QUÁN BIÊN THUỲ

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Hải quân Trung Quốc khiến VC lo ngại không?
Nguyễn Ðạt Thịnh


Tôi giữ nguyên cái tít của bài báo đăng trên VietnamNet vì dấu hỏi chấm câu, cái dấu khiến người đọc phải hiểu là VietnamNet nêu lên câu hỏi “có thật hải quân Trung Quốc khiến láng giềng lo ngại không?”
Người Pháp, người Anh hay người Mỹ có thể đặt lên nghi vấn này; nhưng người Việt Nam, những người đang là nạn nhân của hải quân Trung Cộng, người thì mất mạng, kẻ mất nghiệp, người khác bị thủy thủ Trung Cộng đánh đập, bóp cổ, cướp dụng cụ đánh cá, đâm tầu cá gẫy đôi, bỏ mặc ngư phủ nạn nhân lội lóp ngóp giữa biển cả và trong đêm đen nhiều tiếng đồng hồ mới được đồng nghiệp tiếp cứu, mà một cơ quan ngôn luận lớn trong nước cũng không biết có thật Việt Nam lo ngại vì sự lớn mạnh của hải quân Trung Cộng hay không thì quả là loạ.


Bài báo ca tụng “Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLAN) đã có những bước tiến dài trong những năm gần đây khi họ tìm cách hiện đại hóa hải quân của mình. Trong khi tìm cách trình diễn sức mạnh của mình, nước này dường như cũng nhận ra yêu cầu phải trấn an các nước khác rằng những ý đồ đằng sau chương trình hiện đại hóa này là hòa bình.”
VietnamNet không biết hải quân Trung Cộng “trình diễn sức mạnh của mình” bằng cách hoà bình đến mức nào trên Biển Ðông ư? Tờ báo quốc nội tương đối trung thực viết tiếp, “Mặc dù Bắc Kinh đã tuyên bố chính sách ‘những vùng biển hòa thuận’ với việc tôn trọng quyền tiếp cập công bằng và tự do hàng hải cho mọi người, nhưng rất nhiều quốc gia vẫn lo ngại.
PLAN đã trở thành ưu tiên trong chương trình hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc, với việc mua thêm 30 tàu ngầm và 22 tàu nổi trong 1 thập kỷ qua cộng với số lượng ngày một tăng các máy bay hoạt động ở biển và hoả tiễn thuỷ quân. Ý thức rõ được những hậu quả mà chương trình hiện đại hóa quân sự của nó có thể tạo ra, Bắc Kinh thấy cần phải trấn an hàng xóm và thế giới bằng cách mô tả việc mở rộng quân sự và hải quân của mình như một động thái hiền lành và là kết quả tự nhiên của sức tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ của nước này. Ngoại giao hải quân là một trong những yếu tố quan trọng trong nỗ lực này.”


Ông chủ bút VietnamNet có cần đến Quảng Ngãi để hỏi ngư phủ Việt Nam về chính sách “ngoại giao hải quân” của Trung Cộng không? Ông không cần biết những điều ngư phủ Việt Nam biết, ông chỉ cần viết những điều ông được lệnh viết.
Và ông viết tiếp, “trong những năm gần đây, PLAN đã tiến hành ngày càng nhiều chuyến thăm tới các cảng nước ngoài và tham gia các cuộc tập trận chung với những lực lượng hải quân của nước khác. Chỉ trong năm 2007, tàu chiến Trung Quốc đã thăm 11 nước, đi đến tận vùng xa như Bắc Đại Tây Dương. Cũng trong năm này, PLAN tiến hành tập trận chung với hải quân của Pháp, Tây Ban Nha, Anh và Nga. Trong lúc các cuộc tập trận này diễn ra ở vùng biển châu Âu, hai tàu khác của Trung Quốc lại thăm Australia và New Zealand. Cùng lúc đó, hai tàu khác của PLAN thăm Pakistan.
Việc 8 tàu chiến của Trung Quốc triển khai đồng thời ở các vùng biển nước ngoài gần 3 châu lục khác nhau đã cho thấy tầm quan trọng ngày càng lớn của ngoại giao hải quân đối với Bắc Kinh. Khả năng của PLAN trong việc tiến hành các hoạt động quy mô nhỏ, xa những vùng hoạt động truyền thống của họ cũng đang được nâng cao. Trong năm 2008, tàu chiến Trung Quốc thăm 8 nước ở châu Á và châu Âu, trong khi các phái đoàn của PLAN thăm 17 nước ở châu Á, Âu, Nam Mỹ và châu Phi.
Đầu năm nay, tại căn cứ hải quân Qingdao ở đông Trung Quốc, PLAN đã kỷ niệm 60 năm thành lập bằng cách mở cửa với thế giới. Các tàu chiến đại diện cho hải quân của 14 nước, bao gồm Mỹ và Australia, đã tham dự một cuộc diễu binh hải quân và đã có thể nhìn thấy một số các thiết bị bí mật và tiên tiến nhất của hải quân Trung Quốc, như tàu ngầm hạt nhân. Bức thông điệp có vẻ như là "Chúng tôi đang mạnh lên nhưng minh bạch hơn, và chúng tôi rất hòa bình".


Giao lưu giáo dục cũng là một nhân tố khác trong chiến lược ngoại giao hải quân của Trung Quốc. Trong năm 2008, 97 sĩ quan nước ngoài từ 40 nước đã tốt nghiệp các học viện và tổ chức của PLAN. Hơn nữa, PLAN và quân đội Trung Quốc nói chung đang gửi ngày một nhiều các sĩ quan của mình sang học ở các học viện quân sự nước ngoài. Năm 2006, 23 sĩ quan của PLAN đã tham dự các khóa học ở nước ngoài. Các sĩ quan hải quân Trung Quốc cũng tham dự các khóa học tại các trường dân sự nước ngoài.
Trung Quốc cũng đang sử dụng việc trao tặng các thiết bị hải quân làm phương tiện để giành được thiện chí. Năm 2007, tiếp sau chuyến thăm của trưởng lực lượng quốc phòng Bolivia tới Trung Quốc, Bắc Kinh đã tặng cho hải quân Bolivia 6 tàu tuần tra. Các tàu cỡ trung và cỡ nhỏ đã được tặng cho Mauritania, Tanzania, Myanmar, Campuchia và Sierra Leone. Trung Quốc cũng sửa chữa và xây mới các căn cứ hải quân, doanh trại, kho bãi và viện quân y, trao tặng các thiết bị liên lạc, lặn cho 34 nước trên thế giới.
Tháng 10/2008, hải quân Trung Quốc nhận chiếc tàu bệnh viện hiện đại nhất của mình. Theo Nhân dân nhật báo, chiếc tàu trọng tải 10.000 tấn này là tàu bệnh viện lớn nhất trên thế giới. Nó sẽ đóng ở Qingdao và có thể trở thành công cụ chính cho chính sách ngoại giao của Trung Quốc. Theo gương chiếc tàu bệnh viện USNS Mercy của hải quân Mỹ, PLAN hy vọng dùng chiếc tàu bệnh viện này cho các hoạt động nhân đạo.
Kể từ đầu năm nay, các hoạt động chống cướp biển và hộ tống tàu hàng cũng đã trở thành một công cụ ngoại giao quan trọng. Kể từ tháng 1/2009, tàu khu trục của PLAN đã hộ tống hàng chục tàu ở bờ biển Somalia cùng với các tàu của Đài Loan, Nhật và các tàu chở hàng của Chương trình Lương thực Thế giới Liên hợp quốc.


Cái gì nằm sau việc Trung Quốc mở rộng ngoại giao theo hướng này? Trước tiên, Trung Quốc hăm hở muốn thể hiện nền quân sự hiện đại của họ là hòa bình và góp phần vào ổn định khu vực. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã lấy sức mạnh tăng trưởng kinh tế và chủ nghĩa dân tộc ngày càng mạnh làm cớ cho sự phát triển quân sự này.
Không phải ngẫu nhiên mà những hành động kiểu như tham gia chống cướp biển được các phương tiện thông tin đại chúng Trung Quốc loan tải ầm ĩ. Mục đích rõ ràng là để tạo dựng hình ảnh Trung Quốc là một cường quốc hải quân, đóng góp vào chủ nghĩa yêu nước và củng cố sức mạnh chính phủ, đồng thời làm tăng uy tín của nước này trên trường quốc tế.
Sự liên kết lớn hơn với các lực lượng hải quân nước ngoài cũng cho phép PLAN tiếp cận với những tiến bộ mới nhất trong công nghệ hàng hải. Tháng 9/2007, PLAN tham gia vào cuộc tập trận đầu tiên với một hàng không mẫu hạm khi 2 tàu của Trung Quốc cùng với một hàng không mẫu hạm Anh tập trận ở Bắc Đại Tây Dương. Nếu đúng như ý định được công bố công khai của Trung Quốc là mua được 1 hàng không mẫu hạm trước năm 2020, thì những cuộc tập trận như vậy quả là có giá trị.


Những nỗ lực của Trung Quốc trong việc thực thi chính sách ngoại giao hải quân đã cho thấy tham vọng ngày càng lớn của họ, nhưng Bắc Kinh đang gửi đi những thông điệp trái chiều.. Một mặt, PLAN đang trở nên cởi mở và minh bạch hơn, liên hệ nhiều hơn với các lực lượng hải quân nước ngoài. Mặt khác, họ đang mở rộng kho vũ khí của mình và cảm thấy tự tin hơn khi trình diễn trước thế giới. Liệu chúng ta đang chứng kiến một Trung Quốc hợp tác hơn trên biển hay là một Trung Quốc tự tin hơn và có thể là hung hăng hơn?”

VietnamNet khoe Trung Cộng đã có tầu bệnh viện, hải quân Trung Cộng đã đi khắp 4 biển 5 châu, vài năm nữa sẽ có cả hàng không mẫu hạm nữa, nhưng quên không liệt kê hai chiếc tầu Ngư Chính đang đóng vai hải tặc trên Biển Ðông.

Mặc dù bài báo không trả lời cho dấu hỏi nêu lên là “hải quân Trung Quốc có khiến cho láng giềng lo ngại không?” nhưng người đọc vô ý nhất cũng hiểu là không có gì đáng lo về anh láng giềng đang có những hành động kẻ cướp.
Thờ giặc đến mức đó thì quả là hết chỗ nói./-

Nguyễn Đạt Thịnh

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Trận đánh Phi Trường Phụng Dực, Ban Mê Thuột
và những Khúc Bi Tráng cuối đời chiến binh

4 giờ sáng ngày 10.03.1975
Sau những trận mưa pháo suốt 2 tiếng đồng hồ, Cộng quân với chiến xa và biển người tiến chiếm Ban Mê Thuột. Và với một lực lượng đông gấp 10 lần, địch đã làm chủ tình hình ngay từ phút đầu.
Sự chống trả mãnh liệt của những đơn vị phòng thủ thị xã cùng với sự yểm trợ hữu hiệu gan dạ của các phi công anh hùng đã chặn bớt được sức tiến của quân thù.
Nhưng ngày hôm sau khi Cộng Sản Bắc Việt tung thêm Sư Đoàn Tổng Trừ Bị 316 mới từ miền Bắc vào, và một phần Sư Đoàn 968 từ Pleiku kéo xuống, thì lực lượng hai bên ,giữa ta và địch, trở nên quá ư chênh lệch cả về quân số, chiến xa cùng vũ khí hạng nặng các loại !
12 giờ trưa ngày 10.03.1975, Tiểu Khu Ban Mê Thuột mất !

8 giờ sáng hôm sau. 11.03.1975
10 chiến xa T.54 của CSBV bắn trực xạ vào Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh. Vị Tư Lệnh Chiến Trường chấp nhận rủi ro nguy hiểm yêu cầu Không Quân đánh bom thẳng vào những xe tăng địch. Những phản lực cơ A.37 lao xuống. 3 chiếc T.54 bốc cháy, nhưng rồi 2 trái bom khác rơi trúng hầm chỉ huy và truyền tin của Đại Tá Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 23 BB. Cắt đứt liên lạc với Tư Lệnh Chiến Trường và Tỉnh Trưởng Ban Mê Thuột từ lúc đó.

8 giờ sáng ngày 11.03.1975
Giờ phút của định mệnh, và cũng là khởi đầu ngày thứ hai, trong trận đánh quyết định giữa hai miền Nam Bắc 1975. Chiến trường Ban Mê Thuột coi như kết thúc với sự tràn ngập của Bắc quân !
Nhưng tại mặt trận phi trường Phụng Dực, cách Ban Mê Thuột khoảng 8 km về phía đông, 1 Trung Đoàn của Sư Đoàn 23 BB, Trung Đoàn 53 BB vẫn tiếp tục chiến đấu thêm một tuần lễ nữa. Chiến đấu dũng mãnh, dai dẳng, phi thường . . . cho đến những người lính cuối cùng và những viên đạn cuối cùng được bắn đi !
Đó là một huyền thoại trong cuộc chiến đấu chống Cộng thần thánh nhất của Quân Dân miền Nam Việt Nam. Đó cũng là biểu tượng tinh thần gang thép, sắt đá của người chiến sĩ QLVNCH.

Trận thử sức dò dẫm của hai Trung Đoàn CSBV và Trung Đoàn 53 BB đầu tiên xảy ra lúc 14 giờ trưa ngày 10.03.1975 với kết quả địch bỏ lại chiến trường trên 200 xác chết !
Nhưng chưa đầy một ngày sau, 5 giờ sáng ngày 11.03 khi những chiến xa T.54 của CSBV nghiền nát những đường phố Ban Mê Thuột tiến thẳng vào Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh cũng là lúc địch quân rửa hận cho “đồng bọn” chúng tại mặt trận phi trường Phụng Dực.
Sư Đoàn 316 Tổng Trừ Bị của Cộng Sản Bắc Việt, lần đầu tiên được tung vào chiến trường Cao Nguyên và miền Nam Việt Nam. Từ “xa lộ đất” Hồ Chí Minh, Sư Đoàn này bất chấp mọi thiệt hại di chuyển ngày đêm không nghỉ để tới trận địa đêm 10.03.1975 và ngay sáng hôm sau dốc toàn lực lượng tấn công Sư Đoàn 53 Bộ Binh !
45 phút khởi đầu là những cơn mưa pháo phủ chụp lên đầu những người lính VNCH, chiến sĩ ta “chìm ngập” trong giao thông hào. Sau đó Bắc quân với những tên lính trẻ xuất trận lần đầu hung hăng hò hét xung phong . . .
Từng lớp. từng lớp người đổ rạp nhưng chúng vẫn hô, vẫn tiến điên cuồng.
Trận thư hùng thứ hai ngày 11.03 này kéo dài 2 giờ 40 phút. Gần 200 người anh hùng của chiến trường miền núi vĩnh viễn buông súng gửi thân xác của Họ ở lại với vùng Cao Nguyên Việt Nam !
Nhưng những người còn lại, vẫn tiếp tục chiến đấu. Chiến đấu không yểm trợ, không tiếp tê, không tải thương, không tắm gội, 24/24 giờ ngoài chiến hào phòng thủ !
Quá 1/2 lực lượng bị thiệt hại, từ khi ở mặt trận Quảng Đức rút về. Trung Đoàn 53 Bộ Binh hiện còn hơn 1 Tiểu Đoàn với khoảng 500 “tay súng”, và Họ đã chiến đấu một cách đơn độc sang ngày thứ ba,12.03. Ngày thứ tư,13.3. Ngày thứ năm,14.3. Ngày thứ sáu,15.3. Ngày thứ bảy,16.3. Và hôm nay, ngày thứ tám . . . 17.03.1975 !!

Thật anh hùng ! Thật vĩ đại ! Thật phi thường ! Không còn từ ngữ nào khác hơn để ca ngợi, vinh danh Họ, Và đó cũng là một huyền thoại bi tráng nhất của chiến tranh Việt Nam, trong trận đánh sau cùng trên chiến trường Cao Nguyên!

Bay trên đầu của những người anh hùng của phi trường Phụng Dực, trưa ngày 12.03.1975, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh chiến trường Cao Nguyên đã nói chuyện với hai người quân nhân “lớn” nhất và “nhỏ” nhất của Trung Đoàn 53 Bộ Binh.

Người anh hùng Võ Ân, Trung Tá Trung Đoàn Trưởng.
-Buồn ngủ quá . . . “Mặt Trời”ơi ! (Mặt Trời là danh hiệu truyền tin cũa Tướng Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn II hôm nay )
-“Chú mày” . . . chịu nổi không ? Tinh thần anh em ra sao ?
-Bị . . .“sứt mẻ” kha khá ngày hôm qua, nhưng chưa sao .”Mặt Trời” yên tâm !
-“Chú mày” muốn gì . . . đặc biệt không ?
-Dạ không, nhưng sao “Mặt Trời” không bay trực thăng hôm nay ?
-Tại “qua” muốn “ở chơi” với “chú mày” và những anh em khác lâu lâu một chút. Mà tại sao “chú mày” hỏi như vậy ?
-Tại vì tôi muốn mời “Mặt Trời” đáp xuống coi “kho vũ khí Việt Cộng” ở phòng danh dự phi cảng . . . cho anh em lên tinh thần !
Tướng Phú cười:
- Ý kiến hay đấy ! Thôi để lần sau vậy !
- . . .

Người anh hùng Nguyễn Văn Bảy, Binh Nhì xạ thủ súng cối 81 ly.
- Em tên gì ?
- Dạ . . . binh nhì Nguyễn Văn Bảy, 18 tuổi !
- Em thấy Việt Cộng chết nhiều không ?
- Nhiều, nhiều lắm Thiếu Tướng !
- Em muốn xin Thiếu Tướng gì nào ?
- Xin thuốc hút và . . . lựu đạn.
- Gì nữa ?
- Thôi!
- Thiếu Tướng thăng cấp cho em lên Binh Nhất ! chịu không ?
- . . .
Một giọng cười khúc khích trong máy
- “ Ông thầy !” . . . Ông Tướng tặng tôi cái “cánh gà” chiên bơ !
- Không được, . . . “tao” phản đối !!
- . . .

Cái “cánh gà”, chữ V, đó là hình dáng của chiếc lon Binh Nhất. “Ông Thầy” là tiếng gọi thân mật vị Trung Tá trung Đoàn Trưởng mà người “binh nhất vừa được tân thăng” Nguyễn Văn Bảy gọi người chỉ huy của mình.

Mẫu đối thoại trên cho thấy tình chiến hữu anh em của những người lính Trung Đoàn 53 BB. Đó cũng là một cách để chứng minh, tại sao trong những ngày cuối cùng, họ vẫn sống chết cùng nhau, chia nhau từng viên đạn , từng dúm gạo sấy, từng hớp nước, từng hơi thuốc . . .
Theo thời gian, bày ngày đêm chiến đấu dài hơn 7 năm tại mặt trận phi trường Phụng Dực. Đã 3 ngày kể từ khi lệnh triệt thoái Cao Nguyên được ban hành, Trung Đoàn 53 không còn nhận được bất cứ một tiếp tế, liên lạc nào với Quân Đoàn. Họ đã phải sử dụng súng đạn tịch thu được của quân thù trong trận đánh đầu tiên để bắn lại chúng !!

Nhưng hôm nay, 17.03.1975, sẽ là ngày . . . dài nhất trong cuộc đời lính chiến của Họ !
7 giờ 40 sáng, khi rừng núi Cao Nguyên vẫn còn ngủ yên với những tầng sương mù phủ kín. Thì hàng trăm hàng ngàn đạn pháo của Bắc quân dội vào những chiến hào của Trung Đoàn 53 BB. Cỏ cây rạp xuống, những cột đất đỏ tung cao. Trận địa pháo kéo dài 1 tiếng đồng hồ. Tiếp theo sau là tiếng loa kêu gọi đầu hàng, tiếng hò reo như sóng vỡ của biển người,
Và rồi tiếng gầm rú của hàng đoàn chiến xa T.54 trên khắp ngả tiến vào cày nát phi đạo phi trường Phụng Dực, Ban Mê Thuột !

Hôm nay là ngày đầu của cuộc rút quân của Quân Đoàn II. Sư Đoàn 316 CSBV quyết “khai tử” Trung Đoàn 53 Bộ Binh/ QLVNCH. Quyết nhổ đi “cái gai” cuối cùng của Mặt Trận Ban Mê Thuột, của Chiến Trưởng Cao Nguyên để mở đường tiến về Duyên Hải !
8 giờ 30 sáng, Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH, vị Tướng lớn nhất của Quân Đội, gọi yêu cầu được tường trình đặc biệt về Mặt Trận Phi Trường Phụng Dực, và . . . số phận các Chiến Sĩ Trung Đoàn 53 Bộ Binh.
Đây cũng là một vinh dự, một hãnh diện cuối cùng dành cho những”Dũng Sĩ” tại mặt trận này ! Nhưng Đại Tướng Viên chỉ được báo cáo, qua nguồn tin không chính xác, của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Hành Quân ở Phước An: Trung Đoàn 53 Bộ Binh đang bị đánh rất nặng, Bắc đã quân tràn ngập vị trí phòng thủ của Họ !

Đạn hết, lương thực hết. Không còn cấp chỉ huy, không còn được yểm trợ, không còn máy móc để liên lạc, để . . . kêu cứu. Những chiến sĩ Trung Đoàn 53 Bộ Binh gục ngã từng người, từng tổ, từng Tiểu Đội trong những chiến hào cho đến người cuối cùng !
11 giờ 30 sáng 17.03 Tiếng súng im bặt. Bắc quân cắm ngọn cờ đỏ trên đài kiểm soát không lưu của phi trường Phụng Dực và thu dọn chiến trường.

Không có tù binh, không có cả những người lính bị thương. Những Dũng Sỉ của Trung Đoàn 53 Bộ Binh không còn chiến đấu nữa. Họ đã tan ra, đã nát ra . . . từng mảnh vụn và trộn lẫn vào đất đỏ của miền Cao Nguyên hùng vĩ !
Ngày 17.03.1975, Trung Đoàn 53 Bộ Binh/ QLVNCH bị Bắc quân xóa tên. Đó cũng là một ngày bi tráng và đau buồn ! Lần đầu tiên trong 21 năm chiến đấu chống Cộng và giữ Nước, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II triệt thoái khỏi Cao Nguyên !!

Nhưng không ! đó vẫn chưa phải là những giòng chữ cuối cùng viết về các Dũng Sĩ Trung Đoàn 53 Bộ Binh ! Bởi vì, vẫn còn những anh hùng của QLVNCH mang phù hiệu cũa Trung Đoàn 53, Sư Đoàn 22 BB trên vai áo !

Hai ngày sau, khi Bắc quân tràn ngập phi trường Phụng Dực, Ban Mê Thuột, một nhóm quân nhân của đơn vị này đả “về” được Phước An và tiếp tục chiến đấu tại mặt trận Quốc Lộ 21. Một tuần lễ sau nữa, ngày 24.03.1975, ba “người anh hùng” khác, sau 7 ngày 7 đêm vượt cả trăm cây số đường rừng núi “sống với cỏ cây, thiên nhiên”, từ Ban mê Thuột đã lên tới buôn Thượng Dam Rong, Đà Lạt ! Họ là những quân nhân bất tử của Trung Đoàn 53 Bộ Binh ! Họ thật vĩ đại và thật phi thường !!
Và đó là một trong những huyền thoại của chiến tranh Việt Nam, trong những trận quyết tử Nam-Bắc sau cùng 1975 !

Trở lại những ngọn đồi vô danh

11 giờ sáng ngày 31.03.1975 tại Bộ Tư Lệnh Hành Quân Mặt Trận Bình Định vị Tư Lệnh Sư Đoàn 22 BB nhận được lệnh “điều động” Sư Đoàn về phòng thủ Quy Nhơn.
11 giớ phút trên hệ thống truyền tin chỉ huy giữa Sư Đoàn với Trung Đoàn, và sau đó Trung Đoàn – Tiểu Đoàn, các trung Đoàn Trưởng, tiểu Đoàn Trưởng đều nghẹn ngào khi nghe lệnh này. Cả 3 Trung Đoàn 41, 42, 47 lúc đó đều đang giao tranh với địch. Trung Đoàn 41 và 42 BB tại các mặt trận trên Quốc Lộ 19 cách Quy Nhơn 30 cây số, và Trung Đoàn 47 ở phía Bắc Bình Định.
Có những người quân nhân nhà nghề đã chiến đấu trong các Đại Đơn Vị này suốt 2 thập niên ngay từ khi Sư Đoàn mới thành lập. Đã trải qua bao nhiêu thăng trầm biến đổi, nếm đủ vinh quang, bi hùng trong suốt 20 năm trận mạc dòng dã. “Những người lính già của chiến trường”, tưởng không bao giờ bị gục ngã. Nhưng với cái lệnh rút khỏi vùng hành quân hôm nay, họ biết ngay đây là giai đoạn chót cuối đời binh nghiệp !!!
Sư Đoàn đã từng bị đánh tan tành và tưởng đã bị xóa tên trong Mùa Hè Đỏ Lửa 1972. Họ đã rút lui , đã tan hàng, đã từng mở đường máu suốt mấy chục cây số đường rửng núi để về “điểm tập trung”.
Nhưng họ không sờn lòng nản chí, họ vẫn vững tinh thần tin ngày hồi sinh của Sư Đoàn !
Một cuộc rút quân khác nữa mà họ không bao giờ quên. Đó là cuộc chuyển quân thần tốc của một Trung Đoàn, TĐ 42 BB, từ Tây Nguyên trở về Bình Định tái chiếm Đèo Nhông. Đây cũng là một chiến thắng huyền thoại nhất của Trung Đoàn 42 trong năm 1974. Trung Đoàn 42 Bộ Binh đang hành quân tại vùng Pleime, Tây Nam Pleiku, trong một buổi chiều được lệnh giải tỏa áp lực của địch tại Mặt Trận Bình Định. Cuộc chuyển quân tưởng rằng phải thực hiện trong vòng hai hay ba ngày. Nhưng ngay đêm hôm ấy toàn bộ Trung Đoàn đã về tới Bắc Phù Cát, và từ đó không nghỉ, như một bàn đạp đánh thẳng vào hậu phương địch, khiến Bắc quân trở tay không kịp, những trận kịch chiến đẫm máu dòng dã suốt hai ngày sau đó. Trung Đoàn 42 đã tiêu diệt gần trọn 1 Trung đoàn CSBV của Sư Đoàn 3 Sao Vàng dựng nên “Chiến Thắng Đèo Nhông”.

Trước khi mặt trận Ban Mê Thuột bùng nổ, một lần nữa Trung Đoàn 42 BB lại biến 2 ngọn đồi vô danh vùng Tây Nam quận Hoài Nhơn, Bình Định thành những “di tích” của chiến sử nói lên tinh thần chiến đấu chống Cộng phi thường của người chiến sĩ QLVNCH.

Hai ngọn đồi vô danh đó là những ngọn đồi chiến lược, được mang số trên bản đồ hành quân 82 và 147 nằm trên huyết lộ vận chuyển của cộng quân, trên trục Quảng Ngãi – Bình Định. Cũng tại hai cao điểm chiến lược này, bọn nhà báo bất lương ngoại quốc, sau gần 20 năm xuyên tạc chiến tranh Việt Nam đã phải ngả nón kính phục về tinh thần dũng cảm của QLVNCH. Một phái đoàn Quốc Hội Hoa Kỳ cũng được gởi tới đó để quan sát chiến trường, khi về nước đã lên tiếng bênh vực, ủng hộ Việt Nam . Nhưng . . . mọi chuyện đã quá muộn !
22 giờ đêm Tướng Phạm Văn Phú. Tư Lệnh cuối cùng của Quân Đoàn II và chiến trường Cao Nguyên bay trên đầu những cánh quân của Sư Đoàn 22 Bộ Binh. Với phương tiện có thể có và hải pháo yểm trợ của Hải Quân vùng II, ông hy vọng sẽ cứu được 50 % lực lượng của Sư Đoàn. Tuy nhiên , điều mong ước của Ông không bao giờ đến !

Giờ phút này, trước đó và sau đó suốt 22 tiếng đồng hồ, các trung Đoàn 41, 42, 47 trên chặng đường rút quân và cũng là một trận tuyến dài hơn 30 cây số, từng đơn vị bị phuch5 kích, bị đánh tan tác, bị chặt đứt ra từng khúc nhỏ .
Đây là cuộc trả thù man rợ nhất, tàn ác nhất trong trận chiến sau cùng của chiến tranh Việt Nam. Trên 30 cây số đường máu, chiến đấu không yểm trợ, không tiếp tế, không tản thương vì “hậu phương” rã ngũ, bỏ súng !
Trước mắt là địch, sau lưng cũng là địch !
Đối thủ tuy vẫn là Sư Đoàn 3 Sao Vàng và những Tiểu Đoàn Đặc Công Cộng Sản Bắc Việt. Nhưng Bắc quân ở thế thượng phong. Có pháo nặng, chiến xa yểm trợ và một “hậu phương lớn nổi dậy”. Những người Cộng Sản đã không cần biết đến quy luật của chiến tranh. Chúng thẳng tay tàn sát kẻ thù mà trước đây đã từng gây cho chúng những tổn thất lớn lao, những thất bại đau đớn.

Trên 30 cây số đường máu các chiến sĩ Sư Đoàn 22 Bộ Binh đã chiến đấu trong tình trạng tuyệt vọng nhưng dũng cảm anh hùng. Họ đã bắn đến viên đạn cuối cùng rồi gục xuống, Đả có những hành động hào hùng, phi thường, bi tráng xảy ra ở đây ngay trên chiến trận này !
Một cấp chỉ huy Trung Đoàn 47 đã quỳ xuống, ôm lấy người lính bị thương rồi bật khóc. Người lính hấp hối, thoi thóp nhưng ngón ta vẫn để trên cò súng. Ông đau đớn, Ông đứng dậy bỏ đi. Nhưng rồi lặng lẽ quay trở lại ông rút súng kết liễu đời đứa em thân yêu và thật bình tĩnh để súng lên màng tang tự bắn vào đầu mình !

Có một “người Anh Lớn” khác sau khi tiễn các chiến hữu của mình lên tàu hết, rồi lững thững quay trở lại. trời bừng sáng nhưng anh đã không chọn hướng đi về phía ánh mặt trời. Anh trở lại con đường cũ, trở lại phía có những “Ngọn Đồi Vô Danh”. Nơi đó Anh sẽ gặp Dũng Sĩ Mai Hồng Bướm, người Binh Nhất Trung Đội Trưởng Anh Hùng của Sư Đoàn 22 BB – người Trung Đội Trưởng thứ . . . sáu của Trung Đội đã chỉ huy đơn vị đánh bật kẻ thù khỏi đỉnh Du Tự, Hoài Ân trước khi gục ngã. Và gặp lại rất nhiều những anh hùng vô danh khác của Sư Đoàn, những Người đã lấy máu mình tô thắm cho màu cờ Đơn Vị, trong những năm tháng sau cùng !!!

Ngày thứ 7 của cuộc rút quân và sau hai tuần lễ Cộng Sản Bắc Viết tấn chiếm Ban Mê Thuột. 2/3 Chủ Lức quân của Quân Đoàn II tan tành. Đó là Sư Đoàn 23 BB và 7 Liên Đoàn Biệt Động Quân, những Đơn Vị này đã bị thiệt hại từ 60~70 % quân số.
Lực Lượng Pháo Binh nặng 175 ly, 155 ly, các Thiết Đoàn Chiến Xa coi như “bất khiển dụng” 90%. Gánh nặng đè xuống cho các đơn vị còn lại: Sư Đoàn 22 BB và Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù. Lữ Đoàn 3 Dù được tăng phái phòng thủ tuyến đèo M’Drak, mặt trận Khánh Dương.
Niềm hy vọng cuối cùng và cũng là đại đơn vị duy nhất còn lại của Quân Khu II- Sư Đoàn 22 Bộ Binh- được trải dài , bao vùng cả 3 mặt trận. Các trung Đoàn 41, 42 và 47 trấn giữ Quốc Lộ 19 và mặt trận Bình Định. Hàng ngày “ đối diện” với Sư Đoàn 3 Sao Vàng cùng các đơn vị trọng pháo, chiến xa của CSBV. 2/3 quân số Trung Đoan BB và Bộ Chỉ huy TĐ tăng cường cho mặt trận Khánh Dương. Tư Lệnh Phó SĐ Bộ Tham Mưu Nhẹ được lệnh tới “cố vấn” đánh chốt tại Phú Yên, và bảo vệ Đèo Cả trên Quốc Lộ 1 giữa đường Phú Yên Nha Trang .
Sư Đoàn 22 BB được xem như một biểu tượng, một uy dũng, một kỳ diệu cho tinh thần chiến đấu tuyệt vời , thần thánh cùa QLVNCH. Sư Đoàn với danh hiệu” Tam Hắc Sơn, Bạch Nhị Hà, Trấn Sơn - Bình Hải” này đã từng đại bại, tan hàng tưởng như bị Bắc quân xóa tên từ nhiều năm trước. Nhưng rồi vẫn oai hùng trở lại phong độ, chiến đấu dũng mãnh cho tới ngày cuối cùng.

Trận đánh lớn đầu tiên của chiến tranh Việt Nam xảy ra tại Cao Nguyên năm 1961. Gần một Trung Đoàn BB bị thiệt hại Vị Tư Lệnh Sư Đoàn 22 BB trong thời gian này là Trung tá Nguyễn Bảo Trị.
Hồi đó vùng trách nhiệm của Sư Đoàn còn kéo dài theo biên giới trên Quốc Lộ 14: Từ Dakto, Banhet qua Dak Sut, Dak Pek và lên tới Dakrơtah . Sau trận này tôi đã có dịp lên sống trên một ngọn đồi gần Toumorong 40 ngày để nghiên cứu vie6tr1 về mặt trận B3 của địch và . . . để chia xẻ những đau đớn tủi nhục của một đoàn quân bại trận (!!)

Một lần nữa , tháng 4 .1972, Sư Đoàn tan hàng tại Tân Cảnh (Dakto, Komtum). Tư Lệnh Sư Đoàn, Bộ Tham Mưu ,Trung Đoàn Trưởng 42 mất tích. Hai Trung Đoàn 42 và 47 “về” được Pleiku 50 người. Trung Đoàn 47 khoảng 300. Tại mặt trận Bắc Bình Định, sau những trận bị tấn kích tại Bồng Sơn và khi địch chiếm Tam Quan, Hoài Ân, Hoài Nhơn rồi, Trung Đoàn 40 “chạy” được tới Phú Bài, Quy Nhơn gần 100 người !
Thời gian này, Sư Đoàn 22 Bộ Binh xuống còn 1 Trung Đoàn và cần được bổ xung thêm quân số !

Nhưng rồi như một phép nhiệm màu, với chính sách “tam cùng”: cùng ăn, cùng ngủ, cùng sống chết có nhau. Sư Đoàn đã hồi sinh mau lẹ. Đúng 4 tháng sau, Sư Đoàn 22 BB đã chiếm lại tất cả những phần đất mà chính mình đã để mất vào tay giặc, vùng Bắc Bình Định.
Những trận đánh ròng rã suốt mấy tháng trời tại Bắc Bình Định, Trung Đoàn 21 CSBV của Sư Đoàn 3 Sao Vàng bị khai tử hoàn toàn. Một Trung Đoàn Chủ Lực khác của địch, trung Đoàn 141 ngoài Quảng Ngãi được chuyển vào thay thế.
Một thời gian sau các chiến sĩ Sư Đoàn 22 Bộ Binh một lần nữa trở lại Tây Nguyên. Đây cũng là dịp để người anh hùng “ Trấn Sơn Bình Hải” này trả được cái hận cũ: hận “tan hàng” tháng 4/1972.

Trung Đoàn 40 lên Bắc Komtum cùng với các chiến sĩ Biệt Động Quân, đương đầu với Sư Đoàn F10 CSBV. Trung Đoàn 42 tăng cường trấn giữ mặt trận Tây Nam Pleiku, với sự hiện diện thường trực của Sư Đoàn 320 CSBV.
Và “cái hận cũ” đã được trả. Những lực lượng của SĐ 22 BB đã chận đứng, phá vỡ được cuộc hành quân quan trọng của Sư Đoàn 320 CSBV trong ý đồ tấn chiếm căn cứ Pleime, và sau đó mở trục tiếp vận từ căn cứ này tới Quốc Lộ 19. Trong một cuộc phản phục kích tuyệt vời gần Pleime, Trung Đoàn 42 BB đã tiêu diệt gọn gần 2 Tiểu Đoàn thuộc Trung Đoàn 64 VC. Trung Đoàn 40, Sư Đoàn 22 BB hôm nay gặp lại đối thủ cũ: Sư Đoàn F10 CSBVtai5 mặt trận Bắc Komtum khi trước. Âu đó cũng là . . . định mệnh !!!

Đoàn quân Mũ Đỏ

20 giờ 20 ngày 29.03.1975. Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II nhận được báo cáo từ mặt trận Khánh Dương. Quốc Lộ 21: Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù đang bị tấn công nặng.
Lực lượng Mũ Đỏ bây giờ là linh hồn của Mặt trận Khánh Dương. Quân Khu II. Tuyến Dù vỡ, Nha Trang không bị đánh cũng vào tay giặc. Và Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn sẽ lại di tản lần thứ hai !
Đà Nẵng mất,Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn II, vừa đ0au buồn, vừa lóe lên một tia hy vọng . Chiều mai 30.03.1975 hay chậm lắm là hai ngày nữa. Mặt trận Khánh Dương, Nha trang sẽ được tăng cường bởi Đoàn Quân Mũ Xanh Thủy Quân Lục Chiến.
Tướng phú dùng máy STS liên lạc với Trung Tá lê văn Phát, Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù, hiện đang là Tư Lệnh Mặt Trận Khánh Dương. Ông ra lệnh, Ông yêu cầu anh em Dù ráng chống đỡ đêm nay. Ngày mai sẽ có 2 Tiểu Đoàn Biệt Động Quân, và sau đó 1 Lku74 Đoàn Thủy Quân Lục Chiến từ Đà Nẵng về cùng lên chiến đấu tại Mặt Trận này !
Vị Tư Lệnh Chiến Trường, Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 3 Dù, ra lệnh cho các đơn vị lập phòng tuyến thép, không lùi !
. . .
Nhưng đêm nay ? Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù sau những thiệt hại tại Quân Đoàn I, và hơn 1 tuần lễ tại Mặt Trận Khánh Dương, quân số chỉ còn hơn 1000 . . .
Không chiến xa, không Pháo Binh nặng làm sao họ đương đầu được với 3 Sư Đoàn chủ lực quân CSBV F10, 320, 316 đông hơn gấp 10 lần, và với nhựng Trung Đoàn Pháo, Trung Đoàn Chiến Xa T-54 đã tiến sát cận kề ?
Tuyến đầu tiên của Lữ Đoàn 3, Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù bị CQ vây kín 4 mặt, bị đánh trộn chấu, biển người.

Tiểu Đoàn 5 ND là Đơn Vị tôi có khá nhiều kỷ niệm. Tôi đã ôm dù nhảy tập, nhảy hành quân theo họ nhiều lần. Tôi có “những người anh em” từ cấp Binh Nhì đến Tiểu Đoàn Trưởng ngay từ cuối thập niên 1950. Như NQT, Ngô Lê Tĩnh, Hà Huyền Chi, Nguyễn Chí Hiếu, Bùi Quyền và nhiều nữa .
Nhưng hai người mà tôi nhớ nhất, đó là một “chú em nhỏ” Binh Nhì 17 tuổi, đã bắn hạ Chiến Xa Bắc Việt tại An Lộc trong Mùa Hè đỏ Lửa 1972. Chú em này sau trở thành con đỡ đầu của cụ Trần Văn Hương, Phó Tổng Thống VNCH. Và “người phóng viên già” Nguyễn Đạt Thịnh, Đã quyết định in hình người anh hùng Mũ Đỏ trẻ tuổi này lên trang bìa một tờ báo quân đội thay vì in hình Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và Tướng Vanuxem “xuống“ An Lộc ngày 7.7.1972 !!
Một người nữa là Bùi Quyền. Anh là một Tiểu Đoàn Trưởng có tư cách, một anh hùng, người Tham Mưu Trưởng tài ba của Lữ Đoàn và . . . nghèo nhất nước. Anh biết chia sẻ những nguy hiểm, và những thiếu thốn với những anh em binh sĩ. Khi anh làm Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5 ND, vợ của ông Tiểu Đoàn Trưởng, của các sĩ quan cũng như những bà vợ của anh em binh sĩ đều sống trong những dãy nhà tôn của trại gia binh, và chia nhau đồng đều quyền lợi của Đơn Vị .

Đó cũng là người niên trưởng “hắc búa” nhất, thần tượng của nhà văn Phan Nhật Nam ngoài chiến trường, cũng như khi còn học ở trường Võ Bị Đà Lạt !
Hơn một tuần lễ Lữ Đoàn 3 ND tới trấn đóng đèo M’ Drak, chúng tôi mới gặp nhau 1 lần. Đêm nay Bùi Quyền và những người anh em khác của tôi đang “ngập chìm” giữa vòng vây địch. Đường Nha Trang- Khánh Dương 20 phút bay ! tôi muốn được đến gần họ ngay bây giờ. Dù chỉ để nghe tiến họ kêu vang và để biết rằng Họ vẫn còn đang chiến đấu !!
19 năm trước khi còn “tuổi trẻ hân hoan đợi gói trong cờ”, tôi được đào tạo thành một quân nhân nhà nghề. Tôi được gởi đi học lớp Đại Đội Trưởng tại một trưởng bộ binh Hoa Kỳ. học đánh nhau theo kiểu Mỹ !
Có lần trong phần kết thúc của một bài học về tác chiến, người sĩ quan huấn luyện viên nói một câu, tôi còn nhớ mang máng rằng :
“Khi tôi còn nhỏ, Mẹ tôi thường nói: con muốn điều gì, hãy nhắm mắt lại và mơ ước. Lúc mở mắt ra, Mẹ cho con tất cả những gì con muốn. Lớn lên khi chỉ huy ngoài mặt trận, lúc bị vây hãm tràn ngập: tôi nhắm mắt lại và tin rằng khi mở mắt ra tôi sẽ thấy . . . một đám mây hình nấm !”
“Đám mây hình nấm” là hình dáng cột khói tạo nên bởi trái bom B-52 thả xuống , là “bức tường mây” của mấy chục khẩu pháo cùng bắn hiệu lực vào mục tiêu.
Đó là đánh nhau “theo kiểu Mỹ” ! người Mỹ đã huấn luyện tôi, huấn luyện những cấp chỉ huy của Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù đánh nhau như vậy, đúng 20 năm nay đã quen và không sai chạy. Nhưng bây giờ, người Mỹ phản bội, bỏ chạy. Và chúng tôi không B-52, không đại bác, không chiến xa. Và trước một quân thù hung bạo với một rừng xe tăng, đại pháo, với biển người lớp lớp hàng hàng !!!
Nhìn về phía hánh Dương, tôi thấy mịt mù xa tắp. Tự nhiên tôi nhắm mắt lại. Tôi theo đạo Công Giáo, nhưng đã hơn 10 năm rồi chưa một lần bước vào nhà thờ. Và đêm nay, tôi đã nguyện cầu. Tôi cầu xin cho những người anh em tôi qua được một đêm. Ngày mai. . . quân tăng viện sẽ đến !!!

. . .

Trích từ Cuộc triệt thoái cao nguyên của Phạm Huấn
Nguồn: h**p://www.batkhuat.net/tl-trandanh-phitruong-phungduc.htm

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image

Đêm Giáng Sinh Đóng Quân Ở Xóm Đạo Tha La_

Nguyễn Trọng Hoàn



1 / Tôi không biết có phải qua bài thơ dài tới 93 câu của Vũ Anh Khanh mà từ một vùng đất..." đèo heo hút gió" của xã An Hòa, quận Trảng Bàng, đã khiến nơi này biến thành một địa danh rất trữ tình của thi ca và âm nhạc...
Nhưng, với Tôi hay nói xa hơn một chút nữa, với Tiểu đoàn 2/46/25, nơi ấy, vâng, chính nơi phía “ lắm Công giáo, nhiều Ma Việt cộng” ấy ( theo một con đường trải nhựa, đến Quốc lộ 1, rẽ phải đi về Quận lỵ Trảng Bàng, rồi rẽ trái theo con lộ đá đỏ chậy miết đến một nhánh sông Sài Gòn...
Có một căn cứ là nơi đóng Bộ Chỉ Huy của Trung đoàn " Ông Cường"...Ông Cường là Đại tá Lều Thọ Cường, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 46 )..Đã để lại cho Tôi những kỷ niệm khó phai…

2/ Tiểu đoàn 2/46 được trực thăng vận xuống vùng Lưỡi Câu rồi xuất phát, ngược xuống các mục tiêu ở phía Tây Nam và các mục tiêu chót nằm dọc theo con sông Vàm Cỏ Đông, xanh ngắt bóng dừa nước. Nơi ấy, bên kia, phần đất Việt Nam là một đơn vị Thủy quân lục chiến đang làm tuyến án ngữ..

3/ Ngày 23 tháng 12...
Những cơn gió se lạnh hắt lên hơi nước ngầy ngậy mùi phèn, có văng vẳng từ thinh không xa tít tiếng chuông nhà thờ...
- Mẹ kiếp...Còn 2 ngày nữa là Noel rồi, mà vẫn phải " chân lấm tay bùn" như thế này..Thiếu tá, ông...
" Thằng" Tiểu đoàn phó Dương Kim Mãng, có gốc đạo Cao Đài này, có con bồ ngay quận Hiếu Thiện này, thế mà " thiêng" ra phết, hiệu thính viên vội mang combiné đến cho tôi:
- Thưa Thiếu tá...Có 173 gặp...
( Thời kỳ ấy, mã số truyền tin đã cấm không cho dùng những đại danh như Đại Bàng, Sao Lớn, Mặt Trời...Kể cả những Đích Thân, Thẩm quyền rồi..)
173 là ám danh của " Ông Cường ăn nói nhỏ nhẹ nhưng cương quyết"..
- 173...169 tôi nghe đây..
- 169 cho ngay cả gia đình anh , " zu lu" đến tọa độ XT...
Nghe số XT69...Tôi sướng run lên...Bên kia sông là Tha La Xóm Đạo..
- Trình 173...Rồi có vượt sông không?
- Sẽ có một đơn vị " Cải cách bắc bình" ( Công Binh ) đón...
Mãng tung cây gậy lên trời…

4/ Bộ Chỉ Huy của tôi sang sông vào những chuyến hobo áp chót...Đại tá Cường cùng Ban tham mưu với những chiếc jeep có ang-ten tua tủa đứng chờ…
- Mệt không…nào…." toa" được đặc ân của Sư đoàn đấy nhé...Ông Tướng cho " toa" dưỡng quân ít ngày, rồi... ( ...rồi, mấy "bố" này chẳng tốt lành gì, sau này tôi mới biết, đơn vị tôi là TĐ tăng phái đầu tiên cho mặt trận An Lộc...) Nhưng, đây là một xóm Đạo...Đừng cho " chúng nó" quậy phá..và lệnh cấm phép chỉ "xả ra" sau tết Dương lịch đấy nhá...
- Nhưng, thưa Đại tá...Tôi có nghe đài BBC, thấy mình với Việt cộng có hưu chiến mà...
Tự nhiên tôi thấy gương mặt vốn xám ngoét của Đại tá Cường ửng đỏ:
- Cậu không nhớ đêm Giáng sinh hưu chiến ở Trảng Lớn năm ngoái à...Mà mình cũng mong năm nay, chúng nó tôn trọng, nhưng phải cẩn thận.. Cậu nên vào thăm Cha Nghị.

5/ Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn tôi đóng quân ở nhà ông Ba Tít, Tôi không biết tại sao dân ở đây gọi tên ông như vậy…và Tôi cũng không nhớ Tôi quen với gia đình ông lúc nào, nhưng cứ mỗi khi đơn vị đi ngang…Tôi đều ghé vào thăm ông ít phút… Xởi lởi, sống độc thân với 2 cô con gái đang học ở Sài Gòn, chỉ Chủ nhật mới về thăm cha….
…Từ ngày vợ ông chết thảm, khi VC chiếm ấp An Hội 1, nơi có cái lò gạch, mà từ ngày Tết Mậu Thân não nùng năm ấy, đã cướp đi người vợ tấm mẳn của ông... những cột ống khói của hầm nung gạch ngun ngút mùi đất nung ngày nào, không còn nhẩy múa, đùa bỡn với tiếng chuông chiều, với những đợt gió quyện theo hơi nước của con sông Vàm này nữa…
Từ đó, cứ mỗi buổi chiều, Ba Tít thường phễnh bụng trên bộ chõng tre, dưới bóng cây mít già ( ấy, già thế, trông cằn cỗi là thế mà hoa trái quanh năm đấy, lại do ông nhạc của goa trồng đấy, ôi, Bà ơi bà nó ơi ! ), với cút rượu Gò Đen, với những câu nguyền rủa: “ Bọn vô thần vô thánh chúng bay…Goa mà bắt ( ? ) được một đứa, thì goa giết một đứa, bắt được 2 đứa..Goa giết 2 đứa”...
Cho đến khi ông “ bắt được” đứa thứ 100, 101 rồi ông lăn quay ra ngủ…

6/ Chiều 24...
Tôi đang đứng ngắm hàng cây cam quýt thẳng tắp mới được vun gốc, …thì có tiếng xe lam đậu trước cổng, có thấp thoáng bóng áo dài tím…A..
- Chào cô Dược sĩ…Cô mà là VC thì tụi tôi chết cả nút..
- Thiếu tá cứ giỡn em hoài, ấy là vì em mới đến thăm chị Ánh Hoa…Gặp ông Tướng mới biết anh Đáng về đây đã mấy hôm rồi, em chậy vội lên…Đại đội anh Đáng đóng gần đây không Thiếu tá..?
( Đáng là một Trung đội trưởng Trinh sát 46…Khi tôi qua TĐ 2 này…Tôi có xin Đáng về theo, Anh đang làm Đại đội trưởng Đại đội 3…
Trong một lần Ủy lạo..Một “em gái Hậu phương” có cái tên ngồ ngộ, lãng mạn, bay bổng thi ca… Ngô Thị Chiều Tím đã phải lòng ngay anh chàng ăn nói bạt mạng, gan lì, hay lôi cả dòng họ Đỗ Đình ra…” khoe”…
Tình yêu của họ tưởng vỡ tan khi Chiều Tím lỡ lời khoe với bà chị họ, lại là nhân tình của Chuẩn tướng Tư Lệnh…
Đáng được gọi thẳng lên gặp Đại tá Tích, Trưởng phòng Tổng quản trị Sư đoàn…
Ra khỏi cửa phòng “ ông Tích”…Đáng văng tục liên hồi rồi phóng xe về thẳng Tiệm Thuốc Tây ở Ngã tư Trung Chánh nơi có Bố của Cô Chiều Tím làm chủ…
Trong lúc Đáng bước lên xe jeep trở về Chà Rầy là lúc Chiều Tím bị ông bố đay nghiến:
- Cái thứ lính tráng mất dậy này…Con “ nhặt “ nó ở đâu ra vậy? Từ này bố cấm con…Quen với thằng xích lô xe kéo cũng được…Trừ thứ mục hạ vô nhân này….
- Không đâu bố ạ…Anh ấy có dòng Đỗ Đình... Có..
- Không có với không gì hết…từ nay cấm…
Chẳng biết ông cấm thế nào mà từ đó Đáng ít nói hơn…Họ lại càng khắng khít hơn…)

7/ Mãng xòe lòng bàn tay …Nói với 3 Đại đội trưởng:
- Trong này có 3 cái thăm….Ông nào bắt được số 2 thì trở về ấp 2 ( An hòa 2 ), ông nào bắt được số 3 thì đóng quân ở đây…làm thành phần trừ bị..Còn không may, ông nào bắt trúng số 1 thì ở lại gặp Tiểu đoàn trưởng..
Đáng bắt số 1…Tôi chỉ vào khu vực mênh mông những nước ở phía Nam của cầu Quan…: Khu từ cầu đến sát bờ sông này là khu vực hoạt động của Cậu…Những mục tiêu có số lẻ là chỗ Việt Cộng thường đặt súng cối pháo kích vào đây, vào Quận lỵ…Tôi vừa gặp Cha Chánh Xứ… 2 Khẩu đại liên ở trên gác chuông sẽ yểm trợ trực tiếp cho Cậu ( Hồi ấy chưa có gác chuông giống lồng chim như sau này )…Cuộc hành quân này sẽ chấm dứt vào 1 giờ đêm …Sau đó, cậu sẽ về đóng quân tại XT..
Rồi như có vật gì chặn cứng cổ họng…
- Nhưng, …
Tôi cố làm vẻ tự nhiên..
- Còn…” Ngàn Thu Áo Tím” của cậu thì sao…Hay để thằng Bắc dẫn đại đội đi vậy?
Đáng đứng bật dậy, gấp tấm bản đồ bỏ vào túi áo :
- Cô ấy sẽ ở đây, sẽ vào Nhà thờ lễ…Rồi sau lễ nửa đêm, rồi 1 giờ đêm, bên hang đá, tôi sẽ trao cho cổ cái nhẫn đính hôn này ( đáng vỗ vỗ vào cái túi nhỏ bên cánh tay..)

8/ "Máu nhuộm sân…Nhà thờ”:
Tôi nói vơi Dương Kim Mãng:
- Ông ở Bộ chỉ huy coi “ nhà”, tôi vào trong nhà thờ làm…Đạo…vòng..
Bộ Chỉ huy nhẹ của Tôi vừa đi ra khỏi cổng lò gạch, thì nghe một tiếng súng cối..kế tiếp một tiếng nữa.. “ Vào ngay nhà thờ rồi ”…Một sĩ quan la lớn…Tiếp đến là những tràng đạn đại liên từ gác chuông…Tôi quay lại lò gạch…rồi vỗ vào vai Sĩ quan Tiền sát pháo binh:
- Ông cho thằng Chà Rầy, Trảng Bàng…Cả thằng Củ Chi nữa…TOT vào những mục tiêu tiên liệu đi…
Tiếng phản pháo rung mặt đất nhưng không át được tiếng tiếng Mãng:
- Thằng 3 đụng địch…Rồi…Có chiếu sáng cho mày rồi đấy…Rồi, rồi…Bảo nhà thờ ngừng bắn…Thế hả?...Mấy đứa…
Một hiệu thính viên của một trung đội đóng trong nhà thờ báo cáo thẳng cho Bộ chỉ huy...Tôi nghe xong, buông máy rồi kéo Bộ chỉ huy nhẹ "chất" lên chiếc jeep chậy thẳng vào Nhà thờ…
Quái lạ…Không có một giáo dân nào chậy từ nhà thờ ra cả… vẫn tiếng hát vang vang: “ Mẹ ơi đoái thương cho nước Việt Nam…Trời u ám chiến tranh điêu tàn…
...2 quả pháo súng cối đang ghì kéo âm vang thánh ca cao vút kia, xuống cùng với làn khói đạn mịt mù, đang vây quay hang đá…Có nhiều xác người nằm la liệt….Có cả một vạt áo dài mầu tím hất lên che khuất một gương mặt…
Mắt tôi cay cay (... tôi sẽ trao cho cổ cái nhẫn đính hôn này ..)
Có tiếng Cha chánh xứ:
- Nhanh lên các Con, chuyển hết về Bệnh viện Trảng Bàng.
Tiếng chuông nhà thờ lại đổ dồn…tiếng hát…tiếng cầu kinh…
Tôi đến bên chiếc jeep , ở đấy mấy chiếc máy truyền tin PRC-25 đang ồn ào truyền, nhận lệnh…Có tiếng Mãng đang như càng lúc càng gay gắt, bên kia là tiếng của Đáng…
- Họ gom hết đưa ra bệnh viện Trảng Bàng rồi…sống chết làm sao, tôi chưa biết…Khoan khoan…Không được làm bậy….
Tôi chộp lấy combiné:
- 176 gọi Đống Đa..
Tiếng Đáng sắc như gươm:
- Tôi sẽ lên 176 nhận tội…Tôi, chính tôi đã “ xử” thằng Việt Cộng trưởng toán này rồi...Còn 2 thằng tôi đang tính cho nó về chầu Diêm vương.... vâng vâng, tôi sẽ giải chúng về...

9/ Sáng 25…Trên chiếc chõng tre , mấy chú “ tà loọc" đã cho hâm lại phần “ tiệc” Lễ nửa đêm do cha Chánh xứ gửi biếu…
Tôi kết thúc buổi họp… nhìn về phía Đáng:
- Tôi nghiêm khắc cảnh cáo Đại úy Đại đội trưởng Đại đội 3…Vì lý do gì, chắc Đại úy đã hiểu…Cũng may, lúc này không còn “ bọn” cố vấn Mỹ, chứ không, hành động giặc cỏ kiểu Lương Sơn Bạc của Đại úy sẽ gây ra rắc rối to cho đơn vị…Đại úy nghe rõ chưa?
Có tiếng giầy máp, có tiếng nghẹn ngào của Đáng:
- Nghe rõ !
Tôi ra hiệu cho mọi người “ nhập tiệc” , rồi bảo Thượng sĩ Hùng Ban 1:
- Ông viết cho Đại úy Đáng một sự vụ lệnh về Bệnh viện Cộng hòa thăm thương bệnh binh…Sau đó, Đáng được nghỉ 48 giờ để…
- Tôi chỉ vào cái gói Đáng cứ kẹp mãi trong nách:
- Cậu đưa ngay cái gói…chiến lợi phẩm kia cho tôi..
Đáng nói như khóc :
- Xin Thiếu tá cho Tôi cái này…Tôi sẽ đốt trước linh cửu..
Tôi nói to như cố cho các Sĩ quan có mặt nghe được:
- Cái gì linh cữu? Sáng nay, Cha Nghị đã từ bệnh viện Trảng Bàng về qua đây báo tôi một tin vui…Trong 13 người mang đến bệnh viện ngày hôm qua…Chỉ có một nạn nhân còn phải nằm lại…Tất cả đã xuất viện…Kể cả cô nàng “ Ngàn Thu Áo Tím" của ông đấy….Còn cái áo “ Đẫm máu cháu bác Hồ” này…Biếu cho Chú Ba làm mồi…Nghe nói hôm nay…chú đốt lại cái Lò gạch…
Đáng nhẩy lên nhẩy xuống như một đứa trẻ con.
Tiếng Chuông nhà thờ ngất ngây, thánh thót..

( Bài viết này cũng để tặng :
- Hương hồn Cố Thiếu tá Dương Kim Mãng, Tiểu đoàn Phó TĐ 2/46 /25 BB..
- NT Bùi Văn Ngô ( K 16 ) Quận trưởng & Chi khu trưởng Trảng Bàng )

Nguyễn Trọng Hoàn.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

NGƯỜI LÍNH ĐEO CÀNG TRỰC THĂNG

Nguyễn Phúc Sông Hương
(Nguyễn Phúc Sông Hương là bút hiệu của Thiếu Tá Nguyễn Phúc, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1/48 SĐ18BB trong trận chiến Xuân Lộc, tháng Tư 1975. Anh và gia đình hiện cư ngụ tại Sacramento, California)


Khoảng ba giờ sáng đêm 20 rạng ngày 21 tháng 4, từ trên căn cứ pháo binh Núi Thị hướng nam thị trấn Xuân Lộc 5 cây số, Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế, Tiểu đoàn trưởng TĐ 2/43 thấy đèn pha xe sáng rực trên những ngã đường trong thành phố. Chế cảm thấy đây là một sự việc khác thường bởi vì đã mười một giờ đêm, từ khi chiến trận bùng nổ, Xuân Lộc luôn ngập chìm trong bóng tối, thỉnh thoảng loé sáng bởi đạn pháo địch rót xuống mà thôi. Chế vội gọi máy liên lạc với bộ chỉ huy Lữ đoàn 1 Dù đơn vị mà TĐ thuộc quyền tăng phái thì được biết đó là những đoàn xe của quân CS đang vào thị xã.

Như vậy thì Xuân Lộc đã bị quân Cộng sản chiếm rồi. Nhưng sao chẳng nghe những tiếng súng giao tranh. Không lẽ toàn thể quân trú phòng Xuân Lộc đã đầu hàng, Tư Lệnh Lê Minh Đảo đã đầu hàng?

Chế lo âu, giọng run khi cầm máy gọi BCH Lữ Đoàn 1 Dù.
Rạch Giá Lê Lai và trở về với người anh cả của anh. Nghe lệnh BCH Lữ Đoàn Dù, Nguyễn Hữu Chế rất tức giận. Nếu mình không gọi, chắc đã bị bỏ quên, và rồi sẽ bị quân CS tiêu diệt. Chế muốn hét lớn phẫn nộ, nhưng anh kềm lại được khi nghĩ đến Tiểu đội Trinh sát nằm tiền đồn bên ngọn Núi Ma. Phải gọi thằng em về càng nhanh càng tốt. Toàn thể TĐ phải rút khỏi Núi Thị trước khi bị quân CS bao vây. Chế cho lệnh phá hủy mấy khẩu pháo 155 ly trong khi chờ mấy đứa em tiền đồn trở về. Đây là những khẩu pháo đã gây nhiều thiệt hại cho quân CS trong mấy ngày chiến trận.


*

Khoảng hơn 4 giờ sáng Tiểu đội Trinh sát đóng ở Núi Ma và các toán tiền đồn mới trở về căn cứ Núi Thị đầy đủ. Toàn thể Tiểu đoàn 2/43 bắt đầu xuống núi, chia làm hai cánh quân, một do Tiểu Đoàn Trưởng Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế và một do Tiểu đoàn phó Đại uý Chi chỉ huy. Hơn 300 chiến sĩ TĐ 2/43 đã chiến đấu oanh liệt đột phá vòng vây khi xuống núi. Phá được vòng vây quanh núi Thị, TĐ nhắm hướng Bà Rịa mà tiến nhưng hầu như đâu đâu trong rừng cao su cũng đều có quân CS. Vì vậy dù cố tránh giao tranh, và lợi dụng bóng đêm để di chuyển, nhưng thật khó mà thoát khỏi vòng vây bủa lưới của quân CS.

ĐM, bắt và diệt cho hết tụi ngụy 18 ác ôn còn lại. Tiếng la hét, liên lạc gọi nhau của binh lính CS vang thật rõ trong rừng cao su. Những ánh đèn pin chớp loé tìm kiếm từ lùm bụi này đến lùm bụi khác. Người lính trong thế lui quân bị săn đuổi nép mình sau gốc cây cao su, thấy rõ những bóng ma trước mặt mà không thể nổ súng đốn ngã. Những thương binh đau đớn cắn răng mà chịu. Người lính Sư đoàn 18 chưa bao giờ phải nhịn nhục như thế này. Mới hôm qua đây, ta còn xáp chiến đẩy lui địch ra khỏi thị trấn mà hôm nay lại phải ngậm tăm mà đi. Qua một đêm gần như thiếu định hướng trong rừng, sáng hôm sau Chế bắt được liên lạc vô tuyến với Đại Tá Ngô Kỳ Dũng, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 52. Từ trực thăng bay trên cao, Đại Tá Dũng hướng dẫn cho TĐ tiến về hướng Long Thành. Quân CS chắc chắn đã bắt được tần số liên lạc của ĐT Dũng và Chế nên đã điều quân đuổi theo và chận đánh.

Rút lui là thế sau cùng. Người lính tác chiến ít khi nghĩ đến việc rút lui bởi vì rút lui là đưa lưng cho địch bắn. Trong cuộc rút lui này, không những đưa lưng mà còn phải ngẩng đầu để hứng đạn ngay từ trước mặt, tứ bề. Vài lần, Chế đã lệnh cho toàn thể binh sĩ dưới quyền trụ lại, dùng cây cao su che thân, dùng nón sắt và mười ngón tay cào đất để làm nơi chống trả. Những lúc đó, Chế và anh em như những con cọp dữ. Bắn và hò reo, la hét. Để tăng thêm khí thế đánh lui quân địch, và cũng để cho quên đi những đớn đau từ những vết thương ứa máu, để xua tan những ngậm ngùi khi nhìn bạn ngã xuống bên mình.

Không trụ lại lâu được vì địch quá đông, đạn dược không còn đủ. Hai cánh quân của TĐ bắt buộc vừa đánh vừa rút. Địch lại rượt đuổi, đổ quân chận đầu, bao vây quyết tiêu diệt đơn vị QLVNCH còn lại sau cùng này để tàn sát trả thù cho trận quyết đấu mà họ bị thảm bại vừa qua.

Qua nhiều trận giao tranh với địch ngày và đêm trong rừng cao su gãy đổ vì đạn bom, chiến sĩ TĐ 2/43 đã lần lượt ngã xuống đền nợ nước. Chế cũng cạn khô nước mắt. Mồ hôi hầu như không còn để chảy vì đói và khát.

Phân tán mỏng từng tiểu đội, bán tiểu đội mà rút. TĐT Nguyễn Hữu Chế sau cùng phải quyết định như vậy. Phân tán mỏng thì lực chống sẽ yếu, nhưng dễ dàng luồn lách thoát khỏi vòng vây. Ba trăm chiến sĩ từng hàng chục lần đánh bật kẻ thù, trụ cứng đĩnh Núi Thị từ khi chiến trận bùng nổ, thế mà giờ đây người hy sinh, kẻ thất lạc, bên Nguyễn Hữu Chế chỉ còn lại 27 người. Tất cả đang đâu lưng chiến đấu tìm đường sống. Với Chế, đây là lần đầu tiên trái tim anh quá nhiều đau đớn trong suốt bao năm chỉ huy Tiểu đoàn. Anh chưa bao giờ để cho một đứa em bị thất lạc, không được băng bó vết thương hay bỏ xác tại trận. Lòng thương mến binh sĩ và danh dự của người chỉ huy như hai ngọn đèn luôn cháy rực trong tâm trí anh.


*

Hai mươi tám người còn lại mà hầu hết là những tay súng ngắn thuộc BCH Tiểu đoàn và các chiến sĩ pháo binh, công binh. Đối với B40, AK thì súng ngắn chỉ là súng đuổi ruồi.

Bảo Định, các anh đã bị bao vây, đã cùng đường, hãy ra hàng để được toàn tánh mạng. Bảo Định, tụi mày đã bị bao vây, cùng đường rồi, chịu chết đi.

Khi thì anh, khi thì mày. Khi thì dụ, khi thì đe. Hàng trăm lần, tiếng loa gọi đích danh Bảo Định, danh hiệu của Nguyễn Hữu Chế ra hàng.

Đối với người lính trận ở chiến trường, tiếng loa dụ hàng của địch quá thông thường, nhưng trong tình thế này đã phần nào làm giao động 28 tám người.

Có lúc Chế nghĩ rằng để anh em ra hàng còn mình anh chạy trốn. Hai mươi bảy người còn lại phải sống. Anh không thể tiếp tục nhìn họ lần lượt ngã xuống nữa. Riêng Chế, chỉ có chạy thoát hay là chết mà thôi. Nếu thoát không được thì cho một viên đạn súng colt vào đầu chứ không thể để bị bắt. Làm sao CS có thể tha Bảo Định Nguyễn Hữu Chế là một trong những Tiểu Đoàn Trưởng xuất sắc của Sư Đoàn 18 mà CS liệt vào hàng nợ máu ác ôn.

- Chúng ta đang ở trong tình trạng tuyệt vọng, anh em nên ra hàng vì vợ con gia đình của mình. Tôi chỉ yêu cầu anh một việc là đợi khi tôi đã đi khỏi nơi này thì ra hàng. Những gương mặt đầy lo âu bỗng đanh lại khi nghe Chế nói. Một hạ sĩ quan công binh nhìn Chế:

- Thiếu tá ơi, chúng tôi tuy là công binh chiến đấu, khả năng không bằng người lính bộ binh nhưng nhất định không làm hổ thẹn hai chữ chiến đấu mà chúng tôi đã tự mang vào mình.

- Bao giờ Thiếu Tá ngã xuống thì tụi em mới ra hàng. Người lính truyền tin nói.

- Thiếu Tá ngã thì em ngã theo. Người lính trinh sát cuối cùng của tiểu đội trinh sát nói một cách cuơng quyết.

Ba đêm, bốn ngày, hai mươi tám người sống chết bên nhau. Người còn sức dìu người sức yếu. Tay súng tay bạn, cương quyết không bỏ lại một người nào.. Họ lần mò trong đêm, dò dẫm trong ngày. Có khi vấp phải xác thú bị đạn chết trong rừng nhưng chẳng ai xẻ thịt thú mà ăn dù rất đói và khát.

Tháng tư, sương đêm không đủ để làm ướt lá cây cao su thì làm sao có vũng ướt heo rừng nằm cho người lính cúi xuống đưa lưỡi tìm chút nước.

Có lúc trong ngày, một vài lần Chế nghe tiếng trực thăng bay cao trên trời. Lòng mọi người vui lên vì biết mình sắp ra khỏi vùng địch chiếm đóng. Chế ứa nước mắt khi nghe tiếng gọi Bảo Định, Bảo Định, anh nghe tôi không trả lời của Đại tá Lê Xuân Hiếu Trung Đoàn Trưởng 43 gọi tìm đứa em thất lạc, nhưng Chế không dám lên tiếng vì sợ VC theo dõi bắt được tần số, phát hiện. Chế tin sự suy nghĩ và lo sợ của mình là đúng vì chính Chế đã nghe những lời trao đổi của VC lạc vào trong tần số máy PRC25 của Tiểu đoàn. Ngày thứ 4, nhiều anh em dường như không bước được nữa. Chính Chế cũng cảm thấy một cơn sốt đang kéo đến. Anh khô đắng cả họng, bụng thì đau nhói, chân run như sắp khuỵ xuống. Bây giờ thì không thể im lặng được nữa. Anh hai ơi Bảo Định đây. Chế cầm ống liên hợp và cất tiếng gọi lớn.

- Bảo Định! Bảo Định! nghe anh trên 5, nghe tôi không trả lời! Tiếng vị Trung Đoàn Trưởng vui mừng vang lên trong máy PRC25. Dưới sự hướng dẫn của Đại Tá Hiếu, và yểm trợ bằng hỏa tiễn của trực thăng, Chế và anh em tìm ra được khu trãng trống. Ba chiếc trực thăng UH-1B từ hướng Nam bay đến, rà thật sát trên ngọn cây rồi đáp xuống khu rừng chồi. Người còn sức cõng người kiệt sức chạy nhanh ra. Vấp ngã. Đứng dậy. Chạy tiếp. Nhanh lên, nhanh lên. Chế hét, tay quơ cây gậy thúc dục hai người lính đang vấp ngã trước mặt mình. Chế xốc tay một người và kéo chạy. Cánh quạt phi cơ tạo gió như cơn bão khiến cả hai thân thể yếu đuối quay một vòng rồi ngã xuống. Chế cố đứng dậy, kéo rồi đẩy người lính nhào vào cửa trực thăng. Pháo 82 và đạn B40 nổ ầm ầm. Khói lửa tung lên mù mịt ngay bên cạnh. Chiếc trực thăng bốc lên. Tự nhiên Chế cảm thấy có một sức mạnh mà anh chưa từng có trong thân thể mình, anh nhảy lên, vươn hai tay chụp vội và nắm chặt càng trực thăng vừa lúc chiếc trực thăng bay là là về phía trước. Đạn VC bắn xối xả theo nghe veo veo. Chiếc nón sắt trên đầu Chế rơi xuống. Cả chiếc kính cận trên mắt cũng rơi theo Chế nhắm mắt. Đôi bốt dưới chân quệt mạnh cành lá khiến thân thể anh lại càng chao đảo. Chế nghiến chặt hàm răng, dồn hết sức lực vào đôi bàn tay đã xây xước bao ngày qua, bám cứng vào càng trực thăng. Chế cảm nhận có vị mặn trên môi mình từ khi chiếc kính rơi xuống. Không biết là máu, mồ hôi hay nước mắt. Đeo lơ lững dưới càng trực thăng như vậy cho đến khi trực thăng ra khỏi tầm đạn địch, bốn bàn tay đồng đội trên trực thăng mới kéo được Chế lên lòng phi cơ.

- Thiếu tá ơi! Bảy tiếng kêu của bảy người lính cùng bật ra một lúc. Người xạ thủ trực thăng thì khép nhẹ đôi mắt lại như cố khắc ghi hình ảnh hào hùng đầy xúc động trước mặt mình.

- Chúc mừng Thiếu tá và anh em. Anh ta nói, giọng sung sướng. Hai sĩ quan phi công ngồi phía trước cũng đưa tay ra dấu chào mừng.

Chế nhấc cánh tay mỏi mệt bắt tay người xạ thủ trực thăng. Cũng nhờ sự can đảm và tận tình của các anh. Chế muốn nói như vậy, nhưng âm thanh không thể thoát ra khỏi cổ họng đang khô đắng của anh.

Khi Chế vừa bước vào phòng hội của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn tại căn cứ Long Bình vào buổi chiều ngày 24 tháng 4 thì Thiếu Tướng Lê Minh Đảo ôm chầm lấy Chế. Qua phút xúc động mừng vui, Tư Lệnh bước đến mượn hai hoa mai trắng trên cổ áo một vị Trung Tá rồi gắn vào cổ áo Chế.

- Anh xứng đáng được vinh thăng Trung Tá. Chế đứng nghiêm, đưa tay chào và nói: Thưa Thiếu Tướng, tôi không xứng đáng nhận sự ân thưởng này. Giọng Chế cương quyết. Vị Tư Lệnh mở tròn đôi mắt nhìn người thuộc cấp Tiểu Đoàn Trưởng của mình. Qua phút ngạc nhiên, ông chợt hiểu. Ông gật đầu nhìn Chế. Chế thấy đôi mắt sáng đó cũng đang mờ dần đi như đôi mắt ứa lệ của mình.

- Anh em binh sĩ Tiểu đoàn 2/43 bỏ tôi mà đi hết rồi thưa Thiếu Tướng, tôi còn vui vẻ nào mà...

- Thôi, được rồi, tôi sẽ trình lại với Trung Tướng Đồng Văn Khuyên sau.

Vị Tư Lệnh nói và đưa mắt nhìn người thuộc cấp đang đặt tấm thân mỏi mệt xuống chiếc ghế trong phòng hội. Chế ngồi bất động, hai tay ôm đầu. Anh cảm thấy hối hận vì câu nói nóng nảy oán trách Chỉ Huy trưởng Lữ Đoàn 1 Dù khi vừa bước chân vào phòng hội. Cấp chỉ huy tối cao của Quân Lực còn bỏ ra đi, quay mặt với thuộc cấp trong khi đang ở ngay tại Sài Gòn, trong bộ Tổng Tham Mưu an toàn thì việc Chỉ Huy Trưởng Lữ Đoàn 1 Dù chậm ra lệnh cho TĐ 2/43 rút quân cũng không đến nỗi phải bị oán trách. Toàn thể Lữ đoàn 1 Dù đến chín, mười giờ đêm mới ra đến lộ sau khi đã đụng độ ác liệt với quân CS và bị thiệt hại khá nặng. Họ còn phải bảo vệ dân chúng đang kéo theo. Lữ Đoàn Trưởng có hàng trăm việc phải giải quyết, đối phó. Đêm đầu tiên nghỉ tại BTL Sư Đoàn, lòng Chế không yên. Ý nghĩ về vợ con gia đình chợt đến nhưng chỉ thoáng qua. Đầu óc anh đầy hình ảnh của đồng đội; người đã ngã xuống và người thất lạc. Trái tim anh từng hồi vang lên tiếng gọi của anh em. Gần như suốt đêm, Chế đứng nhìn hỏa châu trên vùng trời Long Thành, mong trời mau sáng với hy vọng sẽ có anh em binh sĩ thất lạc trở về. Quả nhiên, đúng như dự đoán và tin tưởng của Chế, những ngày kế tiếp, hơn một trăm anh em chiến sĩ Tiểu đoàn đã lần lược trở về với vũ khí đầy đủ. Họ là những người thất lạc hoặc tự phân tán thành từng toán nhỏ để dễ dàng thoát khỏi vòng vây của quân CS. Tiểu Đoàn Trưởng Nguyễn Hữu Chế hết sức vui mừng. Con gà mẹ tuy còn đau buồn trông ngóng, nhưng lại cất tiếng kêu tục tục, quy tụ đàn con chung quanh mình. TĐ 2/43 lại tiếp tục tham dự những ngày sau cùng của cuộc chiến. Họ, người sống cũng như kẻ đã hy sinh, những hiệp sĩ đoạn hậu cho một cuộc lui quân đã đi vào chiến sử QLVNCH. Và Nguyễn Hữu Chế, người TĐT đã quên mất bản thân khi cố hết sức đẩy người thương binh thuộc cấp của mình lên phi cơ. Nhiều ngày, Chế không thể tin mình là người lính rút lui sau cùng khỏi Xuân Lộc dưới càng trực thăng giữa lằn đạn địch. Chế không tin vì không thể nghĩ là mình còn sống, đủ sức mà xoè đôi bàn tay yếu đuối rã rời để bám vào càng trực thăng khi chiếc phi cơ bốc lên.

Chế không tin, nhưng những người lính TĐ 2/43 thì biết đó chính là sức mạnh từ trái tim và trí óc của vị TĐT của họ. Hình ảnh này thật quá bi hùng mà suốt đời, họ không thể nào quên.

Nguyễn Phúc Sông Hương

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

ANH HÙNG HÀO KIỆT

Bất cứ Quốc Gia nào cũng đều NGƯỠNG MỘ các vị ANH HÙNG HÀO KIỆT
Kẻ có tài trí hơn người, hướng dẫn Quần Chúng chống giặc bảo vệ Non Sông
Đó là những đưá con yêu vô cùng CAO QUÍ cuả giống giòng
Thời nào được nhiều ANH HÙNG HÀO KIỆT xuất hiện , thời đó HUY HOÀNG SÁNG CHÓI !
Trong lịch sử Nước Việt có thể nói
Đời Nhà Lý, Nhà Trần, Nhà Hậu Lê, Nhà Tây Sơn
Làm rạng danh Phá Tống, Bình Chiêm đánh thắng tên khổng lổ Phương Bắc vang rền
Làm lũ xâm lăng Nhà Tống, Nhà Nguyên, Nhà Minh, Nhà Thanh ôm đầu máu!
Lịch sử Nước Nhà đã ghi đậm nét những trang Hào Hùng Ngời Sáng
Tiền Nhân đã đổ không biết bao máu xương
Mới tạo dựng , tô điểm gấm hoa cho mảnh đất chữ S , Quê Hương
ĐA TẠ Tiền NHân Hào Hùng Dũng Liệt
Trứng chọi đá bền vững mấy ngàn năm
Kiên cường đứng vững, bất khuất, hiên ngang
Dù kẻ thù truyền kiếp mạnh bạo cở nào
Đụng đến KHẮC TINH VIỆT NAM đều chuốc lấy thảm bại !!!
Tên khổng lồ cố NUỐT hoài , NUỐT mãi vẫn KHÔNG TRÔI !!!
Có lý nào đến thời hồ ly tinh lại bị huỷ diệt ???
Triệu triệu người vùng lên xé nát lá cờ bê bết máu, OAN NGHIỆT !!!
Dựng lại ngọn cờ VÀNG truyền thống thiêng liêng
Bảo đảm lũ hán gian cũng ôm nhục như ông cha chúng
BAO GIỜ NHỔ SẠCH CỎ NƯỚC NAM
MỚI HẾT KẺ CAN TRƯỜNG NỔI LÊN CHốNG GIẶC ( NTT)
Dù Thù trong Giặc ngoài cũng mặc
Đấu tranh đương nhiên chấp nhận HY SINH !!!
KHÔNG Ai THƯƠNG MÌNH BẰNG CHíNH MÌNH
TẬN NHÂN LỰC TRI THIÊN MỆNH


KIỀU PHONG (Toronto)

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân -

Phạm Tín An Ninh

Hơn hai mươi năm nay, từ ngày đến định cư tại Na-Uy, một nước Bắc Âu nổi tiếng với những mùa đông dài băng gía, nhưng lại rất đẹp vào ngày hè và lãng mạng vào thu, tôi vẫn giữ thói quen đi len lỏi trong rừng, không chỉ vào những ngày nghỉ cuối tuần mà bất cứ lúc nào thấy lòng mình trăn trở. Không phải tò mò vì những cuộc tình cháy bỏng trong "Rừng Na-Uy", cuốn tiểu thuyết nổi tiếng mới đây của một ông nhà văn Nhật Bản,
nhưng để được lắng nghe những tiếng khóc. Tiếng khóc của cây lá, của gỗ đá trong rừng. Tiếng khóc có mãnh lực quyến dụ tôi, thúc bách tôi, cho dù nó đã làm tôi đau đớn, khốn khổ gần cả một đời.



Tôi sinh ra ở Huế, nhưng lớn lên ở thành phố Nha Trang, sau khi cùng cả nhà theo cha tôi
vào đây nhận nhiệm sở mới. Có lẽ ngày ấy tôi là một cô gái khá xinh. Ngay từ năm tôi học
lớp đệ lục trường nữ trung học Huyền Trân, cũng đã có vài chàng học trò khờ khạo si tình,
đạp xe theo sau tôi những buổi học tan trường. Lên năm đệ tam, cũng có vài chàng SVSQ
Hải Quân, Không Quân chờ trước cổng trường tán tỉnh. Nhưng như là số trời, trái tim tôi chỉ
rung động trước một người. Anh là bạn chí thân với ông anh cả của tôi, hai người học cùng
lớp thời còn ở trường Võ Tánh. Tháng tư năm 68, chúng tôi làm đám cưới, kết thúc một cuộc
tình đầu thật dễ thương, không có nhiều lãng mạng, cũng chẳng có điều gì trắc trở. Ông xã
tôi là lính Biệt Động Quân. Hậu cứ đóng ở Pleiku. Ngày về làm đám cưới, đôi giầy saut của
anh còn bám đầy đất đỏ hành quân. Đám cưới của chúng tôi được tổ chức tại một nhà hàng
nằm gần bờ biển, không xa tòa tỉnh, nơi vừa trải qua khói lửa Mậu Thân.

Sau đám cưới, cha mẹ chồng cho tôi theo anh lên Pleiku một tháng, rồi phải trở về sống ở nhà chồng, bởi anh đi hành quân liên miên, không an toàn khi tôi phải sống một mình. Chỉ khi nào
tiểu đoàn về hậu cứ dưỡng quân, anh đánh điện tín để tôi lên với anh.

Mãi đến ba năm sau, tôi mới sinh cho anh đứa con đầu lòng. Một đứa con trai bụ bẫm. Có lẽ vì nặng nợ với núi rừng, anh đề nghị tôi đặt tên cho con là Cao Nguyên. Lê Cao Nguyên.
Anh về thăm con khi cháu vừa đầy tháng. Càng lớn Cao Nguyên càng giống cha. Đôi mắt to, sóng mũi cao, đặc biệt là trên đầu mỗi vành tai đều có một "lỗ tai nhỏ" như ba nó.

Chỉ đúng một tuần sau khi chia tay vợ con về với đơn vị, anh bị thương nặng trong lúc đơn vị hành quân giải vây căn cứ Pleime. Tôi bồng con lên Pleiku. Hậu cứ lo cho mẹ con tôi nơi ăn chốn ở và có xe đưa đón mỗi ngày để tôi thăm và săn sóc anh mỗi ngày trong quân y viện.
Sau khi xuất viện, đôi chân còn đi khập khiễng, nên anh được chuyển về Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn đảm trách một công tác tham mưu ở hậu cứ. Mẹ con tôi ở lại Biển Hồ với Anh kể từ ngày ấy. Mẹ chồng tôi rất nhân từ, thường xuyên lên thăm chúng tôi và thuê cho tôi một người giúp việc. Cuối năm 1973, trong một lần pháo kích vào trại gia binh làm một số đàn bà
con nít bị thương, trong đó có cháu Cao Nguyên. Rất may, mảnh đạn gây một vết thương khá lớn ở cánh tay, nhưng không vào xương. Sau hôm ấy, chúng tôi ra thuê một căn nhà bên ngoài doanh trại để ở. Năm sau khi Cao Nguyên vừa tròn hai tuổi, tôi sinh đứa con thứ nhì.
Lần này là con gái. Con bé giống mẹ, được chúng tôi đặt tên Thùy Dương để nhớ thành phố biển Nha Trang, nơi hai chúng tôi lớn lên và yêu nhau.

Mấy năm sống ở Pleiku, cái thành phố "đi dăm phút trở về chốn cũ" ấy, những ngày nắng chỉ thấy toàn bụi đỏ, còn những ngày mưa bùn bám dính gót chân. Pleiku đúng là một thành phố lính. Những người vợ lính sống ở đây dường như chỉ để chờ chồng trở
về sau những cuộc
hành quân, hoặc để chăm sóc chồng những ngày bị thương nằm trong quân y viện. Với họ thì
đúng là "may mà có anh đời còn dễ thương". Trong số ấy đã có biết bao người trở thành góa
phụ!

Giữa tháng 3/75, sau đúng một tuần Ban Mê Thuột mất vào tay giặc. Một buổi sáng, từ bản
doanh Liên Đoàn về, hối hả bảo mẹ con tôi và chị giúp việc thu dọn đồ đạc gấp, bỏ lại mọi thứ,
chỉ mang những gì cần thiết, nhất là thức ăn và sữa cho các con, theo anh vào hậu cứ.

Khi vừa đến cổng trại, tôi ngạc nhiên khi thấy tất cả mọi người đều đã ngồi sẵn trên xe.
Chúng tôi rời khỏi doanh trại. Thành phố Pleiku như đang ngơ ngác trước những người từng
bao năm sống chết với mình nay vội vàng bỏ đi không một tiếng gĩa từ. Đang giữa mùa xuân
mà cả một bầu trời u ám. Pleiku tiễn chúng tôi bằng một cơn mưa đổ xuống khi đoàn xe vừa
ra khỏi thành phố. Đến ngã ba Mỹ Thạnh, đoàn xe dừng lại. Phía trước chúng tôi dày đặc xe
và người, vừa dân vừa lính, đủ các binh chủng, đủ các loại xe, kể cả xe gắn máy. Tôi nghe
chồng tôi và bạn bè nói là ngoài lực lượng xung kích mở đường, một số đơn vị Biệt Động
Quân còn được chỉ định đi sau, ngăn chặn địch quân tập hậu để bảo vệ cho đoàn quân di
tản! Đây là trách nhiệm nguy hiểm và nặng nề nhất trong một hành quân triệt thoái.

Hơn một ngày mò mẫm trên Tỉnh Lộ 7, chúng tôi đến thị xã Hậu Bổn vào lúc trời sắp tối. Vừa
dừng lại chưa kịp ăn cơm thì bị pháo kích và súng nổ khắp nơi. Xe và người dẫm lên nhau
trong cơn hốt hoảng. Địch đã bao vây. Các đơn vị BĐQ chống trả kiên cường, nhưng địch
qúa đông, mà bên ta thì vừa quân vừa dân chen chúc nhau hỗn độn. Trong lúc nguy nan này
trời lại giáng xuống cho bên ta thêm một điều bất hạnh. Một chiếc phản lực cơ dội bom nhầm
vào quân bạn. Đoàn xe vội vã rời Hậu Bổn, di chuyển đến gần Phú Túc thì lại bị địch tấn
công từ khắp hướng. Nhiều xe bốc cháy và nhiều người chết hoặc bị thương. Cả đoàn xe
không nhúc nhích được. Chúng tôi có lệnh bỏ lại tất cả xe cộ, băng rừng tìm đường về Củng
Sơn.




Chồng tôi, vừa chiến đấu vừa dẫn đường chúng tôi cùng một số binh sĩ, vợ con. Tôi dắt theo
Cao Nguyên còn chị giúp việc bồng cháu Thùy Dương. Chúng tôi lầm lũi trong rừng. Tiếng
súng vẫn còn ầm ĩ, những viên đạn lửa như muốn xé màn đêm. Khi chúng tôi mệt lả cũng là
lúc đến bờ một con sông nhỏ. Chồng tôi lo chỗ ngủ cho mẹ con tôi dưới một gốc cây, rồi cùng
một số đồng đội chia nhau canh gác. Mệt qúa, tôi ngủ vùi một giấc, thức giấc thì trời vừa
sáng.. Chúng tôi lại tiếp tục lên đường. Tôi không còn đủ sức để bồng Cao Nguyên, nên
chồng tôi phải dùng cái võng nilong gùi cháu sau lưng, bên ngoài được phủ bằng cái áo giáp.
Vừa ra khỏi bìa rừng tôi ngạc nhiên khi thấy từng đoàn người lũ lượt kéo nhau đi cùng
hướng chúng tôi, trong đó có nhiều người vừa bị thương, mình đầy máu. Tôi nghĩ họ cũng là
những vợ chồng, con cái, cha mẹ dắt dìu nhau đi tìm sự sống. Hình như họ không còn mang
theo bất cứ thứ gì. Nhìn nét mặt ai nấy cũng kinh hoàng.. Chồng tôi bàn bạc cùng một số bạn
trong đơn vị, chúng tôi lại tách khỏi đám đông này, tìm một lộ trình khác mà đi, để tránh sự
phát hiện của địch.

Vừa rời đoàn người chừng vài phút thì đạn pháo thi nhau rớt xuống. Tiếng la khóc thất thanh
cộng với tiếng súng nổ khắp nơi làm cho cả một khu rừng như trải qua một cơn địa chấn.
Trong nhóm chúng tôi cũng đã có một số người đã chết. Đến lúc này thì mạnh ai nấy tìm
đường sống. Gia đình tôi cùng gia đình vài người bạn nữa chạy vào khu rừng phía trước, nơi
không nghe tiếng súng. Kinh nghiệm bao nhiêu năm chiến trận, bây giờ chồng tôi chỉ còn
dùng để mong cứu được vợ con mình. Địch quân tràn ngập. Một số đơn vị tan rã. Đồng đội
kẻ chết người bị thương. Có thể một số đã bị bắt. Tôi không thể tưởng tượng được số mệnh
bi thảm của những người lính Biệt Động một thời oanh liệt trên khắp chiến trường, giờ này lại
tan tác trong bất ngờ, tức tưởi! Chồng tôi suýt bật khóc, khi nghe cấp chỉ huy truyền lệnh từ
ông tướng tư lệnh Quân Đoàn: "Đạp lên mà đi!" Trong cả đời binh nghiệp, chắc những người
lính không còn nhận được cái lệnh nào đau đớn hơn thế nữa.





Sau chừng một tiếng đồng hồ băng rừng, chúng tôi bất ngờ gặp một toán lính hơn 20 người
thuộc tiểu đoàn cũ của chồng tôi. Thầy trò chưa kịp nắm tay mừng rỡ thì súng nổ. Địch quân
phía trước mặt. Trở lại cương vị chỉ huy, chồng tôi lưng mang con, chồng tôi lưng mang con,
điều động anh em xông vào trận mạc. Một cuộc đánh tốc chiến, toán địch quân bị tiêu diệt.
Chồng tôi quay lại tìm và hướng dẫn đám đàn bà con nít chúng tôi đi tiếp.

Trong núi rừng đêm xuống thật nhanh. Cái bóng tối bây giờ thật rợn người. Tôi hình dung
cái bóng của tử thần. Chúng tôi dừng lại trên một ngọn đồi thấp. Tôi nghiệp cho những
người lính trung thành. Đáng lẽ họ lợi dụng bóng đêm để đi tiếp, vì đó là sở trường của họ,
nhưng thấy một số vợ con bạn bè cùng vài anh em bị thương không thể đi nổi, nghe lời chồng
tôi, tất cả cùng ở lại qua đêm. Sau khi sắp xếp anh em phòng thủ, chồng tôi trở lại phụ lo chỗ
nằm cho mẹ con tôi. Tối hôm ấy, dù mệt, nhưng sao tôi cứ trằn trọc, không ngủ được. Chồng
tôi ôm tôi dựa vào một gốc cây.. Anh ôm tôi thật chặt vào lòng, thỉnh thoảng hôn nhẹ tôi, trên
môi, trên tóc. Trong hoàn cảnh này chẳng ai còn lòng dạ nào để lãng mạn yêu thương,
nhưng có lẽ anh đã tội nghiệp cho một người con gái đã trót chọn chồng là lính chiến. Và
cũng không ngờ đó là những nụ hôn cuối cùng anh dành cho tôi.


Buổi sáng sớm khi vừa xuống chân đồi, chúng tôi chạm súng với địch. Cũng là lần cuối tôi
chứng kiến những người lính Biệt Động can trường. Các anh phân tán từng toán nhỏ, xông
vào lòng địch mà đánh, tiếng thét "Biệt Động Quân Sát" vang dội cả một vùng. Nghe súng nổ,
tôi đoán lực lượng địch đông lắm. Một anh trung sĩ bị thương ở cánh tay trong trận đánh hôm
qua, được chỉ định dắt tất cả đám đàn bà con nít chúng tôi ra khỏi vùng giao chiến. Đã vậy
anh còn phải dìu theo một người lính bị thương khác. Vợ chồng tôi thất lạc nhau kể từ phút
ấy. Tôi còn lạc mất cả cháu Cao Nguyên, được ba nó gùi theo phía sau lưng ngay cả những
khi lâm trận. Không biết chiếc áo giáp có đủ để che chắn hình hài bé nhỏ của con tôi. Hình
ảnh này trước đây tôi nghĩ chỉ có diễn ra trong mấy cuốn truyện Tàu mà tôi đã đọc.

Tiếp tục di chuyển từng vài giờ đồng hồ nữa, khi tới một con đường mòn, chúng tôi lại nghe
súng nổ. Anh trung sĩ dẫn đường chúng tôi nhận ra từng loạt lựu đạn nổ, bảo chúng tôi nằm
rạp xuống. Chờ im tiếng súng, đám chúng tôi rời con đường mòn, chạy về bên hướng rừng
bên phải, mà theo anh trung sĩ, có thể an toàn hơn. Khi đến bìa rừng, tôi thấy mấy người lính
BĐQ nằm chết bên cạnh xác quân thù, máu me lai láng. Sau này tôi được biết những người
lính này bị địch bao vây, đã tự sát để cùng chết chung với giặc.




Đi vào cánh rừng bên phải chỉ vài trăm mét nửa thì chúng tôi bị đám khá đông VC chặn lại.
Anh trung sĩ bị tước hết vũ khí. Tất cả chúng tôi bị lùa vào bên bờ suối nhỏ. Ở đây tôi gặp
một số sĩ quan, binh sĩ của ta bị bắt, nhiều người tay bị trói ngược ra sau, ngồi theo hàng dọc
quay lưng ra suối, trước họng súng sẵn sàng nhả đạn của kẻ thù. Tôi cố ý tìm xem, nhưng
không thấy chồng tôi trong số người bị bắt. Lòng tôi lo âu vô hạn. Từ lúc ấy, tiếng súng tạm
im, chỉ còn tiếng quát thoát và tiếng nói rất khó nghe của đám người thắng trận. Tất cả chúng
tôi bị lùa về địa điểm tập trung, một ngôi trường nằm trong huyện Củng Sơn (Sơn Hòa).

Trong cảnh khốn cùng này, tôi chỉ còn lại một điều may mắn. Chị giúp việc rất tốt bụng và
trung thành. Vừa bồng bế, bảo bọc cho cháu Thùy Dương, vừa lo lắng cho tôi. Chị đi đâu đó
xin cho tôi nửa bát cơm, nhưng tôi không nuốt nổi, mặc dù đã trải qua hai ngày đói khát. Nhìn
đứa con gái vừa mới lên hai lây lất bên cạnh và nghĩ tới chồng tôi và đứa con trai giờ này
không biết sống chết ra sao, lần đầu tiên tôi bật khóc.

Cuối cùng thì tôi cũng lần mò về đến Nha Trang, khi thành phố này cũng vừa lọt vào tay giặc.
Khi nhận ra tôi, mẹ tôi ôm tôi vào lòng và khóc như mưa. Tôi không đủ can đảm để mang tin
buồn đến nhà chồng, nhờ cha tôi sang báo tin tôi và cháu Thùy Dương vừa mới về nhà,
chồng tôi và cháu Cao Nguyên còn đang mất tích. Cả nhà chồng kéo sang thăm tôi, bồng
cháu Thùy Dương về nhà chăm sóc. Mẹ chồng tôi thẫn thờ cả mấy ngày liền khi nhận được
tin này. Nằm nhà hơn một tuần, nhờ mẹ tận tình chăm lo, sức khỏe tôi đã gần bình phục, tôi
xin được trở lại Phú Bổn tìm chồng và cháu Cao Nguyên. Cả nhà tôi và cha mẹ chồng đều ái
ngại, âu lo. Nhưng qua sự nài nỉ của tôi, cuối cùng cha mẹ chồng cho đứa em trai út của
chồng tôi, dùng xe honda chở tôi ngược đường lên Tỉnh Lộ 7.


Mặc dù đã chứng kiến bao nhiêu máu lửa tang tóc, cũng như đã chuẩn bị tinh thần, nhưng tôi
thực sự kinh hãi những gì trước mắt, khi nhìn thấy ngổn ngang bao nhiêu xe cộ bị đốt cháy,
những bộ xương người còn vương vãi đó đây, bao nhiêu nấm mộ bị lấp vội bên đường. Cả
một vùng xông mùi tử khí. Chiếc khăn bịt miệng tẩm ướt dầu Nhị Thiên Đường đã giúp tôi và
cậu em vượt qua chặng đường gần 100 cây số. Đến Cheo Reo, hỏi thăm một vài người dân,
được biết một số sĩ quan bị bắt làm tù binh, đang còn giam ở Thuần Mẫn. Chúng tôi đến đó,
trình giấy phép đi tìm chồng của Ủy Ban Quân Quản mới được cho vào trại. Sau khi tên VC
trực ban cho biết không có tên chồng tôi trong danh sách tù binh, tôi xin được gặp bất cứ sĩ
quan nào cùng đơn vị với chồng tôi. Rất may, tôi gặp được anh đại đội phó lúc chồng tôi còn
ở tiểu đoàn. Anh cho biết là có gặp một số binh sĩ cùng chồng tôi chiến đấu dưới ngọn đồi
gần đèo Tu Na. Họ cho biết chồng tôi bị thương, nhưng cố tìm cách đưa cháu Cao Nguyên
đến một nơi nào đó. Tôi sáng lên niềm hy vọng. Ngay hôm ấy tôi thuê năm người thượng,
theo tôi lần theo con đường dọc bờ sông mà tôi còn nhớ, trở lại khu đồi thấp, rồi bung ra xa đi
tìm. Liên tục trong một tuần, chúng tôi chỉ tìm được mấy bộ xương người, một số mộ vô danh,
nhưng không thấy dấu vết của chồng tôi. Tôi trở về mang theo niềm tuyệt vọng, không chỉ
cho tôi, mà cho cả nhà chồng.

Cha mẹ chồng tôi lập bàn thờ cho chồng tôi và Cao Nguyên, đứa cháu đích tôn của ông bà.
Ngày 19 tháng 3 là ngày giỗ của hai cha con.

Hàng năm, cứ đến ngày này, tôi và Thùy Dương đều trở lại Phú Bổn, tìm đến chân đồi, dưới
gốc cây nằm giữa đỉnh đồi, mà đêm cuối cùng chồng tôi ôm tôi vào lòng, thắp hương tưởng
niệm anh và cháu Cao Nguyên. Tôi đã dùng dao khắc đậm tên anh và cháu Cao Nguyê vào
thân cây. Lần nào, khi nước mắt ràn rụa, trong tiếng gió rừng, tôi mơ hồ như có tiếng khóc từ
gốc cây này, rồi văng vẳng bao nhiêu tiếng khóc từ những thân cây khác, từ những khúc gỗ
nằm vương vãi do bom đạn hôm nào, tạo thành những âm thanh não nùng, xé ruột.


Tôi đã mang dư âm của tiếng khóc ấy đến tận Bắc Âu, nơi mẹ con tôi định cư sau chuyến
vượt biển được một chiếc tàu của vương quốc Na Uy cứu vớt. Thánh 5 năm 1985, cha mẹ
chồng tôi góp vàng cùng một người bạn ở vùng biển Lương Sơn đóng ghe vượt biển. Tôi,
cháu Thùy Dương, và một đứa em trai của tôi đi cùng với gia đình chồng. Tôi cũng xin được
một chỗ cho chị giúp việc lúc trước (chị đã về quê trên vùng quê Diên Khánh, sau ngày cùng
tôi thoát chết trở về), nhưng chị chối từ. Tôi âm thầm gom nhặt tài sản của nhà chồng và của
tôi mang lên biếu chị trước khi rời khỏi quê nhà.

Hai mươi năm sau, khi Thùy Dương vừa làm đám cưới, tôi muốn đưa vợ chồng cháu về lại
Việt Nam trình diện ông bà ngoại, và đến địa điểm cuối cùng khi chồng tôi và Cao Nguyên còn
sống, như là một nghĩa cử để cháu tưởng nhớ đến cha và anh mình. Chúng tôi đến đây vào
giữa mùa xuân, một ngày trước ngày giỗ chồng và đứa con trai.

Con đường Tỉnh Lộ 7 ngày xưa bây giờ đã được tráng nhựa và đổi tên thành Quốc Lộ 25.
Chúng tôi thuê bao một chiếc xe tám chỗ ngồi. Ngoài tôi và vợ chồng cháu Thùy Dương ,
còn có vợ chồng cậu em trai út của tôi và vợ chồng chị giúp việc ngày xưa. Chúng tôi đến
Cheo Reo, bây giờ có tên mới là A Yun Pa thuộc tỉnh Gia Lai. Tất cả không còn gì dấu vết
của chiến tranh. Người ta đã cố tình trát phấn tô son lên thành phố núi này để có dáng dấp
của thời kỳ đổi mới. Màu sắc lòe loẹt, vài ngôi nhà cao tầng quê mùa kệch cỡm, những ngôi
nhà sàn "cải biên" thành những biệt thự của các ông quan lớn, nằm chơ vơ giữa một vùng
nghèo nàn mang tên "thị xã". Nhìn dãy núi Hàm Rồng từ xa, ẩn hiện trong những đám mây
mù, lòng tôi chùng xuống. Nơi ấy, đã bao lần tôi đến thăm chồng, để được hòa mình vào đơn
vị với những người lính trẻ, sẵn sàng chết cho quê hương. Cũng ở nơi ấy tôi đã vinh dự
chứng kiến chồng tôi cùng nhiều anh em đồng đội được ông tướng Vùng gắn huy chương lên
ngực áo khi ban nhạc trổi khúc quân hành. Tất cả bây giờ đã trở thành huyền thoại.


Sau khi thuê phòng trọ, tắm rửa và cơm nước xong, chúng tôi hỏi đường đến tháp Yang Mun
và tháp Drang Lai. Vì nghe dân ở đây bảo các vị thần Chàm trong hai ngôi tháp này linh
thiêng ghê lắm. Tôi khấn vái và xin xâm. Tôi ngạc nhiên vô cùng khi lá xâm tôi bốc trúng lại là
bốn câu Kiều của ông Nguyễn Du:

Từ phen chiếc lá lìa rừng
Thăm tìm luống những liệu chừng nước mây
Rõ ràng hoa rụng hương bay
Kiếp sau hoạ thấy kiếp này hẳn thôi.

Tôi bán tín bán nghi, vì nghe nhiều người nói ở Việt Nam, chuyện cúng bái, mê tín dị đoan,
bây giờ là một business. Chẳng lẽ ông thần Chàm này lại thuộc cả truyện Kiều. Nghĩ như
vậy, nhưng thấy bốn câu thơ lại đúng vào trường hợp của mình, tôi cũng thấy lòng buồn vô
hạn. Trở về phòng trọ, bà chủ nhà cho biết ngày mai có chợ phiên của người dân tộc, vừa
đông vui vừa có thể mua nhiều thứ thổ sản, gia cầm với gía rất rẻ. Tôi cũng muốn mua mấy
con gà, để cúng chồng tôi. Khi còn sống anh thích ăn gà luộc. Bà còn cho biết thêm dân
chúng ở vùng này đa số là người Thượng thuộc các sắc tộc Djarai, Bahnar, Hroi và M'dhur.
Có một số sống trong các bản rất xa, cách thị xã này từ 10 tới 20 cây số.

Sau một đêm trằn trọc với những cơn ác mộng, vừa mới chợp mắt tôi đã nghe tiếng người réo
gọi nhau. Ngôn ngữ của các sắc tộc, tôi không hiểu họ nói gì. Chợ phiên nhóm rất sớm.

Chúng tôi vội vàng ăn sáng rồi kéo nhau ra khu chợ, nằm không xa trước nhà trọ. Tôi có cảm
giác lạ lẫm vì đây là lần đầu tiên tôi đến một buổi chợ phiên của người sắc tộc. Đã vậy vợ
chồng cháu Thùy Dương cứ theo hỏi tôi điều này điều nọ. Khi đang cố giải thích về nguồn
gốc người Thượng, chúng tôi đến một quày gà. Những con gà tre nhỏ xíu được nhốt trong
những trong mấy cái lồng đan bằng tre. Tôi ngồi xuống lựa hai con gà béo nhất, bảo người
chủ bắt hộ hai con gà này ra khỏi lồng. Người chủ là anh đàn ông người Thượng vừa đen
vừa ốm, nói tiếng Việt chưa sõi...Khi Anh xăn tay áo lên và thò tay vào lồng gà, tôi bỗng giật
mình khi phát hiện vết sẹo trên cánh tay trái. Vết sẹo có hình dáng đầu một con cọp. Tôi nhớ
tới Cao Nguyên, đứa con trai ba tuổi, bị thương trong trận pháo kích của VC vào trại gia binh
ở Biển Hồ. Vết thương trên cánh tay cháu sau khi chữa lành cũng để lại một vết sẹo có hình
ảnh đầu một con cọp. Biểu tượng binh chủng BĐQ mà chồng tôi luôn mang trên vai áo.


Tôi biến sắc, nắm chặt cánh tay anh người Thượng và nhìn vào mặt anh ta. Cũng hai con
mắt khá to, cũng cái sống mũi cao, nhưng khuôn mặt cháy nắng, mái tóc mầu nâu sậm như
mầu đất đỏ Pleiku. Không có nét đẹp của Cao Nguyên ngày trước. Anh người Thượng
ngượng ngùng, cúi mặt xuống, khựng lại. Nhưng tôi chợt nhớ ra trên vành tai của Cao
Nguyên có một lỗ tai nhỏ, giống như ba của nó, tôi cúi xuống để nhìn kỹ vào tai anh người
thượng. Tôi bàng hoàng khi nhận ra hai cái lỗ tai nhỏ trên hai vành tai. Bất giác, tôi ôm chầm
lấy anh và nước mắt trào ra. Nhưng anh bán gà đẩy mạnh tôi ra và nói một tràng tiếng
Thượng. Vợ chồng cháu Thùy Dương ngơ ngác nhìn tôi, không biết xảy ra điều gì. Nghĩ tới
chị giúp việc ngày trước có thể xác nhận cùng tôi đôi điều kỳ lạ, tôi báo cháu Thùy Dương đi
gọi chị từ gian hàng hoa lan phía trước.
Tôi kéo chị ra xa và nói vào tai chị:

- Chị nhìn kỹ anh người Thượng này xem có giống ai không?

Sau một lúc nhìn không chớp mắt, mặt chị biến sắc, rồi không trả lời tôi mà thì thầm một mình:

- Thằng Nguyên? Chả lẽ là thằng cu Nguyên?

Rồi chị nhìn thẳng vào mặt anh ta hỏi:

- Mày có phải là thằng Nguyên, Lê Cao Nguyên không?

Anh người Thượng lắc đầu.

- Tao là thằng Ksor Tlang.

Tôi mua hết những lồng gà hôm ấy và và đưa cho anh một nắm tiền. Sau khi đếm xong anh
trả lại cho tôi hơn một nửa, rồi buột miệng:

- Mày bắt cái con gà nhiều tiền qúa!

Tôi mất hết bình tĩnh, bảo vợ chồng chị giúp việc đứng giữ anh ta, rồi chạy vào phòng trọ tìm
bà chủ nhà. Tôi kể rất vắn tắt những gì đã xảy ra. Có lẽ bà ta là người có tai mắt ờ đây,
nhưng là một người tốt bụng, nhấc điện thoại gọi công an. Chưa đầy ba phút hai gã công an
chạy tới bằng xe gắn máy, một Kinh một Thượng, cúi đầu chào bà chủ. Chưa kịp nói gì, bà
chủ kéo tay hai gã công an ra chợ. Vừa đi bà vừa giải thích. Đến nơi, gã công an nói một
tràng tiếng Thượng. Tôi không hiểu gì nhưng thấy anh bán gà gân cổ cãi lại. Cuối cùng hai
người công an kéo anh đi, mặc dù anh cố tình chống lại. Chúng tôi đi theo phía sau trở về
phòng trọ.

Qua trung gian của bà chủ nhà trọ, tôi nhờ gã công an giúp tôi, dịch lại các điều trao đổi giữa
tôi và anh bán gà, và cố gắng bằng mọi cách tìm ra tông tích của anh ta. Tôọ hai nhét vào tay
bà chủ nhà trọ hai tờ giấy bạc 100 đô la.

- Em có cha mẹ không? Tên ông bà là gì?
- Tôi có cha mẹ. Cha tôi tên Ksor H'lum, mẹ tôi tên H'Nu
- Có anh em không?
- Không.
- Anh có nhớ ngày sinh không?
- Không.
(Gã công an nhìn sang tôi, bảo là sẽ đi tìm khai sinh sau)
- Anh có nhớ lúc còn nhỏ, khi ba, bốn tuổi anh ở đâu không?
- Không! Thì chắc tôi ở với cha mẹ tôi mà.
- Cái sẹo trên cánh tay trái, anh biết vì sao mà có cái sẹo này không?
(Gã công an bảo anh xăn tay áo lên và chỉ vào vết sẹo)
- Không! Chắc là bị cành cây đâm trúng.

Tôi thở ra thất vọng. Nhưng vừa chợt nghĩ ra điều gì, tôi lại hỏi:

- Cha mẹ anh đang ở đâu?
- Buôn Ban Ma Dek.
(Gã công an nhìn tôi, bảo buôn Ban Ma Dek cách đây hơn 10 cây số)
- Anh ở chung với cha mẹ anh?
- Không, ở bên cạnh, với vợ và hai đứa con.
- Đã có vợ con rồi à! Tôi buột miệng.

Tôi đề nghị hai gã công an cùng đi với chúng tôi và anh bán gà về buôn Ban Ma Dek. Sau khi
hỏi nhỏ bà chủ nhà trọ, hai gã công an gật đầu. Nhưng bảo chúng tôi phải thuê xe ôm, vì về
buôn Ban Ma Dek chỉ có đường rừng, xe ô tô không chạy được. Bà chủ nhà trọ gọi dùm
chúng tôi bảy cái xe ôm.


Cha mẹ của anh bán gà đã khá gìa, trước đây chỉ sống lẻ loi trong núi nên không nói được
tiếng Việt. Chúng tôi lại trao đổi qua sự thông dịch của lão công an người Thượng. Vợ và hai
con của Ksor Tlang thấy có nhiều người cũng chạy sang nhìn.

Ông bà cứ nhất quyết Ksor Tlang là con đẻ của ông bà. Nhưng thấy tôi khóc lóc, năn nỉ và
nhờ gã công an gạn hỏi, cuối cùng ông cha mới kể lại sự thực.

- Năm ấy, lâu rồi, sau mấy ngày chiến trận ác liệt, mà vợ chồng tôi phải nằm suốt sau tảng đá
to trước nhà để tránh đạn. Bỗng một buổi chiều có người lính mặc áo rằn ri, bị thương nặng
lắm, nhưng cố lết vào dưới căn nhà sàn của tôi rồi gục chết, trên lưng có mang một đứa bé.
Nó là thằng Ksor Tlang bây giờ.
- Rồi xác của người lính đó ở đâu? Tôi hỏi.

Ông chỉ tay ra rừng cây phía trước:

- Tôi đã chôn ông ta dưới gốc cây ấy, rồi rào lại, sợ thú rừng bới lên ăn thịt.

Chúng tôi theo sau hai người công an dìu ông gìa đi về phía khu rừng.

Tôi khóc ngất khi nhìn thấy ngôi mộ lè tè nằm dưới tàng cây, được rào lại bằng những que gỗ
nhỏ. Vợ chồng cháu Thùy Dương cũng qùy xuống ôm vai tôi mà khóc. Tôi ngước lên dáo
dác tìm Ksor Tlang, thằng Cao Nguyên, đứa con trai duy nhất của vợ chồng tôi. Nó đang
đứng bất động, hai tay đang nắm chặt hai đứa con đang trần truồng, đen đúa. Tôi chạy lại ôm
hai đứa nhỏ vào lòng, nhưng cả hai đứa trố mắt nhìn tôi dửng dưng, xa lạ.

Tôi khóc lóc, năn nỉ lắm, ông gìa mới cùng vợ chồng và hai đứa con thằng Ksor Tlang về nhà
trọ với tôi. Nhờ bà chủ thuê một cậu học trò thông dịch. Suốt một đêm, tôi, cháu Thùy Dương
và vợ chồng chị vú giúp việc ngày xưa, giải thích, khóc hết nước mắt, xin vợ chồng Ksot Tlang
và hai đứa con theo chúng tôi về Nha Trang ở với ông bà ngoại, rồi tôi sẽ tìm cách đưa sang
Na Uy. Cả hai ông bà gìa, nếu muốn, chúng tôi sẽ mua nhà cửa ở Nha Trang và chu cấp cho
ông bà sống gần Ksor Tlang. Nhưng cả Ksor Tlang và ông gìa một mực chối từ, bảo là họ
không thể nào bỏ bản mà đi. Núi rừng mãi mãi là nhà của họ. Họ không thể nào sống xa
rừng cũng như loài cá không thể nào sống mà không có nước.


Dự trù lên đây ba ngày. Vậy mà chúng tôi đã ở lại đây hơn hai tuần rồi. Ban đầu tôi tính xin
phép cha mẹ nuôi của Ksor Tlang cho tôi cải táng phần mộ của chồng tôi, mang về an táng ở
nghĩa trang gia tộc ở Nha Trang, nhưng rồi tôi đã đổi ý. Bởi anh phải nằm ở đây, bên cạnh
đứa con trai và hai đứa cháu nội của anh, mặc dù bây giờ tất cả đã trở thành người Thượng
và chắc không biết gì về anh. Và chắc có lẽ anh cũng muốn nằm lại với bao đồng đội, một
thời cùng anh vào sinh ra tử, mà linh hồn chắc đang còn phảnh phất quanh đây. Tôi mướn
thợ xây lại ngôi mộ. Trên tấm bia không có hình chân dung của anh, mà có tấm ảnh anh chụp
chung với tôi và hai cháu Cao Nguyên và Thùy Dương trong ngày sinh nhật bốn tuổi của Cao
Nguyên, chỉ hơn một tháng trước ngày anh mất. Tấm ảnh này lúc nào tôi cũng mang theo.

Tôi cũng không thể bắt Cao Nguyên và vợ con phải rời khỏi núi rừng, nơi đã cưu mang nó.
Có lẽ cái tên Cao Nguyên mà ngày xưa chồng tôi đề nghị đặt cho nó đã vận vào cuộc đời của
nó. Điều làm tôi đau đớn hơn là tôi chẳng làm được điều gì cho đứa con trai ruột thịt máu mủ
của mình, ngoài việc nhờ bà chủ nhà trọ thuê người dựng cho vợ chồng nó và ông bà cha mẹ
nuôi một ngôi nhà sàn chắc chắn và rộng rãi hơn, sắm cho vợ chồng nó và hai đứa con một
số quần áo mới. Nhưng phải năn nỉ khóc lóc mãi nó mới chịu nhận, cùng số tiền 200 đô la.
Bằng đúng số tiền mà tôi trả công cho hai gã công an!

Ngày cuối cùng, chúng tôi ở lại với với vợ chồng Cao Nguyên trên ngôi nhà sàn mới. Buổi
chiều tôi bảo Cao Nguyên và vợ con nó, thay quần áo mới, cùng với tôi và vợ chồng Thùy
Dương ra thắp hương trước mộ ba nó. Nó qùy bên cạnh tôi, cúi đầu nói điều gì lầm thầm
trong miệng và khi ngước lên, đôi mắt đỏ hoe. Suốt đêm hôm ấy, tôi ngồi khóc một mình. Tôi
nghĩ tình mẫu tử thật thiêng liêng, nhưng có lẽ ông trời đã phạt tôi. Tôi sinh ra Cao Nguyên,
nhưng không bảo vệ được con mình, để mất nó trong núi rừng này từ ngày nó mới lên bốn
tuổi.

Tôi rời khỏi Cheo Reo, chạy ngược về cầu sông Ba theo Tỉnh Lộ 7 ngày xưa, mang theo trong
lòng nỗi đau đứt ruột. Đang giữa mùa xuân nhưng giữa bầu trời nhuộm màu ảm đạm. Nhìn
núi rừng hai bên đường, trong ràn rụa nước mắt, tôi mơ hồ như cây lá không còn nữa, mà tất
cả đều mang hình dáng của những bộ xương người nối tiếp nhau, trùng điệp. Tai tôi nghe
trăm ngàn tiếng khóc quyện vào trong gió. Không biết đó là tiếng khóc của người hay tiếng
khóc của cây?

Phạm Tín An Ninh
Phỏng theo lời kể của một người vợ lính BĐQ

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

MÙA XUÂN HÀ NỘI

Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh)

(Sa cơ tại Hạ Lào trên đường về quê hương tham gia Phục Quốc, bị chuyển từ Paksé về Hà Nội vào mùa Xuân năm 1981).


Một chiều Xuân
Tôi đã về Hà Nội
Thăng Long lịch sử ngày xưa.
Đôi tay bị còng, người ta khép tội
“Phản bội quê hương”, đi giữa trời mưa.
Thấp thoáng rong rêu hoang lạnh Tháp Rùa
Tôi chợt cảm tiếng lòng tôi rụng xuống

Hồ Gươm, lặng mờ.
Trong hồn tôi còn lại giấc mơ
Thơ về vỡ vụn
Kiếm vàng đâu ? - chưa nổi mặt hồ !.

Đâu nào Năm Cửa Ô
Chỉ thấy mờ trang sách.
Đâu Đống Đa một thời hiển hách
Mồ chôn giặc Bắc xâm lăng.
Hà Nội tôi mơ – muôn thuở vĩnh hằng
Từ tuổi nhỏ, qua từng trang sử cũ.
Đâu phải là đây, dưới chiều mưa rũ
Qua khung cửa xe tù.
Giữa phố mùa Xuân, đời chợt xuống hoang vu

Khi tôi thấy tượng đài Lê-Nin cao ngất.
Người là ai ? – Sao đứng trên vùng đất
Mấy nghìn năm linh hiển Vua Hùng ?
Dân Tộc còn đây, còn mãi đến Vô Cùng
Sao tôi cảm lạc loài như khách lạ ?
Hành tinh nào đây ? Lòng tôi hoang vắng quá

Đời lạnh xuống mồ côi.
Phố Khâm Thiên, dòng người lũ lượt, nổi trôi,
Áo lụa Hà Đông, tìm đâu, thuở trước ?
Nhịp phách ả-đào tôi từng mơ ước
Thay bằng tiếng thét loa vang.

Qua Tự Lực Văn Đoàn
Tôi từng mơ Hà Nội.
Đê Yên Phụ chiều nay gió nổi
Sông Hồng cuốn mộng phăng đi.
Tiếng nói Em xưa chín ngọt tình si
Sao đổi giọng chuyển âm đầy sát khí ?
Đông Đô – Thăng Long trời mơ thi vị
Thủ Đô nào còn lại của riêng tôi ?

oOo

Quay lại xà lim trong bóng tối cuộc đời
Hơn mười năm tôi còn mơ Hà Nội.
Xuân không về, cửa phòng giam chắn lối
Song sắt thành chông, ngập máu Xuân đi.
Tôi chỉ thấy mùa Đông qua bốn vách đen sì
Đâu có phải Hàng Đào, Hàng Khay hay Hàng Trống !
Em đã về đâu, những nàng Xuân thắm mộng
“Dáng Kiều thơm” Quang Dũng mấy lần mơ ?
Tôi viết lên tường, giọt máu thành thơ
Gửi về Em, chẳng bao giờ gặp nữa.
Tưởng xa rồi khói lửa
Trường chinh Mẹ dắt con qua.
Còn lại đây những đôi mắt mù lòa
Không thấy mùa Xuân vì say máu đỏ.
Nhưng quê hương còn đó

Tôi xin hẹn mai về
Góp một bàn tay dựng lại Tình Quê
Trồng hoa giữa lòng Hà Nội.
Ánh sáng Tự Do vào sâu ngõ tối
Xóa tan đi bao vết tích lao tù.
Văn Miếu trùng tu
Đền Hùng tráng lệ.
Rồng lại bay cao, tung hoành, ngạo nghễ
Cùng năm Châu lướt gió băng ngàn.
Năm Cửa Ô bừng tỉnh đón Xuân sang
Kiều e lệ vội vàng trang điểm lại.
Đào nở hồng tươi, làn hoa gió rải,
Mặt trời soi xuyên suốt ánh hồ.
Nón vành Kinh Bắc trẩy hội thành đô
Ai quan họ mắt tình lơi ngây ngất.
Tôi sẽ trao Em một đời trăng mật
Tim Con Người cũng nở thành hoa.
Trời thủ đô nắng ấm chan hòa
Ta ngẩng mặt đón mừng Xuân Dân Tộc.

Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh)
Xuân Canh Dần (hải ngoại). 2010.

( Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội – dáng Kiều thơm.)
Tây Tiến – Thơ Quang Dũng

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

ANH HÙNG VÔ DANH Thằng Nhỏ, con út tôi vừa đọc quyển Hearts of Sorrow của ông Freeman, nó bưng sách lại kề bên hỏi tôi,

-Ba, mấy người tù cùng ở với ba có thế này không hở ba? Có không ba?

-Thế nào? Ba không biết con đang hỏi cái gì mà mấy người tù có thế này thế nọ, ba có hiểu gì đâu con? Con làm ơn hỏi rõ ràng giùm ba một chút. Nghĩ cũng phiền, nhưng qua đến đây mà được con kè tới hỏi, tự nhiên tôi cảm thấy có chút hãnh diện, còn chút tự tin. Nó kè quyển sách bên tôi,

-Nè ba coi có thật vậy không?

-Con ơi, con giảng tiếng Việt giùm cho ba thì ba trả lời cái bon, còn tiếng Mỹ mà cả quyển sách ba đành chào thua con ạ, mà chuyện gì đó hở con?

-Ba nè, ông ta là Colonel, Đại tá, Trung tá, Thiếu tá gì con không biết, bằng tuổi ông nội con sinh năm 27, ông ta làm intelligence officer in the Ministry of Defense, con không biết làm chức gì, ông ta ở tù 6 năm, còn nữa, ông ta kể lại có “Some prisoners were so vile..., We had few informers ..., Everyone was selfish for many reasons. (trang 212) Nè nè còn nữa ba đọc đi... Con không thèm đọc nữa, buồn muốn chết! Chán thật sao lại vậy hở ba? Nó bỏ sách đi vào nhà một mình. Chị Hạnh nó sinh năm 75, hát nghêu ngao vài câu làm lòng tôi chợt dâng lên nỗi buồn xa xứ!, “Ôi quê hương ơi đẹp tươi đứng trong trời đất, ta yêu quê ta thì đâu có bao giờ mất, yêu giống nòi mình lầm than mãi rồi, yêu tiếng lòng chẳng biết sao nguôi. Chuyện Việt Nam ta mấy mươi năm...”

-Thôi con ơi đừng hát nữa, ba nghe não lòng quá rồi, lại đây bên ba giảng giùm ba cái câu này nói làm sao mà thằng Nhỏ nó bỏ đi một mạch vậy.

-Đâu ba, nói gì tới nó sao?

-Ồ không, thì là họ nói là mấy ông tù xấu, hối lộ, nịnh bợ, làm chỉ điểm, ở hàng quan hàng tá gì đó, cho nên nó giận, nó buồn bỏ đi chứ có gì đâu ba! Còn nói các ông đó vị kỷ, ích kỷ gì đó...

-Ồ thì ra là vậy, tự ái dân tộc của cậu bé cũng khá đấy chứ, nhưng mà con ơi, đời mà con. Xã hội là một tập thể, có người tốt người xấu, chưa chắc mấy ông làm lớn đã có tư cách hơn những người làm lính. Như nhiều ông tướng ông tá chưa chắc hào hùng như bác Phan Dế, hay Trần Khá quê mình đâu con. Bác Trần Khá không ngồi tù, sau 30-4 bác dám đuổi bọn cộng sản ra khỏi nhà, hào hùng khí khái khi tranh cãi với cộng sản trước khi chết. Con người sinh ra ai cũng một lần chết, sống mà không có chút liêm sỉ khí tiết, có đáng sống không con? Vậy thì thế hệ con, hãy sống làm người cho đáng sống con nhé.

Cũng tùy người tùy lúc, con người quốc gia hay cộng sản đều có những tên tồi bại vô liêm sỉ nhan nhản trên thế gian này. Quyển sách con đọc, có lẽ mấy ông làm văn phòng, làm lớn không chịu nổi đói khổ, nên tệ, còn chỗ ba ở, những người làm chính quyền, làm chính trị thường đổi thay, tệ, đáng sợ nữa con ạ, nhưng những người lính chiến đấu bên cạnh ba luôn luôn hào hùng, kiên cường và bất khuất. Như những người lính nghĩa quân, mấy bác ở cùng trại với ba, đi lính ít lương nhất, nhưng họ khí khái vô cùng. Đừng buồn làm gì, người ta có vài câu hát như vầy nè:

Ở đâu cũng có anh hùng,

Ở đâu cũng có những thằng khùng làm en_tên (informer) đó con. Con biết chữ en-tên là gì không, là mấy tên chỉ điểm, một loại người hèn hạ nhất trong xã hội. Họ tự thẹn chứ con làm gì mà phải buồn giùm cho người ta. Xã hội có nhiều thành phần, bộ con nghĩ ở Mỹ ai cũng tốt hết sao! Nhưng phần sau ông kể cũng được, đâu đến nỗi con phải thất vọng. Có lẽ những người già hay lẩm cẩm, Ba sẽ kể cho con nghe những chiến sĩ của ba hào hùng lắm để con được hãnh diện.

***

Trời bây giờ đã tháng ba nhưng vẫn còn là mùa đông, dự báo thời tiết cho biết sẽ có tuyết nhưng chưa, chỉ có gió bắc thổi về lành lạnh, làm ba lại nhớ những ngày trong tù. Trời hôm nay mù, như những ngày trên núi Tiên Lãnh con ạ. Sương giăng mờ chân mây, nhớ nhà châm điếu thuốc, khói quyện bay lên mây! (Dương Thiệu Tước) Những phần đời, phần người và những kỷ niệm được khơi lại làm đau lòng người chiến bại. Anh cúi đầu trầm ngâm, làm đứa con gái im lặng, thằng Nhỏ thấy ba buồn, tự nhiên nó ân hận, nó vội nói,

-Ba, ba kể những chiến sĩ anh hùng của ba cho con nghe đi ba?

-Vừa tủi thân ba, thẹn với đất nước, với những người đã chết, đã hy sinh. Ai còn nhớ chăng những chiến sĩ Nghĩa quân ở trong trại tù Tiên Lãnh, các anh vẫn anh dũng, đầy khí tiết trước quân thù. Như anh Phan Dế, Đồng Phước Hoàng, Phạm Mau, Vũ Thái Quỳnh, Phan Hữu Trai, đã hào hùng khí khái đối diện với kẻ thù. Với các anh, cái cùm không làm nản lòng kiên cường bất khuất. Anh dám hô to “Đả đảo cộng sản, quân khát máu, bọn vô thần.” Chúng nó dộng báng súng vào anh cho đến chết. Có anh chửi từ Kark Max, Lenin, tới Lê Duẫn... không chừa sót một ai..! Có anh chống đối không đi lao động, dù bị cùm. Có anh bị cùm, hai chân bị lở rồi lành lại trở thành người lùn, sau đó nó muốn giết anh, chúng nó lôi chân anh thẳng ra cho đứt gân đến chết! Chúng nó tàn ác, vô nhân đạo không kể hết. Những tên quản giáo dốt đặt cán mai, nghĩa là mới biết đọc biết viết, làm gì mà giáo, với dục chứ!

Trong tù gặp lại các anh ấy, dù gì cũng có bạn tin nhau. Ba tệ làm kẻ bại trận, nhưng các con không được tệ, gắng học để bù lại phần đời tàn tạ của ba. Ba hãnh diện được làm bạn với các anh, các bác ấy cùng được chung binh chủng Nghĩa quân anh hùng, và sống cùng trại với các anh. Xin nghiêng mình kính cẩn chào vĩnh biệt các anh! Tôi quên tên anh, nhưng nhớ buổi trưa hôm đó, anh đã khí khái chỉ tay vào mặt tên gác cổng, la lớn, “Mày, tên cộng sản làm gì mà đứng đó, mày xuống mau không, tau cắt họng mày, quân bán nước, quân khát máu.” Bạn bè thương mến anh, ôm anh, đồng đội chạy theo anh thật đông, nên nó không bắn được anh.

Anh đã hiên ngang can trường, không dễ có được với những người thiếu tư cách. Có người cho anh là thất phu, võ biền, nhưng với ba, anh là một anh hùng, không cần sống trong nô lệ, xiềng cùm. Các anh chống cộng không vì miếng đỉnh chung, lòng yêu nước các anh có thừa, lòng tự trọng các anh rất cao. Một chắp tay, một cái cúi đầu ngưỡng mộ và xin được chia xẻ phần hãnh diện với các anh. Những anh hùng vô danh cho tự do, dân chủ.

Ở Kỳ Sơn dạo đó có chuyển sang trại Tiên Lãnh một thiếu tá nhảy dù, anh còn trẻ lắm nhưng hào hùng như tên tuổi binh chủng đơn vị anh. Anh thường nói với những người bên anh, “Các anh em cấp thấp hy vọng về được với thân nhân, cố gắng đừng phạm nội quy, còn anh không vợ con, anh ở bao lâu cũng được.” Anh nấu nướng rất thỏa mái, có thể những tên cò mồi cũng thấy thẹn. Anh còn trẻ mà ăn nói hành động rất chững chạc. Cứ vài ba tháng lại một lần chuyển trại, nên ba không còn gặp lại anh, nhưng ba rất quý trọng anh.

Ở Vĩnh Điện Quảng Nam, ai lại không biết bác Đặng Nhì, ông ta chỉ là trung đội trưởng Nghĩa quân, ông can đảm giết giặc khi còn tại chức, đúng là đánh đâu thắng đó. Sau năm 75 bác trốn vào Nam, không chịu đi tù, nhưng người con rể về lại Vĩnh Điện và bị bắt tra tấn, nó đã khai chỗ ở của bác nên bọn địa phương vào dẫn độ bác về lại Vĩnh Điện. Chúng nó hỏi bác:

-Sao không đặt tên là Đặng Nhứt mà là Đặng Nhì? (Đánh giặc rất tài tình, đứng nhứt)

- Tại tôi chưa giỏi đủ hạng nhứt nên đặt là Nhì.

Thế rồi chúng tra tấn và cuối cùng thằng công an ở thị trấn Vĩnh Điện, tên là Huy Tưởng đã móc mắt bác cho đến chết con ạ? Ôi một chính thể dã man mà ba chỉ thấy ở xã hội Cộng sản Việt Nam mà thôi. Sau khi biết cha vợ chết vì bị móc mắt sống nên cậu ta điên loạn, thật tội nghiệp cho họ.

Còn nữa, cũng ở Tiên Lãnh, có anh thiếu úy trẻ tên Trần Quang Trân, đã bị tử hình vì anh tổ chức cướp tù, và tái chiếm Quảng Nam, khi Trung Quốc đánh ở miền bắc. Khổ thay câu chuyện lại bị lộ vì mấy tên chỉ điểm, anh bị bắt, nhưng dù bị tra tấn anh không khai ai cả. Mấy tháng bị giam cầm, anh yếu đi, nhưng khi ra trước tòa án, anh đã dõng dạc tuyên bố với anh chị em tù. Anh tiếc là chưa đem tài sức của anh để phục vụ cho đồng bào, tiêu diệt quân Cộng sản vô thần khát máu. Anh đi trước, nhưng hy vọng thế hệ con cháu sẽ khẳng khái như anh để tiêu diệt quân Cộng nô.

Như bác L. Nh. H. ở bên, bác chỉ là tiểu đội trưởng nghĩa quân, nhưng lòng can đảm bác có thừa. Khi đánh nhau với Việt cộng, tiểu đội bác có anh em chết hay bị thương, đêm đó bác cho anh em về lo cho người bị nạn, còn lại một mình, bác vào tận trong sào huyệt, đặt hai đầu hai quả mìn, nằm giữa chờ giặc. Bác làm sao cho nó có khiêng, một thì huề, hai thì có lời, bác mới chịu, nhưng có ai biết đâu. Những tên Việt cộng nằm vùng về thăm vợ, bác lượm từng tên một, có khi bắt sống, có khi chúng ngoan cố bác cho đi đông luôn. Có ai dám làm như bác không? Nếu tất cả mọi người quân dân cán chính hợp nhất như bác L.H. thì dễ gì mất nước hở con. Bác ít học nhưng bác có thừa liêm sỉ làm người. Khi ở tù, bác làm đủ một tên tù, không làm quá, không cúi đầu nịnh bợ, cần gì phải ông nọ ông kia. Khi ra làm ngoài, bác kiếm được thức ăn về, đêm xuống bác lụi vào trong mùng cho bạn bè những gói cơm tươi.

Hôm đó bác được chia phiên ở nhà làm “anh nuôi,” tức nấu bếp, tất cả tù đi lao động. Bác được bầu làm toán trưởng, bác ra lệnh anh em trong toán giã gạo nấu cơm. Nấu toàn cơm trắng cho tù ăn, ai cũng ngạc nhiên sung sướng nghĩ là ngày lễ. Bọn chỉ huy trại bắt bác và cả toán lên hỏi:

-Ai xúi giục các ông làm vậy, khai ra? Bác bình tĩnh trả lời:

-Thưa cán bộ, đã 7, 8 năm rồi chúng tôi chưa được ăn bát cơm tươi, tôi đói quá, thèm quá, nhân ngày được cử làm bếp, tôi thèm nên cho anh em làm gạo nấu cho anh em ăn một bửa. Tôi nghĩ rằng anh em đi làm mấy năm nay có thể được ăn một bữa cơm tươi, họ mừng lắm. Không ai xúi giục tôi cả, chỉ có mình tôi làm mình tôi chịu, còn toán anh em nhà bếp là tôi ra lệnh. Bác chịu tội chịu cùm một mình, không khai hay đổ tội cho ai cả. Bác dám đứng ra lãnh tội, bị cùm, đó không phải là con người khí tiết sao con?

Còn biết bao người thà chịu đói, chứ không bao giờ lay chuyển được lòng họ. Những câu chuyện tù, biết bao chuyện thương tâm con ạ, đừng buồn hãy lấy đó làm hãnh diện, và các con phải lo học hành cho thành công, thành tài ở xứ người. Biết đâu các con sau này không làm bộ trưởng, nghị viên trên chính trường Mỹ để có cơ hội tìm về hay giúp đỡ quê hương. Các con phải làm cho hãnh diện nỗi đau của cha mẹ các con. Trại ba ơ,û sau này dồn vào cũng có Ngụy quyền, và các sĩ quan cấp tá. Có người vợ bỏ cũng tang thương, nhưng cũng có người hào hùng lắm. Ba kể con nghe những chuyện tang thương, não lòng.

Hôm đó có vợ chú X. thăm nuôi, trong đó có mấy cặp đường, khi chú mang ra chia cho anh em, thì bác T. nhìn thấy và nói:

-Thôi lần sau mầy bảo vợ con nghỉ thăm ít tháng, tội nó, ở nhà chắc quá thảm rồi đó.

-Tại sao anh nói vậy, ai bây giờ cũng thảm, đói khổ, nhưng ở nhà đỡ hơn tụi mình ở trên núi? Ở ngoài kiếm ăn cũng dễ hơn.

-Biết rồi, nhưng nhìn những tán đường cắn quanh, hay gở cầu trên tán, tau thấy tội nghiệp cho vợ con mày quá. Lần đến, vợ tau lên thăm, tau sẽ nhắn vợ mày lâu lâu hãy thăm, kẻo nó lo tội nghiệp. Mày thử tưởng tượng mấy cặp đường này, hẳn là vợ mày đem phơi ít nhất vài ba lần, hai đứa con mầy thèm, nhưng mẹ nó không cho, nên nó cạp trộm đó. Tội cho tụi nhỏ nữa. Mình nhịn được thì nhịn, cho con nít nó ăn kẻo tội, nhìn vào hình ảnh này tao thương tụi nhỏ quá. Ở Mỹ có bao giờ các con thèm thứ gì không?

Như vậy là những lần thăm nuôi, ba không những hỏi thăm gia đình mình, mà hỏi thăm gia đình bạn bè nữa, thử tình hình kinh tế ra sao? Nhà mình nhờ đông anh em chú bác, những dịp Tết dù thế nào thì lương thực cũng khá no. Có nhiều anh tội quá không có thân nhân, nhưng cũng cố gắng nhịn, dù mình có mời thì vài lần đầu anh nhận chút đỉnh, sau lại không có thân nhân nên anh không nhận nữa.

-Bây giờ các con có cơm ăn áo mặc, ba mong rằng các con hiểu được lòng ba, cố gắng học hành, chứ như còn ở lại Việt Nam biết bao người đang nghèo đói dốt nát đau khổ. Gắng nghe con, cố nghe con, để ba mẹ hãnh diện với đời. Người miền Nam thua trận không phải từ chiến trường, nhưng ở ngay trên nước Mỹ. Thua ở Washington thì các con phải cố gắng đi vào Washington để rửa nhục cho thế hệ cha anh. Anh nói trong nước mắt.

-Sau năm 75 mình còn gì, ruộng vườn trâu bò tài sản, ngay cả tính mạng cũng mất hết rồi. Vậy thì có cơ hội, các con phải cố làm rạng danh là con dân nước Việt. Dù sau này các con có học được cao, được khá, làm quan to, chức lớn thì các con nên nhớ nỗi buồn hôm nay của cha con mình. Sống sao giữ được chút khí tiết, liêm sỉ làm người, đừng chạy theo bọn đầu cơ chính trị, hay bọn hoạt đầu, mà hại dân hại nước nghe con. Con đã biết thế nào là xấu là tốt thì đừng học cái xấu ấy con nhé.

Nhỏ nằm gối đầu trong lòng ba, ngoan ngoãn như con mèo con trong tình thương và sự cảm thông nỗi lòng của một người cha vong quốc. Nhỏ quàng tay ôm cổ ba nó, hôn lên má, nước mắt anh rớt trên má con.

Phạm Đ� o Nguyên

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

KHÔNG! KHÔNG THỂ NÀO QUÊN!

Kính dâng những hương hồn các dũng sĩ đã hy sinh tại Hoàng Sa.
Kính tặng các chiến sĩ Hải Quân nhân ngày Hoàng Sa 17/1/2010.


Không! Không thể nào quên
Những tiếng súng cô đơn năm ấy
Những tiếng thét dậy vang: Thà chết không lùi!
Bảo vệ giang sơn, một tấc đất không rời
Dù máu đổ, thịt tan, chân tay bùng lửa
Dù đại pháo xâm lăng kinh hoàng òa vỡ
Dù hồn bay theo tiếng vỗ đại bàng
Thân tầu oai hùng bỗng chốc cắt ngang
Sóng vỗ mặt như trăm ngàn viên đạn…



Người chiến sĩ Hải Quân, trái tim chai sạn
Với đất trời, sông nước mênh mông
Đã bao ngày trong nắng rát mịt mùng
Bạn với biển, hải âu, bão lốc
Cát chạy, đá bay, trùng trùng gió thốc
Úp mặt trong tay, khóc với quê hương
Đã bao đêm sương trắng trải giường
Nệm cỏ, phân chim, hồng hoang tuyệt địa
Nghe tim mình muối chan từng khía
Một đêm thôi mà tưởng đến ngàn thu
Vọng hình em tít mãi mây mù
Vọng cố quốc, chỉ một mầu xanh đá



Giờ đây! Giờ đây! Những viên trái phá
Nổ tung không gian, xé nát bốn phương trời
Không còn mây, chỉ thấy ngọn lửa ngời
Không có biển, chỉ là dầu loang lổ
Không có ngày mai được mồ xanh cỏ
Dòng nước lạnh lùng mở lối anh đi…


Ôi! Hải Quân!
Những con tầu hùng vĩ
Ngả nghiêng theo từng lớp sóng tử thần
Sóng từ ngàn xưa, với Lạc Long Quân
Năm mươi đứa theo Cha trị biển
Vũ khí mang theo là trái tim miên viễn
Ôm mộng Việt Nam hùng cứ biển Đông
Ngàn dặm quanh co uốn khúc Tiên Rồng
Nay bùng cháy, cỏ trên bờ cùng héo
Đồi non, rừng thông cũng như vặn vẹo
Nước mắt dân Nam dàn dụa khóc anh…



Thôi! Tên anh đã hòa với sử xanh
Anh đã hóa thành thần lẫm liệt
Đã về với Quang Trung, Lam Sơn kiệt hiệt
Gặp Trưng Vương, Lý Thường Kiệt hùng anh
Ngâm câu: ‘Nam Quốc Sơn Hà” thưở ấy lừng danh
Anh vĩnh viễn là ngôi sao rực sáng
Là hoàng hôn, là bình minh chói rạng
Soi tỏ bầu trời Tổ Quốc thân yêu
Chúng tôi, thành tâm nguyện ước một điều
Anh linh ấy hộ dân ta Tự Do, Dân Chủ.
Cho đất nước thoát vòng rừng rú
Thoát bọn vong nô bán nước buôn dân
Cho thế hệ sau, Việt Nam đẹp vạn phần
Dòng giống Việt ngàn đời bất diệt.


Chu tất Tiến.

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Image

HOÀNG SA, NHỮNG ANH HÙNG HẢI QUÂN BẤT TỬ
Đúng 26 năm, vào ngày 19 tháng 1 năm 1974 đã xãy ra trận hải chiến giữa Hải Quân VNCH và Hải Quân Trung Cộng tại quần đảo Hoàng Sa. Đây là một biến cố trọng đại trong lịch sử chiến tranh VN mà mãi tới bây giờ vẫn còn được nhắc nhở trong nước cũng như ở hải ngoại.

Ngày Chủ Nhật, 17 Tháng Giêng năm 2010, tại trụ sở Cộng Đồng Dallas, TX, Hội Hải Quân Trùng Dương Dallas-FortWorth dưới sự điều hành của Hội Trưởng, HQ Nguyễn Xuân Dục, đã long trọng tổ chức một buổi lễ tưởng niệm 76 chiến sĩ hải quân đã anh dũng hy sinh trong trận chiến mùa Xuân 74 tại quần đảo Hoàng Sa. Danh sách gồm có Hạm Trưởng Ngụy Văn Thà và các Sĩ quan, Hạ sĩ quan, Binh sĩ hải quân tham dự trận chiến này. 76 ngọn nến đã được quan khách tham dự thắp sáng trước bàn thờ Tổ Quốc trong tiếng nhạc truy điệu thiêng liêng và cảm động trong khi MC Nguyễn Côn xướng danh các vị anh hùng. Một vòng hoa tưởng niệm cũng đã được Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai cung kính đặt trước đài kỷ niệm. Quan khách tham dự khoảng 100 người gồm đại diện các hội đoàn tại Dallas - FortWorth, đại diện báo Thế Giới Mới, đồng hương, gia đình hải quân ở địa phương và các thành phố khác, như Austin, Oakland, Houston.

Đăc biệt Trung Tá Hải Quân Trần Đỗ Cẩm đến từ Austin, TX thuyết trình trong 1 tiếng đồng hồ những diễn tiến trước, trong và sau trận đánh lịch sử này với những hình ảnh và dữ kiện sưu tầm được từ tài liệu và nhân vật sống là Đại Tá Hải Quân Hà Văn Ngạc đã từng tham gia trận đánh. Anh Hà Mạnh Chí, hậu duệ cũa Đại Tá Ngạc đã lên trình bày tác phẩm do Đại Tá Ngạc viết về trận chiến Hoàng Sa được anh dịch ra Anh ngữ. Tập sách này đã được phổ biến đến quan khách. Đây là một tập tài liệu quí giá nói lên đầy đủ trận hải chiến Hoàng Sa (liên lạc: haiquantrungduong@ yahoo.com).

Hoàng Sa hiện nay là một điểm nóng thời sự của Việt Nam và Quốc Tế. Từ năm 1958, Thủ Tướng VN Cộng sản đã ký dâng Hoàng Sa, Trường Sa cho Trung Cộng. Và những năm gần đây Trung Cộng đã thiết lập Huyện Tam Sa và sát nhập vào lãnh thổ Trung Quốc. Giới trí thức và sinh viên trong nước đã đứng lên biểu tình phản đối Trung Cộng và bị nhà cầm quyền VN Cộng sản thẳng tay đàn áp. Một câu hỏi được đặt ra trong buổi thuyết trình của Trung tá Hải quân Trần Đổ Cẫm là bằng cách nào để có thể lấy lại chủ quyền Hoàng Sa. Câu trả lời đã được cử tọa hoan nghênh là không có cách gì khác ngoài khả năng thay đổi chế độ chính trị trong nước.

Người trong nước cũng như ở hải ngoại rất phẩn uất trước trước thái độ ngang ngược của Trung Cộng và thái độ hèn nhát của Đảng và Chính phủ VN Cộng Sản. Trung Tá Trần Kim Anh, Tiểu Đoàn Trưởng bộ đội Cộng sản từng tham gia trận chiến xâm lăng của Trung Cộng năm 79 đã ca ngợi các chiến sĩ Hải quân VNCH là những anh hùng đã can đảm hy sinh tính mạng để bảo vệ Tổ quốc VN không như bộ đội Cộng Sản hèn nhát khiếp nhược trước sức mạnh của Trung Cộng. Một nhà thơ trong nước, cựu đảng viên CSVN Trần Mạnh Hảo, nguyên ủy viên Hội Đồng Thơ Hội Nhà văn VN đã viết bài thơ ca ngợi “Người Anh Hùng Họ Ngụy” (Trung Tá HQ Ngụy Văn Thà) với lời thơ khẳng khái, thống thiết như sau:

Người yêu nước không thể nào là ngụy
Người chết vì nước như anh không thể nào là ngụy
Nhưng anh là Ngụy Văn Thà
Anh Hạm Trưởng chiến hạm Nhật Tảo
Lao thẳng vào tàu giặc cướp
Tên anh còn mãi với Hoàng Sa
Biến vật mình thét đại bác
Giặc bủa vây chiến dịch biển người
Lửa dựng trời dìm tàu giặc
Máu anh cùng đồng đội ngời ngời
Ôm chặt tàu
Ôm chặt đảo
Anh hóa thành Tổ Quốc giữa trùng khơi
Gió mùa đông bắc gào khóc Ngụy Văn Thà
Mãi mãi neo tàu vào quần đảo
Tổ quốc ngoài Hoàng Sa
Trận chiến ba mươi phút
Tượng đài anh là phong ba
Đỉnh sóng khói hương nghi ngút
Biển để tang anh bằng sóng bạc đầu
Quần đảo nhấp nhô mộ phần liệt sĩ
Linh hồn anh hú gọi đất liền
Ngụy Văn Thà, tên anh không phải bài ca
Tên anh là lời thề độc:
Phải dành lại Hoàng Sa


(Saigon 15-09-2009)
Ở hải ngoại nhà thơ Vinh Hồ (CHTY), Orlando đã viết bài : “Hoàng Sa, Người Lính và Chim Biển” để tường niệm các anh hùng vị quốc vong thân tại quần đảo Hoàng Sa, có đoạn như sau:

“…Hoàng Sa là thiên đường
Của loài chim Hải âu bạt ngàn sóng gió
Chim và người thương nhau
Rồi một ngày
Tháng Giêng
Giặc tràn về xâm lăng
Bải cát vàng loang máu
Ôi! Hoàng Sa điêu tàn
Người chiến sĩ can trường
Vẫn chiến đấu kiên cường
Quyết giữ từng tấc đất
Dù phải trả máu xương
Một ngày xuân não nề
Người chiến sĩ không về
Bãi cát vàng thay chiếu
Sóng vỗ lời tái tê
Hải đảo giữa trùng dương
Đàn chim mất thiên đường
Bay về nơi vô định
Tiếng kêu buồn thê lương
(Orlando, 05-01-08).


Khi trận chiến Hoàng Sa xãy ra thì người viết đang học Khóa Quản Trị Quốc Phòng tại trường Đại học Hải quân Naval Postgraduate School ở Monterey, California. Chúng tôi được dịp làm quen với hai vị sĩ quan hải quân là Trung Tá Lương và Trung Tá Tài cùng học chung một trường. Sau này vào tù cải tạo tại trại 8 Hoàng Liên Sơn Bắc Việt, một vị Trung tá Hải quân, Hạm Trưởng ở cùng đội cho biết là Trung Tá Lương đã tuẩn tiết sau khi bắn vào vợ và hai con, khi Cộng Sản Bắc Việt chiếm cứ Nha Trang. Đây là một tin buồn, nhưng chúng tôi cũng lấy làm hãnh diện đã có thêm một vị Sĩ quan trung kiên với lòng yêu nước vô bờ, không muốn đội trời chung với Cộng Sản. Trung Tá Lương cũng là một vi Anh Hùng của Binh chủng Hải Quân VNCH vậy.
Chúng tôi xin thắp một nén hương lòng nghiêng mình trước anh linh của 76 vị anh hùng Hoàng Sa và Trung Tá Lương, những vị anh hùng bất tử của Binh chủng Hải quân VNCH.

Lê Quang Sinh
Dallas, 18-01-10

Post Reply