Chiến Sĩ QLVNCH

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

SƯ ĐÒAN 18 và NHỮNG NGÀY TỬ CHIẾN TẠI XUÂN LỘC
Hồ Đinh – KBC4424

Image
Thiếu tướng Lê Minh Ðảo (Tư Lịnh S ư Ðoà n 18 Bộ Binh)
Kính tặng Sư Ðòan 18BB, riêng Trung Đoàn 43BB Và Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế (TÐT/2/43)

Qua những tài liệu lịch sử đã bật mí, nên ngày nay ai cũng biết, trong suốt cuộc chiến Đông Dương lần thứ 2 (1960-1975), người Mỹ gần như cung cấp cho VNCH, tất cả vũ khí, quân trang, tiền bạc và những hệ lụy của cuộc đời mà bi thảm nhất là sự mất nước vào tạy cộng sản quốc tế.

... Theo sự chỉ trích gay gắt của Đô đốc Sharp, trong cuốn ‘Strategy for defeat‘, vị tư lệnh đầu tiên của Đồng Minh tại Thái Bình Dương, thì sự thất trận tại VN vào ngày 30-4-1975, rõ ràng là cố ý, do những tên đầu nảo dân sự, ngồi tại Hoa Thịnh Đốn, tự trói một tay của quân lực Hoa Kỳ và Nam VN, trong khi họ đang tử chiến với khối cộng sản đệ tam quốc tế, qua tấm bình phong, mang tên Bắc Việt. Trên tạp chí Encounter tháng 8-1981, ký giả người Mỹ Robert Elegant, cũng đã hài tội bọn trí thức, khoa bảng và truyền thông Tây phương thiên tả, đã dùng vũng bùn văn, báo, truyền hình của mình, để giúp cộng sản đánh bại nước Mỹ. Ông đã chua chát nói thẳng với thế giới rằng: ’Bắc Việt đã thảm bại trên chiến trường nhưng cuối cùng ngày 30-4-1975, người Việt quốc gia, đã phải mất nước tại Hoa Thịnh Đốn, Nữu Ước, Ba Lê, Luân Đôn, Huế và Sài Gòn, vì trận giặc báo chí, từ những cái miệng thúi vô liêm sỉ, chuyên bẻ cong ngòi bút, dựng đứng câu chuyện, để hại người. ‘

Ngày nay ai cũng biết hết những thành tích của QLVNCH, qua thời gian tồn tại suốt 20 năm máu hận (1955-1975) giữa biển thù trời lệ, giặc ngoài, giặc trong, giặc đâm sau lưng chiến sĩ, ngay cả trong lời kinh tiếng kệ và những ngón tay lần hạt đỏ, đen. Cũng nhờ người lính VNCH đã can trường anh dũng, trong suốt cuộc chiến, cho tới giờ phút cuối cùng tháng 4-1975, bị Dương văn Minh quyền tổng tư lệnh, dùng kỷ luật quân đội, bắt mọi người đầu hàng giặc, mới phải buông súng tan hàng. Nhờ vậy, mà một thế hệ sau của VN ngày nay tại hải ngoại, mới có cơ hội ngẩng mặt nhìn trời, lấy lại sự hãnh diện của cha anh trong cuộc sống lưu vong uất hận trùng hằng.
Tóm lại như bình luận của Luật sư Lawrence L.O’Brien trên The Wall Street Journal vào ngày 25-1-1983, chứng minh là từ sau ngày ký hiệp định ngưng bắn tháng 1-1973, nước Mỹ và quốc hội Hoa Kỳ, do đảng dân chủ phản chiến cầm chịch, kể cả cái gọi là Liên-Hiệp-Quốc, gần như ra mặt bưng bợ cộng sản. Bởi vì phần lớn, họ đã bị Nixon, Kissinger và Việt Cộng , dụ gạt, lừa bịp, dễ dàng như lừa con nít, qua cái thủ đoạn xảo quyệt, được tiếp tay công khai bởi bọn nhân danh, khoa bảng, trí thức ăn hại, khôn nhà dại chợ của miền Nam lúc đó . Năm 1944, người Mỹ điều động 5000 quân xa, để chuyển Lộ quân 1 và 2 của Đồng Minh, xuyên nước Pháp, đánh Đức. Lúc đó và về sau, người Mỹ khoe là thành tích vĩ đại, để cho ai cũng biết và khen ngợi.

Nhưng tại chiến trường Đông Dương, từ 1960-1975, khối cộng sản quốc tế, đã dùng 10.000 xe bộ đội, để đưa 20 sư đoàn từ Bắc Việt vào xâm lăng Miền Nam VN, qua đường rừng Trường Sơn. Rồi nhờ cái loa tuyên truyền của trí thức Miền Nam, đâm mù thế giới, nên rốt cục ai cũng tin và bảo đó là lực lượng của quân cách mạng Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Tất cả đều là thực chất của một cuộc chiến vừa đánh, vừa đàm hay đúng hơn là hành động con buôn chính trị của siêu cường Mỹ, giờ chót bán đứng Đồng Minh VNCH cho kẻ thù, đổi lấy sự liên kết chiến lược với Trung Cộng, gỡ lại lời vốn đã tiêu phí tại chiến trường nhiều trăm tỷ đô la và ngàn ngàn sinh mạng. Phải biết như vậy, chúng ta mới đánh tan được cái huyền thoại, tại sao Miền Nam sụp đổ chỉ có 55 ngày và cuối cùng, xin thương xót cho thân phận những người đã cầm súng chiến đấu tại miền Nam suốt 20 năm qua, quanh quanh chỉ là kẻ thù và khung cảnh xã hội vô ơn bạc bẽo. Đời sống của lính và vợ con, nhất là khi lính nằm xuống hay bị thương đui, què, tàn phế, có thua gì kiếp sống của gia cầm, vậy mà cứ bảo Lính mình đánh thuê cho giặc Mỹ ? Tồi tệ hơn hết khi đi tìm sự thật, là câu chuyện người Mỹ trong lúc bỏ tháo chạy, đã dùng cái thủ đoạn ‘ăn không được phải phá nát bấy’, khi đưa cái bã vật chất an toàn, làm mồi để dụ dỗ một số cấp chỉ huy của QLVNCH, nhất là không quân, đào ngũ bỏ đơn vị, đem máy bay trả lại để được tới Hoa Kỳ. Chính sự tồi tệ trên, đã góp phần phá hủy tinh thần chiến đấu của quân lực VNCH, trong lúc nguy ngập. Sau rốt là việc sử dụng bom CBU đâu có trái với qui ước chiến tranh đã ký kết. Theo hai ký gia người Pháp thân cộng là Jean Lartégui và Pierre Darcourt, đã chứng kiến cảnh quân Bắc Việt bị chết ngạt tại Xuân Lộc, vì bom này, đã viết: ’Miền Nam sẽ không mất, nếu Mỹ thả tiếp vài chục trái CBU vào đoàn quân xâm lược, đang công khai di chuyển trên các quốc lộ, thế nhưng Hoa Kỳ đã không làm ‘.

Mới đây, trong tác phẩm ‘55 days of the fall of South Vietnam’, tác giả Alan Dawson, có nhắc tới hai tiểu đoàn còn lại của Nam VN, chừng 600 người, giữa trùng vây của Bắc Việt, sau khi QLVNCH được lệnh rút bỏ Xuân Lộc. Chuyện có thật nhưng Alan viết sai dữ kiện, vì giờ chót rút quân, không có một đơn vị nào, kể cả Nghĩa quân, bị buộc ở lại để bảo vệ Xuân Lộc, lúc đó không còn giá trị chiến lược, vì Bắc Việt đã tìm đường khác để tiến quân về Sài Gòn. Đơn vị bị kẹt lại, đó là Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 43, SD 18BB, do Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế làm Tiểu Đoàn Trưởng. Trong suốt những ngày tử chiến tháng 4-1975, TD2/43/18 có nhiệm vụ đóng trên Núi Thị, ngoại ô thị xã Xuân Lộc, để bảo vệ dàn pháo của Sư Đoàn. Khi Tướng Lê Minh Đảo, tư lệnh Mặt Trận Long Khánh, nhận lệnh của Bộ Tổng Thanm Mưu QLVNCH, qua lệnh trực tiếp của Trung tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Đoàn 3, ngay tại mặt trận, ‘BỎ LONG KHÁNH’ và triệt thoái tất cả các đơn vị đang chiến đấu, gồm SD18BB, Tiểu Khu Long Khánh, Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù, Biệt Động Quân... thì Tiểu Đoàn 2/Trung Đoàn 43/SD18BB là đơn vị cuối cùng, trong cuộc rút quân, vì còn có nhiệm vụ đánh nghi binh, chận đường, để giúp đại quân an toàn trở về cõi sống, nên bị thiệt hại nặng nề. Còn luật sư Nguyễn văn Chức thì dựa vào tài liêu của Hoàng Cơ Thụy và Frank Snepp, nên nói trực thăng tới bốc 4 tiểu đoàn còn lại của SĐ18BB, trong đó có Tướng Tư Lệnh Lê Minh Đảo, Đại Tá Trung Đoàn Trưởng TrĐ43/18 là Lê Xuân Hiếu, vì vậy bị 40.000 bộ đội Bắc Việt tràn ngập. Thật sự trong cuộc lui quân, từ tướng xuống tới hàng binh sĩ, không có ai được trực thăng tới bộc về, mà tất cả đều hành quân bộ. Lúc các cánh quân VNCH, hầu hết đã về gân như an toàn tại Bình Giả, Phước Tuy,thì TD2/43’18BB, chỉ một mình còn trong biển giặc như Alan Dawson mô tả. Sự thật là vậy đó, các nhân chứng như tướng Đảo, các Đại Tá Lược, Lến, Hiếu. Dũng, Công... của SD18), Đại Tá Phạm Văn Phúc-Tỉnh Trưởng Long Khánh, Đại Tá Đính, Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù, các Tiểu Đoàn Trưởng thuộc SD18BB, có tham dự trận đánh và cuộc lui quân như Nguyễn Phúc Sông Hương, Ý Yên-Phan Tấn Mỹ, Đại Uý Lê Sơn, Chi Đoàn Trưởng Thiết Đoàn 5 Kỵ Binh, các Đại Uý Đặng Phúc (Biệt Đội Quân Báo), Ngô Gia Hậu (Phóng Viên), Nguyễn Hào (Phòng 3.SD)... và nhất là Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2/TrD43/SD18BB, người từ cõi chết trở về, vào tù tại Bắc Việt và tới Mỹ qua diện HO... đều là những nhân chứng sống, có đủ tư cách, để nói và viết những sự thật lịch sử.

Tóm lại, đến giờ này, sự đau đớn nhất của người Lính Miền Nam, là thấy cái thân phận bọt bèo của chính mình, cứ bị đem ra mổ xẻ rao bán, bởi những người không hề biết gì về thực chất của đời lính, dù họ có là lính. Nhưng lịch sử vẫn là lịch sử, câu chuyện sử gia số 1 của nước Mỹ là giáo sư Joseph J.Ellis, tại Đại Học Mount Holyoke, vừa bị nhà báo Walter V. Robinson, lột mặt nạ trong bài báo ‘Professors past in doubt ‘, đăng trên tờ Boston Globe ngày 18-6-2001, về những đề tài có liên quan tới Chiến tranh VN và sự Ellis dù ở trong quân đội Mỹ nhưng chỉ ngồi dạy học ở Hoa Kỳ, nên đã mao tôn cương, khi viết trận đánh không có đại bàng. Mới đây là bài học thất cử của ứng cử viên tổng thống Mỹ, thượng nghị sĩ John Kerry, cũng do chính khẩu nghiệp, đã làm hại thân mình. Việt Cộng và những kẻ lừa đảo ngòi bút, đã đến lúc phải đối mặt với những tra vấn của lương tâm, trong cuộc chiến VN vừa qua, vì cuộc chiến đấu thần thánh của QLVNCH, trách nhiệm bảo vệ quê hương, trong đó có SD18BB, LD1 Dù, BDQ, DPQ và NQ Long Khánh.. vào những ngày cuối tháng 4-1975, là câu chuyện lịch sử, trong dòng sinh mệnh của Dân Tộc Hồng Lạc, miên viễn sẽ không bao giờ bị phủ nhận của bất cứ một ai, qua thời gian hay miệng lưỡi nào, kể cả những lỗ miệng có gan có thép, nhổ ra nuốt vào của bọn văn cộng giặc cộng.

1-THÂN PHẬN NGƯỜI LÍNH VNCH TRONG 20 NĂM CHINH CHIẾN (1955-1975)

Sau ngày 30-4-1975, quê hương của người Việt quốc gia bị cộng sản quốc tế dô hộ hoàn toàn từ nam ra bắc, mọi người mới sáng mắt thấy rằng, không có một lãnh tụ nào của đảng, từ Hồ Chi Minh xuống tới chàng du kích, biết coi trọng sinh mạng của người dân, bởi vì nguyên tắc thành công của cộng sản, là chỉ có thẳng tay bắn giết , thì mới có sự phục tùng. Riêng chuyện dài VN, vì chính người dân lúc trước tự xiềng xích mình, để chui vào thiên đàng xã nghĩa, cho nên nay, cũng chỉ có người dân, tuy thầm lặng đứng bên vệ đường thời gian, nhưng lại là động lực chính, bẻ gãy được khóa cổng thiên đường mù, để trở về cuộc sống tự do no ấm của con người.

Ngày nay, mỗi lần đọc lại lịch sử, cảm thấy ngùi ngùi và thương xót biết bao cho dân tộc mình, bỗng dưng trở thành nhược tiểu, vì cả nước mù quáng nên bị Hồ Chí Minh, thắng một vụ lừa bịp bẩn thỉu nhất, trong dòng sử Việt, từ vụ cướp chính quyền tháng 8-1945, cho tời sự lãnh đạo của cộng sản trong chín năm kháng Pháp. Cũng từ đó, người Việt quốc gia coi như đứng trước ngã ba đường sinh mệnh và dù có chọn lối nào chăng nữa, rốt cục cũng chỉ dẫn tới địa ngục mà thôi.

Năm 1951, thống chế De Lattre de Tassigny sau khi chận đứng Việt Minh tại Vĩnh Yên, Bắc Việt, đã lên lớp người Việt lúc đó thụ động, hèn nhát, không chịu ra chiến trường để bảo vệ quê hương mình. Trong cuộc chiến Đông Dương lần 2 (1955-1975), thế giới bên ngoài, qua tuyên truyền từ báo chí của VC và truyền thông Mỹ, Tây Phương, nên đã đánh lận cuộc xâm lăng của cộng sản quốc tế, thành một tấn tuồng chống ngoại xâm của Hà Nội. Nữ ký già Ý là Oriana Fallaci, trước trận mùa hè đỏ lửa 1972, khi tới Hà Nội phỏng vấn, Võ Nguyên Giáp, mới biết Bắc Việt đã nướng trên 800.000 sinh mạng bộ đội tại Miền Nam, trong thời gian qua, trước khi tiếp tục nướng trong trận hè đỏ lửa 1972 và địa ngục Xuân Lộc tháng 4-1975. Điều này cho thấy là Cộng Sản không bao giờ thiếu nhân lực, tiếp tế lẫn tình báo. Ngược lại thì mai mỉa biết bao, trong cách đối xử của người dân ta đối với phe mình, nhất là những vùng bị giặc tạm chiếm hay là xôi đậu. Nói chung, Chính phủ VNCH trong suốt 20 năm, cố gắng gần như tuyệt vọng, chỉ mong mang lại cơ hội sống tự do, no ấm cho người dân, nhưng giống như ngày trước, vì quá khao khát độc lập, nên người dân đã khoán trắng cho họ Hồ và đảng. Lần nữa, trong cuộc chiến, họ cũng bỏ mất cơ hội cuối cùng. Nói như vậy để mọi người thấy rõ thân phận của người Lính Miền Nam, qua tấm lòng hy sinh cao cả, trong gần một phần tư thế kỷ, phải chiến đấu ở một chiến trường bất hạnh, thù nghịch, dù rằng những người Lính ấy, đã phải đem cái mạng sống cùng với hạnh phúc của cá nhân và gia đình mình, bảo vệ làng xóm, chùa nhà thờ và sinh mạng của người dân miền Nam, trong đó có nhiều kẻ đang chực chờ giết hại Lính. Dù vậy, bao nhiêu xương máu của QLVNCH nói chung, đã hy sinh vô cùng ý nghĩa, phần nào đã mang đến no âm tự do cho mọi người, dù chính quyền quốc gia chưa được toàn hảo trọn vẹn như mong muốn, trong thời gian 1955-1975.

Ra đời từ năm 1950 nhưng quân đội Quốc Gia VN, coi như chỉ được chính thức nhìn nhận bằng văn kiện hành chánh, trong ngày Quân Lực 19-6-1965. Sự nghịch lý này, phần nào nói lên những bất hạnh chồng chất, đã và sắp tới với một quân đội mang đầy máu lệ, ngay từ ngày thành lập. Sự lộng hành của báo chí và truyền thông Mỹ, gần như trong suốt cuộc chiến, đã trút hết căm hờn lên quân đội VNCH, làm tác hại ghê gớm đến tinh thần chiến đấu của người lính, đến nỗi nhà báo Mỹ là Robert Elegant phải ngao ngán viết rằng, chiến tranh VN trước hết đã thua trong trận giặc miệng và nước bọt tại hậu phương.

Ngày 17-4-1961, tổng thống Mỹ John F Kenedy, nghe xúi dại của CIA, dưa 1000 quân đổ bộ lên đảo Cuba, lật đổ Trùm Fidel Castro nhưng kế hoạch Bay of Pigs hoàn toàn thất bại, lực lượng đổ bộ bị bắt sống gần hết và Mỹ phải đem máy cầy cùng xe ủi đất, chuộc tù binh về. Thua me gỡ bài cào, Kenedy đem con thiêu thân Nam VN làm vật tế thần, gỡ thể diện. Sứ mệnh này, được giao cho Đại Tá Lansdale, mở cuộc chiến tranh bí mật (The Secret War) tại miền bắc VN và Lào, nói nôm na là màn đem con bỏ chợ. Tiếp tới là sự ngây thơ của Mỹ, dại dột ký thỏa ước trung lập Lào, giúp Bắc Việt mượn đường xăm lăng miền Nam. Cuối cùng là gởi 12.000 cố vấn sang Nam VN, sau khi bị Trùm đỏ Liên Xô là Khrushchev nhục mạ tại bàn hội nghi thượng đỉnh. Tóm lại như Edward Weintal và CharleBarlett viết trong ‘Facing the Brink‘, thì Kenedy đã nghĩ rằng đưa vài chục ngàn cố vấn vào VN, để buộc Hà Nội từ bỏ mộng cuồng xâm nhưng đó lại là sự điên rồ, để cho giặc có cái cớ, gây chiến tranh xâm lược VNCH mà thôi. Máu VN bắt đầu đổ từ đó, bởi sự ngông cuồng lếu láo của tổng thống Mỹ.

Với tổng thống Lyndon Johnson, thì tình trạng VN càng thê thảm hơn, vì rõ ràng khi lên thế chức tổng thống Hoa Kỳ, thay Kenedy bị ám sát, Johnson chỉ vì rất sợ bị đảng Cộng Hòa buộc tội quá nhu nhược khi đương đầu với cộng sản, nên đã đưa nước Mỹ và Miền Nam VN vào một cuộc chiến tranh kỳ lạ nhất trong lịch sử , với sách lược ‘không cho thắng‘. Như John Fisher, đô đốc của Anh đã viết: ’thực chất của chiến tranh là tàn bạo, đánh giặc mà cầm chừng là ngu xuẩn, nên muốn đạt chiến thắng, phải đánh mạnh và đánh khắp nơi‘. Theo các nhà quân sử, trong chiến tranh VN, Mỹ chỉ cần phong tỏa đường biển, oanh tạc biên giới Việt-Hoa-Lào và cho lệnh QLVNCH tấn công trả đũa vào Bắc Việt, thì giặc đã yên từ lâu. Nhưng Johnson thì làm ngược lại, hạn chế tối đa các mục tiêu trên lãnh thổ Bắc Việt, với lý do sợ chọc giận Bắc Kinh. Tại Lào, các căn cứ của Bắc Việt được coi là bất khả xâm phạm, cấm tấn công. Đồng thời Johnson đưa đề nghị viện trợ kinh tế, dụ Việt Cộng chấm dứt xâm lăng Miền Nam, nên đã bị giặc Cộng khinh bỉ xem thường, vì đã biết được con bài tẩy ‘kém nhất’ trong quân bài Domino, chính là siêu cường Hoa kỳ, mà khối cộng sản lúc đó ngạo là con cọp giấy...

Với tổng thống đảng cộng hòa Richard Nixon, ngoài bệnh chủ quan, tự tin, tự tôn của Kennedy, Johnson còn là một tổng thống Mỹ liên hệ sâu đậm nhất trong chiến tranh VN, bị kết tội là kẻ xảo quyệt, bội tín, bất nhân, nên dân chúng Mỹ ghét nhất. Do thành tích bán đứng Nam VN cho cộng sản đệ tam quốc tế vào ngày 30-4-1975, cũng như tội đã liên kết với trùm đỏ Mao Trạch Đông năm 1972, vì lợi lộc của Mỹ mà phản bội thế giới tự do, nhân quyền, nên sau 25 từ chức tổng thống, được các nhà báo Mỹ xếp hạng, chỉ đứng trên tổng thống trốn quân dịch là Bill Clinton.

Thành tích khôi hài nhất của cặp Nixon-Kissinger là chủ thuyết ‘Nixon’, hay ‘VN hóa chiến tranh’, thực chất là cuộc chạy làng, bỏ bạn, vô liêm sỉ của một siêu cường số 1 lúc đó và ngay cả bây giờ. Nói rõ hơn, Nixon chỉ vì quyền lợi cá nhân, nên tuyên bố ‘đơn phương’ rút quân, trong lúc đang hợp đồng chiến đấu với nhiều quốc gia khác. Đây là một sự lố bịch và còn tàn nhẫn đối với sự sống chết của VNCH. Trước tin này, Hà Nội chỉ cần ngồi chờ để thừa cơ đánh lén. Riêng những màn dội bom và đánh vào mật khu Mỏ Vẹt tại Kampuchia năm 1970, Hạ Lào 719 cũng là những trò bịp, dùng máu xương của QLVNCH lót đường cho cặp Nixon-Kissinger, mua thời gian cho quân Mỹ về nước sớm hơn hai năm, trước khi Nixon tái ứng cử vào năm 1972. Trong hồi ký ‘A Sldier’s Report‘ của tư lệnh Mỹ tại VN, tướng Westmoreland đã vô cùng cảm phục và thương xót người lính VNCH, tham dự trong chiến dịch Lam Sơn 719. Ông đánh giá cao QLVNCH, khi cho biết, chính kế hoạch này là của Kissinger, định dùng 60.000 quân Mỹ nhưng rồi thấy không chắc thắng trận, nên đã bỏ ý định và bắt ép tổng thống Nguyễn Văn Thiệu thi hành. Theo sử liệu, trong trận này, VNCH chỉ có 17.000 quân và dù bị tổn thất nặng, do Mỹ thất hứa không yểm trợ đủ hỏa lực pháo và không yểm, nhưng Sư Đoàn 1 Bộ Binh cũng đã đạt được mục đích cuối cùng, là đặt chân vào cứ điểm Tchepone như Nixon mong muốn.

Tóm lại suốt cuộc chiến 1960-1975, người Mỹ lúc nào cũng muốn QLVNCH chiến thắng cộng sản quốc tế, trong khi chính mình không làm được. Vô lý hơn là bó buộc người lính Miền Nam phải chiến đấu, trong khi không cung cấp đầy đủ vũ khí, quân dụng, kể cả việc ngăn cấm không cho tấn công giặc. Chưa hết, chỉ vài ngày sau khi Nixon nhậm chức tổng thống lần 2, thì quốc hội đảng dân chủ Hoa kỳ, đã cắt xén những hứa hẹn mà Nixon hứa với Nam VN trước khi VN hóa. Tồi bại nhất là quốc hội của đảng dân chủ, đòi Nixon phải tiết lộ bí mật quốc phòng, để kịp báo cho Hà Nội, tấn công VNCH. Cuối cùng lý do mà Việt Cộng phải ký với Mỹ tại Ba Lê tháng 1-1973, nói chung là không còn chịu nổi những đợt oanh tạc khủng khiếp và hàng rào thủy lôi quanh hải cảng Hải Phòng nhưng trên hết, theo tố cáo của nhân chứng Stephen Young, vì cặp Nixon-Kissiger cam kết với VC, là sẽ không đòi quân Bắc Việt rút về lại bên kia vỹ tuyến 17 như tinh thần hiệp định Genève 1954, nên Hà Nội mới ký THỎA HIỆP BỊP, còn Mỷ thì ký BẢN KHAI TỬ VNCH.

Sau này chính Stephen Young đích thân tới hỏi Nixon, có biết Kissinger tự ý sửa ‘Bản đề nghị ngưng bắn của đại sứ Mỹ ở VN là Bunker không‘, Nixon trả lời ‘KHÔNG‘. Một điều bí mật khác, là Kissinger trong thời gian hành sử chức vụ Tổng Trưởng Ngoại Giao và Cố Vấn An Ninh Quốc Gia cho TT. Mỹ, đã hoàn toàn học theo đúng sách lược của tên điệp viên Pháp thân cộng Jean Saintery (đại diện phe De Gaulle năm 1945 ), một kẻ đã từng hợp tác với Hồ Chi Minh, để thực dân Pháp công khai trở lại Bắc Việt năm 1946. Chính Saintery đã chỉ dậy bài bản, giúp Kissinger bán đứng Nam VN cho Hà Nội, gián tiếp trả thù việc chính phủ VNCH theo Mỹ, hất chân thực dân ra khỏi đất Việt.

Cũng liên quan tới Người Lính VNCH, qua tài liệu của MACV mới phổ biến, cho biết, suốt cuộc chiến, Nam VN đã có nhiều binh sĩ đào ngũ nhưng đó lại là một điều rất kỳ lạ, vì Lính đào ngũ không phải để đầu hàng Việt Cộng, mà họ muốn trở về nguyên quán đầu quân vào các đơn vị địa phương, để chiến đấu gần gia đình mình. Tình yêu quê hương của người Việt là vậy đó, chỉ khi nào không còn con đường nào khác để lựa chọn, họ mới đành gạt lệ bỏ xứ mà trong đau khổ. Cho nên đâu lạ, năm 1954, chia đôi đất nước, không riêng gì 300.000 binh sĩ và gia đình của Quân đội Quốc Gia, mà còn cả triệu người dân bình thường khác, đứt ruột, lìa nơi chôn nhao cắt rún ở miền Bắc, để di cư vào Nam, vì họ không muốn sống chung với cộng sản bạo tàn. Còn Dwight Owen cố vấn Mỹ thì nói QLVNCH không có những thứ tối thiểu mà các quân đội nước khác có, từ lương bổng, khẩu phần hành quân, nghĩ phép... tới tình thương làng xóm. Chính những điều này làm giảm sút tinh thần và hiệu năng chiến đấu. Nhưng tất cả cũng đều là phép lạ, khiến cho người lính Miền Nam vẫn tiếp tục chiến đấu cho đến giờ phút cuối cùng tại Sài Gòn, trong khi Quân Đoàn 4 vẫn an toàn và chờ Chính phủ trung ương di chuyển tới, để lại tiếp tục chiến đấu, thì có lệnh buông súng đầu hàng giặc.

Tổng thống Nixon những ngày cuối đời, trong tác phẩm ‘No more Vietnams‘ nói rằng nếu tin vào báo chí Hoa kỳ, thì VNCH không còn tồn tại sau khi Mỹ rút quân hoặc khi Mỹ chưa tới giúp. Điều này cho thấy QLVNCH rất anh dũng, kiêu hùng và qua những bản phân tích quân sự khách quan, thì lính miền nam giỏi gấp 10 lần bộ đội miền bắc về mọi mặt, kể cả nhân cách và tình người. Phân tích gia Allan Goodman, năm 1983 trong cuộc hội thảo đề tài rút kinh nghiệm chiến tranh VN, quy tụ 50 học giả, tại Smithsonian Hoa Kỳ, đã ca tụng tinh thần chiến đấu anh dũng của người lính miền nam, họ đã tử trận trên 200.000 người và hơn nửa triệu thương binh. Nhưng có lẽ mai mỉa nhất là lời của Lewis Walt, tướng Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đã viết:

‘Không phải ngồi biểu tình, ăn chơi, trốn lính đi tu hay làm báo, viết văn, lấy Mỹ tại Sài Gòn-Huế, mà có một con số chết và bị thương như vậy’.

2-SƯ ĐOÀN 18BB VÀ CÁC ĐƠN VỊ TĂNG VIỆN,

TỬ CHIẾN VỚI CỘNG SẢN QUỐC TẾ TẠI XUÂN LỘC THÁNG 4-1975:

Sau ngày Sài Gòn thất thủ, ngày 2-5-1975 Peter Kahn chủ bút Wall Street Journal, giải báo chí Pulitzer, đã viết bài truy điệu Nam VN đăng trên báo này ‘Quả thật sau cùng, quân lực VNCH đã rã ngũ vì tuân theo lệnh của tổng tư lệnh quân đội lúc đó, là tổng thống hai ngày Dương Văn Minh. Nhưng đó không phải là một quân lực hèn nhát hoặc vô dụng, vì có một vài phần tử quan quyền đào ngũ chạy theo Mỹ. Sự thật, quân đội VNCH rất vững mạnh và chiến đấu dũng cảm khắp các mặt trận, đặc biệt là từ mùa hè đỏ lửa 1972 tại Quảng Trị, Kon Tum, Bình Định và An Lộc. Đó là một quân đội xứng đáng được biết ơn, ca tụng vì đã giữ được từng mảnh đất quê hương, trước cuộc xâm lăng của cộng sản quốc tế, trong nhiều năm qua. Và cuối cùng vào những tuần lễ chót của tháng tư, khi người Mỹ đã chấp nhận đầu hàng giặc, thì người Lính VNCH vẫn tiếp tục chiến đấu khắp nơi, và mặt trận XUÂN LỘC đã trở thành mồ chôn tập thể của những kẻ xâm lăng, bạo tàn. Nhờ vậy, một số người, VN lẫn Mỹ mới có cơ hội trốn chạy ra ngoại quốc, thoát được cảnh tù đầy địa ngục, chốn nhân gian cùng khốn tận tuyệt của cõi đời, khi rợ Hồ từ miền Bắc vào Nam làm chủ. Một số ít này, hiện nay, dù đã cuối đời nhưng vẫn không giữ nổi khí phách và danh phận của đấng trượng phu, tướng lãnh, trí thức, khi đã quay lưng phản bội dân tộc, bôi mặt hợp tác với giặc, đề dầy xéo thêm nỗi đau tận tuyệt của đồng bào mình trong suốt 30 năm quốc hận, đối lấy chút hư danh cặn thừa trong vũng bùn ô uế xã nghĩa. Đây là những hình nộm nói tiếng người, hằng ngày được VC bêu xấu trên báo chí, để miệng đời bôi bác rủa trù, chẳng những riêng chúng, mà lây xấu tới con cái dòng họ.

Tháng tư ở Long Khánh, trời thường đổ những cơn mưa rào như trút nước, nhiều lúc lính đang hành quân trong rừng, có cảm tưởng như mình đang lênh đênh bơi trong biển khổ của cuộc đời.

Và tháng tư năm 1975, trời hình như biết trước cơn bão táp của miền Nam, nên đổ mưa rất sớm. Trong mưa có gió, nên khiến cho cả thị xã Xuân Lộc, đỏ ối một màu vì xác hoa phượng vĩ ven đường, bị gió mưa dồn dập.


‘... đêm nay Xuân Lộc, vầng trăng khuyết
như một vành tang trắng đất trời
chân theo quân rút, hồn ta ở
nghe nước La Ngà cuồn cuộn trôi

...em ơi tiếng tắc kè thê thiết
gọi giữa đêm dài quá lẽ loi
chân bước, nửa hồn chinh chiến dục
nửa hồn Xuân Lộc, gọi quay lui..’.

(thơ của Nguyễn Phúc Sông Hương).



Xuân Lộc là chiếc nôi đầu đời, mà người lính Tiểu Đoàn 1, Trung Đoàn 43 Biệt Lập, của Đại uý Ngô Văn Diệp, từ miền xa cao nguyên Di Linh, tới hành quân và tru đóng vào giữa tháng 4-1964, coi như là đơn vị tiền phương thành lập Sư Đoàn 10 bộ binh vào ngày 16-5-1965, gồm ba Trung Đoàn biệt lập, kỳ cựu của quân lực VNCH là Trung Đoàn 43, 48 và 52.

Trung Đoàn 43 bô binh thoát thai từ Trung Đoàn 404 thành lập tại Phan Thiết ngày 1-8-1954, trước khi biệt lập, trực thuộc SD5 khinh chiến, từng tham dự các chiến dịch Đinh Tiên Hoàng, Nguyễn Huệ... tại Nam Phần vào năm 1955. Trung Đoàn 48 bộ binh thoát thai từ Trung Đoàn 203 bộ binh, gồm các tiểu đoàn 47, 702 và 52.

Sau đó cải thành Trung đoàn 48 bộ binh, thuộc Sư Đoàn 16 khinh chiến, gồm các Trung Đoàn 46, 47 và 48. Năm 1958 qua đợt cải tổ, SD16 khinh chiến bị bãi bỏ, các Trung Đoàn 46,47 và 48 trở thành biệt lập. Sau này, Trung Đoàn 47 bô binh cùng với Trung Đoàn 43 qua nhiều lần hoán đổi đơn vị, để trực thuộc SD23 bộ binh, cuối cùng Trung Đoàn 46 thuộc SD25BB, Trung Đoàn 47 thuộc SD22 BB và Trung Đoàn 48 thuộc SD18 BB. Riêng Trung Đoàn 52 được thành lập ngày 1-12-1954 tại Đệ 1 Quân Khu, gồm các Tiểu Đoàn 54 BVN, 704 và 713. Về Trung Đoàn này, ngày 14-2-1968, tướng Wheeler, chủ tịch Liên quân Mỹ, khi trả lời với báo chí, trong cuộc điều trần trước Hạ Viện Mỹ, là sáng nay tướng Westmoreland có báo, là đã tới thăm Trung Đoàn 52 biệt lập, đóng ở phía nam Đà Nẳng, để chúc mừng và tưởng thưởng cho Họ vì đã chận đứng được Sư Đoàn 2 Bắc Việt, trong mưu toan chiếm Đà Nẳng, vào Tết Mậu Thân. Hai tiểu đoàn nổi tiếng nhất của SD18/BB là TD2/43 của Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế và TD1/52 của Đại Uý Nguyễn Văn Út, nhiều lần được vinh danh trước quân đội, vì thiện chiến và là đơn vị bắn cháy nhiều xe tăng của Bắc Việt tại trận địa. Năm 1974, hai chiếc T54 và PT76 của Bắc Việt, bị hai đơn vị trên bắn cháy, được kéo về làm kiểng trước sân Dinh Độc Lập, sau khi mất nước, mới bị VC phi tang.

Sư Đoàn 10 BB sau đổi thành SD18BB vào ngày 1-1-1967 qua đề nghị của Tư lệnh lúc đó là Chuẩn tướng Đổ Kế Giai. SĐ mang phù hiệu Nỏ Thần, đang lướt trên hai nền màu xanh da trời đậm và lợt, tượng trung cho bước chân của lính trong cõi mông mênh cùng tận, mà Nguyễn Cộng Trứ khi đề cập tới chí nam nhi, đã viết: ‘tang bồng hồ thỉ nam nhi trái, làm cho bách thế lưu phương, trước là sĩ sau là khanh tướng‘.

Từ năm 1965-1969 qua các tư lệnh như Đại Tá Nguyễn Văn Mạnh (16/5/1965-10-8-1965), Chuẩn Tướng Lữ Lan (10/8/1965-15/9/1966), Đại Tá Đổ Kế Giai (15/9/66-20/8/69), trong giai đoạn này, Sư Đoàn 18BB bao vùng Khu 31 Chiến Thuật, gồm các tỉnh Bình Tuy, Long Khánh, Biên Hòa, Phước Tuy và Đặc Khu Vũng Tàu, thuộc Vùng III Chiến Thuật.

Từ ngày 20-8-1969 tới 4-4-1972, tư lệnh là Thiếu tướng Lâm Quang Thơ, vì bị Quân Đoàn III, chia chặt thành từng mãnh, tăng phái khắp nơi, dưới quyền của các SD5 và 25 BB, nên binh sĩ có mặc cảm là đơn vị trừng giới, khiến cho SD18 BB, bị xếp hạng chót trong bảng xếp hạng đơn vị thuộc QLVNCH...

Cá sống nhờ nước, lính chiến đấu giỏi khi gặp được cấp chỉ huy tài ba, can trường, thương lính và trên hết phải biết lội với lính trước súng đạn... Ngày xưa, qua huyền thoại, điển tích và sách vở, ta biết giai nhân cùng danh sĩ, như có duyên nợ với nhau từ tiền kiếp. Dương Chí Hoán đời Đường, nổi danh nhờ một ca kỷ hát bài Lương Châu Từ của mình. Tô Đông Pha làm giúp một bài phú cho ca nhi Triệu Vân, mà lấy được một người vợ tài hoa ý hợp nhưng cảm động hơn hết, có lẽ là Giang Châu Tư Mã-Bạch Cư Dị (772-846), trong một đêm mưa rơi tầm tả, tiễn bạn trên Bến Tầm Dương, tình cờ gặp lại người ca kỷ năm nào nổi danh tài sắc chốn Trường An, qua một bản đàn tuyệt diệu, Danh Sĩ đã cảm hứng viết Trường Ca ‘Tỳ Bà Hành’ cổ kim bất hủ.

Trong đời binh nghiệp cũng vậy, suốt cuộc chiến VN, những nguời lính nhảy dù, biệt kích, thủy quân lúc chiến, biệt động quân... được đồng bào miền nam thân thương quen gọi là các thiên thần, bởi vì hầu hết các đơn vị trên đã có nhiều cấp chỉ huy tài ba can trường. Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, Đại Tá Ngô Tấn Nghĩa... luôn hòa mình với thuộc cấp của mình tại các tiền đồn hẻo lánh, bên những đơn vị nghĩa quân, cảnh sát dã chiến, xây dựng nông thôn và địa phương quân tại chiến trường. Nhờ vậy hai tỉnh Chương Thiện-Bình Thuận, bị cộng sản quậy phá nhiều nhất, lại là hai địa phương an ninh hạnh phúc cho tới 30-4-1975. Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu (1967-1975) dù bị lịch sử phán xét thế nào cũng kệ nhưng rõ ràng nhất, ông là một cấp lãnh đạo can đảm, biết chia xẻ gian lao, máu lệ với người chiến sĩ đang lăn xả trong bom đạn sa trường nguy hiểm nhất, ngay lúc trận tuyến chưa im tiếng súng, tại Quảng Trị, KonTum, An Lộc, Bình Định... Tương tự, những người lính Nỏ Thần Miền Đất Đỏ, đã tao phùng-kỳ ngộ với một cấp chỉ huy năng động, thích hợp với những lính biệt lập 43, 48 và 52 đã từng bị đầy ải khắp mọi miền đất nước, đâu có khác gì các Đơn Vị Biệt Động Quân Biên Phòng, Biệt Lập, không biết ai là Cấp Chì Huy tối cao của mình. Đây cũng là một trong những yếu tố then chốt, đã vực dậy một Đại Đơn Vị sắp quỵ vì quá nản phiền. Nhờ đó mà SD18 BB từ đội đít, lần lần dọc ngang và cuối cùng, đứng ưỡn ngực với các Đơn Vị khác của Quân Lực trong bảng xếp hạng cuối đời.

Ngày 4-4-1972, Đại Tá Lê Minh Đảo làm Tư Lệnh SD18 BB, thế Thiếu Tướng Lâm Quang Thơ. Gọi là Sư Đoàn Trưởng cho oai, chứ lúc đó quân số còn lại của SD18BB vỏn vẹn chỉ có DD18 Trinh Sát, DD48 Trinh Sát và 1 Tiểu Đoàn của Trung Đoàn 48BB. Tất cả lính của Sư Đoàn từ Thiết Đoàn 5 kỵ binh, Trung Đoàn 43, 48, 52 đều bị Quân Đoàn III xử dụng, tận góc biển chân mây, khiến cho Tư Lệnh SD18BB lúc đó, thật ra còn thua Tiểu Đoàn Trưởng, vì trong tay không còn một đơn vị nào thuộc về mình., để chỉ huy xử dụng.

Khởi sự từ con số không, Tướng Đảo, một sĩ quan thường bị cười nhạo là hành chánh vì quẩn quanh chỉ làm quận trưởng, tỉnh trưởng. Nhưng đó là một nhận xét có ác ý ganh tỵ, vì qua kinh nghiệm lịch sử cận đại VN, không thiếu gì những vị tá, tướng... một đời lăn xả ngoài trận mạc, vẫn không được đời xưng tụng là tài giỏi.



Để chứng minh người thật việc thật, tri hành phải hợp nhất, qua việc hành sử lúc ban đầu, với số đơn vị ít ỏi trong tay, đã biết khôn khéo, cũng như bỏ cái quan niệm ‘lính chính quy-lính bảo an’, trong việc phối hợp hành quân cùng các Đơn Vị Địa Phương Quân, Nghĩa Quân và Bình Định Xây Dựng Nông Thôn, kể cả Cảnh Sát Dã Chiến (Lúc đó toàn là chủ lực quân biệt phái hay thuyên chuyển về gần nhà)... tại các Tiểu Khu Long Khánh, Phước Tuy, nên chỉ một thời gian ngắn đã bình định xong vùng này. Rồi thì lần lượt Quân Đoàn III, trả lại các Trung Đoàn cơ hữu của SD18BB cho tướng Đảo. Lúc đó,Trung Đoàn 52BB, đang hành quân tại Bình Long, Trung Đoàn 48BB trách nhiệm giữ nhà, nên chỉ còn Trung Đoàn 43 của Trung Tá Lê Xuân Hiếu, cùng tư lệnh là Đại Tá Đảo, xông pha hầu hết các miền đất dữ của VC lúc bấy giờ, dẹp tan chiến khu Chà Rầy, Trung Lập, Củ Chi để giải vây cho quận Trảng Bàng. Tiếp đến, Trung Đoàn 43 và Tướng Đảo lại vào Bến Súc, Dầu Tiếng, giải vây Đồn Điền Michelin, giữ được con đường huyết mạch từ Bình Dương-Bến Cát, mà trong trận Mùa hè đỏ lửa 72, quân tiếp viện của ta sử dụng để vào An Lộc.

Tới cuối tháng 6-1972, SD5BB của Tướng Lê Văn Hưng, tuy vẫn giữ vững An Lộc nhưng đã bị tổn thất nặng nề, nên được điều động ra khỏi trận địa. Các đơn vị tăng phái của Vùng 4 CT như SD21BB, Trung Đoàn 15/SĐ9BB..cũng được trả về bản địa. Do trên, Quân Đoàn III, sau khi hoàn lại đủ quân số cho Tướng Đảo, đã điều động toàn bộ SD18BB vào An Lộc, phối hợp với Liên Đoàn 5 Biệt Động Quân của Trung Tá Ngô Minh Hồng, chiếm lại toàn vẹn lãnh thổ Bình Long. Tháng 12-1972, sắp đến ngày ký Hiệp Định Paris, nên VC lại ồ ạt dành dân chiếm đất, vì vậy QDIII giao Bình Long-An Lộc cho Biệt Động Quân và sử dụng SD18BB như một đơn vị Tổng Trừ Bị của Quân Đoàn. Thời Trung Tướng Phạm Quốc Thuần thay Tướng Nguyễn Văn Minh làm Tư Lệnh QDIII, ngày 7-11-1973 đã cho tái lập lại Lực Lượng 3 Xung Kích, trước sau vẫn do Chuẩn Tướng Kỵ Binh Trần Quang Khôi, là một trong những tướng lãnh tài ba, anh hùng của QLVNCH chỉ huy. Đại đơn vị này có bảng cấp số tương đương với một sư đoàn bộ binh nhưng về hỏa lực có phần hùng mạnh hơn vì được phối hợp tác chiến giữa bộ, thiết giáp và pháo binh, gồm 3 Chiến Đoàn Thiết Giáp 315,318 và 322. Các Chiến Đoàn đều tổ chức giống nhau, gồm 1 Tiểu Đoàn BDQ, 2 Chi Đoàn Thiết Vận Xa 113, 1 Chi Đoàn Chiến Xa M48, 1 pháo đội cơ động 105 ly gắn trên xe M548 và 1 Trung Đội Công Binh. Đây là đơn vị trừ bị thứ 2 của QDIII, sau ngày ký hiệp định Ba Lê năm 1973. Từ đó chiến cuộc càng ngày càng tàn khốc, Bắc Việt ngoài số bộ đội có sẵn được Mỹ cho ở lại, còn có nhiều sư đoàn khác cũng ào ạt vào Nam, vì đường mòn Hồ Chí Minh coi như đã bị bỏ ngõ, tấn công khắp mọi nơi nhưng dữ nhất vẫn là những địa danh sát nách Sài Gòn như Định Quán, Củ Chi, Tam Giác Sắt, Phước Tuy... hầu hết những vùng trên đều thuộc trách nhiệm của SD18BB. Tóm lại, từ năm 1972 tới đầu năm 1975, SD18BB dưới quyền của Tướng Lê Minh Đảo, gần như xông pha trăm trận, nên đã hy sinh rất nhiều quân nhân các cấp. Nhờ vậy mà người lính Nỏ Thần đã trưởng thành trong khói lửa, quân kỳ của Sư Đoàn được gắn nhiều anh dũng bội tinh, mang giây biểu dương màu quân công bội tinh, nhờ niềm hãnh diện đó, dân và lính miền đất đỏ, đã đánh một trận cuối cùng với giặc tại Xuân Lộc, vừa rửa hận cho Dân-Nước, vừa lưu danh ngàn đời trong Việt Sử, chống ngoại xâm do Bắc Việt mang từ Nga-Tàu về.

Tháng 4-1974, Thượng Viện Hoa Kỳ cắt giảm viện trợ cho Nam VN. Tại chiến trường, Bắc Việt xé bỏ hiệp ước vừa ký tại Ba Lê năm 1973, tấn chiếm Thường Đức và Trại Tống Lê Chân. Ngày 9-8-1974, Nixon từ chức tổng thống vì vụ Watergate mang theo hẹn hứa giúp VNCH xuống mồ, vì Ford lên thay không bao giờ đếm xỉa tới., hoặc có muốn giúp miền Nam, thì nói cũng chẳng ai nghe, vì ông không phải là vị tổng thống do dân bầu lên theo luật định.

Trước tình hình hỗn độn chính trị tại Mỹ, Bắc Việt tấn công và chiếm tỉnh Phước Long nhưng Hoa Kỳ vẫn im lặng, còn Ford theo B.Paulmer trong ‘The 25 th year war‘ năm 1984, đã tuyên bố là Hoa Kỳ dứt khoát không can thiệp vào chiến tranh VN. Thế là Hà Nội hồ hởi xâm lăng Miền Nam. Ngày 10-3-1975 đánh thành phố Ban Mê Thuột. Ngày 14-3-1975 rút bỏ cao nguyên bằng Liên tỉnh lộ 7, Pleiku-Phú Bổn-Phú Yên. Ngày 20-3-1975 bỏ Huế, Quảng Trị. Nói chung hai cuộc lui quân, làm hàng trăm ngàn đồng bào vô tội, gia đình binh sĩ, chết và bị thương thảm thiết vì hỏa lực của cộng sản, bắn nhắm vào những người dân lánh nạn, trong đó phần lớn là người già, đàn bà, trẻ thơ vô tội. Tổng thống Thiệu, Thủ Tướng Khiêm, Đại Tướng Cao Văn Viên... chỉ một phút quyết định ngắn ngủi tại Cam Ranh đã làm mất 2/3 lãnh thổ, hủy diệt một nửa lực lượng quân lực tinh nhuệ của VNCH, trong đó có các Đại đơn vị ưu tú như SD Dù, Thủy Quân Lục Chiến, SD1, 23 BB và các Liên Đoàn BDQ... Như vậy sau ngày 2-4-1975, Quân Đoàn 1 mất hẳn, QD2 chỉ còn Ninh Thuận-Bình Thuận, nên sát nhập vào Quân Đoàn III. Phan Rang-Phan Thiết và Xuân Lộc, trở thành vùng hỏa tuyến, vì là cửa ngỏ ( quốc lộ 1 – 20), để Bắc Việt vào Sài Gòn.

Để tấn công Long Khánh –Xuân Lộc, cộng sản quốc tế Bắc Việt, tung vào chiến trường Quân Đoàn 4, gồm 3 Sư Đoàn 6, 7 và 341 và Sư Đoàn 7 Việt Cộng, do tướng Bắc Việt là Hoàng Cầm và Hoàng Thế Thiệp chỉ huy. Về VNCH, ngoài SD 18 BB với các Trung Đoàn 43 của Đại Tá Lê Xuân Hiếu, Trung Đoàn 48 của Trung Tá Trần Minh Công, Trung Đoàn 52 của Đại Tá Ngô Kỳ Dũng, Thiết Đoàn 5 của Trung Tá Nguyễn văn Nô, Tiểu Khu Long Khánh của Đại Tá Phạm văn Phúc và các Đơn vị tăng phái như Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù của Đại Ta Nguyễn văn Đỉnh, đặc biệt là Tiểu Đoàn 82 BDQ, thuộc LD24BDQ, của Thiếu Tá Vương Mộng Long, từ Quảng Đức, Lâm Đồng di tản về Xuân Lộc... cùng với các SD 3, 4 và 5 Không Quân, kể luôn các đơn vị Truyền Tin, Công Binh, đã đánh với quân xâm lăng cộng sản quốc tế, một trận để đời, như các trận Chí Lăng, Bạch Đằng, Chương Dương, Xuân Kỷ Dậu, Rạch Gầm Xoài Mút, mà tổ tiên ta đã lưu lại nghìn đời muôn kiếp cho con cháu sau này, trong dòng sử Việt...

Ngày nay đọc những trang sử trong cũng như ngoài nước, từ người thương cho đến kẻ thù Việt Cộng, kể cả bọn ăn cơm quốc gia thờ Hồ tặc, tất cả đều hớn hở hoặc cúi mặt, kính chào và ngưỡng mộ, cuộc chiến đấu thần thánh của người lính VNCH, trong lúc đất nước đã tận tuyệt, gần hết cấp lãnh đạo tối cao cõng vợ con và vàng bạc chạy theo Mỹ để cầu sinh, giữ chức. Giữa giờ thứ 25, trong lúc bên ngoài thì Đồng Minh phản bội, bên trong đầy rẫy bọn trí thức, cha-sư, đầu hàng giặc Cộng, toa rập trù dập và đâm sau lưng người lính trí mạng.

Trong ‘ Đại thắng mùa xuân’, Văn Tiến Dũng, tổng tư lệnh bộ đội cọng sản Bắc Việt, đã thú nhận rằng ‘ Mặt trận Xuân Lộc vô cùng ác liệt và đẫm máu ngay từ ngày đầu tiên. Các sư đoàn 6,7,341 của ta, dù đã tấn công nhiều lần vào thành phố Xuân Lộc, nhưng nhiều lần đều gặp phải sức kháng cự mãnh liệt của Trung Đoàn 43 địch, nên bị tổn thất nặng nề...

... Các đơn vị pháo của ta, đã sử dụng nhiều hơn cơ số đạn dược dự trù. Số lớn tăng và xe bọc thép bị bắn cháy, còn D.Todd người ký giả Pháp thân cộng, trong tác phẩm ‘ Cruel April, the fall of Sai Gon‘, đã viết ‘ tinh thần binh sĩ tại Xuân Lộc rất cao, hệ thống truyền tin rất tốt, các đơn vị Dù và BDQ đã đến, đường Sài Gòn được thông. Các Sĩ quan QLVNCH đang gọi pháo binh và không yểm rất chính xác và nhanh chóng. Tình trạng chiến đấu của họ, gần giống như lúc còn quân đội Mỹ yểm trợ.

Như vậy qua hai lời phê phán trên, ta biết mặt trận Xuân Lộc vô cùng ác liệt và tinh thần chiến đấu của người lính VNCH dũng mãnh phi thường. Được như vậy, trước hết theo lời của tướng Lê Minh Đảo, tư lệnh Sư Đoàn 18 BB cũng là Tư lệnh Mặt Trận Long Khánh – Xuân Lộc từ ngày 8-4-1975 tới ngày 20-4-1975, đó là tinh thần của người lính quyết tâm chiến đấu tới cùng vì từ trên xuống dưới không một ai đào ngũ hay bỏ theo giặc. Thứ hai do ta chủ động trận địa và sau rốt là tinh thần binh sĩ ổn định, khi thấy gia đình mình đã được di tản về hậu phương an toàn tại Biên Hòa.

CHIẾN TRƯỜNG XUÂN LỘC

Chiến trường Xuân Lộc gồm 3 mặt trận chính : Mặt trận Ngã ba Túc Trưng, thành phố Xuân Lộc và Khu vực Núi Chứa Chan-Gia Ray. Do nắm được tình hình chính sự, biết chắc khi Phan Thiết-Lâm Đồng thất thủ, Bắc Việt sẽ xuyên qua QL1 và 20 để về tấn chiếm Sài Gòn. Do trên Xuân Lộc sẽ là chiến địa đẫm máu. Biết như vậy, cho nên tướng Đảo sớm chuẩn bị trận địa để chờ. Trườc hết, khuyến khích dân chúng có phương tiện, nên về lánh nạn binh lửa ở Biên Hoà hay Sài Gòn. Đồng thời cho di chuyển trại gia binh, bệnh viện, thương bệnh binh cùng các phòng sở chuyên môn về hậu cứ tại Long Bình, làm một đầu cầu tiếp vận từ Trung ương tới Chiến trường. Tại Long Khánh, tướng Đảo cho sửa sang tất cả các phòng tuyến trong cũng như ngoài thị xã, đào giao thông hào khắp nơi, để chuẩn bị chiến đấu lâu dài.

Chiếm lại tất cả các vị trí cao quanh Xuân Lộc, để quan sát địch từ mọi hướng. Đem tất cả pháo dấu trong các vị trí đào sẵn, một số câu lên núi Thị và giao cho TD2/43 cuả Thiếu Tá Nguyễn Hửu Chế bảo vệ, chỉ để lại 2 khẩu cho Tiểu Khu Long Khánh và 2 khẩu khác cho Chiến Đoàn 43 của Đại Tá Lê Xuân Hiếu, trong thị xã Xuân Lộc sử dụng mà thôi. Lại đặt ba bộ chỉ huy Sư Đoàn, một tại Xuân Lộc, một tại Tân Phong và một trên núi Thị có TD2/43 bảo vệ. Tất cả các Bộ Tư Lệnh Hành Quân, đều giống nhau, được thiết kế đầy đủ máy móc truyền tin kể cả đài siêu tầng số. Trong số này, BTL/HQ trên núi Thị giao cho Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế, TDT/TD2/43 trách nhiêm, như một đài liên lạc giữa Tướng Đảo và Quân Đoàn cũng như các cấp tại Trung Ương, nhờ máy móc siêu tần đặt trên núi cao nên rất mạnh. Ngoài ra, nhờ có ba BTL/HQ nên tướng Đảo để di chuyển liên tục, tránh phao địch. Về Truyền Tin của Ta cũng rất tài giỏi, nhờ thế nên đã bắt và giải mã được tần số của giặc, gần như biết trước lệnh tấn công của các đơn vị Bắc Việt, nên đã tránh được rất nhiều tổn thất. Riêng bộ tham mưu của SD18BB lúc đó gồm có : Tướng Lê Minh Đảo là tư lệnh SD, Đại Tá Lê Xuân Mai tư lệnh phó, Đại Tá Huỳnh Thao Lược - tham mưu trường SD, Đại Tá Hứa Yến Lến – tham mưu phó hành quân tiếp vận và Đại Tá Dương Phun Sang – chánh thanh tra SD.



Theo tất cả các cấp chỉ huy thuộc SD18BB còn sống, hiện đang ở Mỹ, hầu hết ai cũng xác nhận một sự thật rất quan trọng, đó là khi quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Xuân Lộc, thì Tướng Lê Minh Đảo đang có mặt tại Bộ Tư Lệnh Tiền Phương của SD18BB tại căn cứ Long Bình và chỉ một vài giờ sau đã bay vào biển máu bom đạn và xác người tại trận địa Xuân Lộc. Trong lúc đó, đại úy Nguyễn Khiêm, trưởng ban ba của TrD43/18 vì công vụ cũng có mặt tại Long Bình và chính Tướng Đảo đã ra lệnh cho phi công chiếc C&C của TL, chở ông ta vào BTL/HQ tại Tân Phong.

Bốn ngày đầu chưa có Lữ Đoàn 1 Dù tăng viện nhưng Chiến Đoàn 43 và các Tiểu Đoàn Địa Phương Quân thiện chiến của TK Long Khánh, cùng TD82 BDQ vẫn giữ được Xuân Lộc. Từ ngày 12/4/75, Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù của Đại Tá Đỉnh tăng viện, đảm trách mặt trận Gia Ray-Chứa Chan, nên tướng Đảo đả dùng Trung Đoàn 48 và Thiết Đoàn 5 kỵ binh, làm lực lượng tiếp ứng khắp nơi. Cũng theo tướng Đảo, trong trận Long Khánh, chỉ có cứ điểm Ngã Ba Túc Trưng, do Chiến Đoàn 52 của Đại Tá Ngô Kỳ Dũng trấn giữ, là khó khăn và ác hiểm nhất nhưng quân ta dù lực lượng ít ỏi so với quân biển người của Bắc Việt, vẩn anh dũng chống cự. Oanh liệt nhất là trận Đồi Móng Ngựa, chỉ có hai đại đội của TD3/52 do Thiếu Tá Phan Tấn Mỹ, tức nhà văn nổi tiếng Ý Yên làm Tiểu Đoàn Trưởng, đã giữ vững vị trí từ ngày 10-4 tới 15-4-75, qua nhiều đợt tấn công biển người, cấp Trung Đoàn của SD6 Bắc Việt. Trận tử chiến trên Đồi Móng Ngựa cũng như hai trái bom con heo tại Dầu Giây –Túc Trưng, đều là những huyền thoại đẹp nhất trên những trang cận sử vừa nở hoa vừa loang đỏ máu, mà sau này mỗi khi đọc tới, chắc ai cũng không thể ngăn nổi giọt nước mắt muộn màng, để khóc tủi cho những người lính trận năm nào, đã vì ai mà xả thân không tiếc hận.


Đánh mãi không lấy được Xuân Lộc, Văn Tiến Dũng điều động Trần văn Trà thay Hoàng Cầm nhưng chiến trường vẫn không thay đổi. Do trên Trà một mặt để SD7 VC ở lại cầm chân SD18 BB và Dù tại Xuân Lộc, mặt khác tấn công biển người vào các vị trí của Chiến Đoàn 52, mở một đường máu từ Túc Trưng xuyên qua Biên Hòa, đối mặt với các Đơn Vị phòng thủ của Lực Lượng 3 Xung Kích, của tướng Trần Quang Khôi. Riêng Chiến Đoàn 52 của Đại Tá Dũng, tuy bị tổn thất gần 1/2 quân số, nhưng cuối cùng vẩn mở được đường máu Từ ngã ba Túc Trưng về Biên Hòa.

HAI TRÁI BOM DAISY CUTTER VÀ CUỘC LUI QUÂN CỦA SD18

Trong ‘Đứa con cầu tự ‘, ông Nguyễn Cao Kỳ nguyên Thiếu tướng QLVNCH, cựu tư lệnh Không quân, cựu chủ tịch ủy ban hành pháp trung ương, cựu phó tổng thống VNCH từ 1967-1971, có viết rằng chính ông ta là nhân vật đã ra lệnh sử dụng bom con heo tại mặt trận Xuân Lộc. Ai cũng biết từ sau năm 1972, ông Kỳ đã là một tướng lãnh bị phế thải, ngồi chơi xơi nước, trong tay ‘không quân, không đơn vị‘. Cũng từ đó cho tới ngày 29-4-1975 bay trốn ra biển để tới Mỹ hưởng vinh hoa phú quý, tướng Kỳ ngoài việc trồng khoai mì tại đồn điền riêng ở Khánh Dương-Khánh Hòa, thì gần hết thời gian quý báu còn lại của một tướng lãnh, chỉ lăn vùi trong rượu chè, mạt chược, đá gà và bar-bung gái vợ. Như vậy, sức nào để ra lệnh cho KQ đánh bom, một sự kiện quan trọng bậc nhất của an ninh quốc phòng quốc gia VNCH, lúc đó chỉ có chính Tổng Thống, Thủ Tướng và Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH mới có thẩm quyền quyết định.

Bom Daisy Cutter, còn được gọi là bom con heo hay tiểu nguyên tử, có chiều dài và chiều cao gần tương đương với lòng chiếc vận tải cơ C130, trọng lượng là 7 tấn, gồm vỏ bọc và khối thuốc nổ 15.000 cân Anh TNT. Bom dùng mở bãi đáp cho cấp sư đoàn hay lộ quân trong bất cứ địa thế nào. Với con người, bom có tầm sát hại trong vòng bán kính 5 dặm Anh, hút hết dưỡng khí, làm cho người bị chết ngạt. Những ngày cuối cùng của tháng 4-1975, Mỹ có để lại cho VNCH chừng 10 trái nhưng không có ngòi nổ. Trong trận Xuân Lộc, truyền tin của Bắc Việt gần như bị ta giải mả hết, nên nhờ đó mà Bộ tư lệnh của SD18BB đều biết trước. Nhờ vậy đã kịp thời xin không quân hay pháo binh, bắn hay giội bom vào các vị trí của địch hay xe tăng một cách vô cùng chính xác. Ngày 15-4-75, khi tướng Đảo nhận tin vị trí của Chiến đoàn 52 của Đại Tá Ngô Kỳ Dũng, từ Ngã ba Túc Trưng xuống tới Dầu Giây, bị hai sư đoàn Bắc Việt 6 và 341 tràn ngập, nên đã xin tướng Nguyễn văn Toàn, tư lệnh QD3, trình Bộ TTM, sử dụng bom con heo, để ngăn chận và giải cứu Chiến đoàn 52. Do trên, trong ngày 15-4-1975, Bộ TTM đã dùng vận tải cơ C130A thả 2 trái bom khổng lồ này, xuống vị trí của Bắc Việt, từ Túc Trưng về tới Dầu Giây, khiến cả một quân đoàn Bắc Việt, gồm người, tăng, pháo như rối loạn trong ba ngày liền vì có quá nhiều thương vong. Vì Hà Nội la làng, Mỹ vi phạm hiệp định ngưng bắn, dùng bom nguyên tử và trở lại VN, nên Hoa Kỳ đã chở số bom con heo còn lại về Mỹ.

Ngày 16-4-1975, phòng tuyến tại Phan Rang vở, các tướng lãnh Nguyễn Vĩnh Nghi, Pham Ngọc Sang, Đại Tá Nguyễn Thu Lương và hầu hết các sĩ quan cao cấp trong Bộ tư lệnh tiền phương của QD3, vì đi bộ với lính (dù có máy bay), và Đại Tá Lương, lúc đó đã cùng với các tiểu đoàn Dù về tới Cà Ná, nhưng ông cũng đã trở lại tìm hai tướng Nghi-Sang, nên đã bị giặc Cộng bắt giữa chốn ba quân. May mắn nhất vẫn là tướng Trần văn Nhựt, Tư lệnh SD2 BB đang tham chiến tại mặt trận, nhờ lanh lẹ, nên leo L19, chạy kịp xuống tàu hải quân, đậu trong vịnh Ninh Chữ, sau đo cũng là một trong nhiều tướng lãnh tới Mỹ sớm. Đêm 19-4-1975, Bình Thuận-Phan Thiết mất và Bình Tuy ngày 20-4-1975. Như vậy các tuyến phòng thủ trên QL1 và 20, dẫn về Long Khánh gần như khai thông. Tướng Nguyễn Văn Toàn vì không muốn Xuân Lộc, lúc đó lại trở thành một Điện Biên Phủ hay Khe Sanh, giữa trùng vây của hơn mấy vạn quân Bắc Việt như trước. Hơn nữa, khi Trần Văn Trà thế Hoàng Cầm, đã dùng SD7 Bắc Việt cầm chân quân ta, còn Lộ quân 4 thì tìm đường khác tại Ngã ba Túc Trưng về Biên Hoà. Ở đó, chỉ có Lực lượng 3 Xung Kích của tướng Khôi, cùng Trung Đoàn 8 /SD5BB tăng phái, nên không đủ quân chống giữa. Do trên tướng Toàn đã xin Bộ Tổng Tham Mưu, chấp thuận bỏ Xuân Lộc, rút toàn bộ lực lượng đang chiến đấu tại đây gồm SD18BB, TK Long Khánh, Lữ Đoàn Dù, BDQ về Phước Tuy, giữ Biên Hòa-Sài Gòn, và đã được chấp thuận, dù lúc đó, quân ta còn đầy đủ đạn pháo và tinh thần chiến đấu. Tại Gia Ray-Chứa Chan, Lữ Đoàn Dù-BDQ-Thiết Đoàn 5 và Trung Đoàn 48/18 đang gom SD7 Bắc Việt vào rọ, để tiêu diệt.
Theo tướng Đảo, thì vào lúc 9 giờ sáng ngày 20-4-1975, tướng Toàn thân hành bay trực thăng vào BTL SD18BB tại chiến trường Xuân Lộc, ban lệnh RÚT QUÂN, BỎ LONG KHÁNH của Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, tới Tướng Đảo và CUỘC RÚT QUÂN hoàn toàn bằng đường bộ, không có ai được máy bay tới chở về. Quan trọng hơn hết, tất cả đều đi, không có 600 quân nào của Trung Đoàn 43, do Đại Tá Lê Xuân Hiếu tình nguyện ở lại bán mạng, như một vài người đả vin vào tài liệu Mỹ, viết sử. Cảm động vô cùng, là khi Lữ Đoàn 1 Dù của Đại Tá Đỉnh rút quân, đồng bào công giáo ở các xã Bảo Định, Bảo Toàn, Bảo Hòa... đã đồng loạt rút theo, làm cho cánh quân này vì phải bảo vệ đồng nào tị nạn, nên bị thiệt hại nhiều nhất.

Ngay khi nhận được lệnh, trong ngày 20-4-1975, tướng Đảo ra lệnh cho Lữ Đoàn 1 Dù, tấn công tới tấp SD7 VC để nghi binh. Trên núi Thị, rút hết pháo, chỉ để lại 2 khẩu cho Tiểu Đoàn 2/43 bắn cầm chừng, làm giặc không biết đâu mà mò. Cuộc lui quân, bắt đầu, lúc 8 giờ đêm 20-4-1975, bằng Liên Tỉnh lộ 2, Tân Phong-Long Giao-Bà Rịa. Đây cũng là một quyết định táo bạo, đồng thời cũng là một yếu tố bất ngờ mà Bắc Việt không bao giờ đoán nổi. Vì Liên tỉnh lộ 2 dài khỏng 40 km, từ khi quân Đồng Minh rút, đường đã bị bỏ hoang và trở thành căn cứ địa cuả các lực lượng Du kích tỉnh cũng như Trung Đoàn 33 chính quy Bắc Việt. Theo kế hoạch lui quân, Trung Đoàn 48 của Trung Tá Trần Minh Công mở đường. Cánh 2 là đoàn cơ giới, pháo, chiến xa Thiết đoàn 5 của Trung Tá Nô. Đặc biệt tướng Đảo, đã mang trả lại cho QD3 hai khẩu đại pháo 175 ly cho mượn, có tầm bắn xa trên 30 km, đặt trên xe xích. Tất cả lực lượng này do Đại Tá Hứa Yến Lến, tham mưu phó hành quân SD 18BB chỉ huy. Đơn vị kế tiếp là DPQ và NQ Long Khánh của Đại Tá BDQ. Phạm văn Phúc, Tỉnh trưởng Long Khánh. Cánh quân này, trong lúc rút bị đụng nặng, làm Trung Tá Tiểu Khu Phó tử thương. Còn Đại Tá Phúc bị bắt và giải ngay ra Bắc, chịu nhiều năm tù khôc hận như các cấp Sĩ quan/QLVNCH sau ngày 30-4-1975. Tướng Đảo đi bộ với cánh quân Trung Đoàn 43 của Đại Tá Lê Xuân Hiếu, hiện ở Oregon. Và cuối cùng là Lữ Đoàn 1 Dù đoạn hậu. Theo kế hoạch lui quân, Tiểu đoàn 2/43 của Thiếu tá Chế từ Núi Thị xuống sẽ đi trước Lữ Đoàn Dù, nhưng vì trục trặc chiến thuật, nên cuối cùng lại trở thành đơn vị cuối khi rời Long Khánh. Tóm lại cuộc lui quân coi như thành công, nhờ có tổ chức, kế hoạch và trên hết, chính tướng Đảo cũng như tất cả các đơn vị trưởng từ Tỉnh Trưởng Phạm văn Phúc, Đại tá Đỉnh, Lữ Đoàn trưởng Dù... đều đi bộ và tác chiến như lính. Thử hỏi sao không đạt được chiến thắng ?

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

NGƯỜI VỀ TỪ ĐỊA NGỤC

Tiểu Đoàn Trưởng TD2/Trung Đoàn 43/SD18BB là Nguyễn Hữu Chế, xuất thân từ khóa 13, sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Từ năm 1972 khi Đại Tá Đảo, về làm tư lệnh SD18BB, thay tướng Thơ, lúc đó Trung Úy Nguyễn Hữu Chế ở TD2/43 nhưng sau những chiến công rền vang khắp các mặt trận từ Chà Rầy-Trung Lập, tới Tam Giác Sắt - An Điềm, chỉ trong 1 năm, đã được vinh thăng ngay tại mặt trận, Đại Uý rồi Thiếu Tá và giữ TDT.TD2/43 là một đơn vị cùng với TD1/52 của Đại Uý Út, là hai đơn vị kiệt hiệt nhất của SD18BB.

Theo lời Thiếu Tá Chế, thì trong đêm lui quân 20-4-1975, lệnh hành quân ghi rõ: kể từ 12 giờ đêm, TD2/43 sẽ trở về hệ thống liên lạc của sư đoàn. Tiểu đoàn sẽ di chuyẻn trước, sau đó là Lữ Đoàn 1 Dù, theo lộ trình về hướng Đức Thanh-Bà Rịa. Lệnh là vậy nhưng thực tế vô cùng khó khăn, vì khi Lữ Đoàn 1 Dù, cho lệnh TD2/43 trở về với hệ thống của sư đoàn 18BB, thì lúc đó đã 3 giờ sáng. Tiểu đoàn liền cho lệnh gom quân các tiền đồn về, trong đó có Trung Đội Biệt Kích hoạt động tận núi Ma, cho nên tới 5 giờ sáng mơi hoàn tất việc thu quân. Vì vậy khi xuống núi Thị, thì trời đã rạng đông. Tiểu đoàn tiếp tục di chuyển theo lộ trình rút quân, gần tới Căn cứ Long Giao, lúc đó đã 7 giờ sáng, thì Đại Tá Ngô Kỳ Dũng, Trung Đoàn Trưởng TrD52/18, bay trên chiếc C&C của Tư Lệnh, chuyển lệnh của Tướng Đảo, ra lệnh cho TD2/43 phải hủy bỏ lộ trình cũ như lệnh hành quân ban đầu và phải băng rừng, chuyển hướng về Long Thành, vì Bắc Việt đã phát giác SD18BB lui quân, mà đơn vị cuối cùng là TD2/43 nên ra lệnh cho SD7 VC phải truy sát cho tận tuyệt. Thật ra, lúc đó cũng còn một vài toán Địa Phương Quân và Nghĩa Quân, lạc đàn chạy theo. Nhưng trong tình cảnh hiểm nguy đó, làm sao biết được ai là bạn hay thù, hoặc có thể VC đã theo kíp họ, nên TD 2/43 đã tìm cách đổi hương, để giữ mạng.

Khi rời núi Thị, quân số của TD2/43, kể cả tăng phái trong đó có nhiều SQ, HSQ, và binh sĩ Pháo Binh, hơn 600 người. Ngoài Hậu cứ của TD2/43 đã di chuyển trước với cánh quân của Trung Đoàn, Bộ Chỉ Huy TD ngoài TDT Chế, còn có TDP là Đại Uý Nguyễn Tấn Chi (Khóa 12 SQTB/TD), Trung Úy Võ Kim Thạch (DDT/DDCH), Trung Uý Nguyễn Văn Hào (DDT/DD1), Trung Uý Võ Văn Mười (DDT/DD2), Trung Uý Nguyễn Văn Hùng (DDT/DD3), Trung Uý Hà Văn Dương (DDT/DD4) cùng các Sĩ quan truyền tin, ban 2, ban 3, quân y, sĩ quan tiền sát viên pháo binh...

Nhưng sau lần liên lạc được với Đại Tá Dũng, TD2/43 coi như lạc lõng trong rừng sâu từ giây phút đó. Vùng này bốn bề xưa nay đầy rẩy các căn cứ cộng sản trong đó có mật khu Hắc Dịch nổi tiếng, đang có sự hiện diện của SD341 Bắc Việt tân lập. Từ đó, TD2/43 không còn ai liên lạc, chẳng có pháo binh, không quân hay thiết kỵ nào yểm trợ, vì mọi đơn vị bạn đều cách xa. Nhưng cũng may, từ khi được thành lập tại Phan Rí, tỉnh Bình Thuận vào năm 1955, qua danh xưng TD265, 84 sau đó là TD2/43 biệt lập cho tới ngày nay. Hầu hết các vị Tiểu Đoàn Trưởng như Đại Uý Nguyễn Văn Hai, cố Trung Tá Hắc Long Đỗ văn Tân, cố Trung Tá Hắc Long Nguyễn Văn Thoại và cuối cùng là Thiếu Tá Bảo Đinh Nguyễn Hữu Chế, tất cả đều là những đơn vị trưởng tài giỏi, đầy kinh nghiệm hành quân trong vùng, biết địa thế rõ như lòng bàn tay, mà không cần phải xem bàn đồ, nhờ vậy mới không bị biển người cộng sản tiêu diệt. Từ 9 giờ sáng, TD2/43 đã bắt đầu chạm địch ở phía tây căn cứ Long Giao, nhưng vì không có quân bạn yểm trợ, nên Thiếu Tá Chế đã cố gắng đoạn chiến, đổi hướng nhiều lần lộ trình, vì không muốn gây thương vong cho đơn vị. Đến chiều cùng ngày, khi TD2/43 vào tới bìa của một khu rừng rậm, sau khi nghỉ ngơi, Thiếu Tá Chế chia TD làm hai cánh, một do Đại Uý Chi TDP chỉ huy, để hành quân xuyên rừng về Long Thành. Cũng từ đó, TD chạm địch liên miên, đến đổi cánh quân do Thiếu Tá Chế chỉ huy, chỉ còn vỏn vẹn có 28 người. Cũng trong đêm đó, toán người của Thiếu Tá Chế lại bị lọt vào vòng vây, nhưng nhờ trong số này còn có Trung Đội Biệt kích thiện chiến nhất của TD, nên cuối cùng anh em thoát được.
Đến ngày thứ tư, TD đến gần Long Thành nhưng TT Chế vẫn không dám liên lạc truyền tin vì sợ lộ mục tiêu, dù lúc đó trên bầu trời lúc nào cũng có phi cơ của SD18BB bay tìm kiếm TD2/43.

Tại căn cứ Long Bình, tiền trạm của TD2/43 do Trung Uý Nguyễn Văn Thắng, SQ ban 1 chỉ huy hậu cứ, điều động quân xa vào các bìa rừng ven Long Thành để đón lính TD2/43., đã vượt thoát được vòng vây, trở về cõi sống. Nói chung, cánh quân do Đại Uý Chi, TDP chỉ huy gần như còn nguyên vẹn khi ra tới Long Thành. Nhưng trái lại, cánh quân của Thiếu Tá Chế lại đụng độ rất nặng, nhưng nhiều quân nhân còn sống sót, đã tìm được đường về điểm tập trung.

Dù đã liên lạc được với Đại Tá Hiếu Trung Đoàn Trưởng TrD43 vào buổi chiều ngày 24/4/1975 nhưng tới 9 giờ sáng hôm sau, bốn chiếc trực thăng của SD mới vào bốc người nhưng vẫn bị VC truy sát, không buông tha.

Tại căn cứ Long Bình, Tiểu Đoàn tập hợp lại, bổ sung và tiếp tục chiến đấu, sau khi thoát chết, để cùng với SD18BB và tướng Đảo, cũng như tất cả các đơn vị trưởng, chiến đấu cho tới ngày 30-4-1975, mới phải buông súng, rã ngũ vì lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh. Riêng Tiểu Đoàn Trưởng TD 1/43 là Đại Uý Chu hiện ở Úc nhưng vào ngày 12-4-1975 được thay thế bởi Thiếu Tá Tùng. Thảm nhất là Tiểu Đoàn Trưởng TD3/43, Đại Uý Du, ngày tan hàng về nhà, thì bị giặc bất ngay, đem thủ tiêu mất xác.

Trong ‘Đại thắng mùa xuân’, Văn Tiến Dũng, Tổng tư lệnh bộ đội miền Bắc, đã lấy lý do vì không kịp vẽ bản đồ Long Khánh, nên đã bị bại trận Xuân Lộc. Thật sự trong 12 ngày ác chiến, Bắc Việt đã tung vào chiến trường sáu Sư Đoàn, gồm 6, 7, 341, 325, 10 và 304 để chọi với SD18BB, Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù, TD82BDQ và các TD.DPQ, Trung Đội NQ của tỉnh Long Khánh. Kết quả có hơn 6000 cán binh bộ đội bị phơi thây tại chỗ và 37 chiến xa đủ loại bị bắn cháy.

Để tưởng thưởng những quân nhân có công trong trận Xuân Lộc, quyền Tổng Tham Mưu Trưởng lúc đó là Trung Tướng Đồng Văn Khuyên, ban hành SVVT ân thưởng cho tất cả quân sự đã tham dự, được lên một cấp. Riêng Chuẩn tướng Lê Minh Đảo, Tư lệnh Mặt Trận Long Khánh kiêm TL.SD18BB, được chính Tổng Thống Trần Văn Hương, vinh thăng Thiếu Tướng, đặc cách tại Mặt Trận từ ngày 25-4-1975.

Ba mươi năm qua, cuộc chiến đã tàn theo năm tháng nhưng hơn 80 triệu đồng bào trong nước vẫn không có đủ tự do để thở, cũng như có cơm ăn áo mặc., khiến cho đất nước càng ngày càng thảm thê héo hận.

Ngày nay ai có dịp được xuôi ngược trên các nẻo đường quê hương lửa khói xa xưa, từ cổng bắc của Thị Trấn Hố Nai, qua Bầu Cá, Trảng Bom, Hưng Lộc, Dầu Giây, lên Kiệm Tân, Túc Trưng, Định Quán... hay về Xuân Lộc, Tân Phong, Long Giao, Gia Ray, không hiểu họ có còn nhớ chăng những ngày bi thảm tận tuyệt của đất nước vào cuối tháng 4-1975. Cũng chính tại Xuân Lộc, người dân cũng như lính tráng của miền cao su-đất đỏ, trước cuộc xâm lăng tàn bạo của giặc cộng xâm lăng Bắc Việt, đã phẫn nộ, tử chiến lần cuối cùng với rợ Hồ. Trong lúc tại Sài Gòn người ta tìm đường trốn khỏi nước, thì tại Xuân Lộc, người lính từ quan cho tới cấp binh nhì, binh sĩ quân dịch, từng giây lội trong hố máu, hầm xương, còn trên đầu thì đội bom hứng đạn, giành nhau từng vách tường cháy, đống gạch vụn, các công sự phòng thủ để giữ mạng. Tội nhất là những lính của TD2/43 đơn vị cuối cùng, đói khát chết chóc trong rừng sâu, giữa chốn ba quân, để tìm đường về cõi sống.

Bỗng dưng thấy thật u uất ngậm ngùi, khi vô tình đọc được bài cổ thi ‘Lưỡng Tây Hành’ của Trần Đào thời Hậu Hán, nói lên thảm trạng chiến tranh, đến nỗi xác của những người lính tại sa trường, đã trở thành ‘đống xương vô định cao hơn đầu‘, mà tại hậu phương những người thiếu phụ vẫn cứ mãi bên án trông chồng ngoài quan tái. Hỡi ơi mới đó mà đã ba mươi năm đoạn trường máu lệ, tóc xanh thành tóc bạc, bạn bè thân thương một còn, chín mất, lưu lạc khắp ngàn phương, khiến mất cứ mãi ngóng tìm.


‘ngày mai rồi có ngày nào,
theo chân voi trận, để vào Thăng Long...

’ Cái mộng năm xưa nay cũng còn là mộng, khiến giờ chỉ còn biết:
‘nghiêng bầu mà hỏi
thiên hạ mang mang
ai người tri kỷ
lại đây cùng ta cạn một hồ trường
hồ trường, hồ trường
ta biết rót về đâu ?

(thơ của Nguyễn Bá Trác)



Xóm Cồn tháng 3-2005

HỒ ĐINH
TD1/43/18BB-kbc 4424




THAM KHẢO :

- Chiến sử QLVNCH của Phạm Phong Dinh và Nguyễn Đức Phương.

- 55 ngày cuối cùng của Chánh Đạo

- Những ngày cuối cùng của VNCH, của Nguyễn Khắc Ngữ

- Tôn vinh Người Lính VNCH của Phạm Kim Vinh

- Nhật báo Tiền Phong, KBC hải Ngoại

- Tài Liệu của Tướng Lê Minh Đảo, Tư Lệnh SD18BB và Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế, TDT/TD2/43/SD18BB

Ðính Chánh một số chi tiết :

Ngay khi bài viết SD18BB cuả Hồ Đinh được tờ Sài Gòn Nhỏ ở CA đăng tải, đã có một số Anh Em thuộc đơn vị cũ, l/l giúp Hồ Đinh đính chính lại, ít sơ sót nhỏ, khi trình sự thành lập cuả SD.

1- Về TRUNG ĐÒAN 48 BB/Biệt lập:

Cũng giống như Trung đoàn 43 BB, trước khi trở thành đơn vị cơ hữu cuả SD18BB, Trung đoàn đã nhiều lần thay đổi danh hiệu từ 43 qua 47, nên lúc thì trực thuộc SD23BB, khi thì biệt lập, mãi tới tháng khi là một đơn vị cuả SD18BB, mới chính thức mang số 43 tới khi tàn cuộc.

Như trường hợp cuả Trung Đoàn 43, Trung Đoàn 48BB, nguyên là Trung đoàn 32 cuả SD21BB, vào ngày 6-3-1963, tại SVVT số 00326 cuả Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, chuyển đổi Trung Đoàn 32 thuộc SD 21BB, thành Trung Đoàn 48 BB-Biệt lập, còn Trung đoàn 48 biệt lập lúc đó, gồm các Tiểu Đoàn 1/48 ( tiền thân là TD 5BVN), TD2/48 (Tiền thân là TD13BVN) và TD3/48 (tiền thân là TD19BVN) trở thành Trung Đoàn 32,thuộc SD21BB.

Tháng 6/1965 SD18BB được tăng quân số, càc Trung Đoàn cơ hửu đều có thêm Tiểu Đoàn 4, vì thế TD4/48/SD18BB cũng được tân lập nhưng tới 2/1971 thì giải tán.

** Riêng Trung Đoàn 52/18BB được cải tuyển từ Trung đoàn 135 Địa Phương cuả Tỉnh Gia Định. Đơn vị này, chẳng những có TD2/52 được nổi tiếng, mà các TD1/52 và nhất là 3/52 cũng vang danh, trong trận đánh cuối cùng vào tháng 4-1975 tại đồi Móng Ngựa (Kiệm Tân - Long Khánh). ** Trong suốt thời gian từ 1965 tới ngày 30-4-1975, Trung Đoàn 48/18 trách nhiệm vùng Chiến Khu D (Bình-Phước Thành), Trung Đoàn 52/18 có tổng đàn tại Đồi Phượng Vỹ (Núi Chưa Chan, ngả ba Ông Đồn). Riêng 43/18 túc trực tại Long Khánh, để lưu động khắp vùng chiến thật trách nhiệm.

Thành thật cám ơn Đại Tá Huỳnh Bá Thành, Trung Đoàn Trưởng TrD48/SD18BB cũng là Tỉnh trưởng Bình Tuy, từ ngày 13-1-1975 tới khi Bình Tuy bỏ ngõ vào ngày 23-4-1975.

Đây cũng là một bi thảm của ngưòi lính VNCH. Trước đây theo hầu hết sử sách, đài BBC Luân Đôn, thì Bình Tuy đã mất ngay khi Phan Thiết-Bình Thuận bị thất thủ vào ngày 19-4-1975 nhưng theo lời Đại Tá Huỳnh Bá Thành, thì dù Bình Thuận đã thất thủ, Xuân Lộc được lênh rút nhưng Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn (TLQD3) vẫn bắt buộc Bình Tuy tử thủ với quân số lúc đó chỉ có 300 binh sĩ cuả 3 TD/DPQ.

Cũng may Bình Tuy sát biển, nên giờ cuối những chiến sĩ trên mới còn mạng, để trở về cõi sống và nói lên sự u uất cuả kiếp lính miền Nam.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

NGÀY QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA 19 – 6 – 2008

ANH HÙNG VÔ DANH

LINDA VŨ (MINNESOTA)


Lúc còn bé học lớp năm trường làng, bài học thuộc lòng mà tôi thích nhất là bài “Anh Hùng Vô Danh” của Đằng Phương. Trừ những lúc phải học bài, tôi nghêu ngao nó suốt ngày không biết chán: khi rửa chén, lúc bế em, ngay cả lúc ru em ngủ. Mỗi khi đọc lên tôi cảm thấy thật hãnh diện vì tôi là người Việt Nam. Tôi đã được sinh ra và sống trên một giải đất nhỏ bé nghèo nàn hình cong chữ S, nhưng là một giải đất đầy tình thương và ý chí quật cường. Nó đã được bảo vệ, nuôi nấng, hy sinh bởi biết bao công lao của các thế hệ cha ông và bằng chính máu xương của những vị anh hùng vô danh này.

Đọc bài “Anh Hùng Vô Danh” chúng ta có thể tưởng tượng được những thắng lợi lẫy lừng của tổ tiên đã anh dũng đẩy lui những cuộc xâm lăng của giặc phương Bắc, giặc phương Tây và giặc phương Nam như thế nào. Để giữ gìn bờ cõi, để bảo vệ cho sự sống của gia đình, để toàn dân Việt không rơi vào tròng nô lệ của ngoại bang, “Anh Hùng Vô Danh” đã dùng chính máu xương mình, bất chấp hiểm nguy, bất chấp gian khổ, quyết một lòng hy sinh cho đại cuộc: Cứu Nguy Tổ Quốc, Giữ Vững Sơn Hà mà không màng đến vinh hoa phú quý. Với tấm lòng trung trinh ái quốc, anh hồn các Chiến Sĩ Vô Danh đã hợp với Tổ tiên và trở thành “Linh Hồn Giống Việt”:
Họ là những anh hùng không tên tuổi,
Sống âm thầm trong bóng tối mông mênh,
Không bao giờ được hưởng ánh vinh quang,
Nhưng can đảm và tận tình giúp nước.

Họ là kẻ tự nghìn muôn thuở trước,
Đã phá rừng xẻ núi lấp đồng sâu,
Va làm cho những đất cát hoang vu,
Biến thành những dải sơn hà gấm vóc.

Họ là kẻ không nài đường hiểm hóc,
Không ngại xa hăng hái vượt trùng sơn,
Để âm thầm chuẩn bị giữa cô đơn,
Cuộc Nam tiến mở giang sơn lớn rộng.

Họ là kẻ khi quê hương chuyển động,
Dưới gót giày của những kẻ xâm lăng,
Đã xông vào khói lửa, quyết liều thân,
Để bảo vệ Tự-Do cho Tổ-Quốc.

Trong chiến đấu không nài muôn khó nhọc,
Cười hiểm nguy, bất chấp nỗi gian nan.
Người thất cơ đành thịt nát xương tan,
Những kẻ sống, lòng son không biến chuyển.

Và đến lúc nước nhà vui, thoát hiểm,
Quyết khước từ lợi lộc với vinh hoa.
Họ buông gươm quay lại chốn quê nhà,
Để sống lại cuộc đời trong bóng tối.

Họ là kẻ anh hùng không tên tuổi,
Trong loạn ly, như giữa lúc thanh bình,
Bền một lòng dũng cảm, chí hy sinh,
Dâng đất nước cả cuộc đời trong sạch.

Tuy công nghiệp không ghi trong sử sách,
Tuy bảng vàng bia đá chẳng đề tên,
Tuy mồ hoang xiêu lạc dưới trời quên,
Không ai đến khấn nguyền dâng lễ vật,

Nhưng máu họ đã len vào mạch đất,
Thịt cùng xương trộn lẫn với non sông.
Và anh hồn chung với tấm trinh trung
Đã hoà hợp làm linh hồn hồn giống Việt

Như mọi người đã biết, sau khi hiệp định Genève được ký vào ngày 20 tháng 7 năm 1954, nước Việt Nam bị chia đôi. Miền Bắc do Hồ Chí Minh cầm quyền, theo chủ nghĩa cộng sản. Miền Nam do ông Ngô Đình Diệm về nước làm Thủ Tướng, thành lập nền Đệ Nhất Cộng Hòa, theo chính thể Tự Do Dân Chủ.

Từ đầu năm 1955 với sự viện trợ của Hoa Kỳ, ông thâu nhận quân đội quốc gia từ tay vua Bảo Đại và thành lập QLVNCH. Bảo Chính Đoàn, quân của phe Bình Xuyên, Cao Đài, và Hòa Hảo, là những lực lượng do Pháp trao lại, sau đó ông tuyển mộ thêm binh sĩ. Nhiều đơn vị mới được thành lập như Dù, Thiết Giáp, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Kích, và Biệt Động Quân. Các trường huấn luyện Sĩ Quan Hải Quân và Không Quân được thành lập ở Nha Trang,. Trường Sĩ Quan Hiện Dịch ở Đà Lạt, trường Sĩ Quan Trừ Bị ở Thủ Đức. Trường huấn luyện Hạ Sĩ Quan và Bộ Binh gồm Đồng Đế, Quang Trung, Dục Mỹ, trường Thiếu Sinh Quân và trường Truyền Tin ở Vũng Tàu. Rất nhiều sĩ quan cấp Tham Mưu Trưởng đã được đào tạo tại Mỹ, Nhật và nhiều nước khác.

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH) có Cờ Vàng 3 Sọc Đỏ (là biểu tượng của Dân Tộc và Tự Do) và quốc ca là bài Tiếng Gọi Công Dân. Quân lực đó đã được sinh ra để bảo vệ tổ quốc, bảo vệ nhân dân, không phải để bảo vệ đảng và làm tay sai cho cs quốc tế như quân đội nhân dân của bọn Việt gian cộng sản. Chúng ta không thể quên những chiến trận kiêu hùng của QLVNCH như: Dakto, Daksud, Bình Giả, An Lộc, Lam Sơn 719 Hạ Lào, Plei Me, Ia Drang, Ban mê thuột, Tết Mậu Thân, Quảng Trị, Mùa Hè Đỏ Lửa, Xuân Lộc, và Hoàng Sa/Trường Sa v...v... Trong đó đặc biệt trận Plei Me/Ia Drang xảy ra năm 1965 cộng sản có ý đồ cắt miền Nam thành hai. Trận Tết Mậu Thân gây tổng nổi dậy để chiếm trọn miền Nam ép Mỹ vào bàn hội nghị. Trận Khe Sanh 1971 với ý đồ tạo một Điện Biên Phủ thứ 2, trận Xuân Lộc để tiến thẳng vào Sàigòn, và trận Hoàng Sa /Trường Sa để chiếm biển Đông.

Cựu tướng Pháp Vanuxem đã từng nhận xét: “ Khi có những người chỉ huy xứng đáng ở bên họ thì người lính VNCH không thua một người lính của bất cứ cường quốc nào trên thế giới.” (LS. Phạm Kim Vinh – Cái Chết của Nam VN, trang 419, 1976).

Vào giờ phút chót của Sàigòn, một Đ/tá Dù đã trả lời nhà báo Pháp Jean Lartéguy: “Cần nói cho mọi người biết rằng chúng tôi chết không phải vì Thiệu, vì Hương, hay vì Minh. Chúng tôi chết vì có thói quen ưa tự do.” (LS. Phạm Kim Vinh – Cái Chết của Nam VN, trang 378, 1976.)

Và Tướng Nguyễn Khoa Nam đã cho thế giới bên ngoài biết rằng ông đã chọn cái chết để bảo vệ uy tín và danh dự cho QLVNCH, tổ chức mà ông đã nguyện tự hiến dâng đến trọn đời (LS. Phạm Kim Vinh – Cái Chết Của Nam VN, Trang 423, 1976).

QLVNCH là một quân đội ưu tú, hùng mạnh ở Đông Nam Á. Một quân đội đã chiến đấu bằng trái tim nhiệt huyết, bằng khối óc và bằng niềm tự hào dân tộc với một tinh thần đồng đội rất cao. Họ chiến đấu anh dũng và hy sinh tất cả tuổi trẻ của mình để “Bảo Quốc An Dân.” Nhưng miền Nam đã phải mất vì những nguyên do chính sau đây:

- Quốc Hội Mỹ cắt viện trợ tài chánh và quân cụ cho Miền Nam. Cắt viện trợ hỏa lực phủ đầu và tiếp cứu trong những trận đánh còn lại sau ngày ký Hiệp Định Paris ngày 20/1/1973. Vì thế hôm nay Người Việt Tỵ Nạn cần phải đi bầu thật đông để áp lực quốc hội Mỹ làm đúng.

- Truyền thông Mỹ đã nói sai vì họ nhận những tin tức sai từ những nhà báo thân cộng. Bây giờ xin mọi người chú ý đến “truyền thông hải ngoại” hơn nữa. Truyền thông mạnh, dám nói lên sự thật, đưa tin nhanh và lan rộng là chúng ta thắng. Chúng ta cần liên hệ chặt chẽ với truyền thông Mỹ tại các địa phương để họ có tin tức đúng và hỗ trợ chúng ta tốt đẹp hơn. Kéo thêm bạn về phía ta, đừng tạo thêm kẻ thù, đó là trúng độc kế của VGCS.

- Chiến thuật của quân đội Mỹ là “Tìm và diệt địch, nhưng không thủ thắng”. Cho địch một hậu phương và đường tiếp tế an toàn. Trong khi đó hậu phương miền Nam bị địch khuấy phá tan nát. Kinh nghiệm đó chúng ta cần phải lột trần mặt nạ những tên nằm vùng và tay sai để đánh tan những ổ hoạt động của nghị quyết # 36, dù chúng là bạn thân hay người thân, để chúng ta có một hậu phương vững mạnh hậu thuẫn cho tiền tuyến ở trong nước. Phải nghĩ đến tổ quốc trước gia đình sau như Đức Trần Hưng Đạo hay Hai Bà Trưng. Họ đã quên thù nhà lo nợ nước trước thì mới thành công được.

- Chúng ta tất cả cũng có lỗi và sơ sót, xin để những nhà chiến lược bàn đến.

Trong Asia # 58 nhà văn Phan Nhật Nam đã nói: “QLVNCH đã thắng và đại thắng trong nhiều mặt trận để cho chúng ta được sống trong tự do 21 năm – từ 54 đế 75 – và tiếp tục chiến đấu đến hơi thở cuối cùng khi hết đạn để tất cả quý vị và tôi đến được bến bờ tự do trên khắp thế giới. Chúng ta đã và đang sống bằng MÁU và sự hy sinh cao cả của những chiến sĩ đã nằm xuống. Hôm nay chúng ta đến đây không phải để giải trí, để tưởng nhớ mà để đền tạ và tiếp nối những chiến sĩ oai hùng đó trong công việc cứu nguy tổ quốc, giành lại Tự Do và đất biển đã mất cho Dân Tộc. Mười vị tướng cùng rất nhiều sĩ quan cấp tá, cấp úy đã chiến đấu tới cùng với chiến sĩ của mình để chận bước tiến của cộng sản vào SG. Giờ phút cuối họ đã tuẫn tiết vì không muốn đầu hàng địch và vì 4 chữ “VIỆT NAM CỘNG HÒA.”

Khắp 4 biển 5 châu, chế độ cộng sản đã chứng tỏ họ là đại họa của nhân loại. Họ thành công trong sách lược tàn sát, tra tấn, bỏ tù hàng trịệu triệu người dân vô tội, nhưng họ thất bại trong việc chiếm con tim của mọi người. Ờ VN họ đang ngồi trên núi xương sông máu và đặt dân tộc VN vào xiềng nô lệ của Trung Cộng. Dưới ách thống trị của thực dân người Việt không bỏ nước ra đi. Nhưng khi cộng sản giải phóng tới đâu thì người dân ở đó phải chạy trốn. Họ chạy trốn chính những kẻ đến giải phóng họ, vì sống dưới chế độ cộng sản là một tuyệt vọng, tuyệt vọng không được làm người.

Chúng ta đi tỵ nạn để đem TỰ DO về cho quê hương. Không phải để ngủ quên và sống ươn hèn trong hưởng thụ. Xin đừng quên những oan hồn của những người đã mất và tiếng kêu than rên siết của DÂN OAN đang tranh đấu cho bất công họ đang phải chịu, cho miếng cơm, manh áo, nhà ở mà họ đã bị cướp mất.

Ai là chiến sĩ vô danh của thời đại chúng ta? Họ là:

* Trên 2 triệu thường dân và binh sĩ chết vì chiêu bài “cứu quốc” của Việt Minh từ 1945-1954. Họ đã bị lừa!

* Chương trình Cải Cách Ruộng Đất trong thập niên 1950 có 47, 000 người Bắc Việt đã bị đấu tố và bắn chết, một số bị cô lập để chết đói hoặc tự tử, gây bao đau khổ khốn đốn cho hàng trăm nghìn người thân quyến của họ.

* 1,600,000 thường dân miền Nam bị Việt cộng tàn sát trong thời kỳ chiến tranh từ 1962 đến 1975.

* 10,000 hoặc hơn thường dân miền Nam bị Việt cộng tàn sát trong vụ tấn công tết Mậu Thân.

* 20,000 binh sĩ VNCH tử trận trong vụ tết Mậu Thân (1968)

* 100,000 binh sĩ MTGPMN và cs Bắc Việt tử trận trong vụ tết Mậu Thân.

* 300,000 binh sĩ của cả hai bên và thường dân chết từ tháng giêng đến đầu tháng 5 – 1975.

* 500,000 hay hơn thuyền nhân chết trên biển Đông (bị bắn chìm, bị lật tàu, bị hải tặc giết bị chết vì đói hay bệnh, bị ngụy quân Việt gian cs cải trang làm cướp biển hãm hiếp hoặc quăng những trẻ thơ xuống biển)

* 70,000 tới 80,000 tù nhân chính trị chết trong các trại giam của cs VN từ 1975.

* Hàng trăm tù nhân chính tri chạy trốn bị bắn chết hay chết trong rừng. Một số vợ con của sĩ quan QLVNCH khi đi thăm chồng đã bị lũ coi tù trá hình làm cướp hãm hiếp, bắn giết.

* 100,000 hay hơn binh sĩ cộng sản VN tử trận và bị giết tại Cam Bốt. Hầu hết những chí nguyện quân miễn cưỡng này là thanh niên miền Nam.

* 20,000 Việt kiều hay hơn bị cáp duồn ở Cam Bốt từ 1975 tới nay.

* Vì cộng sản VN muốn: “thành phố cũ dành cho người chế độ mới. Kinh tế mới dành cho người chế độ cũ”, hàng trăm ngàn người chết tại các vùng kinh tế mới vì bệnh hay vì đói rét. Chúng thi đua vơ vét, cướp bóc và đánh tư sản ở miền Nam.

* Hàng chục nghìn người chết vì điện giựt, mìn, tàu chìm, thú rừng, bão lụt vì đê điều không được bảo trì.

* Hiện nay hàng vạn người Việt bị khủng bố, sát hại, rượt đuổi và nhục mạ tại các nước Đông âu, Cam Bốt, Thái Lan, Hồng Kông và các công nhân của các hãng xưởng tại VN đang bị chủ Trung cộng cho cán bộ đánh đập và bóc lột.

* Nhiều nhà văn đã bị tù đầy, bóp nghẹt, đàn áp trong thập niên 50 – 60 và từ sau 75.

* Hơn một triệu thương phế binh cộng sản, chưa kể thương phế binh VNCH (cố TS. Dư Phước Long - Bản Cáo Trạng 50 năm tội ác cộng sản – ông viết trước khi chưa có cuộc tranh đấu của Cha Lý).

* Cộng thêm với số người đã hy sinh ở trên, xin đừng quên trong chiến dịch “chiến tranh nhân dân” để thi hành chiến lược “lấy nông thôn vây thành thị” không biết bao nhiêu người dân đã phải chết. Ngay cả những người đã đóng góp, đã nuôi địch, kể cả những tướng cs đã thắng trận. Thật không sao kể xiết!

Họ chính là những anh hùng vô danh của thời đại chúng ta.

Chúng ta hãy ngậm ngùi, xót thương cho những chiến sĩ vô danh, và đoàn kết lại. Biến đau thương thành hành động, giải cứu cho 83 triệu người đang đau khổ và ngăn chận làn sóng đỏ Trung cộng đang muốn nuốt trôi nước Việt Nam thương yêu của chúng ta.

Theo gương quyết chí của Trần Hưng Đạo: “Đầu tôi chưa rơi xin Bệ Hạ đừng đầu hàng” toàn quân toàn dân chúng ta hãy đứng lên cứu nước. Đây là cuộc Cách Mạng Toàn Diện cho Việt Nam. Quân đội của chúng ta là tất cả mọi người: già, trẻ, nam, nữ. Vũ khí của chúng ta là lời nói để vạch trần mọi gian dối và độc ác. Hỏa lực của chúng ta là thống nhất ý chí, niềm tin quyết thắng và đoàn kết không sờn. Sức mạnh của chúng ta:

- Ở hải ngoại, gồm sức mạnh của truyền thông, các cộng đồng, các đoàn thể, các tôn giáo hợp với sức mạnh của các tổ chức của QLVNCH,- Ở trong nước, gồm tầng lớp nhân dân bị trị và những thành phần còn nặng lòng yêu nước.

Miền Nam bị cướp mất một cách gian lận sau Hiệp Định Paris nên chúng ta phải tạm ngưng để chỉnh đốn lại hàng ngũ, kiểm điểm thực lực, thay đổi chiến thuật chứ không phải đầu hàng. QLVNCH là một tổ chức chặt chẽ, được mọi người tin tưởng và kính nể, là một sức mạnh mà cs VN rất sợ. Vì thế Việt Gian cộng sản cố mua chuộc những người ham danh, ham lợi để gây chia rẽ, để làm cho sức mạnh đó yếu đi, mong rằng chúng sẽ mãi được ngồi trên chiếc ghế “độc tài đảng trị” mà Nga sô và trung Cộng đã dựng lên cho chúng.

Nhưng khối “tỵ nạn cs hải ngoại” đang thành công, sức ép của hải ngoại đã làm cho VGCS phải thay đổi. Chúng ta cần phải ép mạnh hơn nữa để công an và quân đội sẽ hợp sức với chúng ta. Quân đội của bọn Việt gian đã có rạn nứt từ 2007.

Vì lầm lỡ, dễ tin, cả nước đã bị lừa, chúng ta đã để hơn 10 triệu người phải chết một cách tức tưởi. Nhân ngày Quân Lực chúng ta hãy cùng nhau viết lên một trang sử mới cho dân tộc. Đừng chĩa mũi dùi vào nhau, tất cả hãy chĩa mũi dùi vào kẻ thù chung là đảng cộng sản VN, là chính quyền gian tham, lừa lọc và phản quốc của VGCS. Họ bóc lột người dân chỉ để phục vụ quyền lợi của Nga Tàu. Xin các anh công an và quân đội ở trong nước, các anh nằm vùng và tay sai ở hải ngoại, với tinh thần yêu nước cao độ, xin các anh hãy cùng QLVNCH và toàn dân đứng lên cứu nước, mau chấm dứt nạn giam giữ và giết người vô cớ - họ là người Việt Nam; mau giải cứu tất cả những nhà tranh đấu và những người dân vô tội đang bị giam trong các nhà tù là những địa ngục của trần gian – họ là người Việt Nam; và cứu nước Việt Nam không bị xóa tên trên bản đồ thế giới vì phải trở thành một Tây Tạng của Trung cộng.. Cầu xin anh hồn của các chiến sĩ vô danh phù hộ cho Cờ Vàng 3 sọc đỏ sẽ thay thế Cờ Đỏ Sao Vàng – một ngọn cờ đại diện cho ngoại bang, cho máu và nước mắt của hơn 10 triệu người dân Việt vô tội đã hy sinh – để toàn dân Việt Nam được sống trong TỰ DO và HẠNH PHÚC thật sự.

Linda Vũ (Minnesota)

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

GIỮ VỮNG LẰN RANH QUỐC CỘNG, PHÂN BIỆT RÕ BẠN THÙ
ĐỂ ĐẨY MẠNH CÔNG CUỘC TRANH ĐẤU CHO TỰ DO,
DÂN CHỦ TẠI QUÊ NHÀ


Tranh đấu cho 1 nước Việt Nam tự do dân chủ hầu mang lại hạnh phúc cho người dân là niềm mơ ước của mọi người dân Viê.t. Khi tình nguyện vào trường Võ Bị đại đa số chúng ta cũng mang niềm mơ ước này và chọn binh nghiệp làm phương tiện để thực hiện hoài bão to lớn đó. Trách nhiệm của người trai thời loạn cũng góp phần vào sự chọn lựa đầy ý nghĩa này của chúng ta. Chúng ta muốn trực diện cùng kẻ thù trên các trận địa, chặn đứng làn sóng tấn công của chúng trên chiến trường để bảo vệ nếp sống tự do và an bình cho người dân trên mảnh đất cuối cùng của chúng ta là miền Nam Việt Nam . Kẻ thù của chúng ta không phải là bọn ngoại xâm mà chính là những người cùng chung một huyết thống, cùng dòng giống Việt, cùng nói một ngôn ngữ, từng có chung 1 nền văn hóa. Nhưng những người anh em này chọn lựa chủ nghĩa ngoại lai Mác- Lênin, mơ ước xây dựng 1 chế độ xã hội chủ nghĩa để tiến đến chế độ Cộng sản mà họ từng mơ ước. Lãnh tụ của những người Cộng sản này là Hồ Chí Minh, người đem học thuyết Mác- Lê áp đặt lên dân tộc Việt và kể từ đó đất nước ta chìm đắm trong chiến tranh và nhân dân phải chịu muôn ngàn thống khổ. Vì vậy tuy cùng là dân 1 nước nhưng người Việt đã chia thành 2 phe rõ rệt: 1 phe “Cộng sản” quyết thực hiện “3 dòng thác cách mạng” tại quê nhà bằng mọi giá: cách mạng giải phóng dân tộc (nói là để giành độc lập khỏi sự thống trị của ngoại bang), cách mạng dân chủ, nhân dân (giành lại quyền làm chủ về chính trị cho người dân) và cách mạng vô sản (tiêu diệt giai cấp tư sản bóc lột). Giấc mơ của người Cộng sản là 1 thế giới đại đồng với tất cả các quốc gia đều là anh em cùng tin tưởng ở chủ thuyết Mác- Lênin. Ranh giới các quốc gia sẽ không còn, gia đình phải lùi bước trước xã hội và tôn giáo cũng sẽ không còn chỗ đứng vì đã có “ánh sáng Mác- Lê“thay thế. Ý thức được chủ thuyết ngoại lai này một khi được hình thành sẽ tiêu diệt toàn bộ nếp sống tự do, dân chủ của người dân và tiêu diệt toàn bộ nền văn hóa dân tộc đã hình thành trong nhiều ngàn năm qua, cả triệu dân miền Bắc đã di cư vào miền Nam và cùng nhân dân miền Nam góp công xây dựng 1 quốc gia không Cộng sản là Việt Nam Cộng Hòa.


Chế độ VNCH tuy chỉ đứng vững được 21 năm nhưng đã tỏ rõ là 1 chế độ nhân bản tôn trọng các quyền tự do căn bản của con người, đem lại cơm no, áo ấm cho người dân dù phải đương đầu với thù trong, giặc ngoài. Trong cuộc chiến chống Cộng sản miền Bắc xâm lược, 1 số chúng ta đã không giữ được lằn ranh Quốc- Cộng nên đã để cho kẻ thù xâm nhập được vào phòng tuyến của chúng ta, lung lạc ý chí chiến đấu của chúng ta và sau cùng lũng đoạn hàng ngũ của chúng ta. Cùng với một số yếu tố bất lợi khác của hoàn cảnh lịch sử, chúng ta đã bị bắt buộc phải buông súng, chấm dứt cuộc chiến khi trách nhiệm chưa hoàn thành, ước mơ chưa thực hiê.n. Đó chính là nguyên nhân thúc đẩy người cựu SVSQVB tỵ nạn Cộng Sản hiện đang định cư ở các nước từ hơn 30 năm qua vẫn tiếp nối công cuộc chống Cộng còn dở dang.


Cuộc chiến Quốc- Cộng chỉ chấm dứt trên các trận địa nhưng hòa bình thực sự thì không có và sự hòa giải dân tộc chưa bao giờ xảy ra. Cộng Sản VN trong tư thế của kẻ thắng trận đã thi hành 1 chính sách trả thù vô cùng tàn độc đối với những người mà chúng rêu rao là “được giải phóng”. Chúng ta là 1 trong các đối tượng chịu những đòn thù thâm độc nhất. Nhiều người trong chúng ta đã phải trải qua tuổi thanh xuân trong các trại lao cải ở khắp các vùng xa xôi từ Nam chí Bắc. Nhiều người bị thủ tiêu, tra tấn, đánh đập dã man hoặc chết vì đói rét, bệnh tật. Nhưng nhiều người trong chúng ta cũng còn may mắn trở về được từ những địa ngục trần gian này. Nhờ bàn tay bao dung của thế giới tự do chúng ta tìm được 1 mái ấm gia đình mới cho bản thân và gia đình. Chúng ta được hít thở không khí tự do và được sống với phẩm giá của 1 con người. Những điều này vẫn chỉ là 1 ước mơ đối với đa số người dân Việt tại quê nhà hiện nay. Vậy chúng ta có thể nào tự bằng lòng với những gì mình đang được thụ huởng, cho rằng mình chiến đấu đã quá đủ và trả giá cũng đã quá đủ hay không? Chúng ta có thể thờ ơ với những gì đang xảy ra cho đồng bào tại quê nhà và dửng dưng với những nỗ lực của đồng hương tỵ nạn Cộng Sản đang tranh đấu chống sự xâm nhập của Cộng Sản ngay tại mảnh đất trú thân cuối cùng của chúng ta và con cháu hay không? Đã hơn 30 năm sau khi miền Nam Việt Nam rơi vào tay quân Cộng Sản miền Bắc xâm lược, lằn ranh Quốc-Cộng vẫn còn đậm nét trong lòng những người Việt quốc gia yêu nước, yêu tự do, dân chủ. Họ không thể nào chấp nhận hòa hợp, hòa giải với Cộng Sản vì những người này chưa bao giờ thực lòng chấp nhận những ai đi ngược lại đường lối, chính sách của họ. Có thể nói Quốc gia và Cộng Sản là 2 phe đối nghịch nhau như nước và lửa.


Một số người cho rằng Cộng Sản đã thay đổi rồi nên đâu cần phải chống chúng. Họ chỉ nhìn thấy sự thay đổi ở cái bề mặt hào nhoáng, các tụ điểm ăn chơi tấp nập, các khách sạn 5 sao sang trọng, các số tiền đầu tư to lớn được đổ vào thị trường kinh tế VN để rồi thấy phấn khởi cho tương lai của đất nước và dân tô.c. Họ không ý thức được rằng chỉ có 1 thiểu số cán bộ cầm quyền và bè lũ tay sai được hưởng phúc lợi của những món tiền đầu tư to lớn này, còn đại đa số dân thường vẫn sống trong lầm than, nghèo đói và đất nước đang dần dần mất đi sự độc lập và chủ quyền quốc gia vì CSVN lợi dụng vị thế độc tôn của mình để cắt đất, dâng biển cho đàn anh Trung Cô.ng. Họ không thấy được đằng sau nếp sống xa hoa kia là cả 1 thế giới tối tăm vô vọng của những gia đình phải để con gái bán thân và để con trai bán sức lao động tại nước ngoài. Cộng Sản Việt Nam có thể thù chúng ta là những kẻ bỏ nước ra đi nhưng chúng cũng chẳng đem lại cuộc sống ấm no gì cho người dân trong nước, chẳng độc lập, không tự do và tất nhiên cũng không có hạnh phúc nữa. Cuộc chiến Quốc- Cộng giờ đây là cuộc chiến của những người yêu chuộng tự do, dân chủ và những tội đồ của dân tộc: những kẻ buôn dân, bán nước với lòng tham vô đáy: tham quyền, tham tiền, tham danh, tham lợi….


Chúng ta có đủ tư cách tham gia cuộc chiến Quốc-Cộng này hay không? Thứ nhất đây vẫn là trách nhiệm của chúng ta, những người trai tự nguyện đem tuổi trẻ và nhiệt huyết cống hiến cho đất nước và dân tộc, quyết tâm xây dựng 1 nước Việt Nam tự do, dân chủ, những lý tưởng cao cả của con người. Thứ hai, chúng ta được hoàn cảnh tạo cho mình những điều kiện thuận lợi để tôi luyện ý chí, rèn luyện kỹ năng. Thời gian quả đã khiến nhiều anh em trong chúng ta nhụt mất ý chí và mất định hướng tranh đấu nhưng số anh em chúng ta còn nuôi dưỡng được nhiệt huyết với quốc gia, dân tộc không phải là nhỏ. Một số bạn tương đối còn trẻ còn có cơ hội trở lại trường học tiếp bậïc đại học và học lên đến cao học hay tiến sĩ. Đây là những thành phần chất xám rất đáng quý của chúng ta. Nếu chúng ta biết sử dụng những tri thức thu nhập được tại xứ sở tạm dung này vào công cuộc tranh đấu cho tự do, dân chủ tại quê nhà, cuộc tranh đấu này sẽ có 1 luồng gió mới và chắc chắn sẽ đạt được nhiều thành quả hơn trong tương lai. Điều quan trọng là tổ chức của chúng ta biết xây dựng cho tập thể chúng ta 1 ý thức trách nhiệm đúng đắn, 1 lý tưởng vững mạnh để chống lại sự tuyên truyền nguy hiểm của kẻ thù. Còn nếu chúng ta không còn trẻ nữa thì mình vẫn còn có thể đóng góp cho công cuộc tranh đấu chung bằng các kinh nghiệm quý giá của bản thân. Sự hướng dẫn đứng đắn của các bậc đàn anh luôn luôn là những bài học quý báu đem lại niềm tin cho thế hệ đàn em và cho các cháu Thanh Thiếu Niên Đa Hiệu.


1 điều nữa chúng ta không thể quên được là dù chúng ta có dễ dãi với kẻ thù và muốn quên đi quá khứ để yên thân với hiện tại, chúng cũng không để chúng ta yên thân. Chắc chúng ta chưa quên những lời nói miệt thị mà CSVN dành cho những người bỏ trốn khỏi chế độ của chúng. Chúng coi những người di tản khỏi đất nước khi miền Nam rơi vào tay CS tháng 4 năm 1975 hay những người vượt biên sau này là “thành phần cặn bã của xã hội, chạy theo đế quốc để hưởng bơ thừa, sữa cặn”. Ngày nay, chứng kiến sự thành công của họ tại hải ngoại, chúng lại muốn khống chế người Việt hải ngoại để họ đem tiền bạc về cho chúng hưởng lợi. Cuộc tranh đấu của chúng ta bước sang 1 trang mới, với những khó khăn mới. Kẻ thù của chúng ta bây giờ dùng những thủ đoạn gian manh, tinh vi hơn để mong đánh lừa chúng ta 1 lần nữa. Chúng ta còn gặp nhiều khó khăn hơn xưa vì ngoài kẻ thù rõ mặt là bọn cán bộ CS, chúng ta còn phải đối phó với “nội thù”. Bọn này còn nguy hiểm và khó thắng hơn cả bọn cán bộ CS vì chúng nằm ngay trong hàng ngũ của chúng ta. Chúng biết ta mà có khi ta không biết được những âm mưu của chúng. Chúng phá ta mà đôi khi ta cứ tưởng chúng là bạn nên không đối phó được. Đến khi chuyện xảy ra và biết được kẻ thù là ai thì mọi chuyện đã quá trễ: tác hại đã xảy ra, lực lượng bị tiêu hao và sự đoàn kết đã mất đi nhiều.


Nhìn vào tình trạng của cộng đồng người Việt tỵ nạn CS tại hải ngoại hiện nay chúng ta phải công nhận 1 trong những nhược điểm của chúng ta là quá dễ dãi trong vấn đề phân biệt bạn-thù, không giữ vững lằn ranh Quốc- Cộng nên đã để mất định hướng, không tập họp đúng lực lượng và để kẻ thù len lỏi quá sâu vào hàng ngũ chống Cộng. Trong nhiều năm chúng ta còn nuôi dưỡng cho kẻ thù của chúng ta lớn mạnh để sau này khi có điều kiện thuận lợi chúng không ngần ngại phá hoại hàng ngũ của chúng ta. Hãy nhìn vào các hiện tượng như tuần báo Việt Weekly công khai ca tụng CSVN, nhật báo Người Việt tại Nam California ca tụng lãnh tụ CS và nhục mạ quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ, ca sĩ hải ngoại tổ chức chương trình ca nhạc để tưởng niệm Trịnh Công Sơn, tên Cộng Sản nằm vùng nguy hiểm, kẻ đã dùng những dòng nhạc ủy mị, phản chiến để lung lạc ý chí tranh đấu chống Cộng của quân dân miền Nam, các tăng sĩ chủ trương cộng tác với bạo quyền để được an thân hành đạo, làm việc thiện, làm văn hóa và công khai chống lại các tăng sĩ chủ trương phải tranh đấu để có tự do tôn giáo đích thực. Hãy nhìn vào các thương gia sống và làm giàu nhờ vào đồng hương tỵ nạn CS nay quay sang bắt tay với kẻ thù để thủ lợi nhiều hơn. Hãy nhìn quanh ta để thấy không thiếu gì những ca sĩ về nước ca hát đánh bóng cho bạo quyền CS và nói xấu đồng bào hải ngoại… Những kẻ đón gió, trở cờ loại này càng ngày càng nhiều.


Chúng ta có nên thất vọng và buông tay đầu hàng hay không khi hoàn cảnh cho thấy chúng ta gặp rất nhiều bất lợi trong 1 cuộc chiến không cân sức như hiện nay? Kẻ thù của chúng ta nắm trọn quyền hành trong 1 đất nước thống nhất nên tài nguyên, nhân lực đều quy về 1 mối. Kẻ thù của chúng ta lại gian ác và sẵn sàng thi hành mọi thủ đoạn hiểm độc để lũng đoạn hàng ngũ của chúng ta. Chúng dùng hết nghị quyết này đến nghị quyết khác để khống chế hơn 3 triệu người Việt tỵ nạn CS tại hải ngoại tuy chỉ là thiểu số so với hơn 80 triệu dân trong nước nhưng có 1 ý chí kiên cường và 1 tấm lòng tha thiết với tiền đồ của đất nước. Thực tế cho chúng ta thấy dù phải đối phó với mọi âm mưu thâm độc của CS và tay sai (bọn Việt gian sẵn sàng thi hành kế sách của CS để phá hoại sự đoàn kết và làm tiêu hao lực lượng của chúng ta), chúng ta vẫn kiên quyết không lùi bước trước sự tấn công và phá hoại của chúng. Sự kiện Trần Trường năm 1999 tại Nam California là 1 tập họp ngoạn mục của những người dân không chấp nhận sự hiện diện của các biểu tượng CS tại thủ đô của người Việt tỵ nạn CS tại Hoa Kỳ. Chiến dịch vinh danh cờ VNCH tại nhiều tiểu bang, các quận hạt và thành phố tại Hoa Kỳ cho thấy ý chí cương quyết bảo vệ căn cước tỵ nạn của chúng ta. Các công trình xây dựng các đài tưởng niệm chiến sĩ để nêu cao chính nghĩa quốc gia và vinh danh các anh hùng tử sĩ vị quốc vong thân tại các cộng đồng có đông dân Việt tỵ nạn CS chứng tỏ chúng ta không quên lịch sử tỵ nạn CS của cộng đồng người Việt. Và mới đây nhất cuộc tranh đấu trường kỳ của đồng hương San Jose để bảo vệ danh xưng Little Saigon cho 1 khu thương mại của người Việt, đồng thời cũng là để bảo vệ căn cước tỵ nạn chính trị chống lại sự lạm quyền của 1 số chức sắc dân cử có hành động phản dân chủ và có biểu hiện phục vụ cho những kẻ làm hại cho công cuộc chống Cộng của chúng ta. Đây là những thành quả đáng trân trọng trrong cuộc chiến Quốc –Cộng hiện nay.


Lý tưởng mà chúng ta chọn lựa là 1 lý tưởng đúng đắn. Tranh đấu cho Việt Nam có tự do, dân chủ thực sự là trách nhiệm của tất cả mọi công dân yêu nước. Muốn thế chúng ta phải có ý chí vững mạnh, có quyết tâm cao độ và phải chịu hy sinh. Không có thành quả nào có thể đạt được mà không tốn mồ hôi, nước mắt và có khi cả xương máu nữa. Nhưng có những sự hy sinh chúng ta không thể từ chối được nếu đó là giá phải trả cho một cuộc sống có phẩm giá, cho sự trường tồn của 1 nền văn hóa và sự sống còn của 1 dân tộc. Trong cuộc tranh đấu trường kỳ Quốc- Cộng này, chúng ta cần khắc phục 1 nhược điểm lớn: đừng coi thường kẻ nội thù, phải biết nhận diện và cô lập bọn người này để thanh lọc hàng ngũ và giữ vững sự đoàn kết. Chúng ta hẳn còn nhớ chuyện An Dương Vương ngày xưa mất cả vươngï nghiệp không vì kẻ ngoại xâm mà chính vì kẻ nội thù. Chính con gái của nhà vua đã vô tình giúp kẻ thù làm sụp đổ cơ nghiệp của phụ vương khiến đất nước rơi vào sự thống trị của ngoại bang. Biết được kẻ nộâi thù là ai, nhà vua đã can đảm vung gươm giết ngay, dù đó là con gái của chính mình. Trong hàng ngũ các cựu SVSQ Võ Bị, chúng ta không thiếu các tấm gương sáng sẵn sàng hy sinh vì cuộc tranh đấu cho tự do, dân chủ tại quê nhà. Nhưng nếu các hoạt động của các cá nhân hay các hội địa phương được nhân lên thành 1 phong trào và Tổng Hội mạnh dạn hỗ trợ cho các hoạt động đúng đắn phù hợp với tôn chỉ của TH thì kết quả đạt được sẽ nhiều hơn và có ý nghĩa hơn. Chúng ta cần đoàn kết các thành phần cùng chung ý chí nhưng cương quyết loại trừ các thành phần có tư tưởng yếm thế, chủ bại, có hành động gây hại cho công cuộc tranh đấu chống Cộng của chúng ta.


Nhìn vào thực trạng xã hội Việt Nam hiện nay sau hơn 30 năm Đảng Cộng Sản Việt Nam thống trị đất nước, tôi thiết nghĩ tập thể cựu SVSQVB cần tạo 1 sự đoàn kết lớn mạnh, thống nhất ý chí để cùng nhau hành động hữu hiệu trong cuộc chiến Quốc-Cộng đang tiếp diễn gay gắt hiện nay tại hải ngoa.i. Ban Chấp Hành Tổng Hội cần sáng suốt và chủ động trong việc lãnh đạo các hội địa phương để các cựu SVSQVB được tập họp thành 1 khối vững chắc biết hành động đúng đắn để có thể đạt được những mục tiêu cao đẹp do Tổng Hội đề ra. Lịch sử đã chứng minh Hồ Chí Minh và tay sai của ông ta là các tội đồ của dân tộc, quá trình hoạt động của Đảng CSVN là 1 quá trình dối trá, lường gạt nên chúng ta không thể để bị chúng lừa thêm 1 lần nữa.


Chúng ta dứt khoát không chấp nhận hòa hợp, hòa giải với Cộng Sản như bè lũ tay sai của CS đang nỗ lực tuyên truyền, vận động mà phải dứt khoát tư tưởng và kiên trì trong cuộc chiến Quốc-Cộng hiện nay. Góp 1 phần trong cuộc chiến này, chúng ta có thể hãnh diện mình đã tiếp tục sống theo lý tưởng của người cựu SVSQ/TVBQGVN.



Nguyễn Quốc Đống, K.13 SQ/VBQG Dalat
Tháng 4, 2008
band4 3G McKeno

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image


ANH THUẦN: NGƯỜI PHÓNG VIÊN QUÂN ĐỘI VNCH DŨNG CẢM



Ký giả Anh Thuần tên thật là Phan Bá Thuần Hậu, sinh năm 1937 tại quận Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận. Trước khi về Phòng Báo Chí QĐ, Cục Tâm Lý Chiến anh đã cộng tác với các nhật báo, tuần báo dân sự như Chuông Mai cuả ông Hoàng Phố, Ngày Mới cuả ông Cồ Việt Tử…với bút hiệu Hoàng Long và Phóng Viên Kính Trắng.
Là một ký giả kiêm phóng viên chiến trường độc thân, Anh Thuần
luôn luôn có mặt tại Phòng Báo Chí Cục Tâm Lý Chiến để sẵn sàng lên đường bất cứ lúc nào, ngày cũng như đêm bằng mọi giá theo các cánh quân hầu kịp thời thâu thập tin tức và hình ảnh để cung cấp cho Đài Tiếng Nói Quân Đội, nhật báo Tiền Tuyến và các báo dân sự khác, kể cả báo của người Trung Hoa.


Những tin tức chiến sự nóng hổi và hình ảnh trận chiến cháy bỏng cũng như các cuộn băng phỏng vấn tù hàng binh được gởi về tòa soạn và đài phát thanh liên tục để cống hiến thính giả và độc giả khắp 4 quân khu và những bản tường trình tại mặt trận của anh đã được hoan nghênh nhiệt liệt. Anh còn là người phụ trách phụ trang Phóng sư hình ảnh của tờ Tiền Tuyến.


Anh Thuần xem việc đi làm phóng sự chiến trường tại 4 vùng chiến thuật của người phóng viên là một niềm vinh dự và là một thử thách lòng dũng cảm cũng như khả năng chuyên môn, vì thế anh đi liên tục. Mới từ vùng 4 về anh xin sự vụ lệnh đi vùng 2. Đêm nay ở Pleiku, sáng mai ở An Lộc. Buổi trưa ăn dã chiến ở Khe Sanh, buổi tối có mặt tại Chương Thiện…


Tôi và Thuần quen nhau đã trên 10 năm trước khi tôi gia nhập đoàn phóng viên QĐ Cục TLC. Nhưng sau này vì tình hình chiến sự gia tăng, tôi và anh ít có dịp đi dạo, bát phố Sàigòn vì cả 2 chúng tôi đều là phóng viên tiền tuyến. Mỗi đứa phải theo một đơn vị hành quân, vùng chiến thuật khác nhau. Mỗi toán phóng viên đi công tác thường có 4 người thuộc các ngành: Báo chí, Phát thanh, Truyền hình và Điện ảnh. Vì thế tôi và Thuần khó có dịp đi chung. Hôm nào được “xả hơi” - nếu không về nhà em anh là anh Phan Bá Thụy Dương thì Thuần đến nhà tôi. Hai đứa lai rai, chén chú chén anh, kể cho nhau nghe đủ thứ chuyện trên trời dưới biển, tâm sự lôi ra hết, suốt đêm không ngũ. Anh kể cho tôi nghe những cuộc tiến quân nhịp nhàng, dũng cảm, thần tốc của các quân binh chủng mà anh đã từng tham dự.


Anh Thuần đã luôn bám sát các cuộc hành quân với những trận đánh lớn trên khắp 4 quân khu, trong đó có những vùng hỏa tuyến dử dội như Khe Sanh, Quảng Trị, Phù Cát, Phù Mỹ, U Minh thượng, U Minh hạ, Mỏ Cày, Giồng Trôm, Vĩnh Bình và Long Khánh… Khi 2 mặt trận Kontum và Bình Long vào lúc dầu sôi lửa bỏng anh đã cùng bị kẹt với các đơn vị bị bao vây. Cộng quân pháo kích như mưa, T.54 mở đường cho bộ binh địch ồ ạt tiến công nhiều ngày. Nhưng với lòng dũng cảm, sức chiến đấu kiên cường của quân lực ta, đồng thời với sự xuất hiện, yểm trợ kịp thời của Không quân và Pháo binh buộc địch phải rút lui và Anh Thuần mới có dịp từ giã trận địa với những tài liệu, hình ảnh hiếm hoi, quí báu.


Trong những thời kỳ sôi động như thế này các phóng viên chiến trường của Cục đều hiện diện để nhận công tác, mà AT thì dĩ nhiên là người đứng trong hàng tiền đạo. Điều này cũng dể hiểu vì anh là người chưa vương bận thê nhi lại ưa xông vào nơi lửa đạn, bất chấp gian nguy. Anh gan lì đến nỗi nhiều anh em đã thường đùa bảo anh là người điếc không sợ súng, cùi không sợ “lửa đạn” vi xi [VC]. Nhờ thường có mặt từ giờ xuất quân đến lúc kết thúc cuộc chiến với các quân binh chủng nên anh đã viết, viết rất nhiều về các trận đánh, về sự kiêu hùng và lòng quả cảm của các chiến sĩ trong QLVNCH.


Một điều đáng ghi nhận là anh đến đơn vị nào cũng được thương mến. Từ đơn vị trưởng đến các chiến binh đều coi Thuần như người thân trong gia đình. Khi anh thiếu, họ chia xẻ cho anh từng điếu thuốc lá, từng gói cơm sấy… Nếu đêm nào ở lại đơn vị công tác, AT thường ngồi tâm sư., hay gác chung với anh em, với bộ quân phục rộng thùng thình mà anh mặc đã làm mọi người cảm động. [Khi có phóng viên đến nơi công tác thì đơn vị trưởng thường tặng, cấp cho 1 bộ quần áo, giầy, nón sắt 2 lớp để phù hợp, thích nghi với các quân nhân tại chổ. Vì thế có nhiều phóng viên khi về Sàigòn vẫn mặc “trang phục” oai như lúc tháp tùng đơn vị hành quân.]


Cuộc hành quân hỗn hợp Lam sơn 719 cấp Quân đoàn đánh vào sào huyệt đầu não của Việt cộng trên phần đất hạ Lào và cuộc hành quân đánh vào cục R của Trung ương cục CS miền Nam tại vùng Mỏ vịt trên đất Kampochia do Quân đoàn 3 điều động cũng không thiếu sự hiện diện của anh. Cả 2 cuộc hành quân san bằng ổ giặc Cộng tại Long toàn và Ba động thuộc tiểu khu Vĩnh Bình, vùng 4 Chiến thuật, anh cũng vui vẻ tham dự.


Đặc biệt là lần này AT theo cánh quân của Tiểu đoàn 404 ĐPQ biệt lập thuộc vùng 4/CT do Thiếu tá Ngô Gia Truy làm Tiểu đoàn trưởng đưa quân vào mật khu Ba động, phá tan sào huyệt này, nơi mà chúng thường huyênh hoang là bất khả xâm phạm. ( Tôi xin mở ngoặc để nói qua về đơn vị biệt lập này. TĐ 404 ĐPQ được thành lập do quyết định của BTL Quân đoàn 4, Vùng 4 CT với nhiệm vụ lùng và diệt địch, phá vỡ các căn cứ hậu cần địa phương của VC. Các chiến sĩ của tiểu đoàn là những thanh niên Việt, Miên thuộc tỉnh Vĩnh Bình và các vùng phụ cận nên họ rất am tường địa hình, địa vật và được huấn luyện kỹ càng chiến thuật tấn công thần tốc vào các mật khu của địch. Quân phục và vũ khí của các tay “hảo hán” này được trang bị y như các đơn vị VC.)


AT bám theo toán tiền sát gồm 3 chiến sĩ âm thầm bò sát đến con rạch bên hông cơ quan địch. Anh em vừa định lội qua thì bị đội cảnh vệ VC tấn công dữ dội. Hai chiến sĩ ta hy sinh. Địch quân ồ ạt tiếng công với ý định bắt sống AT và người tiền sát còn lại đang đơn độc chống trả, chờ đồng đội lên tiếp ứng. Trong lúc nguy cấp, Thuần lấy ngay quả lựu đạn trên tay người bạn tử thương, rút chốt tung về phiá giặc đang xông tới, một tiếng nổ dữ dội và 3 tên VC ngã gục. Thừa dịp AT nhanh tay liên tiếp tung bồi thêm 2 quả nữa buộc địch quân khựng lại. Vừa lúc ấy 3 cánh quân của ta đã siết chặt vòng vây. Trận ác chiến chỉ kéo dài 40 phút thì các chiến sĩ 404 ĐPQ đã san bằng căn cứ địch với kết quả: tiểu đoàn lưu động VC tỉnh Trà Vinh bị xóa tên. Ta bắt sống 1 huyện ủy, 1 giặc cái tiểu đoàn trưởng có biệt danh “ nữ tướng vú dài” - một ác quỷ khét tiếng miền Tây và nhiều cán binh VC. Ngoài ra, ta còn tịch thu một số tài liệu quan trọng cũng như các loại vũ khí cộng đồng và cá nhân.


Trong dịp này phóng viên quân đội AT đã được BTL Quân đoàn 4 trao tặng giấy tuyên dương gởi về Cục TLC vì đã anh dũng diệt địch cứu bạn.


Vào “ mùa Hè đỏ lửa” AT ít khi có mặt tại thủ đô. Người PV gan dạ này luôn hăng say với nhiệm vụ trên khắp các chiến trường sôi động. Tại biển Đông anh cũng bám theo chiến hạm Trần Khánh Dư trong trận hải chiến với Trung Cộng ở Hoàng Sa. Những bài tường thuật trên báo chí và đài phát thanh của Thuần được loan tải liên tục không thiếu sót.


Vì nhu cầu tin tức trong lúc chiến trường đang hết sức sôi động nên Cục TLC phải tung các PV ra 4 quân khu, nhất là tại Vùng 1. Cuối năm 1972 tôi được lệnh ra Vùng 1 để tăng cường cho toán PV đang công tác tại đây. Tôi rất mừng có dịp làm việc chung với AT trong lúc này, nên tôi vội thu sếp hành trang đầy đủ cho chuyến công tác dài hạn đó. 7 giờ sáng tôi đã có mặt tại phi trường Tân Sơn Nhất để lên chuyến C130 của không lực Hoa kỳ bay ra Huế.


Sau 65 phút bay phi cơ hạ cánh nhẹ nhàng tại phi trường Phú bài. Vừa bước ra khỏi phi cơ tôi đã nhìn thấy AT đang đổ mắt nhìn về phía hành khách quân nhân lần lượt đi ra. Thuần nhận ra tôi rất dể vì tôi là hành khách VN và mặc thường phục. Thuần vội chạy ra ôm tôi, cả 2 chúng tôi cùng im lặng trong nỗi vui mừng. Một lúc lâu Thuần dẫn tôi ra cổng phi trường.

Tại đây, tôi được nhà văn Phan Du, trưởng ban Chương trình và ký giả Hoàng Quy trưởng ban Tin tức, Thời sự đài phát thanh Huế ra đón. Anh Phan Du cho biết là đã thuê phòng ở khách sạn Hương giang cho tôi trong suốt thời gian công tác tại Vùng 1. Hoàng Quy đưa ý kiến là trước hết, chúng tôi ra chợ Đông ba ‘lai rai” đã, sau hãy bàn việc nghỉ ngơi.


Đêm hôm ấy 4 chúng tôi hẹn nhau ra Phú cam chơi vì có thêm 3 PV nữa vừa được gởi ra tăng cường. Đó là các anh Mỹ [Mỹ Voi]: PV Điện ảnh, Văn Tuế và Ngọc Bình: PV Truyền hình. Cả bọn 7 anh em chúng tôi vừa uống được mấy chai thì toán tuần tiểu hỗn hợp của tiểu khu ập đến. Họ chả cần hỏi han gì, mà chỉ yêu cầu chúng tôi theo họ về đồn Quân cảnh. Tại đây, người thượng sĩ đồn trưởng yêu cầu chúng tôi xuất trình Công tác lệnh, giấy phép mang súng. AT gom tất cả giấy tờ giấy tờ để trước mặt người đồn trưởng, ông ta chẳng xem xét gì cả, lùa hết chứng từ tùy thân của chúng tôi vào ngăn kéo bàn rồi bảo chúng tôi:

- Các anh ngồi đây, sáng mai chúng tôi giải quyết.


Nói xong anh ta bỏ đi vô trong. Bất mãn trước thái độ của người Thượng sĩ đồn trưởng, tôi đề nghị anh Hoàng Quy gọi về Tiểu khu báo cáo sự việc [HQ là nhà binh, cấp bậc Đại úy]. Độ 30 phút sau một vị Trung úy CTCT Tiểu khu cùng với người tài xế đến đồn QC. Đến lúc này ông Thượng sĩ già mới lôi đám giấy tờ của chúng tôi ra xem và nói với Tr/U CTCT:

- Mấy ông này vô kỷ luật lắm. Ăn mặc lính chẳng ra lính, dân chẳng ra dân nên chúng tôi bắt về đây.

Vị sĩ quan CTCT nói cho người đồn trưởng biết chúng tôi là PV của Cục TLC vừa được phái ra Vùng 1 công tác. Trong bọn chúng tôi, có người là quân nhân, có người là công chức quốc phòng nên việc mặc quân phục không bắt buộc theo nguyên tắc. Người đồn trưởng QC nhìn bọn tôi rồi mỉm cười lắc đầu:

- Dù các anh là nhà báo cũng phải tôn trọng quân phong, quân kỷ chứ, mong các anh hiểu như thế… Sau cùng anh ta trả lại giấy tờ cho chúng tôi. Cả bọn leo lên chiếc xe 4x4 về Đài Phát thanh.


Hôm sau chúng tôi được khối CTCT Tiểu khu cho biết Trung tướng Tổng Cục trường TC/CTCT ra Huế chủ tọa cuộc họp các vị Trưởng khối CTCT Quân khu 1 vì thế chúng tôi phải đình chuyến đi Quảng Trị đến ngày hôm sau để làm phận sự tường thuật cuộc họp trên Đài phát thanh và báo chí. Buổi chiều sau khi tiếp xúc với Đại tá Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng xong, Trung tướng cho gọi bọn tôi đến trình diện. Sau khi chào kính, ông bảo 5 người chúng tôi ngồi và nhỏ nhẹ nói:

- Việc các em bị “tóm”, khối CTCT đã trình tôi.

Ông nhìn chúng tôi với ánh mắt hiền từ và tiếp:

- Từ nay các em đi công tác phải hết sức giữ gìn tác phong một người phóng viên quân đội. Các em đại diện cho ngành CTCT đến địa phương công tác, nhớ đừng khi nào làm tổn thương danh dự của ngành. Tôi mong các em hiểu nhiều trong điểm này. Đây tôi tặng 5 em món tiền nhỏ này để đi cắt tóc và giải lao.


Ông móc trong túi ra trao cho 5 đứa tôi 10 ngàn đồng rồi quay sang nói với Đại tá TKT:

- Mấy thằng em này vất vả lắm, nếu khi được xả hơi chúng nó có bừa bãi điều gì anh thông cảm cho bọn chúng nhé.

Những lời giáo dục của người Mẹ nhân từ, khoan dung đức độ cùng những lời che chở hết sức “chính trị” của vị chủ tướng làm cả bọn chúng tôi vô cùng cảm động. Mặc dầu chỉ là một PV hạng bét nhưng nhờ nghề nghiệp mà tôi thường xuyên được diện kiến với các vị “Sao” và chư vị “Sấm, Sét” nên lần này được Sao chủ tướng chiếu mạng lại là sao thái dương nên bọn tôi vui mừng quá đỗi.
Mưới ngàn đồng của chủ tướng cho, “ngũ quỷ” chúng tôi chả cắt tóc tai gì mà cả bọn kéo nhau ra chợ Đông ba đánh chén - lẻ dĩ nhiên là có sự hiện diện của nhà văn Phan Du và ký giả Hoàng Quy của đài phát thanh Huế, và cũng không thể vắng mặt người sĩ quan CTCT đã “giải cứu” chúng tôi đêm hôm trước.

Trong lúc anh em đang lai rai thì Mỹ Voi nói:
- Chúng mình phải làm việc hết mình, phải làm thật đẹp để đáp đền lòng ưu ái của ông tướng chứ.
Thiếu úy Bình đáp:
- Hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao phó, dù có chết cũng vui lòng.

Câu nói này không ngờ thật linh nghiệm. Bình đã đền nợ nước tại chiến trường Quảng trị. AT thì góp máu ở Khe sanh, còn tôi thì gởi lại Quảng Đức nửa ngón tay đeo nhẫn. Sau 20 ngày công tác tại Quân khu 1, chúng tôi chia tay. AT bay về Quân đoàn 2, tôi về Chương Thiện.

Sau những ngày theo cánh quân của Trung tá Võ Ân [thời gian đó] tham chiến ở vùng tam biên, AT về Sàigòn, anh đến nhà tôi tâm sự:

- Quả thật tao không ngờ lại thoát lần này ở Quảng Đức. Tao bị VC đuổi bắt, nên lạc vào một xã người Thượng – băng qua nhiều nơi toàn là mìn, lựu đạn gài và hầm chông, mạng sống như ngàn cân treo sợi chỉ. Mỗi khi nghĩ đến tao còn hú vía, tâm trí bang hoàng. Tao có cảm tưởng như vừa từ cõi chết về nơi sống an toàn vậy.


Mỗi lần trở lại thủ đô và chưa có công tác thì AT thường rủ một số bạn bè rất thân đến nhà tôi như nhà văn Nguyễn triệu Nam, nhà thơ Huy Thanh, ký giả Nguyễn Lê, giáo sư Hán văn Nguyễn bá Hùng tức Thầy Khoá Tư và nhà văn Hà ngọc Ngân. Anh em tâm sự hàn huyên, chén anh chén tôi cho tới sáng. AT là người ít nói nhưng tình cảm dạt dào. Mỗi lần chia tay nhau Thuần thường đứng lặng người nhìn bạn thật lâu rồi mới bước đi. Tôi nhìn theo anh trong lòng đầy thương mến, thương mến người bạn chí thân lúc nào cũng sẳn sàng dấn thân vào lòng lửa đạn, hiểm nguy.
Ngày 30-04-75, như thường lệ, tôi đến phòng báo chí QĐ làm việc lúc 8 giờ. Hôm đó phòng vắng tanh, cả nhân viên trực cũng như nhân viên văn phòng đều vắng mặt, chẳng có ai. Tôi nhìn lên bảng ghi công tác thấy tờ giấy Công tác lệnh ghim trên đó và một hàng chữ của anh Đặng trần Huân dặn: “Cậu lên Suối Máu thay cho AT để AT đi Kiến Tường”. Tôi gỡ tờ CTL, mở hộc tủ lấy máy ảnh và bỏ khẩu 765 vào túi quần lên Honda phóng vội đi mà trong lòng ngao ngán.

Qua khỏi cầu Thị Nghè, thấy đồng bào xôn xao, kẻ lên người xuống hớt hải, sợ sệt. Sự việc này chúng tôi đã biết từ sáng 28. Nhưng biết chỉ để mà biết thôi, còn phận sự thì vẫn phải thi hành. Tôi lao Honda như bay về hướng Thủ đức. Vừa đến ngã ba Cát lái thì nghe tiếng gọi: “Ê Ngọc, mày dừng lại”. Tôi đạp thắng, nhìn qua đường thì thấy AT ngồi sau Honda của một quân nhân mang phù hiệu Sư đoàn 18. Thuần kêu tôi lại gần và bảo:
- Tan hàng rồi. Mày về lo cho vợ con mày đi thôi.
Thấy trên cánh tay anh còn ướt máu, tôi hỏi:
- Mày bị thương hả, có nặng không? Tao đưa mày đến nhà thương nhé.
- Không cần, tao phải về nhà thằng Thụy Dương em tao để thuyết phục nó “dzọt”. Mày hãy cẩn thận., đi đi, tao sẽ gặp mày sau. Nói xong, AT dục người bạn chạy xe đi ngay.

Tôi quay lại Cục TLC thì gặp anh Đặng trần Huân đứng nói chuyện với Trung tá Tạ Tỵ, tôi hỏi anh:
- Tính sao đại ca? Anh nhìn tôi cười buồn:
- Còn tính sao nữa! Về lo cho gia đình đi. Có gì lạ tôi cho biết sau.
Tôi chào từ giã 2 anh ra xe về quận 4.

Đầu tháng 7/75 tôi nhận được giấy gọi đến số 2 bis Hồng thập tự trình diện ủy ban quân quản cùng với các anh em báo chí độ trên 40 người. Trong số đó có vài anh em làm việc chung với tôi, nhưng không có Anh Thuần.. Sau đó họ đưa chúng tôi đến giam ở số 4 Phan đăng Lưu [bên cạnh tòa hành chánh Gia định cũ]. Bốn tháng sau họ đưa tôi đến trại giam Núi Dinh thuộc tỉnh Bà Rịa. Trại này là nơi giam cầm những người làm văn nghệ. Trong thời gian này tôi không nghe tin tức gì của Thuần cả. Giữa năm 78, tôi từ núi Dinh được giải về K4 để chờ lệnh phóng thích. Tại đây, tôi được vài anh em tù cũ cho biết là họ có thấy ký giả AT bị biệt giam, nhưng sau đó thì bị giải đi nơi khác, chẳng biết họ họ đưa anh ấy về đâu.

Sau đó một thời gian khá lâu, vào một buổi chiều mưa rơi tầm tã, tôi vừa đi làm về chưa kịp thay quần áo thì đứa con thứ nhì của tôi dẫn một người khách đến. Nó chạy vội vào nhà nói nhỏ với tôi: “Ba, có chú Thuần đến”. Tôi liền chạy ra đón Thuần. Thê thảm quá! Trông Thuần còn tệ hơn một người ăn mày. Quần áo anh rách tả tơi, chiếc nón lá trên đầu đã mất cạp. Chân không giầy dép và AT đứng không vững.

Tôi dìu Thuần đến nằm trên chiếc ghế bố rồi lấy quần áo của tôi cho Thuần thay. Cả người anh ta nóng như rang. Vợ tôi vội đem chai dầu cù là bảo tôi thoa cùng người cho Thuần và cho Thuần uống viên Contac trong khi bà ấy chạy ra đầu xóm mua bát cháo nóng cho Thuần ăn. Sau khi ăn uống xong, AT tỉnh lại dần. Cầm tay tôi Thuần thều thào trong hơi thở:
- Tao gắng gượng đi tìm mày từ sáng đến giờ. Nếu không gặp cháu Hưng thì chắc tao đã chết rồi.
- Mày từ đâu về đây? Tôi hỏi.
- Số 4 Phan đăng Lưu thả tao lúc 6 giờ chiều hôm qua. Tao mệt quá 2 ngày nay chẳng có gì để ăn. Sau khi bọn chúng tống tao ra khỏi cổng, tao kiệt sức quá nên bò vào Lăng Ông ngủ. Sáng nay định ra chợ Bà Chiểu xin ăn, thì may quá gặp anh Vi bán báo ngày trước. Anh này thuê xe chở tao đến Khánh Hội tìm mày trước.
- Tạm thời mày ở đây, tao lo thuốc thang cho mày thật khỏe rồi sẽ tính. Tôi bảo Thuần.
- Không được, mày phải đưa tao về nhà thằng Dương để nó lo việc trị bệnh và tìm cách đưa tao đi. Tao được biết em tao đã tạm yên rồi. Thuần đáp một cách dứt khoát.
Tôi biết tánh Thuần, ít nói nhưng cương quyết. Anh đã tính toán việc gì thì không dể gì thay đổi, bỏ cuộc. Tôi dặn vợ tôi gói bộ quần áo của tôi và chút ít tiền cho AT lận lưng [gia đình tôi lúc này rất bi đát] và đôi dép cao su vỏ xe hơi cho Thuần. Tôi nói với Thuần:

- Mày ráng giữ gìn sức khoẻ, vợ chồng tao và các cháu rất thương mến mày. Mày cần gì đến tao cứ bảo Thụy Dương cho tao biết.

Thuần cầm gói đồ mà không nói, theo tôi dắt xe đạp ra khỏi cửa. Đến khúc quẹo, Thuần quay lại nhìn vợ con tôi thật lâu rồi mới leo lên xe để tôi chở đến nhà em anh. Tôi cũng thấy vui vì bạn mình đã được tự do và tôi biết Thụy Dương sẽ sắp xếp được mọi sự ổn thoả cho AT.


Tháng 10/92 gia đình tôi đến Hoa kỳ định cư. Tôi có nhờ báo chí và đài phát thanh loan tin tìm Thuần, nhưng đến nay vẫn bặt vô âm tín. Hôm nay, ngồi viết bài này ngõ hầu vơi đi nỗi nhớ thương người bạn tâm giao và để nhờ “duyên văn nghệ” đi tìm AT người bạn có với tôi những kỷ niệm vui, buồn trong suốt thời gian dài cầm bút.

Vương Vũ Ngọc

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

TRẦN VĂN THÂN : NGƯỜI BIỆT KÍCH DÙ BẤT TỬ

PHẠM HÒA
1974 - 1975 : Những ngày cuổi cùng của cuộc chiến Viêt Nam trở nên khốc liệt hơn bao giờ hết. Lợi dụng đường mòn Hồ Chí Minh đã bị bõ ngỏ và những điều khoản bất công phi lý trong bản Hiệp định ngưng bắn do Hoa Kỳ sáng tạo, nên Cộng Sản Bắc Việt đã di chuyển gần hết các Sư đoàn chủ lực vào Miền Nam, uy hiếp các tỉnh địa đầu giới tuyến thuộc QD1, đồng thời bao vây Cao Nguyên Trung Phần, thuộc lãnh thổ Vùng II Chiến thuật với ý đồ tấn công cưởng chiếm VNCH, ngay khi Quân đội Hoa Kỳ và Ðồng Minh đã rút hết về nước, phủi tay trước những cam kết của nhiều đời Tổng thống Mỹ, đã ký hứa giúp đở Miền Nam VN, chống lại cuộc xâm lăng của Cộng Sản Ðệ Tam Quốc Tế, do Bắc Việt đãm nhận suốt cuộc chiến tương tàn, sau khi chia hai VN vào tháng 7-1954..

Trước tình hình nguy ngập của đất nước, gần như tính bằng ngày. Thế nhưng QLVNCH vẫn không bỏ cuộc và dù biết đang phải chiến đấu trong cô đơn đầy thiếu thốn, mà mạng sống của người lính ngoài chiến trường, thì mỏng manh hơn bao giờ hết. Vậy mà chẳng ai nghĩ tới chuyện đào ngũ, bỏ trốn ra ngoại quốc, cho dù người Mỹ đã cố tình tiết lộ việc di tản cho một số quan chức có quyền hành tại Sài Gòn. Cao cả và đáng kính trọng khâm phục nhất, cũng vẫn là những người Lính thuộc Binh Chủng Lực Lượng Ðặc Biệt, trong đó bao gồm Các Toán Công Tác Xâm Nhâp thuộc các Ðoàn Công Tác và các Ðoàn Liên Lạc của Nha Ky Thuật/Bộ TTM/QLVNCH, vẫn tiếp tục tiến hành công tác xâm nhập vào những mục tiêu nguy hiểm nhất, chẳng khác nào nhiệm vụ ám sát Toàn quyền Pháp là Merlin, của Liệt Sĩ Phạm Hồng Thái tại Hồng Kông vào năm 1924. Có thể nói được, đây là cuộc đổi mạng của Người Lính cảm tử LLÐB giữa chốn ba quân, để mang về cho QLVNCH, những tin tưc tình báo chiến lược, được cập nhật hóa tại chỗ đóng quân của giặc. Nhờ đó mọi cấp chỉ huy tại các vùng chiến thuật, mới nắm vững được tình hình và hoạt động của địch, để ta điều nghiên ứng phó.

Ðoàn Công Tác 75 trách nhiệm vùng II Chiển thuật, với những nhiệm vụ đặc biệt kể trên.. Quân số của Ðoàn, có 9 Toán Thám Sát, mỗi toán gồm một Sỉ Quan Trưởng toán, năm Ha Si Quan Chuyên Viên và các toán viện công tác. Quân số này tuỳ theo nhiệm vụ giao phó, nên số Nhân Viên Công Tác, tăng hay giảm với nhu cầu . Ít ai biết tới sự hy sinh cao cả nhưng âm thầm của những người Lính LLDB trên, chỉ riêng những ngày đen tối 1974-1975, đã có tới bảy trong chín Sĩ Quan Trưởng toán, đã hy sinh tại chiến trường máu lửa, trong chốn ba quân, phần lớn bị banh thây bầm xác vì bom đạn và lòng căm thù tuyệt đỉnh của giặc. Số khác mất tỉch, bởi không một ai chịu đầu hàng để mà sống nhục. Chết thì chết, những Toán còn lại vẫn tiếp tục bổ xung và tiến hành công tác hiểm nguy cho đến những giây phút cuối cùng, phải rã ngũ vì lệnh đầu hàng VC , do Tổng thống Dương Văn Minh ban hành vào trưa 30-4-1975.
Cố Trung Uý Trần Văn Thân :

Ông sinh năm 1942 tại Phú Trinh Phan Thiết,Tỉnh Bình Thuận, cựu học sinh Trung Học Tư thục Bạch Vân và Bồ Ðề. Nhập ngũ tháng 10-1962, cùng với Ðặng Ken, Cao Minh, Nguyễn văn Nghĩa, Nguyễn Văn Ðại, Trần Khói Hương.. Các bạn Minh, Ðại, Nghĩa.cùng Thân kẻ trước, người sau đền nợ nước, Trần Khói Hương chết sau khi ra tù CS, chỉ còn Ðặng Ken trước là cận vệ của Tướng Ðặng Văn Quảng Tư Lệnh LLDB.. sống già nơi quê hương Phan Thiết. Thân ra trường tháng 3-1963 và về Binh Chũng Lực Lượng Ðặc Biệt, năm đó trú đóng tại Nha Trang. Ông cũng là võ sư cao cấp của Thái Cực Quyền, vì vậy được chọn về Ðơn Vị Quân Cảnh của Bộ Tư Lệnh LLÐB.

Sau Tết Mậu Thân 1968, Trần Văn Thân là Trưởng toán Thám Sát thuộc Ðoàn Công tác 75, có nhiệm vụ xâm nhập vào các vị trí đóng quân của Các Ðại Ðơn Vị Cộng Sản Bắc Việt, để thu nhặt cập nhật hóa tin tức tình báo chiến lược. Theo tin tức của những đồng đội hiện còn sống sót tại hải ngoại cho biết Thiếu Uý Trần Văn Thân, đã bị mất tích vào mùa hè 1974 vì bị giặc săn đuổi, Ông đã bơi qua một con sông nước chảy xiết nên chết mất xác. Những giây phút thảm tuyệt này, đã được một nhân viên mang máy may mắn được sống sót kể lại. Vậy mà từ ấy cho đến nay những người thân trong gia đình, thảm nhất là mẹ Ông là Bà Ngô Thị Dân ở Phan Thiết, cùng với người vợ trẻ tên Nguyễn Thị Liễu với ba con thơ dại tại Sài Gòn, lúc nào cũng ngong ngóng hy vọng là con và chồng-cha mình, vẫn còn sống trong các trại tù đâu đó, rồi cũng sẽ trở về như nhiều bạn bè của Thân cùng đơn vị và quê Phan Thiết. Cứ chờ đến nổi mẹ già khóc mù cả hai mắt rồi gục chết vào năm 2000, nhưng vẫn không ngớt gọi tên đứa con thân yêu của mình. Riêng người vợ trẻ thay chông nuôi con, ở vậy cho tới khi tất cả khôn lớn vào đời, còn mình thì cứ ôm ấp hình bóng của người chồng cũ, vẫn sống trong những di ảnh thân thương nguyên vẹn, mà chàng thì biền biệt tận phương nào ?

Chuyến Công Tác Cuối Cùng Của Cố Trung Uý Trần Văn Thân :

Thi hành công tác được Bộ Tư Lệnh.Quân Ðoàn II giao phó, với nhiệm vụ thâu thập tin tửc về các hoạt động của địch quân đang hiện diện trong lãnh thổ, thuộc Vùng chiến thuật. Toán Thám Sát do Thiếu Uý Trần Văn Thân làm Trưởng toán, nhận lệnh thi hành công tác bí mật tại Ðèo An Khê, nằm trên Quốc Lộ 19, giữa đường từ Bình Khê đi An Túc, thuộc Tỉnh Bình Ðịnh. Lúc đó vùng này, coi như một chiến trường đẳm máu, giữa Sư đoàn 3 Sao Vàng của Cộng Sản Bắc Việt và Sư đoàn 22 Bộ Binh của QLVNCH. Ðịch quân hiện diện cả một vùng rộng lớn trong lãnh thổ các Quận Bình Khê, An Túc, Hoài Ân, An Lão.. mà dấu hiệu để lại tại chổ, là việc cán binh đào xới sạch lán những nương khoai, rẫy mì của đòng bào Bà Na trong vùng, để làm lương thực nuôi quân.

Theo tin tức ghi nhận, thì Toán Thám Sát của Thiếu Uý Thân đã chạm địch từ những giây phút đầu, vì lọt vào Bộ Tư Lệnh của SD 3 Sao Vàng, bên cạnh có một Trung Ðoàn bảo vệ. Tuy vậy Họ đã chổng trã mãnh liệt trước quân số hàng ngàn của Cộng quân, thêm vào đó còn có cả trời phòng không của Nga Sô và Trung Cộng viện trợ, trong lúc Toán Thám Sát của Thân, võn vẹn chỉ có sáu người. Nhưng cuộc đời của Người Lính VNCH là vậy đó, nhất là những người Lính cảm tử LLDB. Bởi vậy, các cấp chỉ huy liên hệ, chỉ còn biết nghe Ðồng Ðội của mình , qua tiếng báo cáo với đại bàng, là đơn vị đang chạm địch nặng , cùng lúc với tiếng súng lớn nhỏ và lựu đạn nổ, xen lẫn tiếng hô xung phong , vang lên từng đợt trong ống liên hợp. Cùng hòa tấu trong điệu ru nước mắt này, là tiểng đạn phòng không nổ tung tại một vùng xa xôi nào đó, nhưng âm hưởng truyền qua máy, cũng đủ làm rách tai người hiệu thính viên đang trực .Cuối cùng là tiếng thét của Thiếu Uý Trưởng toán Trần Văn Thân ‘ Zulu - Zulu ‘ Âm thanh càng lúc càng nhỏ dần và tan biến vào trận địa, lúc đó vẫn còn vang tiếng súng ở một góc trời.


Cùng hòa tấu trong điệu ru nước mắt này, là tiểng đạn phòng không nổ tung tại một vùng xa xôi nào đó, nhưng âm hưởng truyền qua máy, cũng đủ làm rách tai người hiệu thính viên đang trực .Cuối cùng là tiếng thét của Thiếu Uý Trưởng toán Trần Văn Thân ‘ Zulu - Zulu ‘ Âm thanh càng lúc càng nhỏ dần và tan biến vào trận địa, lúc đó vẫn còn vang tiếng súng ở một góc trời.

Vậy mà hơn 34 năm sau, dường như tiếng thét cuối cùng của người Lính Trận : Cố Trung Uý LL Trần Văn Thân, vẫn còn vang vọng đâu đâỵ, bảo sao những người thân của Ông, cứ vẫn tin là Con, Chồng và Ba của mình còn sống, nay đang ở nơi nào đó, mai sẽ về ..!

Sau khi nhận được tin dữ về Toán Thám Sát của Thiếu Uý Thân, Nha Kỹ Thuật đã phối hợp với Không Quân, hằng ngày tiếp tục lên vùng tìm kiếm dấu vết của những người sống sót đang ẩn nấp trong rừng sâu, từ ánh sáng của kiếng chiếu rọi lên , hoặc Panô (Panel) , hay hỏa châu cấp cứu, cũng như bất cứ tín hiệu truyền tin nào, của Toán thất lạc nhưng tất cả đã ra đi không hẹn ngày về.


Ðại Uý Nguyễn Hùng Trâm (hình bên, hiện ở Mỹ) , Liên Toán trưởng thuộc Ðoàn 75 Công tác, vô cùng cảm xúc khi đọc bài viết về Cố Trung Uý Trần Văn Thân, vì chính Ông là người đã bay thả Toán Thám Sát của Trần Văn Thân tại đèo An Khê, tỉnh Bình Ðịnh. Ðây là thời gian nguy ngập nhất của chiến trường này, nên chỉ võn vẹn một tháng ngắn ngũi, mà Ðoàn Công Tác 75 đã mất 3 Toán Thám Sát LLDB trong khu vực này.Theo báo cáo , thì Toán của Thân đụng độ với một Trung Ðoàn thuộc SD 3 Sao Vàng, ngay khi vừa nhảy xuống, với nhiệm vụ chặn bắt một Bác Sỉ VC ở đầu đường mòn. Tên này sau đó cũng bị Toán Thám sát của Trung Ðoàn 45 thuộc SD23BB/VNCH , chân ở phía cuối đường đã bắt được, giải giao cho Ðại Tá Trịnh Tiếu, Trưởng Phòng 2 Quân Khu và được trực thăng chở về Pleiku khai thác.

Còn sống sót trong 7 Toán Thám Sát thuộc Ðoàn 75 bị thất lạc, là Thiếu Uý Vũ Văn Quyền cũng xác nhận là Thiếu Uý Trần văn Thấn đã mất tích vào năm 1974. Xin nghiêng mình tri ân những người đã hiến thân cho dất nước và dân tộc Việt. Thảm thương ơi cho Thân Phận người Lính VNCH, một đời vì nước-dân, màu cờ sắc áo, bảo vệ cho đạo pháp tại Miền Nam, thế nhưng nay có còn được bao nhiêu người nhớ tới.

Mường Giang là bạn nối khố của Trần Văn Thân, từ những ngày còn vất vưỡng nơi chốn quê nghèo, cho tới khi hai đứa gặp lại ở Sài Gòn, Nha Trang .. một thời gian ngăn ngũi, rồi vĩnh viễn chia tay.. nên đã có những giòng thơ “ Khóc Bạn “ sau khi đọc được tin bạn mình đã vùi thây nơi muôn trùng gió cát, hơn mấy chục năm về trước . Thơ này cũng viết tặng những anh hùng của Bình Thuận, vì đời mà chịu cảnh ‘ xiêu mồ lạc nấm ‘ như Thân như Vũ Anh Khanh, Trịnh Văn Bình, Huỳnh Ngọc Ghênh, Vương Ðăng Phong , Lưu Bá Châm, Trần Thiện Khải..


Cỏ đã úa trên nấm mồ nếu có
xác cũng tàn theo bụi cát mênh mông
vậy mà nay ai cũng vẫn đợi trông
người lính trận lần đi lần vĩnh biệt

đau đớn quá, ta quì đây rên xiết
tưởng hồn mày như lẩn quẩn đâu đây
chết oan khiên nên bạn hóa thành mây
cho ta ngóng thêm bàng hoàng não nuột

Nhớ buổi trước tụi mình cùng Phan Thiết
nghèo xác xơ nên kết bạn tri âm
ta ngông nghênh hứng chịu nổi thăng trầm
mày lập chí được tiếng đời rực rỡ

Ngày hai đứa rời trường yêu, sách vở
để vì đời làm lính giữ quê hương
đêm cuối cùng ngồi ngắm cảnh sông Mường
với hẹn hứa một ngày vui tao ngộ

mười mấy lần xuân, đến đi bỡ ngỡ
mà tao mày, mỗi lúc lại xa thêm
thương nhớ nhau, chỉ nhắc cho đở thèm
hay trao gửi những dòng thơ nhòa lệ

nước bỗng mất đời quanh co dâu bể
tao về quê thành một kẻ tôi nhân
nghe tin mày đã thoát khỏi nghiệp trần
thương cho bạn , xót cho đời tận tuyệt

chỉ mong được có ngày về Phan Thiết
đến bờ sông Mương hội ngô cùng mày
như lời hứa lúc hai đứa chia tay
dù mày đã thành hồn ma dũng liệt

(Khóc Bạn - MG)

Những người trai trẻ vì dân vì nước thì chết sớm, trong lúc sâu bọ đội lớp người, sao vẫn cứ lúc nhúc luông lọt lại sống lâu. Cho nên dù có chết trẻ như Trần văn Thân hay hằng vạn chiến sĩ QLVNCH khác, họ cũng vẫn hiên ngang xứng đáng làm trai. Còn sống già, sống dai, sống thọ như đám quan quyền sâu dân mọt nứơc, phản bội đồng đội đồng bào vì miếng ăn chút danh bèo, dù có sống trăm năm cũng uổng tuổi đời và thẹn kiếp người.

Phạm Hoa

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

NGƯỜI VỀ TỪ CÕI CHẾT TRÊN TỈNH LỘ 7 PHÚ BỔN - TUY HÒA
NGÔ TRÚC KHÁNH

Ngô Trúc Khánh sinh tại Chợ Lầu, Hòa Ða, Bình Thuận. Cựu học sinh Trung Học Phan Bội Châu, Phan Thiết 1958-1965. Trước khi vào lính, là công chức Bộ Thông Tin-Chiêu Hồi (Sài Gòn). Tốt nghiệp Khóa 7/1968 tại Trường Bộ Binh Thủ Ðức.

- Từ 1969 tới 1971, Ðại Ðội Phó/ÐÐ 238 ÐPQ thuộc Chi Khu Hòa Ða(Bình Thuận).

- 1972 Biệt phái ngoại ngạch Cảnh Sát Quốc Gia : Trung Uý Trưởng Cuộc Hòa An và Lại An (Thiện Giáo-BT).

- 1973 Trưởng Cuộc Cảnh Sát, Thị Xã Hậu Bổn (Phú Bổn) ố Sĩ quan Hành Chánh , Phụ Tá Biện Lý Tòa Hòa Giải Pleiku.

- 1974 tới tháng 2/1975 : Phụ Tá Trưởng phòng Hành Quân/BCH/CSQG/Phú Bổn.

Ngày 10-3-1975 thủ phủ của cao nguyên Trung Phần là thành phố Ban Mê Thuộc thất thủ. Pleiku tổng hành dinh của Bộ Tư Lệnh Quân Khu /Quân Ðoàn II Chiến Thuật coi như bị cô lập và vây hảm vì hai quốc lộ chính 14 và 19 đã bị cộng sản Băc Việt cắt đứt và bịt kín nhiều đoạn. Mặc dù ở đây có rất nhiều đơn vi chiến đấu thiện chiến nhất là Biệt Ðộng Quân nhưng giờ chót cũng được lệnh di tản chiến thuật về duyên hải, nói là để bảo tồn lực lượng cố thủ các tỉnh còn lại của quân đoàn.

Ngày 17-3-1975, bắt đầu cuộc triệt thoái của Quân Ðoàn II tại Pleiku, chặng đầu tới Phú Bổn tình hình tốt đẹp, mọi liên lạc, từ đoàn xe về Nha Trang, qua hệ thống siêu tầng số, liên tục và rõ ràng. Liên Ðoàn 6 Công Binh và những Ðơn Vị BÐQ mở đường, nhiều Liên Ðoàn BÐQ khác + Lử Ðoàn 2 Thiết Giáp đoạn hậu. Cảnh tượng xô bồ chưa từng có khi đoàn xe bắt đầu chuyển bánh . Nguyên do là hầu như ai kể cả cây cột đèn ở đây cũng đều muốn chạy khỏi vùng đất chết sắp xãy ra. Vì vậy nên mọi kế hoạch của cuộc hành quân di tản gần như đảo lộn với sự có mặt của hàng vạn đồng bào chạy loạn bằng đủ thứ phương tiện từ xe gắn máy, xe thồ, xe ngựa, xe kéo tới xe ô tô các loại. Cứ thế dân theo lính nối đuôi nhau không làm sao mà đếm nổi số lượng kéo dài hằng hằng cây số.

Hởi ôi chiến tranh là chết chóc đau khổ thế nhưng cộng sản VN vì chủ nghĩa đế quốc và lợi lộc nên lúc nào cũng gây ra chiến tranh. Ðồng bào vô tội qua thời gian của cuộc chiến quá sợ cộng sản phi nhân bạo tàn nên biết đi là chết nhưng vẫn cứ chạy theo QLVNCH để xa lánh quỷ dử Việt Cộng. Những trang lịch sử cận đại của nước nhà ngày nay đã ghi rõ ràng từng đoạn đường thảm tuyệt của người dân chiến nạn từ Tết Mậu Thân 1968, Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972 và tàn khốc dã man có một không hai, đó là cuộc thảm sát của cộng sản Bắc Việt nhắm vào dân thường trên liên tỉnh lộ 7. Ðó là mồ chôn nhiền chục ngàn xác đồng bào và trẻ thơ vô tội, xóa sổ cả một đoàn quân cùng chiến cụ của cao nguyên lừng danh, từng làm cho giặc xiêu hồn bạt vía, kéo theo sự sụp đổ của đất nước vào cuối tháng 4-1975.

Lúc 18 giờ 15 ‘ cùng ngày, đoàn xe tới Phú Bổn, ban đêm lính Thượng nổi loạn, đốt nhà, cướp của, đồng lúc VC pháo kích dồn dập vào Thị Xã Cheo Reo, khiến cho thành phố nhỏ bé của miền núi, như đắm chìm trong biển lửa và hổn loạn. Vì vậy mọi đơn vị của Tiểu Khu, cũng tự động di tản theo Quân Ðoàn. Phòng Hành Chánh của Cảnh Sát Phú Bổn lúc đó, gồm ba sĩ quan (1 Ðại Úy + 2 Trung Úy ) với gia đình tôi (vợ + ba con nhỏ), tổng cộng 7 người, chất trên 1 xe Jeep. Riêng tôi đi bằng chiếc xe Honda Dame, chạy trước dẫn đường về được Chi Khu Phú Túc, sau hai ngày đêm may mắn, thoát khỏi đạn pháo của Cộng Sản và các nút chặn của Thượng Cộng

Thượng Fulro, trên Tỉnh Lộ 7.

Lúc này, một số du kích VC đã dùng súng cối, pháo vào đoàn xe với mục đích làm trì trệ cuộc di chuyển, chờ quân chính qui của Sư Ðoàn 320, từ Ban Me Thuột, kéo tới với nhiều đại bác 122 ly của SD23BB bỏ lại. Bấy giờ , Tư lệnh QÐ2 là Tướng Phạm Văn Phú, đang bay trên C-47, ra lệnh cho Tướng Trần văn Cẩm, điều động LÐ7BÐQ và Lữ Ðoàn 2 Thiêt Giáp, phối hợp bảo vệ đoàn xe. Các đơn vị trưởng có trách nhiệm trong cuộc di tản trên, ngoài Tướng Phú (Tư Lệnh), Tướng Cẩm (Tư Lệnh Phó), còn có Ðại Tá Lý (TMT/QÐ2), Tướng Tất (CHT/BDQ/V2), Ðại Tá Ðồng (CHT/TG) và Các Liên Ðoàn Trưởng BÐQ. Rút sau cùng là LÐ4 và 25 BÐQ, vì kẹt ở Thanh An (Pleiku).

Trong lúc mọi việc tưởng đâu tốt đẹp, thì xui xẻo lại tơi, khi Không Quân bỏ bom lầm, làm cháy 2 Thiết Vận Xa M113, khiến một số Binh sĩ TG và BDQ thương vong. Chết chóc, khổ đau.. bắt đầu từ giây phút đó.

Hổn loạn bắt đầu từ 15 giờ ngày 18-3-1975. Theo nhận xét chung của mọi người, nếu người chỉ huy lúc đó là Cố Ðại Tướng Ðổ Cao Trí, tướng Trương Quang Ân hay Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn. thì họ sẽ nhảy ngay vào Mặt Trận, để trực tiếp chỉ huy , nên chăc chắn sẽ không có cảnh ‘ mạnh ai náy làm, coi mệnh lệnh của thượng cấp, kể cả chỉ thị của TT Thiệu, Bộ TTM/QLVNCH như cỏ rác ‘.Nhưng tướng Phú đã không bao giờ làm vậy thay vì bay trực thăng xuống thẳng Phú Bổn, để trực tiếp chỉ huy đoàn quân di tản, lúc đó như rắn không đầu vì chẳng ai phục ai, mà chỉ ngồi chờ tại Bộ Tư Lệnh QÐ2 ở Nha Trang, để chực đón phái đoàn cao cấp từ Sài Gòn của Thủ tướng Khiêm tới ban lệnh miệng. Trong khi đó tin tức dồn dập từ mặt trận báo về, Trung Ðoàn 9/SÐ968 của Cộng Sản Bắc Việt + nhiều Tiểu đoàn Du kích Thượng Cộng, đã lập xong một phòng tuyến dài trên tỉnh lộ, để chờ chận đánh đoàn xe, trong đó có rất nhiều đồng bào tháp tùng chạy loạn lánh nạn.

Lúc 1 giờ 15 sáng ngày 19-3-1975, Tướng Tất báo cáo từ dưới đất về Nha Trang : Quận Phú Túc bị pháo nặng và tràn ngập nhưng LÐ7 BÐQ và Thiết Giáp đã tới giải vây. Trận chiến thật ác liệt, cuối cùng LÐ7 BÐQ cũng đã tái chiếm lại được quận, mặc dù chung quanh VC vẫn còn bám trụ, đóng chốt, pháo kích pha nátÔ đoàn xe. Cùng lúc, hai Tiểu đoàn K9, K13 của VC Phú Yên, đã đóng chốt từ Hiếu Xương lên tới quận Sơn Hòa. Tuy đoạn đường này, chỉ dài 25 cây số nhưng lại là đoạn đường máu lệ, chẳng khác nào chốn quỷ môn quan, đã tàn sát không biết bao nhiêu mạng lính và dân, trong đoàn người di tản phải vượt qua, trước khi tới được Tuy Hòa.

Tại Phú Túc, tôi và các bạn đi chung với vợ con trên chiếc xe Jeep, đã bị thất lạc, trong chốn loạn quân, cho tơi ngày thứ 4 (21-3), mới gặp lại bên bờ này sông Ba. Từ đó, mọi người chia tay vì chiếc xe Jeep phải bỏ lại. Riêng gia đình tôi, còn phải chịu thêm 8 ngày nữa, trong địa ngục trần gian, để vượt qua đoạn đường tử thần này, dưới đất có hàng trăm ngàn quả mìn gài sẳn, của cả VC và Ðại Hàn từ bao năm trước. Còn trên đầu thì đầy trời Rocket và bom lửa của Không Quân + hàng trăm chốt của giặc, luôn nả đạn pháo vào đoàn người, bất kể quân, dân, người lớn hay trẻ con, khi chạy ngang tầm súng.

Ðoàn xe ứ đọng kéo dài và ngừng hẳn vì giòng sông Ba chắn ngang trước mặt. Ðâu đâu cũng vang dậy tiếng khóc của đồng bào di tản từ trẻ sơ sinh thiếu sửa cho tới những nạn nhân đang quằn quại vì bom đạn và sự cướp bóc diễn ra. Tội nghiệp nhất là các đơn vị QLVNCH vừa phải mở đường, chiến đấu và thêm trọng trách đùm bọc đồng bào đang cùng với lính trong cơn chiến nạn.

Ai cướp của dân, ai giết dân để mà cướp của thì ngày lịchsử cũng đã ghi lại rõ ràng qua miệng đời của chính những nhân chứng còn sống sót. Tuy vậy lịch sử cũng không thể nào bỏ sót công trạng thật là vĩ đại của những người lính Công Binh Chiến Ðấu của QLVNCH. Không có họ can đãm đầu đội bom dạn, mệt nhọc hy sinh tánh mạng , hiên ngang trầm mình dưới giòng nước lủ sông Ba để hoàn thành cho được một cây cầu nổi bằng vỹ sắt nối hai bờ sông, giúp đoàn xe tiếp tục về Tuy Hòa, tránh một cuộc thảm sát khi bộ đội Bắc Việt đang trên đường truy đuổi sắp bắt kịp.

Hởi ôi đời là vậy đó vì ngày trước hay bây giờ vẫn còn một số người đâu có bao giờ nghĩ tới sự hy sinh vô bờ bến của những người lính VNCH. Họ chiến đấu vì ai mà phải hy sinh xác thân nơi sa trường, lại phải chịu đói khát cực khổ như đơn vị Công Binh đang thi hành nhiệm vụ tại Sông Ba. Toán này lo đón nhận những chiếc vỷ được thả xuống từ trực thăng trong khi toán khác tiếp ngay để ráp lại thành một chiếc cầu dã chiến. Phía dưới nước chảy thật xiết, mặc kệ hai chiếc xe ủi vẫn liên tục làm việc ủi đất và đá lấp kín một khoảng sông và thả vỷ sắt trên đó.

Có một cảnh tượng mà tới bây giờ chắc những người có mặt bên bờ sông Ba sẽ không bao giờ quên được. Ðó là chuyện đàn bò gần 200 con của đồng bào quận Cũng Sơn được dẫn theo với chủ tị nạn. Nhưng khi chúng vừa lội qua tới bờ bên kia thì bị đơn vị Việt Cộng đang chốt sã súng đủ loại kể cả lựu đạn giết không chừa một con. Tội nghiệp thịt xương của những con vật vô tội văng tứ phía còn nước sông thì nhuộm đỏ máu bò. Một vài con may mắn dù bị thương vẫn cố lết lên bờ và lũi vào rừng núi biệt dạng.

Cảnh tượng trên làm cho mọi người thêm khiếp đãm, thêm vào đó là sự chen lấn leo bừa lên trực thăng gây nên cảnh chết tan xương nát thịt khiến cho ai nhìn thấy cũng phải đau lòng.

Suốt thời gian này, ai cũng vậy chẳng riêng gì gia đình tôi, đói thì lượm đọt rau và củ sắn dại trong rừng để an, còn khát thì uống nước vũng bùn, lợn cợn đầy máu, mỡ của xác người. Riêng đạn bom, mìn bẩy thì đành giao cho số mệnh . Cuối cùng nhờ Trời Phật và Tổ Tiên hộ trì, Tôi cùng Vợ và ba con nhỏ, sau 12 ngày đêm đói khát, lặn lội trong địa ngục bom đạn máu lửa, cũng về được Tuy Hòa ngày 25-3-1975 rồi Khánh Hòa.

Tại Nha Trang, Ðài truyền hình liên tiếp tường thuật lại cuộc di tản của QÐ2 trên Liên Tỉnh Lộ 7, mở đầu là Những Thiết Vận Xa M113 của Lử Ðoàn 2 Thiết Giáp, kế tới là hình ảnh của một sĩ quan trẻ tuổi, râu tóc dựng ngược, mặt mày hốc hác, quần áo rách nát tả tơi, chỉ còn nguyên vẹn 1 đôi giầy lính, tấm bản đồ hành quân và khảu P.38 ngắn nòng. Dân chúng tại Nha Trang đã túa ra hai bên đường, để đón mừng, tiếp tế cho đoàn người về từ cỏi chết, mà người dẫn đầu, chính là Trung Úy Ngô Trúc Khánh, chỉ có chiếc xe Honda Dame, đã mang được vợ và ba con về từ địa ngục có thật.

Sau ngày CSQT cưởng chiếm được toàn Miền Nam VN, như hằng triệu quân công cán cảnh của VNCH, Trung Uý Khánh lần lượt trải qua nhiều địa ngục trần gian, từ Kà Tót, Tổng Trại 8 Sông Mao, Lương Sơn, Tà Dôn, Long Hoa tới trại A.30 Tuy Hòa, Tổng cộng hơn 7 năm tù khổ sai. Ðược tị nạn chính trị tại Hoa Kỳ ngày 26-4-1992, qua diện HO 11, cùng vợ với 2 con. Cuối cùng ngày 28-3-2006, sau 14 năm chờ đợi, đứa con trai lớn mới tới Mỹ để đoàn tụ cả gia đình. Ðời trai kiếp lính thời loạn là vậy đó, bi thảm, cùng tận.. thế nhưng tới nay có được mấy người cảm thông thương tiếc ?

Tóm lại cuộc di tản của QD2 coi như hoàn toàn thất bại, không phải vì người lính không chịu chiến đấu hay không đủ vũ khí đạn dược, để chống chọi với kẻ thù, mà do một hệ thống chỉ huy tồi tệ, từ Bộ TTM/QLVNCH cho tới BTL/QÐ2, toàn những kẻ sợ chết, ganh tị, vô kỷ luật, chỉ biết chia phe kết đảng, mới đưa đến cái thảm họa mất nước vào tay đảng CSQT, đẩy dân lính vào con đường chết. Cũng may trong đoàn di tản, còn có được những Liên Ðoàn BÐQ thiện chiến, Các đơn vị Thiết Giáp, Công Binh, những đơn vị Lôi Hổ, Biệt Kích.. chịu hy sinh, nên mới đem được hơn 2000 xe đủ loại và mấy chục ngàn người từ các tỉnh Cao nguyên Kon Tum, Pleiku, Phú Bổn về được Phú Yên.

Kết quả 70% chiến xa M48,41 bị hũy diệt, 100% Pháo binh tan hàng. Có hơn mấy chục ngàn đồng bào, đa số là trẻ thơ, đàn bà bị thảm sát, 20.000 chiến sĩ thuộc QD2, gồm BÐQ, Lử Ðoàn 2 Thiết Kỹ, Liên Ðoàn 6 Công Binh Chiến Ðấu. Pháo Binh, Lực lương Thám Sát, Biệt Kích, Lôi Hổ.. tán mạng.. Ðau đớn như vậy, thế nhưng suốt 13 ngày đoàn quân di tản, cho tới lúc số sống sót về được Tuy Hòa, Nha Trang. Trong lúc đó, các tướng lãnh Cao Văn Viên (TTMT), Lê Nguyên Khang và Ðồng văn Khuyên được coi là ba tướng lãnh có quyền uy cao nhất lúc đó, cũng không hề rời Sài Gòn, đi máy bay ra Tuy Hòa hay Nha Trang.. thăm viếng, ủy lạo các nạn nhân mới từ địa ngục về. Ðó là sự thật của lịch sử.

Trong nổi buôn ly xứ dường như trong tôi luôn ‘ Còn Một Chút Gì Ðể Nhớ ‘ như nhà thơ Vũ Hữu Ðịnh đã nhớ về Pleiku thời binh lửa năm nào :

‘ phố núi cao phố núi đầy sương
phố núi cây xanh trới thấp thật buồn
anh khách lạ đi lên đi xuống
may mà có em đời còn dễ thương .’


California tháng 8-2008

NGÔ TRÚC KHÁNH

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

NÓI VỚI BẠN BÈ


Thơ : Trạch Gầm
Nhạc : Nguyễn Văn Thành
Trình Bày : Nguyễn Văn Thành



Tao bây giờ đã thành người tha phương
Đất Mỹ tự do mà vẫn thấy buồn
Mười mấy năm tù khổ thì có khổ
Nhưng bạn bè cùng một nỗi nhớ thương

Tao bây giờ đã bắt đầu bơ vơ
Đường phố thênh hang không đợi không chờ
Một cái bắt tay cùng lời hờ hững
Mầy hả mầy ...tìm ra job hay chưa

Cắt chỉ một giờ - một hai đồng bạc
Đôi tay đau ngơ ngác nhớ chiến trường
May được ngày xưa trải thời huấn nhục
Để bây giờ quen với chuyện thê lương

Tao bây giờ tìm tao trong quanh quẩn
Một quán cà phê dăm đưá bạn đời
Vẫn còn đó niềm đau ngày Quốc Hận
Để thấy lòng còn xa xót khôn nguôi

Nhớ bạn bè nhớ không tròn nỗi nhớ
Ngày Bình Long - Rạch Bắp đến cây trường
Thằng banh xác biết đâu ngày mất nước
Thằng quặt què chồng thêm nỗi tai ương

Tao bây giờ không tiền mua rượu uống
Mà vẫn say .. say ngút với nỗi buồn
Nhìn thiên hạ tranh nhau quyền yêu nước
Mấy chục năm ròng - nưóc vẫn tang thương

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Ngày Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam 2008
(Kỳ 2: Tạ Ơn Người-Tạ Ơn Ðời)


Image
Cựu Thiếu Tá CSÐB Nguyễn Thanh Thủy cùng chồng là cựu Ðại Úy Lê Thành Long tại bàn giới thiệu kỷ vật làm trong tù.

Image
Cựu Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai (thứ tư từ phải) chụp hình lưu niệm với các cựu tù có số năm cải tạo cao nhất. Người thứ ba từ phải là bà Bùi Kim Thành.
Vũ Ðình Trọng/Người Việt
Tường trình từ Dallas



DALLAS, Texas (NV) - Sáng ngày Thứ Bảy, 4 Tháng Mười năm 2008, khoảng 1,500 cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam (TNCT.VN) cùng gia đình và quan khách đã đến Special Events Center, Dallas tham dự một buổi lễ thật trang trọng và cảm động trong chương trình “Ngày Tù Nhân Chính Trị Việt Nam 2008” với chủ đề “Tạ Ơn Người-Tạ Ơn Ðời” do Hội Gia Ðình Tù Nhân Chính Trị Tổ chức.


Triển lãm những trang sử bi hùng

Khu vực triển lãm hình ảnh, tư liệu về một trang lịch sử bi hùng của Việt Nam thu hút rất nhiều khách tham dự trước buổi lễ. Tại khu vực của Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân & Việt Nam Cộng Hòa, người xem có thể thấy được những tấm giấy ra trại ố vàng được lưu giữ cẩn thận như một chứng tích những ngày tù đen tối. Những chiếc áo tù được trưng bày cạnh những chiếc áo tốt nghiệp của con em cho người xem một hình ảnh tương phản nhưng bổ sung cho nhau trong một huyền thoại có thật: Con cháu người cựu TNCT.VN đã và đang thành đạt trên xứ người, các em đã bước qua vũng lầy của cha ông bằng chính xương máu, tủi nhục, căm hờn của những người cựu tù CSVN.

Khu vực triển lãm của Nhiếp Ảnh Gia Nguyễn Ngọc Hạnh làm người xem xúc động trước những tác phẩm bất hủ của ông. Hình ảnh thiếu nữ vá lá cờ VNCH, hay người góa phụ với tấm thẻ bài, hay người chiến sĩ VNCH cắn chặt răng rút chốt trái lựu đạn trong một trận tử thủ với lời thề “thà chết cho Tổ Quốc” vẫn như còn đó một linh hồn có thật, linh hồn của đất nước.

Chúng tôi gặp lại Thiếu Tá Nguyễn Thanh Thủy trong bộ đồng phục Cảnh Sát Ðặc Biệt. Tôi biết chị qua công việc thiện nguyện chị làm trong Hội H.O. Thương Phế Binh & Quả Phụ VNCH. Trên chiếc bàn đơn giản trưng bày những kỷ vật mà chị đã làm trong tù đã khiến người xem xúc động. Hai vợ chồng chị đều bị đi tù khi ba đứa con còn nhỏ (đứa lớn nhất 7 tuổi, nhỏ nhất 4 tuổi) nên phải gởi 3 cháu cho bà ngọai. Chiếc áo len chị mặc trong tù được sửa lại từ 2 chiếc áo len của hai con gởi vào cho mẹ. Chiếc áo len màu vàng mong manh nhưng tôi chắc rằng nó ấm lắm trong những ngày tù tội vì mang hơi ấm tình thương của hai đứa con bé nhỏ. Mười-ba năm tù dành cho chị, sáu năm tù dành cho chồng, Ðại Úy Lê Thành Long vẫn không khuất phục được trái tim nhỏ bé nhưng kiên cường.

Hội Bảo Tồn Lịch Sử & Văn Hóa của nhà văn Triều Giang mang chung một ý nghĩa về việc bảo tồn lịch sử. Qua lời kêu gọi “Hãy đóng góp vào những trang sử còn thiếu sót bằng cách điền vào bảng tìm hiểu về nhà tù CSVN,” hội muốn qua những nhân chứng thực, viết lại trung thực những gì đã xảy ra trong hàng trăm trại tù tại Việt Nam sau năm 1975 để không ai có thể xuyên tạc, bóp méo thậm chí loại bỏ những trang sử đau thương này.

Ðại hội “Cám Ơn Người-Cám Ơn Ðời”

Ngoài sự có mặt đông đảo các cựu TNCT.VN cùng niên trưởng Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai, còn có sự hiện diện của các quả phụ và gia đình, đại hội cũng được đón tiếp một số khách mời Hoa Kỳ và đại diện cộng đồng bạn đã từng sát cánh với QL.VNCH trong cuộc chiến vừa qua.

Phần nghi lễ chào cờ Mỹ, Việt và phút mặc niệm diễn ra thật trang trọng với sự góp mặt của hai toán quân kỳ Việt, Mỹ cùng các cựu TNCT.VN và võ đường Việt Võ Ðạo của võ sư Nguyễn Tiến Hóa (cựu huấn luận viên võ thuật Liên Ðoàn 81 Biệt Kích).

Phần cảm động nhất của chương trình có lẽ là Lễ Văn Tế với phần đọc Văn Tế Tử Sĩ của nhà văn Huy Phương, do nghệ sĩ Thành Hùng diễn đọc. Bằng giọng đọc văn tế truyền cảm, nghệ sĩ Thanh Hùng cho người nghe một cảm giác, uất hận, đau thương. Không ít những giọt nước mắt tự trào ra:



“Chết vì sức tàn lực kiệt, cây đè, đá đổ, rừng thẳm núi cao.

Sống chỉ còn chút xương da, lê lết ốm đau, không thang không thuốc.

Chính sách tập trung bất nhân, miệng lưỡi ngọt ngào, lấy luật rừng làm câu hòa giải khoan hồng.

Ðường lối khoét sâu hận thù, phương sách độc ác, dùng mũi súng tạo điều bạo tàn, ác độc.”

“Hôm nay hội ngộ, những người cựu tù chiến sĩ của quốc gia, xót kiếp lưu vong, khắp nơi tụ tập về đây.

Ngày mai ly biệt, rồi ngày tàn bóng xế tuổi già, thương đời lưu lạc, bốn cõi kẻ còn người mất.

Ðây nén nhang thơm, tưởng niệm đến chiến hữu xa cơ.

Này chén rượu giải oan, chiêu hồn những bạn bè phiêu bạt.

Giờ đây, kẻ ra đi lưu lạc đất khách, không quên những người ở lại trên rừng sâu.

Mai sau, người hẹn trở về nơi quê hương, còn nhớ nấm mộ người bạn tù lưu lạc.”

Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai, thay mặt toàn thể cựu TNCT.VN và người tham dự đã cùng một số sĩ quan đồng minh Hoa Kỳ đặt vòng hoa ghi ơn quân, dân, cán, chính đã bỏ mình cho đất nước Việt Nam. Mọi người đều dành cho ông sự cảm phục, yêu thương vì ông là một trong bốn người cuối cùng rời trại tù Cộng Sản. Người niên trưởng nay đã già yếu nhưng vẫn đến với đại hội, với anh em trong tình huynh đệ. Trước nghi lễ khai mạc, ông nói:

“Chỗ nào có lính là tôi đến với anh em, hơn nữa tôi cũng là cựu tù. Gặp nhau hôm nay có thể là lần cuối, không biết đến bao giờ mới gặp lại được. Tôi nhớ có một nhà báo Mỹ hỏi tôi rằng có phải tôi học tập cải tạo 17 năm không. Tôi trả lời họ rằng tôi không học tập cải tạo, tôi đi tù 17 năm thiếu 10 ngày!”

Bà Khúc Minh Thơ, hội trưởng Hội Gia Ðình Tù Nhân Chính Trị Việt Nam, trong phần khai mạc đại hội nói:

“Chúng ta họp mặt tại đây để công nhận sự hy sinh và tranh đấu của tất cả TNCT.VN và gia đình họ. Chủ đề của đại hội là ghi nhớ cuộc chiến đấu và hồi tưởng lịch sử của thời gian này.”

“Chúng ta hãy nối lại tình bạn cũ, xây dựng tình bạn mới, yểm trợ tinh thần, cho nhau sự hiểu biết bằng cách chia sẻ kinh nghiệm về các nỗi gian truân mà mỗi người đã phải đương đầu.”

“Một lần nữa, chúng ta sẽ phơi bày và lập hồ sơ về những sự tàn ác của các trại tập trung cải tạo do Cộng Sản dựng ra, để thế giới không thể nói rằng họ không hay biết về sự đau khổ của các bạn và sự đau khổ của những người đang sống dưới sự đàn áp của chế độ Cộng Sản.”

“Chúng ta sẽ tạo cơ hội để các bạn cựu tù nhân chính trị có thể đóng góp vào việc sưu tầm, gìn giữ và quảng bá những biến cố lịch sử anh hùng về cuộc chiến đấu của chúng ta. Trong khi ăn mừng sự sống sót và phồn thịnh tự do, chúng ta luôn nhớ đến những người không trở về, những chiến sĩ dũng cảm của QL.VNCH và những đồng minh đã hy sinh đến từ Hoa Kỳ, Tân Tây Lan, Úc, Thái Lan, Phi Luật Tân và Nam Hàn. Như thi sĩ La Tinh Horace đã viết 'Thật là sung sướng và hãnh diện được chết cho đất nước của bạn.’”

Ban tổ chức rất tiếc là không có mặt ông Robert Funseth và gia đình vì ông bận nên không thể đến chung vui, nhưng đã gởi đến một đoạn video của ông với những lời chúc chân thành. Ðược biết, ông Robert Funseth trước làm trong Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, và ông đã góp phần không nhỏ trong việc vận động với chính quyền CSVN để chương trình ra đi của cựu TNCT.VN sớm hoàn thành. Trong bài phát biểu của ông Huỳnh Công Ánh (cựu hội trưởng Hội Cựu TNCT Dallas) cũng nói đến ông Funseth với tất cả lòng kính trọng:

“Việc làm của ông đã để lại một dấu ấn thật đậm, chúng tôi xin khắc ghi trong lòng. Ông Robert Funseth là đại ân nhân của chúng tôi.”

Mọi người cùng vỗ tay chia sẻ suy nghĩ đó, “Biết Ơn” đó không chỉ là trách nhiệm mà còn là điều hạnh phúc.

Ngày hội ngộ đã làm sống lại những hình ảnh xúc động, như lời diễn viên điện ảnh Kiều Chinh. Bà cho rằng hôm nay không chỉ là cuộc hội ngộ giữa những mái đầu bạc mà còn là cuộc hội ngộ giữa hai mái đầu bạc và mái đầu xanh. “Khát vọng tự do mà những mái đầu bạc từng phải trả giá trong chiến tranh, ngục tù, hôm nay được đền bù bởi sự thành công của những mái đầu xanh. Ðiều này cho chúng ta biết bao an ủi và hy vọng.”

Không chỉ hy vọng mà chúng ta rất tự hào vì những mái đầu xanh đã biết vươn lên từ cuộc sống khổ đau của ông cha. Ba thế hệ người Việt đã và đang cùng sống trên những xứ sở tự do, cùng gìn giữ bản sắc văn hóa Việt Nam thì chúng ta có quyền hy vọng vào một tương lai tốt đẹp cho quê hương, đất nước.

Nhà văn Huy Phương giới thiệu những cựu tù nhân cuối cùng và các quả phụ tướng lãnh, sĩ quan như một lần nhìn lại để cảm ơn sự hy sinh và gian khổ mà họ đã phải chịu đựng nhiều hơn so với chúng ta. Ông cũng mời tất cả những người vợ cựu tù có mặt đứng lên để tất cả dành cho họ những tràng vỗ tay thay lời cảm ơn những gian khó họ phải đương đầu khi chồng phải vào tù, một mình gánh vác gia đình, lo cho cha mẹ, con cái suốt bao năm trường. Những lá quốc kỳ từng phủ xác người chiến sĩ QL.VNCH đã hy sinh, một lần nữa được trao cho các quả phụ như thay mặt đất nước ghi nhận công lao của những người chiến sĩ anh dũng.

Trong đại hội, Hội Gia Ðình Tù Nhân Chính Trị Việt Nam cũng nhận được bảng khen của dân biểu tiểu bang Texas Hubert Võ, và của thị trưởng thành phố Garland, ghi nhận công lao của hội đối với cộng đồng.

Cựu dân biểu VNCH, Giáo Sư Nguyễn Lý Tưởng giới thiệu đại diện những người con cựu tù được định cư tại Hoa Kỳ theo diện McCain và diện con lai. Ðây cũng là một cố gắng không nhỏ của Hội Gia Ðình Tù Nhân Chính Trị Việt Nam trong việc vận động Quốc Hội và các nghị sĩ, đặc biệt với sự trợ giúp đầy nhiệt tình của Nghị Sĩ John McCain trong việc đệ trình dự luật này năm 1996.

Những người con lai thường bị khinh khi tại quê nhà, nay sang Hoa Kỳ, họ lại tiếp tục bị khó khăn trong cuộc sống. Tuy nhiên, bằng ý chí và nghị lực, họ đã vươn lên và hòa nhập trong cuộc sống và đã gặt hái không ít thành công. Gia đình Việt Mỹ ra đời như nối vòng tay lớn với những anh chị em cùng chung một hoàn cảnh, họ ra tay giúp đỡ nhau và cùng chung sức vào các công tác xã hội.

Sự thành công của Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam 2008 có sự đóng góp không nhỏ của gia đình Việt Mỹ tại Dallas này. Ðây là một hình ảnh thật đẹp của thế hệ thứ ba, con của tù nhân và H.O. và gia đình Mỹ Việt, một thế hệ thực sự đã trưởng thành.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Tướng Anh Hùng Trương Quang Ân - Cựu Thiếu Sinh Quân

Cố Th/Tướng Trương Quang Ân TL SÐ 23 BB
... Để biết được đầy đủ hơn về cuộc đời kiệt liệt của một người lính cực lớn, chúng ta phải bắt đầu lại chuyện kể từ thời điểm sớm nhất, ngày TSQ Trương Quang Ân tốt nghiệp thiếu úy khóa 7 Sĩ Quan Hiện Dịch Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt với vị thứ thủ khoa, tháng 12, năm 1952.
Thiếu úy Trương Quang Ân có đủ tất cả điều kiện thuận lợi để được thuyên chuyển đến một văn phòng bình yên tránh nơi lửa đạn, hoặc một đơn vị tham mưu, chuyên môn
(mới thật sự đúng với khả năng tham mưu sắc sảo của ông sẽ được chứng thực ở thời gian sau). Nhưng không, ông đã chọn binh chủng Nhảy Dù, đơn vị tổng trừ bị cho những chiến trận lớn nổ rộng suốt miền châu thổ Bắc Việt Nam, nơi những đỉnh núi cao lẫn trong mây vùng bắc Trường sơn dọc biên giới Lào Việt.
Trận Bản Hiu Siu cuối năm 1953 bùng nổ trên vùng Cánh Đồng Chum nơi cao nguyên Trấn Ninh, vị trí xung trí xung yếu của miền Trung Lào, đầu nguồn sông Nậm Ngung, do tướng Cogny, tư lệnh quân đội Pháp miền bắc Đông Dương chỉ huy có mục đích bẻ gãy mũi tiến công của cộng sản có ý tiến về thủ đô Vạn Tượng của Lào (nhưng sau nầy hồ sơ trận liệt giải thích, và giải thích đúng, đấy là ý niệm điều quân của phía bộ đội cộng sản cố đánh lạc hướng, hoặc là cách nhử quân đội Pháp chiếm đóng Điện Biên Phủ)
Bộ phận địa phương giữ Bản Hiu Siu xin quân tăng viện, Tiểu đoàn 3 Nhảy Dù, đơn vị đầu đời của Thiếu úy Trương Quang Ân nhảy xuống với 2 đại đội của Tiểu đoàn 7 Dù tăng pháị (Lưu ý, tất cả các tiểu đoàn Dù vào giai đoạn nầy mang phiên hiệu BEP hoặc BPC - Battaillon Parachustiste Colonial, thuộc Liên đoàn Không vận số 3 (GAP/3è- Groupe Aeroporté) của quân đội Liên hiệp Pháp; chỉ mỗi Tiểu đoàn 5 Dù nơi miền Nam mới có danh hiệu Tiểu đoàn Nhảy Dù Việt Nam (BPVN) Trận đánh không cân sức diễn ra ngay từ phút đầu tiên vì bộ đội Việt Minh sẵn có ưu thế quân số, chuẩn bị, chọn lựa và chiếm giữ trận địa. Nhưng dần dần thắng lợi nghiêng về phía quân Nhảy Dù bởi sức chiến đấu quá đổi kiên cường. Phản công, giữ vững, kiểm soát được những vị trí xung yếu của vùng Cánh Đồng Chum, đẩy quân đội cộng sản trở về hướng Bặc Thành. Quả chiến trận không phải là điều bất ngờ, bởi Tiểu đoàn 3 Dù là một đơn vị ngoại hạng của 17 tiểu đoàn tổng trừ bị mặt trận phía bắc Việt Nam, như trường hợp một đơn vị bạn khác, Tiểu đoàn 6 Dù (6è BEP) đã từng chận đứng một sư đoàn cộng sản (SĐ/320) để những đồn bót thuộc tả ngạn sông Đà có thời gian triệt thoái trong chiến dịch rút bỏ Na Sản, Nghĩa Lộ (cùng năm 1953) Kết quả trận đánh đồng thời đã chứng minh cho thành phần lãnh đạo Pháp Việt thấy rõ một yếu tố mới: những sĩ quan trẻ, những hạ sĩ quan, binh sĩ người Việt (tình nguyện) trong đơn vị chính là nhân tố kết nên thắng lợi.
Quân đội chỉ mới khai sinh trong vài năm qua (1951) nay đã dần trở nên là đạo quân chính qui của một quốc gia đang trong giai đoạn lịch sử quyết định về bản lãnh và giá trị của mình. Chiến sử dài theo những năm sau đã chứng thật đánh giá buổi ban đầu nầy: Tiểu đoàn 3 Nhảy Dù Việt Nam là một trong những đơn vị đầu tiên của quân đội Cộng Hòa được tuyên dương Bảo quốc huân chương, kỳ hiệu đơn vị mang dây biểu chương Tam hợp vàng xanh đỏ do công trận chỉ huy bởi những những thiếu úy, trung úy của năm 1953 nầy, những sĩ quan có tên Trương Quang Ân, Phan Trọng Chinh...
Bộ tư lệnh quân đoàn viễn chinh Pháp với lớp cán bộ nhà nghề cũng đã nhận ra khả năng lãnh đạo tiềm ẩn nơi viên thiếu úy trẻ tuổi mà họa hằm lắm mới biểu lộ ra đối với những sĩ quan trẻ tuổi cực kỳ xuất sắc, như những Thiếu úy de Gaulle, de Lattre của học viện quân sự Saint Cyr, những người đã từng nắm giữ vận mệnh quốc gia và quân đội Pháp, nên họ mau chóng đưa Trung úy Ân vào trường tham mưu quân sự tại Pháp vào năm sau, 1954 khi ông vừa được đặc cách vinh thăng trung úy tại mặt trận.
Những sĩ quan chỉ huy Trường Sĩ Quan Đà Lạt và ở bộ tham mưu Liên đoàn Không vận số 3 quả thật đã không lầm khi đánh giá như trên. Hơn thế nữa, họ còn có dự định chọn viên trung úy ngoại hạng nầy vào chức vụ chỉ huy Đại đội xung kích Lê Dương Sen Đầm cho chiến trường Algérie đang bắt đầu có dấu hiệu sôi động. Khóa sĩ quan tham mưu tại Pháp cốt để làm đầu cầu cho dự định nầy. Thêm một lần nữa, ông lại đỗ thủ khoa khóa học, trên cao hơn toàn thể những học viên có 75 quốc tịch của khối Liên hiệp Pháp, đa số là người Tây Âu.
Trung úy Trương Quang Ân đậu hạng thủ khoa mà không hề có tị hiềm từ những học viên, bởi qua bản tự đánh giá, khóa học đồng ý hầu như toàn thể về người sĩ quan Việt Nam tài năng xuất sắc nầy.
Sau thất bại Điện Biên Phủ, tháng 5, 1954, bộ tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp cố gắng tập trung những tiểu đoàn Nhảy Dù còn lại ở miền Bắc đưa gấp vào Đà Nẵng, Nha Trang, để từ đây có kế hoạch tái trang bị, bổ sung sang chiến trường Bắc Phi. Tiểu đoàn 3 Nhảy Dù trở nên đơn vị trụ cột đầu tiên của Liên đoàn Nhảy Dù Việt Nam, thành lập ngày 29 tháng 9, 1954, và Trung úy Trương Quang Ân ở lại với quân đội Việt Nam dưới phiên hiệu đơn vị mới như một điều tất nhiên, nhưng cũng do lời kêu gọi từ một Thiếu sinh quân khác, người anh cả của toàn quân, Thiếu tướng Lê văn Tỵ, vị Tổng tham mưu trưởng đầu tiên của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, mở đầu kỳ độc lập, tự chủ nơi miền Nam, 29 tháng 11, năm 1954.
Ngày 1 tháng 1, 1955 bắt đầu năm mới với những biến động chính trị nghiêm trọng xẩy ra tại thủ đô Sài Gòn từ những mầm mống va chạm sẳn có giữa các lực lượng giáo phái, tổ chức vũ trang với chính phủ Thủ tướng Ngô Đình Diệm vừa được thành lập ngày 20 tháng 7, 1954. Chính phủ mới mang đủ tất cả gánh nặng của quá khứ gần 100 năm lệ thuộc người Pháp, tình thế quân sự suy sụp hỗn loạn sau thất trận Điện Biên Phủ của quân đội Pháp và công cuộc định cư hơn triệu người di cư từ miền Bắc vào Nam. Các lực lượng chống đối kết hợp thành Mặt trận thống nhất toàn lực quốc gia yêu cầu Thủ tướng Ngô Đình Diệm giải tán nội các, cải tổ chính phủ và chấp thuận để họ duy trì tình trạng cát cứ của những tổ chức quân sự tại những địa phương riêng biệt. Chính phủ Sài Gòn giữ nguyên lập trường: thống nhất quân đội trước khi bàn đến những cải tổ chính trị.
Thành phần mặt trận gồm 3 khuynh hướng: Phe ôn hòa muốn trở về hợp tác với chính phủ; phe trung lập không có ý kiến và thành phần quá khích nhất quyết tổ chức nổi loạn quân sự. Lực lượng Bình Xuyên dưới quyền chỉ huy của Thiếu tướng Lê văn Viễn (quân hàm do chính phủ Pháp trao gắn theo nguyên tắc đồng hóa) thuộc nhóm thứ ba.
Ngày 1 tháng 1, 1955 Thủ tướng Ngô Đình Diệm đóng cửa các cơ sở kinh tài quan trọng của Bình Xuyên, sòng bạc Đại Thế Giới, Kim Chung và nhà chứa Bình Khang; ngày 26 tháng 4, cách chức tổng giám đốc Cảnh sát và Công an của Lại văn Sang, một người thân tín đắc lực của Thiếu tướng Viễn. Cuối cùng việc phải đến, ngày 28 tháng 4, lực lượng Bình Xuyên nổ súng tấn công quân chính phủ, nhưng Liên đoàn Nhảy Dù với 4 Tiểu đoàn 1, 3, 5, 6 đã hình thành những trụ cột chống đỡ nền móng quốc gia. Chỉ một ngày sau, quân Nhảy Dù đã làm chủ tình hình toàn bộ đô thành Sài Gòn, Chợ Lớn. Ngày 30 tháng 4 Nhảy Dù và Bình Xuyên dàn trận đối diện dọc kinh Đôi bên kia cầu chữ Y. Dù đã được người Pháp ngấm ngầm hỗ trợ nhưng Bình Xuyên không thể nào là địch thủ của những tiểu đoàn Nhảy Dù thiện chiến nên mặt trận Sài Gòn mau chóng kết thúc vào ngày 5 tháng 5, tàn binh Bình Xuyên rút về Rừng Sát, vùng sình lầy dọc theo sông Sài Gòn và Đồng Nai lập thế chống cự. Tháng 9, lực lượng chính phủ mở cuộc hành quân Hoàng Diệu truy quét đám phản loạn, cũng với lực lượng Nhảy Dù làm thành phần xung kích. Ngày 24 tháng 10 kết thúc chiến dịch, nơi khuôn viên Dinh Dộc Lập lần đầu tiên diễn ra khung cảnh đại hội ân thưởng toàn quân kể từ ngày mở nước về phương Nam. Cũng là lần đầu tiên, quân, quốc kỳ cùng bay rạng rỡ trên kỳ đài tòa dinh thự báo hiệu thống nhất quân đội, chủ quyền quốc gia qui về một mối.
Trung úy Trương Quang Ân đứng hàng đầu giữa những chiến binh của quân đội Cộng Hòa được tuyên công. Ông được trao gắn một lần hai Anh dũng bội tinh với nhành dương liễu, hiện tượng độc nhất đã xẩy ra trong các quá trình nghi lễ trao gắn huy chương. Cho dù về sau nầy khi chiến trường trở nên nặng độ và có những chiến công lớn lao với những nhân vật xuất chúng khác như Lưu Trọng Kiệt, Hồ Ngọc Cẩn... cũng không hề được lập lại thêm lần thứ hai.
Năm 1957, Đại tá Nguyễn Chánh Thi thay thế Đại tá Đỗ Cao Trí giữ chức tư lệnh Liên đoàn Nhảy Dù. Đại úy Trương Quang Ân cùng với viên tiểu đoàn trưởng, Thiếu tá Phan Trọng Chinh, rời Tiểu đoàn 3 Dù về bộ tư lệnh với chức vụ mới, trưởng phòng 3, và tham mưu trưởng Liên đoàn. Bộ tư lệnh Liên đoàn Nhảy Dù với thành phần sĩ quan chỉ huy, tham mưu tài năng mới mẻ nầy đã nhanh chóng canh tân, trở nên một đại đơn vị mẫu mực đối với toàn quân, có phẩm, lượng cao về khả năng hành quân tác chiến lẫn tổ chức tham mưu.
Một sự kiện quan trọng xẩy ra trong đời sống cá nhân Đại úy Trương Quang Ân, đồng thời cũng là một biểu tượng đặc thù của binh chủng nếu không nói của toàn quân độị Ông làm lễ thành hôn với Chuẩn úy Dương thị Thanh, một trong những nữ quân nhân đầu tiên của binh chủng Nhảy Dù. Cuộc kết ước được chính vị tư lệnh làm chủ hôn, và hôn lễ được thực hiện theo nghi thức thuần túy quân đội: Đại úy Trương Quang Ân trao nhẫn đính hôn cho nữ Chuẩn úy Dương thị Thanh từ nơi cửa máy bay, xong hai người cùng nắm tay điều khiển dù nhảy xuống đất nơi bãi đáp Ấp Đồn, Hóc Môn.
Cảnh tượng cảm xúc trên chắc hẳn không phải là màn trình diễn của đôi vợ chồng trẻ muốn làm nên sự kiện độc đáo ngoạn mục, nhưng đấy là hành vi biểu hiện lòng sắc son của hai người lính muốn kết hợp lời nguyền hiến dâng đời sống bản thân, gia đình cho Quân Đội và Tổ Quốc. Chúng ta không nói điều ước đoán theo cảm tính, bởi cuộc sống đầy chiến đấu của hai người suốt quãng đời tiếp theo đã hiện thực nghi lễ cao thượng của buổi thanh xuân nầy trong bầu trời và trên mặt đất quê hương.
Năm 1959, Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù được thành lập, Đại úy Trương Quang Ân nhận lãnh chức vụ tiểu đoàn trưởng đầu tiên của đơn vị. Lần xuất quân của Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù cũng là dịp phá vỡ huyền thoại về mật khu Bời Lời (vùng tây bắc ven đô nằm dọc sông Sài Gòn), căn cứ địa đã được lực lượng quân sự cộng sản thành hình từ chiến tranh 1945-1954, nay đang được củng cố cho cuộc chiến mới với nhiệm vụ chiến thuật quan trọng, từ đây làm khu vực bản lề tiếp vận của 3 tỉnh Gia Định, Bình Dương, Hậu Nghĩa, hình thành đầu cầu để tiến chiếm Sài Gòn (chiến dịch Mậu Thân 1968 chứng thực cho quan điểm chiến thuật nầy) Tiểu đoàn 8 Dù đã truy kích địch dài theo con sông, phá vỡ toàn thể những địa đạo vừa được xây dựng, đánh bật tất cả các cụm, tổ du kích, đuổi sạch đám cán bộ vừa trở lại từ miền Bắc, nay được gài chặt với cơ sở địa phương để hình thành lớp cán bộ hạ tầng của Mặt trận giải phóng miền Nam. Công trận nầy cùng lần với những đơn vị quân đội khác đã kiến tạo nên một thời hưng thịnh bình yên từ 1954 đến 1960 ở miền Nam. Dân chúng từ Sài Gòn có thể ra đi bất cứ nơi nào trong đêm và trở lại thủ đô vào giờ rạng sáng để làm việc. Có mấy ai trong thuở ấy và sau nầy nhớ lại buổi bình an kia để nhắc nhở đến gian khổ của mỗi người lính, những người không ai biết đến tính danh. Người hiến dâng đời sống mình cho quê hương, đồng bào nhưng không hề nói lên lời, dù là lời đơn giản, khiêm nhượng. Biến cố 11 tháng 11, 1960 lần đầu tiên đẩy quân đội trực tiếp tham dự vào diễn trường chính trị, Liên đoàn Nhảy Dù lại là thành phần nòng cốt quyết định để thực hiện việc dứt điểm chế độ và người lãnh đạo. Nhưng Đại úy Trương Quang Ân đã vô cùng tinh tế để nhận rõ nguyên do lẫn hậu quả của lần bạo loạn tranh chấp, ông từ nhiệm cáo bịnh lánh mặt khỏi cảnh huống khốc liệt, vị tiểu đoàn phó được chỉ định tạm thời thay thế ông trong tình thế khẩn cấp. Cuộc đảo chính 11 tháng 11 thất bại, những giới chức cao cấp của Liên đoàn Dù phải chịu cảnh chạy trốn, lưu vong ra khỏi nước, hoặc bị bắt giữ; các đơn vị phải tái biên chế, xáo trộn, thay đổi cấp chỉ huy. Chỉ riêng Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù vẫn giữ nguyên phong độ và khả năng chiến đấu truyền thống bởi Thiếu tá Trương Quang Ân lại trở về, giữ vững đơn vị tồn tại, phát triển sau cơn hỗn loạn.
Năm 1962, ông di chuyển từ trại Trần Quí Mại của Tiểu đoàn 8, nơi khuôn viên căn cứ Hoàng Hoa Thám của Lữ đoàn Nhảy Dù trong phi cảng Tân Sơn Nhất về trại Quang Trung, Tam Hiệp, Biên Hòa, bản doanh Tiểu đoàn 5 Dù, cũng là của Chiến đoàn 2 Dù, đơn vị chỉ huy chiến thuật vừa được thành lập gồm các Tiểu đoàn 5, 6, 7.
Doanh trại xây trên một ngọn đồi hùng vĩ bên cạnh sông Đồng Nai, và người chỉ huy đầu tiên của đơn vị tân lập đã thực hiện những nền tảng vô cùng kiến hiệu để các tiểu đoàn thuộc quyền có điều kiện thuận lợi khai triển tối đa năng lực chiến đấu với tầm vóc mới. Thiếu tá Trương Quang Ân đã chứng thực một khả năng lãnh đạo lớn trong cương vị mới, với kích thước của người chỉ huy tài năng, đạo đức tưởng chừng chỉ có trong những huyền thoại về những con người của lịch sử phương Đông xưa cũ.
Vào một buổi họp của toàn thể sĩ quan thuộc các tiểu đoàn trực thuộc và bộ tham mưu chiến đoàn, mọi người đã vào ghế ngồi để đợi vị chỉ huy trưởng. Cây kim chỉ phút của chiếc đồng hồ ở phòng hội sắp sửa chập vào số 12 để chỉ đúng 12 giờ, giờ bắt đầu buổi họp, nhiều người sửa soạn đứng lên để chào đón chiến đoàn trưởng, họ nhìn ra cửa, hướng về phía văn phòng của Thiếu tá Ân cách hội trường một khoảng đồi khá xa, trống trải nằm phơi dưới nắng hạ chí miền Nam. Bỗng một bóng người xuất hiện từ khung cửa căn phòng, gỡ chiếc nón đỏ cầm tay và chạy về phía hội trường với tốc độ cực nhanh, Thiếu tá chiến đoàn trưởng Trương Quang Ân bước vào hội trường. Sau khi đội lại chiếc mũ, chào tay trả lại lệnh chào kính của toàn thể sĩ quan. Ông nói gấp:
- Xin lỗi quí vị sĩ quan, tôi bị trễ gần một phút vì phải trả lời điện thoại với Đại tá tư lệnh, nên anh em phải ngồi đợi!
Thiếu tá Ân nhìn lên kim đồng hồ vừa nhếch quá chữ số 12. Tính chính xác, hành vi nghiêm chỉnh, sự kính trọng đối với tất cả các cấp quân đội là cách xử thế thường hằng mà người chỉ huy Trương Quang Ân luôn thực hiện, tổng hợp tấm lòng của kẻ sĩ khiêm cung, nhân ái và tính nguyên tắc, tinh thần trách nhiệm cao của người lính.
Hàng tháng, nếu không phải bận hành quân, ông soạn lịch trình đến thăm viếng, kiểm soát những tiểu đoàn thuộc quyền. Tiểu đoàn 6 Nhảy Dù của Thiếu tá Nguyễn văn Minh, người bạn cũ cùng Trường Thiếu Sinh Quân là đơn vị ông lưu tâm nhất vì ở nơi xa xôi (Vũng Tầu) so với 2 tiểu đoàn 5, 7 cùng trong vùng Biên Hòa của chiến đoàn.
Mỗi lần thăm viếng đều được ông chuẩn bị nghiêm chỉnh như một cuộc thanh tra đơn vị, mà bản thân ông là người trước tiên phải hội đủ khả năng, tư cách, phẩm chất của một giới chức chỉ huy, thanh tra. Trước ngày đi, ông nói cùng Đại úy Nguyễn Thái Hợp, nay đã kiêm nhiệm chức vụ tham mưu trưởng chiến đoàn:
- Đại úy nhớ nhắc nhở, kiểm soát anh em mình phải mang đủ bi đông nước, lương khô để khỏi làm phiền dưới Tiểu đoàn 6 nghe!
- Nhưng Thiếu tá Minh đã báo cho tôi bằng 106 (máy truyền tin siêu tần số dùng bạch thoại để chuyển những nội dung không cần phải mã hóa) là dưới đó đã chuẩn bị bữa ăn cho chiến đoàn mình rồi Thiếu tá!
- Đại úy Hợp vội vã trả lời.
- Cơm thân mật trong tiểu đoàn hay tiệm ngoài phố?
- Thiếu tá Ân hỏi gấp.
- Vâng, ở một tiệm nơi Bãi Sau!
- Vậy đại úy phải nói liền với Thiếu tá Minh là tôi không nhận. Mình đi thanh tra tiểu đoàn chứ đâu phải đi Vũng Tàu tắm biển, ăn tiệc!
Cuối cùng, ông lên xe với nón sắt hai lớp, súng Colt nơi thắt lưng có bi đông nước đầy, gói lương khô, và ngồi thẳng trong suốt chặng đường đi từ Tam Hiệp, Biên Hòa về đến Tiểu đoàn 6 ở Vũng Tàu.
- Đường đi xa hơn trăm cây số, Thiếu tá dựa lưng một chút cho đỡ mỏi! - Người tài xế ái ngại nhắc nhở.
- Không được đâu, mình tới thăm viếng, thanh tra mà lưng áo bị nhăn như thế trông thấy có vẻ thiếu kính trọng đơn vị và anh em! Thiếu tá Ân giải thích với người tài xế, không quên hỏi thêm:
- Mà anh có đem đủ bi đông nước dùng cho cả ngày và nhớ bỏ thuốc lọc nước vào chưa?
Cũng liên quan đến người tài xế, chiếc xe, một hôm ông gọi bà vào văn phòng với vẻ nghiêm trọng, và sau đó có những lời:
- Mình là sĩ quan nữ quân nhân, mình biết cũng rõ quân kỷ như tôi; thế nên, chiếc Jeep là của chiến đoàn cấp cho chiến đoàn trưởng, chứ không phải cho riêng cá nhân tôi. Vậy khi nào mình đi thăm gia đình binh sĩ với tư cách chủ tịch gia đình binh sĩ Chiến đoàn 2 thì mình sử dụng và ngồi vào ghế trưởng xa. Nhưng ngoài giờ làm việc, nếu cần chú tài xế đưa đi đâu thì mình phải ngồi băng sau, vì xe đó là của quân đội chứ đâu phải của riêng gia đình mình. Tôi đã dặn chú ấy, khi nào không có mặt tôi thì lưng ghế trưởng xa phải gập xuống, vậy mình đừng bảo chú ấy làm trái lời tôi!
Bà im lặng nghe, và tuân theo lời ông không một phản ứng nhỏ tị hiềm, khó chịu, dẫu bà chỉ thua ông một cấp bậc.
Đầu năm 1965 để chuẩn bị đưa ông vào những chức vụ cao hơn, Bộ Tổng tham mưu tuyển chọn Trung tá Ân theo học Trường Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ. Vào thời điểm nầy, tiếng Anh vẫn còn là một ngôn ngữ xa lạ đối với những sĩ quan xuất thân từ quân đội Liên hiệp Pháp, nhưng ông đã vượt qua khỏi trở ngại kia bằng biện pháp: luôn luôn trên tay, trước mặt, trong tầm với, có những sách tự học Anh ngữ. Ông vào Trường Sinh Ngữ Quân Đội với thái độ chuyên cần của một sinh viên chuyên khoa, và sử dụng toàn bộ thời giờ vào công việc đọc, viết, học tài liệu khóa học và tài liệu nghiên cứu. Và cũng như hai mươi năm trước, Trung tá Trương Quang Ân lại tốt nghiệp khóa học với vị thứ thủ khoa kèm lời khen ngợi nồng nhiệt kính phục từ ban giám đốc trường. Đây là học viên tốt nghiệp với số điểm cao nhất từ trước đến naỵ Ông đứng đầu trên 45 sĩ quan cao cấp của quân đội toàn thế giới, kể cả những tướng lãnh, cấp tá thuộc quân lực Mỹ.
Năm 1966, trong buổi tiệc tiễn ông đi làm tỉnh trưởng Gia Định, binh sĩ, hạ sĩ quan của bộ chỉ huy chiến đoàn và sĩ quan của những tiểu đoàn trực thuộc trong vùng Biên Hòa đều được mời tham dự. Mỗi người có một hộp giấy gồm 2 pâté chaud, 2 bánh ngọt và 1 sandwich; thức uống gồm một chai bia và nước ngọt Quân tiếp vụ. Trung sĩ Đâu, Ban 2 chiến đoàn vốn là tay ưa ăn nhậu, cất tiếng rổn rảng:
- Trung tá đi làm tỉnh trưởng cái tỉnh to nhất nước mà không cho tụi em uống một bữa cho đã!
Trung tá Ân nghiêm sắc mặt, nhưng từ tốn nói với Đâu:
- Trung sĩ Đâu nói như vậy là phụ lòng tôi, bữa tiệc nầy là do tiền lương tôi xin lãnh trước để đãi anh em. Chứ còn như trong Chợ Lớn đã có mấy tiệm ăn, tửu lầu gì đó, nghe tin tôi về làm tỉnh trưởng, họ đã đưa đề nghị đãi hết người của chiến đoàn mình. Nhưng đó là của họ, mình ăn làm chi anh Đâu!
Căn phòng im lặng, lắng xuống, Đâu cười cười:
- Em nói giỡn cho vui thôi, tụi em biết ông thầy nghèo mà, ông thầy cho uống chi tụi em cũng chịu hết. Vì được ở với ông thầy là vui rồi, nay ông thầy đi tụi em buồn lắm!
Vô tình, Đâu đã nói lời tiễn biệt chính xác, hàm xúc nhất với tấm lòng đơn giản trung hậu của người lính đối với một cấp chỉ huy hằng sống với đơn vị mà âm hưởng luôn bền chặt tồn tại.
Nhưng nếu có một lần người chỉ huy Trương Quang Ân phải chịu nhận phần tiêu cực thất bại trong toàn bộ sự nghiệp của mình lại là chính với chức vụ không tiếng súng, tại văn phòng bình yên nơi tòa tỉnh trưởng Gia Định.
Vào một ngày của năm 1967, Đại tá tỉnh trưởng Gia Định nhận danh thiếp thiếu tá chánh văn phòng của vị phu nhân một viên tướng cao cấp nhất của quân lực. Viên thiếu tá đặt lên bàn giấy ông tỉnh trưởng tập hồ sơ thổ trạch đứng tên bà tướng với lời yêu cầu ông phê chuẩn sự hợp thức hóa tình trạng sỡ hữu phần đất của bà. Sau khi xem xét kỹ hồ sơ và những qui định hành chánh về thủ tục hợp thức hóa đất đai thuộc phạm vi tỉnh, Đại tá tỉnh trưởng Trương Quang Ân có lời quyết định:
- Thiếu tá có thể trở về trình với bà tướng như thế nầy: Tôi đã xem xét kỹ càng về thủ tục hợp thức hóa thổ cư, điền thổ theo như các qui định hành chánh cho phép, nhưng lô đất nầy dẫu thuộc về tỉnh Gia Định, cũng là công thổ quốc gia nên tôi không thể hợp thức hóa quyền sỡ hữu của bà đối với phần đất đó được!
Khoảng một thời gian ngắn sau, viên thiếu tá trở lại với lá thư viết tay của bà tướng cũng với yêu cầu như đã kể với lời lẽ quyết liệt dứt khoát hơn, kèm theo ý nghĩa đe dọa, chức vụ ông có thể bị ảnh hưởng xấu nếu tiếp tục đường lối cũ. Và Đại tá tỉnh trưởng Gia Định cũng trả lời dứt khoát với nội dung minh bạch như đã nói một lần:
- Công thổ, công điền không thể bị chiếm đoạt, sang nhượng cho bất cứ ai.
Kết quả Đại tá tỉnh trưởng Gia Định bàn giao chức vụ lại cho một viên đại tá sau nầy phải ra tòa vì tội buôn lậu và tham nhũng. Đại tá Trương Quang Ân rời tỉnh Gia Định với luyến tiếc của mọi tầng lớp thân hào, nhân sĩ cùng binh sĩ, đồng bào các quận ven đô. Hãy nghe anh Heo, trung đội trưởng Nghĩa quân ấp Vĩnh Lộc, xã Tân Sơn Nhì, quận Tân Bình nói với chúng tôi (Tiểu đoàn 9 Dù đang giữ an ninh vòng đai Biệt khu Thủ đô vào thời điểm 1966-1967):
- Từ khi có ông tỉnh với mấy anh về đây, ban đêm tui ngủ ở nhà và đi nhậu như ở Sài Gòn!
Nếu Đại tá tỉnh trưởng Trương Quang Ân còn ở Gia Định vị tất các đơn vị Việt cộng có thể ngang nhiên tập trung nơi những chỗ ém quân ở Nhị Bình, Thạnh Lộc (Gò Vấp), hoặc Bà Điểm, Bà Hom (Hóc Môn), hay Phú Lâm, An Lạc (Bình Chánh)... để tấn công vào Sài Gòn trong những ngày đầu năm 1968. Và nếu điều nầy không xẩy ra thì chắc rằng mặt trận Sài Gòn Chợ Lớn Gia Định ắt sẽ có những hình thái khác. Đau thương của dân chúng, sinh mạng người lính hẳn sẽ bớt phần khốc liệt oan khiên hơn. Nhưng bởi người lính đã ra đi. Vị tỉnh trưởng thanh liêm phải rời bỏ nhiệm sở.
***
Phi trường Phụng Dực Ban Mê Thuột hôm ấy có một sinh hoạt khác hơn ngày thường với giàn quân nhạc của Sư đoàn 23 Bộ Binh đứng xếp hàng nhiêm chỉnh. Phòng khách phi trường được quét dọn sạch sẽ, có mặt gần như đầy đủ thành phần sĩ quan cao cấp của đơn vị và tiểu khu Darlac, đơn vị hành chính cùng có chung một địa bàn hoạt động với Sư đoàn, lực lượng diện địa quan yếu của Khu 23 Chiến thuật. Chiếc máy bay C-47 hàng không quân sự đáp xuống, lố nhố những hành khách quân nhân và gia đình ào ra từ cửa máy bay. Giàn quân nhạc chuẩn bị nhạc cụ, sửa soạn trình tấu khúc Thượng Cấp Võ; đám sĩ quan vội vã xếp đội hình, tất cả chờ đợi viên tân tư lệnh xuất hiện. Họ chờ một tướng lãnh mặt trận có uy danh với những chiến công nơi trận địa mà ông đã thu đạt từ binh chủng Nhảy Dù qua những chức vụ sĩ quan chỉ huy những đơn vị tác chiến. Nhưng vị tướng với vóc dáng, y phục, cách thế như chờ đợi ấy đã không xuất hiện. Người ta chỉ thấy một người lính với nón sắt hai lớp, lưới ngụy trang, quân phục tác chiến xanh của bộ binh, vai mang ba lô, tay xách sac marin đi lẫn vào cùng đám quân nhân hành khách.
- Hay là ông chưa tới? Có thể ông đi máy bay Air Việt Nam để được sạch sẽ, lịch sự hơn chăng?!
Đám sĩ quan nghi lễ bàn tán.
Bỗng một người nhác thấy người lính đi hàng cuối mang bảng tên màu trắng kẻ chữ "Ân" đen trên nắp túi áo và ngôi sao huy hiệu cấp tướng màu đen may tiệp vào cổ áo tác chiến. Không một chiếc huy chương ở phần ngực áo. Người nầy vội vã, hốt hoảng:
- Vào hàng! Vào hàng! Phắc!
Hành khách quân nhân cuối cùng kia vội đi nhanh đến chỗ viên sĩ quan trưởng toán chào kính, và nói nhanh, dẫu tiếng nhỏ nhưng dứt khoát:
- Trung tá cho anh em nghỉ, tôi không thể nhận! Và khi đứng hẳn trước đoàn người, tướng Trương Quang Ân khiêm tốn giải thích:
- Cám ơn anh em đã đón tôi với đủ lễ nghi quân cách, nhưng tôi không được phép nhận vì chưa bàn giao đơn vị. Vậy chỉ cho tôi một xe Jeep cũng như những sĩ quan vừa đáo nhậm đơn vị mới và chờ cho tôi bàn giao với vị chỉ huy trưởng xong, các anh em hẳn dành cho tôi quân lễ đối với một tân tư lệnh!
Ông lên một chiếc Jeep trần trụi, sửa lại thế ngồi, bi đông nước, khẩu súng Colt, chiếc nón sắt hai lớp đội thẳng, sát xuống mí mắt đúng quân phong, quân kỷ ấn định.
Đoàn xe ra khỏi phi trường, hướng khu dân cư nơi đặt những cơ sở quân sự của khu chiến thuật và tòa tỉnh trưởng. Sau chiếc Jeep cũ kỷ chở vị tân tư lệnh, một chiếc khác bóng loáng mới tinh khôi cắm cờ hiệu cấp tướng không người ngồi, chạy theo giữa bụi mù.
Ngay sau khi nhậm chức, Tướng quân được dịp chứng nghiệm khả năng chỉ huy vào dịp Tết Mậu Thân, 1968 khi quân cộng sản tổng tấn công miền Nam mà thị xã Ban Mê Thuột với bộ tư lệnh Sư đoàn 23 là mục tiêu đầu tiên bị Trung đoàn 33 Cộng sản Bắc Việt tập trung dứt điểm. Liền sau giờ giao thừa, lúc 1 giờ 35 đêm 29 rạng 30 tháng 1, 1968, 4 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 33 tăng cường 2 Tiểu đoàn 401 và 301 Cơ động tỉnh và 4 đại đội địa phương cùng du kích đồng loạt tấn công những mục tiêu của thị xã.
Sở Hành chánh tài chánh, tòa hành chánh, dinh tỉnh trưởng, bộ chỉ huy tiểu khu, Đại đội 514 Vận tải, trại gia binh Đại đội Trinh sát, cư xá sĩ quan và bản doanh bộ tư lệnh sư đoàn là những vị trí phải được chiếm cứ trước hết. Bởi phía chỉ huy quân sự đối phương hiểu rõ rằng, nếu đập vỡ được cơ quan chỉ huy, khống chế được thành phần nhân sự hoặc thân nhân, gia đình của lực lượng trừ bị tiếp ứng (Đại đội Trinh sát, thành phần sĩ quan chỉ huy, tham mưu sư đoàn) thì cuộc tấn công ắt chiếm giữ phần ưu thắng.
Nhưng tất cả mũi tấn công đồng bị chận đứng trước cổng các doanh trại và âm mưu lùa dân vào thị xã biểu tình thực hiện bước tổng nổi dậy tiếp theo hoàn toàn bị thất bại. Bởi từ bộ tư lệnh Sư đoàn 23, Tướng quân đã điều động ngay trong đêm cuộc phản công với Thiết đoàn 8 Kỵ binh, các Tiểu đoàn 2, và 3 thuộc Trung đoàn 45 Bộ Binh và Đại đội 45 Trinh sát đang hành quân bên ngoài thị xã. Lực lượng tấn công cộng sản hóa thành bị bao vây, chia cắt bởi đoàn quân tiếp ứng. Sáng ngày 30 (mồng một Tết âm lịch) lực lượng thiết kỵ và bộ binh của sư đoàn đã hoàn toàn giữ vững những vị trí, cơ quan quân sự, hành chánh trọng yếu của tỉnh và thị xã.
Về mặt chiến thuật, chúng ta có thể nói rằng âm mưu tiến chiếm Ban Mê Thuột bị dập tắt từ giờ phút đầu tiên, chỉ trừ những cơ sở như ty ngân khố, Sở Hành chánh tài chánh số 3 còn bị những tiểu tổ du kích chiếm đóng mà vì cốt tránh thiệt hại về nhân mạng cũng như tài sản chung nên phía tiểu khu, bộ tư lệnh sư đoàn chưa cho lệnh phản kích lấy lại.
Tính đến ngày mồng 6 Tết, mặt trận Ban Mê Thuột hoàn toàn được giải tỏa, Trung đoàn 33 và các đơn vị địa phương, du kích bị đánh bật ra khỏi vành đai thị xã để lại 924 xác trên hiện trường và 143 bị bắt sống.
Nhưng mỉa mai thay, có một "lạnh nhạt cố ý" rất đáng chê trách: suốt chiến dịch ca ngợi thắng lợi kiên trì giữ vững miền Nam sau biến cố lớn lao nầy, công trận thủ thắng ở mặt trận Ban Mê Thuột "hình như" được cố ý loại bỏ. Điều nầy càng thấy được cụ thể qua tập quân sử tổng kết "Cuộc Tổng Công Kích - Tổng Khởi Nghĩa của Việt Cộng Tết Mậu Thân 1968", danh tính vị Tướng quân tư lệnh Sư đoàn 23, Chuẩn tướng Trương Quang Ân hoàn toàn không được nhắc tới một lần, cho dù có hình ảnh của người cùng viên tư lệnh Quân khu đi xem xét chiến lợi phẩm sau khi mặt trận im tiếng súng và quân địch đã toàn phần bị đánh bại.
Khi những người cầm quyền quốc gia, lãnh đạo quân đội xem nhẹ kẻ sĩ, bạc đãi chiến sĩ, danh tướng thì chỉ dấu suy thoái của quốc gia, quân đội đó ắt đã phát hiện. Nếu những người lính mang tên Trương Quang Ân, Nguyễn Viết Thanh, Ngô Quang Trưởng, Nguyễn Khoa Nam, Trần văn Hai, Lê văn Hưng nắm quyền thống lĩnh quân đội, trọng trách vận mệnh quốc gia từ thập niên 60, đầu những năm 70, thì đâu có ngày đau thương oan nghiệt 30 tháng 4, 1975. Chúng ta phải kêu lên tiếng uất hận vỡ trời cùng anh linh Chiến Sĩ - Tướng Quân.
Một ngày hè giữa năm 1970 sau buổi thuyết trình buổi sáng tại trung tâm hành quân, Chuẩn tướng tư lệnh cùng cố vấn sư đoàn, vị sĩ quan Phòng 3 ra bãi đáp trực thăng cạnh bộ tư lệnh để đi thanh tra, kiểm soát những đơn vị thuộc quyền đang hành quân trong phạm vi quận Đức Lập.
Theo thường lệ, Tướng quân đi cùng những giới chức trên bằng trực thăng UH-1D của hệ thống cố vấn Mỹ, nhưng bởi sáng nay có bà tháp tùng theo cùng để đến thăm gia đình binh sĩ của đơn vị có hậu cứ tại quận lỵ, nên hai người quyết định sử dụng trực thăng H-34 của Không quân Việt Nam, cũng cốt để chở được nhiều nhu yếu phẩm, quà tặng cho binh sĩ và gia đình của họ.
Hai vợ chồng Người Lính lớn nhất của đơn vị đi thăm hỏi mỗi gia đình binh sĩ, bà ngồi xuống giữa những người vợ lính, những em bé xao xác do thiếu dinh dưỡng, trú ngụ nơi những lều trại dã chiến mà người lính tạm dựng lên tại tiền trạm vùng hành quân. Bà bối rối, băn khoăn về nỗi khổ của từng người, bà ôm không hết những em nhỏ với nước mắt rưng rưng thương cảm. Ông yên lặng đi đến tại mỗi vị trí phòng thủ, xem xét những khẩu pháo, hỏi kỹ về nhu cầu của đơn vị và luôn nhắc nhở cán bộ sĩ quan:
- Phải luôn cố gắng chăm sóc đời sống anh em, họ đã quá thiếu thốn, quá gian khổ, bổn phận của cấp chỉ huy là phải tận tụy hết lòng với mỗi người lính của mình. Ai cũng có thể có khuyết điểm nhưng cần nhất là biết phục thiện, sửa chữa.
Buổi thăm viếng đã quá lâu, cố vấn Mỹ, toán sĩ quan tham mưu, cũng như cá nhân tướng tư lệnh phải trở về Ban Mê Thuột; những người vợ binh sĩ vây quanh bà, bà bước đi ngập ngừng. "Về mình ạ, mình còn trở lại nhiều lần nữa, mình nói với các chị, các cháu như thế!"
Ông bắt tay từng sĩ quan, ân cần đáp lại ánh mắt lưu luyến của binh sĩ. Cánh quạt chiếc H-34 bắt đầu quay, Tướng quân đỡ phu nhân, chiến hữu sắc son của Người suốt đời dài binh đao, bước lên cửa máy bay vì sức gió mạnh xô đẩy. Hai Người Lính nhìn lại những bóng người dưới đất bắt đầu mờ dần do nước mắt của bà đã thấm nhòa cảm xúc.
Người dưới đất đưa tay ngoắc từ biệt. Bỗng như tia chớp cực mạnh lóe sáng, con tàu bùng vỡ thành khối lửa hung hản ác độc và lao nhanh xuống như một mũi tên. Khu trại gia binh đồng la lớn kinh hoàng:
- Chết rồi! Chết rồi trời ơi! - Ông bà tướng chết rồi trời ơi! Trời ơi là trời ơi!!
Những người vợ lính bật khóc cùng với những đứa con gào ngất trong tay bởi ánh lửa đỏ rực sáng loáng khoảng trời.
Tướng quân Trương Quang Ân cùng phu nhân Dương thị Thanh trở về cùng mặt đất quê hương như trong tuổi thanh xuân hai Người Lính đã kết hợp giữa bầu trời Tổ Quốc.
Trong buổi phát tang nhị liệt vị, sĩ quan nghi lễ kê khai phần tài sản để lại gồm: 53,000 đồng, tiền lương tháng cuối cùng của Tướng quân, và 8 chiếc áo dài nội hóa của phu nhân.
Chúng ta hôm nay cùng sông núi kính cẩn nghiêng mình trước Anh Linh Người Lính Thanh Cao, Trung Liệt đã vô vàn tận hiến với nước Việt Miền Nam: Thiếu Sinh Quân - Người Lính Cộng Hòa Trương Quang Ân.

Tác giã: Phan Nhật Nam

Post Reply