QUÁN BIÊN THUỲ

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Image

Nếu Tổ Quốc Không Còn Biển

“…Nếu Tổ Quốc không còn biển, Dân tộc tôi sẽ chết đuối trên bờ, Chết đuối trên cao nguyên, Chết đuối trong bùn bô-xít…”

Mất Hoàng Sa, Trường Sa
Rồng Việt Nam không còn chỗ núp
Không có lối ra
Tổ Quốc như bị giam trong ngục

Xin Ngô Quyền trở về
Xin Trần Hưng Đạo trở về
Dìm quân xâm lược
Tổ Quốc nguy nan
Mỗi người Việt Nam
Hoá thành cọc nhọn

Bán đảo Đông Dương biển mất gần hết
Hồng Hà biết chảy về đâu?
Cửu Long rồi giãy chết?
Linh hồn cha Lạc Long Quân
Không còn chốn đi về

Cái lưỡi bò ngoại tộc
Rót vào tai nhà đương cục
Mười sáu chữ vàng
Miệng vờ ôm hôn
Tay lừa bóp cổ
Lưỡi bò đang liếm sạch Biển Đông

Trọng Thuỷ xưa
Từng dùng lưỡi bò tỏ tình
Lừa tình cướp nỏ
Lừa tình cướp nước
Trong miệng người anh em
Giấu một lưỡi bò

Nếu Tổ Quốc không còn biển
Dân tộc tôi sẽ chết đuối trên bờ
Chết đuối trên cao nguyên
Chết đuối trong bùn bô-xít

Tổ Quốc không chịu chết
Biển Đông gầm đang hoá Bạch Đằng Giang

Sài Gòn 11-9-2009
Trần Mạnh Hảo

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

1-11-1963
Có phải là ngày Cách Mạng như toàn dân mong đợi?


Thưa quý vị; Ngày 1-11-1963 có phải là ngày Cách Mạng mà toàn dân, toàn quân VNCH mong đợi không? Trước tiên danh từ Cách Mạng phải được hiểu là Chủ Quyền Quốc Gia được tôn trọng hơn, nhất là đời sống người dân được cải thiện tốt hơn khi đem so với chế độ trước không thực hiện được ngay ban đầu thì cũng sau đó vài năm. Nhưng Cách Mạng lật đổ một chế độ mà người ta viện cớ là "độc tài, độc tôn, gia đình trị" để thay thế vào đó một chính phủ quân nhân bù nhìn do Hoa Kỳ giật giây phía sau 12 năm cho đến ngày miền Nam VN rơi vào tay csvn, tay sai Trung Cộng, và cho đến nay đã hơn 34 năm đất nước và hải đảo lại bị sang nhượng, lấn chiếm, và người dân sống đời lao nô, đe dọa, đàn áp, đánh đập bởi công an thì trang lịch sử 46 năm qua không thể gọi ngày 1 tháng 11 năm 1963 là ngày Cách Mạng.

Không những ngày 1-11-1963 đã không phải là ngày Cách Mạng như toàn dân, toàn quân VNCH mong đợi; ngược lại đánh dấu một ngày nhơ nhuốc, nhục nhã; vì chính ngày này khai mở một chuỗi thảm họa và bất hạnh cho toàn dân Việt nói chung và Nam Việt Nam nói riêng. Đó là ngày mà miền Nam VN và người dân bị mất chủ quyền và sống đời bị trị, băng hoại, thối nát; vì những người được chính quyền Hoa Kỳ đưa lên cầm quyền chỉ biết "nhắm mắt" tuân theo cũng như để thi hành chính sách của Hoa Kỳ; đó là đưa quân đội Hoa Kỳ trực tiếp tham chiến và số quân lên đến gần nửa triệu.

Tại sao chính quyền Hoa Kỳ lại có thể làm được chuyện này; vì miền Nam không có người lãnh đạo yêu nước đến nỗi có thể thí mạng sống mình cho dân tộc mà T.T. Ngô Đình Diệm đã dâng hiến đời mình cho đất nước. Thử hỏi Ô. Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Cụ Trần Văn Hương .... có ai dám hiến dâng mạng sống cho quân dân Nam Việt Nam hay chỉ biết đào ngũ, trốn chạy, hay "trao quyền", và trao người dân và đất nước khi giặc, xe tăng của csvn, tay sai Trung Cộng và cs quốc tế, quanh thủ đô Saỉgòn.

Khi csvn tiến vào chiếm đóng Nam Việt Nam thì thành phần nào đã ra tiếp đón chúng và lên đài phát thanh để hát "Nối Vòng Tay Lớn."

Ngày 1-11-1963, thay vì là ngày Cách Mạng, thì lại là ngày dẫn đưa đến ngày đầu hàng giặc cộng 30-4-75 để rồi quốc gia VN và toàn dân Việt phải sống trầm luân trong khốn khổ, đe dọa, đàn áp, bắt bớ, giam cầm, giết chóc trong hơn 34 năm qua chưa biết đến bao giờ mới chấm dứt "nghiệp chướng" này cho hơn 80 triệu người dân Việt.

Ngày 1-11 lại đến, viết lên sự thật phũ phàng và đau lòng này để người Việt trong và ngoài nước hay những người cs phản tỉnh hãy cùng nắm tay nhau để giải cứu dân tộc khỏi ách thống trị của giặc cộng, độc tài, đảng trị, tay sai Trung Cộng buôn dân, bán đất, dâng biển, tài nguyên... cho Trung Cộng. Riêng khối người Việt sống tại Hoa Kỳ và các quốc gia tự do khác biết đoàn kết thành một khối với các vị dân cử từ Nghị Viên, Học Khu, Supervisor, Chánh Án, Dân Biểu, Nghị Sĩ tiểu bang, Liêng Bang ...hãy đồng tâm hiệp lực hăng say hơn để lên án vi phạm nhân quyền, tự do tôn giáo, đàn áp, bắt giam các nhà dân chủ đối kháng yêu nước; luôn vinh danh và biểu dương lá Cờ Vàng VNCH, cũng như biểu tình lên án các nhân viên và đoàn văn công của giặc cộng phản dân hại nước công du lừa bịp dư luận.

Con dân Việt trong và ngoài nước hãy noi gương các vị anh hùng đã vị quốc vong thân trong suốt chiều dài 4000 năm lập quốc của tiền nhân, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ chủ quyền quốc gia, thương yêu và phục vụ quê hương, đất nước hết lòng.

Trân trọng,
Dang Bao
29-10-2009

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Diễn Hành Lần Thứ 23
Tuần Lể Vinh Danh Quân Lực Hoa Kỳ tại San Diego

(HNPĐ-San Diego) Lúc 11 giờ sáng ngày 11-11-2009 một cuộc diễn hành thật qui mô đã được tổ chức tại trung tâm thành phố San Diego do các thành viên thuộc tổ chức San Diego United Veterans Council. Các cuộc lễ kéo dài cả tuần . Mục đích cuả các cuộc lễ nhằm vinh danh những chiến binh quân đội Hoa Kỳ đã chiến đấu và đang chiến đấu trong quân lực Hoa Kỳ. Cao điểm cuả tuần lễ Cựu Chiền Binh Hoa Kỳ là ngày 11-11-2009.

Có cả thảy 95 đơn vị, tổ chức đã đóng góp cho cuộc diễn hành lớn ngày hôm nay. Về phiá người Việt có Cộng Đồng Việt Nam San Diego, Liên Hội Tuổi Trẻ San Diego (VAYA), các cựu chiến binh thuộc quân binh chủng Việt Nam Cộng Hoà : Hải Quân- Không Quân- Biệt Động Quân- Nhảy Dù – Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức - Hội Quân Nhân Người Mỹ Gốc Việt v.v… đã được mời tham dự cuộc diễn hành. Lá cờ Vàng, quốc quân kỳ lần nưả được tung bay và được nồng nhiệt chào đón từ khách tham dự và cả ban tổ chức.

Các phái đoàn cuả cộng Đồng Việt Nam San Diego, Liên Hội Tuổi trẻ San Diego cùng phối hợp hài hoà với hội Cựu quân Nhân Hoa Kỳ tại điạ phương là “Vietnam Veterans of Ameriaca Chapter 472 đi trên xe hoa diễn hành. Anh Nguyễn Thơ Sinh, một cựu quân nhân Hoa Kỳ người Mỹ gốc Việt. Người đã hoàn tất chuyến đi bộ lịch sử từ bờ biển phiá Đông Hoa Kỳ tới bờ biển phiá Tây thành phố San Diego. Anh mang cờ và biểu ngữ cùng đi diễn hành.

Cuộc diễn hành chấm dứt lúc 2 giờ chiều. Các đài TV 5-6-9 -10 đài TNT- HNPĐ, báo chí tại địa phương đều có mặt. Phái đoàn diễn hành cuả người Việt đã được khách hai bên đường trong suốt lộ trình diễn hành kéo dài hơn 2 dặm đường, hoan nghênh nhiệt liệt. Các em sinh viên Việt Nam , đồng bào Việt Nam cùng diễn hành lần này, ghi nhận đông đảo hơn năm trước.

Tưởng cũng nên nhắc lại. Trong nhiều tháng qua, sinh hoạt phối hợp giưả giới quân nhân Việt- Mỹ và Giới Trẻ tại San Diego đã trở nên khởi sắc. Một loạt những hoạt động hổ trợ hoài hoà rất đáng mừng. Tất cả những công tác nhầm vinh danh những người lính đã và đang phục vụ trong Quân Lực Hoa Kỳ và Việt Nam . (END)

(TN Ghi Nhanh cho HNPĐ)
Image
Cựu chiến binh Đệ Nhị Thế Chiến và cựu chiến binh Việt Nam rất quý mến Nguyễn Thơ Sinh

Image
Đoàn mô tô hùng hậu của cựu chiến binh Mỹ

Image
Tre già măng mọc

Image
Các em trẻ hãnh diện với lá cờ vàng

Image
Cựu chiến binh Mỹ rất hãnh diện cùng hợp tác với cựu chiến binh QLVNCH

Image
Các cháu gái duyên dáng của Liên Hội Tuổi Trẻ thu hút sự chú ý của quân dân Mỹ

Image
Chờ đợi diễn hành

Image
Cựu Chiến Binh TQLC Mỹ tự tay lái xe đưa các chiến hữu Việt Mỹ đến địa điểm hành lễ

Image
Các cựu chiến binh QLVNCH đang diễn hành

Image
Các quân nhân Mỹ gốc Việt tươi cười vẫy chào

Image
Đoàn mô tô hùng hậu hộ tống các cựu chiến binh Việt Mỹ và Cộng Đồng Việt Nam San Diego

Image
Dân chúng vỗ tay cảm ơn các cựu chiến binh Việt Mỹ

Image
Nguyễn Thơ Sinh vẫy chào đám đông ngưỡng mộ

Image
Các em LHTT cầm biểu ngữ cho Nguyễn Thơ Sinh

Image
Cựu Chiến Binh QLVNCH

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

XIN TẠ ƠN :
NGƯỜI LÍNH KHÔNG CÓ SỐ QUÂN


Trần Như Xuyên
Tối đó, tôi dẫn Đại đội tới điểm đóng quân đêm, đây là ngày đầu tiên tôi nắm Đại đội, sáng nay có cuộc bàn giao ở Tiểu đoàn, người Đại đội trưởng tiền nhiệm,cũng là khóa đàn anh của tôi, có sự vụ lệnh đi học khóa quân chánh.

Ra trường được sáu tháng, từ anh Thiếu úy mới tò te ra trường, giờ đã lên nắm Đai đội, quả là thời gian hơi nhanh so với những đứa bạn cùng khóa ở các binh chủng khác như Nhẩy dù, Thủy quân lục chiến…, có lẽ họ vẫn còn đang thực tập ở Trung đội hay là Trung đội trưởng mà thôi. Tôi nắm Đại đội hơi nhanh không phải vì mình tài giỏi gì mà năm 67 khi ra trường, như bao đứa bạn khác chọn đi Bộ binh, các đơn vị rất thiếu sĩ quan, như Tiểu đoàn tôi về chẳng hạn, có Đại đội xử lý là một Chuẩn úy, gọi là xử lý cũng không đúng vì trong cấp số coi Đại đội thì tối thiểu phải là Thiếu úy, nhưng không hiểu sao vào những năm này, sĩ quan quá thiếu, bởi vậy khi vừa tới Trung đoàn, nghe tin có mấy sĩ quan Đà lạt mới ra trường là các đơn vị nhao nhao lên xin, tôi được đưa về Tiểu đoàn 4/46 thì một ông đàn anh khóa 16 đang làm Đại đội trưởng xin ngay tôi về. Ông tên Hồ Trang, khóa 16, ở miền Trung bị thuyên chuyển vào Nam vì dính dáng tới vụ Phật Giáo, ngoài đó ông đã là Tiểu đoàn phó nên vị Tiểu đoàn Trưởng cũng có hơi nể, quay quắt vì việc phải thuyên chuyển xa nhà, bị giam lon, giam chức nên ông gắt gỏng như mắm tôm, ông nghiêm khắc với mọi người nhưng rất chí tình trong việc chỉ bảo cho tôi từng ly, từng tí việc chỉ huy mà dầu sao tôi cũng còn quá mới, quân trường dậy là một chuyện, ra đây đụng với thực tế lại là một chuyện khác.

Cứ như vậy, những lần hành quân, ông cho tôi ở cạnh để học hỏi hoặc cho xuống trung đội để thưc tập, 6 tháng sau, khi thấy tôi đã tàm tàm gọi là đủ lông, đủ cánh bay solo được, ông nói với Tiểu đoàn Trưởng và bàn giao Đại Đội lại cho tôi, trước đó, ông đã thu xếp người Đại đội phó đi học để tôi coi Đ.Đ được danh chính ngôn thuận.

Nói về tối đầu tiên tôi dẫn Đ.Đ đi đóng quân đêm, thường tọa độ đóng quân đêm cùng các điểm phục kích do Tiểu đoàn chấm, tối đó đang di chuyển trên đường tôi thấy có một người đàn bà đi lẫn trong toán đại liên, tôi hỏi Thượng sĩ Hội, thường vụ đại đội, ông ta đi lính hồi tôi còn học Tiểu học:
- Ai vậy ông Hội, sao có đàn bà lẫn lộn vào đây?
- Thưa Thiếu úy, đó là vợ thằng Nở, xạ thủ đại liên, nó ở với Đại Đội lâu rồi, hồi còn Trung úy Trang, ông cũng cấm nhưng chỉ được vài ngày là nó lại lẻn xuống sống với chồng nó.
- Tôi thấy không được rồi đó ông, lỡ đêm Việt cộng tấn công thì làm sao, thằng Nở chỉ lo cho vợ nó thì còn đánh đấm gì được.
- Thiếu uý đừng lo, vợ nó phụ nó rất đắc lực, chị ta biết xử dụng đại liên, biết tiếp đạn cho chồng, rồi Thiếu úy coi, hễ rảnh là nó lại lau chùi cây đại liên nữa.
- Nhưng lỡ có chuyện gì làm sao mình báo cáo.
Hôm sau tôi gọi Nở lên trình diện:
- Sao cậu không để cho vợ cậu ở nhà mà cho đi theo Đại đội như vậy, lỡ có chuyện gì thì sao?
- Thưa Thiếu úy, con Ba nó mồ côi từ nhỏ, không có nhà, em đã đưa nó về với má em rồi nhưng má em không ưng nó, cứ kiếm chuyện với nó hoài, cho nó theo ĐĐ, thấy cũng bất tiện, em biết chứ.
Nở thực hiện lời “em biết chứ”, vài ngày sau, tôi không thấy vợ Nở đi chung trong toán đại liên nữa, tôi hỏi Thượng sĩ Hội, ông ta cho biết Nở đưa vợ ra bến xe về quê mấy bữa nay rồi, tôi có hơi băn khoăn nhưng nghĩ vậy cũng phải, lỡ có chuyện gì thì làm sao, rồi má con sẽ phải hòa thuận với nhau chứ.
Một hôm, Hạ sĩ quan quân số cầm về xấp thư của ĐĐ đưa cho tôi, trước đó tôi có dặn anh ta là thỉnh thoảng phải kiểm soát thư từ của binh sĩ xem biết đâu có đứa bị móc nối. Tôi dở xấp thư ra coi thấy có một lá đề tên Nở, khi tôi coi ĐĐ thì Nở không biết chữ, sẵn dịp, tôi hỏi các Trung đội xem còn ai không biết chữ gom tất cả lại, đâu cũng được 5,6 người, tôi nói Trung sĩ Hiển, Hạ sĩ quan CTCT mua tập vở về dậy họ học, “ngày mãn khóa”, tôi kêu từng người đưa tờ Chiến sĩ Cộng Hòa cho đọc, ai đọc được, tôi thưởng cho bốn ngày phép, Hạ sĩ Nở biết chữ từ ngày đó.
Có bốn ngày phép, Nở không đi đâu cả, anh ta và vợ quanh quẩn chơi ở mấy nhà quen trong xã, hết bốn ngày, Nở về lại ĐĐ.

Tôi mở lá thư của Nở ra đọc:
Long Xuyên, ngày….
anh hai thương, em diết thơ nầy cho anh là lúc ba giờ phia, em chờ má ngủ mới dám diết cho anh, anh hai ôi, em nhớ anh quá hà, sao số kiếp cứ đài đọa tụi mình hoài, nhớ những lúc điêm tối cùng anh đi đóng quân, dầu gì vợ chồng được gần nhau cũng hơn há anh, hôm anh tiễn em ra bến xe em buồn quá, lúc xe chạy, em thấy như mất mác cái gì quí báo, em khóc ước cả mắt, em cố chìu chuộng má mà má vẫn hổng thương em, thôi để em lên quỳ xinh với ông thiếu úy để em được đi theo anh, liệu được hôn anh, diết thơ nầy xông, mơi sẽ gởi cho anh, anh hai nhớ trả lời em nghe.
Em, Ba.

Một tuần lễ sau khi đọc lá thư của Hạ sĩ Nở, buổi tối dẫn Đại Đội đi đóng quân, tôi lại thấy cái dáng nhỏ bé ấy đi chung với toán đại liên, lẫn vào hàng quân, không biết anh Hai có trả lời, trả vốn gì không hay nhớ chồng lên đại, tôi thấy chị ta cố lẩn vào đám đông, chắc sợ tôi nhìn thấy, hoặc có thể biết tôi đã thấy nhưng làm nước liều, có điều hôm nay không mặc bộ bà ba đen thường lệ mà là bộ đồ trận rộng thùng thình, đầu còn đội nón sắt, chị ta tính ngụy trang che mắt tôi, tôi cười thầm trong bụng khi thấy vợ Nở cuốn nguyên một dây đại liên quanh người, tôi mong chị ta đừng gặp tôi mà xin gì cả, chẳng thà để tôi lờ đi như không biết còn hơn là hợp thức hóa cho khó xử.

Năm 67, các Tiểu đoàn Bộ binh thường có ba Đại đội tác chiến, chia nhau vùng trách nhiệm họat động, hành quân lục soát từng ĐĐ chung quanh bộ chỉ huy TĐ, đôi khi có cuộc hành quân cấp Tiểu đoàn thường là nhẩy trực thăng và xa hơn. Ba Đại đội trưởng tác chiến đều cùng khóa 21 Đà Lạt gồm Th/U Vũ đình Hà (ĐĐ1), Th/U Lê xuân Sơn(ĐĐ2) và tôi ĐĐ3.
Một tối, Đại đội 1 bị tấn công, ĐĐ2 tối đó đóng xa, giữ con đường từ Long Thượng về Cần Giuộc, tôi nằm cách Hà (ĐĐ2) khỏang 500 thước, Tiểu đoàn mất liên lạc với Hà, kêu tôi lên tiếp cứu, chỗ Hà nằm tôi biết rõ vì đã từng đóng quân ở đây, chắc chắn là địch tấn công từ ngã rạch tấn công ra, tôi dẫn Đại đội chạy băng lên vì tình người bạn cùng khóa, tôi cho Đại đội bắn chặn nơi đầu rạch, nhưng vì không liên lạc được với Hà, tôi sợ quân ta bắn lầm quân bạn, tôi chạy lại cây đại liên, cho chuyển hỏa lực về bên trái, dưới ánh sáng của pháo binh Cần Giuộc, tôi thấy vợ Nở nằm cạnh chồng, tay nâng dây đạn, Nở đang nghiến răng bóp cò, nhả từng loạt đạn về hướng địch.

Như tôi đã nói ở trên, dạo đó ở Long An VC chưa nhiều, chắc khoảng hai chục tên, đợi mình ơ hờ, liều lĩnh tấn công. Cũng tại nơi con rạch này, ít lâu sau, ĐĐ tôi hành quân lục soát ở đây và đụng nặng, sở dĩ đụng nặng vì địch tụ ở đâu về, ém quân trong đám dừa lá dầy đặc như vùng bất khả xâm phạm, chắc chúng tập trung ở đây, đợi đêm xuông có giao liên dẫn chúng xâm nhập Đức Hòa, Đức Huệ rồi qua Campuchia, chúng không ngờ ta lùng sục, chúng buộc phải chống trả.
Đám dừa nước cao ngất che dọc theo con rạch, hướng ĐĐ tiến vào là đồng trống, suốt vùng Long An này chỗ nào cũng vậy, bất ngờ ban đầu làm ta có ba binh sĩ bị thương và một chết, tôi xin pháo binh và Cobra lên vùng, hồi đó gọi máy bay ném bom còn là một điều mới mẻ, vũ khí xử dụng là của thời đệ nhị thế chiến, toàn là Garant, Carbin, cả Thompson nữa, ấy vậy mà cây đại liên 30 của Hạ sĩ Nở cũng có tác dụng. Nở người hơi thấp nhưng rất khỏe, một mình vác cây đại liên cả với chân ba càng, mỗi lần pháo bắn hay trực thăng phóng rocket là anh ta chạy nhào lên cho gần mục tiêu, lúc đó địch còn lo núp. Khi đã rất gần mục tiêu và có gò đất làm điểm tựa chắc chắn, cây đại liên mới phát huy được hiệu quả của nó, từng loạt đạn bắn ra làm bọn VC không ngóc đầu lên được, cộng thêm pháo và trực thăng bắn liên tục, ĐĐ chiếm được mục tiêu lúc gần tối, địch bỏ lại 6 xác và một số vũ khí. Trận đánh như thế này không đáng kể gì so với sau này khi SĐ 25 rời Long An di chuyển về vùng trách nhiêm mới là Tây Ninh, cuộc hành quân vượt biên năm 1970 cũng như ở Bình Long mùa hè đỏ lửa thì chiến trận lên tới cấp Sư đoàn, Quân đoàn.

Sáng hôm sau, Tướng Phan trọng Chinh, Tư lệnh SĐ xuống quan sát trận đánh và gắn huy chương, tôi đề nghị với TĐT thăng cho Nở lên Hạ sĩ nhất nhưng Tướng Chinh là người rất ngặt nghèo trong việc ban thưởng huy chương và thăng cấp, Nở chỉ được cái huy chương đồng, ông bảo huy chương đồng của SĐ 25 bằng huy chương vàng của các nơi khác (!)
Hai ngày sau ĐĐ còn được nghỉ dưỡng quân, tôi xuống tổ đại liên chơi, cả toán đang ngồi ăn cơm, tôi thấy vợ Nở đang mân mê cái huy chương của chồng, thấy tôi, chị có vẻ ngài ngại gật đầu chào rồi bỏ vào trong nhà, tôi nghĩ giá tôi có quyền, tôi sẽ tặng cho chị ấy một cái huy chương của buổi tối yểm trợ cho Vũ đình Hà.
Đầu năm 1968, tôi được đề cử theo học khóa Tác chiến trong rừng ở Mã Lai, tôi còn gắn bó với ĐĐ hơn một tháng nữa. Một buổi sáng, đang đứng trước cửa ĐĐ thì vợ Nở bất chợt ngang qua, chắc đi chợ về, thấy tôi, chị ta khựng lại muốn thối lui nhưng không kịp, chị ta làm gạo bước tới và khi ngang qua tôi, vợ Nở mím môi lại và dơ tay chào theo kiểu nhà binh, tôi ngạc nhiên, trong một phản xạ, tôi chào lại, chào xong, tôi mới ngẩn người ra nghĩ: sao mình lại chào nhỉ, hóa ra ĐĐ này có một nữ quân nhân ư? Có lẽ chị ta thấy mọi người trong ĐĐ chào tôi nên khi gặp, chị cũng chào để cho giống như những người kia chăng! Tôi thấy hình như bụng vợ Nở có hơi to ra. Tôi đem điều này hỏi Thượng sĩ Hội thì ông ta bảo: có vẻ như vậy Trung úy.
Tôi gọi Nở lên:
- Vợ cậu có bầu phải không?
- Dạ, thưa Trung úy.
- Vậy thì cậu phải đưa cô ta về với bà già đi chứ, bầu bì rồi đi theo ĐĐ mãi sao được, phải lo sức khỏe cho cô ta.
- Dạ, em cũng tính tháng này lãnh lương xong, Trung úy cho em cái phép để em đưa nó về gởi bà già.
- Được rồi, lúc nào muốn cứ lên đây.

Hai ngày sau, Đại Đội được lệnh đóng quân đêm và tổ chức một cuộc phục kich ở sau lưng quán Năm Ngói, một địa danh nổi tiếng về sự khuấy rối của VC nơi đây, tối đó, ĐĐ chạm địch, một tốp nhỏ bọn chúng gặp toán phục kích, hai tên bị bắn hạ, số còn lại nhập qua toán kia thì đụng phải ĐĐ, nhờ toán phục kích nổ súng trước nên ĐĐ không bị bất ngờ, địch bắn rất rát nhưng không chủ ý tấn công nên sau một hồi, chúng rút lui, hình như có chuyện gì xẩy ra ở cây đại liên vì tôi thấy nó nổ được một chập thì im bặt, tôi đảo nhanh vòng quanh tuyến phòng thủ, không có tổn thất nào, nhưng khi tới cây đại liên, tôi thấy có mấy người lố nhố, linh tính cho tôi biết có chuyện không hay, tôi hỏi giật giọng:
- Gì vậy Nở?
Không có tiếng trả lời, tôi bước vội tới, thấy Nở ôm vợ, y tá Thọ đang loay hoay băng vết thương nơi ngực chị ta, thấy tôi, Nở nghẹn ngào:
- Vợ em nó chết rồi Trung úy ơi!
Tôi ngồi xuống, chị ấy bị trúng đạn ở ngực, máu ướt đẫm cả cái áo trận, y tá Thọ đứng lên:
- Chết rồi Trung úy.
Tiếng thằng Năm trong toán đại liên:
- Súng bị kẹt đạn, thằng Nở kéo mãi đạn không lên, con Ba nó chồm dậy mở nắp cơ bẩm, em la nó nằm xuống nhưng không kịp Trung úy.

Tôi thấy nghèn nghẹn ở cổ họng, từng chứng kiến nhiều cái chết nhưng lần này tôi thật xúc động. Thôi, chị Nở, từ nay chị hết cần phải tránh né tôi nữa rồi, sao tôi lại không cứng rắn hơn nữa với chị, giá tôi đừng tình cờ đọc được lá thư chị viết cho chồng, ừ, đáng lẽ tôi phải cứng rắn hơn, nhất định không cho chị đi theo ĐĐ như vậy.
Tôi báo với Thiếu tá Hải, Tiểu đoàn Trưởng về sự việc xẩy ra, ông có biết vợ chồng Nở, ông cho Sĩ quan CTCT/TĐ mua cái hòm, cấp cho Nở một cái xe Dodge để đưa vợ về quê mai táng. Tôi lấy hết tiền có thể có được, cả tiền quỹ ĐĐ đưa cho Nở, buổi trưa cuối năm, trời hơi lành lạnh, chiếc xe chở Nở và quan tài vợ đi ngang qua ĐĐ, tôi đứng nghiêm chào như một lần chị đã chào tôi, chị chết đi mà cái hòm không có phủ cờ, không được mười hai tháng lương, không cả được lên cấp chỉ vì chị là NGƯỜI LÍNH KHÔNG CÓ SỐ QUÂN.
Mười ngày sau, Nở trở lại đơn vị, trước ít ngày tôi về SG để chuẩn bị đi học, Nở đào ngũ, có lẽ Nở không chịu được cái cảnh mỗi tối vác cây đại liên tới chỗ đóng quân mà không có vợ bên cạnh.

*

Chị Nở thân mến,
40 năm sau ngày chị mất, hôm nay tôi ngồi viết lại chuyện này về chị, chỉ là một sự tình cờ thôi, hôm nọ tôi đọc loáng thoáng đâu đó người ta nói về những gương chiến đấu của Quân và Dân miền Nam trong công cuộc chống CS xâm lược trước đây, tôi chợt nhớ tới chị, một người không phải là quân, cũng không hoàn toàn là dân, gọi chị là gì nhỉ, chị lưng chừng ở giữa nhưng đã chiến đấu như một người lính thực thụ và đã hi sinh.

Một lý do nữa để tôi viết về chị là vì mới đây, Cộng Sản Việt Nam đã làm ầm ĩ lên câu chuyện về Đặng thùy Trâm, một nữ cán binh CS xâm nhập vào Nam và đã chết ở chiến trường Quảng Ngãi, cô Trâm này chết ở đây nhưng không ai biết nắm xương khô vùi chôn nơi đâu, một người lính Mỹ hành quân qua nơi cô chết và nhặt được cuốn nhật ký của Đặng thùy Trâm, cuốn nhật ký này, như một kỷ niệm chiến tranh của người lính, anh ta đem nó về Mỹ, mấy chục năm sau, nó mới được đưa ra ánh sáng và trao cho mẹ của Đặng thùy Trâm ở Hà Nội.

Nhà nước CSVN chụp được cơ hội này cho xuất bản cuốn nhật ký, dĩ nhiên với nhiều thêm thắt để khơi động lòng yêu nước của đám thanh niên càng ngày càng rời xa chủ nghĩa CS. Đặng thùy Trâm là một Bác sĩ, nhưng không hiểu có được học hành tử tế để thành một Bác sĩ không, tôi đã đọc được một truyện khi ở tù ngoài Bắc là có một anh công nhân được tặng danh hiệu anh hùng lao động vì đã phục vụ 15 năm trong phòng bào chế thuốc, và vì phục vụ hăng say và lâu như vậy, anh được thăng lên làm dược sĩ vì quen với công việc bào chế, phong dược sĩ xong, anh ta mới đi học bổ túc văn hóa vì anh ta viết chữ cũng chưa gọn ghẽ mấy. Bởi vậy, tôi không biết Bác sĩ Thùy Trâm này trình độ có khá hơn y tá Thọ của Đại Đội mình năm xưa không, hay cũng như mấy bà mụ vườn ở nhà quê.

Thưa chị Nở, cả chị và cô Đặng thùy Trâm này là hai người đàn bà ở hai chiến tuyến chết trong cùng cuộc chiến, trong cùng thời gian và độ tuổi cũng gần như nhau, nhưng hai cái chết mang hai ý nghĩa khác nhau, Thùy Trâm bị bắt buộc và tự đi tìm cái chết, còn chị, chị bị chết vì người ta ở mãi đâu vô đây tìm để giết chị, chị chỉ tự vệ, chị không hận thù ai, không ai dạy chị oán thù, không ai tuyên truyền với chị về chủ nghĩa này, chủ nghĩa nọ và cũng không nhân danh chủ nghĩa để chém giết người khác, chị rất đôn hậu, còn cái cô Thùy Trâm kia đã từ ngoài đó vào đây, mang trong lòng sự thù hận bởi sự tuyên truyền nhồi nhét, miền Nam này nào có cần ai phải giải phóng đâu, cho mãi nhiều năm sau này, người miền Nam vẫn khẳng định rằng họ không cần ai giải phóng cả.

Chị Nở có thấy điều buồn cười này không là trong cuốn nhật ký, Thùy Trâm viết là sao quân Mỹ Ngụy tàn ác, thích chém giết, chị Nở có thích chém giết ai không hay người ta vào đây tìm giết chị, từ ngoài đó lần mò vào tận trong này để tìm giết người ta lại còn hô hoán là sao người ta thích chém giết mình, thật kỳ lạ. Cũng trong cuốn nhật ký, Thùy Trâm than phiền là phấn đấu đã lâu nhưng chưa được kết nạp đảng, đây cũng là lý do vì sao Thùy Trâm đi B, cố gắng trong công tác để chỉ mong được đảng kết nạp, chị Nở có biết cô ta mong được kết nạp để làm gì không, thưa là để có cơ hội được làm lớn, có đảng mới được làm lớn, có làm lớn thì mới có quyền và có tiền, bây giờ cả cái nước Việt Nam này, đảng Cộng Sản thi nhau vơ vét tiền bạc của người dân, chúng giầu lắm rồi, hồi trước mỵ dân, chúng đem những người giầu có ra đấu tố, gọi họ là địa chủ, giờ thì ai đấu tố chúng? Thùy Trâm này nếu mà không chết và giả như có ô dù, giờ có thể là Bộ trưởng Y tế hay làm Giám đốc một bệnh viện nào đó thì cũng là những con giòi, con bọ đang tham gia đục khoét thân thể Việt Nam.
Cũng là cái chết nhưng chị chết trong vòng tay người chồng, có mồ yên mả đẹp, có nhang, có khói, tội cho cha mẹ cô Thùy Trâm, không biết nắm xương khô con giờ ở chỗ nào, họa chăng là cái bàn thờ với tấm hình cô ấy mà thôi.

Bốn mươi năm đã qua, bây giờ nhiều thay đổi lắm rồi chị Nở ạ, ông Thiếu úy trẻ năm xưa giờ là ông cụ già rồi, vẫn khó tính như trước và đang phiêu bạt nơi xứ người, Thượng sĩ Hội đã mất, Nở từ ngày đào ngũ tôi không gặp lại, chắc đã có vợ khác, xin được tạ lỗi cùng chị là đã không giữ được đất nước để rơi vào tay quân thù, thật không xứng đáng với sự hi sinh của chị, chúng tôi làm mất nước không phải vì hèn kém, không chiến đấu, mất nước vì bị phải mất nước.

Quên kể cho chị nghe, mấy tháng sau ngày chị mất, vũ khí được tối tân hóa, những cây Garant cổ lỗ sĩ được thay bằng súng M16, còn cây đại liên 30 nặng chình chịch chị biết đấy, thay thế bằng đại liên M60, nhẹ hơn, bắn nhanh hơn và không hay bị kẹt đạn nữa chị Nở ạ. Thôi tất cả đã qua, chúng tôi vẫn không bao giờ quên những người đã hi sinh vì mảnh đất miền Nam thân yêu, không bao giờ quên được những gương chiến đấu dũng cảm của quân và dân trong việc chống lại quân Bắc phương xâm lược, hôm nay ngồi viết lại những hàng chữ này như được thắp nén hương trang trọng cho chị, thưa chị Nở.

Trần Như Xuyên

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Hình ảnh người lính khác, trong nhạc Nguyễn Văn Đông

Image
Ðại Tá Nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông thời trẻ. (Hình: Trung Tâm Thúy Nga)

Image
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông và ca sĩ Giao Linh. (Hình: Trung Tâm Thúy Nga)
Chúng ta có thể nói mà, không sợ sai lắm rằng, dân tộc nào cũng có cho riêng mình, một bài “Chiêu hồn tử sĩ.” Tử sĩ, những người lính trải qua nhiều thời kỳ, chết cho quê hương, tổ quốc họ. Do đó, ngay cả thời bình, hình ảnh người lính cũng xuất hiện rất thường, trong thi ca và, trong âm nhạc. Huống hồ chi, nếu đất nước đó, lại là một đất nước chìm, đắm triền miên trong chiến tranh.

Chân dung người lính, nói một cách đơn giản; hoặc còn được gọi một cách văn vẻ là “chinh phu,” “chinh nhân” hoặc, “chiến sĩ”... được mô tả như thế nào (?) ra sao (?) thì, chúng tùy thuộc cảm quan từng tác giả. Chúng không nhất thiết phải giống nhau, hay chỉ có một diện mạo. Thí dụ nhạc sĩ Lê Thương, người đã cống hiến cho nền tân nhạc Việt Nam, một trường ca bất tử: Trường ca “Hòn Vọng Phu.”

Với trường ca này, chính họ Lê cho biết, được gợi hứng từ tác phẩm “Chinh Phụ Ngâm Khúc” của bà Ðoàn Thị Ðiểm. Nên, người lính trong “Hòn Vọng Phu” của Lê Thương là một “chinh phu.”

Ở một số nhạc phẩm của nhiều nhạc sĩ khác, thì người lính trong ca khúc của họ, lại được gọi một cách dung dị, là “binh sĩ.” Thí dụ hình ảnh người lính trong ca khúc “Ly Rượu Mừng” của nhạc sĩ Phạm Ðình Chương. Một ca khúc như viên ngọc quý, càng ngày càng “lên nước” với thời gian. Trong ca khúc mà chúng ta thường được nghe trong mỗi độ Xuân về, họ Phạm cũng đã dành một vị trí trân trọng cho người lính, qua câu nhạc:

“...Rót thêm tràn đầy chén quan san / chúc người binh sĩ lên đàng / chiến đấu công thành / sáng cuộc đời lành / mừng người vì Nước quên thân mình.” (1)

Một trong những bất hạnh lớn của dân tộc và, đất nước Việt Nam là thường xuyên chìm, đắm trong chiến tranh, ly tán! Vì thế, hầu như nhạc sĩ nào của 20 năm văn học, nghệ thuật miền Nam, ít hay nhiều, cũng đã ghi nhận hình ảnh người lính. Hình ảnh ấy có thể thấp thoáng hoặc, rõ nét. Ðích danh.

Vì vai trò của người lính ở đâu, giai đoạn nào, cũng vẫn là cái nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để bảo vệ quê hương, bảo vệ nòi giống; nên chân dung người lính thường được mô tả một cách hào hùng, lẫm liệt như hình ảnh người lính trong ca khúc “Biệt Kinh Kỳ” (nhạc Minh Kỳ, lời Hoài Linh):

“Bạn ơi! Khi nào ai hỏi đến tên tôi / đời tôi lính chiến cánh chim tung trời / ngày nào khi đất nước hết binh đao / giữa đoàn hùng binh có tôi đi hàng đầu / trở về thành đô nắm tay ta mừng nhau.”

Hoặc lãng mạn, mang tính biểu tượng cực tả, như hình ảnh người lính, trở thành thương binh, trong ca khúc “Ngày Trở Về” của Phạm Duy:

“Ngày trở về có anh nông phu chống nạng cầy bừa / vì thương yêu anh nên ngày trở về / có con trâu xanh hết lòng giúp đỡ...”

Ở một cực khác, cực đối nghịch, cũng với Phạm Duy, trong ca khúc “Kỷ Vật Cho Em” (thơ Linh Phương,) thì, chân dung người lính lại là:

“Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại / xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về / anh trở về có thể bằng chiến thắng Pleime / hay Ðức Cơ, Ðồng Xoài, Bình Giã / anh trở về, anh trở về hàng cây nghiêng ngả / anh trở về có khi là hòm gỗ cài hoa / anh trở về trên chiếc băng ca / trên trực thăng sơn màu tang trắng /... / Anh trở về chiều hoang trốn nắng / Poncho buồn liệm kín hồn anh / anh trở về bờ tóc em xanh / chít khăn sô lên đầu vội vã... em ơi!”

Trong 20 năm tân nhạc miền Nam, Việt Nam, Nguyễn Văn Ðông cũng là một nhạc sĩ nổi tiếng không chỉ với một hai ca khúc viết về người lính mà, với hầu hết những ca khúc ông viết về dề tài này.

Những ca khúc làm thành tên tuổi ông như ca khúc “Phiên Gác Ðêm Xuân,” ông sáng tác đêm giao thừa 1956, khi đang đóng quân ở Khu 9, Ðồng Tháp Mười. Hai ca khúc nổi tiếng khác của họ Nguyễn cũng được ra đời sau đó, là ca khúc “Chiều Mưa Biên Giới,” khi ông đóng quân gần biến giới Việt-Miên và “Mấy Dặm Sơn Khê,” khi đồn trú ở vùng cao nguyên Trung phần.

Nhưng chân dung hay, hình ảnh người lính trong các ca khúc vừa kể của Nguyễn Văn Ðông, tuy cũng đậm tính thơ mộng... Nhưng đó là cái thơ mộng dung dị, nhân bản, gần với đa số, với đám đông, những người lính vô danh.

Ông không vẽ chân dung người lính của ông bằng hình ảnh hào hùng lẫm liệt, như hai nhạc sĩ Minh Kỳ và Hoài Linh. Người lính trong ca khúc của Nguyễn Văn Ðông có thể đi ở hàng... cuối chót, của đoàn quân chiến thắng trở về thủ đô - Thậm chí, họ cũng có thể vắng mặt trong những cuộc duyệt binh, mừng thắng trận; khi ông viết:

“Ðón giao thừa một phiên gác đêm / chào xuân đến súng xa vang rền / xác hoa tàn rơi trên báng súng / ngỡ rằng pháo tung bay, ngờ đâu hoa lá rơi /...? Ước mong nhiều đời không bấy nhiêu / vì mơ ước trắng như mây chiều / tủi duyên người năm năm tháng tháng / mong chờ ánh xuân sang, ngờ đâu đêm cứ đi / Chốn biên thùy này xuân tới chi? / tình lính chiến khác chi bao người / nếu xuân về tang thương khắp lối / thương này khó cho vơi, thì đừng đến xuân ơi! (Trích “Phiên Gác Ðêm Xuân”)

Ông cũng không khẳng định người lính của ông phải là người tạo được những chiến thắng lẫy lừng, như chiến thắng Pleime, Ðức Cơ... mà, chỉ là những cá nhân bình thường, với những tâm tình, những khát khao, nhớ thương đời thường:

“Về đâu anh hỡi mưa rơi chiều nay / Lưng trời nhớ sắc mây pha hồng / đường rừng chiều cô đơn chiếc bóng / người tìm về trong hơi áo âm / gợi niềm xa xăm/ Người đi khu chiến thương người hậu phương / thương màu áo gửi ra sa trường / lòng trần còn tơ vương khanh tướng / thì đường trần còn mưa bay gió cuốn / còn nhiều anh ơi!” (Trích “Chiều Mưa Biên Giới”)

Ông cũng không quả quyết rằng, người lính của ông sẽ trở về bằng một chiếc quan tài có “cài hoa.” Mà, chân dung người lính trong nhạc Nguyễn Văn Ðông là một chân dung bình dị, không quá đặc biệt. Không ngoại lệ. Ðó là một con người như bất cứ một con người nào thuộc về đám đông. Vì ngoài bổn phận người lính, thì trong thẩm sâu của tâm hồn người lính, vẫn là một con người (như mọi người,) với cá tính, rung động, cảm nhận chân thật khi đối đầu, cọ sát với thực tế và vận mệnh chung của dân tộc:

“Anh đến thăm, áo anh mùi thuốc súng / ngoài mưa khuya lê thê, qua ngàn chốn sơn khê / non nước ơi, hồn thiêng của núi sông / kết trong lòng thế hệ, nghìn sau nối nghìn xưa / Bao ước mơ giữa khung trời phiêu lãng / chờ mùa xuân tươi sáng, nhưng mùa thắm chưa sang / anh đến đây rồi anh như bóng mây / chốn phương trời ấm lạnh, hòa chung mái nhà tranh / Anh như làn gió, ham ngược xuôi theo đường mây / tóc tơi bời lộng gió bốn phương / nước non còn đó, một tấc lòng / không mờ xóa cùng năm tháng / mấy ai ra đi hẹn về / dệt nốt tơ duyên...” (Trích “Mấy Dặm Sơn Khê”)

Nhạc sĩ Hoàng Thi Thao, một người gắn bó với sinh hoạt âm nhạc tự những năm giữa thập niên 1950, khi ông còn rất nhỏ, cho biết, người đầu tiên trình bày ca khúc “Chiều Mưa Biên Giới” của Nguyễn văn Ðông là ca, nhạc sĩ Trần Văn Trạch. Họ Trần mang ca khúc này qua Pháp trình diễn. Khi trở về Saigòn, vào đầu năm 1960, tại rạp Hưng Ðạo, cùng với nữ ca sĩ Thái Thanh, ông đã trình bày ca khúc ấy với ban Ðại Hòa Tấu do nhạc trưởng Nghiêm Phú Phi điều khiển.

Bên cạnh đó, theo một bản tin được phổ biến trên trang mạng Bách Khoa Toàn Thư Mở Wikipedia thì, sau khi hai ca khúc “Chiều Mưa Biên Giới” và “Mấy Dặm Sơn Khê” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông được bằng hữu trong giới, trân trọng giới thiệu với quần chúng, tác giả đã gặp nhiều khó khăn từ Bộ Thông Tin Saigòn... Cụ thể, năm 1961, bộ này đã ra quyết định cấm phổ biến hai ca khúc vừa kể với lý do: Nội dung “phản chiến!” Có thể đưa tới sự sa sút tinh thần của những người lính trấn đóng ở những vùng hẻo lánh, núi non, biên giới...

Hôm nay, nhìn lại, người ta thấy, nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông không chỉ cho những người yêu nhạc của ông, một chân-dung-khác về người lính miền Nam Việt Nam, 20 năm. Mà, ở nhiều ca khúc còn lại, ông vẫn trung thành với cảm nhận rất nhân bản, rất con người của mình. Dù cho hình ảnh hay, chân dung của người lính, trong ca khúc của họ Nguyễn, không được chính quyền thời đó, chấp nhận.

Du Tử Lê

Chú thích:

(1) Nhạc sĩ Phạm Ðình Chương từng ghi lại trong tuyển tập nhạc nhan đề “Phạm Ðình Chương, Ly Rượu Mừng” do Phạm Thành xuất bản tại Hoa Kỳ, 1991, thì: Ca khúc “Ly Rượu Mừng” được ông sáng tác năm 1955 tại Saigòn. Ðể đăng trong giai phẩm Xuân Ðời Mới; theo yêu cầu của cụ Trần Văn Ân và, nhà văn quá cố Nguyễn Ðức Quỳnh, là hai người chủ trương báo này.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Khóa 16 Thủ Ðức qua những đoạn đường chiến binh
Saturday, November 28, 2009

Image
Anh em cựu SVSQ khóa 16 Thủ Ðức trao tặng bó hoa Ân Tình đến đại diện các bà vợ hiền.
Trong hình là cựu SVSQ Lê Minh Ðức trao hoa cho bà Nguyễn Xuân Hùng, đại diện các bà vợ hiền của khóa.

Image
Ban tổ chức Huy Phương, Nguyễn Xuân Hùng, Lê Minh Ðức và Hồ Trọng Thắng đang “điểm danh” các cựu SVSQ khóa 16 có mặt trong cuộc họp mặt lần này.
Nguyên Huy/Người Việt

Khóa 16 Thủ Ðức là khóa thứ ba sau lệnh động viên từng phần của nền Ðệ I Cộng Hòa để đáp ứng tình trạng Cộng Sản Bắc Việt gia tăng việc đánh phá miền Nam vừa bằng chính trị, thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam vào Tháng Mười Hai năm 1960, vừa bằng quân sự, đưa những đơn vị chính quy xâm nhập miền Nam tăng cường cho các toán du kích được gài lại sau hiệp định chia đôi đất nước Giơ Ne Vơ 1954 mở được những trận đánh lớn cấp tiểu đoàn và trung đoàn ở nhiều nơi.

Gia nhập quân đội lúc bấy giờ, thế hệ thanh niên miền Nam vừa rời khỏi một nền giáo dục mở rộng, khai phóng, nhân bản của chính phủ Ðệ I Cộng Hòa, đa số đều tốt nghiệp đại học hay trung học, nên hầu hết đều mang một tâm trạng “phải bảo vệ những gì mình đã được hưởng cho con cháu mai sau”. Từ các khóa Thủ Ðức trước đó, bắt đầu từ khóa 12, sĩ số quân trường Thủ Ðức đã gia tăng gấp bội. Khóa 12 sinh viên sĩ quan xấp xỉ 2 ngàn, khóa 13, trên 2 ngàn, khóa 14, trên 2,500, khóa 15, 2,800 và khóa 16 xấp xỉ 3 ngàn. Trường Thủ Ðức đã phải mở thêm 6 dẫy nhà cho SVSQ cư ngụ. Hầu hết các sinh viên các khóa này mà trình diện muộn là được xếp vào Ðại Ðội 11 phải nằm trong căn nhà tôn cất tạm nhưng lại được gần câu lạc bộ của SVSQ.

Trong buổi họp mặt khóa 16 tại nhà hàng China Feast trên đường Beach thuộc thành phố Garden Grove vào sáng hôm Thứ Bẩy 28 vừa qua, gần 200 cựu SVSQ Thủ Ðức khóa 16 đã không kìm được niềm vui như mở hội. Mà quả là mở hội thật. Nhà văn trong quân đội Huy Phương, một cựu SVSQ khóa 16 trong ban tổ chức cuộc họp mặt này cho biết: “Lâu lâu chúng tôi mới tổ chức được một lần. Ðây là lần thứ ba và cũng là lần mở rộng đầu tiên tiếp đón nhiều anh em từ xa về để sau buổi tiệc hàn huyên hôm nay chúng tôi còn có một ‘tour’ du lịch Las Vegas vào ngày mai kéo dài được sự gặp gỡ nhau sau bao nhiêu năm xa cách từ ngày ra trường”.

Luật Sư Nguyễn Thành ở Tampa, Florida sau một chuyến bay về gặp gỡ bạn xưa để nhắc nhở chuyện cũ, niềm nở tay bắt mặt mừng với những anh em đồng khóa vừa nhận ra nhau dưới mái tóc bạc trắng và những bàn tay đồi mồi. Luật Sư Thành cho chúng tôi biết: “Ra trường tôi được về Phủ Ðặc Ủy làm việc. Nhưng là một cơ quan tình báo của VNCH nên anh em chúng tôi ít khi được gặp nhau. Ba Mươi Tháng Tư tản lạc nhau hết, chỉ còn những dịp như thế này mới mong nhìn lại được nhau, thăm nhau xem ai còn, ai mất”.

Chợt nhìn cánh tay gỗ của anh định hỏi thì anh đã cho biết ngay: “Bị công an Cộng Sản bắn hư mất bàn tay trái trong cuộc trốn chạy vượt biên năm 1982 ở Vàm Láng nhưng cũng tới được Mỹ, cố học lại mở được văn phòng luật sư cùng đứa con gái ở Florida và hiện đang nỗ lực tranh đấu trước Liên Hiệp Quốc về thềm lục địa Việt Nam bằng cách liên tục gửi tài liệu đến những thành viên trong Ủy Ban Thềm Lục Ðịa của Liên Hiệp Quốc, tố cáo sự xâm lăng trắng trợn của Trung Cộng được tiếp tay bởi Việt Cộng trên những quần đảo của Việt Nam”.

Tinh thần của thế hệ thanh niên nói chung lúc đó là quyết bảo vệ một miền Nam của đất nước trong tự do dân chủ và phú cường, không thể để rơi nốt vào tay đế quốc Cộng Sản mà CSVN đã lộ rõ bộ mặt tay sai cho đế quốc Ðỏ. Nên hầu hết anh em khóa 16, khi ra trường đều muốn xin đi các đơn vị tác chiến. Tinh thần đó cho đến ngày nay vẫn còn ẩn hiện trong các cuộc tranh đấu của cộng đồng người Việt tị nạn Cộng Sản. Tinh thần ấy còn được thể hiện qua những chân tình quí hóa của anh em khóa 16 và cả gia đình của họ. Một trường hợp khá xúc động khi chúng tôi thấy một thiếu phụ đứng ngoài cửa nhìn vào trong thấy anh em khóa 16 niềm nở với nhau trong cuộc hội ngộ, thiếu phụ đã đưa tay lên chấm nước mắt nhiều lần. Tò mò đến thăm hỏi mới biết thiếu phụ là em gái của họa sĩ Nguyễn Uyên, một SVSQ khóa 16 vừa tạ thế tại Việt Nam được ban tổ chức đăng phân ưu trên tờ Ðặc San của khóa. Cô em gái của SVSQ Nguyễn Uyên, bà Nguyễn Thị Ngọc Minh đến họp khóa thay người anh thân yêu của mình mà ngày anh vào quân trường cô đã nhiều lần lên “Vườn Tao Ngộ” thăm anh và cả khi anh ra tiền tuyến đôi lần cô cũng cùng mẹ đến ăn Tết tiền đồn với anh. Niềm thương còn đọng mãi đến nay với người anh đã từng lên đường theo tiếng gọi của đất nước nên cô muốn đến họp khóa thay anh để “như một nhớ thương gửi người đã khuất”.

Chương trình họp mặt khóa, các cựu SVSQ khóa 16 Thủ Ðức cũng không quên một ơn nghĩa lớn đến những người vợ hiền đã âm thầm chịu đựng cảnh cô phụ trong suốt cuộc chiến lại còn là người vợ thủy chung trong suốt hàng chục năm chồng phải tù đày sau cuộc chiến. Một màn tặng hoa biểu tượng chung của anh em đến các bà vợ trung trinh tiết hạnh này đã diễn ra trên sân khấu với trưởng ban tổ chức Lê Minh Ðức thay mặt anh em trao tặng bó hoa tình nghĩa cho phu nhân của SVSQ Nguyễn Khoa Bình đến từ Boston.

Cũng trong buổi sinh hoạt này, ban tổ chức xướng đọc một danh sách khá dài của anh em trong khóa mong tìm lại được liên lạc.

Khóa 16, theo SVSQ Trần Ðông Phong, tác giả cuốn sách “Mười Ngày Cuối Cùng của VNCH”, thì phải chịu nhiều chua cay nhất như phải đi trình diện vào lúc Saigon đang sục sôi các cuộc “xuống đường” chống chính quyền Ngô Ðình Diệm, Khóa 16 cũng suýt được tham gia vào cuộc đảo chánh, khóa 16 cũng bị một vụ nổ khi thực tập vào giai đoạn II làm thương vong hàng chục SVSQ, ngày ra trường của khóa 16 bị đình hoãn mất một thời gian vì tình trạng xáo trộn chính trị sau cuộc đảo chánh, SVSQ khóa 16 cũng bị kéo dài thời gian lên cấp thiếu úy đến 18 tháng thay vì 12 như trước và khi ra trường phần lớn được điều động về làm chi khu phó mà không được về các đơn vị chiến đấu... Theo SVSQ Nguyễn Xuân Hùng, khóa 16 còn có một số đặc biệt khác như chỉ trong thời gian một khóa học mà có đến ba vị chỉ huy trưởng thay nhau là Ðại Tá Phan Ðình Thứ tự Lam Sơn, Thiếu Tướng Trần Ngọc Tám và Chuẩn Tướng Bùi Hữu Nhơn. Vẫn theo SVSQ Nguyễn Xuân Hùng thì khóa 16 còn có nhiều SVSQ và sĩ quan huấn luyện bị tử thương nhiều nhất trong các khóa.

Với nhiều “cay đắng” và đặc biệt như thế nên anh em cựu SVSQ khóa 16 luôn luôn có ao ước được sống lại với nhau để sau 34 năm tạ từ vũ khí, hoang lạc từ chốn ngục tù Cộng Sản ra khắp bốn phương trời nay thì ai còn ai mất để cùng nhau đếm lại những Ðoạn Ðường Chiến Binh.

Ban tổ chức năm nay gồm các SVSQ Lê Minh Ðức, Ðinh Phụng Tiến, Nguyễn Xuân Hùng, Nguyễn Tiến Ðức, Hồ Trọng Thắng, Vĩnh Tham, Nguyễn Ðức Thắng, Lê Nghiêm Kính (Huy Phương) rất mong muốn anh em cựu SVSQ khóa 16 ở khắp nơi liên lạc về ban tổ chức để kỳ họp mặt tới sẽ đông vui hơn nữa.

Ðịa chỉ liên lạc: E-mail: ducmle05@yahoo.com. Ðiện thoại (714) 469-7797.

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Image

Những đóa thơ cho phố núi Pleiku

Nguyễn Mạnh Trinh

Mấy ngày hôm nay, buổi sáng nào cũng mù mịt sương. Mùa Thu ở đây như gợi lại một nỗi niềm nào. Lái xe trên đường, trong cái mù mịt của đất trời thấy mình như sống lại một thuở nào, ở không gian thời gian nào tuy thật xa nhưng trong giây phút hiện tại lại thật gần gũi. Cái tâm trạng bềnh bồng, của tiềm thức chơi vơi trong buổi sáng hôm nay như dẫn từng bước chân trở về, thuở xa xưa, ngày vừa trên hai mươi tuổi.

Lớn lên ở Sài Gòn, cả một thơ ấu nghịch phá, cả một khung trời mơ mộng. Những ngã tư, những con hẻm, những cổng trường, những mầu hoa Mùa Hạ, những xao xác lạnh cuối năm, tất cả đã thành kỷ niệm. Của một thành phố mà tưởng như chứa cả một phần đời sống của mình. Rồi tuổi đôi mươi, rời khỏi ghế giảng đường vào lính. Thì một thành phố, tuy heo hút sơn cùng thủy tận, nhưng lại chan chứa những kỷ niệm của những chàng lính trẻ, ngông nghênh vào đời tưởng như nắm cả vũ trụ trong tay. Sống ở đó, để thấy nhớ sài Gòn. Nhưng khi đổi về Biên Hòa gần Sài Gòn thì lại nhớ lại thời gian đã qua. Không nuối tiếc nhưng đầy bâng khuâng, và cái không gian se lạnh, cái đêm khuya mưa dầm, cái buổi sáng mù mịt, tất cả trộn lẫn để thành một phong vị khó tả.

Năm tôi lên phố núi tôi vừa qua cái tuổi đôi mươi. Hai mươi tuổi, tâm hồn lúc ấy trắng bong, tràn đầy mơ với mộng. Chưa có kinh nghiệm trường đời nên thường phản ứng trước những chướng tai gai mắt và theo suy nghĩ của nhiều vị chỉ huy, tôi là một đứa ba gai cần phải hành hạ để cho vào khuôn phép. Ở đâu cũng xa nhà nên tôi tình nguyện đi biệt đội Pleiku mút mùa lệ thủy và khi ở đây lập không đoàn thì cũng là một trong những người khai sơn phá thạch của đơn vị.

Thời gian ở thành phố biên trấn này chỉ hơn hai năm mà sao tràn đầy kỷ niệm. Có những lúc, cơm sấy đồ hộp ngày này qua tháng khác mà vẫn vui. Lãnh lương xong, chỉ một vài ngày là sạch nhẵn, thế mà tối nào cũng lang thang ở phố đến nửa đêm mới mò về phi trường. Ở đây, biết bao nhiêu đứa bạn, buổi sáng còn đùa giỡn chọc ghẹo nhau mà vài tiếng đống hồ sau thân xác đã thành sương khói cho những phi vụ không về. Ở đây, có sáng mù sương, thấy đời mệt mỏi như chiếc xe dodge già nua ì ạch leo đầu dốc. Dù rằng tôi lúc ấy chỉ vừa hơn hai mươi tuổi.

Ngày lên Pleiku, có một bài thơ tôi đã làm như tiên đoán được cái không gian của biên tái, của những câu thơ như Lương Châu Từ của Vương Han thời Thịnh Ðường xa xưa. Pleiku có khác nào Lương Châu, cũng là quan ải để trấn giữ biên cương. Ngày xưa thì ngăn giặc Hồ, giặc Mông. Ngày nay, thì canh chừng ba biên giới, với những trận đánh ác liệt mùa khô hàng năm tiếp diễn... Bài thơ ấy, làm vào một đêm trước khi sáng mai lên trực thăng vào phố núi.

“Ừ mai tao lên Pleiku
Ðêm căm hơi đá ngày mù núi xanh
Uống say quên mộng quẩn quanh
Về nơi gió cát cũng đành cuộc chơi
Ừ mai cánh vỗ ngang trời
Ngóng thiên thu một cõi đời tịnh yên
Máu xương mãi chuyện ưu phiền
Còn đâu tiếng gọi cho em miệt mài
Ừ mai súng khoác lên vai
Ngẩn ngơ phố núi những ngày đao binh
Chắc đâu rượu uống một mình
Trong thân phiêu bạc nhục vinh nửa vời
Ừ mai thương bóng trăng trôi
Chim quên vẫy mỏi cuối trời chiến tranh
Uống đi mai hát quân hành
Nghe trong hơi bốc long lanh mắt người...”

Tuổi trẻ, ngây thơ và bốc đồng. Tưởng rằng, mình như một hiệp sĩ thời xưa đi vào nơi gió cát. Thơ cũng nghênh ngang kiểu “túy ngọa sa trường quân mạc tiếu, cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”. Tuổi trẻ, ơi những giấc mơ của ngày chân không chấm đất cật chẳng đến giời. Có phải là giấc mơ chung của những người lính trẻ chúng tôi.

Pleiku, một thành phố nhỏ heo hút ở cao nguyên, nhờ thơ và nhạc, đã thành một nơi chốn đầy thơ mộng. Thành phố ấy, có những tương phản kỳ lạ. Chiến tranh đã làm phố núi ấy có một bộ mặt, khi thì lãng mạn thơ mộng với những tà áo dài nữ sinh đi học buổi sớm mai nhưng cũng có lúc đầy nhục dục xác thịt. Con đường từ phố đến camp Holloway đầy những quán rượu và những cô gái phấn son lòe loẹt. Và, thành phố cũng đầy những sắc lính. Những người từ mặt trận trở về, đốt tiền mua vội một đêm vui rồi sáng mai trở lại miền gió cát. Những người lính đồn trú ở đây, ráng làm quen với cuộc sống ở vùng nắng bụi mưa sình, trong một giây phút nào, cũng nao nao vì những tà áo trắng buổi sáng trong sương mù Pleiku, tìm thấy một chút thơ mộng trong đời để làm kỷ niệm Pleiku, những cuộc tình có thực đầy dông bão của những người lính và những cô gái giang hồ. Nhưng Pleiku cũng có những êm ái thánh thiện của tình học trò áo trắng và người lính dạn dầy trong khói lửa. Pleiku có con đường đầy quán rượu cho lính G.I. viễn chinh nhưng cũng có con đường có hai hàng cây cao vút rợp bóng lá và những tà áo học trò tung bay theo nắng.

Người làm thơ, có lúc cũng cảm khái vì cái không gian, thời gian của thành phố ấy. Mưa cũng là cái mưa đặc biệt, mỗi mỗi hạt mưa như chứa đựng cả những nỗi niềm của tất cả những địa phương xa lạ thu góp về. Nắng cũng là cái nắng không phải của một nơi chốn nào khác, nó mang đến cái hanh hao khó chịu nhưng cũng trong màu nắng ấy lấp lánh những tình cảm thầm thì khó tả. Lạnh cũng chẳng phải là cái lạnh lẽo bình thường mà hình như cỏ cây, đường phố, núi non, ở đây cũng se mình và chia sẻ chung vui buồn với con người. Trong giây phút hiếm có trong đời, cảm xúc đã làm ngôn ngữ tăng thêm lôi cuốn và tạo nhiều ấn tượng. Nguyễn Bắc Sơn, một chứng nhân của cuộc chiến, làm thơ như một cách thế sống, đã coi công việc viết như một phần của đời người. Sống ở Plei ku và viết những bài thơ để gửi Plei ku. Thơ ông, có chút cảm khái ngậm ngùi của thời tao loạn nhưng cũng có những xúc động bềnh bồng của tâm tư lãng mạn hay đùa cợt với cuộc đời. Thơ, phảng phất vóc dáng một chàng cuồng sĩ.

Ðọc bài thơ “Hoa Quì Vàng Lạnh Pleiku”, tự nhiên tôi như người trở về thời gian ấy, không gian ấy. Trở về những ngày tuổi trẻ, của những giây phút bốc đồng coi mọi việc như cuộc đùa chơi. Cái lạnh, chưa hẳn là lạnh lẽo Mùa Ðông, mà còn chứa đựng một chút nồng ấm nào đó của Mùa Hạ. Lạnh ở bên ngoài nhưng rần rần nóng hồi ở tim óc bên trong. Sương mù ban đêm trên đỉnh cao nhìn về phố buồn, tâm thức cũng ào ạt như sóng theo tầm nhìn vời vợi.

“Ðứng trên núi thấy hàng đèn thị trấn
Là thấy mình buốt lạnh mấy nghìn năm
Vì đêm nay trời đất lạnh căm căm
Nên chợt nhớ chút lửa hồng bếp cũ
Nên phải nhớ mắt một người thiếu nữ
Ðã nhìn mình rất ấm một ngày xưa
Dù mai sau ngày nắng tiếp ngày mưa
Nhưng vĩnh cửu chút mơ màng thuở đó”.

Tôi cũng đã sống ở Pleiku gần ba năm. Thời gian ấy trong hơn tổng số bẩy năm ở lính của tôi chắc là đáng kể và đầy chật những điều đáng nhớ. Ngày đầu tiên khi từ Nha Trang xuống phi trường Cù Hanh là một ngày mưa u ám. Mưa sủi bọt trên mặt nhựa phi đạo và bầu trời nặng nề u ám mầu mây đen. Gió ào ạt lồng lộng ngoài kia khiến cho tôi thấy mình quá nhỏ nhoi trong cái buồn mênh mang của đất trời. Lúc ấy, tôi thấy những câu thơ vẩn vơ trong óc của Kim Tuấn, Du Tử Lê, Vũ Hữu Ðịnh, Nguyễn Bắc Sơn. Thơ tự nhiên thành một phần của một ngày, một tháng, một năm, của riêng tôi. Thơ để quên đi hiện tại. Những giọt mưa quất vào mặt, buốt rát. Những ngọn gió thốc vào ngực. Nặng tê.

Ðọc bài thơ dài của Nguyễn Bắc Sơn tôi chỉ thấy có hai câu nói về mầu hoa quì vàng. Thế mà cái mầu sắc hoa man dã ấy chỉ một nét thoáng qua nhưng lại gợi nhiều dư âm. Mầu vàng, có khi là mầu vàng lạnh, nhưng có khi là mầu nóng chói chang của nắng.

“Phố núi kia ơi, một đời phố lạnh.
Lạnh hoa vàng, núi đỏ, thác đèo cao.”

Hoa quì vàng, một loài hoa nhỏ, cây từa tựa giống như hoa cúc, tôi đã nhìn thấy miên man mầu vàng khi trên phi cơ nhìn xuống. Mầu vàng, mênh mang trên những ngọn dồi loang lổ mầu xám của đá và mầu đỏ của đất. Hoa quì, lẻ loi một cánh trên tay thú thực cũng chẳng hấp dẫn lắm nhưng nếu bạt ngàn dưới cánh phi cơ, rào rạt trong nắng trong gió sẽ trở thành một ấn tượng khó quên cho cảm xúc. Ơi hoa quì, mầu vàng không phải kiêu sa như mầu hoàng cúc của áo tôn nữ mà có sự gần gũi với tà áo vàng của dân dã, của thiên nhiên. Hèn chi, cũng có nhiều nhà thơ vấn vương với hoa quì vàng, như Nguyễn Xuân Thiệp, như Kim Tuấn.

Người thơ kể chuyện của mình, một câu chuyện có lẽ rất quen tai của những người lính thú. Cũng đi xuống, đi lên, cũng loay hoay bồn chồn như những chàng gà trống...

“Ðời lang bạt của một người lính thú
Sáng hôm qua tôi là người thiếp ngủ
Ði một mình lên xuống phố mù sương
Phố núi kia ơi, phố có con đường
Lên xuống dốc tìm không ra bạn hữu
Không có bạn tôi làm sao uống rượu
Tôi làm sao sống nổi một ngày đây
Phố núi kia ơi, kẻ lạ đông đầy
Nhìn gã lính không khác gì gã lính”.

Không có bạn tôi làm sao uống rượu. Tôi làm sao sống nổi một ngày đây. Nghe như một câu nói thường ngày, không có chất thơ mà sao nghe tràn đầy thi tứ. Chắc lúc ấy, sự cảm khái của người thơ đã lên cao độ, và, nỗi lạnh lùng thiên cổ như bám vào da vào thịt. Có nỗi nhớ mong, có niềm tiếc nuối. Người em, bây giờ lưu lạc ở đâu?

“...Tôi vận rủi làm một người lãng đãng
Ngó mông hoài khuất bóng của người em
Sáng hôm nay đời sống thật bình yên
Sao phố lại đuổi đi người yểu điệu
Vườn đá tảng bàn chân em huyền diệu
In gót hồng lên lớp bụi đời tôi
Là từ khi tôi hạnh phúc rong chơi
Và quên lãng con thú mù phẫn nộ
Ôi phố núi đêm nay là cổ mộ
Một hàng đèn sáng lạnh cõi bi hoang”.

Bài thơ thứ hai tôi đọc để nhớ Pleiku là của Nguyễn Xuân Thiệp, bài “Pleiku, Tháng Ba 1974”. Ba mươi năm trôi qua, nhưng ngày tháng đó vẫn còn sinh động. Thơ, không ghi chép lại nhật ký ngày tháng mà sao đầy dấu viết của một quãng đời. Ngày ấy, lửa cháy đỏ. Ngày ấy.

Người thi sĩ kể chuyện một mình. Ðâu cần ai hiểu, chỉ để nỗi niềm loang vào sương đêm thành nỗi nhớ mịt mùng.

“Cầm bút viết, Tháng Ba rực cháy
Hàng dầu cao trong bình minh
Cơn sốt của trái chín và cánh đồng
Trận gió hung trưa ngày ấy
Cầm bút viết, đồi hoa quỳ vàng
Tháng Ba xuống khu rừng. Bóng quạ
Rung những nhánh cây màu tàn lửa
Tiếng thét hư không
Chiều rượt qua ngàn”

Những hình ảnh đan vào nhau với những liên tưởng tiếp nối. Ảnh tượng có khi như không liên quan nhau, chỉ là những nét phác sơ lược nhưng lại làm nổi bật được một không gian đầy biến động. Ðồi hoa quỳ vàng, khu rừng, bóng quạ, nhánh cây màu tàn lửa, tất cả như chìm đắm trong nỗi bàng hoàng của thế thời. Cơn bão lửa dậy lên từ hoang vu:

“Tháng Ba, chân trời chớp tía
Những chuyến xe lên đường, cơn mưa chợt đến
Rào qua mái nhà, bàng hoàng. mưa ngưng bặt
Ðêm. Những căn nhà gỗ sáng đèn.
Tháng Ba. Trên đồi vông nở
Tôi trở về thị trấn Tháng Ba
Những sợi dây trời cắt đau trí nhớ
Cườm tay em nhỏ máu hè xưa”.

Xa rồi những ngày thơ mộng. Gần lắm rồi những nỗi kinh hoàng. Cái linh cảm của một cuộc địa chấn là cái linh cảm chung của những người như những con chuột đang cuống cuồng trong rọ. Thị trấn sẽ thành biển lửa, nay mai. Sẽ đầy những cuộc chia ly đầy nước mát. Thảm họa sụp xuống, như cơn hồng thủy đến.

“...Vò nát chiếc khăn. và đừng khóc
Chiều nay. Chớp bể mưa nguồn
Chia tay nhau. Sương phụ
Người đi râu bám bụi đường
Tháng Ba. Em. Những căn nhà gỗ
Ánh đèn khuya. Vệt máu hè xưa
Ðừng tiếc chiếc khăn tay ngày ấy
Sẽ bay trong lửa hoàng hôn
Tháng Ba. Cơn giông rền mặt đất.”

Ðọc xong hai bài thơ, tôi như người hụt hơi. Ðời sống, như một hơi khói nhẹ, loãng bay vào hư không. Tự nhiên, thấy lòng mình chùng xuống những kỷ niệm. Những bài thơ. Thuở đã xa. Ngày còn trẻ. Và hoa quì vàng, cái màu vàng loang sắc nắng của buổi nào, bây giờ có còn vương trên núi đồi không? Cái sắc màu hỏa hoàng trong những buổi chiều nhạt nắng ấy sao nhức nhối ký ức. Thị trấn ấy, như câu thơ Vũ Hữu Ðịnh:

“Phố núi cao phố núi trời gần
Phố xá không xa nên phố tình thân
Ði dăm phút đã về chốn cũ
Một buổi chiều nào lòng bỗng bâng khuâng
Em Pleiku má đỏ môi hồng
Ở đây buổi chiều quanh năm Mùa Ðông
Nên mắt em ướt và tóc em ướt
Da em mềm như mây chiều trong”.

Có khi em Pleiku chỉ là tưởng tượng. Thi sĩ đã làm thành một nhân dáng nữ tuyệt vời để tô điểm cho phố núi ấm áp hơn trong cái lạnh se se Tây Nguyên. Thơ như tháp cánh vút lên, để những hàng cây dầu hai bên con đường học trò vươn lên mầu lá xanh hiền. Thành phố có em, là thành phố mà tình yêu đã làm một thứ trang sức cho đời lính thú biên trấn xa xôi. May mà còn có niềm vui.

Thơ về Pleiku thì nhiều, nhiều lắm. Kim Tuấn, Diên Nghị, Du Tử Lê, Võ Ý, Lê Bá Ðịnh, Lâm Hảo Dũng... đã trải lòng mình lên thành những rung động thật với nơi chốn mà mình đã qua hoặc gắn bó. Pleiku, nhắc đến nó để nhớ lại một thời lửa đạn. Và, nếu có người sưu tập thành một tuyển tập có chủ đề về nơi chốn ấy, chắc sẽ có một quyển sách cả ngàn trang mới mong đầy đủ hết thơ văn của những người hoài vương vấn với mưa sình nắng bụi cao nguyên.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image

Các Anh Đi
Thơ Hoàng Trung Thông -
Nhạc Văn Phụng
Ca sĩ Ngọc Lan


Các anh đi… ngày ấy đã lâu rồi
Các anh đi… đến bao giờ trở lại !
Xóm làng tôi trai gái vẫn chờ trông

Làng tôi nghèo nho nhỏ ven sông
Gió bấc lạnh lùng thổi vào mái rạ
Làng tôi nghèo gió mưa tơi tả
Trai gái trong làng vất vả ngược xuôi

Các anh về, mái ấm nhà êm
Câu hát tiếng cười rộn ràng trong xóm nhỏ
Các anh về, tưng bừng trước ngõ
Lớp lớp đàn em hớn hở theo sau
Mẹ già bịn rịn áo nâu
Vui đàn con ở rừng sâu mới về

Làng tôi nghèo xóm nhà tre
Các anh về không chê làng tôi bé nhỏ
Nhà lá đơn sơ... nhưng tấm lòng rộng mở
Nồi cơm nấu đỗ,
Bát nước chè xanh,
Ngồi vui kể chuyện tâm tình xa xôi

Các anh đi... ngày ấy đã lâu rồi
Xóm làng tôi còn nhớ mãi
Hỡi đoàn người trai trẻ đấu tranh

Các anh đi... ngày ấy đã lâu rồi
Các anh đi... đến bao giờ trở lại !
Xóm làng tôi trai gái vẫn chờ trông...

Xóm làng tôi trai gái vẫn chờ trông...
Xóm làng tôi trai gái vẫn chờ trông…

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Lịch Sử Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hoà
Giao Chỉ - San Jose


Nghĩa tử là nghĩa tận. Nghĩa nào là Nghĩa Trang.
Từ muôn trùng xa cách. Nhắn ai về cố hương.
Ðốt nén nhang viễn xứ. Gửi người dưới mộ sâu.
Bao nhiêu năm quên lãng. Chợt xót thương một lần ...


Thăm Nghĩa Trang xưa

Năm nay mới bước vào mùa Lễ Tạ Ơn Hoa Kỳ, vé máy bay về Việt Nam ăn Tết đã bán hết.
Kinh tế lên, người ta có tiền, vui vẻ về quê ăn Tết. Kinh tế xuống, thất nghiệp, buồn tình cũng về quê ăn Tết !

Thôi bạn đã về, xin nhắn bạn về thăm một chỗ,
Các cháu đã về, xin nhắn cháu về thăm một nơi : Nghĩa Trang Biên Hoà

Image
Ngày xưa, lúc mới chạy đi, ông Kỳ viết cuốn sách tựa đề là "20 Năm, 20 Ngày". Ý ông nói là miền Nam chiến đấu trong 20 năm, nhưng mất trong 20 ngày.

Ông hô hào chiến đấu, nhưng ông lại bỏ đi. Hụt hẫng cả đạo quân. Hai mươi năm sau, ông lại ra sách, tự xưng là con của Phật. Rồi ông trở về, cũng thăm lại Nghĩa Trang. Ngông nghênh, áo xanh, quần xọoc. Ông làm nhục anh em. Ông làm buồn lòng người sống, và ông làm tủi vong linh người chết. Sau khi đóng vai hàng thần lơ láo, ông làm hoen ố hình ảnh Nghĩa Trang xưa đã hoang phế lại còn thêm ảm đạm.

Không,

Tôi không muốn các bạn về thăm như ông HT (ghi chú của người lên lưới : xin đọc là Hèn Tướng) Nguyễn Cao Kỳ.

Ngày xưa, ông Trung Tướng Thiệu có tuyên bố một câu khá ngậm ngùi :

“Mất nước, là mất tất cả”.

Thật đúng như thế. Chúng tôi và các bạn sĩ quan cao niên, chẳng những mất nước, mất cả binh đoàn, đành mất cả thể diện. Ðám chạy đi mang mối tủi nhục lưu vong, người ở lại gánh nỗi buồn ‘cải tạo’. Nhưng Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu đã qua đời, ông không biết rằng cho đến ngày nay, ba mươi ba năm sau cuộc chiến, chúng ta chưa mất hết. Chúng ta vẫn còn lại Nghĩa Trang Biên Hoà.
Image Khi cuộc chiến miền Nam đứt phim vào tháng tư phiền muộn, Bắc quân vào tiếp quản miền Nam. Bộ đội ăn cướp theo binh đoàn. Cơ sở ăn cướp theo nhà cầm quyền. Nhà, nhà bị chiếm. Ngành, ngành tiếp quản. Trại lính, nhà thương, phòng sở và doanh trại. Tất cả đều bị chiếm đóng. “Giặc từ miền Bắc vô Nam, bàn tay dính máu đồng bào”. Bài ca tiên tri của cục chính huấn như còn vang vọng nơi đây. Nhưng thực ra, có một nơi, giặc chỉ phá phách mà không chiếm đóng. Ðó là Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà. Nơi chúng ta đã bỏ lại 16 ngàn tử sĩ dưới mộ sâu, trong lòng đất nơi quê mẹ. Nơi có đại diện quân dân chính. Có đầy đủ quân binh chủng. Nơi thể hiện thực sự tình huynh đệ chi binh.

Với tư cách là người biết về Nghĩa Trang này trước năm 1975 và đã có dịp nghiên cứu suốt 15 năm qua sau cuộc chiến, tôi xin gởi đến các chiến hữu bản tường trình đầu đuôi và các đề nghị cần thiết để cứu lấy Nghĩa Trang Biên Hoà.
Nghĩa Trang ngày gẫy súng Khi miền Nam gẫy súng ngày 30/04/1975, Nghĩa Trang Biên Hoà là phòng tuyến rộng 125 mẫu đang trải qua những giây phút sau cùng. 16 ngàn tử sĩ Việt Nam Cộng Hoà nằm dưới mộ sâu, chung quanh ‘Nghĩa Dũng Đài’ chiếm ngụ hơn 50 mẫu. Từ trung tâm chia ra làm 8 lô theo hình nan quạt. Các cấp chỉ huy nằm trong vòng chính giữa, rồi đến vòng cung mai táng các sĩ quan. Mộ chôn từ năm 68 Mậu thân đến mùa hè Ðỏ lửa 72 đã có bệ ciment. Mộ chiến sĩ tử trận sau này còn đắp đất nằm vòng ngoài. Sáng ngày 1 tháng 5 năm 1975, những người còn lại quanh Nghĩa Trang đã chôn cất lần chót tất cả di hài quân dân lẫn lộn vào những mộ tập thể. Từ đó đến nay không có ai được chôn cất thêm tại khu Nghĩa Trang lịch sử nữa. Sau 1975 Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà chỉ có những ngôi mộ cải táng đem đi, không có chôn cất mới.

Bức tượng ‘Thương Tiếc’ ngoài đầu xa lộ bị địch phá bỏ, kéo đi. Nhà máy nước Bình An chiếm đóng giữa con đường từ Ðền Tử Sĩ đến Nghĩa Dũng Ðài. Chung quanh khu Nghĩa Trang, bộ đội, dân chúng và nhà cầm quyền chiếm dụng làm doanh trại và nhà cửa.

Vì lý do muốn xâm lấn thêm đất vòng ngoài, có lần nhà cầm quyền Cộng Sản ra lệnh một số ngôi mộ phải cải táng. Ai có thân nhân nằm tại vùng bị giải toả phải dọn đi, nếu không, thì nhà cầm quyền sẽ giải quyết. Cho đến nay, không ai biết rõ Cộng Sản đã giải quyết ra sao, nhưng cụ thể là phía Nam và phía Bắc của vòng tròn chôn cất chung quanh Nghĩa Dũng Đài đã bị xâm chiếm. Rồi nhà cầm quyền cho xây một bức tường theo con đường vòng phía Nam Nghĩa Trang, chỉ dành lối vào bên hông. Ðường vào cổng chính đã bị nhà máy nước Bình An chắn ngang. Doanh trại bộ đội xây cất thêm phía Bắc. Trồng cây xanh khắp nơi trong Nghĩa Trang để huấn luyện tân binh. Toàn thể khu vực trở thành vùng quân sự cấm quay phim, chụp hình. Lúc dễ, lúc khó, thân nhân vẫn được vào thăm mộ nhưng phải đi theo bức tường phía Nam và đi ngả sau. Ðó là tình trạng đã xảy ra cho đến tháng 04/1993
Tảo mộ chui
Từ khi biết được Nghĩa Trang Quân Đội tại Biên Hoà vẫn còn đó, chúng tôi bắt đầu liên lạc với các gia đình có mộ tử sĩ. Xin hình ảnh tảo mộ, xin copy của cuốn phim quay việc cải táng. Bắt đầu gởi người về thăm viếng từ 1993 đến 1996. Từ năm 1997, tổ chức các toán thương phế binh Sài Gòn, Gia định đi công tác. Nhiều toán nhận nhiệm vụ vừa tảo mộ vừa vẽ bản đồ. Chúng tôi cần tài liệu để làm mô hình Nghĩa Trang cho Viện Bảo Tàng. Các anh em thương phế binh thăm mộ ngày Tết, thanh minh tháng ba, tháng năm xá tội vong linh, ngày Quân lực tháng sáu, lễ Giáng sinh, rồi tiếp đó lại chào mừng năm mới. Thực sự cũng chẳng tốn kém nhiều. Một chút tiền gởi thêm là đủ cho các chiến binh quê nhà vận động bà con công tác. Hình chụp được rất nhiều. “Before and After”. Cùng một chỗ. Trước là cỏ mọc um tùm, sau là mộ phần quang đãng. Trước là đám đất xác xơ, sau đã vun lên thành ngôi mả mới. Rồi bia được gắn lại với tên kẻ sơn rõ ràng. Người thương binh còn sống vui mừng, anh tử sĩ đã chết cũng ngậm cười nơi chín suối. Công việc diễn tiến đến nay, trước sau đã 15 năm. Những năm sau này có các đoàn thể và gia đình trong nước hay hải ngoại về tảo mộ. Có gia đình sửa sang phần mộ. Có gia đình cải táng. Bà con hai xã Bình An và Bình Thắng có thêm dịch vụ. Hiện có cả danh thiếp phát ra ghi tên bà Hai, ông Ba chuyên nghề trông nom mộ phần lâu dài, hay chỉ dọn dẹp một lần cho tươm tất.

Cho đến nay, việc tảo mộ tại Nghĩa Trang Biên Hoà không còn là một công tác tưởng như là điệp vụ khó khăn. Cũng không phải là độc quyền của một cơ quan từ thiện, hay một cá nhân, đoàn thể. Hơn 10 ngàn mộ còn đó, ai cũng có thể tình nguyện vào dọn dẹp. Những người chiến sĩ của chúng ta vẫn mãi mãi nằm chờ dưới đất lạnh nơi quê hương, Anh là bà con thân thuộc của chính chúng ta. Mồ mả đắp xong, cỏ dọn sạch, nén hương viễn xứ đốt lên cho không khí đượm mùi nhang khói. Ðặc biệt mở bao thuốc lá Hoa Kỳ, châm cho mỗi anh một điếu. Một bao là hai mươi điếu. Ðốt cháy đỏ rồi cắm xuống cạnh hai mươi tấm bia ciment đã tàn tạ. Nếu nghe được tiếng động dưới mộ sâu, cũng không phải là chuyện lạ.

Các bạn lên Nghĩa Trang buổi sáng, cùng người dân quê, ta dọn dẹp chừng vài chục mộ phần. Tìm khu nào um tùm, hoang vắng nhất mà công tác. Buổi trưa làm một lễ nhỏ đạm bạc. Chọn một chiến sĩ nằm chính giữa làm bà con, chung quanh mộ của anh là xóm giềng. Làm đến đâu quay phim chụp hình đến đó. Buổi chiều, là giây phút thắp hương và hút chung điếu thuốc giã từ. Mặt trời đã lặn sau Nghĩa dũng Ðài. Cảnh Nghĩa Trang Quân Đội tuy hoang vắng thê lương nhưng vẫn có vẻ đẹp trang nghiêm và huyền bí. Mỗi người nằm dưới đất đều có một câu chuyện và chính người viếng mộ cũng có một câu chuyện. Câu chuyện tử sinh đôi ngả. Chuyện chinh chiến, tù đầy, vượt biên và cuộc sống còn lại.

Trong suốt 15 năm tổ chức tảo mộ, chúng tôi có 10 đoạn phim quay từ năm 1997 đến năm 2008, và chúng tôi có hàng ngàn tấm hình. Hình các bia mộ, hình cảnh Nghĩa Trang trước và sau 1975, và hình các công trình kiến tạo.

Một trong các trưởng toán công tác danh tiếng của chúng tôi là ông Trần Văn Tảo, người đã tổ chức lễ tưởng niệm các chiến sĩ VNCH nhiều lần, có làm lễ truy điệu và có quay phim. Một hôm ông gọi điện cho chúng tôi, báo cáo tấm mộ bia chiến sĩ vô danh trước đây vẫn còn, sau biến mất, nay mới tìm thấy lại. Nếu không cất đi, sẽ bị phá hoại hay đánh cắp. Ông Tảo nói thời gian gần đây, ông bị đau nặng, không biết sẽ ra đi lúc nào. Vậy xin niên trưởng bên Mỹ lo cho cháu nó ra đi. Cháu đây là tấm mộ bia. Ðó là anh chiến sĩ vô danh, không có tên, nhưng có ghi ngày mai táng.

Chúng tôi cho tin về để bác Tảo cất dấu. Sau đó anh em chúng tôi tìm đường cho bia đá vượt biên. Ðây là mộ bia chiến sĩ vô danh duy nhất và nguyên thủy của Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà từ trước năm 1975. Cháu qua Hoa Kỳ vào đầu năm 2004. Ðến tháng 04/2004, trưởng toán công tác Trần Văn Tảo qua đời. Công việc giao cho người khác tiếp tục. Tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà ngày nay có một tấm bia chiến sĩ vô danh mới làm lại. Ðây chỉ là phó bản. Bản chính đã đặt tại Viện Bảo Tàng ở San Jose.
Ngày Quân Lực 1975 Nếu năm 1975 không phải là năm Cộng Sản tổng tấn công. Nếu không có trận dò dẫm mở đường đánh Phước long. Nếu không có trận dứt điểm Ban Mê Thuột. Không có cuộc triệt thoái 2 quân đoàn từ hoả tuyến cho đến cao nguyên. Chúng ta đã tổ chức ngày Quân lực tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà vào 19 tháng 6 năm 1975.

Ngày đó toàn thể quân đội vẫn còn căng ra khắp bốn vùng đất nước để dành dân giữ đất nên không thể tập trung về Sài Gòn tổ chức diễn hành. Phủ Tổng Thống và Bộ Tổng tham mưu QLVNCH dồn nỗ lực cho ngày quân lực vinh danh các chiến sĩ đã hy sinh. Tất cả các tiểu khu đều tổ chức lễ chiến sĩ trận vong tại Nghĩa Trang Quân Đội riêng của mỗi tỉnh. Trung ương có Bộ Tổng tham mưu phối hợp công tác giữa ba Tổng cục : Tiếp vận, Quân huấn, và Chính trị. 16 ngàn ngôi mộ được hoàn chỉnh với 100 % các tấm ciment phải đúc xong, Nghĩa Dũng Đài với vành khăn tang hoàn tất.

Một ngàn sáu trăm sinh viên sĩ quan từ các quân trường Hải,Lục, Không quân về tham dự.

Ngay từ buổi chiều hôm trước, các sinh viên đã chia vùng và lên phiên. Mỗi người phụ trách 10 ngôi mộ. Khi hoàng hôn phủ xuống là hương nến thắp lên. Lễ truy điệu lúc 10 giờ đêm, cũng được gọi là Đêm Canh Thức.

Từ trên Nghĩa Dũng Đài nhìn xuống hay từ Ðền Tử Sĩ ngó lên, 16 ngàn ngôi mộ thắp nến một lượt, 1600 sinh viên sĩ quan cầm đuốc đi lại giữa hàng mộ chí. Ðoàn trực thăng của Phái Đoàn Chính Phủ, Quốc Hội, Tổng Thống và các tướng lãnh Tổng tham mưu chiếu đèn đáp xuống. Ðội quân nhạc của Hải, Lục, Không Quân cùng rền rĩ tiếng kèn chiêu hồn tử sĩ. Từ phía sau doanh trại của Liên đội chung sự, tiếng nổ vang trời do Công Binh đốt mìn và tiếp theo là ngọn lửa bốc cao với các thung dầu thô lấy từ giếng dầu Bạch Hổ ngoài khơi Biển Ðông. Trên nền trời xám, khói đen bay lên cuồn cuộn như ngọn nấm của bom nguyên tử.

Ðó là biểu hiện giấc mơ của Tổng Thống Thiệu muốn lấy kho dầu Biển Ðông thay cho viện trợ Mỹ mà chống giữ miền Nam. Cầu nguyện cho linh hồn 16 ngàn tử sĩ nằm tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà phù hộ cho miền Nam đang rã rời vì Mỹ bỏ rơi. Nhưng đây chỉ là giấc mơ không bao giờ thành sự thực. Những tháng đầu của năm 1975 là ngày giờ của thảm hoạ kinh hoàng nối tiếp. Chúng ta không bao giờ có ngày tưởng niệm 19/06/1975 tại Nghĩa Trang Biên Hoà. Ngay sau 30/04/1975, tại Nghĩa Trang với 16 ngàn ngôi mộ, không một ngôi mộ nào được toàn vẹn, không một tử sĩ nào còn được viếng thăm nhang khói. Hàng trăm ngàn quân, dân, chính Việt Nam Cộng Hoà xếp hàng vào trại ‘cải tạo’.
Dân sự hoá Tháng 07/2007, nhà cầm quyền Cộng Sản Hà Nội ra lệnh dân sự hoá Nghĩa Trang Biên Hoà. Từ 16 ngàn ngôi mộ đã cải táng, đến nay còn hơn 10 ngàn ngôi mộ. Từ 125 mẫu năm 1975 nay bị chiếm hết đất trống nên chỉ còn 52 mẫu. Bức tường phía Nam được xây vào thời kỳ 1980. Nay bàn giao xong, bộ đội rút đi. Bức tường phía Bắc xây thêm để ngăn Nghĩa Trang với khu giao cho Trung tâm giáo dục. Khu phần mộ được gọi là Nghĩa Trang nhân dân xã Bình An. Bảng cấm chụp quay phim đã được gỡ bỏ. Việc quản trị chưa có lệnh chi tiết. Cho phép cải táng đem đi nhưng không được phép chôn cất mới, dù rằng tại đây vẫn còn chỗ cho gần 5000 ngôi mộ bỏ trống.

Cộng Sản vào chiếm nhà của dân Sài Gòn vượt biên. Cộng Sản vào chiếm ngụ nhà của HO ra đi. Những ngôi mộ tử sĩ miền Nam cải táng về quê. Không có chiến binh Cộng Sản qua đời vào nằm thay thế.

Ngay sau khi lệnh dân sự hoá ban hành, chúng tôi có dịp đặt vấn đề với ông Thủ Tướng Việt Nam, qua hình thức đặt câu hỏi trực tuyến bằng Internet. Qua đài BBC chuyển tiếp. Câu hỏi được ghi nhận nhưng không có câu trả lời.

Tiếp theo, gởi hồ sơ đặt vấn đề đến văn phòng Thủ Tướng tại Hà Nội, gởi qua Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, qua đại sứ Mỹ tại Việt Nam, qua các dân biểu. Kết quả cho biết tài liệu đã nhận được nhưng cũng chưa có câu trả lời.
Hỏi thăm Thủ Tướng Với tư cách là một công dân Hoa Kỳ, có chiến hữu nằm tại Nghĩa Trang, chúng tôi đã xin Thủ Tướng nhà cầm quyền Việt Nam các điều chính sau đây :

1) Ban hành quyết định dành Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà là khu di sản lịch sử của quốc gia, cần bảo vệ và duy trì nguyên trạng. Tuyệt đối không được lấn chiếm, phá hoại hay làm hư hỏng các công trình kiến trúc lịch sử và các phần mộ.

2) Cho điều tra và quy định trách nhiệm cho giới chức nào đã phá hoại 10 thước chiều cao của Nghĩa Dũng Đài vào năm 2004. Ðây là một công trình có giá trị lịch sử rất quan trọng. Nếu không được bảo vệ sẽ mở đường cho việc phá hoại toàn diện về sau.

Lời yêu cầu kể trên dựa trên nền tảng văn hoá truyền thống Việt Nam, phản ảnh tính văn minh của nhân loại, được bảo vệ bởi các công ước quốc tế về việc tôn trọng di hài tử sĩ, mồ mả chiến binh. Nhà cầm quyền Việt Nam đã ký kết từ Geneve 1954 đến Paris 1973 cũng như các luật lệ theo công pháp quốc tế mà Việt Nam phải tuân thủ với tư cách là thành viên của Liên Hiệp Quốc.
Nghĩa Trang vẫn còn đó, tại sao ? Sau 33 năm cuộc chiến, ngày nay Nghĩa Trang Biên Hoà vẫn còn đó . Lý do chính là vì có sự tới lui thăm viếng của gia đình tử sĩ. Mặc dù bị phá hoại và quên lãng nhưng thực sự vẫn có thể coi như tồn tại. Tuy nhiên không có gì bảo đảm tất cả sẽ bền vững muôn đời. Thời gian, thiên nhiên và chính con người sẽ làm các di tích lịch sử tàn lụi hay được bảo vệ. Vì vậy nhờ sự chia xẻ thông tin, thường xuyên thăm viếng, chúng ta sẽ có nhiều nỗ lực và sáng kiến thích hợp. Nghĩa Trang Quốc Gia Hoa Kỳ tại Arlington là một thí dụ cụ thể. Xin hãy ghi lại những năm lịch sử của một đất nước trẻ trung và hùng cường nhất thế giới. Chiến Tranh Dành Độc Lập 1775-1783, tử sĩ chôn khắp mọi nơi. Năm 1864, tử sĩ đầu tiên của cuộc nội chiến Nam Bắc chôn tại Arlington. Khi chiến tranh chấm dứt, miền Bắc chôn tổng cộng 16 ngàn tử sĩ của Liên Bang tại Nghĩa Trang Quốc Gia. Ðồng thời có khu mộ tập thể chôn cất chung binh sĩ của cả 2 miền. Trên toàn lãnh thổ của các tiểu bang miền Nam đã có hàng trăm Nghĩa Trang lớn nhỏ mai táng chiến binh của phe bại trận nhưng đã được xây dựng và bảo toàn bởi luật lệ của Liên Bang từ phe chiến thắng. Nhưng thực sự phải chờ đến 40 năm sau, mới đến ngày Hoà Giải Dân Tộc. Gần 500 ngôi mộ tử sĩ miền Nam được cải táng đem vào chôn tại Arlington, chung quanh Tượng Đài với hình ảnh bà mẹ chiến sĩ dân quân của phe Liên Hiệp thua trận. Tiếp theo, nhiều mộ phần của các chiến sĩ anh hùng hy sinh từ cuộc chiến tranh cách mạng chống Anh Quốc cũng được cải táng đưa vào Arlington. Ðó là phương cách của người Mỹ đối xử với phe thù nghịch sau chiến tranh, dựa trên nền văn hoá trẻ trung của hơn 200 năm lập quốc. Dân tộc Việt Nam chúng ta, với 4000 năm văn hiến, tiền nhân đã dậy rằng, nghĩa tử là nghĩa tận. Ðến bao giờ Nghĩa Trang Biên Hoà mới có thể trở thành di sản lịch sử của Quốc Gia. Ðến bao giờ những di hài các chiến binh miền Nam chết trên chiến trường, trong các trại tù mới được tìm kiếm và đem về cải táng tại Biên Hoà. Lúc đó Nghĩa Trang Biên Hoà có còn không ?
Cứu lấy Nghĩa Trang Trên đây là toàn bộ bản tường trình về Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà. Chúng tôi cũng có một bản tóm lược về lịch sử Nghĩa Trang đính kèm. Ðể có thể cứu lấy Nghĩa Trang Biên Hoà một cách cụ thể, xin đề nghị các điểm sau đây :

Thứ nhất : Không khuyến khích quý vị về thăm quê hương, nhưng hàng triệu người đã về. Chúng tôi xin các bạn, có về Việt Nam, xin một lần đến thăm Nghĩa Trang Biên Hoà.

Thứ hai : Viết thơ cho dân biểu địa phương để xin quí vị quan tâm đến vấn đề này. Không cần đặt ra những đề nghị phù phiếm, không tưởng. Không đòi hỏi phải xây cất, trùng tu qui mô lớn lao. Không cần phải tổ chức lễ hội giải oan hay hoà hợp. Chỉ cần xin bảo vệ cho toàn thể 52 mẫu còn lại không bị xâm phạm. Các kiến trúc hiện hữu sẽ không bị hư hỏng thêm. Nhiên hậu những bước kế tiếp sẽ được thời gian giải quyết.
Cho tôi xin một mộ phần Cá nhân chúng tôi có một câu chuyện. Năm 1968, chiến tranh khốc liệt, khói lửa lan đến cả Sài Gòn, Chợ lớn. Một lần, tôi và Ðại Tá Ðỗ Tùng lên thăm Nghĩa Trang, gặp Ðại Tá Nguyễn Tử Ðoá, Cục Trưởng Quân Nhu. Nửa đùa nửa thiệt, bác Ðỗ Tùng và tôi, xin đặt mỗi người một lô. Bây giờ ông Ðoá qua đời, chôn ở miền Trung Mỹ. Ông Ðỗ Tùng đi trước, chôn ở Nghĩa Trang Hollywood.

Trong số 3 anh Bắc Kỳ ngày xưa lẩm cẩm dành đất Nghĩa Trang Biên Hoà, chỉ còn một người, có ngày sẽ về nằm lại ở nơi hẹn ước. Nếu có sớm nằm chơi dưới cội hoa trên miền đất tạm dung thì thế hệ tương lai sẽ thi hành di chúc. Ðứa cháu ba đời đem hũ tro tàn leo 65 bậc thang sắt đặt trên đỉnh ngọn Tháp của Nghĩa Dũng Ðài. Ngọn gió đông bắc tháng tư sẽ thổi di hài cát bụi của người giao chỉ bay khắp cánh đồng mộ chí. Sống đã chẳng trọn tình chiến hữu, đành tìm con đường chung sự lãng mạn để trả nợ binh đoàn.

16 ngàn ngôi mộ bỏ lại năm 1975, trên 5000 tử sĩ đã cải táng về quê khắp 4 vùng chiến thuật. Ðể lại 8 khu Nghĩa Trang, khu nào cũng còn đất trống. Nếu Nghĩa Trang được bảo vệ, quý vị thử nghĩ coi, đâu có anh cán bộ Cộng Sản nào dám vào nằm cạnh nhẩy dù hay thủy quân lục chiến ! Dân chúng cũng không muốn vào đấy nằm. Có chăng là các cựu chiến sĩ VNCH, các thương binh liệt sĩ còn tại Việt Nam. Hay là những người lính tha hương muốn về gởi nắm xương tàn nơi quê hương. Nếu là cựu chiến sĩ, thì vào đó chứ còn đi đâu ? Lịch sử Nghĩa Trang Quốc Gia Hoa Kỳ cho thấy cả trăm năm sau mà người ta vẫn còn cải táng đem di hài tử sĩ vào Arlington.
Ðó là lý do tại sao chúng ta phải cứu lấy Nghĩa Trang Biên Hoà ...

Khi tôi chết, đừng đem tôi ra biển,
Hãy đem về chôn tại Nghĩa Trang xưa

Giao Chỉ, San Jose.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Lễ đặt vòng hoa tại nghĩa trang Arlington,
tưởng niệm các chiến sĩ Mũ đỏ Việt Nam và
cố vấn nhảy dù Hoa Kỳ hy sinh tại Việt Nam


Ðại-Cồ-Việt, GÐMÐ/D.C.
Năm nay Mùa Thu Washington dường như ấm hơn mọi năm. Rừng lá thu vàng vẫn còn những cây đỏ thắm vàng rực sót lại cuối mùa, khoe màu trong một ngày nắng nhẹ. Sáng nay, mùng 10 tháng 11, nghĩa trang quốc gia Arlington lại càng nhiều những cành lá vàng thắm rực rỡ trang điểm những cây to đứng lác đác lẻ loi giữa những hàng bia trắng xinh xắn chạy đều tăm tắp trên thảm cỏ xanh tươi mơn mởn dài vô tận, không bao giờ héo úa.

Ðoàn xe đưa các cựu chiến binh Mũ đỏ từ những tiểu bang xa gần về Washington D.C. chạy thật chậm vào địa điểm hành lễ, một nơi cao đẹp có tảng bia đá vinh danh và cây tưởng niệm được gieo trồng từ năm 2000, dành cho sư đoàn Nhảy dù Việt Nam Cộng Hòa và các quân nhân Hoa Kỳ thuộc toán 162, cố vấn của binh chủng Nhảy dù Việt Nam.

Ðoàn người trong quân phục Sư đoàn Nhảy Dù Việt Nam Cộng Hòa ngồi lặng lẽ trang nghiêm trên từng xe, khác hẳn không khí tươi vui lúc vừa gặp nhau nơi điểm chờ đợi bên cạnh tượng đài kỷ niệm của Sư đoàn Nhảy dù 101 Hoa Kỳ. Cựu Trung tướng James V.Vaught, nguyên chỉ huy trưởng đoàn cố vấn 162 của Sư đoàn Nhảy dù Việt Nam, đã đến với anh em mũ đỏ Việt Nam để cùng vào điểm hành lễ. Ông bắt tay và ôm lấy từng người chiến binh mũ đỏ trong hai hàng quân 40 người dàn chào ông cùng với cựu đại tá Nguyễn Văn Tường, chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Gia Ðình Mũ đỏ Việt Nam hải ngoại.

Cựu đại tá Paul DeVries, người bạn thân thiết nhất của GÐMÐVN, luôn luôn là người giới thiệu của mọi buổi lễ thường niên, sau khi ông và các cố vấn khác dự một lễ tưởng niệm dành cho Sư đoàn 82 Nhảy dù Hoa Kỳ cũng tại nghĩa trang quốc gia Arlington và cùng ngày mùng 10 tháng 11 hằng năm. Ông cũng là người khai quân lễ, ban khẩu lệnh cho hai toán quốc quân kỳ của Sư đoàn 82 Nhảy dù Hoa Kỳ và Sư đoàn Nhảy dù Việt Nam Cộng Hòa tiến vào vị trí.

Trước các cựu chiến binh mũ đỏ Hoa Kỳ thuộc Sư đoàn 82 Nhảy dù Hoa Kỳ và thân nhân từ nhiều nơi về dự lễ ngày hôm nay tại nghĩa trang này, Ðại tá DeVries giới thiệu Sư đoàn Nhảy dù Việt Nam là một đơn vị thiện chiến của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, từng chiến thắng trong nhiều trận thư hùng một mất một còn với các đơn vị cộng quân Bắc Việt trên khắp bốn vùng chiến thuật Việt Nam Cộng Hòa. Ông cũng nói về lòng cảm phục của tất cả các cố vấn Nhảy dù đối với đoàn quân mũ đỏ Việt Nam, và mối thân tình không hề phai giữa tập thể cựu chiến sĩ mũ đỏ hai quốc gia Việt Mỹ.

Cựu đại tá Nguyễn Văn Tường được mời lên diễn đàn trước tảng đá và cây tưởng niệm các chiến sĩ Nhảy dù Việt Mỹ. Vị đại tá nói với các cựu quân nhân Nhảy dù Hoa Kỳ và Việt Nam:

Anh em Mũ đỏ Việt Nam chúng tôi có mặt nơi đây ngày hôm nay để tổ chức lễ đặt vòng hoa tưởng niệm các vị anh hùng Việt Mỹ đã hy sinh vì tự do. Chiến sĩ mũ đỏ cùng đất nước Việt Nam luôn luôn tưởng nhớ đến những tấm gương hy sinh đó với lòng biết ơn và niềm tôn kính.

Cuộc chiến đã chấm dứt từ 34 năm trước. Nhưng lý tưởng tự do dân chủ vẫn hoàn toàn vắng bóng trên một đất nước đã hứng chịu biết bao điều bất hạnh.

Hãy nguyện cầu đấng Tối cao cùng anh linh những anh hùng mũ đỏ Việt Mỹ cho chúng ta sức mạnh để tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ thực hiện lý tưởng tự do dân chủ cho Việt Nam mà chúng ta từng chiến đấu bảo vệ cách nay đã mấy mươi năm.

Trung tướng James Vaught, nguyên cố vấn trưởng sư đoàn Nhảy dù Việt Nam, từng tuyên bố tại nơi này, hồi năm 2000, rằng:

“Tôi còn nhớ rất nhiều lần có mặt trong những đội hình chiến đấu của quân Dù Việt Nam để quan sát và sẵn sàng giúp đỡ, nhưng rốt cuộc chỉ ở đó chứng kiến đội quân mũ đỏ vừa chiến đấu vừa cứu trợ, tản thương đồng đội, với tất cả sự dũng cảm vĩ đại và trình độ chuyên nghiệp cao siêu. Tôi cảm thấy phải cám ơn các bạn Nhảy dù Việt Nam về nhiều mặt. Tôi thực sự vui mừng biết bao cho những Mũ đỏ thoát được nạn Cộng sản, đến được xứ sở tự do này, thì lại đau buồn bấy nhiêu cho những bạn Nhảy dù phải ở lại Việt Nam chịu đựng những đau thương do Cộng sản gây ra để cố tình hạ nhục quân lực Việt Nam Cộng Hòa.

“Những người anh em Việt Nam, các cố vấn Hoa Kỳ, cùng tất cả những người đã và đang hy sinh tại Việt Nam. Người Hoa Kỳ chúng ta hy vọng, cầu nguyện, trông chờ một điều có thể không kịp xảy đến trong quãng đời của tôi, là một ngày tự do trở lại trên đất nước Việt Nam, và những người Mỹ-Việt có mặt nơi đây sẽ góp sức góp công cho ngày tự do vĩ đại ấy.”

Những người chiến sĩ Việt Nam từng trông cậy Hoa Kỳ giúp chống lại Cộng sản. Hoa Kỳ đã đứng bên họ, nhưng trong một cách thế thật đáng chê trách. Tôi và các cố vấn Mỹ từ đó tới nay vẫn không ngớt đau buồn vì mang mặc cảm đã bỏ rơi những đồng minh can trường, khi họ đã có lòng cậy trông vào nước Hoa Kỳ hùng mạnh.

Hôm nay vị tướng lãnh từng phục vụ trong Sư đoàn 173 Nhảy dù Hoa Kỳ nhắc lại một số điều ông đã phát biểu trước gần 300 sĩ quan Hoa Kỳ và cựu chiến binh Nhảy dù Việt Nam vào hôm 18 tháng 6 năm 2000, ngày lễ trồng cây và đặt bia đá tưởng niệm các anh hùng Mũ đỏ. Ông nói:

Các bạn Nhảy dù Việt Nam từng đổ máu chung với các cố vấn Nhảy dù của chúng ta trên chiến trường Việt Nam. Thật vinh dự được cùng phục vụ với các bạn. Thực ra chúng tôi chẳng phải cố vấn gì cho các bạn, mà chỉ giúp các bạn làm công việc của chiến tranh được dễ dàng. Chúng tôi cũng chẳng cần phải chỉ vẽ gì về chiến đấu. Các bạn thiện chiến còn hơn cả chúng tôi nữa. Chúng tôi chỉ giúp các bạn phương tiện hoàn thành nhiệm vụ mà thôi. Và tôi có thể nói một điều này, là các bạn đã có thể trông cậy vào những người anh em ruột thịt như chúng tôi, và chúng ta đã cùng nhau thắng nhiều trận đánh huy hoàng.

Trung tướng James Vaught nói với các cựu chiến binh sư đoàn 82 Nhảy dù về một giai đoạn trong chiến cuộc Triều Tiên, khi quân Mỹ phản công đẩy lùi quân Trung cộng đến tận sông Áp Lục. Và ông kết luận:

Trước sự hiểm nguy trên mặt trận, người quân nhân không còn phân biệt cấp bực. Từ tướng lãnh đến binh nhì đều sinh tử như nhau trong chiến trận. Nên còn lại chỉ là tấm tình huynh đệ chi binh bền vững mãi. Hôm nay chúng ta lại có dịp ghi nhớ rằng trong quân đội chúng ta: Mọi chiến sĩ đều góp công, và có những anh hùng đã hy sinh tất cả.

Ðại tá DeVries mời hai vị chỉ huy đặt vòng hòa tưởng niệm nơi tấm bia đá vinh danh đơn vị Nhảy dù Việt Nam và đoàn cố vấn 162 Hoa Kỳ, dưới gốc cây tưởng niệm các anh hùng mũ đỏ hai nước đã hy sinh vì nền tự do của xứ sở Việt Nam. Và phút truy điệu bắt đầu.

Từ khoảng xa trỗi lên khúc kèn truy điệu, như tâm tưởng mọi người đang hướng về các anh linh hằng ngàn chiến sĩ Nhảy dù Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh vì tổ quốc, cùng hằng chục cố vấn Mỹ từng sát cánh chen vai với đạo quân mũ đỏ, đã bỏ mình vì nền tự do của đất nước Việt Nam.

Ðại-Cồ-Việt - GÐMÐ/ D.C.11 tháng 11 năm 2009

Post Reply