QUÁN BIÊN THUỲ
VIÊN ĐẠN CUỐI CÙNG
Bảo Định Nguyễn Hữu Chế
Người lính trận không còn trận để đánh, khi vị Tổng Thống 48 giờ kiêm Tổng Tư Lệnh QLVNCH Dương Văn Minh kêu gọi quân sĩ đâu ở đó, ngưng nổ súng và chuẩn bị bàn giao cho phía bên kia. Thật là khôi hài cho hai chữ “bàn giao” và gọi bọn cộng sản Bắc Việt xâm lược là “phía bên kia” một cách nhẹ nhàng thân ái. Trong lúc chúng chỉ là những tên đồ tể khát máu, mất tính người, là công cụ của bọn Cộng sản Đệ Tam quốc tế, cần phải loại chúng ra khỏi đất nước này, loại chúng ra khỏi tâm tư của mọi người dân Việt. Chúng chỉ là loài sâu bọ biến thành người, hay như chúng tự nhận là con cháu của loài khỉ trên rừng “trải qua quá trình lao động nên biến thành người”. Tại sao ông Minh có thể ngây thơ đến như vậy! Nếu trong con người của ông còn một chút gì là lính, người lính VNCH chân chính, thì ông đã không hành động như vậy. Hoặc ít ra nếu suy nghĩ nông cạn, bị bọn trí thức khoa bảng ăn hại bu quanh bàn ra tán vào lếu láo, bị tên Dương Văn Nhật, Thiếu tá tình báo cộng sản, em ruột móc nối, bị mấy ông thầy tu xách động xúi giục, sợ dân chúng đổ máu (chỉ là cái cớ để biện minh), thì sau lời tuyên bố dâng đất, dâng dân, dân thành cho Cộng sản, ông phải biết kê khẩu súng vào mang tang để bóp cò một phát cho tròn khí tiết của một người lính, nhất là khi ông đã là một vị Tướng 4 sao! Từng hai lần làm Quốc trưởng (nhưng chẳng nên cơm cháo gì). “Mất thành phải chết theo thành” như Võ Tánh ngày xưa tuẫn tiết tại thành Bình Định, hay Hoàng Diệu tại thành Hà Nội.
Người lính trẻ mệt mỏi, mặt mày bơ phờ vì đã nhiều ngày đêm không ngủ, đang lê đôi chân nặng nhọc từ cầu Sơn hướng về ngả tư Xa lộ Hàng Xanh. Anh định về Thị Nghè, nhà anh ở đó. Anh biết mẹ anh, chị Dung của anh đang chờ tin tức của anh. Anh biết Loan, người yêu của anh, đang trông chờ anh từng giờ, từng phút. Hay nàng đã theo gia đình di tản đang lênh đênh trên mặt nước. Nàng có dám hy sinh, dám cãi lời cha mẹ không lên tàu, dám ở lại để chờ chàng, người lính trận của phe thua trận?
Thôi hết rồi khi đài phát thanh Saigon đọc lời tuyên bố của ông Dương Văn Minh, lệnh cho tất cả quân sĩ không được nổ súng, đâu ở đó, chờ phía bên kia vào bàn giao! Việt Nam Cộng Hòa không còn, QLVNCH không còn, đơn vị anh tan hàng, nhưng lần này không “cố gắng” như trước. Đây là lần tan hàng cuối cùng! Vị Tiểu đoàn trưởng của anh tập họp Tiểu đoàn và tuyên bố: “Việt Nam Cộng Hoà không còn, QLVNCH không còn, Tiểu đoàn của chúng ta cũng không còn. Tôi xin cảm ơn các bạn đã đồng cam cộng khổ, vào sinh ra tử, đã cùng nhau chiến đấu trong bao nhiêu năm. Chúng ta đã tạo được nhiều chiến thắng lẫy lừng ghi trong quân sử. Nhưng ngày hôm nay, vận nước không còn. Là quân nhân, chúng ta phải tuyệt đối thi hành mệnh lệnh. Dù đó là mệnh lệnh gì. “Thi hành trước, khiếu nại sau”. Với tư cách là Tiểu đoàn trưởng, tôi tuyên bố giải tán đơn vị. Các bạn ai về nhà nấy để gặp lại gia đình, sống cuộc đời thường dân lương thiện. Chúc các bạn sức khỏe. Chào VĨNH BIỆT! Vừa dứt lời, vị Tiểu đoàn trưởng khả kính đã kề khẩu colt 45 vào màng tang và bóp cò.
Buổi trưa ngày 29, tuyến phòng thủ Trảng Bom vỡ. Một Đại úy Đại đội trưởng chết ngay tại trận tiền. Một vị Tiểu đoàn trưởng bị cộng quân bắt sống. Đoàn quân xâm lăng Bắc Việt đã chiếm cứ Trảng Bom, tiền đồn xa nhất của Saigon lúc đó, chỉ cách Thủ đô yêu dấu miền Nam hơn 30 cây số. Từ đây, súng 122ly, 130ly có thể bắn tới.
Căn cứ Long Bình bị pháo kích nhiều nơi, nhiều kho đạn bị nổ. Phi trường Biên Hòa bị oanh kích bởi chính những chiếc F5E của QLVNCH do Không quân không kịp di tản, để lại tại Đà Nẳng, tại Phan Rang, do chính tên Trung úy phản bội Nguyễn Thành Trung theo giặc hướng dẫn. Dân chúng hoảng hốt, bồng bế nhau dồn về Saigon. Lẫn trong đoàn dân chạy loạn, có những người lính vừa thất trận tại phòng tuyến Trảng Bom. Đơn vị Tuấn phải củng cố tuyến phòng thủ để bảo vệ BTL/SĐ. Kể từ khi rời mặt trận Xuân Lộc, vì là đơn vị sau cùng làm lực lượng chặn hậu cho đại đơn vị rút ra an toàn, đã bị thiệt hại nặng, nên đã được chỉ định làm lực lượng phòng thủ BTL. Công việc tương đối an nhàn, ít nguy hiểm. Ngay trong không khí hổn quân hổn quan và loạn lạc đó, một chiếc xe honda từ Saigon trờ tới trước cửa BTL. Đó là chị Dung, chị ruột của Tuấn và Loan, cô bạn gái, người yêu của chàng.
Vừa gặp mặt Tuấn, chị Dung nói ngay:
- Họ đi hết rồi, cả Saigon đang đi. Anh rể em ở bên Không Quân có lệnh đưa gia đình ra Phú Quốc. Bên Hải Quân cũng chuẩn bị cho gia đình xuống tàu ra biển. Còn chị làm trong DAO cũng đã làm danh sách cho cả gia đình mình đi. Mấy ngày chị và Má cứ trông em về để đi, tất cả đã sẵn sàng.
- Nhưng ông Tướng, các cấp chỉ huy và đồng đội của em vẫn còn ở lại, vẫn còn tiếp tục chiến đấu.
- Ông Thiếu Tướng Kỳ, cựu Thủ Tướng, cựu Phó Tổng Thống, chiều ngày 28 tháng 4 còn đến xứ Tân Sa Châu thuộc quận Tân Bình hô hào tử thủ, hô hào sẽ chiến đấu đến giọt máu cuối cùng, nhưng mới sáng sớm ngày hôm nay, tức 29 tháng 4, ông đã dùng máy bay trực thăng riêng bay ra Hạm đội. Ông Tướng Toàn, Tư Lệnh Quân đoàn III kiêm Quân khu 3 của em, buổi sáng ghé đây họp với các Tư lệnh Sư đoàn, chỉ thị các vị ấy phải tử thủ, phải chiến đấu, thì sau đó ông bay về Gò Vấp thu gom đồ đạc và bay thẳng ra Hạm đội 7 rồi. Chỉ có ông Tướng của em, các cấp chỉ huy của em điếc không sợ súng, không am hiểu tình thế mới ở lại để tiếp tục chiến đấu.
- Không được, em phải ở lại, em phải cùng đơn vị chiến đấu. Dù là trong tuyệt vọng. Em không thể đào ngũ trong lúc này. Em xin lỗi chị, xin lỗi Má.
- Loan, em hãy nói vài lời với Tuấn đi, em hãy thuyết phục Tuấn dùm chị. Em hãy nói em không thể sống xa Tuấn, sống thiếu Tuấn. Má, chị và cả nhà sẽ mang ơn em nhiều. Nhưng Tuấn vẫn kiên trì. Tình yêu gia đình, tình yêu trai gái, Tuấn đã coi nhẹ hơn tình yêu đơn vị, tình yêu đồng đội, ít ra là trong lúc này, trong hoàn cảnh dầu sôi lửa bỏng này. Nói thế có nghĩa là trong quá khứ, cũng đã nhiều lần Tuấn dù về nhà thăm mẹ, thăm chị Dung, người chị mà chàng thương yêu nhất, và Loan, dĩ nhiên là Loan, mối tình từ thuở học trò của chàng. Không thuyết phục được người em, người tình cứng đầu, Dung và Loan thất vọng trở lại Saigon.
Tuấn đi như người mất hồn. Anh không có một chủ định nào cả. Chân bước đi, đôi chân chàng di động như cái máy. Chàng hướng về Thị Nghè, nơi đó có Má, có chị Dung, có Loan đang chờ chàng.
Một chiếc xe Lam chạy qua. Mui xe cắm lá cờ nửa xanh, nửa đỏ, chính giữa có ngôi sao vàng 5 cánh của bọn Côn đồ “Giải phóng Miền Nam”. Trên xe đầy lũ nhóc cách mạng 30 tay đeo băng đỏ. Xe vừa chạy qua chổ Tuấn, chúng ngừng lại. Một tên có lẽ là chỉ huy, quát Tuấn:
- Thằng lính ngụy kia! Giờ này mà còn bận đồ lính và cầm súng. Hãy vất súng xuống, cởi mau đồ lính ra không ông cho phát AK bây giờ.
Tuấn như con người máy. Anh vất súng xuống bên vệ đường, ngồi xuống từ từ cởi đôi dày trận – đôi dày đã theo anh dẩm nát biết bao nhiêu là mật khu của VC – sau hết là bộ đồ trận. Giờ này đâu còn trận nữa, thôi thì cởi phắt cho xong – Tuấn vừa cởi vừa suy nghĩ. Rốt cuộc, trên người anh chỉ còn lại cái quần xà lỏn và áo thun ba lá. Thấy Tuấn đã cởi đồ xong, tên chỉ huy ra lệnh cho xe nổ máy tiếp tục chạy.
Người lính ngơ ngác một lúc. Anh bình tĩnh trở lại. Anh vội vàng mặc lại bộ quần áo trận, không kịp mang dày, anh nhặt khẩu súng lên, anh lên đạn và nhắm ngay vào chiếc xe Lam đang từ từ lăn bánh. Anh bóp cò. Nhưng lòng anh không chút hận thù oán trách. Trước mắt anh là lũ địch, bọn VC ác ôn. Anh phải bắn chúng, nếu không chúng sẽ bắn anh. Ai nhanh tay, người ấy sống. Một tràn đạn M16 tuôn ào ào ra khỏi nòng súng. Vài tên chết và bị thương, chiếc xe đảo qua đảo lại, lật nghiêng bên đường. Người lính từ từ kê nòng súng vào cằm như chống gậy. Anh dùng ngón cái tay phải xiết cò súng. “Việt Nam Cộng Hòa muôn năm! Việt Nam Cộng Hòa muôn năm! Việt Nam Cộng… Câu thứ ba mới phát âm đến chữ “Cộng” thì: Rầm! anh ngã xuống. Máu phun có vòi. Lúc đó là giữa trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975. Vĩnh biệt Tuấn, người con yêu của Tổ Quốc, người lính trận không còn trận để đánh. Người lính trận anh hùng bất khuất của đơn vị anh hùng không chịu hàng giặc. Thà chết vinh hơn sống nhục!
Bảo Định,
30/4/2006.
Bảo Định Nguyễn Hữu Chế
Người lính trận không còn trận để đánh, khi vị Tổng Thống 48 giờ kiêm Tổng Tư Lệnh QLVNCH Dương Văn Minh kêu gọi quân sĩ đâu ở đó, ngưng nổ súng và chuẩn bị bàn giao cho phía bên kia. Thật là khôi hài cho hai chữ “bàn giao” và gọi bọn cộng sản Bắc Việt xâm lược là “phía bên kia” một cách nhẹ nhàng thân ái. Trong lúc chúng chỉ là những tên đồ tể khát máu, mất tính người, là công cụ của bọn Cộng sản Đệ Tam quốc tế, cần phải loại chúng ra khỏi đất nước này, loại chúng ra khỏi tâm tư của mọi người dân Việt. Chúng chỉ là loài sâu bọ biến thành người, hay như chúng tự nhận là con cháu của loài khỉ trên rừng “trải qua quá trình lao động nên biến thành người”. Tại sao ông Minh có thể ngây thơ đến như vậy! Nếu trong con người của ông còn một chút gì là lính, người lính VNCH chân chính, thì ông đã không hành động như vậy. Hoặc ít ra nếu suy nghĩ nông cạn, bị bọn trí thức khoa bảng ăn hại bu quanh bàn ra tán vào lếu láo, bị tên Dương Văn Nhật, Thiếu tá tình báo cộng sản, em ruột móc nối, bị mấy ông thầy tu xách động xúi giục, sợ dân chúng đổ máu (chỉ là cái cớ để biện minh), thì sau lời tuyên bố dâng đất, dâng dân, dân thành cho Cộng sản, ông phải biết kê khẩu súng vào mang tang để bóp cò một phát cho tròn khí tiết của một người lính, nhất là khi ông đã là một vị Tướng 4 sao! Từng hai lần làm Quốc trưởng (nhưng chẳng nên cơm cháo gì). “Mất thành phải chết theo thành” như Võ Tánh ngày xưa tuẫn tiết tại thành Bình Định, hay Hoàng Diệu tại thành Hà Nội.
Người lính trẻ mệt mỏi, mặt mày bơ phờ vì đã nhiều ngày đêm không ngủ, đang lê đôi chân nặng nhọc từ cầu Sơn hướng về ngả tư Xa lộ Hàng Xanh. Anh định về Thị Nghè, nhà anh ở đó. Anh biết mẹ anh, chị Dung của anh đang chờ tin tức của anh. Anh biết Loan, người yêu của anh, đang trông chờ anh từng giờ, từng phút. Hay nàng đã theo gia đình di tản đang lênh đênh trên mặt nước. Nàng có dám hy sinh, dám cãi lời cha mẹ không lên tàu, dám ở lại để chờ chàng, người lính trận của phe thua trận?
Thôi hết rồi khi đài phát thanh Saigon đọc lời tuyên bố của ông Dương Văn Minh, lệnh cho tất cả quân sĩ không được nổ súng, đâu ở đó, chờ phía bên kia vào bàn giao! Việt Nam Cộng Hòa không còn, QLVNCH không còn, đơn vị anh tan hàng, nhưng lần này không “cố gắng” như trước. Đây là lần tan hàng cuối cùng! Vị Tiểu đoàn trưởng của anh tập họp Tiểu đoàn và tuyên bố: “Việt Nam Cộng Hoà không còn, QLVNCH không còn, Tiểu đoàn của chúng ta cũng không còn. Tôi xin cảm ơn các bạn đã đồng cam cộng khổ, vào sinh ra tử, đã cùng nhau chiến đấu trong bao nhiêu năm. Chúng ta đã tạo được nhiều chiến thắng lẫy lừng ghi trong quân sử. Nhưng ngày hôm nay, vận nước không còn. Là quân nhân, chúng ta phải tuyệt đối thi hành mệnh lệnh. Dù đó là mệnh lệnh gì. “Thi hành trước, khiếu nại sau”. Với tư cách là Tiểu đoàn trưởng, tôi tuyên bố giải tán đơn vị. Các bạn ai về nhà nấy để gặp lại gia đình, sống cuộc đời thường dân lương thiện. Chúc các bạn sức khỏe. Chào VĨNH BIỆT! Vừa dứt lời, vị Tiểu đoàn trưởng khả kính đã kề khẩu colt 45 vào màng tang và bóp cò.
Buổi trưa ngày 29, tuyến phòng thủ Trảng Bom vỡ. Một Đại úy Đại đội trưởng chết ngay tại trận tiền. Một vị Tiểu đoàn trưởng bị cộng quân bắt sống. Đoàn quân xâm lăng Bắc Việt đã chiếm cứ Trảng Bom, tiền đồn xa nhất của Saigon lúc đó, chỉ cách Thủ đô yêu dấu miền Nam hơn 30 cây số. Từ đây, súng 122ly, 130ly có thể bắn tới.
Căn cứ Long Bình bị pháo kích nhiều nơi, nhiều kho đạn bị nổ. Phi trường Biên Hòa bị oanh kích bởi chính những chiếc F5E của QLVNCH do Không quân không kịp di tản, để lại tại Đà Nẳng, tại Phan Rang, do chính tên Trung úy phản bội Nguyễn Thành Trung theo giặc hướng dẫn. Dân chúng hoảng hốt, bồng bế nhau dồn về Saigon. Lẫn trong đoàn dân chạy loạn, có những người lính vừa thất trận tại phòng tuyến Trảng Bom. Đơn vị Tuấn phải củng cố tuyến phòng thủ để bảo vệ BTL/SĐ. Kể từ khi rời mặt trận Xuân Lộc, vì là đơn vị sau cùng làm lực lượng chặn hậu cho đại đơn vị rút ra an toàn, đã bị thiệt hại nặng, nên đã được chỉ định làm lực lượng phòng thủ BTL. Công việc tương đối an nhàn, ít nguy hiểm. Ngay trong không khí hổn quân hổn quan và loạn lạc đó, một chiếc xe honda từ Saigon trờ tới trước cửa BTL. Đó là chị Dung, chị ruột của Tuấn và Loan, cô bạn gái, người yêu của chàng.
Vừa gặp mặt Tuấn, chị Dung nói ngay:
- Họ đi hết rồi, cả Saigon đang đi. Anh rể em ở bên Không Quân có lệnh đưa gia đình ra Phú Quốc. Bên Hải Quân cũng chuẩn bị cho gia đình xuống tàu ra biển. Còn chị làm trong DAO cũng đã làm danh sách cho cả gia đình mình đi. Mấy ngày chị và Má cứ trông em về để đi, tất cả đã sẵn sàng.
- Nhưng ông Tướng, các cấp chỉ huy và đồng đội của em vẫn còn ở lại, vẫn còn tiếp tục chiến đấu.
- Ông Thiếu Tướng Kỳ, cựu Thủ Tướng, cựu Phó Tổng Thống, chiều ngày 28 tháng 4 còn đến xứ Tân Sa Châu thuộc quận Tân Bình hô hào tử thủ, hô hào sẽ chiến đấu đến giọt máu cuối cùng, nhưng mới sáng sớm ngày hôm nay, tức 29 tháng 4, ông đã dùng máy bay trực thăng riêng bay ra Hạm đội. Ông Tướng Toàn, Tư Lệnh Quân đoàn III kiêm Quân khu 3 của em, buổi sáng ghé đây họp với các Tư lệnh Sư đoàn, chỉ thị các vị ấy phải tử thủ, phải chiến đấu, thì sau đó ông bay về Gò Vấp thu gom đồ đạc và bay thẳng ra Hạm đội 7 rồi. Chỉ có ông Tướng của em, các cấp chỉ huy của em điếc không sợ súng, không am hiểu tình thế mới ở lại để tiếp tục chiến đấu.
- Không được, em phải ở lại, em phải cùng đơn vị chiến đấu. Dù là trong tuyệt vọng. Em không thể đào ngũ trong lúc này. Em xin lỗi chị, xin lỗi Má.
- Loan, em hãy nói vài lời với Tuấn đi, em hãy thuyết phục Tuấn dùm chị. Em hãy nói em không thể sống xa Tuấn, sống thiếu Tuấn. Má, chị và cả nhà sẽ mang ơn em nhiều. Nhưng Tuấn vẫn kiên trì. Tình yêu gia đình, tình yêu trai gái, Tuấn đã coi nhẹ hơn tình yêu đơn vị, tình yêu đồng đội, ít ra là trong lúc này, trong hoàn cảnh dầu sôi lửa bỏng này. Nói thế có nghĩa là trong quá khứ, cũng đã nhiều lần Tuấn dù về nhà thăm mẹ, thăm chị Dung, người chị mà chàng thương yêu nhất, và Loan, dĩ nhiên là Loan, mối tình từ thuở học trò của chàng. Không thuyết phục được người em, người tình cứng đầu, Dung và Loan thất vọng trở lại Saigon.
Tuấn đi như người mất hồn. Anh không có một chủ định nào cả. Chân bước đi, đôi chân chàng di động như cái máy. Chàng hướng về Thị Nghè, nơi đó có Má, có chị Dung, có Loan đang chờ chàng.
Một chiếc xe Lam chạy qua. Mui xe cắm lá cờ nửa xanh, nửa đỏ, chính giữa có ngôi sao vàng 5 cánh của bọn Côn đồ “Giải phóng Miền Nam”. Trên xe đầy lũ nhóc cách mạng 30 tay đeo băng đỏ. Xe vừa chạy qua chổ Tuấn, chúng ngừng lại. Một tên có lẽ là chỉ huy, quát Tuấn:
- Thằng lính ngụy kia! Giờ này mà còn bận đồ lính và cầm súng. Hãy vất súng xuống, cởi mau đồ lính ra không ông cho phát AK bây giờ.
Tuấn như con người máy. Anh vất súng xuống bên vệ đường, ngồi xuống từ từ cởi đôi dày trận – đôi dày đã theo anh dẩm nát biết bao nhiêu là mật khu của VC – sau hết là bộ đồ trận. Giờ này đâu còn trận nữa, thôi thì cởi phắt cho xong – Tuấn vừa cởi vừa suy nghĩ. Rốt cuộc, trên người anh chỉ còn lại cái quần xà lỏn và áo thun ba lá. Thấy Tuấn đã cởi đồ xong, tên chỉ huy ra lệnh cho xe nổ máy tiếp tục chạy.
Người lính ngơ ngác một lúc. Anh bình tĩnh trở lại. Anh vội vàng mặc lại bộ quần áo trận, không kịp mang dày, anh nhặt khẩu súng lên, anh lên đạn và nhắm ngay vào chiếc xe Lam đang từ từ lăn bánh. Anh bóp cò. Nhưng lòng anh không chút hận thù oán trách. Trước mắt anh là lũ địch, bọn VC ác ôn. Anh phải bắn chúng, nếu không chúng sẽ bắn anh. Ai nhanh tay, người ấy sống. Một tràn đạn M16 tuôn ào ào ra khỏi nòng súng. Vài tên chết và bị thương, chiếc xe đảo qua đảo lại, lật nghiêng bên đường. Người lính từ từ kê nòng súng vào cằm như chống gậy. Anh dùng ngón cái tay phải xiết cò súng. “Việt Nam Cộng Hòa muôn năm! Việt Nam Cộng Hòa muôn năm! Việt Nam Cộng… Câu thứ ba mới phát âm đến chữ “Cộng” thì: Rầm! anh ngã xuống. Máu phun có vòi. Lúc đó là giữa trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975. Vĩnh biệt Tuấn, người con yêu của Tổ Quốc, người lính trận không còn trận để đánh. Người lính trận anh hùng bất khuất của đơn vị anh hùng không chịu hàng giặc. Thà chết vinh hơn sống nhục!
Bảo Định,
30/4/2006.
Nhớ những ngày này năm xưa đi dựng cờ tổ quốc
SVSQ Nguyễn Phúc 343 Buổi trưa ngày 24-01-1973, một buổi trưa kỳ quái trong chambre chúng tôi. Không khí trong phòng thấy nao nao lên cả, có lẽ vì thông điệp của Tổng Thống VNCH đọc lúc 11 giờ nói về ngày ký Hiệp Ðịnh ngưng bắn; đằng này, đàng kia chúng tôi nhảy múa, gõ nhịp vào giường mà ca hát. Một vài anh trong tuổi động viên cấp thời đang ngồi tính chuyện “một mai giã từ vũ khí”. Ngay cả anh Luyện, danh số 123 của Ðại Ðội C chúng tôi, con người “khô” nhất phòng cũng đang áp tai vào chiếc radio transitor nghe bài Bình Luận, miệng lẩm bẩm hát: “Ta đã thấy gì trong đêm nay, cờ bay trăm ngọn ...”
Những ngày cuối năm và cũng là những ngày cuối cùng giai đoạn I thụ huấn tại Quang Trung của chúng tôi, thật có nhiều chuyện, nhiều vấn đề bàn cãi; một vài tin cho hay chúng tôi sẽ về Thủ Ðức vài hôm nữa... ăn Tết tại Quang Trung rồi đi... hoặc đi chiến dịch Chiến Tranh Chính Trị đợt 2.
Sáng ngày 25-01-1973, chúng tôi được lệnh chuẩn bị qua sân vận động trại Bùi Như Luông học tập Chiến Tranh Chính Trị, để thông suốt vấn đề trước khi đi chiến dịch. Thế là cả Tiểu Ðoàn Gia Long chúng tôi náo động lên, kẻ biên thư, người nhắn tin, mua sắm một vài vật dụng cần thiết khi ra đi.
Sau khi đã lãnh lương, cùng mấy ngày lương khô, sáng 27 chúng tôi được xếp vào từng toán và làm lễ xuất phát tại sân vận động Bùi Như Luông. Trong buổi lễ đơn sơ không kém phần ý nghĩa, chúng tôi được Thiếu Tướng Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung gắn Alpha giả định để đi công tác. Giã từ bè bạn được tung bốn phương trời, toán chúng tôi theo anh em lên xe về Hậu Nghĩa. Ðến trưa chúng tôi đến Hậu Nghĩa dưới ngàn con mắt hiếu kỳ tò mò của dân chúng. Ðám “lính sữa” sau khi nghỉ trưa vào phòng hội của Ty Chiêu Hồi Tỉnh Hậu Nghĩa để nghe Phòng 2 thuyết trình về tình hình an ninh và dân số trong tỉnh. Trong khi ấy hàng loạt súng pháo binh gần đó càng lúc càng nổ dữ dội. Trung Úy Trưởng Ban 2 cho chúng tôi biết Việt cộng từ mật khu Bời Lời vừa kéo về cách phòng hợp độ hơn cây số và đang đụng với mấy Ðại Ðội Ðịa Phương Quân (ÐÐ/ÐPQ) ở đó. Chúng tôi nhìn lên bản đồ tỉnh, thấy mịt mù, những vòng đỏ qua đó ghi chú Bời Lời, Ba Thu, Hố Bò v.v... Toàn thứ dữ. Ðến 4 giờ 30 chiều, chúng tôi đến Quận Trảng Bàng ở đây một lần nữa, chúng tôi nghe thuyết trình về anh ninh ở Quận. Ðại Úy Chi khu phó cho biết VC vừa pháo vào quận lỵ 2 hỏa tiễn 122 ly cách đó mấy giờ.
Buổi tối đầu tiên tại quận chúng tôi ngủ thiếp đi, có lẽ do một ngày mệt mỏi.
Sáng hôm sau, trong khi chúng tôi đi ăn sáng, cũng ngập ngừng bước chân không dám đi xa vì chốn đây đất khách quê người, chúng tôi 10 người được chỉ định về Xã An Hòa, nhưng chưa rõ ở đâu. Lân la lại một bà bán bánh canh (món ăn hảo hạng ở Trảng Bàng) hỏi thử xem. Bà không nói, chỉ ngước nhìn chiếc F-5 đang lao xuống hướng sau lưng chúng tôi cách chừng hơn cây số. Một hoặc hai quả bom lao vút xuống, từng tiếng nổ rền. Tôi nhìn đồng hồ đã 7 giờ 45 rồi, có lẽ những quả bom này là những quả bom cuối cùng. Tôi nghĩ thầm như thế. Bà nọ lắc đầu rồi bảo:
- Ðó chú, An Hòa đang bị VC vây đánh sát từ tối hôm kia đến giờ, nghe đâu nó ở Ấp Lò Rèn tràn qua Hòa Hưng rồi đánh lan mặt An Lợi, tụi nó bắn “quá trí”... Tôi thấy có gì lạnh lạnh chạy qua tay áo.
Ðến 8 giờ thiếu mấy phút, chúng tôi ngồi đợi từng giây, Trung Tá Chi Khu Trưởng vừa lên xe ra khỏi Quận, hình như đến thị sát một mặt trận nào đó. Ðúng 8 giờ, với chiếc radio nhỏ trong tay, cả toán chụm đầu lại nghe Tổng Thống lên tiếng và chiếc phản lực cơ vẫn lao xuống, rất gần, có một đoàn trực thăng đang đảo gần đó, thỉnh thoảng một tràng đại liên rú lên.
Chúng tôi đến Xã An Hòa vào lúc 9 giờ bằng 2 chuyến xe lôi, dưới sự hướng dẫn của Thiếu Úy Trưởng toán thuộc Ðại Ðội Chiến Tranh Chính Trị Hậu Nghĩa. Một lần nữa, chúng tôi được nghe nói về tình hình ở Xã. Tôi vẫn nhớ cái giây phút ngỡ ngàng khi bước xuống xe lôi, bên chợ vắng người, một vài kẻ qua lại nhìn, không rõ họ thế nào, chúng tôi bấm nhau nói nhỏ - K54 đấy.
- Ðây là ranh giới Xã An Hòa chúng tôi, đây Xã Lộc Giang, Xã Gia Lộc và đây là Gia Bình, ông Xã Trưởng giới thiệu trên bản đồ với chúng tôi... Xã chúng tôi từ đêm 26-01-1973, Trung Ðoàn 271 VC cố đánh vào các hướng này hy vọng chiếm ít đất giữ lợi thế khi ký Hiệp Ðịnh. Ông chỉ cho chúng tôi 6 mũi tên đỏ, hướng đánh của địch. Cách đó một Trung Ðội Trưởng Nghĩa Quân đang chấm tọa độ trên bản đồ và xin Pháo Binh ở Chi Khu (ở đây về sau chúng tôi thấy những Trung Ðội Trưởng Nghĩa Quân hay nhân viên xã ấp đều có thể chấm tọa độ một cách nhanh chóng và chính xác, có lẽ họ đã quen địa thế) - Thỉnh thoảng một vài nơi nào đó báo cáo địch treo cờ nhưng lực lượng Nhân Dân Tự Vệ đã hạ và xé rồi.
Chúng tôi bắt đầu đi công tác vào chiều hôm đó, không một vũ khí, chúng tôi phải mượn tạm mấy quả lựu đạn của Nghĩa Quân xã theo hộ tống chúng tôi, đề phòng khi hữu dụng. Trạm đầu tiên là trường Cộng Ðồng Xã An Hòa, nơi mà dân chúng kéo về tị nạn, chúng tôi chia nhau mỗi người một phòng học để hỏi han và được biết thêm một vài tin tức về dân tình ở đây. Hầu như tất cả đều ngán Cộng Sản (CS) vì lẽ Xã này ngót 20 năm chưa một lần binh lửa dấy lên. Chúng tôi mang hết tất cả những kiến thức, những hiểu biết về ngưng bắn và thủ đoạn của CS giải thích cho họ. Một cụ già bế đứa cháu nhỏ ở chân có một vết thương nhẹ hỏi chúng tôi:
- Mấy chú coi nè, nghe đâu ngưng bắn ngưng bùng gì mà chúng nó làm “quá trí” vậy hả chú ?
Chúng tôi giải thích thật lâu để họ hiểu, hay những câu hỏi:
- Trời ơi, Tết nhất tới nơi rồi mà còn “dô” phá đám nữa, năm nay chắc không thể nào vui hưởng Tết được rồi!
Một vài người thật xem thường súng đạn, len lén bò về tưới đám cải dưới lằn đạn đôi bên. Họ cố bảo vệ cái gia tài sống của họ, hay về lùa bầy heo, trong số này cũng đã có người lãnh B40 của giặc, hoặc họ còn mang theo một vài lớp bánh có lẽ để cúng giỗ trong những ngày đầu năm. Tất cả đều ủ rũ buồn chán, chúng tôi an ủi và nói rất nhiều. Xế chiều sau khi dùng bữa, chúng tôi được lệnh úp nón sắt và vào hầm, nghe đâu chúng nó về còn độ 500m nữa là đến nơi chúng tôi. Trong đồn Xã còn lại Tiểu Ðội Nghĩa Quân và đám Nhân Dân Tự Vệ chưa quá 16 tuổi, gác chỉ lo ngủ và vặn đồng hồ “ma giáo”. Chúng tôi phải chia phiên gác một mặt phụ để yên tâm hơn. Chúng tôi không quên những buổi đi ăn cơm với đội hình hai hàng dọc, khoảng cách đều và tiến chậm, hoặc 5 người ăn và 5 người gác.
Thế rồi những ngày đầu năm trôi qua, giặc cũng bị Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù đuổi ra khỏi các Ấp. Chúng tôi đi góp nhặt tang thương cùng với các giáo chức các trường trong Xã, phụ giúp dân làm đơn khiếu nại CS vi phạm ngưng bắn, phá hoại tài sản và gia đình họ. Chúng tôi viết hàng trăm lá đơn mỗi ngày ghi vào những số tiền xin bồi hoàn thiệt hại thật khiên tốn, nhưng trong thâm tâm tôi, một ý nghĩa quay cuồng mãi “không biết bọn CS ngoan cố có bồi hoàn được 1/10 số tiền này không?”
Những ngày đi dựng cờ Tổ Quốc, chúng tôi không thể nào để nhạt phai trong tiềm thức một buổi nắng lên giữa rừng cờ phơi phới, hàng ngàn lá cờ Vàng ba sọc đỏ tung bay trước gió. Vỏn vẹn mấy ngày sau, sự sinh hoạt trở lại bình thường, tôi có dịp đi một vòng Xã, đến từng nhà và bắt tay từng người, hỏi han. Ðoàn cải lương nho nhỏ cũng vừa ở nơi nào đó về đóng tại hội trường xóm đạo Thala, bên cạnh buổi hội chợ do giáo xứ tổ chức, (Thala đã nhiều lần nghe đến, bây giờ chúng tôi mới có dịp đến). Những ai đến Thala Xóm Ðạo giờ này không thể tin được trước đó vài tuần, bên kia lũy tre xanh, VC đã chết rãi ở đó vì bom đạn, những đổ nát vẫn còn vết tích nhưng được hàng lũy tre xanh che khuất. Những buổi sinh hoạt Nhân Dân Tự Vệ hay phụ giúp một vài việc như chỉnh đốn hồ sơ hay đơn từ của dân chúng đã thất lạc vì chiến tranh là việc của chúng tôi.
Khi đã được gọi là quen với địa thế, chúng tôi được tung ra mỗi người hoạt động ở một Ấp. An Thới là vùng vừa định cư đi đường thủy gần 4 km, cạnh sông Vàm Cỏ Ðông nên được cử 2 người, còn lại 1 người để điều hành công tác ở Xã.
Tôi được về một Ấp loại A, đó là Ấp An Phú thuộc Xã này. Cái không khí ngỡ ngàng của những buổi sinh hoạt đầu với các liên toán Nhân Dân Tự Vệ, hay dân chúng dần dần tiêu tan đi mất, bên cạnh những đêm khó ngủ, có lẽ ban chiều bắt gặp một ánh mắt, một mái tóc nào đó, tôi vơ lấy khẩu M-16 của một Cán Bộ BÐPT mang đạn vào và theo toán xung kích Nhân Dân Tự Vệ đi nằm bên bìa bưng.
Một vài lần ngồi tâm sự, chỉ giáo “kinh nghiệm Quân trường” hay sùi bọt mép với những ly rượu đế đầy mùi quê hương, ở đây chỉ có “nước mắt quê hương” này với cá lóc nướng là tuyệt hảo.
Sau hai tháng sống vui buồn tại đây, chúng tôi đã thu góp được một gia tài quý báu của câu “đi một ngày đàng học một sàng khôn”. Chúng tôi may mắn và diễm phúc khi để lại trong lòng dân ở đây một cảm tình sâu đậm, và trong chúng tôi, cũng đã có kẻ mang theo kỷ niệm trong tim, những niềm tin ngày nào trở lại và...
Ngày chúng tôi trở lại Quân Trường để tiếp tục dùi mài cung kiếm, Trời Thala bỗng trở mưa, cơn mưa đầu mùa làm chúng tôi nao nao. Trong 10 người, 6 người đã trở về Chi Khu từ sáng sớm, còn lại chúng tôi 4 người với Ba-lô đầy đủ nhất đi bộ từ nhà thờ Xóm đạo Thala, dọc đường có những cái bắt tay, những cái chào, những câu nói và những câu giã từ trìu mến.
Chúng tôi vẫy tay chào những trại sinh trong một khuôn viên gần đó, buổi sinh hoạt Nhân Dân do Xã tổ chức. Những ánh mắt trông theo. Tôi đưa tay vẫy chào một ánh mắt nai vàng bên mái tóc dễ thương “Hẹn em ngày trở lại...”
Buổi sáng giã từ không có mặt trời và không có gió.
(Những ngày đi chiến dịch Dựng Cờ Tổ Quốc tại An Hòa, Trảng Bàng)
SVSQ Nguyễn Phúc - 343
Nguồn: h*p://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer ... 08807&z=36
SVSQ Nguyễn Phúc 343 Buổi trưa ngày 24-01-1973, một buổi trưa kỳ quái trong chambre chúng tôi. Không khí trong phòng thấy nao nao lên cả, có lẽ vì thông điệp của Tổng Thống VNCH đọc lúc 11 giờ nói về ngày ký Hiệp Ðịnh ngưng bắn; đằng này, đàng kia chúng tôi nhảy múa, gõ nhịp vào giường mà ca hát. Một vài anh trong tuổi động viên cấp thời đang ngồi tính chuyện “một mai giã từ vũ khí”. Ngay cả anh Luyện, danh số 123 của Ðại Ðội C chúng tôi, con người “khô” nhất phòng cũng đang áp tai vào chiếc radio transitor nghe bài Bình Luận, miệng lẩm bẩm hát: “Ta đã thấy gì trong đêm nay, cờ bay trăm ngọn ...”
Những ngày cuối năm và cũng là những ngày cuối cùng giai đoạn I thụ huấn tại Quang Trung của chúng tôi, thật có nhiều chuyện, nhiều vấn đề bàn cãi; một vài tin cho hay chúng tôi sẽ về Thủ Ðức vài hôm nữa... ăn Tết tại Quang Trung rồi đi... hoặc đi chiến dịch Chiến Tranh Chính Trị đợt 2.
Sáng ngày 25-01-1973, chúng tôi được lệnh chuẩn bị qua sân vận động trại Bùi Như Luông học tập Chiến Tranh Chính Trị, để thông suốt vấn đề trước khi đi chiến dịch. Thế là cả Tiểu Ðoàn Gia Long chúng tôi náo động lên, kẻ biên thư, người nhắn tin, mua sắm một vài vật dụng cần thiết khi ra đi.
Sau khi đã lãnh lương, cùng mấy ngày lương khô, sáng 27 chúng tôi được xếp vào từng toán và làm lễ xuất phát tại sân vận động Bùi Như Luông. Trong buổi lễ đơn sơ không kém phần ý nghĩa, chúng tôi được Thiếu Tướng Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung gắn Alpha giả định để đi công tác. Giã từ bè bạn được tung bốn phương trời, toán chúng tôi theo anh em lên xe về Hậu Nghĩa. Ðến trưa chúng tôi đến Hậu Nghĩa dưới ngàn con mắt hiếu kỳ tò mò của dân chúng. Ðám “lính sữa” sau khi nghỉ trưa vào phòng hội của Ty Chiêu Hồi Tỉnh Hậu Nghĩa để nghe Phòng 2 thuyết trình về tình hình an ninh và dân số trong tỉnh. Trong khi ấy hàng loạt súng pháo binh gần đó càng lúc càng nổ dữ dội. Trung Úy Trưởng Ban 2 cho chúng tôi biết Việt cộng từ mật khu Bời Lời vừa kéo về cách phòng hợp độ hơn cây số và đang đụng với mấy Ðại Ðội Ðịa Phương Quân (ÐÐ/ÐPQ) ở đó. Chúng tôi nhìn lên bản đồ tỉnh, thấy mịt mù, những vòng đỏ qua đó ghi chú Bời Lời, Ba Thu, Hố Bò v.v... Toàn thứ dữ. Ðến 4 giờ 30 chiều, chúng tôi đến Quận Trảng Bàng ở đây một lần nữa, chúng tôi nghe thuyết trình về anh ninh ở Quận. Ðại Úy Chi khu phó cho biết VC vừa pháo vào quận lỵ 2 hỏa tiễn 122 ly cách đó mấy giờ.
Buổi tối đầu tiên tại quận chúng tôi ngủ thiếp đi, có lẽ do một ngày mệt mỏi.
Sáng hôm sau, trong khi chúng tôi đi ăn sáng, cũng ngập ngừng bước chân không dám đi xa vì chốn đây đất khách quê người, chúng tôi 10 người được chỉ định về Xã An Hòa, nhưng chưa rõ ở đâu. Lân la lại một bà bán bánh canh (món ăn hảo hạng ở Trảng Bàng) hỏi thử xem. Bà không nói, chỉ ngước nhìn chiếc F-5 đang lao xuống hướng sau lưng chúng tôi cách chừng hơn cây số. Một hoặc hai quả bom lao vút xuống, từng tiếng nổ rền. Tôi nhìn đồng hồ đã 7 giờ 45 rồi, có lẽ những quả bom này là những quả bom cuối cùng. Tôi nghĩ thầm như thế. Bà nọ lắc đầu rồi bảo:
- Ðó chú, An Hòa đang bị VC vây đánh sát từ tối hôm kia đến giờ, nghe đâu nó ở Ấp Lò Rèn tràn qua Hòa Hưng rồi đánh lan mặt An Lợi, tụi nó bắn “quá trí”... Tôi thấy có gì lạnh lạnh chạy qua tay áo.
Ðến 8 giờ thiếu mấy phút, chúng tôi ngồi đợi từng giây, Trung Tá Chi Khu Trưởng vừa lên xe ra khỏi Quận, hình như đến thị sát một mặt trận nào đó. Ðúng 8 giờ, với chiếc radio nhỏ trong tay, cả toán chụm đầu lại nghe Tổng Thống lên tiếng và chiếc phản lực cơ vẫn lao xuống, rất gần, có một đoàn trực thăng đang đảo gần đó, thỉnh thoảng một tràng đại liên rú lên.
Chúng tôi đến Xã An Hòa vào lúc 9 giờ bằng 2 chuyến xe lôi, dưới sự hướng dẫn của Thiếu Úy Trưởng toán thuộc Ðại Ðội Chiến Tranh Chính Trị Hậu Nghĩa. Một lần nữa, chúng tôi được nghe nói về tình hình ở Xã. Tôi vẫn nhớ cái giây phút ngỡ ngàng khi bước xuống xe lôi, bên chợ vắng người, một vài kẻ qua lại nhìn, không rõ họ thế nào, chúng tôi bấm nhau nói nhỏ - K54 đấy.
- Ðây là ranh giới Xã An Hòa chúng tôi, đây Xã Lộc Giang, Xã Gia Lộc và đây là Gia Bình, ông Xã Trưởng giới thiệu trên bản đồ với chúng tôi... Xã chúng tôi từ đêm 26-01-1973, Trung Ðoàn 271 VC cố đánh vào các hướng này hy vọng chiếm ít đất giữ lợi thế khi ký Hiệp Ðịnh. Ông chỉ cho chúng tôi 6 mũi tên đỏ, hướng đánh của địch. Cách đó một Trung Ðội Trưởng Nghĩa Quân đang chấm tọa độ trên bản đồ và xin Pháo Binh ở Chi Khu (ở đây về sau chúng tôi thấy những Trung Ðội Trưởng Nghĩa Quân hay nhân viên xã ấp đều có thể chấm tọa độ một cách nhanh chóng và chính xác, có lẽ họ đã quen địa thế) - Thỉnh thoảng một vài nơi nào đó báo cáo địch treo cờ nhưng lực lượng Nhân Dân Tự Vệ đã hạ và xé rồi.
Chúng tôi bắt đầu đi công tác vào chiều hôm đó, không một vũ khí, chúng tôi phải mượn tạm mấy quả lựu đạn của Nghĩa Quân xã theo hộ tống chúng tôi, đề phòng khi hữu dụng. Trạm đầu tiên là trường Cộng Ðồng Xã An Hòa, nơi mà dân chúng kéo về tị nạn, chúng tôi chia nhau mỗi người một phòng học để hỏi han và được biết thêm một vài tin tức về dân tình ở đây. Hầu như tất cả đều ngán Cộng Sản (CS) vì lẽ Xã này ngót 20 năm chưa một lần binh lửa dấy lên. Chúng tôi mang hết tất cả những kiến thức, những hiểu biết về ngưng bắn và thủ đoạn của CS giải thích cho họ. Một cụ già bế đứa cháu nhỏ ở chân có một vết thương nhẹ hỏi chúng tôi:
- Mấy chú coi nè, nghe đâu ngưng bắn ngưng bùng gì mà chúng nó làm “quá trí” vậy hả chú ?
Chúng tôi giải thích thật lâu để họ hiểu, hay những câu hỏi:
- Trời ơi, Tết nhất tới nơi rồi mà còn “dô” phá đám nữa, năm nay chắc không thể nào vui hưởng Tết được rồi!
Một vài người thật xem thường súng đạn, len lén bò về tưới đám cải dưới lằn đạn đôi bên. Họ cố bảo vệ cái gia tài sống của họ, hay về lùa bầy heo, trong số này cũng đã có người lãnh B40 của giặc, hoặc họ còn mang theo một vài lớp bánh có lẽ để cúng giỗ trong những ngày đầu năm. Tất cả đều ủ rũ buồn chán, chúng tôi an ủi và nói rất nhiều. Xế chiều sau khi dùng bữa, chúng tôi được lệnh úp nón sắt và vào hầm, nghe đâu chúng nó về còn độ 500m nữa là đến nơi chúng tôi. Trong đồn Xã còn lại Tiểu Ðội Nghĩa Quân và đám Nhân Dân Tự Vệ chưa quá 16 tuổi, gác chỉ lo ngủ và vặn đồng hồ “ma giáo”. Chúng tôi phải chia phiên gác một mặt phụ để yên tâm hơn. Chúng tôi không quên những buổi đi ăn cơm với đội hình hai hàng dọc, khoảng cách đều và tiến chậm, hoặc 5 người ăn và 5 người gác.
Thế rồi những ngày đầu năm trôi qua, giặc cũng bị Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù đuổi ra khỏi các Ấp. Chúng tôi đi góp nhặt tang thương cùng với các giáo chức các trường trong Xã, phụ giúp dân làm đơn khiếu nại CS vi phạm ngưng bắn, phá hoại tài sản và gia đình họ. Chúng tôi viết hàng trăm lá đơn mỗi ngày ghi vào những số tiền xin bồi hoàn thiệt hại thật khiên tốn, nhưng trong thâm tâm tôi, một ý nghĩa quay cuồng mãi “không biết bọn CS ngoan cố có bồi hoàn được 1/10 số tiền này không?”
Những ngày đi dựng cờ Tổ Quốc, chúng tôi không thể nào để nhạt phai trong tiềm thức một buổi nắng lên giữa rừng cờ phơi phới, hàng ngàn lá cờ Vàng ba sọc đỏ tung bay trước gió. Vỏn vẹn mấy ngày sau, sự sinh hoạt trở lại bình thường, tôi có dịp đi một vòng Xã, đến từng nhà và bắt tay từng người, hỏi han. Ðoàn cải lương nho nhỏ cũng vừa ở nơi nào đó về đóng tại hội trường xóm đạo Thala, bên cạnh buổi hội chợ do giáo xứ tổ chức, (Thala đã nhiều lần nghe đến, bây giờ chúng tôi mới có dịp đến). Những ai đến Thala Xóm Ðạo giờ này không thể tin được trước đó vài tuần, bên kia lũy tre xanh, VC đã chết rãi ở đó vì bom đạn, những đổ nát vẫn còn vết tích nhưng được hàng lũy tre xanh che khuất. Những buổi sinh hoạt Nhân Dân Tự Vệ hay phụ giúp một vài việc như chỉnh đốn hồ sơ hay đơn từ của dân chúng đã thất lạc vì chiến tranh là việc của chúng tôi.
Khi đã được gọi là quen với địa thế, chúng tôi được tung ra mỗi người hoạt động ở một Ấp. An Thới là vùng vừa định cư đi đường thủy gần 4 km, cạnh sông Vàm Cỏ Ðông nên được cử 2 người, còn lại 1 người để điều hành công tác ở Xã.
Tôi được về một Ấp loại A, đó là Ấp An Phú thuộc Xã này. Cái không khí ngỡ ngàng của những buổi sinh hoạt đầu với các liên toán Nhân Dân Tự Vệ, hay dân chúng dần dần tiêu tan đi mất, bên cạnh những đêm khó ngủ, có lẽ ban chiều bắt gặp một ánh mắt, một mái tóc nào đó, tôi vơ lấy khẩu M-16 của một Cán Bộ BÐPT mang đạn vào và theo toán xung kích Nhân Dân Tự Vệ đi nằm bên bìa bưng.
Một vài lần ngồi tâm sự, chỉ giáo “kinh nghiệm Quân trường” hay sùi bọt mép với những ly rượu đế đầy mùi quê hương, ở đây chỉ có “nước mắt quê hương” này với cá lóc nướng là tuyệt hảo.
Sau hai tháng sống vui buồn tại đây, chúng tôi đã thu góp được một gia tài quý báu của câu “đi một ngày đàng học một sàng khôn”. Chúng tôi may mắn và diễm phúc khi để lại trong lòng dân ở đây một cảm tình sâu đậm, và trong chúng tôi, cũng đã có kẻ mang theo kỷ niệm trong tim, những niềm tin ngày nào trở lại và...
Ngày chúng tôi trở lại Quân Trường để tiếp tục dùi mài cung kiếm, Trời Thala bỗng trở mưa, cơn mưa đầu mùa làm chúng tôi nao nao. Trong 10 người, 6 người đã trở về Chi Khu từ sáng sớm, còn lại chúng tôi 4 người với Ba-lô đầy đủ nhất đi bộ từ nhà thờ Xóm đạo Thala, dọc đường có những cái bắt tay, những cái chào, những câu nói và những câu giã từ trìu mến.
Chúng tôi vẫy tay chào những trại sinh trong một khuôn viên gần đó, buổi sinh hoạt Nhân Dân do Xã tổ chức. Những ánh mắt trông theo. Tôi đưa tay vẫy chào một ánh mắt nai vàng bên mái tóc dễ thương “Hẹn em ngày trở lại...”
Buổi sáng giã từ không có mặt trời và không có gió.
(Những ngày đi chiến dịch Dựng Cờ Tổ Quốc tại An Hòa, Trảng Bàng)
SVSQ Nguyễn Phúc - 343
Nguồn: h*p://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer ... 08807&z=36
Mùa Xuân của người tù
TNCT Phạm Văn Tiền
Chúng ta đang bước vào những ngày tháng cuối cùng của một năm cũ. Mọi người đang chuẩn bị đón xuân sang, thêm một mùa Xuân tha hương mà đường về còn xa tít. Ðón Xuân nầy ta lại nhớ Xuân xưa. Mùa Xuân thường là mùa hy vọng, của tuổi trẻ vươn lên và mầm sống đâm chồi. Nhưng không phải chúa Xuân bao giờ cũng bình đẳng với mọi người. Có mùa Xuân sum họp đầy tiếng cười hạnh phúc bên bếp lửa bập bùng của tuổi thơ đầy kỷ niệm. Nhưng cũng có mùa Xuân khóc hận khổ đau nghẹn ngào bao nước mắt của Mậu Thân 1968, với những cái chết đầy rẫy tình cờ của Ất Mão 1975 mất nước, lưu lạc tù đày. Bao ngày tháng cùng cực khổ đau cho người ở lại quê hương “thiên đường” CS. Riêng Tần vẫn nhớ mãi những ngày tháng bị cùm trong xà lim phân trại 3, vào những ngày tết Xuân Ðinh Tỵ năm 1977.
Thượng đế hỡi trên trời cao có thấu!
Thân đọa đày của một kiếp tù binh
Chịu khổ đau cùng bao nỗi cực hình
Trong “cũi sắt” của những loài dã thú
Mang con đến một nơi nào ẩn trú
Có mây hồng và nắng ấm rọi ban mai
Có đàn chim tung cánh hót bay dài
Nhưng không được quanh con đường bít lối
Con đang sống trong căn hầm tăm tối
Bao đêm nằm trăn trối nghĩ không ra
Suốt đời con bỗng chốc đã tiêu ma
Giờ còn lại thân tàn trong ngục lạnh
Các câu thơ này đã được cảm tác trong những giờ phút đau khổ tuyệt vọng nhất. Tần và một số bạn tù khác đã bị bắt còng tay dẫn đi vào một đêm mưa gió lạnh, cùng với nhiều trận đòn đau. Lòng hoang mang chẳng biết số phận mình sẽ ra sao khi bị lùa lên những chuyến xe đêm bão táp.
Một buổi chiều cuối năm, mọi người đang cố gắng vun thêm những luống khoai lang còn lại cuối cùng để chuẩn bị ăn Tết. Không như thường lệ, các hồi kẻng báo động liên hồi giục giã được người tù gióng lên toàn phân trại. Bao giờ cũng vậy, theo thói quen đây là điềm chẳng lành cho cuộc đời tù tội. Vài tên vệ binh dẫn tù vội vã la hét gom dụng cụ nhanh gọn tập họp trở về. Trại là những dãy nhà tranh vách đất cũ kỹ, do công sức người tù làm ra, trải dài trên ngọn đồi nhỏ, bao bọc bởi dòng suối quanh co, nằm gọn giữa nhiều tầng thép gai dầy đặc.
Tần cẩn thận kín đáo xem lại chiếc nhẫn vàng 24 kara, 2 chỉ mà chính vợ Tần đã cẩn thận nhét sâu vào thẩu ruốc trong chuyến thăm gặp kỳ rồi, nói là để hộ thân vì có tin tất cả tù nhân sẽ bị áp tải ra miền Bắc, được ngụy trang nằm gọn trên đỉnh chiếc mũ cối rách nát.
Lệnh tập họp bày hàng khám xét khẩn cấp được công bố toàn phân trại, chỉ có 10 phút chuẩn bị bên các họng súng AK đen ngòm. Ai cũng hồi hộp lo âu làm bổn phận của mình, thôi thì đủ thứ lọ chai, bao cát, bao bố, khoai khô, sắn độn được bày ra đầy sân, những thứ thật tầm thường nhưng không thể thiếu cho sinh hoạt tù mỗi ngày. Các tên quản giáo, vệ binh chia nhau lục soát thật tỉ mỉ từ trong nhà cho đến mỗi một cá nhân, không từ chỗ nào kể cả lai quần, bâu áo. Có lệnh vất bỏ tất cả những thứ không cần thiết, thu giữ lương thực có tính dự trữ lâu dài, chuẩn bị hành trang sẵn sàng di chuyển. Ngay từ giờ phút này đến khi có lệnh mới, không ai được quyền ra khỏi lán của mình, ngay cả tiếp xúc với người cùng trại.
Sở dĩ có chuyển biến đột xuất này là vì sau khi Thiếu Tá Nguyễn Ngọc An, Trưởng Phòng An Ninh Sư Ðoàn 1 BB, đã tự kết liễu đời mình vì không chịu nổi những trận đòn đau sau nhiều ngày bị thẩm cung liên tục và đồng thời để bảo vệ đồng đội và tổ chức. Thiếu Tá Bửu Kế đã tự sát trong conex biệt giam vì không chấp nhận sự đày đọa nhục mạ người chiến sĩ Quốc Gia, cùng toán vượt trại đầu tiên của Châu Ðức Thảo, Trần Văn Loan, Mai Ðức Hòa, Lê Văn Cang, Hồ Văn Liệu đã lên đường đêm hôm trước sau nhiều tháng chuẩn bị. Trưởng Toán là Châu Ðức Thảo, người niên trưởng tốt bụng, tốt nghiệp khóa 19 VBQG Ðà Lạt. Thảo ít nói, sống hòa nhã và hay giúp đỡ mọi người. Vợ Thảo lên thăm rất thường nhờ khéo léo quà cáp cho các tên vệ binh trực trại. Chị phát đạt nhờ một nghề mới, nghề buôn lậu thuốc tây. Thức ăn của anh bao giờ cũng nhiều và anh thường hay giúp đỡ kẻ khác. Anh sống rất cương trực hào phóng, mọi vật chất đều tầm thường đối với anh chẳng có gì quan trọng. Chính chị Thảo là người cung cấp đầy đủ lương thực, thuốc men cho chuyến vượt trại này.
Hành trình của các anh là vượt dãy Trường Sơn bằng địa bàn và bản đồ, xuyên qua lãnh thổ Lào đến Thái Lan. Ðiều này chính Loan K-23 Võ Bị Ðà Lạt, người cùng đơn vị đã nhiều lần gợi ý với Tần. Nghĩ mình sức khỏe kém, không kham nổi đoạn đường dài, thôi thì đành chịu vậy. Cơn suyễn hay lên bất chợt buổi chiều, thêm vào chứng sưng khớp xương hành hạ. Nơi dự trữ lương thực là các hố bí mật dưới chân căn cứ Phượng Hoàng, chỗ mà đơn vị TQLC của Tần, lần đầu tiên dùng hỏa tiễn tầm ngắn M72 hạ nhiều chiến xa địch.
Ðêm vượt trại loay quay sao đó mà Liệu bị lạc toán phải trở về, chỉ còn lại 4 người lên đường giữa cơn mưa bão trong sự mến phục bùi ngùi của bao người còn lại. Tối hôm đó tên quản giáo xuống lán điểm danh sớm hơn thường lệ, kèm theo một danh sách chia phiên nhau gác đêm, ai cũng có tên, ngoại trừ Thức và Tần. Thức cũng như Thảo sống rất ngang tàng, là người miền Bắc di cư 1975 nên anh rất căm thù CS. Anh là Trung Tá Tham Mưu Phó Không Ðoàn 4 đóng tại Cần Thơ, vào những ngày cuối cùng của Tháng Tư 1975, sẵn phương tiện trong tay nhưng ra đi chẳng đành, tìm về Sài Gòn với gia đình, nhưng vợ và các con anh đã theo người chú họ di tản vào mấy hôm trước.
Thế là tốt, anh cùng người em trai giả dạng bộ đội CS, đi xe đến Ðông Hà, Quảng Trị, men theo quốc lộ 9 đến tận miền Savanakhet Hạ Lào. Việc bại lộ cả hai người đều bị bắt tại đồn biên giới Khe Sanh. Còn Tần, là đơn vị trưởng của một đơn vị tác chiến bị thượng cấp bỏ rơi lại tại miền giới tuyến khi đại bộ phận xuôi Nam, vất vả ngược xuôi tại bãi biển Thuận An vào những ngày cuối cùng của Tháng Ba sầu thảm, đau lòng phải vứt bỏ súng xuống biển sâu, khi những chiếc T54 của địch bắt đầu tràn vào tuyến. Tần bắt đầu cuộc đời tù đày khi toàn thể miền Nam chưa thất thủ.
Tần thuộc dạng lao động cầm chừng qua loa lấy lệ, hay phát biểu linh tinh, đơn vị TQLC của Tần đã có nhiều nợ máu với “nhân dân” nên bị liệt kê vào danh sách cần quan tâm theo dõi đặc biệt. Có lần đi củi tận rừng sâu, vì đói quá sẵn tiền thu giấu, Tần có lén mua vài lon gạo của dân tại vùng kinh tế mới. Khi ra điểm tập trung, bị tên vệ binh phát giác liền bị kiểm điểm và kết tội “liên hệ” với dân với ý đồ trốn trại, biệt giam Conex nửa tháng trời.
Ðêm ấy là đêm 29 Tết Ðinh Tỵ, trong cơn mưa dai dẳng đáng sợ của miền Trung “khô cằn sỏi đá, của trời hành cơn lụt mỗi năm” ở một quê hương nghèo khó, “mùa Ðông thiếu áo, mùa Hè thiếu ăn” này. Cái lạnh tê tái làm buốt lòng người, bão rồi lại bão, hết cơn số 10, rồi 11. Gió thì giật cấp 8, cấp 9. Chiều hôm trước Tần và Liễn cùng nhau lén lút nấu lon gạo còn lại tại nhà bếp, ăn với nhau mặc dầu có lệnh cấm “liên hệ.” Tần đã bị các ăng ten báo cáo, và chắc là họ cho đây là ăn bữa cơm chia tay người bạn cùng khóa, cùng binh chủng với mình.
Không thấy tên mình trong danh sách trực đêm, Tần đoán biết rồi thế nào cũng có điều chẳng lành đến với mình. Trong giấc ngủ chập chờn lo âu chờ đợi, Tần nghe có tiếng xe rì rầm đang đổ dốc hướng về trại. Linh tính cho biết rồi ra sẽ có điềm chẳng lành sẽ xảy đến. Tần vội bật dậy, bấy giờ là khoảng nửa đêm, người bạn tù vừa bàn giao phiên trực. Có nhiều tiếng người và ánh đèn pin soi vào lán, ra lệnh cho Thức và Tần thu gọn hành trang di chuyển. Bố Chi người đội trưởng già tốt bụng, len lén nhét vào túi Tần hai bánh đường và những giọt nước mắt chia ly!
Sống là phải thẳng lưng và chấp nhận, đợi chờ mọi gian nan thử thách kể cả hiểm nguy đang chực sẵn trước mặt, cố gắng mà ngoi lên từ vũng bùn đen, hãy vùng thoát ra cái bóng đêm quái ác đáng nguyền rủa, cho một tương lai tươi sáng hơn. Sân tập họp là bãi đất trống trước nhà kho, nơi lãnh dụng cụ lao động hàng ngày, đã có nhiều tiếng la than khóc của trò “bề hội đồng” đê tiện bỉ ổi. Thêm hàng chục người nữa cũng bị còng tay dẫn đi trong cơn rên rỉ đau nhức. Tần cũng vậy, đây không phải là lần đầu tiên chàng bị hành hạ đánh đập, mà đã có nhiều lần lắm rồi, khổ sở mãi rồi cũng quen, chẳng gì lạ đối với con người sống trong thiên đường Cộng Sản. Chiếc xe Molotova cũ kỹ ráng sức ì ạch, rú lên con dốc ngược, nặng nề uể oải như cuộc đời sầu thảm của hàng chục người tù bị còng tay, mặt mày bị đánh sưng húp đầy máu me, mang đi trong màn đêm u tối.
Bỗng nhiên Tần cảm thấy nhớ nhà, nhớ ba mẹ Tần hiện già yếu đang mòn mỏi trông chờ, nhớ vợ và các con thân yêu trong cơn tuyệt vọng, như những lần đơn vị tan hàng tại Hạ Lào, hay bị bao vây tại mặt trận Cửa Việt. Cảm giác hối tiếc mất mát đã làm Tần lạnh cả người. Lần cuối cùng vợ ra thăm sau thời gian dài chắt chiu dành dụm, một lần bị đuổi trở về khi chúng biệt giam Tần tại nhà “kỷ luật,” và một lần khác đến Quy Nhơn thì bị cướp giật sạch đồ đạc, nhờ một hành khách tốt bụng cho tiền trở về. Từ những biến cố đau thương dồn dập, trong thư mới nhận được vợ Tần bị bệnh lao phổi nặng, cần được chữa trị lâu dài.
Nước mắt Tần đã chảy tự bao giờ, lăn trên đôi gò má gầy làm đôi môi mằn mặn, Tần đã khóc thật sự cho những hối tiếc muộn màng. Phải chi biết sống một chút, biết nhân nhượng cố gắng mà nín thở qua sông, hầu sớm tìm được tờ giấy phóng thích hay ít ra cũng có được những ưu đãi nào đó như các “tên trật tự thi đua.” Phải biết giả khóc như tên Th., đội trưởng đội mộc, khi ôm ảnh thương tiếc Bác Hồ, hay các tên Trần văn S., sẵn sàng chỉ điểm anh em, khi tổ chức ăn mừng tròn một năm miền “Nam được giải phóng.” Ôi! Những trò đời bỉ ổi, rẻ tiền của những kẻ bán rẻ lương tâm theo giặc.
Rồi chuyến xe bão táp đêm nay sẽ đưa chàng về đâu? Có thể thật xa tít nơi miền Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Thái, tiếp tục cuộc sống đọa đày, hay kết thúc ở một hang hóc nào đó bằng các loạt đạn của những tên đồ tể, sát nhân. Dù thế nào đi nữa thì cũng chẳng còn gì để mà hy vọng. Vài người được lệnh xuống xe, riêng Tần, Thức, Tr., còn lê lết cho đến trạm cuối cùng. Có tiếng nước chảy rì rào và cơn gió dữ gào thét điên cuồng. Tần bị đạp xuống xe tay bị còng nằm lăn như con vật. Nơi giam chàng là căn hầm kín được đào sâu dưới lòng đất, toàn mùi hôi thối ẩm mốc.
Thức và Tr. bị nhốt ở một nơi khác, gần đó. Có tiếng chửi thề thô tục của tên vệ binh, cùng âm thanh rổn rẻng của chiếc xích ổ khóa oan nghiệt, trước khi trả lại màn đêm sự cô độc, im lặng hoàn toàn.
Làm sao có thể thản nhiên được trong niềm lo lắng tột cùng này, chiếc đũa đã bị tách ra thế nào rồi cũng bị bẻ gãy, bằng cách này hay cách khác. Minh và Sang chẳng đã bị xử bắn tận núi rừng Cự Tài khi có lệnh dẫn đi vào buổi sáng đang lao động tại đập Chấm, Quảng Trị như vậy đấy sao! Ðối với Tần, cái chết chẳng bao giờ đến dễ dàng, bao năm xuôi ngược hành quân, chàng vẫn còn nguyên vẹn. Làm người ai cũng một lần chết, vậy thì cái chết chỉ có ý nghĩa khi ta hãy làm kẻ thù chết với mình càng nhiều càng tốt. Tần ước mơ về những chuyến vượt ngục của người tù Papillion thuở nào.
Gà đã gáy sáng và các hồi kẻng báo thức liên hồi vang lên sau một đêm dài trăn trở, lo âu. Mặt trời đã ló dạng bao giờ ở phương Ðông, cố gắng mang đến một vài tia sáng yếu ớt xuyên qua kẽ hở của căn hầm tăm tối. Có tiếng mở cửa lách cách và tên vệ binh dẫn người tù mang thức ăn đến, Tần mới biết đây là phần ăn trưa của ngày đầu năm Tết. Nỗi lo sợ đã tan biến khi xác nhận được mình đang ở phân trại 3 và người mang thức ăn cho mình là Trung Úy Ðiểu thuộc đơn vị của Tần. Ðiểu đã ứa lệ khi thấy “ông thầy mình” quá thê thảm trong tình cảnh quá đau lòng này.
Thường thì con người hay thương tiếc, thèm khát những gì quý báu nhất mà mình đã đánh mất đi khi chạm trán với thực tế phũ phàng. Tần cũng vậy, cố gắng mà nhớ lại những giờ phút thiêng liêng tuyệt vời với những ngày Xuân nơi đơn vị thắm đượm tình nghĩa thầy trò. Những ngày Xuân đoàn tụ quay quần cùng với gia đình, có pháo nổ đầy hoa và bao lời chúc tụng ngọt ngào. Ðêm hôm qua súng đã nổ ròn rã khắp nơi của bọn vô lại, mừng chiến thắng trong giờ phút giao thừa, họ đang ca khúc khải hoàn cho một sự ăn cướp trắng trợn. Chiến tranh là thế, cái vẻ vang của phe này là sự đại bại của nhóm khác, điều chẳng may lần này lại xảy đến với tổ quốc thân yêu của chàng.
Sau cơn mưa trời lại sáng, một ngày mới bình minh lại ló dạng, xua tan những đám mây mờ và những cơn bão quái ác. Giờ chỉ còn lại những nhầy nhụa tang thương, đau khổ tận cùng cho biết bao người dân vô tội. Qua cơn gió thoảng chiều nay, Tần được tin có người chết cùng nhiều nhà cửa bị cuốn sạch vì cơn Sóng Thần dữ dội tràn qua từ một chiếc loa phóng thanh đâu đó trong trại. Lại thêm một đại họa nữa đến cho dân tộc này sau cái xiềng xích Cộng Sản. Chàng cảm thấy an tâm hơn vì ít ra mình cũng còn cái hầm để trồi lên, trụt xuống, che nắng đụt mưa, một bữa cơm đói cho sự thèm khát mỗi ngày.
Lệnh cho Tần lên cơ quan làm việc những ngày sau Tết, đây là lần đầu tiên họ điều tra thẩm cung chàng từ cái đêm khủng khiếp đó. Dùng đủ mọi hình thức tra tấn để buộc chàng vào tội âm mưu tổ chức vượt trại, Tần quả quyết với họ rằng chàng chẳng bao giờ có ý nghĩ đó. Biết chẳng có bằng cớ gì để buộc tội chàng, họ quay sang buộc tội Tần cứng đầu không chịu “học tập cải tạo.” Bằng những lời lẽ thật dịu ngọt, họ khuyên chàng hãy an tâm cải tạo để hưởng được chính sách “khoan hồng của Ðảng và Nhà nước.” Thì ra kẻ giết người cũng biết mặc áo thầy tu khi cần thiết, họ nhân danh nhân đạo để làm chuyện vô nhân đạo, đạo đức của họ là “đạo đức cách mạng bác Hồ,” của nền chuyên chính vô sản, của đấu tố dã man và các hầm chôn sống tập thể! Người Cộng Sản hô hào “không gì quý hơn độc lập tự do” để tròng lên cổ người dân thêm cái còng nô lệ, đem địa ngục trần gian để hứa hẹn một thiên đường!
Bộ chỉ huy Ðoàn 76 nằm trên dãy đồi cao có cờ đỏ sao vàng và đầy những băng roll khẩu hiệu. Thức và Tr. cũng có mặt tại đây từ lúc nào trong phòng chờ đợi, chỉ có Thức và Tần bị còng tay, còn Tr. trông có vẻ thản nhiên thoải mái. Thức bơ phờ mệt mỏi, mặt bị đánh sưng húp bầm tím, còn Tr. vẫn khỏe mạnh bình thường. Mỗi người được cấp phát giấy viết để làm bản tự kiểm điểm sau khi đón nhận biết bao lời lẽ ngọt mật chết ruồi của tên chính trị viên đoàn.
Thời gian kế tiếp là thời gian thê thảm nhất của Thức và Tần. Bị dẫn độ đi hỏi cung nhiều nơi kể cả đánh đập, xỉ vả. Chiêu bài “thành thật khai báo” để sớm được hưởng lượng khoan hồng không bịp được ai, vì đối với kẻ thù “tự thú là tự sát.” Có tin Thức đã mắc bẫy Tr. khi cùng anh ta đào hầm trốn về Huế và bị bắt tại nhà Tr., Thức đã bắt đầu một cuộc đời mới, vất vả khốn đốn hơn trong nhiều xà lim với hình phạt biệt giam vĩnh viễn. Còn Tr. thản nhiên thênh thang với tờ giấy phép 7 ngày rong chơi khắp thành phố Huế, trước khi nhận được giấy ra trại sau khi trại đã chuyển về cho Công An Bình Ðiền. Tr. đã thành công một cách xuất sắc nhiệm vụ của một tên ăng ten cò mồi. Còn Tần vẫn sống khổ sai đọa đày từ trại này sang trại khác với chiếc bánh vẽ “tập trung cải tạo.”
Tên trung tá Chính ủy Ðoàn 76 tuyên bố, “Các anh giải phóng lòng Hồ sông Mực thì lòng Hồ sông Mực sẽ giải phóng các anh.” Cả vùng đất trũng bao la hàng chục hecta rừng được khai phá cho công trình dẫn thủy nhập điền tại huyện Ðô Lương, Thanh Hóa. Rất nhiều người tù đã ngã bệnh vì sốt rét rừng, hay bị chết vì đói. Nhưng lời nói đó đã bị phản bội sau ba tháng hoàn thành xong công tác, để rồi tất cả cùng bị lùa lên toa xe bịt bùng hạng bét của chuyến tàu hỏa xuôi Nam về một vùng đất mới xa lạ khủng khiếp hơn. Ở đó có sự canh giữ, kềm kẹp hàng ngày của bọn công an mật vụ. Trại tù “cải tạo Bình Ðiền” với biến cố ngày 20 tháng 4, 1979 lịch sử, chúng thẳng tay đánh đập người tù mà không cần biết phải trái luật lệ là gì. Những cái chết thật bất khuất của Ðại Úy Nguyễn Ngọc Báu, Nguyễn Thuận Cát, Thiếu Úy Nguyễn Thiếu Sơn,... đã minh chứng một cách hùng hồn ý chí bất khuất của lớp người sĩ quan trẻ dưới áp lực bạo quyền.
Thời gian là liều thuốc mầu nhiệm dễ làm phôi phai mọi chuyện. Những đau đớn về thể xác rồi sẽ qua đi dễ dàng, nhưng còn nhiều thứ khác mãi mãi vẫn hằn sâu vào tâm trí không thể nào quên được. Ðó là sự thù hận, lòng ích kỷ, đê tiện gian ác của con người.
Người cộng sản vinh danh chiến thắng mùa Xuân 1975 bằng sức mạnh và chủ thuyết ngoại lai, họ chẳng làm gì được sau hơn 32 năm cầm quyền. Có chăng là một đất nước Việt Nam vẫn còn nghèo đói, lạc hậu, bưng bít thông tin với thế giới bên ngoài. Chúng thẳng tay chà đạp quyền sống con người, các nhà đấu tranh vẫn còn trong vòng lao lý. Bán đất dâng biển triều cống ngoại bang, mua bán phẩm giá người phụ nữ, kể cả trẻ em. Các phong trào khiếu kiện của dân oan đang nổi dậy đòi công lý khắp nơi. Liệu họ, những người cộng sản Việt Nam, yêu chủ nghĩa Mác Lênin vô địch, có thể tồn tại được bao lâu, khi mà lòng dân đã đến lúc căm phẫn tột độ và sự tan rã của chủ thuyết Cộng Sản toàn cầu.
Hãy hướng về Việt Nam, tổ quốc thân yêu nhất của chúng ta với lời tâm nguyện đẹp nhất, hy vọng một mùa Xuân đoàn tụ sẽ không còn xa nữa.
Mùa Xuân nào là ta về
Về quê hương yêu dấu sống bên mẹ cha
Về sống cạnh dòng sông hiền
Về nghe giọng hò ba miền
Về thăm đôi má, lúm sâu đồng tiền
Sài Gòn ơi!... Bao giờ là ta về?!!
TNCT Phạm Văn Tiền
Arlington, TX - Ngày họp mặt trại tù
“Ái Tử-Bình Ðiền” 24 tháng 11, 2007
TNCT Phạm Văn Tiền
Chúng ta đang bước vào những ngày tháng cuối cùng của một năm cũ. Mọi người đang chuẩn bị đón xuân sang, thêm một mùa Xuân tha hương mà đường về còn xa tít. Ðón Xuân nầy ta lại nhớ Xuân xưa. Mùa Xuân thường là mùa hy vọng, của tuổi trẻ vươn lên và mầm sống đâm chồi. Nhưng không phải chúa Xuân bao giờ cũng bình đẳng với mọi người. Có mùa Xuân sum họp đầy tiếng cười hạnh phúc bên bếp lửa bập bùng của tuổi thơ đầy kỷ niệm. Nhưng cũng có mùa Xuân khóc hận khổ đau nghẹn ngào bao nước mắt của Mậu Thân 1968, với những cái chết đầy rẫy tình cờ của Ất Mão 1975 mất nước, lưu lạc tù đày. Bao ngày tháng cùng cực khổ đau cho người ở lại quê hương “thiên đường” CS. Riêng Tần vẫn nhớ mãi những ngày tháng bị cùm trong xà lim phân trại 3, vào những ngày tết Xuân Ðinh Tỵ năm 1977.
Thượng đế hỡi trên trời cao có thấu!
Thân đọa đày của một kiếp tù binh
Chịu khổ đau cùng bao nỗi cực hình
Trong “cũi sắt” của những loài dã thú
Mang con đến một nơi nào ẩn trú
Có mây hồng và nắng ấm rọi ban mai
Có đàn chim tung cánh hót bay dài
Nhưng không được quanh con đường bít lối
Con đang sống trong căn hầm tăm tối
Bao đêm nằm trăn trối nghĩ không ra
Suốt đời con bỗng chốc đã tiêu ma
Giờ còn lại thân tàn trong ngục lạnh
Các câu thơ này đã được cảm tác trong những giờ phút đau khổ tuyệt vọng nhất. Tần và một số bạn tù khác đã bị bắt còng tay dẫn đi vào một đêm mưa gió lạnh, cùng với nhiều trận đòn đau. Lòng hoang mang chẳng biết số phận mình sẽ ra sao khi bị lùa lên những chuyến xe đêm bão táp.
Một buổi chiều cuối năm, mọi người đang cố gắng vun thêm những luống khoai lang còn lại cuối cùng để chuẩn bị ăn Tết. Không như thường lệ, các hồi kẻng báo động liên hồi giục giã được người tù gióng lên toàn phân trại. Bao giờ cũng vậy, theo thói quen đây là điềm chẳng lành cho cuộc đời tù tội. Vài tên vệ binh dẫn tù vội vã la hét gom dụng cụ nhanh gọn tập họp trở về. Trại là những dãy nhà tranh vách đất cũ kỹ, do công sức người tù làm ra, trải dài trên ngọn đồi nhỏ, bao bọc bởi dòng suối quanh co, nằm gọn giữa nhiều tầng thép gai dầy đặc.
Tần cẩn thận kín đáo xem lại chiếc nhẫn vàng 24 kara, 2 chỉ mà chính vợ Tần đã cẩn thận nhét sâu vào thẩu ruốc trong chuyến thăm gặp kỳ rồi, nói là để hộ thân vì có tin tất cả tù nhân sẽ bị áp tải ra miền Bắc, được ngụy trang nằm gọn trên đỉnh chiếc mũ cối rách nát.
Lệnh tập họp bày hàng khám xét khẩn cấp được công bố toàn phân trại, chỉ có 10 phút chuẩn bị bên các họng súng AK đen ngòm. Ai cũng hồi hộp lo âu làm bổn phận của mình, thôi thì đủ thứ lọ chai, bao cát, bao bố, khoai khô, sắn độn được bày ra đầy sân, những thứ thật tầm thường nhưng không thể thiếu cho sinh hoạt tù mỗi ngày. Các tên quản giáo, vệ binh chia nhau lục soát thật tỉ mỉ từ trong nhà cho đến mỗi một cá nhân, không từ chỗ nào kể cả lai quần, bâu áo. Có lệnh vất bỏ tất cả những thứ không cần thiết, thu giữ lương thực có tính dự trữ lâu dài, chuẩn bị hành trang sẵn sàng di chuyển. Ngay từ giờ phút này đến khi có lệnh mới, không ai được quyền ra khỏi lán của mình, ngay cả tiếp xúc với người cùng trại.
Sở dĩ có chuyển biến đột xuất này là vì sau khi Thiếu Tá Nguyễn Ngọc An, Trưởng Phòng An Ninh Sư Ðoàn 1 BB, đã tự kết liễu đời mình vì không chịu nổi những trận đòn đau sau nhiều ngày bị thẩm cung liên tục và đồng thời để bảo vệ đồng đội và tổ chức. Thiếu Tá Bửu Kế đã tự sát trong conex biệt giam vì không chấp nhận sự đày đọa nhục mạ người chiến sĩ Quốc Gia, cùng toán vượt trại đầu tiên của Châu Ðức Thảo, Trần Văn Loan, Mai Ðức Hòa, Lê Văn Cang, Hồ Văn Liệu đã lên đường đêm hôm trước sau nhiều tháng chuẩn bị. Trưởng Toán là Châu Ðức Thảo, người niên trưởng tốt bụng, tốt nghiệp khóa 19 VBQG Ðà Lạt. Thảo ít nói, sống hòa nhã và hay giúp đỡ mọi người. Vợ Thảo lên thăm rất thường nhờ khéo léo quà cáp cho các tên vệ binh trực trại. Chị phát đạt nhờ một nghề mới, nghề buôn lậu thuốc tây. Thức ăn của anh bao giờ cũng nhiều và anh thường hay giúp đỡ kẻ khác. Anh sống rất cương trực hào phóng, mọi vật chất đều tầm thường đối với anh chẳng có gì quan trọng. Chính chị Thảo là người cung cấp đầy đủ lương thực, thuốc men cho chuyến vượt trại này.
Hành trình của các anh là vượt dãy Trường Sơn bằng địa bàn và bản đồ, xuyên qua lãnh thổ Lào đến Thái Lan. Ðiều này chính Loan K-23 Võ Bị Ðà Lạt, người cùng đơn vị đã nhiều lần gợi ý với Tần. Nghĩ mình sức khỏe kém, không kham nổi đoạn đường dài, thôi thì đành chịu vậy. Cơn suyễn hay lên bất chợt buổi chiều, thêm vào chứng sưng khớp xương hành hạ. Nơi dự trữ lương thực là các hố bí mật dưới chân căn cứ Phượng Hoàng, chỗ mà đơn vị TQLC của Tần, lần đầu tiên dùng hỏa tiễn tầm ngắn M72 hạ nhiều chiến xa địch.
Ðêm vượt trại loay quay sao đó mà Liệu bị lạc toán phải trở về, chỉ còn lại 4 người lên đường giữa cơn mưa bão trong sự mến phục bùi ngùi của bao người còn lại. Tối hôm đó tên quản giáo xuống lán điểm danh sớm hơn thường lệ, kèm theo một danh sách chia phiên nhau gác đêm, ai cũng có tên, ngoại trừ Thức và Tần. Thức cũng như Thảo sống rất ngang tàng, là người miền Bắc di cư 1975 nên anh rất căm thù CS. Anh là Trung Tá Tham Mưu Phó Không Ðoàn 4 đóng tại Cần Thơ, vào những ngày cuối cùng của Tháng Tư 1975, sẵn phương tiện trong tay nhưng ra đi chẳng đành, tìm về Sài Gòn với gia đình, nhưng vợ và các con anh đã theo người chú họ di tản vào mấy hôm trước.
Thế là tốt, anh cùng người em trai giả dạng bộ đội CS, đi xe đến Ðông Hà, Quảng Trị, men theo quốc lộ 9 đến tận miền Savanakhet Hạ Lào. Việc bại lộ cả hai người đều bị bắt tại đồn biên giới Khe Sanh. Còn Tần, là đơn vị trưởng của một đơn vị tác chiến bị thượng cấp bỏ rơi lại tại miền giới tuyến khi đại bộ phận xuôi Nam, vất vả ngược xuôi tại bãi biển Thuận An vào những ngày cuối cùng của Tháng Ba sầu thảm, đau lòng phải vứt bỏ súng xuống biển sâu, khi những chiếc T54 của địch bắt đầu tràn vào tuyến. Tần bắt đầu cuộc đời tù đày khi toàn thể miền Nam chưa thất thủ.
Tần thuộc dạng lao động cầm chừng qua loa lấy lệ, hay phát biểu linh tinh, đơn vị TQLC của Tần đã có nhiều nợ máu với “nhân dân” nên bị liệt kê vào danh sách cần quan tâm theo dõi đặc biệt. Có lần đi củi tận rừng sâu, vì đói quá sẵn tiền thu giấu, Tần có lén mua vài lon gạo của dân tại vùng kinh tế mới. Khi ra điểm tập trung, bị tên vệ binh phát giác liền bị kiểm điểm và kết tội “liên hệ” với dân với ý đồ trốn trại, biệt giam Conex nửa tháng trời.
Ðêm ấy là đêm 29 Tết Ðinh Tỵ, trong cơn mưa dai dẳng đáng sợ của miền Trung “khô cằn sỏi đá, của trời hành cơn lụt mỗi năm” ở một quê hương nghèo khó, “mùa Ðông thiếu áo, mùa Hè thiếu ăn” này. Cái lạnh tê tái làm buốt lòng người, bão rồi lại bão, hết cơn số 10, rồi 11. Gió thì giật cấp 8, cấp 9. Chiều hôm trước Tần và Liễn cùng nhau lén lút nấu lon gạo còn lại tại nhà bếp, ăn với nhau mặc dầu có lệnh cấm “liên hệ.” Tần đã bị các ăng ten báo cáo, và chắc là họ cho đây là ăn bữa cơm chia tay người bạn cùng khóa, cùng binh chủng với mình.
Không thấy tên mình trong danh sách trực đêm, Tần đoán biết rồi thế nào cũng có điều chẳng lành đến với mình. Trong giấc ngủ chập chờn lo âu chờ đợi, Tần nghe có tiếng xe rì rầm đang đổ dốc hướng về trại. Linh tính cho biết rồi ra sẽ có điềm chẳng lành sẽ xảy đến. Tần vội bật dậy, bấy giờ là khoảng nửa đêm, người bạn tù vừa bàn giao phiên trực. Có nhiều tiếng người và ánh đèn pin soi vào lán, ra lệnh cho Thức và Tần thu gọn hành trang di chuyển. Bố Chi người đội trưởng già tốt bụng, len lén nhét vào túi Tần hai bánh đường và những giọt nước mắt chia ly!
Sống là phải thẳng lưng và chấp nhận, đợi chờ mọi gian nan thử thách kể cả hiểm nguy đang chực sẵn trước mặt, cố gắng mà ngoi lên từ vũng bùn đen, hãy vùng thoát ra cái bóng đêm quái ác đáng nguyền rủa, cho một tương lai tươi sáng hơn. Sân tập họp là bãi đất trống trước nhà kho, nơi lãnh dụng cụ lao động hàng ngày, đã có nhiều tiếng la than khóc của trò “bề hội đồng” đê tiện bỉ ổi. Thêm hàng chục người nữa cũng bị còng tay dẫn đi trong cơn rên rỉ đau nhức. Tần cũng vậy, đây không phải là lần đầu tiên chàng bị hành hạ đánh đập, mà đã có nhiều lần lắm rồi, khổ sở mãi rồi cũng quen, chẳng gì lạ đối với con người sống trong thiên đường Cộng Sản. Chiếc xe Molotova cũ kỹ ráng sức ì ạch, rú lên con dốc ngược, nặng nề uể oải như cuộc đời sầu thảm của hàng chục người tù bị còng tay, mặt mày bị đánh sưng húp đầy máu me, mang đi trong màn đêm u tối.
Bỗng nhiên Tần cảm thấy nhớ nhà, nhớ ba mẹ Tần hiện già yếu đang mòn mỏi trông chờ, nhớ vợ và các con thân yêu trong cơn tuyệt vọng, như những lần đơn vị tan hàng tại Hạ Lào, hay bị bao vây tại mặt trận Cửa Việt. Cảm giác hối tiếc mất mát đã làm Tần lạnh cả người. Lần cuối cùng vợ ra thăm sau thời gian dài chắt chiu dành dụm, một lần bị đuổi trở về khi chúng biệt giam Tần tại nhà “kỷ luật,” và một lần khác đến Quy Nhơn thì bị cướp giật sạch đồ đạc, nhờ một hành khách tốt bụng cho tiền trở về. Từ những biến cố đau thương dồn dập, trong thư mới nhận được vợ Tần bị bệnh lao phổi nặng, cần được chữa trị lâu dài.
Nước mắt Tần đã chảy tự bao giờ, lăn trên đôi gò má gầy làm đôi môi mằn mặn, Tần đã khóc thật sự cho những hối tiếc muộn màng. Phải chi biết sống một chút, biết nhân nhượng cố gắng mà nín thở qua sông, hầu sớm tìm được tờ giấy phóng thích hay ít ra cũng có được những ưu đãi nào đó như các “tên trật tự thi đua.” Phải biết giả khóc như tên Th., đội trưởng đội mộc, khi ôm ảnh thương tiếc Bác Hồ, hay các tên Trần văn S., sẵn sàng chỉ điểm anh em, khi tổ chức ăn mừng tròn một năm miền “Nam được giải phóng.” Ôi! Những trò đời bỉ ổi, rẻ tiền của những kẻ bán rẻ lương tâm theo giặc.
Rồi chuyến xe bão táp đêm nay sẽ đưa chàng về đâu? Có thể thật xa tít nơi miền Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Thái, tiếp tục cuộc sống đọa đày, hay kết thúc ở một hang hóc nào đó bằng các loạt đạn của những tên đồ tể, sát nhân. Dù thế nào đi nữa thì cũng chẳng còn gì để mà hy vọng. Vài người được lệnh xuống xe, riêng Tần, Thức, Tr., còn lê lết cho đến trạm cuối cùng. Có tiếng nước chảy rì rào và cơn gió dữ gào thét điên cuồng. Tần bị đạp xuống xe tay bị còng nằm lăn như con vật. Nơi giam chàng là căn hầm kín được đào sâu dưới lòng đất, toàn mùi hôi thối ẩm mốc.
Thức và Tr. bị nhốt ở một nơi khác, gần đó. Có tiếng chửi thề thô tục của tên vệ binh, cùng âm thanh rổn rẻng của chiếc xích ổ khóa oan nghiệt, trước khi trả lại màn đêm sự cô độc, im lặng hoàn toàn.
Làm sao có thể thản nhiên được trong niềm lo lắng tột cùng này, chiếc đũa đã bị tách ra thế nào rồi cũng bị bẻ gãy, bằng cách này hay cách khác. Minh và Sang chẳng đã bị xử bắn tận núi rừng Cự Tài khi có lệnh dẫn đi vào buổi sáng đang lao động tại đập Chấm, Quảng Trị như vậy đấy sao! Ðối với Tần, cái chết chẳng bao giờ đến dễ dàng, bao năm xuôi ngược hành quân, chàng vẫn còn nguyên vẹn. Làm người ai cũng một lần chết, vậy thì cái chết chỉ có ý nghĩa khi ta hãy làm kẻ thù chết với mình càng nhiều càng tốt. Tần ước mơ về những chuyến vượt ngục của người tù Papillion thuở nào.
Gà đã gáy sáng và các hồi kẻng báo thức liên hồi vang lên sau một đêm dài trăn trở, lo âu. Mặt trời đã ló dạng bao giờ ở phương Ðông, cố gắng mang đến một vài tia sáng yếu ớt xuyên qua kẽ hở của căn hầm tăm tối. Có tiếng mở cửa lách cách và tên vệ binh dẫn người tù mang thức ăn đến, Tần mới biết đây là phần ăn trưa của ngày đầu năm Tết. Nỗi lo sợ đã tan biến khi xác nhận được mình đang ở phân trại 3 và người mang thức ăn cho mình là Trung Úy Ðiểu thuộc đơn vị của Tần. Ðiểu đã ứa lệ khi thấy “ông thầy mình” quá thê thảm trong tình cảnh quá đau lòng này.
Thường thì con người hay thương tiếc, thèm khát những gì quý báu nhất mà mình đã đánh mất đi khi chạm trán với thực tế phũ phàng. Tần cũng vậy, cố gắng mà nhớ lại những giờ phút thiêng liêng tuyệt vời với những ngày Xuân nơi đơn vị thắm đượm tình nghĩa thầy trò. Những ngày Xuân đoàn tụ quay quần cùng với gia đình, có pháo nổ đầy hoa và bao lời chúc tụng ngọt ngào. Ðêm hôm qua súng đã nổ ròn rã khắp nơi của bọn vô lại, mừng chiến thắng trong giờ phút giao thừa, họ đang ca khúc khải hoàn cho một sự ăn cướp trắng trợn. Chiến tranh là thế, cái vẻ vang của phe này là sự đại bại của nhóm khác, điều chẳng may lần này lại xảy đến với tổ quốc thân yêu của chàng.
Sau cơn mưa trời lại sáng, một ngày mới bình minh lại ló dạng, xua tan những đám mây mờ và những cơn bão quái ác. Giờ chỉ còn lại những nhầy nhụa tang thương, đau khổ tận cùng cho biết bao người dân vô tội. Qua cơn gió thoảng chiều nay, Tần được tin có người chết cùng nhiều nhà cửa bị cuốn sạch vì cơn Sóng Thần dữ dội tràn qua từ một chiếc loa phóng thanh đâu đó trong trại. Lại thêm một đại họa nữa đến cho dân tộc này sau cái xiềng xích Cộng Sản. Chàng cảm thấy an tâm hơn vì ít ra mình cũng còn cái hầm để trồi lên, trụt xuống, che nắng đụt mưa, một bữa cơm đói cho sự thèm khát mỗi ngày.
Lệnh cho Tần lên cơ quan làm việc những ngày sau Tết, đây là lần đầu tiên họ điều tra thẩm cung chàng từ cái đêm khủng khiếp đó. Dùng đủ mọi hình thức tra tấn để buộc chàng vào tội âm mưu tổ chức vượt trại, Tần quả quyết với họ rằng chàng chẳng bao giờ có ý nghĩ đó. Biết chẳng có bằng cớ gì để buộc tội chàng, họ quay sang buộc tội Tần cứng đầu không chịu “học tập cải tạo.” Bằng những lời lẽ thật dịu ngọt, họ khuyên chàng hãy an tâm cải tạo để hưởng được chính sách “khoan hồng của Ðảng và Nhà nước.” Thì ra kẻ giết người cũng biết mặc áo thầy tu khi cần thiết, họ nhân danh nhân đạo để làm chuyện vô nhân đạo, đạo đức của họ là “đạo đức cách mạng bác Hồ,” của nền chuyên chính vô sản, của đấu tố dã man và các hầm chôn sống tập thể! Người Cộng Sản hô hào “không gì quý hơn độc lập tự do” để tròng lên cổ người dân thêm cái còng nô lệ, đem địa ngục trần gian để hứa hẹn một thiên đường!
Bộ chỉ huy Ðoàn 76 nằm trên dãy đồi cao có cờ đỏ sao vàng và đầy những băng roll khẩu hiệu. Thức và Tr. cũng có mặt tại đây từ lúc nào trong phòng chờ đợi, chỉ có Thức và Tần bị còng tay, còn Tr. trông có vẻ thản nhiên thoải mái. Thức bơ phờ mệt mỏi, mặt bị đánh sưng húp bầm tím, còn Tr. vẫn khỏe mạnh bình thường. Mỗi người được cấp phát giấy viết để làm bản tự kiểm điểm sau khi đón nhận biết bao lời lẽ ngọt mật chết ruồi của tên chính trị viên đoàn.
Thời gian kế tiếp là thời gian thê thảm nhất của Thức và Tần. Bị dẫn độ đi hỏi cung nhiều nơi kể cả đánh đập, xỉ vả. Chiêu bài “thành thật khai báo” để sớm được hưởng lượng khoan hồng không bịp được ai, vì đối với kẻ thù “tự thú là tự sát.” Có tin Thức đã mắc bẫy Tr. khi cùng anh ta đào hầm trốn về Huế và bị bắt tại nhà Tr., Thức đã bắt đầu một cuộc đời mới, vất vả khốn đốn hơn trong nhiều xà lim với hình phạt biệt giam vĩnh viễn. Còn Tr. thản nhiên thênh thang với tờ giấy phép 7 ngày rong chơi khắp thành phố Huế, trước khi nhận được giấy ra trại sau khi trại đã chuyển về cho Công An Bình Ðiền. Tr. đã thành công một cách xuất sắc nhiệm vụ của một tên ăng ten cò mồi. Còn Tần vẫn sống khổ sai đọa đày từ trại này sang trại khác với chiếc bánh vẽ “tập trung cải tạo.”
Tên trung tá Chính ủy Ðoàn 76 tuyên bố, “Các anh giải phóng lòng Hồ sông Mực thì lòng Hồ sông Mực sẽ giải phóng các anh.” Cả vùng đất trũng bao la hàng chục hecta rừng được khai phá cho công trình dẫn thủy nhập điền tại huyện Ðô Lương, Thanh Hóa. Rất nhiều người tù đã ngã bệnh vì sốt rét rừng, hay bị chết vì đói. Nhưng lời nói đó đã bị phản bội sau ba tháng hoàn thành xong công tác, để rồi tất cả cùng bị lùa lên toa xe bịt bùng hạng bét của chuyến tàu hỏa xuôi Nam về một vùng đất mới xa lạ khủng khiếp hơn. Ở đó có sự canh giữ, kềm kẹp hàng ngày của bọn công an mật vụ. Trại tù “cải tạo Bình Ðiền” với biến cố ngày 20 tháng 4, 1979 lịch sử, chúng thẳng tay đánh đập người tù mà không cần biết phải trái luật lệ là gì. Những cái chết thật bất khuất của Ðại Úy Nguyễn Ngọc Báu, Nguyễn Thuận Cát, Thiếu Úy Nguyễn Thiếu Sơn,... đã minh chứng một cách hùng hồn ý chí bất khuất của lớp người sĩ quan trẻ dưới áp lực bạo quyền.
Thời gian là liều thuốc mầu nhiệm dễ làm phôi phai mọi chuyện. Những đau đớn về thể xác rồi sẽ qua đi dễ dàng, nhưng còn nhiều thứ khác mãi mãi vẫn hằn sâu vào tâm trí không thể nào quên được. Ðó là sự thù hận, lòng ích kỷ, đê tiện gian ác của con người.
Người cộng sản vinh danh chiến thắng mùa Xuân 1975 bằng sức mạnh và chủ thuyết ngoại lai, họ chẳng làm gì được sau hơn 32 năm cầm quyền. Có chăng là một đất nước Việt Nam vẫn còn nghèo đói, lạc hậu, bưng bít thông tin với thế giới bên ngoài. Chúng thẳng tay chà đạp quyền sống con người, các nhà đấu tranh vẫn còn trong vòng lao lý. Bán đất dâng biển triều cống ngoại bang, mua bán phẩm giá người phụ nữ, kể cả trẻ em. Các phong trào khiếu kiện của dân oan đang nổi dậy đòi công lý khắp nơi. Liệu họ, những người cộng sản Việt Nam, yêu chủ nghĩa Mác Lênin vô địch, có thể tồn tại được bao lâu, khi mà lòng dân đã đến lúc căm phẫn tột độ và sự tan rã của chủ thuyết Cộng Sản toàn cầu.
Hãy hướng về Việt Nam, tổ quốc thân yêu nhất của chúng ta với lời tâm nguyện đẹp nhất, hy vọng một mùa Xuân đoàn tụ sẽ không còn xa nữa.
Mùa Xuân nào là ta về
Về quê hương yêu dấu sống bên mẹ cha
Về sống cạnh dòng sông hiền
Về nghe giọng hò ba miền
Về thăm đôi má, lúm sâu đồng tiền
Sài Gòn ơi!... Bao giờ là ta về?!!
TNCT Phạm Văn Tiền
Arlington, TX - Ngày họp mặt trại tù
“Ái Tử-Bình Ðiền” 24 tháng 11, 2007
2 Liên Đoàn BĐQ Tử Chiến Với CQ Ở Vùng Đèo Chu Pao
VƯƠNG HỒNG ANH
* Chu Pao, ngọn đèo chiến lược ở Cao nguyên:
Là một ngọn núi có đỉnh cao 1059 mét, cách Pleiku khoảng 17 km về phía Bắc, đỉnh núi là pháo đài quan sát để bảo vệ đoạn Pleiku-Kontum trên quốc lộ 14, Chu Pao là một vị trí chiến lược mà Cộng quân đã nhiều lần tung quân cố chiếm giữ bằng mọi giá. Do địa thế quá hiểm trở có lợi cho địch quân trong thế thủ, nên mỗi lần vùng đèo này bị lọt vào tay Cộng quân, bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 đã điều động lực lượng hùng hậu để tái chiếm. Từng trung đoàn, liên đoàn bộ chiến có chiếm xa yểm trợ, với các phi tuần oanh kích liên tục và cả B 52 dội bom, trận chiến kéo dài nhiều ngày, Cộng quân mới bị đánh bật ra khỏi vùng đèo.
Do tầm quan trọng về chiến lược của vùng đèo này, nên trong cuộc chiến mùa Hè 1972, Chu Pao trở thành một trong những mục tiêu trọng điểm của Cộng quân tại Cao nguyên. Như đã trình bày trong bài viết giới thiệu trận chiến giữa Sư đoàn 22 Bộ binh và Cộng quân tại mặt trận Dakto-Tân Cảnh, ngày 23 tháng 4/1972, Cộng quân đã tung quân tấn công cường tập vào bộ chỉ huy hành quân Sư đoàn 22 Bộ binh. Ngày 24 tháng 4/1972, sau khi các cứ điểm trọng yếu tại Dakto và Tân Cảnh thất thủ, đối phương đã tung quân gây áp lực quanh thị xã Kontum. Ngày 28 tháng 4/1972, trung đoàn 95CSBV đã đánh chiếm một khoảng đường ngắn trên Quốc lộ 14 nối liền Pleiku-Kontum và tổ chức các cụm chốt cố thủ trên vùng đèo Chu Pao. Khi Cộng quân chiếm đèo thì cũng vào lúc Sư đoàn 23 Bộ binh vừa hoàn tất cuộc chuyển quân từ Ban Mê Thuột theo Quốc lộ 14 về phòng thủ Kontum, do đó không xảy ra giao tranh trên lộ trình di quân.
* Lực lượng đặc nhiệm Biệt Động Quân kịch chiến với CQ quanh Kontum và Chu Pao:
Việc trung đoàn 95 CSBV CSBV lập các chốt chận tại vùng đèo Chu Pao đã khống chế trục lộ giao thông huyết mạch này, đồng thời cô lập thị xã Kontum với các tỉnh phía Nam vùng Cao nguyên. Trong khi đó, ở phía Bắc thị xã Kontum, sau khi lữ đoàn 2 Nhảy Dù được lệnh rời khu vực Võ Định để tăng cường cho Quân đoàn 1, ngày 20 tháng 4/1972, liên đoàn 6 Biệt Động Quân đã được điều động từ chiến trường Trị Thiên vào thay thế để phòng thủ khu vực này. (Liên đoàn 6 BĐQ thống thuộc bộ chỉ huy Biệt Động Quân Quân đoàn 3, vào thượng tuần tháng 4/1972, đã cùng với liên đoàn 3 BĐQ tăng phái cho mặt trận Quảng Trị).
Theo kế hoạch, các tiểu đoàn của liên đoàn 6 BĐQ đã bố trí quân trên các dốc đứng án ngữ Quốc lộ 14 về hướng Nam căn cứ Võ Định. Do bị áp lực nặng của địch, ngày 27 tháng 4/1972, bộ chỉ huy liên đoàn được trực thăng vận lui về hướng Đông Nam 12 km, căn cứ Đồi Chiến Lược, hướng Bắc Kontum. (Trong liên lạc Không-Lục với các phi cơ của Không quân Hoa Kỳ, căn cứ này còn có danh hiệu là căn cứ hỏa lực November). Ngày 1 tháng 5/1972, một đơn vị của liên đoàn 6 BĐQ bị địch tấn công cường tập. Để bảo toàn quân số, tiểu đoàn này được liên đoàn trưởng cho lệnh triệt thoái. Như thế, tuyến phòng thủ của lực lượng VNCH đã lui lại vài km, chỉ cách thị xã Kontum 13 km về hướng Tây Bắc.
Sau khi Cộng quân bị thất bại trong 2 đợt tấn công vào thị xã Kontum (đợt 1: 14/5/1972, đợt 2: 20/5/1972), Quân đoàn 2 quyết định tung quân dể giải tỏa áp lực tái khu vực nhằm tái lập giao thông trên Quốc lộ 14 và vòng đai tỉnh ly Kontum. Để thực hiện kế hoạch này, một lực lượng đặc nhiệm đã được thành lập gồm 2 liên đoàn Biệt Động Quân được tăng cường Thiết giáp và Công binh chiến đấu, do đại tá Nguyễn Văn Đương, chỉ huy trưởng Biệt Động Quân Quân khu 2 tổng chỉ huy.
Cũng cần ghi nhận rằng liên đoàn 2 BĐQ được thành lập từ 1967 sau cải danh thành liên đoàn 23 BĐQ, gồm các tiểu đoàn: 11, 22, và 23 BĐQ. Còn liên đoàn 6 BĐQ được thành lập từ 1969 với các tiểu đoàn 34, 35, 51 BĐQ. Tất cả 6 tiểu đoàn của 2 liên đoàn nói trên là những đơn vị kỳ cựu của binh chủng Mũ Nâu, đã có mặt trên chiến trường từ thời kỳ 1963-1964.
Trong 10 ngày cuối của tháng 5/1972, lực lượng đặc nhiệm đã nỗ lực tung các cuộc tấn công quyết liệt để triệt hạ các cụm chốt của đối quanh đèo chiến lược này. Tuy nhiên, do đối phương đã xây dựng được một hệ thống cụm điểm kháng cự liên hoàn rất kiên cố trên các dốc đá hướng Nam núi Chu Pao, và các cụm chốt cố thủ hai bên Quốc lộ 14, nên các đơn vị Biệt Động Quân đã gặp rất nhiều khó khăn trong tấn công, dù được sử yểm trợ mạnh mẽ của hỏa lực Pháo binh và Không quân chiến thuật, cùng B 52 và sử dụng cả chùm địa lôi CBU-55.
Từ các vị trí cố thủ, Cộng quân đã chống trả quyết liệt để cố chận cuộc tiến quân của lực lượng đặc nhiệm. Phối hợp với hỏa lực hung bạo của các trận địa pháo do các tiểu đoàn pháo CQ mở ra với hàng loạt đợt hỏa tập, các cụm chốt cản của Cộng quân dọc hai bên đường đã gây tổn thất cho các đơn vị Biệt Động Quân và tiếp tục cản trở sự lưu thông tiếp vận từ Pleiku về Kontum.
Cuối tháng 5/1972, sau khi Cộng quân bị đánh bật khỏi thị xã Kontum trong trận tấn công đợt 3 (ngày 28/5/1972), Quân đoàn 2 gia tăng nỗ lực giải tỏa áp lực Cộng quân tại đèo Chu Pao. Cùng lúc đó, địch quân cũng tăng cường lực lượng để cố bám giữ ngọn đèo này. Thế trận giằng co giữa Biệt Động Quân và Cộng quân. Giữa tháng 6/1972, bộ chỉ huy Biệt Động Quân điều động liên đoàn 22 Biệt Động Quân nhập trận. Liên đoàn này nhận khu vực do đơn vị bạn bàn giao.
Theo kế hoạch của bộ chỉ huy Biệt Động Quân Quân khu 2, tiểu đoàn 62 thuộc liên đoàn 22 Biệt Động Quân và tiểu đoàn 71 BĐQ là những nỗ lực chính để triệt hạ các chốt cố thủ của Cộng quân quanh đỉnh Chu Pao. Cùng lúc đó, 4 tiểu đoàn Biệt Động Quân tiếp tục hành quân giải tỏa áp lực Cộng quân ở vòng đai ngoại vi đèo Chu Pao. Trong cuộc tấn công tái chiếm vùng đèo Chu Pao, từng đại đội Biệt Động Quân được giao nhiệm vụ làm sạch từng cụm chốt liên hoàn của Công quân. Từ đội hình đại đội tấn công, mỗi trung đội của từng đại đội Biệt Động Quân lại là một mũi tấn công vào từng chốt địch quân. Sau các đợt pháo yểm trợ dập vào các vị trí trọng điểm của địch- được ghi nhận là có đặt súng cối 82 ly, từng toán Biệt Động Quân cầm lựu đạn bò sát đến các hầm và đánh từng hầm một. Các hầm ở Chu Pao, Cộng quân đều đào theo kiểu hầm Triều Tiên. Bom và đạn đại bác có đánh trúng ngay trên hầm thì mới có kết quả. Với lối đánh bằng lựu đạn, cuối cùng lực lượng Biệt Động Quân đã đánh bật Cộng quân ra khỏi vùng đèo Chu Pao.
* Chiến binh Biệt Động Quân nói về trận Chu Pao:
Sau khi hai tiểu đoàn 71 và 62 Biệt Động Quân đã “dứt điểm” khu vực trung tâm đèo Chu Pao, giao thông trên trục lộ 14 được tái lập. Cuối tháng 6/1972, một số phóng viên báo chí đã đến thăm các đơn vị Biệt Động Quân thuộc lực lượng đặc nhiệm. Khi được hỏi về về trận địa Chu Pao, đại tá Nguyễn Văn Đương, chỉ huy Biệt Động Quân Quân khu 2 chỉ một vết mẻ trên phía đá lớn gần đó và nói:
- Bom B 52 mà chỉ làm trầy xơ xịa hòn đá như vậy thì mong gì dùng bom trục địch quân ra khỏi hầm được.
Tại ban chỉ huy tiểu đoàn 71 BĐQ, thiếu tá Đồng Văn Khoa, tiểu đoàn trưởng đã nhắc lại những hình ảnh hãi hùng của những trận cận chiến:
- Chúng tôi thanh toán từng mục tiêu bằng lựu đạn, đánh từng hầm một, không còn cách nào khác để làm im tiếng tiếng súng của đám xạ thủ đã bị xiềng chân vào hầm.
Một hạ sĩ quan của tiểu đoàn 71 đứng gần thiếu tá Khoa kể lại trận đánh:
- Chiếm được hầm rồi, còn phải kéo súng lấy được xuống núi. Muốn vậy, buộc phải chặt chân cái xác chết để tháo súng ra. Nhưng địch quân bố trí hầm theo hình chữ V, tử thần hẹn gặp chúng tôi ở khắp bốn phía.
Một phóng viên nhìn lên đỉnh Chu Pao, Chu Thoi đã ngán ngẩm:
- Leo được lên đó và leo dưới hỏa lực của địch quân thật không phải là chuyện đi dạo.
Đại úy Lê Thanh Phong, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 62 Biệt Động Quân gật đầu xác nhận:
- Cam go lắm anh ạ. Nhưng cũng may lúc này có sương mù buổi sáng. Sương mù dày dặc đến mức cách nhau khoảng 10 thước là không nhìn thấy gì nữa rồi. Cũng nhờ sương mù mà chúng tôi bò lên đánh được những vị trí súng của địch.
VƯƠNG HỒNG ANH
VƯƠNG HỒNG ANH
* Chu Pao, ngọn đèo chiến lược ở Cao nguyên:
Là một ngọn núi có đỉnh cao 1059 mét, cách Pleiku khoảng 17 km về phía Bắc, đỉnh núi là pháo đài quan sát để bảo vệ đoạn Pleiku-Kontum trên quốc lộ 14, Chu Pao là một vị trí chiến lược mà Cộng quân đã nhiều lần tung quân cố chiếm giữ bằng mọi giá. Do địa thế quá hiểm trở có lợi cho địch quân trong thế thủ, nên mỗi lần vùng đèo này bị lọt vào tay Cộng quân, bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 đã điều động lực lượng hùng hậu để tái chiếm. Từng trung đoàn, liên đoàn bộ chiến có chiếm xa yểm trợ, với các phi tuần oanh kích liên tục và cả B 52 dội bom, trận chiến kéo dài nhiều ngày, Cộng quân mới bị đánh bật ra khỏi vùng đèo.
Do tầm quan trọng về chiến lược của vùng đèo này, nên trong cuộc chiến mùa Hè 1972, Chu Pao trở thành một trong những mục tiêu trọng điểm của Cộng quân tại Cao nguyên. Như đã trình bày trong bài viết giới thiệu trận chiến giữa Sư đoàn 22 Bộ binh và Cộng quân tại mặt trận Dakto-Tân Cảnh, ngày 23 tháng 4/1972, Cộng quân đã tung quân tấn công cường tập vào bộ chỉ huy hành quân Sư đoàn 22 Bộ binh. Ngày 24 tháng 4/1972, sau khi các cứ điểm trọng yếu tại Dakto và Tân Cảnh thất thủ, đối phương đã tung quân gây áp lực quanh thị xã Kontum. Ngày 28 tháng 4/1972, trung đoàn 95CSBV đã đánh chiếm một khoảng đường ngắn trên Quốc lộ 14 nối liền Pleiku-Kontum và tổ chức các cụm chốt cố thủ trên vùng đèo Chu Pao. Khi Cộng quân chiếm đèo thì cũng vào lúc Sư đoàn 23 Bộ binh vừa hoàn tất cuộc chuyển quân từ Ban Mê Thuột theo Quốc lộ 14 về phòng thủ Kontum, do đó không xảy ra giao tranh trên lộ trình di quân.
* Lực lượng đặc nhiệm Biệt Động Quân kịch chiến với CQ quanh Kontum và Chu Pao:
Việc trung đoàn 95 CSBV CSBV lập các chốt chận tại vùng đèo Chu Pao đã khống chế trục lộ giao thông huyết mạch này, đồng thời cô lập thị xã Kontum với các tỉnh phía Nam vùng Cao nguyên. Trong khi đó, ở phía Bắc thị xã Kontum, sau khi lữ đoàn 2 Nhảy Dù được lệnh rời khu vực Võ Định để tăng cường cho Quân đoàn 1, ngày 20 tháng 4/1972, liên đoàn 6 Biệt Động Quân đã được điều động từ chiến trường Trị Thiên vào thay thế để phòng thủ khu vực này. (Liên đoàn 6 BĐQ thống thuộc bộ chỉ huy Biệt Động Quân Quân đoàn 3, vào thượng tuần tháng 4/1972, đã cùng với liên đoàn 3 BĐQ tăng phái cho mặt trận Quảng Trị).
Theo kế hoạch, các tiểu đoàn của liên đoàn 6 BĐQ đã bố trí quân trên các dốc đứng án ngữ Quốc lộ 14 về hướng Nam căn cứ Võ Định. Do bị áp lực nặng của địch, ngày 27 tháng 4/1972, bộ chỉ huy liên đoàn được trực thăng vận lui về hướng Đông Nam 12 km, căn cứ Đồi Chiến Lược, hướng Bắc Kontum. (Trong liên lạc Không-Lục với các phi cơ của Không quân Hoa Kỳ, căn cứ này còn có danh hiệu là căn cứ hỏa lực November). Ngày 1 tháng 5/1972, một đơn vị của liên đoàn 6 BĐQ bị địch tấn công cường tập. Để bảo toàn quân số, tiểu đoàn này được liên đoàn trưởng cho lệnh triệt thoái. Như thế, tuyến phòng thủ của lực lượng VNCH đã lui lại vài km, chỉ cách thị xã Kontum 13 km về hướng Tây Bắc.
Sau khi Cộng quân bị thất bại trong 2 đợt tấn công vào thị xã Kontum (đợt 1: 14/5/1972, đợt 2: 20/5/1972), Quân đoàn 2 quyết định tung quân dể giải tỏa áp lực tái khu vực nhằm tái lập giao thông trên Quốc lộ 14 và vòng đai tỉnh ly Kontum. Để thực hiện kế hoạch này, một lực lượng đặc nhiệm đã được thành lập gồm 2 liên đoàn Biệt Động Quân được tăng cường Thiết giáp và Công binh chiến đấu, do đại tá Nguyễn Văn Đương, chỉ huy trưởng Biệt Động Quân Quân khu 2 tổng chỉ huy.
Cũng cần ghi nhận rằng liên đoàn 2 BĐQ được thành lập từ 1967 sau cải danh thành liên đoàn 23 BĐQ, gồm các tiểu đoàn: 11, 22, và 23 BĐQ. Còn liên đoàn 6 BĐQ được thành lập từ 1969 với các tiểu đoàn 34, 35, 51 BĐQ. Tất cả 6 tiểu đoàn của 2 liên đoàn nói trên là những đơn vị kỳ cựu của binh chủng Mũ Nâu, đã có mặt trên chiến trường từ thời kỳ 1963-1964.
Trong 10 ngày cuối của tháng 5/1972, lực lượng đặc nhiệm đã nỗ lực tung các cuộc tấn công quyết liệt để triệt hạ các cụm chốt của đối quanh đèo chiến lược này. Tuy nhiên, do đối phương đã xây dựng được một hệ thống cụm điểm kháng cự liên hoàn rất kiên cố trên các dốc đá hướng Nam núi Chu Pao, và các cụm chốt cố thủ hai bên Quốc lộ 14, nên các đơn vị Biệt Động Quân đã gặp rất nhiều khó khăn trong tấn công, dù được sử yểm trợ mạnh mẽ của hỏa lực Pháo binh và Không quân chiến thuật, cùng B 52 và sử dụng cả chùm địa lôi CBU-55.
Từ các vị trí cố thủ, Cộng quân đã chống trả quyết liệt để cố chận cuộc tiến quân của lực lượng đặc nhiệm. Phối hợp với hỏa lực hung bạo của các trận địa pháo do các tiểu đoàn pháo CQ mở ra với hàng loạt đợt hỏa tập, các cụm chốt cản của Cộng quân dọc hai bên đường đã gây tổn thất cho các đơn vị Biệt Động Quân và tiếp tục cản trở sự lưu thông tiếp vận từ Pleiku về Kontum.
Cuối tháng 5/1972, sau khi Cộng quân bị đánh bật khỏi thị xã Kontum trong trận tấn công đợt 3 (ngày 28/5/1972), Quân đoàn 2 gia tăng nỗ lực giải tỏa áp lực Cộng quân tại đèo Chu Pao. Cùng lúc đó, địch quân cũng tăng cường lực lượng để cố bám giữ ngọn đèo này. Thế trận giằng co giữa Biệt Động Quân và Cộng quân. Giữa tháng 6/1972, bộ chỉ huy Biệt Động Quân điều động liên đoàn 22 Biệt Động Quân nhập trận. Liên đoàn này nhận khu vực do đơn vị bạn bàn giao.
Theo kế hoạch của bộ chỉ huy Biệt Động Quân Quân khu 2, tiểu đoàn 62 thuộc liên đoàn 22 Biệt Động Quân và tiểu đoàn 71 BĐQ là những nỗ lực chính để triệt hạ các chốt cố thủ của Cộng quân quanh đỉnh Chu Pao. Cùng lúc đó, 4 tiểu đoàn Biệt Động Quân tiếp tục hành quân giải tỏa áp lực Cộng quân ở vòng đai ngoại vi đèo Chu Pao. Trong cuộc tấn công tái chiếm vùng đèo Chu Pao, từng đại đội Biệt Động Quân được giao nhiệm vụ làm sạch từng cụm chốt liên hoàn của Công quân. Từ đội hình đại đội tấn công, mỗi trung đội của từng đại đội Biệt Động Quân lại là một mũi tấn công vào từng chốt địch quân. Sau các đợt pháo yểm trợ dập vào các vị trí trọng điểm của địch- được ghi nhận là có đặt súng cối 82 ly, từng toán Biệt Động Quân cầm lựu đạn bò sát đến các hầm và đánh từng hầm một. Các hầm ở Chu Pao, Cộng quân đều đào theo kiểu hầm Triều Tiên. Bom và đạn đại bác có đánh trúng ngay trên hầm thì mới có kết quả. Với lối đánh bằng lựu đạn, cuối cùng lực lượng Biệt Động Quân đã đánh bật Cộng quân ra khỏi vùng đèo Chu Pao.
* Chiến binh Biệt Động Quân nói về trận Chu Pao:
Sau khi hai tiểu đoàn 71 và 62 Biệt Động Quân đã “dứt điểm” khu vực trung tâm đèo Chu Pao, giao thông trên trục lộ 14 được tái lập. Cuối tháng 6/1972, một số phóng viên báo chí đã đến thăm các đơn vị Biệt Động Quân thuộc lực lượng đặc nhiệm. Khi được hỏi về về trận địa Chu Pao, đại tá Nguyễn Văn Đương, chỉ huy Biệt Động Quân Quân khu 2 chỉ một vết mẻ trên phía đá lớn gần đó và nói:
- Bom B 52 mà chỉ làm trầy xơ xịa hòn đá như vậy thì mong gì dùng bom trục địch quân ra khỏi hầm được.
Tại ban chỉ huy tiểu đoàn 71 BĐQ, thiếu tá Đồng Văn Khoa, tiểu đoàn trưởng đã nhắc lại những hình ảnh hãi hùng của những trận cận chiến:
- Chúng tôi thanh toán từng mục tiêu bằng lựu đạn, đánh từng hầm một, không còn cách nào khác để làm im tiếng tiếng súng của đám xạ thủ đã bị xiềng chân vào hầm.
Một hạ sĩ quan của tiểu đoàn 71 đứng gần thiếu tá Khoa kể lại trận đánh:
- Chiếm được hầm rồi, còn phải kéo súng lấy được xuống núi. Muốn vậy, buộc phải chặt chân cái xác chết để tháo súng ra. Nhưng địch quân bố trí hầm theo hình chữ V, tử thần hẹn gặp chúng tôi ở khắp bốn phía.
Một phóng viên nhìn lên đỉnh Chu Pao, Chu Thoi đã ngán ngẩm:
- Leo được lên đó và leo dưới hỏa lực của địch quân thật không phải là chuyện đi dạo.
Đại úy Lê Thanh Phong, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 62 Biệt Động Quân gật đầu xác nhận:
- Cam go lắm anh ạ. Nhưng cũng may lúc này có sương mù buổi sáng. Sương mù dày dặc đến mức cách nhau khoảng 10 thước là không nhìn thấy gì nữa rồi. Cũng nhờ sương mù mà chúng tôi bò lên đánh được những vị trí súng của địch.
VƯƠNG HỒNG ANH
Giọt Nắng Muộn Màng.
Tôi làm hãng gạo đã được hơn một năm. Lương lậu rất khiêm tốn nhưng bù lại có nhiều thì giờ rảnh. Các bạn có tin không …rảnh đến nỗi đôi lúc muốn phát khùng. Cũng dự định viết một cái gì đó, nhưng dự định vẫn mãi còn là dự định, chẳng được tích sự gì. Được cái dạo này tôi chịu khó lướt mạng lắm. Tôi đang ngồi moi lại cái núi mails ngập đầu trong trunghoclongthanh. groups, để tìm đọc lại những bài viết ngắn, dài của Châu Chương Thành và Trần Bá Thiên. Hai cây viết cự phách nhất của nhóm. Những bài viết của hai chàng cho dù chỉ là một email ngắn gọn thôi, nhưng ý tưởng sâu sắc, lập luận vững chắc, chứng tỏ một kiến thức cao hơn người. Tôi chợt lôi ra được bài viết của Huỳnh văn Ru…Tội nghiệp Ru lúc đó bị pháo kích tơi bời . Hoả tiễn 122ly, đại pháo 152ly nổ chụp trên đầu Ru. Tội nghiệp sư đệ tôi, tôi gọi Ru là sư đệ vì Ru học sau tôi. Có lúc tôi muốn nhảy vào rút đao tương trợ, nhưng thật sự cảm thấy mình tài hèn, sức kém nên đành ngậm ngùi ngồi im thương cảm, và cũng từ đó tôi có ý định không viết gì trên groups này nữa. Xin lỗi Ru sư đệ…Đang miên man với những mảnh vụn lộn xộn trong đầu thì điện thoại reo. Tôi nhấc điện thoại;
- Hello…
- Bá hả ?
- Ừ, Bá đây Huỳnh Long, khoẻ không?
- Khoẻ. Đang làm gì đó ?
- Đang làm thinh…
Huỳnh Long phá lên cười. Giọng cười khan. Âm thanh nghe thế nào ấy, chẳng biểu hiện được vui, hay buồn. Rồi tiếng cười ấy như chìm sâu trong lá phổi:
- Bá nhớ thằng Chẳng học lớp mình không?
- Chẳng hả ? Mình không nhớ rõ lắm. Nhưng …hình như có một người tên Chẳng , tay này đá banh rất hay…
Cuốn phim “giải vô địch bóng đá quân Long Thành năm 1963” bắt đầu được chiếu lại trong đầu tôi. Tôi thấy Chẳng lùa bóng thật tuyệt vời, tài lùa bóng của Chẳng còn hay hơn cả “Bồn lừa” của Duyên Anh. Chẳng lùa bóng qua hai rồi ba, rồi bốn đối phương…lùa qua hàng hậu vệ, tạt nhẹ bóng vào trung lộ, tôi lúc đó là trung phong. Tôi lách người qua một hậu vệ, lướt xuống vừa lúc và rất vừa tầm phóng chân sút như trời giáng. Trái banh bay nhanh như một mũi tên vào góc phải khung thành, tung lưới đội tuyển “U 18” của Quận, mang chiếc cúp vô địch về cho Trung học Long Thành. Tôi còn nhớ Huỳnh Thành là anh của Huỳnh Long trong đội tuyển thiếu niên Quận chơi xấu tôi. Cái đùi của tôi lãnh nguyên cái đầu gối của Thành, làm tôi khập khiễng nhảy cò cò theo toàn đội dơ cao chiếc cup, chạy vòng vòng quanh sân trước tiếng vỗ tay hoan hô vang trời.
- Nhớ, nhớ rồi Huynh Long. Có chuyện gì không?
- Mình mới nói chuyện với Kim Cúc sáng nay. Cúc cho biết Chẳng bây giờ thê thảm lắm. Cụt một chân, lúc trước đi mài dao dạo, bây giờ thì đi không được nữa sau một cơn bạo bệnh. Chẳng bây giờ lết dưới đất làm hành khất …Tôi dùng từ hành khất mà không dám dùng từ ăn mày vì cảm thấy tủi thân cho bạn mình và …Nhưng thật ra hành khất và ăn mày thì có khác gì nhau.
Nghe tới đây , chiếc điện thoại trên tay tôi muốn rơi xuống đất, vì tay tôi run, miệng tôi cũng run, lắp bắp chẳng nói được gì nữa. Giọng của Huỳnh Long nghe văng vẳng và tai tôi nghe ù ù..
- Mình bảo với Kim Cúc là ứng ra cho mình mượn đỡ 50 đô, trao cho Chẳng và bảo với Chẳng là về nhà đi và đừng lết đi …như vậy nữa. Bọn mình bên đây sẽ nuôi bạn cho tới lúc chết…
Tôi chỉ biết ú ớ: Ừa, ừa, ừa…
Cuộc điện đàm giữa tôi và Huỳnh Long chấm dứt lúc nào tôi cũng chẳng biết. Tôi ngồi thẫn thờ nhìn qua khung cửa, khu vườn sau nhà tôi hai cây lê đang oằn xuống bởi cơn mưa và từng đợt gió mạnh. Cái thành phố của tôi mưa nhiều lắm, và thường thì cũng đã buồn nhiều lắm, nhưng chiều nay tôi buồn đến muốn khóc.
Tôi nhấc phone gọi Đặng đăng Thành. Tôi kể câu chuyện tôi mới nghe từ Huỳnh Long. Thành xác nhận ngay là lớp mình 49 năm trước có đứa tên Chẳng. Đúng nó là bạn học của bọn mình rồi. Phải vận động bạn bè giúp đỡ cho nó. Tôi đồng ý và nói với Thành” mày nghĩ cách đi, tao gọi cho thằng Toản.
Tôi gọi cho Toản. Toản hoàn toàn không nhớ gì về Chẳng, nhưng vẫn đồng ý phải làm một cái gì..Toản bảo với tôi:’ Mày gọi cho thằng Tâm đi, cái bộ nhớ của nó tốt lắm, còn tao , tao gọi cho Trần Bửu Hoà . Tôi nói OK, cúp máy.
Tôi gọi ngay cho Lữ Công Tâm, người mà trong nhóm bạn bè gọi vui là Lâm Công Tử. Lâm công tử xác nhận lớp mình có Nguyễn văn Chẳng, nhưng hình như Chẳng học dở dang năm đệ lục thì bỏ học, không hiểu lý do. Tâm bồi thêm :”Cho dù học chung với nhau một ngày cũng là bạn, nửa ngày cũng là bạn”. OK tao đồng ý. Tâm nói trong lớp B1 dạo đó ngồi bàn cuối cùng có hai người nhích tuổi hơn là Lê Hùng Dũng và Nguyễn văn Chẳng, đầu tóc luôn chải brillantine láng bóng. Sau này qua một email, Phạm văn Đấu cũng xác nhận điều đó. Nhóm bạn B1 + B2 của ngày xưa, ở cái tuồi 61, 62, tóc đã trắng khá nhiều hôm nay lại trắng thêm vài sợi.
Đêm đó tôi thật không ngủ được, cứ chập chà chập chờn, mãi cho tới gần sáng thì thiếp đi. Không biết ngủ được bao lâu thì điện thoại reo. Tôi đưa tay quờ quờ trên cái bàn ở đầu giường lấy cái cell. Tiếng thằng Thành oang oang:’ Còn ngủ sao mày, dạy đi, ngủ mãi hơn 60 năm rồi chưa chán sao mày”. Tôi giọng khàn đục, ngái ngủ:”Dạy rồi. Sao …”. Tôi chưa hỏi hết câu thì tiếng Thành dòn tan như tiếng súng M16;” Tao mới gọi cho Kim Cúc, Châu Dáo Nga, cho Yến , cho Hòn và gọi cho Bò văn Nhũi (Bùi văn Nhỏ). Kim Cúc bảo là thằng Chẳng không còn nói được, miệng nó xùi bọt và hai hàng nước mắt chảy dài..Tôi nói:” Rồi sao nữa?”. “Phải cấp cứu ngay” Thành nói tiếp:”Tao ứng trước 500 đô. Gởi về cho con Thuỷ em bà con tao, nó có tiệm vàng ở ngay chợ, nhờ nó lo chuyện này ngay. Quan nói là làm, không nói chơi mày”. Tôi nói:” Rất tốt. Gởi tặng cho quan hai tàu thuỷ một bông hồng.”. Thành nói điện thoại hai ngày nay reo liên tục, bạn bè khắp nơi gọi về muốn cháy máy luôn. Tôi nói đừng lo, cháy cái này mua cái khác.
Sau đó Thành kể cho tôi nghe hôm tết, vợ chồng Thành đi VN, có ghé về Long Thành, họp nhóm bạn hai lớp B1 và B2, có sự tham dự của thày Kiệt và thày Ân nữa.Số bạn bè tham dự cũng khá đông trên hai chục người. Một việc làm đúng là có một không hai được Trần bửu Hoà khen ngợi hết sức. Một buổi sáng đầu xuân, Thành ngồi uống cà phê trong quán, thấy một người hành khất lết dưới đất, quần áo dính bùn đất rất bẩn thỉu, hai tay bọc lại bằng hai túi nylon, lê dưới đất, đẩy theo một cái chậu thau nhỏ phía trước. Thấy tội nghiệp quá Thành chạy ra bỏ vào cái thau tờ giấy 50 ngàn, rồi thản nhiên vào ngồi uống cà phê tiếp. Tôi hỏi Thành:” Mày không nhận ra nó thì đúng rồi, nhưng còn nó cũng không nhận ra mày?”. Thành bảo nó cúi gầm mặt xuống có nhìn ai đâu mà nhận ra tao. Nghe tới đây tôi lại chợt nhớ tới trường hợp của tôi năm năm trước. Vâng năm năm trước tôi có về Long Thành nhân dịp lễ giỗ mãn tang của Mẹ tôi. Một hôm sau khi ăn sáng với một số bạn bè, chúng tôi kéo nhau ra quay vé số, mua cái hên. Chúng tôi vừa chọn vừa nói chuyện huyên thuyên, lúc đó cũng có một ông ngồi xe lăn ghé lại cũng góp chuyện vui vẻ. Sau khi mua vé số xong, tôi lên xe của bạn tôi để về nhà, thì người ngồi xe lăn buột miệng gọi :” Bá” . Tôi giật mình ngoái đầu nhìn lại cười vẫy tay…Và tôi thắc mắc với người bạn:” Ông ta là ai mà lại biết tên tôi”. Bạn tôi nói chắc lúc nói chuyện hắn nghe tụi tao gọi tên mày thì hắn biết thôi.”. Nhưng sao hắn lại gọi tên tao ra để làm gì ?”. “Mày quên là trên người mày có gắn cái mark “Việt kiều” đó mà. Thật sự lúc đó tôi quá mu muội không nghĩ ra rằng có thể là một người bạn, một người quen nào đó mà lâu ngày mình không nhận ra .
Khi tôi kể chuyện này với Thành, Thành kể lại với Cúc, Cúc kể lại cho Huỳnh Long. Huỳnh Long gọi phone trách tui:” Sao không ngừng xe lại hỏi xem anh đó là ai”. Đúng, tôi đã sai rồi. Thành nói thằng đó là thằng Chẳng đó. Tôi áy náy trong lòng. Tôi nghĩ chắc lúc đó Chẳng giận tôi lắm, có thể Chẳng đã buột miệng:” ĐM thằng bạn chó chết”. Chẳng ơi tao thật sự vô tình , tao ân hận đã không nhận ra mày…Tao ân hận lắm. Và biết đâu….cũng tại cái kinh nghiệm ê chề này mà mày đã cố tình không nhận ra thằng Thành, không muốn bị làm ngơ như lần mày đã gặp tao, hay mày tủi phận bèo bọt mây trôi. Ừ tủi cũng là phải thôi. Hồi tao mới đi tù cải tạo về, Mẹ gìa, còn tao không nghề, không nghiệp, không vốn liếng…tao chẳng biết làm gì để kiếm sống, tao đi bán vé số . Có một buổi sáng tao cầm xấp vé số bước vào quán Tư Lợi ở chợ cũ, đang muốn xoè ra mời khách mua, tao chợt thấy thằng Nguyễn văn Thinh ngồi ở cái bàn khuất trong một góc đang uống cà phê với mấy người bạn. Thinh lúc đo dường như là Hiệu trưởng trường cấp 2 thì phải, Thinh nhìn tao mỉm cười, mày biết không tao quê quá, tao ngượng quá, tao liền quay lại đi thật nhanh ra ngoài và ngày hôm đó tao ôm luôn xấp vé số đó, tao hết vốn luôn, tao bỏ bán vé số luôn … Cuối cùng có người cùng xóm rủ tao vào nghề bán kẹo kéo, đến bây giờ thằng Nguyễn tân Tiến vẫn nhắc lại với tao chuyện này. Tao đi bán kẹo kéo cũng ê chề lắm, có lần tao ghé trường tiểu học Long An bán đắt như tôm tươi, nhưng khi tiếng trống vào học nổi lên tao đã nhìn thấy H. H không biết có nhìn thấy tao không. H là bạn học của đứa em gái út tao, là giáo viên ở trường này. H là người con gái thường hay xuất hiện trong những giấc mơ của tao trước ngày tao vào lính. Mày nghĩ xem có bẽ bàng lắm không. Và từ đó tao đã chẳng dám ghé ngôi trường đó nữa. Tao đạp xe đi xa hơn, tao xuống mãi Phước Thái, đạp xe đi xa mệt lắm mày ơi, nhưng nếu bán ở gần thì e lại gặp người quen, xấu hổ lắm. Thế mà trời bất dung nhan tao vẫn không thoát cảnh trớ trêu. Một sáng tao đang phom phom đạp xe trực chỉ Phước Thái, đến gần Phước Hoà, một chiếc xe Honda dame chạy từ từ qua mặt tao, tao nhìn lên bắt gặp thằng Nguyễn thanh Tân, nó đi dạy ở trường Trung Học Phước Hoà, tao luống cuống khi Tân nhìn tao nhăn mặt tỏ vẻ …ngạc nhiên. Tao lạng quạng một chút xíu thì té lăn quay ra đường. Tao ngừng xe lại và chửi thầm cái số kiếp long đong của mình. Tao quay ngược xe về, ngày hôm đó tao bán kẹo kéo ngay ở cửa nhà tao, vừa bán vừa cho và tao gĩa từ nghề kẹo kéo. Dù biết rằng chỉ có con người xấu thôi chứ chẳng có nghề gì xấu cả . Ấy thế nhưng không phải thế. Tao vẫn mặc cảm cùng mình. Tao không lạ gì, khi Kim Cúc với Kha Siu Hồng tìm gặp mày, nước mắt mày đã chảy đầm đìa. Bạn bè mày nơi đây cũng đang cùng khóc với mày.
Chưa hết đâu Chẳng , tao đi làm rẫy trong Chốt Thái, tao gặp Nguyễn thị Thêm ở Bình Sơn, nhìn nhau chả biết nói sao. Rồi có lần gặp Phạm Thuận ở con đường Kim Sơn khi tao đạp xe từ rẫy về, mồ hôi nhễ nhại, quần áo rách bươm, lấm lem. Thuận gọi:” Anh Bá”. Tao chỉ biết cười mếu máo và đạp xe nhanh hơn. Tao may mắn hơn mày, tao còn lành lặn, còn được xuất ngoại…Còn được làm …”Việt kiều”. Đôi lúc tao nghĩ nếu tao còn ở lại quê nhà …thì có lẽ tao cũng như mày, khác mày ở chỗ không phải lê, không phải lết mà là chống gậy dơ bàn tay ra :” Ông đi qua bà đi lại…”.
Chẳng ơi, mày cũng đã phấn đấu để sống cho ra người. Mày dù tật nguyền cũng đã từng đi mài dao dạo kiếm sống nuôi vợ, nuôi con, nhưng chỉ vì cuộc đời bọn mình nó đen hơn cái mõm chó. Gặp thời thế, thế thời phải thế. Đã túng quẩn còn gặp “tai biến mạch máu não” nữa. Vậy mà mày vẫn còn cố sức bò lê đi …cho qua ngày. Tao khâm phục mày. Cả như tao chắc chắn tao đã ra nghĩa địa nằm từ khuya rồi. Mày đừng buồn nữa nghe mày, hãy cố gắng bình thản mà sống cho hết kiếp này.
Tao mong rằng mày sẽ đọc được những dòng chữ tao viết hôm nay để thông cảm và bỏ qua cho tao chuyện năm năm về trước. Chúng mình đã là bạn đồng môn từ thời thơ ấu và bây giờ vẫn thế, dù vì thời cuộc đổi thay mà bạn bè nhiều năm không gặp lại, nhưng cái tình thì vẫn còn nguyên. Quả bóng ngày xưa vẫn còn nguyên, màu áo xanh, quần short trắng của đội bóng THLT năm xưa vẫn còn đấy, chiếc cup vô địch năm xưa…hề… chắc không còn, vì ngôi trường thân yêu sau ngày 30 tháng tư bảy lăm đã đổi màu. Người ta đã phá bỏ hết cái gọi là tàn dư không cần biết cái đó tốt, xấu. Đành chịu thôi phải không mày ?
Bạn bè ở đây hối tiếc rằng đã nhận ra mày qúa muộn. Ở đời ai mà chả có lần gặp gỡ cái chuyện muộn màng. Biết nói sao khi tao nhớ trong kinh thánh có đoạn viết:” Ánh sáng chiếu rọi trên khắp mọi người không phân biệt kẻ lành, người ác…”. Trời Việt Nam tao biết mấy ngày qua nắng chói chang. Nắng trên khắp mọi người, nhưng nắng đã không về tới nơi mày ở, nắng đã không chiếu sáng con đường hằng ngày mày lê, mày lết. Chỗ bọn tao ở mấy ngày nay lại mưa dầm dề, tuy nhiên chiều nay một chút nắng vàng đã về kịp trước khi trời tối. Bọn tao quyết định gởi cái giọt nắng vàng muộn màng này về mày, mong rằng mày có lại một nụ cười dù héo hắt. Cố gắng lên nghe mày. Cố gắng lên. Hãy nhớ về quá khứ mà sống. Đừng nghĩ gì hiện tại và dĩ nhiên cũng quên phứt cái chuyện tương lai. Tương lai tương liếc gì nữa khi đã “gần đất…xa tiền”.
Trưa nay tôi mới gọi cho Phát. Phát cho biết mới vừa gặp Tâm sáng nay, vẫn câu chuyện bùi ngùi . Rồi Tâm gọi cho tôi nói đang ngồi ở nhà Huỳnh xuân Hoá, Tâm cho tôi biết trời Cali hôm nay nhuốm một chút âm u.
Cám ơn các bạn đã cố gắng đọc hết cái tâm sự chẳng mấy hay ho của tôi. Một chút tâm sự thố lộ với một người bạn cũ bất hạnh. Một chút tâm sự muộn màng.
Lê du Miên
(Viết từ thành phố hoa hồng)
Tôi làm hãng gạo đã được hơn một năm. Lương lậu rất khiêm tốn nhưng bù lại có nhiều thì giờ rảnh. Các bạn có tin không …rảnh đến nỗi đôi lúc muốn phát khùng. Cũng dự định viết một cái gì đó, nhưng dự định vẫn mãi còn là dự định, chẳng được tích sự gì. Được cái dạo này tôi chịu khó lướt mạng lắm. Tôi đang ngồi moi lại cái núi mails ngập đầu trong trunghoclongthanh. groups, để tìm đọc lại những bài viết ngắn, dài của Châu Chương Thành và Trần Bá Thiên. Hai cây viết cự phách nhất của nhóm. Những bài viết của hai chàng cho dù chỉ là một email ngắn gọn thôi, nhưng ý tưởng sâu sắc, lập luận vững chắc, chứng tỏ một kiến thức cao hơn người. Tôi chợt lôi ra được bài viết của Huỳnh văn Ru…Tội nghiệp Ru lúc đó bị pháo kích tơi bời . Hoả tiễn 122ly, đại pháo 152ly nổ chụp trên đầu Ru. Tội nghiệp sư đệ tôi, tôi gọi Ru là sư đệ vì Ru học sau tôi. Có lúc tôi muốn nhảy vào rút đao tương trợ, nhưng thật sự cảm thấy mình tài hèn, sức kém nên đành ngậm ngùi ngồi im thương cảm, và cũng từ đó tôi có ý định không viết gì trên groups này nữa. Xin lỗi Ru sư đệ…Đang miên man với những mảnh vụn lộn xộn trong đầu thì điện thoại reo. Tôi nhấc điện thoại;
- Hello…
- Bá hả ?
- Ừ, Bá đây Huỳnh Long, khoẻ không?
- Khoẻ. Đang làm gì đó ?
- Đang làm thinh…
Huỳnh Long phá lên cười. Giọng cười khan. Âm thanh nghe thế nào ấy, chẳng biểu hiện được vui, hay buồn. Rồi tiếng cười ấy như chìm sâu trong lá phổi:
- Bá nhớ thằng Chẳng học lớp mình không?
- Chẳng hả ? Mình không nhớ rõ lắm. Nhưng …hình như có một người tên Chẳng , tay này đá banh rất hay…
Cuốn phim “giải vô địch bóng đá quân Long Thành năm 1963” bắt đầu được chiếu lại trong đầu tôi. Tôi thấy Chẳng lùa bóng thật tuyệt vời, tài lùa bóng của Chẳng còn hay hơn cả “Bồn lừa” của Duyên Anh. Chẳng lùa bóng qua hai rồi ba, rồi bốn đối phương…lùa qua hàng hậu vệ, tạt nhẹ bóng vào trung lộ, tôi lúc đó là trung phong. Tôi lách người qua một hậu vệ, lướt xuống vừa lúc và rất vừa tầm phóng chân sút như trời giáng. Trái banh bay nhanh như một mũi tên vào góc phải khung thành, tung lưới đội tuyển “U 18” của Quận, mang chiếc cúp vô địch về cho Trung học Long Thành. Tôi còn nhớ Huỳnh Thành là anh của Huỳnh Long trong đội tuyển thiếu niên Quận chơi xấu tôi. Cái đùi của tôi lãnh nguyên cái đầu gối của Thành, làm tôi khập khiễng nhảy cò cò theo toàn đội dơ cao chiếc cup, chạy vòng vòng quanh sân trước tiếng vỗ tay hoan hô vang trời.
- Nhớ, nhớ rồi Huynh Long. Có chuyện gì không?
- Mình mới nói chuyện với Kim Cúc sáng nay. Cúc cho biết Chẳng bây giờ thê thảm lắm. Cụt một chân, lúc trước đi mài dao dạo, bây giờ thì đi không được nữa sau một cơn bạo bệnh. Chẳng bây giờ lết dưới đất làm hành khất …Tôi dùng từ hành khất mà không dám dùng từ ăn mày vì cảm thấy tủi thân cho bạn mình và …Nhưng thật ra hành khất và ăn mày thì có khác gì nhau.
Nghe tới đây , chiếc điện thoại trên tay tôi muốn rơi xuống đất, vì tay tôi run, miệng tôi cũng run, lắp bắp chẳng nói được gì nữa. Giọng của Huỳnh Long nghe văng vẳng và tai tôi nghe ù ù..
- Mình bảo với Kim Cúc là ứng ra cho mình mượn đỡ 50 đô, trao cho Chẳng và bảo với Chẳng là về nhà đi và đừng lết đi …như vậy nữa. Bọn mình bên đây sẽ nuôi bạn cho tới lúc chết…
Tôi chỉ biết ú ớ: Ừa, ừa, ừa…
Cuộc điện đàm giữa tôi và Huỳnh Long chấm dứt lúc nào tôi cũng chẳng biết. Tôi ngồi thẫn thờ nhìn qua khung cửa, khu vườn sau nhà tôi hai cây lê đang oằn xuống bởi cơn mưa và từng đợt gió mạnh. Cái thành phố của tôi mưa nhiều lắm, và thường thì cũng đã buồn nhiều lắm, nhưng chiều nay tôi buồn đến muốn khóc.
Tôi nhấc phone gọi Đặng đăng Thành. Tôi kể câu chuyện tôi mới nghe từ Huỳnh Long. Thành xác nhận ngay là lớp mình 49 năm trước có đứa tên Chẳng. Đúng nó là bạn học của bọn mình rồi. Phải vận động bạn bè giúp đỡ cho nó. Tôi đồng ý và nói với Thành” mày nghĩ cách đi, tao gọi cho thằng Toản.
Tôi gọi cho Toản. Toản hoàn toàn không nhớ gì về Chẳng, nhưng vẫn đồng ý phải làm một cái gì..Toản bảo với tôi:’ Mày gọi cho thằng Tâm đi, cái bộ nhớ của nó tốt lắm, còn tao , tao gọi cho Trần Bửu Hoà . Tôi nói OK, cúp máy.
Tôi gọi ngay cho Lữ Công Tâm, người mà trong nhóm bạn bè gọi vui là Lâm Công Tử. Lâm công tử xác nhận lớp mình có Nguyễn văn Chẳng, nhưng hình như Chẳng học dở dang năm đệ lục thì bỏ học, không hiểu lý do. Tâm bồi thêm :”Cho dù học chung với nhau một ngày cũng là bạn, nửa ngày cũng là bạn”. OK tao đồng ý. Tâm nói trong lớp B1 dạo đó ngồi bàn cuối cùng có hai người nhích tuổi hơn là Lê Hùng Dũng và Nguyễn văn Chẳng, đầu tóc luôn chải brillantine láng bóng. Sau này qua một email, Phạm văn Đấu cũng xác nhận điều đó. Nhóm bạn B1 + B2 của ngày xưa, ở cái tuồi 61, 62, tóc đã trắng khá nhiều hôm nay lại trắng thêm vài sợi.
Đêm đó tôi thật không ngủ được, cứ chập chà chập chờn, mãi cho tới gần sáng thì thiếp đi. Không biết ngủ được bao lâu thì điện thoại reo. Tôi đưa tay quờ quờ trên cái bàn ở đầu giường lấy cái cell. Tiếng thằng Thành oang oang:’ Còn ngủ sao mày, dạy đi, ngủ mãi hơn 60 năm rồi chưa chán sao mày”. Tôi giọng khàn đục, ngái ngủ:”Dạy rồi. Sao …”. Tôi chưa hỏi hết câu thì tiếng Thành dòn tan như tiếng súng M16;” Tao mới gọi cho Kim Cúc, Châu Dáo Nga, cho Yến , cho Hòn và gọi cho Bò văn Nhũi (Bùi văn Nhỏ). Kim Cúc bảo là thằng Chẳng không còn nói được, miệng nó xùi bọt và hai hàng nước mắt chảy dài..Tôi nói:” Rồi sao nữa?”. “Phải cấp cứu ngay” Thành nói tiếp:”Tao ứng trước 500 đô. Gởi về cho con Thuỷ em bà con tao, nó có tiệm vàng ở ngay chợ, nhờ nó lo chuyện này ngay. Quan nói là làm, không nói chơi mày”. Tôi nói:” Rất tốt. Gởi tặng cho quan hai tàu thuỷ một bông hồng.”. Thành nói điện thoại hai ngày nay reo liên tục, bạn bè khắp nơi gọi về muốn cháy máy luôn. Tôi nói đừng lo, cháy cái này mua cái khác.
Sau đó Thành kể cho tôi nghe hôm tết, vợ chồng Thành đi VN, có ghé về Long Thành, họp nhóm bạn hai lớp B1 và B2, có sự tham dự của thày Kiệt và thày Ân nữa.Số bạn bè tham dự cũng khá đông trên hai chục người. Một việc làm đúng là có một không hai được Trần bửu Hoà khen ngợi hết sức. Một buổi sáng đầu xuân, Thành ngồi uống cà phê trong quán, thấy một người hành khất lết dưới đất, quần áo dính bùn đất rất bẩn thỉu, hai tay bọc lại bằng hai túi nylon, lê dưới đất, đẩy theo một cái chậu thau nhỏ phía trước. Thấy tội nghiệp quá Thành chạy ra bỏ vào cái thau tờ giấy 50 ngàn, rồi thản nhiên vào ngồi uống cà phê tiếp. Tôi hỏi Thành:” Mày không nhận ra nó thì đúng rồi, nhưng còn nó cũng không nhận ra mày?”. Thành bảo nó cúi gầm mặt xuống có nhìn ai đâu mà nhận ra tao. Nghe tới đây tôi lại chợt nhớ tới trường hợp của tôi năm năm trước. Vâng năm năm trước tôi có về Long Thành nhân dịp lễ giỗ mãn tang của Mẹ tôi. Một hôm sau khi ăn sáng với một số bạn bè, chúng tôi kéo nhau ra quay vé số, mua cái hên. Chúng tôi vừa chọn vừa nói chuyện huyên thuyên, lúc đó cũng có một ông ngồi xe lăn ghé lại cũng góp chuyện vui vẻ. Sau khi mua vé số xong, tôi lên xe của bạn tôi để về nhà, thì người ngồi xe lăn buột miệng gọi :” Bá” . Tôi giật mình ngoái đầu nhìn lại cười vẫy tay…Và tôi thắc mắc với người bạn:” Ông ta là ai mà lại biết tên tôi”. Bạn tôi nói chắc lúc nói chuyện hắn nghe tụi tao gọi tên mày thì hắn biết thôi.”. Nhưng sao hắn lại gọi tên tao ra để làm gì ?”. “Mày quên là trên người mày có gắn cái mark “Việt kiều” đó mà. Thật sự lúc đó tôi quá mu muội không nghĩ ra rằng có thể là một người bạn, một người quen nào đó mà lâu ngày mình không nhận ra .
Khi tôi kể chuyện này với Thành, Thành kể lại với Cúc, Cúc kể lại cho Huỳnh Long. Huỳnh Long gọi phone trách tui:” Sao không ngừng xe lại hỏi xem anh đó là ai”. Đúng, tôi đã sai rồi. Thành nói thằng đó là thằng Chẳng đó. Tôi áy náy trong lòng. Tôi nghĩ chắc lúc đó Chẳng giận tôi lắm, có thể Chẳng đã buột miệng:” ĐM thằng bạn chó chết”. Chẳng ơi tao thật sự vô tình , tao ân hận đã không nhận ra mày…Tao ân hận lắm. Và biết đâu….cũng tại cái kinh nghiệm ê chề này mà mày đã cố tình không nhận ra thằng Thành, không muốn bị làm ngơ như lần mày đã gặp tao, hay mày tủi phận bèo bọt mây trôi. Ừ tủi cũng là phải thôi. Hồi tao mới đi tù cải tạo về, Mẹ gìa, còn tao không nghề, không nghiệp, không vốn liếng…tao chẳng biết làm gì để kiếm sống, tao đi bán vé số . Có một buổi sáng tao cầm xấp vé số bước vào quán Tư Lợi ở chợ cũ, đang muốn xoè ra mời khách mua, tao chợt thấy thằng Nguyễn văn Thinh ngồi ở cái bàn khuất trong một góc đang uống cà phê với mấy người bạn. Thinh lúc đo dường như là Hiệu trưởng trường cấp 2 thì phải, Thinh nhìn tao mỉm cười, mày biết không tao quê quá, tao ngượng quá, tao liền quay lại đi thật nhanh ra ngoài và ngày hôm đó tao ôm luôn xấp vé số đó, tao hết vốn luôn, tao bỏ bán vé số luôn … Cuối cùng có người cùng xóm rủ tao vào nghề bán kẹo kéo, đến bây giờ thằng Nguyễn tân Tiến vẫn nhắc lại với tao chuyện này. Tao đi bán kẹo kéo cũng ê chề lắm, có lần tao ghé trường tiểu học Long An bán đắt như tôm tươi, nhưng khi tiếng trống vào học nổi lên tao đã nhìn thấy H. H không biết có nhìn thấy tao không. H là bạn học của đứa em gái út tao, là giáo viên ở trường này. H là người con gái thường hay xuất hiện trong những giấc mơ của tao trước ngày tao vào lính. Mày nghĩ xem có bẽ bàng lắm không. Và từ đó tao đã chẳng dám ghé ngôi trường đó nữa. Tao đạp xe đi xa hơn, tao xuống mãi Phước Thái, đạp xe đi xa mệt lắm mày ơi, nhưng nếu bán ở gần thì e lại gặp người quen, xấu hổ lắm. Thế mà trời bất dung nhan tao vẫn không thoát cảnh trớ trêu. Một sáng tao đang phom phom đạp xe trực chỉ Phước Thái, đến gần Phước Hoà, một chiếc xe Honda dame chạy từ từ qua mặt tao, tao nhìn lên bắt gặp thằng Nguyễn thanh Tân, nó đi dạy ở trường Trung Học Phước Hoà, tao luống cuống khi Tân nhìn tao nhăn mặt tỏ vẻ …ngạc nhiên. Tao lạng quạng một chút xíu thì té lăn quay ra đường. Tao ngừng xe lại và chửi thầm cái số kiếp long đong của mình. Tao quay ngược xe về, ngày hôm đó tao bán kẹo kéo ngay ở cửa nhà tao, vừa bán vừa cho và tao gĩa từ nghề kẹo kéo. Dù biết rằng chỉ có con người xấu thôi chứ chẳng có nghề gì xấu cả . Ấy thế nhưng không phải thế. Tao vẫn mặc cảm cùng mình. Tao không lạ gì, khi Kim Cúc với Kha Siu Hồng tìm gặp mày, nước mắt mày đã chảy đầm đìa. Bạn bè mày nơi đây cũng đang cùng khóc với mày.
Chưa hết đâu Chẳng , tao đi làm rẫy trong Chốt Thái, tao gặp Nguyễn thị Thêm ở Bình Sơn, nhìn nhau chả biết nói sao. Rồi có lần gặp Phạm Thuận ở con đường Kim Sơn khi tao đạp xe từ rẫy về, mồ hôi nhễ nhại, quần áo rách bươm, lấm lem. Thuận gọi:” Anh Bá”. Tao chỉ biết cười mếu máo và đạp xe nhanh hơn. Tao may mắn hơn mày, tao còn lành lặn, còn được xuất ngoại…Còn được làm …”Việt kiều”. Đôi lúc tao nghĩ nếu tao còn ở lại quê nhà …thì có lẽ tao cũng như mày, khác mày ở chỗ không phải lê, không phải lết mà là chống gậy dơ bàn tay ra :” Ông đi qua bà đi lại…”.
Chẳng ơi, mày cũng đã phấn đấu để sống cho ra người. Mày dù tật nguyền cũng đã từng đi mài dao dạo kiếm sống nuôi vợ, nuôi con, nhưng chỉ vì cuộc đời bọn mình nó đen hơn cái mõm chó. Gặp thời thế, thế thời phải thế. Đã túng quẩn còn gặp “tai biến mạch máu não” nữa. Vậy mà mày vẫn còn cố sức bò lê đi …cho qua ngày. Tao khâm phục mày. Cả như tao chắc chắn tao đã ra nghĩa địa nằm từ khuya rồi. Mày đừng buồn nữa nghe mày, hãy cố gắng bình thản mà sống cho hết kiếp này.
Tao mong rằng mày sẽ đọc được những dòng chữ tao viết hôm nay để thông cảm và bỏ qua cho tao chuyện năm năm về trước. Chúng mình đã là bạn đồng môn từ thời thơ ấu và bây giờ vẫn thế, dù vì thời cuộc đổi thay mà bạn bè nhiều năm không gặp lại, nhưng cái tình thì vẫn còn nguyên. Quả bóng ngày xưa vẫn còn nguyên, màu áo xanh, quần short trắng của đội bóng THLT năm xưa vẫn còn đấy, chiếc cup vô địch năm xưa…hề… chắc không còn, vì ngôi trường thân yêu sau ngày 30 tháng tư bảy lăm đã đổi màu. Người ta đã phá bỏ hết cái gọi là tàn dư không cần biết cái đó tốt, xấu. Đành chịu thôi phải không mày ?
Bạn bè ở đây hối tiếc rằng đã nhận ra mày qúa muộn. Ở đời ai mà chả có lần gặp gỡ cái chuyện muộn màng. Biết nói sao khi tao nhớ trong kinh thánh có đoạn viết:” Ánh sáng chiếu rọi trên khắp mọi người không phân biệt kẻ lành, người ác…”. Trời Việt Nam tao biết mấy ngày qua nắng chói chang. Nắng trên khắp mọi người, nhưng nắng đã không về tới nơi mày ở, nắng đã không chiếu sáng con đường hằng ngày mày lê, mày lết. Chỗ bọn tao ở mấy ngày nay lại mưa dầm dề, tuy nhiên chiều nay một chút nắng vàng đã về kịp trước khi trời tối. Bọn tao quyết định gởi cái giọt nắng vàng muộn màng này về mày, mong rằng mày có lại một nụ cười dù héo hắt. Cố gắng lên nghe mày. Cố gắng lên. Hãy nhớ về quá khứ mà sống. Đừng nghĩ gì hiện tại và dĩ nhiên cũng quên phứt cái chuyện tương lai. Tương lai tương liếc gì nữa khi đã “gần đất…xa tiền”.
Trưa nay tôi mới gọi cho Phát. Phát cho biết mới vừa gặp Tâm sáng nay, vẫn câu chuyện bùi ngùi . Rồi Tâm gọi cho tôi nói đang ngồi ở nhà Huỳnh xuân Hoá, Tâm cho tôi biết trời Cali hôm nay nhuốm một chút âm u.
Cám ơn các bạn đã cố gắng đọc hết cái tâm sự chẳng mấy hay ho của tôi. Một chút tâm sự thố lộ với một người bạn cũ bất hạnh. Một chút tâm sự muộn màng.
Lê du Miên
(Viết từ thành phố hoa hồng)
CHIẾN TÍCH ĐẦU XUÂN.
Tặng các chiến hữu TĐ 11 BĐQ
Dương Thượng Trúc
Ngày đầu Xuân chúc non nước thanh bình,
Ngày mùng hai chúc cho lứa đôi mình,
Và mùng ba anh chúc đôi má em xinh,
Tết không về chắc em trách anh nhiều lắm… Chiều buông chầm chậm, cả cánh rừng già chìm trong lặng lẽ, dù rằng phía dưới những tàn lá xum xê ấy là gần bốn trăm con người, tóc tai thậm thượt, áo quần nhếch nhác, cùng có chung một nhịp thở, một nỗi băn khoăn.
Đang độ vào xuân, những trảng cỏ non xanh mượt , nõn nường như cô gái mười tám, lấm tấm điểm những cánh hoa sim tím lãng mạn, tạo nên một bức tranh thật hữu tình, thế mà cũng chẳng làm cho những con người ấy có một chút xúc động nào trước vẻ đẹp của thiên nhiên.
Chẳng phải họ không có nhãn quan thẩm mỹ để thụ hưởng những gì thượng đế đã trao tặng cho loài người.
Mà vì nhiệm vụ còn đè nặng trên hai vai họ, khi địch quân đang chuẩn bị những mưu đồ thâm hiểm để nhuộm đỏ mảnh đất miền Nam này.
Nên thay vì thưởng ngoạn nét đẹp của cỏ cây, thì họ phải luôn căng mắt ra để canh chừng cái chết đang rình rập đến với bản thân họ và đồng đội họ.Nó có thể xảy đến bất cứ lúc nào, ngay cả hôm nay là ngày ngưng bắn.Những bài học xương máu về sự tráo trở của địch quân chẳng bao giờ họ quên…
Trên bầu trời cao vút, xao xác tiếng chim gọi bầy, là những âm thanh duy nhất có thể nghe được một cách gần gũi.
Xa hơn một chút, thỉnh thoảng những tiếng đạn pháo binh nổ lẻ tẻ, nhưng khi va vào vách núi dội lại, trở thành những chuỗi âm thanh bất tận.
Không hiểu vì lý do gì, tết năm nay lệnh hưu chiến được bọn chúng tuân hành nghiêm nhặt hơn mọi năm, có lẽ tụi nó đã kiệt lực sau lần cắn trộm vào dịp tết Mậu Thân và rồi ôm đầu máu, chạy về miền Bắc.
Dù thế anh em binh sĩ cũng không thể lơ là, mất cảnh giác được.
Đơn vị đang nằm rừng, và cũng tiếp tục phải nằm rừng, đón Xuân.
Thụy đong đưa trên cái võng dù, treo tòn teng dưới tấm poncho, nghe Đầu Xuân Lính Chúc qua cái radio nhỏ xíu máng trên đầu võng.
Vào dịp này, những ca khúc với chủ đề lính và mùa Xuân được phát thanh suốt ngày trên hệ thống Đài Quân Đội và cả đài Sàigòn.
Chẳng biết tự lúc nào, Thụy bằng lòng cho hai lỗ tai khó chịu của anh tiếp nhận những giai điệu này. Và rồi sau đó, anh thấy nó cũng có cái hay riêng của nó…
Vài năm trước thôi, khi những âm thanh tương tự vừa cất lên là anh đã tắt ngóm đi ngay. Kèm theo một câu phê bình :
-Ba cái nhạc sến này mà tụi bay mở lên hoài, nghe điếc lỗ tai.
-Nhạc này hay mà ông thày.
-Hay cái con khỉ mốc gì, quanh đi quẩn lại cũng chỉ có Boléro, Rumba, Slow, với những tiếng rên rỉ nghe cải lương thấy mẹ luôn…
Nhưng đó lại là sở thích của nhóm thuộc cấp trong ban chỉ huy đại đội, gồm ba chú lính truyền tin và hai anh chàng tà lọt của Thụy.
Ngoại trừ y tá Khiết khá lớn tuổi, nên gác ngoài tai chuyện thị phi thiên hạ.
Thụy trở thành thiểu số, nếu đem trưng cầu dân ý
Anh chẳng ngăn cấm và bọn họ cũng không dám chống đối anh ra mặt, nhưng hễ có cơ hội là họ lại dò tìm những chương trình nhạc như thế và xúm xít lại cùng nghe…
-Trời ơi ! Ông thày nghe nè ! Duy Khánh mà ca Xưng Này Con Hổng Dìa là nhức nhối luôn đó…
Thằng An, mang máy Đại Đội, nói giọng miền Nam đặc sệt, tán tụng …
Anh nhái giọng nó, rồi châm chọc :
-Ừa mày vô thêm mấy câu vọng cổ mùi tận mạng nữa đi, cho đủ bộ …
-Em chưa tìm ra bài Tân Cổ Giao Duyên, chứ nếu có , em sẽ vô liền cho ông thày nghe, hổng đẹp hổng ăn tiền…
-Mày ráng kiếm rồi tập đi, mai mốt giải ngũ, dìa bến Bến Bắc Cần Thơ ngồi, với cái nón lá rách và cây đàn guita cũng đủ sống qua ngày, khỏi dìa quê cầy ruộng.
Lời nói của anh nào ngờ lại biến thành sự thật. An đã giải ngũ vĩnh viễn, khi bộ Chỉ Huy Đại Đội bị trái pháo 130 ly rơi trúng. Một mảnh đạn cắt ngang cổ họng An, để mãi mãi chẳng bao giờ nó còn có dịp vô mấy câu Vọng Cổ trên bến Bắc Cần Thơ nữa.
Sau ngày An hy sinh, mấy thày trò không còn tranh cãi với nhau về những bản nhạc ấy nữa.
Cái tướng lùn lùn, mình đúc, cái vai to bè của thằng An luôn lởn vởn trước mặt Thụy, dù sự kiện đã xảy ra mấy tháng nay.
-…Nếu bây giờ mày còn sống, ở đây, mày muốn nghe bản nhạc nào cũng được, anh sẽ không cấm cản mày đâu An ơi !...
Thay vào chỗ An là Hạ sĩ Kía, một chú chệt Chợ Lớn, nói tiếng Việt sành sõi, pha chút “ Quảng Túng dành.” Khi bị quýnh quáng, Kía nói cà lăm.Và trở thành trò cười cho mấy thằng lính “ …bán trời không mời thiên lôi…” trong Bộ chỉ huy.
-Thầm Quyền…Thẩm Quyền có lịnh đi họp trên Tiểu Đoàn kìa !
-Chuyện gì đó A Kía?
-Dạ em hổng piết nữa…
A Kía, nằm trên cái võng kế bên, lên tiếng.
Thụy ngồi bật dậy, nhìn xuống đồng hồ đeo tay, lẩm bẩm :
-Hơn ba giờ chiều rồi, sao có cuộc họp đặc biệt vậy kìa.
Rồi anh lớn giọng hơn một chút :
-Thiếu Úy Quang đâu rồi ?
-Dạ, tôi đây Trung Úy !
-Ông tới đây, tôi bàn chút chuyện…
Võng của Quang nằm cách xa anh một đỗi, đễ tránh tình trạng khi bị pháo kích, cả bộ chỉ huy tan hoang.
Anh tất tả bước đến bên lều của Thụy, hỏi nhỏ :
-Bộ có gì thay đổi hả Trung Úy ?
-Tôi có lệnh lên họp trên Tiểu Đoàn, ông ở nhà lo kiểm soát con cái gác sách cẩn thận nhe ! Đừng ỷ y ngưng chiến, rồi lơ là, coi chừng chết cả lũ. Hôm nay mùng ba tết rồi. Mười hai giờ khuya là hết hiệu lực, biết đâu tụi nó chẳng giở trò…
-Dạ ông cứ đi họp đi, tôi sẽ đôn đốc canh gác.
Thụy đứng dậy, cầm tấm bản đồ đã được chú ta lọt Lễ để sẵn nơi đầu võng, đi về hướng bộ chỉ huy Tiểu Đoàn.
Tại căn lều chỉ huy, đã có mặt đầy đủ, gồm: ba vị đại đội trưởng tác chiến, đại đội trưởng chỉ huy cùng với Tiểu Đoàn Phó và Trưởng ban ba.
Tất cả ngồi quây quần chung quanh Thiếu Tá Minh, ôngTiểu Đoàn Trưởng già, mà Thụy hằng quý mến.
Trên cái thùng đạn pháo binh dùng làm bàn, là một xấp bản đồ dầy cộm, vẽ chi chít những dấu xanh dấu đỏ, lăng quăng…
-Ngồi đi Thụy.
-Dạ cám ơn đại bàng.
-Đủ cả rồi phải không ! Anh em nghe cho rõ ! Một chút nữa, Đại Tá Như, Liên Đoàn Trưởng sẽ đáp xuống đây, để giao cho chúng ta một nhiệm vụ đặc biệt.
Hy vọng rằng khi nhận chỉ thị ấy, Tiểu Đoàn chúng ta sẽ hoàn thành một cách tốt đẹp nhất.
Tiếng máy bay trực thăng văng vẳng từ xa, càng lúc càng rõ dần như xác nhận lời nói của ông.
-Anh em cứ ngồi lại đây, để tôi và ông Trưởng Ban Ba ra đón Đại Tá được rồi, đừng xúm xít ngoài bãi đáp nhiều quá không tốt.
Chiếc trực thăng hạ cánh an toàn và chỉ trong khoảnh khắc, đã bốc lên, mất hút về phía chân trời.
Vài phút sau phái đoàn trở lại lều chỉ huy.
Đại Tá Liên Như xộc vào với ông Thiếu tá Trưởng ban ba Liên Đoàn, hai Sĩ Quan phụ tá, cùng bốn người cận vệ.
Mỗi người xách theo một giỏ cói nặng trịch.
Tất cả cùng đứng bật dậy, nghiêm chào.
-Anh em ngồi xuống đi.
Tiểu đoàn Trưởng nhường vị trí ông ngồi lúc nãy cho cấp chỉ huy.
Đại Tá Như nhìn lướt qua tất cả các thuộc cấp đang có mặt, nói nhẹ nhàng:
-Hôm nay, tôi lên đây ăn tết với anh em Tiểu Đoàn 11, các Tiểu đoàn khác tôi đã ghé thăm rồi. Chắc anh em ngạc nhiên lắm nhỉ! Lẽ ra tôi phải đến đây trước khi thăm thằng 22 và thằng 23.
Nhưng vì có một nhiệm vụ quan trọng muốn giao cho các anh em, nên tôi để dành chuyến thăm chót này cho Tiểu Đoàn 11.
Dừng lại một chút, ông liếc mắt về phía mấy người cận vệ :
-Mấy chú bày mồi màng ra đi - Quay lại phía Tiểu Đoàn Trưởng, ông nói tiếp - Tôi có đem lên đây vài con vịt quay, mấy hũ Ngũ Gia Bì, chúng ta làm ít chung mừng Xuân rồi sẽ bàn đến công chuyện.
-Dạ cám ơn Đại Tá ! Chúc Đại Tá năm nay mọc sao…
-Chuyện đó còn tùy thuộc vào chiến công của anh em đây ! À ! Mà hình như ở đây chỉ có các Đại Đội Trưởng thôi sao ?
-Dạ Phải, thưa Đại Tá ! Thiếu Tá Minh trả lời.
-Tôi muốn có mặt cả các anh em Đại Đội phó nữa.
Mười phút sau, thêm bốn vị nữa bước vào phòng họp. Đại đội phó chỉ huy vừa về hậu cứ công tác, nên vắng mặt.
Đích thân Đại tá Liên Đoàn Trưởng khui hũ rượu đầu tiên.
Mọi người cùng xúm vào chén tạc, chén thù trong tinh thần huynh đệ chi binh thật vui vẻ.
Được khoảng ba bốn tuần rượu, nghe chừng máu trong người đã ấm lên, Đại Tá Như hắng giọng, tạo sự chú ý cho mọi người, rồi lên tiếng :
-Theo tin tức tình báo mới nhận được, thì sư đoàn 3 Sao Vàng của địch quân đã xâm nhập vùng hoạt động của chúng ta rồi.Và đơn vị ở gần nhất là Trung Đoàn 2 của sư đoàn này.Chúng đặt chỉ huy sở chỉ cách đây khoảng hơn hai mươi cây số.
Ngừng lại giây lát để mọi người thẩm định được tầm mức quan trọng của sự việc, ông nói tiếp :
-Tôi cần một Sĩ Quan tình nguyện, gan dạ và có kinh nghiệm ...
-Để làm gì Thưa Đại Tá ?
Ông Tiểu đoàn trưởng nêu thắc mắc, khi thấy cấp chỉ huy ngừng lại khá lâu, và có lẽ cũng là thắc mắc chung của mọi người đang có mặt.
-Dẫn khoảng hai trung đội, đột kích vào Bộ Chỉ Huy trung đoàn này, trước khi nó kiện toàn cơ sở phòng thủ.
-Hai trung đội, mà đột kích vào bộ chỉ huy trung đoàn, e có quá mạo hiểm không, thưa Đại Tá ?
Đại úy Chính, Trưởng ban ba Tiểu Đoàn nêu ý kiến.
-Đúng thế, mới nghe qua thì thấy là quá mạo hiểm, nhưng khi đi vào thực tế, với những tin tức tình báo thu lượm được, thì lại không phải vậy.
-Xin Đại Tá giải thích rõ hơn ạ ! Tiểu đoàn trưởng hỏi thêm.
-Tuy là Bộ chỉ huy trung đoàn, nhưng lực lượng bảo vệ của chúng chỉ ở cấp số một đại đội trừ.
-…Ồ ! Sao lạ vậy nhỉ !
Thiếu Tá Công, Trưởng Ban Ba Liên Đoàn góp tiếng:
-Chẳng có gì lạ đâu, chúng không kịp bổ sung quân số, nên bây giờ chính những tên cán binh kỹ thuật cũng phải ở trong các đơn vị chủ lực bảo vệ bộ chỉ huy trung đoàn. So sánh tương quan lực lượng, thì nhiệm vụ này hoàn thành không khó khăn lắm. Chỉ cần làm sao từ điểm xuất phát, cho đến khi chạm mục tiêu, đừng để các chốt dọc đưòng của chúng phát giác.Và khi trở về phải chuẩn bị một lộ trình thật an toàn, là tốt rồi…
-Thưa Đại Tá, biết rõ vị trí đóng quân của chúng, sao ta không dùng phi pháo, có hiệu quả hơn không ạ !
-Đó là vài năm trước kìa, chứ bây giờ điều đó bất khả thi.Vị trí này ngoài tầm tác xạ của 105, còn không quân, thì bây giờ rất khó khăn. Chỉ khi nào đụng trận mới có thể xin được vài phi tuần.
Mọi người lặng lẽ suy nghĩ, không khí trầm mặc một cách ngột ngạt.
Thêm vài ba tuần rượu nữa trôi qua trong im lìm, một hồi lâu, Đại Tá Như nói chậm rãi :
-Bây giờ, tôi cần một Sĩ Quan tình nguyện làm nhiệm vụ này, và sẽ được thực hiện ngay sáng sớm mai …Anh em hãy nhớ, đây là một nhiệm vụ đặc biệt, rất nguy hiểm, hãy suy nghĩ chính chắn trước khi tình nguyện.
Không gian như chùng hẳn xuống, rơi vào sự im lặng đến ngột ngạt.
Thời gian lặng lẽ trôi qua, những tuần rượu vẫn được chuyền tay nhau, những điếu thuốc vẫn lóe sáng, và những cái đầu vẫn đang gục gặc suy nghĩ.
Ly rượu đến phiên anh, Thụy xoay xoay trong tay một lát như làm một quyết định quan trọng. Anh đưa lên miệng, ực nhanh một cái, chất nước màu nâu sậm, hăng hăng mùi thuốc bắc, chạy dài từ cổ xuống bao từ, đi đến đâu, anh nghe nóng ran đến đó.Và giòng máu nóng trong anh cũng sôi lên sùng sục :
-Tôi…Trung Úy Thụy, xin tình nguyện thưa, Đại Tá !
Tiếng nói của Thụy vang lên phá tan bầu không khí lặng lẽ đang vây phủ căn lều. Mọi người cùng thở phào như vừa trút được một gánh nặng. Dù những tiếng thở rất nhẹ.
Thiếu Tá Minh phản đối, giọng gay gắt :
-Mày không thể đi được…
-Sao vậy Thiếu Tá Minh? Liên Đoàn Trưởng ngạc nhiên hỏi.
-Thưa Đại Tá, nó bây giờ rất cần cho Tiểu Đoàn, hơn nữa vợ nó lại mới sanh…
-Lý do đầu tiên thì không chấp nhận được, nhưng nếu vợ chú mới sanh thì nên suy nghĩ lại đi Thụy…
-Dạ xin cám ơn Đại Tá và Thiếu Tá… nhưng tôi đã quyết định rồi…
-Nếu chú mày đã muốn thế, thì OK thôi ! Thiếu Tá Minh hãy để Trung Úy Thụy được toàn quyền chọn lựa anh em binh sĩ và cán bộ trong các đại đội để thực hiện nhiệm vụ này nhé !
-Dạ xin tuân lệnh Đại Tá !
-Tất cả kế hoạch hành quân, đều do Trung Úy Thụy quyết định, nhưng cần thông báo cho ban ba Liên Đoàn, vì sẽ có một toán viễn thám hướng dẫn lộ trình…Mọi yểm trợ dành ưu tiên cho anh đó…
-Dạ, xin cám ơn Đại Tá…
Cuộc tiệc tiếp tục cho đến lúc hũ Ngũ Gia Bì cuối cùng được dốc ngược lên, thì rừng chiều cũng ngả sang màu tím sậm.
Chiếc C&C đáp xuống vội vã, mang vị chỉ huy trở về phố phường, để lại bên dưới những lời bàn tán sôi nổi về nhiệm vụ của Thụy sáng mai.
Anh đến gặp Đại Úy Chính, Trưởng Ban Ba Tiểu Đoàn để nhận phóng đồ hành quân, rồi khật khưỡng bước về phía lều của mình. Quang lặng lẽ theo sau.
-Ông Quang làm ơn thông báo giùm, tôi sẽ chọn ba Tiểu Đội xung kích của ba Đại Đội, và trung đội bốn của Đại Đội mình, vậy là đủ rồi…
-Dạ tôi đi làm ngay đây, Trung Úy.
-Thượng sĩ Thường Vụ đâu ?
-Có tôi đây Trung Úy !
-Anh coi anh em gác sách thế nào ?
-Dạ đã hoàn tất mọi chuyện, thưa Trung Uý.
-OK vậy là tốt rồi.
Bóng đêm đang phủ trùm lên vạn vật, một màu đen hoang lạnh.
Thụy chui vào trong lều, dùng cái đèn pin cá nhân soi vào tấm phóng đồ hành quân mà Đại úy Chính mới trao.
Chi chít những dấu đỏ trên con đường anh sẽ đi qua. Chứng tỏ địch quân kiểm soát gần hết lộ trình.
“…Quả thật đây không phải là một nhiệm vụ dễ nuốt…”
Lễ bước đến bên, nói nhỏ :
-Trung Úy dùng cơm bây giờ chưa ?
-Chờ ông Quang về rồi ăn luôn.
Ngay lúc đó, Thiếu Úy Quang bước trờ đến, lên tiếng :
-Tôi về rồi đây Trung Úy, mời ông ra ăn cơm đi thôi!
Anh tắt cái đèn pin, bước ra :
-Chuyện tôi nhờ anh, ra sao rồi ?
-Dạ tất cả OK hết Tango.
Cả ban chỉ huy đại đội ngồi xúm xít thành một vòng tròn, dưới bóng đêm mờ ảo. Trên nền đất, được trải một tờ báo cũ, ở giữa là nồi thịt ba lát kho với măng rừng, và những bịch gạo sấy đã nguội lạnh, vì không ngờ hôm nay Thụy họp lâu như thế.
Họ ăn uống trong im lặng, dưới ánh sáng lập lòe của những con đom đóm đi hoang.
Hình như tất cả mọi người đều biết chuyện gì sẽ xảy ra vào sáng mai.
Thụy buông chén đũa xuống trước nhất.
-Sao Trung Úy ăn ít vậy ?
-Uống ba cái rượu Tàu, nó no ngang, không thấy đói…
Đợi cho mấy người lính tản về vị trí của họ. Quang bước vào bên trong mấy tấm poncho quây thành cái lều, bao phủ võng của Thụy, và của ba người truyền tin.
Anh ngồi xuống bên võng Thụy, khẽ nói:
-Trung Úy…sáng mai… để tôi đi thế cho…
-Anh nói giỡn chơi hoài…Tôi nhận lời thực hiện nhiệm vụ này, trước bao nhiêu người, khi không lại giao cho anh đi, coi sao được…
-Đi kỳ này nguy hiểm lắm đó Trung Úy…
-Tôi biết mà ! Có sao đâu, tôi đã ở đây bốn năm năm trời rồi, nguy hiểm nào mà chưa gặp qua…
-Nhưng chị nhà mới sanh được có mấy bữa…
-Chẳng ảnh hưởng gì đến chuyện ở đây cả…
-Tôi thật không yên tâm chút nào cả…Hay cho tôi đi chung với ông …
-Anh đi với tôi, ai coi đại đội ? Sống chết có số mệnh cả, anh đừng lo…nhưng anh nói thế, tôi cũng cám ơn anh. Chỉ cần anh chăm lo đại đội đàng hoàng, lúc vắng tôi, hoặc lỡ khi tôi có bề gì…là được rồi…
-Trung úy đừng nói vậy…
-Anh …-Thụy định nói, sao bây giờ anh mới đòi đi thay, trong khi họp lúc chiều thì lại im lặng, nhưng kịp dừng lại- …Thôi anh đi kiểm soát việc canh gác đi.Tôi cần nghỉ ngơi, để sáng mai lên đường sớm.
Quang vén lều bước ra, Thụy che tay mồi điếu thuốc, rít một hơi thật dài, để luồng khói chạy sâu xuống đến tận cùng những hang hóc của buồng phổi.
Hình như từ lúc rời lều Tiểu Đoàn Trưởng đến giờ, anh chưa có một hơi thuốc nào cả. Mặc dù anh không thấy căng thẳng lắm, nhưng vẫn nôn nao trong lòng một cách khó tả.
“…Bao nhiêu lần vào sinh ra tử rồi, lần này thì cũng thế thôi, chứ có quái gì mà bận tâm…”
Tiếng A Kía rù rì hỏi:
-Mai mình hành quân hả, ông thày ?
-Ừ ! Nhưng chỉ có Trung Đội bốn thôi, A Kía có đi với tao không, hay muốn đổi truyền tin khác?
-Ý đâu có được ! Em đi với Trung Úy chớ, làm sao mà đổi kỳ cục dị…
-Tại vì đây không phải là nhiệm vụ của đại đội…A Kía có quyền xin đổi, nếu không muốn đi theo tao…
-Ông thày đi đâu, em đi đó…Đồng sanh đồng tử mà…Ví lại, ông thày có vợ con mà còn dám đi, em độc thân, hổng lẽ nhát hơn ông thày sao ?
Thụy dụi cái tàn thuốc xuống cỏ, cười khe khẽ trong cuống họng, vì lời nói nhiệt tình mang đầy tính cải lương của người thuộc cấp.
-Nhưng …sao mày chưa lấy vợ, A Kía?
-Lính nghèo thí mẹ, tiền đâu mà lấy vợ, ông thày.
-Mày nói vậy, bộ lính ở giá hết hay sao…
-Hổng phải vậy, nhưng…
-Nhưng cái con khỉ, tao nghe nói tháng lương nào mày cũng đem cúng vô sòng xập xám hết phải không ?
-Tại vậy mà con Hai, bồ em nó hăm he cho em đi số de đó…
-Rồi bây giờ mày còn chơi nữa không ?
-Dạ em hứa với nó là em bỏ…mà …mới bỏ đuợc có năm mươi phần trăm hà…
-Không có người phụ nữ nào thích chồng cờ bạc rượu chè đâu, nếu lỡ vương mang, thì cũng phải ráng kềm chế…Mày bỏ năm mươi phần trăm là sao ?
-Mỗi thứ em bỏ một nửa…Cờ bạc thì em bỏ cờ, chỉ đánh bạc , rượu trà, em bỏ trà, mậu nhẩm xà mà nhẩm chẩu lớ…
-…Còn hút sách, thì mày bỏ đọc sách, chỉ hút thôi, trai gái, thì mày bỏ bạn trai, chỉ chơi với bạn gái, đúng không ? Mày mà bỏ cái kiểu đó …chắc con bồ mày nó cũng bỏ mày luôn…
-Coi vậy mà con Hai nó vẫn còn thương em lắm đó ông thầy…
-Vậy là mày có phước rồi…Chứ gặp người khác, chắc đã bỏ mày tám mươi đời vương. Ủa, mà sao nó thương mày dữ vậy ?
-Tại vì nó là học trò của em mà…
-Cái gì ?
-Thì ..thì… em dậy cho nó học ….
-Mày dậy cái giống gì cho con Hai vậy?
-Em dậy nó học tiếng Tàu …
Thụy lại bật cười khùng khục trong cuống họng, có tiếng thằng Tùng, truyền tin nội bộ, thì thào xen vào :
-Trời ơi A Kía mà làm sư phò… nữa hả ?
Thụy đã dằn được cơn cười, hỏi khẽ:
-Đâu, mày kể đầu đuôi câu chuyện tao nghe xem
-Thiệt mà ông thày! Nhà em có cái quán cóc, bán cà phê, bánh bao, xíu mại trong khu xóm người Tàu không hà ! Má em mướn con Hai phụ chạy bàn. Nó không nghe được tiếng Tàu, nên bị khách la hoài. Bởi vậy, nó biểu em dậy cho nó nói.
-Rồi mày dậy nó những gì ?
-Mới đầu em dậy nó đếm số : Dách dì xám xây ựng lục sách bạc cẩu xập….
-Bồi đầm già…
Tiếng thằng Tùng lại chen vào, làm cả mấy thày trò đều phải đưa tay bụm miệng, để tiếng cười không phát ra.
-Rồi sau đó mày dậy tới cái gì ?
-Em dậy nó nói vài ba câu thông thường như “Kỷ tố” là bao nhiêu , “ nị cỏn mát dệ” là anh nói gì ?Nị cỏn xám cỏn xây, là anh nói dóc, “Tố chè” là cám ơn…
Lại tiếng thằng Tùng ngắt ngang:
-A Kía, A Kía có dậy cô Hai nói Ngộ ái nị không ?
- Ê ! Có chế, có chế ngu sao hổng dậy…
Suýt tí nữa thì cả mấy thày trò rơi xuống võng, vì một tràng cười, bị nén lại trong lồng ngực.
-Ông Thày biết hông. Một buổi trưa, hổng có khách, ba má em đi ngủ hết, con Hai mới nói :
-A Kía dạy thêm cho tui một chút nữa đi.
-Cô Hai muốn học cái gì cứ nói tiếng Việt đi, tui nói lại bằng Tiếng Tàu há.
-Ừa ! tui bắt đầu nhe : Anh Hai, anh muốn uống cái gì ?
-Tài Cố, nị nhẩm mát dệ ?
-Tui uống cà phê.
-Ngộ nhẩm café
-Cho tui một cái dầu cháo quẩy
-Bỉ ngộ dách cô dầu cháo quẩy.
-Bao nhiêu tiền một cái bánh bao ?
-Kỷ tố dách cô tài páo?
-Ba đồng một cái…
-Xám mắn dách cô…
-Cho tui một ly cà phê đen.
-Bỉ ngộ dách cô xây chừng…
Ngày nào cũng vậy, đợi cho ba má đi ngủ trưa, là em mon men xuống bếp, dạy con Hai học tiếng Tàu.
Con Hai dáng người thon thả, đẹp hết xẩy luôn đó, tóc để dài, chải dầu dừa bóng lưỡng, làm em mê mệt cả tâm hồn, nằm chiêm bao thấy nó hoài.
Em biết con Hai cũng khoái em nữa đó ông thày.
Một bữa nọ, thấy nhà vắng vẻ, mà con Hai đang ngồi chải tóc một mình, em hỏi nhỏ:
-Hai à ! Hai có piết … Nị hủ leng là gì hông ?
-Hổng biết…
-Là …là cô đẹp lắm đó.
Con Hai đỏ mặt sung sướng, làm em muốn ngất ngư con tàu đi.Rồi em hỏi tiếp :
-Rồi …Hai có piết Ngộ…ái ..nị là gì …hôn dị ?
-Hổng biết luôn…chưa có học mà…
-Thì bi giờ học nè…
-Ngộ…ái nị…là …gì …dzậy ?
-Là…là…anh yêu em …đó…
Con Hai cúi mặt mắc cỡ, rồi nói một câu làm em chới với:
-Nị cỏn xám cỏn xây, ngộ tả nị xảy á…
-Kía hổng có cỏn xám cỏn xây, hổng nói xạo đâu…
-Ai mà tin được, Kía là con ông chủ, còn Hai chỉ là người làm công…
-Ngộ thề có Quan Công làm chứng, ngộ ái nị thiệt đó, ngộ ái nị mà nị không ái ngộ, thì ngộ …ái ngại …lắm đó !
Lại tiếng thằng Tùng xen vào :
-Ngộ ái nị mà …nị hổng ái ngộ…thì ngộ ái ngại, dồi ngộ ôm đại lớ…
Cả mấy thày trò lại ôm bụng, nén tiếng cười.
-Tùng để cho A Kía kể tiếp đi.
-Rồi cái em dòm trước dòm sau, thấy không có ai, em liền nắm tay con Hai. Chu cha ơi, cái bàn tay mới mềm mại, mới mát mẻ làm sao đâu á!
-Hai à ! Nị hủ leng lớ, ngộ …ngộ ái nị lớ…
-Ngộ …ngộ…cũng ái nị …nữa…
-Vậy là từ đó, hai đứa yêu nhau, bưổi trưa nào em cũng xuống nhà bếp…dạy tiếng Tàu cho con Hai.
Tiếng thằng Tùng lại chen vào :
-Dậy tiếng Tàu thôi, hay có làm gì con người ta không vậy A Kía ?
-Tầm pậy nè, ngộ đâu có làm gì. Rồi em đăng lính Biệt Động Quân. Con Hai vẫn ở nhà phụ với ba má em bán quán cà phê, nó nói sẽ chờ em dìa.
-A Kía có thể hoãn dịch, vì là người Tàu, sao đăng Biệt động quân chi vậy ? Tùng lại cắt ngang lời Kía.
-Tui là người Tàu, nhưng ở trên nước Việt Nam, thì phải bảo vệ Việt Nam chế. Để tụi chó chết Việt Cộng ló vô đây, A Kía cũng đâu có được sống yên ổn.Thôi để tui nói tiếp há …
…Ông thày biết hông, Bi giờ con Hai nói tiếng Tàu dành lắm rồi đó. Có bữa được về phép, nó dám chọc em nữa chế, nó nói:
-A Kía biết…Xám cô dành xực dách cô xường toại…là gì hôn dị?
-Em ngơ ngẩn, bởi vì nghe cái âm thì có pha tiếng Tàu, mà cái nghĩa thì bù trất. Con Hai cuời lớn, nói :
…Là xám cô dành… xực dách cô xoài tượng, tức là ba cô dành ăn một trái xoài tượng đó…
Thụy phải lấy cái khăn tay nhét vào miệng để tiếng cười không phát ra giữa đêm khuya thanh vắng.
-Thôi khuya rồi.Ngủ đi mai còn phải lội đó…
Mấy thày trò cùng im lặng, nhưng không phải giấc ngủ có thể đến một cách dễ dàng, khi mà những ý tưởng hài hước vẫn còn lảng vảng trong đầu họ, qua câu chuyện ngô nghê của chú Tàu A Kía.
***
Trời chưa sáng, đoàn quân đã xuất phát, lên đường.
Thụy phân chia tất cả thành bốn toán, mỗi toán được chỉ huy bởi một Hạ Sĩ Quan xuất sắc, mà anh đã lựa chọn.
Tất cả đều được trang bị hệ thống truyền tin liên lạc trực tiếp với anh.
Dẫn đầu là ba người lính Viễn Thám của Liên Đoàn, đến một Toán xung kích, rồi đến ban chỉ huy của Thụy. Còn lại, tất cả một hàng dọc lặng lẽ di chuyển trong lúc sương đêm còn se lạnh, ướt đẫm vai áo mọi người.
Nhờ trang bị nhẹ, nên họ lòn lách một cách dễ dàng để tránh né những trạm gác của bọn chúng trên đường đi đến mục tiêu.
Tất cả những đoạn đường họ đi qua, đều được xóa hết dấu vết, phòng khi trở về không bị phục kích.
Đi qua một con suối nhỏ, thấy hai tên còn căng võng ngủ tỉnh bơ, AK dựng một bên, khiến nhiều anh em nổi điên, muốn bước đến vặn cổ chúng cho rồi.
Đến một cánh rừng lồ ô khác, thấy vài cái lều của bọn chúng vẫn còn im ắng trong giấc ngủ nướng.
Nhưng cả toán đều lặng lẽ vượt qua, vì tiêu diệt bọn chúng không phải là nhiệm vụ chính. Mà mục tiêu là bộ chỉ huy trung đoàn kìa.
Trên bầu trời cao, trong vắt, không gợn một áng mây, những cánh én bay lượn lờ một cách vô tư lự.
Cạnh bìa rừng, những tiếng hót líu lo của các loài chim muông đủ loại như chào đón chúa xuân, khiến mọi người nghe tâm hồn trở nên thư thái.
Phải chi những kẻ ngông cuồng không đem tham vọng áp đặt lên dân tộc, thì một buổi sáng mùa Xuân trong lành như thế này sẽ đẹp đẽ biết bao.
Khoảng gần mười giờ sáng, Thụy ra lệnh cả toán dừng lại nghỉ chân bên một cánh rừng thưa, sau bốn năm tiếng đồng hồ băng rừng vượt suối, nhưng vẫn bố trí nghiêm nhặt. Theo dõi trên bản đồ, và phối kiểm với anh em Viễn Thám, Thụy biết là anh còn cách mục tiêu không xa nữa. Có thể chạm súng với các đơn vị tiền đồn của địch bất cứ lúc nào.
Sau khi quan sát, thấy ở đây có vẻ tạm an toàn, anh cho lệnh các toán dùng cơm trưa.
Thụy liên lạc với những đơn vị yểm trợ, và biết là tất cả vẫn đang theo dõi từng bước đi của các anh.
-Tango yên tâm đi, ở nhà lúc nào cũng theo dõi bước chân mày, đã có một trung đội 155 sẵn sàng yểm trợ tối đa.Và xin được được một phi tuần trực thăng võ trang nữa đó…
Tiếng Thiếu Tá Minh Tiểu Đoàn Trưởng, vang lên khe khẽ qua ống liên hợp, khiến anh thêm vững tâm.
Mười một giờ, đoàn quân lại lặng lẽ lên đường, sau khi đã chôn dấu những vỏ lon đồ hộp, bịch nylon gạo xấy và xóa hết những vết tích trên cỏ.
Toán quân vừa vượt qua một trảng cỏ tranh rộng lớn, để đến một cánh rừng lồ ô rậm rạp.
Đoàn quân vẫn như một con rắn dài ngoằng, trườn đi nhẹ nhàng giữa những thân cây lồ ô to bằng bắp chân thẳng tắp, vươn cao lên trời xanh.
Bỗng mọi người chựng lại, Thụy hỏi Tùng, mang máy nội bộ :
-Chuyện gì vậy Tùng ?
-Dạ, anh em viễn thám mời thẩm quyền lên phía trước.
Thụy bước nhanh tới, A Kía và Tùng cũng vội vã nối gót theo.
Người trưởng toán Viễn Thám vừa chỉ vào những dấu chân còn mới, vừa thì thầm với Thụy :
-Thẩm quyền coi kìa, cỏ còn đang ngóc đầu lên, vậy là chúng nó mới đi qua đây thôi.Mà có lẽ đông lắm.
Anh gật đầu đồng ý với nhận xét của người lính Viễn Thám, vì thân cỏ bị đạp rạp xuống, tạo thành một vệt dài, khá rộng, chứng tỏ có nhiều bước chân dẫm lên.
Anh nhìn xuống bản đồ, so lại phương hướng trên cái địa bàn, để xác nhận lại một cách chính xác vị trí của mình.
-Mình đang ở rất gần với mục tiêu rồi…
-…Lày các đồng chí, chặt những cây thật to vào ấy nhé…khẩn trương nên, không đạt chỉ tiêu chiều lay về nại bị kiểm điểm đấy…
Chợt tiếng nói lồng lộng từ trên gió đưa xuống, rồi thì âm thanh của những nhát mã tấu phạt vào cây lồ ô nghe sắc ngọt vang lên rõ mồn một.
Thụy bước lui về phía sau, ra thủ hiệu cho tất cả sẵn sàng chiến đấu.
Nơi đây thật sự không phải là một chiến trường lý tưởng, vì những bụi lồ ô chẳng thể là vị trí ẩn nấp an toàn. Nhưng được cái, mình phát giác địch trước, và quyền quyết định nổ súng là ở phía mình.Tiên hạ thủ vi cường mà.
Hơn bốn mươi người lính nấp dọc theo con đường mòn mà bọn địch quân vừa đi qua sáng nay.
-Một, hai, ba đây Tango .Tất cả phải tuyệt đối im lặng, mục tiêu chúng ta là phía trước, bất khả kháng, mới đuợc nổ súng…
Tạch… tạch… tạch…
Anh chưa dứt câu nói thì tiếng súng M16 đã nổ ran trước mặt.
-Tango đây một gọi, tụi nó đi ngay vô gia đình tui..
-Chơi luôn…
Tiếng súng AK chống trả một cách rời rạc, vì hình như bọn chúng nghĩ nơi này là an toàn khu, nên có vẻ lơ là.
Thế là toán cán binh đi chặt cây về làm hầm, đều được đưa về chầu diêm vương.
Những tràng M16 vừa dứt thì hàng loạt tiếng depart của súng cối 61 ly, 82 ly, pha trộn với tiếng súng nhỏ, súng lớn, súng cộng đồng đủ loại, râm ran vang lên ngay sau lưng, tạo thành một bản hợp tấu kinh dị của thần chết.
Ầm… ầm… ầm…
Tạch… tạch… tạch…đùng …đùng… ầm
Cả một màn lưới lửa chụp xuống cánh rừng lồ ô.Thân cây đổ gẫy răng rắc, tiếng người la hét, rên rỉ vì trúng đạn, tiếng hô xung phong dậy đất.
-…Hàng sống chống chết, hàng sống chống chêt…”
-Một, hai, ba Tango gọi?
-Dạ một nghe Tango.
-Dạ hai…nghe rõ.
-Ba nghe thẩm quyền…
-Tất cả bám lấy vị trí, tụi nó chỉ hù thôi chứ không dám xung phong đâu. Pháo binh sẽ bắn yểm trợ liền.
Anh quay qua cầm máy liên lạc với Tiểu Đoàn, sau khi đã quan sát trái khói bắn điều chỉnh:
-Đại bàng đây Tango, phải một trăm mét, gần lại 50 chục mét, bắn, trả lời.
-Gần lại 50 chục mét thì sát mày quá đó Tango, rất nguy hiểm.
-Không sao đâu đại bàng, tụi tui zulu… bắn hết.
Qua hỏa lực của địch vừa phản công, anh đã xác định được, đó đúng là vị trí của bộ chỉ huy trung đoàn cộng quân. Chỉ cách anh chừng hai trăm thước.
Ầm… ầm… ầm…
Tiếng đạn 155 ly nổ vang dội, át hẳn những tiếng nổ đã rời rạc của các loại súng cá nhân, từ trong phòng tuyến địch.
-Đẹp lắm, bắn hết...
-Tango, ông núp xuống cũng điều chỉnh pháo được mà, đứng vậy nguy hiểm lắm…
Thụy chưa kịp làm theo lời khuyên của Thượng sĩ Tốt, toán phó, bỗng anh giật nảy mình lên một cái, và nghe buốt lịm cánh tay bên phải.Cơn đau truyền nhanh lên óc, cho biết là anh vừa lãnh một viên đạn của đối phương.
Một giòng máu tuôn nhanh, ướt đẫm tay áo trận.
-Chết mẹ, Tango áo vàng rồi ! ( Bị Thương )
Thụy đặt ngón trỏ của bàn tay trái lên môi, ra dấu cho Tốt im lặng, trong khi đó, Y tá Khiết đang loay hoay cắt tay áo của anh để băng bó vết thương. Anh thì thào với Thượng Sĩ Tốt:
-Đừng cho anh em biết gì cả…
Anh bốc máy nội bộ bằng tay trái:
-Một hai ba đây Tango, tất cả nghe lệnh, chúng ta từ từ zulu về đường cũ, để cho gà cồ và chuồn chuồn làm việc. Bắt đầu từ thằng ba, lên đường, nói các thẩm quyền giữ đội hình nghiêm chỉnh, bằng mọi cách đưa tất cả áo vàng, áo đỏ theo, nếu có…
Anh quay qua liên lạc với Tiểu Đoàn ;
-Đại bàng đây Tango, xin lỗi đại bàng, chắc không thể hoàn thành nhiệm vụ, vì tôi đã mặc áo vàng.
-Vậy thì rút đi. Có nặng không ?
-Dạ, không sao, xin đại bàng tiếp tục cho gà cồ gáy, sau khi chúng tôi zulu, sẽ kéo gần lại để tránh bị tụi nó truy kích…
-OK tao hiểu, sẽ đưa chuồn chuồn lên ngay.
Tiếng ù ù của những chiếc trực thăng võ trang đã rõ dần nơi phương trời xa, trong khi cả toán vừa bắn, vừa thối lui, về đường cũ.
Ầm… ầm …ầm…
Những loạt đạn rocket từ các trực thăng võ trang bắn xuống một cách hiệu quả, và chính xác, đã giúp cả toán rút lui an toàn.
Lễ và Linh hai chú lính sữa, đệ tử trung thành lúc nào cũng kè sát một bên Thụy, dìu bước anh đi qua những hố sâu, những con suối cạn…
Khi tiếng súng cá nhân của địch chỉ còn nghe rất mơ hồ từ đàng xa vọng lại.Và rồi mất hút hẳn.Thụy cho anh em tạm dừng chân để kiễm điểm quân số, và cũng để anh có cơ hội nghỉ ngơi một chút.
Chỉ có bốn người bị thương đều được đem theo và Thụy là năm.
Toán một của Trung sĩ nhất Hạnh còn tịch thu được hai khẩu AK 47 và một CKC.
Tiếng bắn phá của những chiếc trực thăng vẫn vần vũ trên không, khiến cả toán cảm thấy yên lòng hơn.
Tốt lên tiếng :
-Mình đi khoảng ba cây số nữa thì có một trảng tranh lớn, có thể làm bãi đáp được đó Tango.
Thụy nhìn vào bản đồ, ước lượng khoảng cách đến vị trí đóng quân của Tiểu Đoàn, nơi này có thể là trung điểm.
Tương đối an toàn rồi.
Máu vẫn thắm ướt ra ngoài lớp băng mà Khiết mới thay cho anh.Thụy liếm môi:
-Cho tôi xin ngụm nước.
-Tango đừng xuống nước nhiều quá, chảy máu nữa đó.
Anh gật đầu, cầm ống liên hợp, nói chuyện với Tiểu Đoàn.
-Khoảng chừng hơn một giờ nữa chúng tôi sẽ đến điểm H, để bốc mấy thằng em áo vàng.
-Tao đã đưa một râu (một đại đội) của thằng Chấn ra đó đón Tango. Mày liên lạc hàng ngang với nó đi.
-Cám ơn Đại bàng.
Hơn một tiếng đồng hồ sau, Thụy bắt tay được với đại đội bốn của Đại Úy Chấn, ngay tại bãi đáp.
Anh em gặp nhau, mừng mừng tủi tủi, vì khó có thể ngờ Thụy còn được an toàn trở về với ba chiến lợi phẩm.
Ngồi dựa lưng vào thành máy bay tải thương đang bốc lên cao, Thụy nghe lòng dâng lên một nỗi xúc động nghẹn ngào .
Những người bạn, những chiến hữu, những đồng đội của anh dưới kia nhỏ dần, nhỏ dần, và mờ nhạt trong sương chiều lãng đãng. Nhưng khí phách của họ, tinh thần huynh đệ chi binh của họ, sẽ không bao giờ có thể mờ phai trong anh .
Ánh nắng chiều Xuân chỉ còn thoi thóp, trên những ngọn cây đang vùn vụt lướt qua dưới thân máy bay.
Họ, những người chiến sĩ ấy vẫn âm thầm, lặng lẽ đón xuân nơi rừng sâu, núi thẳm, vẫn xả thân để tạo nên những chiến tích lẫy lừng, những chiến tích thấm máu đẫm của họ, vẫn cợt đùa với thần chết, để giữ yên bình cho mọi người. Và vẫn yêu đời với những lời lẽ tỏ tình hết sức ngây ngô như A Kía đã nói :
-…Nị hủ leng…Ngộ… ái… nị…lớ…
Wichita, KS -15 Năm ly xứ
Tặng các chiến hữu TĐ 11 BĐQ
Dương Thượng Trúc
Ngày đầu Xuân chúc non nước thanh bình,
Ngày mùng hai chúc cho lứa đôi mình,
Và mùng ba anh chúc đôi má em xinh,
Tết không về chắc em trách anh nhiều lắm… Chiều buông chầm chậm, cả cánh rừng già chìm trong lặng lẽ, dù rằng phía dưới những tàn lá xum xê ấy là gần bốn trăm con người, tóc tai thậm thượt, áo quần nhếch nhác, cùng có chung một nhịp thở, một nỗi băn khoăn.
Đang độ vào xuân, những trảng cỏ non xanh mượt , nõn nường như cô gái mười tám, lấm tấm điểm những cánh hoa sim tím lãng mạn, tạo nên một bức tranh thật hữu tình, thế mà cũng chẳng làm cho những con người ấy có một chút xúc động nào trước vẻ đẹp của thiên nhiên.
Chẳng phải họ không có nhãn quan thẩm mỹ để thụ hưởng những gì thượng đế đã trao tặng cho loài người.
Mà vì nhiệm vụ còn đè nặng trên hai vai họ, khi địch quân đang chuẩn bị những mưu đồ thâm hiểm để nhuộm đỏ mảnh đất miền Nam này.
Nên thay vì thưởng ngoạn nét đẹp của cỏ cây, thì họ phải luôn căng mắt ra để canh chừng cái chết đang rình rập đến với bản thân họ và đồng đội họ.Nó có thể xảy đến bất cứ lúc nào, ngay cả hôm nay là ngày ngưng bắn.Những bài học xương máu về sự tráo trở của địch quân chẳng bao giờ họ quên…
Trên bầu trời cao vút, xao xác tiếng chim gọi bầy, là những âm thanh duy nhất có thể nghe được một cách gần gũi.
Xa hơn một chút, thỉnh thoảng những tiếng đạn pháo binh nổ lẻ tẻ, nhưng khi va vào vách núi dội lại, trở thành những chuỗi âm thanh bất tận.
Không hiểu vì lý do gì, tết năm nay lệnh hưu chiến được bọn chúng tuân hành nghiêm nhặt hơn mọi năm, có lẽ tụi nó đã kiệt lực sau lần cắn trộm vào dịp tết Mậu Thân và rồi ôm đầu máu, chạy về miền Bắc.
Dù thế anh em binh sĩ cũng không thể lơ là, mất cảnh giác được.
Đơn vị đang nằm rừng, và cũng tiếp tục phải nằm rừng, đón Xuân.
Thụy đong đưa trên cái võng dù, treo tòn teng dưới tấm poncho, nghe Đầu Xuân Lính Chúc qua cái radio nhỏ xíu máng trên đầu võng.
Vào dịp này, những ca khúc với chủ đề lính và mùa Xuân được phát thanh suốt ngày trên hệ thống Đài Quân Đội và cả đài Sàigòn.
Chẳng biết tự lúc nào, Thụy bằng lòng cho hai lỗ tai khó chịu của anh tiếp nhận những giai điệu này. Và rồi sau đó, anh thấy nó cũng có cái hay riêng của nó…
Vài năm trước thôi, khi những âm thanh tương tự vừa cất lên là anh đã tắt ngóm đi ngay. Kèm theo một câu phê bình :
-Ba cái nhạc sến này mà tụi bay mở lên hoài, nghe điếc lỗ tai.
-Nhạc này hay mà ông thày.
-Hay cái con khỉ mốc gì, quanh đi quẩn lại cũng chỉ có Boléro, Rumba, Slow, với những tiếng rên rỉ nghe cải lương thấy mẹ luôn…
Nhưng đó lại là sở thích của nhóm thuộc cấp trong ban chỉ huy đại đội, gồm ba chú lính truyền tin và hai anh chàng tà lọt của Thụy.
Ngoại trừ y tá Khiết khá lớn tuổi, nên gác ngoài tai chuyện thị phi thiên hạ.
Thụy trở thành thiểu số, nếu đem trưng cầu dân ý
Anh chẳng ngăn cấm và bọn họ cũng không dám chống đối anh ra mặt, nhưng hễ có cơ hội là họ lại dò tìm những chương trình nhạc như thế và xúm xít lại cùng nghe…
-Trời ơi ! Ông thày nghe nè ! Duy Khánh mà ca Xưng Này Con Hổng Dìa là nhức nhối luôn đó…
Thằng An, mang máy Đại Đội, nói giọng miền Nam đặc sệt, tán tụng …
Anh nhái giọng nó, rồi châm chọc :
-Ừa mày vô thêm mấy câu vọng cổ mùi tận mạng nữa đi, cho đủ bộ …
-Em chưa tìm ra bài Tân Cổ Giao Duyên, chứ nếu có , em sẽ vô liền cho ông thày nghe, hổng đẹp hổng ăn tiền…
-Mày ráng kiếm rồi tập đi, mai mốt giải ngũ, dìa bến Bến Bắc Cần Thơ ngồi, với cái nón lá rách và cây đàn guita cũng đủ sống qua ngày, khỏi dìa quê cầy ruộng.
Lời nói của anh nào ngờ lại biến thành sự thật. An đã giải ngũ vĩnh viễn, khi bộ Chỉ Huy Đại Đội bị trái pháo 130 ly rơi trúng. Một mảnh đạn cắt ngang cổ họng An, để mãi mãi chẳng bao giờ nó còn có dịp vô mấy câu Vọng Cổ trên bến Bắc Cần Thơ nữa.
Sau ngày An hy sinh, mấy thày trò không còn tranh cãi với nhau về những bản nhạc ấy nữa.
Cái tướng lùn lùn, mình đúc, cái vai to bè của thằng An luôn lởn vởn trước mặt Thụy, dù sự kiện đã xảy ra mấy tháng nay.
-…Nếu bây giờ mày còn sống, ở đây, mày muốn nghe bản nhạc nào cũng được, anh sẽ không cấm cản mày đâu An ơi !...
Thay vào chỗ An là Hạ sĩ Kía, một chú chệt Chợ Lớn, nói tiếng Việt sành sõi, pha chút “ Quảng Túng dành.” Khi bị quýnh quáng, Kía nói cà lăm.Và trở thành trò cười cho mấy thằng lính “ …bán trời không mời thiên lôi…” trong Bộ chỉ huy.
-Thầm Quyền…Thẩm Quyền có lịnh đi họp trên Tiểu Đoàn kìa !
-Chuyện gì đó A Kía?
-Dạ em hổng piết nữa…
A Kía, nằm trên cái võng kế bên, lên tiếng.
Thụy ngồi bật dậy, nhìn xuống đồng hồ đeo tay, lẩm bẩm :
-Hơn ba giờ chiều rồi, sao có cuộc họp đặc biệt vậy kìa.
Rồi anh lớn giọng hơn một chút :
-Thiếu Úy Quang đâu rồi ?
-Dạ, tôi đây Trung Úy !
-Ông tới đây, tôi bàn chút chuyện…
Võng của Quang nằm cách xa anh một đỗi, đễ tránh tình trạng khi bị pháo kích, cả bộ chỉ huy tan hoang.
Anh tất tả bước đến bên lều của Thụy, hỏi nhỏ :
-Bộ có gì thay đổi hả Trung Úy ?
-Tôi có lệnh lên họp trên Tiểu Đoàn, ông ở nhà lo kiểm soát con cái gác sách cẩn thận nhe ! Đừng ỷ y ngưng chiến, rồi lơ là, coi chừng chết cả lũ. Hôm nay mùng ba tết rồi. Mười hai giờ khuya là hết hiệu lực, biết đâu tụi nó chẳng giở trò…
-Dạ ông cứ đi họp đi, tôi sẽ đôn đốc canh gác.
Thụy đứng dậy, cầm tấm bản đồ đã được chú ta lọt Lễ để sẵn nơi đầu võng, đi về hướng bộ chỉ huy Tiểu Đoàn.
Tại căn lều chỉ huy, đã có mặt đầy đủ, gồm: ba vị đại đội trưởng tác chiến, đại đội trưởng chỉ huy cùng với Tiểu Đoàn Phó và Trưởng ban ba.
Tất cả ngồi quây quần chung quanh Thiếu Tá Minh, ôngTiểu Đoàn Trưởng già, mà Thụy hằng quý mến.
Trên cái thùng đạn pháo binh dùng làm bàn, là một xấp bản đồ dầy cộm, vẽ chi chít những dấu xanh dấu đỏ, lăng quăng…
-Ngồi đi Thụy.
-Dạ cám ơn đại bàng.
-Đủ cả rồi phải không ! Anh em nghe cho rõ ! Một chút nữa, Đại Tá Như, Liên Đoàn Trưởng sẽ đáp xuống đây, để giao cho chúng ta một nhiệm vụ đặc biệt.
Hy vọng rằng khi nhận chỉ thị ấy, Tiểu Đoàn chúng ta sẽ hoàn thành một cách tốt đẹp nhất.
Tiếng máy bay trực thăng văng vẳng từ xa, càng lúc càng rõ dần như xác nhận lời nói của ông.
-Anh em cứ ngồi lại đây, để tôi và ông Trưởng Ban Ba ra đón Đại Tá được rồi, đừng xúm xít ngoài bãi đáp nhiều quá không tốt.
Chiếc trực thăng hạ cánh an toàn và chỉ trong khoảnh khắc, đã bốc lên, mất hút về phía chân trời.
Vài phút sau phái đoàn trở lại lều chỉ huy.
Đại Tá Liên Như xộc vào với ông Thiếu tá Trưởng ban ba Liên Đoàn, hai Sĩ Quan phụ tá, cùng bốn người cận vệ.
Mỗi người xách theo một giỏ cói nặng trịch.
Tất cả cùng đứng bật dậy, nghiêm chào.
-Anh em ngồi xuống đi.
Tiểu đoàn Trưởng nhường vị trí ông ngồi lúc nãy cho cấp chỉ huy.
Đại Tá Như nhìn lướt qua tất cả các thuộc cấp đang có mặt, nói nhẹ nhàng:
-Hôm nay, tôi lên đây ăn tết với anh em Tiểu Đoàn 11, các Tiểu đoàn khác tôi đã ghé thăm rồi. Chắc anh em ngạc nhiên lắm nhỉ! Lẽ ra tôi phải đến đây trước khi thăm thằng 22 và thằng 23.
Nhưng vì có một nhiệm vụ quan trọng muốn giao cho các anh em, nên tôi để dành chuyến thăm chót này cho Tiểu Đoàn 11.
Dừng lại một chút, ông liếc mắt về phía mấy người cận vệ :
-Mấy chú bày mồi màng ra đi - Quay lại phía Tiểu Đoàn Trưởng, ông nói tiếp - Tôi có đem lên đây vài con vịt quay, mấy hũ Ngũ Gia Bì, chúng ta làm ít chung mừng Xuân rồi sẽ bàn đến công chuyện.
-Dạ cám ơn Đại Tá ! Chúc Đại Tá năm nay mọc sao…
-Chuyện đó còn tùy thuộc vào chiến công của anh em đây ! À ! Mà hình như ở đây chỉ có các Đại Đội Trưởng thôi sao ?
-Dạ Phải, thưa Đại Tá ! Thiếu Tá Minh trả lời.
-Tôi muốn có mặt cả các anh em Đại Đội phó nữa.
Mười phút sau, thêm bốn vị nữa bước vào phòng họp. Đại đội phó chỉ huy vừa về hậu cứ công tác, nên vắng mặt.
Đích thân Đại tá Liên Đoàn Trưởng khui hũ rượu đầu tiên.
Mọi người cùng xúm vào chén tạc, chén thù trong tinh thần huynh đệ chi binh thật vui vẻ.
Được khoảng ba bốn tuần rượu, nghe chừng máu trong người đã ấm lên, Đại Tá Như hắng giọng, tạo sự chú ý cho mọi người, rồi lên tiếng :
-Theo tin tức tình báo mới nhận được, thì sư đoàn 3 Sao Vàng của địch quân đã xâm nhập vùng hoạt động của chúng ta rồi.Và đơn vị ở gần nhất là Trung Đoàn 2 của sư đoàn này.Chúng đặt chỉ huy sở chỉ cách đây khoảng hơn hai mươi cây số.
Ngừng lại giây lát để mọi người thẩm định được tầm mức quan trọng của sự việc, ông nói tiếp :
-Tôi cần một Sĩ Quan tình nguyện, gan dạ và có kinh nghiệm ...
-Để làm gì Thưa Đại Tá ?
Ông Tiểu đoàn trưởng nêu thắc mắc, khi thấy cấp chỉ huy ngừng lại khá lâu, và có lẽ cũng là thắc mắc chung của mọi người đang có mặt.
-Dẫn khoảng hai trung đội, đột kích vào Bộ Chỉ Huy trung đoàn này, trước khi nó kiện toàn cơ sở phòng thủ.
-Hai trung đội, mà đột kích vào bộ chỉ huy trung đoàn, e có quá mạo hiểm không, thưa Đại Tá ?
Đại úy Chính, Trưởng ban ba Tiểu Đoàn nêu ý kiến.
-Đúng thế, mới nghe qua thì thấy là quá mạo hiểm, nhưng khi đi vào thực tế, với những tin tức tình báo thu lượm được, thì lại không phải vậy.
-Xin Đại Tá giải thích rõ hơn ạ ! Tiểu đoàn trưởng hỏi thêm.
-Tuy là Bộ chỉ huy trung đoàn, nhưng lực lượng bảo vệ của chúng chỉ ở cấp số một đại đội trừ.
-…Ồ ! Sao lạ vậy nhỉ !
Thiếu Tá Công, Trưởng Ban Ba Liên Đoàn góp tiếng:
-Chẳng có gì lạ đâu, chúng không kịp bổ sung quân số, nên bây giờ chính những tên cán binh kỹ thuật cũng phải ở trong các đơn vị chủ lực bảo vệ bộ chỉ huy trung đoàn. So sánh tương quan lực lượng, thì nhiệm vụ này hoàn thành không khó khăn lắm. Chỉ cần làm sao từ điểm xuất phát, cho đến khi chạm mục tiêu, đừng để các chốt dọc đưòng của chúng phát giác.Và khi trở về phải chuẩn bị một lộ trình thật an toàn, là tốt rồi…
-Thưa Đại Tá, biết rõ vị trí đóng quân của chúng, sao ta không dùng phi pháo, có hiệu quả hơn không ạ !
-Đó là vài năm trước kìa, chứ bây giờ điều đó bất khả thi.Vị trí này ngoài tầm tác xạ của 105, còn không quân, thì bây giờ rất khó khăn. Chỉ khi nào đụng trận mới có thể xin được vài phi tuần.
Mọi người lặng lẽ suy nghĩ, không khí trầm mặc một cách ngột ngạt.
Thêm vài ba tuần rượu nữa trôi qua trong im lìm, một hồi lâu, Đại Tá Như nói chậm rãi :
-Bây giờ, tôi cần một Sĩ Quan tình nguyện làm nhiệm vụ này, và sẽ được thực hiện ngay sáng sớm mai …Anh em hãy nhớ, đây là một nhiệm vụ đặc biệt, rất nguy hiểm, hãy suy nghĩ chính chắn trước khi tình nguyện.
Không gian như chùng hẳn xuống, rơi vào sự im lặng đến ngột ngạt.
Thời gian lặng lẽ trôi qua, những tuần rượu vẫn được chuyền tay nhau, những điếu thuốc vẫn lóe sáng, và những cái đầu vẫn đang gục gặc suy nghĩ.
Ly rượu đến phiên anh, Thụy xoay xoay trong tay một lát như làm một quyết định quan trọng. Anh đưa lên miệng, ực nhanh một cái, chất nước màu nâu sậm, hăng hăng mùi thuốc bắc, chạy dài từ cổ xuống bao từ, đi đến đâu, anh nghe nóng ran đến đó.Và giòng máu nóng trong anh cũng sôi lên sùng sục :
-Tôi…Trung Úy Thụy, xin tình nguyện thưa, Đại Tá !
Tiếng nói của Thụy vang lên phá tan bầu không khí lặng lẽ đang vây phủ căn lều. Mọi người cùng thở phào như vừa trút được một gánh nặng. Dù những tiếng thở rất nhẹ.
Thiếu Tá Minh phản đối, giọng gay gắt :
-Mày không thể đi được…
-Sao vậy Thiếu Tá Minh? Liên Đoàn Trưởng ngạc nhiên hỏi.
-Thưa Đại Tá, nó bây giờ rất cần cho Tiểu Đoàn, hơn nữa vợ nó lại mới sanh…
-Lý do đầu tiên thì không chấp nhận được, nhưng nếu vợ chú mới sanh thì nên suy nghĩ lại đi Thụy…
-Dạ xin cám ơn Đại Tá và Thiếu Tá… nhưng tôi đã quyết định rồi…
-Nếu chú mày đã muốn thế, thì OK thôi ! Thiếu Tá Minh hãy để Trung Úy Thụy được toàn quyền chọn lựa anh em binh sĩ và cán bộ trong các đại đội để thực hiện nhiệm vụ này nhé !
-Dạ xin tuân lệnh Đại Tá !
-Tất cả kế hoạch hành quân, đều do Trung Úy Thụy quyết định, nhưng cần thông báo cho ban ba Liên Đoàn, vì sẽ có một toán viễn thám hướng dẫn lộ trình…Mọi yểm trợ dành ưu tiên cho anh đó…
-Dạ, xin cám ơn Đại Tá…
Cuộc tiệc tiếp tục cho đến lúc hũ Ngũ Gia Bì cuối cùng được dốc ngược lên, thì rừng chiều cũng ngả sang màu tím sậm.
Chiếc C&C đáp xuống vội vã, mang vị chỉ huy trở về phố phường, để lại bên dưới những lời bàn tán sôi nổi về nhiệm vụ của Thụy sáng mai.
Anh đến gặp Đại Úy Chính, Trưởng Ban Ba Tiểu Đoàn để nhận phóng đồ hành quân, rồi khật khưỡng bước về phía lều của mình. Quang lặng lẽ theo sau.
-Ông Quang làm ơn thông báo giùm, tôi sẽ chọn ba Tiểu Đội xung kích của ba Đại Đội, và trung đội bốn của Đại Đội mình, vậy là đủ rồi…
-Dạ tôi đi làm ngay đây, Trung Úy.
-Thượng sĩ Thường Vụ đâu ?
-Có tôi đây Trung Úy !
-Anh coi anh em gác sách thế nào ?
-Dạ đã hoàn tất mọi chuyện, thưa Trung Uý.
-OK vậy là tốt rồi.
Bóng đêm đang phủ trùm lên vạn vật, một màu đen hoang lạnh.
Thụy chui vào trong lều, dùng cái đèn pin cá nhân soi vào tấm phóng đồ hành quân mà Đại úy Chính mới trao.
Chi chít những dấu đỏ trên con đường anh sẽ đi qua. Chứng tỏ địch quân kiểm soát gần hết lộ trình.
“…Quả thật đây không phải là một nhiệm vụ dễ nuốt…”
Lễ bước đến bên, nói nhỏ :
-Trung Úy dùng cơm bây giờ chưa ?
-Chờ ông Quang về rồi ăn luôn.
Ngay lúc đó, Thiếu Úy Quang bước trờ đến, lên tiếng :
-Tôi về rồi đây Trung Úy, mời ông ra ăn cơm đi thôi!
Anh tắt cái đèn pin, bước ra :
-Chuyện tôi nhờ anh, ra sao rồi ?
-Dạ tất cả OK hết Tango.
Cả ban chỉ huy đại đội ngồi xúm xít thành một vòng tròn, dưới bóng đêm mờ ảo. Trên nền đất, được trải một tờ báo cũ, ở giữa là nồi thịt ba lát kho với măng rừng, và những bịch gạo sấy đã nguội lạnh, vì không ngờ hôm nay Thụy họp lâu như thế.
Họ ăn uống trong im lặng, dưới ánh sáng lập lòe của những con đom đóm đi hoang.
Hình như tất cả mọi người đều biết chuyện gì sẽ xảy ra vào sáng mai.
Thụy buông chén đũa xuống trước nhất.
-Sao Trung Úy ăn ít vậy ?
-Uống ba cái rượu Tàu, nó no ngang, không thấy đói…
Đợi cho mấy người lính tản về vị trí của họ. Quang bước vào bên trong mấy tấm poncho quây thành cái lều, bao phủ võng của Thụy, và của ba người truyền tin.
Anh ngồi xuống bên võng Thụy, khẽ nói:
-Trung Úy…sáng mai… để tôi đi thế cho…
-Anh nói giỡn chơi hoài…Tôi nhận lời thực hiện nhiệm vụ này, trước bao nhiêu người, khi không lại giao cho anh đi, coi sao được…
-Đi kỳ này nguy hiểm lắm đó Trung Úy…
-Tôi biết mà ! Có sao đâu, tôi đã ở đây bốn năm năm trời rồi, nguy hiểm nào mà chưa gặp qua…
-Nhưng chị nhà mới sanh được có mấy bữa…
-Chẳng ảnh hưởng gì đến chuyện ở đây cả…
-Tôi thật không yên tâm chút nào cả…Hay cho tôi đi chung với ông …
-Anh đi với tôi, ai coi đại đội ? Sống chết có số mệnh cả, anh đừng lo…nhưng anh nói thế, tôi cũng cám ơn anh. Chỉ cần anh chăm lo đại đội đàng hoàng, lúc vắng tôi, hoặc lỡ khi tôi có bề gì…là được rồi…
-Trung úy đừng nói vậy…
-Anh …-Thụy định nói, sao bây giờ anh mới đòi đi thay, trong khi họp lúc chiều thì lại im lặng, nhưng kịp dừng lại- …Thôi anh đi kiểm soát việc canh gác đi.Tôi cần nghỉ ngơi, để sáng mai lên đường sớm.
Quang vén lều bước ra, Thụy che tay mồi điếu thuốc, rít một hơi thật dài, để luồng khói chạy sâu xuống đến tận cùng những hang hóc của buồng phổi.
Hình như từ lúc rời lều Tiểu Đoàn Trưởng đến giờ, anh chưa có một hơi thuốc nào cả. Mặc dù anh không thấy căng thẳng lắm, nhưng vẫn nôn nao trong lòng một cách khó tả.
“…Bao nhiêu lần vào sinh ra tử rồi, lần này thì cũng thế thôi, chứ có quái gì mà bận tâm…”
Tiếng A Kía rù rì hỏi:
-Mai mình hành quân hả, ông thày ?
-Ừ ! Nhưng chỉ có Trung Đội bốn thôi, A Kía có đi với tao không, hay muốn đổi truyền tin khác?
-Ý đâu có được ! Em đi với Trung Úy chớ, làm sao mà đổi kỳ cục dị…
-Tại vì đây không phải là nhiệm vụ của đại đội…A Kía có quyền xin đổi, nếu không muốn đi theo tao…
-Ông thày đi đâu, em đi đó…Đồng sanh đồng tử mà…Ví lại, ông thày có vợ con mà còn dám đi, em độc thân, hổng lẽ nhát hơn ông thày sao ?
Thụy dụi cái tàn thuốc xuống cỏ, cười khe khẽ trong cuống họng, vì lời nói nhiệt tình mang đầy tính cải lương của người thuộc cấp.
-Nhưng …sao mày chưa lấy vợ, A Kía?
-Lính nghèo thí mẹ, tiền đâu mà lấy vợ, ông thày.
-Mày nói vậy, bộ lính ở giá hết hay sao…
-Hổng phải vậy, nhưng…
-Nhưng cái con khỉ, tao nghe nói tháng lương nào mày cũng đem cúng vô sòng xập xám hết phải không ?
-Tại vậy mà con Hai, bồ em nó hăm he cho em đi số de đó…
-Rồi bây giờ mày còn chơi nữa không ?
-Dạ em hứa với nó là em bỏ…mà …mới bỏ đuợc có năm mươi phần trăm hà…
-Không có người phụ nữ nào thích chồng cờ bạc rượu chè đâu, nếu lỡ vương mang, thì cũng phải ráng kềm chế…Mày bỏ năm mươi phần trăm là sao ?
-Mỗi thứ em bỏ một nửa…Cờ bạc thì em bỏ cờ, chỉ đánh bạc , rượu trà, em bỏ trà, mậu nhẩm xà mà nhẩm chẩu lớ…
-…Còn hút sách, thì mày bỏ đọc sách, chỉ hút thôi, trai gái, thì mày bỏ bạn trai, chỉ chơi với bạn gái, đúng không ? Mày mà bỏ cái kiểu đó …chắc con bồ mày nó cũng bỏ mày luôn…
-Coi vậy mà con Hai nó vẫn còn thương em lắm đó ông thầy…
-Vậy là mày có phước rồi…Chứ gặp người khác, chắc đã bỏ mày tám mươi đời vương. Ủa, mà sao nó thương mày dữ vậy ?
-Tại vì nó là học trò của em mà…
-Cái gì ?
-Thì ..thì… em dậy cho nó học ….
-Mày dậy cái giống gì cho con Hai vậy?
-Em dậy nó học tiếng Tàu …
Thụy lại bật cười khùng khục trong cuống họng, có tiếng thằng Tùng, truyền tin nội bộ, thì thào xen vào :
-Trời ơi A Kía mà làm sư phò… nữa hả ?
Thụy đã dằn được cơn cười, hỏi khẽ:
-Đâu, mày kể đầu đuôi câu chuyện tao nghe xem
-Thiệt mà ông thày! Nhà em có cái quán cóc, bán cà phê, bánh bao, xíu mại trong khu xóm người Tàu không hà ! Má em mướn con Hai phụ chạy bàn. Nó không nghe được tiếng Tàu, nên bị khách la hoài. Bởi vậy, nó biểu em dậy cho nó nói.
-Rồi mày dậy nó những gì ?
-Mới đầu em dậy nó đếm số : Dách dì xám xây ựng lục sách bạc cẩu xập….
-Bồi đầm già…
Tiếng thằng Tùng lại chen vào, làm cả mấy thày trò đều phải đưa tay bụm miệng, để tiếng cười không phát ra.
-Rồi sau đó mày dậy tới cái gì ?
-Em dậy nó nói vài ba câu thông thường như “Kỷ tố” là bao nhiêu , “ nị cỏn mát dệ” là anh nói gì ?Nị cỏn xám cỏn xây, là anh nói dóc, “Tố chè” là cám ơn…
Lại tiếng thằng Tùng ngắt ngang:
-A Kía, A Kía có dậy cô Hai nói Ngộ ái nị không ?
- Ê ! Có chế, có chế ngu sao hổng dậy…
Suýt tí nữa thì cả mấy thày trò rơi xuống võng, vì một tràng cười, bị nén lại trong lồng ngực.
-Ông Thày biết hông. Một buổi trưa, hổng có khách, ba má em đi ngủ hết, con Hai mới nói :
-A Kía dạy thêm cho tui một chút nữa đi.
-Cô Hai muốn học cái gì cứ nói tiếng Việt đi, tui nói lại bằng Tiếng Tàu há.
-Ừa ! tui bắt đầu nhe : Anh Hai, anh muốn uống cái gì ?
-Tài Cố, nị nhẩm mát dệ ?
-Tui uống cà phê.
-Ngộ nhẩm café
-Cho tui một cái dầu cháo quẩy
-Bỉ ngộ dách cô dầu cháo quẩy.
-Bao nhiêu tiền một cái bánh bao ?
-Kỷ tố dách cô tài páo?
-Ba đồng một cái…
-Xám mắn dách cô…
-Cho tui một ly cà phê đen.
-Bỉ ngộ dách cô xây chừng…
Ngày nào cũng vậy, đợi cho ba má đi ngủ trưa, là em mon men xuống bếp, dạy con Hai học tiếng Tàu.
Con Hai dáng người thon thả, đẹp hết xẩy luôn đó, tóc để dài, chải dầu dừa bóng lưỡng, làm em mê mệt cả tâm hồn, nằm chiêm bao thấy nó hoài.
Em biết con Hai cũng khoái em nữa đó ông thày.
Một bữa nọ, thấy nhà vắng vẻ, mà con Hai đang ngồi chải tóc một mình, em hỏi nhỏ:
-Hai à ! Hai có piết … Nị hủ leng là gì hông ?
-Hổng biết…
-Là …là cô đẹp lắm đó.
Con Hai đỏ mặt sung sướng, làm em muốn ngất ngư con tàu đi.Rồi em hỏi tiếp :
-Rồi …Hai có piết Ngộ…ái ..nị là gì …hôn dị ?
-Hổng biết luôn…chưa có học mà…
-Thì bi giờ học nè…
-Ngộ…ái nị…là …gì …dzậy ?
-Là…là…anh yêu em …đó…
Con Hai cúi mặt mắc cỡ, rồi nói một câu làm em chới với:
-Nị cỏn xám cỏn xây, ngộ tả nị xảy á…
-Kía hổng có cỏn xám cỏn xây, hổng nói xạo đâu…
-Ai mà tin được, Kía là con ông chủ, còn Hai chỉ là người làm công…
-Ngộ thề có Quan Công làm chứng, ngộ ái nị thiệt đó, ngộ ái nị mà nị không ái ngộ, thì ngộ …ái ngại …lắm đó !
Lại tiếng thằng Tùng xen vào :
-Ngộ ái nị mà …nị hổng ái ngộ…thì ngộ ái ngại, dồi ngộ ôm đại lớ…
Cả mấy thày trò lại ôm bụng, nén tiếng cười.
-Tùng để cho A Kía kể tiếp đi.
-Rồi cái em dòm trước dòm sau, thấy không có ai, em liền nắm tay con Hai. Chu cha ơi, cái bàn tay mới mềm mại, mới mát mẻ làm sao đâu á!
-Hai à ! Nị hủ leng lớ, ngộ …ngộ ái nị lớ…
-Ngộ …ngộ…cũng ái nị …nữa…
-Vậy là từ đó, hai đứa yêu nhau, bưổi trưa nào em cũng xuống nhà bếp…dạy tiếng Tàu cho con Hai.
Tiếng thằng Tùng lại chen vào :
-Dậy tiếng Tàu thôi, hay có làm gì con người ta không vậy A Kía ?
-Tầm pậy nè, ngộ đâu có làm gì. Rồi em đăng lính Biệt Động Quân. Con Hai vẫn ở nhà phụ với ba má em bán quán cà phê, nó nói sẽ chờ em dìa.
-A Kía có thể hoãn dịch, vì là người Tàu, sao đăng Biệt động quân chi vậy ? Tùng lại cắt ngang lời Kía.
-Tui là người Tàu, nhưng ở trên nước Việt Nam, thì phải bảo vệ Việt Nam chế. Để tụi chó chết Việt Cộng ló vô đây, A Kía cũng đâu có được sống yên ổn.Thôi để tui nói tiếp há …
…Ông thày biết hông, Bi giờ con Hai nói tiếng Tàu dành lắm rồi đó. Có bữa được về phép, nó dám chọc em nữa chế, nó nói:
-A Kía biết…Xám cô dành xực dách cô xường toại…là gì hôn dị?
-Em ngơ ngẩn, bởi vì nghe cái âm thì có pha tiếng Tàu, mà cái nghĩa thì bù trất. Con Hai cuời lớn, nói :
…Là xám cô dành… xực dách cô xoài tượng, tức là ba cô dành ăn một trái xoài tượng đó…
Thụy phải lấy cái khăn tay nhét vào miệng để tiếng cười không phát ra giữa đêm khuya thanh vắng.
-Thôi khuya rồi.Ngủ đi mai còn phải lội đó…
Mấy thày trò cùng im lặng, nhưng không phải giấc ngủ có thể đến một cách dễ dàng, khi mà những ý tưởng hài hước vẫn còn lảng vảng trong đầu họ, qua câu chuyện ngô nghê của chú Tàu A Kía.
***
Trời chưa sáng, đoàn quân đã xuất phát, lên đường.
Thụy phân chia tất cả thành bốn toán, mỗi toán được chỉ huy bởi một Hạ Sĩ Quan xuất sắc, mà anh đã lựa chọn.
Tất cả đều được trang bị hệ thống truyền tin liên lạc trực tiếp với anh.
Dẫn đầu là ba người lính Viễn Thám của Liên Đoàn, đến một Toán xung kích, rồi đến ban chỉ huy của Thụy. Còn lại, tất cả một hàng dọc lặng lẽ di chuyển trong lúc sương đêm còn se lạnh, ướt đẫm vai áo mọi người.
Nhờ trang bị nhẹ, nên họ lòn lách một cách dễ dàng để tránh né những trạm gác của bọn chúng trên đường đi đến mục tiêu.
Tất cả những đoạn đường họ đi qua, đều được xóa hết dấu vết, phòng khi trở về không bị phục kích.
Đi qua một con suối nhỏ, thấy hai tên còn căng võng ngủ tỉnh bơ, AK dựng một bên, khiến nhiều anh em nổi điên, muốn bước đến vặn cổ chúng cho rồi.
Đến một cánh rừng lồ ô khác, thấy vài cái lều của bọn chúng vẫn còn im ắng trong giấc ngủ nướng.
Nhưng cả toán đều lặng lẽ vượt qua, vì tiêu diệt bọn chúng không phải là nhiệm vụ chính. Mà mục tiêu là bộ chỉ huy trung đoàn kìa.
Trên bầu trời cao, trong vắt, không gợn một áng mây, những cánh én bay lượn lờ một cách vô tư lự.
Cạnh bìa rừng, những tiếng hót líu lo của các loài chim muông đủ loại như chào đón chúa xuân, khiến mọi người nghe tâm hồn trở nên thư thái.
Phải chi những kẻ ngông cuồng không đem tham vọng áp đặt lên dân tộc, thì một buổi sáng mùa Xuân trong lành như thế này sẽ đẹp đẽ biết bao.
Khoảng gần mười giờ sáng, Thụy ra lệnh cả toán dừng lại nghỉ chân bên một cánh rừng thưa, sau bốn năm tiếng đồng hồ băng rừng vượt suối, nhưng vẫn bố trí nghiêm nhặt. Theo dõi trên bản đồ, và phối kiểm với anh em Viễn Thám, Thụy biết là anh còn cách mục tiêu không xa nữa. Có thể chạm súng với các đơn vị tiền đồn của địch bất cứ lúc nào.
Sau khi quan sát, thấy ở đây có vẻ tạm an toàn, anh cho lệnh các toán dùng cơm trưa.
Thụy liên lạc với những đơn vị yểm trợ, và biết là tất cả vẫn đang theo dõi từng bước đi của các anh.
-Tango yên tâm đi, ở nhà lúc nào cũng theo dõi bước chân mày, đã có một trung đội 155 sẵn sàng yểm trợ tối đa.Và xin được được một phi tuần trực thăng võ trang nữa đó…
Tiếng Thiếu Tá Minh Tiểu Đoàn Trưởng, vang lên khe khẽ qua ống liên hợp, khiến anh thêm vững tâm.
Mười một giờ, đoàn quân lại lặng lẽ lên đường, sau khi đã chôn dấu những vỏ lon đồ hộp, bịch nylon gạo xấy và xóa hết những vết tích trên cỏ.
Toán quân vừa vượt qua một trảng cỏ tranh rộng lớn, để đến một cánh rừng lồ ô rậm rạp.
Đoàn quân vẫn như một con rắn dài ngoằng, trườn đi nhẹ nhàng giữa những thân cây lồ ô to bằng bắp chân thẳng tắp, vươn cao lên trời xanh.
Bỗng mọi người chựng lại, Thụy hỏi Tùng, mang máy nội bộ :
-Chuyện gì vậy Tùng ?
-Dạ, anh em viễn thám mời thẩm quyền lên phía trước.
Thụy bước nhanh tới, A Kía và Tùng cũng vội vã nối gót theo.
Người trưởng toán Viễn Thám vừa chỉ vào những dấu chân còn mới, vừa thì thầm với Thụy :
-Thẩm quyền coi kìa, cỏ còn đang ngóc đầu lên, vậy là chúng nó mới đi qua đây thôi.Mà có lẽ đông lắm.
Anh gật đầu đồng ý với nhận xét của người lính Viễn Thám, vì thân cỏ bị đạp rạp xuống, tạo thành một vệt dài, khá rộng, chứng tỏ có nhiều bước chân dẫm lên.
Anh nhìn xuống bản đồ, so lại phương hướng trên cái địa bàn, để xác nhận lại một cách chính xác vị trí của mình.
-Mình đang ở rất gần với mục tiêu rồi…
-…Lày các đồng chí, chặt những cây thật to vào ấy nhé…khẩn trương nên, không đạt chỉ tiêu chiều lay về nại bị kiểm điểm đấy…
Chợt tiếng nói lồng lộng từ trên gió đưa xuống, rồi thì âm thanh của những nhát mã tấu phạt vào cây lồ ô nghe sắc ngọt vang lên rõ mồn một.
Thụy bước lui về phía sau, ra thủ hiệu cho tất cả sẵn sàng chiến đấu.
Nơi đây thật sự không phải là một chiến trường lý tưởng, vì những bụi lồ ô chẳng thể là vị trí ẩn nấp an toàn. Nhưng được cái, mình phát giác địch trước, và quyền quyết định nổ súng là ở phía mình.Tiên hạ thủ vi cường mà.
Hơn bốn mươi người lính nấp dọc theo con đường mòn mà bọn địch quân vừa đi qua sáng nay.
-Một, hai, ba đây Tango .Tất cả phải tuyệt đối im lặng, mục tiêu chúng ta là phía trước, bất khả kháng, mới đuợc nổ súng…
Tạch… tạch… tạch…
Anh chưa dứt câu nói thì tiếng súng M16 đã nổ ran trước mặt.
-Tango đây một gọi, tụi nó đi ngay vô gia đình tui..
-Chơi luôn…
Tiếng súng AK chống trả một cách rời rạc, vì hình như bọn chúng nghĩ nơi này là an toàn khu, nên có vẻ lơ là.
Thế là toán cán binh đi chặt cây về làm hầm, đều được đưa về chầu diêm vương.
Những tràng M16 vừa dứt thì hàng loạt tiếng depart của súng cối 61 ly, 82 ly, pha trộn với tiếng súng nhỏ, súng lớn, súng cộng đồng đủ loại, râm ran vang lên ngay sau lưng, tạo thành một bản hợp tấu kinh dị của thần chết.
Ầm… ầm… ầm…
Tạch… tạch… tạch…đùng …đùng… ầm
Cả một màn lưới lửa chụp xuống cánh rừng lồ ô.Thân cây đổ gẫy răng rắc, tiếng người la hét, rên rỉ vì trúng đạn, tiếng hô xung phong dậy đất.
-…Hàng sống chống chết, hàng sống chống chêt…”
-Một, hai, ba Tango gọi?
-Dạ một nghe Tango.
-Dạ hai…nghe rõ.
-Ba nghe thẩm quyền…
-Tất cả bám lấy vị trí, tụi nó chỉ hù thôi chứ không dám xung phong đâu. Pháo binh sẽ bắn yểm trợ liền.
Anh quay qua cầm máy liên lạc với Tiểu Đoàn, sau khi đã quan sát trái khói bắn điều chỉnh:
-Đại bàng đây Tango, phải một trăm mét, gần lại 50 chục mét, bắn, trả lời.
-Gần lại 50 chục mét thì sát mày quá đó Tango, rất nguy hiểm.
-Không sao đâu đại bàng, tụi tui zulu… bắn hết.
Qua hỏa lực của địch vừa phản công, anh đã xác định được, đó đúng là vị trí của bộ chỉ huy trung đoàn cộng quân. Chỉ cách anh chừng hai trăm thước.
Ầm… ầm… ầm…
Tiếng đạn 155 ly nổ vang dội, át hẳn những tiếng nổ đã rời rạc của các loại súng cá nhân, từ trong phòng tuyến địch.
-Đẹp lắm, bắn hết...
-Tango, ông núp xuống cũng điều chỉnh pháo được mà, đứng vậy nguy hiểm lắm…
Thụy chưa kịp làm theo lời khuyên của Thượng sĩ Tốt, toán phó, bỗng anh giật nảy mình lên một cái, và nghe buốt lịm cánh tay bên phải.Cơn đau truyền nhanh lên óc, cho biết là anh vừa lãnh một viên đạn của đối phương.
Một giòng máu tuôn nhanh, ướt đẫm tay áo trận.
-Chết mẹ, Tango áo vàng rồi ! ( Bị Thương )
Thụy đặt ngón trỏ của bàn tay trái lên môi, ra dấu cho Tốt im lặng, trong khi đó, Y tá Khiết đang loay hoay cắt tay áo của anh để băng bó vết thương. Anh thì thào với Thượng Sĩ Tốt:
-Đừng cho anh em biết gì cả…
Anh bốc máy nội bộ bằng tay trái:
-Một hai ba đây Tango, tất cả nghe lệnh, chúng ta từ từ zulu về đường cũ, để cho gà cồ và chuồn chuồn làm việc. Bắt đầu từ thằng ba, lên đường, nói các thẩm quyền giữ đội hình nghiêm chỉnh, bằng mọi cách đưa tất cả áo vàng, áo đỏ theo, nếu có…
Anh quay qua liên lạc với Tiểu Đoàn ;
-Đại bàng đây Tango, xin lỗi đại bàng, chắc không thể hoàn thành nhiệm vụ, vì tôi đã mặc áo vàng.
-Vậy thì rút đi. Có nặng không ?
-Dạ, không sao, xin đại bàng tiếp tục cho gà cồ gáy, sau khi chúng tôi zulu, sẽ kéo gần lại để tránh bị tụi nó truy kích…
-OK tao hiểu, sẽ đưa chuồn chuồn lên ngay.
Tiếng ù ù của những chiếc trực thăng võ trang đã rõ dần nơi phương trời xa, trong khi cả toán vừa bắn, vừa thối lui, về đường cũ.
Ầm… ầm …ầm…
Những loạt đạn rocket từ các trực thăng võ trang bắn xuống một cách hiệu quả, và chính xác, đã giúp cả toán rút lui an toàn.
Lễ và Linh hai chú lính sữa, đệ tử trung thành lúc nào cũng kè sát một bên Thụy, dìu bước anh đi qua những hố sâu, những con suối cạn…
Khi tiếng súng cá nhân của địch chỉ còn nghe rất mơ hồ từ đàng xa vọng lại.Và rồi mất hút hẳn.Thụy cho anh em tạm dừng chân để kiễm điểm quân số, và cũng để anh có cơ hội nghỉ ngơi một chút.
Chỉ có bốn người bị thương đều được đem theo và Thụy là năm.
Toán một của Trung sĩ nhất Hạnh còn tịch thu được hai khẩu AK 47 và một CKC.
Tiếng bắn phá của những chiếc trực thăng vẫn vần vũ trên không, khiến cả toán cảm thấy yên lòng hơn.
Tốt lên tiếng :
-Mình đi khoảng ba cây số nữa thì có một trảng tranh lớn, có thể làm bãi đáp được đó Tango.
Thụy nhìn vào bản đồ, ước lượng khoảng cách đến vị trí đóng quân của Tiểu Đoàn, nơi này có thể là trung điểm.
Tương đối an toàn rồi.
Máu vẫn thắm ướt ra ngoài lớp băng mà Khiết mới thay cho anh.Thụy liếm môi:
-Cho tôi xin ngụm nước.
-Tango đừng xuống nước nhiều quá, chảy máu nữa đó.
Anh gật đầu, cầm ống liên hợp, nói chuyện với Tiểu Đoàn.
-Khoảng chừng hơn một giờ nữa chúng tôi sẽ đến điểm H, để bốc mấy thằng em áo vàng.
-Tao đã đưa một râu (một đại đội) của thằng Chấn ra đó đón Tango. Mày liên lạc hàng ngang với nó đi.
-Cám ơn Đại bàng.
Hơn một tiếng đồng hồ sau, Thụy bắt tay được với đại đội bốn của Đại Úy Chấn, ngay tại bãi đáp.
Anh em gặp nhau, mừng mừng tủi tủi, vì khó có thể ngờ Thụy còn được an toàn trở về với ba chiến lợi phẩm.
Ngồi dựa lưng vào thành máy bay tải thương đang bốc lên cao, Thụy nghe lòng dâng lên một nỗi xúc động nghẹn ngào .
Những người bạn, những chiến hữu, những đồng đội của anh dưới kia nhỏ dần, nhỏ dần, và mờ nhạt trong sương chiều lãng đãng. Nhưng khí phách của họ, tinh thần huynh đệ chi binh của họ, sẽ không bao giờ có thể mờ phai trong anh .
Ánh nắng chiều Xuân chỉ còn thoi thóp, trên những ngọn cây đang vùn vụt lướt qua dưới thân máy bay.
Họ, những người chiến sĩ ấy vẫn âm thầm, lặng lẽ đón xuân nơi rừng sâu, núi thẳm, vẫn xả thân để tạo nên những chiến tích lẫy lừng, những chiến tích thấm máu đẫm của họ, vẫn cợt đùa với thần chết, để giữ yên bình cho mọi người. Và vẫn yêu đời với những lời lẽ tỏ tình hết sức ngây ngô như A Kía đã nói :
-…Nị hủ leng…Ngộ… ái… nị…lớ…
Wichita, KS -15 Năm ly xứ
NGƯỜI VIỆT CỦA TÔI - QUẬN DĨ AN.
NGUYỄN KHẮP NƠI Viết theo lời kể của một cư dân Quận Dĩ An,
Viết cho ngày 30 tháng Tư đen,
Viết cho những người Lính, Nghĩa Quân, Cảnh Sát, Xây Dựng Nông Thôn và dân chúng của Quận Dĩ An xưa.
Kính tặng Ông Quận Dĩ An - Ông Quận Thủy Quân Lục Chiến Sát Cộng - Trung Tá Nguyễn Minh Châu.
Để tưởng nhớ Chú Ba Trưởng Cuộc Cảnh Sát Dĩ An.
Nói về địa dư, thì quận Dĩ An thuộc về vùng III. Từ Sài Gòn đi Biên Hòa, nếu đi đường trong (đường ngoài là đường xa lộ Saigòn Biên Hòa), chúng ta sẽ tới Thủ Đức rồi tới Dĩ An và cuối cùng là Biên Hòa.
Mặc dù ở khoảng giữa Saigòn Biên Hòa, nhưng người ta biết đến Thủ Đức và Biên Hòa nhiều hơn là biết tới Dĩ An, vì hai nơi kể trên có quá nhiều cảnh đẹp, thức ăn và trái cây ngon, như Suối Tiên, nem Thủ Đức, buởi Biên Hòa . . . .
Dĩ An chỉ là một quận thuộc về . . . miền quê, không có bất cứ một thứ gì đặc sắc, ngoài cái việc ở kế cận Sàigòn.
Đúng vậy, nếu đứng ngay ở quận lỵ Dĩ An, chúng ta sẽ thấy ngôi chợ, bót cảnh sát, ga xe lửa . . . Nhưng qua khỏi ga xe lửa một chút, chừng vài cây số thôi, là chúng ta đã tới miền quê rồi đó, với những cánh đồng lúa và vườn trái cây xanh mướt thấp thoáng những mái tranh đơn sơ.
Và trong một vài mái tranh đơn sơ đó, có . . . Việt Cộng.
Sau hiệp định Geneve 1954, phân chia đất nước làm hai miền: Miền Bắc theo Cộng Sản, còn miền Nam theo Tự Do, thuộc Pháp. Khi Pháp rút về nước, trao chính quyền lại cho Quốc Trưởng Bảo Đại. Sau một cuộc “Trưng Cầu Dân Ý” Bảo Đại bị truất phế, nhường cho Ngô Đình Diệm lên làm Tổng Thống. Bọn Việt Cộng ở miền Nam, một số tập kết về miền Bắc , số còn lại rút gân rút cốt thay hình đổi dạng, nằm vùng chờ cơ hội.
Tổng Thống Ngô lập chính phủ Cộng Hòa, lo vãn hồi an ninh trật tự cho miền Nam Tự Do, ông cho bắt hết đám Việt Cộng nằm vùng, xây dựng nền kinh tế vững mạnh. Cuộc sống người dân trở lại bình thường, dân Dĩ An nhờ đó, cũng sống rất yên lành.
Tôi sinh ra và lớn lên ở Dĩ An, chứng kiến những sự việc xẩy ra ở đó qua hai đợt di cư của người miền Bắc vào Nam : Năm 1954 và năm 1975.
Dân Di cư miền Bắc, được tập trung sinh sống ở khu Thủ Đức, Hố Nai, Tam Hiệp . . . gần Biên Hòa, và Đông Hòa là gần Dĩ An.
Thời đó, tôi còn rất nhỏ, mới bắt đầu đi học Tiểu Học.
Tới trường, hễ nghe đứa nào nói cái giọng khó nghe, thì hiểu liền, đó là dân “Bắc Kỳ”. Đang đi ngoài đường, hễ nghe ai đó nói:
“Rê Su Ma, nạy chúa tôi”
Là tụi tôi biết liền, đó là dân “Bắc Kỳ”
Ra chợ, hễ thấy bà nào có hàm răng đen bóng, là bọn chúng tôi biết ngay, đó là dân “Bắc Kỳ”
Một vài điều tôi còn nhớ như in vào đầu là, thời đó còn xài tiền giấy xé làm hai: Một đồng xé làm hai thành hai tờ Năm Cắc. Những đứa nhỏ Bắc Kỳ cùng học với chúng tôi, tụi nó hiền lành, chỉ nhìn tụi tôi chơi dỡn chứ không bao giờ dám chọc ghẹo tụi tôi cả. Má tôi và những người chòm xóm bán hàng ngoài chợ thì nói những người Bắc Kỳ chịu khó làm việc và rất nhẫn nhịn, cái gì cũng cười.
Tôi được má kể lại là, lâu lâu , chính phủ tổ chức chiếu phim thời sự vào buổi tối, ở đầu chợ Dĩ An, để dân chúng đi xem, đông lắm, vui vẻ lắm, thái bình thịnh trị lắm.
Vào thời gian xẩy ra đảo chánh Ngô Đình Diệm và những cuộc đảo chánh kế tiếp, tôi không biết và không nhớ nhỉều cho lắm, vì lúc đó tôi chỉ là một đứa nhỏ chín mười tuổi mà thôi. Chỉ có một điều làm tôi nhớ: Mỗi lần chiếu bóng, Việt Cộng thẩy lựu đạn làm đám con nít tụi tôi chết nhiều lắm. Tôi không nhớ năm đó là năm nào, chỉ nhớ rằng, trong lúc đang mải mê xem phim chống bệnh tật: Máu đỏ và máu xanh trong cơ thể chống lại vi trùng xâm nhập vào người, thì nghe một tiếng nổ lớn:
“Đùng”
Nhìn chung quanh, tôi thấy người ta ngã xuống đất, máu chẩy thật nhiều, bọn tôi sợ quá, xúm nhau chạy về nhà. Kể từ đó, ba má tôi cấm đám anh em tụi tôi không được đi xem hát nữa.
Qua một thời gian vài năm không đi coi hát ở chợ nữa, có một bữa, mấy đứa bạn tôi rủ đi coi hát ở đầu chợ nữa. Tụi nó nói với tôi:
- Có ông Quận mới về, ổng . . . sát cộng lắm, nên tụi nó không dám về thẩy lựu đạn nữa, đi coi hát được rồi.
Nói thì nói vậy, chứ má tôi đâu có dám cho tụi tôi đi coi nữa. Anh em tụi tôi ham coi hát, lén lén đi từ đứa, mỗi đứa coi một khúc rồi về thế cho đứa khác đi coi. May là không có ai thẩy lựu đạn nữa, nên má tôi không biết chuyện này.
Mấy bữa sau, tụi tôi có chuyện đi ra quận đường. Đang đi, tôi chợt thấy có một chiếc “Xe Díp” chạy trờ tới, có một ông mặc đồ rằn ri nhà binh ngồi trên xe bước xuống, chống cây gậy đi chậm chậm. Dưới cặp mắt con nít của tôi, thì ông rất là oai phong. Tôi đâu có biết ông đó là ai, cứ mở bự con mắt ra mà dòm ông. Những người lớn tuổi đi kế bên tôi lao xao nói chuyện với nhau. Một bác đi kế bên tôi nói lớn ra vẻ thích thú:
- Đó, ông Quận Dĩ An mới về đó!
- Ông Quận đó . . . sát cộng lắm đó! Ổng cho lính đi phá hầm Việt Cộng hoài à, kỳ nào cũng giết được mấy đứa, làm tụi nó sợ lắm, trốn hết trơn rồi.
- Ổng là lính “Thủy Quân Lục Chiến” đó, đánh trận ngầu lắm đó!
- Ổng tên gì vậy?
- Ai biết ổng tên gì! Nghe người ta kêu ổng là “Ông Quận Thủy Quân Lục Chiến”, vậy thôi, chứ ai mà biết ổng tên gì!
Mấy ngày sau, nhân dịp tết Trung Thu, bọn con nít tụi tôi được đi theo thầy giáo tới quận đường để lãnh lồng đèn và bánh trung thu. Đây là lần đầu tiên trong đời, tôi đuợc tới quận đường và được lãnh quà trung thu. Tôi không còn nhớ đã được lãnh lồng đèn kiểu gì? Nhưng còn nhớ rất rõ là được phát một cái bánh dẻo nhỏ bằng ngón tay, ăn có mùi lá dứa.
Nhà tôi ở ngay chợ Dĩ An, mỗi ngày ngoài giờ học và nhưng giờ chạy chơi với bạn bè, tôi đều phụ má bán hàng, nên được nghe nói rất nhiều về “Ông Quận Dĩ An Thủy Quân Lục Chiến".
Có người kể:
- Tối qua, ông Quận cho lính đi phá hầm, giết nhiều du kích lắm, thằng con của Năm Rê (không phải tên thật) hổng dám về kêu đi đắp mô nữa.
Cũng có người nói:
- Tối bữa trước, thằng Năm con ông Chín Lùa kéo đám trong bưng về chặn đường ông Tám Hó (không phải là tên thật) Hội Đồng Xã đặng giết. May phước, ông Tám có thằng nghĩa quân xách súng đi theo, bắn trả lại rồi chạy thục mạng ra tới Xã ở luôn đó, mấy bữa rồi cũng không dám về nhà.
Một ông già bán xạp đã thật là vui vẻ nói lớn:
- Hổm rày quận mình yên lắm rồi! Tụi tui và bà con chòm xóm hết bị mấy cái đám ác ôn tối trời về bắt đi đắp mô rồi. Nhớ lại hồi đó, tối bị lùa đi đắp mô, sáng lại phải đi phá mô, hổng còn sức đâu mà làm ăn!
Như tôi đã nói ở trên, từ ga xe lửa Dĩ An đi theo đường cái vô sâu chừng vài cây số, tới vùng Nhị Tỳ, Nhà Đèn Dĩ An là tới khu ruộng lúa và những đám rừng âm u (chưa tới Ngã Ba Cây Lơn). Những người đi theo Việt Cộng ban ngày vẫn làm ruộng trồng rau, ban đêm nhập với đám Việt Cộng trong rừng ra, tới từng nhà đòi đóng thuế, hoặc giết những người trong Hội Đồng Xã. Nhà hàng xóm gần nhau, ai theo Việt Cộng, ai theo Quốc Gia, dân chúng có khi biết nhau hết, nhưng không dám nói ra.
Có một bữa, dân chúng kéo nhau đi coi xác Việt Cộng chết, được ông Quận kéo về để dọc đường rầy xe lửa. Tôi tò mò lén đi coi. Tới nơi, tôi thấy có chừng sáu bẩy cái xác Việt Cộng, đứa thì mặc quần xà lỏn, đứa thì mặc đồ bà ba đen, quấn khăn rằn bị bắn chết, máu chẩy đầy mình. Lính nghĩa quân cầm súng đứng gác kế bên. Người ta đi coi đông lắm, tới tận nơi mà dòm. Tôi thấy xác chết thì sợ quá, không dám tới gần, chỉ đứng lớ xớ phía xa.
Có người léo xéo nói với nhau:
- Xác đó là thằng . . . Tám (không phải là tên thật), con của Sáu Lô đó.
Có người làm gan, tới hỏi anh nghĩa quân đứng gác:
- Việt Cộng bị bắn chết rồi, sao không đem đi chôn, mà lại đem trưng ra đây? Coi dễ sợ quá, hôi hám quá đi.
Anh nghĩa quân trả lời:
- Tụi tôi mới đi phá hầm bí mật của Việt Cộng tối qua đó, ông Quận cho kéo về, chờ làm giấy tờ xong mới đem chôn, cũng để đó đặng cho bà con biết, đừng có đi theo Việt Cộng mà có ngày bị chết thảm như cái đám này đó!
Tôi lớn lên theo tình hình an ninh của quận Dĩ An. Ông quận Dĩ An vẫn còn làm việc ở quận, tôi không có dịp gặp ông nữa, nhưng nghe dân chúng nói rất nhiều về những điều ông làm. Ông chịu lo lắng cho vấn đề an ninh của dân chúng, chịu hành quân, chịu đi phá hầm, truy lùng Việt Cộng lắm.
Vì thế, dân chúng mới đặt cho ông cái tên:
“Ông Quận Sát Cộng”
Bây giờ thì tôi đã lớn đủ để hiểu Việt Cộng là ai? Và Sát Cộng là gỉ? rồi. Tôi chỉ là một đứa con gái, nhưng tôi cảm thấy phục ông, và lâu lâu vẫn suy nghĩ: "Ông đi đứng chống gậy rất khó khăn, vậy làm sao mà ông có thể đi hành quân phá hầm việt cộng hoài hoài như vậy được?".
Có một bữa bán hàng, tôi thấy có một đám người lạ mặt mặc quần áo đen, đội nón rộng vành, mang ba lô tới ăn ở quán của nhà tôi. Tôi thấy họ mặc đồ bà ba đen và quấn khăn rằn thì sợ lắm, nhất là nhìn thấy cái nón của họ, hơi giống cái nón tai bèo của đám du kích. Nhưng khi thấy họ mang ba lô thì tôi đỡ sợ, vì tuy không đi lính, nhưng tôi cũng biết chỉ có lính Cộng Hòa mới mang ba lô mà thôi. Khi một chú ăn xong, kêu tính tiền, tôi làm gan, hỏi chú là lính gì mà lại mặt đồ đen.
Chú này cỏn trẻ lắm, nhe răng cười trả lời tôi:
- Tụi tui là lính “Xây Dựng Nông Thôn” mới từ Vũng Tàu về đây.
(Xin gọi tắt là XDNT)
Nghe anh trả lời thì tôi biết vậy thôi, và tôi cũng chỉ gặp họ một lần đó thôi nên cũng quên đi, còn lo bán hàng, lo đi học. Chừng vài tháng sau, tôi nghe dân chợ nói chuyện với nhau:
- Lính XDNT được lắm, họ hổng giống lính Cộng Hòa, họ ở luôn trong ấp của mình đó, mấy ảnh giúp mình đủ chuyện hết, có bữa còn phụ bà Tám Cái (không phải là tên thật) cấy lúa đó!
- Ban ngày, đám XDNT này đi vòng vòng giúp bà con, ban đêm họ xách súng đi tìm Việt Cộng mà đánh đó. Tội nghiệp quá, họ làm việc sáng đêm. Tối qua đám này ghé nhà tôi, tía thằng Tâm nói tôi nấu cháu cho mấy chú đó ăn cho no đặng làm việc đó!
Từ đó tôi mới biết lý do tại sao họ không có mặt ở chợ nữa, vì họ ở luôn ở trong làng, trong xã chung với dân. Theo suy nghĩ nông cạn của tôi, tôi cho rằng: Việt Cộng nằm vùng sống cùng với dân, muốn diệt trừ bọn này, chỉ có cách là cũng sống cùng với dân như những người lính XDNT này thì mới tìm ra chúng mà đánh thôi. Từ đó, tôi lại có thêm cảm tình với lính XDNT và thêm cảm tình với ông Quận Dĩ An.
Tới tuổi thi tú tài, tôi lo học nhưng cũng thích thơ TTK, Hữu Loan, Hồ Zếnh ,và cũng thích đọc “The Exodus”, “Chiến Tranh và Hòa Bình”. . .
Một bữa, tôi đang đọc cuốn “Trại Đầm Đùn” thì một ông khách lạ mặc quần áo Cảnh Sát buớc vào quán kêu đồ ăn, ông trạc tuổi 45 gì đó. Khi tới quầy trả tiền, liếc mắt thấy tên cuốn sách, ông nhìn tôi ngạc nhiên:
- Con gái mà đọc mấy loại sách này làm chi!
Tôi trả lời ông:
- Cháu đọc cho biết Việt Cộng là như thế nào?
Lâu lâu ông lại ghé quán của má tôi mà ăn trưa, ăn tối. Tới khi quen rồi , tôi mới biết ông là Cuộc Trưởng Cuộc Cảnh Sát Dĩ An. Có bữa, tôi cắc cớ hỏi ông:
- Chú Ba, có khi nào chú bắt được Việt Cộng, rồi cũng tra tấn người ta giống như bọn VC tra tấn dân, giống như trong . . . Trại Đầm Đùn, hay không?
Ông đã cười lớn một lúc rồi mới trả lời tôi:
- Bạo tàn không phải là nghề của Cảnh Sát Quốc Gia! Mình làm gì cũng phải có tình người ở trong đó. Hơn nữa, hỏi cung đám VC là do CSĐB hoặc là ANQĐ phụ trách, chứ không phải là nhiệm vụ của chú.
Từ đó, tôi có cảm tình nhiều hơn đối với ông. Ông kêu tôi là “Con gái” và xưng “Chú” với tôi. Nhà ông ở Sàigòn, ông đi làm bằng xe Vespa (hay Lambretta gì đó, tôi không nhớ rõ), chứ không lái xe Jeep Cảnh Sát. Người ta kêu ông là Chú Ba, thì tôi cũng theo đó mà kêu, chứ không hỏi và cũng không dám hỏi tên thật của ông.
Tháng Tư 1975, ngày đen tối của VNCH đã đến! Mấy ngày trước đó, thấy tình hình nguy ngập, má tôi lo cho tính mạng của anh Hai tôi đang đóng quân ở Bạc Liêu và anh rể tôi làm Cảnh Sát ở Xa Cảng, nhưng đâu có làm gì được hơn. Má chỉ còn cách bảo tôi đi mua gạo trữ phòng khi có biến.
Gần cuối tháng, tôi nghe súng nổ thật gần, nhưng cũng chẳng biết làm gì hơn.
Sáng 30, tôi nghe trên đài phát thanh, Tổng Thống Dương Văn Minh đầu hàng Việt Cộng và kêu gọi binh sĩ các cấp gác súng súng chờ bàn giao.
Má tôi lo cho số mạng của người con trai và con rể. Còn tôi, tôi lo cho số mạng của những bạn bè tôi đã đi lính. Dĩ An ở gần phi trường Biên Hòa, gần cả căn cứ Sóng Thần, nên có rất nhiều thanh niên gia nhập Không Quân và Thủy Quân Lục Chiến, bạn bè tôi ở trong đám này đông lắm. Rồi còn những người lính XDNT nữa, họ còn đang ở chung với bà con trong Xã, Ấp, còn chú Ba Cảnh Sát, còn ông Quận TQLC Sát Cộng nữa, họ sẽ ra sao?
Mẹ tôi lính quýnh đi tới đi lui trong nhà. Tôi cũng lo sợ, lo sợ cho mẹ tôi, cho chính tôi nữa, cuộc đời mình sẽ ra sao?
Ngay lúc đó, chú Ba bước vào, mặt mày đăm chiêu. Điều ngạc nhiên hết sức là chú không mặc bộ quần áo cảnh sát thường ngày, mà chú mặc bộ đồ mầu trắng tươi, đeo lon và huy chương sáng ngời. Chú nói với mẹ tôi:
- Tôi chào chị lần cuối, rồi về nhà. Đầu hàng rồi, nhưng tôi đâu có thua trận đâu mà đầu hàng! Sáng nay, khi nghe tin Tổng Thống Minh đầu hàng, tôi đã tập họp tất cả cảnh sát trong Cuộc lại dể làm lễ chào quốc kỳ lần cuối cùng, rồi giải tán, ai về nhà nấy. Tôi cũng về đây, thôi, chào chị và cháu gái, hai người ở lại mạnh giỏi.
Mẹ tôi và tôi chưng hửng nhìn chú. Một lúc sau, mẹ tôi mới nói:
- Đầu hàng rồi, tôi thấy người ta mặc thường phục đi về, sao chú không thay quần áo thường mà lại mặc đại lễ như vầy, lỡ . . . có chuyện gì thì sao? Con trai tôi còn để mấy bộ quần áo ở nhà, tôi nói con Nhung lấy cho chú bận nhe!
Chú Ba cười chua chát, trả lời:
- Lần cuối cùng của cuộc đời binh nghiệp của tôi mà chị! Tôi phải mặc đại lễ chứ!
Tôi ái ngại nhìn chú, hỏi thêm:
- Chú Ba đi về cùng với anh em cảnh sát hay về chung với ông Quận? Về chung chắc là an toàn hơn đó.
- Anh em cảnh sát đa số là dân địa phương, họ tự đi về, còn chú, chú đi bằng xe riêng từ đó tới giờ, nên hôm nay chú cũng về bằng xe riêng. Ông Quận vừa nói chuyện với chú xong, ổng sẽ về sau cùng với những người lính nào ở Sàigòn.
- Chú Ba, còn cây cờ của mình, sao chú không gỡ xuống, để . . . người ta xé đi thì tội nghiệp cho lá cờ lắm.
- Chú Ba chỉ có nhiệm vụ thượng kỳ Việt Nam Cộng Hòa mà thôi. Quân Đội không dậy chú cuốn cờ bỏ đi, và chú cũng không thể làm chuyện đó được. Trước khi về, chú đã đứng nghiêm chào lá cờ lần chót rồi. Cứ để lá cờ ở đó, trong đầu óc của chú sẽ nhớ mãi hình ảnh lá cờ VNCH tung bay trong gió. Sau này, lá cờ sẽ ra sao? Để tương lai trả lời.
Rồi chú quay ra, đạp máy xe rồ ga đi thẳng.
Ngoài đường, tôi thoáng thấy những thanh niên mang băng tay đỏ, cầm súng chạy lăng xăng.
Chiều đến, má tôi hốt hoảng nhớ tới bầy cháu ngoại ở Sàigòn, má nói tôi ráng mang gạo cho chị tôi, để mấy đứa nhỏ đói tội nghiệp.
Tôi cảm thấy sợ hãi khi phải đi ra ngoài trong giờ phút này, nhưng cũng chất gạo lên xe Honda chạy ra xa lộ đi về Sàigòn.
Dọc đường, vẫn còn súng nổ, vẫn còn lính ta chạy tới chạy lui, quần áo lính vứt rải rác khắp nơi, và rất nhiều đàn ông mặc thường phục đi bộ về phía Sàigòn. Những chiếc xe tăng cắm cở Xanh dương và đỏ chạy rầm rộ trên đường, chạy qua mặt tôi một cách hung tợn, cũng huớng về Sàigòn. Tôi sợ lắm, bậm gan rồ ga chạy thục mạng.
Bất chợt, tôi nhìn thấy ở vệ đường, một người lính mặc đại lễ mầu trắng với những huy chương đeo đầy trên ngực áo, nắm bất động, mặt đầy máu, quay về phía đường lộ, bên cạnh chiếc xe Vespa lật nghiêng. Tôi thảng thốt kêu lên:
“Chú Ba Cảnh Sát!”
Tôi muốn dừng lại, xem có phải thật sự là chú Ba hay không?
Chú còn sống hay đã bị bắn chết?
Nhưng giòng người xô đẩy, tiếng súng hai bên nổ vang, rồi xe chở lính Việt Cộng chạy tới, xe tăng, thiết giáp bắn nhau qua lại, tôi không thể nào ngừng lại.
Tôi bật khóc, nhìn chú Ba một lần chót rồi run rẩy chạy xe đi.
Tôi nhớ lại hồi sáng, sau khi chú Ba đi được khoảng một tiếng đồng hồ thì một đám những tên đeo băng tay đỏ, những tên đội nón tai bèo, đã kéo lá cờ VNCH xuống, xé tan nát đi. Tôi vụt chạy ra muốn giựt lại lá cờ, nhưng vừa mới ra tới cửa, đụng phải một đám đá cá lăn dưa cầm súng chĩa tứ phía, làm tôi sợ quá, dội trở lại. Lúc đó, tôi đã giận chú Ba hết sức, tại sao không kéo lá cờ xuống mà cất đi, để nay bị cái đám người này xé nát.
Bây giờ, nhìn chú Ba nằm đó, tôi lại nhớ câu nói cuối cùng của chú:
“Cứ để lá cờ ở đó, trong đầu óc của chú sẽ nhớ mãi hình ảnh lá cờ VNCH tung bay trong gió. Sau này, lá cờ sẽ ra sao? Để tương lai trả lời.”
Tôi không giận chú Ba nữa, và nghĩ rằng, chú Ba đã làm đúng!
Chú Ba ơi, trong đầu óc chú bây giờ, lá cờ Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn tồn tại, vẫn còn tung bay trong gió, trong vĩnh cửu, phải không chú?
Những ngày sau đó, rất nhiều khuôn mặt xuất hiện. Những khuôn mặt này rất quen thuộc với người dân Dĩ An trước đây, nhưng bây giờ họ đã trở thành khác hẳn:
Họ quấn khăn rằn, đội nón tai bèo, hiện nguyên hình Việt Cộng.
Bà con đi chợ nói với nhau:
- Cái đám này, hồi đó đã bị Cảnh Sát chìm, bị lính của Ông Quận mình bắt nhốt hết trơn rồi đó đa. Nhưng bị báo chí nói lung tung là bắt dân vô tôi, nên mới phải thả tụi nó ra. Nay thì rõ ràng quá rồi, phải chỉ hồi đó xử tử hết tụi nó đi, đỡ khổ . . .
Một thời gian ngắn sau đó, những người Bắc Kỳ lại xuất hiện, chúng tôi kêu họ là “Bắc Kỳ 75”. Những Bắc Kỳ này láu cá và hỗn láo vô cùng, khác xa với “Bắc Kỳ 54” xưa. Bắc Kỳ 54 ăn nói nhỏ nhẹ, cái gì cũng cười, thì đám Bắc Kỳ 75 đội nón cối, đi chân đất, luôn miệng chửi thề. Khi nói chuyện, họ xưng ông xưng cha với chúng tôi và sẵn sàng đe dọa:
- Ông báo công an, bắt bỏ cha chúng mày đi bây giờ!
Mỗi lần ngày 30 tháng Tư trở lại, tôi lại nhớ tới quận Dĩ An, nhớ tới ông Quận TQLC Sát Cộng, nhớ tới Chú Ba Cảnh Sát. Tôi đã kể cho chồng con tôi nghe về những người này, không biết họ còn sống hay đã chết? Chồng tôi hỏi, tôi còn nhớ tên những người hùng này hay không? Lâu quá rồi, hơn nữa, hồi đó, tôi còn quá nhỏ để mà nhớ.
Mỗi lần đi ngang những đài tưởng niệm chiến sĩ VNCH, tôi đều cầu nguyện cho họ.
Bất chợt, một hôm đọc Việt Luận, đọc bài “Cuộc Đời Đổi Thay” tôi mới biết ông Quận Trưởng Dĩ An , ông Quận TQLC Sát Cộng, Trung Tá Nguyễn Minh Châu, ông còn sống, đang ở bên Mỹ. Tôi mừng quá, kêu chồng tôi:
- Anh ơi, ông Quận . . . Ông Quận Dĩ An nè, ổng còn sống, ổng viết báo nè! Anh coi hình ổng nè, ổng bận đồ rằn ri, oai hùng lắm nè! Thấy hông, em nói mà!
Chúc mừng ông Quận được bình yên sau những đổi thay của cuộc đời.
Cám ơn ông Quận, đã gìn giữ an ninh trong quận, đã sát cộng, để những người dân Dĩ An như tôi có một cuộc sống yên ổn, cho tới ngày 30 tháng Tư.
NGƯỜI VIỆT CỦA TÔI, LÀ THẾ ĐẤY!
NGUYỄN KHẮP NƠI.
NGUYỄN KHẮP NƠI Viết theo lời kể của một cư dân Quận Dĩ An,
Viết cho ngày 30 tháng Tư đen,
Viết cho những người Lính, Nghĩa Quân, Cảnh Sát, Xây Dựng Nông Thôn và dân chúng của Quận Dĩ An xưa.
Kính tặng Ông Quận Dĩ An - Ông Quận Thủy Quân Lục Chiến Sát Cộng - Trung Tá Nguyễn Minh Châu.
Để tưởng nhớ Chú Ba Trưởng Cuộc Cảnh Sát Dĩ An.
Nói về địa dư, thì quận Dĩ An thuộc về vùng III. Từ Sài Gòn đi Biên Hòa, nếu đi đường trong (đường ngoài là đường xa lộ Saigòn Biên Hòa), chúng ta sẽ tới Thủ Đức rồi tới Dĩ An và cuối cùng là Biên Hòa.
Mặc dù ở khoảng giữa Saigòn Biên Hòa, nhưng người ta biết đến Thủ Đức và Biên Hòa nhiều hơn là biết tới Dĩ An, vì hai nơi kể trên có quá nhiều cảnh đẹp, thức ăn và trái cây ngon, như Suối Tiên, nem Thủ Đức, buởi Biên Hòa . . . .
Dĩ An chỉ là một quận thuộc về . . . miền quê, không có bất cứ một thứ gì đặc sắc, ngoài cái việc ở kế cận Sàigòn.
Đúng vậy, nếu đứng ngay ở quận lỵ Dĩ An, chúng ta sẽ thấy ngôi chợ, bót cảnh sát, ga xe lửa . . . Nhưng qua khỏi ga xe lửa một chút, chừng vài cây số thôi, là chúng ta đã tới miền quê rồi đó, với những cánh đồng lúa và vườn trái cây xanh mướt thấp thoáng những mái tranh đơn sơ.
Và trong một vài mái tranh đơn sơ đó, có . . . Việt Cộng.
Sau hiệp định Geneve 1954, phân chia đất nước làm hai miền: Miền Bắc theo Cộng Sản, còn miền Nam theo Tự Do, thuộc Pháp. Khi Pháp rút về nước, trao chính quyền lại cho Quốc Trưởng Bảo Đại. Sau một cuộc “Trưng Cầu Dân Ý” Bảo Đại bị truất phế, nhường cho Ngô Đình Diệm lên làm Tổng Thống. Bọn Việt Cộng ở miền Nam, một số tập kết về miền Bắc , số còn lại rút gân rút cốt thay hình đổi dạng, nằm vùng chờ cơ hội.
Tổng Thống Ngô lập chính phủ Cộng Hòa, lo vãn hồi an ninh trật tự cho miền Nam Tự Do, ông cho bắt hết đám Việt Cộng nằm vùng, xây dựng nền kinh tế vững mạnh. Cuộc sống người dân trở lại bình thường, dân Dĩ An nhờ đó, cũng sống rất yên lành.
Tôi sinh ra và lớn lên ở Dĩ An, chứng kiến những sự việc xẩy ra ở đó qua hai đợt di cư của người miền Bắc vào Nam : Năm 1954 và năm 1975.
Dân Di cư miền Bắc, được tập trung sinh sống ở khu Thủ Đức, Hố Nai, Tam Hiệp . . . gần Biên Hòa, và Đông Hòa là gần Dĩ An.
Thời đó, tôi còn rất nhỏ, mới bắt đầu đi học Tiểu Học.
Tới trường, hễ nghe đứa nào nói cái giọng khó nghe, thì hiểu liền, đó là dân “Bắc Kỳ”. Đang đi ngoài đường, hễ nghe ai đó nói:
“Rê Su Ma, nạy chúa tôi”
Là tụi tôi biết liền, đó là dân “Bắc Kỳ”
Ra chợ, hễ thấy bà nào có hàm răng đen bóng, là bọn chúng tôi biết ngay, đó là dân “Bắc Kỳ”
Một vài điều tôi còn nhớ như in vào đầu là, thời đó còn xài tiền giấy xé làm hai: Một đồng xé làm hai thành hai tờ Năm Cắc. Những đứa nhỏ Bắc Kỳ cùng học với chúng tôi, tụi nó hiền lành, chỉ nhìn tụi tôi chơi dỡn chứ không bao giờ dám chọc ghẹo tụi tôi cả. Má tôi và những người chòm xóm bán hàng ngoài chợ thì nói những người Bắc Kỳ chịu khó làm việc và rất nhẫn nhịn, cái gì cũng cười.
Tôi được má kể lại là, lâu lâu , chính phủ tổ chức chiếu phim thời sự vào buổi tối, ở đầu chợ Dĩ An, để dân chúng đi xem, đông lắm, vui vẻ lắm, thái bình thịnh trị lắm.
Vào thời gian xẩy ra đảo chánh Ngô Đình Diệm và những cuộc đảo chánh kế tiếp, tôi không biết và không nhớ nhỉều cho lắm, vì lúc đó tôi chỉ là một đứa nhỏ chín mười tuổi mà thôi. Chỉ có một điều làm tôi nhớ: Mỗi lần chiếu bóng, Việt Cộng thẩy lựu đạn làm đám con nít tụi tôi chết nhiều lắm. Tôi không nhớ năm đó là năm nào, chỉ nhớ rằng, trong lúc đang mải mê xem phim chống bệnh tật: Máu đỏ và máu xanh trong cơ thể chống lại vi trùng xâm nhập vào người, thì nghe một tiếng nổ lớn:
“Đùng”
Nhìn chung quanh, tôi thấy người ta ngã xuống đất, máu chẩy thật nhiều, bọn tôi sợ quá, xúm nhau chạy về nhà. Kể từ đó, ba má tôi cấm đám anh em tụi tôi không được đi xem hát nữa.
Qua một thời gian vài năm không đi coi hát ở chợ nữa, có một bữa, mấy đứa bạn tôi rủ đi coi hát ở đầu chợ nữa. Tụi nó nói với tôi:
- Có ông Quận mới về, ổng . . . sát cộng lắm, nên tụi nó không dám về thẩy lựu đạn nữa, đi coi hát được rồi.
Nói thì nói vậy, chứ má tôi đâu có dám cho tụi tôi đi coi nữa. Anh em tụi tôi ham coi hát, lén lén đi từ đứa, mỗi đứa coi một khúc rồi về thế cho đứa khác đi coi. May là không có ai thẩy lựu đạn nữa, nên má tôi không biết chuyện này.
Mấy bữa sau, tụi tôi có chuyện đi ra quận đường. Đang đi, tôi chợt thấy có một chiếc “Xe Díp” chạy trờ tới, có một ông mặc đồ rằn ri nhà binh ngồi trên xe bước xuống, chống cây gậy đi chậm chậm. Dưới cặp mắt con nít của tôi, thì ông rất là oai phong. Tôi đâu có biết ông đó là ai, cứ mở bự con mắt ra mà dòm ông. Những người lớn tuổi đi kế bên tôi lao xao nói chuyện với nhau. Một bác đi kế bên tôi nói lớn ra vẻ thích thú:
- Đó, ông Quận Dĩ An mới về đó!
- Ông Quận đó . . . sát cộng lắm đó! Ổng cho lính đi phá hầm Việt Cộng hoài à, kỳ nào cũng giết được mấy đứa, làm tụi nó sợ lắm, trốn hết trơn rồi.
- Ổng là lính “Thủy Quân Lục Chiến” đó, đánh trận ngầu lắm đó!
- Ổng tên gì vậy?
- Ai biết ổng tên gì! Nghe người ta kêu ổng là “Ông Quận Thủy Quân Lục Chiến”, vậy thôi, chứ ai mà biết ổng tên gì!
Mấy ngày sau, nhân dịp tết Trung Thu, bọn con nít tụi tôi được đi theo thầy giáo tới quận đường để lãnh lồng đèn và bánh trung thu. Đây là lần đầu tiên trong đời, tôi đuợc tới quận đường và được lãnh quà trung thu. Tôi không còn nhớ đã được lãnh lồng đèn kiểu gì? Nhưng còn nhớ rất rõ là được phát một cái bánh dẻo nhỏ bằng ngón tay, ăn có mùi lá dứa.
Nhà tôi ở ngay chợ Dĩ An, mỗi ngày ngoài giờ học và nhưng giờ chạy chơi với bạn bè, tôi đều phụ má bán hàng, nên được nghe nói rất nhiều về “Ông Quận Dĩ An Thủy Quân Lục Chiến".
Có người kể:
- Tối qua, ông Quận cho lính đi phá hầm, giết nhiều du kích lắm, thằng con của Năm Rê (không phải tên thật) hổng dám về kêu đi đắp mô nữa.
Cũng có người nói:
- Tối bữa trước, thằng Năm con ông Chín Lùa kéo đám trong bưng về chặn đường ông Tám Hó (không phải là tên thật) Hội Đồng Xã đặng giết. May phước, ông Tám có thằng nghĩa quân xách súng đi theo, bắn trả lại rồi chạy thục mạng ra tới Xã ở luôn đó, mấy bữa rồi cũng không dám về nhà.
Một ông già bán xạp đã thật là vui vẻ nói lớn:
- Hổm rày quận mình yên lắm rồi! Tụi tui và bà con chòm xóm hết bị mấy cái đám ác ôn tối trời về bắt đi đắp mô rồi. Nhớ lại hồi đó, tối bị lùa đi đắp mô, sáng lại phải đi phá mô, hổng còn sức đâu mà làm ăn!
Như tôi đã nói ở trên, từ ga xe lửa Dĩ An đi theo đường cái vô sâu chừng vài cây số, tới vùng Nhị Tỳ, Nhà Đèn Dĩ An là tới khu ruộng lúa và những đám rừng âm u (chưa tới Ngã Ba Cây Lơn). Những người đi theo Việt Cộng ban ngày vẫn làm ruộng trồng rau, ban đêm nhập với đám Việt Cộng trong rừng ra, tới từng nhà đòi đóng thuế, hoặc giết những người trong Hội Đồng Xã. Nhà hàng xóm gần nhau, ai theo Việt Cộng, ai theo Quốc Gia, dân chúng có khi biết nhau hết, nhưng không dám nói ra.
Có một bữa, dân chúng kéo nhau đi coi xác Việt Cộng chết, được ông Quận kéo về để dọc đường rầy xe lửa. Tôi tò mò lén đi coi. Tới nơi, tôi thấy có chừng sáu bẩy cái xác Việt Cộng, đứa thì mặc quần xà lỏn, đứa thì mặc đồ bà ba đen, quấn khăn rằn bị bắn chết, máu chẩy đầy mình. Lính nghĩa quân cầm súng đứng gác kế bên. Người ta đi coi đông lắm, tới tận nơi mà dòm. Tôi thấy xác chết thì sợ quá, không dám tới gần, chỉ đứng lớ xớ phía xa.
Có người léo xéo nói với nhau:
- Xác đó là thằng . . . Tám (không phải là tên thật), con của Sáu Lô đó.
Có người làm gan, tới hỏi anh nghĩa quân đứng gác:
- Việt Cộng bị bắn chết rồi, sao không đem đi chôn, mà lại đem trưng ra đây? Coi dễ sợ quá, hôi hám quá đi.
Anh nghĩa quân trả lời:
- Tụi tôi mới đi phá hầm bí mật của Việt Cộng tối qua đó, ông Quận cho kéo về, chờ làm giấy tờ xong mới đem chôn, cũng để đó đặng cho bà con biết, đừng có đi theo Việt Cộng mà có ngày bị chết thảm như cái đám này đó!
Tôi lớn lên theo tình hình an ninh của quận Dĩ An. Ông quận Dĩ An vẫn còn làm việc ở quận, tôi không có dịp gặp ông nữa, nhưng nghe dân chúng nói rất nhiều về những điều ông làm. Ông chịu lo lắng cho vấn đề an ninh của dân chúng, chịu hành quân, chịu đi phá hầm, truy lùng Việt Cộng lắm.
Vì thế, dân chúng mới đặt cho ông cái tên:
“Ông Quận Sát Cộng”
Bây giờ thì tôi đã lớn đủ để hiểu Việt Cộng là ai? Và Sát Cộng là gỉ? rồi. Tôi chỉ là một đứa con gái, nhưng tôi cảm thấy phục ông, và lâu lâu vẫn suy nghĩ: "Ông đi đứng chống gậy rất khó khăn, vậy làm sao mà ông có thể đi hành quân phá hầm việt cộng hoài hoài như vậy được?".
Có một bữa bán hàng, tôi thấy có một đám người lạ mặt mặc quần áo đen, đội nón rộng vành, mang ba lô tới ăn ở quán của nhà tôi. Tôi thấy họ mặc đồ bà ba đen và quấn khăn rằn thì sợ lắm, nhất là nhìn thấy cái nón của họ, hơi giống cái nón tai bèo của đám du kích. Nhưng khi thấy họ mang ba lô thì tôi đỡ sợ, vì tuy không đi lính, nhưng tôi cũng biết chỉ có lính Cộng Hòa mới mang ba lô mà thôi. Khi một chú ăn xong, kêu tính tiền, tôi làm gan, hỏi chú là lính gì mà lại mặt đồ đen.
Chú này cỏn trẻ lắm, nhe răng cười trả lời tôi:
- Tụi tui là lính “Xây Dựng Nông Thôn” mới từ Vũng Tàu về đây.
(Xin gọi tắt là XDNT)
Nghe anh trả lời thì tôi biết vậy thôi, và tôi cũng chỉ gặp họ một lần đó thôi nên cũng quên đi, còn lo bán hàng, lo đi học. Chừng vài tháng sau, tôi nghe dân chợ nói chuyện với nhau:
- Lính XDNT được lắm, họ hổng giống lính Cộng Hòa, họ ở luôn trong ấp của mình đó, mấy ảnh giúp mình đủ chuyện hết, có bữa còn phụ bà Tám Cái (không phải là tên thật) cấy lúa đó!
- Ban ngày, đám XDNT này đi vòng vòng giúp bà con, ban đêm họ xách súng đi tìm Việt Cộng mà đánh đó. Tội nghiệp quá, họ làm việc sáng đêm. Tối qua đám này ghé nhà tôi, tía thằng Tâm nói tôi nấu cháu cho mấy chú đó ăn cho no đặng làm việc đó!
Từ đó tôi mới biết lý do tại sao họ không có mặt ở chợ nữa, vì họ ở luôn ở trong làng, trong xã chung với dân. Theo suy nghĩ nông cạn của tôi, tôi cho rằng: Việt Cộng nằm vùng sống cùng với dân, muốn diệt trừ bọn này, chỉ có cách là cũng sống cùng với dân như những người lính XDNT này thì mới tìm ra chúng mà đánh thôi. Từ đó, tôi lại có thêm cảm tình với lính XDNT và thêm cảm tình với ông Quận Dĩ An.
Tới tuổi thi tú tài, tôi lo học nhưng cũng thích thơ TTK, Hữu Loan, Hồ Zếnh ,và cũng thích đọc “The Exodus”, “Chiến Tranh và Hòa Bình”. . .
Một bữa, tôi đang đọc cuốn “Trại Đầm Đùn” thì một ông khách lạ mặc quần áo Cảnh Sát buớc vào quán kêu đồ ăn, ông trạc tuổi 45 gì đó. Khi tới quầy trả tiền, liếc mắt thấy tên cuốn sách, ông nhìn tôi ngạc nhiên:
- Con gái mà đọc mấy loại sách này làm chi!
Tôi trả lời ông:
- Cháu đọc cho biết Việt Cộng là như thế nào?
Lâu lâu ông lại ghé quán của má tôi mà ăn trưa, ăn tối. Tới khi quen rồi , tôi mới biết ông là Cuộc Trưởng Cuộc Cảnh Sát Dĩ An. Có bữa, tôi cắc cớ hỏi ông:
- Chú Ba, có khi nào chú bắt được Việt Cộng, rồi cũng tra tấn người ta giống như bọn VC tra tấn dân, giống như trong . . . Trại Đầm Đùn, hay không?
Ông đã cười lớn một lúc rồi mới trả lời tôi:
- Bạo tàn không phải là nghề của Cảnh Sát Quốc Gia! Mình làm gì cũng phải có tình người ở trong đó. Hơn nữa, hỏi cung đám VC là do CSĐB hoặc là ANQĐ phụ trách, chứ không phải là nhiệm vụ của chú.
Từ đó, tôi có cảm tình nhiều hơn đối với ông. Ông kêu tôi là “Con gái” và xưng “Chú” với tôi. Nhà ông ở Sàigòn, ông đi làm bằng xe Vespa (hay Lambretta gì đó, tôi không nhớ rõ), chứ không lái xe Jeep Cảnh Sát. Người ta kêu ông là Chú Ba, thì tôi cũng theo đó mà kêu, chứ không hỏi và cũng không dám hỏi tên thật của ông.
Tháng Tư 1975, ngày đen tối của VNCH đã đến! Mấy ngày trước đó, thấy tình hình nguy ngập, má tôi lo cho tính mạng của anh Hai tôi đang đóng quân ở Bạc Liêu và anh rể tôi làm Cảnh Sát ở Xa Cảng, nhưng đâu có làm gì được hơn. Má chỉ còn cách bảo tôi đi mua gạo trữ phòng khi có biến.
Gần cuối tháng, tôi nghe súng nổ thật gần, nhưng cũng chẳng biết làm gì hơn.
Sáng 30, tôi nghe trên đài phát thanh, Tổng Thống Dương Văn Minh đầu hàng Việt Cộng và kêu gọi binh sĩ các cấp gác súng súng chờ bàn giao.
Má tôi lo cho số mạng của người con trai và con rể. Còn tôi, tôi lo cho số mạng của những bạn bè tôi đã đi lính. Dĩ An ở gần phi trường Biên Hòa, gần cả căn cứ Sóng Thần, nên có rất nhiều thanh niên gia nhập Không Quân và Thủy Quân Lục Chiến, bạn bè tôi ở trong đám này đông lắm. Rồi còn những người lính XDNT nữa, họ còn đang ở chung với bà con trong Xã, Ấp, còn chú Ba Cảnh Sát, còn ông Quận TQLC Sát Cộng nữa, họ sẽ ra sao?
Mẹ tôi lính quýnh đi tới đi lui trong nhà. Tôi cũng lo sợ, lo sợ cho mẹ tôi, cho chính tôi nữa, cuộc đời mình sẽ ra sao?
Ngay lúc đó, chú Ba bước vào, mặt mày đăm chiêu. Điều ngạc nhiên hết sức là chú không mặc bộ quần áo cảnh sát thường ngày, mà chú mặc bộ đồ mầu trắng tươi, đeo lon và huy chương sáng ngời. Chú nói với mẹ tôi:
- Tôi chào chị lần cuối, rồi về nhà. Đầu hàng rồi, nhưng tôi đâu có thua trận đâu mà đầu hàng! Sáng nay, khi nghe tin Tổng Thống Minh đầu hàng, tôi đã tập họp tất cả cảnh sát trong Cuộc lại dể làm lễ chào quốc kỳ lần cuối cùng, rồi giải tán, ai về nhà nấy. Tôi cũng về đây, thôi, chào chị và cháu gái, hai người ở lại mạnh giỏi.
Mẹ tôi và tôi chưng hửng nhìn chú. Một lúc sau, mẹ tôi mới nói:
- Đầu hàng rồi, tôi thấy người ta mặc thường phục đi về, sao chú không thay quần áo thường mà lại mặc đại lễ như vầy, lỡ . . . có chuyện gì thì sao? Con trai tôi còn để mấy bộ quần áo ở nhà, tôi nói con Nhung lấy cho chú bận nhe!
Chú Ba cười chua chát, trả lời:
- Lần cuối cùng của cuộc đời binh nghiệp của tôi mà chị! Tôi phải mặc đại lễ chứ!
Tôi ái ngại nhìn chú, hỏi thêm:
- Chú Ba đi về cùng với anh em cảnh sát hay về chung với ông Quận? Về chung chắc là an toàn hơn đó.
- Anh em cảnh sát đa số là dân địa phương, họ tự đi về, còn chú, chú đi bằng xe riêng từ đó tới giờ, nên hôm nay chú cũng về bằng xe riêng. Ông Quận vừa nói chuyện với chú xong, ổng sẽ về sau cùng với những người lính nào ở Sàigòn.
- Chú Ba, còn cây cờ của mình, sao chú không gỡ xuống, để . . . người ta xé đi thì tội nghiệp cho lá cờ lắm.
- Chú Ba chỉ có nhiệm vụ thượng kỳ Việt Nam Cộng Hòa mà thôi. Quân Đội không dậy chú cuốn cờ bỏ đi, và chú cũng không thể làm chuyện đó được. Trước khi về, chú đã đứng nghiêm chào lá cờ lần chót rồi. Cứ để lá cờ ở đó, trong đầu óc của chú sẽ nhớ mãi hình ảnh lá cờ VNCH tung bay trong gió. Sau này, lá cờ sẽ ra sao? Để tương lai trả lời.
Rồi chú quay ra, đạp máy xe rồ ga đi thẳng.
Ngoài đường, tôi thoáng thấy những thanh niên mang băng tay đỏ, cầm súng chạy lăng xăng.
Chiều đến, má tôi hốt hoảng nhớ tới bầy cháu ngoại ở Sàigòn, má nói tôi ráng mang gạo cho chị tôi, để mấy đứa nhỏ đói tội nghiệp.
Tôi cảm thấy sợ hãi khi phải đi ra ngoài trong giờ phút này, nhưng cũng chất gạo lên xe Honda chạy ra xa lộ đi về Sàigòn.
Dọc đường, vẫn còn súng nổ, vẫn còn lính ta chạy tới chạy lui, quần áo lính vứt rải rác khắp nơi, và rất nhiều đàn ông mặc thường phục đi bộ về phía Sàigòn. Những chiếc xe tăng cắm cở Xanh dương và đỏ chạy rầm rộ trên đường, chạy qua mặt tôi một cách hung tợn, cũng huớng về Sàigòn. Tôi sợ lắm, bậm gan rồ ga chạy thục mạng.
Bất chợt, tôi nhìn thấy ở vệ đường, một người lính mặc đại lễ mầu trắng với những huy chương đeo đầy trên ngực áo, nắm bất động, mặt đầy máu, quay về phía đường lộ, bên cạnh chiếc xe Vespa lật nghiêng. Tôi thảng thốt kêu lên:
“Chú Ba Cảnh Sát!”
Tôi muốn dừng lại, xem có phải thật sự là chú Ba hay không?
Chú còn sống hay đã bị bắn chết?
Nhưng giòng người xô đẩy, tiếng súng hai bên nổ vang, rồi xe chở lính Việt Cộng chạy tới, xe tăng, thiết giáp bắn nhau qua lại, tôi không thể nào ngừng lại.
Tôi bật khóc, nhìn chú Ba một lần chót rồi run rẩy chạy xe đi.
Tôi nhớ lại hồi sáng, sau khi chú Ba đi được khoảng một tiếng đồng hồ thì một đám những tên đeo băng tay đỏ, những tên đội nón tai bèo, đã kéo lá cờ VNCH xuống, xé tan nát đi. Tôi vụt chạy ra muốn giựt lại lá cờ, nhưng vừa mới ra tới cửa, đụng phải một đám đá cá lăn dưa cầm súng chĩa tứ phía, làm tôi sợ quá, dội trở lại. Lúc đó, tôi đã giận chú Ba hết sức, tại sao không kéo lá cờ xuống mà cất đi, để nay bị cái đám người này xé nát.
Bây giờ, nhìn chú Ba nằm đó, tôi lại nhớ câu nói cuối cùng của chú:
“Cứ để lá cờ ở đó, trong đầu óc của chú sẽ nhớ mãi hình ảnh lá cờ VNCH tung bay trong gió. Sau này, lá cờ sẽ ra sao? Để tương lai trả lời.”
Tôi không giận chú Ba nữa, và nghĩ rằng, chú Ba đã làm đúng!
Chú Ba ơi, trong đầu óc chú bây giờ, lá cờ Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn tồn tại, vẫn còn tung bay trong gió, trong vĩnh cửu, phải không chú?
Những ngày sau đó, rất nhiều khuôn mặt xuất hiện. Những khuôn mặt này rất quen thuộc với người dân Dĩ An trước đây, nhưng bây giờ họ đã trở thành khác hẳn:
Họ quấn khăn rằn, đội nón tai bèo, hiện nguyên hình Việt Cộng.
Bà con đi chợ nói với nhau:
- Cái đám này, hồi đó đã bị Cảnh Sát chìm, bị lính của Ông Quận mình bắt nhốt hết trơn rồi đó đa. Nhưng bị báo chí nói lung tung là bắt dân vô tôi, nên mới phải thả tụi nó ra. Nay thì rõ ràng quá rồi, phải chỉ hồi đó xử tử hết tụi nó đi, đỡ khổ . . .
Một thời gian ngắn sau đó, những người Bắc Kỳ lại xuất hiện, chúng tôi kêu họ là “Bắc Kỳ 75”. Những Bắc Kỳ này láu cá và hỗn láo vô cùng, khác xa với “Bắc Kỳ 54” xưa. Bắc Kỳ 54 ăn nói nhỏ nhẹ, cái gì cũng cười, thì đám Bắc Kỳ 75 đội nón cối, đi chân đất, luôn miệng chửi thề. Khi nói chuyện, họ xưng ông xưng cha với chúng tôi và sẵn sàng đe dọa:
- Ông báo công an, bắt bỏ cha chúng mày đi bây giờ!
Mỗi lần ngày 30 tháng Tư trở lại, tôi lại nhớ tới quận Dĩ An, nhớ tới ông Quận TQLC Sát Cộng, nhớ tới Chú Ba Cảnh Sát. Tôi đã kể cho chồng con tôi nghe về những người này, không biết họ còn sống hay đã chết? Chồng tôi hỏi, tôi còn nhớ tên những người hùng này hay không? Lâu quá rồi, hơn nữa, hồi đó, tôi còn quá nhỏ để mà nhớ.
Mỗi lần đi ngang những đài tưởng niệm chiến sĩ VNCH, tôi đều cầu nguyện cho họ.Bất chợt, một hôm đọc Việt Luận, đọc bài “Cuộc Đời Đổi Thay” tôi mới biết ông Quận Trưởng Dĩ An , ông Quận TQLC Sát Cộng, Trung Tá Nguyễn Minh Châu, ông còn sống, đang ở bên Mỹ. Tôi mừng quá, kêu chồng tôi:
- Anh ơi, ông Quận . . . Ông Quận Dĩ An nè, ổng còn sống, ổng viết báo nè! Anh coi hình ổng nè, ổng bận đồ rằn ri, oai hùng lắm nè! Thấy hông, em nói mà!
Chúc mừng ông Quận được bình yên sau những đổi thay của cuộc đời.
Cám ơn ông Quận, đã gìn giữ an ninh trong quận, đã sát cộng, để những người dân Dĩ An như tôi có một cuộc sống yên ổn, cho tới ngày 30 tháng Tư.
NGƯỜI VIỆT CỦA TÔI, LÀ THẾ ĐẤY!
NGUYỄN KHẮP NƠI.
Ðọc “Nguyễn Khoa Nam”
Tổng hợp và trình bày: Nguyễn Mạnh Trí - Trần Ðỗ Cẩm Nếu chỉ nói về tướng tuẫn tiết Nguyễn Khoa Nam thì cuốn sách dày 326 trang, nhưng nếu kể cả phần viết về những tướng lãnh khác đã chọn cái chết cho trọn nghĩa với đất nước như tướng Lê Văn Hưng, Phạm Văn Phú, Lê Nguyên Vỹ và Ðại tá Hồ Ngọc Cẩn thì tác phẩm Nguyễn Khoa Nam dầy đến 571 trang. Một người có sức đọc nhanh, đọc một tối 100 trang cũng phải mất cả tuần lễ. Như thế cũng đủ hiểu, sự đóng góp của các tác giả nhiệt tình biết chừng nào và cựu Hải Quân Trung Tá Nguyễn Mạnh Trí và Trần Ðỗ Cẩm cũng đã phải bỏ khá nhiêu công phu để hệ thống hóa, sửa chữa và tổng hợp bài vở.
Người điểm cuốn sách này vốn là một phóng viên mặt trận trong thời gian chiến tranh Việt Nam, có mặt trong khá nhiều trận đánh đẫm máu giữa Chiến Ðoàn 3, rồi Lữ Ðoàn 3 Nhảy Dù của Ðại Tá Nguyễn Khoa Nam với Cộng quân. Trận đánh trên đỉnh Ngọc Văn 1416 ở Kontum 1967, tôi được giúp đỡ cơ hội để lội theo các cánh quân của Tiểu Ðoàn 3 Nhảy Dù do Thiếu Tá Nguyễn Viết Cần chỉ huy thay thế Thiếu tá Trần Quốc Lịch công du ngoại quốc. Trong trận này, lần đầu tiên trong đời làm phóng viên mặt trận, tôi được tham dự cuộc tấn công vào ban đêm của các đơn vị Nhảy Dù, và tôi suýt đã bị “té” khi một viên AK-47 trúng vào chiếc ba lô đeo sau lưng. Viên đạn xuyên qua chiếc máy chữ Olivetti nhỏ (dùng để viết tin và bài vì thời đó chưa có computer) để ở trong cùng với khoảng một chục cuốn băng nhựa reel-to-reel dùng cho chiếc máy ghi âm UHER-2000L. May mắn, chiếc ba lô rách toang nhưng đầu đạn kẹt trong máy chữ, chỉ nhô ra khỏi lớp vải ba lô chạm nhẹ vào thanh thép chéo giữ cho chiếc ba lô ép sát vào lưng. Ấy vậy mà sức chạm của viên đạn cũng làm tôi ngã chúi xuống một bụi cây. Khi Bộ Chỉ Huy Chiến Ðoàn lên được đỉnh núi, Trung Tá Nguyễn Khoa Nam đến bắt tay tôi khích lệ và hỏi thăm xem có vết thương không, đoạn ông thúc giục tôi làm phỏng vấn ghi âm cho lẹ để rời mặt trận trên chuyến trực thăng tải thương cuối cùng trước khi trời tối. Tôi từ chối lấy cớ là tôi không nên chiếm một chỗ nào của thương binh, dù tôi biết hảo ý của Trung Tá Nam muốn tôi ra khỏi mặt trận an toàn với những cuốn băng ghi âm đầy những tài liệu ghi âm tại chỗ để tôi có thể gởi đến hàng triệu thính giả của Ðài Phát Thanh Quốc Gia về trận đánh lừng danh này (trận đánh khiến cho có đến 1,600 Cộng quân thiệt mạng chung quanh vùng núi rừng trùng điệp này). Mà quả thật chuyến trực thăng tản thương chiều hôm đó có quá nhiều thương binh, nên ông Chiến Ðoàn Trưởng đành chịu.Tôi chọn một vị trí tự đào hố cá nhân bên một gốc cây. Trải chiếc poncho, lấy trong túi ra một khẩu phần C-Ration, chọn mấy chiếc bánh bắp nuốt cho qua bữa với vài ngụm nước dự trữ trong chiếc bi-đông nhựa, loại lớn của TQLC Hoa Kỳ, rồi thiếp đi cho đến khi có những tiếng lưu đạn nổ ở phần sườn núi gần chỗ tôi ngủ. Bọn đặc công lợi dụng đêm tối mò lên ném lưu đạn vào những vị trí chúng nghi có có chốt đóng quân của ta. Lập tức hỏa châu được soi sáng và một cuộc chạm súng nhẹ kéo dài khoảng 5 phút. Nhảy dù có 2 người bị thương. Sáng hôm sau, ngay khi trời hừng sáng trực thăng đến tản thương, Trung Tá Nam đẩy tôi lên trực thăng ngay để về Kontum. Phóng viên Dương Phục theo cánh quân của Thiếu Tá Trần Kim Thạch cũng phải rời mặt trận theo lời yêu cầu của Trung Tá Nam cũng với lòng nhân hậu là tránh nguy hiểm cho Phục. Năm 1968, chúng tôi gặp ông ở Ái Tử, có hỏi lý do ông “đuổi” chúng tôi khỏi mặt trận sớm như thế, ông cười và nói: “Các cậu chưa phải là nhà binh. Ðể các cậu ở lại nhỡ ra các cậu té thì làm gì chúng tôi còn dịp nào để nghe các phóng sự của cậu và bà con hậu phương làm thế nào hiểu được những gì đã xảy ra ở cái đỉnh núi ấy?” Xong, ông thân mật: “Bữa nào rảnh về Saigon, tớ rủ cậu với Dương Phục đi nhảy mấy saut bồi dưỡng hả?” (từ ngữ bồi dưỡng không phải là tiếng Việt Cộng dùng mà dưới thời VNCH, Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù gọi những lần nhảy ngoài 7 lần nhảy (6 ban ngày và 1 nhảy đêm) để lấy bằng thì được gọi là nhảy bồi dưỡng, thường là từ 4 đến 8 sauts nhảy hàng năm). Lần hẹn nhảy bồi dưỡng ấy không bao giờ được thực hiện bởi vì chúng tôi đều bị đẩy vào những cơn lốc của chiến cuộc ở những vị thế khác nhau cho đến ngày mất Miền Nam.
Vâng, trong suốt 426 trang sách viết về Tướng Nguyễn Khoa Nam đầy ắp những kỷ niệm nhẹ nhàng và trong sáng về con người và nhân cách của ông. Những kỷ niệm ấy cho thấy, Tướng Nam lớn hơn những vì sao ông đeo trên cổ áo, vĩ đại hơn cả vùng lãnh thổ mà ông được trao để bình định, để chỉ huy. Ðến nỗi, cựu chuẩn tướng Trần Quốc Lịch nguyên tư lệnh Sư Ðoàn 5 BB mà trước đó từng là tiểu đoàn trưởng xuất sắc của Nhảy Dù dưới quyền chỉ huy của chiến đoàn trưởng rồi Lữ Ðoàn Trưởng Nguyễn Khoa Nam đã viết ở trang 214 như sau:
“...Trách Nhiệm và Danh Dự là hai gánh nặng luôn luôn đè nặng trên vai ông (tướng Nam). Quả thật ông là vị tướng tài đức khó ai bì kịp. Nhận định đó khiến tôi không ngạc nhiên khi được tin tướng Nam tuẫn tiết vào ngày mất nước. Ðiều đáng nói là xưa kia, một vị Tướng thường chỉ tuẫn tiết khi bị địch đánh mà không giữ được thành. Nhưng chúng ta ai cũng biết mất nước, mất thành không phải lỗi của tướng Nam mà là do các cấp lãnh đạo quốc gia và tình hình thế giới. Vậy mà tướng Nam cũng cũng như vài vị tướng khác (các tướng Trần Văn Hai, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Phạm Văn Phú-NÐ) vẫn tuẫn tiết bởi vì không thể sống để nhìn thấy đất nước bị rơi vào tay kẻ thù. Lòng trung dũng của ông quả là cao độ. Con người ông thật đáng cho chúng ta tôn thờ. Tên tuổi ông sẽ đi vào lịch sử.”
Tuẫn tiết thời nay thường là một phản ứng nhanh gọn bằng cây súng và quyết định chỉ kéo dài trong vòng vài phút. Nhưng hình ảnh tuẫn tiết của tướng Nguyễn Khoa Nam là hình ảnh ngược lại chỉ tìm thấy được trong cổ sử. Có nghĩa là ông lựa chọn cái kết thúc của thân làm tướng bằng sự chuẩn bị cho một thiên bi hùng ca về quân lực Việt Nam Cộng Hòa, một thiên bi hùng ca giống như những lát dao hằn sâu vào những trang vàng sử sách, vĩnh viễn không có quyền lực nào có thể xóa đi được. Trong suốt những năm dài trong các trại cải tạo của Cộng Sản sau ngày 30-4-1975, chúng tôi tôn thờ hình ảnh của những tướng lãnh đã chọn cái chết trong danh dự, dùng những hình ảnh ấy để giữ sự đoàn kết anh em tù cải tạo với nhau, giữ vững giềng mối có trên, có dưới cho dù có bị đẩy vào hoàn cảnh bi phẫn nhất. Chúng tôi nói về những cái chết này bằng những lời kể đầy chất huyền thoại về tướng Nguyễn Khoa Nam. Vì là huyền thoại cho nên vô tình chúng tôi đã biến tướng Nam thành một vị Thánh chứ không còn là người trần thế nữa. Chúng tôi đã vô tình cởi áo ông, lột lon ông khiến ông cũng không còn là hình ảnh của một “người lính” nữa. Bản thân chúng tôi vào những lúc ấy cần một người lính, cần một bậc đàn anh trọn vẹn tài đức, trọng danh dự và trách nhiệm hơn là cần một vị thánh.
Năm 1989 tôi được thả. Sau khi tìm ra được một công việc làm bằng chân tay, cần sức khỏe mà không cần đầu óc, tôi bắt đầu thăm hỏi người này, người kia về cái chết của Tướng Nguyễn Khoa Nam, nhưng mỗi người nói khác nhau. Những thắc mắc của tôi kéo dài cho đến khi đọc được hồi ký của cựu Trung úy Lê Ngọc Danh, nguyên tùy viên của Tướng Nguyễn Khoa Nam cho đến ngày 1-5-1975. Hồi ký này chiếm từ trang 376 cho đến trang 415 sách “Nguyễn Khoa Nam”, trong đó ông mô tả rất chi tiết từ lúc tướng Nam rời Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 7 BB để về làm Tư Lệnh Quân Ðoàn IV và Vùng IV Chiến Thuật thay thế tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, thời gian làm việc và theo chân Tư Lệnh đi khắp vùng... cho đến những ngày hấp hối của chế độ, thời gian chứng kiến được sự chuẩn bị cho cái chết dũng liệt của “ông thầy”.
Không văn vẻ, nhưng rất chi tiết, tác giả Lê Ngọc Danh đã đắp được bức tượng hoàn chỉnh của người lính chiến mà anh em chúng tôi ngưỡng mộ. Một trong những chi tiết nhỏ, nhưng rất quan trọng mà tôi tin rằng độc giả sẽ chú ý, đó là tấm khăn trắng trải trên chiếc bàn ăn dài trong phòng ăn ở tư dinh của Tư Lệnh. Tác giả Lê Ngọc Danh viết ở trang 379:
“Tầng dưới (của tư dinh) khi bước vào cửa: bên trái là phòng thuyết trình cũng là nơi làm việc của tùy viên, phía trên vách tường có bản đồ của Vùng IV Chiến Thuật, bàn làm việc của tùy viên và một bộ sofa. Bên phải là phòng thờ Phật với bàn thờ Phật đặt giữa bức tường phía sau. Trên bàn thờ Phật có tượng Phật Thích Ca, phía bên phải bàn thờ Phật có một cái chuông nhỏ, giữa là lư hương điện cắm nhang được, bên trái là đĩa trái cây và hai cây đèn cầy bằng điện ở hai bên bàn thờ. Trước bàn thờ độ 2 thước có một bộ sofa (bộ sofa này là nơi Tư Lệnh ngồi trước khi tự sát). Bên phải phòng thờ Phật là phòng ăn của Tư Lệnh, phòng rất dài, trên 10 thước đặt một bàn ăn dài trải vải trắng (tấm vải trắng này đã đắp cho Tư Lệnh khi ông chết). Trong phòng ăn có hồ cá kiểng, máy TV và ít tranh ảnh trên tường...”
Lê Ngọc Danh còn nhấn mạnh ở trang 383 về một chi tiết cũng đáng chú ý khác:
“Trong thời gian từ Sư Ðoàn 7 Bộ Binh cho đến khi về làm Tư Lệnh Quân Ðoàn IV, tôi thấy Tư Lệnh sống rất cô đơn, không thấy hay ít ai đến thăm., thỉnh thoảng lên họp ở Saigon về nhà ở số 403 đường Lê Ðại Hành, trước cửa trường đua Phú Thọ. Tư lệnh suốt ngày làm việc, ngoài những lúc đi thăm các đơn vị, thời gian rảnh rỗi tôi đều thấy ông có mặt ở trung tâm hành quân. Tư lệnh làm việc mỗi ngày đến sau 6 giờ chiều mới về tư dinh. Buổi trưa ông ăn cơm ở câu lạc bộ Cửu Long, tối về trung sĩ Hộ (quản gia) nấu ít món ăn đơn giản để Thiếu Tướng dùng và ông không bao giờ than phiền ngon, dở. Tư lệnh không uống rượu, có lần party ở Tiểu Ðoàn 7 Quân Y ở Ðồng Tâm, ông chỉ uống một chút champagne. Thỉnh thoảng Tư Lệnh nói chuyện với tôi. Có lần thấy Tư Lệnh vui vẻ nói chuyện, tôi đưa đề nghị với ông:
- Cơm ở câu lạc bộ chắc không ngon miệng, vì thề em sẽ nói Trung sĩ Hộ lo cơm trưa để Tư Lệnh về ăn thay vì xuống câu lạc bộ.
Tư lệnh ôn tồn nói:
- Thôi lính tráng ăn sao qua ăn vậy.
Ðối với thuộc cấp, Tư Lệnh ăn nói nhẹ nhàng, thường gọi thuộc cấp là em hay cấp bậc kèm theo tên, còn tư lệnh thì xưng “tôi” hay “qua”. Tư lệnh rất trân trọng và tiếp xúc ngay, gặp mặt hay bằng điện thoại với các đơn vị trưởng, nói chung là các quân nhân. Còn các bà quả phụ qua điện thoại xin gặp Tư Lệnh, ông từ chối và bảo cần việc gì có Thiếu tá Ðức Chánh Văn Phòng, tôi hay Trung úy Việt giải quyết... Còn các xì thẩu (những ông chủ người Hoa ở Cần Thơ nhiều lần xin gặp Tư Lệnh nhưng ông đều lấy lý do bận việc để không gặp họ...”
Hoặc ở trang 385:
“Mỗi buổi sáng, trước 7 giờ, trước khi Tư Lệnh đi làm việc, mặc quân phục xong, đến bàn thờ đốt nhang xá Phật, cắm hương vào lư nhang và gõ vài tiếng chuông. Chiều về, sau khi đến phòng thuyết trình xem tình hình tổng quat, tắm rửa, ăn tối, xem truyền hình ở phòng ăn, sau đó đến bàn phật đốt nhang như buổi sáng trước khi vào trailer ngủ. Tư Lệnh có thói quen mỗi buổi sáng trước khi đi làm việc, tôi đứng nghiêm chào, Tư Lệnh chỉ đưa tay cỡ tầm ngực đáp lại và mỉm cười, ngày này qua ngày khác không nói gì thêm”.
Có nhiều cách nhìn về cái dũng của một vị tướng và cách nhìn cũng thay đổi tùy theo từng giai đoạn, từng thời và từng dân tộc. Nhưng dân gian ở Miền Nam Việt Nam vào thời gian chiến tranh lan rộng vẫn ngưỡng mộ những quân nhân “tỉnh” và “tỏ được bản lãnh” trước mối hiểm nguy. Tác giả Lê Ngọc Danh cũng không thoát khỏi cái thông tục này. Ông kể ở trang 386:
“Có lần Tư lệnh đi thăm một tiểu đoàn của Trung Ðoàn 12 đang đánh nhau với Việt Cộng ở Long Khốt sát biên giới giữa tiểu khu Kiến Tường và Kampuchia. Tư lệnh đáp trực thăng xuống thăm đơn vị trong khi Việt Cộng đang pháo bằng hỏa tiễn 122 ly cách đơn vị không xa. Vị tiểu đoàn trưởng thấy vậy đến gần tôi nói:
- Danh cho trực thăng về phi trường Mọc Hóa đậu, chừng nào xong, goi đến rước Tư Lệnh, ở đây nguy hiểm quá, rủi 122 ly nổ trúng thì chết tao.
- Vâng để tôi trình Tư Lệnh.
Tôi đến gần Tư Lệnh và nói:
- Trình Thiếu Tướng, em cho trực thăng về phi trường Mộc Hóa, chừng nào xong em gọi lên rước.
Tướng Nguyễn Khoa Nam trầm ngâm không trả lời. Một lúc sau, vị tiểu đoàn trưởng lại thúc tiếp:
“Pháo nổ gần quá, nguy hiểm, Danh cho trực thằng về Mộc Hóa đi.
Một lần nữa tôi đến gần Tư Lệnh, nhỏ giọng nói:
- Trình Thiếu tướng, em cho trực thăng về...
Nói chưa hết câu Tư Lệnh xoay qua hướng tôi, nghiêm nét mặt nói:
- Lẩm cẩm hoài! Lẩm cẩm hoài!
Tôi cụt hứng, tiu nghỉu không dám nói gì thêm. Tư lệnh ở lại thăm đơn vị trực thuộc trong khi pháo nổ ngay bên cạnh hơn nửa giờ, Tư Lệnh mới cho trực thăng cất cảnh về Cần Thơ”.
Bây giờ đã vào trung tuần Tháng Tư. Mùa xuân ở Nam California đang rộ lên thật đẹp. Nhưng lòng người Việt tha hương vẫn vương buồn, có lẽ vì chưa ai có thể quên được tấn bi kịch của đất nước cách đây 32 năm. Lẫn trong những điệu buồn vẫn còn vang vọng, bức tượng Nguyễn Khoa Nam Tuẫn Tiết được tác giả Lê Ngọc Danh xây dựng bằng những gì ông đã chứng kiến giờ phút cuối cùng của người Thầy của mình. Lối hồi tưởng của ông chân thật, câu văn không mài giũa, tình cảm không che đậy sẽ khiến cho người đọc có thể yên tâm rằng đây là những nét chấm phá cuối cùng cho một tác phẩm điêu khắc bằng đá hình ảnh của một bậc anh hùng.
Từ trang 389 đến trang 391, tác giả Lê Ngọc Danh lược qua tình hình quân sự “không thể cứu vãn được nữa” của Miền Nam Việt Nam, những phản ứng vẫn tích cực cho việc điều động và phòng thủ của Tướng Nguyễn Khoa Nam cho đến khi có lệnh đầu hàng qua hiệu triệu của Tổng Thống Dương Văn Minh sáng 30-4-1975. Tác giả viết ở trang 392:
“...Tôi lặng người chầm chậm bước ra. Trong lúc này nhiều lần Tư Lệnh Phó (tướng Lê Văn Hưng-NÐ) liên tục đi vào cửa chánh gặp Tư Lệnh. Qua điện thoại, Ðại Tá tiểu khu trưởng Tiểu Khu Long An xin gặp gấp Tư Lệnh, lần thứ hai Ðại Tá xin giật sấp cầu Long An để cắt đường Việt Cộng chuyển về vùng IV. Tư Lệnh bảo tôi chuyển lời, cầu để yên không được phá sập. Vào gần trưa tôi được báo cáo là Thiếu tá Chánh Văn Phòng rời văn phòng bỏ đi với Ðại Tá Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Phong Dinh cùng một số sĩ quan khác, lộ trình từ sông Hậu ra biển. Tôi vội xuống hầm, nơi làm việc của Tư Lệnh để báo cáo cho ông rõ. Căn hầm này là phòng làm việc thứ hai của của Tư Lệnh ngay dưới phòng làm việc chính thức, được xây dựng lúc vùng I và vùng II đang xảy ra những trận đánh lớn. Hầm này rộng và cao, thiết trí giống như phòng làm việc ở tầng trên, có lối đi xuống từ văn phòng Tư Lệnh. Thấy tôi, theo lệ thường ông kéo lệch cặp mắt kiếng xuống và hỏi:
- Có gì không?
- Trình Thiếu Tướng, Thiếu tá Chánh Văn Phòng và Ðại tá Tỉnh Trưởng Phong Dinh (tỉnh lỵ là Cần Thơ-NÐ) đi cùng với một số sĩ quan bằng tầu theo sông Hậu.
Tư lệnh không giận. Ông điềm nhiên hỏi:
- Ði hả! Ði làm chi vậy?
Nói xong Tư Lệnh tiếp tục xem giấy tờ, thái độ trầm tĩnh như không có gì xảy ra...”
Thực tình mà nói, phải cố gắng lắm tôi mới có thể đọc hết những trang mô tả diễn biến tiếp theo vào giờ phút cuối cùng giữa Tướng Nguyễn Khoa Nam và người tùy viên trung thành của ông. Trang nào cũng làm mắt tôi cay xè. Văn phong của tác giả Lê Ngọc Danh là thể loại kể lể, đều đều... nhưng mỗi dòng của ông vẫn cứ khiến nước mắt tôi cứ trào ra. Có lẽ tôi cũng ở vào hoàn cảnh giống ông Danh và cũng là người cuối cùng rời bỏ Hệ Thống Truyền Thanh Quốc Gia, cơ quan tôi đã làm việc liên tục từ 1964 đến 11 giờ sáng 30-4-1975. Nhưng ông Danh may mắn hơn vì còn Tư Lệnh ở bên cạnh để mà nhận lệnh, còn hoàn cảnh tôi thì những người có trách nhiệm lãnh đạo ngành đã bỏ đi từ mấy ngày trước. Chúng ta, những cấp chỉ huy thừa hành, vào những giây phút lâm nguy ấy, ai cũng cần được chỉ huy. Thói thường, dù biết rằng tình hình khó có thể cứu vãn, nhưng nếu có những chỉ thị từ thượng cấp, mình vẫn thấy đỡ “lạnh cẳng” hơn.
Từ trang 393 đến trang 396, tác giả Lê Ngọc Danh dùng để hồi tưởng lại thái độ ung dung, trầm tĩnh của vị Tư Lệnh Quân Ðoàn IV trong việc ông chỉ định Ðại Tá Thiên lên thay thế vị Ðại Tá tỉnh trưởng Phong Dinh bỏ đi, việc ông ra lệnh gỡ bỏ những đường ranh giới và những mũi tên làm bằng băng keo trên bản đồ hành quân, việc ông ngồi đọc lại những tài liệu cần phải huy bỏ, việc ông còn bình thản xuống câu lạc bộ Cửu Long dùng cơm vào trưa 30-4 trước khi trở lại tiếp tục những chuẩn bị mà tác giả nghi là do ông đã có quyết định về cái chết trong danh dự của mình, việc ông tiếp những đại diện Việt Cộng đến nói chuyện tiếp quản, và nhất là chi tiết tác giả đề cập đến việc ông thăm thương bệnh binh tại bệnh viện quân và dân y Phan Thanh Giản Cần Thơ lần cuối cùng:
“Tư Lệnh đi từ đầu phòng đến cuối phòng hỏi thăm từng bệnh nhân, rồi ông đi qua dãy kế bên và tiếp tục. Hơn một giờ nặng nề và buồn bã chầm chậm trôi qua. Gần giường một thương binh, anh cụt hai chân, vải băng trắng xóa, máu còn rịn ra lóm đỏ cuối phần chân đã mất. Tư Lệnh đứng sát bên và hỏi:
- Vết thương của em đã lành chưa?
- Thưa Thiếu tướng, vết thương mới mấy ngày còn ra máu, chưa lành.
Với nét mặt buồn rầu, Tư Lệnh nhíu mày lại làm cặp mắt kiếng đen lay động. Ông chưa kịp nói, anh thương binh này bất chợt chụp tay ông mếu máo:
- Thiếu tường đừng bỏ tụi em nghe Thiếu Tướng!
- Qua không bỏ các em đâu. Qua ở lại với các em.
Qua ánh đèn của bệnh viện, tôi thấy Tư Lệnh đưa tay sửa cặp mắt kính đen và hai giọt nước mắt từ từ chảy dài trên khuôn mặt đau thương của ông. Tư lệnh cố nén xúc động nhưng người đã khóc, khóc không thành tiếng và những giọt nước mắt tự nhiên tuôn trào. Tư Lệnh vịn vai người thương binh nói trong nghẹn ngào:
- Em cố gắng điều trị... có qua ở đây...”
Vâng, có ông “ở đây” thật nhưng ở với phần hồn, với tinh thần bất khuất của một quân nhân trung liệt với đất nước. Còn phần xác thì chỉ là cát bụi. Thân làm tướng, ông chưa để mất thành nhưng các nhà lãnh đạo lại không giữ được nước. Ông không có lỗi gì, nhưng ông đã tự xử để nêu cao danh dự trách nhiệm của một tướng lãnh, và đồng thời cũng là để rửa mặt cho toàn thể quân và dân Miền Nam Việt Nam. Ở trang 407 của sách Nguyễn Khoa Nam, tác giả Lê Ngọc Danh mô tả sự bàng hoàng và niềm đau như dao cắt ở những giây phút cuối cùng trong đời của một tướng lãnh yêu nước, tận tụy và nhân hậu:
“Từ ngoài nhìn vô bàn Phật, Tư Lệnh ngồi trên ghế sofa phía bên phải, đôi mắt đăm chiêu nhìn lên bàn thờ. Anh Việt bước ra cửa để về thăm vợ con, còn Trung sĩ Hộ đang thập thò trước cửa. Tư lệnh đứng dậy đến bàn thờ lấy 3 cây nhang đốt, xá ba xá căm vào lư hương, gõ ba tiếng chuông... xong xá ba xá tiếp rồi về ngồi lại nơi cũ, hai tay để trên thành gỗ sofa như không có chuyện gì sắp xảy ra cả. Bất chợt Tư Lệnh xoay qua bảo tôi:
- Danh ra ngoài bảo Việt (tùy viên thứ hai của tướng Nam - NÐ) dẫn vợ con đi đi.
- Dạ.
Tôi thầm nghĩ Tư Lệnh và tôi đều độc thân, chắc Tư Lệnh nghĩ cách khác. Tôi đẩy nhẹ cánh cửa bước ra sân hướng về phòng Trung Úy Việt. Vừa đi khỏi cột cờ một chút là tôi nghe thấy tiếng súng nổ từ hướng bàn thờ Phật. Tôi chưa kịp xoay người trở lại thì Trung sĩ Hộ chạy ra la thất thanh:
- Ðại úy! Ðại úy ơi! Thiếu Tướng tự sát chết rồi.
Trong lúc sợ hãi anh Hộ đã gọi tôi là đại úy. Tôi chạy nhanh vào phòng thì một cảnh tượng hãi hùng. Tư Lệnh ngã ngửa, hơi lệch về phía sau sofa, đầu nghiêng về bên trái, khẩu Colt 45 (loại súng lục dành cho các sĩ quan quân đội khi tác chiến dùng để làm súng lệnh, trong lịch sử chiến tranh nhiều sĩ quan đã tự sát bằng chính súng lệnh của mình-NÐ) vẫn còn trong tay buông thõng xuống lòng, nhưng các ngón tay cầm súng đã nới lỏng, đầu đạn xuyên màng tang phải qua trái, mắt ngước nhìn lên trần nhà...”
Lúc đó là khoảng 7 giờ 30 sáng ngày 1-5-1975.
Tư Lệnh Quân Ðoàn IV và Vùng IV Chiến Thuật, Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam đã chọn con đường tự sát để bảo toàn danh dự và để không bị rơi vào tay địch. Ông đã chuẩn bị khá kỹ lưỡng cho sự lựa chọn của ông. Ở trang 407, những dấu hiệu đầu tiên của lựa chọn đã được cựu Trung úy Lê Ngọc Danh mô tả rất cảm động với bối cảnh là sân thượng của tư dinh, con đường Hòa Bình và thời gian là chiều 30-4-1975:
“Tôi linh tính có điều gì sẽ xảy ra. Tư lệnh chầm chậm bước theo nấc thang lên tầng trên, tôi và anh Việt nối bước theo sau. Tư lệnh ra sân thượng đứng sát bên lan can, mắt nhìn ra lộ Hòa Bình trước cửa dinh, tôi đứng phía tay phải Tư Lệnh, anh Việt đứng bên trái. Vài xe qua lại trên lộ, người đi lại thưa thớt vắng vẻ như chiều 30 Tết. Bất chợt Thiếu Tướng bật khó. Dù cố nén để tiếng khóc không bật thành tiếng, nhưng những giọt nước mắt cứ cuộn tròn chảy dài trên khuôn mặt đau buồn của Tư Lệnh trước cảnh nước mất nhà tan. Tôi và anh Việt cũng khóc theo, không còn kềm hãm nữa cứ để cho những dòng lệ tự do chảy...”
Tôi đọc xong 571 trang tác phẩm “Nguyễn Khoa Nam” trên đường bay từ Los Angeles đi Ðài Loan và trên đường bay chuyến khứ hồi, nhân chuyến công tác cho tòa báo vào tuần trước. Do có tật ít khi ngủ được trên máy bay dù là đường bay dài, cho nên ngoài những bữa ăn, tôi dùng hết thời giờ đọc kỹ những hồi ức của rất nhiều tác gỉa về tướng Nguyễn Khoa Nam. Ngồi ghế cạnh tôi là một vị cao niên người Phi Luật Tân. Ông tự giới thiệu là cựu sĩ quan trong quân đội Phi Luật Tân từng tham chiến ở Việt Nam, đơn vị đóng ở Tây Ninh. Có lẽ vì đèn cá nhân trên trần máy bay của loại Boeing 747 tôi bật lên để đọc sách sáng quá có thể làm cho vị cao niên này hơi khó ngủ. Ông hỏi tôi: “Tôi thấy ông đọc suốt nửa đường bay rồi, chắc nó hấp dẫn?”. Tôi xin lỗi, rồi đưa cho ông xem bìa cuốn sách và giải thích. Ông vội kêu lên: “Á tôi có nghe nói đến chuyện này trên báo chí Phi Luật Tân năm 1975, lúc tôi còn ở Manila chứ chưa đi định cư”. Tôi chỉ nói cho ông bạn đường người Phi qua loa về nội dung để ông hiểu tại sao tôi lại có thể đọc liên tiếp trong 12 tiếng đồng hồ, rồi lại tiếp tục đọc cho tới khi phi công loan báo phi cơ chuẩn bị đáp xuống phi trường Ðào Viên (Taoyuan).
Hiển nhiên tác phẩm hấp dẫn không phải chỉ vì những chi tiết rõ ràng liên quan đến sự tuẫn tiết của các tướng Nguyễn Khoa Nam mà còn hấp dẫn ở những bài viết liên quan đến gốc gác của vị tướng này, đến dòng họ Nguyễn Khoa, đến ngài Bố Chánh Sứ Nguyễn Khoa Luận tức Viên Giác Ðại Sư Chùa Ba La Mật ở Huế và chuyện “Ðá vô sanh” ở trang 38 trích từ gia phả và cuốn sách của G. Riviere, đến mối liên hệ giữa dòng Nguyễn Khoa và Tuy Lý Vương ở những trang 68,69, đến bài viết về Thôn Vỹ Dạ của Nguyễn Phúc Bửu Diên và Phạm Thị Hoàng Oanh, đến bài “Nhớ Về Người Anh” của cựu TNS Nguyễn Khoa Phước vốn là em ruột Tướng Nam ở những trang 78-79, đến những kỷ niệm nho nhỏ với những người bạn như Vĩnh Bội, như Cao Văn Khánh và một người mà sau này làm tới Thượng Tướng Việt Cộng là Ðoàn Huyên (trang 82), đến Tiến sĩ Nguyễn Văn Hai với bài “Lá Thư Gởi Anh Nam” trong đó ông tiết lộ về năng khiếu hội họa của học sinh Nguyễn Khoa Nam thuở thiếu thời (trang 87).
Thế nhưng, bề thế nhất vẫn là những bài viết về Khóa 3 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức và về khoảng thời gian ông Nam tác chiến ở Nhảy dù, làm Tư Lệnh Sư Ðoàn 7 BB, rồi Quân Ðoàn IV Vùng IV Chiến Thuật. Ðây là những bài viết những, những tảng sơn, những khối đá được đẽo gọt dựng lên một cách đầy đủ Người Lính Trung Liệt Nguyễn Khoa Nam. Từ cựu Trung Tá Nguyễn Văn Phong, Lê Chu vốn là những bạn đồng khóa 3 SQTBTÐ với tướng Nam... cho đến những đồng đội của ông ở binh chủng Nhảy dù cũng như ở các đơn vị khác như Ðỗ Ðức Hạnh, Ðỗ Ðình Lũy, Khiếu Hữu Diêu, Nguyễn Thu Lương, Phạm Hy Mai, Hoàng Cơ Lân, Trần Quốc Lịch, Trương Dưỡng, Trần Xuân Lớn, Lê Ngọc Danh, Vương Hồng Anh, Nguyễn Mạnh Trí (cựu Hải Quân Trung Tá, cháu gọi tướng Nam bằng cậu), Phạm Trung Nghĩa, Trần Văn Lưu, Vanuxem-Dương Hiếu Nghĩa và Trần Thị Kim Ðính (phu nhân của cựu TNS Nguyễn Khoa Phước, em dâu tướng Nguyễn Khoa Nam), người đọc sẽ trầm mình vào những dữ kiện quan trọng làm nên con người Nguyễn Khoa Nam.
Từ trang 423 đến 426, bà Kim Ðính đã hoàn chỉnh những vết đục cuối cùng trên bức tượng Nguyễn Khoa Nam lẫm liệt, vĩ đại nhưng mộc mạc, giản dị và đẹp như con người ông, đứng sừng sững chế ngự trên những cánh đồng ruộng vườn xanh mênh mông, kinh rạch chằng chịt của vùng Ðồng Bằng Sông Cửu Long.
Ðặc điểm của tác phẩm nhiều người viết về Nguyễn Khoa Nam là khi chúng ta đã bắt đầu đọc những chương đầu thì sẽ không thể ngừng ở những chương sau trừ phi đêm trường và sức khỏe không cho phép. Tuy tác phẩm mang tên Nguyễn Khoa Nam, nhưng các tác giả đã không quên nói về các tướng lãnh khác cũng chọn con đường chết danh dự như tướng Nam: Lê Văn Hưng (Tư Lệnh Phó của Tướng Nam), Trần Văn Hai(Tư Lệnh Sư Ðoàn 7BB), Phạm Văn Phú (Tư Lệnh Quân Ðoàn II và Quân Khu II), Lê Nguyên Vỹ (Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 BB) và Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn Tỉnh Trường Kiêm Tiểu Khu Trưởng Chương Thiện, bị bắt tại mặt trận và VC đem ông về Cần Thơ xử tử). Ðó là chưa kể phần viết về các cuộc đối thoại với cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu của nhiều cựu sĩ quan và các bài viết khác về các tướng tuẫn tiết của các nhà báo ở hải ngoại.
Trong khuôn khổ của một bài điểm báo, tôi lấy làm tiếc là không thể trích dẫn hết được những phần quan trọng khác của tác phẩm, nhưng sẽ cố gắng điểm từng phần trong các số báo kế tiếp trong Tháng Tư. Tuy nhiên, ở những dòng kết thúc bài báo này, tôi vẫn không thể bỏ lại qua một đoạn trong bài “Nụ Hôn Vĩnh Biệt” của Phạm Trung Nghĩa viết về giây phút cuối cùng của tướng Lê Văn Hưng Tư Lệnh Phó của tướng Nam (trang 435)
“Lúc đó khoảng 8 giờ tối ngày 30-4-1975, bộ quân phục nghiêm chỉnh vẫn còn trên người Chuẩn Tướng. Bên trong phòng ngủ ông, ngay sát đầu cầu thang trên lầu, sau nụ hôn vĩnh biệt của phu nhân vừa kịp đặt lên mà chồng, ông tướng đã vội đẩy bà ra phía ngoài và đóng nhanh cánh cửa... Lúc quay người lại, thấy tôi còn đứng lại trong phòng, giọng ông Thảng thốt:
- Nghĩa! Mày đi ra!
Vừa nói, ông vừa nắm tay tôi lôi về phía cửa. Tôi bệu bạo:
- Tôi ở lại cùng Thiếu Tướng!
Sự dứt khoát của nghiêm lệnh hàng ngày trong giây phút xúc động mãnh liệt làm cho giọng nói của Chuẩn Tướng lạc đi... Tôi chợt òa khóc. Ðứng bên ngoài tôi và phu nhân nghe tiếng rít gài then khô khốc từ bên trong. Bất giác, tôi và bà tướng mọp người xuống nền gạch, cố đưa mắt nhìn vào khe hở dưới cửa. Mọi sự diễn ra không đầy một phút sau đó. Một tiếng nổ chát chúa vang lên bên trong cánh cửa...”
Và Trịnh Văn Ngạn-Huỳnh Văn Hoa viết ở trang 460-461 về sự tuẫn tiết của tướng Trần Văn Hai.
“Chuẩn tướng Tư Lệnh (Trần Văn Hai-SÐ7BB-NÐ) gục đầu mê man trên bàn làm việc. Một ly rượu lớn đã cạn ở trên bàn. Tôi biết điều gì đã xảy ra... Tôi liền trình bày qua điện thoại với Thiếu tá bác sĩ ở bệnh xá về tình trạng của Chuẩn Tướng Tư Lệnh. Một lát sau thiếu tá bác sĩ đến với xe cứu thương. Chúng tôi đặt chuẩn tướng Tư Lệnh nằm trên băng ca và chở xuống bệnh xá sư đoàn ngay. Lúc này ông đã mê man bất tỉnh. Tại bệnh xá sau một hồi tận lực cấp cứu, vị thiếu tá bác sĩ buồn rầu báo cho tôi biết, vì thuốc độc ngấm vào máu đã lâu, Chuẩn tướng Tư Lệnh Không qua được cơn nguy kịch..”
Rồi Thanh Sơn viết lại theo lời kể của một nhân chứng đang làm việc tại Trung Tâm Hành Quân vào lúc vị Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh Lê Nguyên Vỹ tự sát bằng súng tại sân cờ Sư đoàn ở Lai Khê (trang 500) đúng lúc lúc địch đã bao vây Lai Khê và kêu gọi tướng Vỹ ra hàng:
“...Vì tôi là tướng chỉ huy mặt trận, nên không thể nào thi hành được lệnh đầu hàng. Tôi nghĩ thân làm tướng là đã phần nào được hưởng những ân huệ và vinh dự của quốc gia hơn các anh em nên tôi phải chọn con đường đi riêng cho tôi...”
Tướng Lê Nguyên Vỹ đã nói với các thuộc cấp như thế trước khi ông bình tĩnh bước ra sân nghiêm trang đứng dưới cột cờ của Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 BB tự sát bằng chính khẩu súng lệnh của ông.
Cảm khái trước những cái chết dũng liệt này, nhà thơ Cao Tiêu (cũng là một cựu sĩ quan cấp ngành Tâm Lý Chiến) đã viết hai cấu đối như thế này (trang 520):
Trận mất chẳng hàng, sử sách lưu truyền danh tuẫn tiết
Thân còn không tiếc, quân dân ca ngời tiếng anh hùng.
Tôi mạo muội dùng hai câu đối này thay cho lời kết thúc phẩn điểm sách và giới thiệu tác phẩm nhiều người viết “Nguyễn Khoa Nam”.
(Ðọc “Nguyễn Khoa Nam”, Tháng Tư năm thứ 32 ngày mất VNCH)
Vũ Ánh
Tổng hợp và trình bày: Nguyễn Mạnh Trí - Trần Ðỗ Cẩm Nếu chỉ nói về tướng tuẫn tiết Nguyễn Khoa Nam thì cuốn sách dày 326 trang, nhưng nếu kể cả phần viết về những tướng lãnh khác đã chọn cái chết cho trọn nghĩa với đất nước như tướng Lê Văn Hưng, Phạm Văn Phú, Lê Nguyên Vỹ và Ðại tá Hồ Ngọc Cẩn thì tác phẩm Nguyễn Khoa Nam dầy đến 571 trang. Một người có sức đọc nhanh, đọc một tối 100 trang cũng phải mất cả tuần lễ. Như thế cũng đủ hiểu, sự đóng góp của các tác giả nhiệt tình biết chừng nào và cựu Hải Quân Trung Tá Nguyễn Mạnh Trí và Trần Ðỗ Cẩm cũng đã phải bỏ khá nhiêu công phu để hệ thống hóa, sửa chữa và tổng hợp bài vở.
Người điểm cuốn sách này vốn là một phóng viên mặt trận trong thời gian chiến tranh Việt Nam, có mặt trong khá nhiều trận đánh đẫm máu giữa Chiến Ðoàn 3, rồi Lữ Ðoàn 3 Nhảy Dù của Ðại Tá Nguyễn Khoa Nam với Cộng quân. Trận đánh trên đỉnh Ngọc Văn 1416 ở Kontum 1967, tôi được giúp đỡ cơ hội để lội theo các cánh quân của Tiểu Ðoàn 3 Nhảy Dù do Thiếu Tá Nguyễn Viết Cần chỉ huy thay thế Thiếu tá Trần Quốc Lịch công du ngoại quốc. Trong trận này, lần đầu tiên trong đời làm phóng viên mặt trận, tôi được tham dự cuộc tấn công vào ban đêm của các đơn vị Nhảy Dù, và tôi suýt đã bị “té” khi một viên AK-47 trúng vào chiếc ba lô đeo sau lưng. Viên đạn xuyên qua chiếc máy chữ Olivetti nhỏ (dùng để viết tin và bài vì thời đó chưa có computer) để ở trong cùng với khoảng một chục cuốn băng nhựa reel-to-reel dùng cho chiếc máy ghi âm UHER-2000L. May mắn, chiếc ba lô rách toang nhưng đầu đạn kẹt trong máy chữ, chỉ nhô ra khỏi lớp vải ba lô chạm nhẹ vào thanh thép chéo giữ cho chiếc ba lô ép sát vào lưng. Ấy vậy mà sức chạm của viên đạn cũng làm tôi ngã chúi xuống một bụi cây. Khi Bộ Chỉ Huy Chiến Ðoàn lên được đỉnh núi, Trung Tá Nguyễn Khoa Nam đến bắt tay tôi khích lệ và hỏi thăm xem có vết thương không, đoạn ông thúc giục tôi làm phỏng vấn ghi âm cho lẹ để rời mặt trận trên chuyến trực thăng tải thương cuối cùng trước khi trời tối. Tôi từ chối lấy cớ là tôi không nên chiếm một chỗ nào của thương binh, dù tôi biết hảo ý của Trung Tá Nam muốn tôi ra khỏi mặt trận an toàn với những cuốn băng ghi âm đầy những tài liệu ghi âm tại chỗ để tôi có thể gởi đến hàng triệu thính giả của Ðài Phát Thanh Quốc Gia về trận đánh lừng danh này (trận đánh khiến cho có đến 1,600 Cộng quân thiệt mạng chung quanh vùng núi rừng trùng điệp này). Mà quả thật chuyến trực thăng tản thương chiều hôm đó có quá nhiều thương binh, nên ông Chiến Ðoàn Trưởng đành chịu.Tôi chọn một vị trí tự đào hố cá nhân bên một gốc cây. Trải chiếc poncho, lấy trong túi ra một khẩu phần C-Ration, chọn mấy chiếc bánh bắp nuốt cho qua bữa với vài ngụm nước dự trữ trong chiếc bi-đông nhựa, loại lớn của TQLC Hoa Kỳ, rồi thiếp đi cho đến khi có những tiếng lưu đạn nổ ở phần sườn núi gần chỗ tôi ngủ. Bọn đặc công lợi dụng đêm tối mò lên ném lưu đạn vào những vị trí chúng nghi có có chốt đóng quân của ta. Lập tức hỏa châu được soi sáng và một cuộc chạm súng nhẹ kéo dài khoảng 5 phút. Nhảy dù có 2 người bị thương. Sáng hôm sau, ngay khi trời hừng sáng trực thăng đến tản thương, Trung Tá Nam đẩy tôi lên trực thăng ngay để về Kontum. Phóng viên Dương Phục theo cánh quân của Thiếu Tá Trần Kim Thạch cũng phải rời mặt trận theo lời yêu cầu của Trung Tá Nam cũng với lòng nhân hậu là tránh nguy hiểm cho Phục. Năm 1968, chúng tôi gặp ông ở Ái Tử, có hỏi lý do ông “đuổi” chúng tôi khỏi mặt trận sớm như thế, ông cười và nói: “Các cậu chưa phải là nhà binh. Ðể các cậu ở lại nhỡ ra các cậu té thì làm gì chúng tôi còn dịp nào để nghe các phóng sự của cậu và bà con hậu phương làm thế nào hiểu được những gì đã xảy ra ở cái đỉnh núi ấy?” Xong, ông thân mật: “Bữa nào rảnh về Saigon, tớ rủ cậu với Dương Phục đi nhảy mấy saut bồi dưỡng hả?” (từ ngữ bồi dưỡng không phải là tiếng Việt Cộng dùng mà dưới thời VNCH, Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù gọi những lần nhảy ngoài 7 lần nhảy (6 ban ngày và 1 nhảy đêm) để lấy bằng thì được gọi là nhảy bồi dưỡng, thường là từ 4 đến 8 sauts nhảy hàng năm). Lần hẹn nhảy bồi dưỡng ấy không bao giờ được thực hiện bởi vì chúng tôi đều bị đẩy vào những cơn lốc của chiến cuộc ở những vị thế khác nhau cho đến ngày mất Miền Nam.
Vâng, trong suốt 426 trang sách viết về Tướng Nguyễn Khoa Nam đầy ắp những kỷ niệm nhẹ nhàng và trong sáng về con người và nhân cách của ông. Những kỷ niệm ấy cho thấy, Tướng Nam lớn hơn những vì sao ông đeo trên cổ áo, vĩ đại hơn cả vùng lãnh thổ mà ông được trao để bình định, để chỉ huy. Ðến nỗi, cựu chuẩn tướng Trần Quốc Lịch nguyên tư lệnh Sư Ðoàn 5 BB mà trước đó từng là tiểu đoàn trưởng xuất sắc của Nhảy Dù dưới quyền chỉ huy của chiến đoàn trưởng rồi Lữ Ðoàn Trưởng Nguyễn Khoa Nam đã viết ở trang 214 như sau:
“...Trách Nhiệm và Danh Dự là hai gánh nặng luôn luôn đè nặng trên vai ông (tướng Nam). Quả thật ông là vị tướng tài đức khó ai bì kịp. Nhận định đó khiến tôi không ngạc nhiên khi được tin tướng Nam tuẫn tiết vào ngày mất nước. Ðiều đáng nói là xưa kia, một vị Tướng thường chỉ tuẫn tiết khi bị địch đánh mà không giữ được thành. Nhưng chúng ta ai cũng biết mất nước, mất thành không phải lỗi của tướng Nam mà là do các cấp lãnh đạo quốc gia và tình hình thế giới. Vậy mà tướng Nam cũng cũng như vài vị tướng khác (các tướng Trần Văn Hai, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Phạm Văn Phú-NÐ) vẫn tuẫn tiết bởi vì không thể sống để nhìn thấy đất nước bị rơi vào tay kẻ thù. Lòng trung dũng của ông quả là cao độ. Con người ông thật đáng cho chúng ta tôn thờ. Tên tuổi ông sẽ đi vào lịch sử.”
Tuẫn tiết thời nay thường là một phản ứng nhanh gọn bằng cây súng và quyết định chỉ kéo dài trong vòng vài phút. Nhưng hình ảnh tuẫn tiết của tướng Nguyễn Khoa Nam là hình ảnh ngược lại chỉ tìm thấy được trong cổ sử. Có nghĩa là ông lựa chọn cái kết thúc của thân làm tướng bằng sự chuẩn bị cho một thiên bi hùng ca về quân lực Việt Nam Cộng Hòa, một thiên bi hùng ca giống như những lát dao hằn sâu vào những trang vàng sử sách, vĩnh viễn không có quyền lực nào có thể xóa đi được. Trong suốt những năm dài trong các trại cải tạo của Cộng Sản sau ngày 30-4-1975, chúng tôi tôn thờ hình ảnh của những tướng lãnh đã chọn cái chết trong danh dự, dùng những hình ảnh ấy để giữ sự đoàn kết anh em tù cải tạo với nhau, giữ vững giềng mối có trên, có dưới cho dù có bị đẩy vào hoàn cảnh bi phẫn nhất. Chúng tôi nói về những cái chết này bằng những lời kể đầy chất huyền thoại về tướng Nguyễn Khoa Nam. Vì là huyền thoại cho nên vô tình chúng tôi đã biến tướng Nam thành một vị Thánh chứ không còn là người trần thế nữa. Chúng tôi đã vô tình cởi áo ông, lột lon ông khiến ông cũng không còn là hình ảnh của một “người lính” nữa. Bản thân chúng tôi vào những lúc ấy cần một người lính, cần một bậc đàn anh trọn vẹn tài đức, trọng danh dự và trách nhiệm hơn là cần một vị thánh.
Năm 1989 tôi được thả. Sau khi tìm ra được một công việc làm bằng chân tay, cần sức khỏe mà không cần đầu óc, tôi bắt đầu thăm hỏi người này, người kia về cái chết của Tướng Nguyễn Khoa Nam, nhưng mỗi người nói khác nhau. Những thắc mắc của tôi kéo dài cho đến khi đọc được hồi ký của cựu Trung úy Lê Ngọc Danh, nguyên tùy viên của Tướng Nguyễn Khoa Nam cho đến ngày 1-5-1975. Hồi ký này chiếm từ trang 376 cho đến trang 415 sách “Nguyễn Khoa Nam”, trong đó ông mô tả rất chi tiết từ lúc tướng Nam rời Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 7 BB để về làm Tư Lệnh Quân Ðoàn IV và Vùng IV Chiến Thuật thay thế tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, thời gian làm việc và theo chân Tư Lệnh đi khắp vùng... cho đến những ngày hấp hối của chế độ, thời gian chứng kiến được sự chuẩn bị cho cái chết dũng liệt của “ông thầy”.
Không văn vẻ, nhưng rất chi tiết, tác giả Lê Ngọc Danh đã đắp được bức tượng hoàn chỉnh của người lính chiến mà anh em chúng tôi ngưỡng mộ. Một trong những chi tiết nhỏ, nhưng rất quan trọng mà tôi tin rằng độc giả sẽ chú ý, đó là tấm khăn trắng trải trên chiếc bàn ăn dài trong phòng ăn ở tư dinh của Tư Lệnh. Tác giả Lê Ngọc Danh viết ở trang 379:
“Tầng dưới (của tư dinh) khi bước vào cửa: bên trái là phòng thuyết trình cũng là nơi làm việc của tùy viên, phía trên vách tường có bản đồ của Vùng IV Chiến Thuật, bàn làm việc của tùy viên và một bộ sofa. Bên phải là phòng thờ Phật với bàn thờ Phật đặt giữa bức tường phía sau. Trên bàn thờ Phật có tượng Phật Thích Ca, phía bên phải bàn thờ Phật có một cái chuông nhỏ, giữa là lư hương điện cắm nhang được, bên trái là đĩa trái cây và hai cây đèn cầy bằng điện ở hai bên bàn thờ. Trước bàn thờ độ 2 thước có một bộ sofa (bộ sofa này là nơi Tư Lệnh ngồi trước khi tự sát). Bên phải phòng thờ Phật là phòng ăn của Tư Lệnh, phòng rất dài, trên 10 thước đặt một bàn ăn dài trải vải trắng (tấm vải trắng này đã đắp cho Tư Lệnh khi ông chết). Trong phòng ăn có hồ cá kiểng, máy TV và ít tranh ảnh trên tường...”
Lê Ngọc Danh còn nhấn mạnh ở trang 383 về một chi tiết cũng đáng chú ý khác:
“Trong thời gian từ Sư Ðoàn 7 Bộ Binh cho đến khi về làm Tư Lệnh Quân Ðoàn IV, tôi thấy Tư Lệnh sống rất cô đơn, không thấy hay ít ai đến thăm., thỉnh thoảng lên họp ở Saigon về nhà ở số 403 đường Lê Ðại Hành, trước cửa trường đua Phú Thọ. Tư lệnh suốt ngày làm việc, ngoài những lúc đi thăm các đơn vị, thời gian rảnh rỗi tôi đều thấy ông có mặt ở trung tâm hành quân. Tư lệnh làm việc mỗi ngày đến sau 6 giờ chiều mới về tư dinh. Buổi trưa ông ăn cơm ở câu lạc bộ Cửu Long, tối về trung sĩ Hộ (quản gia) nấu ít món ăn đơn giản để Thiếu Tướng dùng và ông không bao giờ than phiền ngon, dở. Tư lệnh không uống rượu, có lần party ở Tiểu Ðoàn 7 Quân Y ở Ðồng Tâm, ông chỉ uống một chút champagne. Thỉnh thoảng Tư Lệnh nói chuyện với tôi. Có lần thấy Tư Lệnh vui vẻ nói chuyện, tôi đưa đề nghị với ông:
- Cơm ở câu lạc bộ chắc không ngon miệng, vì thề em sẽ nói Trung sĩ Hộ lo cơm trưa để Tư Lệnh về ăn thay vì xuống câu lạc bộ.
Tư lệnh ôn tồn nói:
- Thôi lính tráng ăn sao qua ăn vậy.
Ðối với thuộc cấp, Tư Lệnh ăn nói nhẹ nhàng, thường gọi thuộc cấp là em hay cấp bậc kèm theo tên, còn tư lệnh thì xưng “tôi” hay “qua”. Tư lệnh rất trân trọng và tiếp xúc ngay, gặp mặt hay bằng điện thoại với các đơn vị trưởng, nói chung là các quân nhân. Còn các bà quả phụ qua điện thoại xin gặp Tư Lệnh, ông từ chối và bảo cần việc gì có Thiếu tá Ðức Chánh Văn Phòng, tôi hay Trung úy Việt giải quyết... Còn các xì thẩu (những ông chủ người Hoa ở Cần Thơ nhiều lần xin gặp Tư Lệnh nhưng ông đều lấy lý do bận việc để không gặp họ...”
Hoặc ở trang 385:
“Mỗi buổi sáng, trước 7 giờ, trước khi Tư Lệnh đi làm việc, mặc quân phục xong, đến bàn thờ đốt nhang xá Phật, cắm hương vào lư nhang và gõ vài tiếng chuông. Chiều về, sau khi đến phòng thuyết trình xem tình hình tổng quat, tắm rửa, ăn tối, xem truyền hình ở phòng ăn, sau đó đến bàn phật đốt nhang như buổi sáng trước khi vào trailer ngủ. Tư Lệnh có thói quen mỗi buổi sáng trước khi đi làm việc, tôi đứng nghiêm chào, Tư Lệnh chỉ đưa tay cỡ tầm ngực đáp lại và mỉm cười, ngày này qua ngày khác không nói gì thêm”.
Có nhiều cách nhìn về cái dũng của một vị tướng và cách nhìn cũng thay đổi tùy theo từng giai đoạn, từng thời và từng dân tộc. Nhưng dân gian ở Miền Nam Việt Nam vào thời gian chiến tranh lan rộng vẫn ngưỡng mộ những quân nhân “tỉnh” và “tỏ được bản lãnh” trước mối hiểm nguy. Tác giả Lê Ngọc Danh cũng không thoát khỏi cái thông tục này. Ông kể ở trang 386:
“Có lần Tư lệnh đi thăm một tiểu đoàn của Trung Ðoàn 12 đang đánh nhau với Việt Cộng ở Long Khốt sát biên giới giữa tiểu khu Kiến Tường và Kampuchia. Tư lệnh đáp trực thăng xuống thăm đơn vị trong khi Việt Cộng đang pháo bằng hỏa tiễn 122 ly cách đơn vị không xa. Vị tiểu đoàn trưởng thấy vậy đến gần tôi nói:
- Danh cho trực thăng về phi trường Mọc Hóa đậu, chừng nào xong, goi đến rước Tư Lệnh, ở đây nguy hiểm quá, rủi 122 ly nổ trúng thì chết tao.
- Vâng để tôi trình Tư Lệnh.
Tôi đến gần Tư Lệnh và nói:
- Trình Thiếu Tướng, em cho trực thăng về phi trường Mộc Hóa, chừng nào xong em gọi lên rước.
Tướng Nguyễn Khoa Nam trầm ngâm không trả lời. Một lúc sau, vị tiểu đoàn trưởng lại thúc tiếp:
“Pháo nổ gần quá, nguy hiểm, Danh cho trực thằng về Mộc Hóa đi.
Một lần nữa tôi đến gần Tư Lệnh, nhỏ giọng nói:
- Trình Thiếu tướng, em cho trực thăng về...
Nói chưa hết câu Tư Lệnh xoay qua hướng tôi, nghiêm nét mặt nói:
- Lẩm cẩm hoài! Lẩm cẩm hoài!
Tôi cụt hứng, tiu nghỉu không dám nói gì thêm. Tư lệnh ở lại thăm đơn vị trực thuộc trong khi pháo nổ ngay bên cạnh hơn nửa giờ, Tư Lệnh mới cho trực thăng cất cảnh về Cần Thơ”.
Bây giờ đã vào trung tuần Tháng Tư. Mùa xuân ở Nam California đang rộ lên thật đẹp. Nhưng lòng người Việt tha hương vẫn vương buồn, có lẽ vì chưa ai có thể quên được tấn bi kịch của đất nước cách đây 32 năm. Lẫn trong những điệu buồn vẫn còn vang vọng, bức tượng Nguyễn Khoa Nam Tuẫn Tiết được tác giả Lê Ngọc Danh xây dựng bằng những gì ông đã chứng kiến giờ phút cuối cùng của người Thầy của mình. Lối hồi tưởng của ông chân thật, câu văn không mài giũa, tình cảm không che đậy sẽ khiến cho người đọc có thể yên tâm rằng đây là những nét chấm phá cuối cùng cho một tác phẩm điêu khắc bằng đá hình ảnh của một bậc anh hùng.
Từ trang 389 đến trang 391, tác giả Lê Ngọc Danh lược qua tình hình quân sự “không thể cứu vãn được nữa” của Miền Nam Việt Nam, những phản ứng vẫn tích cực cho việc điều động và phòng thủ của Tướng Nguyễn Khoa Nam cho đến khi có lệnh đầu hàng qua hiệu triệu của Tổng Thống Dương Văn Minh sáng 30-4-1975. Tác giả viết ở trang 392:
“...Tôi lặng người chầm chậm bước ra. Trong lúc này nhiều lần Tư Lệnh Phó (tướng Lê Văn Hưng-NÐ) liên tục đi vào cửa chánh gặp Tư Lệnh. Qua điện thoại, Ðại Tá tiểu khu trưởng Tiểu Khu Long An xin gặp gấp Tư Lệnh, lần thứ hai Ðại Tá xin giật sấp cầu Long An để cắt đường Việt Cộng chuyển về vùng IV. Tư Lệnh bảo tôi chuyển lời, cầu để yên không được phá sập. Vào gần trưa tôi được báo cáo là Thiếu tá Chánh Văn Phòng rời văn phòng bỏ đi với Ðại Tá Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Phong Dinh cùng một số sĩ quan khác, lộ trình từ sông Hậu ra biển. Tôi vội xuống hầm, nơi làm việc của Tư Lệnh để báo cáo cho ông rõ. Căn hầm này là phòng làm việc thứ hai của của Tư Lệnh ngay dưới phòng làm việc chính thức, được xây dựng lúc vùng I và vùng II đang xảy ra những trận đánh lớn. Hầm này rộng và cao, thiết trí giống như phòng làm việc ở tầng trên, có lối đi xuống từ văn phòng Tư Lệnh. Thấy tôi, theo lệ thường ông kéo lệch cặp mắt kiếng xuống và hỏi:
- Có gì không?
- Trình Thiếu Tướng, Thiếu tá Chánh Văn Phòng và Ðại tá Tỉnh Trưởng Phong Dinh (tỉnh lỵ là Cần Thơ-NÐ) đi cùng với một số sĩ quan bằng tầu theo sông Hậu.
Tư lệnh không giận. Ông điềm nhiên hỏi:
- Ði hả! Ði làm chi vậy?
Nói xong Tư Lệnh tiếp tục xem giấy tờ, thái độ trầm tĩnh như không có gì xảy ra...”
Thực tình mà nói, phải cố gắng lắm tôi mới có thể đọc hết những trang mô tả diễn biến tiếp theo vào giờ phút cuối cùng giữa Tướng Nguyễn Khoa Nam và người tùy viên trung thành của ông. Trang nào cũng làm mắt tôi cay xè. Văn phong của tác giả Lê Ngọc Danh là thể loại kể lể, đều đều... nhưng mỗi dòng của ông vẫn cứ khiến nước mắt tôi cứ trào ra. Có lẽ tôi cũng ở vào hoàn cảnh giống ông Danh và cũng là người cuối cùng rời bỏ Hệ Thống Truyền Thanh Quốc Gia, cơ quan tôi đã làm việc liên tục từ 1964 đến 11 giờ sáng 30-4-1975. Nhưng ông Danh may mắn hơn vì còn Tư Lệnh ở bên cạnh để mà nhận lệnh, còn hoàn cảnh tôi thì những người có trách nhiệm lãnh đạo ngành đã bỏ đi từ mấy ngày trước. Chúng ta, những cấp chỉ huy thừa hành, vào những giây phút lâm nguy ấy, ai cũng cần được chỉ huy. Thói thường, dù biết rằng tình hình khó có thể cứu vãn, nhưng nếu có những chỉ thị từ thượng cấp, mình vẫn thấy đỡ “lạnh cẳng” hơn.
Từ trang 393 đến trang 396, tác giả Lê Ngọc Danh dùng để hồi tưởng lại thái độ ung dung, trầm tĩnh của vị Tư Lệnh Quân Ðoàn IV trong việc ông chỉ định Ðại Tá Thiên lên thay thế vị Ðại Tá tỉnh trưởng Phong Dinh bỏ đi, việc ông ra lệnh gỡ bỏ những đường ranh giới và những mũi tên làm bằng băng keo trên bản đồ hành quân, việc ông ngồi đọc lại những tài liệu cần phải huy bỏ, việc ông còn bình thản xuống câu lạc bộ Cửu Long dùng cơm vào trưa 30-4 trước khi trở lại tiếp tục những chuẩn bị mà tác giả nghi là do ông đã có quyết định về cái chết trong danh dự của mình, việc ông tiếp những đại diện Việt Cộng đến nói chuyện tiếp quản, và nhất là chi tiết tác giả đề cập đến việc ông thăm thương bệnh binh tại bệnh viện quân và dân y Phan Thanh Giản Cần Thơ lần cuối cùng:
“Tư Lệnh đi từ đầu phòng đến cuối phòng hỏi thăm từng bệnh nhân, rồi ông đi qua dãy kế bên và tiếp tục. Hơn một giờ nặng nề và buồn bã chầm chậm trôi qua. Gần giường một thương binh, anh cụt hai chân, vải băng trắng xóa, máu còn rịn ra lóm đỏ cuối phần chân đã mất. Tư Lệnh đứng sát bên và hỏi:
- Vết thương của em đã lành chưa?
- Thưa Thiếu tướng, vết thương mới mấy ngày còn ra máu, chưa lành.
Với nét mặt buồn rầu, Tư Lệnh nhíu mày lại làm cặp mắt kiếng đen lay động. Ông chưa kịp nói, anh thương binh này bất chợt chụp tay ông mếu máo:
- Thiếu tường đừng bỏ tụi em nghe Thiếu Tướng!
- Qua không bỏ các em đâu. Qua ở lại với các em.
Qua ánh đèn của bệnh viện, tôi thấy Tư Lệnh đưa tay sửa cặp mắt kính đen và hai giọt nước mắt từ từ chảy dài trên khuôn mặt đau thương của ông. Tư lệnh cố nén xúc động nhưng người đã khóc, khóc không thành tiếng và những giọt nước mắt tự nhiên tuôn trào. Tư Lệnh vịn vai người thương binh nói trong nghẹn ngào:
- Em cố gắng điều trị... có qua ở đây...”
Vâng, có ông “ở đây” thật nhưng ở với phần hồn, với tinh thần bất khuất của một quân nhân trung liệt với đất nước. Còn phần xác thì chỉ là cát bụi. Thân làm tướng, ông chưa để mất thành nhưng các nhà lãnh đạo lại không giữ được nước. Ông không có lỗi gì, nhưng ông đã tự xử để nêu cao danh dự trách nhiệm của một tướng lãnh, và đồng thời cũng là để rửa mặt cho toàn thể quân và dân Miền Nam Việt Nam. Ở trang 407 của sách Nguyễn Khoa Nam, tác giả Lê Ngọc Danh mô tả sự bàng hoàng và niềm đau như dao cắt ở những giây phút cuối cùng trong đời của một tướng lãnh yêu nước, tận tụy và nhân hậu:
“Từ ngoài nhìn vô bàn Phật, Tư Lệnh ngồi trên ghế sofa phía bên phải, đôi mắt đăm chiêu nhìn lên bàn thờ. Anh Việt bước ra cửa để về thăm vợ con, còn Trung sĩ Hộ đang thập thò trước cửa. Tư lệnh đứng dậy đến bàn thờ lấy 3 cây nhang đốt, xá ba xá căm vào lư hương, gõ ba tiếng chuông... xong xá ba xá tiếp rồi về ngồi lại nơi cũ, hai tay để trên thành gỗ sofa như không có chuyện gì sắp xảy ra cả. Bất chợt Tư Lệnh xoay qua bảo tôi:
- Danh ra ngoài bảo Việt (tùy viên thứ hai của tướng Nam - NÐ) dẫn vợ con đi đi.
- Dạ.
Tôi thầm nghĩ Tư Lệnh và tôi đều độc thân, chắc Tư Lệnh nghĩ cách khác. Tôi đẩy nhẹ cánh cửa bước ra sân hướng về phòng Trung Úy Việt. Vừa đi khỏi cột cờ một chút là tôi nghe thấy tiếng súng nổ từ hướng bàn thờ Phật. Tôi chưa kịp xoay người trở lại thì Trung sĩ Hộ chạy ra la thất thanh:
- Ðại úy! Ðại úy ơi! Thiếu Tướng tự sát chết rồi.
Trong lúc sợ hãi anh Hộ đã gọi tôi là đại úy. Tôi chạy nhanh vào phòng thì một cảnh tượng hãi hùng. Tư Lệnh ngã ngửa, hơi lệch về phía sau sofa, đầu nghiêng về bên trái, khẩu Colt 45 (loại súng lục dành cho các sĩ quan quân đội khi tác chiến dùng để làm súng lệnh, trong lịch sử chiến tranh nhiều sĩ quan đã tự sát bằng chính súng lệnh của mình-NÐ) vẫn còn trong tay buông thõng xuống lòng, nhưng các ngón tay cầm súng đã nới lỏng, đầu đạn xuyên màng tang phải qua trái, mắt ngước nhìn lên trần nhà...”
Lúc đó là khoảng 7 giờ 30 sáng ngày 1-5-1975.
Tư Lệnh Quân Ðoàn IV và Vùng IV Chiến Thuật, Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam đã chọn con đường tự sát để bảo toàn danh dự và để không bị rơi vào tay địch. Ông đã chuẩn bị khá kỹ lưỡng cho sự lựa chọn của ông. Ở trang 407, những dấu hiệu đầu tiên của lựa chọn đã được cựu Trung úy Lê Ngọc Danh mô tả rất cảm động với bối cảnh là sân thượng của tư dinh, con đường Hòa Bình và thời gian là chiều 30-4-1975:
“Tôi linh tính có điều gì sẽ xảy ra. Tư lệnh chầm chậm bước theo nấc thang lên tầng trên, tôi và anh Việt nối bước theo sau. Tư lệnh ra sân thượng đứng sát bên lan can, mắt nhìn ra lộ Hòa Bình trước cửa dinh, tôi đứng phía tay phải Tư Lệnh, anh Việt đứng bên trái. Vài xe qua lại trên lộ, người đi lại thưa thớt vắng vẻ như chiều 30 Tết. Bất chợt Thiếu Tướng bật khó. Dù cố nén để tiếng khóc không bật thành tiếng, nhưng những giọt nước mắt cứ cuộn tròn chảy dài trên khuôn mặt đau buồn của Tư Lệnh trước cảnh nước mất nhà tan. Tôi và anh Việt cũng khóc theo, không còn kềm hãm nữa cứ để cho những dòng lệ tự do chảy...”
Tôi đọc xong 571 trang tác phẩm “Nguyễn Khoa Nam” trên đường bay từ Los Angeles đi Ðài Loan và trên đường bay chuyến khứ hồi, nhân chuyến công tác cho tòa báo vào tuần trước. Do có tật ít khi ngủ được trên máy bay dù là đường bay dài, cho nên ngoài những bữa ăn, tôi dùng hết thời giờ đọc kỹ những hồi ức của rất nhiều tác gỉa về tướng Nguyễn Khoa Nam. Ngồi ghế cạnh tôi là một vị cao niên người Phi Luật Tân. Ông tự giới thiệu là cựu sĩ quan trong quân đội Phi Luật Tân từng tham chiến ở Việt Nam, đơn vị đóng ở Tây Ninh. Có lẽ vì đèn cá nhân trên trần máy bay của loại Boeing 747 tôi bật lên để đọc sách sáng quá có thể làm cho vị cao niên này hơi khó ngủ. Ông hỏi tôi: “Tôi thấy ông đọc suốt nửa đường bay rồi, chắc nó hấp dẫn?”. Tôi xin lỗi, rồi đưa cho ông xem bìa cuốn sách và giải thích. Ông vội kêu lên: “Á tôi có nghe nói đến chuyện này trên báo chí Phi Luật Tân năm 1975, lúc tôi còn ở Manila chứ chưa đi định cư”. Tôi chỉ nói cho ông bạn đường người Phi qua loa về nội dung để ông hiểu tại sao tôi lại có thể đọc liên tiếp trong 12 tiếng đồng hồ, rồi lại tiếp tục đọc cho tới khi phi công loan báo phi cơ chuẩn bị đáp xuống phi trường Ðào Viên (Taoyuan).
Hiển nhiên tác phẩm hấp dẫn không phải chỉ vì những chi tiết rõ ràng liên quan đến sự tuẫn tiết của các tướng Nguyễn Khoa Nam mà còn hấp dẫn ở những bài viết liên quan đến gốc gác của vị tướng này, đến dòng họ Nguyễn Khoa, đến ngài Bố Chánh Sứ Nguyễn Khoa Luận tức Viên Giác Ðại Sư Chùa Ba La Mật ở Huế và chuyện “Ðá vô sanh” ở trang 38 trích từ gia phả và cuốn sách của G. Riviere, đến mối liên hệ giữa dòng Nguyễn Khoa và Tuy Lý Vương ở những trang 68,69, đến bài viết về Thôn Vỹ Dạ của Nguyễn Phúc Bửu Diên và Phạm Thị Hoàng Oanh, đến bài “Nhớ Về Người Anh” của cựu TNS Nguyễn Khoa Phước vốn là em ruột Tướng Nam ở những trang 78-79, đến những kỷ niệm nho nhỏ với những người bạn như Vĩnh Bội, như Cao Văn Khánh và một người mà sau này làm tới Thượng Tướng Việt Cộng là Ðoàn Huyên (trang 82), đến Tiến sĩ Nguyễn Văn Hai với bài “Lá Thư Gởi Anh Nam” trong đó ông tiết lộ về năng khiếu hội họa của học sinh Nguyễn Khoa Nam thuở thiếu thời (trang 87).
Thế nhưng, bề thế nhất vẫn là những bài viết về Khóa 3 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức và về khoảng thời gian ông Nam tác chiến ở Nhảy dù, làm Tư Lệnh Sư Ðoàn 7 BB, rồi Quân Ðoàn IV Vùng IV Chiến Thuật. Ðây là những bài viết những, những tảng sơn, những khối đá được đẽo gọt dựng lên một cách đầy đủ Người Lính Trung Liệt Nguyễn Khoa Nam. Từ cựu Trung Tá Nguyễn Văn Phong, Lê Chu vốn là những bạn đồng khóa 3 SQTBTÐ với tướng Nam... cho đến những đồng đội của ông ở binh chủng Nhảy dù cũng như ở các đơn vị khác như Ðỗ Ðức Hạnh, Ðỗ Ðình Lũy, Khiếu Hữu Diêu, Nguyễn Thu Lương, Phạm Hy Mai, Hoàng Cơ Lân, Trần Quốc Lịch, Trương Dưỡng, Trần Xuân Lớn, Lê Ngọc Danh, Vương Hồng Anh, Nguyễn Mạnh Trí (cựu Hải Quân Trung Tá, cháu gọi tướng Nam bằng cậu), Phạm Trung Nghĩa, Trần Văn Lưu, Vanuxem-Dương Hiếu Nghĩa và Trần Thị Kim Ðính (phu nhân của cựu TNS Nguyễn Khoa Phước, em dâu tướng Nguyễn Khoa Nam), người đọc sẽ trầm mình vào những dữ kiện quan trọng làm nên con người Nguyễn Khoa Nam.
Từ trang 423 đến 426, bà Kim Ðính đã hoàn chỉnh những vết đục cuối cùng trên bức tượng Nguyễn Khoa Nam lẫm liệt, vĩ đại nhưng mộc mạc, giản dị và đẹp như con người ông, đứng sừng sững chế ngự trên những cánh đồng ruộng vườn xanh mênh mông, kinh rạch chằng chịt của vùng Ðồng Bằng Sông Cửu Long.
Ðặc điểm của tác phẩm nhiều người viết về Nguyễn Khoa Nam là khi chúng ta đã bắt đầu đọc những chương đầu thì sẽ không thể ngừng ở những chương sau trừ phi đêm trường và sức khỏe không cho phép. Tuy tác phẩm mang tên Nguyễn Khoa Nam, nhưng các tác giả đã không quên nói về các tướng lãnh khác cũng chọn con đường chết danh dự như tướng Nam: Lê Văn Hưng (Tư Lệnh Phó của Tướng Nam), Trần Văn Hai(Tư Lệnh Sư Ðoàn 7BB), Phạm Văn Phú (Tư Lệnh Quân Ðoàn II và Quân Khu II), Lê Nguyên Vỹ (Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 BB) và Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn Tỉnh Trường Kiêm Tiểu Khu Trưởng Chương Thiện, bị bắt tại mặt trận và VC đem ông về Cần Thơ xử tử). Ðó là chưa kể phần viết về các cuộc đối thoại với cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu của nhiều cựu sĩ quan và các bài viết khác về các tướng tuẫn tiết của các nhà báo ở hải ngoại.
Trong khuôn khổ của một bài điểm báo, tôi lấy làm tiếc là không thể trích dẫn hết được những phần quan trọng khác của tác phẩm, nhưng sẽ cố gắng điểm từng phần trong các số báo kế tiếp trong Tháng Tư. Tuy nhiên, ở những dòng kết thúc bài báo này, tôi vẫn không thể bỏ lại qua một đoạn trong bài “Nụ Hôn Vĩnh Biệt” của Phạm Trung Nghĩa viết về giây phút cuối cùng của tướng Lê Văn Hưng Tư Lệnh Phó của tướng Nam (trang 435)
“Lúc đó khoảng 8 giờ tối ngày 30-4-1975, bộ quân phục nghiêm chỉnh vẫn còn trên người Chuẩn Tướng. Bên trong phòng ngủ ông, ngay sát đầu cầu thang trên lầu, sau nụ hôn vĩnh biệt của phu nhân vừa kịp đặt lên mà chồng, ông tướng đã vội đẩy bà ra phía ngoài và đóng nhanh cánh cửa... Lúc quay người lại, thấy tôi còn đứng lại trong phòng, giọng ông Thảng thốt:
- Nghĩa! Mày đi ra!
Vừa nói, ông vừa nắm tay tôi lôi về phía cửa. Tôi bệu bạo:
- Tôi ở lại cùng Thiếu Tướng!
Sự dứt khoát của nghiêm lệnh hàng ngày trong giây phút xúc động mãnh liệt làm cho giọng nói của Chuẩn Tướng lạc đi... Tôi chợt òa khóc. Ðứng bên ngoài tôi và phu nhân nghe tiếng rít gài then khô khốc từ bên trong. Bất giác, tôi và bà tướng mọp người xuống nền gạch, cố đưa mắt nhìn vào khe hở dưới cửa. Mọi sự diễn ra không đầy một phút sau đó. Một tiếng nổ chát chúa vang lên bên trong cánh cửa...”
Và Trịnh Văn Ngạn-Huỳnh Văn Hoa viết ở trang 460-461 về sự tuẫn tiết của tướng Trần Văn Hai.
“Chuẩn tướng Tư Lệnh (Trần Văn Hai-SÐ7BB-NÐ) gục đầu mê man trên bàn làm việc. Một ly rượu lớn đã cạn ở trên bàn. Tôi biết điều gì đã xảy ra... Tôi liền trình bày qua điện thoại với Thiếu tá bác sĩ ở bệnh xá về tình trạng của Chuẩn Tướng Tư Lệnh. Một lát sau thiếu tá bác sĩ đến với xe cứu thương. Chúng tôi đặt chuẩn tướng Tư Lệnh nằm trên băng ca và chở xuống bệnh xá sư đoàn ngay. Lúc này ông đã mê man bất tỉnh. Tại bệnh xá sau một hồi tận lực cấp cứu, vị thiếu tá bác sĩ buồn rầu báo cho tôi biết, vì thuốc độc ngấm vào máu đã lâu, Chuẩn tướng Tư Lệnh Không qua được cơn nguy kịch..”
Rồi Thanh Sơn viết lại theo lời kể của một nhân chứng đang làm việc tại Trung Tâm Hành Quân vào lúc vị Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh Lê Nguyên Vỹ tự sát bằng súng tại sân cờ Sư đoàn ở Lai Khê (trang 500) đúng lúc lúc địch đã bao vây Lai Khê và kêu gọi tướng Vỹ ra hàng:
“...Vì tôi là tướng chỉ huy mặt trận, nên không thể nào thi hành được lệnh đầu hàng. Tôi nghĩ thân làm tướng là đã phần nào được hưởng những ân huệ và vinh dự của quốc gia hơn các anh em nên tôi phải chọn con đường đi riêng cho tôi...”
Tướng Lê Nguyên Vỹ đã nói với các thuộc cấp như thế trước khi ông bình tĩnh bước ra sân nghiêm trang đứng dưới cột cờ của Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 BB tự sát bằng chính khẩu súng lệnh của ông.
Cảm khái trước những cái chết dũng liệt này, nhà thơ Cao Tiêu (cũng là một cựu sĩ quan cấp ngành Tâm Lý Chiến) đã viết hai cấu đối như thế này (trang 520):
Trận mất chẳng hàng, sử sách lưu truyền danh tuẫn tiết
Thân còn không tiếc, quân dân ca ngời tiếng anh hùng.
Tôi mạo muội dùng hai câu đối này thay cho lời kết thúc phẩn điểm sách và giới thiệu tác phẩm nhiều người viết “Nguyễn Khoa Nam”.
(Ðọc “Nguyễn Khoa Nam”, Tháng Tư năm thứ 32 ngày mất VNCH)
Vũ Ánh

Tượng Đài Mẹ Bồng Con, Canada
Tôi có xem một bài báo viết dịp kỷ niệm 20 năm xa xứ, đúng vào tháng 4 năm 1995, thủ đô Ottawa của Canada đã cho ra đời Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam tại đây với bức tượng Mẹ Bồng Con của điêu khắc gia Phạm Thế Trung tọa lạc ngay tại trung tâm thành phố sầm uầt này, ông vốn là người tị nạn vượt biển đến Canada với kỷ niệm u buồn về chuyến hành trình gian nan đầy hiểm nguy, là nguồn cảm hứng khiến ông sáng tác tác phẩm độc đáo này.
Người Việt du lịch từ các nơi có dịp ghé xem hay cư ngụ tại Canada không khỏi hãnh diện vì đã dựng được một bức tượng thật ý nghĩa và tạo xúc động cho nhân loại do một biến cố chính trị đau thương do nạn Cộng Sản tàn ác gây ra. Bức tượng đồng đen "Mẹ Bồng Con" đang chạy giặc, cho thấy nét lo âu hối hả. Gương mặt người mẹ đầy can đảm nhìn về phía trước, bà đi tìm một chỗ an toàn cho đứa con đang ngủ bình yên trên cánh tay mẹ. Tượng Mẹ Bồng Con to giống như người thật, là tấm lòng ưu ái mà chính quyền Canada dành cho người Việt tị nạn chính trị, quốc gia đã cưu mang tiếp nhận hơn 200,000 người Việt, mà làn sóng thuyền nhân chiếm độ 80% trên tổng số cộng đồng người Việt sinh sống tại Canada. Dưới chân tượng Mẹ Bồng Con, có bảng lưu niệm viết bằng tam ngữ: Việt, Anh và Pháp thật xúc động:
"Tưởng niệm những người đã bỏ mình trên đường tìm tự do".
Bác sĩ Dương Anh Dũng, một thuyền nhân đến Đức do con tàu Cap Anamur vớt, ông là thủ quỹ trong Ban Chấp Hành của Hội Xây Dựng Tượng Đại Thuyền Nhân tại cảng Hamburg cho tôi biết Tượng Đài Thuyền Nhân dự trù hoàn tất sang năm, 2009. Mô hình điêu khắc đang chuẩn bị.
Hải cảng Hamburg bên Đức quốc là khởi điểm hải hành của các con tàu nhân đạo Cap Anamur đã đi cứu vớt 11,300 thuyền nhân tị nạn VN ngoài Biển Đông đưa về bến bờ tự do và chăm sóc y tế cho 35,000 thuyền nhân VN trong các đảo tỵ nạn tại Đông Nam Á. Chính Hamburg cho thấy sự rộng mở từ tâm và nhân ái với những nạn nhân tị nạn Việt Nam tại Biển Đông liều mình ra đi tìm ý nghĩa của hai chữ tự do, họ được cứu vớt mà nơi xuất phát và trở về của những con tàu nhân đạo Cap Anamur và các vị chủ tàu đều là người Đức đang sinh sống tại Hamburg.
Hamburg từ lâu đã được xem như Cửa ngõ ra thế giới, và giờ đây với sự hiện diện của tượng đài tị nạn Việt Nam thì Hamburg còn được gọi là Cửa ngõ đến tình người. Nó là một hải cảng lớn bận rộn và quan trọng của Âu châu, và là một danh lam ghi dấn tích can trường của thuyền nhân Việt Nam.
Để tưởng niệm Thuyền Nhân Việt Nam bỏ mình trên Biển Đông, hai nơi Bỉ và Thụy Sĩ cũng đã xây dựng bia tưởng niệm tại Liège và Genève. Tượng Đài Thuyền Nhân thì có tại Canada, Đức và Hoa Kỳ.
Tại Hoa Kỳ, mô hình của Tượng Đài Thuyền Nhân đã có rồi, nó là biểu tượng người mẹ bồng con trườn trên cát dang tay cầu cứu và người thanh niên dìu bà cụ già đứng phía sau. Dự án nguyên thủy được nhà văn Thái Tú Hạp và hiền thê là thi sĩ Ái Cầm thực hiện lời ước nguyện từ Biển Đông khi ông bà ra đi vượt biên. Chuyến đi tưởng chừng vô vọng vì bị thiên nhiên bão táp đe dọa.
"Đi về đâu thuyền lạc giữa mênh mông
Không thể hiểu khi an bình đất nước
Người giết hại người thù hận đau thương
Người đày đọa người chết thảm giữa biển đông
Biển ơi! Xin hãy dừng cơn thịnh nộ
Hãy mở đường đưa ta đến niềm hy vọng bình an"
Đó là trích đoạn bài thơ dài "Lời Nguyện Giữa Biển Đông" của Thái Tú Hạp vào năm 1979, khi ông dâng cảm xúc tận cùng bắt nguồn từ khi con tàu ra khơi với 200 người tị nạn vượt trùng dương từ Đà Nẵng và bị bão tố đánh vỡ vào bờ hoang đảo Hải Nam, 13 người tử nạn. Ông đã thầm nguyện đến xứ sở Tự Do nào đó sẽ lập bia thờ và để tưởng niệm đến những đồng hương đã vĩnh viễn ở lại giữa Biển Đông u trầm oan khuất.
Tháng Tư QUỐC HẬN:
Xem lại những đau thương ngày tàn cuộc chiến
- Xin hãy dành tháng Tư thương đau quốc hận này mà tưởng niệm cho tất cả những hy sinh của bao người Quân Dân Cán Chính vị quốc vong thân, tù đày khốn khổ, bỏ thân trên biển cả trên đường tìm Tự Do. -Xin hãy chú tâm cầu nguyện cho người đã mất cũng như người còn sống. - Xin chúng ta hãy dành tất cả sự trang trọng trong mùa Quốc Hận... gọi là chút tâm tư gửi cho tổ quốc quê hương , như là chiếc khăn tang trắng cho VNCH , những giọt lệ chưa bao giờ ngưng chảy !!! Xin hãy tiếp tay hổ trợ và phổ biến dồi dào những tin tức , thơ văn , âm nhạc , phóng sự, tài liệu làm sống lại Việt Nam Cộng Hòa hoặc những gì phơi bày tội ác của quân xâm lược Cộng Sản ....
Xem lại những đau thương ngày tàn cuộc chiến.
http://www.flickr.com/photos/13476480@N ... 5628/show/

Hãy thắp cho anh một ngọn đèn
Sau cùng, suốt 30 năm tạp ghi, viết về cựu chiến binh, viết về thuyền nhân, viết về nước Mỹ, viết về Việt Nam Cộng Hòa, lần này tôi được yêu cầu viết về một mối tình. Nói cho chính xác, viết về chuyện tình của cô nữ quân nhân thuộc hàng thấp nhất của hạ sĩ quan.
Cô hạ sĩ nhất của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa tên Lý thị Thương Uyên hiện cư ngụ tại Oklahoma City với Area code 405, giữa cơn giông bão mùa Xuân năm 2010 đã kể lại chuyện đời lính của phụ nữ Việt Nam. Cuộc đời của chính cô. Cô phàn nàn rằng sao không thấy bác viết về chuyện hạ sĩ quan binh sĩ. Không viết về người lính nữ quân nhân thực sự sống chết tại các đơn vị. Sao bác không viết về chuyện của em…
Cô Uyên gửi thư cho Dân sinh Radio sau khi nghe loạt bài về Thủy Quân lục chiến và trận Quảng Trị. Phải chăng cô biết gì về Quảng Trị. Không. Cô gái suốt đời là học sinh và suốt đời đi lính chỉ quanh quẩn ở hậu giang và miền Ðông Nam Phần, chẳng biết gì về cao nguyên, duyên hải hay miền Trung Việt Nam.
Nhưng cô có liên hệ rất nhiều với người yêu thủy quân lục chiến, cô nghĩ rằng trận Quảng Trị là trận của người lính mũ xanh. Cô muốn gửi di vật của trung úy Thủy quân lục chiến Bùi Năng Vũ về cho viện Bảo Tàng tại San Jose.
Lá thư viết như sau:
“Kính gởi bác Giao Chỉ.”
“Em tên thật là Lý thị Thương Uyên hiện ở Oklahoma, xin gởi một kỷ niệm nhỏ đến bác. Mong nó được lưu giữ. Ðã 40 năm qua em giữ nó như báu vật. Qua bao nhiêu cuộc bể dâu nó vẫn ở bên mình. Không biết bao lần em đã tự hỏi nếu một mai chết đi thì nó sẽ ra sao? Có thể bảo con trai liệm chung trong quan tài cho mẹ. Khi sang thế giới bên kia em sẽ gặp Vũ để trả lại cho anh. Nhưng cuộc đời này làm sao biết được ngày mai. Vậy xin bác giữ lại và đặt vào chỗ nào đó cho em yên lòng.”
“Kỷ vật nhỏ bé gửi kèm theo chỉ là bài thơ do trung úy Thủy quân lục chiến Bùi Năng Vũ tặng em cuối mùa thu 1970, lúc đó đơn vị gốc của anh Vũ ở căn cứ Sóng Thần, khu Rừng Cấm, thuộc Tiểu Ðoàn Ó Biển. Vũ đã chết ở trại tập trung Ðà Lạt năm 1978. Ðây là số điện thoại của Uyên (405)…………..”
Ðính kèm là bài thơ của anh Sĩ quan Thủy quân lục chiến viết chữ rất đẹp, trên những tờ giấy màu xám mỏng bỏ trong 1 bao thơ đơn sơ cũ kỹ. Góc bao thơ đề: “Vũ, thủy quân lục chiến. Gửi cho Thương Uyên.”
Phía dưới là hàng chữ: “Nhờ Chỉnh chuyển dùm trao. Cám ơn.”
Bài thơ mở đầu như sau:
Lời hứa buổi hoang sơ tương ngộ.
Chỉ một lần xin nhớ đến trăm năm…
****
Ðọc xong lá thư của cô Uyên, đọc xong bài thơ của anh Vũ, tôi nghĩ đến người lính trẻ đã chết trong ngục tù. Nghĩ đến người nữ quân nhân còn sống ở miền giông bão Hoa Kỳ. Bèn quay số 405….. hỏi thăm…..
Câu chuyện tình được bắt đầu kể lại.......
Cô Lý thị Thương Uyên. Ảnh: Tác giả cung cấp. Uyên quê ở Tân Châu, Hồng Ngự thuộc miền quê Châu Ðốc, chưa học hết trung học nhưng có tên thật đẹp như bút hiệu nên cuộc đời cũng gặp nhiều phiền phức. 16 tuổi lên Sài Gòn ở nhà cậu mợ. 18 tuổi ghi tên vào học lớp hạ sĩ quan nữ quân nhân. Năm 70 ra trường nhưng vì thường cậy có chút nhan sắc lại ba gai nên không được mang cấp bậc trung sĩ. Cô chỉ tốt nghiệp hạ sĩ rồi được gửi đi Vũng Tàu học đánh máy ở trường Truyền Tin.
Tại đây cô gặp thiếu úy Vũ, dân Bắc kỳ. Anh được Thủy quân lục chiến đưa về học lớp sĩ quan truyền tin. Mối tình kéo dài suốt thời gian cả 2 người theo học tại Vũng Tàu. Cô Uyên hỏi bác Giao chỉ có biết đại tá Tạo chỉ huy trưởng trường truyền tin không. Có, bác Tạo trước đây ở San Jose, nhưng bác đã chết rồi. Cô khóa sinh khoe rằng em được bác Tạo cho chụp hình nữ quân nhân truyền tin đang học đánh máy để treo trên tường. Như vậy chắc cô lính trẻ có nhan sắc ăn ảnh đáng được chụp hình quảng cáo cho binh chủng.
Cô kể tiếp rằng mối tình với Vũ là mối tình đầu đẹp đẽ nhất. Khi trung úy đi hành quân Cam bốt, cô Uyên đến thăm hậu cứ trại Cấm, Sóng Thần đã được các bạn đồng nghiệp cho vào phòng truyền tin nói chuyện với người yêu qua siêu tần số hành quân. Nhưng rồi những ngày vui qua mau. Tình đầu không phải là tình cuối.
Một hôm Uyên khám phá ra rằng Vũ thực ra đã có người yêu. Ðó là cô Sương quê Mỹ Tho, nữ điều dưỡng ở quân y viện Vũng Tàu. Sương quen Vũ từ khi anh nằm tại bệnh viện này. Uyên là người đến sau nên cô quyết định chia tay mối tình đầu đầy nước mắt. Vũ ra vùng hỏa tuyến. Uyên đổi về quân đoàn III. Rồi sau cùng cô đổi về tiểu khu Kiến Hòa thuộc quân đoàn IV. Cô xin đi thật xa miền Ðông, nhưng vẫn nhớ Vũ và giữ mãi bài thơ tỏ tình năm 70.
Từ Hạ Lào trở về, Vũ lấy Sương, mối tình đầu của anh. Năm 1973 Uyên lấy thiếu úy Nhiều, một sĩ quan hải quân, phục vụ trên chiến hạm Trần Khánh Dư.
Từ đó Uyên yên phận làm vợ của người lính biển. Khi mang bầu đứa con đầu tiên, anh chồng sĩ quan hải quân lênh đênh trên biển Ðông đã dặn vợ đẻ con gái đặt tên Cam Tuyền, con trai đặt tên Hoàng Sa. Cam Tuyền cũng là tên một hòn đảo của Hoàng Sa. Và đứa con trai Hoàng Sa đã ra đời tại Mỹ Tho. Hai vợ chồng cùng khoác chiến y nhưng chiến tranh đã chia cắt gia đình thành nhiều mảnh. Chồng hải quân sống trên đại dương. Vợ trực gác tổng đài tại mặt trận xình lầy Bến Tre. Con trai Hoàng Sa gửi về cho bà nội nuôi ở Châu Ðốc.
Cô Uyên tiếp tục hăng hái kể chuyện nhà binh.
Sau mối tình đầu dang dở, cô và chị Sương nay vợ của Vũ đã gặp nhau nối thành tình bạn gái. Cuộc đời nữ quân nhân, với cấp bậc hạ sĩ rồi vinh thăng hạ sĩ nhất đã dành cho cô Uyên những kỷ niệm không bao giờ quên được. Cô đã từng là hoa hậu của các chiến binh độc thân trong đơn vị từ binh sĩ đến hạ sỹ quan. Vì mang cấp hạ sĩ, cô cai Uyên gần gũi với đa số lính tráng hơn là các sĩ quan nữ quân nhân.
Những đêm hỏa châu làm việc dưới hầm truyền tin tiểu khu. Những anh lính ca vọng cổ tán tỉnh. Những lời hò tình tứ qua máy truyền tin lẫn trong tiếng pháo kích. Hỏa châu sáng rực chân trời. Chưa bao giờ cô lại thấy nhớ đời lính như vậy.
Nhưng rồi tháng 4-75 oan nghiệt chợt đến. Anh Vũ, Bắc Kỳ bỏ Sóng Thần từ biệt cô Sương đi trình diện vào tù trên Ðà Lạt. Anh Nhiều, Nam kỳ bỏ vợ con ở Châu Ðốc đi tù trong Ðồng Tháp. Bộ binh cũng vào tù, Hải quân cũng vào tù. Cô lính trẻ có tên như tài tử nhưng chỉ mang cấp bậc hạ sĩ nhất nên không phải đi tù. Dù vậy cô vẫn nhớ thương quân đội Cộng Hòa. Một lần chị Sương ghé Mỹ Tho gặp Uyên báo tin anh Vũ đau nặng trong trại tù. Chị em cùng đi tìm mua thuốc tiếp tế. Mấy tháng sau, Sương ghé lại với ngón tay đeo 2 chiếc nhẫn cưới. Cô vừa đi chôn chồng sau khi nhận xác từ trại tập trung. Anh lính trẻ Bắc Kỳ chết đi để lại cho những cô gái miền Tây di vật cuối cùng. Cô Sương còn cặp nhẫn. Cô Uyên có lá thư tình. Anh Vũ chết rồi. Cô Sương trợ tá quân y không bao giờ lên Ðà lạt nữa. Cô Uyên truyền tin còn đi thăm nuôi chồng 3 lần ở Ðồng Tháp. Rồi anh Nhiều trở về. Thêm 1 đứa con trai ra đời, anh cựu sĩ quan hải quân tuy ra tù “cải tạo” nhưng vẫn còn nhớ mãi biển Ðông nên đặt tên con trai thứ hai là Trường Sa.
Năm 1992 gia đình anh Nhiều và cô Uyên đem cả Hoàng Sa và Trường Sa qua Hoa Kỳ theo diện HO 9. Hai vợ chồng cùng đi làm và nuôi con ăn học.
Nhưng sao cuộc sống hòa bình ở Hoa Kỳ không giống như thời kỳ chiến tranh ở Việt Nam. Vợ chồng không còn hòa thuận nên chỉ ở được với nhau thêm 4 năm tại Mỹ rồi chia tay. Lần lượt những đứa con trai trưởng thành đi theo bố về Texas làm ăn. Anh Nhiều có vợ mới. Cô Uyên còn lại ở Oklahoma một mình.
Cháu Hoàng Sa lập gia đình, có 2 đứa con nhưng rồi vợ chồng nó cũng chia tay. Lúc còn ở với nhau, vợ chồng con trai đưa cháu về thăm bà nội. Ðó là những giây phút hạnh phúc nhất của cô hạ sĩ nhất Thương Uyên. Nhưng bây giờ chúng nó bỏ nhau. Vợ Hoàng Sa đưa con về bà ngoại. Cha con nó còn ít gặằp nhau. Chẳng ai còn ngó ngàng gì đến bà nội trẻ cô đơn nhớ đám cháu quay quắt đêm ngày. Năm nay cô mới 60 tuổi. Còn lâu mới lãnh tiền già. Cô cựu chiến binh Việt Nam Cộng Hòa vẫn đi làm tự nuôi thân. Cuối năm 2009 cô bị té trong hãng nên phải nằm nhà, lãnh tiền thương tật vì tai nạn lao động. Suốt ngày chỉ quanh quẩn trong nhà. Mùa Ðông 2009 mưa bão triền miên chẳng ra khỏi nhà. Trải qua cái TẾT cô đơn, cô Uyên nghe đài Radio nói về Thủy quân lục chiến đánh trận Quảng Trị 38 năm về trước. Cô bèn đi tìm lá thư tình của Trung úy Vũ, cô nghĩ đến ngày mai rồi mình cũng qua đời trong quạnh hiu giữa mùa tuyết phủ nơi xứ lạ quê người.
Nữ quân nhân VNCH. Ảnh: Tác giả cung cấp. Những đứa con Hoàng Sa và Trường Sa thân yêu của cô cũng đang bận rộn bươn trải với cuộc đời mới. Chỉ còn lại một mình, chợt nhớ về mối tình ở trường truyền tin, những vần thơ rất lãng mạn và ngây thơ của người lính trẻ Bắc kỳ. Cô hỏi bác Giao Chỉ rằng nếu bây giờ, đã gần 40 năm rồi, cô vẫn còn thấy nhớ thương mối tình đầu thì có phải tội lỗi không?
Bút tích TQLC Bùi Năng Vũ. Ảnh: Tác giả cung cấp. Không, cô cựu chiến binh Việt Nam Cộng Hòa của tôi, cô hạ sĩ quan truyền tin của tiểu khu Kiến Hòa, nàng cai xếp của tiểu đoàn truyền tin diện địa quân đoàn IV, cô không làm điều gì sai quấy khi ngồi than khóc cho chuyện tình gần 40 năm về trước.. Anh chàng Trung úy Bùi Năng Vũ rất xứng đáng để cô gái Tân Châu ngồi khóc ở Oklahoma, nhớ về những ngày hai đứa ngồi bên hàng dừa ở bãi sau Vũng Tàu. Anh thấy hình em treo trên tường ở phòng học đánh máy trong trường truyền tin. Trung úy thủy quân lục chiến Bắc Kỳ tạm quên cô Sương y tá bên quân y viện để gửi thư tán tỉnh cô khóa sinh truyền tin xinh đẹp. Chàng ký tên bút hiệu Châu Nguyên năm 1970 gửi bài thơ cho Lý thị Thương Uyên.
Lời hứa buổi hoang sơ tương ngộ.
Chỉ một lần xin nhớ đến trăm năm.
Ðó là đoạn mở đầu. Và đây là những trích đoạn tiếp theo:
Bụi đường và tháng ngày còn đó.
Gởi cho Uyên làm kỷ niệm chia ly
Mai anh đi, nghe thời gian rũ cánh
Kiếp phong trần cháy đỏ trên tay
Ðắng cay cho trọn tháng ngày
Cung thương một gánh, tình sầu chưa nguôi…
Ðá trong ly, đá tan thành rượu
Rượu lên men, rượu ngọt lịm môi…
Có một ngàn vì sao
Nằm trong đáy mắt
Như một ngàn hỏa châu thắp sáng
Như một ngàn đóm thuốc trong đêm…
Em ơi! Thương Uyên! Anh là người lính
Mà số trời đã định, cho một cuộc sống
Với quá khứ là tủi nhục,
Hiện tại là đắng cay
Và tương lai chỉ là nấm mồ không tên nơi chiến địa…
Châu Nguyên, cuối thu 70.
Với lá thư tình não nuột như vậy, anh trung úy thủy quân lục chiến đã chiếm được trái tim cô gái Tân Châu. Và như chúng ta đã nghe cô hạ sĩ truyền tin kể lại, khi khám phá ra anh trung úy Bắc Kỳ bắt cá hai tay, cô đã bỏ đi để buộc anh phải trở lại với mối tình đầu. Ðể anh lấy chị Sương, người con gái Mỹ Tho.
Cô Uyên nói rằng, thưa với bác, em nhường Vũ cho chị Sương, nhưng em hỏi bác vì bác cũng là Bắc Kỳ, thơ này có phải thực lòng của anh Vũ không. Có phải thơ của Vũ làm không? Bác trả lời rằng, thơ này nhiều phần chính Vũ đã làm. Bác chưa từng đọc được lời thơ này ở đâu cả. Rất chân thành tuy cũng có phần cường điệu.. Người lính trên khắp thế giới đều vẫn thường đưa cái chết ra để dọa dẫm người tình và dọa dẫm cả chính mình,.Ngày xưa, ở tuổi 20, mới vào quân đội, Vũ cũng là hình ảnh của những anh Bắc Kỳ như bác… Anh nào cũng thơ thẩn bước vào đời. Thơ không làm được thì chép thơ thiên hạ tán đào. Bây giờ nhớ lại, ngượng chín cả người.
Quí vị đã nghe tôi kể chuyện của cô Uyên với nội dung không phải là một bi kịch ai oán não nùng. Không hề có những tình tiết éo le rắc rối. Nhưng mối tình đầu đã làm cô tưởng nhớ về những năm còn trong quân đội. Tuy bom đạn triền miên nhưng sao lại quyến rũ như vậy. Dù cô chỉ là 1 người lính đàn bà. 18 tuổi nhập ngũ, 25 tuổi tan hàng, với 7 năm quân vụ. Bây giờ đã 35 năm sau cô vẫn còn nhớ mãi về đời lính.
Bác có nhận giữ hộ lá thư của anh Vũ không. Cô gái Tân Châu hỏi tôi như vậy. Trả lời rằng, bác sẽ lưu giữ trong Museum câu chuyện tình của anh chị. Xin gửi kèm cho bác vài tấm hình kỷ niệm. Báu vật quý giá của cô sẽ là di vật của Việt Nam Cộng Hòa. Ở đây không phải chỉ toàn là những trận đánh oai hùng. Phải có cả những câu chuyện tình hết sức đơn giản như mối tình của cô Uyên với anh Vũ, chuyện vợ chồng của anh Vũ với chị Sương. Chuyện chia tay của cô Uyên với anh Nhiều. Những đứa con mang tên Hoàng Sa và Trường Sa. Và sau cùng là chuyện cô gái cựu chiến binh, cô cai xếp Việt Nam Cộng Hòa giữa trời mưa bão mùa đông Oklahoma ngồi khóc cho mối tình 40 năm về trước.
Thưa bác, bây giờ em phải làm gì, cô Uyên hỏi tôi lần nữa.
Tôi trả lời rằng: Trung úy Vũ là người yêu đầu tiên của cô năm 1970 và bây giờ sẽ là người yêu cuối cùng vào năm 2010. Trong đoạn cuối của bài thơ ,Vũ đã viết rằng tương lai của anh chỉ là nấm mồ không tên nơi chiến địa.
Vậy cô Uyên hãy thắp cho anh Vũ một ngọn đèn.
Ngọn đèn tưởng niệm…
Hãy thắp cho anh một ngọn đèn…
Hãy thắp cho em một ngọn đèn…
Hãy thắp cho nhau một ngọn đèn…*
*(thơ Nguyễn Ðình Toàn)
© Giao Chỉ

