cho thấy họ có thể chiếm một số khu phố nước Pháp, để cho thấy rằng họ có thể chinh phục một phần lãnh thổ nước Pháp”.

Nếu Pháp phải đối mặt với một tương lai Hồi giáo, thì một tác giả người Nga đã viết về điều này. Cuốn tiểu thuyết có tên là “Nhà thờ Hồi giáo Đức Bà, 2048” (The Mosque of Notre Dame), một cuốn best-seller ở Nga, không phải ở Pháp. Nhà xuất bản người Pháp Jean Robin nói các phương tiện truyền thông Pháp không biết cuốn sách này, vì nó không đứng đắn về mặt chính trị. Hồi giáo được coi là tôn giáo của dân nghèo, vì thế bạn không thể nói với người nghèo: “các anh lầm rồi”, nếu không thì “bạn là một tay phát xít”. Cuốn sách này trình bày một tương lai đen tối khi nước Pháp đã trở thành một quốc gia Hồi giáo và vương cung thánh đường bị biến thành một nhà thờ Hồi giáo.

Hồi giáo hiện chiếm hơn 10% dân số Pháp, mặc dù không ai biết chắc vì luật pháp nước Pháp cấm thống kê dân số theo từng tôn giáo. Nhưng tỷ lệ sinh đẻ người Hồi cao hơn rất nhiều so với dân gốc Pháp. Một số đàn ông Hồi giáo thực hành chế độ đa thê, với mỗi bà vợ cộng thêm có nhiều con cái và được cấp thẻ trợ cấp phúc lợi.

Triết gia người Pháp Radu Stoenescu, một chuyên viên về Hồi giáo, tranh luận với các nhà lãnh đạo đạo Hồi trên truyền hình Pháp, nói: “Vấn nạn đạo Hồi còn hơn là một vấn nạn về các con số. Vấn nạn này là một trong các nguyên tắc cơ bản. Đó là một câu hỏi mở. Hồi giáo là một ý thức hệ hay chỉ là một tín ngưỡng?”. Ông nói thêm: “Điều này không có nghĩa là họ có bao nhiêu người. Vấn nạn là những người đi theo Hồi giáo, một cách nào đó, họ ở trong một đảng chính trị, có một chương trình hành động chính trị, muốn căn bản thực hiện đầy đủ luật Sharia và xây dựng một nhà nước Hồi giáo”.

Từ thập niên 1980 cho tới gần đây, việc chỉ trích hoặc chống lại Hồi giáo bị coi là một điều cấm kỵ xã hội và vì thế chính phủ và các phương tiện truyền thông giúp đạo Hồi lan rộng khắp nước Pháp một cách hiệu quả.

Robin nói: “Chúng ta đang trông đợi Hồi giáo sẽ thích nghi với nước Pháp và chính nước Pháp đang thich nghi với Hồi giáo”. Về khăm trùm mặt gây tranh cãi, một người đàn ông Pháp theo đạo Hồi nói với một phóng viên rằng người Châu Âu phải tôn trọng y phục đạo Hồi. Một phụ nữ người Paris mang một khăm trùm đầu nói “khăn là ở trong Coran” và “chúng tôi chỉ phục tùng Thiên Chúa chứ không tuân phục một ai khác ngoài”.

Nhưng ngay cả nếu nhiều thành phần ưu tú trong chính quyền Pháp từ chối chấp nhận sự kiện về Hồi giáo, thì dân chúng trong các khu phố lại ngày càng không như thế. Một số người đã chán ngấy với những gì họ nhìn thấy như là sự Hồi giáo hoá nước Pháp đang tăng cao. Họ bắt đầu bày thịt heo và rượu “khai vị” hoặc tiệc coctail trên đường phố. Có những cuộc biểu tình yêu nước có ý muốn đánh trả lại Hồi giáo. Một cuộc biểu tình toàn quốc nữa dự tính vào thứ bảy ngày 4-9. Quốc hội Pháp được trông đợi tranh luận luật về khăn trùm đầu vào tháng 9.

Jean-Francois Cope, Chủ tịch Liên minh vì một Đảng Chính trị Phong trào Nhân dân, đã đưa ra lời cảnh báo với Tây phương và Mỹ. Ông nói: “Chúng ta không thể chấp nhận sự phát triển của thực hành như vậy vì nó không tương thích với cuộc sống trong một xã hội hiện đại. Và vấn đề này không chỉ là vấn đề của nước Pháp. Tất cả các bạn sẽ phải đối mặt với thách thức này”.
(CBN 01.09 - Dale Hurd)

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Về vụ Thái Lan ngăn ông Võ Văn Ái
Một số tờ báo gồm cả Bangkok Post đặt câu hỏi về hồ sơ nhân quyền của chính phủ Thái

Tờ Christian Science Monitor (CSM) nhận định việc Thái Lan ngăn hai nhà vận động nhân quyền nhập cảnh vì yêu cầu của Việt Nam trong bối cảnh Asean và Trung Quốc.

Bài của Simon Montlake trên trang của CSMhôm 13/9 nói vụ ngăn ông Võ Văn Ái và cộng sự đến dự họp báo của CLB Phóng viên Nước ngoài tại Bangkok (FCCT) "chắc chắn sẽ khiến Việt Nam hài lòng".
Nhưng tác giả cũng nói đây lời nhắc nhở đến ảnh hưởng của Trung Quốc trong vùng.

Vụ việc là lý do cho thấy "tại sao Đức Đạt Lai Lạt Ma không được hoan nghênh tại các nước muốn có quan hệ hữu hảo với Trung Quốc".
Bài báo cũng đánh giá sự tụt dốc của Thái Lan trong vòng năm năm qua theo các tiêu chuẩn tự do dù trước đó, nước này có tiếng là cởi mở so với các quốc gia láng giềng:

"Trong 5 năm biến động chính trị, danh giá của Thái Lan đã trượt dốc cùng việc kiểm duyệt truyền thông và các hình thức trấn áp khác tăng lên nhanh,"

"Năm 2009, các hành xử trái nhân quyền bị phê phán sau khi quân đội Thái kéo gần 1000 người tỵ nạn Hồi giáo từ Miến Điện ra ngoài biển và bỏ ở đó với chỉ chút ít thức ăn, nước uống."
Tuy nhiên, theo tác giả, hiện chưa rõ Thái Lan sẽ mong đợi Việt Nam "lại quả" bằng cái gì cho vụ việc liên quan đến ông Võ Văn Ái vừa qua.
Quyết định này làm ảnh hưởng đến hình ảnh trong khu vực của Thái Lan như một vương quốc đang che đậy hồ sơ nhân quyền xấu của các nước thành viên khác trong Asean."

Sunai Phasuk

Tác giả chỉ phỏng đoán rằng may ra "tỏ tình đoàn kết với Việt Nam sẽ giúp ích cho Thái Lan trong cuộc tranh chấp biên giới với Campuchia".
Có vẻ như điều khiến tác giả Simon Montlake đi đến câu hỏi đó là sự khác biệt giữa cách đối xử của Thái Lan với vấn đề Miến Điện và Việt Nam.

Các tổ chức phê phán chính quyền quân nhân Miến Điện thường được phép phát biểu, hội họp ở Thái Lan.

Nhưng với Việt Nam thì không, cụ thể là qua vụ cấm ông Võ Văn Ái và bà Penelope Faulkner từ Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam, có trụ sở tại Paris tới Bangkok để thực hiện một cuộc họp báo về tình hình nhân quyền ở Việt Nam vào hôm 13/09.
Trả lời BBC ông Võ Văn Ái cho hay tại cuộc họp báo được lên kế hoạch, Ủy ban của ông cùng một tổ chức khác là Liên đoàn Quốc tế về Nhân quyền dự kiến sẽ công bố phúc trình"Từ Viễn mơ đến Thực tế: Nhân quyền Việt Nam dưới quyền chủ tọa của Asean".
Ông cũng cho hay dù đã có visa, ông Ái và bà Faulkner được Sứ quán Thái Lan ở Paris cảnh báo không nên đến Thái Lan.
Bà Faulker sau vẫn ra phi trường thì được hàng không Thái Lan ngăn lại không cho đi.

Cuộc họp báo dự kiến tại Bangkok sau đã bị hủy bỏ, sau sự can thiệp của Bộ Ngoại giao Thái Lan.

Ý kiến khác nhau
Phát ngôn nhân của Bộ Ngoại giao Thái Thaini Thongpakdi gửi công văn tới FCCT nói:

"Chính quyền Hoàng gia Thái Lan coi trọng các nguyên tắc tự do ngôn luận và đa dạng quan điểm, thế nhưng lâu nay cũng có lập trường là không cho phép các tổ chức và cá nhân sử dụng Thái Lan để thực hiện các hoạt động chống lại các quốc gia khác."
Hiện Asean đang làm việc để đưa vào áp dụng Hiến chương Nhân quyền của Hiệp hội được lãnh đạo khối thông qua không lâu trước đây.
Tại Thái Lan, Bộ trưởng Tư pháp đồng thời là tướng công an Chidchai Vanasatidya hồi tháng 8 năm nay cam kết ủng hộ công việc của Nhóm Công tác Thái Lan thuộc Cơ chế Nhân quyền Asean.

Theo trang web của Asean (Bấm aseanhrmech.org), ông Chidchai Vanasatidya cũng hứa sẽ hỗ trợ các tổ chức vận động cho nhân quyền.
Nhưng nay, chính báo Thái Lan, tờ Bangkok Post cùng ngày 13/9 thì có bài trích lời ban tổ chức FCCT phê phán quyết định của chính quyền.

Ông Võ Văn Ái bị báo chí Việt Nam phê phán

Bài báo cũng ghi nhận ý kiến của nhà tư vấn cho Tổ chức Nhân quyền Human Rights Watch, bộ phận đóng ở Thái Lan là Sunai Phasuk nói vụ việc "làm hoen ố nỗ lực của chính phủ muốn cải thiện hình ảnh về nhân quyền sau đợt giải tán phe áo đỏ hồi tháng 5".
"Quyết định này làm ảnh hưởng đến hình ảnh trong khu vực của Thái Lan như một vương quốc đang 'che đậy hồ sơ nhân quyền xấu' của các nước thành viên khác trong Asean."
Gần đây có tin Malaysia trục xuất ông Bấm Trần Ngọc Thành, quốc tịch Ba Lan, chủ tịch Ủy ban bảo vệ lao động người Việt Nam khi ông đến Malaysia hoạt động trong giới lao động người Việt.
Cũng liên quan đến vụ ông Võ Văn Á, báo chí Bắc Mỹ đăng bài của hãng AP so sánh Thái Lan và Việt Nam trong lĩnh vực kiểm soát truyền thông.

"Thái Lan bị phê phán gần đây vì hạn chế tự do báo chí. Các trang web và ấn bản chống chính phủ bị kiểm duyệt với cáo buộc nhà nước đưa ra rằng chúng thôi thúc các cuộc phản đối chính trị,"

"Việt Nam kiểm soát truyền thông chặt chẽ và các nhóm nhân quyền nói giới nhà báo và cầm bút bị bắt, đuổi việc hoặc phạt vì phê phán chính phủ hoặc vì cung cấp thông tin cho mà chính quyền cho là tế nhị."

Về phía mình, chính quyền Việt Nam luôn bác bỏ những các buộc của các tổ chức nhân quyền ở bên ngoài nêu ra.

Riêng về ông Võ Văn Ái, báo chí trong nước, đặc biệt là tờ Bấm Công an Nhân dân thường có các bài phê phán ông và tổ chức Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam với lời lẽ nặng nề.

Một bài hồi 2009 trên báo này viết rằng ông Ái là "một trong những người trí thức, có trình độ trong đám phản động, lưu vong ở nước ngoài, chuyên nghề câu kết với một số đối tượng cơ hội chính trị trong nước và các phần tử phản động lợi dụng tôn giáo để kích động gây rối xã hội Việt Nam".

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2 ... tion.shtml

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Mỹ sẽ tấn công Iran bằng đường không? Giới chuyên gia phân tích và bình luận cho rằng, hợp đồng vũ khí lớn nhất từ trước tới nay trong lịch sử Mỹ cho Ả Rập Xê Út là bước đệm khởi đầu để Mỹ tấn công vào Iran bằng đường không.

Nhiều chuyên gia phân tích và bình luận nhận định rằng, mục đích chính của hợp đồng đặc cách này cho Ả Rập Xê Út là nhằm thiết lập và củng cố liên minh quân sự ở Trung Đông chống lại Iran, bảo đảm ưu thế vượt trội về đường không trước quốc gia Hồi giáo này.

Ngoài số lượng lớn máy bay và máy bay trực thăng trang bị cho quốc gia Trung Đông (Ả Rập Xê Út) thì điều rất đáng chú ý ở đây chính là chủng loại phương tiện. Gần như tất cả số máy bay và máy bay trực thăng này đều là phiên bản tấn công.

Mặc dù không chính thức thừa nhận song động thái này cũng khó tránh khỏi mối ngờ vực: Mỹ đang vũ trang hóa cho các đồng minh Trung Đông để chuẩn bị tấn công đường không vào Iran hoặc ít ra cũng là để chuẩn bị cho một kế sách lâu dài chống quốc gia Hồi giáo cứng đầu nhất thế giới ở khu vực Trung Đông.

Về phần mình, đại diện phía Nhà Trắng khẳng định, nếu hợp đồng quân sự lớn này được thông qua thì các Tập đoàn lớn như Northrop Grumman, Lockheed Martin và General Electric sẽ có thể giữ vững công ăn việc làm cho khoảng 75.000 nhân công.

Để trấn an tinh thần của “ông bạn” đồng minh thân cận nhất ở Trung Đông, Tổng thống Obama khẳng định, mối lo ngại của Israel sẽ không thể xảy ra vì Mỹ sẽ chỉ cung cấp máy bay và máy bay trực thăng cho Ả Rập Xê Út chứ không cung cấp tên lửa tầm xa, hơn nữa khi Ả Rập Xê Út có được F-15 thì trong biên chế của Israel đã có F-35 hiện đại hơn nhiều.

Theo kế hoạch, nếu Hạ viện Mỹ thông qua hợp đồng quân sự lớn này thì quá trình cung cấp nó cho Ả Rập Xê Út sẽ kéo dài trong khoảng 10 năm tới. Bên cạnh đó, Mỹ cũng đang tiến hành xem xét cung cấp một số hệ thống trang bị quân sự khác cho Hải quân như tàu tuần phòng ven biển và tổ hợp tên lửa phòng không Taad với tổng trị giá ước tính lên tới 30 tỷ USD.
Image
Máy bay trực thăng AH-6 Little Bird
Đồng nhất với nhận định của Tổng thống Obama, phát biểu trước báo giới trong buổi họp báo về hợp đồng quân sự lớn này, trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phục trách thông tin xã hội và báo chí Phillip Crawley cho biết, “trọng tâm” trong chính sách của Washington tại Trung Đông chính là “bảo đảm an ninh và ổn định trong khu vực”.
Image
Máy bay trực thăng Black Hawk.


Mặc dù hợp đồng vẫn chưa được chính thức thông qua, song thông tin này đã không khỏi khiến cho đồng minh thân cận nhất của Mỹ tại Trung Đông là Israel lo ngại và “ghen tị” khi cho rằng, việc vũ khí hóa cho Ả Rập Xê Út sẽ làm phá hủy thế cân bằng lực lượng trong khu vực.
Image
Máy bay trực thăng tấn công Apache.


Tuy nhiên, mọi việc sẽ trở nên rõ ràng hơn chỉ khi Hạ viện Mỹ chính thức thông qua hợp đồng “siêu khủng” này. Để đơn giản hóa quá trình thông qua các văn bản, dự án, hợp đồng trước Hạ viện, Tổng thống Barack Obama đã bổ sung thêm một số vị trí làm việc mới trong Hạ viện mà các Nghị sỹ Mỹ chưa chắc đã muốn từ bỏ, đặc biệt là ngay trước thềm bầu cử Nghị viện giữa nhiệm kỳ diễn ra vào tháng 11 tới.
Image
Máy bay tiêm kích F-15/SA.
Mặc dù không chính thức tiết lộ “danh tính” của vài trăm chiếc máy bay và máy bay trực thăng cho Ả Rập Xê Út, song theo một số nguồn tin dấu tên từ Lầu Năm Góc, hợp đồng quân sự lớn nhất từ trước tới nay cho Ả Rập Xê Út bao gồm có 84 máy bay tiêm kích mới F-15/SA, 70 máy bay chiến đấu đã nâng cấp và cải tiến, 70 máy bay trực thăng tấn công Apache, 72 máy bay trực thăng tấn công Black Hawk và 36 máy bay trực thăng AH-6 Little Bird, đồng thời còn có cả bom, tên lửa mang đầu đạn dẫn đường vệ tinh và laser.
Image
Mỹ có thể sử dụng không quân của các nước đồng minh ở Trung Đông để tấn công Iran.


Hiện nay, Hạ viện Mỹ vẫn đang cân nhắc để thông qua hợp đồng bán vũ khí lớn nhất từ trước tới nay trong lịch sử Mỹ (vài trăm chiếc tiêm kích phản lực và máy bay trực thăng chiến đấu với tổng trị giá hợp đồng lên tới 60 tỷ USD) cho Ả Rập Xê Út, quốc gia nằm liền kề với Iran.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Đứng Nguyên Một Chỗ, Lùi Thêm Một Đời

Phạm Trần

3 Dự thảo Văn kiện của đảng Cộng sản Việt Nam đem ra thảo luận tại Đại hội XI tòan quốc vào tháng 1 năm 2011 đã được phổ biến ngày 15/9 (2010) để lấy ý kiến cán bộ, đảng viên và tòan dân, nhưng đảng đã đạp lên những điều viết chưa ráo mực mang danh nghĩa "dân chủ xã hội".

Để chứng minh cho việc làm giấu đầu hở đuôi, dân chủ trá hình này, mọi người hãy đọc trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011):"Nhà nước gắn bó chặt chẽ với nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân."

Đảng cũng hứa trong Báo cáo Chính trị : " Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân; cán bộ, công chức thật sự là công bộc của nhân dân. Nâng cao ý thức về quyền và nghĩa vụ công dân, năng lực làm chủ, tham gia quản lý xã hội của nhân dân. Có cơ chế cụ thể để nhân dân thực hiện trên thực tế quyền làm chủ trực tiếp. Thực hiện tốt hơn Quy chế dân chủ và Pháp lệnh dân chủ ở cơ sở. Phát huy dân chủ, đề cao trách nhiệm công dân, kỷ luật, kỷ cương xã hội; phê phán và nghiêm trị những hành động vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, những hành vi lợi dụng dân chủ để gây rối; chống tập trung quan liêu, khắc phục dân chủ hình thức. Quan tâm hơn nữa việc chăm lo hạnh phúc và sự phát triển tự do, toàn diện của con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam ký kết."

Vậy mà vào ngày 10/9/2010, khi ban hành văn bản (số 112-HD/BTGTW) hướng dẫn việc công bố và lấy ý kiến góp ý của các tổ chức, cán bộ, đảng viên và nhân dân vào các dự thảo văn kiện Ban Chấp hành Trung ương (khoá X) trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, Ban Tuyên giáo Trung ương đã ra lệnh cho tòan hệ thống đảng phải thi hành những việc như sau :
-"Việc đăng, phát trên phương tiện thông tin đại chúng các ý kiến góp ý cần có sự chọn lọc, thận trọng, đảm bảo phát huy được trí tuệ, dân chủ của nhân dân, không để những phần tử xấu lợi dụng diễn đàn công kích, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta."
-" Đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc quan điểm, đường lối của Đảng, kết hợp đấu tranh trực diện với việc tuyên truyền khẳng định những thành tựu của đất nước."
- "Không đăng và phát trên các phương tiện thông tin đại chúng những ý kiến phản bác chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, về học thuyết Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, về vai trò lãnh đạo của Đảng; những vấn đề cần giữ bí mật về quốc phòng, an ninh đối ngoại, những ý kiến đả kích cá nhân hoặc tổ chức đảng cơ quan nhà nước."
Chỉ thị này do Nguyễn Bắc Son, Phó Trương Ban Tuyến giáo Trung ương ký tên còn ra lệnh :
- "Bộ Thông tin và Truyền thông: Chủ trì, phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương chỉ đạo các phương tiện thông tin đại chúng ở Trung ương và địa phương mở các chuyên trang chuyên mục, chuyên đề đặc biệt tuyên truyền các dự thảo văn kiện. Chỉ đạo, theo dõi, kiểm soát việc đăng, phát và tổng hợp ý kiến góp ý cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chỉ đạo đấu tranh chống các luận điệu sai trái, tiêu cực xuyên tạc các dự thảo văn kiện trên diễn đàn thông tin đại chúng."
- "Ban Tuyên giáo tham mưu cho cấp uỷ nội dung thảo luận tại đại hội cơ sở; chỉ đạo công cụ thông tin của ngành, lĩnh vực tuyên truyền nội dung văn kiện, biên tập tài liệu hướng dẫn đoàn viên, hội viên tìm hiểu, nghiên cứu văn kiện; theo dõi tình hình tư tưởng, dư luận về các vấn đề của văn kiện trong đối tượng phụ trách."
- Các Ban Tuyên giáo địa phương phải : "Theo dõi các sinh hoạt chính trị, nắm tình hình tư tưởng, dư luận cán bộ, đảng viên, nhân dân xung quanh các dự thảo văn kiện. Tham mưu cho cấp uỷ công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng trong nội bộ và chỉ đạo đấu tranh đối với các thế lực thù địch."
Như vậy thì dân chủ ở lỗ nào chui lên trong chế độ độc tài, đảng trị và tự biên tự diễn là "nhà nước pháp quyền" ?

TÊ LIỆT NÃO TRẠNG

Trong nội dung tất cả 3 Văn kiện, chỗ nào đảng CSVN cũng dành quyền làm chủ của dân để cai trị mà cứ hô lên là nhân dân muốn mình làm như vậy nên Cương lĩnh đã tự ý hợp thức hóa vai trò lãnh đạo cho đảng tự thỏa mãn : "Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Đảng phải nắm vững, vận dụng sáng tạo và góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, bản lĩnh chính trị và năng lực tổ chức để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra."

Cho đến Thế kỷ XXI, sau khi nhân dân Nga đã vứt Chủ nghĩa Mác-Lênin vào thùng rác được 18 năm mà Đảng CSVN vẫn còn thương vay khóc mướn rằng: "Chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ là một tổn thất lớn đối với phong trào cách mạng thế giới" thì có lẽ cái đảng này còn bảo hòang hơn cả các vua chúa thời Nga hoàng.

Vì vậy mà không ai ngạc nhiên khi thấy đảng CSVN tìm mọi cách để trù yểu Chủ nghĩa Tư Bản như họ viết trong Cương lĩnh rằng : "Hiện tại, chủ nghĩa tư bản còn tiềm năng phát triển, nhưng về bản chất vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công. Những mâu thuẫn cơ bản vốn có của chủ nghĩa tư bản, nhất là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, chẳng những không giải quyết được mà ngày càng trở nên sâu sắc. Khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội vẫn tiếp tục xảy ra. Chính sự vận động của những mâu thuẫn nội tại đó và cuộc đấu tranh của nhân dân lao động các nước sẽ quyết định vận mệnh của chủ nghĩa tư bản."

Ảo tưởng hão huyền như thế vì những người sọan ra Cương lĩnh vẫn chưa hiểu, hay cố tình che tai trước lời tuyên bố chân thành mới đây của Lãnh tụ Nhà nước Cuba, Fidel Castro với Nhà báo Jeffrey Goldberg của Tạp chí The Atlantic. Trong một cuộc phỏng vấn cho số Báo tháng 10 (2010), Fidel Castro đã nói : "Mô hình Cuba không còn hoạt động được nữa", khi được hỏi : "Liệu hệ thống kinh tế của Cuba có còn đáng để xuất cảng ra nước ngoài hay không?"

Cuba là một trong số 4 nước Cộng sản còn lại sau khi các nước Xã hội Chủ nghĩa Đông Âu và khối Liên bang Sô Viết tan rã từ 1989 đên 1992. Ba nước còn lại là Trung Hoa, Việt Nam và Bắc Triều Tiên.

Có thể người CSVN cãi cối rằng kinh tế Việt Nam khác với kinh tế Cuba, nhưng nền kinh tế được gọi là "thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa" vẫn do Nhà nước nắm vai "qủan lý", "chủ đạo" của Việt Nam là chủ trương dành đặc quyền, đặc lợi cho các doanh nghiệp nhà nước để cho đảng, nhất là những kẻ có chức, có quyền tự do thao túng, làm giầu trên sức lao động bằng mồ hôi và nước mắt của người dân.

Bằng chứng nhãn tiền đã xẩy ra với Tổng Công ty tầu thủy Vinashin bị phá sản với khỏan nợ khổng lồ 86,000 tỷ đồng trên tổng số vốn 90,000 tỷ đồng.
Người có trách nhiệm lớn nhất trong vụ này là Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng vì Dũng chủ trương và ủng hộ thành lập các tập đòan kinh tế lớn. Chính phủ đã ngửa tay đi vay tiền nước ngòai 750 triệu dollars trao cho Vinashin đầu tư để bây giờ tiêu tan mà vẫn không có ai bị cách chức mà lại để cho dân gánh chịu thì chỉ có ở Việt Nam trong thời Cộng sản bao che mới có chuyện thổ tả này !

Điểm tối dạ thư hai là Cương lĩnh bổ sung vẫn giữ nguyên quan điểm tăm tối của Cương lĩnh năm 1991 khi viết rằng : " Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thử thách, nhưng sẽ có những bước tiến mới. Theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội."

Căn cứ vào đâu để đảng CSVN ăn nói bừa bãi như thế? Nếu nhân lọai muốn bỏ chủ nghĩa Tư bản để theo Chủ nghĩa Xã hội thì nhân dân các nước Cộng sản Đông Âu và khối Liên Xô cũ đã không đứng lên xóa bỏ chế độ lạc hậu của nước họ.

Vậy mà trong Cương lĩnh năm 2011 , đảng CSVN vẫn tiếp tục chũi đầu xuống cát để kiên định thứ Chủ nghĩa đã bị nhân dân Nga, thành trì của Chủ nghĩa Mác-Lênin, vứt vào sọt rác từ năm 1992.

QUÁ ĐỘ MỆT NGHỈ

Đảng viết trong Cương lĩnh: "Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ."
Họ còn nói viển vông: "Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là xây dựng xong về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hoá phù hợp, tạo cơ sở làm cho nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh.
Từ nay đến khoảng giữa thế kỷ XXI, toàn Đảng, toàn dân ta phải ra sức phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa."

Một nửa thế kỷ là 50 năm, nhưng bây giờ mới qua 10 năm mà đất nước vẫn trì trệ đứng nguyên sau 24 năm đổi mới thì đến bao giờ người dân Việt Nam mới thấy được ánh sáng ở cuối đường hầm ?
Nhưng cứ gỉa thử như đảng CSVN sẽ đưa Việt Nam tiến lên một nước "công nghiệp hiện đại" thì còn các yếu tố tối cần khác như "dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ" thì 40 năm sau chắc gì đã có ?
Vậy đảng còn bắt dân phải "qúa độ" đến bao nhiêu năm nữa, hay chính đảng cũng ngu ngơ mù mịt như người rừng về thành phố ?

Đảng CSVN cũng vẽ ra cái xã hội lý tưởng phải đạt tới là "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ", nhưng đến bao giờ xã hội lý tưởng này mới có, hay sẽ muôn đời không tìm thấy đâu nếu đảng CSVN vẫn cai trị đất nước như hiện nay ?

Vì vậy người dân trong nước đã muốn đảng cho họ biết phải "qúa độ" đến bao giờ ? Nhiều đảng viên cũng muốn đảng cho họ biết "dứt khóat tư tưởng" một lần cho xong, chứ cứ ỡm ờ mãi thì không chừng sẽ chết cả lũ !
Nhưng đảng thì dường như họ đã mất đi qúa nhiều thính giác và thị giác nên cứ khư khư quan điểm : "Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; là di sản tư tưởng và lý luận vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi."

Thật tội nghiệp cho hai giai cấp công nhân và lao động là những người đã hy sinh nhiều nhất nhưng lại tiếp tục chịu nhiều thiệt thòi hơn mọi người trong xã hội bây giờ. Lớp người cùng đinh này những tưởng những mất mát của họ trong 30 năm chiến tranh sẽ được Đảng đền bù khi có hòa bình, nào ngờ sau 35 năm im tiếng súng họ còn bị đảng quay lưng phản bội và tiếp tục cho ăn bánh vẽ là "đại biểu trung thành" của mình !

Vậy mà, trong Cương lĩnh mới, đảng vẫn không biết ngượng để tiếp tục lý luận áp chế và tiếm quyền làm chủ đất nước theo lối cả vú lấp miệng em rằng: "Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra và bằng hành động gương mẫu của đảng viên. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị. Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu. Đảng thường xuyên nâng cao năng lực cầm quyền và hiệu quả lãnh đạo, đồng thời phát huy mạnh mẽ vai trò, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị."

Đảng còn hưá : "Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là bộ phận của hệ thống ấy. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Để đảm đương được vai trò lãnh đạo, Đảng phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, năng lực lãnh đạo. Giữ vững truyền thống đoàn kết thống nhất trong Đảng, bảo đảm đầy đủ dân chủ và kỷ luật trong sinh hoạt Đảng.
Thường xuyên tự phê bình và phê bình, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội và mọi hành động chia rẽ, bè phái. Đảng chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, có phẩm chất, năng lực, có sức chiến đấu cao; quan tâm bồi dưỡng, đào tạo lớp người kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng và của nhân dân."

Lậy Trời, lậy Phật nếu đảng CSVN đã làm được những việc như họ viết trong Cương lĩnh từ 20 năm qua, kể từ khi Cương lĩnh 1991 ra đời, thì quốc nạn tham nhũng, lãng phí tiền mồ hôi nước mắt của dân đâu có còn cao hơn núi như hiện nay. Nạn mua quan, bán tước, mua bán bằng gỉa, suy thóai đạo đức, phẩm chất trong hàng ngũ cán bộ đảng viên cũng đã biến mất từ lâu rồi chứ đâu có thể bám trụ mãi như đảng đã thừa nhận trong Báo cáo Chính trị ?
Hơn nữa, nếu quyền làm chủ đất nước và quyền giám sát của người dân được đảng chấp hành như các văn kiện đảng viết thì đảng CSVN cũng đã biến mất từ khuya rồi chứ đâu còn tồn tại để tiêp tục đè đầu, bóp cổ dân đen như bây giờ ?

Thế mới biết câu nói :"đừng nghe những gì Cộng sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng sản làm" của Cố Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu vẫn còn có nhiều ý nghĩa, nhất là đối với hòan cảnh của đất nước trong lúc đảng CSVN chuẩn bị tổ chức Đại hội đảng lần thứ 11 vào tháng 1 năm 2011.

Vì vậy nội dung của 3 Văn kiện: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng" và "Dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020" đã phản ảnh một não trạng xơ cứng, giáo điều, bảo thủ và tê liệt của một cơ thể hết máu không còn cử động được nữa.
Chúng chỉ là những thây ma không hồn đang níu chân dân tộc đứng lại để lùi thêm một đời . -/-

Phạm Trần
(09/010)

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Tên Tổng Thống Bush lại thành thời sự

Ngô Nhân Dụng

Tên Tổng Thống Gorges W. Bush sẽ được nhắc nhở nhiều lần trong mấy tuần tới; không phải vì ông đang chuẩn bị xuất bản hồi ký, nhưng vì Quốc Hội Mỹ sẽ bàn luận, tranh cãi về những đạo luật cắt giảm thuế mang tên ông. Dân Mỹ sẽ lắng nghe các đại biểu bàn chuyện giảm thuế hay tăng thuế.

Ðây không phải là chuyện lạ. Nước nào cũng vậy, cả guồng máy nhà nước sống được là nhờ thuế của dân. Ai cũng muốn mình kiếm ra đồng nào thì được giữ đồng ấy để chi tiêu, nghĩ đến đóng thuế lợi tức là đau cắt ruột! Và dân Mỹ thì tự do, tha hồ bàn chuyện nhà nước.

Khác với dân Mỹ, các đại gia ở Việt Nam và ở Trung Quốc không phải lo lắng gì về việc đóng thuế lợi tức hết. Họ sướng hơn các anh nhà giầu ở Mỹ nhiều. Khi nhà nước cộng sản thâu thuế thì không phân biệt giầu nghèo, toàn dân ai cũng đóng như nhau. Những món tiền nhà nước cộng sản thu lấy như thuế mở hàng ăn hay tiệm hớt tóc, tiền mãi lộ các ông cảnh sát đầu đường, thuế nhập cảng, tiền hối lộ để được chích thuốc trong bệnh viện, thuế trị giá gia tăng, vân vân, ai cũng chịu như nhau. Anh đạp xe xích lô hay anh làm tổng giám đốc Vinashin, khi mua cây cà rem hay uống một chai bia thì trả cùng một thứ thuế tiêu thụ! Các đại gia kiếm ra tiền tha hồ tiêu pha, mua xe hơi, nhà nghỉ mát, mua cả máy bay, hoặc xây nhà thờ tổ thật lộng lẫy để “ông cha lừng lẫy bốn phương trời!”

Các ông bà nhà giầu ở nước Mỹ không được “tự do, hạnh phúc” như vậy. Mỹ là một nước dân chủ từ lâu, ý thức về công bằng xã hội đã được nuôi dưỡng như một lý tưởng và được thí nghiệm dần dần trong đời sống, bằng pháp luật. Một bước tiến tới của công bằng xã hội là quyết định đánh thuế lợi tức. Ðến năm 1913 dân Mỹ mới chính thức phải đóng thuế lợi tức, sau khi hiến pháp được tu chính (Tu chính án số 16). Các đại gia nước Mỹ thời đó cũng đã phản đối dữ, có người dọa sẽ bỏ nước ra đi, nhưng không bảo được Quốc Hội vâng lời! Một bước thứ hai tiến gần tới lý tưởng công bằng hơn là đánh thuế lợi tức lối lũy tiến. Thời 1913 người nghèo đóng 1% trên lợi tức kiếm được, người giầu đóng 7%. Thời 1950, người giầu có lúc phải đóng thuế 80% tới 90% lợi tức! Thuế lũy tiến là khí cụ để nhà nước lấy tiền người giầu nhiều hơn người nghèo, đem chi cho tất cả mọi người cùng hưởng.

Câu chuyện thuế năm nay lại nổi lên thành đề tài tranh cử vì các đạo luật cắt thuế do Tổng Thống Gorges W. Bush ký những năm 2001 và 2003 sắp hết hạn. Câu hỏi là Quốc Hội có cho triển hạn hay không, và nếu có thì triển hạn cho ai? Trong một năm bầu cử (chỉ còn chưa đầy 2 tháng nữa) đây sẽ là chuyện cả làng muốn lắng nghe và muốn góp ý kiến.

Năm 2001 khi Tổng Thống Bush chấp chánh, hầu như cả nước Mỹ ủng hộ việc cắt giảm thuế lợi tức. Cắt thuế là giảm bớt số thu của nhà nước; vì lúc đó ngân khố Mỹ dư tiền: Ngân sách thu nhiều hơn chi. Theo chính sách thời đó, người ta ước tính trong 10 năm số thặng dư ngân sách sẽ lên tới 5 ngàn 600 tỷ Mỹ kim! Mấy năm sau đó tình hình khác hẳn, số thặng dư đó tan ra mây khói. Nhà nước chi nhiều hơn số thu; năm nay chính phủ liên bang sẽ thiếu hụt một ngàn 340 tỷ đô la.

Ðạo luật cắt thuế năm 2001 mang tên ông Bush giảm thuế cho tất cả mọi người. Những người giầu nhất và đóng thuế nặng nhất, suất thuế từ 39.6% được hạ xuống 35%; hạng thứ nhì giảm từ 36% xuống 33%. Theo đạo luật năm 2003 suất thuế đánh trên tiền lời do đầu tư và cổ tức (các công ty chia tiền lời cho chủ nhân cổ phần) đều được giảm từ 20% xuống 15%. Các đạo luật đó đều bị giới hạn, chỉ được áp dụng cho đến ngày 31 tháng 12 năm 2010. Tại sao Tổng Thống Bush không thừa thắng xông lên, cho cắt thuế như vậy mãi mãi? Vì thủ tục Quốc Hội Mỹ bắt buộc muốn giảm một món thuế nào vĩnh viễn thì phải ấn định sẽ tăng những món khác, hoặc cắt bớt chi tiêu, để chúng cân bằng lẫn nhau. Vì việc đó khó được Quốc Hội đồng ý, rồi không muốn làm mất lòng ai, cho nên lúc đó mới ấn định thời hạn 10 năm thì các đạo luật đó hết hiệu lực. Trước cuối năm nay, Quốc Hội Mỹ phải quyết định có gia hạn hay không. Nếu họ không làm gì cả thì hiệu lực chấm dứt, cả nước sẽ bị tăng thuế lợi tức. Tất nhiên các nghị sĩ và dân biểu không muốn trở về đơn vị nghe toàn dân chửi vì tăng thuế, cho nên họ phải bàn sẽ gia hạn các luật của ông Bush hay không, và gia hạn như thế nào.

Khi các đạo luật của Tổng Thống Bush đem áp dụng, năm 2001 mọi người Mỹ tự dưng có nhiều tiền chi tiêu hơn nhờ được bớt thuế. Một gia đình trung lưu lãnh lương hơn 52,000 đô la một năm thấy mình được đem về nhà thêm hơn 1,000 đồng - đủ để mua hai cái xe đạp cho cả hai vợ chồng. Những người thuộc 1% dân số kiếm nhiều tiền nhất, lợi tức từ 350,000 đến nhiều triệu đồng một năm chẳng hạn, thì được bớt thuế 72,000 đô la, đủ mua một chiếc xe Lexus mới.

Bây giờ, ngân sách Mỹ đang khiếm hụt trầm trọng, có thể tăng các suất thuế trở lại thời trước năm 2001 để chính phủ bớt phải vay nợ hay không?

Cả nước Mỹ lại bàn chuyện thuế là vì như vậy. Tổng Thống Barack Obama đề nghị Quốc Hội gia hạn luật cắt thuế của Tổng Thống Bush, nhưng không cho tất cả mọi người. Ông chỉ cho những người kiếm từ 200,000 đô la, và những cặp vợ chồng lợi tức từ 250,000 đô la trở xuống được hưởng suất thuế Bush mà thôi. Còn những ai kiếm nhiều tiền hơn thì sẽ bị đánh thuế theo suất thuế cao hơn, như trước thời ông Bush. Cộng với những biện pháp khác được giữ lại, dự án Obama sẽ giữ nguyên 82% tổng số các khoản cắt thuế của Tổng Thống Bush, cho 98% dân đóng thuế ở nước Mỹ được hưởng. Những người kiếm lợi tức cao nhất, 2% tổng số, sẽ phải trả theo suất thuế cao như trước năm 2001 (39.6% thay vì 35%). Số người bị tăng thuế nặng nhất là những ai may mắn kiếm được từ 600,000 Mỹ kim trở lên mỗi năm, họ chiếm 1% tổng số toàn dân đóng thuế. Một gia đình kiếm ra 1.8 triệu Mỹ kim sẽ phải đóng thêm 53,675 đô la. Nước Mỹ có khoảng 120,000 người giầu nhất, khai báo lợi tức trung bình trên 8 triệu Mỹ kim một năm, mỗi vị này sẽ phải đóng thêm 310,140 đô la tiền thuế theo dự án Obama. Chủ trương của chính phủ Obama là đánh thuế người giầu để tăng thu, bớt khiếm hụt ngân sách, trong khi vẫn bớt thuế cho người trung lưu, như ông Bush đã bớt.

Hầu hết, không phải tất cả các nghị sĩ, và các dân biểu đảng Dân Chủ ủng hộ ý kiến của ông tổng thống. Tất cả các đại biểu Cộng Hòa không đồng ý, cộng với dăm nghị sĩ Dân Chủ nữa. Họ muốn gia hạn toàn bộ luật cắt thuế của Tổng Thống Bush, không chừa ai cả. Nếu phe chống đối quyết tâm thì đảng Dân Chủ không đủ 60 phiếu trên Thượng Viện, phe chống có thể dùng thủ tục nói không dứt (filibuster) để ngăn cản không cho Thượng Viện biểu quyết, tức là sẽ không có đạo luật mới theo ý kiến của ông Obama. Bây giờ là lúc người ta tố cáo lẫn nhau, cho dân Mỹ phán xử.

Phe Dân Chủ tố cáo phe Cộng Hòa muốn bảo vệ việc cắt thuế cho những người giầu, để sau cùng Quốc Hội sẽ không biểu quyết được đạo luật gia hạn giảm thuế cho 98% dân chúng, và như thế thì cả giới trung lưu sẽ phải đóng thuế nhiều hơn.

Ngày Chúa Nhật vừa qua, lãnh tụ phe thiểu số (Cộng Hòa) ở Hạ Viện, Dân Biểu John A. Boehner (CH-Ohio), bị ép hỏi ông có muốn “bắt giới trung lưu làm con tin” để bảo vệ quyền lợi của người giầu hay không, trên ti vi ông Boehner đã nói ông có thể sẽ biểu quyết ngưng giảm thuế cho nhà giầu nếu đó là cách duy nhất để cho giới trung lưu khỏi bị tăng thuế. Ngày hôm sau, Nghị Sĩ Mitch McConnell (CH, Ky), trưởng khối Cộng Hòa ở Thượng Viện đã bác bỏ ý kiến của ông Boehmer, và Dân Biểu Eric Cantor (CH-Va.), nhân vật Cộng Hòa số 2 ở Hạ Viện hoan nghênh ý kiến của ông McConnell. Họ chứng tỏ các đại biểu Cộng Hòa ở cả 2 viện vẫn cùng một ý kiến. Họ chỉ trích chính phủ đã tăng thuế trong lúc kinh tế suy yếu làm nản lòng giới đầu tư, đặc biệt là bắt những nhà kinh doanh nhỏ phải đóng thêm thuế sẽ khiến họ không thể tuyển thêm nhân viên, trong lúc tỷ lệ thất nghiệp rất cao.

Những ý kiến chống đối trên sẽ được dân Mỹ suy nghĩ trong gần 2 tháng trước khi bỏ phiếu. Trong đảng Dân Chủ có nhiều đại biểu phân vân, không ủng hộ ông tổng thống phe mình, vì họ bị áp lực cử tri không muốn tăng thuế trên lợi tức, dù chỉ tăng với những người giầu nhất.

Ðầu tuần trước, ông Peter Orszag, cựu giám đốc Ngân Sách Tòa Bạch Ốc của Tổng Thống Obama đã gợi ra ý kiến mới: Tiếp tục giảm thuế cho cả những người lợi tức cao, cùng với giới trung lưu, nhưng chỉ trong vòng 2 năm; đến năm 2012 sẽ bãi bỏ. Ông Martin Feldstein, cựu cố vấn kinh tế thời Tổng Thống Reagan cũng đồng ý. Ông Alan Greenspan, cựu chủ tịch Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang thì cảnh cáo rằng nếu gia hạn tất cả luật giảm thuế của Tổng Thống Bush mà không giảm bớt số chi tiêu tương đương thì sẽ vô cùng tai hại. Nếu tiếp tục giảm thuế cho tất cả mọi người, thì trong 10 năm ngân sách sẽ thu về ít đi 3 ngàn tỷ Mỹ kim. Nếu chỉ giảm cho giới trung lưu trở xuống, chỉ có 2% giầu nhất bị tăng thuế thì sẽ tăng số thu thêm được 700 tỷ Mỹ kim.

Một câu hỏi là: Tiếp tục giảm thuế cả những người giầu nhất nước có hiệu quả kích thích trong lúc kinh tế suy yếu này hay không? Phần lớn số tiền thuế được giảm cho những người giầu nhất hưởng, họ có thêm tiền sẽ không đem ra tiêu pha ngay như những người nghèo hơn. Ngược lại, nếu thu thêm thuế của họ để có tiền trợ giúp các tiểu bang chi tiêu, bớt sa thải nhân viên; hoặc giúp các xí nghiệp tuyển thêm người, thì sẽ kích thích số tiêu thụ nhiều hơn. Tính ra, một đồng kích thích kinh tế có hiệu quả gấp 3 lần một đồng giảm thuế cho những người trong số 2% giầu nhất nước. Ðối với các doanh nghiệp nhỏ, hầu hết hiện nay không có lợi tức đủ để phải đóng thuế. Chỉ có 3% doanh nhân nhỏ kiếm được 250,000 đô la một năm trở lên thôi. Nếu tuyển nhân viên, tiền lương nhân viên sẽ giúp họ trừ vào lợi tức đóng thuế.

Cuộc tranh luận về thuế sẽ ngày càng ráo riết hơn trong những ngày gần tới lúc bỏ phiếu. Không nhà chính trị nào muốn bị mang tiếng là tăng thuế giới trung lưu. Không ai muốn bị coi là thủ phạm làm ngân sách khiếm hụt hơn. Ðảng Dân Chủ sẽ bị chỉ trích là tăng thuế trong lúc này sẽ làm kinh tế càng suy yếu. Ðảng Cộng Hòa sẽ bị chỉ trích là chỉ bảo vệ quyền lợi những người giầu. Lý luận nào sẽ chinh phục được nhiều người dân Mỹ, điều đó sẽ quyết định sang năm đảng nào sẽ chiếm đa số ở Quốc Hội.

Trong khi đó, ngày hôm qua, sau nhiều tháng bị trì hoãn, Thượng Viện đã đồng ý sẽ thông qua dự luật cấp 30 tỷ đô la tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ khó vay tiền, sau khi được hai nghị sĩ Cộng Hòa ủng hộ, không còn lo bị “filibuster.' Ðó là một tin mừng, vì các doanh nghiệp đó sẽ tuyển thêm người để hưởng trợ cấp. Có một tin kinh tế khích lệ khác, nói số thương vụ của các cửa hàng bán lẻ tăng thêm được 0.4% trong tháng 8, tỷ lệ tăng cao nhất trong 5 tháng qua. Tin mừng này hỗ trợ lời tỷ phú Warren Buffett tuyên bố ngày hôm trước, rằng ông tin kinh tế Mỹ sẽ chỉ có đi lên, không sắp bị suy thoái lần nữa như nhiều người lo ngại.

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Ông Vũ Hải Triều sẽ hối lỗi

Ngô Nhân Dụng
Một bạn từ trong nước báo tin cho biết: Nhà văn Ðào Hiếu bị xe tông. Mặc dầu ông Ðào Hiếu là một nhà văn rất nổi tiếng, nhưng một vụ đụng xe chắc không thể coi là một tin đặc biệt.

Vì xe cộ ở Việt Nam chạy như thế nào, ai cũng biết. Không, tin này quan trọng vì, người bạn nói thêm: Ðào Hiếu bị xe tông trong lúc ông đang đứng thơ thẩn ở trong sân nhà mình, tại Nha Trang. Chưa hết, chiếc xe nó chạy xồng xộc từ ngoài đường vào giữa sân, nhắm thẳng chỗ ông đứng mà tông, húc trúng phóc, cứ y như trong rạp xiếc ấy! Tôi đoán ông bạn này thêm thắt cho câu chuyện thêm ly kỳ. Nhưng một ông bạn khác xác nhận vụ đụng xe trong sân nhà này có thật. Nhà văn Ðào Hiếu phải vô bệnh viện; các chi tiết có thay đổi chút đỉnh nhưng rất nhiều người biết có tai nạn ấy và biết cả lý do. Họ bảo, tuy đang đứng trong sân nhà mình đấy, nhưng thực ra ông nhà văn Ðào Hiếu, tác giả tiểu thuyết Lạc Ðường, lúc nào cũng vẫn đi! Mà ông ta lại không theo đúng luật đi đường của nhà nước cộng sản, cho nên mới bị xe tông! Ý nói: Chẳng oan chút nào cả!

Nguyên do, vì Ðào Hiếu đã cho sống lại, tái sinh, trang mạng của ông mang tên “Lề Bên Trái.” Cái website này vốn không được các vị công an văn hóa ưa thích, họ đã nhiều lần nhắn bảo ông phải bỏ nó đi. Có lúc Ðào Hiếu chán quá, đã buông rồi. Nhưng độc giả khắp nơi họ kêu rêu, cho nên, gần đây ông cho mạng “Lề Bên Trái” sống lại. Ðược ít ngày thì xẩy ra tai nạn lưu thông. Ở Việt Nam tất cả các giống trâu bò đều biết phận, chúng chỉ đi bên phải thôi, các nhà văn đi lề bên trái rất nguy hiểm!

Thế đấy, ngày xưa Nguyễn Vĩ than với Trương Tửu: “Nhà văn An Nam khổ như chó.” Thời nay thì “Nhà văn An Nam khổ như bò!” Bởi vì có làm thân con bò mới bị người ta quất roi bắt đi theo một con đường nhất định, đi trệch ra ngoài một bước là bị xe đụng! Giáo Sư Ngô Bảo Châu mới nói với phóng viên Người Việt rằng mình là người thì phải có quyền tự do đi lại. Chỉ có bầy cừu mới để cho chúng nó bảo đi đâu thì cứ đó mà đi. May mắn ông Ngô Bảo Châu chỉ là một nhà toán học, không phải nhà văn. Và ông đang sống ở Mỹ chứ không ở Việt Nam. Xin chúc mừng ông đi đường được bình an và ngồi trong sân nhà cũng được bình an. Chưa thấy guồng máy công an Việt Cộng sang tới Mỹ hoạt động trong lãnh vực lưu thông!

Cái tội của Ðào Hiếu, như một nhà toán học trong nước giải thích, là nhà văn này đã làm cho số thống kê của cả ngành công an bị sai trật. Chỉ sai một con số thôi, nhưng cũng làm mất uy tín lãnh đạo, không tha thứ được.

Hồi đầu năm, Tướng Vũ Hải Triều, tổng cục phó Tổng Cục An Ninh mới báo cáo thành tích, là trong vòng dăm tháng giữa hai năm 2009 và 2010, cái cục lớn của ông đã phá sập 300 trang mạng và blog của dân chúng nước Việt Nam Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa! Ðó là một chiến công lẫy lừng, được gọi là một trận Ðiện Biên Phủ trên mạng, đánh thẳng vào các mạng dân chúng, lập công với Ðảng! Khi ông tướng công an nói “phá sập” thì không nhất thiết phải hiểu là các ông mất công phá bằng kỹ thuật điện tử với những cái máy vi tính. Một vụ đụng xe ngoài đường (hay suýt bị đụng xe có báo trước), cũng có thể gây tác dụng điện tử. Qua một đêm, sáng hôm sau một mạng lưới bỗng dưng tắt ngóm! Ðây là một kỹ thuật giản dị, thời ông Stalin đã áp dụng rồi. Không biết trong số 300 mạng mà Tướng Vũ Hải Triều khoe đã tiêu diệt, có bao nhiêu mạng chết vì bị đụng xe?

Trang nhà Lề Bên Trái của nhà văn Ðào Hiếu đã từng bị tắt ngóm như vậy, trong thời gian Tướng Vũ Hải Triều phấn đấu lập thành tích tiêu diệt 300 mạng, mạng lưới chứ chưa phải mạng người. Nay nếu ông Ðào Hiếu cho mạng Lề Bên Trái của ông hoạt động trở lại, thì số thống kê 300 mạng của Tổng Cục An Ninh sẽ tụt xuống chỉ còn 299 mà thôi, không còn là một số tròn nữa!

Cũng giống như nhật báo Người Việt làm mục “Mỗi ngày một con số,” các ông bà công an cũng rất thích nêu cao các con số thành tích. Thí dụ, 300 mạng bị đánh sập trong 5 tháng; 25 mạng (người) bị đụng xe trong một ngày; 5 thùng phân đã được đổ trước cửa nhà 3 tên trí thức phản động trong 3 ngày, vân vân. Mỗi con số là một thành tích báo công. Các chiến sĩ công an có nhiều nghề; có chiến sĩ vào Internet phá mạng lưới Mẹ Nấm, X-Cafe hoặc boxit.vn; trong khi chiến sĩ khác thì bưng thùng phân tới đổ trước nhà bà Trần Khải Thanh Thủy. Cả hai đều lập công với Ðảng như nhau! Làm cho một con số thống kê thành tích bị sai lệch, 300 giảm bớt còn 299 thôi, tức là phá hoại, âm mưu lật đổ chính quyền vô sản! Công an phải uốn nắn, giáo dục, cải tạo!

Sau khi rút kinh nghiệm, công an thấy đem phân tới đổ vào cửa nhà cũng không thể giáo dục, cải tạo được các nhà văn. Bà Trần Khải Thanh Thủy mỗi lần ra cửa thấy mùi lại kêu lên: Chúng nó đổ tư tưởng Hồ Chí Minh đầy cửa nhà tôi rồi! Nhưng bà vẫn chưa chịu cải tạo! Nhà văn rất khó thấm nhuần loại tư tưởng mà các đồng chí công an đem tới giúp đỡ uốn nắn họ! Cho nên bây giờ mới đổi mới, một chiếc xe chạy thẳng vào sân nhà người ta, tông trúng mục tiêu cần cải tạo. Kết quả, lập lại thành tích tiêu diệt 300 mạng và blog, không thiếu mạng nào.

Phải công nhận các nhà văn Việt Nam rất may mắn. Có thể nói, họ đã được chế độ nuông chiều. Họ chỉ bị đổ phân trước nhà hay bị xe tông ở trong sân. Nhiều người Việt Nam khác không may mắn, không được ưu đãi như vậy.

Như báo Người Việt mới đăng tin, nhiều thanh niên khỏe mạnh chỉ được mời đến “làm việc” với công an phường rồi bỗng đột ngột tự treo cổ chết trong đồn công an. Còn những vụ đột ngột treo cổ trong phòng giam, trong nhà xí, thậm chí dưới chân tường đồn công an thì nhiều vô kể. Phải coi là có một bệnh dịch treo cổ.

Chưa có một quốc gia nào lại có nhiều thanh niên đột ngột treo cổ trong đồn công an như thế. Thanh niên đột ngột treo cổ ở Bà Rịa, ở Bắc Giang, ở Ðắc Nông, ở Thanh Hóa, ở Quảng Nam, Hậu Giang, Ðồng Nai, vân vân. Ðọc danh sách trên nhật báo Người Việt hôm qua thấy kinh hoàng. Mà những người này không bị bắt vì phạm những tội lỗi nặng như ăn hối lộ hàng triệu đô la hoặc quản lý kinh doanh lỗ lã thiệt hại công quỹ hàng tỷ đô la. Những kẻ phạm những tội nặng đó mới đáng hối hận, tự tử (mai mốt chắc sẽ có). Phần lớn các thanh niên bị công an giữ chỉ vì ăn trộm vặt hay cãi cọ trong gia đình. Vậy thì tại sao họ lại đột ngột treo cổ? Tại sao vào trong đền công an thì những thanh niên này lại chán đời muốn chết?

Cách giải thích duy nhất là các chiến sĩ công an xã hội chủ nghĩa làm việc giỏi. Các thanh niên này chỉ ở trong đồn một ngày thôi cũng đủ tự thấy họ có tội, cho nên tự sát. Sẽ có ngày chúng ta đếm đủ con số thanh niên đột ngột treo cổ trong suốt những năm đảng cộng sản cai trị nước ta, đưa ra một con số để nêu cao thành tích của công an Việt Nam.

Ở nước ta, ngay thời Pháp thuộc cũng chưa bao giờ công an, mật thám lại làm việc giỏi như thế. Chắc hẳn không phải người mình tự nghĩ ra mà đây là một kỹ thuật các chiến sĩ công an đã theo gót Bác Hồ đi học hỏi ở Nga Xô đem về.

Nhưng ông Tướng Vũ Hải Triều có lúc cũng nên tự hỏi giết ba trăm mạng, dù chỉ là mạng Internet chứ không phải mạng người, có phải là tạo quá nhiều ác nghiệp hay không? Bởi vì trong thế giới bây giờ Internet là một dụng cụ rất quan trọng cho sự tiến bộ kinh tế. Giết mạng Internet cũng là giết những mầm mống cơ bản tạo nên cảnh kinh tế tiến bộ, văn hóa phong phú, và xã hội tự do. Ông Vũ Hải Triều có nghĩ sẽ đến ngày con cháu ông họ đọc lại tờ báo cũ, cũng tự hỏi ông cha chúng đã làm gì khiến cho nước Việt Nam chậm tiến, thua kém các nước lân bang hay không?

Ai cũng biết, các xã hội tiến bộ là vì tạo ra nhiều cơ hội trao đổi với nhau. Trao đổi nông sản, hàng hóa, rồi tới trao đổi sức người, dịch vụ; và sau cùng trao đổi đến hiểu biết và ý kiến. Nền kinh tế hiện đại dựa trên hiểu biết, gọi là kinh tế tri thức. Nhờ có trao đổi, kiến thức của người này gặp gỡ hiểu biết của người khác, chúng giao hòa, sanh ra những ý kiến mới. Tất cả đóng góp và bộ não chung của xã hội. Chính bộ não chung tiến bộ tạo ra kinh tế tiến bộ.

Khi kinh tế dựa trên tài nguyên, tư bản hay lao động, dựa trên năng lượng, thì còn có ngày lo tài nguyên thiên nhiên sẽ cạn, giếng dầu lửa, mỏ than đá cũng hết, sức lao động bị giới hạn. Nhưng khi nền kinh tế đặt trên việc khai thác các ý kiến, tri thức, thì cái nguồn cung cấp đó vô tận. Càng sử dụng nó lại càng nhiều thêm, giầu có hơn, sắc xảo hơn. Nhưng phải làm sao cho tri thức được kích thích, tự nó sinh ra, trao đổi với nhau, đẻ ra những tri thức mới. Phương tiện trao đổi tri thức và ý kiến hữu hiệu nhất hiện nay là internet. Ðó là bậc thang cần thiết để bước lên cảnh kinh tế phồn thịnh.

Internet không thể giúp gì được xã hội loài người nếu không được tự do trao đổi. Phải cho nó sống trong khung cảnh xã hội tự do. Ðó là lý do những thành công lớn gần đây nhất trong lãnh vực này, như eBay, Google, Facebook, vân vân, đều xuất phát từ nước Mỹ, nơi người ta dám thí nghiệm các ý kiến mới, không bao giờ phải lo nhìn trước ngó sau xem có được ai đó ở trên cho phép hay không! Ngăn cấm sinh hoạt trên Internet, phá hoại các blog, các trang mạng, tức là xâm phạm những quyền tự do căn bản vẫn giúp cho xã hội tiến bộ. Như Lê Phan viết trong Câu Chuyện Cuối Tuần vừa qua, quyền tự do phát biểu là quyền căn bản cho các quyền tự do dân chủ khác, thiếu nó thì không thực hiện được những quyền khác, không có dân chủ. Tự do trao đổi cũng là quyền căn bản cho việc phát triển kinh tế. Trong cuộc sống kinh tế tri thức bây giờ, tự do trao đổi ý kiến là nền tảng, thiếu internet thì kinh tế không tiến được.

Những người bênh vực việc phá hoại 300 mạng và blog sẽ nói rằng nhà nước và công an chỉ phá đổ những mạng xấu, những blog xấu mà thôi; không làm hại gì đến sự tiến bộ cả. Nhưng thế nào là xấu? Ai quyết định chỉ tiêu phân biệt xấu và tốt? Bênh vực công an như vậy là vẫn nghĩ rằng trong xã hội chỉ có nhà nước và công an của họ mới biết cái gì là tốt và cái gì là xấu cho anh, cho tôi; còn người dân thường như anh và tôi thì không biết gì đâu! Thử nhớ lại thời ông Stalin, ông Mao Trạch Ðông còn ngự trị; họ đều nhân danh một chủ nghĩa “nhà nước cha chú” như thế cả. Nhân dân cứ theo lệnh nhà nước như đàn cừu, vì chỉ có đảng và nhà nước biết cái gì là tốt nhất cho dân. Các ông đó có giúp cho xã hội tiến bộ hay không, hay chỉ gây cảnh trì trệ, bế tắc? Cuộc thí nghiệm cộng sản đã hoàn toàn thất bại, phải mở mắt ra chứ?

Cho nên, thế nào cũng có ngày ông Vũ Hải Triều sẽ hối lỗi có lúc đã ra tay phá hoại sự tiến bộ của dân tộc Việt Nam, phá tự nền tảng của tiến bộ, là những mạng lưới trao đổi ý kiến tự do và độc lập. Một mạng lưới như Lề Bên Trái của nhà văn Ðào Hiếu không gây tiếng xấu cho chế độ bằng một vụ ăn hối lộ của bọn Huỳnh Ngọc Sĩ; không thể gây oán hận trong lòng dân bằng một cái chết của anh Nguyễn Hữu Thiện, một thanh niên trai tráng (sinh năm 1990) “chết trong tư thế treo cổ trên trần nhà tạm giữ của công an huyện Trảng Bom” như báo Người Việt thuật ngày hôm qua. Phá hoại 300 mạng lưới không cứu cho chế độ sống lâu thêm được bao lâu, nhưng sẽ để tiếng nhơ muôn đời. Muôn đời người Việt Nam sẽ nhớ đến những các nhà thơ Hữu Loan, Phùng Quán, Nguyễn Chí Thiện, Ðặng Ðình Hưng, vân vân, và sẽ nguyền rủa cả chế độ đã hành hạ và cướp giật tự do của họ. Một Ðào Hiếu bị tai nạn nằm nhà thương, sẽ có hàng ngàn người khác quyết tâm tiến bước tự do không cần phải đi theo bên lề do công an chỉ định! Phải tỉnh ra chứ?

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Từ Bảo Ðại đến Hồ Chí Minh: Hai bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập

* Phạm Cao Dương

Image
Trong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập.
Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Ðế Bảo Ðại và lần thứ hai vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 bởi Chủ Tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh.
Cựu hòang Bảo Đại ( trái) tới Hà Nội, năm 1945 ( Hình : AFP/Getty Images )



Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết hay chỉ được học bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết hay không được học bản tuyên ngôn của Bảo Ðại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn. Bài này nhằm bổ khuyết cho tình trạng thiếu sót đó, đồng thời phân tích nội dung và ý nghĩa của từng bản.

Tuyên ngôn của Hoàng Ðế Bảo Ðại
Hoàn cảnh được công bố


Bản tuyên ngôn độc Lập của Hoàng Ðế Bảo Ðại được công bố ngày 11 tháng 3 năm 1945, hai ngày sau khi Nhật đảo chính Pháp ở Ðông Dương và sau một thời gian dài hơn bốn năm, từ tháng 9 năm 1940, sau khi quân Nhật vào phần đất này của Ðông Nam Á, gần năm tháng trước khi Nhật Bản đầu hàng và Thế Chiến Thứ Hai kết thúc. Trong thời gian này Việt Nam bị sống dưới sự cai trị của cả người Pháp, từ sau khi Hòa Ước 1884 được ký kết, lẫn người Nhật, từ ngày 22 tháng 9 năm 1940, với một hậu quả khủng khiếp là Trận Ðói Tháng Ba Năm Ất Dậu. Hoàn cảnh này đã làm cho không chỉ riêng những người Cộng Sản, vốn chủ trương đánh đổ chế độ quân chủ để cướp chính quyền (chữ của chính người Cộng Sản) để từ đó thực thi cách mạng vô sản mà luôn cả những người không những không có cảm tình với chế độ quân chủ đương thời mà còn chủ trương lật đổ chế độ này để thay thế bằng một chế độ dân chủ, không nhìn nhận giá trị đích thực của bản tuyên ngôn này. Lý do là vì Bảo Ðại luôn luôn bị coi như một ông vua bù nhìn, trước kia trong tay người Pháp và lúc đó trong tay người Nhật. Theo họ trước kia người Pháp bảo sao, ông làm vậy và sau đảo chính 9 tháng 3 năm 1945, người Nhật bảo ông tuyên bố độc lập thì ông tuyên bố độc lập, thế thôi. Người ta hiểu hay được học đơn giản như vậy. Nền độc lập mà Bảo Ðại tuyên bố theo họ chỉ là do người Nhật ban cho và bản tuyên ngôn của ông chẳng có một giá trị gì trong lịch sử đấu tranh giành độc lập của người Việt. Thực chất của nó chỉ là “sự tuyên bố công khai việc thay thầy đổi chủ của triều đình Bảo Ðại” (1) không hơn không kém. Sự thực không đơn giản như vậy. Người Nhật có lý do làm đảo chính lật đổ người Pháp và Bảo Ðại có lý do phải chấp nhận yêu cầu của người Nhật tuyên bố Việt Nam độc lập. Lý do của Bảo Ðại đã được ông giải thích khi tiếp kiến Trần Trọng Kim và cố gắng thuyết phục ông này chấp nhận làm thủ tướng đầu tiên của chính phủ Nam Triều độc lập. Nguyên văn câu nói của Bảo Ðại được Trần Trọng Kim kể lại như sau:

- “Trước kia nước Pháp giữ quyền bảo hộ nước ta, nay đã không giữ được nước cho ta, để quân Nhật đánh đổ, vậy những điều trong hiệp ước năm 1884 không có hiệu quả nữa, nên bộ thượng thư đã tuyên hủy hiệp ước ấy. Trẫm phải đứng vai chủ trương việc nước và lập chính phủ để đối phó mọi việc.” (2)

Người ta cần phải nhớ là hơn mười năm trước đó, sau khi du học từ Pháp về tới Huế được hai ngày, ngày tháng 10 tháng 9 năm 1932, Bảo Ðại đã ra Dụ số 1 tuyên bố chấp chính và khẳng định chế độ quân chủ của Nam Triều hủy bỏ Quy Ước 6 tháng 11 năm 1925 do Hội Ðồng Phụ Chính, đứng đầu là Tôn Thất Hân, ký với Toàn Quyền Ðông Dương thời ông còn nhỏ tuổi và đang du học bên Pháp, tước bỏ hầu hết các quyền hành còn lại của nhà vua trừ các quyền có tính cách nghi lễ, ân xá, sắc phong, tế lễ... kèm theo nhiều dụ khác nhằm thực hiện những cải cách qui mô trong nền hành chánh của chính phủ Nam Triều, nhưng đã bị người Pháp ngăn cản và bị thất bại. Ðảo chính 9 tháng 3 năm 1945 và lời yêu cầu tuyên bố độc lập của người Nhật dù gì đi chăng nữa cũng là điều vị hoàng đế còn trẻ tuổi từ lâu mong đợi. Ngoài ra theo nhận định và giải thích nhằm thúc đẩy Trần Trọng Kim chịu khó lập chính phủ mới. Ông nói:

- “Trước kia người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa phải độc lập hẳn, nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập. Nếu không có chính phủ thì người Nhật bảo mình bất lực, tất họ lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta. Vậy ông nên vì nghĩa vụ cố lập thành một chính phủ để lo việc nước.” (3)

Hai tiếng “cơ hội” Bảo Ðại dùng ở đây cho ta thấy ông từ lâu mong có dịp này. Ðồng thời ông cũng hiểu rằng nền độc lập mà ông tuyên cáo chưa phải độc lập hẳn. Chưa hết, tuyên bố rồi ông còn có nhu cầu phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập và nhất là để tránh không cho người Nhật “lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta.” (3) Một sự e ngại chỉ có những người có kiến thức về lịch sử và chính trị học mới biết được. Ngoài ra những tiếng “rất có hại cho nước ta” cũng cho người ta thấy đối tương của hành động tuyên cáo độc lập của ông không phải là ngôi vua mà là đất nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam, đất nước của ông và thần dân của ông. Cái nhìn và quan điểm này cũng như sự hiểu biết của ông về tình hình thế giới và thế thất bại của người Nhật về sau đã được ông nói rõ trong hồi ký của ông. Riêng đối với người Nhật, ông đã không tin tưởng ở họ cũng như chiêu bài Ðại Ðông Á của họ. Nói cách khác Bảo Ðại ở vị thế phải chấp nhận nhập cuộc dù ông hiểu rõ sự phức tạp của vấn đề. Phần khác như ông cũng nói tới trong hồi ký của ông: Ðộc lập là ước mơ của tất cả mọi người Việt Nam thời đó.

Nội dung bản Tuyên ngôn
Ðây là một bản văn tương đối ngắn so với những bản văn cùng loại, nhằm ba mục tiêu chính yếu là hủy bỏ một hòa ước Triều Ðình Huế đã ký với nước Pháp, tuyên bố Việt Nam độc lập, đứng vào khối Ðại Ðông Á trong chương trình phát triển chung, đồng thời bày tỏ sự tin tưởng vào lòng thành của nước Nhật với nguyên văn như sau:

- Cứ tình hình chung trong thiên hạ, tình thế riêng cõi Ðông Á, chính phủ Việt Nam tuyên bố từ ngày này điều ước bảo hộ với nước Pháp bãi bỏ và nước Nam khôi phục quyền độc lập.

- Nước Việt Nam sẽ gắng sức tự tiến triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập và theo như lời tuyên ngôn chung của Ðại Ðông Á, đem tài lực giúp cho cuộc thịnh vượng chung.

- Vậy chính phủ Việt Nam một lòng tin cậy lòng thành ở Nhật Bản đế quốc, quyết chí hợp tác với nước Nhật, đem hết tài sản trong nước để cho đạt được mục đích như trên. (4)

Bản tuyên bố được đề ngày 11 tháng 3 năm 1945 tức ngày 27 tháng 1 năm Bảo Ðại thứ 20 được Bảo Ðại ký tên với sáu thượng thư phó thự. Sáu vị thương thư gồm có: Phạm Quỳnh, bộ Lại, Hồ Ðắc Khải, bộ Hộ, Ưng Úy, bộ Lễ, Bùi Bằng Ðoàn, bộ Hình, Trần Thanh Ðạt, bộ Học, và Trương Như Ðịnh, bộ Công. Theo Bảo Ðại đây là lần đầu tiên trong lịch sử một văn kiện được ký bởi nhà vua và tất cả các nhân vật quan trọng nhất trong triều đình.

Ðọc bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập này của Bảo Ðại, người ta cần chú ý tới những chi tiết sau đây:

Thứ nhất: Gọi là tuyên ngôn nhưng thực sự đây chỉ là một văn kiện hủy bỏ một điều ước đã được ký kết trước đó vì do tình hình biến chuyển một trong hai phía đã không tôn trọng những gì mình đã ký kết hay không thực thi được những gì mình đã ký kết trong một sinh hoạt quốc tế. Ðiều ước bị hủy bỏ ở đây là Hòa Ước Giáp Thân được ký kết giữa Triều Ðình Huế và người Pháp ngày 6 tháng 6 năm 1884, đặc biệt hai điều khoản của hòa ước này là điều khoản thứ nhất, theo đó Việt Nam công nhận và chấp nhận Quyền Bảo Hộ của nước Pháp và điều khoản thứ mười lăm, theo đó nước Pháp cam kết bảo đảm sự toàn vẹn lãnh thổ của các xứ do vua Việt Nam cai trị và bảo vệ nhà vua chống lại những sự xâm nhập từ bên ngoài và những cuộc nổi loạn từ bên trong... (5). Sự hủy bỏ này phải được hiểu là do người Pháp bất lực không bảo vệ được Việt Nam trước sự bành trướng của quân đội Nhật và cuối cùng là chính người Pháp đã bị người Nhật lật đổ trong cuộc Ðảo Chính ngày 9 tháng 3 năm 1945. Sự hủy bỏ này cũng có tính cách đơn phương từ phía Bảo Ðại với tư cách là người kế vị chính thống của Triều Ðình Nhà Nguyễn căn cứ vào những gì đã xảy ra vào thời điểm này. Ðiểm cần được lưu ý ở đây là từ ngữ hòa ước trong văn kiện này được dùng theo số ít, trong tiếng Việt, không có chữ “các” hay “những” đi kèm và trong tiếng Pháp không có chữ “s” theo sau. Ðiều này có nghĩa là bản tuyên cáo chỉ hủy bỏ hòa ước bảo hộ tức Hòa Ước Giáp Thân 1884 mà thôi thay vì hủy bỏ tất cả các hòa ước đã được ký kết trước đó. Ðó là các Hòa Ước Nhâm Tuất 1862 và Hòa Ước Giáp Tuất 1874 liên hệ tới xứ Nam Kỳ theo đó xứ này đã bị nhường dứt cho người Pháp và trở thành thuộc địa của họ, không còn thuộc quyền cai trị của Vua và Triều Ðình Huế nữa. Vấn đề thâu hồi xứ Nam Kỳ do đó chưa được giải quyết ngay nhưng đã trở thành mối bận tâm và một phần hành quan trọng của chính Bảo Ðại ngay từ buổi nhà vua tiếp kiến Ðại Sứ Nhật Yokoyama và của Chính Phủ Trần Trọng Kim trong gần suốt thời gian chính phủ này tồn tại. Xứ Nam Kỳ chỉ được người Nhật trao trả trong những ngày cuối của chính phủ này và chỉ chính thức trở về với lãnh thổ quốc gia Việt Nam ngót năm năm sau, vào giữa tháng 6 năm 1949, và do Bảo Ðại với tư cách Quốc Trưởng tiếp nhận từ tay người Pháp. Ðây cũng là một sự kiện ít người biết đến.

Thứ hai: “Nước Việt Nam sẽ gắng sức tự tiến triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập... giúp cho cuộc thịnh vượng chung.” Câu này xác định phương thức hoạt động nhằm thực hiện tư cách độc lập (tự phát triển như một quốc gia độc lập không phụ thuộc vào nước ngoài cho xứng đáng một quốc gia độc lập) và thế đứng của Việt Nam trên trường quốc tế (tự coi mình là một phần tử Ðại Ðông Á, đem tài lực giúp cho cuộc thịnh vượng chung). Nên để tới khẩu hiệu Châu Á của Người Á do người Nhật đưa ra trong thời gian này, một khẩu hiệu hàm chứa sự độc lập của các nước Á Châu lúc đó còn là thuộc địa của các đế quốc Âu Châu. Ðây cũng là một cách nói trước một cách khéo léo để ngăn chặn trước sự can thiệp vào nội tình Việt Nam của người Nhật.

Thứ ba: “Chính phủ Việt Nam một lòng tin cậy lòng thành ở Nhật Bản đế quốc...” Câu này nhằm buộc chặt lời hứa của người Nhật bằng cách nhấn mạnh vào sự trung thành với những gì họ đã nói, với quan niệm trung thành như một truyền thống chung của các dân tộc Á Ðông.

Thứ tư: “Quyết chí hợp tác với nước Nhật đem hết tài sản trong nước để cho đạt được mục đích như trên.” Mục đích như trên là mục đích gì? Phải hiểu mục đích này bao gồm hai phần là “tự tiến triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập” và “giúp cho cuộc thịnh vương chung” như là một phần tử của khối Ðại Ðông Á.

Nói cách khác, đây là một bản văn tuy ngắn ngủi, cô đọng nhưng rất quan trọng vì nó vừa mang tính cách pháp lý, có liên hệ tới nhiều văn kiện ngoại giao khác đã được hình thành trước đó, vừa biểu lộ chủ trương của một quốc gia được trao trả độc lập trong một hoàn cảnh không nhận không được, vô cùng tế nhị và phức tạp vào lúc tình hình thế giới biến chuyển quá nhanh và hoàn toàn bất lợi cho quân đội và quốc gia đảm nhận sự trao trả nền độc lập này. Mỗi điều nói ra, mỗi chữ được viết đều đòi hỏi người soạn thảo phải vô cùng thận trong và ước tính kỹ càng.


Ai là tác giả của bản tuyên ngôn này?


Người được nói đến nhiều nhất là Phạm Quỳnh, lúc đó đang giữ chức thượng thư bộ lại. Ðiều này có nhiều phần đúng nếu người ta để ý tới khả năng nghị luận và viết văn, viết báo kèm theo sự hiểu biết và kinh nghiệm của một học giả, một người làm báo, và sau đó là một ngự tiền văn phòng tổng lý của nhà vua cũng như thượng thư bộ lại trước đó. Nó cũng được Phạm Khắc Hòe, đương thời là ngự tiền văn phòng tổng lý của Bảo Ðại, trong hồi ký của ông này xác nhận. (6 )

Bản tuyên ngôn của Chủ Tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh
Hoàn cảnh được công bố


Bản tuyên ngôn này đã được Hồ Chí Minh một mình soạn thảo, một mình đứng tên và đọc tại Quảng Trường Ba Ðình ở Hà Nội vào buổi chiều ngày 2 tháng 9 năm 1945, ngót năm tháng sau bản tuyên ngôn của Bảo Ðại, hơn hai tuần lễ sau khi Nhật Bản đầu hàng, mười ba ngày sau khi Việt Minh cướp được chính quyền ở Hà Nội và hai ngày sau khi Bảo Ðại chính thức thoái vị. Vì được công bố sau bản tuyên ngôn của Bảo Ðại, sau khi người Nhật đã đầu hàng cũng như chế độ bảo hộ của người Pháp đã bị người Nhật lật đổ trước đó, bản tuyên ngôn này đã bị nhiều người cho là thừa, không cần thiết, chưa kể tới sự kiện là chính phủ mới do Hồ Chí Minh thành lập là kế vị chính phủ Nam Triều do Bảo Ðại thoái vị nhường cho dựa theo chiếu thoái vị của Bảo Ðại. Chiếu này đã được Hồ Chí Minh và chính phủ mới của ông chấp nhận. Chính Phủ Lâm Thời của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trong những điều kiện này đương nhiên kế tục những gì Bảo Ðại và chính phủ Trần Trọng Kim đã làm trước đó, trong đó có Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập ngày 11 tháng 3 năm 1945. Lập luận như vậy là hoàn toàn hợp lý đứng trên phương diện công pháp quốc tế. Một lập luận đơn giản và hoàn toàn dễ hiểu.

Câu hỏi được đặt ra là Hồ Chí Minh, và những cộng sự viên của ông, khi đưa ra bản tuyên ngôn của mình có biết là trước đó Bảo Ðại đã làm công việc này rồi hay không? và biết như vậy tại sao ông lại còn làm lại việc đó một lần nữa? Cho câu hỏi thứ nhất, câu trả lời là chắc chắn có; Hồ Chí Minh chắn phải biết là Bảo Ðại trước đó đã tuyên cáo hủy bỏ hòa ước bảo hộ 1884 rồi. Nhưng ông vẫn làm lại công việc này vì ông có nhu cầu phải làm. Những nhu cầu đó là những nhu cầu gì? Thứ nhất là vì từ lâu toàn dân ai nấy đều khao khát được thấy nước nhà độc lập, đúng như Bảo Ðại đã viết trong hồi ký của ông, độc lập là ước mơ của mọi người dân Việt (7), cũng như nó được phản ảnh ở khắp nước ngay trước và sau ngày 2 tháng 9 năm 1945. Nói tới độc lập vào lúc đó là gõ đúng tần số của bất cứ một người dân Việt Nam nào từ đó đem lại công lao và thanh thế cho người chính thức công bố ra điều đó. Thứ hai là cho tới ngày 2 tháng 9 năm 1945, cái tên Hồ Chí Minh hoàn toàn xa lạ ở trong nước cũng như ở ngoài nước. Võ Nguyên Giáp, một trong những cộng sự viên thân cận nhất của Hồ Chí Minh trong thời gian này, đã viết trong hồi ký của mình rằng: “Ba tiếng Hồ Chí Minh không bao lâu đã vang đi khắp thế giới với những truyền thuyết mà người ta thường dành cho các bậc vĩ nhân. Nhưng vào ngày hôm ấy, cái tên mới của Bác vẫn còn mới lạ với nhiều đồng bào. Số người biết Bác chính là đồng chí Nguyễn Ái Quốc khi đó không nhiều.” (8 )

Ngay vua Bảo Ðại ngày 23 tháng 8 năm 1945, khi nhận được điện tín của của các ông Nguyễn Xiển, Nguyên Văn Huyên, Ngụy Như Kon-Tum và Hồ Hữu Tường nhân danh Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng, yêu cầu nhà vua thoái vị nhường quyền lãnh đạo quốc gia cho Chính Phủ Nhân Dân Cách Mạng với chủ tịch là “Cụ Hồ Chí Minh” đã không biết Hồ Chí Minh là ai. Còn Phạm Khắc Hòe, người được Việt Minh gài vào cạnh nhà vua cũng không biết nốt, phải chạy đi hỏi Tôn Quang Phiệt, một đảng viên Cộng Sản, rồi Ðào Duy Anh nhưng Tôn Quang Phiệt đi vắng và Ðào Duy Anh lục lọi, truy tìm các tài liệu, sách vở ông có nhưng cũng không ra tên này. Cuối cùng Vũ Văn Hiền, ở Bắc về mới xác nhận Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc. (9)

Tuyên bố Việt Nam độc lập đối với Hồ Chi Minh vào thời điểm này do đó là cách tự giới thiệu mình tốt nhất và hữu hiệu nhất vói toàn thể đồng bào và để được nhìn và được chấp nhận như là lãnh tụ đầu tiên đã mang lại được độc lập cho tổ quốc và cho toàn dân Việt Nam, một nhu cầu tối cần thiết, dầu rằng nền độc lập này hoàn toàn không phải do ông hay do Mặt Trận Việt Minh tạo ra mà là do những biến cố khác của lịch sử, trong đó quan trọng nhất là Ðảo Chính 9 tháng 3 năm 1945, trong đó người Nhật đã loại bỏ người Pháp, kèm theo là bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập của Hoàng Ðế Bảo Ðại nói trên, và cuối cùng là sự bại trận sau này của người Nhật. Chúng ta cũng cần để ý là đối với đa số người Việt Nam thời đó, ngày 2 tháng 9 là Ngày Ðộc Lập, đúng như Nguyễn Hữu Ðang, người được Hồ Chí Minh chỉ định tổ chức ngày này, gọi qua các văn thư chính thức ông đã gửi cho các cơ quan liên hệ, trong đó có thư gửi cho Thị Trưởng Hà Nội (10) và theo bìa in bản tuyên ngôn của bản đầu tiên năm 1945, do Chủ Tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Hồ Chí Minh đọc trong Ngày Ðộc Lập.” (11)

Nhưng đối với Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 còn có một ý nghĩa quan trọng hơn nữa. Ðó là “ngày khép lại cuộc Cách Mạng Tháng Tám, và khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa,” theo lời ông nói với Nguyễn Hữu Ðang, “Chú phải nhớ... (12).” Tại sao vậy? Tại vì Hồ Chí Minh phải làm chuyện này trước khi quân Ðồng Minh kéo vô Việt Nam, đặc biệt là thủ đô Hà Nội, nhằm đặt họ trước một sự đã rồi, không thể đảo ngược được... Sự kiện vua Bảo Ðại thoái vị được nhắc tới và câu “Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng, kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp” là nhằm vào mục tiêu này.

Nội dung bản Tuyên Ngôn
Bản Tuyên Ngôn Ðộc lập của Hồ Chí Minh, vì được phổ biến rộng rãi và hầu như được coi là duy nhất gắn liền với ngày 2 tháng 9, ngày Quốc Khánh của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa r ồi Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, nên đã được nhiều người đọc, phân tích và tìm hiểu. Trong phần này người viết chỉ nêu lên những gì ít được mọi người nhắc hay để ý đến.

Trong khi Tuyên Cáo của Bảo Ðại đơn giản chỉ là một bản văn thuần túy pháp lý nhằm hủy bỏ hòa ước bảo hộ mà triều đình Huế đã ký trước đó căn cứ vào sự bất lực của người Pháp, vì người Pháp đã không giữ được cam kết ghi trong điều khoản thứ nhất và điều khoản thứ mười lăm của hòa ước này, mà không nhằm vào một đối tượng-quần chúng hay quốc tế, thì bản Tuyên Ngôn của Hồ Chí Minh nhằm vào toàn thể người Việt qua lời mở đầu “Hỡi đồng bào cả nước...” Tuy nhiên ở những đoạn cuối tác giả lại nhắm vào các nước Ðồng Minh. Ðiều này phải tinh ý người ta mới nhận ra được. Về tư cách, Bảo Ðại nhân danh Hoàng Ðế Việt Nam, người đứng đầu của một quốc gia độc lập đã tồn tại từ trước khi người Pháp xâm lăng và là người kế thừa chính thống của các vua Nhà Nguyễn, thì Hồ Chí Minh đã nhân danh “Lâm Thời Chính Phủ của nước Việt Nam mới.” Mới là vì đến ngày đó chính phủ này mới chính thức được ra mắt trước quốc dân. Lời văn do đó phản ảnh hai tư cách của hai bản chất con người khác nhau. Một người là hoàng đế kế thừa chính thống của một triều đại đã trị vì một quốc gia từ hơn một trăm năm trước dù cho là chỉ còn hư vị; người kia là lãnh tụ của một phong trào cách mạng vừa chủ trương chống Pháp, vừa chủ trương chống Nhật và lật đổ chế độ quân chủ để giành chính quyền. Văn phong trong bản tuyên ngôn của Bảo Ðại là văn phong bình thường của người cầm quyền; còn văn phong của Hồ Chí Minh mang tính cách kêu gọi và ở một mức độ nào đó có tính cách bình dân, kể lể dài dòng và nhất là sách động.

Mở đầu cho bản tuyên ngôn, Hồ Chí Minh đã trích dẫn một số câu trong phần đầu của Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập của người Mỹ và một câu trong Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách Mạng Pháp. Sự trích dẫn này, vào lúc mà sự hiểu biết của quần chúng Việt Nam còn thấp kém, đặc biệt là về lịch sử Hoa Kỳ và thế giới, chắc chắn không nhằm vào quần chúng người Việt mà nhằm vào người Mỹ và người Pháp. Lý do là Hồ Chí Minh như là một đảng viên Cộng Sản Quốc Tế chắc chắn đã hiểu hơn ai hết là người Mỹ vào thời điểm này đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong chính tình ở Á Châu, trong đó có Việt Nam. Ðược người Mỹ công nhận là coi như làm chủ được chính quyền. Hiểu được như vậy, ngay từ khi còn ở chiến khu Hồ Chí Minh khi tiếp xúc với người Mỹ đã yêu cầu họ cung cấp cho ông một bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập của nước Mỹ, đồng thời nói về lịch sử nước Mỹ như là một cách để chinh phục cảm tình của họ. Cũng vậy, với những gì chứa đựng trong bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của người Pháp. Có điều sự trích dẫn này chỉ nhằm mục tiêu lôi cuốn sự chú ý và cảm tình của người Mỹ mà thôi. Hồ Chí Minh không cần đi xa hơn nữa và rất có thể ông cũng không hiểu rõ hơn hay cố tình không hiểu sự khác biệt trong quá trình giành độc lập của mười ba thuộc địa của người Mỹ vào cuối thế kỷ XVIII và của nước Việt Nam thời ông. Vì vậy ông đã áp dụng quan điểm của người Mỹ về quyền bình đẳng, quyền được sống tự do và mưu cầu hạnh phúc của mọi-người -như-là-những-cá-nhân vào trường hợp Việt Nam như một-quốc-gia đòi quyền độc lập một cách gượng ép hay ít ra là suy luận theo quan điểm chủ quan của mình với dụng ý riêng của mình. Cũng vậy với những gì ông trích dẫn từ bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách Mạng Pháp.

Phần kế tiếp, Hồ Chí Minh lên án người Pháp và người Nhật, đồng thời ông kể công cho Việt Minh: “Trước ngày mồng 9 tháng 3, đã bao lần Việt minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật...,” sau đó “đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ” và kết luận rằng “Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.” Ðiều như người viết đã nói ở trên là không đúng sự thật. Sự thật là Chính Phủ Bảo Ðại-Trần Trọng Kim đã lấy lại được toàn thể nước Việt Nam từ trước khi người Nhật đầu hàng kể cả lấy lại xứ Nam Kỳ và Việt Minh đã cướp chính quyền từ trong tay của chính phủ Bảo Ðại-Trần Trọng Kim trong những ngày 17 và 19 tháng 8 năm 1945 sau đó. Lý do là vì Việt Minh “đã có đường riêng của họ rồi,” nói theo Phan Anh, bộ trưởng Thanh Niên trong chính phủ Trần Trọng Kim và sau này là bộ trưởng Bộ Quốc Phòng trong Chính Phủ Liên Hiệp của Hồ Chí Minh.

Trong những đoạn này Hồ Chí Minh đã dùng các từ ngữ ta hay “dân ta” hay “đất nước ta,” nhưng mục đích không nhằm vào người Việt Nam mà vào người Pháp.

Phần cuối cùng của bản văn, từ “Bởi thế cho nên...” cho đến hết, lời văn cho người ta thấy Hồ Chí Minh không hướng về người Việt mà về cả thế giới. Trong phần này ông xưng là “chúng tôi, Lâm thời Chính phủ, đại biểu cho toàn dân Việt Nam” để tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, kêu gọi các nước Ðồng Minh công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam... Phần này Hồ Chí Minh thay vì quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của mọi-người-như-những-cá-nhân do Tạo Hóa ban cho, những quyền phải hiểu là tự nhiên ai cũng có, đã nói về quyền hưởng tự do và độc lập của- cả-nước-Việt-Nam. Ðiều này hoàn toàn không đúng với tinh thần của bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập của Người Mỹ và nhất là của bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách Mạng Pháp mà danh xưng của nó đã nói lên một cách rõ ràng: Nhân Quyền và Dân Quyền, không thể hiểu sai được. Ðộc lập không phải luôn luôn đồng nghĩa với tự do, dân quyền và nhân quyền. Không những thế, thay vì coi những quyền này là do Tạo Hóa ban cho, Hồ Chí Minh lại lý luận là vì dân tộc Việt Nam là “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Ðồng Minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc ấy phải được độc lập!”

Lý luận như vậy người ta phải hiểu, theo Hồ Chí Minh, rằng những dân tộc không gan góc chống lại những thế lực đè nén, áp bức mình và không gan góc đứng về phe Ðồng Minh, chống phát-xít là không đáng được tự do, độc lập. Cũng vậy, với các quyền độc lập, tự do và mưu cầu hạnh phúc của con người như là những cá nhân trong xã hội. Chính vì vậy Luật Sư Trần thanh Hiệp, khi được Ðài Á Châu Tự Do phỏng vấn ngày 2 tháng 9 năm 2007, đã có lý khi ông gọi bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh này là một bản tuyên ngôn phi nhân quyền, (13) dù cho là nó đã được chính tác giả của nó trích dẫn và soạn thảo theo của bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách mạng Pháp. Nhưng dù nói thế này hay thế khác sự kiện này đã phản ảnh chủ trương cách mạng bạo lực của những người Cộng Sản mà Hồ Chí Minh ở đây là một trường hợp điển hình.

Người ta có thể giải thích sự thiếu rõ ràng trong bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập của Hồ Chí Minh kể trên là do nó đã được soạn thảo trong một thời gian quá ngắn và trong tình trạng tác giả của nó còn phải bận rộn với nhiều vấn đề cấp bách khác. Ðiều này không đúng vì trước đó từ lâu, khi tiếp xúc với một sĩ quan người Mỹ, Hồ Chí Minh đã xin một bản tuyên ngôn nhân quyền của người Mỹ rồi. Nói cách khác, Hồ Chí Minh đã nghĩ tới và đã thai nghén bản tuyên ngôn của ông từ lâu chứ không phải chỉ ít ngày trước ngày 2 tháng 9 năm 1945. Do đó những gì ông nói tới, những từ ngữ ông dùng đều được cân nhắc kỹ càng và đều có dụng ý riêng với những mục tiêu riêng mà chỉ sau này phải phân tích kỹ, đối chiếu kỹ và có thể sau này khi mọi việc liên hệ đã xảy ra rồi, người ta mới có thể hiểu được.

Phạm Cao Dương

Chú thích:

(1) Dương Trung Quốc. Việt Nam: Những Sự Kiện Lịch Sử (1919-1945). Hà Nội: Nhà Xuất Bản Giáo Dục, 202.tr. 388.

(2) Lệ Thần Trần Trọng Kim. Một Cơn Gió Bụi (Kiến Văn Lục). Saigon, Nhà Xuất Bản Vĩnh Sơn, 1969. tr. 49.

(3) - nt - , tr. 51.

(4) Dương Trung Quốc, Việt Nam... tr. 388; Nguyễn Vỹ. Tuấn, Chàng Trai Nước Việt (Chứng Tích Thời Ðại Từ 1900 đến 1970, Quyển II. Saigon, ? , 1970. Fort Smith, AR tái bản ở Hoa Kỳ, ?. tr. 512.; S.M. Bao Dai. Le Dragon d'Annam. Paris, Plon. 1990. Cameron, Allan W. Viet-Nam Crisis, A Documentary History, Volume I: 1940-1956. Ithaca, N.Y. Cornell University Press, 1971.. tr. 31-32. Hai bản tiếng Việt in trong tác phẩm của Dương Trung Quốc và tác phẩm của Nguyễn Vỹ hơi khác nhau về ngôn từ nhưng hoàn giống nhau về nội dung. David G. Marr trong Vietnam 1945, The quest for Power (Berkeley, University of California Press, 1995, tr. 71) có nói tới các bản tiếng Việt và tiếng Pháp ở văn khố Pháp và bản đăng trên tờ Dân Báo, ngày 12 tháng Ba. Vũ Ngự Chiêu cũng nói tới tờ Tin Mới, nhưng nhất thời người viết bài này chưa đến được các nơi cần đến để tìm kiếm.

(5) Taboulet, Georges. La Geste Francaise en Indochine,Histoire par les textes de la France en Indochine des origines 1914, tome II, Paris, Adfrien - Maisonneuve, 1956. tr. 809 - 812; Phan Khoang, Việt Nam Pháp Thuộc Sử, 1884 - 1945.Saigon, ? ,1961. Tái bản ở Hoa Kỳ. tr. 322 - 328.

(6) Phạm Khắc Hòe, Từ Triều Ðình Huế Ðến Chiến Khu Việt Bắc. Huế, Thuận Hóa, 1987, tr. 16.

(7) Bảo Ðại, Le Dragon d'Annam, đã dẫn, tr. 103.

(8) Võ Nguyên Giáp, “Những Năm Tháng Không Thể Nào Quên,” trong Tổng Tập Hồi Ký. Hà Nội, Nhà Xuất Bản Quân Ðội Nhân Dân, 206, tr.. 255.

(9) Phạm Khắc Hòe, Từ Triều Ðình Huế..., tr. 76.

(10) Phùng Quán, Ba Phút Sự Thật. Thành Phố Hồ Chí Minh, Nhà Xuất Bản Văn Nghệ, 2006, tr. 114 - 115.

(11) Hồ Chí Minh, Tuyên Ngôn Ðộc Lập Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Hà Nội, Nhà Xuất Bản Sự Thật, 1976, tr.13. Nguyễn Khánh Toàn và Lữ Huy Nguyên, Tổng Tập Văn Học Việt Nam, Tập 36. Hà Nội, 1980. tr. 812 - 823.

(13) Trần Thanh Hiệp và Trương Giang, “Một Bản Tuyên Ngôn Phi Nhân Quyền,” trên Nhật Báo Người Việt, số 7940, ngày Thứ Hai, 3 tháng 9 năm 2007.

TuanAnh
Posts: 329
Joined: Sat Jan 30, 2010 3:44 am

Post by TuanAnh »

XIN ĐỪNG XUẤT CẢNG NỀN GIÁO DỤC XHCN

Nguyễn Phúc Bảo Ân
Trong mọi xã hội, giáo dục đóng một vai trò hết sức quan trọng: Là cơ sở đào luyện con người về nhân cách và tri thức. Tri thức hậu thuẫn cho nhân cách để tránh cho con người khỏi bị lợi dụng vào những mục đích bất thiện hoặc phi nhân bản, đồng thời nhân cách cũng trợ giúp biến tri thức của con người trở thành những phát minh, những công trình, hữu ích cho cuộc sống và cũng tạo môi trường cho con người gần gũi nhau hơn, bởi trong thế giới loài người dù phát triển ở mức độ nào, mọi sinh hoạt của họ đều có tính hổ tương lẫn nhau.

Chế độ cộng sản không coi giáo dục là nền tảng quan trọng của xã hội với mục tiêu đào luyên con người về cả nhân cách lẫn tri thức mà chỉ nhằm đào tạo họ thành những con người chỉ biết cúi đầu tuân phục, biết hô khẩu hiệu và biết dối trá một cách có hệ thống, biết đánh lừa người khác và biết đánh lừa luôn cả nhận thức của bản thân, vì lẽ này mà trong các xã hội do cộng sản cai trị không thể có những công dân đích thực mà chỉ có những thần dân như những con rối không hơn không kém mà thôi.

Từ năm 1945 ở miền Bắc và sau năm 1975 ở miền Nam, nhiều thầy cô giáo giàu lòng tự trọng đã mạnh dạn rời khỏi bục giảng, chấp nhận mưu sinh bằng tất cả mọi việc làm nặng nhọc và bần hèn nhất trong xã hội, bởi chính cái sỹ của những kẻ sỹ đã không cho phép họ phủ nhận chân lý, bóp méo sự thật, bôi đen hay tô hồng cho lịch sử để tào tạo thế hệ trẻ thành những con rối, những thần dân chỉ biết cúi đầu tuân phục. Một số khác vì sự sống còn của bản thân và gia đình mà chấp nhận uốn lưỡi mình để nói theo chủ trương đường lối của đảng dù từ sâu thẳm trong nhân thức của cá nhân, họ hiểu rằng họ đang dối trá, họ đang đánh lừa lương tri của họ và đang nói hoàn toàn dối trá với các thế hệ đàn em, thế hệ cháu con, bởi đảng và nhà nước đang cho họ bước đi trong một hành lang thật thấp, thật hẹp, họ không thể ngẩng đầu, cũng không thể quay trái, ngoảnh phải, bởi chính từ các buổi “quán triệt” nghị quyết của cấp trên đảng và nhà nước vẫn luôn nhắc nhở họ rằng “sách giáo khoa là pháp lệnh!”

Bởi thực tế này khiến gần 50 năm theo đảng, để đến những ngày tháng cuối đời, tướng Trần Độ phải ngậm ngùi và uất nghẹn nói ra những tâm tư của mình liên quan đến vấn nạn giáo dục ở quê nhà rằng: “Bộ máy quản lý xã hội đã thực hiện một nguyên tắc chuyên chính tàn bạo hơn tất cả các thứ chuyên chính. Đó là chuyên chính tư tưởng, được thực hiện bởi một đội ngũ nòng cốt là “những lưu manh tư tưởng”. Nền chuyên chính tư tưởng định ra những điều luật tàn khốc để bóp nghẹt mọi suy nghĩ, mọi tiếng nói. Nó làm cho tất cả trí thức không dám suy nghĩ gì, hay ít nhất cũng không muốn suy nghĩ. Từ đó làm tê liệt toàn bộ đời sống tinh thần của dân tộc và biến họ trở thành những con rối, chỉ biết nhai như vẹt những nguyên lý bảo thủ giáo điều. Nó cũng làm cho nền giáo dục khô cứng, làm cho các hoạt động văn học nghệ thuật nghèo nàn, mất hết cơ hội sáng tạo và mất hết cảm hứng. Nó cũng làm cho các hoạt động khoa học bị khô cứng và nô dịch. Nó tạo ra và nó bắt buộc nhân dân phải có một tâm lý lệ thuộc đảng, lệ thuộc nhà nước, lệ thuộc cán bộ, và một tâm lý phải tuân phục, kể cả người cao nhất cũng phải tuân phục vào một cái gì bí và hiểm. Nói chung, nền chuyên chính tư tưởng hiện nay ở Việt Nam là một tổng hợp các tội ác ghê tởm của Tần Thủy Hoàng cùng các vua quan tàn bạo của Trung Hoa phong kiến, cộng với tội ác của các chế độ độc tài phát xít. Nó tàn phá cả một dân tộc, hủy hoại tinh anh của nhiều thế hệ. Suy cho cùng, đó là tội nặng nhất về sự vi phạm nhân quyền. Vì không phải nó chỉ xâm phạm đến quyền sống của con người, mà nó còn hủy hoại đời sống tinh thần, đời sống tư tưởng của cả một dân tộc. Nó đang làm hại cả một nòi giống”.

Từ sau khi cướp chính quyền từ tay thực dân Pháp năm 1945 cũng như sau khi cưỡng chiếm hoàn toàn Miền Nam vào tháng 4 năm 1975, chính sách giáo dục của lãnh đạo Cộng sản Việt nam trên toàn cõi Việt Nam là nhằm mục tiêu phục vụ chính trị, nhằm đào tạo những thế hệ thần dân để tuân phục họ, trong khi dối trá ích kỷ với mọi người chung quanh. Giáo dục, chẵng những không giúp tuổi trẻ khai phá óc sáng tạo, trái lại chính sách của chế độ đã bịt mắt bịt tai bịt miệng tuổi trẻ và mọi người, đồng thời trừng phạt những ai suy nghĩ khác, làm khác, nói khác với những gì đảng dạy. Nói chung, để giữ vững vai trò độc tôn lãnh đạo của đảng, nhà nước cộng sản Việt nam đã và đang áp đặt lên xã hội một hệ thống giáo dục giáo điều cho cả người dạy và người học mà để tồn tại, để được trọng dụng thì cả người dạy và người học phải nhất nhất tuân theo cho dù những điều họ phải nghe, phải nói, phải nhìn là dối trá, là bịp bợm, là ngược hẳn với các quy luật của tự nhiên và trái hẵn với chân lý, với sự thật. Hệ lụy của hệ thống giáo dục giáo điều này mà theo tài liệu của một nhà giáo dục trong nước, tiến sỹ Bửu Sao thì:

“Hiện nay, trong cả nước, hệ giáo dục trung học, gồm cả hai bậc trung học cơ sở và trung học phổ thông có khoảng 17.600.000 học sinh. Đa số trong số hơn 17 triệu học sinh này có trình độ rất thấp về kiến thức xã hội, kỹ năng thực hành, và vận dụng kiến thức trong tinh thần sáng tạo. Đội ngũ giáo viên giáo sư trong tình trạng vừa thiếu lại vừa thừa, thiếu về số lượng và thừa vì trình độ thấp nên không sử dụng được bao nhiêu. Giáo dục trung học chuyên nghiệp, có 1.500.000 học sinh. Kiến thức chuyên nghiệp không cao so với đòi hỏi của thị trường lao động. Trong hằng chục năm qua đã đào tạo được khoảng 1.500.000 chuyên viên, nhưng khả năng của họ không thích ứng với nhu cầu việc làm, đã dẫn đến tình trạng “thầy không phải thầy mà thợ cũng chưa phải thợ”, họ đành phải làm những công việc không phải là những gì mà họ đã học mấy năm trong trường. Giáo dục bậc đại học, có 1.030.000 sinh viên. Số lượng giáo sư vào khoảng 40.000 nhưng trình độ còn thấp, chỉ khoảng 45% có trình độ thạc sĩ mà đa số trong số này đều cao tuổi. Cơ sở vật chất nghèo nàn chất lượng giáo dục thấp. Tình trạng “học thì giả mà bằng thì thật” khá phổ biến trong xã hội Việt Nam ngày nay. Trong mấy chục năm qua, lãnh đạo đảng với lãnh đạo nhà nước xem Giáo sư với Phó Giáo sư đại học là “học hàm” do nhà nước phong, chớ không phải tước vị của người giảng dạy có trình độ đại học trở lên. Muốn được nhà nước phong chức “học hàm” này, cho dù có mấy cái bằng đại học đi nữa mà không có bằng chính trị do Học Viện Chính Trị Quốc Gia cấp, vẫn không được phong chức vị đó!”.

Cũng theo Tiến sỹ Bửu Sao: “Việt nam hiện nay có khoảng 6.384 Giáo sư và Phó Giáo sư, mà một số đáng kể trong số này không đọc được một tờ báo ngoại ngữ. Thêm nữa, có khoảng 75% số nhân sỹ có học hàm giáo sư và phó giáo sư này lại không giảng dạy trong ngành giáo dục, trong khi ngành này chưa bao giờ đủ giáo sư. Hiện thời Việt nam đang có khoảng 20.000 thạc sĩ, và dự tính đến năm 2010 sẽ tăng lên 38.000 thạc sĩ và 15.000 tiến sĩ. Xem ra bằng cấp đại học và trên đại học khá nhiều, nhưng đa số là bằng cấp giả, hoặc những bằng cấp loại đặc cách, hữu nghị với vài năm đại học là có bằng tiến sĩ.

Một điển hình cho nhận định này đó là giáo sư Cao Xuân Hạo, khi làm phản biện cho một luận án tiến sĩ ngôn ngữ học dài 380 trang, trong tờ trình lên Bộ Giáo Dục, có đoạn ông viết: “Là tiến sỹ phải hơn một học sinh trung học. Nghiên cứu sinh này không bằng một học sinh lớp 3 thì làm sao trở thành một tiến sỹ?” Thế nhưng Bộ Giáo Dục vẫn cho nghiên cứu sinh này bảo vệ luận án, và Bộ cử 3 vị gọi là trong làng “ngôn ngữ học” vào Hội Đồng Phản Biện, kèm theo cái lệnh “bằng mọi cách phải giúp nghiên cứu sinh đó có bằng tiến sỹ!”

Khi nói về những trường hợp đặc cách, hữu nghị cho những học hàm, học vị này, tiến sỹ Dương Thiệu Tống, giảng dạy tại trường đại học Bách Khoa Hà Nội, mỉa mai rằng: “Thật ngược đời, khi có những người không có trình độ về chuyên môn lẫn đạo đức lại được cử vào Hội Đồng Phản Biện, còn người không có trình độ trung học lại có bằng tiến sĩ”.

Cũng bởi chính sách giáo dục giáo điều nhằm đào tạo con người thành những con rối, những thần dân hơn là đào luyện công dân này mà xã hội Việt nam đã băng hoại đến mức không còn có thể băng hoại hơn được nữa, từ những bảo mẫu trong các nhà trẻ mẫu giáo dùng nhục hình với trẻ thơ ở Biên Hòa Đồng Nai, cho đến công an tra tấn học sinh lớp 4 ở Châu Thành Đồng Tháp vì bị giáo viên chủ nhiệm nghi học sinh này đánh cắp 47 ngàn đồng tiền quỹ lớp. Từ các học sinh ở Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà nội đâm chết cô giáo ngay trên giảng đường và ở Cái Bè Tiền Giang đâm trọng thương thầy cô giáo ngay trong giờ học cho đến sinh viên ở Đại Học Nông Lâm, Sài gòn đâm chết thầy giáo, từ phó chủ nhiệm khoa ở trường cao đẳng phát thanh truyền hình ở Nam Hà gạ tình sinh viên để đổi diểm thi tốt nghiệp cho đến hiệu trưởng trường trung học Việt Lâm, Vị Xuyên Hà Giang đã mua trinh hàng chục học sinh tiểu học… và còn nhiều nhiều nữa, còn vô số nữa những hành vi vô đạo, trụy lạc, suy đồi của thầy cô giáo và sinh viên học sinh trong các cơ sơ giáo dục ở Việt nam cho thấy rằng lời tiên báo của cụ Tú Xương nay đã trở thành hiện thực: “Sự học ngày nay đã hỏng rồi….”.

Với chính sách giáo dục bưng tai bịt mắt của đảng, những thầy cô giáo ở Việt nam không còn là những nhà mô phạm, những gương vàng thước ngọc như ngày xưa nữa, học sinh sinh viên cũng không còn là những sỹ tử, những thầy khóa dung dị mà đạo mạo của ngày nào nữa rồi và theo đó, những ý niệm mới cũng xuất hiện để thay cho những ý niệm xưa cũ lạc hậu như là tàn dư của nền giáo dục phong kiến, chẳng hạn, những nhà mô phạm ở Việt nam hiện nay được hiểu là những con người mà “ở bất cứ chổ mô cũng phạm” hay sư phạm là một ngành học đào tạo ra những con người “ăn như sư và ở như phạm”…

Ấy vậy mà gần đây đảng và nhà nước Việt nam có chủ trương xuất cảng giáo dục sang các nước phương tây nơi có đông đảo các cộng đồng người Việt đang sinh sống để thông qua dạy chữ mà dạy cho con em người Việt hải ngoại thành những thần dân chỉ biết tuân phục đảng và bác, biết dối trá, bịp bợm, biết đâm chém thầy cô giáo, biết dùng nhục hình với học sinh, biết gạ tình sinh viên để đổi lấy điểm thi, biết mua bán trinh tiết học sinh tiểu học. Hay bằng chính sách xuất cảng giáo dục này, đảng và nhà nước chỉ đơn thuần để vươn vòi bạch tuộc ra hải ngoại để truyền bá tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh để đào tạo con em người Việt hải ngoại thành những thần dân kệch cỡm biết dùng nhiều bút danh bút hiệu khác nhau để tự đánh bóng cho mình, biết tự tôn mình lên thành bậc “Cha già dân tộc”, biết dùng xảo ngôn để có thể đi qua đời hàng trăm thiếu nữ, để có đến hàng chục đứa con rớt con rơi và rồi cũng biết cách để không thừa nhận chúng…

Ôi đảng ơi, chính sách giáo dục của đảng áp dụng trên đất nước này mấy chục năm qua đã làm băng hoại cả xã hội Việt nam này rồi, hãy có ngay những giải pháp nào thật hữu hiệu cho cái thực trạng đau thương này đi để còn kịp cứu lấy giống nòi. Con em của cộng đồng người Việt hải ngoại hiện biết rất rõ tại sao cha anh của họ đã phải bỏ nước ra đi và tại sao họ lại phải trở thành những người Mỹ người Pháp, người Úc… da vàng… Xin đừng cố gắng lằm băng hoại họ bằng chính sách giáo dục theo mô thức bịt mắt bưng tai của đảng nữa.

Huế Mùa Khai Trường 2010

Nguyễn Phúc Bảo Ân

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Hãy cùng cất lên lời nói thẳng_

Bùi Tín
Sắp đến Đại lễ Ngàn năm Thăng Long, kỷ niệm một ngàn năm khai sáng Triều đại nhà Lý, mở ra một thời kỳ thịnh trị an hòa tự cường cho đất nước. Một điểm son đáng ghi nhớ của Triều Lý là năm 1076, nhà Vua xuống Chiếu kêu gọi thần dân hãy cất lên «lời nói thẳng» cho Vua nghe.Đây có thể coi như bản Tuyên ngôn đầu tiên có ý nghĩa lịch sử về thực hiện tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, tự do phản biện trong xã hội.

Lúc này Đảng Cộng sản Việt Nam (DCSVN) đang mở đại hội các cấp. Bộ chính trị kêu gọi toàn dân góp ý kiến vào các văn kiện của đại hội, nghĩa là phê bình xây dựng cho đảng, nhận xét về sự lãnh đạo của đảng cũng như kiến nghị những điều hay lẽ phải. Thật là quý hóa. Có thể coi như Bộ chính trị thời nay cũng kêu gọi toàn dân. cất lên «lời nói thẳng».

Được lời như cởi tấm lòng. Tôi xin có lời nói thẳng, rất thẳng. Nói thẳng có thể mếch lòng, nhưng thuốc đắng đã tật. Và không có gì quý bằng lòng thành thật. Tôi rất quý câu nói của nhiều bạn, ý rằng: sự thật, chỉ có sự thật là cứu rỗi nổi đất nước này khỏi thảm họa và trầm luân. Tôi đã tự uốn lưỡi hơn 10 lần, để cân nhắc, lựa chọn chữ nghĩa cho chính xác, không tô hồng cũng không bôi đen, mong được các vị dự đại hội đảng các cấp lắng nghe, tùy nghi chấp nhận hay bác bỏ, cũng là để xã hội cùng nghe.

Trước hết tôi chân thành đề nghị đại hội xóa bỏ hết các khái niệm «chủ nghĩa Mác – Lênin», khái niệm «chủ nghĩa xã hội (theo kiểu Mác-Lênin)» cũng như nội dung «xây dựng chế độ dân chủ độc đảng» ở nước ta trong mọi văn kiện, nghị quyết của đại hội. Nếu còn có ý kiến khác nhau, đề nghị tổ chức tranh luận và biểu quyết rạch ròi về các khái niệm then chốt ấy.

Lý do rất rõ ràng, đơn giản. Chủ nghĩa Mác – Lênin từng được vận dụng trong cuộc sống xã hội ở Liên Xô, Đông Âu… đã thất bại triệt để, được kết luận rõ ràng, được Nghị viện Châu Âu cho là sai lầm của lịch sử và tội ác của nhân loại. Chưa có một chế độ độc đảng nào, mang tính chất độc quyền đảng trị, có thể thực hiện được một nền pháp trị công bằng và một nền dân chủ đích thật. Cũng chưa có một chế độ xã hội chủ nghĩa kiểu Mác – Lênin nào mang lại những phúc lợi xã hội như những chế độ xã hội dân chủ đa đảng ở Bắc Âu, cũng như những phúc lợi ở các nước tư bản bình thường khác, như ở Pháp, Đức, Anh, Mỹ, Nhật, Úc…Ai lại phát rồ, phát dại ôm chặt những của nợ cả loài người vứt bỏ.

Xin nhắc lại lời tâm huyết của đảng viên Nguyễn Trung Thành gửi Bộ chính trị và Ban chấp hành trung ương đảng mới đây, yêu cầu triệu tập một Ban viết hẳn dự thảo văn kiện mới, thay đổi hẳn nội dung, theo hướng dân chủ đa đảng, văn minh, hội nhập với thế giới hiện đại. Ông Nguyễn Trung Thành cho rằng chính bọn trùm bành trướng phương Bắc đã dở ngón chiến tranh tâm lý cực kỳ thâm hiểm – thức ăn thiu thối, gắp bỏ cho người. Họ luôn dụ dỗ phía đảng CS Việt Nam kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin, kiên trì chủ nghĩa xã hội kiểu Mác – Lênin - độc đảng, trong khi trên thực tế họ lại thực hiện chủ nghĩa tư bản với kinh tế thị trường phát triển, và chuẩn bị từng bước chuyển lên chế độ đa đảng từ thí nghiệm đến hiện thực.

Hãy nghe Trung tướng Lưu Á Châu, chính ủy học viện Quốc phòng Trung Quốc, - người chịu trách nhiệm chính trước Đảng cộng sản Trung Quốc rèn luyện chính trị cho tất cả tướng tá của hải lục không quân Trung Quốc - ca ngợi chế độ dân chủ tiên tiến, mẫu mực của Hoa kỳ, «một chế độ tuyệt hảo có thể làm người xấu, kém cũng làm được việc tốt», «nơi có điều kiện thật sự tuyển lựa nhân tài cho đất nước», «một mô hình xã hội dành cho người kém cỏi cũng vận dụng được để làm nên việc tốt». Tướng Lưu kết luận như đinh đóng cột rằng nếu cứ ôm chặt chế độ độc đoán thì không tránh khỏi diệt vong, không tránh khỏi sập đổ như chế độ xô viết năm 1991.

Cái tâm địa thâm hiểm độc địa của bọn trùm bành trướng là tìm mọi cách kìm hãm nước ta trong lạc hậu, khủng hoảng, phụ thuộc, không để nước ta vươn lên trước họ, dù rằng nước ta gọn, nhẹ, dễ đồng thuận, uyển chuyển, dễ chuyển mình lên nền dân chủ đa nguyên, như phần lớn các nước, như tất cả mọi nước dân chủ giàu, mạnh, phồn vinh khác. Họ quyết kềm giữ chặt ta, không cho ta bứt phá lên trước, luôn buộc ta lẽo đẽo đi theo, đi sau họ hẳn vài bước, thực hiện trò 2 mặt, nói một đằng làm một nẻo, toàn xui dại ta đủ mọi mặt.

20 năm nay, kể từ cuộc họp bí mật Việt – Trung ở Thành Đô, Bộ chính trị DCSVN đã dại dột, sai lầm, tự nguyện chui vào bẫy của Trung Quốc, ký những hiệp định về biên giới trên bộ và trên biển thua thiệt rõ rệt. Rồi đánh cá chung là thua to, thiệt vô kể khi đội đánh cá của họ lớn gấp 20 lần của ta. Để họ khai thác bôxít trên Cao nguyên là một đòn thua thiệt nặng nề về kinh tế-tài chính-môi trường -an ninh- văn hóa không sao tính hết, với 35 ngàn trai tráng Trung Hoa đột nhập. Để họ tán tỉnh mua rẻ việc quay phim Lý Công Uẩn tại Trung Quốc có 20 tỷ đồng VN (bằng 1 triệu đôla), có nghĩa là bán đứng cả linh hồn dân tộc tự lực tự cường, cũng là bán đứng cả gíá trị tinh thần của Đại lễ Ngàn năm Thăng Long, để đến nay không chiếu phim không được nữa, mà chiếu lại càng không xong, tự dấn vào ngõ cụt. Thế rồi lại còn cho thuê hàng chục vạn héc-ta rừng biên giới để họ trồng phần lớn là keo và bạch đàn, tàn phá đất mầu suốt 50 năm dòng.

Ai chịu trách nhiệm về tất cả những thảm họa quốc gia chồng chất ấy? Lãnh đạo là chọn hướng đi, là đề ra chủ trương, chính sách. Vậy thì ai nhẹ dạ, xiêu lòng, theo hướng «kiên trì chủ nghĩa Mác – Lênin» đã phá sản triệt để trong thực tế, theo hướng «kiên trì chủ nghĩa xã hội» hoang tưởng, chỉ mới có những thử nghiệm méo mó èo uột, trên thế giới không còn ai theo, cho đến Fidel Castro cũng phải công nhận là một mô hình không còn sức sống.

Tất cả là thuộc trách nhiệm của Bộ chính trị, của Ban chấp hành trung ương đảng khóa X, của Đại hội đảng CS khóa X. Không còn có ai khác. Mặc cho biết bao can ngăn, biết bao cảnh báo.

Suốt 20 năm toàn là những sai phạm nghiêm trọng về lý thuyết, về đường lối, về chiến lược, về chủ trương. Có thể lẩy Kiều rất chính xác là:

Ma đưa lối, quỷ dẫn đường,
Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi!

Lãnh đạo là phải nhìn xa trông rộng, lựa chọn đúng hướng đi, lấy tự do hạnh phúc toàn dân làm đích, giương cao ngọn cờ độc lập tự cường, sao lại cứ như cố tình dẫn dắt cả dân tộc lao vào bãi lầy, chui vào bụi rậm.

Xin quý vị tham dự các đại hội đảng hãy biết giật mình lấy một lần, nhìn thẳng vào sự thật đi, hãy chịu nghe những tiếng nói tâm huyết vang lên khắp nơi. Không có phản động hay đế quốc nào xui dục đâu. Lương tâm dân tộc mách bảo đấy.

Có 2 bài học kinh nghiệm bổ ích về không chịu nghe lời nói thẳng. Từ năm 1993 khi đề án khu lọc dầu Dung Quất hình thành, chuyên gia ta, chuyên gia Nga, chuyên gia Pháp đều cho là vị trí Dung Quất không mảy may thích hợp, quá xa nguồn dầu khí, vận chuyển 2 chiều quá đắt, xa nguồn nhân lực kỹ thuật, không có cảng sâu, bất lợi đủ đường. Chuyên gia Nga, Pháp lão luyện trong nghề lắc đầu bỏ đi. Nay đã rõ. Bỏ thì thương, vương thì tội. Một cục bướu khổng lồ dai dẳng. Ma nào đưa lối, quỷ nào dẫn đường vậy ? Một của nợ sừng sững giữa lòng đất nước. Cố thủ tướng Võ Văn Kiệt trước khi chết ngậm ngùi hối hận là đã sai lầm quá lớn vì bị lừa dối trong đề án Dung Quất và cảng Tiên Sa..

Kinh nghiệm Vinashin còn sống động hơn. Khi đặt vấn đề xây dựng nền công nghiệp đóng tàu hiện đại vào bậc nhất châu Á (!), vào loại tiền tiến của thế giới (!), đã có nhiều ý kiến phản biện, từ trong nước, rồi từ Singaporeo, Hồng Kông. Xin đừng ảo tưởng. Đóng tàu viễn dương đâu chỉ có hàn thép tấm với nhau rồi đặt máy lên. Nước Anh, nước Úc, Na Uy, Thụy Điển, Singapore … đi trước ta hơn nửa thế kỷ đóng tàu còn cân nhắc khi đóng tàu nửa triệu tấn, mà sao ta nói tàu 1 triệu tấn cứ ngon ơ. Mỗi con tàu lớn hơn một cỡ là những yếu tố chất lượng cao hơn hẳn một bậc, đâu phải những con số cộng! Riêng nghề nạp đinh, hàn thép tấm lớn, làm vỏ tàu, sơn tàu, các loại máy nổ, máy kéo, xà lan, bến tàu, cầu tầu, bảo quản, sửa chữa, ăn hàng bốc dỡ đủ thứ hàng khác nhau…phải vài chục năm mới thích ứng. Sao mà nhảy một phát thành nước đóng tầu viễn dương hàng đầu châu Á dễ dãi thế được !

Ma nào dẫn lối, quỷ nào đưa đường cho Vinashin chìm ngỉm ngoạn mục đến vậy ? quẳng một lúc 5 tỷ đô la xuống sông, xuống biển. Để đến nay sống dở, chết dở, tái cơ cấu lại càng mờ mịt, tốn thêm hàng núi sức lực, tiền của, thời gian.

Kinh nghiệm lớn nhất của mọi thảm họa là lãnh đạo không ưa, không chịu, không quen nghe lời nói thẳng.

Vậy thì vì nhân dân này, vì đất nước này, yêu cầu lãnh đạo trong thời gian ngắn ngủi trước mắt trước khi bước vào đại hội đảng CS toàn quốc hãy thật sự lắng nghe lời nói thẳng của anh chị em trí thức, chuyên gia, các vị nhân sỹ lão thành, của các bạn trẻ có kiến thức và tâm huyết. Hãy nghe lời nói thẳng về lựa chọn chế độ chính trị đa nguyên, đa đảng trong trật tự, theo chế độ pháp trị công bằng bình đẳng, với một bản Hiến pháp mới tiến bộ, dân chủ, văn minh.

Xin các vị lãnh đạo chú ý cho một điều: bên Trung Quốc, 2 ông Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo vừa mở mạng thông tin giao lưu tự do với toàn dân, ngày đầu đã có 27 ngàn ý kiến giao lưu, đối thoại, hỏi và trả lời. Vậy thì Bộ chính trị Hà Nội cấm phản biện công khai, cấm công dân, cấm tư nhân xuất bản báo chí, các báo phải chịu sự chăn dắt chặt chẽ của ngành tuyên huấn, của bộ thông tin truyền thông, liệu có phải như thế là từ chối không muốn nghe «lời nói thẳng» của nhân dân hay không? Vậy mời toàn dân góp ý vào văn kiện Đại hội XI là trò đùa ư?

Biết nghe lời nói thẳng, sao mà khó thế!

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Việt Cộng dám cãi lời Trung Cộng hay không?

Ngô Nhân Dụng

Cuộc đấu khẩu giữa Mỹ và Trung Hoa đang tăng cường độ. Chính quyền cộng sản Việt Nam im thin thít, nhưng không tránh khỏi dính được. Ngày Thứ Sáu này, Tổng Thống Mỹ Barck Obama sẽ họp mặt với lãnh tụ 10 nước ASEAN ở New York, bên lề đại hội đồng Liên Hiệp Quốc.

Thế nào cũng nêu lên hai vấn đề: Chế độ độc tài ở Miến Ðiện, và quyền tự do lưu thông cùng các tranh chấp tại vùng Biển Ðông. Bộ Ngoại Giao Trung Quốc đã chặn trước, khuyên bảo Mỹ đừng xía vào chuyện Á Châu! Tuy là công kích Mỹ, nhưng Bắc Kinh nhắm đặc biệt vào Cộng Sản Việt Nam. Vì ai cũng biết trong khối ASEAN chính quyền Việt Nam sợ Trung Quốc nhất. Các nước khác họ có thể công khai kết thân với Mỹ mà không sợ bị nước đồng chí anh em “cho một bài học.”

Thứ Năm vừa qua, ngoại trưởng Indonesia, ông Marty Natalegawa, cùng bà Hillary Clinton khai mạc một Liên Ủy Hội Mỹ-Indonesia (Joint U.S.- Indonesian Commission). Hôm sau, ông Kevin Rudd, ngoại trưởng Úc Australia, qua Mỹ lại khuyến khích bà Clinton hãy đi Hà Nội cuối tháng 10 này dự hội nghị thượng đỉnh các nước Á Ðông. Ngoại trưởng Indo, Marty Natalegawa, cũng hoan nghênh việc bà Clinton sẽ đến Hà Nội, “để tái lập và củng cố sự tham dự của nước Mỹ trong vùng này,” và bà vui vẻ đồng ý. Có thể coi cuộc gặp gỡ giữa bà Clinton và hai ông Natalegawa và Rudd hai ngày liên tiếp, cả hai cùng nói chuyện hội nghị Thượng Ðỉnh Á Ðông, là một bước leo thang đủ làm cho Bắc Kinh tức giận, phải lên giọng dằn mặt Mỹ ngay.

Liên Ủy Hội Mỹ-Indonesia làm việc ngay tuần trước ở thủ đô Mỹ, để thể hiện các quy tắc hợp tác mà năm ngoái hai vị tổng thống đã quyết định. Sáu ủy ban Mỹ-Indo thảo luận các lãnh vực cộng tác về giáo dục, kinh tế, môi trường sống, khí hậu, và xây dựng dân chủ, vân vân. Ðứng bên cạnh ngoại trưởng Indonesia, bà Clinton giải thích để cả thế giới cùng hiểu: “Chúng tôi không phải chỉ mở rộng và làm sâu mối bang giao giữa hai quốc gia mà thôi. Hành động của chúng tôi có hậu quả liên quan đến tất cả mọi người.” Tất cả mọi người, trước hết phải kể các nước Ðông Nam Á, các nước khác ở Á Châu, ai cũng phải hiểu cuộc hợp tác Mỹ-Indo liên quan đến họ. Nước Ðông Nam Á nào cũng có thể hưởng những ích lợi hợp tác với Mỹ, như Indonesia đang làm.

Trung Quốc đã hiểu thông điệp đó, và phản công ngay, họ đánh phủ đầu. Trong cuộc họp báo hôm đầu tuần, phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Khương Du (Ý) tuyên bố Trung Quốc “theo dõi sát” cuộc họp Mỹ-ASEAN sắp diễn ra ngày Thứ Sáu này. Bà Khương Du nhắc lại Bắc Kinh “kiên quyết chống hành động của những nước không liên hệ mà lại can thiệp vào cuộc tranh chấp giữa Trung Quốc và các quốc gia trong vùng.” Một nước “không liên hệ mà lại đang can thiệp” vào vùng Á Ðông, ai cũng hiểu, là Trung Quốc ám chỉ nước Mỹ.

Ba mươi năm trước đây, khi Harold Brown, bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ đầu tiên đến thăm Bắc Kinh, thời Tổng Thống Carter, một điều chính quyền Trung Cộng mong mỏi là Mỹ giúp họ kỹ thuật chế tạo phản lực cơ chiến đấu, để đọ sức với máy bay MIG-23 của Nga Xô. Vì lúc đó Nga cung cấp MIG-23 cho Bắc Việt mà không cho Trung Cộng! Tình hình bây giờ đã khác. Ðầu năm nay, khi Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Robert Gates tỏ ý muốn thăm Bắc Kinh nhân cuộc công du 5 quốc gia Á Châu, Trung Quốc đã từ chối. Họ muốn tỏ ý bất bình về việc Mỹ bán hỏa tiễn loại mới cho Ðài Loan (Giá 6 tỷ Mỹ kim, có tiền sẽ nhập cảng hàng hóa bên Tầu, làm sao từ chối không bán được?) Thái độ tẩy chay ông Gates cho thấy Bắc Kinh tự thấy ngày nay họ mạnh hơn 30 năm trước nhiều. Từ năm 2003, Trung Quốc đã chứng kiến cảnh nước Mỹ lúng túng trong hai cuộc chiến tranh ở Afghanistan và Iraq. Trung Quốc nhận đóng vai hào hiệp hỗ trợ Mỹ chống khủng bố nhưng thực ra là để lợi dụng cơ hội tấn công tiêu diệt những người Hồi Giáo ở Tân Cương muốn bảo vệ văn hóa chống lại sức ép đồng hóa của người Hán. Năm 2007, nước Mỹ bắt đầu bị khủng hoảng kinh tế, càng lung túng; Trung Quốc càng có dịp lên mặt bành trướng ảnh hưởng khắp các nước Á, Phi bằng đô la dự trữ.

Cũng vì thế, chính sách ngoại giao của chính phủ Mỹ ở Á Châu đã chuyển hướng sau khi Tổng Thống Barak Obama nắm quyền. Trong 8 năm của Tổng Thống Gorges W. Bush, ông coi phong trào khủng bố Hồi Giáo quốc tế và các mỏ dầu ở Trung Ðông là mối quan tâm chính của Mỹ, ông tránh không đụng chạm với Trung Quốc. Ông Obama đã thay đổi, bắt đầu giành thế chủ động, và bắt đầu leo thang trong ngôn ngữ ngoại giao.

Tháng 1, năm 2010, tại Hawaii, Ngoại Trưởng Hillary Clinton tuyên bố nước Mỹ muốn đóng một vai trò tích cực hơn ở Á Châu sau những năm bỏ rơi vùng Ðông Nam Á. Ðứng tại hòn đảo cửa ngõ của nước Mỹ nhìn sang Á Châu, Bà Clinton giải thích sự chuyển hướng của nước Mỹ là vì mối lo chung của các nước trong vùng, họ muốn Mỹ đóng vai trò một lực lượng bảo vệ hòa bình, bảo đảm về an ninh, trước thế lực đang lên của Trung Quốc. Chính phủ Úc ủng hộ lập trường mới này.

Khi một phóng viên hỏi nước Mỹ có nên nhường vùng Ðông Á cho Trung Quốc đảm nhiệm hay không, ông Kevin Rudd, ngoại trưởng Úc giải thích rằng suốt 30 năm qua, “Tất cả sự phát triển kinh tế mà chúng ta thấy trong vùng Á Ðông và Thái bình Dương là nhờ vào sự ổn định chiến lược do nước Mỹ có mặt trong vùng này.” Lúc đó, bà Clinton và ông Gates đang trù tính công du Úc và Tân Tây Lan. Chuyến đi bị hủy bỏ vì cuộc động đất tại Haiti gây ra một tình trạng khẩn trương ở Tây Bán Cầu. Bây giờ hai vị bộ trưởng quan trọng nhất của chính phủ Mỹ sẽ đi Úc và Tân Tay Lan vào tháng 11 sắp tới.

Nước Mỹ đã trở lại vùng Á Ðông một cách khá ồn ào, sau khi Trung Quốc làm ồn hơn với lời công bố vùng biển Ðông của Việt Nam thuộc vào loại “quyền lợi cốt lõi” của nước Trung Hoa. Ðây là một bước leo thang, nhắm đe dọa Việt Nam nhiều hơn là các nước khác. Với lời tuyên bố này, Trung Quốc chính thức coi Biển Ðông của nước ta cũng thuộc về nước họ, như là Ðài Loan và Tây Tạng! Nhưng các nước Ðông Nam Á cũng phải lo lắng và phản ứng. Một phản ứng là các nước ASEAN mời Mỹ tham dự hội nghị Thượng Ðỉnh Á Ðông, trước kia chưa từng mời.

Hội nghị Thượng Ðỉnh Á Ðông bắt đầu từ năm 2005, do sáng kiến của cựu thủ tướng Malaysia, ông Mahathir Mohamad. Lúc đầu chỉ tính gồm 13 nước, gồm 10 nước ASEAN và Trung Quốc, Nhật Bản, Nam Hàn. Nhật Bản đã vận động mời thêm Ấn Ðộ, Úc và Tân Tây Lan, để tăng thêm 2 đồng minh của Mỹ. Năm 2010, đến lượt Việt Nam chủ tọa khối ASEAN, cuộc họp cuối tháng 10 này sẽ diễn ra tại Hà Nội, lần đầu tiên Mỹ và Nga đều được mời tham dự. Ai cũng biết, đó là một dụng ý của các nước ASEAN muốn giảm tầm quan trọng của Trung Quốc. Khi thông báo sẽ qua Hà Nội dự cuộc họp Thượng Ðỉnh Ðông Á (East Asia Summit) vào cuối tháng 10, bà Hillary Clinton nhấn mạnh đã đi đến quyết định này sau khi được ngoại trưởng Australia, thuyết phục Mỹ nên tham dự!

Chính phủ Mỹ đã tấn công đấu khẩu từ đầu năm nay. Tháng 5, Bộ Trưởng Gates lên tiếng tại Singapore, nêu lên quyền lợi của nước Mỹ phải bảo đảm an ninh cho các đường vận tải hàng hải trong vùng. Hiện nay Mỹ vẫn đóng vai canh gác eo biển Malaca, nơi hầu hết dầu lửa nhập cảng vào Trung Quốc và Nhật Bản phải đi qua. Tháng 7, bà Hilary Clinton tuyên bố ở Hà Nội, trước mặt Ngoại Trưởng Trung Quốc Dương Thiết Trì, xác nhận nguyên tắc các cuộc tranh chấp trong vùng biển Ðông không được giải quyết bằng vũ lực. Bà tỏ ý chính phủ Mỹ có thể trung gian tạo ra một cơ cấu giải quyết những xung đột về các đảo và hải phận giữa Trung Quốc, Philippines, Việt Nam, Indonesia, Malaysia và Ðài Loan. Thời gian tại Hà Nội vào tháng 7 vừa qua có lẽ là những giờ phút huy hoàng nhất của Ngoại Trưởng Clinton, cho tới giờ. Bà đột ngột thách thức ông Dương Thiết Trì, trong lúc ngoại trưởng các nước Ðông Nam Á khác vỗ tay hớn hở, và bên ngoài hội nghị thì người Việt Nam khắp nơi vui như mở cờ trong bụng! Ít nhất, có một người dám đứng thẳng lên đối đầu với thái độ hung hăng dọa dẫm của Trung Quốc! Mà người đó lại là một phụ nữ! Ðối với ông ngoại trưởng Trung Hoa, đây là một “cú sốc lớn.” Bình thường, các chính phủ thông báo trước cho nhau biết những ý kiến dễ gây xung đột như vậy, trước khi phát biểu nơi công cộng.

Tuần qua, để chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ giữa ông Obama và 10 nước ASEAN vào Thứ Sáu này, nhân viên bộ Ngoại Giao Mỹ đã thuyết trình với các nhà báo, nhấn mạnh đến “vấn đề tự do lưu thông đường biển, cũng như vấn đề khai thác tài nguyên trong biển” là một câu chuyện có thể sẽ được đề cập đến. Ðó là một cách khéo léo nhắc lại những đề tài mà bà Clinton đã nói hồi tháng 7 vừa qua. Chính vì thế, Trung Quốc phải lên tiếng “chặn họng” ngay, bên ngoài là chỉ trích Mỹ xía vô chuyện Á Châu, nhưng bên trong chính là để đe nẹt chế độ cộng sản đàn em ở Việt Nam. Thông điệp của họ là: “Ðừng có tin theo Mỹ mà đòi quốc tế hóa vấn đề Biển Ðông! Hãy kiên định lập trường theo Bắc Kinh: Chỉ thảo luận song phương từng nước một với Thiên triều mà thôi!”

Ðó là mâu thuẫn nổi bật trong cuộc đối đầu Mỹ-Hoa tại vùng Biển Ðông. Bắc Kinh muốn nói chuyện riêng với từng nước; Mỹ muốn giúp tất cả các nước cùng nói chuyện ngang hàng với Trung Quốc. Thái độ của Nguyễn Minh Triết trong cuộc gặp mặt với Obama ngày Thứ Sáu này sẽ cho mọi người biết cộng sản Việt Nam có dám “đi lề bên trái” không do Trung Cộng chỉ định hay không! Trong cuộc gặp gỡ Thứ Sáu này, Nguyễn Minh Triết được đóng vai long trọng nhất khi tiếp đón ông Obama, vì Việt Nam đang đóng vai chủ tịch khối ASEAN. Nếu trung thành với vai trò chủ tịch, đại diện cho cả khối ASEAN, ông Triết phải hoan nghênh sự hợp tác với nước Mỹ trong việc cân bằng quyền lực với Trung Quốc tại vùng Ðông Nam Á.

Tối thiểu, ông Nguyễn Minh Triết phải nhân danh 10 nước Ðông Nam Á bày tỏ mối lo ngại cần bảo vệ tư do lưu thông và quyền tự do khai thác hải sản, khoáng sản dưới biển của các nước trong vùng. Ðó cũng là một quyền lợi thiết thực của người Việt Nam. Vì chính các ngư dân Việt Nam đã bị “Tầu lạ” tấn công, cướp, phá, bắt cóc đòi tiền chuộc trong những năm qua mà chính quyền cộng sản Việt Nam không dám chỉ thẳng vào mặt Trung Quốc mà phản đối! Chính các công ty ngoại quốc đã ký hợp đồng với Việt Nam rồi lại bị Trung Quốc ngăn cản không cho tìm mỏ dầu khí! Cho nên ông Triết phải lên tiếng yêu cầu Mỹ giúp các nước Ðông Nam Á bảo vệ các quyền tự do lưu thông và khai thác ở Biển Ðông! Nếu ngược lại, ông Triết lờ đi, không dám nói mạnh bạo về các vấn đề trên, thì coi như ông không phải là đại diện cho 10 nước ASAEN nữa. Ông chỉ đại diện cho quyền lợi của Trung Quốc thôi! Chắc chắn, ông không đại diện cho người Việt Nam, nước Việt Nam!

Mạng lưới Bô xít Việt Nam mới cho đăng lại tài liệu trong cuốn sách “Sự Thật Quan Hệ Việt Nam-Trung Quốc.” Trong đó có một đoạn trích tài liệu mật của Bộ Chính Trị và Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng Cộng Sản Trung Quốc, vào tháng 8 năm 1965 như sau: “Chúng ta phải giành cho được Ðông Nam châu Á, bao gồm cả miền Nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Ðiện, Malayxia và Singapo... Một vùng như Ðông Nam châu Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản... xứng đáng với sự tốn kém cần thiết để chiếm lấy... Sau khi giành được Ðông Nam châu Á, chúng ta có thể tăng cường được sức mạnh của chúng ta ở vùng này, lúc đó chúng ta sẽ có sức mạnh đương đầu với khối Liên Xô-Ðông Âu, gió Ðông sẽ thổi bạt gió Tây...”

Cuốn sách này do nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, xuất bản năm 1979. Ðộc giả ở Việt Nam và ngoại quốc có thể tìm đọc cả cuốn trên mạng lưới Bô Xít Việt Nam. Ông Nguyễn Minh Triết cũng nên vào mạng lưới này mà đọc cho biết - nếu đoàn biệt kích công an của Tướng Vũ Hải Triều chưa hủy diệt mạng lưới yêu nước này!

Nếu không được đọc Bô Xít Việt Nam, ông Triết nên nhờ người dịch cho đọc một bài trên South China Morning Post ngày hôm qua. Bài của Greg Torode viết về vị thuyền trưởng Trung Quốc mới bị Nhật Bản bắt giam khiến người Trung Hoa phẫn nộ biểu tình, và nói tiếp không phải chỉ có một mình ông ta đâu. “Hàng trăm người đã bị bắt giam nhiều tháng trời, thuyền đánh cá của họ bị Hải Quân Nhật đâm vào sườn, cướp lấy hải sản. Sau khi giữ họ mấy tháng, Nhật Bản đề nghị gia đình họ trả hàng ngàn Mỹ kim tiền chuộc và những gia đình tuyệt vọng này phải chấp nhận.” Sau khi đưa câu chuyện này cho một người bạn Trung Quốc đọc, ký giả Torode kể, anh bạn đó nổi cơn thịnh nộ, nói rằng nếu người Trung Quốc biết những chuyện đó thì không một người Nhật Bản nào có thể an toàn khi thăm Trung Quốc. Lúc đó Torode mới nói thật rằng đây không phải chuyện Nhật Bản mà là chuyện Trung Quốc đối xử với người Việt Nam!

Chỉ có một điều khác, là khi dân Việt Nam biểu tình phản đối Trung Quốc thì công an Việt Nam đánh đuổi dân. Công an lãnh lương của người Việt hay người Trung Hoa?

Post Reply